Trang chủ Blog Trang 36

ĐỌC – DIỄN THƠ TÂN HÌNH THỨC

[⚠️ Suspicious Content] Introduce Christine Ellger, 1948 | Surrealist Fine Art Photographer
Christine Ellger http:/www.tuttartpitturasculturapoesiamusica.com;
Biển Bắc | 21.4.2015

Như chúng ta đã biết, một đặc trưng điển hình của Thơ Tân Hình Thức Việt là tính truyện/chuyện. Thế nên Thơ Tân Hình Thức Việt là một loại thơ kể truyện/chuyện và mỗi bài Thơ Tân Hình Thức Việt là một câu truyện/chuyện kể. Thông thường, chúng ta hay nói rằng kể chuyện hay đọc truyện. Như vậy Thơ Tân Hình Thức Việt là một thể thơ để kể, để đọc (!)

Văn xuôi  hay thơ ca, bất cứ thể loại nào ở cả hai lãnh vực này, đều có cách đọc của nó. Và như thế, mỗi cách đọc đều có cái khái niệm cùng định nghĩa riêng của nó. Trong văn học xưa, nay, từ mọi góc cạnh của từng sân chơi, đã có nhiều bàn luận và định nghĩa về cái ĐỌC. Theo cách phổ biến, ĐỌC được định nghĩa như sau:

  1. Phát thành tiếng, thành lời những điều đã được viết ra theo đúng trình tự, bản viết có sẵn.

  2. Nhìn vào một tập hợp kí hiệu, bản viết, bản vẽ để tiếp thu nội dung.

  3. Thấu hiểu điều không lộ ra bằng quan sát mắt nhìn vào những biểu hiện bên ngoài hiểu rõ điều gì.

  4. Thu lấy thông tin từ một thiết bị lưu trữ của máy tính (như đĩa từ, đĩa CD, v.v.).

Là một thể thơ để kể, để đọc (một câu truyện/chuyện), Thơ Tân Hình Thức Việt dĩ nhiên cũng có cách đọc riêng của nó cùng khái niệm, định nghĩa về cái đọc rất đặc thù. Trong phạm trù Thơ Tân Hình Thức Việt, ĐỌC được định nghĩa như sau:

Quan sát bản ký-hiệu, nhìn bản-viết, cất lên tiếng-lời-nói cộng với hiển thị biểu-thức-cơ-thể, với mục đích truyền đạt nội dung, tư tưởng, một hoặc cùng một lúc nhiều kỹ thuật trong bốn kỹ thuật của thể Thơ Tân Hình Thức Việt, của một điều gì đó để được tiếp nhận.

Như vậy, cái đọc của Thơ Tân Hình Thức Việt có 2 cách:

  1. Đọc trong im lặng.

  2. Đọc thành tiếng.

Khi chúng ta đọc một bài Thơ Tân Hình Thức Việt trong im lặng, lần đầu tiên, dĩ nhiên chúng ta đọc bằng mắt (thị giác). Chúng ta quan sát bài viết, thấy nó là một tập hợp của những chữ được sắp xếp theo một trình tự mang hình thức một bài thơ, một bài thơ hình thể truyền thống:

Phông Chắn Gió

Tôi dựa vào hư không
anh hỏi cô chủ hàng
cà phê có làn da
trắng mịn như sữa tươi

Khi ngả lưng vào tấm
bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà lâu nay đã
trở thành tấm phông chắn

Gió cho khách hàng đến
đây uống cà phê bó
gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng ngà ngà nhả

Khói thuốc lá vào khoảng
không không sao đâu anh
cô chủ hàng cà phê
có làn da trắng mịn

Như sữa tươi cười nói
em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống như
tất cả xung quanh đây

Và rồi chúng ta đọc trong đầu theo lối đọc quen thuộc đã thành thói quen. Thói quen đọc thơ truyền thống là ngừng lại ở mỗi hàng chữ, rồi chúng ta mong đợi những hàng chữ kế dưới sẽ có những vần điệu theo thể luật quen thuộc như lục-bát (6A-6A8B-6B-6B8C), tứ tuyệt (A-A-B-A hoặc A-B-A-B), liên hoàn (A-A B-B C-C …) hay song-thất-lục-bát (7A-7B-6B-6B8C-7C-7D-….). Nhưng Thơ Tân Hình Thức Việt là một loại thơ không vần nên chúng ta bị thất vọng trước những mong đợi ở vần điệu, khiến chúng ta bối rối khó hiểu nên chúng ta lại thử đọc lại thêm một lần. Lần này, chúng ta dõi mắt đi tìm vần điệu quen thuộc để chúng ta bắt nhịp đọc cho trôi chảy. Kỹ thuật lặp/lập lại một số cụm từ hay chữ hoặc âm-chữ trong Thơ Tân Hình Thức Việt cốt là để trợ giúp cho việc bắt nhịp này. Những lặp/lập lại trong bài-thơ-ví-dụ gồm có:

Hư-không; Chủ-hàng; Làn-da;Trắng-mịn; Sữa-tươi; Vàng-ngà; Cà-phê………

Bởi vì, có thể vẫn còn quen theo thể luật cố định của thơ truyền thống, nên cho dù chúng ta bắt được nhịp vần chứ có thể chưa bắt được nhịp điệu của bài thơ, nên chúng ta thấy nó khang khác, còn lùng bùng, trúc trắc, trục trặc. Bước kế là chúng ta buông thả đầu mối âm-ngữ (=vần điệu và con chữ) để nắm-bắt nội dung nên chúng ta thử đọc bài thơ một lèo như một bài văn xuôi. Có thể chúng ta đọc đi đọc lại thêm vài lần, hoặc chỉ một lần, chúng ta rút ra kết luận cho riêng mình về nội dung của bài thơ: à ra thế!

Như vậy, một bài Thơ Tân Hình Thức Việt khi đọc trong im lặng, đọc một mình, là một môi trường cho người đọc và người viết “gặp nhau” qua sự nối kết của nội dung, tư tưởng truyền đạt và được tiếp nhận. Ngôn ngữ đời thường, ngôn-ngữ-nói là một phương tiện tốt, gần gũi người đọc để dễ hiểu. Đọc một bài Thơ Tân Hình Thức Việt trong im lặng, chúng ta phải thay đổi cách đọc thơ như chúng ta vẫn quen cách đọc thơ truyền thống. Nghĩa là chúng ta, trước tiên, không để hình thể truyền thống của bài thơ quyết định nhịp đọc của chúng ta (nghỉ hơi, lên giọng, xuống giọng vân vân) và kế đến, không để vần điệu chi phối động cơ thúc đẩy chúng ta đọc. Thơ Tân Hình Thức Việt với ngôn ngữ đời thường, chính xác hơn là ngôn-ngữ-nói, cho dù trong im lặng hay thành tiếng, là một thể thơ để đọc từ quan điểm thực chất nội dung cùng tư tưởng, tuyệt nhiên không phải là thể thơ thị giác. Hãy để sự hiếu kỳ về nội dung, tư tưởng của bài Thơ Tân Hình Thức Việt thức thách chúng ta nắm bắt, để sự vắt dòng quyến rũ chúng ta khắc phục và những lặp/lập lại lôi cuốn chúng ta theo mạch chảy của bài thơ từ chữ đầu đến chữ cuối! Hãy đọc liền mạch:

Tôi dựa vào hư không anh hỏi cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa tươi khi ngả lưng vào tấm bia ngôi mộ vô chủ vàng ngà lâu nay đã trở thành tấm phông chắn gió cho khách hàng đến đây uống cà phê bó gối trên những chiếc đẩu nhựa vàng ngà ngà nhả khói thuốc lá vào khoảng không không sao đâu anh cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa tươi cười nói em cũng dựa vào hư không để kiếm sống như tất cả xung quanh đây

Và hãy tự đặt dấu phẩy, dấu chấm, dấu hỏi, vân vân trong bài thơ, theo suy diễn của mình. Rồi thì: à ra thế! Ra là chúng ta khi đọc bài thơ trong im lặng, một mình, chúng ta tự quyết cách đọc của mình và khống chế thế giới trí tưởng tượng của mình. Bởi vì cái hiểu ở đây rất riêng biệt, rất chủ quan. Bởi vì người viết quyết định cái viết, cách viết khi viết bài thơ chứ không quyết định cái đọc và cách đọc.

Âm thanh đọc trong tri óc, trong thế giới tưởng tượng của chúng ta thường thường được phát lên với một giọng đều đều (=đơn điệu). Đồng thời âm thanh chúng ta đọc trong im lặng cũng rất chủ quan theo lối suy diễn xây dựng trên những hình ảnh đã trải nghiệm của chúng ta. Như chúng ta biết rằng “tiếng mưa”, “tiếng gió” là một thứ tiếng, ngôn ngữ rất đời thường xuyên mọi quốc gia, mọi sắc dân, mọi chủng tộc. Bởi vì bất cứ ai trên trái đất này, bất cứ thông thạo hay không thông thạo ngôn ngữ nào, khi nghe tiếng mưa hay tiếng gió, cũng đều hiểu và biết rằng đó là mưa là gió. Tuy nhiên, khi đọc chữ “gió” hay chữ “mưa”, thì tiếng, hay âm thanh của gió, mưa có thể khác biệt giữa người này với người kia. Lý do của sự khác biệt này là cái ấn tượng về gió và mưa giữa người này và người kia khác nhau:

  • Với một người ở sa-mạc thì tiếng gió nghe vun vút, ào ào, còn người ở trong rừng cây lại nghe tiếng gió rì rào, lao xao;

  • Ở đồng nội, một người nghe tiếng gió kêu râm ri, vi vu, trong khi ở núi đồi một người nghe ra tiếng gió vi vút, hun hút;

  • Với một tâm trạng phấn khởi thì tiếng mưa rơi nghe rào rào, lộp độp;

  • Tiếng mưa sẽ tí tách, lả chả khi chúng ta nghe trong tâm trạng buồn-ngùi.

Như vậy, những (khác biệt của) ấn tượng sẽ được sáng tỏ khi được biểu hiện. Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, vốn là một câu chuyện/truyện với một nội dung/tư tưởng muốn truyền đạt, được kể qua một thể thơ không vần lồng trong nhịp điệu nào đó. Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt sẽ được tiếp nhận đúng giá trị của nó khi được truyền đạt bằng cùng một lúc qua ngôn ngữ và hành động. Ngôn ngữ, ở đây là lời kể hay là âm thanh đọc. Hành động, ở đây là biểu cảm hay là thể hiện cảm xúc. Nói một cách đơn giản: cách tốt nhất để thưởng thức một bài Thơ Tân Hình Thức Việt là đọc thành lên thành tiếng theo nhịp điệu của bài thơ với những hành động cụ thể để diễn đạt cảm xúc.

Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt có thể đọc từ 3 góc độ:

  1. Từ quan điểm của người viết;

  2. Từ quan điểm của người đọc;

  3. Từ quan điểm của người nghe.

Ở quan điểm của người viết thì thông thường là góc nhìn của người muốn truyền đạt một điều gì đó. Người viết hay đọc những gì mình viết trong im lặng với những màu sắc, âm thanh, mùi, vị, cảm giác trong trí óc chứ không bằng bất cứ một giác quan nào. Người viết trước giờ vẫn hay quen dùng ngôn-ngữ-viết, nên thường có những ngộ nhận ở mặt cảnh ngữ khi đọc. Thơ Tân Hình Thức Việt với kỹ thuật dùng ngôn ngữ đời thường, hay chính xác hơn là ngôn-ngữ-nói, xem ra là một phương tiện rất thích hợp để nối cầu giữa người viết và người đọc; giữa truyền đạt và tiếp nhận. Và sẽ khắc phục được nhiều ngộ nhận ở mặt cảnh ngữ. Tuy vậy, do không dùng những dấu chấm, phẩy, hỏi, than, vân vân, trong một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, nên sự chọn hình thể bài thơ cũng là một điều quan trọng đối với sự truyền đạt. Mà có đôi khi cũng là một cách người viết đánh đố người đọc để tạo hứng thú.

Cái hứng thú giải mã những điều người viết muốn nói lên, là quan điểm chủ yếu của người đọc khi đọc. Giải mã ở đây, là khám phá ra nội dung của bài thơ để tiếp nhận tư tưởng của người viết muốn truyền đạt. Điển hình dưới đây:

Tôi dựa vào hư không

Câu 5 chữ này của bài thơ, là câu bắt đầu của bài thơ ví dụ ở phần trên. Người đọc có thể giải mã, ít nhất, theo 2 cách:

  1. Tôi dựa vào hư không!

  2. Tôi dựa vào hư không?

Cách thứ nhất, người đọc thêm dấu chấm than (!), thì câu chữ này được hiểu là một câu tuyên bố theo nghĩa rằng tôi sống trong mơ hồ, sống không có điểm tựa, sống dựa vào những điều linh thiêng, khuất mày khuất mặt.

Cách thứ hai, người đọc thêm dấu chấm hỏi (?), câu chữ này lại được hiểu theo nghĩa một câu hỏi rằng tôi dựa vào cái gì đó (ở đây là tấm phông chắn gió) có bị hư (hại gì) không? Ở một cách hiểu khác nữa là tôi xin phép để ngồi/đứng dựa lưng vào tấm phông chắn gió.

Khi đọc trong im lặng, người đọc muốn tìm đầu mối để nắm bắt bài thơ để “tìm gặp” người viết, nối kết luồng tư tưởng của nhau. Khi đọc một bài Thơ Tân Hình Thức Việt lên thành tiếng, người đọc cởi chiếc-áo-tiếp-nhận, mặc vào chiếc áo của người truyền đạt. Qua âm thanh đọc cộng với những hành động diễn đạt cảm xúc, người đọc đóng vai trò truyền đạt nội dung, tư tưởng của bài thơ đến người nghe.

Quan điểm của người nghe là muốn tiếp nhận điều truyền đạt bằng mọi giác quan của mình. Khi một bài Thơ Tân Hình Thức Việt được đọc lên thành tiếng, có hai loại người nghe:

  1. Người đọc

  2. Người nghe

Người đọc, khi đọc lên sẽ nghe tiếng của mình, nhưng âm thanh đó bị chi phối bởi tâm trí của người đọc. Có nghĩa là, người đọc sẽ nghe âm thanh đọc một cách chủ quan; âm thanh của chính mình phát ra mà người đọc nghe được có phần khác với âm thanh mà người khác nghe được. Điều này rất đơn giản vì lẽ âm thanh phát từ miệng ra phía đằng trước, trong khi đôi tai của người đọc ở phía sau cái miệng, nên nghe âm thanh từ đằng sau nó hay nói chính xác hơn là ở trong cuống họng. Một chứng cứ về sự kiện này là khi chúng ta nghe lại tiếng của mình trong bản ghi âm/hình, chúng ta cảm thấy khác lạ và có đôi khi không nhận ra đó là tiếng của mình.

Khác với người đọc nghe âm thanh của chính mình, người nghe tiếp cận âm thanh đọc ở đằng trước, ở một góc độ khách quan. Kiểu cách đọc cùng diễn đạt ảnh hưởng đến âm thanh cùng hình ảnh muốn truyền đạt và định đoạt phần lớn những gì mà người nghe tiếp nhận. Vẫn là câu chữ của ví dụ ở phần trên:

Tôi dựa vào hư không

Nếu người đọc đọc câu chữ này với một giọng thiết tha khẩn khoản đi đôi với ánh mắt dò hỏi trong một tư thế chờ đợi (câu trả lời), thì người nghe, thấy, sẽ tiếp nhận nó là một câu hỏi. Nhưng với một giọng trầm trọng cùng với anh mắt nghiêm túc trong một tư thế bình thường, tự nhiên, thì người nghe sẽ tiếp nhận câu chữ kia như là một lời tuyên bố.

Để thưởng thức giá trị một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta cũng nên có một cách truyền đạt điển hình. Cách điển hình này, trong Thơ Tân Hình Thức Việt được gọi là Đọc-Diễn và có một quá trình như sau:

  1. Đọc bài thơ liền một mạch để nắm bắt nội dung một cách tổng thể;

  2. Sắp xếp lại bài thơ theo cách đọc của người đọc;

  3. Đọc lại bài thơ theo cách suy diễn của người đọc;

  4. Lập lại nhiều lần đọc đến khi đọc được trôi chảy nhuần nhuyễn;

  5. Tìm ra những nhịp điệu trong bài thơ, của bài thơ;

  6. Đọc lại bài thơ với nhịp điệu đã nắm bắt được;

  7. Lập lại nhiều lần đọc đến khi đọc được nhịp nhàng;

  8. Thể hiện những hành động biểu hiện cảm xúc của từng câu chữ, câu đọc;

  9. Đọc bài thơ với nhịp điệu của nó và diễn đạt cảm xúc của từng đoạn;

  10. Đọc-Diễn bài Thơ Tân Hình Thức Việt cho (nhiều) người nghe.


Như vậy, Đọc-Diễn một bài Thơ Tân Hình Thức Việt có 10 công đoạn, đòi hỏi một sự chuẩn bị nhiều tâm huyết cùng công tập dợt và đọc diễn một cách (như) chuyên nghiệp. Khi thực hành quá trình Đọc-Diễn một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, có những điều của từng bước một, chúng ta nên lưu ý để tránh rơi vào vết xe của lãnh vực nghệ thuật (văn chương) khác hoặc thể thơ khác.

  1. Như đã nêu lên ở phần đọc trong im lặng ở trên, khi đọc (lên thành tiếng) một bài Thơ Tân Hình Thức Việt để nắm bắt được nội dung và tư tưởng của nó, chúng ta nên đọc liền một mạch như một bài văn xuôi. Chúng ta không để bị chi phối bởi hình thể của bài thơ. Bởi ngộ nhận, nên có nhiều ý kiến cho rằng một bài văn xuôi sắp xếp chữ theo thể hình một bài thơ truyền thống, hẳn là một bài Thơ Tân Hình Thức Việt. Điều này hoàn toàn sai lầm, vì như đã biết, Thơ Tân Hình Thức Việt có tâm thức, ngôn ngữ, kỹ thuật cùng nội dung đặc thù riêng biệt. Mục đích của bước thứ nhất trong quá trình Đọc-Diễn là để làm nổi bật lên tính truyện/chuyện của bài Thơ Tân Hình Thức Việt, để hiểu rõ nội dung. Là từ một bài Thơ Tân Hình Thức Việt (= điểm nguồn) đọc như một bài văn xuôi (=dị dạng) chứ không phải là ngược lại. Xin xem ví dụ ở phần đọc trong im lặng.

  2. Khi chúng ta đã nắm bắt được nội dung của bài Thơ Tân Hình Thức Việt rồi, chúng ta cải biên nó thành một bài kể chuyên/truyện. Chúng ta tùy theo suy diễn câu chuyện/truyện kể, thêm dấu chấm, phẩy, hỏi, than, vân vân, để đọc cho đúng ngữ điệu, giọng lên xuống.

Phông Chắn Gió

Tôi dựa vào hư không
anh hỏi cô chủ hàng
cà phê có làn da
trắng mịn như sữa tươi

Khi ngả lưng vào tấm
bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà lâu nay đã
trở thành tấm phông chắn

Gió cho khách hàng đến
đây uống cà phê bó
gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng ngà ngà nhả

Khói thuốc lá vào khoảng
không không sao đâu anh
cô chủ hàng cà phê
có làn da trắng mịn

Như sữa tươi cười nói
em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống như
tất cả xung quanh đây

–> 

Phông Chắn Gió

“Tôi dựa vào hư không?”
Anh hỏi cô chủ hàng cà phê, có làn da trắng mịn như
sữa tươi, khi ngả lưng vào tấm bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà, lâu nay đã trở thành tấm phông chắn
gió, cho khách hàng đến đây uống cà phê, bó gối trên
những chiếc đẩu
nhựa vàng, ngà ngà nhả khói thuốc lá vào khoảng
không.

“Không sao đâu anh!”
Cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa, tươi
cười nói:
“Em cũng dựa vào hư không để kiếm sống như tất cả
xung quanh đây!”


3. Sau khi sắp lại bài Thơ Tân Hình Thức Việt theo một bài đọc, chúng ta ngắt đoạn từng câu chữ, đọc lên thành từng câu nói:

Phông Chắn Gió

“Tôi dựa vào hư không?”
Anh hỏi cô chủ hàng cà phê, có làn da trắng mịn như sữa tươi, khi ngả
lưng vào tấm bia ngôi mộ vô chủ vàng ngà, lâu nay đã trở thành tấm
phông chắn
gió, cho khách hàng đến đây uống cà phê, bó gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng, ngà ngà nhả khói thuốc lá vào khoảng không.

“Không sao đâu anh!”
Cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa, tươi cười nói:
“Em cũng dựa vào hư không để kiếm sống như tất cả xung quanh
đây!”

–>

Phông Chắn Gió

“Tôi dựa vào hư không?”
Anh hỏi cô chủ hàng cà
phê
có làn da trắng mịn
như sữa tươi
khi ngả lưng vào tấm bia
ngôi mộ vô chủ vàng
ngà lâu nay đã trở thành
tấm phông
chắn gió cho khách hàng
đến đây uống cà phê
bó gối trên những chiếc
đẩu nhựa vàng
ngà ngà nhả khói thuốc lá
vào khoảng không
“Không sao đâu anh!”
Cô chủ hàng cà phê có
làn da trắng mịn như sữa
tươi cười nói:
“Em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống
như tất cả xung quanh
đây!”


4. Rồi chúng ta đọc đi đọc lại cho trôi chảy nhuyễn nhuần hơi thở lên xuống, những chỗ cần nhấn mạnh, những chỗ cần đọc nhỏ, vân vân. Nếu cần thiết, chúng ta lại cải biên theo những khám phá mới khi đọc lên bài thơ.

5. Khi chúng ta đọc bài thơ, được chúng ta cải biên theo hơi nhịp đọc của mình, có thể chúng ta đã khám phá ra cái nhịp điệu trong bài thơ rồi. Khi chúng ta khám phá ra nhịp điệu của bài thơ, chúng ta có thể vô tình đã đọc theo nhịp điệu đó rồi. Nhưng điều quan trọng là chúng ta phải nắm bắt nhịp điệu một cách có ý thức. Lưu ý rằng chúng ta tìm nhịp điệu chứ chúng ta không tìm vần điệu! Như chúng đã biết, kỹ thuật lặp/lập lại một số câu chữ, hay âm chữ, cốt là để tạo nhịp điệu cho bài thơ. Thế nên, chúng ta chú tâm đi tìm những câu chữ hay âm chữ được lặp/lập lại trong bài thơ (coi ví dụ ở phần đọc trong im lặng ở trên). Mục đích của bước thứ năm này trong quá trình Đọc-Diễn là để nhịp nhàng điệu đọc, để làm vang lên nhạc tính của bài Thơ Tân Hình Thức Việt.  Có thể, bài Thơ Tân Hình Thức Việt được chúng ta cải biên theo nhịp điệu để đọc, mang hình thể một bài thơ Tự Do Việt, nhưng tuyệt đối không phải là bài thơ Tự Do Việt. Cho nên cách suy luận rằng, nhiều bài thơ Tự Do Việt đem xếp thành một bài thơ mang thể hình một bài thơ tuyền thống là một bài Thơ Tân Hình Thức Việt mới, là hoàn toàn không chính xác! Một bài thơ Tư Do Việt là một bài thơ Tự Do Việt không thể là một bài Thơ Tân Hình Thức Việt được. Một bài thơ của một thể khác, ví dụ thể thơ Tự Do Việt, cải biên thành thể Thơ Tân Hình Thức Việt, là giả mạo, mà ngôn ngữ đời thường hay gọi là “đồ dzỏm”, “hàng nhái”, hoặc trước kia hay nói là “đồ made in Hồng Kông, bên hông Chợ-Lớn” và bây giờ là “hàng trúng quả” (âm tiếng Hoa phổ thông Trúng Quả = Trung Quốc).

Dưới đây là ví dụ cải biên bài Thơ Tân Hình Thức Việt theo những câu chữ hay âm chữ được lặp/lập lại trong bài thơ, cho nhịp nhàng hơi nhịp đọc:

Thúy-Liên-Khúc-Điều-Chi-

Không cần nói điều
chi cả khi không còn lối
nào đi đâu đây
trong sân chơi tình yêu lâu
nay đông dân chơi
hình như không còn mới điều
chi mà đi rong
mòn mỏi tìm ra rung-động-
lòng đỏ mắt mong
mộng đồng cỏ mát dưới chân
đồi suối êm đềm
tóc em mềm duỗi bên thềm
mà thực tại thì
mệt lả và ngược lại thì
hết ngả đi đâu
đây khi lâu nay không cần
dối điều chi cả
khi mong còn lối để đi

–>

Thúy-Liên-Khúc-Điều-Chi-

Không cần nói điều chi
cả khi không còn lối nào đi
đâu đây trong sân chơi tình yêu
lâu nay đông dân chơi… hình như
không còn mới điều chi
mà đi… rong
mòn mỏi tìm ra
rung-động-lòng… đỏ mắt
mong mộng… đồng cỏ mát
dưới chân đồi
suối êm đềm
tóc em mềm
duỗi bên thềm
mà thực tại
thì mệt lả
và ngược lại
thì hết ngả
đi đâu đây
khi lâu nay
không cần dối điều chi
cả khi
mong còn lối để đi


Thúy-Liên-Khúc-Lạc-

Thế đấy rồi một
hơi mất hút đời chột đui
bị lạc trong dòng
lời vì lạc trong lòng người
ta lạc trong giấc
mơ xa lạc ngay cả trong
bài thơ này đây
mới thật mỉa mai này đây
đó bật ngửa tay
ôm vai trong truyện tranh hôm
nay anh là anh
hùng ngày mai là kẻ ác
cùng bày mưu lừa
kẻ khác là nạn nhân của
chính mình và đính
tình bằng giấc mơ hằng ước
mơ làm kẻ kể
chuyện lạc trong dòng lời lạc
trong lòng người… yêu…

–>

Thúy-Liên-Khúc-Lạc-

Thế đấy rồi một hơi
mất hút đời chột đui
bị lạc trong dòng lời
vì lạc trong lòng người
ta lạc trong giấc mơ xa
lạc ngay cả trong bài thơ này
đây mới thật mỉa mai
này đây đó bật ngửa… tay…
ôm vai trong truyện tranh
hôm nay anh là anh hùng
ngày mai là kẻ ác… cùng
bày mưu lừa kẻ khác
là nạn nhân của chính mình
và đính tình
bằng giấc mơ hằng ước mơ
làm kẻ kể chuyện
lạc trong dòng lời
lạc trong lòng người… yêu


6. Với nhịp điệu bài thơ đã nắm bắt được, chúng ta đọc lên bài Thơ Tân Hình Thức Việt nhịp nhàng như một bài nhạc. Xin lưu ý là một bài nhạc chứ không phải bài hát! Khi chúng ta đọc bài Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta để nhịp điệu của nó chi phối và dẫn dắt hơi nhịp đọc của chúng ta. Ở bước này, chúng ta cần phân định và xác định rõ ràng cái ĐỌC một bài Thơ Tân Hình Thức Việt. Là một thể thơ không vần, Thơ Tân Hình Thức Việt chú tâm vào nhịp điệu, nên khi đọc, chúng ta đọc theo nhịp điệu, chứ không theo thói quen đọc thơ truyền thống, đọc theo vần điệu. Chúng ta không đọc rỉ rả, hay ngâm, hay vịnh, tấu như chúng ta hay quen thơ vần điệu. Chúng ta cũng không cao giọng, trịnh trọng đọc xướng như đọc thơ Tự Do Việt. Là thể thơ mang tính truyện/chuyện, Thơ Tân Hình Thức Việt là một thể thơ để kể (= đọc-diễn) như là kể một câu chuyện/truyện với một giọng kể bình thường, không cầu kỳ. Ai trong chúng ta khi còn bé, không thường thì cũng thi thoảng, cũng được những người lớn kể chuyện/truyện cổ tích, huyền thoại, một ngàn lẻ một đêm, vân vân cho chúng ta nghe. Cứ thử tưởng tượng, họ kể bằng với giọng ngâm, vịnh như ngâm thơ vần điệu, hay cao giọng, trịnh trọng như thơ Tự Do Việt thì chúng ta sẽ có được những ấn tượng gì nhỉ? Truyện/chuyện Kiều thì là một trường hợp hi hữu, nhưng không ai nói là kể truyện kiều cả, mà là ngâm Kiều, vịnh Kiều, vân vân. Thậm chí là bói Kiều.

7. Từ ý thức của nhịp điệu bài Thơ Tân Hình Thức Việt, qua kỹ thuật lặp/lập lại của các câu chữ hay âm chữ, chúng ta đọc đi đọc lại bài thơ đến mức có thể đọc trong im lặng cũng như thành tiếng. Nghĩa là chúng ta để cho nhịp điệu bài thơ thấm đẫm vào vô thức, chúng ta từ vô thức, đi đến ý thức và trở về lại vô thức khi đã nhập tâm nhịp điệu của bài Thơ Tân Hình Thức Việt.

8. Khi chúng ta nắm vững từ nội dung lẫn nhịp điệu của bài thơ rồi, chúng ta bước qua từ Đọc, đến công đoạn Diễn. Ở bước này, chúng ta chú ý đến mỗi câu chữ, đoạn thơ, có những cảm xúc gì nổi lên. Nếu cần thiết, chúng ta ghi chú ở sau mỗi câu, đoạn, cái cảm xúc của câu, đoạn đó, như “giận”, “mặt hớn hở” “đăm chiêu” “tươi cười”, vân vân. Sau đó từng câu chữ chúng ta đọc lên, chúng ta tập những hạnh động biểu cảm, diễn xúc của câu chữ đó.

9. Sau khi đã tập dợt những hành động biểu cảm, diễn xúc của từng đoạn trong bài thơ, chúng ta tập đọc nhịp điệu bài thơ đi đôi với diễn xúc một cách đồng bộ. Nghĩa là chúng ta đọc trọn bài Thơ Tân Hình Thức Việt theo nhịp điệu câu chữ (verbal) của nó và đồng thời diễn những cảm xúc (non-verbal) của nó theo quy trình của bài thơ. Tập dợt nhiều lần đến khi chúng ta đọc và diễn ăn khớp một cách trơn tru.

10. Xong rồi, bạn đã sẵn sàng để Đọc-Diễn một bài Thơ Tân Hình Thức Việt! Bạn hãy đứng lên, đọc diễn cho mình, cho người khác, cho nhiều người khác bài Thơ Tân Hình Thức Việt!

Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, ở một góc độ nhất định, là một sinh hoạt văn hóa, giải trí lành mạnh, rất phù hợp diễn ra trong những buổi họp nhóm, sinh hoạt trong gia đình, sinh hoạt ở trường học, đại học hay câu lạc bộ, vân vân. Nếu thể được, cần nên có những sân khấu cho những buổi Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, được tổ chức trong tinh thần giao lưu. Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta không cần thiết phải hóa trang với những bộ trang phục và trang điểm ấn tượng để gây chú ý. Cốt lõi là nội dung, tư tưởng của bài thơ được truyền đạt qua nhịp điệu đọc cùng những hành động diễn cảm trực tiếp để bổ sung cho câu chữ, để người nghe tiếp nhận trọn vẹn nhất. Chúng ta không màu mè gượp ép!

Chúng ta đến tham-gia (participate) buổi Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta là một phần của buổi đó, chúng ta cứ là như chúng ta, chúng ta ăn mặc, đi đứng như hàng ngày chúng ta vẫn vậy. Một người quen mặc veston, thì mặc veston, người quen mặc quần jeans, thì mặc quần jeans. Chúng ta là những người viết, người đọc và người nghe cùng một lúc.

Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, từ viết, đến đọc-diễn và nghe-thấy là một cuộc Trải-Cảm:

  • Người viết, khi viết trải cảm giác ra trên câu chữ, thành nội dung của một câu truyện/chuyện kể để truyền đạt tư tưởng;

  • Người đọc-diễn, qua quá trình đọc-diễn, trải nghiệm những cảm giác được người viết trải ra, tiếp nhận chúng. Rồi khi đọc-diễn lại truyền tải, truyền đạt nội dung, tư tưởng đến người nghe-thấy;

  • Người nghe-thấy trải lòng ra với những điều mà người đọc-diễn muốn truyền dạt để cảm nhận những cảm giác. Và theo sự tiếp nhận của mình, người nghe-thấy có thể phản ánh lại, truyền đạt lại những điều tiếp nhận được đến người viết để rút tỉa;

  • Người viết, có thể lúc đầu viết theo góc độ người viết, nên có thể điều muốn truyền đạt được tiếp nhận từ quan điểm của người đọc-diễn đến người nghe-thấy, khác đi. Khi tiếp nhận phản ánh từ người đọc-diễn và người nghe-thấy, người viết có thể khám phá những điều khi mình viết chưa nhìn ra để thấy rằng một bài thơ rất đa chiều.

Với một nền kỹ thuật truyền thông tuyệt vời của thời nay, thì vấn đề liên lạc giữa người viết, người đọc-diễn và người nghe-thấy với nhau, ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình truyền đạt và tiếp nhận, đã chẳng còn là vấn đề gì cả! Tìm gặp nhau để liên lạc trao đổi, chỉ là chuyện của một vài cái kích (nút) chuột hoặc vài ba cái vuốt màn hình.

Một bài thơ, khi từ trong tư tưởng của người viết được hình thành câu chữ trên trang giấy, nó đã chết. Khi từ nơi bài viết đi vào trong tâm trí người đọc (trong im lặng), bài thơ lại chết thêm lần nữa. Rồi xuyên qua quá trình Đọc-Diễn, bài thơ cũng lại chết thêm một lần kế. Vừa đến lúc người nghe-thấy tiếp nhận nó, bài thơ lại chết đi thêm một lần. Chỉ đến khi điều phản ánh được tiếp nhận bởi người viết, do người đọc-diễn hoặc/và người nghe-thấy truyền đạt, bài thơ được tái sinh, hay nói chính xác hơn là được đầu thai. Một trong những mặt cảm thức của Thơ Tân Hình Thức Việt là sự nối kết được lồng trong yếu tố tính truyện/chuyện của thể thơ này. Sự nối kết này được thể hiện rõ nét qua cuộc Trải-Cảm, từ lúc bài thơ sinh ra, chết đi nhiều lần và tái sinh. “Biết” thơ và “Yêu” thơ không còn được biểu thị qua việc thuộc làu thơ nữa. Việc đọc vanh vách thơ không cần nữa, việc đọc-diễn thơ ngoạn mục cũng không cần nữa, vì bài thơ đã chết đi và đã đầu thai rồi. Chỉ còn tư tưởng đọng lại! Duy nhất!

(giữa 2, không 15) | http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c326/n19348/Doc-Dien-Tho-Tan-Hinh-Thuc-Viet.html

Paper Cover: Introduce Christine Ellger, 1948 | Surrealist Fine Art Photographer
http://www.tuttartpitturasculturapoesiamusica.com/2016_02_01_archive.html

XÂU CHUỖI THƠ: NGƯỜI VỢ TRẺ

Paper cover: Scotland-based artist and Star Wars buff David Hamilton (aka wintersixfour) decided to merge classical paintings and the characters from his beloved saga together Interesting fact: Christina here was a real person who suffered from polio and lived near Wyeth; hence she would drag herself around. | https://www.demilked.com/classical-paintings-art-history-star-wars-david-hamilton/
Paper cover: Scotland-based artist and Star Wars buff David Hamilton (aka wintersixfour) decided to merge classical paintings and the characters from his beloved saga together Interesting fact: Christina here was a real person who suffered from polio and lived near Wyeth; hence she would drag herself around. | https://www.demilked.com/classical-paintings-art-history-star-wars-david-hamilton/
Hường Thanh

THƠ DẠI

người mẹ non dại khi
đứa con thơ sinh ra
đầu đời đứa con thơ
sinh ra người mẹ trẻ
sau cơn giao hoan người
đàn bà thơ dại nghĩ
về mùi tình yêu mình
vào người đàn ông cho
đến khi đứa con thơ
sinh ra người đàn bà
(công nhân quét rác) quét
qua cuộc đời nhiều chuyện
tan rã trong đêm trông
thấy đứa con ai nằm
thơ dại bên trong chiếc
thùng rác im im bên
những chiếc lá không còn
non dại vì đã khô
trong một ngày tan rã
rồi.


NGƯỜI VỢ

hắn đánh người vợ trẻ ngất
xỉu như một hành vi với
cái cây trồng sau vườn nhà
hắn người vợ trẻ ngày bỏ
qua thì cái cây cũng thẳng
trở lại trở về giường chăm
non đứa bé mới mười tám
ngày tuổi hắn lại đi tới
hắn đánh người vợ trẻ vì
người vợ không cho hắn “vui
vẻ” đứa bé mới sinh ra
làm sao người vợ trẻ trở
lại lạc thú hắn điên lên
cơn điên dại làm hắn dập
chết cái cây non mới mười
tám ngày tuổi của hắn cái
cây quá nhỏ làm sao thẳng
lên một ngày sau chỉ còn
người vợ trẻ nằm giường ám
ảnh về cái cây sau vườn.


BÀO THAI

chứng nghẽn mạch máu của scarlett
sẽ đi qua mạch máu của người
mẹ các bác sĩ không thể làm
cách nào khác và nỗi đau đi
qua nỗi đau lúc trở về nhà
scarlett bước ra nhà tắm rồi
vào bếp cùng người yêu người mẹ
đến bên ôm con gái trước khi
vào phòng khách thì đột nhiên từ
phòng bếp đi qua phòng khách là
tiếng kêu của bức tranh Scream
bị rơi nằm nền nhà tiếng kêu
đi qua tiếng thét cô gái scar-
lett ngã xuống vì chứng nghẽn mạch
máu các bác sĩ không thể nào
cứu được bào thai trong bụng bởi
không thể đi qua có thể phép
màu và các bác sĩ đành phải
đưa bào thai ngược trở về tử
cung của người mẹ trẻ đã chết.

14.6.2016

Paper cover: Scotland-based artist and Star Wars buff David Hamilton (aka wintersixfour) decided to merge classical paintings and the characters from his beloved saga together
Interesting fact: Christina here was a real person who suffered from polio and lived near Wyeth; hence she would drag herself around.
http://www.demilked.com/classical-paintings-art-history-star-wars-david-hamilton/

TUẦN THƠ 55: NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ CÁI LÒ GẠCH

”Brick Worker” by Moksumul Haque, Bangladesh. Regional Winner, South Asia. A private enterprise worker is working at a brick field. Small businesses create new jobs for many poor people.
”Brick Worker” by Moksumul Haque, Bangladesh. Regional Winner, South Asia. A private enterprise worker is working at a brick field. Small businesses create new jobs for many poor people.
XÂU CHUỖI THƠ
Nguyễn Văn Vũ

MÙA LỬA

những người phụ nữ no bùn
đến từ đồng lúa còn trơ gốc rạ
còng lưng kéo những chiếc xe
cọc cà cọc cạch như trâu cày và
những người phụ nữ no lửa
bấm ngón chân trên tháp gạch chông chênh
cong lưng tựa vào cửa lò
than ngàn độ C rừng rực lửa và
những người phụ nữ no nắng
mặt đỏ như vỏ cua chuyền nhau viên
gạch đỏ như vỏ cua lên
chiếc xe cà tàng cà tàng chạy và
những người phụ nữ no hơi
đứng hỏng chân như không trọng lực vì
cả ngày no bùn no lửa
no nắng hết mẹ ca lo ri rồi
cứ như thế ngày nọ qua
ngày kia những người phụ nữ no nê
những nỗi nhục nhằn chồng chất
lên cuộc đời chai cứng như viên gạch
chai cứng dưới chân lò nung
một ngàn độ C không sợ mưa không
sợ nắng như nụ cười sau
tấm khăn che mặt ló ra lạ lùng
lấp lánh giọt mồ hôi câu
chuyện đời ngặt nghẻo cơn gió chiều vô
tư thổi qua lò lửa hun
hút câu chuyện đời vùi trong ánh lửa …


MÙA GẶT

chị đang nghĩ gì trên con đường
trở về với đồng lúa chín vàng
những con sáo trâu cũng bay về
đậu xuống bãi cỏ nghiêng mắt nhìn
chị chị nhìn con sáo trâu ngẩn
ngơ ấy chị biết chắc là nó
lại nhớ rất nhớ đàn trâu già
sống hết đời trâu đã hóa kiếp
để lại cánh đồng cho những người
phụ nữ đến mùa gặt lại trở
về trở về từ cái lò gạch
rừng rực một ngàn độ C rồi
hết mùa gặt lại ra đi để
lại cánh đồng trơ gốc rạ cho
bầy sáo trâu bầy sáo trâu với
cánh đồng bát ngát nắng gió có
lúc cũng gợi cho chị những ước
mơ về một nơi nào xa xa
chói chang ánh đèn màu rầm rập
xe cộ và tiếng lao xao trong
quán rượu những quán rượu tai ác
giơ ra nắm đấm điên khùng đánh
gục người đàn ông chắc nịch như
trâu thành con sâu gặm rách cuộc
đời chị cuộc đời của những đứa
trẻ lớn lên bên người cha chạm
chập không còn nhận ra lối đi
đi ra cánh đồng hay lối về
về cái lò gạch thân thương cái
lò gạch rừng rực một ngàn độ
C ôm lấy chị níu chị về
sống chết với những giọt mồ hôi …


MÙA LŨ

chị nhìn đàn cò trắng
về rải ra những vạt
chiều trắng trên cánh đồng
nước nổi cơn gió bấc
quạt tắt ngọn lửa rừng
rực một ngàn độ C
lụi tàn cánh cửa lò
khép lại sau lưng chị
người phụ nữ quay mặt
tránh gió thở dài đống
tro nguội dần thở dài
nỗi đằng đẳng mưa mưa
những ngày mưa vùi mặt
trong góc nhà ám khói
mà nhớ lửa nhớ nắng
nhớ gió nhớ câu chuyện
đời không kể xiết mà
kể sao xiết câu chuyện
đời rách như miếng giẻ
rách không thể lau khô
giọt nước mắt lăn thầm
trong bóng đêm như tấm
phên che chắn đời khổ
để không nhìn thấy đời
khổ sau tấm phên che
những ước mơ những ước
mơ ngập tràn mưa lũ
ngập tràn ngày tháng dìm
chết cuộc tình dìm chết
người đàn ông chắc nịch
của chị thành đồ bỏ
đi bỏ đi mà sao
không bỏ vào lò lửa
ngàn độ C để cùng
chị nung những viên gạch
đỏ như vỏ cua cùng
chị còng lưng kéo chiếc
xe cọc cà cọc cạch
chở lửa chở nắng chở
gió đi hết cuộc đời …

Tháng 6 . 2016

Paper Cover: ”Brick Worker” by Moksumul Haque, Bangladesh. Regional Winner, South Asia. A private enterprise worker is working at a brick field. Small businesses create new jobs for many poor people.

PHỎNG VẤN ĐỖ QUYÊN: TOÀN CẦU HÓA LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH KHẢ ÁI

PHỎNG VẤN ĐỖ QUYÊN
TOÀN CẦU HÓA LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH KHẢ ÁI

 

Lời Tòa Soạn: Văn hóa, văn học nghệ thuật của một quốc gia dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay không chỉ tồn tại trong phạm vi biên giới quốc gia mà còn có mặt ở nhiều nơi trên thế giới với những đặc điểm, những con đường đi ra, và trở về, khác nhau bởi các điều kiện địa chính trị/kinh tế/xã hội/văn hóa khác nhau. Văn hóa, văn học  nghệ thuật Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó. Nhân dịp có tham luận  tham dự Hội thảo quốc gia “Thế hệ nhà văn sau 1975” tổ chức tại Hà nội, nhà thơ Đỗ Quyên, hiện sinh sống và sáng tác ở Canada, đã nhận lời mời làm khách của VHNA.

Phan Thắng:Chào anh, cảm ơn anh đã nhận lời làm khách của Văn hóa Nghệ An. Thú thật, lúc mới nghe danh, tôi cứ tưởng Đỗ Quyên là nữ thi sỹ. Tôi không biết bút danh này là định mệnh văn chương của anh hay chính vì con đường văn chương của anh mà có cái danh rất nữ tính này?

Đỗ Quyên:Có lẽ cả hai. Cũng khối chuyện buồn vui quanh đó. Buồn, vì nó tôi nhận phận làm chim Đỗ Quyên. Như truyền thuyết vua Đỗ Vũ nước Thục thời Chiến Quốc, bị hóa thành chim cuốc kêu than, nhớ nhung quê hương khi phiêu bạt đất khách. Vui, vì nó dẫn tới sự bé cái nhầm của các chàng các ông, từ độc giả đến văn hữu mà nhiều nhất là các nhà nam biên tập. Hihi…

Dạo còn trong nước và sang Liên Xô/Nga, đã đam mê viết lách rồi nhưng tài tử, tôi dùng khi tên thật lúc bút danh loạn cào cào. Đến Đức, bài thơ đầu tiên mang bút danh mới là cốt gửi đến mẹ tôi để xin phép “cải danh”. “Đỗ Quyên con chọn để làm tên/Bên những dòng thơ đẫm ruột mềm/Hè đó, một chiều… Con lạc bước/Quê người lối khác rẽ sang bên…”

Phan Thắng:Đã từng là giảng viên vật lý hạt nhân ở Đại học Bách khoa Hà Nội, không hiểu can cớ vì sao anh lại từ bỏ con đường khoa học đó để đến với văn chương?

Đỗ Quyên:Với đa phần người xa xứ; không kể những người xa xứ một cách bình thường và may mắn; thì tam đại sự (sự nghiệp, tài sản, gia đình) thường được/bị thay đổi vô cùng bất ngờ. Nếu không muốn bảo là… lộn tùng phèo – theo quan niệm trong trường phái Đảo ngược / Upsidedownism của họa sĩ Nguyễn Đại Giang bên Mỹ.

Với riêng tôi, đó là thay đổi không tốt; không thành công nơi xứ người. Do không đủ tài năng để vừa theo đuổi làm vật lý hạt nhân – một loại nghề vốn rất khó, vừa làm văn chương báo chí – một nghiệp vốn rất nặng). Nhại lối phát ngôn gây sốc mấy ngày qua bởi đại diện doanh nghiệp Formosa họ Chu tên Phàm: “Chọn đi: muốn bắt cá, tôm hay là muốn xây cái nhà máy thép hiện đại!”. Một người làm đối ngoại như thế, cư xử kiểu nhị nguyên 0-1 là sai lè lè. Còn với những người viết văn tự đẩy mìnhxuống tàu/ embarquement (như quan niệm nhà văn dấn thân của triết gia J.P. Sartre), tôi nghĩ mình không sai nhiều lắm khi chọn thơ văn trên bãi cát hành trình viễn xứ.

Phan Thắng:Anh thực sự sống với văn chương, nói cách khác là làm văn chương, hoạt động văn chương chuyên nghiệp từ khi ra nước ngoài. Sự hấp dẫn của văn chương hay là tình thế của cuộc đời mà có sự gắn bó này?

Đỗ Quyên:Sự mê hoặc bởi văn chương là chính, là tiềm năng; tình thế đổi đời là phụ, là môi trường.

Như bao con dân Việt có một đất nước thơ che chở, tôi sinh ra trong một gia đình yêu chuộng văn học. Hồi bé 7 anh chị em nhà tôi đều phải viết nhật ký. Kỷ luật thép: hàng ngày; không viết là ăn cơm muối, nặng hơn thì ăn đòn; viết bằng thơ được miễn 3 ngày. Có lẽ cha mẹ tôi – như đa số đấng sinh thành trên đời – không muốn con cái lấy văn nghệ làm nghề kiếm sống. Ông nội tôi là lương y, cha mẹ, chú cậu tôi đều hành nghề y dược. Chị cả tôi đã vào đại học Y rồi, các cụ chưa yên tâm, ép anh trai cả tôi để rồi anh tự ý đổi hồ sơ sang trường Tổng hợp khoa Toán, và đi bộ đội về lại hứng chí chuyển qua khoa Văn khiến song thân thêm một phen điên đầu!

Nếu vẫn ngon lành với nghề vật lý hạt nhân tại Việt Nam, hoặc ngoài này, thì chắc tôi vẫn viết, viết phong lưu là đằng khác. Nhưng nhiều đề tài và cách viết sẽ khó có được, hoặc có thì theo kiểu khác, khi mà đời tôi suôn sẻ.

Phan Thắng:Theo tôi biết, anh từng sinh sống và làm việc ở nhiều nước, từ Liên Xô/Nga, Đức đến Úc, Canada….; lại từng làm báo nữa. Chắc anh đã có nhiều sự quan tâm và quan sát tìm hiểu về sự hiện diện, sự tồn tại của văn hóa Việt Nam nói chung và văn chương nghệ thuật nói riêng ở nước ngoài. Anh có thể cho chúng tôi biết những nhận xét của mình về sự tồn tại ngoài biên giới quốc gia của văn hóa, văn chương dân tộc Việt Nam?

Đỗ Quyên:Tôi cứ nghĩ, là đại phúc với bất cứ quốc gia nào khi ở ngoài biên cương xuất hiện, phát triển một dòng nhánh văn hóa, kéo theo là văn chương dân tộc. Đại phúc cho quốc gia đó (gọi là quốc gia thứ nhất). Song có là hồng phúc cho quốc gia thứ hai, nói rộng là cho phần thế giới còn lại, hay không tùy mục đích lan truyền văn hóa.

Về quốc gia thứ hai: Việt Nam với một ngàn năm Bắc thuộc là một ví dụ cực tồi theo quan niệm trên. Việt Nam qua một trăm năm Pháp thuộc, từ lâu vẫn là ví dụ tồi, và vài năm nay với cách nhìn thoang thoáng, có ý kiến bảo chỉ là hơi hơi tồi!? Nhưng văn hóa Anh và việc ra đời và phát triển của nước Mỹ hơn 200 năm lại là một ví dụ khác.

Có thể nói, văn hóa Việt ở ngoài Tổ quốc hình thành từ rất lâu. Còn văn học Việt ở ngoài nước, chỉ sau 30/4/1975, nó mới thật sự được coi là một thực thể văn học, bằng việc ra đời và phát triển nhanh của một cộng đồng mang tên hoàn toàn mới về nội hàm người-Việt-hải-ngoại, dù từ chữ vẫn cũ: người-Việt, hải-ngoại. Tất nhiên, cũng phải nói rằng, trước đó ở Pháp chẳng hạn cũng đã có sự hiện diện của  văn học Việt Nam, tuy rằng chưa đủ mạnh để được xác định là một thực thể.

Phan Thắng:Anh có rút ra các đặc điểm gì không về sự hiện diện, tồn tại của đời sống văn hóa Việt ở các nước mà anh biết?

Đỗ Quyên:Đặc điểm thì chỉ có một. Thế mà lại rất khác nhau về cách giải thích, dẫn chứng. Đúng là chuyện coi voi. Tất cả là bởi chính kiến. Ví dụ nóng hổi: tác giả Nguyễn Thanh Việt với tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm Tình Viên) vừa đoạt giải thưởng danh giá Mỹ Pulitzer năm nay.

Tôi sẽ nêu 5 đặc điểm của sinh hoạt văn hóa Việt đương đại ở ngoài nước.

Một, khi tiềm tàng lúc hiển lộ ý thức chính trị gần như chi phối các sinh hoạt chính của văn hóa cộng đồng qua tương quan miền Nam – miền Bắc, Công giáo – Phật giáo… Chưa hy vọng nhiều đặc điểm này mất đi, hoặc thay đổi theo hướng tốt, trong mươi năm tới.

Hai, bản chất bảo thủ bản sắc Việt tính khá rõ và chắc. Ngay ở các gia đình, cá nhân hội nhập nhất – “Mỹ nhất”, “Tây nhất” – thì bản sắc Việt tính vẫn ẩn hiện.

Ba, ngày càng hội nhập tốt đời sống văn hóa bản xứ, tuy không thể đứng vị trí hàng đầu.

Bốn, ngày càng lưu thông, dù giao lưu vẫn chưa thật dễ dàng với tất cả những gì mà văn hóa Việt trong nước đang sở hữu.

Năm, đây như một cái kho duy nhất có thể lưu giữ một số Việt tính mà văn hóa Việt nguồn, tức là trong nước, đã mất đi, mờ nhạt trong dòng thời gian.

Phan Thắng:Cụ thể hơn, anh hãy nói cho chúng tôi biết về sinh hoạt văn học của người Việt Nam ở những nước mà anh sinh sống, Canada chẳng hạn?

Đỗ Quyên:Cần nhắc đến tác giả của những bài tổng quan, giới thiệu đáng chú ý về văn chương tiếng Việt ở ngoài nước. Trong nước: Hoàng Ngọc Hiến, Huệ Chi, Lê Hoài Nguyên, Phạm Xuân Nguyên… Ngoài nước: Võ Phiến, Mai Kim Ngọc, Đặng Tiến, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Thụy Khuê, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Hưng Quốc, Trần Vũ… Nước ngoài: Anatoli Soloklov…

Từ sau 1975 sinh hoạt văn học Việt ngoài nước có 3 đặc điểm lớn. Thứ nhất, về nguồn gốc, và không kể ở các nước Đông Âu, Liên Xô cũ, đó là kết quả từ dòng chảy tiếp văn chương miền Nam trước 1975; Thứ hai, về mục đích, viết để giải tỏa bức xúc, trăn trở về thời cuộc, nhất là về chính trị , rõ hơn cả ở những cây bút xuất xứ từ chính quyền VNCH cũ; gần đây là về bảo toàn lãnh thổ. Các tác giả viết vì lý do văn chương ngày càng tăng; Thứ ba, về cảm hứng, theo ý thức tự do và cá nhân.

Trong 10 năm qua dòng văn học này mang hình dáng rất đổi khác. Tác động của văn học tới đời sống tinh thần người Việt tại đây không còn như trước. Lượng và chất của công chúng độc giả và tác giả đến từ trong nước tăng mạnh, dường như trở thành nguồn nuôi chính.

Tính phân tán là điều dễ thấy nhất của văn chương Việt ngoài nước hiện nay; nói theo ngôn ngữ hậu hiện đại là giải trung tâm.

Về địa – văn hóa: Tính chất của một nền “văn học lưu vong” giảm, ít nhất qua bề mặt, số lượng tác phẩm và tác giả và nhường chỗ cho sự trưởng thành nền “văn học di dân”. Hoa Kỳ không còn là trung tâm văn hóa đọc của người Việt hải ngoại.

Về nội dung: Không còn giới hạn ở 3 đề tài điển hình (nhớ quê hương , phận ly hương; nối dài văn học miền Nam; thích nghi, hội nhập) mà tất cả hòa vào nhau rồi được cộng thêm một số đề tài mới, tới mức khó định danh đề tài chính như trước; trừ đề tài muôn thuở là tình yêu. Rõ nhất là sự liên đề tài với các vấn đề nóng hổi Việt Nam: quan hệ Việt-Trung, biển Đông, đất đai, Ngày 30/4…

Về phong cách: cũng rất đa dạng. Sự đồng hành độc lập, ôn hòa của cả chục phong cách.

Về triển vọng: Bi quan về hiện tượng lão hóa của văn học Việt hải ngoại đang giảm, internet và tính nóng bỏng của tình hình nước nhà đã thành hai tác động chính.

Đây là các đóa hoa, cành lá dễ nhận diện trong hơn 20 năm qua trên nhánh văn chương Việt nơi Đất lạnh tình nồng – Canada.

Báo chí, nhà xuất bản: Ðất Việt, Làng Văn, Nắng Mới, Trăm Con, Người Việt Hải Ngoại, Việt Thường, Truyền Thông… Tác giả: Nam Dao, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trang Châu, Vân Hải, Song Thao, Hoàng Chính, Hồ Ðình Nghiêm, Hạnh Nguyên… (Văn); Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn, Phan Ni Tấn, Bắc Phong, Lâm Hảo Dũng, Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Nguyễn Ðức Tùng, Ðỗ Quyên, Trân Sa, Lưu Diệu Vân… (Thơ); Lê Hữu Mục, Đỗ Khánh Hoan, Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Tiến Văn, Nguyễn Ước, Hà Vũ Trọng… (Khảo cứu, dịch thuật); Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Vy-Khanh… (Phê bình, lý luận); Phạm Hữu Trác, Việt Phong, Hải Triều, Lương Châu Phước, Nguyễn Hữu Nghĩa, Tư Ðồ Tuệ, Trịnh Ðộ… (Nhà báo).

Phan Thắng:Anh có nhận xét gì về đội ngũ các nhà văn, giới nghiên cứu khoa học xã hội, văn hóa, văn học ở những nước mà anh biết?

Đỗ Quyên:Tôi nói qua về giai đoạn hiện tại. Thú vị nhất, khác với cộng đồng chung, giới làm văn học, văn hóa ở đây khi cư xử khá giống nhau giữa các quốc gia. Nhiều năm qua ảnh hưởng chính trị giảm đi nhiều; ở một số báo chí, diễn đàn gần như không hiển lộ như trước. Tất nhiên ngầm bên trong vẫn khá mạnh. Giới văn nghệ sĩ chúng tôi có vẻ lớn khôn nhiều, đã biết nhìn nhau mà chơi, mà viết. Rất nhiều năm rồi, tôi chưa biết một xì-căng-đan nào đáng kể như thời hoàng kim của văn nghệ hải ngoại 1985-1995/2000.

Về phong trào, không còn phong phú như trước. Các diễn đàn chính chỉ còn các báo mạng, như Da Màu, Diễn Đàn Thế Kỷ, Gió-O, Thơ tân hình thức Việt (Mỹ), Tiền Vệ (Úc), Diễn Đàn (Pháp), Người Bạn Đường (Nga)… Tờ báo giấy văn học, văn hóa đáng kể còn lại có lẽ là Khởi Hành (Mỹ)?

Về thế hệ, chưa thấy nhiều tác giả mới ở tuổi 8X-9X. Nổi và mạnh nhất là cánh 6X-7X và vài bạn 8X. Văn: Phạm Thị Hoài, Lê Thị Thấm Vân, Lê Minh Hà, Thuận, Nguyễn Thị Hải Hà, Trần Vũ, Đặng Thơ Thơ, Hiệu Constant, Lưu Thủy Hương, Hoàng Ngọc Thư…; Thơ: Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, Thận Nhiên, Đinh Trường Chinh, Lê Đình Nhất Lang, Nguyễn Hoàng Nam, Lưu Diệu Vân, Khánh Phương, Như Quỳnh de Prelle, Đỗ Lê Anhdao, Phan Quỳnh Trâm…; Phê bình, biên khảo: Đoàn Cầm Thi, Đinh Từ Bích Thúy, Trịnh Thanh Thủy… Cũng như văn chương trong nước, giới nữ lấn át về số lượng.

Về địa lý: nhiều vị chuyển hẳn bàn văn về quê nhà (Thái Kim Lan, Nguyễn Tiến Văn) hoặc về trong các tháng năm cuối cùng mà vẫn hành nghề (Tạ Chí Đại Trường – vừa mất, rồi cũng không ít vị quay lại quốc gia định cư. Riêng giới nghiên cứu văn học, khoa học xã hội, thập niên qua tăng trưởng rất mạnh, phần lớn nhờ lớp người đến từ Việt Nam học tập rồi định cư.

Phan Thắng:Sự giao lưu, ảnh hưởng từ văn học của chúng ta tới văn học sở tại như thế nào?

Đỗ Quyên:Có thể mạnh nhất là ở Úc và Séc. Ở Mỹ, rõ ràng là hùng mạnh hơn tất cả các nước gộp lại. Nhưng cái nước đó tôi thấy quá là mênh mang, khó hiểu. Văn học hải ngoại bằng tiếng Việt là thiểu số không mạnh, nếu có ảnh hưởng thì ở điểm, không thể nào ở diện. Dường như tới nay, Nguyễn Thanh Việt là điểm son nhất mà văn giới gốc Việt đã vẽ trên bảng giá trị văn chương Mỹ, dù chàng vẽ bằng tiếng Mỹ, chưa bằng tiếng Việt! Cũng có thể nói thế với nước Pháp và Linda Lê.

Phan Thắng:Ngoài một số người mà anh vừa nhắc đến, có nhiều người Việt viết văn bằng tiếng nước ngoài không? Và có nhiều tác phẩm văn học Việt được dịch sang tiếng của các nước sở tại?

Đỗ Quyên:Chắc có đến trên dưới 30 nhà văn gốc Việt viết bằng tiếng ngoại quốc tạo được ít nhiều tên tuổi. Linda Lê là nhà văn có tác phẩm mang nội dung và phong cách ít dính dáng đến vấn đề Việt Nam nhất. Việt Nam ở nữ tiểu thuyết gia ấy chỉ là cảm hứng, không là mục đích. Khác hẳn đa số các đồng nghiệp đồng “cố hương” ở Mỹ, Canada, Úc như Monique Trương, Lan Cao, Nguyễn Quí Đức, Nguyễn Thanh Việt, Kim Thúy, Kiên Nguyễn, Nam Lê… Còn có hai nhà văn viết tiếng Pháp, Anh khá nổi danh từ lâu là Kim Lefèvre và Andrew Pham.

Một số tay bút song ngữ Việt-Mỹ, Việt-Pháp mà tiếng Việt là chính, đã có tác phẩm từ các tạp chí, nhà sách uy tín như Đỗ Kh., Nguyễn Tiên Hoàng, Đinh Linh…Với sáng tác tiếng Việt được dịch sang tiếng các nước sở tại để vinh danh, tôi chỉ biết thơ Du Tử Lê.

Phan Thắng:Thực trạng và khả năng quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài như thế nào, theo anh?

Đỗ Quyên:Điều này tôi được biết hầu hết là từ báo chí, bạn bè trong nước, nên xin không dẫn lại. Cũng có vài nhận xét riêng, nhưng có lẽ xin khất lần sau.

Phan Thắng:Theo quan sát và nhận định của anh thì văn học, các sinh hoạt văn chương, văn hóa đã có những đóng góp gì cho quá trình hòa hợp, hòa giải dân tộc?

Đỗ Quyên:Chúng ta vào “vùng nhậy cảm” nhất của cộng đồng Việt ở đây, mà văn học, văn hóa dễ trở thành trường văn trận bút! Để an toàn người ta thường ngại, nói khác sự thật, dối lòng. Tôi dành những đêm vừa qua để nghĩ sao hiệu quả. Trao đổi chân thành cùng anh, dù chưa đầy đủ như ý.

Là một trong các yếu tố quan trọng nhất của hoạt động tinh thần xã hội và đất nước trước và sau chiến tranh, lãnh vực văn chương, văn hóa đã không thể vắng mặt bằng ảnh hưởng đối ngẫu của mình cho công cuộc hòa hợp, hòa giải dân tộc. Ngôn ngữ nhà binh gọi là vũ khí không tiếng súng, là con dao hai lưỡi. Còn các nhà vật lý thì bảo chúng có tác dụng lực và phản lực. Đây, những bài thơ làm hai con tim chụm lại; kia, những câu ca khiến tay phải chém tay trái…

Tiến trình hòa hợp, hòa giải dân tộc Việt Nam hiện nay ở giai đoạn mà các bên liên đới đã có khá đủ các thông tin về nhau, về cuộc chiến, về thời đại; và nhất là có nhiều chia sẻ, cộng tác sau thời gian dài “đắc nhân tâm” chờ đợi, cảm thông…

Và đang là khoảng thời gian thúc tiến hoặc xô lùi quá trình, các bên đều cần thẳng thắn và có thái độ nghiêm túc để cùng hướng tới sự hòa hợp. Về văn nghệ, theo tôi cần tôn trọng xu thế văn nghệ, văn hóa mang tinh thần và khuynh hướng “không quốc nội không hải ngoại” như các tạp chí, báo mạng Diễn Đàn, Hợp Lưu, Trăm Con, Talawas ở giai đoạn trước.

Phan Thắng:Anh có thể cho dẫn chứng về vai trò quan trọng của văn học, văn hóa trong công việc này?

Đỗ Quyên: Xin minh họa bằng 1 tác phẩm, 1 tạp chí, 1 sự kiện và 2 tác giả quen thuộc trong làng văn nghệ, văn hóa ngoài này và với cả phạm vi không nhỏ của văn giới quê nhà.

Năm 1990, tuyển tập Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương ra đời như một trái bom chữ nghĩa và quan điểm nổ giữa trung tâm tỵ nạn hải ngoại là quận Cam, Nam California, và sang chấn khắp thế giới Việt ngoài nước. “Đọc và viết về 79 tác giả trong nước” của “cao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam”, cuốn sách của ”27 tác giả ngoài nước” đến từ hầu khắp các quốc gia lớn với nhiều chính kiến khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, dày tới 800 trang khổ to (mà các đoạn vừa dẫn là tiêu đề trang bìa 1 và bìa 4). Những dịp qua bên đó, khi gặp các chính chủ của cuốn sách, như Nhật Tiến, Đỗ Hữu Tài, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, Thân Trọng Mẫn, Lê Bi, Hoàng Khởi Phong, Phan Tấn Hải… tôi hay tra vấn họ về những gì trong-ngoài một ấn phẩm văn chương hiếm về thể loại, đẹp về nhân tình và lạ về thời cuộc đến thế!

Năm 1991 và khởi từ phần lớn các tác giả cuốn sách, Tạp chí Hợp Lưu với họa sĩ – nhà văn Khánh Trường trong vai chủ biên đã hiện diện cũng tại chính trung tâm tỵ nạn Việt trên xứ Mỹ.

Về sự kiện, trào lưu văn học. Kể từ mùa xuân năm 2000 đến mùa xuân này, cũng tại trung điểm của văn chương Việt hải ngoại là Quận Cam, nhóm thơ Tân hình thức Việt đã gây tiếng vang đáng kể từ ngoài nước rồi nhanh chóng lan vào trong nước. Từng lôi kéo được ngót trăm nhà thơ, nhà phê bình, dịch giả toàn cầu, kể cả người ngoại quốc, vào cuộc thử nghiệm ngôn ngữ Việt, thơ Tân hình thức Việt, với Tạp chí Thơ là diễn đàn, chỉ là một khuynh hướng văn nghệ thuần túy, phi chính trị. Vậy mà cái nhóm thơ rời rạc về tổ chức ấy bằng tinh thần muốn cải tạo tận gốc thơ ca dân tộc, trên thực tế đã hồn nhiên ghé đôi vai mảnh mai vào sứ mệnh hòa hợp hòa giải của cả đất nước.

Kể từ sau 1975, khác với nhóm văn sĩ phản chiến từ Trung Tâm William Joiner Centre, Đại Học UMASS (Mỹ), do nhà thơ Kevin Bowen làm Giám đốc và nhà thơ Nguyễn Bá Chung làm Điều hành, người Việt hậu chiến chưa biết một nhóm văn học nào của chính người Việt có thể tập tụ được nhiều loại tác giả ở nhiều quá khứ khác nhau cùng làm một công tác văn học như thế! Tạp chí Sông Hương ở Huế với Tổng biên tập – nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc đã làm con thuyền trung chuyển dòng thơ lạ lẫm, có phần kỳ quặc này, làm cho nó giao lưu hai bờ đại dương trước khi vượt ngăn cách giữa hai bờ sông Bến Hải với các lớp tác giả và khó hơn cả là với độc giả, dư luận cùng giới quản lý văn nghệ.

Phan Thắng:Văn hóa, văn học Việt Nam ở nước ngoài cần sự tiếp sức như thế nào từ trong nước?

Đỗ Quyên:Theo tôi, với quan hệ trong – ngoài một quốc gia, khác với kinh tế, khoa học… văn học, hơn nữa là văn hóa, không cần hỗ trợ. Bởi đó là các hoạt động tinh thần tự giác và tự do của từng cá nhân hướng về cộng đồng. Cái cần thì lại ở ngoài tầm với của văn học, văn hóa. Không gì khác, ấy là chính trị. Một khi sự lưu thông, giao lưu, hợp lưu trong – ngoài dễ như trở bàn tay, tất cả sẽ đến. Mà điều đó, theo tôi là đã bắt đầu có rồi đó. Những đại sự bao giờ cũng cần tự giác và tự do.

Phan Thắng:Anh có đề xuất, kiến nghị gì không với tư cách là một người hoạt động văn hóa, văn học ở nước ngoài về vấn đề này?

Đỗ Quyên:Như từng trả lời phỏng vấn của nhà văn – nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập mươi năm trước, là một người viết, tôi chỉ nên thưa thốt với bạn đọc. Với bạn đọc trong nước bình thường, tôi mong hãy là những độc giả chân chính. Với bạn đọc trong nước cũng là người viết, tôi đâu thể nói gì. Với bạn đọc trong nước là người quản lý, lãnh đạo văn nghệ, văn hóa, tôi thực sự mong muốn những đối thoại này, cùng những sáng tác ở ngoài nước có thể tới đông đảo người đọc trong nước. Nếu những bức tường, tấm vách đã có tai – như trong thành ngữ dân gian – thì các lời thơ, câu văn cũng phải có lưỡi, có tâm tư của chúng. Chắc chắn, phải có…

Phan Thắng:Quan sát và nhận xét, nhận định của anh về Toàn cầu hóa về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa, một cái nhìn của một người Việt Nam từ ngoài nước?

Đỗ Quyên:Dùng lại ý tưởng của Joseph Brodsky – một người Nga lưu vong ở Mỹ, thi sỹ đoạt giải Nobel – về sự thay đổi vai trò ngôn ngữ nơi xứ người, tôi thấy trong công cuộc toàn cầu hóa, bản sắc văn hóa dân tộc ở các quốc gia đang phát triển “trước kia là thanh kiếm, nay trở thành cái mộc”.

Dẫu ở thế bị động, khi mà chỉ nhóm G-7 mới có thể chủ động, với Việt Nam và người Việt khắp nơi, Toàn cầu hóa vẫn là một định mệnh khả ái. Không nên, vì không thể, cưỡng lại!

Cho tôi được dẫn lại đoạn kết từ bài “Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay” của một trong các nhà Việt Nam học uy tín và quen thuộc là A.A. Sokolov, PGS-TS sử học tại Viện Hàn lâm khoa học Nga:

“Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế và văn hoá vốn càng ngày càng có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phải góp phần thúc đẩy việc bắc những nhịp cầu vững chắc giữa văn học ở trong nước và văn học ở ngoài nước, mà điều đó đến lượt nó, sẽ xúc tiến quá trình phục hồi sự công bằng lịch sử – đưa trả các nhà văn Việt Nam và những tác phẩm của họ ở hải ngoại về lại Tổ quốc lịch sử của mình.”

Phan Thắng: Cảm ơn anh đã làm khách của VHNA và đã dành cho chúng tôi một cuộc trao đổi thú vị.

Paper Cover: Albanian-born artist Agim Sulaj at the North Wall Art

http://beforeitsnews.com/alternative/2013/02/oxford-art-exhibition-the-north-wall-agim-sulaj-2567138.html

COLUMBIA RUNS A TEMPERATURE / COLUMBIA LÊN CƠN SỐT

Frederick Turner

COLUMBIA RUNS A TEMPERATURE 

Those monster-states that held the world in fear,
Sloughing the dead nations they had sucked dry,
Have found a place to lay their eggs in: here.
And now I am so weak that I could cry.

I am defeated.  All my strength was spent
Wrestling in darkness with their nine-faced lie;
And when their wall and blood-drenched battlement
Had fallen, then I thought my work was done,
And I once more could seek enlightenment;
And take the old path of the evening sun
Along the forest-edge, the meadow-mazes,
To where I knew the river had to run.
But now I see the sickness in their faces,
The cold envy of any sexual gift,
The shamed self-righteous screaming of the races;
My body’s torn with each new-fangled rift,
Chiefly within the head, that is its school,
Where the disease is feverish and swift.

This land’s the body, and I am the soul.
I am sent here to fill the hills with nerves,
To take the pulse of every molecule.
My people are those quick electric nerves:
They are my ganglia and sensorium.
It is the flesh that cries, the god that serves.
Yeats feared that innocence was drowned, and some
Thought him an old fussbudget to complain:
The rough beast, as he said it would, did come.
The best lack all conviction, now as then.
My poets cower and will not tell the truth.
Within my guts the beast has grown again.

I will remember the fresh strength of my youth,
When I struck through the snows of Germany,
And dared the monster’s claw, the monster’s tooth,
And laid the chambers bare for all to see,
And in the cold air of the soldier’s myth,
Made history a work of poetry.


(Bản dịch dành tặng các bạn thanh niên Việt Nam trước hiểm họa xâm lăng. Ngày 20 tháng 6 – 2011, KI)

Columbia Lên Cơn Sốt

Những nhà nước phát xít đã kiềm hãm thế giới
Trong sợ hãi, vứt bỏ những đất nước tê liệt
Sau khi đã bòn rút cạn kiệt, chúng tìm được
Một nơi để gieo mầm: ở đây: Và bây giờ
Tôi quá yếu khiến khóc được. Tôi bị đánh bại.

Mọi sức lực của tôi đã hao tổn do phải
Vật lộn trong bóng tối với khả năng dối trá
Lớn lao của chúng; và khi bức tường thành và
Những chiến trường đẫm máu sụp đổ, thì lúc đó
Tôi nghĩ rằng việc của tôi đã xong, và thêm
Một lần nữa tôi có thể tìm thấy ánh sáng
Khai minh; và tôi đi trên con đường xưa dưới
Nắng chiều dọc theo bìa rừng, dọc theo những mảng
Cỏ, tới một nơi tôi biết dòng sông phải chảy.
Nhưng giờ đây tôi nhìn ra sự đau yếu trên
Khuôn mặt của chúng, bản năng sinh tồn giữa áp
Chế và lẽ tự nhiên, sự kêu gào tự thị
Đáng xấu hổ của những chủng lọai;

Thân xác tôi bị xé ra với từng phân hóa
Mới phát sinh, chủ yếu bên trong đầu, đó là
Môi trường, nơi bệnh tật lây lan và cấp tính.
Miền đất này là thân xác và tôi là linh
Hồn. Tôi được gửi tới đây để làm đầy thân
Thể với cảm xúc, để bắt nhịp đập của mỗi
Phân tử. Dân tộc tôi là những sợi thần kinh
Nhạy bén đó: Họ là trung khu thần kinh và
Là cảm quan của tôi. Chính là xác thịt đang
Kêu đòi, là thần linh phụng sự. Nhà thơ Yeats
Sợ rằng sự vô tội đã tiêu trầm và vài
Người nghĩ ông là một ông già hay càm ràm
Khi kêu than: Thú dữ hung tàn, như ông nói,
Đã tới. Những người tốt nhất mất đi mọi niềm
Xác tín, bao giờ cũng vậy. Những nhà thơ của
Tôi co rúm lại và sẽ không nói sự thật.

Bên trong tôi con thú dữ lại một lần lớn
Dậy. Tôi sẽ nhớ lại sức mạnh tươi rói của
Thời trai trẻ, khi tôi chiến đấu khó khăn trong
Tuyết ở Đức, và dám đương đầu móng vuốt và
Răng nanh của lòai quái vật, và lột trần sự
Thật về những nhà nước tồi tệ cho mọi người
Thấy, và trong không khí lạnh của huyền thọai ngừơi
Chiến binh, biến lịch sử thành một tác phẩm thơ.

Translated into Vietnamese by Khế Iêm | Tạp chí Sông Hương | 26/08/2011

Chú thích

“Columbia” là District of Columbia, một thành phố ở Mỹ, tiểu bang Washington, thường được viết là Washington DC, để ám chỉ, thành phố không ở trong tiểu bang mà ở trong nước Mỹ, và có thể ở trong một cái gì đó, một khu vực mà chúng ta đặt tên là Columbia, liên hệ tới Chistopher Columbus, người khám phá ra châu Mỹ.

“Columbia” cũng là một cái tên ái quốc xưa kia để chỉ nước Mỹ, tương tự như chúng ta nói “America” hay “Uncle Sam” (Chú Sam) ngày nay.

“monster-states” (những nhà nước phát xít) trích dẫn từ nhà thơ Hungary, Attila Jószef, trong bài thơ “A Welcome to Thomas Mann.”, nói về chế độ của  Hitler, Đức.

 “ở đây:” là ở Mỹ.

Tôi (I): là lòai người.

The cold envy of any sexual gift,
Bản năng sinh tồn giữa áp chế và lẽ tự nhiên,

Nếu dịch theo nghĩa đen thì nghĩa như sau: “Lòng ghen ghét ghẻ lạnh đối với bất kỳ quan hệ tính dục dễ dãi nào.”

Nhưng qua email trao đổi với tác giả thì nghĩa rất rộng: Chữ “gift” có thể là quà tặng, có thể là tài năng thiên phú (của một nghệ sĩ), có thể là một “cảm hứng thơ”. Ở đây, tác giả muốn đề cập tới những hệ tư tưởng về tính dục, tính dục đồng tính, tính dục không sinh con đẻ cái tấn công tính dục bình thường và tự nhiên về quan hệ nam nữ cùng với những hệ tư tưởng chính trị đã tạo nên những vấn đề cho nước Mỹ. Tác giả cho rằng người dịch có thể dịch nghĩa câu này theo rất nhiều cách khác nhau.

Bài thơ trích trong tập thơ “Hadean Eclogues”, bản thảo do tác giả gửi tặng.

Frederick Turner là một học giả, một nhà thơ tiền phong Mỹ, một trong những người sáng lập hai phong trào thơ tân hình thức và thơ mở rộng, tác giả tiểu luận “Chủ Nghĩa Kinh Điển Mới Và văn Hóa”, do Tạp Chí Thơ tuyển chọn và giới thiệu (Nguyễn Tiến Văn dịch) lần đầu tiên trên số 24, mùa Xuân 2003, và là một bài tiểu luận được nhiều bạn đọc Việt Nam ưa thích.

Prehistoric Cave Paintings
http://www.touropia.com/prehistoric-cave-paintings/

TUẦN THƠ 53: LẶNG LẼ

Vương Ngọc Minh

LẶNG LẼ

tôi đang ngó ngang vì
ngỡ vướng vào một mạng
nhện chữ trong vô thức
nhưng thực ra không đúng
chữ trong vô thức không
hề là một mạng nhện
chúng nằm xếp đặt có
thứ tự lớp lang mặc
dù các lớp lang giờ
đã cũ kĩ thú thực
bao lâu rồi tôi cứ
ngồi ngồi đến độ không
buồn đứng dậy động đậy
thì chuyện chồm tới dù
chỉ để nhặt tuổi tên
lên lau chùi là không
hề và như mọi khi
như mọi khi tôi vẫn
tự hỏi “mà tại sao
phải đứng dậy chồm tới?
tại sao kêu con chữ
mà không kêu thằng chữ!”
tôi đang tự hỏi rằng
tại sao lại ngỡ vướng
vào một mạng nhện chữ
trong vô thức và đồng
thời cảm thấy là mình
sắp sửa sầu khổ thì
đột nhiên vụt đứng dậy
một hành động hoàn toàn
mang tính tự phát tôi
đứng im lặng nhìn thẳng
vào các mặt chữ và
như vậy tôi đứng im
lặng nhìn các mặt chữ
hằng mấy tiếng đồng hồ
rốt cùng vì chỉ muốn
lắng nghe ý nghĩ câu
“con cá sống nhờ nước!”
tôi tách từng chữ ra
cầm lên lau chùi cho
tới láng lẩy cho đến
khi đấy rồi thực kì
dị tôi cứ tiếp tục
tự hỏi “tại sao kêu
con chữ mà không kêu
thằng chữ – nhỉ!”


BIỂN CẠN CỢT

tôi hỏi con chim bói cá
mày có thấy tao ở đây
hôm qua nó đáp hôm qua
chả có đám mây nào ở
đây hết mẹ rượt cái cọc
nhọn tôi nói hừm có lẽ
nào mày quên rồi ư nó
đáp suýt nữa tôi té nhào
lộn cổ từ cái cọc nhọn
đấy tôi hỏi lại gằn từng
chữ mày có thấy tao ở
đây hôm qua con chim bói
cá ra vẻ nghĩ ngợi nó
đáp hôm qua anh có muốn
như vậy đâu anh mơ thì
có mẹ rượt cái cọc nhọn
tôi nói có lẽ nào mày
quên rồi ư nó đáp có
một thằng điên cắm cái cọc
nhọn kêu tôi đứng trên đó
suýt nữa tôi té nhào lộn
cổ tôi đưa mắt nhìn con
chim bói cá hỏi gằn từng
chữ hôm qua mày có thấy
tao ở đây ra vẻ nghĩ
ngợi con chim bói cá đáp
hôm qua có cái gì đáng
để nhớ lại chứ suýt nữa
tôi té nhào lộn cổ từ
cái cọc nhọn đấy tôi đảo
mắt nhìn quanh mẹ rượt
cái cọc nhọn con chim bói
cá cứ chực đổ nhào tôi
nói mày chưa bao giờ chú
ý đến điều gì cả cuộc
đời có bao giờ hết chuyện
chứ tốt hơn mày trả lời
tao là mày có thấy tao
ở đây nghĩa là trên đời
này hôm qua con chim bói
cá hết còn ra vẻ nghĩ
ngợi nó lưỡng lự đáp tôi
đã nhìn lên đầu thấy mây
nhiều vô kể có phải hôm
qua anh là mây suýt nữa
tôi té nhào lộn cổ đấy!


NGỒI BÊN ĐƯỜNG CHỜ MỘT NGỪƠI

đang thở dài thườn thượt
tôi nghĩ mình chả chú
ý hoặc chú tâm đến
gì nhưng tôi lầm bởi
tôi có phải người ở
tận đâu đâu đâu và
tất nhiên sau khi thở
dài thườn thượt có thể
tôi sẽ thở hổn hển
và nghĩ là mình không
chú ý hoặc chú tâm
đến gì nhưng thực ra
tôi đã lầm hết sức
trầm trọng hai mắt tôi
có thể lòi bất cứ
lúc nào bởi đơn giản
tôi có phải người ở
tận đâu đâu đâu đường
có phải của riêng ai
mọi thứ trên đời cũng
phù phiếm à không rồi
cũng trời đất và giờ
đây tôi chẳng còn mấy
tin tưởng vào chính sự
chú tâm của mình nữa
sắc sắc không không việc
thở dài thườn thượt hay
thở hổn hển cũng hết
còn ý nghĩa cho dẫu
sau đó tôi có đi
hết sai lầm này tới
sai lầm khác!


BÀI CHO BUỔI SÁNG

... và, hoài phương

Khi ánh ngày ùa thơ
vào phòng tôi vẫn chưa
có quyết định đúng hơn
chả rõ ràng  mục đích
gì sất cứ nằm đảo
mắt ngó từ góc phải
căn buồng sang góc trái
căn buồng ngó góc trên
cùng căn buồng xuống dưới
chân căn buồng ý nghĩ
nảy ra chỉ duy nhất
một ý nghĩ là tránh
ngó bốn vách buồng và
làm sao để đừng ngó
cái trần buồng rõ ràng
thơ sống với tôi mỗi
ngày chung chạ với các
vách buồng chẳng nhất thời
chút nào sất vòng hai
tay gối dưới gáy tôi
tập trung vào hai con
người một bằng xương bằng
thịt một người như ảo
như thực hết sức thơ
mộng nhưng quái (! ) ánh mắt
lại đảo ngó từ góc
trái căn buồng sang góc
phải căn buồng đoạn ngó
từ phía dưới chân căn
buồng lên phía trên cùng
căn buồng quái (!) phát nhận
ra rằng tôi đã không
hề ngó một cách thực
sự ngó bất kì gì
kể từ lúc ánh ngày
ùa thơ vào căn phòng
để đó một người như
ảo như thực hết sức
thơ mộng cùng các miếng
buồng – vách!


CHỮ HIẾU

mỗi lần bị tôi cấu
mông i rằng thực thần
sầu thị kêu tôi “đồ
già dịch!” quả tình tôi
không hiểu trong ba chữ
“đồ già dịch!” có hàm
chứa thêm nghĩa gì khác
tuy nhiên thấy thị cứ
đứng im thở dốc tất
nhiên sau lưng thị không
tài nào tôi có thể
đứng im cho đến khi
trong đầu tôi lóe lên
một ý tưởng và trong
lòng thị lóe lên niềm
thương cảm vâng niềm thương
cảm vô bờ bến chúng
tôi ngồi xuống phần tôi
từ đó thực thần sầu
cứ mặc kệ cho thị
liền miệng kêu “đồ già
dịch … đồ già dịch!” tôi
chỉ việc dò sao cho
đúng mạch câu chuyện – là
được!


ÔI!

với ta đàn bà hừm
phải gợi cảm bạo liệt
phải dữ dằn ngày tối
luôn mở miệng thở nói
nhỏ nhẹ “em sẽ mang
tương lai hạnh phúc lại
cho người” được vậy ngày
tối hả họng táp táp
ta sống đúng kiểu “con
cá sống nhờ nước” đàn
bà với ta hừm! phải
giảo quyệt đậm son phấn
không vớ vẩn luôn mở
miệng thở ngày tối thỏ
thẻ “tới đây kề bên
em sẽ đem tương lai
hạnh phúc lại cho người”
được thế ta rũ hết
những mùa đau đeo bám
từ địa ngục ngoi lên
cứ thế sống đời sống
cực hùng dũng tên tuổi
ta (om!) đại đa số
quần chúng hiện vẫn còn
khá xa lạ ngày tối
họ suy đoán tuổi đời
ta quá quắt chỉ dạng
u năm mươi đương giữa
chợ chơi tới chết thở
nói đúng nghĩa của từ
tự do hoàn toàn (chuyện
bao lâu nay ngày tối
đã chẳng màng tới quá
khứ kịch liệt thì sá
chi tương lai sống với
một đời sống thuần – con
cá sống nhờ nước!) bố
khỉ.


HỒI NÀY ƯA KHÓC CƯỜI LÃNG NHÁCH

cứ giấc 12 giờ
quí vị (thánh thần) cầm
ống kiếng vạn hoa lên
lắc độ vài chục lần
đoạn kê tai sẽ nghe
tiếng bấc tiếng chì của
chính tôi ở trỏng vang
ra còn giả như quí
vị (thánh thần) dám chui
vô trong sẽ thấy tôi
tự động ép xác vào
vạn hoa và khi đã
ở hẳn trong ống kiếng
sống đời quí  vị (thánh
thần) cứ tự tiện đứng
hay nằm ngồi tùy thích
nhưng nói trước việc đầu
tiên quí vị (thánh thần)
phải chặt bớt tay bớt
chân bẻ bớt răng (quên
mình đi) ăn nói thực
nhỏ nhẹ sao cho giống
lũ vạn hoa chả cần
giống tôi bởi không phải
trông nồi trông hướng nên
không việc gì quí vị
(thánh thần) sợ làm kinh
động bọn ảo giác ác
hoa còn muốn sống đời
đời trong ống kiếng vạn
hoa như tôi đã sống
bao năm qua quí vị
(thánh thần) nhớ luôn tâm
niệm đám trí nhớ chẳng
khác thứ kẻ thù truyền
kiếp (hồi tưởng về quá
vãng sẽ khiến người ta
sầu khổ) giả như có
thể bóp nát trí nhớ
thì bóp hệt bóp bánh
tráng nhá! phần tôi o –
kay tự nguyện nhắm lúc
nào ép xác vào vạn
hoa lúc nào không hòng
cho quí vị (thánh thần)
được tự do tự tung
tự tác từ bây giờ
trở đi chuyện công/ tư
của quí vị (thánh thần)
có dễ chịu chả dễ
chịu phải ráng làm sao
giết tôi chết!


ĐÔI CO

tôi không biết chuyện gì
sẽ xảy ra giữa tôi
và cái ngáp vặt của
chú sóc nhỏ nhưng rõ
ràng khi đó tôi thấy
một vạt nắng bóng bẩy
đổ lên mối sầu tôi
đìu hiu bao năm ròng chú
sóc nhỏ thì câm nín
chả nói làm gì nhưng
phần tôi tôi phải nói
không sẽ quên mất bị
vì giữa tôi và cái
ngáp vặt của chú sóc
nhỏ chả biết chuyện gì
sẽ xảy ra tôi muốn
nói do sự câm nín
của chú sóc nhỏ cũng
chả phải nói làm gì
phần tôi tôi phải nói
chao ôi không sẽ quên
mất trước mắt tôi khi
đấy một vạt nắng bóng
bẩy đổ lên mối sầu
tôi bao năm ròng nom
thực đìu hiu!


CHUYỆN

trong thâm tâm tôi (dân
chơi) vẫn luôn ao ước
ra đời hễ nom thấy
cô nào làm thơ thường
trực thì kiếm cách làm
cho cô ta có một
đứa con gặp trăm cô
làm trăm con (dứt khoát
không để có kiểu – năm
mươi con lên núi/ năm
mươi con xuống biển) cứ
tưởng tượng nội việc đứa
trẻ lớn khôn trong mỗi
ý nghĩ thơ của một
người mẹ làm thơ thường
trực niềm ao ước trong
thâm tâm tôi (dân chơi)
như được hun đúc lớn
thêm ra đời hễ nom
thấy cô nào làm thơ
một cách thường trực lập
tức niềm ao ước làm
cho cô ta có một
đứa con trổi dậy mạnh
mẽ nghĩa là tôi rất
muốn kiếm cách làm cho
cô ta có một đứa
con chao ôi tưởng tượng
mỗi đứa con chúng lớn
khôn nơi mỗi ý nghĩ
thơ của người mẹ làm
thơ một cách thường trực
thì tôi thấy cùng lắm
ngày/ tối chúng thơ thơ
thẩn thẩn cỡ tôi là
cùng!


SỰ ĐA CẢM

Còn biết phải làm gì chứ!
Tôi rất ham muốn gần gũi
Xác thịt với cô ta mỗi
Lần cô ta ghé chơi tôi
Mừng phát điên lên chuyện ham
Muốn gần gũi xác thịt với
Cô ta đã như một nhu
Cầu khao khát ngay lập tức
Được lên giường với cô ta
Khiến không sao chờ đợi – dẫu
Chỉ khoảnh khắc! nhưng thử nghĩ
Mỗi lần ghé chơi cô ta
Muốn phải xem tivi một
Chút – thư giản một chút – làm
Quen chỗ tôi trọ (cũ kĩ)
Một chút – thậm chí cô ta
Còn muốn tôi chạy ra chợ
Mua bao gạo – chai nước mắm
Ghé hàng quán gần đấy một
Chút – nếu có thể tạt vô
museums xem tranh! quả tình
Có lẽ – do cô quạnh quá
Lâu ngày tôi nghe theo chạy
Hộc tốc ra chợ mua bao
Gạo- mua chai nước mắm thậm
Chí còn tạt vô museums
Xem tranh! thú thực – làm tốt
Những sự việc như thế vẫn
Không sao giập tắt nổi chuyện
Ham muốn gần gũi xác thịt
Với cô ta phải nói tôi
Đã hồ hỡi hoàn thành dẫu
Mỗi việc một chút nhưng hết
Sức mau chóng vẻ vang và
Vội vã trở lui lại phòng
Trọ – giời ạ! tới nơi trăm
Bận như một cô ta ngủ
Khì – trên tay luôn nắm chắc
Tờ giấy  viết sẵn dòng chữ
“Để cho em ngủ một chút
Nhá!” tôi còn biết phải làm
Gì chứ!


MƯỜI PHÚT

Nghĩ. để mọi chuyện êm
thắm. nhưng. không giống bao
kẻ. với các lí lẽ
riêng. tôi chèn chữ chật
Cổ họng. chả ai đâu
gánh được nỗi khổ riêng
của ai. vậy rồi. tôi
chẳng cách chi ngậm họng
Nổi. thôi. để mọi chuyện
êm thắm. không giống như
bao người khác. tôi lèn
chữ. đã thành câu. đại
Khái: trăm năm trong cõi
người ta. chữ tài chữ
mệnh khéo là ghét nhau*
sâu xuống đóc họng. hòng
Đếch phải suy tính nọ.
kia. vì. nói cho cùng
ai đâu gánh được nỗi
khổ riêng của ai. vậy
Rồi. tôi nói. liên tu
bất tận (!) lạ một điều.
giọng nói giờ ngập màu.
sắc. cùng với tuyền những
Lí lẽ riêng.

*kiều, nguyễn du.

SÁNG THỨ TƯ

sáng nay trong đầu
giai điệu “ballet
suite từ – the nut –
cracker”của tchai –
kovsky cứ dợn
qua/ lại vào buổi
sáng nay như những
ngày này thiệt – tôi
chỉ việc ăn không
ngồi rồi! và vì
sự ăn không ngồi
rồi hắn đã khiến
cho thân – tâm luôn
cảm thấy tưng– một
cách hưng phấn hết
sức. đừng ai nói
việc ăn không ngồi
rồi sẽ không có
cửa cho hạng – kẻ
như tôi nghen. vào
những ngày này phải
như buổi sáng nay
khi mà giai điệu
“ballet suite từ –
the nutcracker”
của tchaikovsky
cứ dợn qua/ lại
trong đầu khiến tưng
hết sức – thiệt! chỉ
muốn ăn không ngồi
rồi miết – anh iêm
ạ!


THÁNG MƯỜI MỘT SURPRISE

tôi thức khá sớm ngày
nào cũng vậy sáng nay
ngồi đối diện bóng mình
dáng bóng chả khác khúc
đường cái trong đầu tôi
hiện nhiều ổ bánh mì
nổi trôi hình hài mỗi
ổ bánh mì dài khác
nhau mà quả chỉ mỗi
cái bóng biết tường tận
mỗi ổ bánh mì hình
hài dài tới đâu thôi
trong khi còn đương xác
định hình hài ổ bánh
mì nào dài còn vẹn
nguyên sống được nhờ ấp
tuyền hơi hướm đời thường
thì cái bóng luôn miệng
thúc giục tôi mỗi ngày
đắp bồi hừng đông vừa
rạng sao cho em luôn
đỏ da thắm thịt hãy
gánh lấy mối sầu kiếp
nạn lẫn nỗi đau đáu
em trông vời  ôi chao
hình hài mỗi ổ bánh
mì dài một cách cực
mang mang giả mà
thật thật mà hệt cổ
tích những ngày đầu tháng
mười một dẫu thức khá
sớm mỗi ngày tôi vẫn
hàm ơn em chuỗi tiếng
cười luôn lấp lánh từng
ổ bánh mì thịt nguội
thế nào rồi cũng rời
đây còn xuống phố tôi
không quên xách cái bóng
theo cùng với mày mặt
tươi tỉnh thơ tình ra
thơ tình nửa ổ bánh
mì vẫn chỉ nửa ổ
bánh mì nửa sự thật
không thể nào sự thật
vậy nhá! ở đây vẫn
chỉ riêng mỗi bóng biết
được hình hài mỗi ổ
bánh mì dài tới đâu
thôi!


 Page cover: Alex Alemany 1943 ~ Hyperrealist / Symbolist painter

XÂU CHUỖI THƠ: CHUYỆN TÌNH NGƯỜI BÁN VÉ SỐ

0
Negritude Painting, "La Jungla" by Cuban-born Afro-Chinese Painter Wilfredo Lam
Negritude Painting, "La Jungla" by Cuban-born Afro-Chinese Painter Wilfredo Lam

XÂU CHUỖI THƠ


CHUYỆN TÌNH NGƯỜI BÁN VÉ SỐ
ĐI DÉP BẰNG BÀN TAY TRÁI


Nguyễn Văn Vũ

ĐỜI BỤI

lếch thếch trên những con đường
đầy xe đầy người đầy bụi
người bán vé số thoát ra
từ cuộc chiến cuối thế kỷ
hai mươi đi dép bằng bàn
tay trái lắc qua lắc về
như con lắc mất trọng tâm
chân cẳng để lại đâu rồi
giữa rừng sâu giữa khe suối
ai nào biết được sáng ra
lết đi lết đi chiều tối
lết về lết về người bán
vé số đi dép bằng bàn
tay trái loay xoay như trái
bóng xì hơi lăn vào ngõ
cụt nương tựa vào bóng đêm
nghe bầy muỗi hát ca rồi
lăn đi lăn đi vào ngày
qua ngày đêm qua đêm lăn
đi lăn đi vào những tháng
những năm tăm tối trên chiếc
dép mang bằng bàn tay trái
và bàn tay còn lại thì
cong queo cong queo những tờ
vé số ế ẩm ngày mưa …


HỒI ỨC

chiều nay anh lết qua con đường
kỷ niệm của mối tình đẹp như
mơ bay giữa mùa xuân thứ hai
mươi cuộc đời lết qua cái mùa
xuân mở ra cánh cửa số phận
đưa anh rời xa cuộc hẹn hò
tóc bồng áo lụa rồi lết vào
cuộc đời áo lính giày da lết
vào cơn mê chìm nghỉm ba lô
súng đạn anh nhớ lại hình bóng
người anh yêu níu anh chao nghiêng
giữa bóng chiều níu anh quay ngược
về phía có mẹ anh có người
yêu anh đứng ngồi không yên ngóng
chờ tin anh từ vùng khói lửa
mịt mù đã xô anh lộn nhào
vào cánh cửa số phận dễ dàng
như sấp ngửa bàn tay dễ dàng
như ngọn đèn phụt tắt trước gió
đó là một buổi chiều không khác
gì những buổi chiều khác trong rừng
sâu không có tiếng cú kêu ma
không có tiếng tà hót giật mình
nhưng thần chết đã chớp mắt đưa
ngang lưỡi hái cắt vụn núi rừng
cắt vụn hơi thở của đám bạn
bè anh trộn xác vào đống ba
lô súng đạn không biết tai họa
nào ơn phước nào đã dành cho
anh sự sống với cái xác không
chân với mái đầu không mẹ khi
mẹ anh không còn gượng lên được
nữa vào cái ngày tin dữ đưa
về và người yêu anh … em ơi
chiều nay anh lết qua con đường
kỷ niệm của mối tình đẹp như
mơ bay giữa mùa xuân thứ hai
mươi cuộc đời anh đang lăn đi
lăn đi vào bóng tối như trái
bóng xì hơi lăn vào ngõ cụt…


SỐ PHẬN

Làm sao em có thể đứng vững được
dưới bầu trời không có mái che của
thượng đế một buổi chiều không khác gì
những buổi chiều khác giữa cái xóm nhỏ
xôn xao chuyện mất còn người mẹ khổ
đau nhận tin dữ gục xuống bên thềm
để không bao giờ nhìn thấy một lần
đứa con trai trở về cụt lủn trên
chiếc xe lăn dằn nát trái tim nhỏ
bé của người con gái lịm chết giữa
mùa xuân và mùa xuân những mùa xuân
đi qua cùng cơn gió lốc đẩy dòng
nước mắt chảy vào trang sử mới đẩy
người lính tàn phế lăn ra hè phố
lây lất ngày qua ngày đêm qua đêm
lăn vào những tháng năm tăm tối đẩy
người con gái chết lịm giữa mùa xuân
trôi dạt về phía biển khơi ngày qua
ngày đêm qua đêm người con gái đã
trôi đi đâu dạt về đâu nào ai
biết được nơi đầu sóng ngọn gió nơi
bầu trời không có mái che của thượng
đế người con gái đã tan thành rong
rêu hay bọt biển nào ai biết được…

Tháng 5 năm 2016
Page cover: Negritude Painting, "La Jungla" by Cuban-born Afro-Chinese Painter Wilfredo Lam
https://www.pinterest.com/pin/168322104792449260/

ĐIỀU TÔI MUỐN NÓI VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC

ĐIỀU TÔI MUỐN NÓI VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC
_________________________________________

Xuân Thủy

 

Điều muốn chia sẻ về thơ Tân hình thức, có lẽ tôi cũng đã nhắc đến nhiều, nhưng gần như là không trực tiếp và tập trung vào vấn đề, vì thế rất mong sự đồng cảm của tất cả các bạn, với tư cách một người đọc ngoài cuộc, chia sẻ cảm nhận của mình về thơ. Trong cuộc sống hiện đại này, đôi khi chúng ta không hề biết ông hàng xóm của chúng ta thế nào, nhưng chúng ta lại thích giữ vị trí nào đó để nói và bắt tất cả mọi người phải lắng nghe mình. Lịch sử văn mình loài người đã chứng minh rằng không thể sử dụng những định kiến hay bất cứ những định kiến nào để quy chụp cho toàn bộ thời gian và không gian, bởi vì nó vẫn luôn chảy trôi không ngừng cho dù loài người luôn cố gắng ghìm giữ nó lại như kìm cương con ngựa để tiện bề điều khiển theo ý chí của mình, ở thời mà mình chưa thể điều khiển được xe ô tô, máy bay hay đĩa bay hay chính trọng lực của cơ thể mỗi chúng ta.

Thực ra, điều tôi muốn sẻ chia, cũng bình thường, không có gì to tát cả, chỉ như anh hàng xóm kể về những điều thú vị trong cuộc đời của mình mà nhiều khi cả đời cũng chả biết ngay cả khi đã nhắm mắt xuôi tay. Nhưng nó bỗng trở nên to tát và có vẻ như điều gì đó ghê gớm đến mức là cách mạng hay thế này thế nọ theo một kiểu định kiến có sẵn trong sách vở và được thực hành một cách chớp nhoáng. Cái gì khác mình là không chấp nhận hay nói cách khác là cái gì khác với những định kiến sẵn có trong sự quen thuộc của mình (tôi) thì đều thế cả.

Tôi xin quay trở lại vấn đề, hôm nay, bài thơ này đã làm tôi có cảm hứng để chia sẻ cái cảm nghĩ riêng của tôi (tất nhiên riêng của tôi thôi). Từ thuở tôi sinh ra đến giờ thậm chí trong gia đình chưa có ai nghe những sẻ chia của tôi về cuộc sống này cả (tôi tự hỏi, tôi đang sinh ra ở đâu?) Xung quanh tôi, tôi không còn tin, không còn gì để tin, vì niềm tin cũng thật là mệt mỏi và thừa thãi quá, nên đổ đi … Xin được phép quay trở lại vấn đề, tôi muốn nhấn mạnh vào vấn đề mà các nhà thơ hiện nay không có thiện cảm cho lắm hoặc bị định kiến dư luận trái chiều, gây cản trở và tiếp tục tạo ra hệ quả định kiến trong sự tự do của chính mình: TẠI SAO LẠI CỨ XUỐNG DÒNG VÔ TỘI VẠ NHƯ VẬY, KHÔNG CÓ Ý CÓ TỨ GÌ CẢ?… một người đọc: TẠI SAO THƠ LÀ CỨ PHẢI XUỐNG DÒNG? hay kỹ thuật vắt dòng. (Mạc Mạc chia sẻ trên facebook).

Lưu Quang Vũ
PHỐ TA

(Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi … smile emoticon)

Phố của ta
Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều

Năm nay cà chua chín sớm
Trên quầy hàng đỏ hồng
Chị thợ may đi lấy chồng
Chị thợ may goá bụa
Năm nay tôi mặc đồ đen.
Bác đưa thư, có thư ai đấy?
Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ
Rụng đầy trước hiên.

Riêng bác thợ mộc già buồn bã
Thở khói thuốc lên trời
Anh thợ điện trên mái nhà mắc dây
Bà giáo về hưu ngồi dịch sách
Dậy cậu con tiếng Pháp
Suốt ngày chào: bông-dua

Phố của ta
Phố nghèo của ta
Những giọt nước sa
Trên cành thánh thót
Lũ trẻ lên gác thượng
Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng.

Em chờ anh trước cổng
Con chim sẻ của anh
Con chim sẻ tóc xù
Con chim sẻ của phố ta
Đừng buồn nữa nhá
Bác thợ mộc nói sai rồi
Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa
Tại sao cây táo lại nở hoa
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
“Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi.”

(Tất nhiên bài thơ không phải là thơ Tân hình thức)

PHỐ TA

(Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi … smile emoticon)

Phố của ta những cây táo
nở hoa mùa thu đấy thân
cây đang tróc vỏ con đường
lát đá nghiêng nghiêng trong …

sương chiều năm nay cà chua
chín sớm trên quầy hàng đỏ
hồng chị thợ may đi lấy
chồng chị thợ may goá bụa

năm nay tôi mặc đồ đen.
Bác đưa thư, có thư ai
đấy? Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ rụng đầy

trước hiên riêng bác thợ mộc
già buồn bã thở khói thuốc
lên trời anh thợ điện trên
mái nhà mắc dây bà giáo

về hưu ngồi dịch sách dậy
cậu con tiếng Pháp suốt ngày
chào: bông-dua … Phố của ta
phố nghèo của ta những giọt

nước sa trên cành thánh thót
lũ trẻ lên gác thượng thổi
bay cao bao bong bóng xà
phòng … Em chờ anh trước cổng

con chim sẻ của anh con
chim sẻ tóc xù con chim
sẻ của phố ta đừng buồn
nữa nhá bác thợ mộc nói

sai rồi nếu cuộc đời này
toàn chuyện xấu xa tại sao
cây táo lại nở hoa sao
rãnh nước trong veo đến

thế? “Con chim sẻ tóc xù
ơi bác thợ mộc nói sai rồi.”
_____________________________________

“Phố của ta những cây táo
nở hoa mùa thu đấy thân
cây đang tróc vỏ con đường
lát đá nghiêng nghiêng trong …” ­­

Phố của ta, trên con phố trồng những hàng táo, nở hoa vào mùa thu đấy! thân (thiết – một mối dây liên hệ cảm xúc giữa cây táo và hoa và mùa thu và con người sống trong không gian đó), (thân) cây đang tróc vỏ (và/ – /đồng điệu với) con đường lát đá nghiêng nghiêng trong … (mắt) của người đang vẽ lại phong cảnh của con phố trước mặt …

Nếu chúng ta đọc theo lối thông thường, và chỉ dừng lại ở từng câu một, chúng ta sẽ không thấy đầy đủ bức tranh kia, chiều sâu của không gian thời gian vật chất và tinh thần tình cảm của người đang hiện sinh trong chớp thoáng của kiếp người này. Quá nhiều, nhưng dường như không đủ vì chỉ dành thời gian để làm cho nhau mất hứng, cũng không lạ khi điều này rất dễ mất hứng. Vì tôi biết, ai cũng có thể nhận ra điều này khi khai thác tính đa nghĩa của tiếng Việt, điều mà ít ngôn ngữ nào khác có được nên đây chính là bản sắc của thơ Tân hình thức Việt. Tôi nghĩ đó cũng là bình thường, các bạn có thể khai phá tiếp tục và có thể hay hơn tôi … tôi chỉ góp tiếng nói bênh vực như cụ Đồ Chiểu dạy thôi ấy mà, đừng biến tôi thành kim tự tháp Ai Cập, vì sự câm của tôi, sự mất hứng của tôi cũng có mặt tốt của nó, đó là không tạo ra một định kiến mới để mọi người lại tiếp tục rơi vào. Định kiến kia có thể còn mãi nhưng thời gian và không gian vẫn luôn đang bào mòn nó đấy chứ, đúng không? Điều thú vị là

“Phố của ta”

Giả sử một câu thơ là một đơn vị không gian chuyển tải thời gian, tức là mắt người đọc nó, trên đơn vị không gian. “Phố của ta”, người đọc tự hỏi và tò mò, không hiểu rõ ràng thơ ở dạng này đọc không hiểu mới đúng, chứ sao có thể nói “Phố của ta những cây táo” là không hiểu, tuy được rút gọn nhưng có thể nhận biết được, mường tượng được “Phố của ta là gì?” Đó có lẽ tính phản hồi xuất hiện, người đọc tự hỏi và tự trả lời đồng điệu cùng lời giải khác của tác giả, tác giả thành người đọc như thể tự hỏi mình cái mình nói, cái mình tả lại có đúng chưa, ý nghĩa giáo dục lời ăn tiếng nói xuất hiện từ tính phản hồi, …

“Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều”

Dường như cảnh quan được vẽ lại một cách cố định và không có mối dây nào buộc vào nhau, từng cảnh rõ ràng mạch lạc, định hình,

“Phố của ta những cây táo
nở hoa mùa thu đấy thân
cây đang tróc vỏ con đường
lát đá nghiêng nghiêng trong …”

Giữ lại được nguyên ý nghĩa ban đầu của nhận biết của tác giả, sắp xếp có thể ngắn hơn 6 hoặc lớn hơn 6 chữ một dòng, ý nghĩa không khác nhưng cảm nhận về bức tranh có khác đi, “Những cây táo nở hoa” là văn viết thì “nở hoa mùa thu đấy” lại là văn nói. “Nghiêng nghiêng trong sương chiều” thì “lát đá nghiêng nghiêng trong …” tạo ra độ chênh vênh nghiêng nghiêng không có chỗ bám víu đến cả trong sương chiều cũng không có, mà ở trong trong một cõi nào không biết nữa …

Vô tình hay hữu ý tôi cũng như bao con người khác muốn chia sẻ điều này với người khác để nhận được những ý kiến của mọi người và bạn bè. Và có thể nhận ra những điều tiếp theo là, không phải bài thơ tự do/ truyền thống nào cũng có những điều thú vị đó và làm cho chúng ta có cảm hứng sống như vậy. Do đó, không thể cứ chuyển các thể thơ truyền thống trước đó sang dạng thơ Tân hình thức với những yếu tố như vừa phát hiện trên là có thế hình thành bài thơ được gọi là thơ Tân hình thức được. Để có một bài thơ Tân hình thức thì phải chủ động viết theo kỹ thuật thơ Tân hình thức là vậy.

Các bạn thơ của tôi cũng cho ý kiến:

Hường Thanh: “tuy việc chuyển thơ khác sang thơ Tân hình thức là chối bỏ nguyên tắc thơ Tân hình thức, chỉ nghĩ đến mộ cảnh quan đầy đủ … nhưng cũng đã khiến người khác từ khó chịu sang tò mò … Một bài thơ Tân hình thức khó làm ở chỗ ý tưởng và nhịp điệu, việc viết xuống dòng là tự nhiên không cần phải phân biệt, quan trọng là có những yếu tố Tân hình thức, thì đó sẽ là bài thơ hay.”

Khế Iêm: “Viết xuống dòng hay vắt dòng đã thành luật. Đã là luật thì không cần phải bàn luận nữa. Ai thắc mắc thì tự họ phải đi tìm đọc lý thuyết về thơ Tân hình thức. Chuyển thơ tự do sang thơ Tân hình thức sẽ không tạo được nhịp điệu mới và dễ gây hiểu lầm là thơ Tân hình thức không cần nhịp điệu. Đó là nguy hiểm, sẽ mất thì giờ để giải thích vì thế mà phải dứt khoát không chuyển nữa.”

Page cover: Artist Evan Roth’s work occupies the irregular zone at the intersection of free culture with popular culture, where viral media meets art, and graffiti connects with technology. From Feb. 5-March 2, Roth’s “Intellectual Property Donor,” is on display in the Center for the Art’s Ezra and Cecile Zilkha Gallery. Ginger Gregg Duggan and Judith Hoos Fox of c², curatorsquared, co-curated the exhibit.
http://newsletter.blogs.wesleyan.edu/author/msembos/page/2/

TÔI ĐỌC CHÙM THƠ TÂN HÌNH THỨC

PGS, TS: Nguyễn Thái Hòa

 
 Là một độc giả ưa tìm cái mới trong thơ, tôi không thể bỏ qua “Chùm thơ Tân hình thức” trên báo Nghệ Thuật Mới. Trong một trang thơ có đến 8 nhà thơ với 8 bài được nhà phê bình Văn Giá và nhà thơ Khế Iêm – người chủ trương thơ Tân hình thức đã 15 năm nay – đích thân tuyển chọn thì còn phải nghi ngờ gì nữa.

Gọi là thơ Tân hình thức, nhưng có gì khác với thơ mới , thơ không vần, thơ tự do vẫn tràn lan trên các trang báo gần đây?

Xin thưa rằng: Có! Có cái mới mà không chỉ là hình thức mới.

Trước hết tôi thấy cả 8 bài, 8 tác giả đều giống nhau ở một số điểm chủ yếu.  Đó là cách ngắt dòng có thể khác nhau: 5 tiếng (chữ) như thơ Đài Sử; Nguyễn Thị Khánh Minh; 6 tiếng thơ Đức Phổ; 7 tiếng, thơ Huy Hùng; 8 tiếng thơ Khế Iêm, Trần Phục Khắc, Hồ Đăng Thanh Ngọc; tự do thơ Thiền Đăng … nhưng cả tám người nhất loạt phá tung ngữ pháp Tiếng Việt. Nói đúng hơn, khuôn khổ dòng thơ không tương đồng với mệnh đề ngữ pháp (đơn hay phức, chính hay phụ) như ta thường thấy trong thơ. Do đấy, phá vỡ luôn cả tiết tấu và nhịp điệu từ một câu văn nghiêm chỉnh, ý rất thẳng và mạch rất lộ để tạo ra thứ tiết tấu mới, rất mới:

Tôi kéo dài sự im lặng của
buổi sáng bằng cách uống thật chậm
ly cà phê và cố gắng không
cử động mạnh thế nhưng sự im
lặng của buổi sáng là cái gì v.v..

(Một ngày đại khái – Trần Khắc Phục)

Việc xáo trộn các thành phần cú pháp (phép đảo ngữ), việc ngắt dòng phi ngữ pháp (agrammatical) thiết tưởng không có gì mới, việc “đội mũ đỏ cho câu thơ”(V.Hugo), nhiều lắm cũng chỉ ở giới hạn ở những biện pháp tu từ hạn hữu. Nhưng với các nhà thơ chủ trương tân hình thức này thì thực sự là “băm vằm” một câu văn xuôi chuẩn mực. Bất chấp những cụm từ quen thuộc, những từ láy, từ ghép thông thường:

Tôi đã gặp những chiếc hũ
chìm lăn trên đường phố sài
gòn, những chiếc hũ chìm lăn
cùng với những chiếc xe dream…

(Hoạt cảnh – Đức Phổ)

Thế đấy! Không chỉ là câu bị chặt ra mà cả đến những cụm từ chứa đựng tiết tấu, lối nói thông thường (đi về/phía) mà cả những từ (hi/vọng; im /lặng; sài/gòn) cũng bị xé nhỏ.(Chú thích: dấu gạch chéo là dấu ngắt dòng thơ). Những điều họ có thể làm là nâng một vài câu văn xuôi lên thành văn bản mà văn bản không bị phá tung để tạo nhiều tứ thơ như một số bài thơ của một số nhà thơ ở hải ngoại. Khoảng năm 70 ở thế kỉ trước, Chàng Văn (Chế Lan Viên) cũng đã thử làm thơ từ một vài câu văn xuôi như thế, cốt để mình họa một vài quan niệm về thơ.

Có thể nói sự “công phá” không dừng lại ở câu, mệnh đề, cụm từ mà cả đến những từ quen dùng nhất. Đồng thời với sự “công phá ngữ pháp” là sự công phá tiết tấu (chỗ ngừng ngắn, ngừng vừa và ngừng dài) của lời nói thông thường, tạo nên cái nhạc điệu hài hòa trong câu thơ Việt.

Trong khi đó, thơ không vần, thơ tự do vẫn luôn giữ được những tiết tấu thông thường. Thử so sánh tiết tấu trong bài thơ “Gió” của Hoàng Vũ Thuật (cùng ở tạp chí này, tr.28):

Gió
độc quyền
đêm
độc quyền
ngày
phù thủy
thổi dịch đại ngàn
vuốt cao đồi núi
hùn hụt khe sâu …

Ngắt dòng như vậy, Hoàng Vũ Thuật đã tạo âm hưởng cho dòng thơ, tạo nhịp điệu cho thơ (Hoàng Vũ Thuật cũng có lúc ngắt dòng như các nhà thơ Tân hình thức nhưng với tỉ lệ thấp) nó cuốn hút ta, buộc ta phải theo một hướng như lá chờ bay theo chiều gió!

Thơ của các nhà thơ tân hình thức thì không thế. Nó như là một khối chữ, một mô hình ngôn từ, gợi ý cho độc giả đọc theo cách đọc của mình và tạo ra bài thơ của chính người đọc. Nó là một khối ru-bic bằng lời vuông vắn, tạo hình theo tay vặn của người chơi. Thơ cũng như một thứ nhịp nhảy hip – hop, ai muốn nhảy kiểu nào tùy theo ý thích của mình. Chẳng hạn, từ bài thơ 5 chữ, bài “Tĩnh vật” của Đài Sử:

Li rượu được đẩy qua
đẩy lại trên bàn bàn
tay cầm li rượu thay
đổi tốc độ di chuyển
ban đầu của li rượu
nhanh đến chóng mặt bàn
tay cầm li rượu tỉ
lệ thuận với tốc độ …

Nếu tôi thích nhịp thơ 4 chữ, thì tôi biến nó thành thơ của mình, tuy có méo mó:

Đẩy qua đẩy lại
Li rượu trên bàn
Li xoay chóng mặt
Theo đà bàn tay …

Hoặc biến nó thành nhịp thơ lục bát:

Đẩy qua đẩy lại trên bàn
Tay đưa li rượu bàn hoàn ngất ngây
Đẩy li nhanh đến thế này
Theo từng lời nói cơn say điên khùng …

Thế là tôi có thể tạo ra hai ba bài thơ, tuy cổ lỗ sĩ nhưng hợp với mình hơn. Vậy là các nhà thơ tân hình thức không buộc ta theo họ, mà họ gợi ý cho ta làm lại theo cách của ta. Thật là quảng đại, thật là dân chủ! Ý tưởng này không phải là không hề có! Từ xưa ta đã có cách Tập Kiều, dùng nhịp và lời của Truyện Kiều còn ý thì của ta. Có ai chê bai, bắt bẻ gì đâu!

Ước vọng lớn thật đấy, nhưng xin hãy dè chừng!

Có thể xem đây là một thí nghiệm cần phải có. Một khi đã có điêu khắc – lắp ráp mô-đun của nghệ sỹ Điềm Phùng Thị, đã có vũ đạo hip-hop, nhạc ráp, gups và nhiều thứ nữa thì thơ cũng không là ngoại lệ. Phải chăng nó báo hiệu nền móng của các hệ thi pháp mới, mĩ học mới của thời đại?

Với nghệ thuật của thời hiện đại, nói như một người nào đó: “Thích thì chơi, không thích thì thôi, ai bắt anh được”. Dù sao đây cũng là một cuộc tìm kiếm,  thử nghiệm. Và sự tìm kiếm lại có trong chính bản thân mình, chứ không ở nơi nào khác. Cả 8 bài thơ đều hướng vào trạng huống tâm lí không bình thường xuất hiện mỗi ngày (Một ngày đại khái – Khắc Phục; Trống rỗng – Nguyễn Tất Độ; Nghi ngờ – Hồ Đăng Thanh Ngọc; Tĩnh vật – Đài Sử ….) và họ đã thành thực phơi bày những cảm giác như có như không của một thế giới sâu kín. Dường như họ đi tìm cõi vô thức ở chính lòng mình để phát hiện mình và gợi ý cho người đọc tự phát hiện.

Nhưng nói lên điều sâu kín là một chuyện, còn gợi ý cho người khác phát hiện cái thế giới chìm sâu trong những lớp trầm tích ký ức lại là chuyện khác. Theo ý riêng của tôi, chỉ có bài “Con mèo đen” của Khế Iêm là có thể làm được điều đó:

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng …

Cái biểu tượng con mèo đen gợi một bóng hình ma quỷ, khiến cho ma quỷ cũng phải sợ, như tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại, một điềm xấu như người châu Âu hay Việt Nam thường tin đã ám ảnh nhà thơ. Nhưng, với Khế Iêm, con mèo đen gắn với xương sườn lại gợi một tứ thơ khác, có lẽ là Eva, cái xương sườn của Adam. Eva là “mèo đen” trong quá khứ tội lỗi của mình như kinh thánh của đạo Kitô. Cứ thế, độc giả có thể đi miên man trong kí ức chưa quên hoặc đã ngủ quên (tiềm thức) bây giờ thức dậy.

Và như vậy, tân hình thức lại phải có nội dung, nếu không thì chỉ là cái hộp ru-bic vuông chằn chặn không tìm ra khóa mở; hoặc ngược lại nó tung ra để thấy là … không có gì phải mở. Đó là cách đọc của tôi, còn người khác có thể có nhiều cách đọc khác.

Tuy nhiên, dù thành công hay thất bại, sự tìm kiếm thử nghiệm của tân hình thức cũng rất đáng trân trọng. Ở thời đại mà chỉ cần bấm một cái nốt nho nhỏ là lập tức hiện ra mọi thứ mình cần thì hãy bấm vào một vài nốt, thử xoay chiều cái khối rubic “tân hình thức” xem sao! Có thấy gì không, có được gì không? Nào hãy thử xem!

Đến đây tôi nhớ lại một chuyện ngắn đăng ở tạp chí Văn học Xô viết khoảng năm 60 thế kỉ trước. Chuyện rằng: có một nhà địa chất để cả cuộc đời đi ngang dọc khắp cả Liên bang Xô viết mà không tìm ra cái mỏ đồng nào cả, như ước nguyện. Thế rồi đến tuổi về hưu, một buổi chiều ngồi chơi trước của nhà bỗng phát hiện ra một mỏ đồng cực lớn. Không thể nói hết nỗi sung sướng của mình! Nhưng có được phút sung sướng ấy nhà địa chất phải trả giá bằng cả cuộc đời tìm kiếm.

Chắc những người chủ trương “Thơ tân hình thức” cũng muốn được như vậy!

Tháng 10/2012
N.T.H
Tranh bài: http://theformalist.org/ebooks/index12.html

TẠI SAO THƠ TÂN HÌNH THỨC KHÓ LÀM?

https://www.facebook.com/yurilaptevfan
https://www.facebook.com/yurilaptevfan

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt

Khế Iêm

 Đã đến lúc chúng ta phải trả lời những câu hỏi cốt lõi về thơ Tân hình thức Việt, nếu muốn dòng thơ này mạnh mẽ, và lôi kéo được nhiều người tham gia. Tại sao có người sáng tác hàng trăm bài thơ, nhưng chất lượng không đủ để được coi là thơ Tân hình thức? Tại sao đa phần những người tham gia chỉ gắn bó với thơ Tân hình thức một thời gian ngắn rồi thôi? Tại sao có người rất muốn tham gia sáng tác thơ Tân hình thức, nhưng cảm thấy lúng túng, vì khi thực hành thì bài thơ nào cũng biến thành một đọan văn xuôi đếm chữ, trong khuôn các thể thơ 5 chữ, 7 chữ, lục bát?

Vậy thì, phải làm thế nào để sáng tác được những bài thơ Tân hình thức thật sự? Làm thế nào để tạo khả năng cho những nhà thơ Tân hình thức đủ tự tin và hứng khởi, và khi đã đến với thơ Tân hình thức rồi thì không bao giờ từ bỏ?

Thơ Tân hình thức mới mẻ, dĩ nhiên, dễ hiểu nhờ tính truyện, hấp dẫn vì có nhịp điệu, và ý tưởng sâu sắc. Nhưng những tiêu chuẩn trên có bao nhiêu bài thơ đạt tới? Tại sao ý tưởng bài thơ cứ lan man, không đầu không cuối, còn kỹ thuật lập lại tại sao không tạo ra được nhịp điệu thơ?

Tất cả những câu hỏi trên, chỉ cần duy nhất một câu trả lời: chúng ta đã không sáng tác đúng cung cách một bài thơ Tân hình thức. Vì một sản phẩm khi tạo ra không đúng qui trình, sản phẩm đó không bao giờ đạt tiêu chuẩn chất lượng trong sản xuất. Thế thì đâu là cung cách sáng tác thơ Tân hình thức Việt?

“Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắc và vần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, người làm thơ đọc thầm trong đầu để phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ, tạo thành nhịp điệu?”

Như vậy, muốn có nhạc tính hay nhịp điệu thơ, khi sáng tác phải ngâm hay đọc lên.

Nhưng thực tế, không thiếu những bài thơ chỉ là đoạn văn xuôi ghi xuống những suy nghĩ khơi khơi, hoặc với một vài ý tưởng đơn sơ, lập lại câu chữ một cách máy móc, rồi đếm chữ xuống dòng. Cách sáng tác này đang hình thành một lối mòn, được mô phỏng từ bài thơ này tới bài thơ khác, từ tác giả này tới tác giả khác. Kết quả là, ý tưởng đi một đàng, nhịp điệu đi một nẻo, không ăn khớp với nhau.

Sở dĩ như vậy vì đa số chúng ta quen làm thơ tự do, viết xuống giấy những suy nghĩ, ngắt câu thành những dòng dài, ngắn. Thơ tự do không quan tâm tới nhịp điệu, vì không có kỹ thuật tạo nhạc tính hay nhịp điệu như thơ vần điệu hay thơ Tân hình thức. Và khi thử nghiệm thơ Tân hình thức, chúng ta lại sáng tác theo cách làm của thơ tự do. Kết quả, thơ chỉ mang cái hình thức nhưng không đạt được cái hồn thơ Tân hình thức.

Để thoát ra tình trạng này, tuyệt đối không viết một đọan văn xuôi xuống giấy, mà chỉ ghi lại khi bài thơ đã xong (để hiệu đính và tiếp tục hoàn chỉnh), hoặc ghi xuống từng câu để khỏi quên, trước khi tiếp tục những câu thơ khác. Vì tiến trình làm thơ Tân hình thức là đọc thầm trong đầu, chứ không phải bằng cây viết và tờ  giấy. Có như thế, chúng ta mới nối kết những câu thơ với nhau bằng hơi thơ, và  nhịp điệu mới gắn bó tự nhiên với ý tưởng. Khi sáng tác luôn luôn phải cảnh giác, tránh bài thơ khi đọc lên, nghe như văn xuôi. Điều này, người đọc không cần tinh ý, cũng rất dễ nhận ra.

Trước kia, từng có người phê bình: thơ Tân hình thức hỏng là do chính những nhà thơ Tân hình thức, chứ không phải ai khác. Có thể tạm giải thích:

Cách làm thơ là để phát huy tài năng của nhà thơ, và chúng ta phải tuân thủ, nếu muốn có thơ hay. Như vậy, chất lượng bài thơ tùy theo cách làm thơ. Làm thơ theo cách lặng lẽ viết xuống giấy, bài thơ sẽ nhạt nhẽo, như văn xuôi. Còn nếu làm thơ đọc thầm trong đầu, theo đúng cung cách thơ Tân hình thức, sẽ cho chúng ta những bài thơ Tân hình thức thật sự. Điều này giải mã, tại sao thơ Tân hình thức Việt lại ít người tham gia, có lẽ, vì họ không nắm được cách làm thơ.

Khi sáng tác bằng cách đọc thầm trong đầu, chúng ta luôn luôn bị ám ảnh về bài thơ, những tình tiết, ý tưởng sẽ từ từ được loại bỏ, thêm bớt, làm bật lên những ý chính và ý phụ, bài thơ sẽ không bị rơi vào tình trạng lan man, người đọc không biết bài thơ muốn nói gì. Nhịp điệu nối những câu thơ và toàn bài thơ sẽ được cân nhắc, thay đổi sao cho đạt hiệu quả, lôi cuốn người đọc. Dĩ nhiên, người làm thơ sẽ phải trải qua tình trạng chìm đắm trong bài thơ, bài thơ và tâm hồn nhà thơ là một, và những điều mới mẻ chỉ có thể phát hiện trong lúc này. Khi vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu, quen với cách làm thơ mới, và có được những bài thơ Tân hình thức hay, sẽ khơi gợi niềm đam mê nơi những nhà thơ.


Thơ Tân hình thức Việt chủ trương mang đời sống vào thơ, nhưng thật ra, chúng ta đang tách lìa đời sống. Đồng bằng sông Cửu Long hạn hán, cá chết hàng loạt ở Hà Tĩnh và các tỉnh miền Trung là thảm họa môi trường tác động mạnh mẽ đến mọi người, và ảnh hưởng đến hàng triệu triệu người dân nghèo, nhắc chúng ta phải định hướng lại cách sáng tác.

Có biết bao nhiêu tin tức, phóng sự và hình ảnh, trong báo chí chính thức đưa tin, internet đang là kho trữ liệu vô giá giúp chúng ta tìm kiếm những câu truyện có thực để sáng tác, ghi dấu và thể hiện thời đại chúng ta đang sống. Chúng ta trộn lẫn tính hư cấu của tiểu thuyết, tính chân thực của tình tiết trong câu truyện, hiện thực huyền ảo gì cũng được, miễn là thành thơ. Từ đó chúng ta sẽ kinh nghiệm được làn ranh giữa thơ và văn xuôi, nắm bắt được sự khác biệt giữa những tình tiết và cách diễn đạt của tiểu thuyết và thơ.

Chúng ta hãy áp dụng kỹ thuật xâu chuỗi: mỗi bài thơ là một đoạn tình tiết trong câu truyện, được liên kết với nhau thành chuỗi những bài thơ. Âm nhạc, chúng ta cũng đã từng có những trường ca như, “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy, “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương …

Nhưng trong tình trạng mới mẻ của loại thơ này, chưa ai có kinh nghiệm, chúng ta thử nghiệm cách làm như sau: mỗi tác giả tìm kiếm cốt truyện và tình tiết trên internet. Sau đó sáng tác, và gửi tới một bạn thơ nào đó nhờ góp ý, và cùng nhau biên tập cho tới khi hoàn chỉnh để bảo đảm chất lượng bài thơ. Đây cũng là bước khởi đầu “hướng tới một nhóm sáng tác”.

Butterfly Effect by Yuri Laptev