Trang chủ Blog Trang 35

TUẦN THƠ 35: DẶN ANH

Artist Serge Marshennikov's delicate oil portraits honour the inherent beauty of the female form
https://mymodernmet.com/serge-marshennikov-woman-paintings/
Frank O'Hara

BUỔI SÁNG

Tôi phải nói với em
làm sao tôi luôn yêu
em tôi nghĩ về điều
đó vào những buổi sáng
xám với nỗi chết trong
miệng rồi trà chưa bao
giờ đủ nóng và thuốc
lá khô chiếc áo khoác
màu hạt dẻ làm tôi
lạnh tôi cần em và
nhìn tuyết im ắng ngoài
cửa sổ trong đêm nơi
vũng tàu đậu những chiếc
xe buýt rực rỡ như
đám mây và tôi lẻ
loi nghĩ về những ống
sáo tôi luôn mất em
khi tôi ra bãi biển
cát ướt với nước mắt
dường như của tôi mặc
dù tôi chưa bao giờ
khóc và giữ em trong
trái tim tôi với niềm
vui thích em có vẻ
tự hào bãi đậu đông
xe và tôi đứng lúc
lắc chùm chìa khóa chiếc
xe hơi trống trơn như
xe đạp bây giờ em
đang làm gì em ăn
trưa ở đâu và có
nhiều cá trồng không thật
khó nghĩ về em với
không có tôi trong ý
tưởng em làm tôi buồn
phiền khi em ở một
mình đêm qua những vì
sao dầy đặc và hôm
nay tuyết là danh thiếp
của chúng tôi không thân
thiết không có gì làm
tôi sao lãng âm nhạc
chỉ là trò đố chữ
em có biết thế nào
khi em là người hành
khách duy nhất nếu đó
là nơi xa hơn nơi
tôi xin em đừng đi.

Khế Iêm dịch

Nguyễn Tất Độ

TRỐNG RỖNG

Vào lúc không-khi-nào, tôi đang đứng
gần chỗ không-nơi-nào, tôi đã gặp
và làm quen với một người tên là
Không-Ai-Cả. Hai chúng tôi chào hỏi
nhau bằng không-câu-gì, rồi bắt đầu
chuyện trò với nhau nhiều thứ, đại loại
như về việc không-vấn-đề-gì. Rồi
tôi phải đi, người đó cũng phải đi.
Chia tay, đọng lại trong tôi không-một
-ý-nghĩ. Tôi về viết một bài thơ
trong đó không-có-một-ký-tự-nào,
để chia sẻ với không-một-người-nào
một câu chuyện không – (*) có-nội-dung-gì.
(*):hẳn-không.


Hạnh Ngộ

DẶN ANH

Khi nhớ em anh đừng vào
facebook em xem hình em không
có ở đó em không ngủ
ở đó khi nhớ em anh
đừng đến quán quen em không
ăn ở đó em không chơi
ở đó khi nhớ em anh
hãy nhìn vào chính anh em
đang say ở đó em đang
mắc trong đó với nỗi nhớ
mất tân mất thân linh hồn
người nữ khi yêu như sóng
dữ ngày biển động biển đã
động từ khi anh đến vậy
anh còn tìm em ở đâu
nơi những quán quen quán lạ
chính anh chính em đã tự
làm biển động dữ dội đời
mình đau oằn quại trong nỗi
vụng dại sợ mất nhau có
nhau và nỗi đau nghi hoặc
khi vắng nhau hoặc khi ngóng
nhau thườn thượt làm sao được
những khi nhớ em anh đừng! …


Xuân Thủy

CÓ NHỮNG ƯỚC MUỐN BÌNH THƯỜNG

Tôi không muốn đi làm
nhưng đi làm để mẹ
vui đôi khi đi chẳng
giải quyết được gì thế
rồi mong ở nhà về
nhà đi con đường vòng
xa nhưng vắng hơn có
những ước muốn bình thường
không nói ra cơn gió
nhẹ thổi qua không ồn
ào nhưng chợt buồn vì
trên con đường xa hơn
đó không còn em ở
bên kia con sông chỉ
còn ngôi nhà với kỷ
niệm đã cũ rồi giờ
em đi xa đi xa
như con đường cứ kéo
xa ra ngôi nhà tôi
ở phía bên này sông
rồi vòng lại mới tới
con đường xa hơn không
kẹt xe không khói bụi
không ồn ào có cơn
gió mong về nhà nhưng
không nói ra không nói
ra vì có nói ra
cũng vậy thôi chỉ thấy
con đường đầy gió buổi
sáng trong lành và chiều
về lại đầy những giấc
mơ hạnh phúc thấy mẹ
đang loay hoay lục đục
làm gì đánh vài bản
đàn nho nhỏ nhâm nhi
ly cà phê lẩm bẩm
ca còn tôi quanh tôi đầy
những việc chưa làm xong
loay hoay loay hoay mãi

02/4/2015

Như Quỳnh de Prelle

TÌNH YÊU

tình yêu bay lên bay lên trời
đậu xuống một ngọn cây có con
chim đang hót ríu ran trong một
buổi sáng mùa xuân đầy nắng  nôi
tôi nhìn thấy ô cửa và những đứa
trẻ đang vui đùa chạy nhảy tung
tăng trong vườn hoa và chiếc xích
đu đẩy đi đẩy lại không ngưng
lại như những chuyến bay gần xa
dừng lại đâu đó và tiếp tục lên
cao như những cánh diều no gió
rồi tụt xuống mặt đất bất kỳ
lúc nào không ai ý thức được
không ai biết trước được nên làm
gì để tránh tổn thương mất mát

NGHE ĐỌC TRÊN SPOTIFY: https://open.spotify.com/episode/3u5UiIWkteipbUZKQDnEPE

Hường Thanh

HLE HGROACH

đi chăn đàn bò ngày
ngày chăn chúng ngày ngày
nhìn trông dấu chân kia
kìa những vết giẫm lên
giẫm lên màu xanh nào
đó thấy đau không đau
không giẫm lên từ những
chú bò đi chăn qua
ngày qua ngày đau không
ai thấy được họ trở
thành nỗi đau khi nào
để tìm ra đừng đơn
độc nữa giữa đường hãy
đi theo và chăn dắt
những chú bò giẫm cỏ
ngày ngày chăn chúng để
biết mùi loài cỏ để
tìm ra làm dịu những
gì chúng ta đang quên.

13.10.2015

*Hle hgroach: ngôn ngữ giarai-êđê nghĩa là cỏ muối, một loại gia vị – thực phẩm đặc sản ở vùng miền Tây Nguyên, để tìm ra cỏ này là phải đi theo dấu chân đàn bò trên đường rừng , cánh đồng để nhận biết mùi hương.


Hạc Thành Hoa

GIẤC MƠ CỦA ĐÁ

Không còn tảng đá nào được yên
thân bởi tiếng búa  và tiếng đục
vang lên vang lên ngay dưới chân
nàng đang nuôi một giấc mơ đến
thành đá từ khi có đá dù
trơ trọi một mình vẫn đứng cho
bầu trời bớt trống nàng tối sầm
những khi trời chuyển mưa lại xanh
ngay khi trời vừa tạnh nếu một
ngày nàng âm thầm bước xuống thì
cả bầu trời trống trài vô cùng
giấc mơ cũng  không còn nữa nàng
đã thật sự chết ngay khi vừa
sống … khi tôi rời thị xã ra
đi thì nàng đã hóa đá hôm
nay dưới mầu trời xanh ngày đó
không biết nàng có còn là đá
những nhát búa cuộc đời và chiếc
đục thời gian có để cho nàng
được yên với giấc mơ của đá.


Nguyễn Văn Vũ

ĐÀN BÒ

đàn bò lô nhô như sóng mà
sóng thì có lúc lặng lúc xô
còn đàn bò thì cứ lô nhô
tràn đường không ô tô nào qua
được còi hơi nổi điên ré liên
miên xe máy phát khùng tuôn lùng
nhùng rú ga vọt qua hố ga
rất gần khu đại học thành phố
mà như về đồng quê của năm
tháng nào xa lắm hết hồn vì
bị dồn đằng sau chúi đầu đằng
trước rồi cũng may đã đến lúc
đàn bò quặt quày quặt quày rẽ
vào đường xóm về chuồng đám ô
tô xe máy xe đạp có chỗ
chen nhau vượt lên vượt lên rồi
tranh nhau đằn qua những bãi phân
bò ướt nhẻm mà chạy như bị
ma đuổi như sợ hồn vía nhập
vào bãi tha ma cạnh bên đường…

               Hương Thủy, 20.01.2016

Khế Iêm

HÉO TÀN

Hắn bước vào quá khứ
hắn là quá khứ nơi
căn gác dưới lớp tôn
mái tôn những trưa hè
nắng nóng hắn là nắng
nóng ngồi đó hẳn là
ngồi đó quay lại một
thời niên thiếu chậm trôi
bây giờ đã chìm trong
ký ức như chiếc bóng
đậm đặc quạnh hiu kéo
dài cho đến khi hắn
như hạt bụi bị cuốn
vào cơn bão thời đại
mịt mù sương khói bỏ
lại đằng sau những người
sống trong ngôi nhà nửa
xây tường nửa gác gỗ
bây giờ không còn ai
và ngôi nhà cũng không
còn họ đã đi xa xa
rồi mang theo thời niên
thiếu đơn độc lặng câm
của hắn hắn nhớ họ
nhiều họ và hắn như
giọt mưa tung tóe trên
hè phố và mỗi tia
nước là một ngả đường
đời trần trụi bây giờ
họ ở đâu những người
anh em của hắn hắn
khóc những giọt nước mắt
khô bên cạnh mối sầu
thương và quá khứ hắn
bước ra phút giây như
chiếc lá đã héo tàn.


Gyảng Anh Iên

THƠ THẨN

Tôi luôn chờ cánh chò
nâu cuối cùng rơi xuống
đất sau những vòng xoay
bải hoải như dòng xe
xoắn xít nối đuôi nhau
chờ tan một kẹt xe
trong buổi chiều lừ đừ
chờ nối vào đêm như
cách loài người chờ giấc
ngủ bình yên sau một
ngày dài quá nhiều chờ
đợi như tôi đứng giữa
ngã tư đèn xanh đèn
đỏ chờ mắt nhòe đi
trong buổi chiều mà cánh
chò nâu cuối cùng không
còn biết rơi về đâu
sau những vòng xoay chờ
đợi …


Nguyễn Tiến Đức

CHƠI VẮT DÒNG MÙA ĐANG CỎ

… đục một tảng than ròng từ đáy mỏ
nối với những mạch lửa đầu của trái
đất thuở hỗn mang để phục chế mầu
đen nguyên thủy của hai tròng mắt em
ấn lúm đồng tiền của em dựng lại
đức tin về lỗ đinh xuyên quằn hai
bàn tay Chúa về lỗ đen của tâm
hồn mọi thứ ngôn ngữ đều mất hút
tán dương sợi tóc em đen là anh
vực dậy cái âm vang dòng sông đêm
dòng sông anh đánh mất dòng sông yêu
em giữa hai hành lang cỏ hấp hối
tô son môi cực đỏ Rouge Ab-
solu Lancôme em cứu mặt trời
hoàng hôn sống sót thêm những khoảnh khắc
đẹp thinh lặng trong ký ức của anh
mặc yếm mini xanh tơ một mảnh
dây buộc hờ lưng không em đã tái
tạo cánh diều tuổi thơ và anh chợt
thấy bầu trời giãn ra giãn thật lơ
mặc tank top em đã chiêu niệm cái
ngây thơ lẫn sự khiêu dụ nhớ E-
Và cũng để hở điểm trũng vĩnh cửu
trước khi bị đuổi ra khỏi địa đàng
đi guốc cao gót trong suốt em lênh
khênh phục sinh cho ly cà phê đá
trưa Sàigòn giọt mưa và giọt nước
mắt khi em xa một dòng sông đen
bay vù con xén tóc giam từ hộp
thơ lục bát khỏi những vần điệu úa
vàng đã đánh thức cái khát vọng về
tự do thôi thúc một cuộc đào thoát
vắt dòng những câu thơ để nhớ dáng
em xuống thang máy hốt hoảng từ một
cao ốc New York khi chiếc phi cơ
khủng bố đâm vào World Trade Center.

7-2002

Tranh bài: Artist Serge Marshennikov‘s delicate oil portraits honour the inherent beauty of the female form.

Tạp Chí Thơ

THƯ MỤC

TẠP CHÍ THƠ


Lời Nói Đầu


TC tho1

Tạp chí Thơ số ra mắt, mùa thu 1994 cho đến số 27, mùa Thu 2004 thì người chủ biên tờ báo đột nhiên chuyển giao cho những nhà thơ trẻ hơn. Nguyên do thật sự chỉ là sự hứng khởi cá nhân, vì ông cho rằng, làm công việc chủ biên tờ báo 10 năm đã là đủ. Nhưng vào giữa thập niên 1990 tới đầu năm 2000, email đã trở nên thông dụng, và cho đến nửa thập niên đầu thập niên 2000, thì website trở thành một phương tiện thông tin vô cùng tiên lợi và phát triển. Báo giấy với những tổn phí về in ấn và phát hành hạn hẹp, hơn nữa,  người viết phải chờ đợi rất lâu mới đến được với người đọc. Hệ quả là những tờ báo văn học ở hải ngọai như Văn, Văn Học … lần lượt phải đóng cửa, và Tạp chí Thơ, sau khi chuyển giao được vài số, cũng chịu chung số phận.

Nhà văn Mai Thảo viết, “Thơ vẫn còn có mặt giữa đời sống mặc dầu không còn là một nhu cầu hàng đầu  của người thưởng  ngoạn, do nơi  vẫn còn những  nhà thơ sống thơ  và làm thơ. Một cách tận  cùng và vô  điều kiện. Đó là hiện trạng  thơ ở ngoài nước  hiện giờ với Tạp  chí Thơ vừa phát hành số ra mắt. Tập thơ được trình bày tao nhã  từ trang bìa tới những trang  trong xứng đáng được  gọi là một nhã  tập từ lâu mới thấy. Tôi đọc cẩn thận với tất cả lòng yêu mến. Ngoài mấy tác giả đã thành danh như Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, phần lớn những người  có mặt đều là những nhà  thơ trẻ sau 1975, tiếng thơ cất lên từ  một bàn viết hải ngoại. Nói chung, đó là tập thơ của thơ muốn đi tới những chân  trời mới. Muốn làm mới rung động, làm mới ngôn ngữ, hoàn toàn. Cũng là được. Thơ phải có tham vọng. Cũng là  hay, thơ phải là  một thoát ly với những thời thơ trước nó.”

Tạp chí Thơ tập trung được hầu hết những ngừơi viết tinh hoa ở hải ngọai. Nhưng đa số đều là những người viết trẻ tuổi sau 1975, một thế hệ trưởng thành từ trường lớp và nghề nghiệp, tiếp cận trực tiếp với một nên văn hóa khác, nên cách viết cách nghĩ và cách sống của họ không còn giống với những thế hệ thập niên 1960 ở miền Nam trứơc đó. Họ thuộc về thập niên 1990, và những tác phẩm của họ thể hiện tinh thần học hỏi và khám phá trước một thế giới mới lạ, ngay từ số ra mắt. Và như thế, qua Tạp chí Thơ, chúng ta có thể nhận ra một thời kỳ rất đặc biệt của văn học Việt nam. Thời kỳ đó chỉ xảy ra một lần duy nhất, và không còn một thời kỳ nào như thế nữa. Vì những thế hệ sau này ở hải ngọai, họ không còn đọc tiếng Việt, và những sinh họat văn nghệ nếu có thì hòan tòan bằng tiếng Anh.

Đã có không ít bạn đọc chưa hề đọc Tạp chí Thơ. Chúng tôi làm lại Tạp chí Thơ qua dạng điện tử, ebook, gửi đến quí bạn đọc tòan bộ 27 số, từ giai đoạn số ra mắt, mùa Thu 1994, đến mùa Thu 2004, đồng thời giúp cho những nhà sưu tập, nghiên cứu về một giai đọan văn học của một thế hệ mới ở hải ngọai, dễ dàng tìm kiếm tài liệu.

TC tho2


Tạp Chí Thơ số 1           Tạp Chí Thơ số 2              Tạp Chí Thơ số 3


Tạp Chí Thơ số 4             Tạp Chí Thơ số 5              Tạp Chí Thơ số 6


Tạp Chí Thơ số 7            Tạp Chí Thơ số 8               Tạp Chí Thơ số 9


TC tho3


Tạp Chí Thơ số 10           Tạp Chí Thơ số 11           Tạp Chí Thơ số 12


Tạp Chí Thơ số 13           Tạp Chí Thơ số 14         Tạp Chí Thơ số 15


Tạp Chí Thơ số 16           Tạp Chí Thơ số 17          Tạp Chí Thơ số 18


TC tho4


Tạp Chí Thơ số 19           Tạp Chí Thơ số 20           Tạp Chí Thơ số 21


Tạp Chí Thơ số 22           Tạp Chí Thơ số 23         Tạp Chí Thơ số 24


Tạp Chí Thơ số 25          Tạp Chí Thơ số 26          Tạp Chí Thơ số 27


TC tho5

Tranh bài: Matt Story

Chùm thơ: Hồ Đăng Thanh Ngọc

0

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
www.thotanhinhthucviet.com
_____________________________________

Chùm thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc
___________________________

MƯA BIẾN SẮC
vũ hội mưa đã bắt đầu với
những trận sấm sét trên cao nổ
tung cả bầu trời chớp dông chớp
tây chớp nam chớp bắc chúng xẹt
vào tâm can vào não trạng vào
cơn ngái ngủ vào cơn say nguội
vào cơn cơ hội nhờ mưa rửa
tội vào hèn nhát mưu sinh vào
bức bối vào đủ thứ bụi bặm
vũ hội mưa đã bắt đầu lau
rửa những bộ mặt những gương mặt
biến sắc lá xanh hơn mặt đường
sạch sẽ hơn lòng người thơ thới
hay rối bời hơn thì mưa vẫn
cứ rơi cứ rửa cứ lau đi
lau lại có người ra hân hoan
tắm mưa có người đi sợ mưa
ướt có người núp trong nhà nhìn
ra mưa to quá con chó cũng
nằm yên tội nghiệp mặc kệ con
mèo kêu meo meo cầu vồng vẽ
nên bảy màu sau mưa? Mưa nhiễu
sự hay mưa vô sự? có người
ngồi trong nhà thò một chân ra
ngoài xem chân mình có biến sắc
hay không
 
NGHE NHẠC PAUL MAURIAT
ria mép ông cũng rung lên đánh
nhịp theo đôi tay giữ nhịp tài
hoa và những âm giai từ ánh
mắt của ông thoát ra bay lên
tầng trời bay vào cõi mơ tôi
lay động đám mây cao những sợi
dương cầm gõ lên vầng trán những
đỉnh núi vẫy gọi những triền đồi
trôi đi những lâu đài cổ kính
ngồi đọc lại trang tiểu thuyết của
Victo Huygo những rừng thông
đong đưa những nỗi buồn dịu nhẹ
những mặt hồ phơi niềm mong nhớ
ra hong trước gió và nắng những
cồn cát ngủ say trong mắt con
chồn tôi chui vào đám rong nào
đó nghe tiếng vỗ tay và những
dòng sông bật khóc nước mắt xanh
thẳm
 
THỨC DẬY GIỜ ĐÓ
Buổi sáng tôi thức dậy cùng
với ánh sáng của sa mạc
và với cái đuôi của cơn
ngái ngủ lì lợm đu theo
cái bướu lạc đà thơ em,
rồi tôi thấy em thức dậy
cùng với niềm hân hoan bình
minh đang lên tươi mươi ngày
Bấy giờ sa mạc không còn
cả vết chân lạc đà bão cát
đã chôn lấp những giấc mơ
cả những giấc mơ chạy trốn
Em thức dậy cùng tôi trên
thân phận đóa hoa tàn úa
dưới bỏng cháy của sa mạc
tỉnh thức này thật khủng khiếp
tôi không muốn thức dậy em
không muốn thức dậy nữa bấu
víu vào giấc mơ sót lại
nhưng …
đã thức dậy mất rồi!
chiều 22/4/2012
 
CHƠI BÀN TAY
Trên vỉa hè thằng bé chơi trò
chơi bàn tay thằng bé đưa hai
bàn tay múp máp ra và đếm
mười ngón rồi ngón cái bàn tay
phải chạm tinh tế vào ngón út
bàn tay trái rồi ngón trỏ bàn
tay trái chạm vào ngón cái bàn
tay phải rồi ngón giữa bàn tay
phải chạm vào ngón đeo nhẫn bàn
tay trái rồi ngón giữa bàn tay
trái chạm ngón út bàn tay phải
và cuối cùng khi ngón cái bàn
tay trái định chạm ngón đeo nhẫn
bàn tay phải thì nó bỗng chán
không chơi nữa bàn tay nó thỏng
xuống thỏng thượt có lẽ đi chơi
game thì thích hơn chăng nhưng nó
đang đứng ngoài đường và nó còn
cố đưa ngón tay lên ngang mày
để xem ánh sáng có lọt qua
kẽ tay hay không nó nghĩ gì
thì làm sao tôi biết được nhưng
sao mà tôi lại nghĩ là nó
muốn đi chơi game cơ chứ làm
sao tôi nghĩ vậy làm sao tôi
nghĩ vậy trong buổi sáng trời hiu
hiu gió thế này?
21/11/2014
 
TRONG MƯA XUÂN
trong làn mưa xuân vòm long não
kể câu chuyện một ngàn lẻ một
về chiếc ô đi qua chiếc áo
mưa đi qua về chiếc ô đi
qua cùng cái mũ và cái mũ
đi qua cùng áo mưa và cái
mũ áo mưa chiếc ô đi qua
và cả cô gái để đầu trần
đi dưới mưa mái tóc ướt như
một bản hòa tấu puppet on a
string của Poul Mauriat
trong làn mưa xuân những li ti
giọt nước đang vô vàn chuyện kể
về những lời tỏ tình đã chảy
thành sông hôm qua đổ vào để
sáng nay đổ vào biển khơi thành
những đợt sóng triều dâng hôn khẽ
khàng lên những dấu chân chim trên
bờ cát vắng trong làn mưa xuân
trong những câu chuyện tình như có
lửa như chúng đang nở hoa
 
NHỮNG CON ĐƯỜNG
những con đường đã lao về
phía trước chúng không hề ngoái
lại dù cột cây số đã
nhắc những con đường từ tây
sang đông có con đường qua
sông hôm nay đã cạn khô
trơ đáy chỉ có bụi đỏ
soi bóng cho ngọn núi vừa
qua đời như dấu chân voi
đã chết nhiều năm trước những
lá cỏ mở lại ca khúc của
tiếng cưa vọng từ nắng rát
những con đường
 
HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG AN CỰU
Nắng đang tắt dần phía bên kia
cây cầu ở đó con cá thia
lia vừa móng nước vọng tiếng tí
tách đến chiếc thuyền dung phận nhỏ
chênh chao duy nhất trên sông An
Cựu bên trong có đôi vợ chồng
già xấp xỉ tám mươi đang thả
lưới những tay lưới giăng níu kéo
những ngày đã xa xưa những ngày
họ còn trẻ và dòng sông nắng
đục mưa trong những ngày những ngày
và bây giờ lũ bồ câu đã
bay về trên nóc nhà thờ Phủ
Cam gác mỏ vào tiếng chuông đang
thong thả nhấn nhá vào áng mây
hoàng hôn kéo sợi tơ vàng trong
tách cà phê cô độc nâu sòng
nâu cả cọng cỏ rung rinh hình
như con châu chấu vừa ngủ muộn
thức dậy giương mắt tròn không biết
làm gì hay thức dậy làm gì
khi hoàng hôn đang tối đến chân
mây nhưng ngày đi chưa tắt
 
HOÀI NIỆM TRĂNG
ánh trăng đã về thăm đồng quê
người nông dân tranh thủ ra cuốc
đồng trong ánh trăng lưỡi cuốc lóa
lên màu mơ ước 1980 lúc đó
hình như có tiếng ếch nhái kêu
gọi mùa lúa chín vàng hãy trở
lại những ánh trăng năm ấy bị
cuốc vỡ vụn cho giấc mơ cơm
no những nhát cuốc bổ cực lực
vào đất như sợ ánh trăng sẽ
lặn vào đất lặn vào bóng tối
năm đó có người nằm mơ về
những cuộc ra đi như bây giờ
ai đó đang nằm nhớ về những
ánh trăng mùa cũ một cú hoài
niệm trăng luyênh loáng
 
HOA HỒNG
con đường về nhà em hoa hồng
dại nở đầy trong tím lịm hoàng hôn
em đã đi về trong sương đêm
nên không nhìn thấy và nhiều khi
đêm quá dài hoa hồng không còn
tươi khi ngày mai nắng lên không
rực rỡ sân nhà em và những
cánh hoa hồng héo úa trong màu
xanh của cỏ gió đã thổi tung
những cánh hoa rơi lả tả trong
đốm sáng như những giọt máu chảy
từ đỉnh trời lòng chợt buồn khi
hoàng hôn lại đi qua ngõ nhà
em và lại thấy những đóa hồng
dại vẫn gai góc nở trong bóng
tối nở làm gì tội rứa hoa ơi!
 
ĐƯỜNG VỀ
sau tiếng còi tàu tiễn
đưa người con gái quay
trở về con đường đã
nhão nhoét lầy lội tôi
ra đứng đầu đường quạt
than hong mặt đường mong
con đường sớm khô để
bàn chân em không lầy
lội tôi mang lửa trái
tim ra đứng đầu đường
mong cầu ngọn lửa máu
sẽ hong khô mặt đường
để bàn chân em không
lầy lội cho đôi guốc
em kêu lên rổn rảng
như sự sống như niềm
vui quá ít ỏi nhưng
con đường đã càng nhão
nhoét hơn mặc tôi mặc
những mơ ước mặc những …
Tranh bài: Pablo Picasso

Ý NGHĨA NỘI TẠI CỦA THỂ THƠ

Scrawl, 2014, Acrylic, newspaper and stencil casings on canvas, 48 x 60 in. Image courtesy Waterhouse & Dodd. Bernie Taupin’s Painted Words
Scrawl, 2014, Acrylic, newspaper and stencil casings on canvas, 48 x 60 in. Image courtesy Waterhouse & Dodd. Bernie Taupin’s Painted Words
Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
https://thotanhinhthucviet.vn/Forums/

Ý NGHĨA NỘI TẠI CỦA THỂ THƠ


Frederick Turner

Điều trở nên rõ ràng, lúc này, trong lịch sử văn học Hoa kỳ, khuynh hướng năng động và đầy hứa hẹn nhất của thơ bây giờ là phong trào Mở rộng, hay Tân hình thức như đã được biết. Tạp chí định kỳ, hội nghị, tuyển tập thơ, tiểu luận phê bình và những chuyên khảo công nhận và tán dương bước ngoặt thi pháp này; những nhà thơ trẻ ôm lấy phương thức mới hoặc ít nhất quan tâm tới lý thuyết của nó.

Như vậy đây là lúc tốt nhất đặt phong cách này trong thử nghiệm – để xem đó hoặc chỉ là một phong cách, hoặc có triển vọng sâu xa và biến hóa tự nhiên nào trong nghệ thuật thơ ca, mang thực hành tới gần chức năng thực sự của nó hơn. Như một trong những người sáng lập và phát ngôn cho phong trào, tôi nhận ra, nếu chỉ thuần thể luật và truyện kể, dù khéo léo và đáng phục cũng chưa đủ; thơ hay đã được viết bằng thể tự do, thơ tầm thường được viết bằng niêm luật, những luật tắc tinh xảo và cấu trúc khéo léo của truyện kể. Triển vọng của khuynh hướng mới sẽ chỉ hiện thực khi những nhà thơ và người đọc có khả năng sử dụng yếu tố thể luật thơ ở mức sâu xa nhất, như bùa phép hoặc kỹ thuật tâm linh để mở cánh cửa giữa con người và thiên nhiên, ý thức và vô thức, hiện tại và quá khứ, lý trí và hỗn mang, đời sống và cái chết. Hoặc hơn nữa, ngay cả để gợi ra tính nhị nguyên, bị phản bội bởi ngôn ngữ, không thơ, thiếu khả năng khoa học sâu xa, làm cho tính nhị nguyên biến này mất.

Khi đáp ứng với luật tắc hoặc tình tiết thần thoại của bài thơ, chúng ta đang làm như một giống người khôn ngoan, một động vật cấp cao, một động vật có vú, có xương sống, một sinh vật, một bộ phận phức tạp và kỳ diệu của hóa học các-bon, trò chơi của hạt vật lý và lực, nút cuộn của không thời gian. Một cách khác, chúng ta không bị hạn chế, như bản tường trình bao hàm vô hạn, đối với chỉ mức mới đây của tiến hóa sinh vật, dẫn đến vùng ngữ học đặc biệt ở vỏ não thái dương, nhưng được tỏa ra trong toàn lịch sử tiến hóa.

Sự vui thú về luật tắc, như tôi đã tường trình trong The Neural Lyre, căn cứ trên nhịp ba-giây trong chu kỳ tiến hành thông tin con người, hay thần kinh hiện tại, và trung gian bởi sự tiết ra của vật dẫn truyền thần kinh cổ xưa. Nghiên cứu mới đây của Colwyn Trevarthen và Ellen Dissanayake cho rằng những bà mẹ và trẻ sơ sinh điều khiển cuộc trò chuyện tiền ngôn ngữ trong một thứ thánh ca “mẹ” (motherese) 1, và loài động vật có vú điều khiển sự chuyển động tiếp tục múa nhẹ, chú tâm tới lực kéo, và động tác diễn đạt trong chu kỳ ba-giây. Nhưng luật tắc quan trọng của thơ ở mức độ sâu xa hơn nhiều. Như nhà tâm lý ngữ học Michael Lynch và Kim Oller nhận ra, trong ô cửa ký ức, cứ khoảng ba-giây, chứa được 10 nhịp đập, tương đương với những âm tiết hoặc một khoảng ngừng ngắn nhất mà những phản xạ hành động của con người có thể còn tác dụng; trong vòng 1/3 giây này ẩn chứa 10 nhịp đập, bằng với khoảng ngừng tối thiểu, qua đó có thể nhận ra trật tự của hai âm thanh khác nhau; nói cách khác, trong khoảnh khắc rất nhỏ này chứa 10 khoảnh khắc nhỏ hơn, và chúng ta có thể nhận diện bất cứ gì trong cái khoảng ngừng tối thiểu này. Bộ óc dùng luật tắc trong đó thần kinh nung nóng được hoán đổi, mang thông tin chính xác về những gì được nhận thức hoặc ghi nhớ, và chất men cùng cơ xưởng RNA kiến tạo chất đạm của cơ thể thăm dò trung tâm sưu tầm DNA của nó trong một dạng thức nhịp điệu phân cấp phức tạp. Ilya Prigogine cho rằng phản ứng hóa học liên hợp, đặc biệt là chất xúc tác liên hệ này có một cấu trúc nhịp đập thời gian, và nhà vật lý và hóa học lượng tử đã biết từ lâu, vật chất có thể diễn tả như những cái nút ở đó năng lực lượng tử của tính chu kỳ cục bộ và khác nhau tìm ra giải pháp hài hòa – giống như một loại vần.

Như vậy, khi nhà thơ dùng và thính giả nghe luật tắc, bước đầu tiên của nhận thức hữu cơ, hòa nhập vào vũ trụ vật lý; chúng ta hiện hữu, nếu thích, ca ngợi sự tham dự vào sự hiện hữu của chính Gaia (Gaia herself) 2. Chúng ta khẳng định sự đơn độc với toàn thể quá khứ của thế giới, làm cho nó khả thể vì sự sáng tạo, để phát ra lực sáng tạo đi xa hơn khả năng của những trung tâm ngữ học tinh tế. Thơ trở thành bản dịch tăng tốc của chính sự tiến hóa, phản hồi thần diệu giữa những biến đổi, chọn lọc, và tính di truyền, sản xuất hoa phong lan, tinh dịch cá voi, siêu vi hình rạn thuốc lá, gấu trúc vĩ đại và đá ngầm san hô.

Có lẽ, điều này là ý nghĩa của huyền thoại Orpheus 3, nhà thơ đầu tiên của huyền thoại Hy lạp, giống như Solomon 4 hoặc Bồ tát Vyasa 5, nhà thơ huyền thoại của Mahabharata, có thể nói ngôn ngữ của động vật, thảo mộc và đá. Hành trình của Orpheus tới địa ngục và trở lại (như Virgil nói, bất cứ kẻ lừa đảo nào cũng có thể xuống đó, nhưng để trở lại – đây là lao động, là công việc) không phải chỉ tìm người vợ đã mất, Eurydice. Sự tìm kiếm người vợ đã mất có nghĩa là hồi phục sự nối kết hữu cơ với phần còn lại của vũ trụ. Đó là điểm mà Orpheus làm trong cuộc hành trình, bởi vì hắn sở hữu và có thể dùng đàn lyre, khí cụ mà những nhà thơ Hy lạp dùng để đo luật tắc và làm vần cho dòng. Lyre mở ra cánh cửa địa ngục; và khi Orpheus mất niềm tin về ảo thuật, ngoái lại xem Eurydice có còn theo sau không, một cách bi đát, hắn đã mất cô ta mãi mãi.

Chúng ta có thể lần theo lý luận bí ẩn của huyền thoại xa hơn; vì lyre của Orpheus (và của người cha Apollo) là nguyên nhân sự khám phá của Hermes 6, kẻ đổi lấy chiếc gậy trượng (caduceus),7 cái roi rắn cuốn dùng để ứng xử với định mệnh giữa những mảnh đất sống và chết. Vòng xoắn đôi của hai con rắn là kiểu mẫu chính xác của hình thể phân tử DNA; và điều đó không phải ngẫu nhiên, vì vòng xoắn đôi là biểu đồ trực giác của bất cứ tiến trình phản hồi nào, và DNA là tiến trình phản hồi của những tiến trình phản hồi. Nếu lyre, trong một vài ý nghĩa tương đương với chiếc gậy trượng, có thể kết luận, luật tắc của thơ tương tự như luật tắc của sự tái tạo sinh học và tiến hóa. Đó là sự thấu hiểu trung tâm những sonnet của Rilk về Orpheus. Những bản khác về loại bùa chú này là cái sáo ảo thuật của Mozart và de Ponte, cành cây vàng của Virgil, tiếng nói từ Chúa của Moses (cũng kết hợp của roi và rắn), tiếng trống của thầy phù thủy Á châu, kèn của những du sĩ ca thời Magyar cổ đại – có lẽ ngay cả “Mcguffin” của Alfred Hitchcock 8.

Đây là dịp tốt để nhấn mạnh vào luật tắc. Người ta có thể nhiều lần cùng tranh luận về kỹ thuật truyện kể, cái hệ thống kỳ diệu đến một lúc nào đó, lấy lại sự kỳ lạ của nó, bất cân xứng, phi không gian. Một câu truyện, giống như một giai điệu, có thể trở lại bất cứ chuỗi nào của những biến cố, phô bày ra một lần không tránh khỏi, xảy ra nhưng không thể đoán trước chúng xảy ra; bởi chính những biến cố dẫn đến một loại vũ trụ mới, tiền thân của chúng bây giờ ràng buộc không thể đảo ngược với những nguyên nhân. (Thí dụ dày đặc của điều này là truyện trinh thám, sự giải quyết rõ ràng do nhà thám tử vén màn lên, nhưng không phải trước đó). Trong ý nghĩa này, có lẽ chúng ta chấp nhận chiếc gậy trượng của Hermes, để trở ngược lại điều biết trước của câu truyện, và những con rắn là tính thay đổi của sự không biết trước. Sự không đoán trước của câu truyện làm chúng ta muốn biết những gì xảy ra kế tiếp – và điều này tại sao Sultan chừa ra cuộc đời của người kể chuyện Sheherezade 9, và Minos 10 chừa ra cuộc đời của Orpheus. Trong ánh sáng lưỡng tính này của luật tắc mang sự thinh lặng có ý nghĩa sâu xa. Dạng thức cố định những âm tiết nhấnkhông nhấn (hoặc âm tiết dàingắn, giọng đổikhông đổi của thơ Trung hoa) có cùng mối liên hệ với dạng thức thay đổi của ngữ điệu nói, trôi nổi trên bố cục cố định, những yếu tố biết và chưa biết của một câu truyện. Hoặc chúng ta có thể nói rằng luật tắc là câu truyện vi mô, và câu truyện là luật tắc vĩ mô.

Như vậy, nếu chúng ta trở lại một cách nghiêm chỉnh luật tắc và truyện kể được công bố bởi những nhà thơ Tân hình thức và Mở rộng, toàn bộ trách nhiệm xã hội, tưởng tượng và trí tuệ mới mẻ, mở ra cho nhà thơ. Hoặc có lẽ, nói chính xác hơn, trách nhiệm cũ sẽ trở lại trong một hình thức mới. Trên thực chất, những nhà thơ của thời đại đang tới phải là những thầy phù thủy. Một thầy phù thủy không chỉ nói tiếng nói riêng tư về những âu lo riêng tư, hoặc diễn đạt thẩm mỹ, triết học, quan điểm chính trị thuần cá nhân. Một thầy phù thủy phát ngôn với, và cho, toàn thể nền văn hóa, sự phát ngôn kết hợp những trầm ngâm chung và sâu xa nhất, như sự tiêu biểu của nó khi bàn thảo đến sự khôn ngoan chết của chính nó. Hơn nữa, phần vụ của thầy phù thủy là để có một vài tầm rộng công cộng, ngay cả quần chúng, để bán những viễn kiến ngoài thị trường, để nghe và trả lời đối với nhu cầu và mong ước của thân chủ mà họ là lương tri.

Thầy phù thủy mới phải học thổ ngữ của bộ lạc – và bộ lạc đó bây giờ là toàn cầu, là nhân loại. Thổ ngữ quan trọng nhất là thỗ ngữ mà mọi người đều chia sẻ, phương tiện truyền thông chính thức của trao đổi và tiêu chuẩn của đồng thuận – đổi chác, luật lệ, kỹ thuật, và trên hết, khoa học. Khoa học là cách chúng ta học ngôn ngữ của tất cả phần còn lại của thiên nhiên, ngoài phạm vi con người, và như vậy quan trọng hơn cả đối với một nhà thơ mới, cần biết hơn là đổi chác và luật lệ. Kỹ thuật nối khoa học với những thứ khác – kỹ thuật đặc biệt của nhà thơ là luật tắc, truyện kể và tưởng tượng (mà tôi không đề cập đến ở đây vì nó đã được nói đến ở đâu đó).

Nếu chúng ta chấp nhận trách nhiệm của thầy phù thủy, rất nhiều điều kỳ diệu, nhà thơ khó hoàn tất bất thình lình trở nên dễ dàng. Một trong những điều đó là tìm kiếm chủ đề: chúng ta bận tâm tới việc giáo dục và chữa lành người đồng thời, chỉ cần nói về những gì họ cần biết và nghe. Những chuyện khác thì buồn cười. Một lúc nào đó chúng ta nhận ra chính mình như một loại đặc biệt của loài động vật có vú cao cấp, bị mắc bẫy và hiện thân trong trò chơi cụ thể của sự hiện hữu vật lý, bị đẩy vào sân khấu của sự giao tiếp sai, để cho và nhận những món quà của người khác, và để sống còn. Shakespeare, có lẽ là thầy phù thủy lớn nhất của mọi thời đại, đáp ứng mọi tiêu chuẩn khó khăn, đã biết tất cả những điều này rất kỹ. Tiềm năng sẵn có khác, bất thình lình sẽ được thấu suốt. Thay vì căng thẳng với những khái niệm buồn chán hàng ngày vì một vết bẩn giống như phiêu sinh vật trong nội tâm, chúng ta hầu như gặp phải vấn đề đối nghịch: làm sao cho phép lạ thành hiện hữu, với những mức độ vo ve và reo vang của sự phức tạp đồng tâm, đủ cục bộ để chuyên chở trong một hình ảnh hay một chuyện vặt. Cuối cùng, thầy phù thủy thật sự sẽ tìm ra sự hiếm hoi của tất cả những tiềm năng đương thời: thính giả thật sự, một nơi công cộng, không dẫn nhà thơ hy vọng nhận ra chính những cố gắng của thơ, không lôi cuốn bởi ma thuật mờ nhạt của những thành tích thi ca ở thời đại khác, không hy vọng chia sẻ tình thân của sự thất bại văn hóa và xã hội; nhưng cùng đến với nhau trong niềm vui sâu xa, cổ xưa, nghi lễ đặc biệt của sự kiến tạo thế giới.

Ltt chuyển dịch 
  1. Motherese theory: Nghiên cứu về cách tiếp nhận ngôn ngữ tự nhiên của trẻ thơ (tới khoảng 5 tuổi) từ người mẹ. (Ghi chú của ND).
  1. Gaia theory: Khoa học về đời sống trái đất. Nhà hóa học và khí quyển James Lovelock và nhà sinh học tiến hóa Lyn Margulis cho rằng trái đất tồn tại, phẩm chất giống như đời sống (life-like quality) xuất hiện từ sự tác động của sự hiện hữu các đời sống khác nhau và với hệ thống phi đời sống trên hành tinh (đá, khí quyển và đại dương), có khả năng tự điều chỉnh những cá tính bản thể của môi trường chung quanh, như nhiệt độ trung bình, chất mặn của đại dương, hỗn hợp chất khí (oxygen và carbon) trong khí quyển. (Ghi chú của ND).
  1. Orpheus là con của Apollo và Calliope, được cha là Apollo cho một cây đàn lyre và dạy cách sử dụng. Tài âm nhạc của Orpheus điêu luyện đến độ, không những quyến rũ muông thú mà cả đất đá, cỏ cây. Hắn dùng cây đàn lyre, xuống địa ngục để tìm vợ, Eurydice, bị rắn cắn chết. Hắn gặp vợ và chỉ có thể làm sống lại với một điều kiện: trên đường đi, hoàn toàn im lặng, không được ngoái lại nhìn người vợ theo sau. Nhưng không may, khi gần tới trần gian, trong khoảnh khắc hắn quên lời hứa, ngoái lại nhìn xem vợ mình có còn theo sau không, lập tức Eurydice tan biến mất. (Ghi chú của ND).
  1. Solomon: Con của vua David, nước Do Thái cổ, lên ngôi vào năm 970 B.C lúc còn rất trẻ, ghi dấu sự mở rộng bờ cõi Do thái, và liên minh với Ai cập và Phoenicia. (Ghi chú của ND).
  1. Bồ tát Vyasa đang nhập định tại Hi mã Lạp sơn thì được thần Brahma xuất hiện, truyền viết kinh Vệ Đà (Bồ Tát) Mahabharatham, vì lợi ích của con người. Bồ tát Vyasa cầu thần Ganesha viết xuống trong lúc ngài hát vì ngài không thể viết. Thần Ganesha bận vô số việc nên yêu cầu Bồ tát hát thật nhanh, đổi lại Bồ tát cầu thần Gansha phải hiểu nghĩa từng câu thơ trước khi viết xuống. Khi nào Bồ tát cảm thấy thần Ganesha viết quá nhanh, ngài lại đọc một câu thơ thật khó, và trong lúc thần Ganesha tìm hiểu nghĩa thì ngài có thời gian chuẩn bị sẵn một số câu thơ trong đầu. (Ghi chú của ND).
  1. Hermes: con của Zeus và Maia. Khi nữ thần Kalypso giữ Odysseus quá lâu trên đảo, Hermes được Zeus gửi tới để truyền lệnh phải thả Odysseus về nhà. Hermes là sứ giả, kẻ truyền rao sự bất tử. (Ghi chú của ND).
  1. Caduceus: Cây gậy tiêu biểu của sứ giả, một điềm báo. (Ghi chú của ND).
  2. Alfred Joseph Hitchcock (1899-1980): Nhà đạo diễn người Anh. (Ghi chú của ND).
  3. Hoàng hậu Sheherezade, người kể truyện Ngàn lẻ một đêm. (Ghi chú của ND).
  4. Minos, thần thoại Hy lạp, vua đảo Crete, con của Zeus và Europa. Vợ của Minos là Pasiphae sinh ra Androgeus, Glaucus, Ariadne và Phaedra. Vì Minos không chịu hy sinh cho thần Poseidon con bò đực trắng nên thần khiến cho Pasiphae hoài thai một con vật sinh ra Minotaur, một con quỉ đầu bò mình người. Minotaur bị nhốt trong một mê cung. Khi vua Aegeus của Athens giết Androgeus, Minos trả thù và buộc Athens phải triều cống hàng năm bảy thanh niên và bảy thanh nữ. Những người này bị nhốt trong mê cung, hoặc bị chết đói hoặc bị ăn tươi nuốt sống. Cuối cùng Theuseus cùng những nạn nhân này giết chết Minautor. Cùng với Aecus và Rhadamanthus, Minos trở thành một trong ba vị phán quan của Diêm vương Hades. (Ghi chú của ND).

Tranh bài:
Scrawl, 2014, Acrylic, newspaper and stencil casings on canvas, 48 x 60 in. Image courtesy Waterhouse & Dodd.
Bernie Taupin’s Painted Words

 

ĐỌC THƠ DIỄN ĐÀN: Kỳ 1

Dinah-Wakefield - https://www.dinahwakefield.com/product/andalucia-3
Dinah-Wakefield - https://www.dinahwakefield.com/product/andalucia-3

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
DIỄN ĐÀN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT


Biển Bắc

Một bài thơ Tân Hình Thức Việt điển hình phải đáp ứng các quy-/luật-tắc sau đây:

  1. Bài thơ phải mang hình thể một bài thơ trong những thể thơ Việt thông dụng! Hoặc phải có một khuôn khỏ đều đặn thông dụng

  2. Bài thơ phải có mang tính truyện/chuyện

  3. Sự lập/lặp lại phải hiện rõ nét, trải đều ra suốt bài thơ

  4. Bài thơ phải xử dụng ngôn ngữ đời thường

  5. Phải là thơ không vần chứ không là thơ vần điệu

Ngoài những yếu tố kỹ thuật, bài thơ được cho là hay còn tùy thuộc vào sự áp dụng nhuần nhuyễn và đồng bộ của các yếu tố kỹ thuật cùng ý tưởng mới lạ!


Hường Thanh

NHỮNG NGƯỜI LẠNH

ông lão đập vào cửa
sổ ông nói ông không
mở chiếc cửa đầu tiên
để vào nhà mà leo

vào phòng T từ cửa
sổ này mùi men trắng
trên mặt đập vào mắt
căn phòng cũng bị đập

vào hơi khí ngả nghiêng
ngả nghiêng ông lão bây
giờ gương mặt không chịu
chùi vết bẩn do leo

trèo lên cửa sổ T
nghĩ rằng chắc hẳn là
ông sẽ đập vào mặt
căn phòng này một chai

rượu rồi ông sẽ về
về ngay thôi sẽ không
phiền tới màu sắc cần
được đen đi ông mời

T uống mà thực ra
ông chỉ mang theo một
cây sáo ông mời T
thổi về những ngày người …

3.11.2015
  1. Bài thơ trọn khuôn 5 chữ 4 câu. Khổ thơ phù hợp với nhịp đọc của âm chữ trong từng câu của từng đoạn thơ.
  2. Bố cục hơi siêu thực, mơ hồ nhưng lại ăn khớp với câu chuyện về một cách vỗ về giấc ngủ của một người đang ngà ngà men rượu.
  3. Những âm chữ như “ông lão” được trải đều qua những lập lại của những ông nói; hơi khí; T nghĩ; thôi sẽ; ông sẽ; cây sáo.
  4. Tuy bài thơ xử dụng ngôn ngữ, chữ nghĩa đời thường, nhưng cấu trúc của các chữ đặt cạnh nhau lại cố ý chuyên chở những ẩn dụ hơi rối rắm: ông lão; cây sáo; màu sắc cần được đen đi; mùi men trắng; ….đập vào hơi khí ngả nghiêng…..
  5. Bài thơ xây dựng trên âm điệu đọc khừng khựng và không còn dâu vết vần điệu truyền thống.

Đốc kết: Ở mặt kỹ thuât, bài thơ này hội đủ trung bình những điểm cơ bản của TTHTV. Về ý tưởng thì rất là một câu chuyện có thể xảy ra ở đời sống thường ngày mang những cái suy tư rối rắm giữa hư thực của cuộc sống như là choáng váng men say và hơi mang tính “liêu trai quái dị”. Qua bài thơ này tính đa dạng của nội dung TTHTV được làm giàu thêm.


Trầm Phục Khắc

THEO NHAU

ở với thơ buồn
quá đi với thơ
vui hơn vì đi
thì có lúc nhanh
lúc chậm có lúc
vắng lúc gần có
lúc mơ lúc thật
nghĩa là có đi
thì có gặp chứ
ở hẳn có sẵn
rồi thì cần chi
gặp nữa tuy nhiên
đi với thơ có
chút rủi ro này
ấy là ngộ nhỡ
mai kia không đi
nổi nữa thì biết
tính sao thôi thì
chuyện nhỏ chuyện nhỏ
buồn chi chả buồn
ngồi đấy nằm đấy
mà vẫn theo nhau
có nghĩa là đi
chậm chạp chậm chạp
theo nhau theo nhau
lúc vắng lúc gần
lúc mơ lúc thật

  1. Bài thơ theo thể 4 chữ liên hoàn. Bài thơ chọn thể bốn chữ có chủ đích rất tài tình, vì nhịp đọc được dẫn như nhịp những bước chân (nhỏ) “Theo Nhau”.Thể thơ 4 chữ mà lại liên hoàn tuy rất hiếm thấy các thể thơ truyền thống thông dụng, nhưng vẫn có thể nhận diện.
  2. Tính truyện trong bài thơ này ẩn rất sâu trong những bước đi với thơ qua từng lúc, từng khúc được chở trên phong cách tự sự, lý luận của bài thơ.
  3. Cách lặp lại trong bài thơ này được quy tụ trong cách nói lúc này, lúc kia (lúc chậm lúc nhanh, lúc vắng, lúc gần, vân vân..)trải suốt bài thơ. Mặt lặp lại của cụm từ, âm chữ thì lại được thi triển một cách gượng gấp ở đoạn cuối bài thơ.
  4. Ngôn ngữ của bài thơ là một ví dụ của ngôn ngữ nói, ngôn ngữ đời thường! Phải chăng như vậy mới hợp với nội dung tự sự của bài thơ (?).
  5. Hẳn là bài thơ không vần, nhịp điệu được dẫn đi theo cách lập lại của cách nói lúc này lúc kia.

Đốc kết: Bài thơ này tuy là yếu ở mặt tính truyện/chuyện, mang nhiều tính cách tự sự lý luận à la truyền thống/tự do, nhưng lại mạnh ở mặt nhịp điệu cùng ngôn ngữ đời thường. Đặc điểm đáng chú tâm là cách áp dụng lặp lại cách nói để thay thế lặp lại cụm từ/âm chữ rất lý thú đáng học hỏi. Ý tưởng bài thơ rất quen thuộc trong ý niệm ví thơ như là người yêu, tình yêu, kiếp nhân sinh, mà tác giả cứ phải theo cái thay đổi của thơ, dù muốn hay không muốn. Tuy nhiên, thông điệp là cái tinh thần cầu tiến, học hỏi để theo kịp những cái đổi mới, cải thiện (của thơ, của TTHTV(?)). Ý tưởng đi đôi với phong cách sáng tác khám phá khiến bài thơ có giá trị ý nghĩa cho TTHTV.


Trầm Phục Khắc

LẶNG LẼ

con đường đẹp quá
đúng với giấc mơ
nhưng con đường rồi
phải hết mà giấc
mơ có cánh nên
giấc mơ còn nên
giấc mơ bay một
mình một mình lặng
lẽ lặng lẽ có
thấy ai đang ngóng
cổ nhìn không chắc
là không có muốn
ghé lại đây không
chắc là không giấc
mơ đâu biết nghe
đâu biết nhìn giấc
mơ buồn quá thật
là buồn mà chẳng
thể là của riêng
ai giấc mơ có
cánh thật là nhẹ
mà chẳng để bay
đến được nơi đâu
thôi thì cứ bay
một mình lặng lẽ
cho đến khi đuối
sức đuối sức đuối
sức may ra lại
rơi xuống một con
đường mà lại là
một con đường đẹp
đúng với giấc mơ
một mình lặng lẽ

  1. Bài thơ theo thể 4 chữ liên hoàn. Cách chọn thể thơ liên hoàn này hợp với cái lòng vòng của bài thơ: bắt đầu từ con đường, bay lên rồi lại rơi xuống con đường.
  2. Tính truyện của bài thơ này rất yếu trong cái “vòng lẩn quẩn” của cái tự sự triết lý. Giấc mơ thông thường đã rất riêng tư, mà bài thơ lại khai thác rỉ rả quá nên cái lý lẽ này trở thành nghịch lý.
  3. Những cụm từ như con đường; giấc mơ; lặng lẽ; được lặp lại suốt bài thơ một cách rất tự nhiên. Đặc biệt, cách lặp lại 3 lần cụm từ đuối sức liền một lúc làm nổi bật lên hình ảnh kiệt sức từ từ. Bài thơ rất nhuần nhuyễn ở mặt kỹ thuật này.
  4. Ngôn ngữ bài thơ này là ngôn ngữ nói, ngôn ngữ tâm sự muốn chia sẻ.
  5. Bài thơ không vần này nên trình bày theo thể thơ 7 chữ hoặc 6/8 bởi vì tính cách nhẹ nhàng của lời tâm sự mà thể 4 chữ rất có khuynh hướng thôi thúc, chụp giựt.

Đốc kết: Bài thơ này tuy ở mặt kỹ thuật lặp lại và ngôn ngữ đời thường rất xuất sắc, nhưng ở mặt tính truyện, ý tưởng và giọng điệu thì lại không được thu hút để gây hứng thú. Dù vậy, bài thơ này là một bài thơ THTV.


Hường Thanh

NĂM MÙNG MỐT

giờ này trên các cành
cây đang rung lắc lũ
khỉ gió rung lắc mông
trông buồn cười thật cây

cành cây ngày mốt đầu
năm buồn vui bị lũ
khí gió đem rung rung
lắc lắc mông trông mắc

cười thật cái đuôi quay
nguẩy cong cong cây tinh
thần nào biết rung lắc
sẽ là tinh thần mới rụng

vỡ các buồn vui đem
lên cành cây rung rung
lắc lắc mông trông tức
cười thật cái đuôi chất

xám quay nguẩy cong cong
cành đào mai rụng vỡ
vẫn là đào mai khỉ
gió đường trời còn lạnh !

9.2.2016 - Xuân Bính Thân
  1. Bài thơ được thể hiện qua hình thể của khổ thơ 5 chữ một câu, 4 câu một vế, hợp với nhịp vui nhộn của bài thơ.
  2. Bài thơ là một cái/tiếng cười vào cuộc đời rất “khỉ gió” có những tình huống “cái đuôi chất xám” được người ta dùng để rung cây nhát khỉ bị lòi ra cái “mông lắc lắc” trông “tức cười”, được lồng vào câu chuyện được kể trong bài thơ một cách khéo léo.
  3. Các âm ngang-bổng như rung lắc; trông mắc; đuôi chất; và âm chữ ngang-ngang như cây đang; mông trông; rung rung; cong cong..vân vân, được trải đều nhịp suốt bài thơ hợp với cách đọc vui nhộn.
  4. Ngôn ngữ trào phúng bình dị, rất dễ thương của đời thường.
  5. Bài thơ thành công ở cách lập lại các âm điệu trong thanh vui nhộn và dĩ nhiên không là vần điệu.

Đốc kết: Một bài thơ THTV hay! Đặc biệt viết vào mùng một tết năm khỉ, kể chuyện khỉ, nói chuyện khỉ gió của con người, cuộc đời …


Khế Iêm

XẤU XÍ

Cô gái mở cửa bước
vào chàng thanh niên như
chàng thanh niên mở cửa
bước vào cô gái như

cái đẹp này bước vào
cái đẹp khác nhưng người
đàn bà mở cửa bước
ra người đàn ông cũng

như người đàn ông mở
cửa bước ra người đàn
bà như cái xấu này
bước ra cái xấu khác

và sao người đàn bà
và người đàn ông xấu
xí đến thế cứ như
mỗi con người có một

thời thiên thần một thời
xấu xí và vì vậy
mà tại sao mỗi con
người xấu xí đến thế.

  1. Bài thơ mang khổ thơ 5 chữ một câu, 4 câu một vế, thường được thấy trong thơ truyền thống.
  2. Những cái so sánh giữa trẻ, già, đẹp, xấu của ngoại hình được giàn dựng qua một cách kể một câu chuyện, bọc ngoài cái so sánh giữa lúc ban đầu (khi mới yêu nhau thì cái gì cũng đẹp) và lúc về sau (khi đã chung sống lâu rồi thì có nhiều thói hư tật xấu làm mờ đi hình ảnh đẹp) ở bên trong.
  3. Kỹ thuật lặp/lập lại trong bài thơ này được áp dụng rất nhuần nhuyễn, không dư thừa mà rất tư nhiên, logic.
  4. Ngỗn ngữ xử dụng trong bài thơ rất đơn giản tự nhiên.
  5. Các âm điệu trong bài thơ được lập lại rất nhuyễn và rất đều và dĩ nhiên không nương vào vần điệu.

Đốc kết: Các kỹ thuật của TTHTV được áp dụng một cách thống nhất và nhuần nhuyễn. Một bài thơ THTV kiểu mẫu! Ý tưởng thì không mới lạ.


Nguyễn Văn Vũ

HẾT MẮC KẸT RỒI

vụng về những ngón tay mắc kẹt
vào khe vần điệu và những con
mắt nhập nhòe nhập nhòe cơn mơ
không lối ra nhiều khi muốn đi

chân đất muốn để đầu trần thả
cánh diều bay vút cao vút cao
muốn nói một lời đơn sơ thật
lòng như cơm trắng muối dưa như

giây phút hiếm hoi trải lòng cùng
bạn bè một chiều say đời ngả
nghiêng hay một sáng thảnh thơi hứng
chí vắt từng dòng từng dòng thành

những luống đời xôn xao như sóng
biển nhấp nhô nhấp nhô có cả
êm đềm và cuồng nộ có cả
quá khứ và tương lai đây rồi

có một trang thơ mới vừa mở
ra mở ra những dòng thơ mới
thiết tha chan chứa những niềm vui
những nỗi buồn của cuộc đời này…

  1. Bài thơ được trình bày qua thể thơ rất thông dụng trong thơ truyền thống: thất ngôn, tứ tuyệt; 7 chữ một câu, 4 câu một vế.
  2. Tính truyện chỉ bật ra một chút một cách liền mạch ở vế 2 và 3 trong suốt bài tự sự về ý niệm đã tìm ra một điều mới thay thế cho điều cũ đang bị “kẹt”.
  3. Những cụm từ lặp lại trong bài thơ chưa được trải đều để tạo nhịp, mà chỉ rất yếu ớt “cà lăm” một đôi đoạn, như : vút cao vút cao; nhập nhòe nhập nhòe; từng dòng từng dòng; nhấp nhô nhấp nhô.
  4. Tuy đã cố gắng thoát ra “khe vần điệu” và ngôn ngữ của bài thơ phần nhiều là ngôn ngữ đời thường rất gần gũi, nhưng vẫn còn “kẹt” lại đây đó ngôn ngữ thơ truyền thống như: luống đời, cuồng nộ ….
  5. Bài thơ tuy không giàu vần điệu, bởi kỹ thuật lặp lại cùng cái liền mạch của tính truyện chưa được áp dụng tốt, nhưng đã “hết mặc kẹt” vần điệu mà là bài thơ không vần.

Đốc kết: Mọi mặt kỹ thuật chưa được nhuần nhuyễn lắm, nhưng bài thơ hội đủ trung bình những yếu tố để nói rằng đây là một bài thơ THTV.


Hường Thanh

CÂY DÀN TREO

các chất chồng vẫn rất gọn
gàng lại ngổn ngang vẫn coi
như vẫn đựoc lấy lên chứ
không nằm để đó cho chồng

chất ý nghĩ mỗi lần đem
đi giặt giũ vẫn luôn chất
chồng người đen kịt như mọi
ngày làm công chồng chất bàn

tay chứ không còn là gánh
nặng bàn chân mỗi lần đều
bào mòn và tạo ra nếp
nhăn tuổi trẻ cắn vào những

ngổn ngang người đen kịt kia
cũng là một tất yếu hình
thành nên cây giàn để treo
đồ mà có treo đồ đâu…

15.10.2015

*đây là câu chuyện có phần dở hơi của tác giả về đống quần áo “lười” treo lên giàn (hoặc tủ).

  1. Bài thơ tuy không mang một hình thể của một khổ thơ truyền thống quen thuộc, nhưng có một khuôn khổ đều đặn : mỗi câu 6 chữ, 4 câu một vế, 4 vế cho bài thơ.
  2. Ý tưởng của bài thơ được lồng trong câu chuyện về những quần áo đã mặc, không đem đi giặt, để chất đống thành như một hình người (nộm) đen kịt, chuyên chở ý niệm những kinh nghiệm học hỏi trải qua (=quần áo đã mặc) bởi lười vận dụng trí óc, nên không rút ra những điều hay (=không đem giặt) thì cũng giống như mớ bùi nhùi đen kịt. Không giặt làm sao đem phơi, không rút tỉa làm sao đem ứng/áp dụng và như thế cái giàn treo hay sự hiện hữu không có chức năng.
  3. Cặp từ chính yếu của ý tưởng bài thơ “chất chồng” được luân phiên xoay ngược và lần lượt lặp lại đều đặn trong bài thơ. Mặt kỹ thuật này được thi triển một cách cân bằng vừa nhịp điệu, vừa ý tưởng.
  4. Ngôn ngữ xử dụng trong bài thơ đọc lên rất tự nhiên, rất đời thường.
  5. Bài thơ là một bài thơ không vần, dấu vết vần điệu không thấy xuất hiện nơi nào trong bài thơ .

Đốc kết: Giá trị đặc biệt của bài thơ THTV này là cách áp dụng kỹ thuật lặp lại đi đôi với tính truyện một cách đồng bộ rất cân bằng! Kỹ năng này nếu phát triển rộng ra các yếu tố kỹ thuật khác, thì TTHTV sẽ có những bài thơ xuất sắc.


Tranh bài: Dinah-Wakefield

TUẦN THƠ 36: TIẾNG BÊN KIA

https://www.paulklee.net/
https://www.paulklee.net/

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
https://thotanhinhthucviet.vn/Forums/


TIẾNG BÊN KIA

Nguyễn Tiến Đức

TỰA VÀO BÓNG TỐI TUYỆT LỘ

im lặng anh tựa vào bóng tối tuyệt
lộ quay về phương em anh tìm thấy
môi em thơm mùi dãi trẻ thơ đang
tụng niệm tràn trề chuỗi kinh xuân ngây

anh tìm thấy đóa cỏ linh diệu nở
trong dấu tích chân em để lại trên
đồi tử thảo anh tìm thấy chiếc võng
đan bằng những sợi tóc em buông thả

anh nằm chơi trò chơi dòng chợt vắt
anh tìm thấy mắt em chừa những mảnh
lửa bắn tung từ cơn bùng nổ sáng
tạo không cùng anh tìm thấy mắt em

nâu thẳm mở trên say nghiêng đất cùng
vũ điệu bụi hồng vơ vẩn đưa anh
vào sóng thân em biển ngầm anh tìm
thấy phía đông vuông cửa sổ phòng em

chốn duy nhất con chim thi ca mới
cất tiếng hót cấm kỵ tiếng hót phóng
viết vượt đỉnh trời sấm sét đang thiêu
rụi kinh kệ lẫn giáo điều vĩ đại.

Sinh nhật Kimberly 2002

Nguyễn Tuyết Trinh

GIẤC MƠ XUÂN

Khi những chiếc lá đã buông rơi
dưới cội cây mùa xuân trìu mến
ngọn gió đỏ níu cánh bay chim
én chảy lên ánh ngày lớp sáng

của phiêu lưu tôi muốn tìm kiếm
anh người đã từng đến trong giấc
mơ tôi tôi đã mơ nụ cười
anh và khoé mắt lặng lẽ không

để lộ thời gian mời linh hồn
tôi ương ngạnh trở về trong vòng
tay anh ve vuốt ấp ôm trên
những con đường mùa xuân mơ hồ

thời gian đi qua một cách vô
tích sự mỗi lúc một mau không
biết tới sự xót thương đổ đầy
tiếng khóc đơn độc quạnh hiu vào

cuộc đời tôi vẫn mơ tới gần
anh trang sức bằng bản thể căn
cốt của tình yêu buông lỏng sự
dối trá của những giấc mơ mù

mờ lập lờ không định hướng tôi
đã mơ được gần anh không sợ
tương lai chẳng ngại quá khứ là
tù nhân của một tình yêu duy

nhất có thật trọn vẹn thay vào
chỗ lạc lõng lạnh cóng của ảo
ảnh hư vô.


Nhiệt Đới Buồn

TIẾNG BÊN KIA

Tiếng thì thào không phải không
phải tiếng đang thì thào nhưng
cứ thì thào ở bên kia
khi bên này với tôi chỉ

là bên im lặng bởi chung
quanh chỉ là bốn phía tường
và chỉ có tôi làm động
đậy mọi thứ chung quanh mà

thôi dù tiếng rất nhỏ như
tiếng lầm bầm của tôi như
tiếng sột soạt có vẻ mệt
mỏi trong căn phòng buổi chiều

mà bên kia bên đó vẫn
tiếng thì thào đó tiếng nói
không nói về tôi mà sao
tôi lại nghe làm gì khi

kéo dài liên tục qua một
thứ không gian buổi chiều khi
không phải tiếng thì thào mà
sao tôi lại cứ lắng nghe.


VÀ EM

mưa lại rơi làm ồn
ào lỗ tai tôi mưa
buổi chiều không nghe được
tiếng động nào thêm nữa

nhìn ra cửa kính dơ
nhầy nhụa bụi dính thấy
cảnh vật nhạt và âm
ỉ những nỗi niềm bên

ngoài người cong lưng đứng
trên vỉa hè tìm chỗ
trú mưa và còn có
những người mặc mưa đi

để ướt lên áo quần
lên khuôn mặt từng người
chạy xe máy ào ạt
một vài bàn chân vụt

đi như là cơn bão
quét qua nhẹ nhàng tôi
không chìm đắm vào mưa
mà trông tháng sáu nhìn

bầu trời âm u những
đám mây ngày bỏ bóng
tối vào nhà và em
tay hứng mưa vào hồn

tôi …

5.6.2013

Phạm An Nhiên

TỪ NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐI

“Huế, Sàigòn, Hà Nội, hai
mươi năm xa vẫn còn xa ..” (*)

Tôi trở lại ba mươi sáu
phố phường Hà Nội mỗi ngày
thêm một cổ xưa – như cô
gái ngồi chồm hổm ở chợ
Đồng Xuân rao hàng lẫu cá
lẫu đồ biển lẫu thập cẩm
mời anh ngồi xuống đây uống
bia Hà Nội đặc sản quê
hương ôi mấy mùa chinh chiến.

Huế của tôi có “O” về
qua Cửa Thượng cơm hến chiều
nay cay đắng trộn vào nhau
nghe ngậm ngùi câu hò mái
đẩy xuôi ngược Hương Giang qua
cầu Trường Tiền đêm lấp lánh
đèn xanh đèn đỏ tôi tìm
“O” áo trắng đã mấy mùa.

Sàigòn phố cà phê bụi
bặm cao ốc xây dở dang
như chuyện tình cô gái mặc
mini jupe làm nghề hớt
tóc ráy tai khoe đùi trắng
và đôi mắt nhiều đêm mất
ngủ xe taxi máy lạnh
và quán bia hơi Sàigòn
ôi đã mấy mùa chinh chiến

“Huế, Sàigòn, Hà Nội, hai
mươi năm xa vẫn còn xa…”

SG 08082004
 (*)TCS

Phạm Thị Anh Nga

CON TRAI BÉ BỎNG CỦA TÔI

con trai bé bỏng của tôi hãy còn
bé bỏng lắm nhưng chẳng hiểu do đâu
nhìn thấy bản in thử cuốn tản văn
mới xuất bản của tôi nhà in vừa

đưa xem trước nó liền xuýt xoa – ối
mẹ ơi rồi mẹ sẽ bán nó à
vậy còn hai tập thơ của ba thì
có bán không hở mẹ có ai mua

sách của mẹ và thơ của ba không
hở mẹ – tôi phì cười – ờ sách mẹ
thì mẹ không biết chứ thơ thì thuở
đời nào mà bán được hở con trai

con trai tôi tiếp tục xuýt xoa – ôi
vậy là văn phải nuôi thơ hả mẹ
vậy mẹ phải làm sao bán sách thật
nhiều vào để mà bù cho tiền in

thơ chứ – con trai bé bỏng của tôi
đăm chiêu suy nghĩ moi óc để tìm
phương cách cuối cùng dường như
vô cùng hồ hởi nói – mẹ ạ mẹ

phải tìm cách khuyến mãi hay quảng cáo
bằng tờ rơi hay đố vui có thưởng
hay là mẹ in một tờ giấy to
nhiều màu thật đẹp ghi rằng ai mua

ba mươi cuốn sách của tôi sẽ được
tặng miễn phí một con mèo con và
mua sáu mươi cuốn thì sẽ được tặng
miễn phí một con mèo mẹ mẹ nhé

ôi đứa con trai bé bỏng của tôi
chưa kịp lớn khôn thêm để hiểu thì
tình cờ thấy những bưu ảnh tranh bác
chỉ cất trong nhà – biết được ba nó

cùng một số người khác bỏ tiền ra
in nó lại giẩy nẩy lên – ối mẹ
ơi văn không chỉ nuôi thơ mà còn
phải nuôi cả tranh nữa hả mẹ ơi!

nhưng mà lạ lùng quá đỗi bây giờ
con trai bé bỏng của tôi khi gặp
một cuốn sách trang đầu tiên nó lật
xem lại là trang cuối in bao nhiêu

cuốn tại đâu giấy phép xuất bản số
mấy số đăng ký bao nhiêu in xong
và nộp lưu chiểu ngày tháng năm – rồi
một hôm con trai bé bỏng của tôi

trầm ngâm tư lự đăm chiêu thì thầm
với mẹ – con muốn in sách thì có
được không mẹ giấy phép xin ai hở
mẹ – ôi con trai bé bỏng của tôi.

12 / 2003

Phạm Việt Cường

JAZZ TRƯA

tháng hai mê mê qua mấy phố
trưa còn im đợi chút nắng run
mềm dưới bầu trời mây bạc ướt

xỉn kính xe mờ căm tôi đưa
em đi vẩn vơ ngó mấy chóp
nhà mốc cũ còn sót lại bên

những cao ốc mọc lên như nấm
dại ngắm những nụ đào hồng vừa
trổ bên đường những hàng cây trụi

lá như nắm xương tàn của mùa
xuân trước lần đầu chính em dẫn
tôi xuống phố kể chuyện đời trong

quán trưa vắng tanh rưng rức nhạc
Jazz hỏi tôi sao không có ai
hủ hỉ khi tắt đèn tối lửa.


Thiền Đăng

ĐỌAN KỊCH TRÊN HAI MẶT PHẲNG

Hắn ngước nhìn lên: trên tường, một
con thằn lằn đang trườn. Trườn lên
Lại trườn xuống. Trườn dọc. Rồi trườn
Ngang. Trườn từ trái sang phải. Lại
trườn từ phải sang trái.Trườn hoài

Hắn cúi nhìn xuống: dưới sàn, một
thằng người đang trườn.Trườn lên
Lại trườn xuống. Trườn dọc. Rồi trườn
ngang. Trườn từ trái sang phải. Lại
trườn từ phải sang trái. Trườn mãi.

Và cứ như thế. Hắn hết nhìn
lên trên tường, nơi con thằn lằn
đang trườn, trườn mãi trườn hoài, rồi
lại nhìn xuống dưới sàn, nơi một
thằng người, cũng đang trườn, trườn hoài

Trườn mãi


TPKỳ

THÁNG BA

Tháng Ba vẫn còn gió lạnh và
thỉnh thoảng cơn buồn lại kéo dài
đã đi qua một chặng lắng nghe
tiếng chân bước thầm bên sóng biển

màu trời chì ngửa tay đón gió
và chờ chút nắng về giữa tháng
Ba còn lạnh thôi thì cứ bước
đi khi còn bước được dù thấp

dù cao bãi cát kia vẫn lành
lặn như bao giờ và giữa trời
tháng Ba xám chì vẫn thấy hàng
cây bên đường những nụ non chớm

mọc và hình như xa có những
chồi đỏ khi tháng Ba vẫn còn
gió lạnh và thỉnh thoảng cơn buồn
lại kéo dài … dài hơn tháng Ba


Trầm Phục Khắc

MÂY BAY

Chiếc ghế đặt gần khung
cửa sổ trong một căn
phòng là một phần kỉ
niệm thuộc về của riêng

tôi cho dù đó vẫn
có thể là một phần
kỉ niệm của một hoặc
nhiều hơn một người nào

đó đã từng bước vào
căn phòng có chiếc ghế
đặt gần khung cửa sổ
thế nhưng vì rốt cục

rồi bất cứ ai trong
đó có tôi cũng đành
phải bước ra khỏi căn
nhà thậm chí bước ra

khỏi con đường có căn
nhà có căn phòng có
chiếc ghế đặt gần khung
cửa sổ và nếu có

may mắn lắm thì chỉ
còn lại thoáng mây bay.


Tranh bài: Paul Klee

THẤP THOÁNG NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THƠ

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt


Khế Iêm
Tặng các nhà thơ Biển Bắc và Hồ Đăng Thanh Ngọc

Nhà thơ và nhà nghiên cứu Mỹ Timothy Steele, trong bài viết “Phép làm thơ cho những nhà thơ thế kỷ 21”, nhấn mạnh, cách làm thơ trong thế kỷ tới sẽ là tuôn nhịp điệu ngôn ngữ nói vào thể luật, để hình thành nhịp điệu thơ. Nhà thơ Mỹ, Carl Sandburg (1878 –1967) cho rằng,

“thơ tự do đã khai sinh – từ khi những người nguyên thủy và tiền sử cất tiếng nói với ngữ điệu hoặc sắc thái, tạo ra (hoặc ý nghĩa của âm nhạc hoặc vô nghĩa của giai điệu), lưu giữ và lập lại những giá trị rõ ràng và nội tại của nó – trước cả thời đại của sonnet, ballad, những thể thơ trong đó nhà văn phải ý thức một cách sắc sảo, ngay cả nhận thức một cách tinh tế, tổng cộng bao nhiêu âm tiết phải có trong mỗi dòng thơ.”

Ngữ điệu nói khi chuyển trên trang giấy thành nhịp điệu văn xuôi. Thơ tự do, với kỹ thuật phần mảnh, rải chữ, cắt chữ xuống dòng, một lần nữa biến nhịp điệu văn xuôi thành nhịp điệu hình ảnh, nhịp điệu ý tưởng, cũng trên trang giấy. Như vậy, nhịp điệu thơ tự do từ ban đầu là nhịp điệu của văn xuôi.

Cuộc hôn phối giữa thơ thể luật và thơ tự do đưa tới hệ quả, thể luật chắt lọc và cô đọng nhịp điệu văn xuôi, và nhịp điệu văn xuôi, cùng lúc, sẽ làm lơi lỏng thể luật, giúp nhà thơ tránh cách chọn chữ chọn lời, rơi vào tình trạng giả tạo như thời Victoria. Timothy Steele viết, “Tiếng Anh không bao gồm các âm tiết yếu hoặc mạnh rõ ràng. Mức tăng giảm độ nhấn giọng trong văn nói tiếng Anh hầu như vô hạn, và độ nhấn, đối với một âm tiết cụ thể có thể thay đổi từng lúc, phụ thuộc vào hoàn cảnh ngữ âm và lời nói, và trên bối cảnh ngữ pháp tu từ. Hơn nữa, nhà thơ thể luật không sáng tác những dòng thơ theo luật nhấn (không nhấn, nhấn). Thay vào đó, họ viết những nhóm chữ hay mệnh đề phù hợp với luật thơ hay những đoạn thơ; từ đó, chỉ cần một cái nhấn ban đầu, và sau đó, hầu hết những nhóm chữ hay mệnh đề sẽ có những âm tiết với mức độ nhấn khác nhau: thứ hai, thứ ba, hoặc yếu. Vì thế, trong câu thơ iambic, sự biến động giữa các âm tiết yếu và mạnh tương đối chứ không tuyệt đối. Đôi khi, cùng một âm tiết có thể được phát âm khá rõ. Vào những lúc khác, nó yên lặng và mỏng manh hơn. Những ví dụ trên cho thấy, sự khác nhịp điệu trong vòng trật tự thể luật được tăng cường bởi số lượng và vị trí của các mối nối cú pháp trong các dòng thơ. Các yếu tố khác như vắt dòng – việc mang ý nghĩa từ dòng này qua dòng kế tiếp, với hơi ngừng hoặc không ngừng ngữ pháp ở dòng cuối – cung cấp nhịp điệu bổ sung đa dạng cho những bài thơ thể luật.”

Ông phân biệt ra làm hai loại nhịp điệu: nhịp điệu của thể luật và nhịp điệu của ngôn ngữ nói chuyển tải vào thể luật. Sự phối hợp của hai loại nhịp điệu này tạo ra nhịp điệu của thơ. Nhịp điệu của thể luật, không nhấn, nhấn được gọi là nhịp luật trừu tượng vì nó có sẵn trong tâm thức nhà thơ. Khi gặp nhịp điệu của ngôn ngữ nói, nhịp luật là phương tiện lọc lại hay phối hợp để cho chúng ta nhịp điệu thơ. Nhưng tại sao lại gọi nhịp điệu của thể luật là nhịp luật trừu tượng? Để giải thích, chúng ta có thể viện dẫn cách sáng tác thơ vần điệu Việt: Những luật không nhấn, nhấn trong thơ tiếng Anh hay luật bằng trắc trong thơ Đường hay thơ Việt, chỉ để dạy trong những sách giáo khoa, học về thơ. Còn khi sáng tác, những nhà thơ, thuộc nằm lòng thơ từ lúc còn nhỏ, nên những giai điệu trầm bổng đã nằm sẵn trong tiềm thức. Họ không cần quan tâm tới luật bằng trắc, chỉ cần chọn chữ chọn lời rồi sắp xếp nhạc tính sao cho du dương trong đầu rồi viết thành thơ. Nhạc tính và phong cách từng bài, của từng nhà thơ luôn luôn khác lạ, dù trong khuôn khổ định sẵn của thơ vần điệu là lục bát, 7 chữ, 8 chữ hay 5 chữ.

Cách sáng tác như thế của thơ Việt, giúp cho nhà thơ có những rung động tinh tế về nhạc tính của ngôn ngữ, nhưng vì là ngôn ngữ đơn âm, và phải có vần ở cuối câu, nên nhà thơ không thể tuôn ngôn ngữ nói thông thường vào thơ được, mà nhịp điệu hay sự trầm bổng của ngôn ngữ nói chính là nhịp điệu hay sự trầm bổng của văn xuôi. Thơ khó có thể chuyển tải tư tưởng, và nhà thơ chỉ tập trung vào làm sao có những âm điệu du dương khi ngâm lên, làm rung động người nghe. Trái lại tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm, có rất nhiều vần trong mỗi chữ nên dù là có vần hay không vần, vẫn có thể mang ngôn ngữ nói vào thơ, và dễ dàng chuyển tải tư tưởng, Những nhà thơ lớn của thơ truyền thống phương Tây, từ những ngôn ngữ đa âm, đều có lợi thế này. Đối với thơ Việt, khi đưa nhịp điệu nói vào các thể không vần, lục bát, 5, 7, 8 chữ, cùng với kỹ thuật lập lại, vắt dòng, tất cả kết hợp lại thành một bộ máy kiềm chế, cô đọng câu chữ, và biến nhịp điệu nói thành nhịp điệu thơ.

Timothy Steele đề cập tới cách làm thơ ở thế kỷ 21, thế còn cách làm thơ ở thế kỷ 20? Trong thế kỷ 20, thơ thể luật tiếng Anh bị đẩy vào hậu trường, và thơ tự do Mỹ, tiêu biểu cho thơ phương Tây, trở thành vai diễn chính. Trả lời những câu hỏi này, chúng ta phải lần theo những bước chân thời Ánh sáng, cách nay hơn ba thế kỷ. Vào khoảng giữa thế kỷ 17, sau thời Phục hưng và cuộc chiến tranh tôn giáo (1618-1640), khí hậu lạc quan lan tỏa khắp Âu châu, mở ra thời kỳ Ánh sáng. Trong khi những nhà tư tưởng thời Phục Hưng và thời cải cách tôn giáo (Tin lành) cho rằng kiến thức quá khứ (La Hy) là nguồn đáng tin cậy của sự khôn ngoan, thì sau nửa thế kỷ 17, những nhà tư tưởng chối bỏ mọi thẩm quyền cổ đại, và chỉ dựa vào trí tuệ của chính họ, để xem kiến thức sẽ dẫn họ đi tới đâu. Họ nhấn mạnh vào khoa học, và cho rằng, kiến thức nếu không thực hành thì vô giá trị. Hầu hết tư tưởng Ánh sáng bắt nguồn từ ba tiền đề:

1/ toàn thể vũ trụ có thể nhận thức được bằng trí óc, và chi phối bằng những lực tự nhiên hơn là siêu nhiên;

2/ phương pháp khoa học chính xác có thể trả lời những câu hỏi nền tảng ở khắp mọi địa hạt;

3/ con người có thể được “giáo dục” để hoàn thành sự mở mang kiến thức gần như vô giới hạn.

Cuộc cách mạng khoa học thời Ánh sáng với phương pháp khoa học hiện đại, tổng hợp phương pháp qui nạp bằng những quan sát duy nghiệm của Francis Bacon, và phương pháp diễn dịch qua những nguyên lý rút ra bằng trực giác của Réne Decartes. Phương pháp khoa học hiện đại kết hợp với chủ nghĩa duy lý trong triết học là hai đặc tính chủ yếu thời hiện đại. Thời Ánh sáng kéo dài cho đến cuộc cách mạng Pháp 1789, và với sự phản kháng của chủ nghĩa Lãng mạn, vào nửa đầu thế kỷ 19. Một thế kỷ sau cuộc cách mạng khoa học là cách mạng kỹ nghệ nửa cuối thế kỷ 18, xảy ra ở Anh, khoảng thập niên 1760, khởi đầu với James Hargreaves phát minh ra máy xe sợi (spinning jenny) trong kỹ nghệ dệt năm 1767, và James Watt, phát minh ra máy hơi nước và đơn vị “mã lực’ vào năm 1769. Thời đại máy móc bắt đầu với năng lượng hơi (steam-power) và những xưởng đúc sắt ở vùng mỏ than Derbyshire, đặt nước Anh thành trung tâm của cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng sau đó tràn qua Âu châu vào đầu thế kỷ 19, kéo theo sự phát triển thành thị, hình thành đời sống thị dân, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tư bản. Cho đến những năm sau 1870, cuộc cách mạng kỹ nghệ lần thứ hai tiếp diễn. Công nghệ mới, đặc biệt trong lãnh vực thép, điện và sinh hóa, sản xuất những sản phẩm mới và những công trình kiến trúc hiện đại. Tiếp theo là những phát minh dồn dập đến chóng mặt: giao thông vận tải (xe hơi, máy bay, xe điện ngầm), truyền thông (phim ảnh, điện thoại, máy đánh chữ, máy ghi âm), vật liệu mới (bê tông cốt sắt, thép, kính dày, plastic…), nhiên liệu mới (dầu hỏa, điện, động cơ khí đốt, máy hơi nước…). Đầu thế kỷ 20, Max Planck giới thiệu lý thuyết Lượng tử (Quantum), cùng năm, Sigmund Freud mở đầu phân tâm học (psychoanalysis) với Giải thích giấc mơ (Interpretation of Dream), vào 1900, và Albert Einstein với lý thuyết Tương đối (1905 và 1915).

Chủ nghĩa hiện đại, về văn học nghệ thuật, được báo hiệu bởi chủ nghĩa Tượng trưng (thập niên 1860-1870) trong thơ, chủ nghĩa Ấn tượng (thập niên 1870- 1880) trong hội họa. Trước giữa thế kỷ 18, người thưởng ngoạn là giới quí tộc, sau 1870 là giai cấp trung lưu, nhưng từ đầu thế kỷ 20, tầng lớp người đọc và báo chí gia tăng, khiến những nhà văn và nghệ sĩ coi thường văn hóa vật chất tầm thường, đa sầu đa cảm. Họ không quan tâm tới độc giả rộng lớn, sống xa cách xã hội, đề cao sự tự ý thức, và tác phẩm chỉ để họ đọc với nhau. Trước 1850, người đọc dễ dàng đọc tiểu thuyết Dickens, sau 1900, người thưởng ngoạn bình thường khó mà hiểu nổi tranh Paul Cézanne hoặc một bài thơ của Paul Valéry. Nghệ sĩ và công chúng không còn nói cùng một ngôn ngữ. Sau 1900, bước qua thế kỷ 20, các nghệ sĩ và những nhà tư tưởng nổi loạn chống lại mọi định chế và học thuyết trước đó, trong mọi lãnh vực từ nghệ thuật, văn học, khoa học, y khoa, triết học … Họ là những nhà trí thức vô chính phủ, tự tách ra khỏi những ý tưởng, và phá vỡ mọi nguyên tắc, mọi phạm trù đã từng kết nối với những giá trị và trật tự truyền thống. Họ bác bỏ tất cả các nguyên tắc tôn giáo và đạo đức, phủ nhận mọi niềm tin, cho dù đó là chính trị, nghệ thuật, khoa học hay triết lý, như là phương tiện mở đường cho tiến bộ xã hội. Cuộc cách mạng hào hứng và rộng khắp đó, được gọi là chủ nghĩa hiện đại, và ảnh hưởng của nó còn kéo dài cho tới cuối thế kỷ.

Nguyên nhân đầu tiên là những khám phá về công nghệ mới đã thay đổi nếp sống con người. Nếu vào đầu thế kỷ 19, những nhà Lãng mạn lý tưởng hóa thiên nhiên, thì bây giờ thành phố thay thế thiên nhiên như một động lực của cuộc sống. Những thành phố lớn như Paris, New York, London, Berlin … những ngôi nhà chọc trời, những công ty liên doanh, và cả cuộc chiến tranh mang tầm thế giới đã để lại những vết cắt sâu đậm trong nền văn minh. Với tốc độ những khám phá khoa học đang diễn ra, văn hóa phải tự tái xác định không ngừng để bắt kịp với thời đại. Chưa bao giờ những trường phái ra đời nhiều như vậy, vì cái gì vừa mới xuất hiện, lập tức không còn mới nữa, điều họ gọi là sáng tạo và sáng tạo không ngừng, phản ảnh tiến trình đổi mới công nghệ. Chủ nghĩa Ly khai (secessionism), Dã thú (Fauvism), Biểu hiện, Lập thể, Vị lai, Dada, Siêu thực. Pablo Picasso đi xa trong thử nghiệm với nhiều phong cách, và không bao giờ cảm thấy thoải mái và bằng lòng với bất kỳ phong cách nào. Nếu trước kia, truyền thống nghệ thuật từ thời cổ đại là bắt chước, được hoàn thiện trong thời Phục hưng, và nổi bật trong thế lỷ 19, thì những nhà hiện đại coi đó là quá giới hạn và không phản ảnh được cuộc sống. Freud và Einstein đã hoàn toàn thay đổi nhận thức về thực tại. Freud yêu cầu chúng ta nhìn vào thế giới bên trong của một cá nhân mà trước đó đã bị đèn nén, và Einstein cho chúng ta thấy rằng, mọi thứ đều tương đối.

Trong bối cảnh và tình huống như vậy, thơ tự do ra đời.

– Trước hết, tập thơ Lá Cỏ (Leaves of Grass) của Walt Whitman, năm 1855, và Ác Hoa (Flowers of evil) của Charles Beaudelaire, năm 1857. Và thơ tự do Pháp bắt đầu khoảng 1880.
– Phái Hình tượng (Imagism, 1909-1917), Lập thể (Cubism, 1911-1921), Trừu tượng (Abtract art, 1909-1913), Dada (1916-1924), Siêu thực (Surrealism, 1924-1930).
– Chủ nghĩa hiện đại kéo dài từ 1910 tới 1930, bắt đầu với phái Hình tượng cho đến hết chủ nghĩa Siêu thực, là 20 năm. Năm 1929, khủng khoảng kinh tế toàn cầu, cho đến khoảng cuối thập niên 1930. Chiến tranh thế giới lần thứ II từ 1939-1945. Và từ thập niên 1950 tới 1980 là chủ nghĩa hậu hiện đại.

50 năm sau tập thơ Lá Cỏ của Whitman và 30 năm sau thơ tự do Pháp, thơ tự do không phát triển thêm, một phần chỉ dựa vào cú pháp và văn phạm, khó biến hóa, một phần khác là từ đầu thập niên 20, văn hóa Âu châu đã trở nên ốm yếu, tự mãn, nhàm chán, sợ hãi sự thay đổi, và bị ràng buộc quá nhiều vào quá khứ. Những chỉ dấu cho thấy sự chuyển hướng văn hóa, cuộc triển lãm tại New York City, mang tên Alfred Stieglitz 291 vào năm 1908, giới thiệu hầu hết những nghệ sĩ tiền phong Âu châu đương thời như Henri Matisse, Auguste Rodin, Henri Rousseau, Paul Cézanne, Pablo Picasso, và Marcel Duchamp. Nhưng nổi tiếng là cuộc triển lãm Armaty Show, một biến cố quan trọng trong lịch sử hội họa Mỹ, trong đó hội họa hiện thực Mỹ đã làm ngạc nhiên giới thưởng ngoạn, song hành với sự thử nghiệm của những phong trào tiền phong Âu châu, bao gồm những trường phái như Dã thú (Fauvism), Lập thể (Cubism). Cuộc triển lãm là chất xúc tác, làm cho những họa sĩ Mỹ độc lập hơn và sáng tạo “ngôn ngữ hội họa” của chính họ. Đặc biệt năm 1915, Marcel Duchamp định cư tại New York. Vào những thập niên 1940, 1950, trung tâm những phong trào tiền phong đã chuyển hoàn toàn từ Paris tới New York.

Thơ tự do Mỹ và thơ tự do Pháp phát triển riêng rẽ nhưng lại ảnh hưởng lẫn nhau một cách thú vị. Thơ tự do Pháp bắt nguồn từ thơ văn xuôi của Beaudelaire, Rimbaud, và được phát động từ Kaln khi ông đảm trách tờ La Vogue vào năm 1885. Nhưng thơ văn xuôi của Beaudelaire lại ảnh hưởng từ nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe, khi ông dịch những tác phẩm của Poe qua tiếng Pháp. Trong số báo 28, tháng 6 1886, xuất hiện những bài thơ tự do đầu tiên của Kaln, và một số bài thơ dịch từ tập Lá Cỏ của Whitman bởi Jules Laforgue. Những nhà phê bình Pháp cho rằng, hình thức thơ Whitman đã ảnh hưởng tới thơ tự do Pháp. Câu chuyện giữa thơ tự do Pháp, chủ nghĩa Tượng trưng và thơ tự do Mỹ dây dưa cho tới đầu thế kỷ 20, khi T. S. Eliot và Ezra Pound ảnh hưởng thơ tự do Pháp, qua nhà thơ Tượng trưng, nhà tiểu thuyết, nhà phê bình văn học và văn hóa đa dạng là Remy de Gourmont (1858 – 1915), trở về phát triển thơ tự do tiếng Anh.

De Gourmont là nhà thơ Tượng trưng cuối cùng, tiêu biểu cho tư tưởng lý trí và thi pháp Tượng trưng. Trong một tiểu luận đăng trong The New Age vào năm 1909, nhà thơ Anh, F. S. Flint cho rằng, tác phẩm của de Gourmont, một nghệ sĩ và nhà thơ,

“được nhìn qua đôi mắt lạnh lùng của nhà khoa học”.

Điều này gợi tới những nguyên tắc Ánh sáng

“chúng ta không do dự khi giới thiệu khoa học vào văn học hoặc văn học vào khoa học… Chúng ta thu thập trong tâm trí tất cả ý tưởng nó có thể chứa, và nhớ rằng lãnh vực trí thức là vô giới hạn.”

Tác phẩm của ông có tính phân tính và tổng hợp: chủ nghĩa hoài nghi sáng tạo, nói cách khác, đó là truyền thống thu nhỏ của thời đại Ánh sáng. Văn xuôi của de Gourmont kết hợp với chủ nghĩa Lý trí, ở cả kỹ thuật lẫn nội dung,

“phản ánh ngôn ngữ thông thường”

, và ngôn ngữ này trở thành nơi “nối kết văn hóa” giữa các ngôn ngữ khác nhau.

Thơ tự do với ngôn ngữ trọng âm đã như gặp một miền đất màu mỡ, phát triển tột độ qua những phong trào tiền phong. T. S. Eliot và Ezra Pound thừa hưởng và mang nguyên tắc lý trí của de Gourmount và tinh thần khai phá Mỹ vào thơ tự do, với phái Hình tượng, dùng hình ảnh cụ thể, diễn đạt trong sáng và ngôn ngữ thường ngày. Thơ tự do tiêu biểu cho lý trí thời hiện đại, còn được gọi là thơ trí tuệ hay thơ hiện đại, thể hiện sự tự ý thức cao độ trong cách nhìn thế giới bên ngoài, phản ảnh tư duy trong thời đại duy lý và những phát minh công nghệ mới. Thơ hiện đại có đặc tính: thử nghiệm, chủ nghĩa cá nhân, và chống chủ nghĩa hiện thực. Thử nghiệm, có nghĩa là luôn luôn tìm kiếm, chủ nghĩa cá nhân có nghĩa là trở thành trí thức và cá nhân tự tin (self-confidence). Nhấn mạnh vào lý trí hơn là tình cảm.

Thơ tự do, sau Walt Whitman, biến thành một lọai thơ khó với T. S. Eliot, Ezra Pound. “The Waste Land” của T. S. Eliot là một tác phẩm khó, ít nhất là 4 đặc điểm như sau: hình thức rời rạc và đứt đoạn, trích dẫn những tiếng ngoại quốc (Latin, Đức, Pháp, Ý, và Sanskrit), đủ loại ẩn dụ (tham khảo ít nhất 37 tác phẩm về nghệ thuật, văn học, lịch sử và âm nhạc), và cấu trúc huyền thoại. Những tham khảo này chẳng nhưng chỉ là bản văn chính yếu của văn học phương Tây (Kinh Thánh, Virgil, Ovid, Thánh Augustine, Dante, Shakespeare, Spenser) mà còn thơ của Baudelaire, Verlaine, Nerval, kịch của Thomas Middleon, Ben Webster, Thomas Kyd, John Lyle, ca kịch Oprera của Wagner, sách của Hermann Hesse, và Phật giáo. Bài thơ theo cách như vậy, chẳng khác nào bản trích yếu hay văn khố lưu trữ của nền văn minh phương Tây. Giống như hội họa, thơ chừng như sử dụng phương pháp cắt dán, từ rất nhiều nguồn sách báo khác nhau. Nhưng chẳng phải chỉ có thơ tự do là khó. Hội họa với tranh Lập thể, Trừu tượng, Siêu thực không khó sao? Nói tóm lại, những tác phẩm hiện đại, từ thơ, hội họa đến tiểu thuyết, được nhận biết là khó, kết hợp với sự xa lạ và khác biệt. Nhà văn hiện đại D. H. Lawrence (1885-1930) cho rằng

“… ở chừng mực nào đó, đọc một tiểu thuyết thật sự mới luôn luôn gây đau đớn. Luôn luôn có sự đề kháng. Điều này cũng giống như những bức tranh mới, âm nhạc mới. Bạn có thể phán đoán thực tại của chúng bởi sự kiện, chúng khuấy lên một sự đề kháng nào đó, và thúc ép, cuối cùng, sự mặc nhận nào đó.”

Thơ tự do không những khó trong cách đọc, còn khó trong cách làm. Có lẽ là nhà thơ phải tự tạo nên luật tắc của họ, từ bỏ tất cả những yếu tố truyền thống? Tạo ra luật tắc có nghĩa là tạo ra cấu trúc thơ, thay thế cho thể luật truyền thống. Có hai yếu tố trong cách làm một bài thơ: trật tự và hỗn mang. Trật tự là âm thanh (thể thơ) và thị giác (cấu trúc), dùng để kiềm chế hỗn mang là ý nghĩa và cách diễn đạt. Thơ tự do nếu không tạo ra được cấu trúc, người làm thơ mất phương tiện kiềm chế, thơ rơi vào tình trạng lan man, tuôn ra hết trang này đến trang khác, và người đọc sẽ không hiểu nhà thơ muốn nói gì. Nhưng tạo ra được cấu trúc thơ thì rất khó vì cấu trúc là hình thức bài thơ trên mặt giấy, cũng như thể thơ, phải làm cho người đọc nắm bắt được ngay, không cần qua lý luận. Có thể nhận ra điều này khi đọc thơ William Carlos Williams, ông tạo cấu trúc thơ từ nhịp điệu ngôn ngữ nói thông tục, và ông gọi là hình thể nghệ thuật (art form), trong những bài thơ ngắn, hình thức đơn giản nhưng ý nghĩa súc tích, và sâu lắng. Ông chủ trương thoát ra khỏi những thể thơ truyền thống và ẩn dụ không cần thiết, nhìn thế giới một cách cụ thể và trung thực. Marianne Moore từng viết, Williams dùng ngôn ngữ bình thường đến cả

“mèo và chó cũng có thể đọc”.

Williams là một trong những nhà thơ chính của phái Hình tượng, nhưng sau đó ông không đồng ý với giá trị thể hiện qua những sáng tác của Pound, đặc biệt là Eliot, bởi những nhà thơ này quá gắn liền với văn hóa và truyền thống Pháp. Thơ tự do sau thập niên 1950, được gọi là thơ hậu hiện đại. Ở đây cần nhấn mạnh, hội họa Trừu tượng Biểu hiện Mỹ (Abstract Expressionism) vào thập niên 1940 được coi là đỉnh cao của hội họa hiện đại, cũng là khó hiểu nhất, với những Jackson Pollock, Willem de Kooning, Arshile Gorky, Hans Hofmann… nhưng đến cuối thập niên 1950, Pop Art phản ứng lại, vẽ hình ảnh lập lại những đồ vật cụ thể thường ngày, như bức tranh 200 Campbell’s Soop cans, 1962, của Andy Warhol, hoặc Two Cheeseburgers With Everything 1962, của Claes Oldenburg … Âm nhạc cũng quay qua Pop music, Rap music, Hip hop … Nhưng tại sao trong thơ hậu hiện đại vẫn tiếp tục là loại thơ khó, khó hơn cả thời hiện đại. Câu chuyện như sau: Vào cuối thế kỷ 19, nhà thơ tự do đầu tiên của Mỹ Walt Whitman cho rằng,

“Để có những nhà thơ lớn, phải có số người đọc lớn.”

Người đọc Whitman ám chỉ tới trong thời ông là những người đọc bình thường. Một thế kỷ sau, hậu duệ những nhà thơ tự do của ông xóa sạch không còn người đọc bình thường nào. Thơ Mỹ rơi vào khủng khoảng vào cuối thập niên 1980, đến nỗi Joseph Epstein phải đặt câu hỏi, “Ai đã giết thơ?” Thơ hiện đại và hậu hiện đại tồn tại nhờ vào cơ chế đại học. Với hàng trăm chương trình viết văn trong các trường đại học Mỹ, hàng năm sản xuất hàng ngàn nhà thơ, những nhà thơ sau đó trở thành thầy dạy, cùng với sinh viên, là số người đọc của thơ hiện đại. Những đại học Mỹ có cơ chế tự trị và tự do học thuật, thường bảo trợ rộng rãi cho những hoạt động văn hóa, và ở thời đó, thơ tự do là loại thơ thuần lý, được phần đông giới giáo chức dạy văn, dùng như một nghề sinh sống, làm thơ càng ngày càng mất sức sống.

Williams có ảnh hưởng đặc biệt đối với những phong trào tiền phong thập niên 1950, từ the Beat Generation, the San Francisco Renaissance, trường phái Black Mountain, và trường phái New York. Ông trở thành một khuôn mặt chuyển tiếp giữa thơ hiện đại và hậu hiện đại. Cấu trúc thơ do ông thể hiện đã thành tiêu chuẩn cho những thế hệ sau noi theo. Nhưng nếu cấu trúc thơ của ông hình thành từ ngôn ngữ và đời sống bình thường với những con người bình thường, thì các phong trào tiền phong lại tạo ra những hình thức thơ bằng cách, tách nhóm chữ xuống dòng (phrase-breaking), tách chữ xuống dòng (word-breaking), vặn vẹo chữ (word-jamming). Thơ phá vỡ cú pháp văn phạm, ý tưởng rời rạc và phần mảnh, đẩy người đọc rơi vào mê cung của ngữ nghĩa. Những yếu tố như nhạc tính hay nhịp điệu âm thanh không còn được quan tâm. Thơ là tiến trình phân tích và tổng hợp, khó hiểu đến mức chỉ còn là trò chơi tung hứng giữa nhà thơ và những nhà phê bình. Thật ra, văn học nói chung, thoát thai từ chủ nghĩa hậu hiện đại, phản ứng lại những lý tưởng thời Ánh sáng và hiện đại, không thể giải quyết được những vấn đề của con người, nên đã đề cao vai trò của ngôn ngữ, hòa trộn giữa tâm trí và tưởng tượng (tiểu thuyết trinh thám, viễn tưởng …), chập chờn trên cái đống đổ nát của hiện đại. Đến thập niên 1980, thơ hậu hiện đại đẩy lên một tầng khác, dựa vào lý thuyết hậu cấu trúc, với phong trào tiền phong thơ Ngôn ngữ, biến thơ thành vô nghĩa. Và chấm dứt luôn thơ hậu hiện đại.

Nhưng tại sao lại phân thơ tự do ra hai thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại? Thơ hiện đại phản ánh nhịp độ khám phá dồn dập những công nghệ khoa học và chủ nghĩa duy lý. Nhưng đến sau thập niên 1950, những khám phá khoa học không còn kịch tính như đầu thế kỷ 20 nữa, thậm chí sau thế chiến thứ II, khoa học còn bị đặt dấu hỏi, và những lý tưởng thời Ánh sáng lụi tàn vì không hề mang hạnh phúc đến cho con người. Thơ hậu hiện đại chỉ còn cách phản ánh lại chính nó và tâm trí nhà thơ, với trò chơi ngôn ngữ và ý tưởng, tách lìa khỏi đời sống xã hội. Thơ tự do là sản phẩm của thời hiện đại và hậu hiện đại, như vậy, bây giờ biết sẽ đi đâu? Thật ra, sự phân chia thời kỳ hiện đại hay hậu hiện đại chỉ là trên hình thức. Văn hóa là dòng chảy liên tục và sự thay đổi cũng xảy ra từ từ chứ không hề mang tính đột phá. Văn học nghệ thuật ở bất cứ thời nào cũng là di sản trân quí của nhân loại. Thơ thể luật dù bị đẩy ra ngoài dòng chính ở phương Tây, nhưng vẫn tiềm tàng trong đời sống vô thức của những nhà thơ. Thơ tự do, chiếm ưu thế suốt một thế kỷ, với những phong trào tiền phong đầy sôi động, không dễ gì tự nhiên mất đi. Thơ vốn khó, theo Eliot, “phản ánh một thời đại phức tạp”, nhưng ở mặt khác, thơ tự do cũng là một thể thơ rất dễ dãi, vì người làm thơ dễ dấu đi sự thiếu năng khiếu của mình hơn các thể thơ khác. Thơ dễ, không cần ý thức về nhịp điệu, ngay cả cảm hứng, nên ai cũng có thể làm, trở thành phương tiện thoải mái ghi xuống những suy nghĩ hay những quan điểm cá nhân về chính trị, xã hội, triết lý, và cả biến thơ thành trò chơi tu từ.

Thơ tự do Mỹ, sau thập niên 1990, không còn độc quyền được giảng dạy trong những chương trình viết văn. Theo Altieri, khái niệm “kỹ năng phải kín đáo sao cho tác phẩm nói bằng giọng tự nhiên, làm cho người đọc như đang kinh nghiệm lại biến cố ngay từ ban đầu đã trở thành ‘lời kinh đương thời’ (contemporary litany), được ghi khắc bởi những nhà thực hành thơ, trong những chương trình viết văn.” Và thế hệ những nhà thơ trẻ thập niên 1990, như Dana Gioia, Timothy Steele, Mark Jarman, Frederick Turner … trở thành những người thầy giảng dạy, và họ đang là những nhân tố tích cực trong việc hòa giải giữa thể luật và tự do. Với sức mạnh và cơ sở có sẵn, với một lực lượng sinh viên và giáo sư không nhỏ, gây mầm cho việc trở lại kỹ năng và nghệ thuật thơ, thơ Mỹ trong thế kỷ mới, sẽ lại tạo nên một cuộc chơi lớn, đưa thơ tới những người đọc bình thường, không còn là đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Một lần nữa, thơ, vừa làm một bước nhảy tới tương lai vừa quay về nối kết với những giá trị đã thành tựu trong quá khứ.

Cách phân tích của Timothy Steele, giữa nhịp luật và nhịp điệu của ngôn ngữ nói, không phải là lý thuyết suông, mà là những phân tích, dựa theo những sáng tác mới của những tác giả trẻ thời thập niên 1990, đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ thể luật. Thật ra, đưa ngôn ngữ thông thường vào thể luật đã có từ thời Lãng mạn với nhà thơ William Wordsworth, và sau này với nhà thơ Robert Frost, mà ông gọi đó là “sự liên hệ cách điệu” (strained relation). Đầu thế kỷ 20, những nhà thơ tự do tách nhịp điệu văn xuôi ra khỏi thể luật, rải chữ xuống dòng thành nhịp điệu trên trang giấy, như đã nói ở trên. Và bây giờ, theo Timothy Steele, nhịp điệu văn xuôi lại tái hợp với thể luật, tạo nên cách làm thơ mới cho những nhà thơ thế kỷ 21, không khác gì với thơ Tân hình thức Việt. Bài viết của Timothy Steele vào năm 2006, trong khi thơ Tân hình thức Việt khởi đi trước đó, từ năm 2000, chứng tỏ, thơ Tân hình thức Việt có khả năng đồng hành với những nền thơ lớn khác trong thế kỷ tới. Nhưng thực tế thì khác hẳn, thơ Mỹ luôn luôn được sự hổ trợ bình đẳng và mạnh mẽ từ những cơ chế đại học, với những diễn đàn, hội thảo, in ấn, giải thưởng, những chương trình viết văn, giảng dạy … còn thơ Tân hình thức Việt, được kể, với hành trang chỉ là niềm tin mong manh vào sự quan tâm và công tâm của những nhà phê bình, và sự kiên trì của những nhà thơ thực hành nó.


Ghi chú thêm về thơ Tân hình thức Việt

Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc đề nghị, cần định nghĩa cụ thể những yếu tố thơ Tân hình thức Việt: vắt dòng, tính truyện, ngôn ngữ đời thường,kỹ thuật lập lại. Nhà bình luận Luân Nguyễn cho rằng, cả 4 yếu tố này đều đã có trong thơ Việt. Ông dẫn ra,

“Ngôn ngữ dung tục và lối kể đã có trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyễn (thơ trung đại) (kê khoai, phì phạch, sướng, cọc, lỗ, đĩ, chợ búa, dưa muối,…);

kỹ thuật vắt dòng trong Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ

Trời cao xanh ngắt ô kìa
Hai con hạc trắng bay về bồng lai

, trong nhiều bài thơ Bích Khê (thơ Mới trước 1945)”. Thật ra, ngôn ngữ mà Luân Nguyễn nêu lên ở đây, là chữ, trong thơ vần điệu, còn ngôn ngữ thơ Tân hình thức được hiểu là

cách nói, cách diễn đạt của ngôn ngữ.

Ngôn ngữ thơ Tân hình thức cũng không hẳn là ngôn ngữ dung tục mà là ngôn ngữ nói thông thường, hay cách nói thông thường. Như ca dao là ngôn ngữ thông thường có vần có điệu, còn thơ Tân hình thức thì mang những câu nói đời thường vào thơ không vần. “Lối kể” trong thơ vần điệu có khác với “tính truyện” trong thơ Tân hình thức, vì trong thơ Tân hình thức, ngoài việc kể một câu truyện, trong những bài thơ ngắn còn có tính nối những ý tưởng liền lạc lại với nhau để hình thành tư tưởng trong thơ.

Vắt dòng (enjambment), được định nghĩa là sự nối kết ý nghĩa từ dòng này qua dòng khác, đã có từ xa xưa, tính từ thời Homer. Sau này thơ tự do, với dòng dài ngắn, dùng kỹ thuật này để rải chữ, xuống dòng, làm thành nhịp điệu thị giác, và gọi đó là dòng gãy (line-break). Đã có rất nhiều bài thơ Tân hình thức ở thời kỳ khởi đầu, cũng vắt dòng đấy, nhưng chỉ là dạng văn xuôi đếm chữ xuống dòng, không đúng tiêu chuẩn thơ Tân hình thức Việt. Nhưng thế nào là tiêu chuẩn thơ Tân hình thức? Một yếu tố thơ nếu đứng một mình, không có ý nghĩa gì cả, nó phải kết hợp với những yếu tố khác. Thơ vần điệu với vần, điệu và cách chọn chữ chọn lời. Thơ Tân hình thức Việt bao gồm 4 yếu tố, vắt dòng, tính truyện, ngôn ngữ đời thường, và kỹ thuật lập lại, nằm trong các thể thơ không vần, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữlục bát.

Tài năng của người làm thơ là tổng hợp nhuần nhuyễn những yếu tố trên để làm thành tác phẩm. Tách rời bất cứ yếu tố nào riêng ra, là phá vỡ cái tổng thể của một thể thơ, và sẽ thất bại.

Một trong những yếu tố chính của thơ Tân hình thức Việt, là kỹ thuật lập lại. Trong thơ thể luật, sự lập lại những âm chữ, để tạo nhạc tính hay nhịp điệu, ở mọi nền thơ, dù khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ đơn âm hay đa âm, đều giống nhau – thơ tiếng Anh (không nhấn, nhấn), thơ Đường (bằng, trắc đối), thơ Việt (bằng, trắcvần). Bây giờ, thay vì lập lại âm chữ, Tân hình thức Việt lập lại những chữ kép (bằng, trắc). Trong các luật thơ, sự lập lại âm chữ trong dòng thơ, thường cố định, nhưng trong thơ Tân hình thức Việt, sự lập lại chữ những chữ kép (bằng, trắc), xảy ra ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ. Nhìn lại những luật thơ, sự lập lại các âm chữ dầy đặc trong mỗi dòng thơ, nhưng người đọc không nhận ra sự lập lại mả chỉ nghe thấy những âm vang tạo nên sự nhịp nhàng trầm bổng hay dồn dập của nhạc tính hay nhịp điệu. Đó là một thế mạnh trong các luật thơ. Nhưng khi lập lại những chữ kép (bằng, trắc), người đọc dễ nhận ra kỹ thuật lập lại. Vì thế, khi sử dụng kỹ thuật lập lại những chữ kép (bằng, trắc) cần tế nhị và tự nhiên, lạm dụng quá sẽ thành giả tạo, bởi vì dễ làm lộ kỹ thuật. Kỹ thuật lập lại là mục đích chính để tạo nhịp điệu (hay tiết tấu) trong các thể thơ, vì thế không có nhịp điệu là không có thơ.

Tân hình thức Việt chú tâm tới nhạc tính và nhịp điệu, nên để tránh vướng vào văn xuôi, một bài thơ đọc lên, trước nhất người đọc bị lôi cuốn bởi nhịp điệu ngôn ngữ, và những ý tưởng chìm sâu bên dưới. Hai yếu tố tối kỵ của văn xuôi, là sự lập lại (câu chữ, ý tưởng, hình ảnh) và ý tưởng không rõ ràng, trong khi đó lại là hai yếu tố mạnh trong thơ. Thêm nữa, ngôn ngữ thơ vốn dĩ cô đọng, quá nhiều chữ dư thừa cũng làm người đọc có cảm tưởng là văn xuôi. Đọc một bài thơ Tân hình thức Việt, là đọc liên tiếp, không dừng lại cuối dòng vì yếu tố vắt dòng, sự nhanh chậm tùy thuộc vào tốc độ của bài thơ, phong cách đọc của người đọc, và cần đọc rõ chữ. Thơ Tân hình thức Việt với thể thơ không vần, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữlục bát, cùng những yếu tố như vắt dòng, tính truyện, ngôn ngữ đời thường,kỹ thuật lập lại chỉ là hình thức bên ngoài, dùng để đánh giá kỹ năng sáng tác, còn phần tư duy sâu lắng, phong cách tân chiết trung, và khả năng chuyển tải tư tưởng, mới là vấn đề cốt lõi của dòng thơ này.

Thật ra, những lập luận trên chỉ là lý thuyết, dành cho những người muốn tìm hiểu, đi sâu vào lãnh vực sáng tác và phê bình. Trên thực tế, luật thơ phải rất đơn giản. Thơ tiếng Anh là luật một dòng thơ, mỗi dòng 10 âm tiết (không nhấn, nhấn, lập lại 5 lần), với vần hoặc không vần. Thơ truyền thống Việt, là luật vần ở cuối dòng, và thơ Tân hình thức Việt, cuối cùng là vắt dòngkỹ thuật lập lại. Nhiều người thuộc nằm lòng thơ vần điệu, vẫn có thể làm thơ, không cần quan tâm tới luật vần. Hoặc đọc các bài thơ Tân hình thức rồi sau đó, tham gia sáng tác, và bằng tài năng, biến hóa thêm, tạo thành cá tính riêng. Nhưng nếu muốn tiến xa hơn, và không bị rơi vào bế tắc, thì lý thuyết giúp chúng ta tạo cảm hứng, mở rộng và phát hiện những yếu tố mới trong thơ.

Hạnh Ngộ

TÂM BIẾN ĐỔI

Hồi hôm có một chuyện
buồn muốn đi chết buổi
sáng nghĩ đến chiện sầu
bi đó lại muốn vào rừng

sâu không đối diện với
nó thôi ráng đi gội cái
đầu ráng đi pha ấm
trà uống một ngụm vào

bụng ây da trà quá
ngon sao có thể đi
chết trong rừng sâu một
mình giữa buổi sáng hôm

nay thảnh thơi muốn bước
tới thảnh thơi mới biết tâm
mình biến đổi không ngừng
nghỉ buồn vui như thác

nước cũng nhờ ngụm trà
sen của ba mua bữa
trước có bỏ chút tình
thân thiết … phải không ba?

11/9/2014

Bài thơ đọc lên nghe rất thật, rất thơ với ngôn ngữ đời thường, không tu từ, không ẩn dụ. Đã gọi là thơ thì có thơ là đủ. Nhịp điệu bài thơ bật ra tự nhiên, hài hòa, và đạt hiệu quả trong thể thơ 5 chữ. Người đọc bị cuốn đi, những ý tưởng quyện lấy nhau, không rõ ràng, gợi sự tò mò, bắt người đọc phải đọc lại nhiều lần. Bài thơ giống như cách làm bài thơ “Bún Riêu” của Gyảng Anh Iên, với cùng loại ngôn ngữ. Tiểu thuyết, phim ảnh, hội họa, thơ hiện đại và hậu hiện đại trước kia đều dựa vào sự tưởng tượng phong phú của tâm trí, cần tới ẩn dụ. Ẩn dụ là yếu tố trong cách làm thơ quan tâm tới chữ của thơ tự do và vần điệu. Còn ý tưởng liên tục, quyện lấy nhau, liên quan tới văn pháp nói trong thơ Tân hình thức Việt (hình thành một loại ẩn dụ khác chăng?) Và như vậy, thơ Tân hình thức Việt, mở ra một không gian mới, nắm bắt những khoảnh khắc của thực tại, trực tiếp, bằng một loại ngôn ngữ thơ, khác với tự do và vần điệu. Đó cũng là do nhu cầu diễn đạt khác nhau của từng thời kỳ thơ, chứ không phải loại thơ nào hay hơn, hoặc thích hợp hơn loại thơ nào. Sự xuất hiện của Hạnh Ngộ giống như trường hợp nhà thơ Dã Thảo. Nếu những bài thơ của Dã Thảo, mở đầu cho giai đoạn thứ hai của thơ Tân hình thức Việt, xác định phong cách thơ, thì bài thơ này của Hạnh Ngộ giúp chúng ta phân biệt, đây không những là ngôn ngữ nói, mà còn là những câu nói thường ngày, được đưa vào thơ. Vì mới lạ nên chưa thuận tai người đọc. Có lẽ, trong giai đoạn đầu, chỉ có những nhà thực hành thơ, mới thấy được cái khó và cái hay trong dòng thơ này.

Hường Thanh

MÈO ĐEN

buổi tối hay là lúc rạng
sáng tôi chợt nhìn thấy con
mèo đen nó đi qua tôi
từ phía sau như đi qua
tâm hồn tôi đi qua từ
những điểm tối tôi mà đến
với hành lang trước mặt nó

6.2014

Nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng viết về bài thơ của Hường Thanh như sau:

“Buổi tối hay trước trời sáng, mặt đất mờ mờ, con mèo đen di chuyển từ phía sau như bóng tối đi qua, như thời gian đi từ sau ra trước, từ quá khứ đến tương lai. Cái dáng của con mèo cắt lên nền trời huyền ảo, vẻ đẹp của nó, khả năng xuyên suốt của nó, bước đi không tiếng động. Sự di chuyển của thời gian biến thành sự di chuyển của không gian. Đây là một bài thơ Tân hình thức, nhưng không thật tiêu biểu, có lẽ vì quá ngắn nên nhạc điệu “riêng” được mong đợi của thể Tân hình thức không lộ rõ. Hai trong những tính chất quan trọng của Tân hình thức là không gian rộng và nhịp điệu, nhất là ở sự ngắt câu, tuy nhiên cũng đừng quên rằng như một thể thơ, nó có thể tích hợp vào mình những phong cách khác.”

Ngôn ngữ thơ Tân hình thức không phải một sớm một chiều là hoàn tất, mà đòi hỏi sự đóng góp của nhiều thế hệ nhà thơ, về cách diễn đạt, cùng tài năng và cách sử lý ngôn ngữ – biến hóa và đa sắc thái, trong nhiều chiều kích không và thời gian khác nhau. Thế hệ trong thơ, không phân biệt theo tuổi tác, mà theo ngôn ngữ thơ họ sử dụng. Có một thời gian rất lâu, hơn nửa thế kỷ, thơ Việt bao gồm nhiều thế hệ sáng tác với cùng ngôn ngữ thơ, tự do hay vần điệu. Sự chuyển đổi thế hệ và ngôn ngữ thơ xảy ra, khi có những tác động lớn, thay đổi cách sống, cách nghĩ của con người trong môi trường xã hội. Sự phát triển công nghệ cao, Iphone, Ipad, tạo nên một thế hệ nhà thơ, đang có một cách nhìn khác về thực tại. Điều này có thể giải thích: văn học nghệ thuật hiện đại chống lại chủ nghĩa hiện thực, và hậu hiện đại phủ nhận thế giới thực. Họ cho rằng, tất cả chỉ là quang cảnh bề ngoài, và nguồn gốc thực tại nằm ở bên trong chúng ta. Chúng ta sống trong thế giới hư cấu được tạo ra từ chính chúng ta, và thế giới này không có việc gì làm với thế giới thực, tồn tại bên ngoài. Tác phẩm nghệ thuật vì thế liên tục được tạo ra và tái tạo, qua ẩn dụ, hoán dụ và sự sắp đặt của tâm trí. Nhưng bây giờ, sự phát minh khoa học và những kỹ thuật tân kỳ về cảm ứng âm thanh hình ảnh của phim ảnh, truyền hình, video game, đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng. Và cũng cho thấy, đó là những thế giới giả tạo được phóng chiếu từ tâm trí. Vả lại, con người đang bị vây khốn trong tình trạng bất trắc, tai ương, khủng bố, chiến tranh, nghèo đói, chỉ mong ước một cuộc đời bình thường, nhưng không dễ gì có được.

Nhìn lại hành trình của thơ và hội họa phương Tây, thế kỷ 20, chúng ta cũng có thể có một cảnh quan thoáng qua cho thế kỷ 21. Với một nền văn hóa đầy sinh động và khai phá như văn hóa Mỹ, thơ tự do và hội họa đã phát triển tới cùng, và bây giờ, những nghệ sĩ và nhà thơ, chỉ có thể trải nghiệm lại những gì đã trải nghiệm, không có cách nào khác. Mọi cái mới, cái lạ không còn là yếu tố gây ngạc nhiên, và cả tác giả lẫn người thưởng ngoạn đều biết rằng, rồi sẽ chỉ loanh quanh đến thế. Ước muốn hướng tới một thể thơ mới, của những nhà thơ tự do, trong suốt thế kỷ qua, đã thất bại. Cách duy nhất, có lẽ là đề nghị sự hôn phối giữa tự do và thể luật của Timothy Steele, hy vọng vào khả năng chuyển tải tư tưởng và đưa đời sống hiện thực vào thơ, để có được những tác phẩm giá trị, nhưng không phải ai cũng đáp ứng, vì đòi hỏi kỹ năng. Hơn nữa, trong một xã hội càng ngày càng đa dạng, chúng ta cần có nhiều thể loại thơ cho nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ người đọc. Người đọc bây giờ tinh nhạy, họ không đọc một loại thơ, mà cùng lúc, đọc nhiều thể loại thơ để so sánh, và chỉ có thể thuyết phục họ bằng những bài thơ hấp dẫn và có chất lượng. Kinh nghiệm thơ Tân hình thức Việt cho thấy, tuy chưa có nhiều sáng tác hay, nhưng số người đọc thích thú với loại thơ này không ít. Vả lại, thơ tự do đã độc diễn suốt thế kỷ 20, bây giờ chúng ta không thể lập lại như vậy, bằng một thể loại thơ khác, dù có hay cách mấy. Hiện nay, thơ tự do và vần điệu Việt vẫn chiếm đa số, nhưng khi những thế hệ mới tham gia sáng tác thơ Tân hình thức nhiều hơn, tình hình sẽ đổi khác. Có lẽ, đó mới chính là hiện trạng thơ ở thế kỷ 21.


Chú thích

– Walt Whitman‘s claim that “to have great poets there must be great audiences too.”
– Sandburg argues that free verse is as old as rhythmic speech: “When primitive and prehistoric man first spoke with cadence or color,” he writes, “making either musical meaning or melodic nonsense worth keeping and repeating for its definite and intrinsic values, then free verse was born, ages before the sonnet, the ballad, the verse forms wherein the writer or singer must be acutely conscious, even exquisitely aware, of how many syllables are to be arithmetically numbered per line.”
– D. H. Lawrence, “… to read a really new novel will always hurt, to some extent. There will always be resistance. The same with new pictures, new music. You may judge of their reality by the fact that they do arouse a certain resistance, and compel, at length, a ceratin acquiescence.”
– I’m delighted with the volume – I think we need a new international conception of poetry, and a community of mutual translation. In some ways one understands a poem better by being involved with translating it than by reading it in the language it was written in, as a native speaker. A new Republic of Letters? Congratulations to all!
– Đầu những năm 1990 xuất hiện internet, website, năm 2000, bắt đầu nở rộ năm 2004. Trong một bài viết vào năm 2009, của nhà thơ Mỹ Ron Silliman, ông cho rằng, trong vòng 5 năm (từ 2004 tới 2009), những nhà thơ Mỹ có sách xuất bản là 10 ngàn nhà thơ, tương đương với con số tốt nghiệp tiến sĩ trong các khoa viết văn. Nhưng nhà thơ Seth Abramson phản bác lại, cho rằng, trong 5 năm qua, số tạp chí thơ in ấn và online là 1000 tờ báo (có thể hơn), và nếu mỗi tạp chí sản sinh ra vài chục (có thể hơn) mỗi năm, thì số nhà thơ có sách xuất bản là khoảng 50 ngàn nhà thơ. Đó là chưa kể những blog cá nhân. Nhà thơ và thơ dở đã tăng lên theo cấp số nhân, theo các nhà nhận định thơ Mỹ.


Tham khảo

– Western Civilization, Volume 2, tái bản thứ 11, 1988, Robert E. Lerner, Standish Meacham, Edward McNall Burns.
– “Prosody for 21st – Century Poets”, Timothy Steele, 2006.
– Modernism, Chris Rodrigues & Chris Garratt, 2001.
– “The Background of Modern French Poetry: Essays and Interviews”, P. Mansell Jones
– “Who Killed Poetry”, Joseph Epstein, Commentary 1988.
– Kỷ Yếu Hội Thảo, Sông Hương, 2014.
– Vũ Điệu Không Vần, Khế Iêm, Văn Học, 2011
– “Đọc Một Bài Thơ Tân Hình Thức”, Nguyễn Đức Tùng, Báo giấy Tân hình thức số 6 / tháng 10, 2014.

Tranh bài: Rod Penner

BLUES

Giới thiệu diễn đàn thơ Tân hinh thức Việt


BLUES

Nguyễn Đăng Thường dịch

Nguồn gốc của từ blues tới nay vẫn còn mù mờ dù đã được sử dụng từ giữa thế kỷ 19. Blues không là một loại nhạc đơn thuần. Trên bình diện nhạc học, Blues (cũng như tất cả âm nhạc miền Nam Hoa Kỳ) sử dụng âm giai ngũ cung với một cung giảm là blue-note. Hệ thống này bắt nguồn từ châu Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Nam Dương), và người ta cũng gặp nó trong thế giới của người Celtes và người Da Đỏ ở Bắc Mỹ. Thật thế, cho đến năm 1832, thổ dân Cherokees vẫn còn ngụ tại lưu vực sông Mississipi. Những người nô lệ da đen đào tẩu tìm đến đó ẩn trú. Đặc tính của Blues là lắc (swing). Nhịp điệu này là sự đu đưa “nghịch phách” (contre-temps). Đối với người nô lệ da đen, nhịp điệu của thân thể là phương tiện duy nhất để chứng tỏ họ còn chút tự do. Thân thể được tùy tiện uốn éo bất cứ lúc nào dù bị xích xiềng. Sự lúc lắc giải thoát thân thể và đồng thời cũng cho tâm hồn được hưởng chút tự do. Trong bài Walkin’ Blues, Robert Johnson xác nhận:

Có kẻ bảo anh cái blues đó coi bộ còn dễ chịu mà
Nhưng nó hẳn là cái cảm giác tái tê nhất đó nha.

(Some people tells you the worried blues ain’t so bad
But it’s the worst feelin’ a good man ‘most ever had).

Little Brother Montgomery kể lại sự chạm trán đầu tiên với blues trong bài First Time I Met The Blues:

Lần đầu tiên con gặp blues là lúc con băng qua khu rừng
Blues theo con về nhà và mần cho con một trận nên thân
Giờ thì Chúa ơi blues đuổi theo con từ gốc này tới gốc nọ
Chúa cần nghe con van: Chú Blues ơi chú đừng giết cháu nhé!

Xin chào chú Blues chú tới đây làm gì mà sớm thế
Sao chú bám cháu hoài mỗi sáng mỗi tối và mỗi trưa.

(The first time I met the blues, I was walking through the woods
He knocked at my house and done me all harm he could
Now the blues got after me Lord and run me from tree to tree
You should have me begging: Mr Blues, don’t murder me!

Good morning Mr Blues, what are you doing here so soon?
You be’s with me in the morning and every night and noon)

Blues như vậy là sáng tác phẩm hồn nhiên của người da đen trên đất Mỹ để diễn tả nỗi đau sống.


Nhạc da đen trong thời nô lệ

Vào giữa thế kỷ 19, người nô lệ da đen thường ca hát đánh nhịp cho công việc có vẻ bớt nhọc nhằn. Những khúc ca này được gọi là working-song (lao ca) và chúng được bọn nô lệ hát đi hát lại cả ngày. Nhạc cụ được họ sử dụng trong thời kỳ này là đàn banjor ¾ tiền thân của banjo ¾ và cây fidle, vĩ cầm thông dụng của người Ái Nhĩ Lan. Đạo luật Black Code do các chủ đồn điền da trắng làm, cấm người da đen sử dụng trống và sáo. Họ sợ chúng sẽ trở thành phương tiện liên lạc trong việc tổ chức một cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, nhiều kẻ bóc lột cũng có có thái độ khoan hồng đối với dân nô lệ và cho phép gia đình họ được cư ngụ dưới những mái nhà nhỏ trên đồn điền. Chủ tớ thường tụ họp quây quần bên nhau trong những buổi chiều thứ bảy để ca và múa, tạo sự trao đổi Phi-Âu giữa những cộng đồng khác nhau.

Sau khi đã đối xử với dân nô lệ như những tên nửa tớ nửa người, bọn bóc lột lại mang Phúc Âm ra giảng, mong dân nô lệ sẽ tìm thấy hạnh phúc trong niềm tin yêu Chúa. Chẳng mấy chốc, các tín đồ mới này biến các ca khúc tôn giáo thành một loại nhạc pha trộn được gọi là negro-spiritual. Trong Thánh Kinh, những câu chuyện kể lại sự đau khổ của dân tộc Do Thái đã có phản hưởng sâu xa nơi bọn nô lệ da đen tự đồng hóa với dân tộc Hy Bá (Hébreux) muốn trốn thoát khỏi Ai Cập. Cuối thế kỷ 19, nhiều ngôi giáo đường da đen mọc lên, trong số này có vài nhà thờ Pentecôte (Pentecost). Do vậy đã có những hướng đạo tinh thần cổ xúy hăng say các bài gospel songs (Phúc Âm Ca).

Moses xin Người hãy xuống, hãy xuống đất Ai Cập này
Phán cho tên Pharaoh già phải thả ngay dân tộc ta

(Go down Moses, way down in Egypt’s land
Tell old Pharaoh, let my people go)

Khúc ca này là tiếng gọi giải phóng.


Giải phóng người Mỹ da đen

Mặc dù mang đậm cá tính di sản của châu Phi, Blues chưa hiện hữu trong thời kỳ nô lệ. Thật ra, Blues đã nảy sinh từ những biến đổi trong cuộc sống của người da đen. Vào cuối thế kỷ 19, tiếp theo cuộc nội chiến Mỹ, những khai thác lớn nhường chỗ cho các nông trại nhỏ. Cấu trúc của những khai thác mới này biến dạng và bọn nô lệ trở thành công nhân được trả lương. Thậm chí nhiều người có thể mua luôn miếng đất nơi gia đình sinh sống. Tuy nhiên quyền khai thác những mảnh đất trồng trọt này quá cao. Dần dà một loại ca khúc mới thay thế cho các bài lao ca ngày trước, đó là các bài ca của anh nông dân cô độc. Những giai điệu du dương tùy hứng (mélodies) này được gọi là hoolies, arhoolies, hay hollers.

Thế nhưng không phải tất cả những người da đen đều đã trở thành tá điền mà một số lớn phải đi tìm việc tại các nhà máy to hay ở những xí nghiệp nhỏ. Những thị dân mới này họp thành một giai cấp vô sản hạ tầng (sous-prolétariat) nghèo khổ cơ cực không có chút mảy may hy vọng về tương lai. Sự khai trương nhiều sòng bạc, rồi tới các rạp chiếu phim câm, góp phần vào sự phát triển một loại nhạc sĩ sử dụng dương cầm chơi các tình khúc thời thượng có đệm nhiều blue-notes. Ngoài ra, một kiểu nhạc sĩ mới cũng đã xuất hiện, thường di chuyển từ các sòng bạc đến các thôn làng, chơi nhạc để kiếm sống, có khi chỉ là một chỗ để ngủ qua đêm, một bữa ăn, hay chai rượu whisky: họ là những songsters (xin tạm dịch là “du ca sĩ” để phân biệt với ca sĩ). Các nhạc công kiêm ca sĩ này ngày càng sử dụng đàn ghi ta nhiều hơn, nhạc cụ này được coi là êm ái hơn đàn banjo và không đắt tiền như chiếc vĩ cầm.

Sự bãi bỏ chế độ nô lệ tất nhiên cũng đã thay đổi cái nhìn của dân da trắng ở miền Nam về cộng đồng da đen. Thế nhưng bọn người cực đoan thì tụ họp lại thành bè đảng (dưới hình thức hiệp hội), kỳ thị và bạo tàn hết mức, như đảng Ku Klux Klan. Một hình thức nô lệ mới dần dà lộ diện và bộc phát vào năm 1890 với sự ngăn cấm người da đen bỏ phiếu ở tiểu bang Mississipi: sự kỳ thị chủng tộc ra đời. Đối với dân da đen nó đồng nghĩa với sự xuống cấp các điều kiện sinh sống (sử dụng các bệnh viện thô sơ và văn hóa mức tối thiểu). Chính vào lúc đó, vào đầu thế kỷ 20, một phong trào nhạc mới bỗng xuất hiện, tựa vào gospels cũng như work-songs và ballades (tình ca) chuyên chở bởi các songters: nhạc Blues.


Những năm 20-40

Để bán các chiếc máy hát, các nhà kỹ nghệ về âm nhạc tìm kiếm loại nhạc thích hợp với những khách hàng tương lai. Nhiều loạt dĩa hát dành cho nhạc da đen được tung ra thị trường bày bán trong các cửa Hàng Bách Hóa (General Stores), đích thực là những tiệm tạp hóa ở các thị trấn miền Nam: đó là các dĩa nhạc chủng tộc (race records). Các cô ca nhi blues cổ điển (classic blues singers) là những ca sĩ trong các đoàn hát lưu động, thường được một giàn nhạc yểm trợ. Các buổi trình diễn dưới lều này (tent shows) là tiền thân của nhạc vũ trường Mỹ (music-hall). Như ca sĩ Bessie Smith chẳng hạn, đã có một thời kỳ vinh quang cho tới thập kỷ 20, nhờ giọng mộc (contralto) ấm mạnh, khiến các ca khúc của cô có thêm kích thước của bi kịch.

Blues thôn dã, có thể đã chào đời tại miền trung châu sông Mississipi, nhưng phát triển một cách khác biệt ở Tây-Nam hay trên bờ biển phía Đông, vì bị chi phối bởi các truyền thống nhạc địa phương. Bắt đầu từ năm 1925, các hãng sản xuất dĩa đã chú ý tới loại blues này. Các toán hướng đạo suy lùng tài năng mới (talent scouts) là những kẻ có đóng góp lớn lao trong việc khám phá nhiều nghệ sĩ tài hoa, đã đi khắp miền Nam để thu thanh tại chỗ các nhạc sĩ chuyên về loại blues này. Nhiều kiểu blues đần dà xuất hiện:

Blues miền trung châu (Delta Blues)

Chịu ảnh hưởng châu Phi rất mạnh, ghi ta thường được sử dụng để chơi các nốt sol hay ré. Kỹ thuật dùng ngón đàn tay trái để nhấn phím với một cái cổ chai cưa ngắn được mệnh danh là bottleneck. Đặc tính của loại blues này là nó có vẻ như thiếu lô gích. Trong số các tên tuổi lớn của loại này người ta có thể kể Charlie Patton.

Blues ven bờ biển phía Đông

Nhẹ nhàng hơn Delta, loại blues này có một nhịp điệu đều đặn bắt nhịp luân phiên theo nhạc trầm và một kiểu thức của đàn ghi ta: điệu ragtime. Sự kỳ thị ít hiện diện tại đây tạo điều kiện sinh sống thoải mái cho dân da đen. Blind Blake là một khuôn mặt tiêu biểu nhờ có một nhạc mục chung cho dân trắng và dân đen, đã để lại nhiều bài dân ca.

Blues miền Texas (Texas Blues)

Trong bối cảnh nô lệ rộng lớn, một kiểu thức chịu nhiều ảnh hưởng Tây Ban Nha và Mễ Tây Cơ đã xuất hiện. Trong các ca khúc của Blind Lemon Jefferson, người ta bắt gặp lại tiếng đàn ghi ta flamenco cùng với những câu chuyện hợp lý đượm chất hài ở độ hai.

Những năm 20-40: tại các đô thị

Ở các thành phố lớn, các loại blues truyền thống kể trên nhường chỗ cho những thể loại mới độc đáo, tinh hoa hơn. Tại New Orleans đã hình thành một loại nhạc khá đặc biệt, tuy có gốc blues nhưng được thêm những nét mới lạ, sẽ là những yếu tố để cấu tạo nhạc jazz hiện đại. Lonnie Johnson là nhạc sĩ ghi ta đại diện cho dòng nhạc này. Thủ đô của bông vải và là một trung tâm lớn của đổi chác, Memphis phát triển được một tuyền thống nhạc riêng. Tại đây đã nảy nở những giàn nhạc đàn giây được gọi là string-bands. Nhịp điệu thường được duy trì bởi một nhạc công thổi vào một cái hũ không (jug), do vậy mà có từ jug band. Những giai điệu du dương độc tấu đã tự kiềm chế khi chơi với các giàn blues này. Nhạc trở thành nhẹ nhàng hơn, hướng về vũ khúc và sự lạ nước lạ non (nhớ nhà), những đặc điểm của nhạc Memphis Jug Band.

Ở tại nơi hợp lưu của hai dòng Mississipi và Missouri, St Louis là sân khấu của những cuộc xung đột đẫm máu giữa da trắng và da đen. Đích thực là nhạc “tửu điếm” (cabaret), tiếng dương cầm chế ngự giai điệu du dương, để mặc cho đàn ghi ta độc tấu tùy hứng. Leroy Carr, tuy sống tại Indianapolis, nhưng đã để lại dấu ấn của tiếng đàn dương cầm trên các điệu Blues của St Louis.

Là nơi độc nhất có những trung tâm thu nhạc với phẩm chất cao, Chicago chứng kiến sự kéo về của nhiều nghệ sĩ blues thường ca hát trong các hội quán nhạc (clubs) để bổ sung lợi nhuận cho cuộc hành trình. Bởi thế cho nên điệu blues bán cổ điển bế bồng bởi Ma Rainey, và điệu blues Bluebird diễn tả bởi Big Maceo, tuy đi cạnh nhau nhưng không hề hòa lẫn.


Những năm 40-60

Theo gót những hoạt động kinh tế gắn liền với Thế Chiến 2, một số người da đen tậu được một nền tài chính khá dồi dào để họ có thể vươn tới giai cấp trung lưu địa phương. Sự khinh miệt hàng ngày của dân [da trắng] miền Nam khiến họ càng thêm khó chịu và họ đã khẳng định những ước vọng mới trong âm nhạc được điện hóa.

Điện đã cho Blues một tuổi trẻ thứ hai

Cây đàn ghi ta điện tạo cơ hội cho sự gia tăng các thanh âm và sự biến đổi các tác dụng âm thanh (effets sonores), nhất là nhờ có B B King ở Memphis và Muđy Waters ở Chicago. Tuy vậy ở hai nơi này, chiếc khẩu cầm (harmonica) là nhạc cụ thống trị. Nhờ có những dụng cụ phóng âm, Little Walter cũng như Sonny Boy Williamson đã biến chiếc harmonica thành địch thủ của cây saxophone. Vào khoảng cuối thập kỷ 50, sự cách tân đã đến từ khu phố ở phía tây của Chicago. Cái “âm thanh tây thành” này (West Side Sound) bốc lên một không khí bứt rứt tuyệt vọng. Với All Your Love và So Many Roads, Otis Rush phản ảnh nỗi thất vọng của mình. Người ta có thể khám phá tất cả chiều sâu của tiếng ca bi thảm của Buđy Guy trong bài Man And The Blues.

Detroit, chỉ riêng John Lee Hooker là có thể vượt qua được sư lơ là của thính giả đối với Delta Blues truyền thống. Là một nhà soạn nhạc tài hoa, J L Hooker sáng chế một kiểu thức mới cho tiếng đàn ghi ta, rất gần gũi với các nguồn của Blues nhưng cũng đầy cá tính. Một trong những tuyệt tác của nhà nhạc sĩ này là bài Boom Boom, đã đạt tới chóp đỉnh mức độ truyền cảm.

Tuy vẫn tự nguyện khắng khít với nguồn, nhưng Texas Blues cũng có một nỗ lực vươn cánh. Loại “blues đầm lầy” này (swamp blues) đã lưu truyền đến tai chúng ta ngày nay nhờ giọng ca ấm và đầy xúc cảm của Lightnin’ Hopkins. Cá tính phi thường của nhà nhạc sĩ này đã ảnh hưởng sâu đậm tới Blues của California. Một lần nữa, New Orleans lại là nơi phát sinh một kiểu thức lạ lùng dần dà được gọi là rhythm’n’blues. Xuất phát từ điệu boogie-woogie và những ca khúc tình cảm, là những điệu nhạc mới như rumba và cajun, sẽ mọc rễ đâm chồi. Noi gương Big Joe Turner, các ca sĩ “gào thét” nỗi blues của mình để chế ngự giàn nhạc. Các chủ đề của Rock Around The Clock và vài loại khác làm nền tảng cho sự trồi lên của rock’n’roll và nhạc pop Anh.

Khác với miền Bắc nơi mà người da trắng hoàn toàn không cần biết đến sự biểu hiện tình cảm của văn hóa da đen, lạ thay đã có nhiều trao đổi hơn ở phía Nam. Các chủng tộc sát cánh nhau trong đời thường và một nền văn hóa miền Nam muốn độc quyền da trắng thật ra đã thấm đượm các yếu tố nhạc da đen và nhiều thứ khác. Country music ¾ từ Oldtime, Western Swing, Bluegrass đến Country hay Western ¾ đã nhiễm giọng blues dưới mọi hình thức. Được các nơi khác trên khắp cả nước gọi là hillbilly music, loại nhạc của “dân trắng khố rách” (poor white) được giới trẻ điện hóa và nhịp hóa cho nhanh hơn, sửdụng lại các từ rock và roll (lắc và lăn) của từ vựng Mỹ da đen. Đó là trường hợp của Johnny Winter.


Blues, ngày nay

Chính tại châu Âu nhạc Blues được hưởng một thứ nhìn nhận với sự thành công của Đại Nhạc Hội Blues Mỹ (American Blues Festival) trong năm 1962. Nhiều nghệ sĩ như Champion Jack Dupree hay Memphis Slim được biết mùi thành công tại Âu châu để không hồi hương. Sự kiểu thức hóa âm nhạc của họ mạnh mẽ hơn tùy vào tình trạng họ bị cắt đứt hay không với quần chúng Mỹ đen. Ở các khuôn viên đại học Mỹ trong những năm 60-70, thay vì trở về với dân ca, sinh viên Mỹ đã nghe lại những nhạc phẩm lớn của blues. Họ tổ chức những đại nhạc hội khổng lồ, họ xúc động mãnh liệt khi vỗ tay hoan nghênh những huyền thoại sống của blues như Mississipi John Hurt hay Skip James, đã được họ tìm đến thỉnh mời tận các làng mạc xa xôi hẻo lánh ở miền Nam. Khi gặt hái thành công rực rỡ bên Mỹ, nhiều nhạc sĩ rock’n’roll Anh, như ban Rolling Stones, tuyên bố trên ti vi Mỹ rằng nhạc của họ đã đến từ blues đen.

Nếu các tên tuổi lớn của blues như B B King và John Lee Hooker đã gây được sự chú ý của cả thế giới từ hai mươi năm qua, nhiều người Mỹ đen vẫn muốn chối bỏ nước Mỹ trắng. Chẳng hạn, với Aretha Franklin, soul đã thay thế disco, funk, và rap, các loại nhạc đại diện cho sự nổi dậy trong các ghettos của những thành phố lớn, và break, smurf từ đầu thập kỷ 90. “Nhạc ga ra” và “nhạc nhà” (garage và house music) đã hòa lẫn thành loại nhạc better dayz rất Nữu Ước.

Mặc dù những năm 80 đã khai tử blues, mấy năm gần đây blues đã hồi sinh. John Lee Hooker, đóng đô ở Paris, đã tái xuất (come-back) rất huy hoàng với những dĩa nhạc hát chung với những tên tuổi lớn của rock như Santanạ Những người khác như Robert Cray, những tay đàn ghi ta kỳ tài (virtuoses), soạn các ca khúc vinh danh blues, dù đã mất đi khá nhiều trung thực. Nhiều nhạc sĩ vẫn tiếp tục chơi nhạc blues trong làng của họ tại miền Nam của Bắc Mỹ. Chẳng hạn như R-L Burnside, sau nhiều năm sinh sống như một chủ nông trại, đã mang đàn ghi ta chu du khắp châu Âu để ca những bài blues, nghĩa là diễn tả tâm tư và cuộc đời của họ. Bị chối từ, sỉ nhục, miệt thị, bạc đãi, người da đen đã biến một biểu lộ cá nhân thành ngôn ngữ cộng đồng: nhạc Blues.

Blues trước tiên là nhạc của con tim, một kho xúc cảm.


TUẦN THƠ 33: NƠI UỐNG CÀ PHÊ SỚM

0

TUẦN THƠ
________

NƠI UỐNG CÀ PHÊ SỚM

Lý Đợi
MỘT ĐÊM Ở SYDNEY
Tặng thi sĩ Nguyễn Đăng Thường
người thủy thủ già qua đây nằm
tù đêm giáng sinh với tôi những
giờ đêm tăm tối khuya không ai
ghé thăm như bờ biển xa không
đôi mắt nào có rất nhiều tâm
sự xin thượng đế nhìn tôi cùng
rượu đỏ ngày phán xét bao giờ
tôi sẽ ngủ với em hay sẽ
quên nhưng đừng hôn tôi như thế
tưởng vì tôi phiêu lưu không xót
thương hay tôi chỉ thương em vì
đã nằm trên vai tôi nức nở
Sydney 12-1958
 
Nguyên Quân
PHÂN CẢNH
trong danh bạ của em không
còn tên thằng bờm nên những gì anh
gởi đi không một lời hồi
đáp anh chừ thua thằng bờm có quạt
mo để đổi bây giờ anh
chỉ còn một trái tim rách rưới nắm
xôi xưa bờm ơi là những
lời hò hẹn nụ cười xưa bờm ơi
bao giờ tìm lại được vì
đã thành lọn khói trong trí nhớ mỏng
manh cũng đã thành giọt sương
dần bốc hơi vào dĩ vãng anh bây
giờ thành chiếc gai dằm trong
mắt cũng đã là bóng đêm trên con
đường em vui bước trong cổ
tích bờm ơi tình bao giờ cũng đẹp
ngày em tình cờ đứng
trước công trình xây dựng
ngổn ngang gạch đá vôi
vữa người ngợm với nụ
cười ngon ngọt trên bờ
môi hồng tươi thắm anh
đã dại ngộ hỏi – tìm
ai anh là người quản
đốc có thể tìm bất
cứ người ngợm chất liệu
nào em đang muốn tìm
em tươi cười – nhiều thứ
quá chẳng biết phải tìm
đâu cho ra người tình
bạn tôi nửa lao động chân tay
nửa nhà văn nửa ma cà bông
nửa người nửa ngợm thất cơ lỡ
vận cố gánh gồng hết cái thứ
nửa mùa tìm lên núi lập chuồng
nuôi gà một ngàn con gà giống
non nẽo non nớt rất cần sự
ấm bị cúp điện mấy đêm liền
chết trụi chỉ còn vài con ngắc
ngoải chén cơm nguội từ những ngày
hôm trước rắc ngang mấy hạt muối
sống chưa bao giờ anh cám cảnh
đói khát bằng lúc này lúc này
cơn lốc vần vụ trên cánh đồng
chỉ còn trơ cuống rạ và dưới
đáy hồ sâu con cá nhỏ không
buồn nhấc ngửa chiếc phao lúc này
người đàn bà góa đến từ phía
bên kia cánh đồng đang xắn cao
ống quần vớt từng cánh lục bình.
 
Nguyễn Đăng Thường
SURPRISE, SURPRISE

– Mày chỉ là tên hề buồn
tên hề buồn nhất thế giới
làm mọi người cười rộ

sau một đêm mưa rào tôi
ra xó vườn nhỏ thấy 1 đóa bạch
hồng mới ló lộng lẫy trong
buổi sớm mây tôi ngắm người
nó một chầy rồi chưa kịp mắng mầy
chỉ là đóa hồng là đóa
hồng là đóa thì bỗng nghe
trong bụi rậm có tiếng thì thầm a
rose is a rose is a
28. 10. 2000
 
Nguyễn Đăng Thường
NHỮNG NỤ HỒNG CỦA MÁU
mười ngàn lẻ một đêm mưa trước
ngày chúa bị đóng đinh trên cây
vĩ cầm buổi trưa hôm đó có
một tia nắng khẳng khiu chiếu dọi
qua khung cửa tò vò rơi trúng
ngay trên đầu con maggie 2
đứa tôi mặc y phục của tổ
tiên nhân loại a dong với ê
và trong vườn địa đàng không rắn
không mận đỏ chỉ có 2 đứa
tôi bơ vơ trên tấm nệm đặt
trên nền xi măng bụi căn hầm
squatter làm chỗ trú tạm
để nhai cần sa uống bia lon
ngốn cuốn sách hình tintin tới
tây tạng cả chục rưỡi lần hỡi
miếu đình chùa thiêng mái tôn rêu
phủ không còn chim chóc bay về
đấu hót đừng coi những gì bọn
các chú nói hãy cam những gì
bọn các bác nàm hồ hởi thổn
thức nhạc jazz tưng bừng pháo bông
đêm dạ hội chúng tôi nằm ngược
thổi kèn lịm chết ôi hạnh phúc
tuyệt vời giữa paris mưa tơ
đùa phất phơ áo nhung mềm môi
đào gái hà nội băm sáu phố
phường xưa cũ trong tưởng tượng đã
chết hãy tưởng tượng một chiều hè
êm ả bên bờ xa lộ biên
hòa tờ chính luận mới ra lò
loan tin mối tình bí mật của
rupert brooke đã bị bật mí
dĩ nhiên không phải tờ lá cải
ta mà một tờ xà lách tây
vừa đăng cái tin giựt gân ấy
hỡi em không là con bé tuổi
15 noel olivier
tóc vàng sóng mũi dọc dừa của
chàng thi sĩ lãng mạng yểu mệnh
tội nghiệp cho em tôi chỉ có
1 cái miệng cười nhạt nhẽo vô
duyên & 1 mái tóc xơ dừa
cứng ngắt đen thui những cành gai
nhọn đâm vào ngực tôi đau những
nụ hồng của máu & bởi ở
bên kia bờ đại tây dương hay
ở bên này bờ thái bình dương
thời cũng thế thôi máu huyết vẫn
là máu huyết mồ hôi nước mắt
vẫn là mồ hôi nước mắt đồng
tiền bát gạo vẫn là bát gạo
đồng tiền nghiện ngập rượu chè thất
nghiệp vẫn là thất nghiệp nghiện ngập
chè chén sáng chủ nhật ngon rồi
sẽ là bloody sunday &
palm beach sẽ là napalm for
each dĩ nhiên ngắt lá đụng cây
bứt mây động rừng bản dịch 1
tập thơ tiếng nga của nhà thơ
lão ấy có nhiều viên ngọc quí
hơn chiếc vòng vương miện của nữ
hoàng anh trưng bày trong tòa tháp
cổ london có lính canh mặc
áo đỏ quần đen tay cầm cây
thương của thời phục hưng & có
cửa sắt điện tử tự động đóng
sập xuống khi gặp biến những kẻ
thừa tiền & văn minh nhất thế
giới cộng thêm đám du khách nhật
vai đeo tòng teng máy ảnh máy
chỉ máy ổng máy bả nối đuôi
chen lấn dẫm lên chân nhau oh
i’m soly vào đứng xem trầm
trồ mỗi trự độ vài ba giây
dĩ nhiên dẫu rất muốn chúng tôi
vẫn không thể là 1 nữ hoàng
khả ái để bù lại anh xin
ca em nghe vài câu nôm na
của ông cụ nguyễn khuyên nguyễn dụ
gì đó này mợ nó nghe nhé
1 mai 1 mốt 1 ngày xưa
thơ thẩn kìa ai ăn bánh còng
tui rại tui rờ răng rắn rết
bà lanh bà lắt lưỡi lâu la
dĩ nhiên gầy mập đói no rách
lành đau mạnh già trẻ buồn vui
cù chớn cà lần hào nhã phong
hoa chi chi hay gì gì thì
2 đứa tôi cũng vẫn là 2
đứa tui như từ thủa mới chọc
đất ghẹo trời hay vào lúc ông tây
nhà đèn dựng nước an nam
ta & con maggie 1 bữa
nọ nó lẻn vào siêu thị siêu
thực siêu ăn cuỗm mất mẹ của
chàng 1 khúc thịt dồi to tổ
bố nó ngậm mãi ngậm hoài mà
chẳng teo mòn mẻ sứt thì nó
vẫn là con maggie đáng thương
nó cũng không thể là siêu sao
liz / maggie trong cuốn phim màu
mèo cái trên mái thiếc nóng đố
em biết mán ở đâu biết mao
mấy tuổi biết mưa mấy đồi đố
anh biết khỉ là ai dĩ nhiên
là tôi & tất cả bà con
ở đây ai cũng biết mặt cái
con ngựa đó hỡi người anh em
mỗi đêm khoác blouson đen mù
xoa đỏ nhét ló một góc chéo
ra ngoài mép túi sau quần jeans
đứng tựa quầy quán khuya đẫm mùi
bia đắng nước tiểu mặn mồ hôi
nồng hơi thở thối tha thuốc lá
marlboro cao bồi giả hiệu
1 ngày nào ta sẽ cỡi har
ley davidson tay trong tay
hò hơ hò dắt nhau về quê
tôi đói thăm nương ngô thăm đồng
lúa trên bến đò thủ thiêm vớt
cành rong ướt lên chùi những giọt
lệ khô 1/ 4 thế kỷ từ
chiều xuân xưa em qua đây làm
thuyền người dĩ nhiên thành hồ
rồi sẽ có cái tên mới là
sài gòn dĩ nhiên trên đường trần
ruổi dong dại nhờ khôn chịu cuộc
đời là manh chiếu rải những nụ
hồng chờ ta khi ta không buồn
ngủ tình yêu là suối mật bờ
xôi đợi ta khi ta chưa muốn
ăn dĩ nhiên đêm phải trắng ngày
phải đen biển trên cao trời dưới
thấp khi thủơ bé tôi thủ dâm
ôm rừng thu khiêu vũ dĩ nhiên
em không bao giờ thuộc về tôi
còn tôi chẳng khi nào là của
em & tụi mình ê cóc cần
cái chuyện khôi hài lẩm cẩm khối
tình trương mÿ chén nhựa em cười
vỡ tan ấy xin quí vị cho
1 tràng pháo miệng thật ròn như
còn ngồi rạp quốc thanh coi vở
con gái chị hằng hay đứng trong
rạp hát bộ bên hông trường tôn
thọ tường coi cọp tuồng triệu tử
long đoạt ấu chúa kính thưa quí
độc giả chúng tôi là những kẻ
lang thang trong các hành lang tàu
điện ngầm trên những thiên đường giả
tạo sống bằng dao búa của ác
mộng hằng ngày nên chỉ được biết
những cuộc tình 100 năm trong bụi
coœ lùm cây đêm nở sáng tàn
lũ chúng tôi & con maggie
London, tháng 5 – 1991
Nguyễn Hòai Phưong
GỌI ĐÒ
Đò ơi … Đằng nào thì đò cũng
đầy rồi. Thôi thì đò cứ thế
yên tâm mà sang sông đi. Nấn
ná ở lại thì đò cũng có
làm gì, đò có chờ, có đợi,
có chở thêm được ai đâu. Thôi
thì đằng nào cũng phải rời bến,
đò cứ sang sông, nhường bến lại
cho những con đò khác … Để những
con đò khác chở những con người
khác đầy rồi cũng phải sang sông,
nhường bến lại cho những con đò
khác nữa … Để đò sang sông rồi
đò lại quay về bến, đò lại
chờ, lại chở những đợt khách mới …
Đò ơi … Khách chưa đến rồi khách
sẽ đến. Kệ khách không đi đò
này thì đi đò khác. Kệ hết
đợt khách này lại có đợt khách
khác … Đò ơi … Đò đầy rồi thì
đò cứ sang sông … Đò ơi … ơ I …
23 – 8 – 08
 
Nguyễn Hữu Viện
GÓT CHÂN ẢO EM BƯỚC THỰC
QUA NGƯỠNG HỖN MANG
Em như đường gương vỡ gián đoạn cắt
tim anh thành ranh giới fractal cách
ly đứt đoạn phân khúc cả tâm hồn
em đoan trang em bước ra từ cõi
siêu thực hư hư đốn đến độ hỗn mang
võng mạc anh đứt đoạn bao đường fractal
đổ vỡ tràn tựa lá vàng thu sang
càng nhìn sâu vào em bằng kính hiển
vi mô châu thân em khối tỉ tế
bào xếp đặt trật tự hoàn chỉnh càng
nhìn sâu vào nền trời sau em bằng
kính viễn vọng thiên văn chương vũ trụ
như Vua Trụ tay ôm hàng triệu triệu
thiên hà tinh vân theo trật tự phi
Newton hoàn chỉnh chợt anh thảng thốt
giật mình lạc lõng lạt lòng càng lạc
trôi trong hỗn mang quang tử lang bạt
lãng tử không dương không âm không yêu
không hận không sống không chết quả như
hạt cơ bản neutrino vô duyên
vô tính vô tình càng lạc trôi lạc
lõng trong phức cảm phức hợp bản ngã
mình tích tắc trong khoảnh khắc sát na
nhậy cảm từng giọt thời gian nhỏ vào
ly nước lạnh dòng ấm đối lưu hỗn
mang tim anh hoang mang ngỡ ngàng khi
gót chân em bước qua ngưỡng không–thời–
gian cong cong parabol bước qua
điểm uốn song song …
Paris, Thu 2001
 
Nguyễn Họat
NHỮNG CON RỐI …
Dưới bầu trời trẻ thơ những con
Rối cứ khua chân những con Rối
cứ múa tay miệng luôn cười ngậm
tiếng. Hình như làn gió múa hình
như bầu trời múa giục con Rối
múa theo giục em Bé múa theo.
Gió vui quá reo lên Bé vui
quá reo lên sao Rối vui lại
ngậm tiếng? Bé hỏi mãi Rối lặng
im … Mẹ bé bảo đến mai ngày
Bé lớn lên Rối lớn lên sẽ
nghe thấy tiếng Rối nói sẽ nhìn
thấy Rối khua chân sẽ nhìn thấy
Rối múa tay. Thật nực cười những
con Rối dưới bầu trời đang múa
may.
Nguyễn Thị Khánh Minh
NƠI UỐNG CÀ PHÊ SỚM
Đêm hôm qua tôi nói thầm
hết chuyện này đến chuyện nọ
thực tình tôi rất hoang mang
không biết mình nói trong mơ
hay mớ trong cơn nửa mê
nửa tỉnh hình như đó là
những câu tôi trả lời về
những việc mà ban ngày tôi
chưa kịp nói không có cơ
hội để giải bày trò chuyện
hoặc là những lời nếu không
nói thầm với đêm thì chỉ
biết đào mộ nơi con tim
mà cất qua một đêm như
thế sáng nay ngồi dưới nắng
đối diện với một dòng nước
chảy nghĩ đến những việc quen
thuộc phải làm mỗi ngày cái
trống trải riêng tư đeo nặng
mỗi ngày tôi không kìm được
giả vờ cài dây giày để
nước mắt có đường rơi xuống.
 
Nguyễn Tất Độ
HAI CÂU
Tôi nhặt được một câu thơ bên
vệ đường trên gói xôi nóng hổi
mà bà lão bán xôi vừa cho
người ăn mày, bên hông xe đẩy
của bà lão tôi thấy một tấm
biển nhỏ ghi chữ “1 ngàn / gói”.
Tôi nhặt được một câu thơ trong
một nhà hàng trên món Cua Hoàng
Đế mà một đại gia vừa gọi
để làm vừa lòng cô gái ăn
mặc như một con điếm, menu
đề giá “1 triệu 5 trăm ngàn”.
Tôi ghép hai câu ấy lại thành
bài Tân Hình Thức và tôi viết
phía sau những con chữ đang hiển
hiện này, ai đọc được thì đọc!
 
Nguyễn Thói Đời
DỌN NHÀ
Cái này cho vào thùng này
cái kia cho vào thùng kia nhưng cũng
không nhất thiết vậy cái này
cũng có thể cho vào thùng kia và
cái kia cũng có thể cho
vào thùng này miễn sao gói gọn tất
cả để mang đi đến một
nơi khác một nơi khác không em mà
nơi này cũng đã từ lâu
vắng em anh còn lại gì ngoài những
kỉ niệm những kỉ niệm bây
giờ đang được anh đóng gói kỉ niệm
này cho vào thùng này và
kỉ niệm kia cho vào thùng kia nhưng
cũng không nhất thiết vậy kỉ
niệm này cũng có thể cho vào thùng
kia và kỉ niệm kia cũng
có thể cho vào thùng này nhưng em
ạ thật ra thứ duy nhất
anh thật sự muốn đóng gói chính là
bản thân anh với những nghĩ
suy những nỗi buồn những nỗi trống trải
trong lòng từ ngày vắng em
trong căn nhà nhỏ

ĐÔI NÉT VỀ HIP HOP

0

Giới thiệu Diễn Đàn Thơ Tân hình thức Việt

__________________________________

wwww.thotanhinhthucviet.com

ĐÔI NÉT VỀ HIP HOP

___________________

Nguyễn Đăng Thường dịch

 

Ra đời ở Bronx (New York) trong thập niên 70, Hip Hop đã lan nhanh khắp thế giới và xâm nhập mọi nền văn hóa địa cầu. Là một hiện tượng độc nhất vô nhị, trong 30 năm qua, Hip Hop đã cách mạng mọi loại hình nghệ thuật (nhạc, họa, vũ, văn, thơ…) và biến đổi những xã hội trong đó văn hóa Hip Hop đã có cơ hội được phát biểu.

Định nghĩa

Hip Hop đã xuất hiện ở South Bronx, một ghetto của New York với vấn nạn ma túy và tội ác bạo tàn hết cỡ dưới mọi hình thức, khỏang giữa thập niên 70. Phong trào Hip Hop là giao điểm của nhiều nền văn hóa và khuynh hướng nghệ thuật. Đại để, ta có thể chia Hip Hop ra làm bốn địa hạt: khiêu vũ, nguệchh họa (graffiti), DJ’ing, và emc’ing (rap), có gắn bó chặt chẽ và đã uống chung cái nguồn lịch sử văn hóa xã hội Huê kỳ. Nghệ sĩ rap KRS One trong một bài viết về đề tài này đã có thêm 5 điểm chính yếu khác nữa, là: nghệ thuật sử dụng thân thể như một nhạc cụ (Beatboxing), thời trang vỉa hè (Street Fashion), ngôn ngữ đường phố (Street Language), cái khôn lanh ngoài ngõ để “rút tỉa những quy luật chung” (Street Knowledge), và kinh doanh chợ trời, nghĩa là tìm cách “biến 15 xen ra thành một đồng đô” (Street Entreprenueralism).

Hip Hop là một họat động có tính cách văn hóa vì nó bao trùm nhiều dạng thái biểu dương nghệ thuật, tuy khác biệt nhưng vẫn bổ túc nhau. Trong giai đoạn đầu, Hip Hop là văn hóa qui tụ những cộng động Mỹ-Phi và Mỹ-Porto-rican. Khu Bronx có một cộng đồng rất lớn dân Mỹ-Porto-rican. Họ mê nhạc disco trong thập kỷ 70. Cái lằn ranh văn hóa lúc ban đầu giữa hai cộng đồng này, đã được Hip Hop dần dà tẩy xóa. Nhóm Mỹ đen và nhóm Mỹ la-tinh có rất nhiều điểm tương đồng. Trước tiên là tính di truyền. Bởi họ mang chung dòng máu Tây-ban-nha. Người Tây-ban-nha khi tới đảo, vì nhu cầu sinh lý, đã hiếp phụ nữ bản xứ (thổ dân) mà con cháu sẽ là người Porto-rican. Khi tìm được vàng trên đảo, người Tây-ban-nha đã chở thêm dân nô lệ từ châu Phi tới để phụ giúp trong việc khai thác và đã tạo ra giống người Mỹ-Phi. Tóm lại, hai cộng đồng sống cạnh nhau và mang chung ít nhiều một dòng máu này, đã đặt nền ảng cho Hip Hop.

Có thể vì từ Hip Hop mang nhiều nghĩa và gợi nhiều ý khác nhau nên đã được giữ lại để chỉ định cái phong trào đã xuất hiện trong thập niên 70. Trước tiên vì nhạc Hip Hop tiếp tục dòng nhạc do người Mỹ-Phi sáng chế. Thật thế, Hip Hop gợi nhớ nhạc Be Bop (dòng nhạc jazz hiện đại xuất hiện sau thế chiến 2 nhờ các đóng góp của Dizzie Gillespie và Charly Parker). Hip Hop cũng có liên hệ với khiêu vũ. Hai âm “Hip” và “Hop” gợi nhớ vũ điệu của các “breakers” trong khu Bronx. “Hip” có nghĩa là “đúng mốt”. Nhưng nó cũng có thêm nghĩa của một tiếng lóng, là biết “xoay trở”. “Hop” thì là một từ gợi thanh, diễn tả sự nhảy vọt, vươn tới. Do vậy Hip Hop hàm ý sự tiến bộ và sự tiến thân nhờ tính thông minh và tài tháo vát.

Từ Hip Hop có thể đã do ca sĩ rap Love Bug Starky sáng chế. Hip Hop, theo các nghĩa kể trên, đã được các tay chủ lễ MC (Master of Ceremony) luôn luôn sử dụng trong các buổi dạ diễn, rồi trong các dĩa nhạc, dần dà đã lan khắp nước Mỹ và thế giới. Chúng ta sẽ thấy nguồn gốc của từ “Rap” trong phần sau. Hip Hop là một phương tiện để hiện hữu bằng một kiểu thức khác hơn sự hiện hữu do xã hội áp đặt. Hip Hop là một quan điểm về xã hội và những yếu tố của xã hội. Hip Hop đổi hướng, chiếm hữu, sáng tạo và biến cải cái tiêu cực thành cái tích cực.

Hip Hop, văn hóa vũ múa

Tất nhiên cái nguồn của vũ điệu Hip Hop là châu Phi, ngày xưa là một lục địa với vài chục tỉ người da đen, sẽ bị bắt giữ và chở sang Mỹ làm nô lệ phục vụ cho bọn người da trắng muốn biến cái lục địa mới đó thành “miền đất hứa”. Trong suốt những năm tháng nô lệ ấy, trong khi người da trắng và các giáo hoàng đặt nghi vấn về sự có mặt của “linh hồn” nơi bọn mọi đen, những người da đen này đã cố hồi sinh một nghệ thuật châu Phi chôn sâu trong đáy người họ, để cho tình cảnh của họ bớt phần cực nhọc. Gắn liền với âm nhạc mà người da đen sẽ sáng tạo trên đất Mỹ, vũ múa sẽ biểu lộ song song với tiến trình của âm nhạc. Như nó đã từng với Jazz, vũ múa là một yếu tố quan trọng đối với Hip Hop. Theo Buster Smith thì “nhạc jazz là một loại nhạc cốt để khiêu vũ”.

Quincy Jones nói thêm: “Ngày xưa, vũ trường là bến đỗ của các giàn nhạc jazz. Giàn nhạc khiêu vũ và giàn nhạc jazz chỉ là một mà thôi.” Teddy Wilson: “Thiếu khiêu vũ, nhạc sĩ jazz bị mất sự kích thích tối cần.” Trong nhạc jazz nguyên thủy, chính những vũ công đã nâng và giữ giàn nhạc. Nếu các vũ công tồi thì dàn nhạc cũng kém. Và Louis Armstrong đã xác định thêm tầm quan trọng của vũ trong nhạc đen: “Anh sẽ không nhìn thấy những diễn tiến trên sàn nhảy nếu mắt anh cứ dán chặt vào các nốt.”

Ở Ba Tư (Bresil) vũ múa từ châu Phi trở thành chiến cụ để chống lại bọn chủ trương mãi nô, hòa lẫn với các nhịp điệu Ba Tư tạo thành điệu vũ/chiến cụ capoiera. Vũ điệu Hip Hop dần dà tiến triển theo nhạc đen. Trên sân khấu, James Brown là một trong những vũ công thuộc hàng quái kiệt. Các bước cách tân của anh là nguồn cảm hứng lớn lao đối với các vũ công ở New York. Thêm vào cái văn hóa Mỹ-Phi đó, là sự đóng góp của người Porto-american thích vũ điệu disco ở Bronx, trong lúc người Mỹ đen thích vũ điệu funk hơn.

Vũ điệu Hip Hop gồm nhiều đặc tính

1. Vũ điệu Break. Còn giữ nhiều đặc tính của capoiera. Gồm nhiều kỹ thuật và động tác khéo léo (acrobatic) gần mặt đất, đã nẩy sinh ở New York. Các tay nghề của vũ điệu này là nhóm Rocksteady (Crazy Leg, Frosty Freeze, Ken Rock), nhóm Dynamic Rockers, và nhóm New York City breaker.

2. Vũ điệu Electric Boogie. Hóa thân của vũ điệu Electric Boogalloo từ bờ biển Tây Huê Kỳ, nơi mà vũ điệu này được thể hiện dưới các dạng thức của funk. Bên Pháp Electric Boogie có cái tên mới là Smurf. Vũ điệu này gồm nhiều kỹ thuật đặc biệt, như popin’ (?) do Boogalloo Jo sáng tạo, hoặc kỹ thuật lockin’ (khóa) do Don Campell sáng chế. Marcel Marceau, nghệ sĩ hề nhại điệu bộ (mime) lừng danh của Pháp đã đóng góp không nhỏ cho vũ điệu này với các sô của anh trên truyền hình Mỹ. ở bờ biển Tây cũng đã phát triển vũ điệu Hop Rock. Frosty Freeze (có thể là người đã sáng chế cử động “bước lui”, được ca sĩ Michael Jackson phổ biến dưới tên gọi Moonwalk), nhóm Rocsteady, và nhóm Electric Boogie Force là những diễn viên chính của vũ điệu này ở New York. Các vũ công này mau chóng trở thành những tên tuổi trong khu phố của họ. Đồng thời ở đầu thập niên 70, New York cũng đã có những vấn nạn băng đảng trầm trọng. Các tội ác cũng gia tăng, nhưng Hip Hop và vũ múa đã cho giới trẻ có được một sự chọn lựa mới.

Một trong số những nguyên tắc căn bản của Hip Hop (và tất nhiên cũng của vũ múa) là sự đo tài. Các vũ công từ nhiều khu phố đối đầu nhau trên sàn nhảy với những vũ thuật thay cho dao hay súng trên đường phố. Nhưng các trận thách đấu cũng có khi kết thúc bằng những cú đấm đá. Các vũ công còn trong lứa tuổi thiếu niên đều thuộc giới trẻ của các ghetto. Họ đã chuyển sự phẫn nộ vào vũ múa. Vũ múa đã trở thành mối đam mê hàng đầu. Nó thay thế cho cuộc đời nghèo khổ lang thang trên hè phố, trên bình diện tài chính cũng như tinh thần. Các vũ công được đặt cho cái biệt danh là “b. boys”, mẫu tự “b” là từ “breaking” viết tắt. Từ “break” trong tiếng Anh có nghĩa là “cắt đứt/ngưng nghỉ”. Trong các bài nhạc (soul và funk) break là lúc ca sĩ và nhạc sĩ ngừng nghỉ, trừ giàn trống và kèn trầm vẫn tiếp tục chơi để giữ nhịp “beat”. Đó là những lúc thuận tiện nhất để các vũ công trổ tài, mà một tay DJ (Disc Jockey/chạy dĩa nhạc) tên Kool Herc đã thấu hiểu, do vậy anh đã cho chạy đi chạy lại mãi các đoạn này với hai giàn máy hát, bên phải và bên trái. Chính anh đã gọi các vũ công là “b. boys”. Về sau “b. boys” (breakin’ boys) cũng có thêm nghĩa mới là “bad boys”.

DJ, những người dọn đường

DJ, hay Disk Jockey, những người giữ phận sự chạy các dĩa nhạc funk và disco đã có từ lâu, trong các buổi phát thanh nhạc radio hay trong các clubs. Nhưng Hip Hop đã thay đổi hẳn tình thế. Nếu không có các tay DJ thì sẽ không bao giờ có Hip Hop. Ba ông tổ của Hip Hop trên bình diện âm nhạc là ba chàng DJ: Kool Herc, Afrika Bambaataa, và Grand Master Flash.

Kool Herc gốc Jamaican. Thời niên thiếu anh đã rời Kignston tới New York sinh sống trong khu Bronx. Vì lực lưỡng và giỏi các môn thể dục điền kinh nên bạn đồng lớp gọi anh là Hercule, được rút ngắn thành Herc. Sau khi đã “xịt” (graffiti) tên anh lên các mặt tường, anh hướng về việc chạy dĩa (Dj’ing) và đã có thần kiến sử dụng cái “sound system” (hệ thống âm thanh) của thời thơ ấu trên đảo vào cái thực tại của khu Bronx. Anh tổ chức các buổi “nhót trong xóm” (Block Party) và chạy các dĩa Soul và Funk anh thích. Vì chỉ có một giàn máy nên anh phải nói vào micro như các tay DJ Jamaican trong khi tay kia anh thay dĩa. Chỉ khi anh “trộn âm” (mix, mixer) với hai giàn máy anh mới sáng tạo được những kỹ thuật pha trộn vẫn còn được sử dụng đến nay. Khi chơi cùng một dĩa nhạc trên hai giàn máy, anh đã có thể chơi đi chơi lại những đoạn anh thích, nhất là các đoạn “breaks”. Dần dà, vì phải để hết thì giờ và tâm trí vào việc hoàn hảo kỹ thuật trộn âm, Herc không thể tiếp tục “nói” (rap) vào micro như trước, nên anh phải mời vài bạn hữu, như Coke La Rock, giữ cái “mic” thế anh, tạo thành nhóm “Herculoids”, nhóm “ca sĩ” rap đầu tiên. Nếu không có nhóm này thì sẽ không có phần tiếp.

Nhờ thấy Kool Herc sử dụng các giàn máy mà Afrika Baambataa đã tìm được con đường của anh. Baambataa cũng ngụ trong khu Bronx. Khoảng đầu thập niên 70 anh thuộc một băng đảng New York tên Black Spades. Vừa tiếp tục đến trường Bambaataa vừa theo băng đảng lang thang trên đường phố cho tới ngày Soulski bạn anh bị ám sát. Bambaataa bèn suy gẫm về cuộc đời anh và tình cảnh của dân Mỹ-Phi trong xã hội da trắng không chỉ đã bóc lột bằng sự nô lệ hóa người da đen trong nhiều thế kỷ, mà ngày nay còn giam giữ họ trong sự nghèo túng, dốt nát, cùng với áp bức, hận thù và kỳ thị. Noi gương các lãnh tụ trong các phong trào đấu tranh đòi dân quyền như Malcom X, Martin Luther King, thậm chí Bobby Seale và Huey P. Newton (các tay đã sáng lập nhóm Black Panther Party), anh quyết định, với tư cách một anh ghetto trẻ, biến những năng lực tiêu cực đang lượn quanh trong môi trường của anh thành những năng lực tích cực qua trung gian của sự biểu hiện mỹ thuật và văn hóa Hip Hop, và anh trở thành một DJ như Kool Herc. Bambaataa là người đầu tiên pha trộn nhiều loại nhạc khác biệt nhau: vào Funk và Soul của những năm 60 và 70 anh trộn nhạc rock, nhạc công nghiệp Kraftwerk và nhiều loại nhạc khác nữa.

Nhóm Zulu Nation do Bambaataa thành lập, về sau qui tụ thêm vào hàng ngũ nhiều tay DJ khác, như Grandmixer DST, Jazzy Jay, Kool DJ Red Alert, Afrika Islam… Chẳng mấy chốc các vũ công cũng gia nhập Zulu Nation để trở thành những yếu tố liên bang của những người trẻ tuổi có liên hệ tới Hip Hop. Nhóm Nation Zulu Universelle có những buổi họp về các giá trị “Peace, Unity, Love, and Having Fun” (Hòa Bình, Thống Nhất, Tình Yêu, và Vui Hưởng). Họ xem âm nhạc và những biểu hiện mỹ thuật nền tảng của Hip Hop như là phương tiện để giáo dục và giải thoát giới trẻ ra khỏi những vướng mắc của sự bạo tàn. Tìm hứng trong các giá trị tôn giáo có tính các hoàn vũ và liên hiệp, cũng như vay mượn thêm của Hồi giáo (mặc dù cách phục sức của Bambaataa và các anh Zulu có thể khiến các ông trưởng sư Hồi giáo đứng tim) Bambaataa bám víu vào cái tên của bộ lạc “Zulu” ở Nam Phi đã đánh bại quân Hòa-lan vào năm 1879, nhờ sự đông đảo và đồng nhất. Tóm lại, Bambaataa đã muốn sử dụng âm nhạc và văn hóa như một nguyên động lực trong sự tiến thân.

Chúng ta đang ở giữa thập niên 70, và từ bốn hướng của khu Bronx những người trẻ tuổi đang liên kết trong sự hồ hởi chung đối với phong trào đang hình thành dưới mắt họ, mà chính họ lại là những diễn viên chính: phong trào Hip Hop. Cái thế hệ mà tới lúc đó xã hội đã không buồn để ý tới, mà xã hội Mỹ vẫn tội hóa, nhất định muốn cho thế giới (mặc dù lúc đó họ chưa ý thức rõ ràng được như vậy) chứng kiến cái khả năng sáng tạo của mình.

Khắp đó đây Kool Herc và các Herculoids mang sinh khí tới cho các Blocks Party và rất nhanh Bambaataa trở thành một lực lượng địch mãnh liệt. Khu Bronx chưa từng chứng kiến một hiện tượng như thế. Hàng nghìn người đổ xô về các công viên để được nghe cái âm thanh mới do các DJ pha trộn, nghe những gã nói vào micro, xem những gã vũ múa lộn đầu quay mòng, trong lúc ở đằng sau họ, vài tay “nguệchh ngoạc”, “vẽ vời” cũng từ bỏ sự vô danh an toàn để mạo hiểm nhập bọn. Khu Bronx náo động. Văn hóa hè phố sôi sục và mau chóng tràn ngập các khu phố khác của New York.

Một người trẻ tuổi khác, gốc Jamaican và cũng cư ngụ tại Bronx, giúp cho Hip Hop nới rộng tầm hoạt động. Grand Master Flash, nhìn Herc bên các giàn máy, bắt đầu để tâm đến sự điều khiển các máy móc có thể cho phát ra những âm thanh có sức gây phản ứng tức thì nơi các vũ công và đám đông. Grand Master Flash tận dụng những hiểu biết của anh về điện toán học ở trường để áp dụng vào nghệ thuật “dee jaying”. Anh hoàn chỉnh kỹ thuật của Herc. Rồi lấy hứng ở Grand Wizard Theodore, người sáng chế kỹ thuật “scratch”, Flash sáng chế các kỹ thuật “scratch” (cào) và “cut” (cắt) của anh. Vào năm 1976, Flash đã hoàn tất công việc của mình và cuộc đối chọi lại hệ thống âm thanh của Kool có thể khởi sự. Flash cũng bắt đầu viết lách vài cái vần, nhưng vì quá bận rộn với các giàn máy nên anh phải nhường vai MC lại cho những người khác.

Rap: văn hóa ngôn ngữ ghetto

Như đã thấy, Kool Herc có những home boys (“gà nhà”) như Coke La Rock và Clark Kent để rap theo những phần nhạc cụ trong các dĩa nhạc do Herc chơi. Coke và Clark thường xướng đọc những vần ứng khẩu hay những cảm nghĩ đã được thử trước, để lôi cuốn các vũ công trong các sô của họ. Các hoạt động trước micro này mang đến cho những người làm vậy cái biệt danh MC (đọc như “em xi”) có nghĩa là: Master of Ceremony (chủ lễ) hay Mic Controller (người sử dụng micro). Thế nhưng hành động thao dượt ngôn ngữ như vậy đã được biết trước đó dưới cái tên “Rap”.

“Rap” trong tiếng Anh có nghĩa là một cái gõ nhanh và nhẹ gây một tiếng động khẽ. Cũng có nghĩa là liên lạc bằng những tiếng gõ. Trong tiếng lóng Mỹ-Phi, từ “rap” chỉ định một người có ngôn ngữ sắc bén, sử dụng ngôn ngữ một cách lanh lẹ như H. “Rap” Brown, ngày nay được biết đến dưới cái tên Jamil Abdullah Al-Amine. Trong thập kỷ 60, Rap Brown là đảng viên của nhóm sinh viên bất bạo động SNCC (Student Non-Violent Coordination Comittee), rồi của Black Panther Party. Anh đã được cái biệt danh “Rap” trong những trò đấu khẩu được gọi là “dozens” mà anh là một tay thiện nghệ trong ghetto. Trò “The dozen” và các trò “Double Dutch jump rope” khác, có thể ví với cái trò “mẹ mày” nhưng bỏ bớt cái phần tồi tàn mà Arthur (?) đã mang vào. Nguyên tắc của trò đấu khẩu này là hai đối thủ cứ hạ nhau thả ga không chừa cả bà mẹ của địch thủ. Môn thể dục bằng mồm này đã được bọn trẻ ghetto thực hành, pha trộn các tiếng lóng của ngôn ngữ hè phố với sự ứng khẩu tức thì. Tiếng tăm của H. Rap Brown đã khiến cho từ “rap” được phổ cập nhanh chóng. Bởi Rap Brown đã từng là bộ trưởng của Black Panther Party và là một trong các diễn giả đã gây ấn tượng mạnh nhất của các thế hệ những nhà cách mạng trẻ.

Cách sử dụng tài tình lời ăn tiếng nói ấy là một truyền thống rất đặc biệt của người Mỹ-Phi, và trở ngược về tận châu Phi và các thầy phù thủy kể lại những huyền thoại và lịch sử các bộ lạc và các gia đình. Ở châu Phi, các thầy phù thủy là những kẻ giữ gìn lịch sử và cái khôn khéo (sagesse, wisdom) chung. Con cháu những người nô lệ gìn giữ cái nét đó trong di sản, nhưng đã cập nhật nó vào thực tại nước Mỹ và thế kỷ 20. Rap gợi hình ảnh một mục sư giảng đạo trong nhà thờ trên cái nền âm thanh của Gospel, hình ảnh một “bluesman” diễn tả cái thực tế tái tê của cuộc đời mình, hình ảnh một Louis Armstrong nói theo nhịp điệu của hai chiếc kèn đồng. Hoặc hình ảnh của những Lats Poets, đã hòa hợp thi ca của họ với nhịp tiết vừa thành thị vừa truyền thống, của những nhạc cụ có âm hưởng (percussion) trên các đường phố Harlem. Hay thêm nữa, hình ảnh một Gil Scott Heron đọc các bài thơ của mình trong tiếng nhạc soul.

Rap, với tư cách văn hóa truyền khẩu, đã luôn luôn là một yếu tố căn bản của văn hóa Mỹ-Phi. Các DJ của các đài phát thanh đã giữ một vai quan trọng trong cộng đồng da đen, với tính cách là nguồn thông tin âm nhạc cũng như chính trị. Cái tài ăn nói “bép xép” (gift to gab) của các tay DJ đài được hoan nghênh, và đã từng là một nguồn cảm hứng cho các tay rap đương thời, tuy cái từ “rap” cũng được liên kết (với “Jack the ripper”, tên sát nhân đã giết chết các cô gái điếm trong sương mù Luân Đôn thế kỷ 19) bằng cách chơi chữ, như trong trường hợp “Jack the rapper”.

Tất nhiên truyền thống khẩu truyền ấy cũng hòa lẫn vào các bài ca soul. James Brown rap “Brother Rap”, và chắc chắn anh đã phổ biến trên tỷ lệ hoàn cầu cái âm thanh mới lạ đó. Nhưng anh không phải là người đầu tiên đã xen một phần nói suông vào ca khúc. Issac Hayes, Barry White, và dĩ nhiên Millie Jackson cũng đã đệm những đoạn rap (nói suông) trong những chỗ “laid-back” (cool/nguội) của bài hát. Thực thế, từ “rap” từng được sử dụng để gọi sự nói theo nhạc, và nữ ca sĩ Millie Jackson là người đã quen thuộc với những khúc ca như thế, khiến cô có thể tiếp tục triển khai ở các đoạn có ca từ (lời nói được phổ nhạc) những chủ đề thường rất sexy và feminist (nữ quyền luận) trong các bài hát của cô. Cô cũng sẽ không quên cười cợt các tay rapper sau này đã nợ cô tất cả, như trong bài “I had to say it” cô nhạo báng ra mặt những Sugar Hill Gang và những Kurtis Blow khác.

Trên bình diện âm nhạc, rap nằm trong dòng tiếp nối nhạc funk và soul. Những âm thanh hiếm hoi, chỉ những người sành điệu mới được biết, nhờ có rap mà đã có thêm được một tuổi trẻ thứ hai. Les Metters, Sly & the family Stone, trọn bộ P. Funk của George Clinton, Curtis Mayfield, Isley Brothers, Ohio Players, O’ Jays, James Brown, Issac Hayes, Millie Jackson vừa kể… và nhiều tên tuổi khác đã cấu tạo các nền nhạc cho âm thanh “rap”.

Rap và nguồn gốc Jamaican

Giới trẻ Hip Hop tất nhiên đã lớn lên trong cái không khí soul và funk đó. Các DJ phát thanh các ca khúc của James Brown, Millie Jackson. Và rap, dễ đạt tới hơn một ca khúc quen thuộc, vì gần gũi với cái thực tế của ghetto nhất, mà cũng dễ đạt tới hơn một cuộc khẩu chiến “dozens”, trở thành một phương tiện để thể hiện của một phần giới trẻ. Nhưng cái kiểu thức phát âm đó (nói theo nhịp) không chỉ đến từ nhạc soul. Raggae cũng có cái đặc thù đó: ngoài các ca sĩ raggae cổ điển đã có thêm các Dee Jays chỉ nói trên nền nhạc của các bài riddim (?) dân gian ở Jamaica. Các tay Dee Jay này (được gọi vậy vì họ lấy lại kiểu thức phát âm của các tay DJ từ các đài phát thanh Mỹ “R&B US”) cũng là những người điều khiển những hệ thống âm thanh. Họ tạo không khí và thúc đẩy dân chúng. Họ không ca. Họ “chúc tụng” (toast). Rồi họ ghi âm các bài riddim dưới dạng thức dee jay.

Trong thập niên 50, hệ thống âm thanh đầu tiên được ghi nhận là của Tom the Great Sebastian, với DJ Duke Vin. Rồi là sự bùng nổ: Duke Reid (và DJ V-Rocket), Lord Koos, Icky Man, King Edward, và tay huyền thoại Sir Coxsone “the downbeat”, với DJ Winston “Count Matchuki”. Anh DJ này là người đầu tiên “chúc tụng” trên những riddim, và cuối thập niên 50 sẽ có thêm King Stitt và Opie nhập bọn.

Duke Reid, địch thủ của Coxsone, khi đó mới có thêm một phụ tá là tay “chúc tụng” (toaster) tên Cuttins. Thế là mỗi hệ thống âm thanh đều bắt chước làm y chang. Phải chờ đến giữa những năm 60 thì các bài “chúc tụng” trăm phần trăm mới được thu dĩa 45 vòng. Nhưng kẻ đã thực sự vinh danh bài “chúc tụng” (cũng được gọi với cái tên “dee jay style”) là U-Roy “the originator”. U-Roy “nhà phát minh” đã được đồng thanh công nhận là một bậc thầy. Được liên kết với kỹ thuật “Dub” (thêm các hiệu quả điện tử vào phần chơi nhạc cụ) do King Tubby sáng chế, U-Roy cách mạng nhạc raggae và có nhiều đệ tử. Kiểu thức toaster trở thành một hằng số trong nhạc Jamaica đã triển nở từ ska đến rocksteady, rồi tiến đến raggae, cho phép sự nẩy nở thực sự của toast trong nhạc khiêu vũ Jamaica tại các vũ trường, và mặc dù không ngừng tiến hóa, vẫn còn được lưu tồn đến nay.

Như thế, cái văn hóa “toast” và “sound system” đặc thù Jamaica ấy, đã theo Kool Herc di tản sang Huê Kỳ, trộn lẫn với soul, rồi Break Beat. Rap đã dần dà tiến tới cái dạng thức được biết đến ngày nay.

1979: Rapper’s Delight

Coke la Rock rap để đệm với các biểu diễn của Kool Herc từ hai giàn máy. Và giới trẻ ở khu Bronx tò mò và kích thích bởi kiểu thức diễn tả mới lạ này (và được Hip Hop làm cho sáng giá) đã khởi sự viết những câu vần. Bởi rap là một thể loại nhạc dễ vươn tới, nên chỉ cần một tờ giấy và một cây bút để viết. Và khả năng ngẫu tác, đọc ca lời, dòng chảy, bấy nhiêu là yếu tố để cá nhân hóa từng bài rap. Trước tiên, rap chỉ là hai giàn máy hát và một chiếc micro. Cái ý niệm mới này không chỉ lôi cuốn giới trẻ mà còn khiến họ cảm thấy cái âm nhạc đó đang ở trong tầm tay.

Các rapper (người rap/ca sĩ rap) đầu tiên hợp thành một lực lượng hùng hậu: Grandmaster Caz, JDL, cùng với các rapper khác và các DJ như Charlie Chase, Toney Tone hợp thành các nhóm Cold Crysh Brothers, Lovebug Starsky, Busy Bee, Kurtis Blow, Ramellzee, Fab 5 Freddy, The Fantastic Four, KK Rockwell, Rodney Cee, Zulu Queen Lisa Lee, Tanya Winley… Và Melle-Mel với Kid Creole rap cho Grandmaster Flash sẽ trở thành nhóm Furious Five.

Đồng thời các DJ lo hoàn chỉnh kỹ thuật của họ. Grand Wizard Theodore sáng chế kỹ thuật scratch, và tất cả DJ Hip Hop đều đã để lại dấu ấn của mình khi dji’ng. Cuối thập niên 70, văn hóa Hip Hop đã nẩy nở ở những nơi khác. Tín điệp đã được truyền đi và các clubs (hội quán/quán) bắt đầu để ý tới cái văn hóa mới lạ này. Quán Roxy mở cửa cho các DJ của nhóm Zulu Nation vào, và trở thành một nơi không thể tránh khỏi của thế hệ Hip Hop đầu tiên ở New York. Các vũ công trổ tài cùng với những thách đố và sự sôi sục của cái tiểu vũ trụ đó đã khiến nhiều ngoại nhân phải chú ý.

Sugar Hill Record, nhãn dĩa của Sylvia Robinson ở New Jersey (một tiểu bang ở về phía nam New York) muốn cho ra đời một dĩa rap. Bà mời các tay rapper lân cận như Big Bank Hank, Master Gee và Wonder Mike tất nhiên đã trở thành băng đảng Sugar Hill Gang một cách rất hợp lý hợp tình. Ca từ của nhóm này không tuyệt vời, một phần cóp lại ca từ của Grandmaster Caz, phần kia chứa đựng những vần vè cổ điển của H. Rap Brown: “I’m the hemp the demp, the ladies pimp, women fight for my delight” (xin tạm dịch: ta đây chính là tên đượi tên lười, tên ma cô của các bà các cô, họ cấu cào nhau để được nhào vô). Tất cả được rap trên nền nhạc cổ điển của Chic “Good Times”, nghĩa là có bảo đảm thành công mỹ mãn. Đó là năm 1979 và dĩa nhạc này đã lưu lại một dấu ấn vĩnh viễn trong lịch sử âm nhạc.

Thế nhưng dĩa nhạc rap đã được ghi khắc để thương mại hóa đầu tiên là dĩa “Personality Rock” của Kick Tim III, vài tháng trước đấy. Lúc ấy nhóm Funk “Fat Back Band” muốn hợp tác với một tay rapper và King Tim III đã tình nguyện nhảy vô. Do vậy họ đã thâu bài “Personality Rock” trên mặt B của dĩa “You’re My Candy Sweet” (cũng là dĩa “Personality Rock” kể trên).

Cũng trong năm 1979, sau sự thành công của nhóm Sugar Hill Gang, Grandmaster Flash & the Furious Five cũng phiêu lưu vào thị trường dĩa hát và cho ra đời dĩa nhạc “Super Rappin’ No 1”, đã thâu lại bài “7 minutes of Funk” của Tyrone Thomas và the Whole Darn Family’s dưới nhãn hiệu Castle Music. Năm ấy Paulette & Tanya Winley cho ra đời “Rhymin’ and Rappin’” của hãng Paul Winley Records, một nhãn hiệu nhạc funk muốn xé rào nhảy vào rap. Năm sau Tanya Winley cho ra mắt dĩa “Vicious Rap” (Rap phóng đãng).

Vẫn trong năm 79, ca sĩ rap Spoonie Gee được nhà sản xuất Peter Brown mời và kết quả là dĩa “Spoonin’ Rap” dưới nhãn hiệu Peter Brown. Trong cái năm 79 đánh dấu ấy, Castle Music cho ra đời “Rapping and Rocking the House” của nhóm Funky Four Plus One More, đặc biệt qui tụ KK Rock Well và Rodney Cee (về sau anh được biết với cái tên tuổi mới Double Trouble/Hai Dọa) cùng với nữ ca sĩ rap Sha Rock. Kurtis Blow để lại dấu ấn của một ca sĩ rap đã ký hợp đồng với một hãng dĩa lớn: Mercury, với dĩa “Rappin’ Blow”.

Trong cái tiểu vũ trụ Hip Hop, các cộng đồng Mỹ-Phi và Mỹ-Porto-rican đã giữ vai chính. Nhưng có hé mở và người Mỹ trắng, thường đến từ môi trường nguệchh họa (graffitti), cũng khởi sự bám víu cái thể loại nhạc mới đã hình thành: nhạc Rap.

Graffitti: Hip Hop xâm chiếm các mặt tường

Graffitti (xin tạm dịch là “nguệchh họa”) không phải là một văn hóa đã do Hip Hop tạo ra. Nguệchh họa đã từng có mặt, như rap và break danse, một dạng nghệ thuật cửa sau, một văn hóa bên lề, bởi thế cho nên nó cũng cần được sáp nhập vào phong trào Hip Hop. Khi các tay nguệch họa Mỹ Đen và Mỹ-Porto-rican trông thấy Hip Hop, họ cảm thấy tiềm năng của văn hóa mới này và bám vào ngay. GraffittiTag (Nguệch họa và Ký tên) là những yếu tố tạo hình của Hip Hop, cũng bị chế ngự bởi tinh thần đua tranh, vượt bực, cầu tiến như rap và vũ múa, cộng thêm sự phi pháp khiến cho nguệch họa là một trò chơi nhiều hiểm nguy.

Nguệch họa, nếu thu hẹp vào hành động vẽ và viết trên vách, thì đã có từ nghìn xưa. Nhưng trong hậu bán thế kỷ 20, các băng đảng ở New York đã sử dụng nó như một mã số để ghi ranh lãnh thổ của mình. Tương tự như khi mặt tường được dùng làm nền cho những khẩu hiệu chống đối của những người đấu tranh chính trị.

Trước tiên là ở Philadelphia, vào khoảng giữa thập niên 60, khi Cornbread và Cool Earl dùng bụi than để viết tên mình (tag) lên mặt tường. Tag chỉ là chữ ký của một tác giả, chỉ cần vài phút là xong, trong khi graffitti đòi hỏi nhiều thì giờ hơn. Tag được sử dụng bởi các băng đảng để ghi lãnh thổ. Nhưng khoảng cuối thập niên 60, tag đã có tầm cỡ hơn, vì không còn giới hạn trong sự hoạt động của các băng đảng.

New York, cuối thập kỷ 60: một thành phố với vô số những kẻ sống trong những khu phố ảm đạm của Bronx và Brooklyn. Bọn trẻ bị áp lực không ngừng, do sự túng thiếu hay sự bạo tàn. Ngoài ra chính phủ cũng xao nhãng lơ là, không có tổ chức chu đáo ở mức hạ tầng trong các khu phố này. Nhiều khu vực của Bronx đã bị thiêu rụi, bỏ phế. Chỗ nào có thể sử dụng được thì bọn trẻ tha hồ thao túng xịt sơn. Nhưng chúng không được các khu lân cận và cả nước Mỹ biết đến. Do vậy chúng nảy ý xịt sơn lên các toa tàu điện ngầm, khiến tác phẩm của chúng được cả thành phố và nhiều người chú ý.

Phong trào xịt sơn như vậy đã di chuyển từ đường phố sang tàu điện. Vì vậy sự cạnh tranh càng gia tăng vì bọn trẻ muốn được bạn bè nể phục. Thế nên các “Writers” (xin tạm dịch là “nguệch sĩ”, gom chung các tay “tag” và các tay”graffitti”) bắt đầu nới rộng tầm hoạt động đến các toa xe, để tác phẩm được tung ra khắp bốn phương. Tag là cách để cho người khác biết đến mình. Graffitti là để được nhìn nhận như là một nghệ sĩ.

Ở New York, nguệch sĩ đầu tiên được ghi danh sổ sách, từ năm 1970, là Taki. Gốc Hy-lạp, anh này phủ đầy các mặt tường New York với chữ ký Taki 183. Taki là tên, 183 là số nhà anh ở Manhattan. Đồng thời với anh có Julio 204, Joe 136 và Frank 207 cũng đã khiến cho thiên hạ bàn tán. Các nguệch sĩ này có một số đệ tử khó kiểm kê cho hết, như: Papo 184, Friendly Freddy, Super Kool 223, Wap, Barbara 62 và Eva 62 (hai nữ nguệch sĩ), Stay High 149, Lee 163rd, Phase 2, Snake 131, Japan 1, Moses 147, Hondo 1, Junior 161, Riff 140, v.v… Với ngần ấy nguệch sĩ, kiểu thức các chữ càng ngày càng thêm tầm quan trọng để cá nhân hóa từng người một. Kích thước và bề dày của chữ cũng đã gia tăng. Topcat 126, gốc gác ở Philadelphia với kiểu thức Block Letters. Phase 2 đặc biệt với kiểu chữ tròn Bubles Letters. Kiểu chữ 3 chiều (3D) do các xịt sĩ Flint 707 và Pistol sáng chế.

Vào năm 1972, Hugo Martinez sáng lập United Graffitti Artists (UGA) và trưng bày tác phẩm của Phase 2, Mico, Coco 144, Flint 707, Pistol, Bama, Snake và Stich. Ngoài ra, trên đường phố, nhiều toán được thành lập. Đáng kể là Ex-Vandals de Dino Nod và nhóm Wanted do Tracy 168 thành lập. Họ là những kẻ đã tiên phong trong việc minh họa thêm các nhân vật. AJ 161 và Silver Tips cũng tiên phong trong việc xịt cả một toa xe, được phổ biến bởi Butch, Kindo, Case, Lee, Mono, Comet, Ale 1, Slave, Doo 2, John 150. Giữa thập niên 70, nhóm “Throw up” xuất hiện với những nguệch sĩ như: TEE, DY 167, PI, CY, IN, PEO, LE, IZ, TO, OI, FI.

Nguệch họa đã để lại dấu ấn trên não trạng thị dân ở New York vì mỗi ngày họ sử dụng tàu điện và nhìn thấy các toa tàu. Nguệch họa cũng để lại dấu ấn trên khắp thế giới, qua báo chí và truyền thông. Tất nhiên thành phố New York không thể khoanh tay mãi. Các phương tiện lớn đã được điều động như rào kẽm gai. Các toa tàu được chùi rửa và phủ lớp sơn trắng, nhưng đồng thời các graffitti cũng được đưa vào các phòng tranh. Nhưng chỉ là một mốt thời thượng chóng qua. Thực chất của nguệch họa là một phương tiện để cho bọn trẻ nổi loạn. Đầu thập niên 80, Henry Chaflant với cuốn phim tài liệu “Style Wars” đã đưa nguệch họa lên màn bạc và để cho các nghệ sĩ graffitti được phát biểu cảm nghĩ. Kế đến là các phim về Hip Hop như “Wild Style” và “Beat Street”

Thập niên 80: Rap khắc vào dĩa nhựa đen

“Rapper Deligh” của Sugar Hill Gang và sự thành công hoàn vũ khiến các hãng dĩa chú ý tới rap. Hãng Mercury ký hợp đồng với Kurtis Blow. Hãng dĩa Pháp của Jean Caracos và Bernard Zekri, đặt trụ sở tại New York, chạy theo sự nghiệp của một số rappers và các DJ, như DST và Fab 5 Freddy. Tommy Boy, một nhãn hiệu mới, ký hợp đồng với Afrika Bambaataa và the Soul Sonic Force (GLOBE, Pow Wow & Bigggs). Riêng Grandmaster Flash cùng với nhóm Furious Five thì thương lượng được sự cộng tác với Sugar Hill Records, cũng như nhóm Treacherous Three (Kool Mool Dee, Special K, LA Sunshine). Tay DJ phát thanh rap đầu tiên là Mr Magic trong sô “Rap Attack” của anh trên đài WHBI ở New Jersey, rồi trên đài WBLS ở New York. Chẳng mấy chốc Kool DJ Red Alert cũng có giờ phát thanh xen kẽ của mình, từ đó Hip Hop không ngớt xâm chiếm các làn sóng điện.

Năm 1982, Bambaataa “cha đỡ đầu của Hip Hop” cho thính giả nghe tiếng ca của Zulu Nation với dĩa “Planet Rock” trở thành một “tube” (bản nhạc ăn khách) thế giới. Trích đoạn một “cấu trúc” (structure) của Kraftwerk, Bambaataa và nhóm Planet Patrol sáng chế một âm thanh mới: Electro Funk. Từ sự chi phối do Bambaata vào phần “beat” đó, nẩy sinh những loại “nhạc techno” ngày nay. “Planet Rock” là một bài nhạc “cult” của nhạc điện toán. Tiếp theo là “Looking for the Perfect Beat”, “Renegades of Funk”, và “Unity” song ca với James Brown “cha đỡ đầu của Funk”.

Cũng trong năm 1982, Hip Hop khắc dĩa “The Message”, một tín điệp xã hội, qua sự trung gian của Grandmaster Flash và nhóm Furious Five. “White Lines”, “New York, New York” tiếp tục vai trò rap xã hội. Nhóm Fab 5 Freddy thu vào dĩa Celluloid bài “Change the Beat” với mặt B là một bài rap Pháp của B-Side kết thúc bằng sự cào (scratch) mạnh nhất bởi các DJ: “Biiip Aaaathis stuff is really Freshhhh”. Thính giả được nghe B-Side bên cạnh Time Zone (một nhóm của Bambaataa) trên dĩa maxi “The Wildstyle” trong năm 1983. Rap bắt đầu được chính thức công nhận trên thị trường dĩa hát. Nhiều ca sĩ, như Blondie, chịu ảnh hưởng rap, cho ra mắt dĩa “Rapture” đã trở thành cổ điển. Năm 1983, Bill Laswell sản xuất an bum của nghệ sĩ Jazz Herbie Hancock dưới nhãn hiệu của Celluloid, và mời Grandmixer DST cào một bản nhạc khác, “Rock It”, đã trở thành một bài “cult”.

Hip Hop bước ra ngoài tiểu vũ trụ Bronx, được khiêu vũ phổ biến, các ca sĩ rap úa ra từ khắp các khu phố New York, và một lịch sử mới của Hip Hop đang hình thành. Nhóm Run DMC từ khu Manhattan tung ra dĩa “Suckers MC’c”, cách tân hình ảnh ca sĩ rap với sự lựa chọn thời trang Adidas và thêm gia vị cho rap bằng nhạc rock với các bài như “King Of Rock” và “Walk This Way” hát song ca với nhóm hard rock Aerosmith.

Các nhóm và ca sĩ rap nam nữ sinh sôi nẩy nở: Whodini, Roxane Shante, MC Shan & Marley Marl, UTFO và Real Roxane, Ice T từ Los Angeles hợp tác với Afrika Islam, một DJ Zulu. Ca sĩ rap khu Queens, LL Cool J gặt hái thành công liên tiếp với “I can’t live without my radio” và “Rock The Bells”. KRS One và DJ Scott La Rock lăng xê Boogie Down Productions, và vô số nhóm rap lại sinh sôi nảy nở: Cash Money và Marvelous, Eric B và Rakim, Stetsasonic, Slick Rick & beatboxer Doug E Fresh… Một thế hệ rap mới đang bước tới. Kể từ năm 1985, nhạc Rap triển nở với tốc độ phi thường ở Huê Kỳ.

Trang sử Hip Hop được tiếp tục viết

Lịch sử Hip Hop được tiếp tục viết mỗi ngày, khắp các nơi trên thế giới… Những người trẻ tuổi nam và nữ có nhiều hứng cảm tại khu Bronx trong thập kỷ 70 cho ra đời một hiện tượng đa văn hóa có tính cách hoàn vũ và phổ thông, đã lan tràn và cách mạng tất cả các loại hình văn chương nghệ thuật đương đại (âm nhạc, khiêu vũ, hội họa…)

Nhạc rap mang nội dung xã hội được đặt nền móng với tín điệp “The Message” vẫn tiếp tục với các nhóm như Public Enemy. Đã có thêm nhiều nhánh khác như Egotrip (Vị kỷ) với EPMD, Kool G Rap & Polo, Ultramagnetic MC’s, Big Daddy Kane. Gangsta rap với School D, và nhất là nhóm NWA ở Los Angeles với Dr Dre, Easy E, Ice Cube, MC Ren & Yella. Từ năm 1988 có thêm “đội” (posse) Native Tongue với Jungle Brothers, De La Soul, A Tribe Called Quest và Black Sheep, và các nhóm như Third Bass, KMD, Jazzy Jeff and Fresh Prince. Phía nữ giới có các cô Salt’N Pepa, Queen Latifah và MC Lyte. Các ngôi sao mới (và tỉ phú) hiện nay: Eminem, Missy Elliott, 50 Cent…

Từ cái nôi Bronx, Hip Hop đã tràn qua các khu phố khác của New York, khắp nước Mỹ, rồi nhanh chóng tới các nơi khác trên thế giới, để cuối cùng trở thành một thị trường khổng lồ với các ngôi sao, các nhà đầu tư, các câu chuyện ngồi lê đôi mách, được các ngành công nghiệp to lớn của Huê Kỳ ve vãn.

Nguyễn Đăng Thường dịch

& viết theo hai trang web tiếng Pháp tình cờ bắt gặp vài năm trước, nhưng đã lạc mất địa chỉ. Một tác giả có thể tên là Ben “Gee” (?). Thành thật cảm tạ và xin lỗi các gia chủ.

P H Ụ L Ụ C

Artist: Ice Cube
Album: Kill at Will
Song: Dead Homiez

Verse One:

Up early in the morning, dressed in black
Don’t ask why? ‘Cause I’m down in a suit and tie
They killed a homie that I went to school with (Damn!)
I tell ya life ain’t shit to fool with
I still hear the screams of his mother
While my nigga laid dead in the gutter (Shit!)
And it’s getting to my temple
Why is that the only time black folks get to ride in a limo?
It makes me so mad I want to get my sawed-in
And have some bodies hauled in
But no, I pay my respects and I’m through (whaddup Cube?)
Hug my crew, and maybe shed a tear or two
And I wanna get blitz
Grab my 40 ounce and then I reminisce
About a brother who had to be the one and only
So I dedicate this to my dead homiez…

Verse Two:

Another homie got murdered on a shakedown {three gun shots}
And his mother is at the funeral, havin’ a nervous breakdown
Two shots hit him in the face when they blasted {two gun shots}
A framed picture and a closed casket
A single file line about 50 cars long
All drivin’ slow with they lights on
He got a lot of flowers and a big wreath
What good is that when you’re six feet deep?
I look at that shit and gotta think to myself
And thank God for my health
‘Cause nobody really ever know
When it’s gonna be they family on the front row
So I take everything slow, go with the flow
And shut my motherfuckin’ mouth if I don’t know (Word!)
‘Cause that’s what Pops told me
But I wish he could have said it…to my dead homiez

Verse Three:

I remember we painted our names on the wall for fun
Now it’s “Rest in Peace” after every one
Except me, but I ain’t the one to front
Seems like I’m viewin’ a body after every month
Plus, I knew him when he was yea big
Pour beer on the curb before I take a swig
But somethin’ ain’t right
When it’s a tragedy, that’s the only time that the family’s tight
Lovin’ each other in a caring mood
There’s lots of people and lots of food
They say “Be Strong” and you’re tryin’
But how strong can you be when you see your Pops cryin’?
So that’s why Ice Cube’s dressed up
Because the city is so fuckin’ messed up
And everybody is so phony
Take a little time…to think about your dead homiez.

Nó ngủm rồi

Khúc Một:

Mới tảng sáng mà tôi đã đóng bộ đồ nỉ đen
Đừng thắc mắc vì chiếc cà vạt và cái bộ vó chẳng hèn
Thằng bạn đồng trường của tôi đã bị bọn cớm hạ rồi (Damn!)
Cuộc đời chẳng là cái đống cứt thơm để cho ta vọc
Tôi nghe tiếng bà già nó kêu trời và rống và khóc
Trong khi thằng mọi ngã lăn tòm vào lòng rãnh mương (Shit!)
Và tôi thảnh thơi cất bước tới ngôi thánh đường
Sao bọn mọi đen chỉ được ngồi xế những lúc như thế
Khiến tôi nổi nóng muốn vác cây súng cưa nòng ra
Để có thêm vài cái thây ma mà khuân vác về nhà
Tuy nhiên tôi chỉ cúi chào và thế là xong cuộc lễ (whaddup Cube?)
Ôm hôn bằng hữu và có thể rỏ một hai giọt lệ
Và muốn được xơi bom rơi đến gần như tắt thở
Nên hít 40 ounce để mà tưởng mà nhớ
Cái thằng bạn hiền thằng anh em độc nhất của tôi
Vì vậy tôi tặng bài này cho cái thằng đã ngủm rồi

Khúc Hai:

Lại thêm một thằng bạn thân bị bắn trong một trận càn quét {ba phát súng}
Và bà má nó đi đưa ma và bị khủng hoảng tinh thần
Hai phát súng nổ tung cái bản mặt mo đen của nó {hai phát súng}
Một tấm hình lộng kiếng với một chiếc mũ kết
Một cái hàng dài nối đuôi năm chục cái xế đen thui
Đèn pha vàng mờ mờ và đoàn xe chạy từ từ
Nó được rất nhiều bông hoa và một vòng hoa rất bự
Để làm gì hả khi ta đã nằm trong cái lỗ sâu 2 mét
Tôi ngó cái đống cứt to đó và tôi suy tôi xét
Cám ơn Thượng đế nhé về cái sức khỏe của tôi
Bởi chẳng có ai thực sự có tài đoán trước được nổi
Cái lúc gia đình mình sẽ đứng đợi ở nơi hàng đầu
Thế nên tôi cứ tà tà mà trôi xuôi theo dòng chảy
Và ngậm câm đụ má cái miệng hến lại nếu tôi chưa thể (Word!)
Vì các đấng sanh thành thường bảo ta làm thế
Nhưng sao họ chẳng bảo dùm cho cái thằng bạn đã ngủm của tui

Khúc Ba:

Tôi còn nhớ chúng tôi hay xịt tên mình lên tường để mua vui
Giờ thì phải ghi “An Nghĩ” theo ý của mọi người
Trừ tôi, nhưng tôi không là một tên hay chống đối
Hình như tôi phải nhìn một cái thây ma sau mỗi tháng
Số là tôi đã chơi thân nó khi nó chỉ mới bi to
Mà đã biết rót bia vào cốc rồi ngó tôi nốc một ngụm
Nhưng có điều gì đó coi bộ như là chưa thật ổn
Chỉ khi gặp biến thì người trong nhà mới xích gần nhau
Yêu thương nồng nàn trong tình tương thân tương ái
Cả đống bà con cả đống đồ ăn và thức uống
Họ bảo nên “Vững lòng” và ta cố vững lòng
Nhưng vững tới đâu khi bố mẹ nước mắt chảy ròng ròng
Thế nên thằng Ice Cube này mới chưng diện thật bảnh bao
Vì đụ mẹ cái thành phố chó đẻ này chỉ là một cái đống rác cao
Và mọi người đều giả trá và cù lần và cà chớn
Này… hãy để tí thời giờ mà nghĩ tới những thằng đã sạch trơn

Artist: 2 Live Crew
Album: Is What We Are
Song: We Want Some Pussy

Chorus(4x): [Luke]
Somebody say HEY-Y-Y-Y-Y WE WANT SOME PU-U-USSAY-Y-Y!
(HEY-Y-Y-Y-Y WE WANT SOME PU-U-USSAY-Y-Y!)

Verse 1: [Brother Marquis]

You see, me and my homies like to play this game
We call it Amtrak but some call it the train
We all would line up in a single-file line
And take our turns at waxing girls’ behinds
But every time it came to me, I was shit out of luck
Because I’d stick my dick in, and it would get stuck
The girls would say “Stop!” I’d say “I’m not!
That’s enough, I quit, ’cause y’all are bustin’ me out!”
I say, girls, don’t hide it, just divide it
And please don’t knock it until you’ve tried it
So to all of you bitches and all you hoes
Let’s have group sex and do the Rambo!

Chorus

Verse 2: [Fresh Kid Ice]

I’m the Peter Piper of the 1980’s
Got a long hard dick for all of the ladies
I don’t care if you got three babies
You can work the stick in my Mercedes
If you wanna blow, just let me know
We can go backstage at the end of the show
I’ll look at you, and you will look at me
With my dick in my hands as you fall to your knees
You know what to do, ’cause I won’t say please
Just nibble on my dick like a rat does cheese!

Chorus

Holy shit!

Bọn tui muốn có ngay vài cái lồn

Hợp xướng (4x): [Luke]
Thằng nào vừa bảo Ê–Ê–Ê–Ê–TỤI TAO MUỐN CÓ NGAY VÀI CÁI L-Ô-Ô-Ồ-Ồ-N-N
(Ê–Ê–Ê–Ê–TỤI TAO MUỐN CÓ NGAY VÀI CÁI L-Ô-Ô-Ồ-Ồ-N-N)

Khúc 1: [Brother Marquis]

Tui và lũ bụi đời thích mê cái chuyện bề rất văn nghệ
Gọi nó là Amstrak hay là trò hỏa xa cũng thế
Bọn tui nối đuôi thành một cái hàng dài
Và luân tay chà láng đít mông lũ con gái
Nhưng hễ tới phiên tui thì thế nào nó cũng khựng
Hễ tui nhét củ mì vô thì nó bị kẹt cứng
Tụi ghệ đòi “Tốp” tui bảo “Chưa ốp”
Nhưng tui cũng rút lui vì đã lúi lon thịt hộp
Tui bảo, ê, ghệ ơi đừng kẹp mà phải tách đôi
Cũng đừng chê quả thối khi chưa được nếm mùi ổi
Này bọn đĩ chó và lũ cặc bò
Nào ta hãy bề hội đùng với cái trò hùng Rambo

Hợp xướng

Khúc 2: [Fresh Kid Ice]

Của thập kỉ 80 tui là cậu Pitơ Paipơ mình gai
Củ dài và cứng cho lũ liền bà con gái
Tui đéo có lo nếu em đã có ba thằng nhóc
Em có thể ngồi Mercedes mà đánh bóng cái thằng trọc
Nếu như có thèm bú thì em cứ hú cho to nhé
Ta có thể vào hậu trường ngay sau cái buổi ré
Tui sẽ mé em và em cũng sẽ lé tui
Tay tui nâng dùi cui khi con ghệ quì gúi
Tui nói mi biết công việc của mi tao đéo cần năn nỉ
Mi cứ gặm cái dùi ni như chuột nhắm khúc bánh mì

Hợp xướng

Cứt thánh!

Nguyễn Đăng Thường phóng tác