Trang chủ Blog Trang 36

NGÔN TỪ NÓI / THƠ SLAM

NGÔN TỪ NÓI / THƠ SLAM


Lisa Martinovic

Lời người dịch: Nhà thơ slam Lisa Martinovic đồng ý cho chúng tôi chuyển dịch bài viết ngắn này, khởi đầu giới thiệu với bạn đọc một phong trào thơ trình diễn Mỹ. Đây là một phong trào thơ được nhà thơ Marc Smith sáng lập tại Chicago. Câu chuyện tóm tắt như sau:

Marc Smith là một nhà thơ và là một công nhân xây dựng. Vào năn 1984, ông bắt đầu đọc thơ ở The Get Me High Lounge, một câu lạc bộ trình diễn nhạc jazz, một quán rượu tồi tàn, ẩm ướt và đã xuống cấp ở trung tâm thành phố Buck, kế bên thành phố Chicago. Mỗi đêm thứ Hai được dành cho thơ, nhưng thứ Hai lại là đêm môn bóng cà na được hâm mộ nhất ở Mỹ thừơng diễn ra, nên khán giả thưa vắng suốt năm. Vào năm 1986, Smith đến gặp Dave Jemilo, chủ nhân Green Mill Tavern (một câu lạc bộ nhạc Jazz và Al Capone trước kia thường lui tới), với dự tính dẫn chương trình hàng tuần cho một cuộc thi thơ vào mỗi đêm chủ nhật. Jemilo hoan nghênh ngay, và Uptown Poetry Slam được chào đời vào ngày 25 tháng 7 năm đó. Nơi đây, Smith từ từ thiết lập những đặc tính căn bản cho cuộc thi, bao gồm những giám khảo được chọn từ khán giả, và thưởng tiền mặt cho ngừơi thắng cuộc, và Green Mill trở thành thánh địa cho những nhà thơ trình diễn. Phong trào sau đó bắt rễ và nở rộ khắp nước Mỹ và tới các nước khác như Úc (Australia), Đức (Germany), Anh (UK), Thụy Sĩ (Switzerland), Pháp (France), Thụy Điển (Sweden), Đan Mạch (Denmark), Ái Nhĩ Lan (Ireland), Ý (Italy), Madagascar, and Singapore. Green Mill tọa lạc ngay trung tâm thành phố Chicago và Uptown Poetry Slam tiếp túc kéo dài 18 năm sau ngày thành lập.

Về luật lệ: Mỗi nhà thơ có 3 phút để trình diễn bài thơ. Nếu quá thời gian 3 phút, điểm sẽ bị trừ. Nhà thơ không được dùng những dụng cụ trang trí sân khấu, trang phục bất bình thường và nhạc cụ. Nhà thơ nhận điểm của 5 giám khảo, điểm cao và thấp không tính, chỉ tính điểm của ba giám khảo ở giữa, cộng lại, từ 0 tới 30. Nhà thơ phải thắng giải ở cấp địa phương rồi mới được dự tranh ở cấp tòan quốc.

Bài viết ngắn của nhà thơ Lisa Martinovic kèm theo 5 bài thơ slam nổi tiếng, nhưng vì bài thơ khá dài nên chúng tôi chỉ dịch kèm theo đây một bài, sau đó sẽ từ từ dịch và giới thiệu sau. Ngôn ngữ thơ slam là một thứ ngôn ngữ nói, tác giả thường sử dụng rất nhiều tiếng lóng và những đặc ngữ thông thường trong sinh họat đời sống nên khó chuyển dịch để lột tả tính trần trụi, mạnh bạo, tươi rói, tràn đầy sinh lực, gây cảm hứng mạnh nơi khán thính giả. Bản dịch vì thế chỉ theo sát ý nguyên bản, và bạn đọc sau khi nắm ý bài thơ, sẽ vừa theo dõi nguyên bản, vừa nghe và nhìn bài thơ được trình diễn trên youtube (có thể lên www.youtube.com, đánh chữ “The Wussy Boy Manifesto”, để thưởng thức bài thơ kèm theo). Những bài thơ slam dịch ra tiếng Việt vì thế luôn luôn phải kèm theo nguyên tác. Sau bài viết này của nhà thơ Lisa Martinovic, chúng tôi sẽ viết bài kế tiếp để giới thiệu thêm về phong trào thơ này.

(Thơ Nối kết Chuyện-kể-với-Ý-tưởng kèm theo Giọng điệu, Tâm trạng, Nhịp điệu, Cường điệu, Trò chơi Ngôn từ. Thường là thơ dài. Nhằm trình diễn trước một cử tọa.)

Thuật ngữ “bài thơ slam” thật ra là một phạm trù chủ chốt gồm chứa mọi bài thơ được trình diễn cho một số khán thính giả tại chỗ trong môi trường tranh tài. “Ngôn từ nói” liên hệ tới tất cả lọai thơ được trình diễn lớn giọng, bao gồm cả những môi trường không tranh tài như đọc qua micro phôn. Vì thế, tất cả những bài thơ khác thể lọai, từ haiku đến những bài thơ sonnet 14 câu, rồi những bài thơ tình, đều có thể coi là thơ slam hoặc những bài thơ được đọc thành lời. Và những bài thơ slam cùng những bài thơ đọc lên thành lời đó có thể coi như đích xác là cùng một thứ.

Vì những mục tiêu của lớp học, mỗi học sinh sẽ làm một bài thơ để trình diễn trên sân khấu cho một phần của lớp học lúc một cái “rầm” đóng lại ở bên trong lớp học – vì thế chúng ta gọi bài thơ là bài thơ slam.

Chỉ có một qui tắc duy nhất, ngòai sự đòi hỏi là luôn phải thích hợp đối với nhà trường (không dùng lời phỉ báng, những đề cập vu vơ tới tính dục, ma túy, rượu), đó là bài thơ phải giúp vui khán thính giả. Làm sao để đạt được điều đó? Giống như đối với bài thơ viết trên trang giấy, tuy nhiên cũng có khác. Sự giống nhau đó là, tất cả những yếu tố chủ chốt của thơ gồm: nói lên điều gì, chính xác và rành mạch và có óc sáng tạo, dùng hình tượng và ẩn dụ và những yếu tố âm thanh như nhịp điệu và vần.

Hai điều làm một bài thơ slam khác với bài thơ trên giấy. Đầu tiên là bộ phận trình diễn. Nó giúp đánh giá một bài thơ slam không như một bài thơ đọc lớn giọng, mà pha trộn 50% bài thơ, 50% trình diễn năng động trên sân khấu. Vì thế những bài thơ slam, luôn luôn được học thuộc lòng, thừơng dùng những thể hiện cường điệu hài hước, những góc cạnh vượt khỏi lệ thường, những nút thắt gây kinh ngạc, và những cảm xúc tràn đầy như tình yêu, nỗi buồn xé lòng, hoặc sự phẫn nộ. Chúng cũng có thể có những phần, nơi đó có những giọng để bắt chứơc hoặc những chỗ để di chuyển.

Điều thứ hai làm cho một bài thơ slam khác với bài thơ viết trên giấy là làm vui lòng khán thính giả. Bởi vì những nguyên tắc slam truyền thống hạn chế bài thơ trong 3 phút, những bài thơ slam thường bay lượn quanh thời lượng đó – đó là vì nhiều học sinh cảm thấy hơi dài ở vài lần đầu sáng tác. Họ có khuynh hướng, dù rằng không cần làm thế, mượn rất nhiều phong cách hip-hop, dùng nhiều vần giữa những dòng thơ, sự tuôn chảy nhịp điệu mà không có sự sắp xếp vần khe khắt, và dùng tiếng lóng.

Họ cũng thường rơi vào một trong ba nhóm: đùa vui, sử dụng tác động của cảm xúc, và đùa vui trộn lẫn sử dụng tác động của cảm xúc. Nhóm thứ ba có được nhiều người thắng cuộc hơn cả.

Xin nói tắt một lời về tác động của cảm xúc: hầu hết những bài thơ gây được tác động mạnh chứa đựng sự tự biểu lộ và những bí mật và những nỗi sợ hãi của cá nhân, hơn là chỉ biểu lộ sự phẫn nô ở bề ngòai, chẳng hạn như cách của những nhà lãnh đạo chính trị. Nếu bạn có thể để cho những bí mật và những sự yếu đuối và sợ hãi tuôn ra và làm nhẹ căng thẳng với sự hài hước và không tóat ra sự tự thương hại mà chỉ như sự hồi tưởng thật thà và khôn khéo, bạn là một nhà thơ slam đích thực.

Đây là ví dụ:
(Bạn đọc có thể vào www.youtube.com tìm “The Wussy Boy Manifesto” để vừa theo sát nguyên tác vừa nghe và nhìn bài thơ được trình diễn:

By Big Poppa E
The Wussy Boy Manifesto
_____________________

My name is Eirik Ott
And I am a Wussy Boy.
It’s taken me a long time to admit it.
I remember shouting out in high school,
“ No, Dad, I’m not gay! I’m just… sensitive.
I tried to like jet planes and hot rods
and football and Budweiser poster girls
but I never got the hang of it!
I don’t know what’s wrong with me…”
And then, I saw him,
there on the silver screen,
bigger than life and unafraid
of earrings and hair dye
and rejoicing in the music of The Cure,
Morrisey and Siouxsie and the Banshees,
walking loud and talking proud
my Wussy Boy icon:
Duckie in Pretty in Pink.
And I realized I wasn’t alone.
I looked around and saw other Wussy Boys
living large and proud of who they were:
Anthony Michael Hall, Wussy Boy;
Michael J. Fox, Wussy Boy; and
Lord God King of the Wussy Boy Movement,
Matthew Broderick,
unafraid to prove to the world
that sensitive guys kick ass!
Now, I am no longer afraid
of my Wussiness, hell no,
I am empowered by it!
When I pull up to a stoplight
And some redneck testosterone
methamphetamine jock frat boy pulls up
beside me cranking his Trans Am’s stereo
with power chord anthems
to big tits and date rape,
I no longer avert my gaze, hell no,
I just crank all 12 watts of my car stereo
and I rock out right to his face:
“ I am human and I need to be loved
just like everybody else does!”
I am Wussy Boy, hear me roar (meow).
Bar fight? Pshaww!
You think you can take me, huh,
just because I like poetry
better than Sports Illustrated?
Well, allow me to caution you
for I am not the average, every day,
run of the mill Wussy Boy you beat up
in high school, punk:
I am Wuss Core!
Don’t make me get Renaissance on your ass
because I WILL write a poem about you!
a poem that will tear your psyche limb from limb,
that will expose your selfish insecurities,
that will wound you deeper than knives
and gats and baseball bats could ever hope to.
You may see 65 inches of Wussy Boy
standing in front of you,
but my steel-toed soul
is ten feet tall and bulletproof!
Bring the pain, punk!
Beat the tar out of me!
Show everybody in this bar
what a real man can do,
but you’d better remember
that my bruises will fade,
my scars will shrink and disappear,
but my poem about the pitiful, small, helpless,
dumb-ass, no-neck oppressor you really are
will last forever.

Big Poppa E

Tuyên Ngôn Của Chàng Trai Ẻo Lả


Tên tôi là Eirik Ott
Và tôi là một chàng trai ẻo lả
Phải mất rất lâu tôi mới chấp nhận điều này.
Tôi nhớ đã gào lên ở trường trung học
“Không, ba ơi, con không phải đồng tính! Con chỉ … quá mẫn cảm.
Con thích máy bay phản lực và những chiếc xe cải tiến đang được ưa chuộng
và bóng cà-na và áp phích Budweiser in hình con gái
nhưng con chưa hề treo nó!
Con không biết có gì trục trặc với con …”
Và rồi, tôi thấy hắn,
đó, trên màn hình
huênh hoang và không sợ
bông tai và tóc nhuộm
và vui hưởng nhạc rock của các ban nhạc The Cure,
Morrisey và Siouxsie và The Banshees,
đi đứng mạnh bạo và nói năng lớn lối
hình tượng chàng trai ẻo lả của tôi
nhân vật Duckie trong phim Pretty in Pink
Và tôi thấy tôi không lẻ loi.
Tôi nhìn chung quanh và thấy những chàng trai ẻo lả khác
sống phóng khóang và tự hào là chính họ
Anthony Michael Hall, chàng trai ẻo lả;
Michael J. Fox, chàng trai ẻo lả, và
Phong trào chàng trai ẻo lả Lord God King,
Matthew Broderick,
không sợ chứng tỏ với thế giới
những kẻ mẫn cảm có sức mạnh!
Bây giờ, tôi không sợ
sự ẻo lả của tôi nữa, đừng hòng,
sự ẻo lả cho tôi quyền đó
Khi xe tôi tới và dừng ở đèn đỏ
Và vài chàng trai ảo tưởng nam tính xung dục
chơi thuốc kích thích vai u thịt bắp hợp thành đồng bọn dừng lại
bên cạnh trên chiếc xe Trans Am mở âm thanh lớn
với những bản thánh ca cảm xúc mạnh bạo
về những cặp vú lớn và cưỡng bức tình dục bạn gái
tôi không ngỏanh mặt làm ngơ nữa, đừng hòng,
tôi tăng âm thanh của xe tôi lên 12 watts
và công khai mở nhạc thật lớn
“Tôi là con người và tôi cần được thương yêu
như mọi người khác!”
Tôi là chàng trai ẻo lả, nghe tôi rống (mi-eo)
Đánh nhau nơi quán rượu? Sì ì ì!
Bạn nghĩ bạn có thể hạ tôi, hứ,
chỉ vì tôi thích thơ
hơn là tờ báo thể thao Sports Illustrated?
Thôi được, cho phép tôi cảnh cáo bạn
vì tôi không phải hạng trung bình, mỗi ngày
chàng trai ẻo lả không có gì đặc sắc bị bạn đánh
ở trường trung học, đồ du côn:
tôi là ẻo lả chính tông đây!
Đừng bắt tôi phải chứng tỏ tôi giỏi hơn bạn
bởi vì tôi SẼ viết một bài thơ về bạn!
một bài thơ sẽ tấn công tâm hồn bạn tới tấp
sẽ phơi bày những nỗi bất an ích kỷ của bạn
sẽ làm tổn thương bạn sâu đậm hơn là dao
và súng và gậy bóng chày từng mong đợi.
Bạn có thể thấy chàng trai ẻo lả 65 inches
đứng trước mặt bạn,
nhưng linh hồn tôi đựơc bảo vệ kiên cường
cao tới 10 feet và chắc chắn an tòan!
Cứ làm tôi đau đớn đi, đồ du côn!
Cứ hạ tôi đo ván đi!
Hãy chứng tỏ cho mọi người trong quán rượu này biết
người đàn ông thật sự có thể làm gì,
nhưng tốt hơn bạn nên nhớ
những vết bầm của tôi sẽ phai nhạt
những vết sẹo của tôi sẽ thu nhỏ và biến mất
nhưng bài thơ của tôi về kẻ áp bức đáng thương, nhỏ nhen
bất lực, ngu ngốc, còi cọc thật sự chính là bạn
sẽ sống mãi.

Khế Iêm dịch và giới thiệu

Tiểu sử

Nhà thơ Lisa Martinovic, sinh ra và là dân San Francisco. Bà đã đi khắp nước Mỹ như một nhà thơ trình diễn từ Nuyorican Poet’s Café ở New York tới City Lights ở San Francisco, và đã từng cùng trên sân khấu với những nhà thơ nổi tiếng Gary Snyder và Miller Williams. Bà thắng giải “Best Surprise Act” năm 1966 tại Liên hoan Thơ Quốc tế tại Austin, với bài Jim Bob Gets a Lap Dance. Ba lần thắng ở Ozark Grand Slam hàng năm, và tự coi là nữ hòang slam ở Ozarks. Bà cũng là nhà viết tiểu luận và thơ của bà xuất hiện trên nhiều tuyển tập và tạp chí nổi tiếng.

Big Poppa E sinh tại Bakersfield, California, là một nhà thơ slam. Những sự trình diễn của ông kết hợp giữa thơ, sự diễu hài và độc thọai kịch mang tính cường điệu cao về những mối liên hệ và văn hóa quần chúng. Ông tham gia đội thơ slam Austin năm 2009 và đại diện Austin, Texas, ở thơ slam tòan quốc Mỹ 2009, West Palm Beach từ 4-8 tháng 8. The Wussy Boy Manifesto là bài thơ xuất sắc của ông, khởi đầu năm1999 và sau đó được sự chú ý rộng lớn. Ms. Magazine đặt tên cho Big Poppa E là “hình tượng những người đàn ông ẻo lả” và báo The Los Angeles Times coi ông là “thủ lĩnh của phong trào những người đàn ông mới”.


NHẠC RAP: ẨN DỤ & THUYẾT GIÁO

NHẠC RAP:
ẨN DỤ & THUYẾT GIÁO
___________________

Christian Béthune

Từ biểu tượng đến thực tại,
tiền bạc như là bằng chứng và ẩn dụ

Trong thế trận đấu võ cố hữu của văn hóa hip-hop, tiền bạc giữ một địa vị định đoạt: trong cuộc đua tranh này, kiếm được nhiều tiền hơn địch thủlà nắm trong tay sự ưu thế. Và, nếu “sự hồn nhiên của các ca sĩ rap trong việc săn đuổi sự thành công vật chất là một trường hợp hi hữu trong giới nghệ sĩ thế kỷ 20” (1), thì sự quyết tâm làm giàu đó cũng gây khó chịu không ít trong số những người theo dõi, bởi nó vi phạm một trong những giả định thiết quan trọng của thẩm mỹ cho rằng giá trị thương mại và giá trị nghệ thuật tuyệt nhiên không nên độc nhiễm nhau. Là đề tài chính của nhiều bài ca rap, sự thoải mái về tiền bạc có tầm quan trọng ở cả hai mặt: trong phần hàm súc biểu tượng khá đậm đặc, và trong phần thực tế tích cực mà nó dâng hiến cho ke? đã thành công. Làm ra tiền không chỉ đơn giản là đạt sự thành công vật chất, mà còn là sự chiến thắng một hệ thống quỷ quyệt, được sắp đặt với mục đích cản trở sự thành công về mặt kinh tế của những người Mỹ-Phi:

Phần đông người da trắng nghĩ rằng với tư cách cá nhân, chúng tôi không nên hưởng thụ những lợi nhuận vật chất của sự thành đạt do công lao chúng tôi, bởi thế cho nên chúng tôi phải làm lụng vất vả gấp đôi, gấp ba những người da trắng để vươn tới sự thụ hưởng đó (2)

ca sĩ rap Sister Souljah nhận xét mà không cay đắng.

Trong phạm vi làm nên sự nghiệp có nghĩa là đạt tới sự chủ tể về cả hai mặt biểu tượng và thực tế, bằng cách chiến thắng một hệ thống thù nghịch, sự làm giàu, có thể trở thành mối tranh giành cho một cuộc vận động mỹ thuật mà sự tìm kiếm vật chất và sự tìm tòi thi ca có thể được xây dựng quanh một vận hành đồng tác. Nếu sức mạnh truyền đạt của lời nói cho phép văn từ biến đổi thực tế bằng cách thực hiện những tác động ngôn ngữ, thì tiền bạc, dưới mọi hình thức, có dự phần vào biểu tượng, như sự tìm tòi ngữ nguyên cho thấy có sự giống nhau giữa hai từ monnaie (tiền) và mot (tiếng) từ thời cổ đại Hy Lạp. Đó là một khái niệm về sự vật mà hình như cặp Eric and Paris Making Dollars (EPMD) tán đồng, bởi các tập dĩa của họ cho tới nay thường bao hàm từ business (thương mại) và hàm ý này thường lấp ló trong tựa đề nhiều bản rap: Eric B & Rakim: Paid In Full (Trả hết); D Nice: A Few Dollar More (Thêm vài đô la nữa); Notorious Big: I Love The Dough (Tôi mê tiền): LL Cool J: Another Dollar (Một đô la nữa), Wanna Get Paid (Tôi muốn được trả thù lao). Một thái độ đối với tiền bạc mà các ca sĩ nhạc rap Pháp cũng đã mượn lại chút ít: Idéal J: Je dois faire du cash (Tôi phải hái ra tiền mặt); Puissance Nord: Cash... (Tiền mặt…)

Ca khúc rap có thể đã miệt mài thái quá giá trị biểu tượng và giá trị vật chất của tiền bạc. Tuy nhiên, từ lâu rồi, văn hóa Mỹ-Phi đã biết sử dụng chúng như là yếu tố qui hồi của những trò vật lộn điền kinh (agonistique), cũng như của hệ đề mục (thématique) văn chương; phơi bày sự thoải mái trên phương diện vật chất – trong cách phục sức, trong các vật sở hữu, trong sự ăn xài rộng rãi – , sử dụng chúng như tiêu đề trong những huyền thoại anh hùng lúc chuyện trò, quả thật đã tạo ra những thái độ đặc ưu trong trò chơi song đôi của sự đối chọi xã vị và sáng chế ngôn từ. Ngay trong những bài blues đầu tiên, tiền bạc đã từng là đề tài cốt lõi của thi đề da đen, mà về sau người ta đã bắt gặp lại ở Ray Charles (Green back dollars) cũng như ở Archie Shepp (Money blues). Nếu ở một nước Mỹ khắc khổ (puritaine) nói chung, khẩn lệnh “hãy làm giàu” mang một giá trị đạo đức mà Lục Địa Cũ không nhìn nhận, thì đối với cộng đồng da đen nói riêng, tiền bạc có một kích thước thuộc về bản thể. Tên nô lệ thu gom được một số tiền khá đủtrong tay, có thể ôm hy vọng chuộc lại sự tự do của mình với người chủcũ, và bởi sự kiện này, hắn có thể bước từ hàng một vật dụng đơn thuần sang phẩm cách một con người. Trong trường hợp này, tiền bạc không còn là một dữ kiện thuộc về lượng, nó cũng không phải là một phẩm chất mới, để cộng thêm vào bản thể, nó nâng cấp một cá thể trong chính cái bản thể bằng cách cho phép cá thể vươn lên hàng một chủthể. Sau cuộc giải phóng nô lệ, tiền bạc lại còn là hy vọng của đám dân nô lệ cũ để vượt qua cái lằn ranh trắng danh tiếng, cái lằn ranh tuy vô hình nhưng vẫn ngăn chia họ với cái thế giới có nhiều đặc ân của người da trắng.

Tính đặc thù của các ca sĩ nhạc rap là họ thuộc vào hàng những nghệ sĩ da đen đầu tiên đã thành công trong việc tự kiểm điểm sự sản xuất cũng như sự phát hành tác phẩm của mình, hoặc thương lượng được với các nhà sản xuất những giao kèo có lợi. Trong khi các ca sĩ nhạc blues và các nghệ sĩ nhạc jazz đã thường thấy nguồn lợi tức đến từ nghệ thuật của họ rơi vào túi những hãng sản xuất dĩa nhạc, các ca sĩ nhạc rap đã vươn tới sự tự trị kinh tế thực sự, thậm chí họ có khi còn là chủnhân ông của cả một cái đế quốc tài chính nữa. Sự vinh quang chắt lọc được từ sự thành công vật chất mỹ mãn đó lại càng thêm thỏa mãn dưới mắt họ, vì bởi, với các tay ma cô và các tên găng tơ, và sự bạo tàn, và với những từ tục tĩu và những hình ảnh dâm dật trong ca lời của họ, các ca sĩ rap đã vươn tới cái thế giới tiền bạc và đặc ân bằng sự công kích dữ dội những giá trị bọc nỉ xuất phát từ cái thế giới thanh lịch của entertainment (3), bằng sự không ngần ngại thẳng tay hạ bệ vài cái huyền thoại của star system (4):

Với lắm người thằng Elvis là một anh hùng
Nhưng với tui thì nó chẳng là cục cứt chó gì hết ớ, bạn ạ
Đụ má nó và đụ má thằng John Wayne
Bởi tui là một thằng đen thui nên tui rất hãnh diện
Tui sẵn sàng và tui thời trang và tui có một núi tiền
Các đấng anh hùng của tui đéo cần xuất hiện trên mui tem

Elvis was a hero to most
But he never meant shit to me, you see
Motherfuck him and John Wayne
Cause I’m black and I’m proud
I’m ready and hyped plus I’m amped
Most of my heroes don’t appear on no stamps (5)

Cùng một tính cách với văn hóa Mỹ-Phi — cái văn hóa Mỹ-Phi phần lớn tùy thuộc vào sự đảo ngược bằng vật lộn điền kinh vài mảnh của văn hóa tây phương mà người ta đã dung thứ để cho lọt vào tay bọn nô lệ — chính bởi sự phá hoại từ bên trong cái lô gích của chủnghĩa tư bản mà cái thế giới hip-hop gây dựng sản nghiệp của những người tham dự, như xây cất một pháo đài trực diện ke? thù.

Bài thuyết giáo của ca sĩ nhạc rap

Sự tiếp cận giữa nhạc rap và thế giới thiêng liêng được thể hiện trước tiên trong cách đọc cắt nhịp. Nhiều tác giả đã nhấn mạnh sự tương đồng trên phương diện hình thức giữa cách phát âm những âm vần của ca sĩ rap với cách đọc [kinh] của các nhà thuyết giáo cổ võ đám con chiên: “Sức mạnh của tác phong hùng biện của giáo phái Mỹ-Phi đã cho ra đời nhạc soul rap mà người ta có thể xem như là một trong những thể loại tiền vệ của hip-hop”, David Toop (6) đã nhận định như vậy. Đúng là một sự quy hồi của vạn vật, bởi vì, noi theo cách thức của Richard White (biệt danh Mr. Clean đã phổ biến nhạc soul rap trong thập niên 70), đã có vài nhà thuyết giáo xuất thân từ những băng đảng. Yếu tố của chiến thuật truyền khẩu, cách thực hành đó của soul rap, do các preachers (nhà thuyết giáo) hoàn chỉnh, tăng cường quyền lực truyền cảm của lời bằng sự nhấn mạnh tiết nhịp của nghệ thuật phát âm dòng nhạc; nó tạo sự giao cảm với nội dung bài thuyết giáo và khiến mỗi đoàn viên của cộng đồng có cảm giác rằng nhà thuyết giáo chỉ ngỏ lời riêng với mình thôi, và bù lại nó xui khiến có một lời đối đáp hay phê bình, quả thật là một đối khúc củng cố cho sự hòa nhập của cư? tọa.

Người ta hoàn toàn tìm thấy lại ở các ca sĩ nhạc rap cái hiệu quả thuyết giáo đó, nó khiến người nghe bị trực tiếp lôi cuốn thẳng vào văn từ và được dựï phần vào sự xét đoán cái đang được nêu ra. Đó là một cách thức phát biểu nhằm hủy diệt khoảng cách giữa người diễn và người xem, giữa người xướng với người nghe, hầu tạo ra một cuộc thi đua tập thể mà mọi người đều được dự phần. Và khi Ice-T (7) xuất hiện trong chiếc áo tu sĩ, hiệu quả tất nhiên không chỉ thuần túy là sự nhại chơi.

Sự thực hành việc cắt ghép cũng là một yếu tố phổ thông khác nữa của kỹ thuật truyền khẩu. Tương tợ như người ca sĩ nhạc rap khi sử dụng lại những mẫu khúc lấy ra từ cái gia tài nhạc đen, nhà thuyết giáo cũng tạo dựng các bài thuyết giáo từ những mẫu kinh lựa chọn, những phát biểu sẵn có nhặt ra từ trong cái kho tàng kinh kệ mọi người đều biết, và cũng hệt như những samples (mẫu nhạc) được khai quật lên của các ca sĩ nhạc rap, chúng thường xuyên lui tới ghi dấu đánh nhịp cho cấu trúc của bài thuyết giáo. Gắn liền với phong cách đặc thù của sự đọc cắt nhịp, chung cho bài ca rap và bài thuyết giáo, cái sườn lấy ra từ vốn liếng bản xứ đó có hiệu quả tạo ra một chiếc sân chơi chung của ngôn từ như một sở hữu tập thể của mọi đoàn viên, mà người ChủLễ chỉ là một yếu tố. Tuy nhiên cũng có một sự khác biệt cơ bản: trong khi nhà thuyết giáo chỉ ngỏ lời với một giáo đoàn hạn chế giữa các bức tường của ngôi giáo đường — môt thứ cộng đồng mãnh liệt — thì các sứ thần của nhạc rap ngỏ lời với một tập đoàn thị dân vô tận, một tập thể mơ hồ mà người ta có thể xem như là khoáng diện. Điều này giải thích tại sao bài thuyết giáo chỉ hữu hiệu trong mãnh lực trực diện (nằm trong khuôn khổ của nơi thuyết giáo, trong khi ngược lại ca khúc rap tung tín điệp qua sự trung gian của những phương tiện tái tạo âm thanh: dĩa nhạc, băng nhạc, video, và phát thanh trên các làn sóng điện…). Trong khi bài thuyết giáo của vị mục sư qui tụ các tín đồ về nơi thờ phụng, ly tâm tự bản chất, ca khúc rap thì lại hướng về sự phân tán; vả lại, trừ vài trường hợp ngoại lệ, sự qui tụ vào một thính phòng chỉ tạo được sự thành công không đáng kể cho các nghệ sĩ hip-hop. Nếu so sánh với kết quả của dĩa nhạc hay của trích khúc, ca khúc rap bị mất một phần rạng rỡ khi xuất hiện trên sân khấu, và có ve? như tự bản chất, nó thuộc về sự ly tán. Ở thời điểm của họ, George Lapassade và Philippe Rousselot đã từng nhấn mạnh (8), qua sự phân tích bài Knowledge Is King một ca khúc của Kool Moe Dee, rằng ca khúc rap và bài thuyết giáo đều có chung một cấu trúc: “công thức để phóng đi không mang ý nghĩa, nhưng lại rất quan trọng trên phương diện ngắn gọn”, tiếp theo là lời khích lệ, nhưng bằng giọng truyền lệnh, để khai đề, thường đượm nhiều sắc thái tôn giáo: “Sự hiểu biết chính là quyền lực tối cao (Knowledge is king)”, cấu trúc mang tính cầu nguyện vinh danh sức vạn năng của Thượng Đế, mà bất cứ nhà thuyết giáo nào cũng có thể chọn lấy để xây dựng bài thuyết giáo của mình.

Cũng thấm đượm những hàm súc tôn giáo, bài rap Dead Homies / Chúng Ngủm Rồi (9) của Ice Cube cũng mang dáng ve? một bài thuyết giáo về cái chết, và đưa chúng ta vào một không khí xót thương đặc trưng của văn hóa da đen.

Khởi sự theo đúng cung cách của một nhà thuyết giáo đọc một bài điếu văn, Ice Cube, ngay trong đoạn dẫn nhập, đã đặt để khung cảnh và tiết lộ cho chúng ta biết về nội dung của bài thuyết pháp.

1. Tình trạng phi lý: mới tảng sáng mà tôi đã đóng bộ đồ [nỉ] đen (Up early in the morning dressed in black).

2. Sự phi lý của tình trạng đó chính là hệ quả của một biến cố tự chính nó cũng phi lý: thằng bạn chung trường với tôi đã bị bọn cớm hạ rồi (They killed a homie that I went to school with). Nhìn dưới góc cạnh tu từ hùng biện, sự phi lý nhân đôi ấy được nhấn mạnh thêm bởi câu thơ thứ hai: Đừng thắc mắc vì chuyện tôi đã rời nhà với chiếc cà vạt đen (Don’t ask why’ cuz I’m down in a black tie).

3. Chuyển đi từ sự đặc biệt của một biến cố sang sự tổng quát của quan điểm luân lý: Cuộc đời chẳng là cái đống cứt [thơm] để cho ta vọc (I tell you, life ain’t shit to fool with).

Phần kế tiếp của bài thuyết giáo sẽ được tán rộng theo lược đồ sơ khởi bằng cách lợp chồng chéo những bình diện khác biệt.

1. Bình diện thuộc về biến cố đặc biệt: việc mưu sát người con trai và sự đau khổ của thân nhân được mô tả rất hiện thực:

Tôi nghe tiếng bà già nó kêu trời và khóc và rống
Trong khi thằng mọi ngã lăn tòm vào lòng rãnh mương

(I still hear the screams from his mother
While my nigger lay dead in the gutter)

Những chi tiết về cuộc đời của người chết được nhắc nhở tới:

Tôi còn nhớ chúng tôi hay xịt tên mình lên tường để mua vui

(I remember we painted our names on the wall for fun)

Ước vọng trả thù, do sự tức giận, được hình dung như là một giải pháp:

Khiến tôi nổi nóng muốn vác cây súng cưa nòng ra
Để có thêm vài cái thây ma mà khuân vác về nhà
Tuy nhiên tôi chỉ cúi chào và thế là xong cuộc lễ
Ôm hôn bằng hữu và có thể rỏ một hai giọt lệ
Và muốn được xơi bom rơi đến gần như tắt thở

(It make me so mad I want to get my sawed-off
And have some bodies hauled off
But no, I pay my respects and I’m through
Hug my crew and maybe shed a tear or two
Then I wanna blitzed)

2. Thế nhưng lựa chọn con đường thù hận và bạo tàn là dự vào sự phi lý chung. Đúng vậy, khi tôi nâng cốc bia lên (grab my 40 oz):

… để mà tưởng mà nhớ
Cái thằng bạn hiền thằng anh em độc nhất của tôi

(… I remisce
About a brother who had to be the one and only)

Biến cố mà người ta than trách hôm nay không đơn le? mà là sự lập đi lập lại của một chuỗi những phi lý tương tự chỉ có sự thức tỉnh của lương tri mới tránh khỏi được:

Lại thêm một thằng bạn thân bị bắn trong một trận càn quét
Và bà má nó đi đưa ma và bị khủng hoảng tinh thần
Hai phát súng nổ tung cái bản mặt mo đen của nó

(Another homie got murdered on a shakedown
Now his mother’s at the funeral, having a nervous breakdown
Two shots hit him in the face when it blasted)

Bằng cách rất vén khéo, Ice Cube đi từ cái riêng đến cái chung khi xếp chồng lên nhau hai biến cố bi thương tương tợ. Như vậy, hai câu thơ cuối của Khúc Một về cái đám tang hôm nay cũng có liên hệ đến cái đám tang đã xảy ra trước đó không lâu. Ta gần như không thể biết chính xác sự bấn loạn tinh thần của người mẹ đã xảy ra trong buổi tang lễ hôm nay hay trong cái đám tang trước đó. Ta cảm thấy bị vướng mắc vào cái vòng bánh của một trạng huống thê lương không lối thoát.
3. Sự hòa lẫn đó cho phép người xướng đọc bắt qua sự tố cáo tình trạng đạo đức lỏng le?o đang bủa vây, bằng cách tuần tự điểm chỉ: bất công xã hội do sự kỳ thị,

Sao bọn mọi đen chỉ được ngồi xế những lúc như thế

(Why is that the only time when Black folks get to ride in a limo)

sự vặn vẹo méo mó của những liên hệ giữa những người thân trong gia đình và cộng đồng,

Chỉ khi gặp biến thì người trong nhà mới xích gần nhau

(When there’s a tragedy that’s the only time the family is tigh)

không khí bạo tàn được dung dưỡng và thế giới điên cuồng

Thế nên thằng Ice Cube này mới chưng diện thật bảnh bao
Vì đụ mẹ cái thành phố chó đe? này chỉ là một cái đống rác cao
Và mọi người đều giả trá và cù lần và cà chớn

(So that’s why Ice Cube is dressed up
Because the city is so fickin’ messed up
And every body so phony)

Tiện đây cũng xin ghi nhận rằng ba câu thơ kể trên đã lãnh vai trò đúc kết để dẫn đến kết luận của người thuyết giáo, vì luận điểm cuối cùng “So that’s why” (Bởi thế mà / Thế nên…) chính là câu đáp cho câu hỏi của khúc một “Don’t ask why” (Chớ hỏi tại sao / Đừng thắc mắc…)

Thảy đã được tỏ bày, nay chỉ cần kết luận bằng một lời kêu gọi cuối cùng:

Này… [bạn] hãy để tí thời giờ
mà nghĩ tới [cái] thằng đã sạch trơn

(Take a little time
to think about your dead homie)

Với tài khéo léo của một nhà thuyết giáo, Ice Cube đã đi từ cái “tôi” của nhập đề, đến cái “bạn” của kết luận, qua cái “ta” của tán rộng, và như thế bao hàm cả cư? tọa trong cộng đồng của lương tri và mặc niệm. Trong bài rap này, nếu nhìn từ góc cạnh bút pháp, thì không có một chi tiết nào đã bị phó mặc cho sự may rủi. Người Chủ Lễ đã bám thật sát hình thức truyền khẩu của bài thuyết giáo, của bài điếu văn.

Nguyễn Đăng Thường dịch

Chú thích
Trích dịch từ cuốn Le Rap, une esthétique hors la loi (Nhạc Rap, một thẩm mỹ ngoài vòng pháp luật) của Christian Béthune, nxb Éditions Autrement, 1999, Paris. Tựa bài này do người dịch đặt. Các tiểu tựa trong bài là của chính tác giả. Phần 1 (Từ biểu tượng đến…) dịch từ tr. 80-83. Phần 2 (Bài thuyết giáo…) từ tr. 163-168. Đặc biệt cảm tạ nhà phê bình Đặng Tiến và ái nữ của ông đã tra cứu và góp ý để chuyển ngữ hai từ rất khó dịch, là “illocutoire” và “auratique”, không có trong các từ điển Pháp thông dụng như cuốn Petit Robert. Hai từ này được tạm dịch là “quyền lực truyền cảm” (puissance illocutoire) và “mãnh lực trực diện” (présence auratique).

1. Ann Marlow, “The hermeneutics of rap”, trong cuốn Rap on Rap. Straigh-up Talk on Hip-Hop Culture, New York, Delta Books, 1995, tr. 222.

2. Id., tr. 208 (tuyên bố của Sister Souljah trong chương trình truyền hình “Larry King Live”).
3. Entertainment: gồm giới điện ảnh và xướng ca.
4. Star system: hệ minh tinh. Một hệ thống trong thời vàng son của Hollywood, trước thập 60: một diễn viên có ít nhiều khả năng được mời ký hợp đồng dài hạn và độc quyền (có khi còn ở lứa tuổi thiếu niên như Mickey Rooney, Elizabeth Taylor, Judy Garland…) với một hãng phim lớn. Sau đó họ được uốn nắn, chăm sóc, chỉ dạy, lựa chọn cho một hình ảnh bắt mắt (áo quần, mái tóc, trang sức…) và một vai tuồng thích hợp (đào thương, kép độc, kép mùi, gái thơ ngây, ca sĩ…) rồi được lăng xê để trở thành minh tinh hay siêu sao trên vòm trời Hồ Ly Vọng “có nhiều ngôi sao sáng chói hơn bầu trời thật”. Siêu sao cuối cùng và chói chang nhất (mà hình như cũng là nạn nhân đáng thương nhất) của star system là Marilyn Monroe.
5. Public Enemy, Fight the power, 1989.
6. The Rap Attack, London, Pluto Press, 1984, tr. 47.
7. Ice-T (tên thật là Tracy Morrow). Xin đừng lẫn lộn với Ice Cube. Bị tài tư? điện ảnh gạo cội của Hollywood Charlton Heston quy tội gây hận thù với bài “Cop Killer” (Giết Bọn Cớm), Ice-T đối đáp rất thông minh và mạch lạc, tố cáo sự đạo đức giả của ngôi sao điện ảnh lừng danh, khiến anh tức khắc trở thành một thần tượng và phát ngôn viên hữu hiệu cho giàn nhạc kim khí Body Count (Đếm Xác) của anh.
8. George Lapassade & Philippe Rousselot, op. cit. (?)
9. Dead Homies, Priority Records, 1990.

TRUYỀN THỐNG MỚI, CÁI ĐẸP XƯA

https://www.m-w-juergens.de/ausstellungen/2025_Schloss_Wiligrad/kunstverein_wiligrad_schloss.html
https://www.m-w-juergens.de/ausstellungen/2025_Schloss_Wiligrad/kunstverein_wiligrad_schloss.html
Frederick Turner
Fred TurnerNhà thơ & Triết gia
Fred Turner Nhà thơ & Triết gia

Người đọc quen thuộc với trạm này hẳn sẽ nhận ra một chất men nghệ thuật mới trong không khí. Họ biết rằng những nghệ sĩ khích động trong nhiều dạng thức đã hiện xuất theo bước suy tàn của chủ nghĩa hiện đại hóa thành hậu hiện đại, rằng họ đã bắt đầu gặp gỡ và trao đổi những trực giác xuyên qua những bộ môn nghệ thuật. Họ biết rằng cái thiết định nghệ thuật đang cố sức hạ giá hoặc bao sân nhận thức mới. Họ biết rằng những nghệ thuật mới sở hữu những tư tưởng về mỹ học, văn hóa, và triết học khiến cho phần nhiều cái lí thuyết và ngữ vựng của các chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại hóa ra lỗi thời. Họ biết rằng những kho báu của quá khứ nghệ thuật đang được khám phá trở lại khi các nghệ sĩ đủ loại tự học – hoặc tìm ra những bậc sư phụ trọng tuổi hơn chỉ dẫn – những kĩ năng kinh điển về họa, về giai điệu, về thi luật, về kể chuyện, về đóng kịch, về kiến trúc nhân hòa.

Tuy nhiên câu hỏi chúng ta luôn gặp là: tại sao nền nghệ thuật mới không được biết tỏ tường hơn? Tìm đâu ra nó trong những định chế công zân chính thức, trong những ấn bản và những nhà xuất bản nề nếp, trên truyền thanh truyền hình , trong những rạp hát lớn, trong các bảo tàng đô thị? Mặc dù trong kiến trúc và thiết kế đô thị, chủ nghĩa kinh điển mới và chủ nghĩa đô thị mới đang chiếm đất nhưng vẫn bị cái thiết định kiến trúc coi thường. Dân New York tìm đâu ra những gì đang diễn tiến trong các nghệ thuật mới? – chắc chắn không phải ở trong tiết mục nghệ thuật của tờ New York thời báo (The New York Times) hoặc ở tạp chí Người New York (The New Yorker). Nếu bạn đọc quen thuộc với những cơ sở tài trợ văn hóa lớn như các Ford, Guggenheim, Rockerfeller, Whitney, MacArthur foudation vân vân, câu hỏi hẳn sẽ là “ai tài trợ những nghệ sĩ mới trong công cuộc của họ?” Họ tất nhiên không có được những tài trợ hoặc trú sở lớn. Vậy mà tác phẩm của họ được công chúng hoan nghênh vì chúng đẹp và thích hợp mỗi khi được tiếp cận.
Vấn đề cũng cũ thôi: những người canh cổng. Họ chặn lối các họa sĩ Ấn tượng Pháp, họ chặn lối những ngưới thuộc chủ nghĩa Lãng mạn sơ kỳ, họ thiêu sống những nhà nhân bản sơ kỳ thời Phục hưng, họ trừ khử Jesus và Socrates. Vậy làm sao chúng ta phá xuyên các rào cản ngăn cách những nghệ sĩ của nhân dân với nhân dân?


Chân dung tự họaDo Họa sĩ Christopher Pugliese
Chân dung tự họa Do Họa sĩ Christopher Pugliese

Những trung tâm zao thế

Zải pháp truyền thống là chạy về đích. Trong môn bóng bầu dục, nếu vị jáo luyện đối phương đã bài bố toàn bộ phương tiện chống một cuộc tấn công trực ziện, giải pháp không phải là đánh thẳng vào sự phòng vệ mà là chạy vòng qua nó. Trong quân sự, quân Đức đã đánh chiến lũy Maginot của Pháp trong Thế chiến I bằng cách đó [trong Thế chiến II, các tướng Hoa kì Patton và MacArthur đã đạt thành công ở Anzio hải cảng ở Í], và Inchon [hải cảng Nhân Xuyên ở Triều tiên] cũng nhờ vậy. Các họa sĩ Ấn tượng thắng bằng cách mở phòng triển lãm của Những Kẻ Bị Từ Chối (Salon des Réfusés), những họa sĩ của chủ nghĩa hiện đại bằng cách mở cuộc Trưng bày ở Công binh Xưởng (Armory show). Nếu bạn đã ở trong giáo ban đại học, bạn hẳn biết rằng hầu như không thể nào xuyên phá một hệ thống quan liêu đã cốt hóa – Jải pháp là sáng tạo, một cách tự nguyện, một trung tâm jao thế về học tập, tư tưởng, và thảo luận ở nơi khác trong định chế, lôi cuốn các jáo sư và sinh viên bằng sự khích động về tư tưởng và sự sinh động về thảo luận cho đến khi cơ cấu cũ trở nên ngày càng bị cô lập và thiên chấp. Không ai còn thích ở đó nữa; quyền lực của nó lớn trên giấy tờ, nhưng thực tế trở thành chẳng còn liên quan; nó bị bỏ mặc cho kẹt trơ không người phò tá; đến lúc đó nó trở thành một phế tích không liên quan. Cuối cùng nó co thắt và tiêu ma không có cơ hội đập tan kẻ thù trong cuộc đương đầu mà với nguồn lực cưỡng chế nó có thể đáng kể. Ở Đông Âu năm 1989 sự tình xảy ra như thế – không còn ai đáng lưu í, có tính sáng tạo, hoặc năng động còn ở lại trong guồng máy quan liêu bạo chúa cũ của cộng sản, và nó sụp đổ vì chính trọng lượng của nó.

ttm23Tuy nhiên, để điều đó xảy ra trong nền văn hóa của chúng ta, công chúng phải biết những gì đang ziễn tiến, nhưng hiện nay công chúng phần lớn còn an tâm tin tưởng ở những kẻ ưu tú canh cổng của các phân bộ nghệ thuật, chán chường nuốt những thứ “đổi mới” lập lại trong thực đơn, chấp nhận rằng mình chưa hiểu nổi, và tiếp tục mua những thứ giả thiết phải mua. Nếu những phương tiện truyền thông cũ, mà nền thiết định hoàn toàn kiểm soát, là những phương tiện duy nhất, liên kết công chúng với nghệ thuật vốn cần và xứng đáng, thì vụ việc này hẳn là tuyệt vọng. Nhưng – và đây mới là đích điểm – khi thời thế cất cao tiếng gọi đòi hỏi những phương tiện mới thì kỹ thuật học của con người đã thường đáp ứng bằng một công cụ truyền thông mới mang tính cách mạng, thoát khỏi sự kiểm soát cưỡng chế của những kẻ canh cổng, đó là một zạng thức công luận và thảo luận “đáy tầng” “biên dưới lưới radar” và nó đã trở thành cái chuyển vận của một nền văn hóa mới.

Asphodel

Our guide turned in her saddle, broke the spell:
“You ride now through a field of asphodel,
The flower that grows on the plains of hell.
Across just such a field the pale shade came
Of proud Achilles, who had preferred a name
And short life to a long life without fame.
And summoned by Odysseus he gave
This wisdom, “Better by far to be a slave
Among the living, tha gread among the grave.”
I used to wonder, how did such a bloom
Become associated with the tomb?
Then one evening, walking through the gloom,
I noticed a strange fragance. It was sweet,
Like honey? but with hints of rotting meat,
And army of them bristled at my feet.”

Hoa Thủy Tiên

Kẻ hướng dẫn chúng tôi quay mình trên iên, zải bùa mê, nàng nói:
“Mong các bạn phi ngựa qua cánh đồng thủy tiên,
Thứ hoa mọc trên thảo nguyên của địa ngục.
Ngay bên kia cánh đồng hiện ra bóng mờ
Của chàng Achilley kiêu hùng ham lưu zanh
Và vắn số hơn là có tuổi thọ mà vô zanh
Được Odysseus chiêu tập, chàng ban
Lời khôn ngoan này, “Thà là nô lệ
Trong cõi sống, còn hơn xa vĩ đại trong nấm mồ”
Tôi thường tự hỏi, sao hoa như thế
Lại liên kết với cõi chết?
Rồi một chiều, zạo bước qua u minh,
Tôi thoáng nhận một mùi hương kì lạ – Nó ngọt ngào,
Như mật? Nhưng thoảng mùi thịt đang thối rữa
Là một binh đoàn hoa tua tủa zưới chân tôi.

A. E. Stallings

Mạng lưới

Với người Hy lạp cổ xưa, phương tiện đó là chữ viết. Với thời Phục hưng đó là máy in. Với chúng ta, kỹ thuật học tự hiến để vòng qua độc quyền của một văn hóa hiện hữu cố thủ và dãy chết, đã xuất hiện, như thể linh ứng. Đó là mạng lưới trời (internet).

Không phải dễ khiến nó hoạt động cho vận động văn hóa mới. Thực thế, giống như chữ viết và máy in trước nó, mạng lưới là một kỹ thuật học khá cũ – về mặt thiết iếu, chẳng khác với máy viễn kí mà tướng Ulysses S. Grant thường dùng để liên lạc với các tướng và máy vô tuyến điện truyền chân mà zới đầu tư thị trường chứng khoán ở Paris zùng trong thập niên 1850 để nhận trước những thông tinvề hàng hóa cập bến ở Marseilles. Và chúng ta cũng còn lâu mới nhận diện được những gì nó có thể làm trong tương lai, đặc biệt trong lãnh vực sản xuất và phổ biến văn hóa. Phải mất ít nhất cả trăm năm để các máy in của Gutenberg và Caxton bắt đầu làm tròn hứa hẹn triệt để chuyển hóa xã hội: cho tới lúc đó chúng chỉ thuần túy gia tốc cho công việc sao chép bằng tay, và khiến các zâm thư cũng như những văn bản thiêng liêng bằng tiếng Latin sẵn sàng cung ứng cho từng loại thân chủ. Phải nhiều năm qua đi trước khi những công cụ luật pháp, kinh tế, và í niệm như là luật bản quyền, nhà xuất bản, tạp chí định kì phê bình, nhà sách, thư viện công cộng, quyền tự do ấn loát, những đạo luật về phỉ báng vân vân mới cho phép thị trường đại chúng về chữ nghĩa có hoa lợi nuôi dưỡng được những tác phẩm của Dickens, Emerson, Tennyson, mấy chị em nhà Brontes, Longfellow, Balzac, Hugo, Dostoyevsky, và Hemingway. Cũng như với máy in, chúng ta phải phát minh những định chế mới và những tập tục sinh hoạt mới để đem lại sự sử zụng văn hóa tốt đẹp nhất cho mạng lưới.


Hi sinh

Chúng ta vẫn chưa giải quyết được những vấn đề sâu xa về quyền sở hữu trí tuệ, zanh nghĩa, và sự tuyển chọn biên tập mà mạng lưới nêu ra. Tôi tin rằng những tác gia về sách, tranh, nhạc, thiết kế kiến trúc, và tương tự có thể phải hi sinh phần lớn sự an toàn, thu nhập, và zanh nghĩa mà luật bản quyền cung ứng.

Tạo sinh hoạt nhờ vào sinh hoạt tư tưởng, từ ngữ, thị kiến, giai điệu chưa từng bao giờ là dễ dàng, và trong lịch sử không đơn giản như việc bán một cuốn sách, một dĩa hát, một tranh in, một tượng đồng, hoặc một bức họa. Trước khi có máy in, hầu như một nhà văn không thể nào bán một cuốn sách theo một nghĩa nào trọn vẹn. Ngay cho mãi tới thời Shakespeare những thi sĩ như Phillip Sidney “xuất bản” thơ của họ bằng cách chép tay bằng mực và gửi cho bạn bè, rồi những người này lại lưu chuyển như những chuyện tiếu lâm trên mạng lưới thường khi không có cả tên tác giả. Máy in cố định nội dung một cuốn sách vào biểu hiện vật thể trên mặt giấy và khiến cho nhà xuất bản có thể thồ được thù lao cho tác gia cùng với lợi nhuận của chính mình vào phí tổn vật liệu và chế tạo. Nhưng mạng lưới, như mọi người đều biết, là một nơi mà thông tin có thể tái tạo vô hạn không phí tổn và không tùy thuộc vào phương tiện thể hiện nó.


Mary Sông hằngDo Điêu khắc gia Ward T Elicker
Mary Sông hằng Do Điêu khắc gia Ward T Elicker

Những hoàn cảnh thay đổi

Chúng ta có thể phải tái phát minh cung cách trong đó những nhà phát minh, nghệ sĩ, nhà tư tưởng, có được zanh nghĩa và tài trợ và sinh hoạt nhờ tác phẩm của mình. Trong công cuộc này chúng ta có thể được hổ trợ nhờ một đặc điểm của phương tiện mới mà chúng ta đã từng liếc qua khả năng của nó, cung ứng tri thức cũ sẵn sàng mới lại. Chúng ta chỉ có thể học từ quá khứ. Một điều chúng ta học được là mặc dù trình tự hiện luôn có phần rủi ro, người ta đã có thể bằng những phương tiện gián tiếp được tưởng thưởng nhờ tác phẩm của mình. Các nhà thơ kiêm họa sĩ Trung quốc không được trả tiền về thơ hoặc những bức họa thủy mạc về phong cảnh của họ, nhưng trúng tuyển qua một kì khảo hạch về thơ phú họ có thể nhận được quan chức với bổng lộc. Một nhà văn cừ vào thế kỉ 16 hoặc 17 ở Anh không thể bán đại trà một cuốn sách nhưng có thể kiếm được một chân mục sư trong giáo hội Anh quốc hoặc có thể làm thư lại cho một bộ trưởng trong chính phủ. Văn học, dù phẩm chất rõ ràng tùy thuộc vào sự dấn thân nghệ thuật chân thực của tác giả, có thể tác động như một thứ quảng cáo hoặc tiếp thị cho chính tài năng của nhà văn.

Trong âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, kịch nghệ, và vũ đạo, những vấn đề tương tự cũng nảy sinh. Âm nhạc, như chúng biết qua vụ Napster còn dễ bị tổn thương hơn là văn học, vì những hoàn cảnh thay đổi do mạng lưới gây ra. Vốn trước kia chỉ có một sân đình quí tộc mới có thể bao nổi âm nhạc thời thượng thì ngày nay ai cũng có thể thủ đắc hầu như miễn phí. Những nghệ thuật tạo hình còn chưa gặp khủng khoảng toàn diện, cho đến khi nào kỹ thuật học vi ti (nanotechnology) cho phép chúng ta tạo được những bản phục chế chân xác của những vật thể ba chiều, nhưng nhiếp ảnh đã hình thành một cách sâu xa quan niệm về bản quyền thị giác và những nguyên tắc về tính nguyên tác. Những nghệ thuật trình diễn tất nhiên đã bị thách thức do điện ảnh, video, và bây giờ là những cách tân như Jenny-cam. Nhưng có lẽ hào quang của sự hiện diện nhân thân, là thứ không thể tái tạo, sẽ giữ cho các nghệ thuật này có thân chủ mua vé và có lợi nhuận theo cung cách của các gánh hát rong ngày xưa.


Những phương cách mới

Tuy nhiên, mặc dù những vấn đề báo nguy và có khả năng hoán cải cầu trường này, tôi tin rằng sự hứa hẹn của mạng lưới trong việc qua mặt trật tự giãy chết của chủ nghĩa hiện đại – hậu hiện đại thì lớn lao đến nỗi rất xứng đáng với những hiểm nghèo và hi sinh. Chính bản thân tôi ngày càng nghiêng về chiều hướng đưa tác phẩm của mình lên lưới và cho thiên hạ tha hồ sao chép nếu muốn. Những tác gia và nghệ sĩ khác tôi biết trong “vận động kinh điển tự nhiên” (natural classical movement) cũng cảm nhận như thế. Nếu chúng tôi tiến hành, chúng tôi sẽ quay trở lại trong một số phương cách về “nền kinh tế trao tặng” xưa hơn, nhưng không có sự an toàn của hệ thống làng xã xưa gồm những nghĩa vụ và đối đãi thiết thân. Trong làng, người láng giềng của tôi có thể bao tôi một chầu nhậu hoặc cho tôi một giỏ táo đổi lấy một bài thơ hay; nhưng một người lạ đọc tác phẩm của tôi ở một trạm trên lưới không hề cảm nhận nghĩa vụ như thế. Tuy thế, về lâu về dài, sự mất mát riêng thiết thân còn được bù lỗ nhiều phần hơn nhờ sự chuyển thể trong văn hóa do hậu quả kia – và nền văn hóa mới có thể cúng dường tốt hơn cho phong cách chúng ta muốn sống.

Nhà soạn nhạc Amy Scurria
Nhà soạn nhạc Amy Scurria

Hiện đã càng rõ là nhiều nhà xuất bản lớn bị những tổ hợp truyền thông khổng lồ nuốt chửng vì chúng tìm kiếm “nội dung” để lót trải cho những hệ thống lưu trữ và chuyển tải thông tin to tát, hầu như đã đánh mất cảm quan về văn hóa là gì ngoài việc tìm ra và đề cao những tên tuổi lớn và những ám ảnh theo chủ đề được thiết định. Những ân quán đại học, lẽ ra có thể cung ứng một chọn lựa giao thế thực sự, phần lớn là những cơ quan của nền thiết định hiện đại – hậu hiện đại. Đại loại có thể nói như thế về những công ti dĩa nhạc, bảo tàng, rạp hát, vân vân đã thiết định. Có lẽ những nghệ sĩ và những nhà văn thực sự cừ tự đánh lừa mình nếu họ nghĩ rằng họ có thể “xuyên nhập” một hệ thống như thế, hoặc cho rằng họ sẽ thành công nếu làm được điều đó. Ai thực sự muốn được đăng tải trên tờ báo The National Inquirer (Người Điều Tra Quốc Gia)? Về nội dung, thực sự có khác nhau bao nhiêu giữa zanh sách những cuốn giả tưởng và phi giả tưởng của nhiều nhà xuất bản lớn ở New York? Trong lúc đó có một lớp thính chúng ngày càng có giáo dục và bồn chồn mong mỏi những chất liệu nghệ thuật và văn hóa có phẩm chất cao (bằng chứng là sự thành công ngoạn mục của một số phim sản xuất độc lập không hề được quảng cáo chẳng hạn). Trong cảnh tượng bất ổn cao độ này, một sự thay đổi rất có thể đột chuyển một cuộc cách mạng.

Giả thử hầu hết những họa sĩ, thi sĩ, người kể chuyện, nhạc sĩ, thiết kế vân vân đơn giản cho đi tác phẩm của họ trên lưới. Sẽ có một cuộc khủng khoảng, người ta sẽ có thể có được những văn ho`a phẩm miễn phí có phẩm chất cao hơn những gì họ có thể có được nếu mua trả bằng tiền. Sẽ là một cuộc “tháo khoán” văn hóa – lối hành xử bán những sản phẩm cao cấp thấp hơn giá thị trường chịu nổi đễ triệt và làm phá sản những đầu nậu thị trường. Thực tình, tôi tin rằng hiện tượng này đã bắt đầu rồi. Các nhà khoa học hiện nay đều đặn vượt ngang những tạp chí tốn kém và đôi khi hẹp hòi ngoan cố in trên giấy, bằng cách loan báo những khám phá của họ, và những trạm trên lưới như Trung tâm zuy tân nghệ thuật (Art Renewal center) của Fred Ross nhận được hàng ngàn vụ vào thăm của những người iêu nghệ thuật không mất thì giờ đi đến các viện bảo tàng Whitney hoặc Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (The museum of Modern Art). Trong âm nhạc phổ thông, những nhóm nhạc mới và hay vượt qua mặt những thương hiệu dĩa hát và tặng không những sản phẩm mê mệt lòng người. Những tranh luận sống động nhất về thơ là ở trên mạng, nơi những bài thơ hay truyền quanh với tốc độ ánh sáng, đôi khi trút mất cả tên tác giả trong trình tự (sự trút tên là dấu hiệu kiện khang của hệ thống, nghịch lí thay). Nếu kẻ trung gian làm biến chất sản phẩm, có lẽ i nên bị loại trừ.

LancelotDo Họa sĩ Anthony J Ryder
Lancelot Do Họa sĩ Anthony J Ryder

Thế jới mới

Tới điểm này những sức mạnh của hệ thống cũ hóa thành những nhược điểm phá hủy. Những đạo luật về bản quyền, vốn bảo vệ hệ thống cũ, gần đây đã trở nên vừa gây hạn chế hơn lại vừa cưỡng chế hơn về mặt pháp lí, khi những tập đoàn công ti ráng sức khóa chặt nội dung vào những bộ máy thông tin của họ. Điều này trong thực hành có nghĩa là một phân bộ sản suất văn hóa trải dài suốt từ thời gian một tác phẩm nhập vào lãnh vực công cộng, bị đóng chặt do lệ phí. Như thế dĩ nhiên chúng ta vẫn còn cả những kho báu văn hóa lớn lao của quá khứ, và bất cứ sáng tạo nghệ thuật mới nào trong tương lai. Trái với nhà chiến lược của nền văn hóa tự nhiên kinh điển mới đang hiện xuất, điều này hiến ta một khẩu hiệu tuyệt vời: quá khứ và tương lai là của chúng ta; chúng ta hãy để cho đám canh cổng già nua cái hiện tại, là cái bị câm lặng vì luật bản quyền, là cái bị rút ruột hết í nghĩa đích thực vì sự suy tàn của chủ nghĩa hiện đại; và thay vào đó chúng ta hãy sáng tạo một thế giới mới.

ttm23Ba dị nghị lập tức trình ra khước bác kế hoạch này: tiền bạc, zanh nghĩa, và chọn lựa.

Dị nghị thứ nhất có thể phát biểu như thế này: nếu các nghệ sĩ và nhà văn chỉ đơn giản đưa tác phẩm của họ lên siêu mạng, là cái có thể tái tạo với những giá trị sản xuất cấp cao, những phẩm chất của nguyên bản, làm sao họ được trả tiền cho tác phẩm của mình? Dĩ nhiên người ta có thể trả lời rằng các nghệ sĩ chân chính, giống như Van Gogh tội nghiệp, dẫu chết đói vẫn không tránh được việc tạo ma thuật, dù có được trả tiền hay không.

Dẫu cho vô cảm, lập luận này vẫn giữ được tính ích lợi xã hội vì xã hội sẽ có được nghệ thuật nó cần thiết với giá hạ. Nhưng các nghệ sĩ chết đói rất có thể tạo ra thứ nghệ thuật mang đầy tuyệt vọng và vong thân cùng tổn thương tâm lí đến nỗi nhưng bông trái mà xã hội có được từ họ sẽ bị tẩm độc. Thực tình, tôi tin rằng nhiều trong những căn bệnh văn hóa tiếp theo phong trào Lãng mạn, khi các nghệ sĩ không còn được các phường hội và giới quí tộc bao bọc bảo vệ, có thể vạch dấu từ bệnh thái này.

Tòa nhà Lúa gạoDo Kiến trúc sư Allan Greenberg
Tòa nhà Lúa gạo Do Kiến trúc sư Allan Greenberg

Nhu cầu và phê bình của công chúng

Chúng ta đã lược nhìn qua một giải đáp: hệ thống Trung quốc hoặc hệ thống giáo hội Anh quốc, trong đó những tài năng nghệ thuật và văn học được minh nhiên nhìn nhận như những tư cách về thư lại hoặc viên chức. Chaucer, Donne, Milton, và Swift là những công bộc quan trọng của nhà nước hoặc nhà thờ. Van Eyck là một nhà ngoại giao và điệp viên hàng đầu của xứ Burgundy. Leonardo da Vini la quan binh hàng đầu trong các thiết định quân sự của Milan và Florence; Goethe là một chính khách; Bach là một viên chức cao cấp của nhà thờ. Ở Trung quốc, Lí Bạch là một quan lại của hoàng đế, cũng như Đỗ Phủ và Vương Bột đều là những thi-họa sĩ lớn của triều đại nhà Đường.

Hiện nay hệ thống đại học và cao đẳng Hoa kì đã thực thi nhiều chức năng của nhà thờ và nhà nước thuở xưa khi hổ trợ nghệ sĩ trong lúc họ sáng tác. Vấn đề ở đây là, khi bị cô lập với nhu cầu và phê bình của công chúng, các nghệ sĩ trong các phân khoa không thể được xét đoán qua phẩm chất tác phẩm của họ, và việc chọn lựa hay lưu giữ họ rơi vào việc giám sát của đám đồng liêu, mà trong giới nghệ thuật vốn đầy tai tiếng về hủ bại do chính tự thân việc giám sát này. Do hậu quả đó mà nghệt thuật hàn lâm còn phần lớn sa lầy trong vũng bùn của hậu kì chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại, vốn an nhiên cung ứng một loạt các tiêu chuẩn khuôn sáo về phán đoán ít ra cũng được các phe phái ở nhiều trường đại học khác nhau chia sẻ. Tệ hơn nữa, bởi thầy cô ở các phân khoa ngày nay càng được phán đoán một cách khuyết tịch theo mức độ đắc nhân tâm, nên quyền lợi của họ là không làm li cách các sinh viên khi bắt chúng phải học những môn khó như là vẽ hoặc luật thơ, thế cho nên các môn này suy vi. Còn đáng báo nguy hơn nữa, như Frederick Feirstein đã vạch ra, là các nghệ sĩ trong phân khoa đại học tiến tới chỗ coi như một tiêu chuẩn của nội dung nghệ thuật chính ngay những suy nghĩ và cảm xúc của đám thiếu niên họ dạy dỗ – sự nổi loạn, sự ham muốn cái mới, sự rập khuôn, sự ưa thích những giải pháp quá giản đơn, và những chân trời thời gian chật hẹp của chúng.

Mạng lưới có thể giúp ta giải quyết vấn nạn này bằng cách phơi mở các nghệ sĩ ở các phân khoa ra với đại chúng. Những đáo đạt và viện dẫn, cùng với một hệ thống lượng giá chúng, như thể các ngành khoa học đã sử dụng để xét đoán tầm quan trọng của những bài viết về khoa học có thể là một biện pháp rất đáng tin cậy hơn để đo lường giá trị của một nghệ sĩ so với việc được một mạng cố tri nào đó chọn đăng bài, hay được các giám hộ đồng quan điểm “đúng phép” về í hệ chọn triển lãm, hoặc tuyển dựa vào “tủ sách những nhà thơ trẻ”

An nghỉ IIDo Nhà thơ Richard Moore
An nghỉ II Do Nhà thơ Richard Moore

Tuy vậy, cuốn sách thực thụ, buổi trình diễn nhạc sống, sơn và bố, gạch và hồ, vẫn là những nền tảng thiết iếu của một diễn đàn nghệ thuật điện tử. Chúng giống như những tài nguyên thực thụ bảo đảm cho một đồng tiền giấy. Ở đây tôi cần vạch ra rằng những truyền thông mới không hề đe dọa những tiến lộ của các nghệ thuật. Thực ra chúng còn thường khi khiến cho một dạng thức truyền thống hơn về thông tin và biểu thị có thể đạt tới một sự toàn hảo hơn nhiều về nghệ thuật. Những thành đạt lớn nhất về nghệ thuật nói trong kịch nghệ chẳng hạn, tới nay bén gót những bước tiến ngoạn mục về sự biết chữ và truyền thông viết – ấy là ở Athens thời cổ đại với bi kịch và hài kịch Hi lạp sau sự sử dụng phổ biến của văn tự abc, và ở nước Anh thời nữ hoàng Elizabeth nơi kịch nghệ của Shakespeare có thể nở rộ trước một lớp thính chúng mê say và thông thạo với chữ in. Những người iêu điện ảnh từng sợ là truyền hình sẽ làm tiêu hủy điện ảnh; trái lại, truyền hình khi mang lấy những chức năng thô thiển của điện ảnh, đã giải phóng để điện ảnh trở thành nghệ thuật. Nhiếp ảnh cũng có thể làm điều như thế cho hội họa, như cuộc triển lãm Eakins gần đây của viện bảo tàng Metropolitan minh chứng. Những tạp chí nhỏ hoặc ấn quán nhỏ tận tâm với thơ hạng nhất, sẽ không bị mạng lưới thay thế, nhưng cả hai thứ đó sẽ trở thành nơi trữ tàng và kim bản vị của văn học trên mạng ảo.

Điều dị nghị chính iếu thứ nhì đối với mạng lưới liên quan đến vấn đề danh nghĩa. Nếu thông tin có thể tái tạo một cách vô hạn, làm sao các tác gia và nghệ sĩ có được, nếu không phải là tiền bạc, ít ra cũng là zanh nghĩa đã tạo ra tác phẩm? Như tôi đã gợi í, một sự vô danh nhất định ngay chính nó cũng là dấu hiệu của một dạng thức nghệ thuật dân chúng kiện khang. Có thể nào hòa hợp hai lí tưởng – thừa nhận tài năng sáng tác cho đúng cách, và một mối quan tâm hùng hậu của đại chúng vào phẩm chất của tự thân tác phẩm, bất kể đến danh tiếng của người tạo tác? Khéo sao, mạng lưới lại là phương tiện tuyệt vời về mặt này, như bất cứ thầy giáo nào cũng biết khi phải dò tìm một vụ nghi ngờ đạo văn. Chính cái kĩ thuật mà học sinh sử dụng để tìm ra tư liệu đánh cắp trên lưới thì lại càng dễ sử dụng để túm bắt i – chỉ cần ghép khoảng nửa câu trong bài văn bảnh một cách đáng ngờ lên trạm phục vụ truy tìm google, là nguyên bản với cả tựa đề, tác giả, toàn bộ hiện lên ngay. Rất dễ để tạo ra những hệ thống để thực hiện điều đó với những dạng thức về thị giác hoặc những chuỗi hòa âm, sao cho chừng nào tài liệu nhạc phổ nguyên bản còn trên tuyến, thì sự lưu thông vô danh của nó luôn luôn có thể dễ dàng dò đến tận người tạo tác. Ngay cả các tư tưởng cũng có thể dò tìm lại tận gốc, như tôi đã tìm ra được, bằng cách chọn lựa khéo léo những từ chìa khóa.

Dù cho có tìm ra được những đường lối thích hợp để thừa nhận và hổ trợ các nghệ sĩ trong một tương lai văn hóa truyền thông qua mạng lưới, vẫn còn một vấn đề nữa. Đó là dị nghị thứ ba, đối với nền kinh tế trao tặng biên giới mở ngỏ về các nghệ thuật mà tôi gợi í. Đó là vấn đề tuyển trạch, lựa chọn, và phẩm chất. Nếu những kẻ canh cổng hiện tại bị qua mặt và chế độ của họ teo tóp lại như thể đế quốc Xô viết cũ, thì ai là người sẽ giúp công chúng đãi lọc qua khối lượng mênh mông những sản xuất nghệ thuật tự xưng đủ mọi loại? Nghệ thuật xấu giống như đồng tiền xấu, tống mất thứ tốt. 500 kênh truyền hình có lẽ cho chúng ta nhiều lựa chọn hơn, nhưng mỗi lựa chọn lại kém phẩm chất; nếu muốn thức ăn ngon, chúng ta tới một tiệm ăn với vị đầu bếp tinh tế sành sỏi, chứ không phải tới một siêu thị. Một lí do khiến người ta ngưng đọc thơ mới, ngưng nghe nhạc nghiêm túc mới, hoặc ngưng đi tới các cuộc trưng bày hay trình diễn về nghệ thuật đương đại là vì quá nhiều những thứ họ thấy thì tầm thường, hoặc tệ hơn nữa, và họ không có thì giờ đãi lọc cứt sắt để tìm ra vàng ròng.

Nhưng ở đây một lần nữa, giải pháp lại tự hiện xuất. Nếu không có một thứ độc quyền hoặc tổ chức thao túng nào về phía những kẻ canh cổng, thì những người canh cổng tốt sẽ tự thân hiện xuất, qua một sự tuyển trạch bằng tiến hóa của thị trường tự do. Mạng lưới đã chứng tỏ tự thân hữu hiệu trong vai trò này. Trạm truy tìm thông tin Google chẳng hạn, như một chủng loại thành công vô kể, đã tiến hóa để trở thành công cụ nghiên cứu tổng quát chỉ trong vài năm ngắn ngủi. Những trạm mạng được ưa thích nhất mau chóng tự thiết định đối với người trượt mạng, và những hệ thống nối kết đã dẫn chúng ta với hấp lực ngày càng tăng về phía những trục nơi các tư liệu tốt nhất được thu thập. Lạ kì thay, là trình tự này, lại mang tính hợp tác hơn là cạnh tranh, hoặc đúng hơn, đồng thời có trọn vẹn cả hai tính chất này, bởi những trạm nhỏ hơn chính là những lối đưa tới những trạm ln hơn, và những trạm lớn hơn lại tham chiếu người trượt mạng ra những trạm nhỏ hơn.


Tony BennDo Họa sĩ Elizabeth Mulholland
Tony Benn Do Họa sĩ Elizabeth Mulholland

Cảnh quan văn hóa thay đổi

Tiếp theo điều này là hiện đang có một nhu cầu vĩ đại và một cơ hội vĩ đại cho những nhà biên tập, giám hộ, giám định, và phê bình hàng đầu sẵn sàng đem tài năng phục vụ nghệ thuật. Như chính các nghệ sĩ, những nhà biên tập phải trông chờ làm việc với thù lao tiên khởi ít ỏi, nhưng với khả năng có thể tạo được những danh tiếng lớn mà sớm muộn gì cũng chuyển thành những phần thưởng vật chất.

Vậy, nếu chúng ta lao vào việc, cả nghệ sĩ, biên tập, nhà phê bình, nhà giám hộ cùng với những người iêu nghệ thuật và những nhà giám định, chúng ta có cơ hội thay đổi triệt để cảnh quan văn hóa và xúc tiến một kỉ nguyên mới về nghệ thuật. Một số người nhìn xa trông rộng đã cống hiến thời giờ và tài năng vào tuyến, tạo những trạm trên lưới giúp công chúng tìm được nền nghệ thuật chính đáng của ngay thời mình. Tôi đã nêu ra Trung Tân Duy Tân Nghệ Thuật (Art Renewal) của Fred Ross. Arthur Morteson, với trạm Thơ Mở Rộng (Expansive Poetry) và nhạc trên tuyến (music Online), và Terry Ponick với Biên Thành Tạp chí (Edge City Review) đang hoạt động xuất sắc, cũng nên nhắc đến trạm Cổng Thơ (The Poetry Porch). Và cơ sở Newington (Cropsey Foundation) đang chuẩn bị mở trạm riêng, sẽ khuếch trương sứ mạng phi thường của tờ tạp chí này vào không gian điều khiển học.

Sau chót, vận động này cần một bảng chỉ dẫn đa khoa và một tổng trạm trung ương cho toàn thể ảo thành. Và đã có sẵng một ứng viên cho vai trò này: Trạm NewBohemia (Tân Lãng Du), trạm kiệt xuất của René Gruss lo toan không những việc tạo những nối kết trực tiếp với mọi công cuộc của kỉ nguyên “tự nhiên kinh điển” suốt mặt các nghệ thuật, mà còn là nơi những biến cố thực sự có tầm vóc, như triển lãm, hòa nhạc, ra sách, thi đua kiến trúc vân vân có thể trù hoạch và điều hợp.


Những trái cam & bìnhDo Họa sĩ David LigareThế jới mới
Những trái cam & bình Do Họa sĩ David Ligare Thế jới mới

Cả một thế giới mới về hoạt động văn hóa hiện đang mở ra, và ai biết được nó sẽ phát triển ra sao, hoặc ngay cả việc những chướng ngại lớn lao chặn đường nó có thể vượt qua được hay chăng? Có thể cái thiết định hậu hiện đại đang tồn tại sẽ đập nát hoặc hớp mất phong trào; không chừng sẽ có sự hoãn hòa lớn, và sự thay đổi sẽ mang tính tiến hóa hơn là cách mạng. René Gruss, với sự độc đáo đặc thù, lập luận rằng công cuộc và mạo hiểm làm những thay đổi nảy sinh thực sự mới là chuyện đáng kể – trần thuật về cuộc tái sinh tự thân là một bộ phận của nội dung kỉ nguyên văn hóa mới. Như vậy, mọi người đều liên quan đến vận động này, gồm cả hầu như ngay trong định nghĩa những độc giả của quí san nghệ thuật Hoa kì (American Arts Quarterly), đều đang làm lịch sử và dấn thân vào một trong những biến cố sáng tạo của câu chuyện loài người. Gruss đang hối thúc chúng ta tạo những kí lục, hình ảnh, hồi kí về những cuộc đàm thoại và gặp mặt, những biến cố của Hậu Vệ (Derriere Guard), những trao đổi thư, những bữa ăn trưa, những thỏa thuận, hoặc bất đồng, bởi vì chúng sẽ là thực chất của lịch sử văn hóa của chính chúng ta và là những tư liệu vô giá cho những nhà khảo cứu và sử gia tương lai. Quí biết bao nhiêu nếu có được những nhật kí hoặc phác thảo về việc Homer đọc thơ cho một thư kí, Giotto sửa soạn bích họa, Gutenberg quyết định với người khắc chữ của ông về con chữ đầu tiên làm sao thích nghi với minh họa, hoặc cách chuyển phù hiệu âm nhạc lên trang in.

Đây là thời gian hào hứng cho những nghệ sĩ và những ai iêu nghệ thuật chân chính, đòi hỏi hiểm nghèo và can trường. Nhưng những phần thưởng thật là lớn lao.


Nguyễn Tiến Văn dịch
Tranh bài: Manfred W. Juergens

GIỚI THIỆU FRACTALS: NHỮNG DẠNG THỨC CỦA HỖN MANG

John Briggs

Mọi người nói chuyện về thời tiết; đó là thứ chúng ta ai cũng biết. Mỗi buổi trưa, ánh nắng mặt trời rọi chiếu trong mái hiên, trong khi ở một nơi cư trú khác của thị trấn có thể đang mưa. Thời tiết là một hiện tượng mà chúng ta đều chia sẻ. Với sự biến đổi, sự tùy thuộc tổng quát, từ khoảnh khắc này qua khoảnh khắc khác, không thể dự đoán, thời tiết xâm nhập vào thời khóa biểu, thiết lập hay làm hư hại kế hoạch, ảnh hưởng đến trạng thái, và kết hợp chúng ta với môi trường chung quanh và lẫn nhau. Thời tiết điển hình cho một trật tự bí ẩn trong hỗn mang.

Vài thí dụ khác: Dạng thức tạo bởi những viên sỏi lộn xộn trong cảnh băng giá, trồi trên mặt đất, lốm đốm với rêu mốc. Cây mọc ngoài cánh đồng trống, cành và nhánh ngổn ngang tình cờ. Những con chim én tán loạn, giống như một nắm bụi được ném ra, nổi lên tiếng líu lo huyên náo, rồi tụ tập lại, bay nhập vào bầy đoàn có tổ chức. Ánh chớp nhoáng, đứt đoạn trên nền trời.

Hầu hết mọi người đều thấy đầy sự ngẫu nhiên trong thiên nhiên, vui thú làm sao, sâu sắc làm sao, đó là điều bình thường, có một trật tự cường tráng, ngay cả thần bí đối với những hình dạng biến đổi của làn sóng vỡ, lũ chim én trong buổi chiều mùa hạ, và thời tiết. Có hàng thế kỷ, những nhà khoa học không để ý tới những trật tự thường tình như vậy. Thái độ đó, rất lâu rồi, đã thành một thứ lương tri. Công việc truyền thống của khoa học đã đơn giản hóa, phơi bày lý giải cơ bản của thiên nhiên, rồi dùng như một phương tiện để chế ngự.

Nhưng hiện tượng thiên nhiên phức tạp như thời tiết không thể tháo rời, tẩy đi, và học dưới lớp kính của phòng thí nghiệm. Một cái cây đơn lẻ là kết quả của loạt chuyển đổi những tình huống duy nhất và rộng lớn, cái kính vạn hoa của những ảnh hưởng, như trọng lực, từ trường, cấu tạo của đất, gió, góc cạnh mặt trời, lũ côn trùng, mùa thu hoạch, và cây cối. Một làn sóng lẻ loi đập vào bờ biển, được đưa tới và duy trì bởi một tổ ong “động lực” hoặc những lực hoạt động liên tục, quá nhiều để xác định từng chi tiết.

Làn sóng và cây cối là những hệ thống động lực, mà trạng thái thay đổi qua thời gian. Những hệ thống như vậy thường đa diện, phức tạp, và tương thuộc. Chúng đẩy và kéo lẫn nhau ngay tức thời, tạo nên sự bất quy tắc nhạy bén và không thể đoán trước, là ký số của môi trường vật lý bao quanh. Từ quan điểm khoa học, sự bất qui tắc như thế từ lâu được coi đơn thuần như sự bừa bộn làm lu mờ quy cách cơ học của khoa học, vận hành bên dưới. Trên lý thuyết, những nhà khoa học tin rằng, sự bừa bộn đó có thể làm sáng tỏ và tiên đoán chính xác trạng thái vận hành, nếu thu thập đầy đủ thông tin để xác định vô số sự nối kết hổ tương giữa nguyên nhân và hậu quả. Qua đó, hầu như mọi người đều không hiểu rõ, rất nhiều giả thiết quan trọng về thiên nhiên đã bị đúc khuôn bởi ý tưởng khoa học này.

Trong thế kỷ 20, tràn ngập những khả năng thần diệu của khoa học để am hiểu và chế ngự môi trường vật lý bao quanh. Tiến bộ kỹ thuật làm lóa mắt của thế kỷ này làm mọi người tin rằng những gì khoa học không biết bây giờ về thiên nhiên, sẽ biết vào một ngày nào đó, và kiến thức này không tránh khỏi dẫn đến sự chế ngự càng lúc càng nhiều hơn. Theo giả thiết như vậy, ngay cả sự vận hành của hệ thống động lực phức tạp cao độ cũng phải nhường cho những công thức và máy tính của nhà khoa học. Thí dụ, trong cả thập kỷ những nhà khoa học đã đầu tư rất lớn, về tài năng và công nghệ vào việc nghiên cứu giả thuyết về một động lực mênh mông là khí hậu – mà chúng ta đều chia sẻ – bởi sự cải tiến về lượng và phẩm đo lường, tạo nên những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến thời tiết, sự tiên đoán thời tiết chắc chắn phải cải tiến. Và trong sự tiên đoán thời tiết, giả thiết sâu xa này đã bị lật nhào một cách mau chóng.


 

Gió từ những cánh muỗi

Năm 1961 một nhà khí tượng ở Massachusetts Institute of Technology, Edward Lorenz, đã khám phá ra một sự kiện gây xáo trộn. Ông thấy rằng thu thập nhiều thông tin về những biến đổi như tốc độ gió, sức ép không khí, độ ẩm, nhiệt độ, và những vệt nắng mặt trời sẽ không giúp sự tiên đoán chính xác thời tiết lâu dài. Lorenz quả quyết, sự tiên đoán thời tiết thất bại, không phải có bao nhiêu thông tin mà nhà khí tượng dồn cục lại được. Lý do, ông suy diễn, hệ thống động lực như thời tiết được cấu tạo bởi rất nhiều yếu tố tác động lẫn nhau, nhạy cảm cực độ ngay cả với sự kiện nhỏ nhất. Sức nóng tỏa ra từ mui xe, gió từ những cánh muỗi ở Madagascar, hầu hết những gì không bao gồm trong cách đo của nhà khí tượng, có thể đủ làm thay đổi sự vận hành của hệ thống thời tiết. Sự thấu hiểu của Lorenz có nghĩa, cảm nhận của giả thiết cũ vẫn còn đúng: hệ thống động lực phức tạp được quyết định bởi nguyên nhân của chúng. Nếu biết tất cả nguyên nhân, có thể biết trước những gì xảy ra. Nhưng những ảnh hưởng trên một hệ thống như vậy, Lorenz tìm thấy, có hiệu quả vô tận. Như một nhà vật lý ghi nhận, hệ thống rất nhạy cảm và bị ảnh hưởng bởi những gì nhỏ tí như sức hút của một điện tử ở đầu khác của vũ trụ. Thiên nhiên bị chi phối bởi hỗn mang, nhưng không phải thứ hỗn mang hời hợt, giảm thiểu thành trật tự một cách lý thuyết, nếu thu thập được đủ thông tin. Hơn nữa, hỗn mang của thiên nhiên thì sâu xa – chỉ một cách có đủ thông tin để hiểu, cũng bao gồm ảnh hưởng ngang bằng cố gắng tập hợp những thông tin.

Với khám phá của Lorenz, các nhà nghiên cứu hăng hái lao vào khảo sát tất cả các loại hệ thống động lực, từ mạch điện tới bộ não con người, và tìm ra luật mới. Kết quả này thúc đẩy họ thay đổi quan điểm về hiện thực. Với một tốc độ gây nhiều ấn tượng, những nhà khoa học chuyển sự nghiên cứu thiên nhiên như một trật tự, theo truyền thống, thành nghiên cứu thiên nhiên như hỗn mang, và qua đó, vẫn chưa có sự đồng thuận ngay tức khắc về việc định nghĩa thuật ngữ hỗn mang.

Trong huyền thoại và truyền thuyết, hầu hết mọi nền văn hóa đều vật lộn với ý tưởng, trật tự và hỗn mang là một lưỡng tính có từ ban sơ. Trong truyền thống Thiên chúa, Chúa được diễn tả như mang ánh sáng (trật tự), làm thay đổi diện mạo của thâm sâu (hỗn mang). Người Babylon cổ đại kể về người anh hùng huyền thoại, Marduk, quay tròn Tiamat, và biến người mẹ bất hòa điệu của tất cả, thành trật tự của trời và đất. Ở Ấn độ, Siva, cha của trật tự trên trời, ẩn trốn một cách ngược đời trong chỗ hỗn mang khủng khiếp như những bãi chiến trường, đốt cháy nền tảng của sự chết. Trong truyền thống cổ đại Trung hoa, hiện thực hàng ngày được tạo và tái tạo bởi sự đắp đổi giữa ánh sáng mang vào, nguyên tắc trật tự, dương, và bóng tối, tràn đầy trong vật chất, âm. Hy lạp cổ đại tách Apollo lý trí, chống lại Dionysius dâm dục và hỗn mang. Người Iroquois ở Bắc Mỹ tu luyện tinh thần giống như Dionysius, gagonsa hay mặt giả – đeo chiếc mặt nạ vặn vẹo kinh khủng thể hiện (và thanh lọc) tâm thần và sự hỗn loạn vật lý. Nhiều bộ lạc trên thế giới bao gồm nhân vật lừa đảo giữa những thần linh, cắt xén trật tự để thể hiện sự dối trá và châm biến liên tục của thực tại.

Tìm cách đơn giản hóa thiên nhiên vào một vài số lượng “luật”, khoa học hiện đại tự giữ khoảng cách giảm trừ như vậy, trong những miền tối tăm về ý tưởng hỗn mang. Tuy nhiên, trong thế kỷ thứ 19, những kỹ sư đã khám phá – với sự phiền muộn – một loại công nghệ hỗn mang. Họ nhận ra, năng lượng hay sức nóng, luôn luôn mất đi trong máy móc, và điều này đưa những nhà vật lý ghi nhận được nhiệt động lực hỗn mang, một loại súp phi vật thể mà kết quả là khi nóng, phân tử được cấu tạo của năng lượng định hướng nguội đi, hãm lại, và bắt đầu uốn lại với nhau một cách tình cờ. Hình thức này của hỗn mang gọi là “entropy.” Những nhà lý thuyết khoa học thế kỷ 19 tiên đoán, vũ trụ tự nó, một ngày nào đó có kinh nghiệm về sự chết nóng và chấm dứt trong tiếng rên rỉ của độ hỗn loạn, hòa tan giải thiên hà, những vì sao, sao chổi – mọi thứ – trong thang số một thứ nước lèo vũ trụ.


Hỗn mang nhạy cảm

Hình thái hỗn mang mà Lorenz và các nhà khoa học khám phá vào thập niên 1960 và 1970 có lẽ gần với hỗn mang của huyền thoại và truyền kỳ cổ xưa. Hỗn mang, mới đầu xuất hiện như những tinh thể đầy màu sắc và trừu tượng trên màn ảnh computer chung quanh thế giới, phô bày một trật tự mạnh mẽ, khó quên. Đó là hỗn mang, đúng vậy: không thể đoán trước. Nhà khoa học theo đuổi những tinh thể nhảy lò cò trên màn ảnh, phát hiện ra sự giàu có không thể tưởng tượng, từ trước đến nay.

Để chụp những bức hình lộng lẫy này, cứ tưởng tượng nhìn hai chiếc lá thu rơi song song trên con suối. Giòng suối, với những chiếc lá, đá, nhánh cây, khúc quanh, sức ép của nước, là một hệ thống động lực phức tạp, chảy quanh co qua rừng cây: thẳng, đang lặng lờ đột nhiên gặp dòng thác xoắn, vắt lại, tung tóe trên kè đá rồi bị những cành nhánh ngăn lại, tiếp tục êm đềm trôi. Hai chiếc lá rơi, trong khoảnh khắc, kéo lại gần nhau, cuộn tròn, nối đôi chung quanh cơn xoáy. Tuy nhiên, không lâu. Vị trí hai chiếc lá thay đổi nhẹ nhàng, tách ra bởi sự chuyển động của dòng nước, và bắt đầu rời xa. Sau một vòng xoáy khác, một chiếc đong đưa, lướt qua bờ rìa những nhánh cây, xuôi theo dòng chảy; còn chiếc khác quay tròn chậm chạp và mắc vào một nhánh cây nhỏ, nước đẩy ngược, cuốn như một giải băng mỏng, tối và rồi đổi chiều, nương theo một lối nhỏ, nhập vào dòng nước.

Những chiếc lá trong hệ thống động lực này là bằng chứng của sự nhạy cảm tối đa đối với điều kiện ban đầu. Sự thay đổi nhỏ tí ti ở điểm khởi hành dẫn tới sự khác biệt vô cùng lớn trong phần số của chúng. Sự quá nhạy cảm đó là chuẩn độ của hệ thống động lực hỗn mang. Sở dĩ như vậy bởi vì chúng luôn luôn chuyển động, thay đổi, và không bao giờ có chu kỳ lập lại một cách chính xác với tình trạng ban đầu. Giống như sự thay đổi dòng sông thời gian, như nhà hiền triết Hy lạp Heraclitus đã trầm ngâm: Chúng ta không thể bước hai lần vào cùng một dòng sông. Sự nghịch biện của Heraclitus đúng với dòng đời thực và là điểm chính của hỗn mang. Rõ ràng, ngay cả khi một hệ thống động lực phức tạp vận hành có qui tắc và trật tự, ở chỉ mức nguyên tắc nhạy cảm ngầm của hỗn mang, có thể làm tách lìa sự vật. Đó không phải là việc xấu. Thật ra, đó là phần giàu có của đời sống. Thí dụ, trong phôi nhi đang phát triển của cặp song sinh với DNA như nhau, những tế bào di chuyển tới vị trí để hình thành bộ óc song sinh theo quá trình và tạo nên dạng thức nối kết khác nhau. Sự phát triển phôi thai là một hệ thống động lực, và sự nhạy cảm cao độ của điều kiện ban đầu tạo nên cái nền cố hữu của hỗn mang, chắc chắn rằng những song sinh y khuôn đó sẽ không bao giờ y khuôn một cách hoàn toàn.


Hỗn mang: cửa sổ vào toàn thể

Một lý do mà những yếu tố trong hệ thống động lực hỗn mang nhạy cảm đối với điều kiện ban đầu là hệ thống phức tạp này lệ thuộc vào sự phản hồi. Thí dụ, qua sự chuyển động xoáy và hỗn loạn, nước trong dòng suối tạo sự phản hồi bởi sự gấp lại ngay tức khắc trên chính nó. Những hệ thống đầy dẫy sự phản hồi đa tạp gọi là “positive feedback”, thường xuyên chịu sự biến đổi quyết liệt trong vận hành, như khi người phát biểu kề máy vi âm quá gần, gây những tạp âm, làm thành tiếng rít chói tai, hoặc khi một giọt băng đá rất nhỏ trên cánh máy bay nổ bùng làm biến loạn không khí, cũng có thể đủ đưa đến hỗn loạn làm rớt máy bay. Hệ thống thay đổi triệt để qua sự phản hồi được gọi là phi tuyến tính (nonlinear). Như tên gọi, nó đối nghịch với hệ thống tuyến tính (linear system), là hệ thống có thể lý giải, gia tốc, và đoán trước. Hệ thống tuyến tính, nói một cách chính xác, là hệ thống có thể diễn tả bằng phương trình toán học tuyến tính – như hỏa tiễn đạn đạo và mặt trăng, di chuyển ổn định trong quĩ đạo chung quanh trái đất. Một con tàu vũ trụ được đẩy nhẹ bằng hỏa tiễn kích thủy lực (biến chuyển động quay thành chuyển động thẳng), đáp xuống chính xác trên bề mặt mặt trăng là hệ thống tuyến tính. Giống như sự bật nổ của kích thủy lực, thay đổi rất nhỏ trong hệ thống tuyến tính tạo nên những tác dụng nhỏ đoán trước được. Trong hệ thống phi tuyến tính, nói cách khác, sự gấp và tái gấp lại của phản hồi, phóng đại mau chóng những thay đổi nhỏ, vì thế tác dụng – như tiếng hú bất thình lình của diễn giả hoặc như viên sỏi lăn, làm băng lở – cân xứng với nguyên nhân. Những hệ thống phi tuyến tính vận hành một cách phi tuyến tính vì chúng đan dệt với sự phản hồi tích cực, nên chỉ cần một cái giật nhẹ ở bất cứ đâu, có thể phóng đại thành sự chấn động hoặc biến hóa không ngờ.

Những nhà hỗn mang nhận ra, trong vài trường hợp, hệ thống phi tuyến tính vận hành trong cách bình thường, trật tự, tuần hoàn cho tới khi một điều gì đó bắt đầu – vượt qua điểm giới hạn, bất thình lình đi vào hỗn mang. Nhưng rồi tới một điểm chuẩn nào đó, chúng trở lại trật tự cũ. Tưởng tượngï, một hòn đá nằm ở đáy dòng suối. Khi nước di chuyển bình thường, nhẹ lướt qua hòn đá, không một gợn sóng. Nhưng sau một trận mưa lớn, tốc độ của dòng chảy bất thình lình gây một vùng chảy rối trên mặt nước. Rồi khi trở lại bình thường, dòng chảy trên mặt nước vẫn như cũ nhưng hòn đá thì không còn nữa. Hoặc hỗn mang chồm lên trước hay không tùy thuộc vào vị trí. Điều đó có nghĩa là trong hệ thống động lực, hỗn mang và trật tự là những mặt nạ khác nhau mà hệ thống đã đeo vào: trong vài trường hợp hệ thống hiện ra một bộ mặt; trong trường hợp khác hiện ra bộ mặt khác. Những hệ thống này có thể xuất hiện đơn giản hay phức tạp; đơn giản và phức tạp ẩn trong nhau. Thật ra, những nhà hỗn mang đã soi sáng và tìm ra, trong hệ thống động lực điển hình, phương trình hoàn toàn đơn giản đưa tới kết quả tương tự như sự khiêu vũ vô trật tự của hỗn mang. Vì vậy, nghiên cứu về sự phức tạp không đẩy những nhà khoa học bỏ rơi niềm tin về sự đơn giản của tự nhiên – qua đó, chắc chắn, nó chứng minh quả là có một loại đơn giản kỳ lạ và bất định.

Những nhà hỗn mang nhận ra một cách nhanh chóng, vùng truyền ứng của hệ thống động lực – điểm mà từ đó hệ thống chuyển động từ đơn giản đến phức tạp, từ trật tự ổn định, trong sáng tới sự hồi chuyển tối đen và không thể hiểu thấu của tổng thể hỗn mang – rất thú vị. Bên trong vùng truyền ứng và miền giới hạn, hệ thống thoái hóa và hiện xuất trong những dạng thức (patterns). Qua chi tiết không thể đoán trước, có thể đoán trước những dạng thức và vùng biên độ của sự chuyển động. Thực tế, những nhà khoa học hiểu rằng, dạng thức của hệ thống được lập lại rõ ràng, bị lôi cuốn như thể chúng vỡ ra hoặc hiện xuất từ hỗn mang. Sự khám phá này soi sáng những nhà khoa học bởi vì nó còn giữ lại lòng tôn kính khoa học về sự đoán trước – cho tới bây giờ đó là loại đoán trước kỳ lạ và bất định.

Nhưng làm thế nào hiểu về thẩm mỹ kỳ lạ của hỗn mang? Câu trả lời không chần chừ, “tính toàn nhất.” Hệ thống động lực nhạy cảm, phi tuyến tính và không thể đoán trước trong từng chi tiết, vì chúng được mở, hoặc từ những ảnh hưởng bên ngoài hoặc do sự dao động tế vi từ bên trong. Với sự khám phá ra lý thuyết hỗn mang, điều không thể quên sự kiện đơn giản, hệ thống động lực – bao gồm tiến trình có ý nghĩa nhất trong thế giới chúng ta – không vận hành trong cô lập. Hai chiếc lá rơi từ ngoài vào dòng suối, có thể coi như tổng thể của hệ thống động lực gọi là dòng suối. Hơn thế, tự trong dòng suối, mọi yếu tố từ một cành cong mạnh mẽ tới chiếc lá nhỏ nhất và hòn sỏi – tác động ngay tức thời với nhau. Mặt khác, hệ thống động lực ám chỉ tính toàn nhất trong đó mọi thứ ảnh hưởng, hay ảnh hưởng tiềm tàng những thứ khác. Ở bất cứ lúc nào, sự phản hồi trong hệ thống động lực có thể khuếch đại một vài ảnh hưởng rõ ràng ngoài hay trong, phô bày quan hệ hổ tương của tính toàn nhất. Một cách nghịch lý, sự nghiên cứu về hỗn mang cũng là nghiên cứu về toàn thể.

Tuy nhiên, nhiều nhà hỗn mang học không dừng ở đó. Bởi sự ăn khớp chắc chắn đối với chủ đề, sự tranh cãi tiếp tục, làm sao định nghĩa một cách chính xác hỗn mang. Vài nhà khoa học hạn chế quan niệm của họ về hiện tượng hỗn mang ở vùng ranh giữa sự vận hành ổn định và hoàn toàn ngẫu nhiên. Những người khác nghiêng về cấp độ thuật ngữ của hỗn mang (với sự ngẫu nhiên ở mức cực độ), lý luận rằng ẩn dưới tất cả mọi cấp độ của hỗn mang là tính toàn nhất cơ bản. Nhưng ngay cả những nhà toàn nhất cũng đồng ý, phạm vi phong phú nhất của sự nghiên cứu về hỗn mang nằm dọc theo biên giới cực kỳ năng động, hiện hữu giữa ổn định và bất ổn định một cách khó hiểu.


Hình học của sự thô nhám

Trong thập niên 1960 và 1970, một nhà nghiên cứu của IBM, Benoit Mandelbrot khám phá ra hình học mới, “fractal”, và đẩy tới cùng ranh giới này. Mandelbrot đặt từ “fractal” gợi ý “đứt đoạn” và “phân đoạn” – loại hình học chú tâm tới những hình thể vỡ, gấp và không bằng phẳng. Hỗn mang đôi khi làm rối loạn hệ thống động lực và tồn tại đơn giản ở vị trí kín đáo. Hình học Fractal diễn đạt những vệt và ký hiệu ghi lại từ hành lang của hoạt tính động lực.

Chúng ta thấy fractal hàng ngày. Cây cối, núi non, lá mùa thu lác đác trong vườn: Tất cả là những dạng thức fractal, dấu hiệu của hoạt tính động lực lúc chuyển động. Lý thuyết hỗn mang kể câu chuyện về những vật thể hoang dã, xảy ra như hệ thống động lực, tiến hóa qua thời gian; hình học fractal ghi nhận những hình ảnh chuyển động trong không gian. Như vậy fractal là sự đứt đoạn còn lưu lại, sau sự va chạm của cơn địa chấn hoặc in dấu sự rối loạn và sói mòn của đại dương trên bờ biển ngoằn ngoèo; đó là cấu trúc của nhánh dương xỉ, qua mép trườn tăng trưởng của băng giá khi đông lại; khoảng cách những vì sao trên bầu trời đêm; những áng mây và lông vũ của ô nhiễm truyền ra từ thiết bị năng lượng. Khi mưa bão tự tạo trong cơn cuồng phong, để lại hình thể fractal của sự tàn phá. Ngay cả sự phức tạp khó hiểu của tinh thể tuyết (snowflake) là kết quả fractal của tiến trình hỗn mang kết hợp với tính đối xứng sáu lần của những tinh thể.

Fractal diễn tả sự thô nhám của thế giới, năng lực, sự thay đổi động lực và biến hóa. Fractal là hình ảnh của sự vật trong cách gấp và không gấp, phản hồi tự chúng và lẫn nhau. Nghiên cứu về fractal được thừa nhận qua sự thấu hiểu của nhiều nhà hỗn mang, phơi mở bí mật bất ngờ của những chuyển động động lực trong thiên nhiên.

Một trong những bí mật đó là thang số fractal. Fractal đưa ra chi tiết giống nhau trên nhiều thang số khác nhau. Thí dụ, vỏ thô nhám của cây cối lần lượt qua độ phóng đại tăng mạnh. Mỗi lần phóng đại, phát hiện thêm chi tiết nhăn nheo của lớp vỏ. Hơn nữa, trong nhiều fractal (như vỏ cây), thang số đi cùng với dạng thức tương đương khác của động lực tự nhiên: tự tương đồng (self similarity). Điều này có nghĩa, khi quan sát kỹ hình ảnh fractal, hình thể của một thang số giống như hình thể từng chi tiết của thang số khác. Thật là kỳ quái. Làm sao những hệ thống đó lại duy trì được sự tự tương đồng trong bản chất hỗn mang ở nhiều thang số khác nhau? Để hiểu nó, phải coi lại thời tiết một lần nữa.

Nhìn từ không gian, thời thiết trái đất xuất hiện trong một thang số rộng lớn: gờ mây cuộn hòa với vùng sáng, sọc lởm chởm, đây đó, bởi nhiều đám mây khác. Bản tường trình bất chợt về nhiệt độ ở thang số trên hành tinh này phô bày điểm nóng mênh mông cũng như những vùng mát. Giả thuyết, nếu thang số địa cầu có nhiều mây ở Bắc Mỹ và trên lục địa lúc này mát hơn bình thường. Giả thử thu nhỏ thang số của lục địa. Thang số của hình chụp không giống như chúng ta nhìn thấy toàn thể trên hành tinh. Hoàn toàn có vài vùng sáng đằng sau luồng khí chuyển động của những đám mây, và đây, với nhiều chi tiết trong bản nhiệt độ, một vài miền ở Hoa kỳø, trên thực tế, ấm bất thường. Ở thang số cỡ tiểu bang, Colorado hình như ấm hơn. Khi điều hòa tiên đoán thời tiết trạm TV Denver, toàn màn ảnh là bản đồ thời tiết tiểu bang. Một lần nữa chúng ta thấy cùng đốm màu giống như ở thang số lớn hơn. Có mây trên Colorado Springs và nhiệt độ khá lạnh, nhưng vùng Aspen bầu trời quang và ấm. Sự tiên đoán thời tiết làm bật cười một vài người bộ hành dọc theo rìa biên Independence Pass gần Aspen. Và ngay bây giờ, ở thang số tương đối nhỏ, có mưa. May mắn thay, từ vị trí thuận lợi đó họ nhìn thời tiết một cách cục bộ. Về thung lũng phía Tây bầu trời quang đãng, và khi di chuyển từ đèo này tới đèo khác dọc theo bờ rìa, họ kinh nghiệm một loại thời tiết thu nhỏ, thoáng qua không khí lạnh và ấm của ao hồ, cường độ đổ mưa nhanh hoặc chậm, và ngay cả một thoáng tia sáng mặt trời.

Rõ ràng, thời tiết ở những thang số khác nhau phô bày sự tự tương đồng, một cấu trúc fractal. Một cách để giải thích điều này, thời tiết thì toàn nhất, có nghĩa là giữa những phần của nó (đằng trước, những mảng mưa hay tuyết, vùng áp xuất cao hay thấp) là “phần của những phần” khác, và “phần của những phần của những phần” (ngay dưới sức nóng dìu dịu đang tỏa ra từ thân thể đẫm mồ hôi của một trong những người đi bộ, hoặc sức nóng của chất hóa học tạo ra bên trong sớ bắp thịt đang căng dãn). Kết quả là khi tất cả “những phần” này và “phần của những phần”bắt đầu tiếp dẫn lẫn nhau, chúng tạo ra hình ảnh (như bản đồ thời tiết) mà dạng thức có chi tiết tỉ lệ. Những dạng thức này minh họa sự kiện, sự chuyển động toàn thể hệ thống tiếp tục xảy ra ở mỗi thang số.

Trong thế giới trừu tượng Euclid, thang số không quan trọng, vì khi khuếch đại hình cầu, hình tam giác, hình vuông, hoặc đường thẳng không sinh ra nhiều thông tin mới. Trong thế giới fractal có những nếp gấp, nếp uốn, đưa tới những chi tiết vô tận, và thông tin càng lúc càng nhiều. Trong thế giới Euclid, nhà quan sát chuyển bước nhảy gián đoạn từ đường thẳng một chiều kích, hình vuông hai chiều kích tới hình khối ba chiều kích. Trong thế giới fractal, những chiều kích lộn xộn như trái banh xoắn lại, và đối tượng không phải hai hay ba chiều mà ở giữa đâu đó. Thực ra, hình học fractal được biết như hình học giữa các chiều kích (geometry between dimensions). Tùy thuộc nếp gấp hay phần mảnh, đối tượng của fractal có thể là bất cứ một trong những số vô cùng tận của chiều kích fractal.

Hình ảnh fractal tăng sự suy xét về hiện thực như nơi chốn làm bởi những thế giới bị gấp lại bên trong thế giới tự tương đồng – đó là, thế giới bị gấp lại giữa các chiều kích. Cúi xuống nhìn đám rêu trên kè đá, chúng ta thấy một rặng núi thu nhỏ che phủ cây cối, một thế giới vi mô của quang cảnh rộng lớn. Nhưng nếu đúng là mọi thứ trên hành tinh này tiến hóa qua tác động mạnh mẽ với mọi thứ khác, có lẽ chúng ta không ngạc nhiên về những hình ảnh tự tương đồng toàn nhất ở chung quanh. Những ngón tay trên bàn tay tự tương đồng với cánh chim họa mi và vây cá voi. Sau cùng, tất cả chúng ta tiến hóa bên trong một hệ thống động lực toàn nhất là cuộc đời.


Computer là cái kính hiển vi

Khi nhà khoa học và toán học bắt đầu làm việc với hình học fractal, họ ngạc nhiên khi tạo ra hình thể fractal rắc rối trên màn hình computer với phương thức phi tuyến tính rõ ràng đơn giản. Những phương thức này có hạn kỳ phản hồi: kết quả của phép tính cho thấy, vào trở lại một phương trình và phương trình đó hoạt động lại. Tiếp tục cho chạy lại một phương trình mà đầu vào lại là chính nó, đó là tiến trình trùng lặp. Điều này dẫn tới sự phức tạp dị thường, đôi khi là cấu trúc đẹp một cách kỳ quái phô bày fractal tự tương đồng. Một trong những cấu trúc nổi tiếng tạo ra từ computer để lập lại phương trình liên quan tới một bộ đặc biệt của những con số được đặt tên theo nhà toán học Benoit Mandelbrot, người đầu tiên khám phá ra vẻ đẹp của chúng.

Sự tự tương đồng tinh vi, thanh nhã và quái lạ xuất hiện dọc biên giới Mandelbrot set, tạo dựng biểu tượng thuần toán học về tiến trình hỗn mang của thế giới thực mà ở đó fractal tự tương đồng hiện hữu, nương theo mép rìa của gợn sóng, trong vùng nứt gẫy, và luồng khí thời tiết. Những nhà khoa học bây giờ thường xuyên dùng phương thức fractal lập lại, làm mẫu mực cho sự hồi chuyển và mở ra của hệ thống động lực thực, như dòng chảy rối của nước và nhiên liệu khí.

Thật khó phỏng đoán vai trò của computer trong cuộc cách mạng về fractal và hỗn mang. Nếu không có khả năng tính toán, lập lại phương trình hàng triệu lần, cuộc cách mạng có lẽ đã không thể xảy ra. Tốc độ cao, con số bị nghiền nát bởi computer trở thành sự nghiên cứu về hệ thống động lực phức tạp, như kính hiển vi nghiên cứu vi trùng học, bộ gia tốc hạt nghiên cứu về cấu trúc hạ tầng nguyên tử, và kính viễn vọng nghiên cứu về khoảng không gian mênh mông. Computer chú tâm vào hiện tượng chưa từng thấy trước đó. Sức mạnh computer làm hình ảnh sinh động từ những mẫu toán học, tăng sự hiểu biết về nét đẹp phức tạp của hỗn mang. Một kết quả ngạc nhiên đã kéo hai nền văn hóa lại với nhau sau cả trăm năm, nếu không nói là cả ngàn năm, bị ngăn cách.


Sự khám phá ra thẩm mỹ mới (và cũ)

Lý thuyết hỗn mang và hình học fractal kéo dài khả năng của khoa học để làm những gì đã làm xong: tìm thấy trật tự bên dưới sự rối loạn. Tuy nhiên, trật tự của hỗn mang cũng xác định giới hạn khả năng của chúng ta. Với computer, nhà khoa học có thể thấy hỗn mang, hiểu luật lệ của nó, nhưng không thể đoán trước hoặc kiềm chế. Tình trạng bất định trong lý thuyết hỗn mang và hình học fractal vọng lại hai khám phá khoa học của thế kỷ này: tính bất định nền tảng mà định lý Goel tìm thấy ẩn trong toán học và một chuỗi bất định của thực chất nguyên tử và nghịch lý được phát hiện bởi cơ học lượng tử. Khoa học, trong thế kỷ này, học được sự cố ý của thiên nhiên đằng sau tấm màn che, áp đặt một trật tự tế vi, và luôn luôn vượt ra ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

Những nghệ sĩ luôn luôn tận dụng và đánh giá những gì gọi là “trật tự trong bất định.” Nhà thơ lãng mạn Anh John Keats khâm phục những gì ông gọi “ khả năng thụ động,” khả năng hình thành “trong bất định, bí ẩn, và hồ nghi.” Ôâng cho rằng khả năng này là chìa khóa cho sức mạnh sáng. Leonardo da Vinci nhấn mạnh, “họa sĩ không hoài nghi, sẽ rất ít thành đạt,” và ông khuyên những nghệ sĩ lớp sau tìm sự hứng khởi cho tác phẩm trong những vết màu trên tường. Những nghệ sĩ đã khám phá, từ muôn đời, trong hoài nghi, bất định và ngẫu nhiên của đời sống, sự hài hòa đi thẳng tới yếu tính của hiện hữu. Bất cứ gì mà những họa sĩ, nhà thơ, hoặc nhạc sĩ mô tả – trừu tượng hay hiện thực – cuối cùng, tác phẩm của người nghệ sĩ ám chỉ thế giới trong những thế giới. Bên trong nghệ thuật luôn luôn có cái gì khác hơn những gì có thể bắt gặp bằng mắt, trí tuệ hay tai nghe. Bởi vì khả năng này gợi ra thế giới trong những thế giới, nghệ thuật luôn luôn fractal. Khoa học về hỗn mang giúp định nghĩa thẩm mỹ một cách mới mẻ, nằm dưới đáy những ý tưởng thay đổi nghệ thuật của từng thời kỳ khác nhau, văn hóa và trường phái.

Rất nhiều nghệ sĩ đương thời, như họa sĩ phong cảnh ở Connecticut Margaret Grimes, nhận ra trong lý thuyết hỗn mang sự nối kết sâu xa, khuynh hướng nghệ thuật cá nhân đối với thế giới. Grimes nói: “Những ý tưởng xác nhận có tính cách toán học điều tôi đã hiểu thấu rồi, kinh nghiệm qua sự quan sát về thiên nhiên. Những lý thuyết như vậy có tính cộng hưởng lớn, như sự thật mà chúng ta biết nhưng không biết diễn đạt làm sao.”

Họa sĩ New York, Nachume Miller, tham dự cuộc triển lãm nghệ thuật năm 1989 về hỗn mang, nhận xét, lý thuyết hỗn mang được áp dụng, chẳng những trên chủ đề mà còn trên tiến trình nghệ thuật qua đó tác phẩm trở thành hiện hữu: “cách mà tôi tiến hành hoàn toàn hỗn mang, không có gì rõ ràng. Chúng ta trả lời một chuỗi những biến cố xảy ra khi làm việc. Mới đầu là một kịch bản rối rắm trên mặt bố. Chúng ta không thật sự biết nó là gì. Ngay cả không thích nó, và nhìn thêm, làm quen dần dần với những gì xảy ra, chúng ta sẽ dần dần sáng tỏ.”

Nhiếp ảnh gia ở Oregon Joe Cantrell diễn tả tiến trình tương tự trong tác phẩm của ông: “Trật tự ở ngoài đó, trong rất nhiều bề mặt, từ đó chúng ta hoặc không có nhận thức nào hoặc đã được huấn luyện để không nhìn thấy nó. Tôi giật mình vì ngạc nhiên. Tôi thường nhập vào những chủ đề tầm thường. Nghệ thuật nhiếp ảnh tiến hành khả quan khi chúng ta ở trong tình trạng tự đánh mất mình. Chúng ta cảm thấy một điều gì thật tuyệt vời, ở phút cuối, nhưng không thể nhớ từng chi tiết cho tới khi nhìn thấy kết quả sau cùng.” Kết quả là một bản ghi fractal giữa sự tác động với chủ đề, thông thường là tự chính đối tượng fractal như nhánh dương sỉ, núi lửa, và rối nước. Thẩm mỹ mới (và cũ), qua hỗn mang, có thể diễn tả như sau:

Đó là toàn nhất: sự điều hòa trong đó mọi thứ đều bị ảnh hưởng bởi những thứ khác. Trong fractal toán học và tự nhiên, tính toàn nhất xuất hiện như sự tự tương đồng, chứng cớ của tiến trình phản hồi toàn nhất – có thể được ghi nhận từ sự biến đổi vô tận – không tạo bởi sự hoán vị mù quáng của vài hình thức ở những thang số khác nhau. Hơn thế, nó gần với sự tự tương đồng khi so sánh bàn tay con người với cánh chim họa mi, vây cá voi, và một nhánh cây. Công việc của nghệ sĩ là tìm ra và diễn tả sự liên hệ có ý nghĩa, giữa hình thức và chất lượng tự tương đồng và tự khác biệt cùng một lúc, để tạo ra tác phẩm nghệ thuật cho phép chúng ta, thoáng bắt sự tự nhiên toàn nhất của vũ trụ và sự hiện hữu của chúng ta trong đó. Miller nói về tác phẩm của ông, “nếu lấy một mảnh trong tác phẩm, dạng thức điển hình tôi dùng, trên nguyên tắc nó rất giống toàn thể bức tranh. Nó có cùng một loại lý giải như cái toàn thể.”

Miller nhấn mạnh, người nghệ sĩ không cố “tiêu biểu” cho tự nhiên. “Thay vì phác họa tự nhiên để bức tranh giống như tự nhiên.” Chúng nên giống hình thái đời sống – và đặc điểm chủ yếu của hình thái đời sống, trong cách fractal, tự nó phản ánh hệ thống động lực của tự nhiên như một toàn thể. Yếu tố toàn nhất là đặc điểm của cảm thụ thẩm mỹ mới (và cũ). Đó là tại sao khi chúng ta nhặt lấy viên sỏi màu lấp lánh trên bãi biển giữa những mớ lộn xộn, dù rằng nó có thể không hấp dẫn ở nơi hỗn mang tự nhiên. Cắt một lối đi trong rừng hay một đường cái trong rừng già, qua động tác của chúng ta, toàn cảnh trở nên biến đổi. Hỗn mang khẳng định chi tiết cá thể của vật chất. Những nghệ sĩ biết rằng giống như sự nhạy cảm của hệ thống động lực hỗn mang, thay đổi một phần nhỏ của bức tranh hay bài thơ có thể hủy diệt hay biến đổi tác phẩm.

Tính toàn nhất của thẩm mỹ mới mang lại mối quan hệ mới (và rất cũ) giữa người quan sát và vật thể được quan sát. Gốc Hy lạp của chữ thẩm mỹ gợi ý, kinh nghiệm thẩm mỹ liên quan tới sự biến đổi, thay thế cho cả đối tượng và người quan sát. Khoa học giả thiết một cách truyền thống, người quan sát có thể đứng ngoài và trở thành đối tượng về những gì mà họ quan sát. Lý thuyết hỗn mang khám phá, tuy nhiên, những nhà quan sát là phần không thể tách rời của hệ thống động lực, điều mà những nghệ sĩ luôn luôn hiểu được. Với lý thuyết hỗn mang, không còn có thể giả thiết, người quan sát có thể phân tích một cách thanh thản một đối tượng hoặc tiến hành trong phần cấu thành của nó (sự giả thiết đó trong khoa học được gọi là “thuyết hoàn nguyên”), bởi vì “những phần” là động lực và vì thế có những hiệu ứng không thể đoán trước. Grimes tóm tắt mỹ thuật mới khi bà cho rằng sự thấu đáo về “cấu trúc/tiến hóa, ổn định/ tự phát – sự sinh sản vô tận: Dạng thức mà chúng ta nhận biết, được cấu thành của những dạng thức đan dệt khác biệt vô cùng tận. Ý niệm về trật tự và hỗn mang phản ánh mối liên hệ tuyệt đối của toàn thể và ý nghĩa vô tận của từng phần, dù đó là một yếu tố, một hành động hay một tiến trình.”

Nghiên cứu về hỗn mang rõ ràng đã làm những nhà khoa học nhạy cảm đối với kinh nghiệm thẩm mỹ của nghệ thuật. Paul Rapp, nhà thần kinh học ở Medical College, Pennsylvania, thừa nhận, hình dạng ông biểu thị trên computer dù không thể so sánh với “monet tệ hại nhất.” Nhưng ông diễn đạt với sự nhiệt thành của một nghệ sĩ, phản ứng đối với biểu thị fractal này – tiêu biểu toán học của sự suy nghĩ trong trí óc con người. Những bức hình video về dữ kiện điện não ký chỉ ra, sự hoạt động điện từ của bộ não hỗn mang và bất khả đoán, trong đó một trật tự ẩn, bị lôi cuốn đối với một vùng chắc chắn của phần không gian thiết kế. Ông nói về sự khám phá ra những vùng quyến rũ kỳ lạ của fractal trong bộ óc: “Tác động cảm xúc của hình ảnh điện ký não, với tôi, thật đáng kể. Đầu tiên chúng ta có thể nhìn thấy những thay đổi trong hình học của hoạt động điện ký não xảy ra như là kết quả của hoạt động tri thức con người. Trước những attractor này được cấu tạo, tôi không biết chờ đợi gì. Tôi chờ đợi để nhìn thấy điều gì rất buồn chán, không thay đổi một cách có ý nghĩa như chủ thể bắt đầu nghĩ. Lúc mà những cấu trúc này tràn ngập trên màn ảnh và bắt đầu xoay tròn, tôi biết rằng tôi đang nhìn thấy điều gì phi thường.”

Scott Burns, giáo sư giảng dạy về môn công nghệ tổng quát trường đại học Illinois ở Urbana-Champaign, nhìn thấy những hình ảnh ông tạo ra từ hỗn mang toán học kích thích sự thán phục của người xem. “Một bạn đồng sự của tôi nói, ‘đây quả là căn bản về niềm tin Thượng đế.’ Tôi không đi xa hơn nhưng chắc chắn, đó là căn bản về lòng tôn kính thiên nhiên.”

Để có cảm giác làm sao thẩm mỹ hỗn mang mang hai nền văn hóa khoa học và nghệ thuật lại với nhau, so sánh với tuyên bố của Mario Markus, nhà vật lý ở Max Planck Institute, Dortmund, Đức quốc, và Eve Laramée, nhà điêu khắc ở New York.

Trong phòng thí nghiệm, Markus tạo ra những hình ảnh fractal duyên dáng, ký quái và ám tối, một tập hợp quan trọng của những phương trình dùng cho mẫu rối loạn. Markus kiềm chế qua những biến số như phương trình để mô tả, giá trị toán học để bắt đầu, màu sắc phân định giá trị, thang số và mức cường độ để dùng, ông nói, giống như sự kiềm chế mà nhà nhiếp ảnh thực hành qua chủ đề mà không phải bấm cái nút kỹ thuật trên computer. Ông lý luận, “những chọn lựa đặc biệt của một cá nhân, so sánh với những chọn lựa của người khác, cho phép chúng ta nhận biết ‘phong cách.’ của họ. Thật sự có thể nói rằng những phương trình còn có thể coi như một loại tranh vẽ mới bằng bút lông.”

Laramée sáng tạo những công trình nhìn giống cổ đại từ đồng, muối và nước. Có lần bà lắp ráp tác phẩm trong một phòng triển lãm, muối hòa tan và bắt đầu ăn những hình thể fractal phức tạp vào đồng, qua thời gian. Trong khi Markus cố tự lồng vào những phương trình của ông và áp dụng vài kiềm chế để hỗn mang tự động lộ ra, Laramée tách mình ra khỏi tiến trình và để hỗn mang thường xuyên cuốn vào. Bà nói, “Đó là điểm nơi tôi ‘di động’ bàn tay của người nghệ sĩ, và để cho tự nhiên tiếp tục hoàn tất tác phẩm.” Như vậy thẩm mỹ mới sáng tạo bởi hỗn mang đánh bẫy cả nghệ sĩ và khoa học gia, cả người quan sát và bị quan sát. Cái gọi là bức tường đối tượng/chủ thể, qua thế kỷ đã ngăn cách những nhà khoa học và nghệ sĩ tiếp cận với thiên nhiên và bây giờ đang bị vỡ ra từ cả hai phía.


Một vũ trụ đầy hỗn mang và fractal

Những nhận thức hầu như thay đổi hàng giờ như những nhà nghiên cứu khoa học và nghệ thuật soi xét qua cửa sổ của fractal và hỗn mang để khám phá dạng thức có ý nghĩa của sự bất định ở khắp nơi: bề mặt của một vài siêu vi bây giờ được biết là fractal. Nhịp điệu và ký số fractal rõ rệt được tìm thấy trong cơ quan nhận dopamine, men và chất dẫn truyền thần kinh trong bộ óc. Hình học fractal được dùng để diễn đạt sự thấm dầu qua sự cấu thành đá. Nhà soạn nhạc tạo nên loại âm nhạc fractal: nhà thảo chương đang nghiên cứu hiệu quả của hỗn mang trên mạng lưới computer; nhà hóa học áp dụng fractal vào sự sáng tạo chất nhựa tổng hợp và chất liệu đồ gốm; nhà kinh tế học áp dụng fractal tìm ra vị trí vùng quyến rũ kỳ lạ ẩn dưới sự thăng trầm của chỉ số thiếu hụt và tiêu chuẩn; nhà sinh thái học dùng nguyên tắc của sự tự tổ chức của hỗn mang để cấu tạo lại môi trường sống đã mất; những mẫu phi tuyến tính đã làm thành cuộc đua vũ trang quốc tế. Một nhà tiểu thuyết táo bạo đã dùng ý tưởng về vùng quyến rũ kỳ lạ trong tiểu thuyết khoa học giả tưởng, đánh giá hỗn mang với sự bất tử.

Ltt chuyển dịch
Từ Fractals, The Patterns of Chaos

MỘT BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT ĐƯỢC CHO LÀ HAY?

 

MỘT BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT
ĐƯỢC CHO LÀ HAY?
__________________________________

Văn Giá

 

Tôi bắt đầu nhan đề  bài viết bằng một câu hỏi có vẻ như khá liều lĩnh? Nó sẽ lập tức dẫn đến một phản biện ngay sau đó: “Hay” là một cách nói định tính, không tường minh được, anh cho là hay, tôi cho là không hay, thậm chí là dở thì thế nào? Thế nên, trong bài viết này, tôi chỉ dám đưa ra cái nhìn của riêng tôi mà thôi. Nếu ý kiến của tôi được số đông bạn nghề/bạn đọc chấp nhận, nghĩa là nó có sức thuyết phục ít nhiều; và ngược lại. Nhưng trên hết, tôi muốn coi đây là một  chia sẻ cùng những ai quan tâm đến thơ Tân hình thức Việt.

1.Tôi nghĩ, cho đến thời điểm này, phong trào thơ Tân hình thức Việt đã xong giai đoạn lập thuyết, và đã bước hẳn sang giai đoạn thành tựu. Tại sao lại nói như vậy? Xin thưa, bằng nỗ lực của Khế Iêm và những người đồng chí hướng, bạn đọc đã được chứng kiến hàng loạt các tiểu luận và thực hành thơ đã được in ấn hoặc trên các trang mạng suốt từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay, tức là đã hơn 20 năm có lẻ[1]. Cho đến nay, nếu ai hỏi thơ Tân hình thức là thế nào thì câu trả lời đã dễ dàng. Trong một bài viết của tôi[1] cách đây hơn năm khi nhận định về tập tiểu luận của nhà thơ Khế Iêm, tôi cũng đã tóm lược 5 đặc điểm quan trọng nhất của  thơ Tân hình thức. Tôi nghĩ, những tiểu luận mang tính khoa học và hệ thống của Khế Iêm và khá nhiều các bài viết của các tác giả trong/ ngoài nước như thế đã đủ tư cách lập thuyết cho loại hình thơ này. Tôi dùng khái niệm “loại  hình” với một hàm nghĩa: trước và cùng với thơ Tân hình thức là mô những hình thơ khác, riêng Tân hình thức tự đứng độc lập như một mô hình khác.

2.Khi đánh giá về một phong trào thơ, thường phải chú ý đến hai phương diện: lập thuyết và thực hành. Phương diện lập thuyết rất quan trọng, nó cho phép phong trào diễn ra một cách có bài bản, mang tính học thuật, tính trí thức, tính tự giác. Một phong trào như vậy phải có tư tưởng- tư tưởng nghệ thuật, được tư tưởng dẫn dắt và chỉ đạo. Công cuộc lập thuyết thơ Tân hình thức Việt này trước hết thuộc về nhà thơ Khế Iêm. Ngoài tư cách là một nhà thơ, tôi muốn dùng một danh xưng nữa để nói về con người này: Nhà lý luận thơ Tân hình thức Khế Iêm.

Tuy nhiên điều tôi muốn nói ở đây là: trong mọi lĩnh vực, lý thuyết nếu không có thực hành, không có sản phẩm thực chứng thì dễ đổ bể; nhưng riêng trong lĩnh vực nghệ thuật có khác một chút: sản phẩm được làm ra lại không thể mang tính đại trà, mà nhất thiết phải có những tác phẩm thực sự có giá trị, tác phẩm đỉnh cao. Nếu sản phẩm trong nghệ thuật ở mức làng nhàng, sẽ không thể bảo hiểm cho lý thuyết được. Cho nên, nhiệm vụ của phong trào thơ Tân hình thức Việt là phải có những tác phẩm hay, đỉnh cao, xứng đáng. Nếu không có được những tác phẩm xứng đáng minh chứng cho lý thuyết của mình, sẽ xảy ra hai khả năng: hoặc lý thuyết thiếu tính khả thi, hoặc người sáng tác chưa đủ tài năng để thẩm thấu và chuyển hóa lý thuyết thành các sáng tạo cụ thể.

3.Trên một tinh thần như vậy, nhìn vào các tác phẩm thơ của Tân hình thức, cần chỉ xem đã có những bài thơ hay chưa, và số lượng ấy đủ để khẳng định phong trào đã trụ vững chưa?

Cũng xin nói thêm, ngày nay sự ra đời của một phong trào nghệ thuật nào đó không còn cảnh đối lập và loại trừ những thành tựu nghệ thuật khác trước nó và cùng với nó. Đó là câu chuyện trước kia. Thí dụ, Thơ mới 1932-1945 khi ra đời phủ định quyết liệt thơ trung đại để chiến thắng. Nhà thơ Trần Dần ngay từ những năm chống Pháp (1946-1954) đã đòi “chôn tiền chiến”. Tinh thần này được ông và những người bạn thơ cùng chí hướng cách tân như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Cung, Đặng Đình Hưng (sau này là Dương Tường, Hoàng Hưng) thực hành quyết liệt từ những năm 60 của thế kỷ 20 trở đi. Nhóm Sáng tạo[1] của Sài Gòn cùng quãng thời gian những năm 60 đó cũng lại quyết liệt phủ định Thơ mới để cách tân và khẳng định…Ngày hôm nay, tinh thần của chủ nghĩa hậu hiện đại- một trào lưu tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật – đã trở nên rộng khắp các châu lục ở cả cấp độ lý thuyết, cấp độ cảm quan và cấp độ thành tựu. Một trong những tinh thần cơ bản nhất của hậu hiện đại là: những CÁI KHÁC được quyền chung sống thân ái và bình đẳng bên cạnh nhau, không phủ định nhau và cùng đối thoại. Cho nên, phong trào thơ Tân hình hình ra đời trên một tinh thần dân chủ nghệ thuật như vậy, và cũng thực hành theo tinh thần đó. Ai chia sẻ được sẽ rất cảm kích, ai không chia sẻ được cũng không sao, cũng vẫn cần được tôn trọng – đơn giản là họ có những mối quan tâm và sở thích khác.

Trở lại với câu hỏi về việc đã có những bài thơ Tân hình thức được công nhận là hay? Tôi xin thưa, thực sự đã có một số lượng bài đủ để khẳng định phong trào thơ Tân hình thức đã có mặt ở xứ sở này và tham gia vào khung cảnh thơ ca chung của dân tộc.

Tôi thấy có một Khế Iêm với những bài thơ Con mèo đen, Bậc thang, Chiếc ghế mang tinh thần triết luận về một thế giới hư vô thật sâu lắng và ấn tượng. Thơ của Khế Iêm thường là khởi lên từ câu chuyện của/về một sự/con vật, một con người; ngay sau đó câu chuyện được đẩy về phía hư vô, như một trạng thái hoang mang, hỗn loạn, mất phương hướng, có khi gần với ảo giác. Trong những trường hợp ấy, con người trở nên tội nghiệp, thậm chí vô nghĩa. Phải chăng đó là những mảnh mầu khác nhau của một bi kịch tinh thần mà con người của thời hiện đại lâm vào…

Tôi thật thích thú với vẻ đẹp của tiết tấu ngôn từ trong bài thơ Cảm giác sóng của Nguyễn Thị Khánh Minh. Bài thơ này không hướng tới một ý nghĩa rõ ràng. Nó chỉ đẹp trong âm điệu, trong tiết tấu của những âm thanh. Nó đặc biệt thành công khi nắm bắt và biểu đạt thật rõ rệt cái cảm giác trườn vỗ trồi sụt của con sóng, không phải con sóng thực tại mà là con sóng trong tâm tưởng. Hãy nhắm mắt lại nghe bài thơ vang lên từng âm thanh để cảm nhận hết vẻ đẹp sâu lắng dịu dàng của toàn bài. Bài thơ này tiêu biểu cho một luận điểm rất quan trọng thuộc về bản chất của thơ: không có nhịp điệu sẽ không thành thơ. Điều thú vị ở bài thơ là nhà thơ đã tạo ra một nhịp điệu của một loại thơ vắt dòng, ngôn ngữ đời thường, đem lại cho bài thơ một hình thể rất đỗi tự nhiên. Có thể bắt gặp một số vẻ đẹp khác nữa cũng thuộc về nhịp điệu thơ như bài Me của Thiền Đăng, Tức cảnh của Khế Iêm. Với bài Me chẳng hạn, nhà thơ cũng tạo ra được một âm hưởng vang động không gian nhờ cái tiếng kêu của me ngày xưa trước số phận của một người cha đã khuất. Tiếng kêu được điệp lại liên tục trong không gian cánh đồng, núi đồi, sóng biển lạnh lẽo và cô độc, từ một quá khứ dội lại miên man, không dứt. Bài thơ phả vào người đọc một sự ớn lạnh, xa xót. Những bài thơ như thế đã chạm được vào chỗ sâu nhất của tình người.

Nhìn vào các sáng tạo thơ Tân hình thức, xét theo tính chất cảm hứng thơ, có thể tạm chia ra làm hai loại: thơ nghiêng về cảm xúc, và thơ nghiêng về triết luận.

Loại thơ thứ nhất, mục đích của nó chủ yếu để giãi bày cảm xúc, tâm tình của chủ thể trữ tình. Cho nên, loại thơ này đặc biệt chú ý đến nhịp điệu của toàn bài bằng cách lặp lại ngôn từ (với các cấp độ: từ, ngữ) và hình ảnh. Nhờ nhịp điệu, bài thơ có khả năng thúc vào trái tim của người đọc ngay lập tức. Những bài thơ như Cảm giác sóng, Me, Tức cảnh vừa nhắc tới trên kia là những trường hợp tiêu biểu. Có thể kể đến một bài thơ nữa cũng nằm trong từ trường cảm xúc này: Vài món bị đổ đi (Bỉm). Thoạt đọc, bài thơ mang một hình thức câu chuyện, kể lại việc chuẩn bị bữa ăn sáng của đôi nam nữ (vợ chồng/tình nhân?…). Đọc kỹ hóa ra tính tự sự chỉ là hình thức bên ngoài, mà ẩn sâu bên trong là một hạt nhân trữ tình rất rõ, đánh động lên nhiều cảm xúc: tình yêu, sự chăm sóc dịu dàng, nỗi oan uổng, hờn dỗi, sự vô tình…Bài thơ này khá giản dị mà chứa nhiều sức gợi.

Loại thơ thứ hai tạm gọi là thơ triết luận. Các nhà thơ thường bắt đầu từ một quan sát, sau đó bật lên một ý tưởng, một nhận thức, một đối thoại nào đó về thế giới. Thơ Khế Iêm phần lớn đi theo dạng thức này. Thơ anh mạnh về những ý nghĩa xoay vần, day trở với nhiều góc nhìn khác nhau về sự sống. Kết thúc thường không đưa ra một thức nhận có ý nghĩa quyết định luận nào, mà thường là những câu hỏi treo đấy, bỏ ngỏ, có ý nghĩa kêu gọi người đọc tham dự vào quá trình suy tưởng đó. Cùng hướng với dạng thơ này là bài thơ  Vệt mực và tờ giấy của Nguyễn Tất Độ. Bài thơ đưa ra hai tình huống: 1, tờ giấy trắng có vệt mực đen; 2, tờ giấy đen có vệt mực đen. Và các suy luận phong phú hiện lên, hướng về hai tình huống này. Nhờ vậy, bài thơ có được phong vị của một sự thông minh, thuộc về trí năng, đem lại những  khai mở thú vị cho người đọc.

4.Như vậy, nếu căn cứ vào 4 đặc điểm thuộc về thi pháp của thơ Tân hình thức (vắt dòng, kỹ thuật lập lại, tính truyện, ngôn ngữ đời thường), thì mỗi bài thơ sẽ có những vận dụng và phối hợp các đặc điểm này không giống nhau, với những tỉ lệ khác nhau. Thêm nữa, các bài thơ, nhìn bề ngoài vẫn mang diện mạo của các thể thơ truyền thống (4/5/6/7/8/6-8 chữ…), nhưng cấu trúc mỗi dòng/câu thơ, mỗi câu ngữ pháp biến hóa khôn lường, theo đó nhịp điệu cũng biến hóa cùng. Đó chính là những điều kiện nhằm tạo nên sự đa dạng cho mọi tìm kiếm và thể nghiệm.

Một bài thơ Tân hình thức hay, ngoài việc đảm bảo 4 đặc điểm thuộc về thi pháp trên kia, nó vẫn cứ dựa trên những phẩm tính căn bản của thơ  đã được xác lập từ xưa tới nay: sự sâu sắc của ý/nghĩa, chiều sâu của cảm xúc, tính độc đáo trong biểu đạt, và dư vị toàn bài. Vâng, đó chính là vẻ đẹp của thơ ca muôn thuở. Thơ Việt như một dòng sông lớn mà thơ Tân hình thức đang là một chi lưu trong rất nhiều chi lưu cùng góp vào và cộng hưởng.

Tôi có thể kể được thêm những bài thơ Tân hình thức thú vị nữa. Nhưng chỉ với một số bài thơ được nhắc đến trên[1] kia đã tạo cho người đọc một niềm tin rằng đời sống thơ đương đại tiếng Việt đã ghi danh một loại hình thơ mang tên Tân hình thức. Mặc lòng thích/ không thích, thơ Tân hình thức vẫn cứ tồn tại và ngày càng khẳng định sự có mặt chính đáng của mình. Ai quay lưng với Tân hình thức sẽ tự làm nghèo đi quyền được tiếp nhận và thụ hưởng đa dạng mà mỗi người đều có cơ hội ngang bằng.

Cuối thu Hà Nội đã/vào heo may em tháng/Mười nỗi niềm dâng phố/ 2013 cúc/ hoa…

 VG             

—————————

 Ghi chú:

Năm 2000, nhà thơ Khế Iêm đã viết bài “Thơ Tân hình thức-nhắc lại-10 năm”, in trong Vũ điệu không vần- tứ khúc và những tiểu luận khác, NXB Văn học, 2011. Nhìn lại, hiện đã có một số công trình về thơ Tân hình thức Việt đã được công bố (trong tầm bao quát chắc chắn chưa đầy đủ của tôi):
-Nhiều tác giả, Poetry narrates/Thơ kể (Tuyển tập thơ Tân hình thức-ấn bản song ngữ), NXB Lao động, 2010
-Khế Iêm, Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận, NXB Văn học, 2011
-Khế Iêm, Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận, NXB Văn mới, 2013
-Tạp chí Sông Hương, chuyên đề về thơ Tân hình thức, tháng 6/2012
-Báo Nghệ thuật mới , Số 9-tháng 9/2012
Bài “Về một nỗ lực làm mới thơ Việt (Đọc Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận khác, NXB văn học, 2011)”, in trên tờ Nghệ thuật mới, Số 9-tháng 9/2012, sau in trong Người khác và tôi (Chân dung-tiểu luận, phê bình), NXB Hội nhà văn, 2013.

Vào quảng năm 1958-1961, nhóm cách tân thơ được thành lập xung quanh tạp chí mang tên Sáng tạo, bao gồm những tên tuổi như Mai Thảo, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Doãn Quốc Sỹ, Thần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Quách Thoại, Tô Thuỳ Yên, Thanh Tâm Tuyền. Tinh thần của họ là phủ nhận văn nghệ tiền chiến, trong đó có Thơ mới.

Xin kèm theo 5 bài thơ tôi cho là hay được lấy làm dẫn liệu cho bài viết này (tôi không nói 5 bài này là hay nhất). Với ý đồ để cho dẫn liệu được tập trung, nên tôi chỉ chọn có vậy (các bài thơ này được dẫn từ cuốn Poetry narrates/Thơ kể -Tuyển tập thơ Tân hình thức-ấn bản song ngữ, Sđd):

Khế Iêm
CON MÈO ĐEN
Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;
con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo
linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong
cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẩu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn
của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo
đen có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.

 

Nguyễn Thị Khánh Minh
CẢM GIÁC SÓNG
Trên điểm tựa dịu dàng
tôi thấy mình bay lên
với đôi cánh mầu xanh
bung mình cảm giác biếc
con sóng tôi dâng lên
dào dạt hương biển xanh
dâng lên dâng lên và
nở hoa dâng lên dâng
lên và vỡ tràn dâng
lên dâng lên và xoá
hết -sóng men bia sủi
bờ cát ngọt – dấu vết
tôi – thành tựu giấc mơ

 

Thiền Đăng
ME
Me kêu bằng tiếng kêu xưa bên
đồng gió lạnh. Me ơi me kêu
bằng tiếng kêu xưa trên đồi núi
lạnh. Tiếng kêu không còn nao nao

như xưa nhưng yêu thương còn vang
âm xưa như me kêu ba bỏ
cánh đồng xưa lên núi đồi xưa
đi tìm đất lạ. Như me kêu

ba từ núi đồi xưa về đụn
cát xưa nằm nghe sóng biển. Như
đụn cát xưa vọng tiếng kêu xưa
tiếng me kêu ba từ thủa ngày

xưa bên đồng gió lạnh.

Phú Diên 08.2008

 

Nguyễn Tất Độ
VỆT MỰC & TỜ GIẤY
Tôi quệt một vệt đen lên tờ giấy
trắng. Một vệt đen trên tờ giấy trắng.
Tôi mang đi hỏi người.Có người nói:
”Một vệt đen”. Có người nói: ”Một tờ

giấy trắng”. Có thể vì không thấy một
vệt đen,hay thấy tờ giấy trắng kia
còn hữu dụng. Tôi thì nói: ”Một tờ
giấy trắng có vệt đen”. Lại nữa, tôi

quệt một vệt đen lên tờ giấy đen.
Tôi mang đi hỏi người. Ai cũng bảo:
”Một tờ giấy đen”. Có thể vì không
ai thấy vệt đen. Một vệt đen trên

tờ giấy đen thì làm sao mà thấy!
Duy chỉ mình tôi biết rõ, trên tờ
giấy đen có vệt đen. Lại nữa, tôi …

 

Bỉm
VÀI MÓN BỊ ĐỔ ĐI
em làm món trứng và
canh bí anh chỉ nhớ
lờ mờ vậy khi sáng
nay em dậy rất sớm
vừa làm vừa ngắm anh
ngủ anh nghĩ vậy anh
cố căng mắt ra để
khởi động một ngày mới

thấy em đang chăm chút
làm và chăm chú ngắm
anh ngủ thế mà chúng ta
đã đổ đi món trứng

canh bí và vài món
khác chỉ tại anh nói
không muốn ăn gì khi
anh cố căng mắt ra

để khởi động một ngày
mới bên cạnh em và
món trứng và canh bí
và vài món khác em

chăm chú chăm chú ngắm
anh khi anh ngủ lúc
sáng nay.

                 

Tranh bài: Olaf Schneider

Chùm thơ: Biển Bắc

Giới thiệu

DIỄN ĐÀN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

_____________________________

Chùm thơ: Biển Bắc

________________

 

AI … DỪA TƯƠI … HÔN (!?)

Giữa trưa trời nắng
rát với một đời đầy mất
mát chị ngồi gốc
cây khô bán nước dừa tươi
để kiếm sống nơi
đô thị xô bồ lăn lóc
khắp góc cùng ngõ
cụt giữa trưa trời nắng rát
với cổ họng khô
khát tôi mua trái dừa uống
mát những giọt mồ
hôi nhỏ từ vầng trán nhọc
nhằn của chị như
vừa uống suối ngọt ngào êm
dịu chảy ra từ
chai cứng cuộc đời sau những
nhát dao nhuyễn nhừ
chém thấu vào thịt dừa mềm
mỏng kiếm sống giữa
trưa đời cháy rát sôi bỏng

(đầu 7, không 8)

 

CON DẾ

Không nằm trong hộp
diêm nhàu mang nhãn hiệu ký
ức mà rất cáo
cạnh trong vỏ da màu hiện
đại con dế của
tôi vẫn gáy vang ran trong
những đêm mưa lả
rả để ru giấc ngủ quạnh
lẻ với đôi cú
tin nhắn sáng lên của rung
động nhột nhạt ấm
áp trong hộp đêm……tôi nằm

(cuối 6, không 8)

MỘT TẤM HÌNH …

Chiều nay như nhiều lần em
ngồi đây một mình thật bình
yên coi lại tấm hình của
Nick Út chụp như nhiều lần
trong đầu em chiếu lại cuốn
phim của em quay qua ánh
mắt hãi hùng hiện trên tấm
hình của Nick Út chụp là
tấm hình cứu em ra khỏi
hãi hùng mà có bao giờ
hãi hùng ra khỏi mắt em !?

(cuối 6, không 7)

 

CHUYỆN GIẤC NGỦ KỂ

Em đến với anh mỗi đêm để
kể anh nghe chuyện một ngàn lẻ
một đêm mà anh chẳng buồn nghe
lại đi đọc mấy trang sách nhàm
nhạp khác đến nỗi anh phải ngáp

dài mấy hơi liền sau đó em
đè lên anh nhõng nhẽo bíu ríu
bờ vai đu nặng mí mắt kéo
anh vào vòng tay em để đưa
mình đến im lặng với những tiếng

thở lò bò càng lúc càng lơi
lạc trong tiềm thức giấc mơ đan
chéo nhau bao thứ chẳng có nghĩa
lý do đó anh hoang mang đến
nỗi anh sợ hãi hùng hổ thẹn

thùng thình lình anh vùng vẫy tay
xua đuổi em đi mặc dù (em
biết) anh thích em thậm chí nhiều
khi rất cần em lắm lúc ban
ngày em cũng đến với anh bất

cứ lúc nào chỗ nào anh muốn
em bởi vì (em biết) anh vẫn
thích em thậm chí rất cần có
em và sẽ một lần nào đó
đón em đến với anh mãi mãi……

(giữa 2, không 8)  

BỨC TRANH VỪA VẼ XONG

Không hiểu hiểu thế
nào mà khi thằng bé tròn
xoe đôi mắt reo
lên rằng bức tranh vừa vẽ
xong đẹp quá (!) tiếp
với câu hỏi rằng tại sao
chiếc máy bay trong
bức tranh đó không bay ra
khỏi khung vải ông
họa sĩ hết nhìn nó lại
ngó qua tấm giấy
thằng bé vẽ hình người bằng
một dấu thập có
vòng tròn trên đó với đôi
mắt tròn xoe rồi
chợt cười vang ném bó cọ
lên trời nhìn lại
bức tranh vừa vẽ xong reo
lên rằng hỏng bét(!)

(cuối 7, không 8)  

SẤM NGÀY CÙNG NGÔN NGỮ

Cho tới khi nào
họ tiến bộ hạ được khuôn
hạn chế tạo ra
cách phòng và chữa bệnh tình
yêu đương nhiên hậu
quả sẽ là sự diệt vong
linh hồn của chúng
tôi trong nghệ thuật xử dụng
chúng tôi để phô
diễn con tim bệnh hoạn nạn
truyền nhiễm trùng (tình-
yêu) vây họ trên con đường
đi đến bờ huyệt
mộ phần họ cũng sẽ mất
đi chứng minh sự
kiện mang và lây nhau bệnh
chứng chỉ riêng biệt
tích trữ trong trái tim họ

(cuối 7, không 8)

SỚM ĐẦU NĂM

Khi cả khu phố còn say
mèm trong giấc ngủ giao thừa
đêm qua hắn dậy rất sớm
bởi đêm qua hắn ngủ rất
sớm khi cả khu phố say
sưa đón giao thừa trong tràn

trề hy vọng là điều đã
từ lâu chẳng còn trong hắn
nên đêm qua hắn chẳng buồn
nao nức đón giao thừa để
dậy sớm chăm chú dò tấm
vé số hắn mua mỗi ngày

(một 1, không 11)

SẦU RIÊNG

Lần đầu tiên khi ăn phần
sầu riêng mẹ tôi tách ra trái sầu
riêng mang nặng ở chợ về
cho tôi cùng với câu chuyện về trái
gai góc này đềm nào rớt
xuống đầu người ở đợ để lại vết
thương nâu sậm để lại trong
tôi ấn tượng sâu đậm đà khi lần
nào yên ăn phần sầu riêng
cũng đều có hương vị của lần đầu
tiên pha lẫn lần này là
mùi vị đặc thù của mỗi lần mỗi
người ăn và như vậy là
tùy ấn tượng về sầu riêng nên có
người mê cũng có người chê
mùi trái gai góc này đấy bạn ạ ……

(đầu 2, không 10)

PHÔNG CHẮN GIÓ

Tôi dựa vào hư không
anh hỏi cô chủ hàng
cà phê có làn da
trắng mịn như sữa tươi

Khi ngả lưng vào tấm
bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà lâu nay đã
trở thành tấm phông chắn

Gió cho khách hàng đến
đây uống cà phê bó
gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng ngà ngà nhả

Khói thuốc lá vào khoảng
không không sao đâu anh
cô chủ hàng cà phê
có làn da trắng mịn

Như sữa tươi cười nói
em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống như
tất cả xung quanh đây

(cuối 5, không 14)

T/RỪNG NGƯỜI

Cô còn nhớ lần đầu
khi bước xuống đường đời
đã hỏi cô như vậy trong
buổi sáng nay khi cô

Bước xuống đường trời lả
hơi sương tình cảnh khi
đó cũng y hệt bây
giờ một rừng người từng

Người như những làn cây
ẩn hiện lờ mờ như
số phận của từng người
giữa rừng người mà dấu

Vết lần đầu là những
viên sỏi không nuôi sống
được một thời còn lần
sau là những mẩu vụn

Bánh khiến lạc lối cả
một đời rồi cô còn
nhớ lần đầu khi bước
xuống đường đời cô đã

Hỏi số phận mong mỏi
những điều gì ở nơi
cô mà số phận chỉ
vòng vo hỏi ngược lại

Rằng cô mong mỏi những
điều gì nơi số phận
mình khi bước xuống đường
đời lại hỏi cô như

Vậy trong buổi sáng nay
khi cô bước xuống đường
đời bước vào rừng người
bước đi với từng người

(cuối 4, không 14)

Tranh bài: Claude Monet

Chùm thơ: Gyảng Anh Iên

Vietnamese New Formalism by Alden Marin

Giới thiệu Diễn Đàn thơ Tân hình thức Việt

Gyảng Anh Iên

BÚN RIÊU

Làm sao hắn có thể
hiểu bằng cách nào chiếc
xe đạp của mười năm
trước lại sộc vào trí
nhớ của hắn khi hắn
đang ngồi ăn bát bún
riêu bên lề đường mà
cách đây cũng đúng mười
năm hắn đã đạp xe
đến trường mà khi đó
bà bán bún riêu còn
chưa lấy chồng và béo
nầng nẫng như bây giờ,
đang đon đả chào khách
để mau chóng bán hết
gánh bún riêu khi cơn
giông buổi chiều đang lừ
đừ kéo đến trong trí
nhớ của hắn với chiếc
áo sơ mi trắng ướt
sũng mưa mà chiếc xe
đạp không còn biết lăn
bánh về đâu ngang qua
con đường hắn đang ngồi
ăn bát bún riêu của
mười năm sau và không
hiểu bằng cách nào hắn
đã ăn hết cả trí nhớ.


 TỔ KHÚC 5

Không cần một chủ nhật
buồn thì trời vẫn u
ám và ảm đạm như
bài ca của Thái Thịnh
đang văng vẳng trong chiếc
loa máy tính cũ kĩ
của một ngày thứ năm
trời vẫn nhiều mây như
thế đã không thể đánh
thức hắn sớm hơn cho
bất cứ một niềm vui
nào để hắn thôi ảm
đạm như bài ca giờ
cũng không biết là của
ai đang văng vẳng trong
tiếng phong linh treo bên
cửa vắng.


LẶNG KHÚC

Có lẽ mẹ không bao giờ
nghĩ cái chết là thiêng liêng như mỗi
đêm tôi ngồi sâu trong bóng
tối hút hết gói thuốc lá và miên
man nghĩ về sự sống và
cái chết sẽ bắt đầu rồi kết thúc
tại đâu khi tâm trí của
mẹ mỗi ngày chỉ quẩn quanh với bữa
ăn sáng ăn trưa ăn tối
và không bao giờ biết được mỗi đêm
tôi đã ở đâu trong bóng
tối và miên man nghĩ về điều gì
khác hơn là sự sống và
cái chết sẽ bắt đầu rồi kết thúc
tại đâu khi không kiếm được
số tiền cho mẹ chữa căn bệnh thấp
khớp vì quẩn quanh với công
việc nhà quá nhiều và không còn có
thời gian để nghĩ về sự sống
và cái chết là thiêng liêng thêm nữa …


VÔ SẮC

cô gái đứng bên
cột điện có ông
lão ngồi bệt phía
dưới cả hai đều
chìa về phía gió
một bàn tay không
rõ có màu sắc
gì trong chiều muộn
có dòng người vẫn
qua lại tấp nập
ngược xuôi chẳng ai
buồn để tâm đến
một hay hai bàn
tay cao hay thấp
đang chìa ra phía
gió không rõ có
màu sắc gì trong
đêm tối đã thưa
bớt người qua lại
ngược xuôi. có gì
lạ đâu những kiểu
xin ăn hay làm
tiền không màu không
sắc trong thành phố
này!


VÔ THANH

cuộc sống ngột ngạt như
đôi chân em sẽ xỏ
vào đôi giày mỗi sáng
để đến sở làm mười
sáu tiếng mỗi ngày chỉ
để nhận một đồng lương
đủ cho một cuộc sống
bình yên như bàn tay
em sẽ chỉ còn đủ
sức nắm hờ lấy tay
anh trong đêm tối mịt
mờ những hi vọng và
những cơ hội cho một
cuộc sống tươi sáng hơn
như ly nước suối không
kịp uống trong buổi sáng
em quên xỏ đôi giày
để đến ngồi nắm lấy
tay anh.


VIẾT CHO NHỮNG NỖI BUỒN VIỄN CŨ

Tặng Tú Trinh

ly cà fê cũng bắt đầu học
cách thơm ngậy hơn giữa một mưa
Sàigòn để kéo chân nỗi buồn
ngồi lỳ nơi quán vắng có cỏ
và có cả gió máy lạnh thổi
buốt thay mùa đông câu chuyện mỗi
ngày đi vòng quanh nỗi buồn viễn
cũ và bất tận khói thuốc bất
tận ngả đầu nơi góc riêng, có
cọng tóc nào triết lý về sự
bạc màu của gốc đầu nơi sinh
ra những nơ-ron bạc nhược để
thay em thay ta nhắn tin cho
nỗi buồn ngày hôm qua và hẹn
nỗi buồn ngày mai ở một quán
vắng khác có cỏ và có cả
gió máy lạnh thổi buốt thay mùa
đông. Câu chuyện cứ thế mỗi ngày
đi vòng quanh nỗi buồn viễn cũ
và bất tận như sự học của
ly cà fê về cách thơm
ngậy hơn giữa một mưa Sàigòn.


BÀI THƠ ĐIẾU

Em ạ có khi tôi
rất ngại phải bắt đầu
một bài thơ bằng cái
chết của một ai đó
đang khiến cả em và
tôi không kìm lại được
dòng nước mắt tự nhiên
trào ra như một cách,
chúng ta hồi tưởng lại
những kỷ niệm gắn bó
giữa em và tôi và
người đó giờ đây chỉ
còn là những thủ tục
cảm xúc mang ý nghĩa,
tiễn đưa cái chết của
một ai đó giờ đây
vẫn khiến cả em và
tôi không kìm lại được
dòng nước mắt tự nhiên
trào ra như một cách
mà có khi chúng ta
không còn ngại để
phải kết thúc một bài
thơ về cái chết của
một ai đó như thế
này.


NGOÁI ĐẦU LÀ ĐÊM

Những nỗi buồn sẽ lần
lượt bị ném mạnh vào
đêm để rồi sẽ bắt
gặp những nỗi chán chường
đã lần lượt bị ném
mạnh vào đêm trước đó
cả hai gặp nhau, mừng
mừng tủi tủi để rồi
sẽ lại đánh thức những
nỗi cô đơn vẫn còn
vết thương dù đã lần
lượt bị ném mạnh vào
đêm từ lâu đến bao
giờ em và tôi sẽ
kéo nhau xông xả vào
đêm để đi tìm hố
rác của tâm hồn mà
chúng ta đã lần lượt
ném mạnh vào đêm và
không một lần ngoái đầu
nhìn lại?


ETHIC

Ethic khóc gọi mẹ
khi ngoài kia khung cửa
là hơi mưa đã lâu
rồi mẹ không còn hiểu
mưa là gì trong mớ
khái niệm bập bùng của
Ethic trong khi nó
vẫn đang khóc gọi mẹ
vì ngay trên khung cửa
vẫn là hơi mưa bốc
lên từ nấm mồ đã
lâu rồi mẹ vẫn nằm
và không còn hiểu mưa
là gì trong tiếng khóc
mồ côi của Ethic.


NHẬT KÝ

ngày hôm nay đang dần
trôi qua nơi đâu trong
đêm tối chỉ còn mùi
khói thuốc bay lởn vởn
trong bộ óc trống rỗng
và không còn nghĩ ngợi
được gì như làm sao
để nhớ hồi ban sáng
đã ăn món gì để
buổi trưa lại cồn cào
cơn đói không tài nào
giải thích được vì đã
không hề đi lại tới
lui cũng như nghĩ ngợi
bất cứ điều gì trong
một buổi chiều trời cứ
chực mưa giông mà không
tài nào đi ra khỏi
căn phòng máy lạnh
để hít mùi khói thuốc
bay lởn vởn trong bộ
óc trống rỗng và không
còn nghĩ ngợi được gì
như làm sao để ngủ
qua một đêm sau một
ngày dài như mọi ngày
đến thế …


Tranh bài: Alden Marin

TUẦN THƠ 6: CHÙM THƠ NHIỀU NGƯỜI VIẾT

Hoàng Huy Hùng
MƠ MỘNG

Tôi cần một giấc ngủ ngắn
để tìm lại giấc mơ dang

dở những giấc mơ truyền kỳ
nhiều tập những giấc mơ đủ

kéo dài đời tôi thành những
khu khai thác mỏ thành những

xâu chuỗi chuyện kể rất mơ
hồ mơ hồ rất vụn vặt

vụn vặt là tôi cần tĩnh
tâm nạp thêm năng lượng bằng

một giấc ngủ ngắn để nhìn
ra được một bầu trời mới

trong trẻo cao vời có tôi
đang tắm táp qua một đại

dương và tôi cần làm mới
bằng một giấc ngủ ngắn một

cái chợp mắt mơ màng khoan
khoái mơ màng để có một

giấc mộng đẹp giấc mộng đẹp.

 

Hòang Huy Hùng
KÝ ỨC QUE DIÊM

Đời chúng sinh ra để đốt, đốt
để cháy, cháy để nuôi dưỡng những
ký ức bình yên xưa cũ những
bình yên linh thiêng trong ngăn kéo

cái bàn trong căn phòng yên tĩnh
trong ngôi nhà yên tĩnh một nơi
bình yên cổ kính xưa cũ nâng
niu đời chúng sinh ra để đốt,

đốt để cháy, cháy chúng là những
que diêm trong hơi ấm của hộp
diêm cháy, cháy lên những ngọn lửa
nhỏ nhoi ấm cúng mang đến niềm

hy vọng, hy vọng linh thiêng từ
những que diêm trong hộp diêm xưa
cũ chúng là chứng nhân của những
thời khắc tìm lại bình yên.

 

Hồ Đăng Thanh Ngọc
MƯA VÔ SỰ

tiễn anh HTQ

Anh hãy ngồi lại đây một chút
để uống ly cà phê sáng và
hút với nhau một điếu thuốc con
ngựa hôm qua anh ghé lấy tờ

tạp chí và sau đó anh đi mãi
đã không kịp đến thăm anh ở
khoa tai mũi họng hay khoa ung
thư bởi anh đi quá nhanh như

một chiếc lá rụng chỉ rơi một
lần tôi cầm trên tay chiếc lá
và đi thắp một nén nhang thắp
một lần rồi sẽ mãi mãi bởi

chiếc lá chỉ rụng có một lần
rồi thôi để lại nụ cười hơi
sương hiền như lá hiền như trái
tim anh đôn hậu giữa mọi người

anh ngồi lại một chút rồi đi anh
nhé mùa mưa Huế đang bắt đầu
với những sợi mưa đan kết hoài
niệm với những con đường hun hút
mưa … mưa …

Vô sự mưa…

 

Hường Thanh
GẶP

Tôi đã mời anh đến
gặp tôi ở quận ba
tôi hẹn gặp anh như
hẹn gặp người bán vé
số tôi gặp anh cuối
buổi trưa một buổi trưa
tôi chưa ngủ sau bữa
ăn ngoài đường dưới trời
Sài Gòn chúng ta gặp
nhau và ngồi nói tiếng
nói trong lòng tôi nhìn
anh khuôn mặt anh già
dặn với thân thể gầy
gò nhưng có một nụ
cười với cái nướu rộng
anh nói những điều trong
lòng trong con tim chứ
không nói trong não bộ
để khiến tôi bối rối
tôi nói tôi muốn đăng
thơ sau ba tháng im
lìm giờ gặp anh như
tôi được yên lòng một
chút để khi tôi bắt
đầu ra khỏi cuộc nói
chuyện anh đã bắt tay
tôi và tôi đi.

19.9.2013 – Sài Gòn

 

Khánh Hà
ĐIỆU NHẠC NĂM GIỜ

Đêm thức trắng nghe tuyết tan nhỏ
giọt tong tong từ mái xuống thềm
nhớ những đêm nằm ở Sài gòn
nghe mưa nhỏ tong tong từ máng

xối căn nhà thuê trong con ngõ
hẹp vách ván mái tôn ngày nóng
hừng hực đêm có thể trèo lên
mái nằm ngắm sao trời cửa sổ

lúc nào cũng mở lồng lộng gió
mới năm giờ sáng có người dậy
đi lễ tiếng guốc lộc cộc tiếng
chuông beng beng điệu nhạc lúc năm

giờ bây giờ ba chục năm sau
Sài gòn có còn con ngõ hẹp
còn căn nhà vách ván mái tôn
còn tiếng mưa nhỏ tong tong tiếng

guốc lộc cộc tiếng chuông beng beng
điệu nhạc lúc năm giờ có còn
ai nghe thấy ai nghe thấy ai.

 

Lê Hưng Tiến
BỨC TRANH ẢO

vẽ em lên đỉnh núi thì
em bờ cõi hư hư thực thực … thốc
vào ngọn nắng vô tình lảnh
cảnh thì con nước cũng dáo dác li

ti … vẽ em đồng điệu trên
sóng mắt thì dốc ngược hồn anh từ
phía chân trời khi định mệnh
là viền ruộng xa xa thẳm thẳm… nơi

dong dỏng bóng dáng nền mây,
lại vẽ em tóc mai lưng trời môi
hồng khe khe khẽ khẽ màu
nước, và ngực căng tròn chái núi thì

cảm anh lầm lụi hoài trong
sâu thẳm hồn em, có lẽ vì nét
mày chao nghiêng giữa miền thu
nên định mệnh em sương khói lòng anh …

 

Lê Hưng Tiến
SẦU LÊN KHƠI

Con ve ve ve ve vãn
vãn tiếng mi cong gùi lòng đất gùi
giấc hoang cất lên cánh hồng
đòng đong đòng đong nghe hơi thở nặng

nợ phù sa như con tu
hú tu hú gọi í a í a
vào mùa nhấc lên mảng chữ
không thời gian của trái tim bạc màu

và trĩu nặng nỗi đau có
thể bài thơ hỏi chưa chấm nên cuộc
đời lẫm chẫm cái có có
không không và có thể là mùa mùa

lưng gánh nên ve ve gọi
bầy bay và tu hú gọi mảy may
về khi chủ ngữ khơi lên
sầu thì cửa trong lòng mất khoảnh khắc …

 

Khế Iêm
MẸ KHỔ

Mẹ già đã gìa ngồi
còng lưng bên gánh hàng
rong nơi góc phố bụi
mờ những bước chân qua
mẹ chờ gì và mẹ
chờ ai không mẹ không
chờ gì và mẹ không
chờ ai ngòai nỗi buồn
canh cánh từ thuở khai
sinh mẹ còn gì và
mẹ còn ai không mẹ
không còn gì mẹ không
còn ai ngòai lũ con
đứa lang bạt kỳ hồ
đầu đường xó chợ đứa
vợ bỏ đi hoang lặn
lội tìm trầm nơi rừng
sâu núi thẳm một sớm
tin về xảy chân đã
thành thiên cổ không ai
nuôi mẹ vậy mẹ nuôi
ai mẹ nuôi lũ cháu
còn thơ mồ côi mồ
cút bữa đói bữa no
trong vòng tay mẹ bà
ơi bà ơi mẹ như
chiếc lá đổi màu năm
cùng tháng tận ngồi đây
kẻ qua người lại không
ai thấy mẹ mẹ không
thấy ai rồi một hôm
mẹ nghe lũ chim non
quang quác đầu nhà kêu
trong hoang sơ mẹ
không kịp về cơn đau
ập đến mang xác mẹ
đi đi đâu về đâu
bà ơi bà ơi ngày
đi vào đêm mẹ không
kịp về mẹ không kịp
về mẹ ngồi bên đường
mẹ ngồi chết khô bên
gánh hàng rong người đi
kẻ ở phố vẫn như
xưa chỉ không còn cuộc
đời mẹ khổ bà ơi
bà ơi đi đâu về
đi.

 

Khế Iêm
TIẾNG HÁT TỪ CỔ XƯA

Chàng thất lạc tới ngôi nhà
hoang phế những con đừơng dẫn lối xưa
như cỏ dại và chàng đẩy
cửa vào như cánh cửa đẩy chàng vào
căn phòng lờ mờ tím than
và chàng đọc trên bức vách những con
chữ ngoằn ngòeo bay ra mùi
ẩm mốc của thứ thời gian đặc lại
và lõang tan trong lớp bụi
bậm tự thuở nào còn văng vẳng tiếng
cười đùa trong cơn huyên náo
của tình yêu như tiếng reo ca của
dục lạc tiếng nước chảy trong
chiều hè và dòng sông nước mắt và
nước mắt dòng sông … chàng vỗ
trán trong khoảng khắc rất nhanh của trí
nhớ cánh cửa sổ mở thoang
thỏang mùi hương thiên lý chàng thất lạc
chàng trong khỏanh khắc rất nhanh
ngôi nhà chừng như đang lung lay trong
gió những trang sách rã ra
bình nước tan biến chiếc máy chữ gõ
lọc cọc lọc cọc và cùng
lúc có tiếng chân bước của rất nhiều
người và chàng nhận ra những
khuôn mặt của thời xa vắng lặng câm
như đồ vật như những chiếc
bóng đang bước vào ngưỡng cửa luân lạc
và ngôi nhà tưởng như chỉ
là ý niệm trong chốc lát nảy sinh
nơi tâm trí chàng thực và
giả lẫn lộn và chàng chợt nhớ nàng
và không biết nàng có nhớ
chăng chàng nhớ chàng đã đội cho nàng
vòng gai và dắt nàng lách
qua khung cửa hẹp ôi cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy nay đâu

“– Có lẽ con thuyền chẳng kịp
tới bến sông sớm mai – Chắc
hẳn – Và trên núi cao bình
minh – Chúng ta đã mất khá
nhiều hơi sức – Có bao giờ
và bao đời mỗi khoảng khắc
trong trái tim thanh xuân tiếng
đập của cô tịch – Thôi đừng
nói nữa chúng ta đã chẳng
còn nhiều thì giờ – Chúng ta
còn rất nhiều thì giờ mà –
Trong chiếc túi áo thủng những
giấc mơ rơi đâu. – Đừng nhắc
tới những cánh chim tha Hương
– Ôi những cánh chim muôn phương.”

Chàng dẫm lên cỏ khô lênh đênh như
cánh chim điêu linh và trong
nỗi khắc khoải chập chờn chuyến xe nhọc
nhằn của quá khứ chàng thấy
nàng đang trở về sau cuộc hành hương
tưởng chừng như hôm qua nàng
còn chải tóc và hong khô đôi môi
trong gió ấm và không có
gì đẹp hơn nụ hôn nàng trong đêm
ngọt như mật ong cứ như
thế chàng thức ngủ từng hồi nghe tiếng
nói đang kể về những bi
kịch dang dở và trong cõi chật hẹp
của chiều ngày chàng thì thầm
với vô vọng thấy lũ kiến đục khoét
cơ thể những trái cây mang
đầy độc tố những nụ hoa nhả ra
mùi hương mê chàng không thấy
nàng và chàng bước ra từ hầm lửa
nhập thành kẻ lưu dân rách
rưới chập choạng ở khoảng cùng trời cuối
đất cứ như thế chàng quanh
quất giữa những bờ tường còn nồng mùi
vôi mới cùng đám cư dân
nửa quê nửa tỉnh trôi nổi trong những
ngôi nhà được góp nhặt bởi
mảnh vụn của nền văn minh xa xưa
khắc họa nỗi ray rứt … chàng
đứng dậy xốc áo chàng đi tìm chàng
chàng là ai chàng là ai …
đừng tin điều gì về chàng hỡi những
kẻ có mặt trên thế gian
hãy gầy lại đốm lửa nghi hoặc nhưng

Nàng vẫn tin mọi điều về
chàng nàng đi tìm chàng chàng ra đi
và chẳng trở về như chàng
trở về rồi lại ra đi làm rộn
trí nàng đến nỗi nàng cứ
tưởng chàng chưa hề có mặt trên thế
gian này vả chăng thế gian
này là thế gian nào trong cơn bối
rối nàng ngợ ngợ nàng là
ai là ai giữa những cuộc đời khác
và những cuộc tình khác nàng
văng vẳng nghe tiếng thì thầm đã bao
lần của chàng rằng chàng mong
được sống trên một hòn đảo vô danh
lánh xa những phiền toái nghe
sóng vỗ kể về những số phần phiêu
bạt để mỗi đêm nằm mơ
thấy bầy sư tử bên bờ biển Phi
Châu mặc cho cảnh đời man
dã quyến rũ tâm hồn mình còn nàng
nàng chỉ là người tình buồn
mãi đứng bên lề của cuộc đời chàng

Nàng xót xa chợt nhớ đến
cha nàng đã bỏ nhà ra đi rất
sớm theo tiếng gọi của tình
yêu và mẹ nàng sau những năm tháng
khốn khó đến cuối đời trong
cái lầm lộn của tuổi già vẫn tin
người chồng của mình mỗi đêm
đều về rất khuya để nối lại mối
tình dang dở (ôi nỗi đời
ương dở) như điệp khúc thời gian rồi
một hôm có lẽ chán nản
với những câu chuyện cứ lập lại và
có thể cha nàng đã về
thật để rủ người bạn đời tham dự
vào một chuyến đi không bao
giờ trở lại bà đã đi một mình
trong đêm vội vã không kịp
trang điểm để đẹp như một hoàng hậu
đến nỗi nơi căn phòng trong
chiếc tủ còn chứa những loại nước hoa
phấn sáp và những kiểu quần
áo đã rất xưa thơm mùi long não
và nàng nhìn mẹ nàng nằm
tiều tụy và bất động nhìn những đồ
vật đã được chuẩn bị rất
lâu cho một giờ cuối cùng mà lòng
nàng se lại ôi sắc đẹp
mộng mị cũng chứa đầy mầm bội phản

“– Thế còn câu chuyện mùa xuân
– Quái – … Người ngồi bên sông kể
về thời dựng nước những cánh
chim bỏ ngàn – Những đứa con
xuống biển – Cảnh phân ly đã
có từ thời huyền thoại – Chẳng
lẽ – Cuộc ra đi là mãi
mãi như con nước xuôi – Mùa
xuân năm ấy những đứa con
cam đảm vượt qua đầm lầy
sông bãi tìm đường ra biển
hiện thực lời nguyền đã nằm
trong sách sử – Hà … Hà … – Mùa
xuân năm ấy có nguyệt thực
và đêm tối kéo dài bất
tận … – Những giấc mơ vỡ tan
và chia lìa … – Nhưng – Biển cả
đã gột rửa quá khứ – Và
hỡi những cánh chim phiêu lưu
cứ bay đi, bay mãi… “

Nàng ngã bịnh một căn bịnh
kỳ lạ nàng giả vờ sống như giả
vờ chết và trong tình trạng
nhập nhằng của tâm trí nàng không còn
nhận ra nổi con đường nàng
đang đi ngôi nhà nơi nàng ở và
chỉ trong đêm tối nàng mới
nhận ra được nhan sắc mình cứ như
thế hàng thế kỷ qua nàng
lang thang trong ngôi nhà rộng thênh ngạc
nhiên về sự vắng vẻ và
dịu mát nàng chập chờn ăn uống chập
chờn tắm rửa và hát ngợi
ca về những mối tình của cả ngàn
năm trước nàng nghĩ đến chàng
đằm thắm hơn nhưng là chàng của nhiều
hình dạng những cánh tay dài
ngoằng những bàn chân to bè và cho
chàng những khuôn mặt đủ kiểu
của phường tuồng chàng là tập hợp của
mọi giai cấp ở từng thời
kỳ cứ như thế trò chơi kéo dài
vô tận đã làm nàng quên
mất một chàng có thật chẳng còn nhớ
đến tên chàng và bóng dáng
chàng phai dần đã làm lành nỗi thương
nhớ nhưng lại làm nàng sa
vào tình trạng lẫn lộn những chiếc mặt
nạ chồng chất trong ký ức
nàng chẳng khắc họa đường nét rõ rệt
nào ngoài sự buồn cười rồi
nàng tâm sự và đùa bỡn với những
hình nộm ăn sâu vào thế
giới giả trang đánh mất cá tính xáo
trộn nếp sinh hoạt và không
biết mình là ai nàng quên cả chính
nàng ôi câu chuyện của chàng

“Và nàng còn dài nhưng người
kể không kể tiếp vì đến
đây câu chuyện chưa có thêm
tình tiết mới bởi cuộc đời
của chàng và nàng tự nó
đang diễn biến và kết cấu
để hòan tất câu chuyện và
mỗi câu chuyện hòan tất hoàn
tất khi đã cuối đời và
không ai có thể kể câu
chuyện không phải của mình ngòai
nhân vật đang kể và câu
chuyện không phải của mình nếu
kể đúng ra chỉ chứa nửa
phần sự thật nhằm giải trí
trong phút giây và câu chuyện
nhằm giải trí trong phút
giây thì có gì đáng kể
và như thế người kể còn phải
đợi chờ và đợi chờ không
biết đến bao giờ đợi chờ
và đợi chờ chàng và nàng
tiếp tục kể câu chuyện đời
mình và người kể sẽ thuật
lại và người đọc cứ đọc
lại những gì đã đọc trong
lúc đợi chờ … đợi chờ
gì và đợi chờ ai.”

Tranh: Patrick Kramer