Trang chủ Blog Trang 35

TUYÊN NGÔN BIẾN CẢI THƠ

G.M. Palmer

Các nhà thơ thân mến,

Thơ đương đại đang bệnh. Nó đang giẫy chết trên giường viện dưỡng lão và chúng ta nên rời khỏi cái thây khó chịu của nó trước khi mùi hôi thối của hậu môn giả (colostomy) và thuốc xoa bóp bắp thịt khiến mình đần ra. Dù sao thì chúng ta cũng không có tên trong chúc thư.

Từ hình ảnh cái thây của nó tôi giả định một đường hướng mới cho thơ. Bởi vì từ thế kỷ vừa rồi chúng ta đã bị trói buộc trong một phương cách nghẹt thở của sáng tạo, sản xuất và đề bạt thơ. Thí dụ điển hình: Các nhà thơ nghệ thuật giả tạo (artsy) viết toàn là loại vất đi không hiểu được; những tạp chí nghệ thuật giả tạo với số xuất bản bé tí teo in thơ (Thơ có mức phát hành khoảng 30,000 – tại sao chúng ta lại muốn thơ mình trong đó? Không phải vì chúng ta cần độc giả), không ai đọc những xuất bản hay những bài thơ, và đường dây xuất bản, dựa trên sơ yếu lý lịch (curriculum vitae), chấp nhận việc làm của những nhà thơ nghệ thuật giả tạo, nơi họ dạy những người khác một cách không ấn tượng rằng thơ đọc được thì tai hại và phân của những nhà thơ đó là loại hoa hồng duy nhất đáng để ngửi.

Thay vào đó, tôi giả định, những cách giải quyết sau đây:

Để thay đổi cách làm, đọc, và nghĩ đến thơ. Điều này có nghĩa rằng thay đổi sản phẩm, phân phối và cách chấp nhận thơ đương đại. Tôi sẽ giải quyết từng vấn đề một.


  1. Sản phẩm

Để thay đổi sản phẩm, chúng ta cần phải quay về phía thơ kể truyện. Đây là một việc làm dễ dàng, vì gần như hầu hết thơ ngày nay đều là thơ trữ tình. Gần như không ai làm thơ hay xuất bản thơ kể truyện nữa. Riêng điều này có thể giải thích được trạng thái bên lề của thơ đương đại vì người ta yêu thích truyện kể. Họ cần có chúng. Họ trả cả tỉ đô la mỗi năm cho điện ảnh, cáp truyền hình, tiểu thuyết, và trò chơi điện toán chỉ để được kinh qua truyện kể. Nhưng họ lại không nhìn đến thơ. Tại sao? Thơ có thể kể truyện với một sức mạnh làm thay đổi sinh lý hóa học của độc giả hay làm người nghe vừa vặn theo với nhịp điệu của câu thơ. Không có thứ gì khác có thể làm được thế. Nhưng người ta không nghĩ đến thơ vì thơ không còn kể truyện nữa; nó thôi không còn làm việc giải trí; nó đã biến thành nghệ thuật vị nghệ thuật chết cho chính nó. Khi chúng ta làm ngơ với thơ kể truyện để chuộng thơ trữ tình, chúng ta đã tước đi lớp khán thính giả tự nhiên của thơ.

Một phần lý do là sự bất cân bằng ngày nay giữa thơ trữ tình và thơ kể truyện. Thơ trữ tình là thơ miêu tả đối tượng, cảm xúc, và những ý niệm trừu tượng. Thí dụ từ “Sonnet CXXX’ của Shakespeare cho đến “Ode on a Grecian Urn” của Keats, đến “Ash Wednesday” của Eliot, “Just Walking Around” của Ashbery. Thơ kể truyện là thơ kể một câu chuyện – từ “Annabel Lee” của Poe đến “The Death of the Ball Turret Gunner” của Jarrell, “The Colonel” của Forche đến “Odyssey” của Homer.

Theo truyền thống, thơ có sự quyến rũ lớn nhất và rộng rãi nhất khi có sự cân bằng giữa trữ tình và kể chuyện. Ngày nay không còn thứ cân bằng ấy nữa. Trên những trang các tạp chí thơ quan trọng, bạn sẽ thấy có nhiều chữ đẹp đẽ và gần như không có câu chuyện nào hết. Tháng qua tháng, tam cá nguyệt qua tam cá nguyệt, các nhà xuất bản đưa ra nhiều biến thiên khác nhau của cùng ý tưởng và tự hỏi tại sao con số phát hành vẫn kém. Độc giả được lôi kéo tới những câu chuyện bằng một cách mà những sự miêu tả và tự suy diễn không bao giờ sánh được. Sức mạnh của thơ kể truyện khiến họ đọc và dạy họ cách đọc thơ như thế nào đó để họ có thể tận hưởng cả hai, thơ kể truyện và trữ tình. Khi không có một lượng dồi dào của thơ kể truyện để lôi cuốn độc giả, sự quan tâm đến thơ sụt giảm.

Trong khi sự chú ý quá đáng vào thơ trữ tình không phải là vấn đề duy nhất của thơ đương đại, nó còn để cho các nhà thơ bỏ qua, không phải chỉ riêng có cấu trúc của kể truyện mà còn là bất cứ cấu trúc nào khác. Trong khi làm thơ kể truyện, chúng ta không nên rơi vào bẫy bố trí bởi bọn hiện đại và giăng ra bởi bọn thơ ngôn ngữ– rằng làm sao bài thơ nói về điều gì lại quan trọng hơn điều bài thơ nói ra. Chính lối chú ý vào hình thức và tính vô hình thức này được trả bằng cái giá nội dung, đã đẩy lùi độc giả đọc thơ. Chúng ta có thể tránh cái bẫy này bằng cách ủy thác thơ kể truyện của mình vào năm điểm:

Thơ của mình phải:

rõ ràng
theo thứ tự thời gian
dễ nhớ
bằng ngôn ngữ bình thường
đem chúng ta lại gần nhau.

Để cho thơ của mình rõ ràng, nó phải dò được ngay lần đọc đầu tiên. Điều này không có nghĩa là thơ của chúng ta không thể phức tạp. Đúng vậy, nó phải là như thế trừ khi chúng ta muốn là thứ nhà thơ không hồn nào đó. Nhưng sự phức tạp chỉ là một phần của toàn thể bức tranh. Nếu không có người  nào có thể hiểu được thơ của chúng ta mà không có cái nhẫn giải mã (decoder ring), chúng ta đã làm sai. Hầu hết độc giả đều không thích giải mã thơ – họ chỉ muốn một câu truyện hay. Nếu có một truyện hay, họ sẽ đọc. Nếu nó có thể bị lột và lột, phơi ra những lớp như hồng-nhiều-cánh-mỏng (multifoliate rose) của Eliot, thì chúng ta đã làm việc tốt.

Để cho thơ của mình có thứ tự thời gian, nó phải dính dáng tới những người đang làm việc và trang trải và sống và chết ngay bây giờ. Nó không nên dựa vào ám chỉ huyền thoại hay kinh nghiệm cá nhân mà củng cố nơi hiện tại. Những ma quái và thần thánh cá nhân có thể quan trọng và dính dáng tới bài thơ-đang-làm nhưng không có ý nghĩa thì không thể làm cho chúng dính líu tới độc giả.

Để cho thơ mình dễ nhớ, nó phải đẹp, cả trong âm thanh lẫn hình ảnh. Nếu chúng ta không làm thơ với một cái tai dành cho âm thanh ra sao khi đọc lớn, không phải là chúng ta làm thơ. Hơn nữa, nếu hòa âm, chữ đẹp đẽ của  mình không có ý nghĩa gì cả, chúng ta đang viết nhạc, không phải làm thơ. Thơ là sự sắp thành đường thẳng (syzygy: ngày mà mặt trời mặt trăng trái đất sắp gần như một đường thẳng tạo nên hiện tượng nhật thực hoặc nguyệt thực, gọi là ngày sóc vọng) của hình ảnh, âm thanh và thể thơ – cả ba phải cân bằng để có được một bài thơ. Chúng ta cũng phải phấn đấu để làm sao cho bài thơ vang trong tai độc giả của mình. Chúng ta nên tự hỏi mình và hỏi những độc giả đầu tiên “Câu nào trong bài thơ này dễ nhớ?” Rồi chúng nên làm việc với con chữ của mình cho đến khi những câu thơ dính chặt trong đầu độc giả như móc ngoặc trong một bài hát phổ thông.

Để bài thơ của mình vào ngôn ngữ bình thường, nó phải được viết theo cách chúng ta nói. Tại sao chúng ta lại tránh những tiêm nhiễm trong thơ? Tại sao chúng ta đi theo nghịch đảo cổ hủ hay ngôn ngữ văn chương trên giấy? Không có người nào nói như vậy cả – và vì thơ qua nhiều cách là một tuyệt mỹ của lời nói, chúng ta phải phản ánh và làm toàn mỹ mẫu mã ngôn từ. Thính giả nên nghe thơ của chúng ta và tự  nói “đây là cách tôi nói chuyện.”

Để thơ đem chúng ta lại gần với nhau, nó phải thăng hoa. Đây không phải nói rằng chúng ta không thể giải quyết được những chủ đề khó hay sâu sắc hay phiền muộn, hoàn toàn ngược lại. Điều mà thơ nên làm là trình bày những chủ đề khó khăn bằng cách nào đó mà hy vọng được đưa ra cho thế giới. Nên nhớ rằng “The Waste Land,” với tất cả những ảm đạm âm ỉ của nó, kết thúc bằng sự cầu  nguyện tất cả rồi sẽ tốt đẹp. Thơ không thể thăng hoa nếu nó chỉ biết tự ngắm nhìn cái rốn của mình (self-referential navel-gazing). Những bài thơ duy ngã, giả dối, và bí hiểm chỉ làm độc giả nhầm lẫn, lúng túng, và đẩy họ ra xa.

https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html
https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html

  1. Phân phối

In ấn không chết. Tuy nhiên, nó đã bị tẩy não. Năm ngoái có ít hơn ba triệu tập thơ đã bán được (blog  này được viết năm 2008 – chú thích của người dịch). Những nhà xuất bản dòng chính có lý khi bỏ qua nó. Hơn nữa, các nhà in nhỏ được trợ cấp hoàn toàn bởi các trường đại học, niên bổng chánh phủ, và/hoặc là các giải thi. Điều này có nghĩa, họ chịu ơn tổ chức và xuất bản những bài thơ huyền bí hàn lâm. Họ không để ý gì đến việc tiếp cận, công chúng, hay đề bạt những gì họ xuất bản vì sự sống còn của họ không tùy thuộc vào những điều này.

May mắn thay, chúng ta còn mạng toàn cầu, một phân đoạn độc hại của xuất bản đối với giới hàn lâm – nhưng chúng ta không cố gắng để được nhiệm kỳ (giáo sư đại học), chúng ta cố gẳng thay đổi thơ. Mạng toàn cầu mang lại cho chúng ta một cách phân phối thơ dễ hơn trong thể thức tự nhiên của nó – như phát thanh. Chúng ta có thể làm ra những video với bản viết kèm theo để đọc, kẹp bản mp3 đọc trong những trang mạng – gần như có nhiều cách vô tận trên mạng để mang thơ trở lại là thứ mà nó nên là – một thứ gì đó vừa nghe hay vừa có nghĩa hay.

Nếu bạn lo lắng rằng xuất bản trên mạng có nghĩa là chúng ta sẽ không được trả tiền cho thơ của mình hay có thể kiểm soát quyền sở hữu, thì bạn chỉ cần nhìn đến các trang homestarrunner.com, xkcd.com hay giantitp.com. Những nơi này hoàn toàn ủng hộ các nhà sáng tạo qua cách phân phối nội dung sáng tác. Người ta sẽ trả tiền cho nội dung hay. Giống như In Rainbows của Radiohead, phân phối nội dung không lấy tiền có nghĩa là càng có nhiều ngưởi biết đến tác phẩm của bạn. Nếu tác phẩm của bạn hay, họ sẽ tìm cách để thưởng công – mua áo t-shirts, bấm nút cho tiền biếu tặng qua Paypal, v.v… Bất cứ hình thức trả tiền không theo truyền thống nào cũng đều (nhiều) hơn tiền tác quyền trả bởi các nhà xuất bản thơ. Strong Verse có lẽ là một nhà xuất bản trên mạng duy nhất trả tác giả ($10 một bài) và tạp chí The New Yorker, nhà xuất bản thơ trả tác quyền thơ cao nhất, $150 cho mỗi bài thơ. Cho phép độc giả trả tiền trực tiếp tác phẩm của chúng ta sẽ, ngay cả khi ta chỉ có vài độc giả đếm được trên tay, dễ dàng vượt xa những món tiền trả trước. Nhưng đừng lo lắng về tiền bạc, hãy lo lắng về tác phẩm và độc giả của bạn.

Có năm chỗ phát hành lớn trên mạng cho thơ:

Emails – Điện thư
YouTube
Blogs – Tự Biên
Forums – Diễn Đàn
Websites – Trang mạng

Điện thư là cách giản dị và có hiệu năng để đem thơ của chúng ta đến với mọi người. Biết bao nhiêu chuyển đi-đến (forwards) ta nhận được trong một ngày? Mặc dù chúng ta không đọc hầu hết thư chuyển đến, điều gì xảy ra nếu một trong thư chuyển ấy là những câu mở đầu của bài “The Charge of the Light Brigade”? Chúng ta sẽ tiếp tục đọc? Chúng ta sẽ bỏ qua? Một bài thơ hay chắc chắn là hay hơn một chuyện về việc làm thế nào Barack Obama không nói lời tuyên thệ trung thành với tổ quốc (pledge) hay làm thế nào anh em họ của ai đó làm ra tiền bằng cách chuyển đi “cũng cái điện thư này!” Nếu chúng ta làm một bản liệt kê những người liên lạc với mình và gởi họ bài thơ, họ có thể giữ nó hay vất đi, nhưng mà chúng ta có thể làm vui bạn bè và thân quyến với những con chữ của mình. Chúng ta không nên ngăn chặn họ cái cơ hội yêu mến điều chúng ta nói ra.

YouTube rất quý giá cho thơ vì chúng ta có thể khai thác sức mạnh vô song của YouTube để phân phối thơ trong dạng thức nguyên thủy tinh hoa. Thị ảnh kèm theo có thể bất cứ gì – chúng ta đang đọc, một phông với chữ, một “video thơ” – không có vấn đề gì. Điều quan trọng là YouTube cho phép chúng ta mang những bài thơ lớn đến với tâm trí công chúng. Nếu người ta xem một người cha đang hát cho lũ trẻ theo nhịp điệu của “Canon in D” thì họ sẽ nghe một bài thơ viết hay, rung động – và chuyển đến bạn bè.

Chúng ta mỗi người nên có một blog-tự biên (tôi có hai). Chúng ta nên bình luận và để lên blogs của mình và chuyển đến người khác, đánh dấu trang mạng (digg – Social bookmarking websites) v.v… Chúng ta cũng nên tìm những blog thơ khác và bình luận, liên lạc với tác giả, và trình bày ý kiến của mình. Nếu chúng ta không liên lạc với thế giới những nhà thơ, chúng ta không thể  nào thay đổi được thơ – và nếu chúng ta không liên lạc với công chúng độc giả, chúng ta sẽ không bao giờ thuyết phục được họ rằng thơ đã đổi thay.

Chúng ta nên đề xướng thơ kể truyện gần gũi trên các diễn đàn thơ. Nhưng chúng ta phải cẩn thận trong một thế giới đầy chiến tranh khói lửa để không phải lâm trận hay tự vệ chống lại bọn thui chột ngu dốt. Chúng ta không thể để bị kẹt trong những bàn cãi vô ích – nếu rõ ràng rằng những người trong diễn đàn không để ý gì đến điều ta nói, đấy là lúc nên từ giã không buồn ngó lại.

“Trang mạng” bao hàm rất nhiều chỗ. Thể loại này có thể được chia ra thành những trang mạng liên kết (networking websites) – như myspace.com, meetup.org, và facebook.com; những trang mạng xuất bản (publishing websites) – bất cứ trang nào như strongverse.org cho đến nytimes.com; trang mạng chọn lọc (filterwebsites) như digg.com và reddit.com; và trang mạng cá nhân.

Với trang mạng liên kết như myspace.com, chúng ta có thể tìm được những tác giả hay, cùng ý tưởng với mình và cho họ thấy rằng thế giới không hoàn toàn chống lại họ. Chúng ta cũng có thể phân phối thơ của mình tới bạn bè, đặc biệt với sự khuyến khích, chuyển đến bạn bè của họ. Nếu chúng ta có thể làm cho thơ lý thú giống như một bản thống kê, chúng ta đào trúng vàng rồi đấy.

Trang mạng xuất bản là một thể loại, hay hơn hết, là chia ra trang mới và trang đã thiết lập từ lâu. Chúng ta nên tự làm ra trang mạng xuất bản của  mình để kiểm soát trực tiếp phần phân phối và đề xướng tác phẩm của mình. Những trang đã thiết lập từ lâu, như Strong Verse và Loch Haven Review có thể đáp ứng với tác phẩm và phê bình. Những trang truyền thông lớn như nytimes.com và National Review Online sẽ lưu ý đến bất cứ nội dung nào mang lại người sử dụng mới đến cho người đăng quảng cáo trên mạng của họ.

Digg.com, reddit.com, và del.icio.us là những trang mạng cho phép người sử dụng phổ biến nội dung bằng cách chia sẻ và bình chọn những trạm thú vị. Những trang mạng chọn lọc này là dụng cụ rất tốt trong việc quảng bá. Nếu bạn có một trang mạng cá nhân hay làm việc biên tập cho một trang mạng xuất bản, thêm vào nút nhấn trên trang mang cho digg và reddit sẽ giúp tăng phần hiển thị cho bạn. Một cố gắng tập trung bởi ngay cả vài chục độc giả cũng liên kết được thơ của chúng ta trên những trang này – và đôi khi có người nào đó kích vào đường nối và tìm thấy một bài thơ đẹp, rõ ràng, kể chuyện, chúng ta sẽ có thêm một độc giả.

Dĩ nhiên, những trang mạng cá nhân, trang của bạn với tên của bạn – gmpalmer.com (không hẳn là tôi đã làm gì với trang của mình…). Những trang này nên có tiểu sử với đường nối và những bài thơ mà chúng ta đã xuất bản (chúng ta nên phân phối nội dung mới theo những đường lối kể trên). Những trang này thích hợp nhất để truyền bá thông tin và triết lý – kiểm soát được những gì chúng ta nói và tin tưởng trước khi người khác làm (mà chúng ta không kiểm soát được).


https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html
https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html
  1. Nhìn nhận

Một khi tác phẩm của chúng ta đã bắt đầu có chỗ đứng trong thế giới độc giả và tác giả, chúng ta có thể bắt đầu đưa vào kinh điển, đấy là, chính thức nhìn nhận thơ kể truyện rõ ràng. Đây sẽ là một tiến trình khó khăn, như một phần rất lớn của đặc tính Hiện Đại là giảm giá nền thơ kể truyện dễ gần mọi người.

Kinh điển hóa đạt được bằng hai cách khác nhau. Đầu tiên là bằng bản văn – bài phê bình, bài viết hàn lâm, v.v… Thứ hai là bằng vị trí – đăng trên học phẩm, dẫn đầu thực tập, v.v…

Việc kinh điển hóa bắt đẩu với những khen ngợi giản dị về tác phẩm của chúng ta và phân phối nó đến số lượng người đọc càng rộng càng tốt. Sau những bắt đầu này, chúng ta có thể viết và gợi ra những phê bình về tác phẩm của mình. Phê bình nên được xem qua bằng hai cách. Thứ nhất, chúng ta nên cố gắng phê bình tác phẩm lẫn nhau trên mạng và trên tạp chí in. Đây là một chiến thuật cốt lõi của tất cả mọi phong trào văn chương. Chúng ta cũng nên tìm cách để tác phẩm được phê bình bởi những nhà phê bình có tiếng. Điều này sẽ gia tăng cả hai, tính chính thống và hiện diện của tác phẩm. Sau phê bình sẽ là văn bản hàn lâm. Những bản văn này đi từ tiểu luận đại học không chính thức cho đến luận án, nghị luận, và những sách của lý thuyết phê bình. Mặc dù chúng ta không có kiểm soát nào hết ở điểm chót nêu trên, chúng ta có thể ảnh hưởng được bạn bè đang còn học hướng về mình kiếm tài liệu nghiên cứu.

Song song với những hình thức bản viết để đưa vào kinh điển này là việc liên hệ bao gồm trong hội nghị và thực tập, những vị trí trong các khoa giảng dạy đại học và hội đồng chọn lựa sách giáo khoa, và liên hệ bao gồm trong sách giáo khoa và hội đồng hình thành hợp tuyển. Ở đây, chúng ta có thể trực tiếp ảnh hưởng đến cả hai, tác già và độc giả qua một cách trực tiếp hơn. Kinh điển hóa là một mục đích rất xa, hẳn nhiên, nhưng bất cứ bước nào ta có thể bước – từ viết phê bình cho đến dạy những người khác để bước vào những hội đồng sách giáo khoa sẽ là vô giá.

Tôi biết, tất cả điều này sẽ là rất nhiều việc. Nhưng nếu bạn không hài lòng với những bài thơ vô hồn được tán tụng là mới mẻ – nếu bạn muốn làm việc để thơ còn dính dáng với hai trăm triệu người Hoa Kỳ đang đọc, gởi điện thư cho tôi, và hãy bắt đầu bàn luận với nhau xem cách nào để làm cho được việc này.


Điểm Thọ dịch | Nguyên tác: A Declaration on the Revision of Poetry.

Ghi chú: Nhà thơ G. M. Palmer hiện sống với vợ và con gái tại North Florida, Hoa kỳ. Bạn đọc có thể đọc những tác phẩm của ông tại www.gmpalmer.com.

Tranh bài: Nathan WALSH   PAINTING  GROUND ZERO   BUREAU Guest Artist SPRING LITERARY

THƠ HỒ ĐĂNG THANH NGỌC 1

Ly cà phê đu dây (Bửu Chỉ)
Ly cà phê đu dây (Bửu Chỉ)

BÀI THƠ CỦA MỘT NHÀ THƠ


hôm qua nhà thơ làm bài thơ
trong lửa rồi đem chôn dưới vực
sâu/ bài thơ về màu của đóa
hoa làm trái tim nhà thơ rướm
máu/ bài thơ về những chiếc lông
ngỗng màu tối trong những ngày xa
nhau, những chiếc lông sáng màu trở
lại khi người đàn ông trở về,
song con ngỗng đã chết/ bài thơ
về sợi tóc của cây dương liễu
được bàn tay tình yêu ve vuốt/
bài thơ về một cặp tình nhân
ôm nhau trong lúc nhẩm tính về
hóa đơn bữa tối trên bàn ăn
nơi một quán vắng/ bài thơ về
người phụ nữ đội ô đi trong
nắng chiều của ngày tận thế/ bài
thơ về vẻ đẹp của trái đất
này sẽ là niềm cay đắng/ bài
thơ của những đớn đau về những
mất mát đất đai/ bài thơ về
những linh hồn không còn hát nữa
dù đêm trăng rất sáng … Những bài
thơ là sự bất lực của ngữ
pháp. Tuy nhiên những bài thơ ngày
một bị rẻ rúng, trong khi nụ
hôn chân thật ngày một hiếm hoi


BAY

bay vào tia sét để ý nghĩ ai
đó lóe lên/ bay vào cơn mưa để
ngôn từ ai đó ẩm ướt/ bay vào
nỗi đau để nước mắt trào dâng/ bay
vào biển cả để chết như bầy cá
phơi trắng bụng vì nhiễm độc Formosa/
bay theo viên đạn và thấy nhân loại
vẫn đang bắn nhau/ bay theo con kên
kên thấy có người đang chết đói/ bay
dọc biển miền Trung cá chết để thấy
mình đầy vô cảm/ … bay qua những trang
sách để thấy đang nghe diễn thuyết về
sự không hoài nghi sáo rỗng/ bay vào
những ảo tưởng tốt đẹp và thấy thân
mình đầy máu


BÊN SÔNG

Cây lau bên sông phất phơ chiếc quạt lông
trắng như phất phơ cái đuôi con vịt bầu
đang ngoe nguẩy giữa mùa hè/ con đường dưới
đáy sông gần như dừng lại bởi dòng nước
không chảy nữa trên con đường dưới đáy sông
từ xa xưa/ bởi trên đỉnh nguồn bức tường
thủy điện đã chặn lại thành một barie con
đường dưới đáy sông và rừng đại ngàn giờ
đã bị cạo trọc lóc như cái đầu của
cầu thủ Ronando/ những đàn cá biến mất sau
những cú dí điện hay ngộp thở chết hàng
loạt chúng chả thiết sinh sôi nữa dẫu bao
mùa lũ qua và những bến nước đã vắng
bóng người tắm giặt/ cụm từ “vẫy vùng trên
sông” đã không còn được lũ trẻ con nhắc
tới bởi chúng đâu còn tắm sông để vẫy
vùng trên sông/ trên con đường dưới đáy sông
gần như dừng lại bởi dòng nước không chảy
nữa tôi nhìn thấy ánh mắt em dừng lại
trên cụm hoa lau trắng/ đừng đưa ánh mắt
đi nơi khác em nhé bởi nếu thế thì
những bông hoa lau cũng sẽ biến mất/ ôi
làm sao để em có thể không đưa ánh
mắt đi nơi khác


BUỔI TỐI

Mặt trời đã rụng trên những chiếc
lá trong vườn những ngôi sao đã
mọc lên từ những chiếc lá hàng
triệu năm/ những chiếc lá đã hứng
mặt trời và đón những vì sao
và cũng hàng ngàn năm những chiếc
lá đón nhận những câu hỏi chúng
ta sinh ra trên trái đất này
từ đâu những bước chân muôn ngàn
kiếp trước đã đi qua những đâu
những bước chân từ vô lượng kiếp
đã về đến đâu/ chúng ta đã
nói gì trên những bước chân chúng
ta đã đi qua bao nhiêu cái
chết để rồi chúng ta bây giờ
đang trên đường đi đến cái chết/
thật sự chúng ta đang sống hay
đang thỏa hiệp sống hay chúng ta
vừa chết vừa thỏa hiệp trước một
cái chết đang đến từ từ hay
đang giả vờ quên đi đang giả
vờ không biết về một cái chết
đang đến/ Oh chúng ta đang diễn
trò trong khi mặt trời rụng và
những ngôi sao mọc lên từ những
chiếc lá không nghĩ rằng gương mặt
chúng ta đang già đi nhăn nheo
một cách thảm hại/ này phía trước
là cái chết đấy


CÓ NHỮNG NGÀY

Có những ngày những cái tai rớt
ra trên mặt bàn vì chứa quá
nhiều thông tin đến nỗi những thông
tin quá nặng và khiến những cái
tai bị xé tách khỏi cái đầu
và rớt xuống mặt bàn người đàn
ông lấy tờ báo lùa những cái
tai rớt ngổn ngang xuống đất có
những ngày những con mắt rớt ra
rơi xuống mặt bàn vì đã nhìn
quá no nê những cô gái khỏa
thân uốn éo trên màn hình computer
người đàn bà lấy cái chổi lông
gà suốt một cách không thương tiếc
những con mắt xuống đất vừa suốt
chổi lông gà vừa lầm bầm chửi
rủa đồ khốn đồ đĩ thõa đồ
mất nết có những ngày những quả
tim rớt ra khỏi lồng ngực lăn
lông lốc xuống vệ đường sau khi
đã quá no nê những bữa tiệc
vô cảm những quả tim chứa quá
nặng những đồng bạc đến nỗi lồng
ngực rách toang không chứa nổi quả
tim người tu hành vừa đi qua
đường vừa gõ mõ tụng niệm giữa
những đồng bạc loảng xoảng văng tung
tóe trên đường có những ngày những
ngón tay rụng xuống khắp mặt đất
vì đã cầm nắm quá nhiều chúng
nói chúng tôi cần nghỉ ngơi chúng
rụng xuống và mọc lên những tai
nấm chúng hy vọng những tai nấm
có thể nghe mưa một cách hồn
nhiên có những ngày như thế thật
đấy không tin à nhìn kỹ lại
đi


DA THỊT CỦA THỜI GIAN

Da thịt thời gian có màu gì? da
thịt của thời gian có mùi gì? da
thịt của thời gian có những vết sẹo
gì? tôi đang cắm mặt vào smarphone cắm
mặt vào television rồi nhìn chuồng bò để
hoang nhìn những bếp lửa đun củi để
hoang phải chăng chúng không gợi nhắc gì
về da thịt ươm màu khói cũ của
thời gian? tôi đi dọc thời gian ôm
ấp lấy da thịt nàng tôi đi dọc thời
gian và cười nhạo ánh sáng và bóng
tối tôi đi dọc thời gian và trò
chuyện với người xa lạ/ một ngày nào
đó hay đang là ngày đó tôi đi
dọc thời gian và sẽ bỏ quên dòng
máu của ánh ngày mang da thịt mùi
quê hương tôi đi dọc thời gian và
sẽ ngoại tình với dòng máu mang bóng
đêm/ làm sao có thể như thế khi
tôi sẽ chối bỏ thời gian và muốn
trở về với cái cái chết với mùi
da thịt ngây thơ?


ĐANG NHẢY NHỮNG NHỊP ĐIỆU

Những nhịp điệu của ánh sáng màu
của tiếng nhạc và trống những nhịp
điệu của bàn chân rách nát những
nhịp điệu của máu rơi thấm cát
những nhịp điệu của loài sên chậm
chạp và cả nhịp điệu của loài
rêu nhầy nhụa/ tôi đang nhảy những
nhịp điệu của tôi bằng đôi chân
khẳng khiu bằng đôi tay chàng hiu
bằng đôi tai con chim chíp mìu
bằng đôi mắt của loài ễnh ương/
những nhịp điệu tôi nhảy theo tiếng
trống những nhịp điệu lay lá cọ
múa bên suối những nhịp điệu lẫn
lộn vỗ bằng những ngón tóc tím
bầm trên những tấm da trâu già
nua nhẵn bóng đã tám mươi tuổi
căng trên tang trống/ tôi đang nhảy
những nhịp điệu gì giữa những đóa
hoa bị giẫm nát/ hình như tôi
đang nhảy nhịp điệu của con lợn
rừng sau khi bị găm viên đạn
của gã thợ săn máu đang nhảy
nhịp điệu rạn vỡ trong ánh sáng
vầng trăng đêm/ những điệu nhảy của
nước mắt


ĐỪNG ĐỂ MẤT PHÚT GIÂY NÀY

Nếu còn băn khoăn về cuộc đời bạn
đừng đánh mất phút giây này để mặc
những sai lầm diễn ra đừng cố trở
nên hoàn hảo bởi ngay cuộc sống ta
đang sống đây có hoàn hảo đâu đừng
đánh mất phút giây này hãy bơi trên
nhiều dòng sông khác nhau đến những nơi
ít người đến đi trên những con đường
ít dấu chân người/ đi lại với thật
ít đồ đạc/ đừng đánh mất phút giây
này hãy cứ đến một dòng sông nào
đó dẫu ở đó chỉ toàn là nỗi
đau đầy máu có vị chua như giấm/
đừng đánh mất phút giây này hãy đến
một cây cầu dẫu nó sắp gãy/ hãy
đi qua sa mạc dẫu biết mình có
thể sẽ chết khát/hãy cứ để mình
mắc kẹt trên một đỉnh núi đầy mưa
trong lúc mình không biết cách nào để
xuống núi/ đừng để mất phút giây này
nếu muốn hãy cứ buột miệng lời thô
thiển bởi chúng ta không có lá gan
của chủ nghĩa anh hùng được tô vẽ
bởi mưu toan của nhân gian/ đừng để
mất phút giây này hãy cứ trần trụi
là ta run rẩy sợ hãi/ hãy cứ là
con chim sẻ bị ướt đang run rẩy
trước hiên nhà người con gái/ đừng để
mất phút giây này chui đầu vào tổ
ong để nếm vị ngọt dẫu sẽ bị
ong đốt sưng vù và đắm mình trong
tai họa/ đừng để mất phút giây này
hãy biết sợ khi ai đó nói họ
tin và không hề hoài nghi/ đừng để
mất phút giây này cho đến khi biết
mình sắp chết.


LỜI MỘT CÔ GÁI

Anh nói anh yêu em nhưng
|sao em bảo buông tay em
ra anh đã buông lúc đó
anh viết tên em lên cát
để làm gì, vô ích/ anh
nói anh yêu em nhưng sao
khi đi qua em rất gần
anh đã không ôm em, anh
không phả vào môi em hơi
thở/ anh nói anh yêu em
nhưng sao khi đất đai em
cằn khô anh không cho em
cơn mưa, cho hạt em đâm
chồi xanh giữa đất trời/ anh
nói anh yêu em nhưng sao
lại nghĩ em là bong bóng
bay mà không thả em bay
lên trời, anh giữ em lại
trong tay làm chi/ anh nói
anh yêu em nhưng sao khi
em là bụi cây khô, anh
đã không châm lửa cho chúng
ta cháy bùng lên/ anh nói
anh yêu em nhưng sao khi
mặt trời đã tắt, anh không
ban cho nó nụ cười … anh
nói yêu em, nhưng sao lại
thuê con lạc đà chở trái
tim anh qua sa mạc đưa
tới hiên nhà em/ sao chính
anh không đến/ em không chỉ
cần trái tim, em còn cần
một vòng tay ôm/ một cái
ôm choàng nhanh hơn cả ánh
sáng/ anh nói anh yêu em
nhưng sao …


MỘT BỨC TRANH

Vầng trăng người đàn bà ngồi
đang bị mặt trời gậm nhấm/
vầng trăng hao khuyết trên đầu
gối nàng và ngày đang đi
qua lơ đễnh/ mái tóc của
người đàn bà bị vầng trăng
hao khuyết nuốt chửng/ mái tóc
chỉ còn đuôi tóc thò ra
dưới ngọn đèn đường sáng rỡ
dưới vầng trăng hao khuyết/ nước
mắt người đàn bà rớt trên
mặt đường dưới ánh trăng mờ
khuyết và trái tim nàng bốc
lửa dưới vầng trăng hao khuyết/
trong khi đôi chân nàng cố
nhảy ra khỏi đám cháy dữ
dội dưới ánh trăng mờ khuyết/
cứ nhảy ra vùng vẩy nhảy
ra/ đi đâu về đâu không
ai biết dưới vầng trăng hao

khuyết.
 

Tranh Bửu Chỉ

THƠ KHẾ IÊM

Trăng Thiên Cổ - Thái Tuấn

NGƯỜI BẠN

Tôi đi tìm câu chuyện
cho bài thơ sắp kể
một câu chuyện thật không
hư cấu không tưởng tượng
nhưng chỉ có tôi đứng
đây giữa ngã ba xe
cộ qua lại đám mây
xám trên bầu trời và
người đàn ông từ lề
bên này băng qua lề
đường bên kia vội vã
biến vào khu chung cư
im lìm không xảy ra
gì nữa và trong tôi
một người bạn vừa mất
hôm qua Vũ Huy Quang
anh đi đi thanh thản
con đường trước mặt thoáng
chốc vắng xe và tôi
nếu chỉ có tôi là
nhân vật và người kể
chuyện thì đúng rồi câu
chuyện chẳng có tình tiết
hay kết cấu gì đám
mây xám không nói gì
và tôi cũng mặc không
nói gì.

Chú thích: Bài thơ đơn giản chỉ là những hình ảnh: về một bóng ma (đám mây xám), về cái sống đi vào cái chết (người đàn ông), và về ký ức một người bạn (trong tôi).

VÔ ĐỀ

Tôi đứng ở góc phòng lờ
mờ giữa sự vật và hiện
thực trong phút chốc lắng nghe
và chừng như hoang phế lan
dần và cơn sốt lan dần
như hòn than nóng lên trong
tôi tôi đang mất tôi từ
từ từ từ bừng bừng tôi
là hòn than cơn sốt giải
phóng tôi khỏi tâm trí và
cảm xúc tù ngục của con
người từ trong ra ngoài toàn
thân tôi là chất đen giống
loài tôi là than ngôn ngữ
tôi là lửa linh hồn tôi
là tàn tro thế giới tôi
là đêm tối và lửa hồng
chào bạn người nhé tôi là
hòn than tôi là tôi dị
kỳ không sai.


BÀI THƠ XE ĐẠP

Người đàn ông dựa xe đạp
vào vách tường vừa kịp cơn
giông ập xuống mang theo mưa
và mưa và mưa xoá nhoà
biên cương giữa sáng tối và
sự vật và bụi mờ đẩy
người đàn ông dần dần lùi
lại khoảng cách giữa tiếng
rơi mái hiên và gió lạnh
và chiếc xe lấn tới lấn
tới cho đến khi những đường
cong vòng tròn những nan hoa
những góc cạnh khảm  sâu vào
bức tường đã ố màu thành
bức tranh hiện thực và người
đàn ông là chiếc bóng phai
mờ và cơn giông và mưa
và biên độ giữa hai chiều
thực tại còn đọng lại nhiều
năm sau đó trong ký ức
người đàn ông những phút giây
lạ lùng  tưởng chừng như câu
chuyện chỉ xảy ra trong tâm
trí.


HÉO TÀN

Hắn bước vào quá khứ
hắn là quá khứ nơi
căn gác dưới lớp tôn
mái tôn những trưa hè
nắng nóng hắn là nắng
nóng ngồi đó hẳn là
ngồi đó quay lại một
thời niên thiếu chậm trôi
bây giờ đã chìm trong
ký ức như chiếc bóng
đậm đặc quạnh hiu kéo
dài cho đến khi hắn
như hạt bụi bị cuốn
vào cơn bão thời đại
mịt mù sương khói bỏ
lại đằng sau những người
sống trong ngôi nhà nửa
xây tường nửa gác gỗ
bây giờ không còn ai
và ngôi nhà cũng không
còn họ đã đi xa xa
rồi mang theo thời niên
thiếu đơn độc lặng câm
của hắn hắn nhớ họ
nhiều họ và hắn như
giọt mưa tung tóe trên
hè phố và mỗi tia
nước là một ngả đường
đời trần trụi bây giờ
họ ở đâu những người
anh em của hắn hắn
khóc những giọt nước mắt
khô bên cạnh mối sầu
thương và quá khứ hắn
bước ra phút giây như
chiếc lá đã héo tàn.


KHUYA KHOẮT

Gửi HĐTN 

Tôi bước lên những bậc thang
ngoằn ngoèo ngoằn ngoèo trong khu
chung cư rồi bước xuống bước
xuống hai cánh tay thẳng đuột hai

bàn chân nhấc lên đặt xuống
không cân đối nhau như bước
chân không khớp với bậc thang
những bậc thang khập khễnh so

với con đường những bước chân
lên lên xuống xuống hàng giờ
hàng giờ những bậc thang bất
động bất động những bước chân

nhảy nhót lê lê lết lết những
bước chân tình nhân những mối
tình tỏ tình những đêm đêm
ngày ngày sáng sáng tối tối
đợi chờ những bước chân vang
tôi ngồi xuống ngồi xuống hai bàn
chân tách lìa ống chân không
động đậy động đậy những bậc

thang ngoằn ngoèo từng bậc từng
bậc và những bước chân vờ
như không thấy nhau tôi vờ
như không thấy tôi lỏng lẻo

giữa nửa khuya khoắt.


HỎI CÂY

Tôi hỏi cây cây nghĩ
gì khi người ta chặt
khúc những bạn cây bỏ
lăn lóc trên lề đường
cây bảo cây đang hỏi
mây trắng nhưng mây trắng
bận bay nên chưa thể
trả lời tôi hỏi nếu
người ta chặt khúc cây
thì cây sẽ làm gì
cây bảo cây đang hỏi
bóng mát nhưng bóng mát
bận che khuất mặt trời
nên cũng chưa thể trả
lời tôi nói vậy cây
hãy chạy đi chạy nhanh
đi tới một nơi nào
không có bọn chặt cây
cây bảo cây đang hỏi
rễ nhưng rễ bận cắm
dưới lòng đất sâu chưa
lên được tôi tức quá
hét lên vậy cây hãy
đợi đó để chết đi
chết theo các bạn cây
của cây đi cây bảo
cây đang bận tiếp gió
gió đã tới rồi có
câu hỏi gì thêm cứ
dán dưới gốc cây sẽ
trả lời sớm khi nào
xong việc.


NẮNG VÀNG

Tôi đứng ở bãi đậu xe nhìn
bâng khuâng một vùng nắng vàng
(và trong lúc này) tôi không biết

tôi là nắng hay nắng là tôi
con đường phía trước một hướng
ra biển còn hướng kia lên đồi
cả hai nơi đều có những ngôi
nhà đắt tiền nhưng những ngôi
nhà đắt tiền thì có liên hệ
gì tới tôi có lẽ là do
sự liên tưởng từ con đường con
đường dẫn tới những ngôi nhà đắt
tiền bây giờ nắng đã xóa đi
ký ức và cái nghĩ của tôi
cũng đã rời xa tôi lờ mờ
tôi không còn biết tôi đang
ở đâu và đi đâu bởi tôi
là nắng chỉ khi nào nắng rời
xa tôi lúc đó ký ức và
cái nghĩ trở lại thì may ra
tôi mới trở lại tôi nhận ra
nơi tôi đến và đi (chẳng mấy
chốc) bóng tối tiễn đưa ánh sáng
và bãi đậu xe sẽ lấp lánh
lấp lánh đủ sắc màu nên tôi
không muốn lãng phí giây phút nào
ở với nắng lúc này tôi không
làm gì ngoài ngó quanh lác đác
bóng người len lỏi qua những
hàng xe.


HỎI NẮNG

Nơi góc đường một đám
đông rất nhiều người nhiều
người và cờ dọc theo
lề rải rác những bóng
người di chuyển về phía
đám đông làm cho đám
đông thêm đông nơi một
góc đường khác người đàn
ông đi ngược lại phía
đám đông trên con đường
ngoài hai luồng xe nghịch
chiều càng lúc càng vắng
xuyên suốt chỉ tòan là
nắng và nắng cho đến
lúc hoa mắt tấp vào
một tàn cây hỏi nắng
về đám đông rất nhiều
người nhiều người và cờ
kia có còn hay đã
biến thành nắng và nắng
này người đàn ông đang
nấp dưới tàn cây thì
đến bao giờ cũng sẽ
biến thành nắng?


TẾT Ở NEW YORK

Năm cũ không bước qua
năm mới vì năm mới
vốn thông thương với năm
cũ trong lúc lũ tết
và lũ tuyết ập xuống
mái nhà ôm lấy nhau
không chịu tan ra chẳng
khác nào năm cũ nằm
ôm lấy năm mới nhì
nhằng không thể bước qua
nhau mãi cho đến lúc
giật mình thức giấc bởi
tiếng động của cái lạnh
làm se da thay cho
tiếng pháo nhắc tới tết.

20/2/2015

KẺ VIẾT

Những kẻ viết – như tôi – sống
với những nhân vật của họ
mà nhân vật của họ thì
vốn dĩ là những mẫu người

thật đủ mọi dạng hình được
bỏ vào những tình huống do
họ tạo ra theo kiểu cách
của họ những nhân vật của

họ trở thành những con rối
dần dần những con rối lại
biến chính kẻ viết thành những
con rối con rối trong những

con rối ô hay thế giới
của những con rối cứ  thế
và cứ thế phiêu bạt phiêu
bạt những con rối chữ nghĩa

lộn xộn với những con rối
cuộc đời và trong cái mớ
bong bong của hoài nghi kẻ
viết đi đâu về đâu cuối

cùng rồi cũng chỉ là kẻ
viết có khác gì những con
người khác luẩn quẩn trong những
thế giới khác nhiễu nhương và

nhiễu nhương nhưng nhiễu nhương thì
nhiễu nhương những kẻ viết – như
tôi – làm sao có thể thóat
ra khỏi cái viết và chỉ

có thể mãi mãi là kẻ
viết vất vưởng trong cái viết.


LẠI NỖI BUỒN

Nỗi buồn lan man gối
đầu trên con sóng xanh
lao xao lao xao theo
gió nơi bãi sông và
nỗi buồn không còn như
thời quá khứ đứng bên
đường vẫy tay chào ai
đó mà đang pha vào
màu phai nắng làm thành
buổi chiều trên đôi mắt
của cô gái và cô
gái thì đang bâng khuâng
về mối tình đã chớp
mắt xa xa đã xa
nỗi buồn như mây bay
bay và cô gái dĩ
nhiên cũng bay bay theo
nỗi buồn vì nỗi buồn
chẳng phải là mối tình
khác mang tên nỗi buồn
sao và hỡi những cặp
tình nhân yêu nhau hạnh
phúc hay tơ sầu chỉ
là những dấu sương đời
mang tên khác nhau đó
thôi và cô gái và
nỗi buồn và những cặp
tình nhân yêu nhau ơi!


NHỮNG CÁI TÔI BUỒN

Nếu sự thực chỉ là ảo tưởng
và thực tại trùng trùng lớp sóng
phế hưng trong tình huống như vậy
tôi bị đẩy ra ngoài lề tôi
là con chữ những bản văn không
thể khác và không thể khác và
thế là tôi có thể cắt dán
tôi tải lên lấy xuống nén lại
gửi đi tách lìa giữa tôi và
tôi những cái tôi được tạo ra
từ tâm trí tôi những cái tôi
ký hiệu những cái tôi viết lời
tuyên ngôn những cái tôi viết lời
cổ động những cổ động rỗng không
những cái tôi dị dạng méo mó
những cái tôi nổi trôi trên mạng
lưới trời những cái tôi phẳng những
cái tôi bị tâm trí dày xéo
những cái tôi bị tâm trí xâm
lăng dựng thành kịch bản kịch bản
ở ngoài mọi kịch bản tôi là
tù nhân của tâm trí tôi và
những người khác là tù nhân của
tâm trí khác y như tôi vậy
đẩy con người tới bờ vực lãng
quên và bây giờ tôi đang ngồi
bên song cửa ngó ra ngoài thấy
le lói ánh trăng soi và ngẫm
lại nếu con người chỉ là hư
cấu những bản văn thì tôi cũng
chỉ là bản sao của vô số
những bản sao tôi những chiếc bóng
nói nói và nói chi nhiều (vì
sự thật chẳng bao nhiêu.)


MÂY VIẾT

mây vẫn cứ bay và
mây không nói và người
ta bảo rằng mây chỉ
nói khi sấm gặp chớp
và cũng không chắc gì
đó đúng là tiếng nói
của mây mây vẫn im
lìm và mây cứ bay
nhưng cũng có tin đồn
mây đang bay có nghĩa
là mây đang viết và
tất cả các thứ sách
báo chúng ta đọc đều
là do mây viết bởi
vì chỉ có mây viết
ngày đêm mới nhiều như
thế nhiều đến độ ô
nhiễm môi trường và chọc
thủng cả mây nhưng nói
gì thì nói đâu là
bằng chứng của mây viết
ôi chẳng phải là bấy
lâu nay người ta vẫn
lưu truyền rằng tác giả
đã chết rồi sao tác
giả đã chết chúa đã
chết thực tại đã chết
vậy thì còn ai sống
để viết và viết về
cái gì đây nếu chưa
tin thì hãy đọc bất
cứ loại sách báo nào
cũng thấy chẳng có điều
gì liên quan đến con
người đến chúng ta mà
toàn là những lời trên
mây lời trên mây thì
mây viết chứ còn ai
ở đây nữa phải không
đúng đấy mây đang bay
là mây đang viết nếu
chưa tin nữa thì đi
hỏi mây xem và nếu
mây không nói thì đúng
là mây đang viết đó.


KHÓC VANG

tôi nhìn ra ngoài thấy
nắng đi loanh quanh dưới
hàng cây tôi nhìn nắng
nắng nhìn tôi nói nắng
nán lại đây giây lâu
sắp đi đi đâu đi
tới nơi mưa sắp đi
nói rồi nắng khóc vang
tôi không biết gì cũng
khóc vang đồng thời lũ
cây khóc vang a bây
giờ tôi mới hiểu khóc
vang là lời chào từ
biệt của bọn nắng và
thế là từ đó mỗi
khi tôi gặp nắng hay
nắng gặp tôi đều có
tiếng khóc vang khóc vang
lây lan đến cả gió
khi gặp mưa cũng khóc
vang khóc vang còn có
nghĩa là cười vang nghe
lũ cây giải thích vậy
tôi biết vậy thì ra
đó là ngôn ngữ của
đám mây.


NÀNG

mỗi buổi tối giấc mơ
tuôn vào nàng và rạng
sáng ngật ngưỡng bước ra
làm nàng mệt nhoài mệt
nhoài đến độ nàng không
còn thiết tha gì ngay
cả đến chính nàng và
nàng nghĩ cách phải làm
sao giữ lại hay thoát
ra khỏi giấc mơ nhưng
trong lúc nàng nghĩ cách
nghĩ cách thì giấc mơ
vẫn tuôn vào mỗi tối
và bước ra lúc rạng
sáng không biết bao lần
và không biết bao lâu
cho tới khi nàng biến
mất và nàng biến mất
như thế nào và tại
sao là điều không ai
có thể đoán biết ngoài
giấc mơ còn bây giờ
thì giấc mơ đang dáo
dác tìm nàng nàng ở
đâu ở đâu và nàng
là ai là ai hay
nàng … cũng chỉ là một
giấc mơ viễn vông.

Tranh Thái Tuấn

PHỎNG VẤN TIMOTHY STEELE

Painting Energy: The Alex Katz Foundation Collection at the Portland Museum of Art
Painting Energy: The Alex Katz Foundation Collection at the Portland Museum of Art
Kevin Walzer

Timothy Steele là tác giả của ba tập thơ: Uncertainties and Rest (LSU, 1979); Sapphics Against Anger and Other Poems (Random House, 1986); và The Color Wheel (Johns Hopkins, 1994). Hai tập thơ đầu vừa được in lại gồm chung trong một ấn bản, Sapphics and Uncertainties: Poems 1970-1986 (Arkansas, 1995). Steele còn là tác giả của một nghiên cứu phê bình có nhiều ản hưởng, Missing Measures: Modern Poetry and the Revolt Against Meter (Arkansas, 1990). Ông hiện là giáo sư Văn chương tại California State University, Los Angeles.

Thơ của Steele nổi tiếng bởi cách dùng cẩn thận và trôi chảy hình thức truyền thống, và ông đã xuất hiện như một trong những thành viên chủ chốt của hội Expansive Poets, tận tâm với việc hồi sinh hình thức truyền thống và ký thuật trong thơ đương thời. Missing Measures là một nghiên cứu quanh những giả định về thơ thể luật đã kích thích cuộc cách mạng thể thơ tự do hiện đại, và những hậu quả vô tiền định của chúng.

Cuộc nói chuyện này xảy ra ngày 2 tháng 6, 1995 tại một buổi họp về thơ hình thức ở Đại Học West Chester, Pennsylvania.

KW: Tôi xin được bắt đầu với câu hỏi về những kinh nghiệm thưở đầu làm thơ của ông. Những ai đã ảnh hưởng đến ông, và tại sao ông quyết định nghiêng về bút pháp thể luật – nhất là vào thập niên 1970, khi mà nó đã không còn hợp thời nữa?

TS: Tôi có dăm câu trả lời cho câu hỏi đó. Trước hết, tôi sanh ra và lớn ở Burlington, Vermont. Ở tuổi lớn, tôi đọc thơ của Robert Frost, người được xem như nhà thơ địa phương của chúng tôi, cho dù đúng là vậy, dĩ nhiên, ông còn hơn thế nữa. Lúc đó, ông vẫn còn sống một khoảng thời gian mỗi năm tại Ripton, và năm tôi lớp bảy hay tám gì đó, ông được bổ nhiệm chức vụ nhà thơ danh dự của tiểu bang. Frost viết một cách say đắm về Vermont, phong cảnh, mùa, và con người. Khi tôi bắt đầu làm thơ, kiểu của ông rất quan trọng. Chính ông là người đã sánh thể thơ tự do như đánh tennis không lưới. Nếu không có lý do nào khác hơn mẫu thí dụ đến từ Frost, có thể tôi đã ngần ngừ khi làm thơ mà đã không học về các điều luật của nó trước.

Điều thứ hai là tôi luôn yêu mến phần nhạc tính của thơ. Những bài thơ đầu tiên tôi nghe mẹ đọc là “The Owl and the Pussy-Cat” của Lear, Mother Goose, vài bài thơ trong Child’s Garden of Verses của Stevenson, và “Locksley Hall” của Tennyson. Tôi chóang váng bởi những âm thanh của chữ, sự lặp đi lặp lại và vần điệu. Về sau tôi đọc hoặc nghe những bài thơ như Hamlet hoặc lời nhạc của Dickinson hay Wilbur và có cùng một cảm giác vui sướng. Một nhà thần kinh học hay ngữ học có thể nói rằng thơ đã giúp tôi kinh qua ngôn ngữ không phải chỉ với hoạt động của bên trái não dính liếu với sự hợp tán nội dung, mà còn là một đáp ứng của bên phải não với sắc điệu âm thanh và khuôn mẫu vần điệu. Dầu vậy, khi tôi bắt đầu làm thơ, phần nào cũng nằm trong hy vọng rồi tôi sẽ tạo được thứ ma thuật mà những bài thơ tôi đã đọc và rất yêu mến đã tạo nên. Nỗi hy vọng này buộc tôi phải thám hiểm và làm việc với những dụng cụ đã giúp việc tạo ra ma thuật ấy.

KW: Ông có gặp bất cứ khó khăn hay chống đối nào để được mọi người đọc tác phẩm mình khi ông mới khởi sự làm thơ vì thể cách của văn thể dòng chính vào thập niên 1970, hay ông thản nhiên làm việc của mình và không gặp mấy khó khăn?

TS: Tôi cứ làm việc của mình và phấn khởi khi các bài thơ xuất hiện đâu đó trên tạp chí. Có lúc, khi tôi nộp bài, chủ bút đặt câu hỏi về mối quan tâm của tôi về kỹ thuật. Và có một lần một người quen có lòng tốt đã khuyên tôi rằng vế và vần đã qua, và mặc dầu hình như tôi cũng có chút tài, tôi sẽ không đi đến đâu cả nếu tôi cứ làm thơ theo thể luật. Tuy nhiên, lúc đó tôi đang làm nhiều việc khác – dạy học và viết nghị luận về truyện trinh thám. Và tôi cũng hiểu rằng nhà thơ thường gặp khó khăn trong việc được độc giả biết đến tác phẩm của mình, và thành công hay thất bại trong những vấn đề thường có ít liên hệ với có hay thiếu phẩm chất của tác phẩm. Thành thử cái trường hợp lúc đó cũng không đến nỗi rụng rời cho lắm.

Cũng nên thêm rằng, vài chủ bút đã đi ngược triều nước và đón nhận những thi phẩm có thi vế. Don Standford của tạp chí The Southern Review là một. Tom Kirby-Smith của Greensboro Review là hai. Và tạp chí Counter/Measures của X.J. Kennedy, mặc dù không thơ mấy, cũng đã đem lại một diễn đàn sống động mà trong đó các nhà thơ theo thi luật và có vần chia sẻ tác phẩm và ý tưởng với nhau, giống như bản in của Robert L. Barth và loạt bài về metrical chapbooks.

KW: Ông có nhận ra ở một thời điểm riêng biệt nào đó, hoặc trước hoặc sau ấn bản của tập thơ Uncertainties and Rest, rằng ông không phải là người duy nhất đang phát triển một loại thơ qua hình thức truyền thống hay không? Chủ nghĩa tân hình thức bắt đầu ló dạng như một hiện tượng khoảng 1980; mọi người bắt đầu tụ họp và phát triển ý thức về một táo bạo tập thể. Ở thời điểm nào, ông biến thành một phần tử trong đó?

TS: Thoạt đầu, tôi có cảm tưởng mình là Nhà Thơ đến từ Hành tinh khác, ít ra là so với các nhà thơ đương thời với tôi. Nhưng các nhà thơ xuất sắc của thế hệ trước chúng ta vẫn tiếp tục làm thơ theo thể luật. Và ngay cả khi họ không được vòng hoa nguyệt quế trước công chúng và sự chú ý đáng được hưởng, tác phẩm của họ vẫn còn nhiều kích thích và bổ dưỡng cho một độc giả và nhà thơ trẻ giống như tôi. Và vào khoảng thời điểm của tập Uncertainties and Rest, đã bắt đầu xuất hiện những tập thơ của các nhà thơ trẻ quan tâm đến thể luật. Tuy nhiên, lúc ấy, tôi chưa ý thức mấy về bất cứ phong trào nào sốt sắng với thơ thể luật. Nếu có một thay đổi nào đó phảng phất, thay vì là thế, nó lại dính dáng với một tình cảm đang nở rộng, thứ tình cảm mà ngay cả vers-libristes hình như cũng chia sẻ, rằng những mạch riêng biệt nào đó của thể thơ tự do – nhất là mạch tín điều – đã được khai thác đến cạn.

Về danh từ “Neo-formalism” hay “Chủ nghĩa Tân Hình Thức,” tôi đã không nghe đến cho mãi đến khoảng 1986 hay 1987. Tôi cũng tin rằng từ “neo-formalism” được đặt ra bởi một người nào đó muốn báo động khi thấy các nhà thơ trẻ càng lúc càng tò mò hơn về thể luật. Chủ nghĩa Tân Hình Thức chưa bao giờ được tổ chức và thông tri, thí dụ như, cách F.S. Flint và Ezra Pound tổ chức và thông tri về chủ nghĩa Ảnh tượng (Imagism). Sự phân biệt này đáng được nói đến vì hiện nay, rất dễ hiểu, là có nhiều người nghi ngờ cách hoạt mãi-phong trào và đã buộc tội các nhà thơ hình thức đã tán tụng quá đáng. Nhưng nguyên cả việc này lại ép lên nhà thơ từ ở bên ngoài. Và hầu hết những người có dính dáng với chủ nghĩa Tân Hình Thức đều cảm thấy khó chịu với nhãn hiệu đó. Riêng chính “Chủ nghĩa Hình Thức” đã gợi ý là thường thì nó ít chú ý đến nội dung, và điều này không đúng với các nhà thơ được gọi là nhà thơ Tân Hình Thức. Nếu có một ý thức về một táo bạo tập thể, như ông đã nói, thì rõ là nó phát triển quá chậm và thả lỏng. Và nó thường gồm những người có nhiều quan tâm khác nhau và họ có lẽ chỉ có một điểm giống nhau là nỗi ao ước viết hay và tách rời khỏi những phương thức có lẽ đã khô cằn.

KW: Ông có nhìn thấy chủ nghĩa Tân Hình Thức, như một phong trào, có bất cứ một ý nghĩa hay ảnh hưởng lâu dài nào trên thi ca Hoa kỳ hay không, hay là quá sớm để nói thế?

TS: Quá sớm để nói như vậy. Và dầu vậy vẫn có thể sai khi coi thời điểm hiện đại như một hiện tượng nghệ thuật khảo cứu mà ý nghĩa của nó chúng ta có thể định nghĩa được. Định giá những vấn đề này phải đợi cả trăm năm sau. Tôi nghĩ rằng làm mới nỗi quan tâm đến những dụng cụ hình thức truyền thống của thi luật có ích – có ích trong việc nới rộng những văn thể và ngữ căn khả thi của thơ. Hiện nay có nhiều loại thơ được viết và xuất bản hơn là 25 năm về trước. Nhưng, quá tầm điều nói trên thì tôi không biết.

KW: Một điều mà người ta hay phê bình kể từ khi có trường phái Mở rộng (Expansive poetry school), lại có nhiều phái nhà thơ khác nhau trong đó. Có nhà thơ chủ yếu chỉ quan tâm về kỹ thuật, có nhà thơ chủ yếu dời qua đổi lại giữa vế luật, vần và thể thơ tự do, và có nhà thơ có quan điểm nghiêm khắc về hình thức truyền thống và vế câu. Họ không viết gì nhiều theo thể tự do, và phần lớn thơ của họ có vế câu đều đặn. Họ theo sát vế câu đều và không phóng khoáng với vần xiên, hay với một số thay thế thi vế. Vài nhà phê bình đã nhận xét rằng thơ của ông thuộc về loại sau. Đối với ông, sự miêu tả này có vẻ chính xác lắm không về tác phẩm của mình?

TS: Tôi giả chừng là thế, mặc dù tôi không có vấn đề gì hết với nhịp xiên, và bất kể những gì thỉnh thoảng vẫn nói về Missing Measures, tôi không dựa vào vị trí nào để nói, hoặc để tin, rằng thể tự do không là, hay không thể là, thơ.

Về cách thực hành của riêng tôi, tôi thường bối rối khi người ta nói đến cách dùng “vế đều”. Vế câu, theo định nghĩa, là đều. Thể thơ iambic của chúng ta có nhiều thỏa hiệp biến hóa, thí dụ như, đảo ngược vận cước đầu và kết cuộc nữ? (feminine ending). Nhưng ngay cả thứ Frost gọi là “thể thơ iambic thả lỏng” rõ ràng là nó vẫn có nhịp đếm. Đó chỉ là thể iambic với những thay thế ba chữ – câu thơ tứ bộ, như, “The Need of Being Versed in Country Things” đối lập với những câu trong bài “Stopping by Woods.” Ta có thể phân biệt được giữa một cách dùng vế cứng ngắc, của George Gascoigne hay Sam Johnson, với cách dùng sống động và trôi chảy hơn của những người như Philip Sidney hay John Keats. Nhưng đây không phải là câu hỏi về làm thơ với vế không đều hay đều. Người viết theo vế, hoặc không viết theo vế.

KW: Vài nhà phê bình đã nhận thấy trong tác phẩm của ông không phải chỉ có thi pháp tương tự với các nhà thơ trước đó của thế kỷ, mà cũng có những quan tâm ngữ căn. Tôi nghĩ đến J.V. Cunningham, và trước ông ấy, Yvor Winters. Thơ của họ đồng nhất có vế luật, viết bằng một văn cách thẳng và đơn giản của thơ Anh, và họ cũng rất quan tâm với việc nhấn mạnh giá trị của vế luật trong thơ, như là một chủ thể cho thơ. Bài thơ của ông, “Sapphics Against Anger” đã được đọc như một chủ thích ám dụ không phải chỉ riêng về phẫn nộ và kềm chế xúc cảm, mà còn là kềm chế ý tưởng trong nghệ thuật, chính cũng là điều lo lắng của Winters. Ông có nghĩ rằng, có quan hệ gia tộc nào đó giữa tác phẩm của ông, của Cunningham và Winters, hay ông không đồng ý với việc chân tướng hóa này?

TS: Trả lời cho lối đọc diễn dịch bài thơ “Sapphics Against Anger” đó, là tôi đã không viết bài thơ đó với bất cứ chương trình thẩm mỹ nào trong đầu. Tôi quan tâm về việc cần đến sự kềm chế trong quan hệ con người. Tôi không bao giờ nghĩ đến việc một bài thơ có thể được đọc như một tuyên ngôn. Tôi không có ý chỉ trích các nhà phê bình, nhưng điều đó hoàn toàn không phải là điều tôi nghĩ đến.

Tôi cũng nghi ngờ về việc tương quan âm cách với tính đạo đức của nhà thơ. Có người tốt làm thơ theo vế luật và khéo léo, có người tốt làm thơ theo thể tự do. Vả lại, cũng có người làm cả hai thứ và mang lại cho bạn sự sợ sệt. Và rất khó để tưởng tượng được rằng viết theo thể thức hay không viết theo thể thức sẽ cứu được một người khỏi qua đường bậy chỗ hay khỏi nói phỉnh. Tôi học với Cunningham, và ông không bao giờ đặt ra những thứ tương quan như thế. Và tôi cũng không tin Winters đặt ra chúng. Theo như tôi hiểu về Winters, ông thích âm cách căn bản vì ông tin rằng đấy là phương thức có nhiều cách nhất và nhậy cảm để ghi lại cam giác và nhận thức.

Về chuyện âm cách như một chủ từ của thơ, điều đó chưa bao giờ được tôi nghĩ đến. Là một nhà thơ, bạn tất phải có một quang cảnh đời sống dị thường trước mặt mình. Hình như không bình thường mấy khi một nhà thơ viết về âm cách như một họa sĩ sắp đặt giá vẽ trước một phong cảnh tuyệt đẹp rồi vẽ một trong những cây cọ của hắn. Cái lý do để một nhà thơ viết theo âm cách không phải để chống đỡ cho nó hay để giải nghĩa nó, mà là làm những gì nhà thơ đó nói ra vừa được nhớ đến và được chú trọng, hết mực hắn có thể làm được. Nhà thơ không dùng âm cách vì nó, mà vì thơ và vấn đề chủ thể.

KW: Điều này đưa đến điểm chính của Missing Measures. Tôi đồng ý rằng đấy không phải là một tranh luận với thể thơ tự do; tôi nhìn nó như một cuộc điều tra trí thức có suy nghĩ và đầy đủ về các giả định về thể thơ tự do và các hậu quả vô tiền định của nó. Ở điểm nào ông trở nên quan tâm với những câu hỏi đã được ra trong sách?

TS: Tôi bắt đầu nghĩ về chúng một cách nghiêm túc hơn vào khoảng cuối thập niên 1970. Trước đó, tôi có phần nào tránh né vì chúng đụng chạm quá gần với cách làm thơ. Tuy nhiên, rốt cuộc rồi tôi nghĩ mình phải gắng tìm hiểu tại sao thơ lại rơi vào trạng thái này – và nhất là tại sao vế, là tâm điểm nghệ thuật cả thiên niên kỷ, lại lâm vào tình trạng mất danh giá như thế này. Thoạt đầu, tôi không nghĩ đến việc viết một cuốn sách. Chương đầu tiên được tôi viết ra là chương thứ năm mà tôi đã viết như một tiểu luận hè 1980. Rồi tôi thảo thêm một tiểu luận nữa, thành chương hai. Mãi đến cuối thu 1984 tôi mới viết chương một – nguyên thủy nó cũng là tiểu luận, viết cho Willard Spiegelman của The SouthWest Review – lúc đó tôi mới nghĩ là mình có thể có một tập sách.

KW: Ông nghĩ sao về các phản ứng đối với cuốn đó? Nó đã bị phỉ báng một cách không công bằng hay nó có đủ mọi phản ứng khác nhau?

TS: Đủ mọi phản ứng khác nhau. Có nhiều bài điểm sách khen và chê. Nhưng tôi lại rất hài lòng khi nhận ra ngay cả những nhà phê bình không thích nó cho lắm cũng công nhận phần phân tích lịch sử căn bản của sách. Đúng ra là, có khi họ tóm tắt phần phân tích ấy như thể họ đã viết ra hoặc đã từng biết đến những sự kiện mà đây là cuốn đầu tiên, theo như tôi biết, đã trưng bày ra. Phần lớn những nhận xét phủ nhận đều nhắm vào phần kết luận trong sách. Họ nói rằng tôi đã sai khi kết luận rằng ngay cả thể thơ tự do rồi cũng biến thành vô nghĩa nếu chúng ta không còn có thể nghe được và làm thơ theo vế – nếu chúng ta không còn ưa thích những vần nhịp mà từ đó thể thơ tự do đã từ giã hoặc biến đổi. Đúng ra là, những nhà phê bình cuốn này hẳn hòi nghĩ rằng thể thơ tự do đã biến thành một môi giới toàn vẹn, và mọi thực thi thơ đều có thể tồn tại được chỉ nhờ vào nó. Chỗ đứng này, theo tôi, rất lầm lẫn. Tôi tin rằng thơ không đủ sức chịu đựng thêm một thế kỷ nữa việc vế câu bị hiểu lầm và lạm dụng như ở thế kỷ này. Nhưng có nhiều người nghĩ khác, và tôi không muốn tha thứ cho những quan điểm ấy của họ.

KW: Một lời phê bình mà tôi nghĩ rằng ông có thể trả lời được, của Vernon Shetley trong After the Death of Poetry. Ông ấy nói rằng Missing Measures có một cái nhìn lịch sử về vế câu, qua đó, ông đã đem toàn thể lịch sử thi luật ra sánh với 70 năm của thể thơ tự do. Theo Shetley, ông không cân nhắc đến sự việc vế câu có thể thay đổi theo thổ ngữ qua thời gian: “Như thế, quan điểm của Steele là một cái nhìn lịch sử về âm cách, trong đó một câu ngũ ngôn cũng hay như (và giống như) bất cứ câu ngũ ngôn nào khác. Tuy nhiên, rất rõ ràng, tại sao đấy chính là trường hợp đang được nói đến; để Steele có thể thú nhận rằng âm luật học tiến hóa sẽ phục hồi thơ trong lịch sử phát triển nói chung của vận luật tiếng Anh, trong đó ta có thể thấy được những tự do thân mật đã được dùng bởi Browning, cách hủy bỏ âm tiết trong thơ Tennyson, và chuyển động của Hardy hướng về thứ ngay cả Steele cũng nhắc đến như là ‘thơ nhấn giọng hợp vần’, như là những giai đoạn hướng về những thứ thi học “tự do” cấp tiến hơn.” Ông trả lời ra sao cho điều vừa nói trên?

TS: Tôi nhận ra là có nhiều biến đổi qua thời gian trong cách làm thơ theo vế. Đó cũng là trường hợp xảy ra khi ngôn ngữ biến dạng, hệ âm cách dựa trên nó cũng thay đổi theo. Thí du như, những người nói tiếng Hy lạp và La Tinh đã mất đi ý thức về lượng âm tiết hay thời hạn, thi học cổ điển đổi từ nhịp ra nhấn giọng. Khi hệ biến hóa ngữ vĩ của tiếng Anh cổ suy đồi – và khi bọn Normans mang lại những ảnh hưởng ngôn ngữ thi vị của ngôn ngữ La mã vào tiếng Anh – thi học của chúng ta đổi từ giọng-điệu-vần, thường là với nhịp giáng, ra một phối hợp đếm chữ với nhịp thăng. Tuy nhiên, khái niệm về âm cách, về vận luật, vẫn giữ nguyên. Ngay cả vận luật thả lỏng nhất của thơ La tinh truyền thống, cũng vẫn có sắp xếp hơn so với những thứ mà ông đã thấy ở thế kỷ 20 này. Hơn nữa, dường như những phê bình mà ông nói đến, đều lầm lẫn âm cách với vần nhịp. Trên cơ cấu thì một câu ngũ ngôn y hệt như bất cứ một câu ngũ ngôn nào – mặc dù có thể nó không hay bằng, không mang tích cách nghệ thuật, so với những câu khác. Dù là viết bởi Shakespeare, Pope, Wordsworth hay Browning, căn bản ngũ ngôn vẫn có chung một hình thức cơ bản. Sự khác biệt giữa những nhà thơ này – và đây là cả một thế giới khác biệt – nằm trong cách chuyển nhịp điệu theo khuôn mẫu ẩn tàng ở dưới. Một vài nhà thơ thích chọn lựa những câu có nhịp đối xứng, trong khi người khác lại thích tạm ngừng nhiều lần trong câu. Có người thích liên cú các câu thơ nhiều lần. Có người lại thích những phần tử ngôn ngữ Đức trong tiếng Anh và dùng nhiều chữ đơn âm, trong khi người khác lại thích phần tử La Tinh và nghiêng về cách dùng chữ đa âm. Những điều này và nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến vần nhịp, và cách lựa chọn vần thay đổi không phải chỉ riêng với từng nhà thơ, mà còn theo từng thời đại nữa. Nhưng cái sự kiện, thơ Browning thì nhiệt huyết và thân mật, đây chỉ nói về vế câu, không nằm trong trường hợp nào hết. Những câu thơ năm chữ trong “My Last Duchess” và “The Bishop Orders his Tomb” vẫn đọc được theo tập quán. Chúng vẫn giữ nguyên nền-giọng nam trầm, liên thể của nhịp và vế câu. Theo quan điểm của tôi, việc cho rằng thể thơ tự do gạt bỏ cái khuôn mẫu ẩn tàng ở dưới, tách rời khỏi âm cách truyền thống, không phải là một bước đi trong tiến hóa của nó.

KW: Một vài nhà thơ đã viết một cách mê đắm về một số chủ từ cốt lõi; nhiều sách chồng chất; họ mở một cuộc điều tra kỹ lưỡng về một chủ từ riêng biệt nào đó. Một số nhà thơ khác có khuynh hướng làm thơ từng bài một; họ gộp chúng lại, và thi tập của họ là những tập hợp nhiều bài thơ khéo léo tác thành riêng biệt. Đối với tôi, hình như tác phẩm của ông thuộc về loại thứ hai. Những thi tập của ông thám hiểm một số chủ từ khác nhau; theo lời của Donald Hall, ông làm thơ, không phải làm thi ca. Đây có là một miêu tả đúng về tiến trình làm thơ của ông không?

TS: Rất đúng. Tôi viết từng bài một. Tôi thích nhất những tập thơ có nhiều chủ từ khác nhau và điều này cho thấy nhà thơ thật sự có cố gắng nắm lấy từng chủ từ và nhìn nó qua nhiều góc cạnh khác nhau, và trực đoán được vài khía cạnh khác nhau có thể của nó. Thành thử điều này cũng rất tự nhiên khi tôi đi theo con đường từng-bài-thơ-trong-từng-lúc.

KW: Ông có thấy, những ý tưởng hay chủ đề thống nhất nào giữa nhiều chủ từ khác nhau, từ giặt giũ cho đến những vấn đề gia đình với nhiều xúc cảm, đến thằng bé chơi bóng rỗ, hay không?

TS: Có lần được hỏi một câu tương tự, tôi đã trả lời rằng, thơ của tôi nói về thiên nhiên hay đặc tính tự nhiên của con người. Câu đó cũng có thể được dùng lại ở đây. Tôi thường bị lôi cuốn vào trong chủ từ của bài thơ khi viết. Tôi không nhìn xa hay đắn đo xem bài thơ sẽ vừa vặn ở chỗ nào trong vài đề mục đời sống lớn lao nào đó. Và tôi nghĩ rằng chúng ta cũng không nên ý thức quá mức về tác phẩm và về tiến trình nhà thơ của mình. Nhà thơ nào tự thấy mình nghiêm trọng đến chừng nào, càng ít nghiêm trọng với thơ chùng nấy.

KW: Như thế nào thì những chủ từ ấy đến với ông, và thường thì ông mất bao lâu để đọc lại?

TS: Tôi viết về những chủ từ làm bận tâm trí hoặc gợi được sự chú ý của mình. Một bài thơ có thể, như bài thơ về thằng bé thực tập bóng rỗ, có khởi nguyên từ một cảnh hay hình ảnh đáng được giữ lại và chia sẻ. Hay một bài thơ có thể, như bài “Pacific Rim”, khởi từ một kinh nghiệm cá nhân và ước muốn được hiểu nó rõ ràng hơn. Một bài thơ có thể gắng tìm hiểu và tạo hình cho một trường hợp tương đối phức tạp hay cho một chùm nhiều ý tưởng. Thí dụ như bài “Her Memory of the Picnic” trong The Color Wheel, đã cố chú trọng vào một số trong nhiều vấn đề trong kinh nghiệm gia đình. Bài “The Library” cũng thế, dù là trong bài thơ này mọi vấn đề liên quan nhiều hơn với kinh nghiệm văn hóa trí thức. Việc đọc sửa lại thì tùy. Với một vài bài thơ riêng biệt nào đó, tôi suy nghĩ khá lâu về chủ từ, nhưng sẽ viết bài thơ rất nhanh. Bài “Profils Perdus” trong Uncertainties and Rest, là như thế. Tôi đã suy nghĩ rất lâu về làm thế nào để khai khẩn tính đa cảm, dù điều này có giá trị ở vài khía cạnh nào đó, nhưng có thể biến thành tàn tật tâm lý nếu đi quá xa. Và bài thơ thật thụ được viết ra trong vòng 20 phút một đêm thu 1972. Tuy nhiên, với những bài thơ khác, tôi có thể có nhiều bản nháp trước khi có được một bản vừa ý hoặc đành bỏ hẳn bài thơ. Có khi, vấn đề lại là hình thức tôi chọn lúc khởi đầu là sai. Thí dụ như lúc tôi bắt đầu viết “Jane”, một bài thơ trong Sapphics against Anger, bằng một câu dài. Tôi vùng vẩy và vùng vẩy, thử nghiệm với nhiều nhịp điệu và khuôn mẫu thi tiết khác nhau. Không có thứ nào được cả. Cuối cùng, tôi có ý nghĩ biết đâu bài thơ khá hơn nếu đặt trong những cung nhịp ngắn, nhất là vì bài thơ dính dáng đến chuyển động quanh co với một nhận thức sắc bén riêng biệt. Tôi bèn thử dùng vế ba chữ – đối với tôi thể này luôn gây một cảm tưởng kích thích, đến trước – và bỗng nhiên bài thơ thành hình.

KW: The Color Wheel là một cái tựa hay. Điều gì đã đưa ông đến tựa này?

TS: Tựa này đến từ một trong nhiều bài thơ, “Portrait of the Artist as a Young Child.” Nó tả một đứa trẻ chơi với những cây sáp màu và nói đến cối màu bằng nối kết việc trẻ thám hiểm nhiều cách phối hợp màu sắc khác nhau. Lúc đặt tựa cho tập thơ, tôi nghĩ rằng The Color Wheel có thể gợi được độc giả. Cũng như, cụm từ ấy và hình ảnh gợi lại phương cách mà thơ và nghệ thuật đã giúp chúng ta kinh qua một quang phổ dồi dào nhiều ý tưởng và cảm xúc, và cho chúng ta một ý niệm rằng, cho dù đời sống của chúng ta có ngắn ngủi và khó khăn đến đâu, chúng ta vẫn mãi mãi vinh quang là một phần của hiện thực. Cho nên tôi thấy rất thích hợp khi đặt tên cho tập thơ vì “the wheel/Of contrasts and of complements,/Where every shade divides and blends,/Where you find those that you prefer,/Where being is not linear,/But bright and deep and never ends.”

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

Image: Richard Estes (United States, born 1932) “Beaver Dam Pond, Acadia National Park,” 2009, oil on board, 12 1/2 x 30 inches. Portland Museum of Art, Maine. Anonymous gift, 2014.2 © Richard Estes, courtesy Marlborough Gallery, New York.

TUẦN THƠ 54: NÀNG CÒN NON TRẺ QUÁ

Tranh Paul Klee: Ocean Lanscape, 1929
Tranh Paul Klee: Ocean Lanscape, 1929
Trầm Phục Khắc

NÀNG CÒN NON TRẺ QUÁ

Nữ thần dân chủ đáp xuống trên
quê hương nghèo khó tiếng hoan hô
như sóng vỡ rồi tắt ngúm nàng
vẫy đôi tay nhỏ bé chào dân
tộc nhiều anh hùng hơn công dân
gương mẫu nàng còn non trẻ quá
giữa rừng súng gươm sáng loáng nhưng
chẳng sao súng gươm rồi sẽ lỗi
thời mà nàng thì đâu có tuổi
chính phủ mời nàng đọc diễn văn
giữa quảng trường hoành tráng nhưng đêm
về nữ thần dân chủ la cà
cùng đám thần dân rách rưới trong
những quán hàng rác rưởi nàng trở
thành nữ thần thơ ngây truyền bá
lộ trình ước mơ của một dân
tộc đi tìm những công dân gương
mẫu mà chẳng cần tìm kiếm những
anh hùng ôi nữ thần non trẻ
làm bỏng cháy trang mạng của đám
thần dân đang chết khát thông tin
về một nữ thần thơ ngây nữ
thần siêu sao mê mẩn trên hè
phố nàng có khả năng làm tắt
ngúm những niềm tin những ước mơ
để rồi nàng lại hiện ra hiện
ra trẻ măng giữa đám thần dân
chập chùng chập chùng như sóng vỡ


HỢP ĐỒNG XANH

Đây là bản cuối cùng xin anh
giữ lấy chỉ còn anh ở lại
với cuộc đời này nếu còn có
một cuộc đời được gọi tên là
quê hương thì xin anh giữ lấy
đây là bản cuối cùng tuy rách
nát nhưng chưa hề thay đổi bản
hợp đồng mang tên gọi việt nam
không cần ai phải kí bởi vì
máu của ba dòng sông đã chảy
trong dòng chữ hay là vẫn chảy
trong từng dây thần kinh chưa hề
điên loạn của chúng ta vâng có
ai ngờ hồi chuông điểm gấp như
hồi chuông báo tử đã đến lúc
phải chia tay anh ở lại thì
xin anh giữ lấy đây là bản
cuối cùng tuy rách nát nhưng chưa
hề thay đổi không thể mất vì
chưa hề được viết chỉ là những
giọt máu vẫn còn tươm ra tươm
ra trên bản hợp đồng không cần
ai trong chúng ta phải kí bản
hợp đồng mang tên gọi việt nam


HỒN CÂY MỚM CÁ

Người đàn bà dắt tay
đứa bé trên con đường
đi về hướng nam nên
phía bên trái là những
con cá chết và phía
bên phải là những hàng
cây xanh máu máu xanh
buốt như mầu da mà
những con cá chết không
thể nào cứu nổi chết
cấp tốc chết ngấm sâu
vào rễ cái rễ con
chết còn nắm tay nhau
để còn nhắn hồi sinh
hồi sinh lại con đường
đi về hướng nam hướng
đã đi từ khi biết
thở biết khóc cười biết
dắt tay nhau như người
đàn bà dắt tay đứa
bé đi về hướng nam
cho đến khi gục xuống
cùng những con cá chết
chết cấp tốc chết ngấm
sâu vào rễ cái rễ
con để cho đứa bé
lớn lên đi thật nhanh
cùng hàng cây xanh máu.


ẢNH MÙ

Những con đường không có lối ra
tìm ra lối mới những con đường
mới hàng cây mới mới hơn hàng
cây mới đốn đốn hết lối ra
những con đường ra phố không phố
chỉ có lũ ma và cô gái
điếm sống mà không tin cứ việc
lắng nghe những gì không biết nói
của tiếng rao hấp hối bật ra
đây con đường mới hàng cây mới
mà không một trái tim nào mới
trong đoàn người lúc nha lúc nhúc
những con người không biết lối ra
choán hết lối ra vẫn cứ ra
tìm ra lối mới sống mà nào
đứng hết vào đây chụp ảnh nào


CHẮC HẲN LÀ QUỈ XÔ MA ĐUỔI

Một hôm tôi bước ra khỏi tuổi
đối diện tuổi hỏi tuổi rằng tại
sao tuổi cứ bám vào tôi đẩy
tôi vào sự già nua thôi thì
hãy tránh mặt nhau để cho tôi
đi đường tôi tuổi đi đường tuổi
để cho tôi sống nốt cuộc vui
này một cuộc đời không tháng năm
không xuân hạ thu đông không tuổi
mà nên không có gì thay đổi
buồn thiu tuổi đành quay trở về
với thời gian nhưng thời gian đã
đóng băng với cuộc đời đóng cửa
không trăm lần không cuộc đời không
thể nào đóng cửa hãy gọi năm
tháng trở về đây mở tung mọi
cánh cửa cho thời gian ấm lại
cho tuổi trở về tuổi gặp lại
tôi thấy tôi gặp lại chính tôi
một hôm nào chìm theo chìm theo
xuân hạ thu đông thấy tôi một
hôm nào vẫn bước ra khỏi cuộc
vui này bước ra khỏi tuổi đối
diện tuổi hỏi tuổi rằng tại sao
tuổi cứ bám vào tôi đẩy tôi
vào sự già nua sao không cùng
tôi đi về một nơi chắc hẳn
vẫn là một cuộc đời không tuổi


VẾT SẸO

Như dân tộc đến với
dân tộc đồng bào đến
với đồng bào vết sẹo
đến với ngón tay và
trái tim đến với cuộc
đời đơn giản người đàn
bà nghe tiếng gọi của
người đàn ông ngoài thửa
ruộng cái gai cắm vào
gan mật làm sao để
gỡ như người đàn ông
nghe tiếng thở buổi chiều
tiếng thở người đàn bà
buổi chiều vết sẹo buổi
chiều nghe buổi chiều trong
tiếng thở mình của mình
của chúng mình tắt chưa
tắt của buổi chiều tắt
chưa tắt như ước mơ
của ai không của ai
của trái tim không ngoài
cuộc đời cho dân tộc
còn nhớ dân tộc đồng
bào còn nhớ đồng bào
và người đàn ông còn
nhớ vết sẹo trên thân
thể người đàn bà chưa
tắt buổi chiều chưa tắt


MỘT HÔM KHÔNG LÀ HÔM NÀO NỮA

Một hôm ánh sáng không
trở lại trần gian nữa
không thấy nữa tiếng hát
không trở lại trần gian
nữa không nghe nữa những
bài thơ không viết ở
trần gian nữa không còn
thao thức nữa tôi lại
gặp em một hôm phán
xét không trở lại trần
gian nữa không thờ phượng
nữa những con đường không
khác nhau không đi không
đến nữa những tiếng đập
không trở về tim không
thăm không hỏi nữa tôi
lại gặp em một hôm
những dòng sông không trở
lại tuổi thơ không cần
mơ ước nữa những đại
dương dìm chết mọi lòng
tham và mọi điều kỳ
diệu không cần ai khám
phá bởi vì một hôm
không là hôm nào nữa
lúc đó trần gian đi
bài thơ lại bắt đầu
và tôi lại gặp em


MỘNG GIANG HỒ

Kẻ lạ mặt nằm giữa anh và
em đêm qua trong giấc mơ gã
giang hồ bí ẩn nụ cười nửa
miệng cắn ngập hàm răng độc dược
vào phần thân thể kín đau đớn
như lũ ma đội lốt anh hùng
kéo sợi dây thòng lọng treo ngược
môn lịch sử kẻ lạ mặt gã
giang hồ chuyên nghiệp chiếc áo thầy
tu với liều thuốc ngủ bịt miệng
em ta kéo qua biên giới ai
giỡn mặt mặc ai giỡn mặt kẻ
lạ mặt bước vào nhà tổ thong
thả ngồi vào chiếc ghế tổ tiên
gã giang hồ đẳng cấp thong thả
điểm hồi chuông chuông gọi hồn ư
gọi người ư có phải giấc mơ
không không đâu phải giấc mơ chỉ
là kẻ lạ mặt đẹp trai gã
giang hồ điểm hồi chuông báo mộng


VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG

Người đàn ông đi giữa hoàng hôn
và những căn nhà xiêu đổ đi
giữa cuộc tình tay ba với người
đàn bà và với một con đường
dang dở con đường chẳng bao giờ
đến được người đàn bà chẳng bao
giờ đến được và đi như lũ
cuốn đi những bọt đời đời bọt
những con đường đâu đến đến đâu
ai chọn ai ai chọn gì ai
mà đi mà bấy lâu như mọi
người đi mọi người đàn ông đi
giữa chiến tranh giữa hoàng hôn và
con đường khói lửa… về đâu… khói
lửa về đâu mà cháy đỏ ngoại
ô cháy đỏ đô thành cháy rụi
giấc mơ chỉ còn lại đoàn người
di tản người đàn bà di tản
cả đô thành cả cuộc đời cuộc
tình di tản trong biển điên biển
cuồng điên của đàn con mất mẹ
và người đàn ông đi giữa hoàng
hôn đi tìm nơi chôn cất hay
chẳng nơi nào chôn cất bởi vì
dang dở vì bức ảnh ba chiều
vẫn còn dang dở vẫn còn thiếu
một chiều cho hơi thở… của người
đàn ông với viên đạn cuối cùng


BỨC ẢNH BA CHIỀU

Người đàn bà đánh mất
thời gian đánh rớt tuổi
mơ đánh tháo tự do
cho cuộc đời điên đảo
kể cho cô cháu bé
bỏng nghe về một nơi
gọi là đô thành… là
giấc mơ… mùa cỏ hoa
biêng biếc… giọng bà kể
mơ hồ như cố vẽ
lại bức ảnh ba chiều
lên tâm trí tuổi thơ
bức ảnh đẹp buồn như
trái tim đánh tháo cho
cuộc tình dang dở với
người đàn ông đã mất
người đàn bà bỏ đi
và tất cả biến đi
biến đi từ thành phố
mất tên và mùa cỏ
hoa mất tuổi cô cháu
bé bỏng nghe bà kể
và thiếp đi thiếp đi
như cuộc đời chưa là
cuộc đời chưa thành cuộc
đời chỉ là câu chuyện
kể và cô bé bước
đi mơ hồ theo… bức
ảnh theo hơi thở phập
phồng như bức ảnh đã
hồi sinh với cuộc đời
chưa bao giờ có thật
với bà tiên bước ra
từ tâm trí trẻ thơ
lời kể người đàn bà
và… giấc mơ có thật


LẶNG LẼ

con đường đẹp quá
đúng với giấc mơ
nhưng con đường rồi
phải hết mà giấc
mơ có cánh nên
giấc mơ còn nên
giấc mơ bay một
mình một mình lặng
lẽ lặng lẽ có
thấy ai đang ngóng
cổ nhìn không chắc
là không có muốn
ghé lại đây không
chắc là không giấc
mơ đâu biết nghe
đâu biết nhìn giấc
mơ buồn quá thật
là buồn mà chẳng
thể là của riêng
ai giấc mơ có
cánh thật là nhẹ
mà chẳng để bay
đến được nơi đâu
thôi thì cứ bay
một mình lặng lẽ
cho đến khi đuối
sức đuối sức đuối
sức may ra lại
rơi xuống một con
đường mà lại là
một con đường đẹp
đúng với giấc mơ
một mình lặng lẽ

Tranh Paul Klee: Ocean Lanscape, 1929

Sự kiện Đọc thơ và Âm nhạc Đặc biệt

Dana Gioia | California Poet Laureate

Sự kiện Đọc thơ và Âm nhạc Đặc biệt dành cho Nhà thơ California đoạt Giải thưởng Kỷ niệm Cộng đồng Người Việt tại Quận Cam: Chủ nhật, ngày 20 tháng 11 tại Irvine



Chi tiết sự kiện

Sự kiện: Dana Gioia Thơ Reading bằng tiếng Anh và tiếng Việt với âm nhạc
Thời gian: Chủ Nhật tháng 11 20 ngày tại 02:30
Địa điểm: Irvine Katie Thư viện Wheeler, 13.109 Old MyFord Road, Irvine, CA 92.602
Thông tin bổ sung: Đây là một sự kiện miễn phí. Truy cập www.capoetlaureate.net để biết thêm thông tin về California Nhà thơ Laureate, Dana Gioia.

Được trình bày với sự hợp tác của Hội đồng Nghệ thuật California, Trung tâm Sách California và Thư viện Bang California. Được tổ chức bởi Thư viện Irvine Katie Wheeler.


Giới thiệu về các nghệ sĩ

Dana Gioia là Nhà thơ đoạt Giải Danh dự tiểu bang California. Được Thống đốc Jerry Brown bổ nhiệm vào tháng 12 năm 2015, Gioia đóng vai trò là người ủng hộ tiểu bang cho thơ và văn trong các thư viện, lớp học và phòng họp trên khắp California. Một nhà thơ từng đoạt giải thưởng, Gioia là tác giả của Có Thể Thơ Có Vấn đề ?, được ghi nhận đã giúp làm sống lại vai trò của thơ ca trong đời sống công chúng Hoa Kỳ. Ông cũng là cựu Chủ tịch Quỹ Quốc gia về Nghệ thuật, nơi ông vô địch về giáo dục nghệ thuật. Với tư cách là người đoạt giải tiểu bang, Gioia sẽ làm việc để truyền cảm hứng cho thế hệ nhà văn mới và tôn vinh di sản văn học vĩ đại của California. Để biết thêm thông tin, hãy truy cập www.capoetlaureate.net.

Tina Huỳnh là một nhà giáo dục âm nhạc với 15 năm kinh nghiệm trong việc giảng dạy hợp xướng và nhạc cụ ở các cơ sở công, tư và phòng thu. Là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Trường Âm nhạc USC’s Thornton, Huỳnh đã hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình bằng cách biên soạn cuốn sách Bài hát cho trẻ em Việt Nam, dựa trên các bài hát thiếu nhi và dân ca mà cô sưu tầm được từ cộng đồng người Việt ở Quận Cam. Cô là một nghệ sĩ hòa tấu cấp độ buổi hòa nhạc. Cô vừa giới thiệu sự kiện vừa thổi sáo để kèm theo bài đọc.

Đức Lê bút danh Khế Iêm, sinh năm 1947 tại Việt Nam và di cư sang Mỹ năm 1990. Ông là người sáng lập và chủ bút Tạp chí Thơ Việt Nam. Duc Le đã là người đổi mới thơ Việt ở cả Hoa Kỳ và quê hương của ông. Ông là người chủ trương Chủ nghĩa Tân hình thức Việt Nam đã đưa thể thơ Không vần tiếng Anh vào tiếng Việt. Ông cũng là người tích cực dịch thơ Mỹ sang tiếng Việt và là người thúc đẩy giao lưu văn học giữa hai quốc gia.


Nhiệm vụ của Hội đồng Nghệ thuật California, một cơ quan của tiểu bang, là thúc đẩy California thông qua nghệ thuật và sự sáng tạo. Hội đồng cam kết xây dựng ý chí và nguồn lực của công chúng cho nghệ thuật; khuyến khích các sáng kiến nghệ thuật có thể tiếp cận phản ánh sự đóng góp từ tất cả các nhóm dân cư đa dạng của California; phục vụ như một nhà lãnh đạo tư tưởng và nhà vô địch cho nghệ thuật; và cung cấp các chương trình và dịch vụ hiệu quả và phù hợp.
Các thành viên của Hội đồng Nghệ thuật California bao gồm: Chủ tịch Donn K. Harris, Phó Chủ tịch Nashormeh Lindo, Larry Baza, Phoebe Beasley, Christopher Coppola, Juan Devis, Kathleen Gallegos, Jaime Galli, Louise McGuinness, Steven Oliver, và Rosalind Wyman. Tìm hiểu thêm tại www.arts.ca.gov.
916-324-6617
caitlin.fitzwater@arts.ca.gov

Thơ Tân hình thức Việt và bạn thơ trên thế giới – Tạp chí Sông Hương (tapchisonghuong.com.vn)


 

TUẦN THƠ 59: LỖI HẸN DÃ QUỲ

van-gogh-vase-with-twelve-flowers-detail-1889-by-vincent-van-gogh_1_orig
van-gogh-vase-with-twelve-flowers-detail-1889-by-vincent-van-gogh_1_orig
Nguyễn Thánh Ngã

LỖI HẸN DÃ QUỲ

người ta bảo đó là
hoa báo nắng thế mà
mưa vẫn té tát khi
những ngọn đồi nở vàng
hoa dã quỳ em ngơ
ngác bảo miền Trung lũ
lụt tơi bời sao hoa
có thể nở mà không
nức nở trong lòng người
mẹ một mình sinh con
trong đêm bão bùng người
cha bị lũ cuốn khi
liều chết chống chèo qua
dòng xiết mẹ già lom
khom bò trên nóc nhà
em bé thương con chó
con cho vào thau đội
trên đầu mà lội nước
ngập tới mang tai hai
con gà con không hiểu
vì sao đứng trên chiếc
dép lật ngược trôi lềnh
bềnh tiếng kêu chim chíp
đói meo không có mẹ
tìm mồi em bé chẳng
hiểu vì sao con chó
vì sao chẳng hiểu con
gà cũng không hiểu nốt
chỉ có anh lỗi hẹn
với em mùa dã quỳ
chẳng thể cùng nhau về
hái hoa thắp mộ chị …


KOGI

buổi sáng thức dậy thấy
người Kogi bình thản
không nỗi lo không hoài
nghi không chán chường họ
sống như đã sống trong
rừng hàng ngàn năm ăn
trái cây và rau cỏ
không hề giết hại bất
kỳ sinh vật nào thế
mà sống thọ không bệnh
tật thuốc men kể cả
không chiếm hữu kể cả
không tôn giáo không giáo
điều họ sống tự nhiên
như nhiên mà hiểu hết
cái đau của nhân loại
và những điều xảy ra
trong vũ trụ tối tăm
có phải ai giết chóc
sẽ bị giết chóc có
phải không tranh giành kẻ
thù tự tiêu tan có
phải không tôn giáo sẽ
không có ma quỷ có
phải “không có phải” người
Kogi không phải người
Kogi vậy họ là
ai chúng ta là ai …


HỒN NHIÊN

Sủa là âm thanh phát ra từ
cái mõm loài chó và như thế
chó vẫn sủa và người ta vẫn
Đi để thế giới được sinh ra
những lãnh thổ có tiếng sủa canh
giữ những ảo tưởng an lành những
Giấc mơ dai dẳng về đời sống
tạm bợ gọi là cuộc sống con
người thật ra cuộc sống cứ thế
Mà mọc lông những ngôn từ cứ
thế mà đi bằng bốn chân không
ngại từ đó tiếng chó cứ hồn
Nhiên sủa lên tiếng người tiếng chó
lẫn lộn không phân biệt được như
một phản xạ có điều kiện dần
Dà người ta không kiêng cữ sủa
không kiêng cữ nói như sủa vào
mặt nhân gian cắn vào mặt những
Công dân hạng bét của hành tinh
đau khổ và bất lực này dù
đau khổ chẳng ảnh hưởng gì đến
Hòa bình thế giới và bất lực
cũng vậy cứ thế mà thành tiếng
sủa biểu cảm nghìn cung bậc đời
Sống …


VIẾT TRONG NHÀ HÀNG CUA MỘT CÀNG

Người ta đến thế giới này bằng
nhiều cách anh bạn tôi đến thế
giới này bằng một cuộc nhậu tơi
Bời hoa lá lên bờ xuống ruộng
anh là cua không gãy một càng
mới là chuyện lạ nhưng còn
Một càng cũng là chuyện lạ rồi
nên vô tình hay hữu ý không
biết anh rủ tôi ngồi trong quán
Cua một càng Sài Gòn mà thật
ra Sài Gòn làm gì có cua
hai càng bởi càng dài càng ngắn
Càng nhiều càng ít càng có càng
không càng giàu càng nghèo càng to
càng nhỏ càng uống càng say càng
Say càng tỉnh và ngược lại càng
mê càng đắm mà không ai biết
mình mê đắm như cua một càng
giữa cuộc đời bá đạo và vô
đối này ư …


NĂNG LƯỢNG

Tôi bắt đầu lấy năng lượng từ
em để viết để dịu dàng trở
nên quyết liệt để ngây thơ trở
nên tàn nhẫn để dị thường trở
Thành nhiệt hạch phản ứng lời hạt
nhân của ý phiêu bồng câu chữ
của tứ thành cơn lũ ống cuồn
cuộn trào năng lượng cuốn phăng dãy
Lâu đài hoang phế đổ nát những
thành trì tuyệt đỉnh cổ điển truyền
thống quan niệm ngự trị lâu đời
trong không gian thời gian ước lệ
Của ngày hôm qua ngày nay và
ngày mai ôi cơn mưa lượng tử
và gió vật lý thổi bay qua
vùng ảo giác của trục thời gian
Ngang tàng bám vào mê lầm keo
kiệt bám vào thế giới qui chiếu
để trăm năm rõ một chỗ ngồi
khi tôi bắt đầu chết điếng khi …


O CHUỘT

ngày xưa Tô Hoài viết O chuột đọc
hoài vẫn không thấy O chuột nào giống
O chuột mình đã đọc thì nay có
O chuột nhắt trong tủ sách gặm vài
từ xé vài tờ rồi lót ổ nằm
trên đống chữ rách nát lâu ngày bỗng
nhiên O thông minh dữ dội O bèn
nghĩ ra cách đối phó với lão mèo
đen luôn kêu “meo meo” hù dọa cháu
con nhà họ chuột một hôm O chuột
âm thầm tự chui vào cái bẫy lão
mèo đen hí hửng thò tay vào định
chộp O chuột bỗng cái bẫy sập dính
chặt móng sắt vào tay mèo đen lão
giãy giụa trong tiếng cười nhạo của O
chuột càng giãy giụa tay lão mèo càng
đau đớn tợn lão nhận ra cái kế
dụ khị thâm độc của O chuột nên
lão xuống giọng xin xỏ hãy thả ta
ra ta sẽ tha cho con cháu nhà
chuột nhưng O chuột chỉ kêu “chít chít”
nhờ ăn cái chữ đã thành tinh khôn …


ĐÀN VỊT TRỜI

mưa xuân như cơn mộng giăng
giăng ngoài bờ rào đàn vịt
trời bay qua bờ rào “rào
rào” như vỡ mộng mưa giăng
lão K’De mang nỏ vào rừng
gặp đàn vịt trời tìm nơi
đẻ trứng những quả trứng tròn
trĩnh đẹp như những viên ngọc
lấp lánh dưới mặt trời lão
K’De bốc trứng bỏ vào túi
chẳng phải túi ba gang chẳng
phải túi “dạng vừa đâu” mà
đó là chiếc túi đựng mũi
tên bịt đồng khi chiếc túi
trứng vừa đầy một con rắn
to cũng vừa xuất hiện nó
há mồm le lưỡi định mổ
vào tay K’De … ôi lão già
một đời đi săn nhưng chưa
bao giờ chưa bao giờ lão
trở tay không kịp như thế
này vì như thế này là
không kịp trở tay nếu lão
rút mũi tên bịt đồng bắn
con rắn to thì những quả
trứng sẽ vỡ tan còn nếu
không lão sẽ bị rắn độc
cắn may thay đàn vịt trời
đã về vịt trống vịt mái
sà cánh xuống chiếc tổ con
rắn vội chuồn đi lão thợ
săn K’De cũng bỏ đi nhưng
vợ chồng vịt trời cứ bay
theo kêu “quắp quắp quắp” tự
nhiên lão thợ săn thấy mình
là “kẻ cắp” nên lão quay
lại bỏ những quả trứng tròn
trĩnh như những viên ngọc vào
chiếc tổ xinh xắn rồi quay
đi lão đâu biết con rắn
độc đang chờ lão ven đường
để dành lại những quả trứng
và con rắn cũng đâu biết
lão già đã lắp sẵn mũi
tên vào chiếc nỏ cầm tay …


TẶC LƯỠI

tặc lưỡi một cô gái xa
lạ là cái tặc lưỡi tôn
vinh hay cái tặc lưỡi thèm
muốn cũng đều là cái tặc
lưỡi quấy rối tình dục nơi
công sở cũng đều là sai
với qui tắc ứng xử của
một người nghiêm chỉnh hay một
người đàng hoàng khi một cô
gái có vẻ “ngon hẳn” thì
anh không nên tặc lưỡi mà
anh chỉ nên nói một câu
“rất tuyệt rất tuyệt em rất
tuyệt!” hẳn nhiên đôi mắt xa
lạ sẽ nhìn anh và anh
nhìn đôi mắt xa lạ nhìn
anh …


NHUẬN GIÂY

có thể chỉ là một giây
mà chúng ta xa nhau mãi
mãi có thể chỉ là một
giây mà chúng ta ngoảnh mặt
làm ngơ từ chối thấy nhau
bởi tình yêu man trá dại
khờ đã đến hồi kết thúc
nhưng thời gian thì được bù
đắp bằng cách nhuận giây vào
[… 30/6/15]
thời gian được ngưng lại một
giây thị trường tài chính thế
giới tìm cách tránh né tê
liệt vì giây nhuận “khủng khiếp”
ấy, còn em tìm cách tránh
né anh cũng chỉ trong một
giây “khủng khiếp” đó thôi! thị
trường tài chính hay thị trường
tình yêu anh chẳng biết chỉ
biết em chính là một giây
“khủng khiếp” hơn mọi “khủng khiếp”
“giây nhuận” kia trái đất có
thêm một giây để chậm lại
còn anh có thêm một giây
để “lại chậm” một nỗi đau
đời trong khi trái đất được
bù đắp còn anh lại bị
“tước đoạt” chỉ trong một giây …


BÀI THƠ RÁC

những người giàu xả rác những người
nghèo ném rác những chiếc xe chở
rác những hố rác bốc mùi giữa
lòng thành phố những đứa trẻ bới
rác đã là cuộc sống ai cũng
có rác vì rác và rác đã
làm nên cuộc sống và cuộc sống
phế thải rác đó là điều dĩ
nhiên hẳn nhiên và tự nhiên mà
ai cũng biết giống như tôi vò
một tờ giấy nháp vứt vào sọt
rác tôi biết trong đó một bài
thơ rác vừa ra đời vừa bị
vứt đi trong cái sọt đầy rác
một bài thơ rác không hề biết
mình là rác nó cứ ngang nhiên
không coi mình là rác trong cái
sọt chật chội đầy rác mà tự
xưng mình là vua (các loài rác)
cho đến khi ngọn lửa bén hơi
thì tất cả cùng thét lên bản
hài ca “là tro bụi hãy trở
về tro bụi” và cứ thế bản
hài ca cứ lặp đi lặp lại
trong khi bài thơ rác của tôi
cứ làm vua xứ sở rác vì
những người giàu xả rác và những
đứa trẻ lang thang vẫn còn bới
rác …


Page Cover: Small Bottle with Peonies and Blue Delphiniums (detail) by Vincent van Gogh

<

p style=”text-align: left;”>

Kiều Maily: Thơ Thời sự

0

MƯỜI BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC THỜI SỰ
_____________________________________

Kiều Maily

I

LỜI KỂ CỦA CON CÁ

Tôi đã cố bơi xa thật xa nhưng
không thể nữa rồi bạn bè tôi anh
chị em tôi dù tôi đã cố bơi
xa thật xa nhưng tôi đã bơi trở
lại vào bờ. Bà con lối xóm tôi
đồng loại tôi chưa biết không ai báo
cho chúng biết dù tôi đã bơi thật
xa nhưng tôi đã bơi vào bờ trở
lại để báo cho chúng rằng chúng đang
gặp nguy rằng nhưng không thể kịp nữa
rồi không thể. Tôi nhìn thấy họ như
đang bơi vào bờ. Không phải bơi mà
là tắp vào giạt vào bờ cát thật
gần thật gần chúng phơi bụng trắng hếu
trên bãi cát. Khi lũ người chạy đến
xem tôi đã cố bơi xa thật xa
bờ cát trắng thân thương kinh hoàng ấy.
 
 
TIẾNG KÊU
Tôi nghe tiếng kêu trước mặt sau
lưng khắp xung quanh tiếng kêu tôi
chưa từng nghe một lần trong đời.
Tôi cố bơi thật xa khỏi tiếng
kêu hãi hùng rờn rợn tôi chưa
từng nghe mẹ tôi chưa từng nghe
bà ngoại tôi cũng chưa từng nghe
tiếng kêu. Tôi cố bơi thoát khỏi
tiếng kêu đuổi tôi sau lưng rờn
rợn tiếng kêu có thể chỉ xảy
ra trong truyện cổ tích ông cố
ngoại kể tôi nghe. Khi bão thốc
sóng lừng mây đen ập xuống đám
ngư dân gào thét tiếng kêu vọng
vào đêm tôi cố bơi thật xa thoát
khỏi tiếng kêu của đồng loại tôi.
Đồng loại tôi đang tuyệt vọng kêu
cứu.
 
SỐNG SÓT

Biển lặng. Sóng đã yên.
Tôi bơi trở lại gần
bờ gần bờ hơn. Đồng
loại tôi thấy thưa thớt
hơn. Như thể đi vắng.
Đám rong rêu quặt quẹo.
Loài tảo nằm mệt phờ.
Tôi bơi trở lại bờ.
Loài người và máy ảnh.
Không phải ngư dân. Không
phải đám con cháu họ.
Một loài người rất lạ
đến rồi đi. Rồi lại
đến lại đi. Tôi nhìn
và tôi quay đi. Bơi
ra xa bờ. Xa mùi
tử thi đồng loại tôi
chết phơi mình trắng bờ.
Biển đã lặng. Sóng đã
yên. Nhiều ngôi nhà đồng
loại tôi bỏ hoang. Tôi
hiểu từ nay lũ cá
đã phải sống sót như
chúng tôi khó sống hơn,
có lẽ.
 
Ở NƠI ẤY, TÔI THẤY (1)

Ở nơi ấy tôi thấy họ cào chúng
tôi chất đống rồi họ xúc chúng tôi
chở đi. Tôi đã thấy họ đổ chúng
tôi ra bãi sau chợ. Mấy bà bán
cá đi qua đi qua tôi thấy họ
nhìn chúng tôi ngờ ngợ rồi bỏ đi.
Mấy bà khác lại đến xúc chúng tôi
đến bày ở quày cá quen thuộc. Tôi
đã thấy những người mua cá nhìn chúng
tôi với ánh mắt đầy hồ nghi tôi
chưa từng nhìn thấy. Rồi những người mua
cá khác lại đến họ ngờ ngợ mua
một dúm như thể chúng tôi vừa phạm
tội gì đó không biết không thể biết.
Nhưng rồi dúm cá cũng được nấu chin,
tôi thấy họ bày chúng tôi lên bàn
ngờ ngọ họ gắp chúng tôi ngờ ngợ.
Tôi muốn khóc muốn kêu to lên rằng
chúng tôi không có lỗi không có lỗi
có lỗi.
 
Ở NƠI ẤY, TÔI THẤY (2)

Ở nơi ấy tôi thấy họ ngậm chúng tôi
họ đi dọc đường phố và họ vẽ
chúng tôi trên các bảng hiệu tôi đã
thấy tôi đã nghe họ kêu vang tên
chúng tôi khắp các nẻo phố chuyện tôi
tin chắc ông cố ngoại sẽ không bao
giờ tin nổi điều tôi đã tận mắt
nhìn thấy hôm nay trên đường phố Huế
Hà Nội Sài Gòn bà nội có thể
tin tôi kể điều tôi đã nghe đã
thấy tận mắt họ treo hình chúng tôi
như thể chúng tôi là nhân vật của
năm của dân tộc của đất nước Việt
Nam này tôi chợt hiểu chúng tôi trở
thành quan trọng như thế nào trong đời
họ dân tộc họ đất nước họ hôm
nay và mai sau tôi thấy họ viết
to hàng chữ CÁ CẦN BIỂN SẠCH tôi
đã thấy và chợt hiểu chúng tôi cần
gì và họ cần gì.
 
II.
NHỮNG BẦY CỪU

Những bầy cừu đi vào bãi nắng
Phan Rang những bầy cừu khờ khạo
cố đi về phía bên kia bãi nắng
với hi vọng bên ấy có cỏ.
Chúng nghĩ rằng bên ấy có nước
những bầy cừu khờ khạo tội nghiệp
đi vào bãi nắng Phan Rang chín tháng
mười lăm ngày không có hạt mưa
không có lùm mây bay ngang bầu
trời. Những bầy cừu khờ khạo đi
theo con đầu đàn vào bãi nắng
Phan Rang khô khát. Chúng đi về
phía bên kia bãi nắng tìm cỏ
tìm nước. Những bầy cừu đói cỏ
khát nước chúng chạy đi để rồi
chạy lại. Những bầy cừu khờ khạo
tội nghiệp băng qua cánh đồng không
mảnh rừng trắng băng qua con sông
cạn nước. Những bầy cừu khờ khạo
tội nghiệp.

CHỜ MƯA


Ngoại bảo lũ ếch giữa trưa nắng mà
kêu là trời sắp mưa nhưng mấy rày
chúng không còn để kêu nên không biết
đâu mà chờ. Chỉ thấy bầy trâu nằm
lơ đễnh dưới bóng me khô chờ đám
trẻ chúng tôi đi theo bà con Cham
xuống bãi biển làm lễ Cầu mưa chờ
những cơn mưa đầu mùa. Như mỗi năm
người Cham làm lễ và chờ. Trên rẫy
bắp anh nông dân bước ra khỏi chòi
tranh nhìn trời và chờ. Thằng em thợ
may thành phố vừa phone về hỏi mẹ
Sài Gòn đang mưa quê mình có mưa
Không, mẹ bảo cha mi dưới ruộng sâu
đang chờ cơn mưa đầu mùa vẫn chưa
tới. Đã qua tháng tư tháng năm sắp
vào tháng sáu, dân quê mình vẫn mỏi
cổ chờ những cơn mưa chắc sẽ không
bao giờ tới.
 
PALEI

Thuở đất trời đổi mới
dân làng bỏ đi vào
thành phố làm ăn làm
việc làng làm thưa. Để
mấy tháng sau xum xuê
về rủ rê nhau bỏ
đi nhiều hơn làng thưa
hơn. Rồi Ramưwan
người về màu áo tiếng
cười làng như thể xôm
hơn. Và rồi năm tới
năm sau nữa người bỏ
làng đi có nhiều người
không về làng vắng càng
vắng hơn. Tết không về
Katê không về đến mùa
Ramưwan cũng không
thấy về. Cha nói năm
có mỗi Ramưwan
mà không về palei
một lần thì thôi chớ.
Năm nay lấy cớ hạn
hán mất mùa không có
nước tưới nước tắm nước
đánh răng cũng phải mua.
Phan Rang nóng hơn Sài
Gòn khô hơn miền Tây
chú Thăn không về chị
Thoa không về. Nhà bỏ
hoang Ghur thành Ghur hoang
làng làm hoang. Người bỏ
đi đâu mất rồi.
 
THẰNG XANH

Thằng Xanh năm đổi mới là chàng
trai Cham đầu tiên bỏ làng đi
biệt tăm. Để bảy năm sau thằng
Xanh trở về mua đất rẫy, sắm
lũ bò dê cừu đến người Cwah
Patih làng bên mấy bận lác
mắt nhìn thằng Xanh dân Pabblap
thức thời biết chớp cơ hội làm
ăn. Trong khi thanh niên Cham rục
rịch học hội nhập thì lũ bò
dê cừu thằng Xanh đã đẻ chật
chuồng. Cha thằng Xanh tìm mua thêm
đất trồng cỏ, hỏi mua đất thổ
cư xây nhà nuôi đám lâu la
chăn bò dê cừu giúp việc thằng
Xanh. Năm nay tôi về, làng kể
đất rẫy nhiễm mặn nặng cỏ chết,
thằng Xanh bán lũ bò. Nắng hạn
thiếu nước, bầy dê cừu cũng đã
bán tháo. Đám lâu la thằng Xanh
bỏ vào thành phố kiếm việc. Làng
kể thằng Xanh hôm kia vừa kêu
bán nhà. Biết đâu thằng Xanh bỏ
làng đi, lần nữa.
 
ANH
Ramưwan năm nay đang gió
Xalatan thổi tan mấy vũng
nước nhỏ cuối cùng gượng đọng lại
dưới đám ruộng trũng sau nhà. Anh
về không. Ramưwan năm xưa
mưa đổ xuống đồi quê anh về
trượt chân ngã em đỡ anh dậy
hai mình cười như bị thọc léc.
Ramưwan năm nay anh về
không nắng Phan Rang đốt cháy chùm
me non cuối ngõ chúng mình hái
năm xưa Ramưwan mưa trút
nước lên ba lô anh về con
Mực nhảy chồm vào anh ba nạt
Ramưwan năm nay nó vừa
bỏ đi đâu không biết nhà không
còn nghe tiếng nó sủa em nghe
nhớ Ramưwan năm xưa mấy
chú dê non nhà bên ăn no rửng
mỡ chơi húc nhau em nhớ. Anh
về không…
 
Cover Page: Fish Still Life with Stormy Seas, Willem Ormea and Abraham Willaerts, Dutch Golden Age, 1636
 

NHỮNG CHỦ THUYẾT VĂN HÓA

17-1990s-antonio-ko-right-aisle-god-expels-adam-and-eve-from-eden
17-1990s-antonio-ko-right-aisle-god-expels-adam-and-eve-from-eden
Khế Iêm

Đời sống xã hội và thay đổi tiện nghi do những tiến bộ công nghệ đem lại, đã phân chia hai thời kỳ rõ rệt, trước và sau thập niên 1990. Email trở nên phổ biến ở những năm đầu thập niên 1990, và website, những phương tiện truyền thông, xuất hiện sau những năm 2000, với hàng lọat sản phẩm mới: Iphone, Ipad, Youtube, Facebook … tạo nên hố ngăn cách giữa các thế hệ, trưởng thành trước và sau thập niên 1980. Cuối thập niên 1980, là thời điểm báo hiệu, chấm dứt chủ nghĩa hậu hiện đại, một trò chơi ngôn ngữ và lý luận giữa những khái niệm, có mặt và vắng mặt, giữa văn bản và tác giả, giữa con người và thực tại. Những khái niệm đó không liên quan gì tới đời sống, và chỉ thuần xảy ra trong tâm trí, nên khi tất cả, từ chính trị, kinh tế, văn hóa chuyển qua tình trạng toàn cầu hóa, chủ nghĩa hậu hiện đại, dĩ nhiên, phải suy tàn.

Chủ nghĩa hậu hiện đại kéo dài vừa đúng 4 thập niên, từ đầu thập niên 1950 đến cuối thập niên 1980. Có sự giống nhau kỳ lạ giữa chủ nghĩa lãng mạn, cũng kéo dài 4 thập niên, và chủ nghĩa hậu hiện đại. Chủ nghĩa Lãng mạn xuất hiện ở nửa đầu thế kỷ 19, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện nửa sau thế kỷ 20. Chủ nghĩa Lãng mạn cũng ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa hậu hiện đại, hòa trộn giữa triết học và văn học. Chủ nghĩa lãng mạn ở cuối thời kỳ Ánh sáng, còn chủ nghĩa hậu hiện đại ở cuối thời kỳ hiện đại, đều chống lại Ánh sáng. Cuối thế kỷ 19, cảm giác vỡ mộng và xa lạ trong những xã hội Âu châu lan rộng, và người ta cho rằng sự lạc quan về sự tốt lành của lý trí và khoa học chỉ đem lại một xã hội tuân thủ, áp chế và bất công. Khoa học và lý trí không thật sự am hiểu thế giới và con người, và những nhà Lãng mạn thay vì tìm kiếm sự chinh phục thiên nhiên thì tìm kiếm sự đối thoại với thiên nhiên và coi con người như những cá nhân thuần nhất chứ không phải là chủ thể của những luật tắc khoa học. Sau chủ nghĩa lãng mạn là chủ nghĩa hiện thực, và sau chủ nghĩa hậu hiện đại, những bộ môn văn học nghệ thuật quay về với chủ nghĩa tân hiện thực.

Nhưng tại sao quan tâm tới chủ nghĩa hậu hiện đại, trong khi thơ, gần như đối nghịch hẳn với triết học. Triết học vướng vào thơ (Nietzsche), triết học rơi vào hư vô, thơ vướng vào triết học, thơ chết (trừơng hợp thơ Ngôn ngữ Mỹ). Triết học theo đuổi sự thông thái (wisdom), thơ theo đuổi cái đẹp (beauty), triết học thuộc phạm trù lý trí trong khi thơ cần cảm xúc. Triết học và thơ từ khởi đầu đã không ưa nhau, Plato đòi trục xuất nhà thơ ra khỏi nền cộng hòa. Goethe từ chối đọc Hegel, Blake không ưa Bacon, Lock và Newton … Tuy nhiên, trong thời đại mà mọi thứ không thể tách rời và liên hệ với nhau, những chủ thuyết triết học cận đại có thể giúp chúng ta nhận diện đời sống thực tại một cách sâu sắc và rõ nét hơn. Chủ nghĩa hậu hiện đại đặt lại vấn đề về kiến thức, bản ngã, thực tại từ thời Ánh sáng, đề cao chính bản thân ngôn ngữ. Vì thế chúng ta phải quay lại từ đầu thời kỳ hiện đại để tìm hiểu xem, con người là sản phẩm của hư cấu hay chỉ là trò đùa bỡn của tâm trí? Và làm sao không bị vướng vào cái mạng nhện tiêu cực của chủ thuyết văn hóa hấp dẫn nhưng đầy những ảo ảnh này?

Khởi đầu là triết gia Francis Bacon, cuối thời Phục hưng, cùng với Newton, được coi như triết gia và nhà khoa học khởi đầu của thời kỳ Ánh sáng. Descartes là cha đẻ của triết học hiện đại, và Kant là triết gia mở đầu cho thời kỳ hiện đại. Tư tưởng hiện đại bắt đầu với hai khuynh hướng chính: chủ nghĩa duy nghiệm (empiricism) đại diện là David Hume (với John Lock, George Berkeley) cho rằng kiến thức về thế giới đến với chúng ta trực tiếp (immediate). Trí óc như một phiến đá trắng và thực tại tự in vào qua những dữ kiện của năm giác quan. Còn những nhà duy lý (rationists), đại diện là  Réné Descartes (với Immanual Kant, Spinoza, Leibniz) thì cho rằng kiến thức về thế giới là gián tiếp (mediate) vì bởi những ý tưởng hoặc những cấu trúc nội tại có sẵn từ lúc sinh ra. Vì thế chúng ta có thể thu nhỏ cấu trúc phổ quát của thực tại, và sự thực (truth) không biến đổi. Từ đó, phân ra làm hai, trường phái thực nghiệm Bacon (Bacinianism) và trường phái duy lý Decartes (Cartesianism). Từ thế kỷ thứ 17, những nhà tư tưởng Anh, Mỹ thiên về duy nghiệm, đưa tới cuộc cách mạng kỹ nghệ Anh vào giữa thế kỷ 18, và những phát minh khám phá về khoa học của những nhà khoa học Mỹ, cho tới bây giờ. Còn những nhà tư tưởng Âu châu thiên về Lý trí, cho chúng ta những triết gia nổi tiếng như Kant, Nietzsche. Ngay vào những thập niên 1960-80, lý thuyết hậu cấu trúc và hậu hiện đại đều do những triết gia Pháp đề xướng, còn sự thực hành chủ nghĩa hậu hiện đại, xảy ra tại Mỹ.

Immanuel Kant tổng hợp hai khuynh hướng, ông cho rằng giác quan cung cấp nội dung kiến thức của chúng ta còn tâm trí tạo ra hình thể của nó. Tâm trí nếu không có giác quan thì trống rỗng, còn giác quan không có tâm trí thì mù lòa. Chúng ta không thể biết được thực tại, sự vật-trong-chính nó (thing-in-itself), chỉ khi sau đó, qua trung gian của giác quan và hình thành thể loại (category) trong tâm trí. Điều này có nghĩa là, sự vật chúng ta quan sát bằng giác quan chỉ là những hiện tượng bề ngoài, muốn hiểu rõ chúng ta phải dùng tâm trí để diễn đạt hoặc phân loại. Nhưng có những chủ thể không có những hiện tượng bề ngoài như khái niệm về Chúa, linh hồn … không thể hiểu bằng lý trí. Do đó, siêu hình học – biết thực tại trong chính nó – thì bất khả.

Từ thuyết bất khả tri (agnosticism) của Kant, rẽ ra hai nhánh, Kierkegaard hữu thần và Nietzche vô thần. Nhận ra cái hố sâu giữa hiện tượng bề ngoài và thực thể sự vật, Kierkegaard đề nghị “nhảy vào niềm tin” (leap of faith) tôn giáo, không qua trung gian của lý trí. Nietzsche, ở mặt khác, thay vì nhảy vào một Chúa không biết, thì lại tuyên bố Chúa đã chết. Kierkegaard trở thành tiền thân của chủ nghĩa hiện sinh (existentialism), và Nietzsche, tiền thân của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chúa đã chết đưa tới hàng loạt cái chết khác với chủ nghĩa hậu hiên đại, trong điều kiện mà “mọi thứ đều có thể và không có gì chắc chắn.” Thuật ngữ hậu hiện đại đã có từ trước những năm 1930, nhưng tới thập niên 1970 mới trở nên thông dụng, khởi đi từ kiến trúc, sau đó lan truyền qua giới học thuật và trở thành một hiện tượng văn hóa rộng lớn.

Các sử gia, gần như nhất trí rằng thời hiện đại bao gồm thời tiền hiện đại, hay gọi là thời kỳ Ánh sáng. Như vậy thời kỳ hiện đại bắt đầu sau thời kỳ Phục hưng và cuộc chiến tranh tôn giáo kéo dài 30 năm ở Âu châu (1618-1640). Cuộc chiến tranh đó xảy ra, trên danh nghĩa là cuộc chiến tôn giáo giữa Tin lành và Thiên chúa giáo, đã tàn phá nặng nề châu Âu, gây ra nạn đói và dịch bệnh, đồng thời khiến nhiều quốc gia châu Âu suy sụp. Tuy nhiên, thời Phục hưng, cắt đứt ý thức hệ Thiên chúa giáo Trung cổ, thay thế bằng tinh thần nhân bản, làm nền tảng cho những tiến bộ về khoa học và tư tưởng thời hiện đại, tuy rằng nó không dựng nên kiến trúc thượng tầng hiện đại. Nó nâng con người thành trung tâm nhưng không thiết lập bản ngã cá nhân như một trung tâm tự xác định của thế giới. Những nhà lý thuyết Phục hưng đi tiên phong trong phương pháp khoa học nhưng không tái tạo sự theo đuổi kiến thức phù hợp với tầm nhìn khoa học. Tinh thần Phục hưng cắt xén quyền năng của Giáo hội Thiên chúa giáo nhưng không tấn phong thẩm quyền của lý trí.

Trở lại với thời kỳ Ánh sáng, sự tiến bộ, chủ nghĩa lạc quan, lý trí, kiến thực tuyệt đối và cái thực ngã là những giá trị được gọi chung là những lý tưởng Ánh sáng (Enlightnment ideals). Những lý tưởng đó liên quan tới lý trí như nguyên tắc hướng dẫn sự tìm kiếm mọi kiến thức với niềm tin, sự tiến bộ trong phương pháp khoa học, không chỉ kiểm soát và chinh phục thiên nhiên mà còn mang lại trật tự, an toàn, sự hiểu biết về bản ngã và thế giới, thậm chí cả hạnh phúc của con người. Xây dựng trên cái nền Phục hưng, Ánh sáng đề cao cái ngã cá nhân như là trung tâm thế giới. Descartes đặt nền tảng triết học hiện đại qua chủ thuyết hoài nghi, và ông cho rằng cái ngã suy tư (thinking self) là sự thật đầu tiên mà phương pháp hoài nghi không thể phủ nhận. Newton hình dung thế giới vật lý trong đó những qui luật có thể phân biệt bởi tâm trí con người. Triết học Descartes gặp thế giới cơ học Newton mở đường cho sự bùng nổ kiến thức dưới ngọn cờ “Dự án Ánh sáng”.

Dự án Ánh sáng (Enlightenment Project) giả định rằng kiến thức thì nhất định, khách quan và tốt lành. Là nhất định, các nhà Ánh sáng đi tìm phương pháp chứng minh tính đúng đắn, thiết yếu của những học thuyết triết học, khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, và đặt nhiều khía cạnh thực tại dưới sự giám sát của lý trí. Là khách quan, họ khẳng định thế giới có thể quan sát và khảo sát từ vị trí thuận lợi bên ngoài thông lượng (dòng thay đổi) lịch sử. Là tốt lành, đưa tới chủ nghĩa lạc quan rằng tiến bộ là không thể tránh khỏi, có thể chế ngự thiên nhiên, và nâng cao quyền con người.  Phần tích cực trong cách nhìn này là sự đầu tư vào những quyền phổ quát, dẫn tới cuộc cách mạng Pháp và bản tuyên ngôn nhân quyền Mỹ. Nhưng phần tiêu cực là nhưng nhà tư tưởng Ánh sáng coi Âu châu như là phần tiến bộ và văn minh hơn hẳn những phần còn lại của thế giới, đưa đến quan điểm nguy hiểm, những quốc gia và giống dân khác có thể bị chiếm thành thuộc địa.

Đời sống nhân loại là chuỗi dài những đổi thay, và không có bất cứ định kiến nào có thể tồn tại. Những lý tưởng của thời Ánh sáng cũng phải lui vào bóng tối, và những nhà tư tưởng hậu hiện đại đưa ra những quan điểm nghịch lại: cạn kiệt (exhaustion) thay vì tiến bộ (progress), bi quan (pessimism) thay vì lạc quan (optimism), phi lý tính (irrationality) thay vì lý tính (rarionality), và phủ nhận kiến thức tuyệt đối (absolute knowledge).  Điều này ngụ ý, theo Nietzsche, thế giới được tạo thành từ những mảnh vỡ hoàn toàn khác nhau, và như thế, đời sống con người phản ảnh từ lý thuyết và sáng tạo nghệ thuật cũng phần mảnh và đứt đoạn? Những phát minh khoa học là những tìm tòi liên tục, những công trình trước là nền tảng cho những bước khám phá tiếp theo. Và sự thăng trầm của nền văn minh tùy thuộc vào những thành quả khoa học, bị chi phối bởi chính trị, kinh tế, và cách hành sử của con người đối với thiên nhiên. Vả chăng, trong thời đại phân tán thông tin đến cùng cực, ảnh hưởng của những triết thuyết đã mờ nhạt đến mức độ không còn ảnh hưởng gì nữa. Nhưng để cân bằng với một thực tại bị “giằng co giữa sự tinh xảo của phương tiện do công nghệ học mang lại, với sự nhạt nhẽo hoặc ngu dốt của nội dung mà phương tiện đó chuyển tải”, theo Alan Kirby, thì sự tìm hiểu từ căn bản những triết thuyết văn hóa lại là một điều cấp thiết.


Tham khảo

“A Primer on Postmodernism”, Paperback, William B. Eerdmans, 1996, by Stanley J. Grenz.
“Postmodernism”, Paperback, hodder headline, 1997, by Glenn Ward.
“The Death of Postmodernism And Beyond”, 2006, của Dr. Alan Kirby, Phạm Kiều Tùng dịch, tạp chí Sông Hương.


Cover Page: The reliefs are Botong’s masterpieces brought to stone and cement by local sculptors led by Charlie Anorico.
Carlito “Charlie” Bautista Anorico (sinh năm 1952) là một họa sĩ và nhà điêu khắc, đến từ thị trấn nghệ sĩ Angono, thuộc tỉnh Rizal. Là người con thứ 8 trong số 9 người con, ông Anorico là người anh chị em duy nhất chọn cuộc sống nghệ thuật, vì ông được truyền cảm hứng từ người anh hùng của quê hương mình, Nghệ sĩ hội họa quốc gia, Carlos “Botong” Francisco. Ông Anorico không theo học bất kỳ trường đào tạo chính quy nào về nghệ thuật, mà học hỏi từ nhiều bậc thầy sống trong thị trấn. Vẽ tranh từ khi còn nhỏ, ông đã trở thành thành viên của Ateliers vào năm 1975, một hiệp hội nghệ sĩ ở Angono. Ông cũng là thành viên của HIMAS (Hiệp hội nghệ sĩ và nhà điêu khắc Higante ở Angono). Mặc dù không được đào tạo chính quy, ông Anrico đã đi khắp cả nước và nước ngoài, triển lãm ở nhiều địa điểm khác nhau. Năm 2012, anh được vinh danh là GAWAD LIGAYA (Likas na Galing tại Yaman ng Angono) bởi LIGAYA, Inc và Trường Nghệ thuật Thí điểm Khu vực vào năm 2012. Anh cũng được Sangguniang Bayan của Angono khen thưởng là Công dân Xuất sắc trong lĩnh vực Nghệ thuật Thị giác trong cùng năm.

Thơ Hường Thanh 1

0

THƠ HƯỜNG THANH
__________________

 
LỬA
tiếng bước chân về của
cậu con trai hay là
tiếng trở về của ngọn
lửa “không – lửa làm gì
có âm thanh – không thể
động đậy được” ngoài tiếng
bước chân về nhà của
cậu con trai hay là
tiếng bập bùng trở về
“không, lửa không thể có
bàn chân để trở về”
sự trở về là bước
chân trở về nhà của
cậu con trai sau khi
qua bóng đêm để trở
về ngôi nhà của gia
đình cậu “không, cậu không
bao giờ đánh thức ngọn
lửa” nhưng ngọn lửa đã
đánh thức gia đình cậu
và tiếng la hét dội
ra sự hoảng loạn trở
về ngọn lửa cháy bập
bùng “không, mẹ ơi mẹ
ơi” để cuối cùng sự
trở về là những âm
thanh tỉnh thức người khi
lửa đã trở về tro.
31.7.2016
 
NHỮNG BÓ HOA
những bó hoa đặt xuống
mặt đường nơi những con
người bị đặt xuống cái
chết kìa những bó hoa
một màu sắc như nước
mắt trên Promenade
đặt xuống những tấm vải
những chiếc hộp nhỏ đặt
vào những ngọn nến cháy
nhìn kìa mấy đôi cánh
tay ai đang bế những
con người sau đó đặt
xuống giường bệnh viện trong
một ảo giác của con
búp bê bị đặt xuống
Promenade nhìn kìa
ngọn nến và rất nhiều
ngọn nến phản chiếu qua
vũng nước của một màu
sắc như những bó hoa
đặt xuống sự chia rẽ
những bó hoa “không thể
làm gì hơn” đặt xuống
những nỗi đau mất ngủ.
28.7.2016
 
CHIẾC GIỎ BÁNH TÉT
lớp nhăn nheo trên
da ông lão đội
chiếc mũ xanh nhăn
nheo vầng trán nhăn
nhầy ông ngồi thọp
xuống lề đường ông
nghĩ về đứa con
tật nguyền nằm đảo
lộn và đang khát
nước ông nghĩ phải
có chút tiền để
cứu chữa cho đứa
con tật nguyền bên
trong chiếc giỏ nhăn
nheo mà là hai
chiếc giỏ đấy những
cái bánh tét bánh
ú ngày trở đi
và ngày trở về
trở lại lui dưới
chiếc mũ nhăn nheo
và chiếc dép nhăn
nheo đứng đậy trở
nên nặng nề cho
ông lão ông nghĩ
đứa con mình phải
sống trước sự mưu
sinh của đời mình.
27.7.2016
 
DEBORAH
khi deborah – sinh
viên thực tập chứng kiến
trong căn phòng nhiều cửa
sổ là tâm hồn chính
deborah tâm hồn đã
chứng kiến lần thứ nhất
ở Brussels trước
khi về Paris hàng
ngày deborah vẫn
thường đi qua ga tàu
điện ngầm Maelbeek để
đến cơ quan hôm đó
đáng lẽ là ngày rất
vui đối với debo-
rah khi hay tin được
vào đại học Oxford
thế nhưng đó thực sự
là gáo nước lạnh de-
borah chứng kiến lần thứ
hai tâm hồn chính de-
borah trong căn phòng nhiều
cửa sổ đã bị đánh
mất cảm xúc sự ngây
thơ của deborah
chứng kiến những vô ích
đập nát buổi tối buổi
hòa nhạc chứng kiến nốt
nhạc bị ngưng ngừng lại
“Kể từ đêm định mệnh
đó” deborah đã
cảm thấy mình có nhiều
thay đổi sau khi nhìn
ra từ căn phòng nhiều
cửa sổ là những tâm
hồn khác đi vào nhiều
chiếc cửa sổ mờ sương.
25.7.2016
 
BỨC HỌA BIẾM
một người đàn ông đã có
tuổi chiêm ngưỡng một trong những
bức họa vẽ một người đàn
bà đang nằm vẽ một bức
họa có những cậu bé đang
ngồi vẽ bên trong bức họa
những cậu bé đang vẽ những
tiếng cười cho những đứa trẻ
ở ngoài charlie hebdo
những khuôn mặt của những cậu
bé hồn nhiên và tự do
trong một căn phòng giấy vẽ
lộn xộn và nghịch ngợm nhưng
khuôn mặt người đàn bà vẽ
ra những cậu bé vẽ tiếng
cười cho những đứa trẻ ở
ngoài charlie hebdo lại
khác hẳn với những khuôn mặt
cậu bé người họa sĩ vẽ
ra người đàn bà nằm vẽ
những cậu bé đang ngồi vẽ
tiếng cười đã gây ra tiếng
khóc cho người đàn ông đứng
nhìn đứng nhìn bức họa buồn.
 
PƠ MU ƠI !
người hát rong ấy gầy
gò nằm gay go bên
cạnh một con đường chính
dẫn đi về những rừng
người đang ru nhau nhau
ngủ pơ mu tên người
hát rong người nằm bên
bìa rừng bên cạnh con
người những con người đứng
mộng du mộng du làm
sao biết nghe tiếng thực
sự gay go ôi gầy
gò pơ mu người hát
rong nằm gay go cạnh
một con đường nơi dẫn
đi về những con người
mộng du mang đi nhiều
vành tai thực sự đã
bị cắt đứt đến im
lặng rồi pơ mu người
hát rong ấy cũng bị
rơi vào im lặng và
lãng quên và vì pơ
mu cuối cùng đã hát
23.7.2016
 
CÁCH CHỨC
cách chức cách chức
tồn tại lơ là
khi nguyên sinh Sơn
Trà nơi đã cách
chức nhiều niềm vui
nhìn con người các
em dân tộc kéo
nhau nhìn việc cách
chức những lơ là
người giữ niềm vui
các em dân tộc
việc cách chức cần
thiết khi nguyên sinh
Sơn Trà đã bị
mất đi mất đi
niềm vui niềm vui
của các em dân
tộc cũng là của
sự công tâm người
giữ gìn khi một
ha nguyên sinh Sơn
Trà đã tự cách
chức niềm vui để
đón nhận nhiều cơn
đau từ các vết
đứt lơ là “cách
chức, cách chức, cách
chức đi đi a”
20.7.2016
 
ĐÊM
những người thiếu ngủ người
không còn tập trung vào
đêm nữa mà tập trung
vào ngày hôm sau ý
nghĩ hoặc hành động hôm
kia những người buồn ngủ
không còn tập trung vào
suy nghĩ nữa mà lăn
đùng ra cho sự mệt
mỏi (bệnh tật) ru ngủ
những người thiếu ngủ không
còn khỏe mạnh nữa họ
gầy trơ xương xương trơ
trọi và hốc mắt ăn
đêm các cô gái không
còn tập trung vào giấc
ngủ mặc cho ngày hôm
sau và ngày hôm kia
trở thành bài ru ca
của loài cú kêu đêm …
 
NGƯỜI VÀO RỪNG
chân đi vào rừng ngày
mưa mới dứt chân bước
vào dấu vết xe qua
dấu vết xe đi trước
cũng là dấu vết những
nỗi đau bị lôi ra
có khi nỗi đau bị
bầm dập nơi nào gần
dấu vết xe qua tạo
thành con đường cho bàn
chân đi không phải là
muộn màng cho bàn chân
đi vào rừng một hình
chân chân thật đi theo
dấu vết xe đi trước
cũng là nơi nỗi đau
bị lôi ra từ đêm
tối có thể là bàn
chân mù đi qua một
bàn chân đã bị què.
18.7.2016
 
THỨC DẬY
buổi sớm N mở cửa
N để không khí ngoài
tràn vào N N hít
một hơi buổi sớm nay
N bắt đầu dậy đánh
răng mái tóc dài N
mỗi buổi sớm trước N
đều để xõa ra còn
buổi sớm này N buột
lại gọn gàng khi thức
dậy trước khi tiếng chim
kịp hót trước khi ánh
ánh bình minh đi vào
mái tóc N N bắt
đầu ngày hôm nay là
cách xóa (bỏ) những hình
dán (vẽ) trên tường phòng
N bức tường phòng N
những hôm qua đã để
xõa ra bừa bộn đến
mức không khí bị đuổi
ra khỏi những hình dán
(vẽ) các ký ức xấu
mà N nghĩ nó tốt.
17.7.2016
Cover Page: Paul Cézanne