Như thế…Tôi đã đến với Tân hình thức.

Bài dự thi “ Giải thơ Tân hình thức”

Nguyễn Ngọc Trìu 

Cái mới của thơ Tân hình thức Việt thật lạ ! Cái mới không xuất phát từ hình thức mà từ đòi hỏi của nội dung. Điều đó khiến tôi tò mò, khám phá và trải nghiệm. Ban đầu tôi lay hoay với vắt dòng, hì hục với lặp lại, mơ hồ với tính truyện,  ngỡ ngàng với ngôn ngữ đời thường (nhất là từ bỏ tu từ ). Quả là khác, khác rất xa  so với cách làm thơ gieo vần. Cứ viết, cứ viết rồi tôi cũng nhận rathêm : Cần phải bỏ thói quen biểu hiện cảm xúc trực tiếp; cần giấu cảm xúc của người viết đi, giấu kín sau câu chuyện và các chi tiết cấu thành câu chuyện.

Cứ viết, rồi dần dà tôi cũng nhận ra tính truyện khiến cho Tân hình thức xích lại gần đời sống , đời thực (dẫu vẫn có sự tham gia của yếu tố ảo giác ). Tân hình thức không trở thành đánh đố người đọc như một số xu hướng làm mới thơ ca trong vài thập kỉ qua. Câu chuyện mà mỗi bài Tân hình thức mang  đến dễ nhớ và dễ bám sâu vào trí nhớ của người đọc.Tôi nghĩ, sức hấp dẫn của thơ Tân hình thức một phần lớn là đây, trong khi đó cái hay của thơ vần điệu thường ở từ, ở hình ảnh, ở nhịp điệu… đọng lại trong một cặp câu hoặc một khổ thơ. Tính truyện cũng là yếu tố góp một phần lớn làm nên khả năng hội nhập dễ dàng của Tân hình thức. Thơ vần điệu ít có khả năng này.

Gần đây các nhà thơ lớn của thơ Tân hình thức cho rằng  một bài Tân hình thức có giá trị phải có ý tưởng mới lạ và nhạc tính. Con đường tắt… đã được chỉ ra. Rõ ràng, có thước đo khoa học hẳn hoi (ở một chừng mực nào đó) , không mơ màng  như xác định cái hay của một bài thơ  theo lối gieo vần. Ý tưởng mới lạ phải nhờ vào tài năng . Khó rồi…Ý tưởng mới lạ đến từ tính truyệnhay còn từ đâu nữa ? Thật không dễ trả lời. Nhà thơ  Inrasara dư thừa sức viết là vậy, thế mà, sau 18 bài tân hình thức, đành tạm chia tay với dòng thơ này, vì “ không đủ  ý tưởng mới ”.  Có nhạc tính, mà tính nhạc ở mỗi bài cần có nét riêng… Càng khó, càng khó để trở thành “ dân ca của thời hiện đại ” nói như nhà thơ Mai Văn Phấn.

Cái khó của thơ Tân hình thức còn ở phía người đọc. Độc giả chưa quen với cách đọc một mạch từ đầu đến chữ cuối cùng, rồi mới đọc lại và tự ngắt theo ý của người đọc, từ đó sẽ  nhận ra đoạn giàu nhạc tính nhất trong bài. Từ lối ngưng nghỉ theo từng dòng thơ của thơ gieo vần đến cách đọc liền mạch vắt dòng liên tục của thơ Tân hình thức là sự chuyển đổi không phải một sớm một chiều.

Thôi thì cứ viết và chờ, bài thơ hay vẫn đang ở phía trước kia mà!

Có một điều rất cần chia sẻ, không hiểu sao từ khi đến với thơ THT,vài năm nay, tôi gần như không còn cảm hứng viết thơ gieo vần. Có lẽ nó là 2 hệ hình tư duy thơ khá xa nhau chăng …

tháng 11/ 2020

 

TUẦN THƠ 61: THÁNG TƯ

Nguyễn Lương Ba

Tưởng Nhớ Nhà Thơ Thanh Tâm Tuyền (22-3-2006)


VÀ MỘT VÀI Ý NGHĨ

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (1936–2006) là một trong những gương mặt tiêu biểu và có ảnh hưởng sâu sắc nhất của thơ ca hiện đại Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông gắn bó với phong trào Sáng Tạo – một phong trào văn học ở miền Nam Việt Nam trong thập niên 1950-60, chủ trương đổi mới triệt để ngôn ngữ và tư duy thi ca.

Thanh Tâm Tuyền là một trong những người đầu tiên viết thơ tự do ở Việt Nam một cách triệt để và nhất quán. Với tập thơ “Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy” (1957), ông đã phá bỏ hoàn toàn thể thơ lục bát, thất ngôn… để đi tìm một hình thức thơ mang màu sắc tâm tưởng, trực giác, và ý thức hiện sinh.

“Tôi là ai / là ai / mà yêu quá đời này.”

Câu thơ ấy không chỉ là một tiếng kêu nhân sinh, mà còn là một tuyên ngôn thơ: dứt khoát, mãnh liệt, và đầy chất vấn.

Thơ Thanh Tâm Tuyền thường mang nỗi cô đơn bản thể, một cảm thức lưu đày nội tâm, và đôi khi là phi lý, tương đồng với những triết lý hiện sinh của Sartre, Camus.

“Tôi có chỗ đứng rất nhỏ trong bóng tối
và đời sống vẫn trôi qua ngoài kia.”

Ông không ca ngợi quá khứ hay tương lai, mà luôn đau đáu với cái “hiện tại mất phương hướng” – một dấu hiệu rõ rệt của tinh thần hậu chiến.

Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền không tuân theo ngữ pháp truyền thống, ông sẵn sàng sử dụng câu ngắn, tách dòng phi quy tắc, thiết kế thị giác câu thơ, và dồn nén cảm xúc bằng âm thanh.

“mặt trời không xanh
trời không vàng
buổi sáng không có chim
chỉ có những bàn tay dựng ngược”

THƠ Ở ĐÂU XA

Có thể là chiếc lá
Có thể là tiếng chim
Có thể là hòn đá lăn bên vệ đường
Hay bóng người vụt qua cửa kính
Một chút nắng cuối ngày trên vai áo em
Một điều gì đó không tên
Nhưng chạm nhẹ vào hồn anh

Thành thơ

Chính cách viết ấy giúp thơ ông đạt được sự căng thẳng nội tại, gợi hình ảnh thị giác và tâm lý rất mạnh mẽ.

Sau 1975, Thanh Tâm Tuyền bị đi tù gần 10 năm. Sau đó ông định cư tại Mỹ, sống một cuộc đời trầm lặng. Tuy vậy, thơ ông không bị thời gian bào mòn, mà ngược lại ngày càng được nhìn nhận như một di sản thi ca hiện đại quý giá.

Thanh Tâm Tuyền nói về thơ:

“Tôi không làm thơ để ca tụng, mà để sống sót.”

Câu nói ấy cho thấy ông xem thơ như một cách tồn tại, một lối kháng cự âm thầm nhưng dữ dội với những gì phi lý và trống rỗng của cuộc đời.

Tác phẩm tiêu biểu của Thanh Tâm Tuyền:

Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1957)

Tôi Không Còn Cô Độc (1956)

Thơ Ở Đâu Xa (1990, sau định cư tại Mỹ).


Nguyễn Thị Kim Thoa

THÁNG TƯ

Tháng Tư
sen nở
gợi nhớ nhiều điều
hồng hoa
xanh lá
vàng nhụy xao lòng.

Tháng Tư
cháy bỏng
mưa rơi trong nắng
nắng lẫn mưa rơi
trên cầu người đi
dưới cầu nước chảy
sen nở quanh hồ
lòng người lóng ngóng.

Tháng Tư
bên đường
người đàn bà ngồi khóc
lạc đứa con đâu rồi
hai vòng tay níu chặt
chiếc nón rách trên đầu.

Tháng Tư
xe tăng
vào thành phố
một bàn tay vẩy
hai bàn tay buông
một người cười
đôi người khóc
cờ đỏ bay trên cầu
dưới cầu xác trẻ phơi.

cha đi tìm mẹ
bà đi tìm ông
giữa phố chợ đông
người cười người khóc
chỉ thấy
vỏ đạn và hoa phượng rơi.

Tháng Tư
thống nhất
Nam Bắc một nhà
miệng nói sẻ chia
lòng thì ái ngại
cảnh giác nhìn nhau
nghi ngờ.

Tháng Tư
cậu về thăm cháu
vui mừng cháu hỏi
ông tướng nhà mình
sao mà oai thế
nói chuyện mi tau
nhìn trước, ngó sau
cậu lớn giọng hỏi
nhà cô to thế?
cha sắp làm gì?

Cậu sợ nhà to
cậu sợ liên lụy
thằng cháu đại úy
cậu ra về gấp gáp
không kịp một bữa cơm
không bao giờ quay lại.

Mẹ buồn não ruột
nhớ anh hai mươi năm
gặp lại vài giây phút
nhìn em đầy ái ngại
chức vị to sợ nhờ
nhà em to sợ lụy.

Tháng Tư
trở lại trường
gặp mấy người bạn
mới ngày hôm qua
chen chân với mình
xuống tàu di tản
nay đã mũ cối dép râu
vai mang súng trường
hăm hở đi lui đi tới
không có chuyện gì
để nói
bạn bảo:
mình phải
siêng tập thể dục.

Buổi sáng
bạn đạp xe qua nhà mình
không phải để hỏi thăm
đêm qua em mơ gì?
buổi chiều
bạn đạp xe qua nhà mình
không phải để ngắm mình
ngồi hong tóc dưới giàn hoa tím
mà để xem mình
có tập thể dục như nội qui của trường
để chực xem mình
có chuẩn bị vượt biên.


mới hôm qua bạn bảo:
em mặc áo lụa mát cả hồn anh!
hôm nay bạn bảo:
quần đen áo bà ba sao em không mặc?
thầm nghĩ:
có thể bạn không sai
có thể bạn thật lòng
nhưng lòng mình sao cháy bỏng
cả ngàn độ.

Đoàn tụ, chia ly
hội ngộ, tan tác
trên giàn

Mẹ than
bầu bí quấn chặt nhau

Đau quá!

Bản đọc bài thơ Tháng Tư của bạn đọc gửi tới
1976

Một mùa thu buồn - Sài Gòn - Đà Nẵng tang thương - Cảm khái đời người như lá rụng !
Bài thơ LÁ CHUYỂN MÙA của bác sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, anlan phổ nhạc 18.9.2021 (12.8 Tân Sửu)

LÁ CHUYỂN MÙA

Hồn hoa lá mộng xanh trong cỏ biếc
Buổi mai hồng gợn tiếng gió hoàng hôn
Bóng mây trắng chìm sâu dòng nước bạc
Ngọn lá xanh thay giấc buổi thu sang
Từng đường gân chậm chạp uống nắng vàng
Những chiếc lá về đâu chiều thu cũ?
Từng vũng nước, bong bóng lăn tăn mỏi
Từng cơn mê, đưa ngược lối đi về
Thảng thốt vuốt bàn tay gầy guộc
Sắt se hơi lạnh gió đầu thu
Lá rơi, lá rơi
Mặt đất buồn
Ôm gối khóc
Lá chuyển mùa
Lá vụt bay xa
Mùi hương mai ngày hai mươi thơm ngát
Đường dốc dài, ai cúi vội bước đi
Hai bên đường, sỏi đá chênh vênh
Bảo rằng:
Em cẩn thận bước qua
Đừng lo ngày dài thôi nhung nhớ
Lá màu xanh rồi lá sẽ màu vàng
Đừng buồn hỏi nếu một mai
Lá chuyển mùa, lá úa.

Nguyễn Thị Kim Thoa - Huong Pham - Thanh Yên - Cô giáo anlan.

N g u y ễ n S a o M a i

TRƯỜNG THIÊN LỤC BÁT – TRUYỆN THƠ NÉN HƯƠNG VĂN MIẾU

Tập thơ trường thiên Nén Hương Văn Miếu của Nguyễn Sao Mai là một truyện thơ gồm hơn 4000 câu thơ lục bát trong bối cảnh vật đổi sao dời giữa và sau chiến tranh Nam Bắc Việt Nam, 1955-1975. Trích đăng ở đây là tâm tư và tâm tình của những người trong cuộc, qua những trích đoạn với những tiểu đề tác giả tạm đặt, chinh phu, chinh phụ, và những tiểu đề khác. Những tiểu đề này không có trong nguyên bản. Nén Hương Văn Miếu được viết vào những năm cuối tiền bán thập niên 90 của thế kỷ 20, năm 1993 - 1994. Một trích đoạn trong tập truyện thơ cũng đã được trích đăng trên tạp chí Sóng Văn (Nguyễn Sao Mai, Còn Đau Nỗi Buồn, Sóng Văn, số 1 Ra Mắt – Tháng 3 & 4 / 1996, trang 55) do Nguyễn Sao Mai chủ trương và chủ biên.

NÉN HƯƠNG VĂN MIẾU

Trăm năm vật đổi sao dời,
Dấu xưa lau sậy, hồn người đá bia.
Nước non chia cõi đi về,
Tấm lòng mây trắng lê thê nỗi buồn.
Trống đồng giục gió Trường Sơn,
Hồn kinh đô cũ dặm trường cờ bay,
Ngựa Hồ vừa hí thành Tây,
Nén hương văn miếu rụng đầy tro than.
Ngọn cờ chinh chiến về nam,
Máu xương đâu để vinh quang một nhà.
Đã đành là giá tự do,
Máu xương phải nở đóa hoa hòa bình.
Đêm dài đi gọi bình minh,
Xác anh em trải lời kinh nhiệm mầu.
Nước non sông núi gọi thù,
Giang sơn một mảnh dư đồ rách hai.
Vẽ chi biển rộng sông dài,
Nọ trang sử Việt tiếng cười bể dâu.

(Trích Nén Hương Văn Miếu, Nguyễn Sao Mai, truyện thơ, câu 1 – 18)

CHINH PHU 1

Từ em nghiêng nón sân trường,
Trái tim thánh nữ treo chuông trên đồng,
Đất gò trổ hạt máu xương,
Lúa ngô từng hạt hiện xương máu người,
Rẫy nương trồng thịt da tươi,
Trổ thảnh trái đắng trên chồi cây thu.
Thương em làm trái trên mùa,
Ta chinh chiến dưới ngọn cờ gió mưa.
Những con đường cũ ta xưa,
Từng đêm đứng gọi đời ta một mình.
Thương em từng ngọn tóc xanh,
Gọi nhau tóc trắng trên rừng vọng phu.
Bước chân qua đỉnh gió mù,
Tưởng khi mở hội cửa Ô đã gần,
Lòng ta đầu ngọn Thất sơn,
Mơ đêm Hà Nội hiện rồng cờ Nam,
Mơ em phố chợ gánh gồng,
Dựng đê xây phố giữa nông công trường,
Xây đền cho trái tim chuông,
Hồ Gươm trắng áo Trưng Vương Sài Gòn.


CHINH PHU 2

Gửi em này chút buồn này,
Lòng ta phố cũ mưa bay một trời.
Khi về mù mịt biển khơi,
Ta theo dấu ngựa xuống đời quạnh hiu,
Cờ tan theo cuộc trận chiều,
Chút hăm hở cũng xanh rêu oán thù.
Ta cười ngã ngựa sông khô,
Đâu con nước lũ dựng mồ thanh xuân,
Hỡi em tóc bạc đêm rằm,
Tuổi vàng thả nổi một giòng buồn tênh,
Bây giờ còn nhớ hay quên,
Hoa trong khuê các trăng miền lãng du.
Dấn thân vào trận gió mù,
Rẫy nương lật xác quân thù tìm nhau,
Mặt nhìn còn tưởng chiêm bao,
Thịt xương có lúc nỗi đau đớn này,
Hai mươi năm giấc mộng dài,
Hồn thu binh lửa trắng cây ngô đồng.
Ngày hè sững sốt tháng đông,
Ngọn cờ cuốn lại bóng rồng bay xa,
Phố Hời giọt nước mắt sa,
Trên trang sử cũ bóng tà dương phai,
Hai mươi năm chỉ một ngày,
Tỉnh ra mới biết trắng tay tang bồng,
Hồn em ngọn lúa trổ bông,
Lòng ta là một cánh đồng rạ khô,
Uổng công tháng đợi năm chờ,
Trói tay đứng giữa thế cờ ngửa nghiêng,
Nhớ ngày bốn hướng cung tên, (1)
Thương em khắc một lời nguyền trước sau,
Lên rừng chém rụng bóng sao,
Đón em ải Bắc vàng màu cờ Nam.

(1) Lễ mãn khóa ở trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1950-1975)

CHINH PHỤ 2

Ngọn cờ doanh trấn cõi xa,
Chân mây mặt đất biết là nơi đâu,
Bốn phương còn biết phương nào,
Tìm chàng đâu giữa chiêm bao giữa ngày,
Chiến bào theo vó câu bay,
Bỏ câu muối mặn gừng cay giữa đường,
Từ chàng chinh chiến tha phương,
Lòng em mây trắng tha hương dặm dài,
Rối bời lục nhạt hồng phai,
Tỉnh say trong mộng với người nay đâu,
Rẫy nương hoa trổ trái sầu,
Vườn trong hoa nở ra màu nhớ nhung,
Con thơ còn thuở ẵm bồng,
Đã nghe tiếng súng núi rừng đầu đêm,
Trông ra trăng lạnh trước thềm,
Đâu đây tiếng khóc bên đèn nỉ non,
Điệu ru nước mắt xóm đông,
Cũng là nước mắt nhớ mong xóm đoài,
Tương tư từng giọt ngắn dài,
Nỗi lòng thiếu phụ rơi ngoài núi non,
Quê nhà chiếc bóng héo hon,
Tóc xanh da trắng đâu còn ngày xưa,
Xuống đồng hái nụ hoa tơ,
Bỏ trong túi áo nằm mơ một mình,
Chống xuồng qua bãi nước trong,
Vớt hương thanh nữ dưới giòng khe sâu,
Vớt tình trong vũng mưa ngâu,
Thả con mộng nhỏ trôi vào đại dương,
Sợi tơ giăng ở đầu nguồn,
Suối khe đâu biết tình con sông dài,
Hồn chàng đi ở hôm mai,
Khi bên gối lạnh khi ngoài gió trăng,
Đêm thu hờ hững trái rằm,
Mùa đi để lại mấy lần tình suông,
Mênh mang trời đất não nùng,
Thanh xuân gào gọi tình chung trở về,
Bốn bề núi nhớ sông mê,
Tìm nhau hồn phách đi về chiêm bao.


CHINH PHU 3

Hỡi em sông Nhỉ núi Nùng,
Trắng hoa sữa ngọt một vùng tuổi thơ,
Ta từ đạp gió xông mưa,
Chiêm bao hoa gạo đỏ mùa hạ xanh,
Thay em tải đạn lên rừng,
Kim Bôi xanh dải thắt lưng gái Mường,
Nối tay tuyến lửa Trường sơn,
Nắm cơm hạt muối mở đường mà đi,
Trải thân xương sắt da chì,
Cõng trăng mười sáu đi về phương nam,
Nhập đoàn hỏa tuyến dân công,
Giật mình qua đỉnh Động Chân nhớ nhà,
Dốc cao đèo cả vượt qua,
Đêm nằm núi nhớ ngày ra vực sầu,
Đường dài sỏi đá tìm nhau,
Bóng chiều phố núi lạnh màu sông Son,
Mây qua đầu ngọn núi Hồng,
Xe qua Hà Tĩnh lòng còn bên truông,
Ngã ba Đồng Lộc mưa bom,
Cao xanh nỡ để thịt xương lấp bồi,
Xe đi chở nặng tiếng cười,
Mà mười cô gái đã người ngày xưa,
A của Tần Cúc bây giờ,
Hoa mua tím ngắt gió mùa đông xuân,
Ngẩn ngơ sông núi Lam Hồng,
Trái tim Ngàn Phố tấm lòng Ngàn Sâu,
Bóng ngày u uất chiêm bao,
Còn nghe tiếng hát ngày nào phá bom,
Núi Mòi mắt sáng sao hôm,
Chân trần gái núi đạp mòn đá khô,
Vũng sầu nước mắt đêm mưa,
Hiển linh đầu gió ngọn cờ cắm tiêu,
Lòng ta nắng xế bên đèo,
Thảm thương tiếng vượn gọi chiều trên non,
Ngày dài tiếng hát Trường sơn,
Đêm mơ Hà Nội xanh cơn sốt rừng,
Nỗi nhà con nước nguồn Moong,
Nỗi quê mây trắng dưới thung lũng Sầu,
Những người hôm trước nay đâu,
Bên đường nấm đất đỏ màu thịt xương.


CHINH PHỤ 3

Xót xa mười mấy năm trường,
Nước non nhớ nước bỏ nguồn ra đi,
Quê nhà từ buổi phân ly,
Mười năm một lá thư tay trở về,
Xót người sức ở măng tre,
Nghiêng vai gánh nặng lời thề núi sông,
Bao giờ cho đến phương Nam,
Để em giấc ngủ thấy vàng sao bay,
Bao giờ tay lại cầm tay,
Để em áo lụa như ngày hội xuân,
Lên cầu Thê Húc đứng trông,
Áo chinh nhân đỏ bóng tà dương rơi,
Mùa đi sầu ở lại đời,
Người đi bỏ lại nụ cười hôm qua,
Chồi măng nay đã tre già,
Liễu xanh thê thiết đâu là liễu xưa,
Khi về cây bưởi hái hoa,
Cắm sào đợi nước bao giờ cho trong, (1)
Giang sơn dưới ruộng trên đồng,
Vì thương tấc đất trăng vàng đổ đi, (2)
Ngài dài đêm ngắn sá gì,
Chờ cho gái lúa tháng hai trổ đòng,
Lòng người ở vụ đông xuân,
Bạc phơ tóc lão dân quân đứng ngồi,
Lòng em như áng mây trôi,
Nắng mưa thê thiết gọi người quan san,
Chút tình mộng thực đeo mang,
Biết đâu tháng héo năm tàn ở đâu,
Bước chân vừa động bên cầu,
Tưởng mình đứng giữa lối vào phố Nam,
Tình chàng như bóng đêm câm,
Tối đen giọt nắng lạ lùng sớm mai,
Lê thê hồn của tháng ngày,
Văn bia Hoàn Kiếm, dấu giày Ngọc Sơn.

(1)
Ca dao: ‘Sông sâu nước chảy đục lờ, cắm
sào đợi nước bao giờ cho trong’.
(2)
Ca dao, ‘cô kia tát nước bên đàng, sao cô
múc ánh trăng vàng đổ đi?’

LƯU ĐÀY 1

Trải bao gió núi mưa rừng,
Mái tranh vách cỏ nhà sàn dựng lên,
Cây còi gượng đứng ngả nghiêng,
Nghe trong mạch nhựa báo điềm tái sinh,
Đoàn người giáo mác cung tên,
Bầy đàn sống lại thuở huyền sử xưa,
Tay trần đỡ gió che mưa,
Trải thân xương thịt cho mùa cỏ rau,
Hai năm sương nắng dãi dầu,
Rẫy nương cũng đã xanh màu cỏ cây,
Đường về bóng nhạn chân mây,
Mà lòng cố quốc chim bay giữa trời,
Lên cao trông xuống sông dài,
Đau lòng con nước nhớ người ngày xưa,
Thuyền ai rồng phụng can qua,
Thanh gươm mở cõi lệnh ra chốn ngoài,
Còn nghe tiếng hét bên tai,
Phạt Chiêm vua Lý gọi trời giữa xuân,
Dập dồn trống trận Nghệ An,
Trước thuyền Kim Phụng rồng vàng hiện lên,
Thủy Vân thần nữ hiển linh,
Khí hùng Đại Việt tượng hình rồng tiên,
Trăm năm núi vững sông bền,
Thanh gươm vạch đất mũi tên vẽ trời,
Sông thiêng chảy giữa giòng đời,
Ỷ Lan làm trụ chống trời nhà Nam,
Tấm lòng công chúa Huyền Trân,
Trải dài sông núi dặm trường Lý Ô,
Về Nam mở rộng cõi bờ,
Vua Lê cắm mốc trên gò Đá Bia,
Thế thời khi thịnh khi suy,
Trên yên ngựa nhớ câu thơ cuối thuyền,
Nhớ xưa cung điện chúa Hoàng,
Nén hương Thiên Mụ lập đàn bên sông,
Ngự Bình làm ấn thiên phong,
Dựng riêng vương nghiệp dưới chân núi Hoành,
Bây giờ sông cạn núi mòn,
Giang sơn còn một vòng ôm giữa rừng,
Lá rừng rụng hết tháng năm,
Đường mai khập khiễng bước chân tội tù.

LƯU ĐÀY 2

Lênh đênh đầu ngọn gió mù,
Thấy ta xác cỏ đêm tù dưới khe.
Ở đây trời đất đi về,
Sao ta ghềnh thác bốn bề đại dương,
Phương nam phương nào đông phương?
Cuối đường chim nhỏ vẽ ngang giọt sầu,
Cuộc lưu đày đã dài lâu,
Mà vô lượng kiếp còn đau nỗi buồn.
Đưa nhau tư dạo lên đường,
Riêng tư lá cỏ đá cồn còn không?
Hồn lau lách ở bên sông,
Trái tim ghềnh bãi còn mong nhớ người?
Ừ thôi thì cuộc đổi dời,
Hiện bồ câu trắng bên trời tự do,
Sao ta vẫn kiếp ngựa khờ,
Chân phiêu bạt cháy lửa lò trầm luân,
Ừ thôi thì yêu quê hương,
Đeo xiềng ngồi hát bên đường phố ma,
Em còn ở cõi người ta,
Mà sao sỏi đá trên da thịt người,
Bước chân sinh tử rã rời,
Kéo lê vết xích một đời có không,
Cao xanh lòng cũng đại dương,
Bánh xe nghiến nát vô thường ở đâu?
Cuộc lưu đày đã dài lâu,
Mà vô lượng kiếp còn đau nỗi buồn


Thạch Tốt

VÀ NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ

Tháng Tư đến nghe tin dồn dập phía Hàng Xanh
trời trở giấc
mưa nhẹ vẽ những đường trên cát mềm,
nơi hơi thở cuối cùng, ngập ngừng của mùa đông
vẫn còn vương trong nỗi đau của cái chết.

Những hàng cây quên mất xanh là gì,
chúng lưỡng lự giữa và giữa
nụ hoa và trơ trụi, ánh sáng và xám xịt,
không chắc là đêm hay ngày.

Bầu trời được khâu bằng sắc xám mỏng dần,
một hy vọng mong manh không thể giữ lâu;
nó vỡ ra trong những đột ngột,
như những giấc mơ nửa nhớ, đang phai dần.

25042026

TUẦN THƠ SỐ 62: TÔI TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM

Báo Thơ-19_Đinh Cường
Báo Thơ-19_Đinh Cường
LỜI TÒA SOẠN

Thơ • Chủ trương Khế Iêm • Tháng 03 năm 2026 • Năm thứ 6 • Số 19
Email: tapchitho2022@gmail.com
www.thotanhinhthuc.com
www.thotanhinhthucviet.vn

SỐ ĐẶC BIỆT VỀ THƠ

Mỗi người đều có cái hay, cái dở, qua cái ngã (cái tôi). Khi bản ngã quá lớn sẽ làm con người trở nên ích kỷ, ít chịu trách nhiệm về những hành động lỗi lầm của mình, còn làm tổn thương người khác dẫn đến các mối quan hệ không lành mạnh, không ai ưa, và mọi người xa lánh.

Nếu cái ngã bình thường, cuộc đời hạnh phúc, có gia đình.

Khi không còn cái ngã (cái tôi), sống khiêm tốn, không tự cao tự đại, không khoe khoang, từ cái đúng, cũng thấy được cái sai, vì thế mới có tình người, giúp trở thành thơ, văn nghệ sĩ.

Nhà thơ Mỹ, Dana Gioia, đã từng nhận xét về dòng thơ Tân hình thức Việt:

“Những bài luận về kỹ thuật, như của bạn, rất quan trọng đối với các nhà thơ khác. Nó giúp họ làm rõ công việc của chính họ, và làm sắc nét quá trình sáng tạo của họ.” | (Essays on technique, such as yours, are very important to other poets. It helps them clarify their own work and sharpen their creative process.)

Nhưng cái mới, cái khác để được chấp nhận, không thể không trải qua sự chống đối, thử thách. Khi vượt qua những khó khăn tưởng như không thể vượt qua, thơ Tân hình thức Việt đã hình thành một thể thơ mới, đóng góp vào sự lớn mạnh của thơ Việt. Điều đó cũng tự nhiên vì trong những chuyển biến bình thường của cuộc sống. Một số tuyên ngôn nổi tiếng của triết gia thời cổ Hy lạp, Socrates:

“Knowledge and virtue were the same thing.” | (Kiến thức và đức hạnh giống nhau);

“Wrongdoing, is always involuntary, being the product of ignorance.” | (Làm ‘hay nói’ sai, luôn luôn vô tình là do sự thiếu hiểu biết);

“Two levels of knowledge: inspection and interpretation” | (Hai mức độ của kiến thức: sự xem xét kỹ và giải thích).

Điều này có nghĩa, sự hiểu biết phải được giải thích rõ ràng, đến nơi đến chốn. Nhưng kiến thức, theo Kant, là sự hiểu biết, và kinh nghiệm thực tại. Trong cuộc sống bình thường, Socrates gặp đầy rẫy chông gai, một cuộc hôn nhân với người vợ quá dữ dằn, đến nỗi ông phải thốt lên,

“Dẫu sao, nếu lấy một người vợ hiền, bạn sẽ hạnh phúc, nếu không sẽ thành một triết gia”.

Người vợ dữ dằn đó chính là kinh nghiệm thực tại, kết hợp với sự hiểu biết, giúp ông có được kiến thức để trở thành một nhà tư tưởng lớn. Socrates, Triết gia Hy lạp, đã để lại một số tuyên ngôn nổi tiếng:

“Một cuộc sống không có thử thách là một cuộc sống không đáng sống” – “ Điều tốt đẹp nhất là kiến thức, điều xấu xa là sự dốt nát” – “Những bộ óc lớn thảo luận về những ý tưởng, bộ óc trung bình bàn luận về những sự kiện, còn những bộ óc non yếu nói chuyện về con người”.

Trong đời sống hàng ngày, khi ý nghĩ dấy lên, tạo sự chuyển động, chuyển động gặp một ý nghĩ khác, gây ra cọ sát. Sống với nhau, mỗi người suy nghĩ mỗi khác, dĩ nhiên, ý nghĩ này lấn lướt ý nghĩ khác, sinh ra va chạm, va chạm gây ra phản ứng, phản ứng đưa đến hành động. Sự khác biệt giữa những ý nghĩ càng nhiều, sự đổ vỡ trong mối giao tiếp càng lớn. Trường hợp triết gia Socrates là một ví dụ điển hình. Vì vậy, chúng ta sẽ không lấy làm lạ, nếu thấy những văn nghệ sĩ, hay các nhà tư tưởng nổi tiếng, có một đời sống gia đình không hạnh phúc. Nói chung, dù hiền hay dữ, cái nào cũng tốt, nếu chúng ta nhận biết được sự tích cực của nó, hóa giải khổ
đau, bằng cách không phản ứng, cứ để cho ý nghĩ đến rồi đi. Vả chăng, đó cũng là yếu tố cần thiết, tạo nên cảm xúc, thành thơ.


Trình tự ý tưởng trong thơ bao gồm: kiến thức, ý tưởng và tưởng tượng.

– Kiến thức có được, bởi chúng ta thông qua việc học hỏi, và nhớ, từ nhiều nguồn khác nhau, sách vở và thực tại. Hơn nữa, khi áp dụng kiến thức để làm hành động, từ hành động chúng ta có được kinh nghiệm.

– Sau khi có được kiến thức về các chủ đề bài thơ, kết nối với những kinh nghiệm trong tiềm thức, những ý tưởng mới lóe ra trong nội tâm. Ý tưởng được liên kết với bộ óc sáng tạo.

– Khi mọi thứ đang diễn ra (hành động), tâm trí tưởng tượng các chiều hoạt động mới. Tưởng tượng cũng có thể là ảo ảnh. Các nhà làm phim (tác giả truyện) tưởng tượng một số khái niệm tưởng tượng, và phim siêu nhiên, giả thuyết được tạo ra. Hầu hết các trí tưởng tượng bắt đầu chỉ với ý tưởng nhỏ, rồi biến nó thành một chuỗi ý tưởng hoàn chỉnh, liền lạc. Trí tưởng tượng gắn liền với tư duy sáng tạo.

Ý tưởng và trí tưởng tượng (bao gồm cả suy nghĩ và lời nói) không có giá trị, cho đến khi nó được chuyển thành hành động. Hành động là cách tiến hành sáng tác.

– Cuối cùng, liên hệ giữa những chức năng sáng tạo trong não bộ, kết nối nhũng yếu tố giữa bán cầu não phải và trái. Nhịp điệu và ý tưởng tạo ra cảm xúc, vui buồn, giận ghét … qua trung gian của tri giác. Tri giác là thực tại ẩn giấu có thể cảm nhận, tin tưởng, hay giải thích nhưng không thể nhìn thấy. Về nhịp điệu, muốn tạo nhịp điệu mới, phải qua cách làm thơ, đọc thầm trong đầu, nghe nhạc … Bài thơ trở nên lôi cuốn, mới mẻ và hay, tùy thuộc vào tài năng của người làm thơ. Như vậy, sáng tác đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm, từ lý thuyết và thực hành, tới tư duy nghệ thuật. Đặc biệt, nhịp điệu là yếu tố khó trong thơ Tân hình thức, nếu bài nào cũng hao hao giống bài nào thì người đọc dĩ nhiên sẽ nhàm chán.

Khi một nguồn tư tưởng, hay một hiện tượng văn học xuất hiện thì không thể mất đi. Văn minh Hy lạp bị phủ nhận trong thời Trung cổ, nhưng lại sống lại ở thời Phục Hưng. Thơ không vần tiếng Anh bị lãng quên cuối thế kỷ 19, lại nở rộ với phong trào lãng mạn, giữa thế kỳ 19.


Triết gia Pháp, Jacques Derrida, cho rằng trung tâm văn hóa phương Tây dựa vào tư tưởng Thiên Chúa giáo, và các tôn giáo khác là ngoại biên. Từ đó ông đưa ra quan điểm về cái trung tâm, và ngoại biên. Nhưng trung tâm, và ngoại biên không hề cố định, cái trung tâm có lúc biến thành ngoại biên, và cái ngoại biên thành trung tâm. Như thơ tự do Mỹ là trung tâm suốt thế kỷ 20, đẩy thơ thể luật ra ngoại biên, nhưng đến đầu thập niên 1990s, thơ thể luật nổi lên, với tên New Formalism (Tân hình thức), đẩy thơ tự do ra ngoại biên, để bước vào dòng chính. Cho đến thập niên 2000s, cả hai, không dòng thơ nào là trung tâm hay ngoại biên. Như vậy, thời gian
luân phiên từ thơ tự do và thể luật, phải mất cả thế kỷ.

Thơ Tân hình thức Việt, cho đến bao giờ có thể bước vào dòng chính, ngang hàng với tự do và vần điệu, lúc đó Tân hình thức mới phát triển. Thời gian, chắc cũng phải cả thế kỷ. Và chúng ta cần duy trì một số lượng nhỏ những nhà thơ Tân hình thức tiền phong, từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Quay lại thời quá khứ, riêng thơ Việt, trước hết là thơ Mới, khởi đầu từ thập niên 1930s, tạo nên một dòng thơ vần điệu hay nhất trong thơ Việt. Cho đến 30 năm sau, 1960s, chuyển sang thơ tự do. Cả hai đều ảnh hường từ nền văn hóa Pháp, vì tất cả các nhà thơ nổi tiếng đều học tốt nghiệp từ trường Pháp.

Đến 30 năm sau, vào thập niên 1990s, những nhà thơ Mỹ và thế giới nổi tiếng Mỹ, lại từ tự do, chuyển thành vần điệu, với tên New Formalism (Tân hình thức). Cuốn sách “American Poetry and World – A Memorable Time” (Thơ Mỹ và Thế giới / Một Thời Đáng Nhớ)! được dịch thơ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, những bài thơ của những nhà thơ Mỹ và thế giới nổi tiếng, với 697 trang. Sau đó, 2 loại thơ “Cấu Trúc” và “Tân hình thức”, bản tiếng Anh của tôi, lại được những nhà thơ nổi tiếng thế giới dịch ra 10 loại ngôn ngữ khác nhau, tổng cộng “Thơ Mỹ Và Thế Giới – Một Thời Đáng Nhớ”, đã tới 990 trang.

Như chúng ta biết, nước Việt chịu sự đô hộ Pháp 100 năm, và trong thời gian đó, giới trí thức và nghệ sỹ đều tốt nghiệp từ nền văn hóa Pháp, cho nên ảnh hưởng rất nhiều trong sáng tác từ thơ, nhạc, hội họa Pháp. (Ngay cả chữ quốc ngữ là một thứ chữ được xây dựng theo nguyên tắc ghi âm bằng chữ Latin. Vào thế kỉ XVII, một số giáo sĩ Pháp dùng vào việc ghi âm tiếng Việt, tạo ra một thứ chữ thuận lợi hơn đối với mục đích truyền đạo.)

Đến bây giờ không còn mang tính đổi mới, hay sáng tạo nữa, và giới trẻ chỉ làm theo những gì đã có trước.


“Tôi Tự Hào Là Người Việt NAM”
– ST: Nguyễn Trung – Chuốc Bình An


TUẦN THƠ 60: THANH XUÂN

https://www.wsartasia.com/artist/galih-reza-suseno
https://www.wsartasia.com/artist/galih-reza-suseno

Tôi làm thơ vần điệu Thanh Xuân, vào khoảng 20 tuổi, qua cảm xúc và tự nhiên, với bút hiệu Khế Iêm. Khế Iêm là vô nghĩa, vô nghĩa cũng là vô danh. Tôi không thích cái danh nên không gửi đăng ở các tờ báo văn, văn học thời đó. Cho đến khi tới Mỹ lúc 40 tuổi, tôi gửi một bài thơ cho họa sĩ Duy Thanh, ông nói hay lắm, hãy gửi cho nhà văn & nhà thơ Mai Thảo, đăng trên báo Văn. Sau khi đăng xong tất cả, anh Mai Thảo đã bỏ tiền ra in cuốn thơ Thanh Xuân. Điều may mắn, khi đăng thơ vần điệu Thanh Xuân trên Con Đường Thơ Toàn Tập, đã được PGS.TS. Trần Hoài Anh, Nhà phê bình Văn Giá, PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn, ngợi khen. Khi qua Mỹ, tôi không còn làm thơ vần điệu nữa, mà chỉ làm thơ Cấu Trúc và Tân hình thực.

Hai bản nhạc thơ Thanh Xuân đầu tiên, qua nhạc sĩ Kim Vân: “Cõi Vạn Chiều” ca sĩ trình bày Bạch Lan, và “Thoáng Say”, ca sĩ trình bày Khánh Dũng.


GỬI LÃO TỬ

Thong dong về non xanh
Ngày hư hơi gió lành
Quán không lòng mong tưởng
Một chòm mây mai danh.


LỆ

Mắt khơi, giếng nước ngọc
Rong chơi, lên đồi trong
Cởi ra áo, trăng mọc
Lăm le một lệ dòng.


PHIÊU DIÊU

Khói nhang ngoài hiên chiều
Vẩn vơ, hoa bao nhiêu
Trôi đâu, tình vạn thuở
Bèo dâu thôi, phiêu diêu.


TÌNH MỘNG

Thấp thoáng chim bay qua
Động nghe lòng khóc òa
Hương xa, đóa quỳnh nở
Ấm êm, tình mộng là …


LẮP BẮP

Cho con Lê Trúc Tiên, Lê Hữu Quan Sơn, và các cháu Lê Thị Ý Nhi, Lê Thị Huyền, Lê Thị Hiền, Lê Thị Nhàn, Lê Minh Thi, Lê Minh Thảo, Lê Thị Quỳnh Như & Nguyễn Thế Phúc, Lê Trung Đính, Lê Thị Quỳnh Giao, Lê Hồng Xuân, Nguyễn Thị Minh Duyên …

Mở trang nhật báo
Đọc mục rao vặt
Thấy có đời mình
Thấy có lặng thinh


Một ngày bặt tiếng
Phố phắt bặt âm
Chiếc ấm quai đồng
Rót ra bụi vẩn


Ở trong cửa ô
Ở ngoài ô cửa
Bước lại từ đầu
Bước lại từ đâu


Một con sẻ lạc
Bới lời linh tinh
Giữa chốn huê tình
Dở hơi tê thấp.


NHÁNH SẦU

Với ngày, tiếng nói là miểng nhọn
Đập vỡ những chiều xanh tóc gai
Với thời, bao nỗi mắt ẩm ướt
Ôi chăng, chảy trôi nước tất bật

Bồi hồi những trái tim đồi xa
Dập vùi chút dĩ vãng chập chững
Bình nguyên thản nhiên trong lòng ta
Lần theo ngàn sương, bẫy ương ngạnh

Thở đi, bao la thay hừng đông
Thổi ra những thương tích bầm vập
Gõ ran những chảo đời có thật
Nghe ầm vang sóng rời đầu nguồn

Đã chở tro về chôn bến nhớ
Đã ngờ trong một thoáng từ ly
Là mở ngỏ ý tình, bỡ ngỡ
Ta uống nhầm rượu hay, cơn sầu bi.


CỘI THỀ

Mắt ứa, khóe xưa lệ
Lênh đênh quên mùa quê
Ánh lòng men ly biệt
Môi hôn run, cội thề.


TÀN ĐÔNG


Như hoàng hôn chảy, tiếng khoan nhặt
Như thời gian đắm trên môi hôn
Nơi cõi sắc mầm gió căn cắt
Len lén nghe lời, mênh mông non

Giữa âu yếm lửa nến bật tắt
Âm ấm hơi rượu men tuổi xuân
Ta chải chuốt hồn, đồng quạnh quẽ
Hoa, mắt trong
Đời sông thanh tân

Đã nuốt chửng váng ngày xao xác
Đã đìu hiu từ dạo bước chân lên
Những bát ngát của chiều ánh khao khát
Những rừng câm vời vợi, tro lênh đênh

Ta để ngỏ, ao chuôm và áo ngực
Thấy bay ra một cánh thinh không
Nói ấp úng
Buổi đồi nhật thực
Vẫy gọi ta về, sương tàn đông.


NGHE ĐÀN

Gánh về
một quải nắng trong
Chiều ra
hít thở
cho lòng trống trơn

Thoảng đâu
có một tiếng đờn
Nghe qua ngờ ngợ
cái hờn
thâm u

Ngoài trăng gió bãi
thổi vù
Thấy ma trên núi
ngồi tu
quặn lời

Kinh xưa một lá
tờ rơi
Trăm năm hỏi giấc
mộng người
có không.


TỰ CA

Mở mắt
Nhấp nháy nghi, hồn nhiên
Rơi trên thềm, ruộng đồng chảy mật
Chưa bao giờ nước và đất thành bùn
Chưa bao giờ điêu linh là mộng

Ta khởi từ đời có thật
Chạy đi rồi về gió tất tưởi
Chiều xa chôn hờ thây ngoài non
Đợi nhau từng giờ bướm thổn thức

Dừng lại con quay quẻ may rủi
Dắt tay bước qua cầu nước mắt
Thở dài
Cười
Tiếng hùng hổ
Nhè nhẹ rừng lời buông bông lơn

Nhát cuốc
Cỏ, hẳn nhiên chết
Cho nhanh ngày mầm héo xơ xác
Vay trả ngàn kiếp muôn biến đổi
Ta ca thiêm thiếp quê mùa thơm.


HOA KHÓI

Lên non, lên non cao
Vú căng trần núm đào
Phơi mình trong gió, nở
Hoa khói, nguyệt lao xao.


TUẦN THƠ 59: THƠ NGOẠI

Paul Lake
* Paul Lake (1951–2022), nhà thơ, nhà tiểu luận và giáo sư người Mỹ tại Đại học Công nghệ Arkansas. Tác phẩm của ông, Một Loại Hình Du Lịch Khác, đã giành được Giải thưởng của Quỹ Porter về Văn học Xuất sắc. Ngoài ra, ông đã được Giải thưởng Richard Wilbur về thơ vào năm 2006. Ông tốt nghiệp Đại học Towson với bằng Cử nhân và bằng thạc sĩ tại Đại học Stanford. Ông đã từng là nhà biên tập thơ cho First Things.

A MIDNIGHT DAWN | HÉ RẠNG NỬA ĐÊM

When tinkling glass
Rang in my ear,
I walked the hall
Where Chanticleer
Had crowed up dawn
With crackling mirth,
Red feathers flashing
From his perch,
While from the breach
In the ceiling swung
Our chandelier
Like a felon strung,
Legs wildly kicking,
Until my eyes
Spied red tongues licking
Toward the skies.
Then as engines
Flashed and roared
To save our roof,
The rooster soared
Passed blackened beams
And joists that left
The acrid scent
Of dragon’s breath.

Khi mặt kính leng keng
rung lên bên tai
tôi đi bộ ở hành lang
nơi chú Gà trống
thức suốt đêm với tiếng lục cục
tươi vui, với bộ lông đỏ
lóe sáng nơi chỗ đậu,
trong khi từ một lỗ hổng
trên trần nhà đung đưa
chùm đèn treo giống như
một tội nhân bị treo cổ
đôi chân quẫy đạp cuồng dại
cho đến khi mắt tôi
nhìn thấy chiếc lưỡi đỏ thè ra
hướng lên trời.
Lúc đó như những động cơ
vụt sáng và nổ đùng đùng
để tránh cho mái nhà của chúng tôi,
con gà trống bay lên
qua khỏi sườn nhà đã hóa đen
và những cái rầm nhà còn rơi lại
mùi cay sè của hơi thở rồng.


John Linnell (1792–1882), Bức tranh 1 (1853), sơn dầu trên vải, 88,3 x 147,3 cm, Bảo tàng Tate (Được JW Carlile tặng năm 1906), London. © Bảo tàng Tate và Bản quyền hình ảnh © Tate (2016), CC-BY-NC-ND 3.0 (Unported), 
http://www.tate.org.uk/art/artworks/linnell-harvest-home-sunset-the-last-load-n02060
Harvest Home, Sunset: The Last Load 1853 John Linnell 1792-1882 Presented by J.W. Carlile 1906 http://www.tate.org.uk/art/work/N02060
Phill Provance
* Phill Provance: Thơ ông đã và sắp xuất hiện trên The Baltimore Sun, Orbis, Vine Leaves, Cha, Noctua, Arsenic Lobster, The Axe Factory Review và nhiều tạp chí văn học khác. Tác phẩm của ông: The Adventures of Ace Hoyle. Và tập thơ đầu tay của ông The Day the Sun Rolled Out of the Sky được xuất bản năm 2011.

TOO FUNNY | QUÁ BUỒN CƯỜI

after Jean Follain
Drunk one morning
beneath the sallow night
the teacher fell asleep
on a massage bed at his gym
the warm jets of water
nuzzling his muscles
and prying at his bones
with delicate fingers.
He slept there three hours
with not a soul to wake him
then drove home soberly
fleeing a migraine.
His story now finished
the blonde waitress frowns
at tumblers and jiggers
arrayed like small houses
while huddled adjacent
his painter friend howls
till tears swarm his eyes
like skylarks.

sau Jean Follain
Người giáo viên say từ hừng
đông tới hết buổi sáng hắn
ngủ gục trong bồn tắm ở
phòng thể dục những tia nước
ấm rúc vào thớ thịt và
những ngón tay mềm tọc mạch
vào xương cốt hắn ngủ mê
mệt sau đó say khướt về
nhà cơn đau nửa đầu biến
mất. Câu chuyện của hắn đến
đây chấm dứt. Cô hầu bàn
tóc vàng cau có trước những
chiếc cốc lớn nhỏ xếp dồn
cục như những ngôi nhà nhỏ
người bạn họa sĩ của hắn
hú cho đến khi nước mắt
dàn dụa như bầy chim chiền
chiện.


Dana Gioia
* Dana Gioia, nhà thơ từng đoạt giải thưởng, và là Cựu Chủ tịch của Tổ chức Tài trợ Nghệ thuật Quốc gia. Ông là người California gốc Ý và Mexico. Vào năm 2015 Gioia được Thống đốc Jerry Brown bổ nhiệm Nhà thơ danh dự California.

PITY THE BEAUTIFUL | TỘI NGHIỆP NGƯỜI ĐẸP

Pity the beautiful,
the dolls, and the dishes,
the babes with big daddies
granting their wishes.

Pity the pretty boys,
the hunks, and Apollos,
the golden lads whom
success always follows.

The hotties, the knock-outs,
the tens out of ten,
the drop-dead gorgeous,
the great leading men.

Pity the faded,
the bloated, the blowsy,
the paunchy Adonis
whose luck’s gone lousy.

Pity the gods,
no longer divine.
Pity the night
the stars lose their shine.

Tội nghiệp người đẹp, những người đàn
bà hấp dẫn, những người đàn bà
thon gọn, những người đàn bà trẻ
với những nhân tình ra vẻ, đang

Ban phát cho họ những ước muốn.
Tội nghiệp những chàng đẹp trai, những
chàng trai lực lưỡng, và những chàng
trai nam tính, những chàng trai vàng

Mà sự thành công luôn luôn bám theo.
Những người lôi cuốn sự thèm muốn,
những người cám dỗ không cưỡng được,
những người ở hạng thóp, những người

Ngọai hạng, những người đàn ông hàng
đầu hết sẩy. Tội nghiệp kẻ tàn
lụi, kẻ béo phị, kẻ nhếch nhác,
chàng đẹp trai nay đã bụng phệ

Sự may mắn đến nước tồi tệ.
Tội nghiệp những vị thánh không còn
thiêng, tội nghiệp đêm, những vì
sao đánh mất sự chói sáng.

* Ghi chú: Apollos và Adonis là những vị thần thời cổ đại La Hy, chỉ những chàng đẹp trai. Nguyên tác thì kiệm lời, nhưng bản dịch thì nhiều lời để làm rõ ý, một phần vì bài thơ dùng nhiều tiếng lóng.

TUẦN THƠ 58: THƠ VIỆT

Sinh Lão Bệnh Tử _ hs. Nguyễn Đại Giang
Sinh Lão Bệnh Tử _ hs. Nguyễn Đại Giang
Cao Mỹ Nhân | Los Angeles November 17, 2022

POET’S STORY / CHUYỆN NHÀ THƠ

He told me:
“If you can’t write a good poem
Then never use the name of Poet“
I was embarrassed and turned away …
How to write a good poem
Poets never ask: “How?”
“What, just imagination
A poem in the stirring thoughts …”
Someone asked Poet To Thuy Yen
“What is your best poem?”
The famous Poet immediately shook
his head:
“I’m not really satisfied with the article”
Poet Thanh Tam Tuyen in contemplation
Every time someone asks about poetry
“Is author X’s poetry good or bad?”
Quietly, said: “Each poem has its
own privacy” Autumn 1994, in Prague, Czechoslovakia
Poet Cung Tram Tuong spent the whole night
reciting poetry
“Hey, Poetry is the Way.
Depends on the religious person…vaguely …”
So, poetry is vague and private.
Don’t bring it up for discussion.
Like to express feelings
Soak it up, and see others.
Vibration or indifference…

Anh nói với em rằng:
“Nếu không làm được một bài thơ hay
Thì chẳng bao giờ nên nhân danh Thi Sĩ “
Em mắc cở quay đi …
Bài thơ hay phải viết thế nào
Các thi sĩ chưa từng hỏi: “làm sao?“
“Làm sao ư, chỉ là tưởng tượng
Một bài thơ trong ý nghĩ xôn xao …”
Đã có người hỏi Thi Sĩ Tô Thuỳ Yên
“Xin cho biết bài thơ hay nhất của ông?“
Nhà Thơ tên tuổi ấy lắc đầu ngay:
“Tôi chưa vừa ý bài viết thực sự“
Thi Sĩ Thanh Tâm Tuyền tư lự
Mỗi lần ai hỏi về thơ
“Rằng thơ tác giả X đó hay, hay dở? “
Lặng yên, nói: “Mỗi thơ một riêng tư“
Mùa thu năm 1994, ở Praha Tiệp Khắc
Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng suốt đêm nói Thơ “Này, Thơ là cái Đạo
Tùy theo người tôn sùng tôn giáo …
vẩn vơ …”
Vậy thì, thơ là vu vơ, riêng tư
Đừng đưa ra bàn luận
Hay thích tỏ bày cảm nhận
Hãy ngâm lên, coi thử tha nhân Rung động hay thản nhiên …


Trần Mộng Tú | 9–9–2025

BÔNG HOA BÊN HÀNG RÀO

Hôm qua
Giữa then hàng rào nhà hàng xóm
Một cành hồng lách sang vườn nhà tôi
nở một bông thật đẹp
Bông hoa như đứa trẻ
vừa chui qua bức tường biên giới
trên môi còn ngậm nụ cười
Tôi đứng nhìn bông hoa
rồi lại nhìn xuống bàn tay mình
Tôi có nên mang bông hoa vào nhà
cho vào chiếc bình nhỏ
nâng niu trò chuyện với hoa
như vòng tay người bảo trợ
ôm em bé tỵ nạn vào lòng
Hay tôi cứ mặc hoa
với nắng gió bên ngoài
Ngày mai
người làm vườn đến chắc anh ta sẽ cắt nó
vứt vào bao rác
chỉ trong một khoảnh khắc
tàn một kiếp hoa!
Những đứa trẻ bên hàng rào tỵ nạn
Bây giờ đang ở đâu …?


Lý Thừa Nghiệp

CHÉN SỚM MAI

Mời người này chén sớm mai
Tôi còn đợi chuyến mưa dài đời sau
Mưa ngang núi mưa ba đào
Luống rau yên tử pha màu muối sương
Hương thiên lương hương thiên lương
Dấy thơm thiên hạ rạp đường phượng bay.
Phượng bay trên những rừng cây
Tôi đi hái ngọn mây gầy phía đông
Phía mênh mông phía không chồng
Vườn xưa lau sậy trổ bông thình lình
Kệ kinh vô tận kệ kinh
Mù sương bất chợt tỏ tình bình nguyên.
Mời người này chén mưa nghiêng
Hàng hàng thế giới hiện tiền gần xa
Này son sắc này ta bà
Đất đai róc rách tách cà phê quen
Bốn phương đường sá đỏ đèn
Chừng như thế giới bình yên bao giờ.


Hạ Đỏ

VISEGRAD

Những phố dài tu hú
Những đêm mưa dã tràng
Em la làng
Tiếng than
Tiếng thở
Tiếng vỗ cánh quạ đen
Oác oác
Anh trầm ngâm nghe đèn đường chảy vàng
Màu đồng đổ vuông ô gạch
Dậm chân đổ nghiêng con dốc
Màu dấu giày, vết chân chim
Ướm vào hôm nay những hôm qua hằn vết
Anh đi bên cạnh cái kết
Em khoác áo sương
Sương mai, sương mơ, sương mù mờ
Em, ca từ, chỉ dấu, kỷ niệm
Anh, thơ thẩn, lãng quên, quá khứ
Giấu vào trong nhau rồi xoá những chứng cứ
Những buổi hẹn hò ở Tây phương.


Hồ Quang Lĩnh 

SUNSHINE | NẮNG LÊN

Let the sun shine
let me go with you along January 2
visit old fields
the grass is still green
The orange bird is still in fairy tale color
The kapok tree at the village entrance
still promises March
waiting for the new sunshine
let me come back with you to walk through
the lingering sadness
Don’t worry when the evening light is fading
The wind still plays absentmindedly
still hazy
I still wait for you like the cotton tree waits
for summer
under the shade of clouds
I write you poems that smell of soapberry
dreamy and silly
vibrant youth with long hair
where i sit cool river
new lilies
like someone’s eyes were once green
contains the silence of the late night stars
let the sun shine
let me come back with you to weave
the wind and scatter the clouds
green old fields
sorrows sink into illusion
where i wait
the grass has resurrected

Hãy thắp nắng lên đi
để em về cùng tôi đi dọc Giêng hai
thăm cánh đồng năm cũ
cỏ vẫn thản nhiên xanh
chú cánh cam vẫn màu cổ tích
cây gạo đầu làng vẫn hẹn tháng Ba
chờ nắng mới thướt tha
để em về cùng tôi dạo qua nỗi muộn
phiền lay lắt
đừng bận lòng khi bóng chiều sắp tắt
gió vẫn đùa bâng quơ
vẫn chập chùng sương khói
tôi vẫn đợi em như cây gạo đợi mùa hè
dưới râm mát mây che
tôi viết tặng em những vần thơ thơm mùi bồ kết
mộng mơ và ngờ nghệch
tuổi hoa niên sôi nổi tóc bồng
nơi tôi ngồi dịu mát dòng sông
những bông loa kèn mới nở
như mắt ai xanh ngời một thuở
chứa điều tĩnh lặng của sao khuya
hãy thắp nắng lên đi
để em về cùng tôi đan gió rải mây
tươi xanh cánh đồng năm cũ
những muộn phiền chìm vào hư ảo
nơi tôi chờ
cây cỏ đã phục sinh

Trần Văn Giả 

QUESTION | HỎI


Sitting sadly counting the flying leaves
Leaves flying slowly have become thick
with ignorance
And I asked myself
How many girls truly love me.
Ngồi buồn đếm những lá bay
Lá bay chầm chậm đã dày vô minh
Và tôi đã hỏi chính mình
Bao nhiêu cô gái thật tình yêu tôi

MANY STORIES | NHIỀU CHUYỆN

So many miscellaneous things
Gecko calling in the morning startled
by dream
I come back to enjoy the showers
Which seed is bitter, which seed is me.

Bao nhiêu thứ chuyện linh tinh
Tắc kè kêu sáng giật mình chiêm bao
Em về hứng ngọn mưa rào
Hạt nào cay đắng hạt nào là tôi.

MOTHER | MẸ

Mom planted rows of sweet potatoes
Raising an orphan without relatives
Truong Road with morning dew
The grace on mother’s hair is eternal.
Mẹ trổng từng luống khoai lang
Nuôi con côi cút họ hàng mấy ai
Đường Truông những hạt sương mai
Điểm trên tóc mẹ ơn dài thiên thu.


Huy Tưởng

TĨNH VẬT ĐÃ MỜ,

Rêu loang
ngậm kiếm đã mờ
Bóng xưa
ai đạp
ngựa hồ hí xanh?


CẢNH TƯỢNG,

Tường câm
đêm cạn
mây chìm

trào lục diệp
vách
im mắt người

CỦA NGÀY SINH THI SĨ.

… của
ngày sinh thi sĩ

tiếng chim chớp rạch
đáy hoa lạnh người! …

ĐIÊU KHẮC,

Khảm trăng
chạm nét xa mù

lên biền biệt xanh ngu ngơ,
và …


Inrasara | 
(Trích: “Hành Hương Em”, NXB Trẻ – 1999 – Quý tặng nhà thơ Khế Iêm, Sàigòn, đầu năm 2000)

THI CA VÀ THI SĨ

Không là gì – không vì đâu
Một giọng nói mỏng manh dễ đổ
Vãi gieo vô hình trên cánh đồng ngôn ngữ
chưa vỡ
Cú hy vọng mùa sau.
Không gầy nửa khoảnh không làm đất đứng
Đi – như nỗi trầm tư
Không là gì – không vì đâu
Một hơi gió xâu dài thế kỷ.
Mãi vũng áo cơm
Mãi đỉnh cô đơn
Khiêm cung giữa bạt ngàn đau khổ
Thắp nắng dăm ba số phận mọn hèn.
Không là gì – không vì đâu
Đi – như là ở lại.


Phạm Quốc Bảo

LẨN THẨN

Lắm khi lẩn thẩn ta tự hỏi:
Bỗng dưng hiện diện ở nơi này?
Cha mẹ sinh con chẳng ngỏ lời
xem con có muốn được thành người?

Làm người đa phần khổ hơn vui
Ai ai cũng nếm đủ ngọt bùi.
Nhưng chỉ gian nan nhiều mới thấy
đậm đà cuộc sống giữa mọi người.

Sách xưa có nói trước cả đấy:
Trời có bao giờ nói thành lời (1)
mà mỗi năm tứ thời bát tiết (2)
Xuân Hạ Thu Đông thay đổi hoài.

Vũ trụ – vạn vật tự vần xoay
sinh – trụ – hoại – diệt theo tháng ngày (3)
vận hành tuần tự cứ như thế.
Chỉ được nhận ra bởi con người (4)

Thì ra chúng ta sống ở đời
đủ thân – tâm – trí giữa đất trời
sao cho yên ổn cân bằng cả
Không gian – thời gian lẫn trong ngoài.

Lẩn thẩn thế lại hóa hay
luôn tự tái xét – an bài tấm thân.

Ghi chú:
(1)
“Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên. Thiên hà ngôn tai?”: Trời đâu có nói gì? Bốn mùa cứ vận hành êm ả thường xuyên, vạn vật cứ tuần tự sinh hóa. Trời có nói gì đâu? [trích – chương 17: Dương Hóa trong sách Luận ngữ, thuộc Tứ Thư Tập Chú, tác giả Chu Hy [1130 –1200) triều đại Nhà Tống bên Trung Hoa]
(2)
“Tứ thời – bát tiết”: Từng năm đền đặn bốn mùa tám tiết diễn tiến ra..
(3)
Được sinh ra – Bám trụ, trưởng thành – tàn lụi dần – tự tận diệt.
(4)
”Nhân linh ư vạn vật”: Con người đứng đầu muôn loài nhờ không có những thân thể ( như các loài khác) mà còn có thêm trí não để nhận biết – học hỏi và phân biệt – áp dụng – thích ứng, và có lòng nhân để có thể sống dung hòa.
Thơ • Chủ trương & bút hiệu Khế Iêm • Tháng 12 năm 2025 • Năm thứ 5 • Số 18
Email: tapchitho2022@gmail.com

Tranh chủ đề: Sinh - Lão - Bệnh -Tử của Hs. Nguyễn Đại Giang

TUẦN THƠ 57: MƯA RƠI BÌNH MINH

Tranh Ngọc Dũng
Tranh Ngọc Dũng
Thạch Tốt

MƯA RƠI BÌNH MINH

vào sáng sớm ngay trước
bình minh, người yêu và
người yêu thức dậy và
uống một ngụm nước cô
ấy hỏi anh yêu em
hay chính anh hơn thực
sự nói sự thật tuyệt
đối anh ấy nói rằng
 
không còn gì ở em
nữa em như một viên
hồng ngọc giơ lên ​​đón
bình minh nó vẫn là
 
một viên đá hay một
thế giới làm bằng màu
đỏ Nó không có sức
đề kháng với ánh sáng
 
mặt trời một con chim
vô hình bay qua nhưng
tạo ra một cái bóng
nhanh cơ thể là gì
 
cái bóng của một cái
bóng của tình yêu của
em mà bằng cách nào
đó chứa đựng toàn bộ
 
vũ trụ một người đàn
ông ngủ say mặc dù
có điều gì đó bùng
cháy trong anh như mặt
 
trời như một đường viền
lộng lẫy được khâu dưới
viền áo anh ấy trở
mình dưới chăn bất kỳ
 
hình ảnh nào cũng là
lời nói dối một viên
đá đỏ trong suốt có
vị ngọt ngào em hôn
 
một cái miệng xinh đẹp
và một chiếc chìa khóa
xoay trong ổ khóa nỗi
sợ hãi của em một
 
câu nói được nói ra
trở nên sắc nét hơn
một lần nữa hoa hồng
đang xé toạc chiếc váy
 
của mình những bông hoa
xanh đã đến từ thế
giới bên kia say sưa
như làn gió thổi đến
 
một điều ngu ngốc mới
một lần nữa gần đỉnh
núi những nét ngọt ngào
của hoa hải quỳ xuất
 
hiện hoa lục bình nói
chuyện trang trọng với hoa
nhài bình an cho bạn
và bình an cho bạn
 
chàng trai hãy đi dạo
với tôi trên đồng cỏ
này một lần nữa có
những người theo đạo
 
ở khắp mọi nơi nụ
hoa e thẹn nhưng gió
đã thổi cô ấy đột
nhiên bạn tôi người bạn
 
ở đây như nước trong
suối như hoa sen trên
mặt nước đừng lo lắng
về việc lưu những bài
 
hát này và nếu một
trong những nhạc cụ của
chúng ta bị hỏng thì
cũng không sao chúng ta
 
đã rơi vào nơi nơi
mọi thứ đều là âm
nhạc tiếng gảy đàn và
tiếng sáo vươn lên bầu
 
khí quyển và ngay cả
khi toàn bộ cây đàn
hạc của thế giới có
cháy hết thì vẫn còn
 
những nhạc cụ ẩn đang
chơi nên ngọn nến nhấp
nháy rồi tắt chúng ta
có một mảnh đá lửa
 
và một tia lửa nghệ
thuật ca hát này là
bọt biển những chuyển động
duyên dáng đến từ một
 
viên ngọc trai ở đâu
đó dưới đáy đại dương
những bài thơ vươn lên
như những mảnh vụn và
 
mép của gỗ trôi dạt
dọc bãi biển muốn chúng
bắt nguồn từ một gốc
rễ chậm rãi và mạnh
 
mẽ mà chúng ta không
thể nhìn thấy hãy dừng
những từ ngữ lại ngay
bây giờ mở cửa sổ
ở giữa lồng ngực bạn
và để những tâm hồn
bay vào và bay ra
 
11.30.2025.

MAI MỐT

Tôi thức dậy và thấy
mình vẫn ở đó căn
phòng không đổi chỉ
có chiếc quạt quay chậm
Hơn như thể nó cũng
mệt mỏi vì phải thức
cùng tôi tôi nghĩ đến
tiếng ve hôm qua nó
ở đâu trong đêm nay
và tôi nghĩ đến những
âm thanh khác như tiếng
của một người đã quên.
11.2025

KHU CHUNG CƯ ROYAL LANE VILLAGE

 
Em là bài ca u
buồn của buổi sáng, nghiêm
túc và chậm rãi, em
thon thả em ăn mặc,
em xuống cầu thang trong
bộ đồ công sở và
lái xe đi, em trở
thành người thông thái và
quyền năng khiến cả ngày
trở nên khả thi trên
thế giới Nhưng em cũng
hát bài ca đó trong
đêm loạng choạng đi qua
ngôi nhà đến giường của
đứa trẻ, đến với cơ
thể hồng ấm êm của
người mẹ, để lại vị
đắng cho em Và mãi
mãi những đêm đó làm
xáo trộn cỗ máy tinh
tế của những ngày tháng
khi nụ cười của mẹ
hiện rõ trên gò má.
11.6.25

Nguyễn Lương Ba sưu tầm
 

THƠ VĂN MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975:

TẠP CHÍ VĂN SỐ 64(15/8/1966): TƯỞNG NIỆM BÍCH KHÊ

ĐINH CƯỜNG: THU XÀ VÀ PHẦN MỘ BÍCH KHÊ

 
Tôi đã đi thăm mộ Bích Khê với Thu An cháu gọi Bích Khê bằng cậu. Mùa hè năm 1963, tôi từ Huế vào Quảng Ngãi rồi về Thu Xà, nơi Bích Khê đã sinh ra, lớn lên và trở về nằm trong lòng đất vĩnh viễn ở đó. Thu Xà cách bến xe Quảng Ngãi 10 cây số. Với một con đường gồ ghề đá sỏi, hai bên là đồng lúa, rải rác có những trạm canh dân vệ, con đường còn mang nhiều dấu vết chiến tranh, nơi một ngã tư mà Tạ thu Thâu đã bị bắt, thời kỳ Việt Minh. Thu Xà là một quận lỵ gồm hai dãy phố cũ, phần đông là người Tàu đến ở buôn bán từ ngày trước, có những phố lầu hoang tàn bị bom thời kỳ 1945. Nhà Bích khê ở ngay phố, có một cổng dài đi vào. Tôi đến đó lúc trời nhá nhem tối. Chân đặt lên một sân trồng đầy hoa hồng, lòng bâng khuâng…tôi hỏi thăm bà Ngọc Sương, chị kế Bích Khê và Thu An vừa ở Sài Gòn ra. Lúc vào nhà tôi gặp ngay thân mẫu Bích Khê với đầu tóc bạc mướt, gương mặt phúc hậu. Bà sống cùng người con trưởng và con dâu trong căn nhà lâu đời đó. Tôi được kể căn nhà vẫn không có gì thay đổi. Nhà làm kiểu ba gian, một chái. Gian bên trái là phòng Bích Khê, gian giữa đặt bàn thờ, có ảnh Bích Khê, tôi đến thắp hương. Đêm đó tôi nằm trên chiếc sập cao nơi Bích Khê đã nằm ngày trước, với ngọn đèn dầu hỏa tôi mơ màng bóng dáng phảng phất của một người tài hoa bạc mệnh: Bích Khê. Gian phòng ẩm lạnh, trên chiếc sập gỗ trơn đó Bích Khê đã trở về nằm bệnh sau bao năm giang hồ. Sáng ở đầu sông nhớ núi. Đêm nằm trong núi nhớ sông. Sức khỏe đã hao mòn dần. Suốt ngày thơ thẩn, ướt ao gặp lại một người quen:
“Gió về mang cả mùi lăng tẩm / Buồn cắt lên đền những miếng đen./ Người viễn khách, lòng sầu vạn cổ /.Dặm mòn muốn gặp một người quen” .Thời gian này thỉnh thoảng có Quách Tấn gửi thơ cho Bích Khê đọc rồi họa lại, có lần Chế Lan Viên về thăm, Bích Khê mừng ứa nước mắt. .Đáng kể nhất là lần người yêu trở lại Thu Xà, mặc dầu nàng đã có chồng hai con, đó là nguồn an ủi cuối cùng cho những ngày tuyệt vọng của Bích Khê. Nh tên người yêu độc nhất của Bích Khê, vì trắc trở gia đình không cưới nhau được, mặc dầu tình yêu vẫn nồng cháy giữa hai người. Ở lại Thu Xà chỉ vài hôm Nh trở lại Sài-gòn, để lại cho Bích Khê một hồn đau xác gầy. Bích Khê tiễn nàng ra cổng với cảm giác vĩnh biệt. Cách mười hôm sau Bích Khê nhận được cam của Nh từ Sài-gòn gửi về và cũng từ đó Bích Khê không bao giờ còn trông thấy bóng dáng người tình nữa. .Cơn ho lại nặng thêm. Gia đình chạy thuốc thang đầy đủ cho đến phút cuối cùng. Nhưng bệnh tình đã đến chỗ tuyệt vọng. Bích Khê biết trước cái chết của mình nên vẫn điềm nhiên nói chuyện và an ủi gia đình. Trước hai tháng từ giả cõi đời, Bích Khê cứ tụng niệm”Di Lạc Tôn Phật” và tin tưởng ngày nhắm mắt sẽ có Phật đến rước. Một tối sau khi ăn cháo xong, Bích Khê gọi mẹ lên ngồi một bên nói cho mẹ biết là còn ba ngày nữa, nhằm ngày rằm Bích Khê sẽ chết và nói cho người nhà xuống Chùa Phú Thọ, xin phép mời một vị sư bạn cũ của Bích Khê lên ở với Bích Khê ba ngày đêm để tụng kinh cho chàng nghe. Đến đêm thứ ba thì Bích Khê thở hơi cuối cùng. Đúng như lời Bích Khê nói. Lúc ấy là mười hai giờ khuya, ngày 15 tháng Chạp năm Ất Dậu (tức ngày 17-1-1946). Cái chết đến với Bích Khê nhẹ nhàng quá nhưng cũng chua xót làm sao khiến ta nghĩ đến bệnh lao, nghĩ đến tuổi ba mươi phải lìa bỏ cõi đời. Nghĩ đến những văn thi sĩ cùng chung số phận. Keats sau mấy năm khắc khoải với vi trùng lao đã từ trần tại La Mã, Thạch Lam, Vũ trọng Phụng đã chết trong sự cơ hàn cay cực giữa Hà Nội. .Khi mùa xuân tới, khi cảnh vật xung quanh hồi sinh lại thì Bích Khê qua đời. Bích Khê qua đời giữa mùa xuân loạn ly, ngoài gia đình chả có một người bạn về đưa đám. . Rồi từ đó nắm mộ vẫn bằng đất, nằm thật buồn qua những năm tháng chiến tranh mà sau mười bảy năm, tôi được dịp về thăm được nằm lại trong căn phòng hoang vắng của Bích Khê mà cửa sổ nhìn ra một sân hoa hồng, những cánh hồng mà tôi và Anne đã hái đến cắm trước mộ thi sĩ để rồi những que nhang chưa cháy hết, những trẻ chăn bò đã đến lấy mang đi. Đã ba năm qua, từ ngày về Thu Xà, thời kỳ xe đò còn lưu thông suốt trên Quốc -lộ số 1, cho đến bây giờ bao nhiêu biến chuyển của thời cuộc. Chiến tranh lại tàn khốc hơn. Quốc lộ số 1 bị nghẽn. Quảng Ngãi là vùng có những trận đánh lớn và gay go nhất hiện nay. Gia đình Bích Khê còn lại bà mẹ năm nay đã 85 tuổi cùng người anh trưởng đã dời khỏi căn nhà thân yêu ở Thu Xà để tản cư lên tỉnh. Thu Xà đã trở nên vùng đất bất an mà bom đạn đã thả xuống quanh đó. Làm sao có lại buổi chiều dưới xóm dừa Cổ Lũy, một bến sông qua Phú Thọ, những mảng đá to nhìn xuống biển xanh. Tôi đã đứng trên cao đó nhìn về núi Thiên Ấn, núi Thiên Bút và dòng sông Trà Khúc uốn mình quanh bãi cát chạy dài. .Và phần mộ Bích Khê nằm lại thật đìu hiu khốc thảm cạnh hàng tre già cao vút, giữa một mảnh đất của hội quán mặc cho chiến tranh tràn về. Những con chim lạ có còn về đậu trên mồ Bích Khê và đứa trẻ với đàn bò mà tôi đã gặp ngày thăm mộ có phải lùa bò về thành phố như nhạc Sơn: Đàn bò vào thành phố, reo buồn tiếng nhạc chuông… Tôi nghĩ đến mộ Hàn Mặc Tử được xây trên Ghềnh Ráng cao nhờ sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè. Chiều mây về phủ trắng trên tượng Đức Mẹ và nghĩ đến một vùng mộ trắng trồng toàn hoa Violettes của thi sĩ Anh John Keats, trên bia không đề tên mà chỉ đề: “Here lies one whose name was writ in water” (Nơi đây an nghỉ một người mà tên đã ghi trên mặt nước) để rồi ước mong mộ Bích Khê sớm được dời đi xây trên ngọn núi cao của tỉnh Quảng Ngãi. Để tránh những giao thông hào, những làn mưa đạn ngày đêm tràn xuống phần đất khô cằn đó .
 
THƠ BÍCH KHÊ

LÀNG EM

Nơi đây làng cũ buồn thu quạnh
Anh có khi nào trở lại chưa?
Ngày đi chậm lắm, giòng sông biếc
Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa
Nơi đây thành phố đời ngưng mạch
Mấy nàng lai khách vẫn buồn mơ
Đường lên hội quán sương khuya xuống
Đâu mấy chàng trai rõi nhớ hồ?
Anh có khi nào còn trở lại
Chờ lúc hoàng hôn trăng đã lên
Tìm ngõ nhà em anh sẽ thấy
Khóm lan thơm nặng khí ưu phiền
Là lúc đêm về trên mái ngói
Những nhành nhãn muộn cánh dơi bay
Em đang nổi bệnh trong phòng vắng
Tình dậm theo trăng sáng sáng đầy…

HÀ NỘI VÀ HOÀNG ANH TUẤN VÀ…

Nguyễn Xuân Hoàng
 
Sáng nay San Jose mưa. Mưa nhỏ thôi.
Những ngày đầu tháng Mười, mùa Thu miền Bắc Cali không lạnh. Một người bạn quen từ Quận Cam vừa gửi tặng tôi một CD trong đó có ca khúc Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội. Đây là một bài hát khi mới ra đời, ban hợp ca Thăng Long đã mang đến cho người nghe nhiều ấn tượng. Bài hát đã lâu tôi không nghe. Nhưng lời của ca khúc tôi vẫn nhớ là do Hoàng Anh Tuấn viết cho nhạc của Phạm Đình Chương. Chúng tôi vẫn gọi anh là thi sĩ của Hà Nội. Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc/ Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm. Đó là hai câu thơ đã ở lại rất lâu trong tôi.
Tôi nhớ lần cuối gặp anh năm 2006 trong nhà dưỡng lão Mission De La Casa ở San Jose. Hôm đó, anh ngồi xe lăn, cười hỏi tôi. “Đi đâu?” “Thì đi thăm anh, chứ đi đâu!” “Này cậu, thế mà đã hai mươi năm rồi đấy!” Hoàng Anh Tuấn không nhớ những lần gặp nhau gần đây, trước ngày anh vào Viện Dưỡng Lão, mà chỉ nhớ chuyện của 20 năm trước, những ngày Đà Lạt , Sài Gòn… Đúng, năm 1986 tôi gặp anh ở Virginia khi vừa đặt chân xuống vùng đất tự do. Hôm đó, uống chưa hết ly rượu, tôi đọc lại hai câu thơ trên và trêu anh:“Trời ơi, tại sao yêu mà yêu muốn khóc là thế nào?” Hồi đó anh chỉ cười, không trả lời. Bây giờ chính anh nhắc lại, và nói, “Nghe đây, yêu mà không lấy được thì khóc chứ sao? Cậu vớ vẩn bỏ mẹ!” Và chúng tôi đã cười với nhau.Tôi vớ vẩn thật, đi thăm một người nằm trong nhà dưỡng lão mà trêu chọc, y như ngày ngồi bên anh trong một quán ăn ở Virginia giữa những chai bia.
Cái chất gì của Hà Nội khiến anh yêu mê thành phố ấy đến thế? Tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều: nhắc đến Hoàng Anh Tuấn là nhắc đến Hà Nội và nhắc đến Hà Nội cũng là nhắc đến Hoàng Anh Tuấn. Mặc dù, năm 1949, mới 17 tuổi, Hoàng Anh Tuấn đã rời Hà Nội đi Pháp du học. Paris, Sài Gòn, Dalat, rồi lại Paris, Virginia, San Jose … và bao thành phố khác.
Chưa một lần trở lại Hà Nội, thế nhưng, Hà Nội lúc nào cũng nguyên vẹn trong anh. Hà Nội tràn ngập trong những trang chữ của anh. Như thể sau năm 1949, ngày anh bỏ Hà Nội ra đi cho đến năm mươi năm sau, Hà Nội vẫn còn đập nhịp trong trái tim anh.
Tôi kiếm hồn tôi xưa Hà Nội
Thuở còn trong vắt gió vào Thu
Thoảng nghe ngọt tiếng cô hàng cốm
Chênh vênh đâu cuối phố Sinh Từ
Xa Hà Nội, Hoàng Anh Tuấn mang theo Ga Hàng Cỏ những sáng sớm ngái ngủ, Hồ Tây những buổi chiều tà, mang theo Hàng Đường, Hàng Gai, mang theo năm cửa ô… Anh không bứt được Hà Nội ra khỏi ký ức mình, không thể quên được những “hoa sấu lẳng lơ” (mà hoa sấu sao lại lẳng lơ nhỉ?) … Trong văn học Việt Nam, có lẽ không một thi sĩ nào dành cho thơ nhiều Hà Nội như Hoàng Anh Tuấn.
Khi Mai Thảo viết Đêm Giã Từ Hà Nội, anh đã chia tay Hà Nội thật sự. Rồi Tháng Giêng Cỏ Non, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương, Mười Đêm Ngà Ngọc… và sau cùng với Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền, Hà Nội có vẻ như đã ra khỏi anh.Khi Thanh Tâm Tuyền viết Bếp Lửa sau ngày vào Nam, rồi Tôi Không Còn Cô Độc, Một Chủ Nhật Khác, có lẽ Hà Nội vẫn còn trong Thanh Tâm Tuyền, nhưng những trang chữ của anh không còn tắm đẫm mùi hương Hà Nội nữa.
Còn ai Hà Nội hơn Nguyên Sa, vậy mà thơ anh tràn ngập Paris, tràn ngập chất sống phương Tây, tắm đẫm hơi thở thời hiện đại hơn là quá khứ. Chỉ có Hoàng Anh Tuấn vẫn chung thủy với thành phố của anh.
 
Em Hà Nội, Hàng Đường trong giọng nói
Để Hàng Bông êm ái lót cơn mơ
Thương những buổi chiều Bác Cổ ngày xưa
Anh nắn nót một trường thi lãng mạn…..

Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất
Ý Hàng Đào chín mộng trái môi chia
Xin Hàng Than rực cháy lửa đam mê
Khi quấn quít trong ái ân Hà Nội

(Bài thơ Hà Nội)
 
Hoặc
 
Hà Nội yêu xin cầm tay lần nữa
Một lần thôi cho vừa đủ hai lần
Thêm ngày xưa hạnh phúc rất thiên thần
Anh chết lặng trong tình yêu công chúa
Cho đến tận khi sắp xa lìa ‘cõi tạm’, Hà Nội vẫn là nỗi day dứt không nguôi trong anh. Xin được trích một đoản thi buồn của anh trong những ngày cuối đời:
 
Hà Nội anh giờ là giấc chiêm bao
Cùng thơ ấu đã già đi trăm tuổi
Buổi sáng nay tâm hồn nghe thơ dại
Một thoáng vui chợt tới chợt bay đi
Rồi nỗi buồn như lũ mọt ngu si
Gậm nhấm nốt nửa linh hồn rữa mục.
Bây giờ ngồi đây, trong căn phòng nhỏ của mình, giữa mùa thu San Jose, nghe lại Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội cũng chỉ là nghe lại một kỷ niệm:
 
Mưa hoàng hôn
Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà…
Vũ Ngọc Phan, trong “Hồi Ký Những Năm Tháng Ấy” viết:“Những người đã ở Hà Nội đến ba, bốn, năm đời, khi đi xa Hà Nội mà nhớ Hà Nội là thường tình, nhưng có người chỉ mới ở Hà Nội được một vài năm, có khi chỉ được mấy tháng, mà khi ra đi vẫn cứ nhớ cảnh, nhớ người, có thể là nhớ người hơn cả, thì đủ thấy Hà Nội có sức quyến rũ thật.”Có lẽ ông nói đúng, khi nghe ca khúc Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội của Trần Quang Lộc người ta đâu biết nhạc sĩ là người Quảng Trị. Nếu những người con của Hà Nội như Trọng Đài mô tả một Hà Nội Đêm Trở Gió với Cành me thì thầm gục đầu vào dĩ vãng, với Cô đơn sấu rụng ngoài ngõ vắng thì nhạc sĩ Trịnh, người con của cố đô Huế cũng dâng tặng Hà nội một ca khúc đầy hình ảnh và xúc cảm:
 
Hà Nội mùa thu,
cây cơm nguội vàng,
cây bàng lá đỏ,
nằm kề bên nhau,
phố xưa nhà cổ,
mái ngói thâm nâu.
Hà Nội mùa thu,
mùa thu Hà Nội,
 
mùa hoa sữa về
thơm từng ngọn gió,
mùa cốm xanh về,
thơm bàn tay nhỏ,
 
cốm sữa vỉa hè,
thơm bước chân qua .
Hồ Tây chiều thu,
mặt nước vàng lay
 
bờ xa mời gọi .
Màu sương thương nhớ,
bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.
(Nhớ Mùa Thu Hà Nội. Trịnh Công Sơn)
 
Hà Nội giờ đây có còn nguyên vẹn như những gì Hoàng Anh Tuấn, Mai Thảo, Trịnh Công Sơn … đã nhìn thấy không?
Hà Nội ngày xưa đó có sẽ chỉ còn là một hoài niệm trong lòng những người nhớ thương nó không? Tôi nhớ những câu thơ của Phan Vũ mà tôi đọc cách đây không lâu
 
Em ơi! Hà Nội phố!
Ta còn em năm cửa ô Năm cửa
gió Cơn bão thường niên qua đó
Ba mươi sáu phố, Bao nhiêu mảnh vỡ?
Ta còn em một màu xanh thời gian.
Một màu xám hư vô, Chợt nhòe, Chợt hiện.
Chợt lung linh ngọn nến,
Chợt mong manh Một dáng,
Một hình,
Nhợt nhạt vàng son,
Đậm đầy cay đắng…
Sao chỉ sống một thời với Hà Nội thôi mà ông viết nên một Hà Nội phố thật đến thế, sâu đến thế, và buồn đến thế?
Điều gì đã đưa chân ông trong những chiều lang thang trên các con phố xưa, tìm lại cái hồn sâu lắng còn quanh quất đâu đây của Hà Nội, miên man nghĩ, miên man nhớ đến độ:
 
“bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi con đường”.
 
Thơ, nhạc về Hà Nội dường như thời nào cũng đầy cảm xúc, nhưng sao vẫn thấy chất chứa nhiều nỗi nhớ quá, nhiều day dứt quá, nhiều hoài niệm quá… Và tôi tự hỏi giờ đây nếu Hoàng Anh Tuấn có một lần trở lại Hà Nội, liệu những bài thơ của anh về Hà Nội có còn mang vẻ đẹp như anh vẫn say mê làm cho đến tận ngày giã từ cuộc sống không? Hay kỷ niệm nào về những ngày xưa cũng đẹp, hay kỷ niệm thật ra chỉ đẹp khi đã là chuyện ngày xưa?
 
Nhớ Hoàng Anh Tuấn, mà tôi đã tản mạn đủ chuyện trên trời dưới đất. Cũng chỉ vì một thành phố trong thơ ông: Hà Nội. 
 


Hồ Đăng Thanh Ngọc

GÃ CHÀI SÔNG HƯƠNG

đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá đò
từ Vỹ Dạ thẳng Ngả Ba Sình đò chở
người tình đò chở trăng chênh đò chở ngày
xưa đi tới ngày nay đò chở mùa thu

đi qua mùa hạ đò chở mái rạ đi
về thành đô đò chở vu vơ đi qua
trời rộng đò chở khát vọng tới miền phù
hư gã chài ngất ngư chiều buông lưới nặng

cỏ lau chất ngất gió mênh mang lòng hát
ca ngày tháng cõi đời mơ suông gió không
thành tiếng bài ca cá con lời Nam Ai
vọng nhắn tình nước non …
*
gã chài chèo đò cập bến với liếp cá
nặng vợ gã lên bờ bán được giá mỉm
cười trong nắng chiều gã cũng cười theo trong
nắng chiều những nụ cười tỏa nắng hạnh phúc

ngày nào gã cũng mơ được như ngày này
bởi ngày nào cũng được như ngày này thì
đỡ lo miếng ăn cho mấy đứa nhỏ đỡ
lo cái áo cái quần đỡ lo học phí

cho con ừ đời gã chỉ cần liếp cá
nặng hàng ngày thế thôi vợ gã mua cho
gã cút rượu chống mỏi cuối chiều gã nâng
chén cuối mạn đò một ngày đã qua như

vạn ngày đã qua cầu mong bình yên cho
cá cho tôm đầy lưới nhỏ gã và vợ
gã không mong chi hơn không mong nhiều hơn
đò từ Đông Ba đò qua …

Huế, 4/2015

Phạm Quyên Chi

CĂN PHÒNG

Những ngày đóng cửa chặn
các sự vật tốt đẹp
từng xảy ra trong cuộc
đời dài của mình thời
gian xoay vòng diễn tiến
như bản năng mách bảo
không có thừa số tiền
để làm phiền một ai
ngoài cánh cửa người bạn
bán sách rong đang ngồi
lật từng trang giấy đúng
vị trí đúng tư thế ấy
không biết đến khi nào
cho xong chả là ngồi
để chờ với ý nghĩ
lê thê nhích gần lại
suốt một thời gian đóng
cửa chặn sự phản chiếu
tháng năm đã đi qua
của cuộc đời mình để
lộ ra chiếc bóng đang
chìm vào điều khó tin
khó tin đến phải tin
có thời gian mà không
kịp đóng cửa ngăn lấy
thói quen mơ hồ thế
giới bên ngoài xóa sạch
kí ức để trở lại
làm người ngoài căn phòng.


Nguyễn Văn Vũ

HOA RẤT LẠ

hoa của một mùa nhớ
đã xa hoa rất lạ và
hoa như cánh cửa này
vừa mở cho em bước

ra vườn nắng tràn ngập
tiếng gọi mời đừng quay
đầu nhìn lại con ngựa
ăn đường* sẽ níu chân

em và hoa rất lạ
chùm thơ dưới lòng hồ
sẽ làm em cay mi
mắt hãy im lặng dẫm

lên chiếc bóng chán chường
hãy đặt xuống bàn những
ly chai tính toán những
cái chạm cốc tầm thường
rồi đi đi cùng với
tiếng trống vọng về tương
lai đừng ngoái đầu nhìn
lại hoa rất lạ hạnh
phúc từ đây sẽ không
rời xa em nữa đâu …

*Con ngựa cưng được cho ăn (uống) đường khiến nó không muốn rời xa chủ.

Hường Thanh

SAO RƠI

Một ngôi sao chợt rơi
Rơi xuống bầu trời đêm
Kéo theo vầng kim tuyến
Long lanh trong mắt tôi

Ngẩn ngơ nhìn sao rơi
Mong manh trên bầu trời
Rơi như giọt nước mắt
Vạn vật thêm xao xuyến

Tôi chìa ra bàn tay
Hứng trọn màu giọt lệ
Là nhánh gió sao rơi
Từ nơi đâu nơi đâu

Cây cỏ đang chao mình
Vẫn lung lay trong gió
Nơi sao buồn rơi rơi
Nơi lòng tôi chơi vơi.

Ánh sao thật trong sáng
Lòng tôi ôm ngôi sao
Như ôm một người bạn

2006

Nguyễn Thanh Hiện

TRÁNG SĨ HỀ

thơ tặng Phạm Văn Phương
tráng sĩ ra đi hề
ngựa sắt không xì hơi
vẫn đi giữa trưa chan
chan nắng hề cứ muốn
úp mặt vào xiêm áo em
đất lở trời lở hề
không nao núng chỉ lo
em bỏ ta đi hề
buồn lắm tráng sĩ ra
đi thời a còng loang
lổ hề nón nhựa giày
nhựa
5/10/2014

Hà Bạch Nguyên

NHỚ … RÒNG RÃ

Em lấy trái tim em ra
ngoài và vạch tìm từng
ngăn ký ức ngăn ký
ức nào có hình ảnh

Anh hẹn hò cùng em
nơi công viên tao đàn
nọ hay cầu calmette
kia ngăn ký ức nào

Có nụ hôn đầu làm em
chết đắm ngăn ký ức
nào có bàn tay tuyệt
vời ơi anh ơi anh

Ơi! đến hơn 20
năm dư hương vẫn nực
nồng như mới mới hôm
qua mới hôm qua thôi

Mà anh!? Em lấy óc
em ra vạch từng sợi
dây thần kinh xem ngày
tiễn anh lên đường là

Ngày nào cớ sao giờ
em không nhớ chi hết
chỉ nhớ nụ hôn anh
chỉ nhớ bàn tay anh

Lau nước mắt em dầm
dề thằng út cứ xoay
quanh chụp hình và má
cứ nhìn em nhìn em

Không ngớt bầu trời giữa
trưa gắt nắng vẫn có
đôi chim trên hàng dây
điện kề mỏ nhau vẫn

Có đôi nhân tình dìu
nhau tiếng loa phóng
thanh ồn đôi tai em
đứng cạnh anh chờ lên

Đường anh ơi em nhớ
đến đoạn anh bước lên
máy bay chờ rồi cất

Cánh em như ngất đi
em như ngất đi em
nhớ đoạn phim này ròng
rã suốt cả đời em


Hạnh Ngộ

IM LẶNG CŨNG NHƯ LỜI

https://open.spotify.com/episode/5Rw0e2chUGEVfR0hCVNHlR?si=_T881ddaSIOh9zlgA2Lbfw | Mời nghe đọc trên Spotify

Cuộc đời là những chuyến đi gần nhau
thì ít chia ly thì nhiều khi muốn
hứa hẹn với anh những lời tư tình
có cánh chợt khựng lại bởi biết rằng

lời hứa đầu môi chẳng thành hiện thực
thực hiện được mới lạ những lời em
nói “muốn yêu anh mãi mãi” trong lúc

say đắm lắm mới dám nói lời sấm
truyền kiểu tình yêu vĩnh cửu yêu vô
thời hạn và cũng bởi cuộc đời là
những chuyến đi hôm qua anh nói “muốn

gần em mãi mãi” hôm nay anh ở
trời Tây em ở đời đây phương Đông
với cơn giông tình đen trắng như vậy
có phải lời nói gió bay hông? chắc

không vì âm thanh ấy đọng trong em
rất sâu vậy không phải giả cũng không
phải là thật anh biết mà em biết
mà lời nói bộc phát lúc tình say

em trân trọng khoảnh khắc ấy nên thôi
nếu có lần sau thì im lặng cho
rồi vì cuộc đời là những chuyến đi
gần nhau thời ít chia ly … cũng đành.


Thơ Bùi Giáng Một Thử Nghiệm Đọc

Khế Iêm

LỜI NÓI, ÂM THANH & ĐỌC NGÔN NGỮ


Hỏi tên, rằng biển xanh dâu
Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đã xa…

Bùi Giáng

Vào những thập niên cuối thế kỷ 20, hội họa liên tiếp thay đổi, từ Pop Art phản ứng lại Trừu tượng Biểu hiện (Abstract Expressionism), rồi hội họa Khái Niệm (Conceptual Art) lại phản ứng, và đưa ra một quan điểm mới: nghệ thuật về ý tưởng. Một tác phẩm nổi tiếng của Joseph Kosuth, vào năm 1965, Một và Ba Chiếc Ghế,chỉ đơn giản là một chiếc ghế xếp bằng gỗ, một bức hình chụp chiếc ghế đó, và phóng ảnh lớn một paragraph trong tự điển, định nghĩa chữ ghế.

Bức tranh đã tạo ra cho người thưởng ngoạn một xúc động mạnh, và đưa ra nhiều vấn đề của nghệ thuật. Trong ba chiếc ghế đó, chiếc nào là chiếc ghế thật? Và ý nghĩa của nó là gì? Không ai có thể biết chắc vì chiếc nào cũng có thể thật và không thật. Và mỗi người bằng cảm quan của mình có thể tìm ra một ý nghĩa, và cũng không chắc đâu là ý nghĩa thật. Ý nghĩa vượt khỏi tầm bắt, ý nghĩa vắng mặt. Ý nghĩa vắng mặt không phải là không có ý nghĩa. Giống như khi đọc những trang sách, nhưng chẳng thể cứ đọc mãi. Phải gấp lại, còn thì giờ để thở, để sống. Nhưng nếu không đọc nữa, những trang sách vẫn còn đó, chờ đợi chúng ta quay tìm lại. Và thời hiện đại (và cả hậu hiện đại), quả thật là thời đại săn lùng ý nghĩa, như nhà điêu khắc Jerry Joslin muốn dành sự giải thích tác phẩm ông cho người thưởng ngoạn, vì họ có thể đọc ra được điều gì khác.

Bức tranh phá vỡ lằn ranh giữa hội họa và điêu khắc, ra ngoài khung bố và màu sắc – bước vào thực tại. Ngôn ngữ hội họa không còn là màu sắc mà là những đồ vật thường ngày. Nhưng vấn đề là làm sao biến những đồ vật thường ngày trở thành ngôn ngữ là một điều khó, tùy thuộc vào tài năng của người nghệ sỹ. Ở đây, chúng ta đã nhìn ra sự hóa thân của ngôn ngữ, và chính nó tạo nên nghệ thuật.

Từ những ý niệm sơ khởi đó, quay về với thơ. Và cũng như hội họa, chúng ta cần một tác phẩm nào đó, để đối chiếu, thử làm một cuộc truy lùng như thế. Và cũng như những thử nghiệm thơ, đây là thử nghiệm đọc.Tác phẩm “Chớp Biển” của Bùi Giáng, do gia đình và thân hữu in từ Canada (Vinagraphics), kỷ niệm 70 năm ngày sinh, là một tác phẩm thích hợp. Thích hợp vì không giống với bất cứ tuyển tập nào của Bùi Giáng từ trước tới nay, kể cả những tuyển tập được in mấy năm gần đây. “Chớp Biển” tạo nên ấn tượng làm người đọc phải liên tưởng tới “Mưa Nguồn”, bởi vì người tuyển chọn, như một cố gắng muốn đưa Bùi Giáng tới gần người đọc, và hình dung lại chân dung Bùi Giáng. Nếu “Mưa Nguồn” với giọng thơ gân guốc và nhiều chất điền dã, thì “Chớp Biển” như một tiếp nối đằm thắm, tưởng như hai giòng thơ ấy chẳng hề có đứt quãng. “Mưa Nguồn” in năm 1962, là tác phẩm đầu tay, đến nay đã 35 năm. 35 năm coi như đã đủ để nhìn ra một cuộc đời thơ, một hành trình thơ với bao nhiêu tang thương biến đổi. Có thể nói, “Chớp Biển” là tập thơ đi tìm lại “Mưa Nguồn”, những bài thơ đi tìm lại những bài thơ tiền thân. Mà ở khoảng thời gian giữa đó, như nhà phê bình Nguyễn Phan Cảnh, trong bài Số Phận Bùi Giáng đã viết: “Bùi Giáng thuộc số rất ít những nhà thơ thiên phú, đã được/bị lịch sử chọn để di truyền gien thơ dân tộc, phải vương cho hết tơ rồi có thác mới được thác. Vì vậy, việc giữa đường đứt gánh … thơ một cách không bình thường của anh vào thập niên sáu mươi rất có thể là một cách đã được chương trình hóa như thế nào đấy để chặn lại mạch thơ anh, một mã-khóa như thế nào đấy mà hiện nay chúng ta chưa đọc được”. Như vậy thì vấn đề Bùi Giáng là đi tìm cái mã khóa để mở ra một giòng thơ mà bấy lâu nay vẫn đóng kín, và cái khoảng thời gian giữa đường đứt gánh ấy lại là khoảng thời gian có một ý nghĩa lớn lao trong cuộc đời thơ và cả cho sinh mệnh của giòng thơ Việt. Nắm lấy, bắt mạch, hoán vị, trục xuất, phá hủy, viết lại bài thơ, như những nốt nhạc dấy lên từ ký ức, đưa bản văn từ bóng tối ra ánh sáng, từ vắng mặt thành có mặt. Bởi ký ức làm cho sự vắng mặt có ý nghĩa. Và như thế, ý nghĩa bài thơ là bài thơ khác, mà người đọc, đọc ra ở đằng sau bản văn. Bởi bài thơ chỉ hoàn tất khi nó được đọc, nếu không thì vẫn cứ mãi ở tình trạng dang dở. Nhà thơ dang dở với thơ, và thơ dang dở với nhà thơ.

(Trong bài này, người viết phát biểu theo quan điểm của mình, tác phẩm lên tiếng, và người đọc là trung gian đánh giá và góp ý, tương tự như kiểu đối đáp trong thoại kịch, dù chỉ trên mặt giấy. Như vậy, người đọc có thể tìm ở đây, ít ra, một giá trị giải khuây nào đó. Bởi một điều, nếu trong sáng tác, chúng ta luôn trông chờ một điều gì mới, thì trong cách viết và đọc, cũng phải thay đổi một chút, cho trệch đi, và người đọc có thể tham dự trực tiếp để thơ có nhiều lối nhìn, nhiều cách soi rọi. Người viết có thể sai lầm, nói ra ngoài tác phẩm, người đọc điều chỉnh lại; và mặt khác, người đọc cũng có thể bước ra ngoài bài viết và tác phẩm để tìm kiếm một điều gì khác. Những bài thơ trích dẫn, không hẳn là tiêu biểu, vì đằng sau đó là trùng điệp thơ; và chỉ là cái cớ, đẩy người đọc đi tìm lại một dòng thơ… như thác đổ từ nguồn, hãy cứ để nó chảy lai láng, cuốn ta đi, và sau đó, trong khoảng khắc tình cờ, ta nhận ra nó, nó nhận ra ta. Như vậy không phải là điều thú vị lắm hay sao? Chú thích này trong bài, xin như một đoạn nhắc tuồng về vị trí của mỗi phía tham dự).

Rượu Uống

Thưa em rượu uống bây giờ
Là trăm năm gục hai bờ tử sinh
Động hờ hững Chúa điêu linh
Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi
Nhà ma cửa quỷ đi đời
Chim hơi thở đục trong lời sương xanh
Càn khôn xiêm mỏng che mành
Về trong thiên hạ em thành thiên thâu
Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình
Tài hoa tiếng vọng điêu linh
Phạm Đan Phượng chết theo Quỳnh Như sao
Thưa em từ bữa nghiêng chào
Chớm trang đầu chợt sóng trào trường giang
Em đi rắc lá bên đàng
Cỏ xanh rì mọc suốt càn khôn kia
Mùa xuân mưa rưới ruộng lìa
Về trong nắng hạ mép bìa sai bâu
Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma
Chạy quanh cồn cụm lá già
Rách như bươm suốt ruộng sa mạc đồng
Càn khôn gió đổ chất chồng
Rú như beo rống như hùm đổi hang
Trên rừng dưới lũng tan hoang
Vẫn sừng sững bóng chắn ngang quỷ sầu
Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm bao
Nhìn nhau trong lũy ngoài hào
Lời phôi dựng một điệu chào dị sai
Trên đầu thế kỷ chia hai
Nguồn man mác lạnh tìm ai bây giờ
Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận trường
Cầm chung dâu biển khôn lường
Chân trời mộng lý con đường chia ba
Nam đình doanh trại dàn qua
Trống chầu trùng ngộ thưa là không mong
Hoạt tồn phát tiết sầu đong
Tràng giang thế kỷ xô dòng xuống lean

Thơ Bùi Giáng là cuộc vận chuyển không ngừng của ngôn ngữ. Và khi chuyển động, nghĩa của chữ chưa kịp xuất hiện thì ngay tức khắc bị chữ khác thay thế. Cứ như thế, thơ truy lùng thơ, ngôn ngữ truy lùng ngôn ngữ, và bài thơ này trùng lấp vào bài thơ khác. Nghĩa chữ chồng chất lên nhau, chữ này ẩn vào trong hay bị bao trùm bởi chữ khác, của bài thơ khác. Ý của thơ không còn nguyên ròng – bất định và ảo hóa. Đi tìm lại tiền thân, nhưng cũng chẳng ai biết bài thơ nào là tiền thân của bài thơ nào. Thơ ở trên trời dưới đất, muốn đọc thì với lấy, nhặt lên, bất chợt và tình cờ, chẳng thể chọn lựa, chẳng thể dừng lại vì vòng quay có bao giờ dừng lại.

Trong lịch sử thơ Việt, chưa bao giờ lại có cuộc luân vũ mãnh liệt đến như thế, của ngôn ngữ. Và thơ, phải chăng, không nằm ở chính ngôn ngữ, mà ở khoảng khắc bốc hơi của ngôn ngữ, và chúng ta có thể tạm gọi cho đơn giản là quy trình hóa thân của ngôn ngữ. Bài thơ chẳng còn ở quá khứ hay hiện tại (và cũng chẳng phải tương lai) mà là tiến trình của thời gian. Và người đọc được mời gọi, nhập vào tiến trình ấy, để cùng hoàn tất thơ. Thơ làm khó diễn dịch và giải thích, vì vậy, chỉ còn lại người đọc và tác phẩm. Ngay tác giả cũng mờ nhạt trong định mệnh của vòng chơi. Nhưng không phải vì thế bài thơ không cần diễn dịch; sự diễn dịch cần thiết vì nếu nó kéo người đọc càng lúc càng xa tác phẩm, xa cách thơ, thì sẽ tạo nên phản ứng và nỗ lực làm người đọc tìm cách đến gần tác phẩm. Freud, khi đề cập tới việc đọc một tác phẩm văn học, cho rằng, đọc là phát hiện diễn tiến hóa thân của những yếu tố làm nên tác phẩm. Như vậy, ý nghĩa của bài thơ không quan trọng, mà quan trọng là cách nó tạo ra ý nghĩa.Nếu ngôn ngữ là hệ thống những ký hiệu, có nghĩa là sự tập hợp nhiều ký hiệu tạo nên ngôn ngữ, thì ngôn ngữ hẳn phải được nhìn theo một cách nhìn khác. Roland Barthes cho rằng, quần áo, quảng cáo, những hoạt động thể thao và tất cả đối tượng và hình thái ứng xử đều là hệ thống những ký hiệu phải được giải thích qua những ẩn tính văn hóa. Như vậy cái gì cũng có thể trở thành ngôn ngữ, nếu nó chuyên chở được một ý nghĩa, như một bông hoa là ký hiệu, nhưng nếu kết thành vòng hoa, nó trở thành ngôn ngữ. Ngôn ngữ chi phối mọi khía cạnh trong đời sống, và nếu ngôn ngữ có trước cá thể, thì thơ đi trước nhận thức con người. Thơ, như một động lực phá vỡ ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ tạo thành quyền lực, bao vây và nô lệ hóa con người. Chống lại ngôn ngữ, chẳng có cách nào khác hơn là đuổi bắt, diễu cợt và gây rối, bóp méo và làm dị dạng ngôn ngữ. Tựa như nhân vật Gregor Samsa của Franz Kafka (trong The Metamorphosis) bỗng chốc hóa thành dị hợm, không phải con người dù vẫn mang tâm trí của con người, hay những con vật trong Animal Farm của George Orwell, dù có biến thái thế nào đi chăng nữa, thì người ta vẫn có thể đọc được thông điệp từ đằng sau những biến cố. Những biến cố ấy chẳng qua cũng chỉ là những động lực giải phóng đời sống, cũng có nghĩa là giải phóng khỏi những chật chội, tù túng, áp bức của thực tại.

Làm Thân Con Gái

Trăng mới lên từ bữa nước không về
Một hôm nào em mở cửa đầu khe
Và bữa đó đến bây giờ cỏ rạ
Thi nhau mọc mặt trời lên lả tả
Bông lúa chín trong rừng kêu tiếng lá
Chóc chim xanh đòi đẻ trứng bây giờ
Đến bây giờ từ giờ một giờ hai
Đến bây giờ từ giờ ba giờ bốn
Soi gương mặt mày cong đo đếm lộn
Tóc tơ nhung là nhớ lạc lầm trời
Mây trên trời đầm đìa suối chung soi
Ghềnh bóng vang đá ngựa tía cương đòi
Đầu rớt xuống khi ngửa nghiêng tay gió
Chân ngựa mỏi khi lời không thể tỏ
Chân ngựa bay khi tiếng hụt chân trời
Chân ngựa về khi điệu hỏi về môi
Đất tròn trịa gối xanh trong thớ cỏ
Sương đắng cay vì trái chín bây giờ
Người hai chân là quốc sắc tò mò
Người hai tay là đẹp không thể ngờ
Người hai gối là tròn không thể tưởng
Người hai một một hai là ngực ưỡn
Người mở cửa để cho đời sung sướng
Người chết đi để thiên hạ quên người
Người trở về trong mộng đủ hai môi
(Và không thiếu bất cứ cái gì trong thân thể)

Thơ Bùi Giáng, gợi ra và soi sáng một điều: thơ là một chuyển động không ngừng, cuộc hóa thân đến kỳ cùng của ngôn ngữ. Từ thơ có vần đến thơ tự do, và cho đến những thể loại mang tính hình tượng bây giờ, cũng chỉ là những biến hóa của ngôn ngữ mà thôi. Nhìn lại thơ Mỹ, từ thơ có vần đến thơ tự do thời Walt Whitman, cho đến Concret Poetry (Thơ Cụ Thể), Found/Collage Poetry (Thơ Tìm Được/Cắt Dán)1, Projective Poetry (Thơ Dự Phóng)2, hoặc Organic Poetry (Thơ Hữu Cơ)3, hàng loạt những cách tân, thử nghiệm, kéo theo hàng loạt những phát biểu, những tuyên ngôn, thì cũng là những đột biến từ dạng thể này sang dạng thể khác. Ngôn ngữ chẳng qua là phương tiện như bất cứ phương tiện nào khác, một cục đá, một vật thể vô tri, cũng được, hà cứ phải là con đường chữ.

Từ đó có thể nhìn ra, thơ Mới Tiền chiến là loại thơ mà ngôn ngữ bất động. Người đọc bắt được ngay ý và cảm xúc thơ. Tựa như một vật bất động, chúng ta dễ dàng nhìn ra hình dạng của nó, nhưng khi chuyển động thì khó lòng thấy được. Nếu chuyển động theo tộc độ cao, như tốc độ ánh sáng, thì vô phương nhận biết. Nói chung, người đọc có tâm lý chiếm đoạt và tiếm đoạt, nên dễ cảm thông được với thơ Tiền Chiến, bởi vì qua đó, ai cũng có thể làm thơ và phát biểu một vài điều về thơ. Nhưng khi bước qua cái khoảng vào đời ấy, tới một thời kỳ trưởng thành của thơ, thì không ai có thể vượt qua những khó khăn. Thơ của thời kỳ này, đối với người đọc thật tối tăm, khó hiểu, cầu kỳ, hũ nút và chừng như không phải thơ. Thơ lạ mặt với người đọc đã đành mà còn làm bối rối ngay cả với những người muốn tìm hiểu nó. Nếu thơ dị ứng với người đọc thì cũng tạo nên những phản ứng từ ngay những nhà thơ. Bùi Giáng quay về với cơn cuồng điên (có thật là cuồng điên?), Thanh Tâm Tuyền ẩn dật vào nơi chốn nào đó của ông, và Lê Đạt bông đùa với nhân thế. Quay về với cơn cuồng điên cũng là nhập vào cuộc xoay vần của con chữ. Nói cho ngay, đời sống chính là ngôn ngữ. Và người đọc nếu muốn hiểu thơ ông, cũng không có cách nào khác là nhập vào dòng chuyển động ấy.

Nếu không thì người ta cứ tha hồ bới trên những bản văn, áp đặt những gì không dính líu gì đến thơ để tìm kiếm thơ. Nếu thơ, một nửa phần nằm trong tinh thần chiêm nghiệm và kinh nghiệm, còn nửa phần khác là sự học hỏi và đời sống, thì nếu không nhìn thấu suốt được cái toàn thể ấy, thì chẳng bao giờ chạm tới chỗ cốt lõi của thơ. Nói cho cùng thì thơ là vấn đề của ngôn ngữ. Và nếu nắm được sự biến hóa của ngôn ngữ thì nắm được thơ.

Chân Trời

Người đi lại thân đời vui như thể
Sầu lên hoa dâu lá lạnh như hường
Và mặt đất cát bờ cây phơi hé
Nước lên cồn câu chuyện kể bên mương
Lời cũng nói những lời vui như thể
Mây xanh trời về đô hội môi cong
Người thiếu nữ điểm trang hồng mắt lệ
Chiều hôm qua chi phấn cũ phơi giòng
Mái bỏ rớt xuống trần gian rơi tóc
Áng can qua là buổi hẹn tương phùng
Bờ liễu rộng bình minh em khóc lóc
Hoàng hôn xanh thương nắng rộng vô cùng
Vì bữa trước xuân đầu khô trụi lá
Bốn chân trời thổi gió buốt thân tre
Và chân bước mang em về tấc dạ
Trong tấm lòng thu động rú truông khe
Ngàn thông rụng đầu le sương lá cỏ
Nước xuôi giòng em bước lại nghiêng vai
Mây tơ tóc phai màu xuân chẳng rõ
Tuyết thiên thu cành dâu gục ngân dài

Nếu ví sự chuyển động của ngôn ngữ như sự chuyển động của hình ảnh, thì những hình ảnh liên tiếp vừa hoán đổi vừa vắng mặt tạo nên ý nghĩa, và ý nghĩa ấy cũng vừa hoán đổi, vừa vắng mặt. Sự đọc, chính là quy trình của vô thức, bởi vô thức là sự trượt lướt của ý nghĩa bên dưới những hình ảnh. Và nếu ví bản văn là tấm gương soi, thì qua đó, hình ảnh trong tấm gương cũng chẳng phải hình ảnh thực của chúng ta. Nó vừa thật vừa ảo, tạo nên sự mê hoặc của sự nhận biết, ta là chính ta, và qua cái chính ta đó, ta nhận biết được ta. Như vậy, có phải là bài thơ đã giúp chúng ta đi từ sự bí ẩn cùng tận để trở về hiện thực, từ vô thức trở về ý thức, từ tưởng tượng trở về thực tại. Vậy thì, vô thức chẳng phải là những gì chôn kín trong ta, mà là những gì ở ngoài ta, tác động và đan dệt chung quanh, từ thế giới bên ngoài, giúp chúng ta đi tìm lại được cái bản lai diện mục (của thơ hay của ai?). Thơ Bùi Giáng, cũng như thơ Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Thanh Tâm Tuyền, những nhà thơ đã móc vào được quy trình biến hóa đó, chẳng phải đã chuyển cách đọc một bài thơ, từ đáy sâu của vô thức đó sao?

Ông Trời Chịu Thua

Bây giờ tôi rất có quyền
Hỏi ông trời: — chớ thuyền quyên là gì?
Mà nhân gian nhớ li bì
Từ thiên thư tới tám kỳ càn khôn
Trời rằng: ngươi rất có quyền
Hỏi như rứa đó… nhưng…
– Nhưng sao
– Nhưng ta không đủ thẩm quyền đáp đâu

Trở về với bức họa Một và Ba Chiếc Ghế, đó là thí dụ khá cụ thể, để chúng ta có thể mường tượng quá trình của ngôn ngữ, quá trình thưởng ngoạn, từ phía sau của bức họa. Một tác phẩm nghệ thuật ví như ngôi nhà đóng kín, nếu không mở được cánh cửa thì làm sao thấy được những gì ở bên trong, nhìn ra giá trị đích thực của nó. Và người đọc phải chính mình bước vào, đối mặt, thẩm thấu và ném mình theo cơn sóng cuồng bí ẩn, với nó. Giống như những bức tượng của Rodin, đã có hàng ngàn trang viết về Rodin, nhưng không có gì có thể thay thế được tác phẩm ngoài chính tác phẩm. Và nếu tác phẩm là một cách lạ hóa đời sống, thì cách lạ hóa đó chẳng qua, là chỉ phát hiện những gì bị che mờ bởi thực tại, phát hiện cái thực tại của thực tại. Vả lại, thơ vượt lên và trải dài qua mọi thời kỳ, mọi trường phái lý thuyết. Và dù hiện nay, vẫn còn đang có tranh cãi gay gắt giữa các lý thuyết, thì mới thấy rằng, chính tác phẩm tạo nên lý thuyết chứ không phải những lý thuyết tạo nên tác phẩm. Nhưng nói gì thì nói, cả lý thuyết lẫn tác phẩm, nếu không có những cập nhật thường xuyên, thì sẽ chẳng bao giờ theo kịp được với những chuyển biến nhanh chóng của thơ và thực tại. Có điều là, những hành trình thơ, có dung chứa nổi và xuyên suốt được qua nhiều thời đại hay không. Một bức họa, một bài thơ, một tác phẩm văn học luôn luôn ẩn chứa những ma lực. Nhưng trước khi bước vào, chúng ta phải tìm cho ra cách đọc nó. Thơ Bùi Giáng có cái ma lực quyến rũ ấy, và ở thời ông, đã có biết bao nhiêu người làm thơ giống ông, nếu không về ngôn ngữ thì cũng về giọng điệu. Thật ra họ không làm thơ đâu, họ đọc ông đấy thôi. Và từ bao lâu nay, đã có nhiều người đọc, viết về thơ ông, nhưng đa phần cũng chỉ chạm tới được những gì ở bên ngoài thơ. Vì thế thơ ông càng lúc càng xa người đọc, và ông cũng càng lúc càng cô đơn, càng cô đơn thì càng đẩy ông vuột khỏi tầm bay, và lao vào một tinh cầu khác. Đọc, là đối thoại giữa ý thức và vô thức, giữa quá khứ và hiện tại, giữa người đọc và tác phẩm.

Chúng ta nói tiếng nói của chúng ta, tác giả nói tiếng nói của tác giả, có khi trái cựa, có khi mỗi người mỗi ngả, nhưng qua đó, nẩy sinh ánh chớp sáng, ánh chớp ấy xẹt ngang, thanh tẩy và làm mới tâm hồn ta. Sự đọc, mỗi bài thơ, mỗi nguồn thơ, dường như đòi hỏi những cách khác nhau. Cách đọc ấy vốn đã có sẵn trong tác phẩm, không thể áp đặt từ bên ngoài, và vì thế, người đọc phải tự tìm lấy. Đó cũng chính là hàm ý, làm một bài thơ khác. Bài viết này cũng chỉ là một thử nghiệm, một cuộc đối thoại, giữa thế hệ này và thế hệ khác, như một nhấn mạnh, chỗ khởi đầu là phát hiện nơi chính thơ, một cách đọc khác. Và những bài thơ trích dẫn, chẳng qua, là đánh thức một nguồn thơ, mà chúng ta dường như đã quên mất, trong quá khứ (hay trong tiềm thức), làm nó sống lại, ẩn hiện, như giấc mơ hồi sinh. Và thơ Việt, dù đang trong sự chuyển mình theo một chiều hướng khác, thì chẳng qua cũng vẫn nằm trong cách thức hóa thân của ngôn ngữ, có gì lạ đâu.


1.- Found/Collage Poetry (Thơ Tìm Được/Cắt Dán): tương tự như Pop Art, cóp nhặt câu chữ từ các nguồn khác như quảng cáo, truyện… dàn dựng thành bài thơ hay tạo hình bằng cách cắt dán chữ, hình vẽ từ các báo và tạp chí…

2.- Projective Poetry (Thơ Dự Phóng): Gồm những chùm chữ thay cho dòng và các khoảng trống, có thể đọc từ chùm đầu tới bất cứ chùm nào, hoặc từ mảng chữ của chùm này đọc tròng tréo qua các mảng chữ của chùm khác.

3.- Organic Poetry (anh PTH dịch là Thơ Hữu Cơ): Chủ trương thể thơ và hình thức bài thơ tùy thuộc vào cảm hứng tự nhiên hơn là các thể có sẵn, tương tự như Dạng Thức Thơ.


Trích Vũ Điệu Không Vần – Khê Iêm – Nhà Xuất bản Văn học – http://thotanhinhthuc.org/ LỜI NÓI, ÂM THANH & ĐỌC NGÔN NGỮ VÀ…

Sài GònSài Gòn mệt mỏi, chiều tan,
Quán giăng bóng xế, lanh tanh, tiêu điều,
Thương em, mà anh có hiểu,
Gieo neo một chuyến, đò Kiều sang sông.

01/5/2012

Mưa ngâu!

Cuộc đời duyên kiếp đấy thôi,
Hãy đi đi sẽ xa xôi sẽ gặp,
Làm chi mà phải hò hẹn,
Cơn mưa chợt đến tóc em ướt rồi!
Tóc mai ươn ướt rối bời,
Làm sao thề thốt ngỏ lời cùng anh!
Tim anh đã nhuộm màu hoa,
Cánh phượng hồng rơi rớt sau mưa,
Biết đâu được mất hay chưa,
Chờ em không thấy, lưa thưa hạt sầu,
Giăng vào đôi mắt nâu nâu,
Giăng vào cuối ngõ, mưa ngâu mãi còn.

15/5/2011

Thần Tiên Trên Núi

Đùa với tuyết
rỡn với vân
Một mình nhớ mãi gái trần gian xa

Sương buổi sớm
nắng chiều tà
Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu

-Bùi Giáng

Faerie of the Mountain

Jest with snow
josh with clouds
Pining for her without, within

Foggy morns
puce evenings
One century means nothing in tears

-ianbui dịch - https://www.facebook.com/nghia.bui.90

NGUYỄN LƯƠNG BA | Translated by J. Do Vinh

www.thotanhinhthuc.org

TSUNAMI TSUNAMI

When I first learned how to read, to write,
to listen see and understand, to imagine,
to remember my life drifting afar
to a place that is suffering a natural

Khi bắt đầu biết đọc, biết viết, biết
nghe nhìn hiểu, biết tưởng tượng, biết nhớ
lại trong đời mình đang trôi ở một
nơi xa cái nơi đang bị thiên tai,

disaster. The first time I heard tsunami
tsunami tsunami, tsunami tsu-
nami. Oh, south asia where I am
familiar, had come to pass, had made landfall

Thì lần đầu tiên tôi nghe tsunami
tsunami tsunami, sóng thần sóng thần.
Ôi vùng đông nam á nơi tôi biết,
đã đi qua, đã cập bến, biết bao

know that I have died on a stormy night.
Oh but to let the boat sink. Oh the great
and so many love, Ladang, Penang
Galang Indonesia, when I on a

Thân thương, nào Ladang, Penang
Galang Indonesia. Khi tôi từ
con thuyền vượt đại dương, một ra đi,
sóng dữ, vâng sóng dữ và tôi biết

boat crossing the seas on a voyage.
The horrible waves after waves and I
storm quickly passing powerfully and
naturally without question, and I

Rằng mình đã chết giữa đêm giông bão.
Ồ, thì cũng đành để con thuyền chìm.
Ôi, cơn bão lớn lao vội vàng đi qua,
mạnh mẽ, thản nhiên chả cần hỏi han.

imagine the horror but how could I
imagine such horror when the waves like
the heavens crashing down on the beautiful
beaches like a dream where there are people

Và tôi liên tưởng sự khủng khiếp kinh
hoàng, mà làm sao liên tưởng được khi
cơn sóng như trời sập đánh vào các
bãi biển xinh đẹp thơ mộng, mà ở

enjoying the pleasures of the world, so
it begs the question where is God’s mercy
for a tsunami as such? (a Christmas
had just come to pass). Too many people

Đó những người ở thế gian đang tận
hưởng lạc thú trần gian thì thử hỏi
ân sủng của Chúa và tsunami là thế nào?
(Một mùa Giáng Sinh vừa mới qua đi.)

had been killed in a single day quickly
disappearing, quickly dissolving while
they were speaking and smiling in this life.
Life remains virginal. Let’s look to the

Quá nhiều người đã chết trong một ngày,
nhanh chóng biến mất, nhanh chóng tan đi
mà họ thì đang cười nói với cuộc
đời này. Cuộc sống vẫn còn trinh nguyên,

Southern sea and the mother holding her
child in Banda Aceh had died truly not
knowing what to say! The sea is now calm?

Hãy nhìn về biển Đông và bà mẹ
đang ôm đứa con ở Banda Aceh
đã chết, mà thật không biết nói gì!
Mà biển thì lại đang êm, có phải?


TÌNH NGƯỜI VÀ THƠ TÂN HÌNH THỨC

Nguyễn Lương Ba

Nhân loại luôn đặt mình trong tương giao phổ quát của những đối xử huynh đệ và thiện cảm là ý nghĩa mà lịch sử phải thực hiện trong giòng sống của con người. Lịch sử phải vượt qua những tương tàn và hủy diệt để mở tới một triển vọng nhằm thiết lập một nhân loại đại đồng và thống nhất trong đời sống. Lo lắng của lương tâm trở thành mơ ước của ý hệ. Chính ở trong sự chuyển hóa từ một tình tự trung thực đến một hệ thống tư tưởng, ý nghĩa của lịch sử đã bắt đầu theo một chiều hướng suy đồi. Một tác động nhằm đưa hệ thống tư tưởng vào thực tiễn xã hội thêm một lần nữa lay dộng ý nghĩa đó đến tận nền tảng. Lịch sử bắt đầu thăng trầm theo khả năng luận lý, nhận thức và phán đoán của con người. Trên quan điểm đại thể, văn học nghệ thuật sẽ đưa nhân loại về một nhìn nhận đáo lý và cấp thiết. Nó như một sức phản động mọi mưu toan ám hại đời sống con người bằng mọi phương tiện của tư tưởng và bạo động. Một nền văn học nghệ thuật phục vụ cho một chủ nghĩa và xem thành quả của hoạt động đó như là công trình văn hóa là một nghệ thuật đã đặt nhân loại ra khỏi mọi cứu rỗi, bởi lúc đó nghệ thuật đã trở thành một thứ công cụ nằm chết trong một cơ cấu ý hệ. Trong viễn tượng đó, nghệ thuật đã thu hẹp nhân loại vào bên trong một phần mơ ước của ý hệ chỉ có tính cách giai đoạn. Do đó nghệ thuật bị cô lập giữa toàn bộ đời sống của nhân loại và sẽ chết ngạt giữa sự kết án của tập thể quần chúng. Nghệ thuật như vậy chỉ có nghĩa là làm đầy những khoảng trống để hoàn thành cơ cấu ý hệ một cách tốt đẹp. Nó đang bỏ quên những thực tại khác, những tập thể khác và rồi nó đứng bên ngoài trái tim và số phận của nhân loại. Nghệ thuật luôn phấn đấu cùng khả năng bạo động, vận hành của lịch sử, chia sẽ những tình cảm của con người để nhằm thực hiện mơ ước đích thực và sâu xa của nhân loại. Ai đó có lần nói đến sự lớn lao của nghệ thuật hẳn không quên nghĩ tới điều đó.

Từ những hoàn cảnh bi thảm và đau xót do thiên tai Sóng Thần xãy ra ở vùng Nam Á, những người làm văn học, nghệ thuật đều cảm thấy xúc động. Không những là xúc động mà còn bị thôi thúc như là một ý thức đối với lịch sử để nói lên tiếng nói, thiết lập một ý nghĩa thực tiễn, san sẻ nỗi đau của con người bằng chính ngôn từ của mình.Văn thơ chỉ có thể diễn tả trong ngôn từ vì vậy nó không định hình thành cơ cấu, bởi ngôn từ không thể trở thành sự vật. Đó chính là sức mạnh của tình cảm và ý thức. Tác dụng của nó sẽ có hiệu lực trên bình diện rộng lớn bởi vì văn thơ không nhắm đến bản thân của cá nhân mà bày tỏ cho cả một tập thể. Nó thu gọn đời sống trong một tác phẩm nhỏ bé nhưng đồng thời mở ra một viễn tượng đời sống rộng lớn và bao quát hơn. Cùng với những tiếng nói khác, chia sẻ niềm đau thương của con người trước thảm nạn Sóng Thần, website Thơ Tân Hình Thức đã mở rộng trang thơ để đón nhận bài vở của các bạn văn gửi về. Có thể đọc bài của nhà thơ Lý Đợi ở Sài Gòn, Đặng Thân ở Hà Nội, Hoàng xuân Sơn ở Canada và bài vở của các nhà thơ từ các tiểu bang của nước Mỹ. Ý thức này là điều kiện để nghệ thuật xâm nhập vào thực tiễn xã hội, cơ cấu tập thể nhưng ý thức này cũng đồng thời bắt đầu cho nhịp vận chuyển đổi thay. Cho dù tác dụng của nghệ thuật trên bình diện xã hội chưa được bày tỏ tức thì, người làm văn học nghệ thuật có thể cảm thấy chu toàn công tác của mình một phần nào đó bởi vì trách nhiệm nghệ thuật mà tập thể đòi hỏi là một trách nhiệm lý thuyết, căn cứ trên những giá trị tinh thần. Như vậy có một tương quan chặt chẽ giữa nghệ thuật và quần chúng. Nghệ thuật gắn liền với quần chúng trong lý do hiện hữu cũng như trong trách nhiệm lịch sử. Quả thực, nghệ thuật là tiếng nói và hơi thở cuối cùng của con người trong xã hội nhất là một xã hội bạo động và tai ương. Nghệ thuật đứng bên trên hạ tầng kiến ttrúc cho nên không thể đòi hỏi những tác động hữu hình và thực tiễn của giá trị nghệ thuật. Tuy nhiên, nghệ thuật còn cải hóa ngược lại cho lực lương hạ tầng kiến trúc đó đồng thời có thể bày tỏ sự thiết lập mới cơ cấu lực lượng trên. Đó là con đường mà nghệ thuật đi vào đời sống hiểu như là một ngôn ngữ của đời sống.

Mỗi bài thơ Tân hình thức của mỗi tác giả đều mang những tâm trạng khác nhau hay nói một cách sâu xa hơn những truyền thống tinh thần, văn hóa xuất phát từ những hoàn cảnh lịch sử đã tác động mãnh liệt lên những xúc cảm của họ như là vai trò của đạo đức nhằm giải thích sự giới hạn giá trị cá thể và đặt cá thể vào trong một tương quan xứng hợp với đạo sống của một con người, của một dân tộc. Họ rung động thật sự những thực tại của đời sống, những khổ đau đích thực mà không bị luận lý của ý hệ che mờ.

Và thơ Tân hình thức với tính cách mở rộng của thể loại thơ đã giúp phụ vào, chuyên chở tình tự không những bắt nguồn từ thực tại để diễn tả chân lý của thực tại mà còn đem tới một sự đổi thay cho thực tại. Từ diễn tả đến đổi thay là một nhịp vận động tiến bộ của nghệ thuật kêu gọi một sự nhìn nhận phổ quát để thực hiện mơ ước của nghệ thuật. Chính giá trị của nghệ thuật được bày tỏ trong nhịp vận động này. Trên bước đường thực hiện ý nghĩa của mình, thơ Tân hình thức vươn dậy như một tác động đối với đời sống, từ đó xây dựng một truyền thống và một quá trình hiện hữu lớn lao. Một viễn tượng mở ra như thế cũng là một thử thách tâm hồn những người theo đuổi nghệ thuật vậy.

* Xin đọc các bài thơ Tân hình thức viết về thảm nạn Sóng thần.


NGUYỄN LƯƠNG BA | Translated by J. Do Vinh

www.thotanhinhthuc.org

TSUNAMI TSUNAMI

When I first learned how to read, to write,
to listen see and understand, to imagine,
to remember my life drifting afar
to a place that is suffering a natural

Khi bắt đầu biết đọc, biết viết, biết
nghe nhìn hiểu, biết tưởng tượng, biết nhớ
lại trong đời mình đang trôi ở một
nơi xa cái nơi đang bị thiên tai,

disaster. The first time I heard tsunami
tsunami tsunami, tsunami tsu-
nami. Oh, south asia where I am
familiar, had come to pass, had made landfall

Thì lần đầu tiên tôi nghe tsunami
tsunami tsunami, sóng thần sóng thần.
Ôi vùng đông nam á nơi tôi biết,
đã đi qua, đã cập bến, biết bao

know that I have died on a stormy night.
Oh but to let the boat sink. Oh the great
and so many love, Ladang, Penang
Galang Indonesia, when I on a

Thân thương, nào Ladang, Penang
Galang Indonesia. Khi tôi từ
con thuyền vượt đại dương, một ra đi,
sóng dữ, vâng sóng dữ và tôi biết

boat crossing the seas on a voyage.
The horrible waves after waves and I
storm quickly passing powerfully and
naturally without question, and I

Rằng mình đã chết giữa đêm giông bão.
Ồ, thì cũng đành để con thuyền chìm.
Ôi, cơn bão lớn lao vội vàng đi qua,
mạnh mẽ, thản nhiên chả cần hỏi han.

imagine the horror but how could I
imagine such horror when the waves like
the heavens crashing down on the beautiful
beaches like a dream where there are people

Và tôi liên tưởng sự khủng khiếp kinh
hoàng, mà làm sao liên tưởng được khi
cơn sóng như trời sập đánh vào các
bãi biển xinh đẹp thơ mộng, mà ở

enjoying the pleasures of the world, so
it begs the question where is God’s mercy
for a tsunami as such? (a Christmas
had just come to pass). Too many people

Đó những người ở thế gian đang tận
hưởng lạc thú trần gian thì thử hỏi
ân sủng của Chúa và tsunami là thế nào?
(Một mùa Giáng Sinh vừa mới qua đi.)

had been killed in a single day quickly
disappearing, quickly dissolving while
they were speaking and smiling in this life.
Life remains virginal. Let’s look to the

Quá nhiều người đã chết trong một ngày,
nhanh chóng biến mất, nhanh chóng tan đi
mà họ thì đang cười nói với cuộc
đời này. Cuộc sống vẫn còn trinh nguyên,

Southern sea and the mother holding her
child in Banda Aceh had died truly not
knowing what to say! The sea is now calm?

Hãy nhìn về biển Đông và bà mẹ
đang ôm đứa con ở Banda Aceh
đã chết, mà thật không biết nói gì!
Mà biển thì lại đang êm, có phải?


Sự hỗn loạn và bối rối của một tình yêu hồi sinh / The Chaos And Confusion Of A Rebound Love

Rebound love occurs when a person has been in a long-term relationship and jumps headfirst into a brand new one. Excuse the terminology but this is pretty much how it happens.

We have probably all done it and wondered later what possessed us to do such a thing when we were only beginning to grieve for our recent loss.

So why do we do it? Lock horns with a new romantic interest even though our perfume was probably still lingering on our ex partner’s pillow slip.

The reason is we may not feel compelled to revisit the person in the last relationship depending on how it ended but we crave the closeness and familiarity of the relationship itself.

I was explaining this to a friend who had recently been through a break up to be told quite indignantly that she was not interested in her ex just finding someone new. Her words said it all as why would anyone want to hook up with someone so FAST after a 5 year relationship?

She took the leap of urgency and was convinced she was in love with the first guy she met. Knowing that everyone has their own journey I stayed very quiet on the sidelines while she got hurt instantly and then proceeded to date another guy where the same thing happened again.

The thing is she swore black and blue she was over her ex partner and even though this was probably true she was not ready to commit to a new meaningful, relationship just yet. After the second guy did not measure up she began to realize that there was a lot to be said about this thing called a REBOUND LOVE.

What had actually happened was my friend was missing the ingredients that make up a relationship cake.

She was adamant that her ex partner was no longer the right man for her anymore which is fine but she was not aware that the relationship originally worked because both of them wanted to be together.

You see you meet someone, fall in love and decide you want to build a life together. After a period of dating you decide to move in together and start buying things for your love nest and making it into your home. You may get married and have children, buy a house and make new friends all the things that bind you together and make you no longer just a couple but a family.

You are living the dream and believe with all your heart that it will be this way for the rest of your life.

Suddenly the dream of a happy ever after has ended as the light has gone out on the relationship and nothing could be done to fix it.

You are a mix of emotions. You at first feel relief that a resolution has been made but his is soon out shadowed by feelings of loss, sadness and GRIEF. You ended the relationship so you cannot understand why you would feel this way and find the feelings so overpowering you just want to find away to snuff them out.

Lying in your bed at night alone you are not missing your ex but you wish there were someone next to you holding you the way he used to, making you feel safe and warm. This is what makes a significant RELATIONSHIP so hard to get over because it is a union of two people who come together to create something far bigger than themselves. When two becomes one again the loss of that way of life can be devastating.

So rebound love is a way of finding the comfort and security you may have experienced in your last relationship.

The dangers of rebounding are more hurt and confusion, as you may not be aware of the baggage you are carrying. Some sure-fire ways to tell if you are in a relationship with someone on the rebound are as follows.

  1. Is your new guy constantly talking about his ex? It is not important whether they say good or bad things about them just the fact that he has not let go.
  2. Does he carry photos of his ex in his wallet? Ouch that is going to be a real turn-off to you I think.
  3. How long has it been since he broke up with his partner because if it is not too long you better know he is on the rebound and could be out of the new one with you as fast as he came in.

I am not discounting the fact that there have been many beautiful love stories emerge from a rebound relationship but I am urging you to be aware of what you are getting yourself into if you choose a rebound love.


Tình yêu hồi sinh xảy ra khi một người đã có một mối quan hệ lâu dài và lao đầu vào một mối quan hệ hoàn toàn mới. Xin lỗi vì thuật ngữ này, nhưng đây gần như là cách nó diễn ra.

Có lẽ tất cả chúng ta đều đã từng làm điều đó và sau đó tự hỏi tại sao mình lại làm như vậy khi mới bắt đầu đau buồn vì mất mát gần đây.

Vậy tại sao chúng ta lại làm vậy? Quyến rũ một mối tình mới mặc dù mùi nước hoa của chúng ta có lẽ vẫn còn vương trên gối của người yêu cũ.

Lý do là chúng ta có thể không cảm thấy bắt buộc phải quay lại với người trong mối quan hệ trước tùy thuộc vào cách nó kết thúc nhưng chúng ta khao khát sự gần gũi và quen thuộc của chính mối quan hệ đó.

Tôi đang giải thích điều này với một người bạn vừa mới chia tay thì nhận được câu trả lời khá phẫn nộ rằng cô ấy không quan tâm đến việc người yêu cũ tìm kiếm một người mới. Lời cô ấy nói đã nói lên tất cả, tại sao lại có người muốn hẹn hò với một người NHANH CHÓNG như vậy sau 5 năm yêu nhau?

Cô ấy đã hành động vội vã và tin chắc rằng mình đã yêu chàng trai đầu tiên gặp mặt. Biết rằng mỗi người đều có hành trình riêng, tôi chỉ im lặng đứng ngoài quan sát trong khi cô ấy bị tổn thương ngay lập tức, rồi lại tiếp tục hẹn hò với một chàng trai khác, và mọi chuyện lại tiếp diễn như vậy.

Vấn đề là cô ấy đã thề thốt đến tận xương tủy rằng mình đã quên được người yêu cũ, và mặc dù điều này có lẽ đúng, cô ấy vẫn chưa sẵn sàng cam kết một mối quan hệ mới, có ý nghĩa. Sau khi người đàn ông thứ hai không đáp ứng được kỳ vọng, cô ấy bắt đầu nhận ra rằng có rất nhiều điều đáng nói về thứ gọi là TÌNH YÊU ĐỔI LẠI.

Điều thực sự xảy ra là bạn tôi thiếu những nguyên liệu tạo nên chiếc bánh tình yêu.

Cô ấy kiên quyết rằng người yêu cũ của cô không còn là người đàn ông phù hợp với cô nữa, điều đó cũng bình thường thôi, nhưng cô ấy không biết rằng mối quan hệ ban đầu có hiệu quả vì cả hai đều muốn ở bên nhau.

Bạn thấy mình gặp gỡ ai đó, yêu nhau và quyết định xây dựng cuộc sống cùng nhau. Sau một thời gian hẹn hò, bạn quyết định dọn về sống chung và bắt đầu mua sắm đồ đạc cho tổ ấm tình yêu của mình và biến nó thành tổ ấm. Bạn có thể kết hôn và sinh con, mua nhà và kết bạn mới – tất cả những điều gắn kết hai người lại với nhau và khiến hai bạn không còn chỉ là một cặp đôi nữa mà là một gia đình.

Bạn đang sống trong giấc mơ và tin tưởng hết lòng rằng giấc mơ đó sẽ kéo dài suốt quãng đời còn lại của bạn.

Đột nhiên giấc mơ về một cuộc sống hạnh phúc mãi mãi đã kết thúc khi ánh sáng trong mối quan hệ đã tắt và không còn gì có thể cứu vãn được nữa.

Bạn là một mớ cảm xúc hỗn độn. Ban đầu, bạn cảm thấy nhẹ nhõm vì đã tìm được giải pháp, nhưng rồi niềm vui ấy nhanh chóng bị che lấp bởi cảm giác mất mát, buồn bã và ĐAU BUỒN. Bạn đã kết thúc mối quan hệ nên không hiểu tại sao mình lại cảm thấy như vậy, và cảm thấy những cảm xúc ấy quá mãnh liệt đến nỗi bạn chỉ muốn tìm cách dập tắt chúng.

Nằm một mình trên giường vào ban đêm, bạn không hề nhớ người yêu cũ, nhưng bạn ước gì có ai đó bên cạnh, ôm bạn như cách anh ấy đã từng, cho bạn cảm giác an toàn và ấm áp. Chính điều này khiến một MỐI QUAN HỆ quan trọng trở nên khó vượt qua đến vậy, bởi vì nó là sự kết hợp của hai con người đến với nhau để tạo nên một điều gì đó lớn lao hơn chính họ rất nhiều. Khi hai người lại trở thành một, sự mất mát của lối sống đó có thể là một thảm họa.

Vì vậy, tình yêu hồi phục là cách tìm lại sự thoải mái và an toàn mà bạn có thể đã trải nghiệm trong mối quan hệ trước.

Nguy cơ của việc “rebound” còn lớn hơn cả tổn thương và hoang mang, vì bạn có thể không nhận thức được những gánh nặng mình đang mang. Dưới đây là một số cách chắc chắn để nhận biết liệu bạn có đang trong mối quan hệ với một người “rebound” hay không.

  1. Người yêu mới của bạn có liên tục nhắc đến người yêu cũ không? Việc họ nói tốt hay nói xấu về người yêu cũ không quan trọng, quan trọng là anh ấy vẫn chưa buông tay.
  2. Anh ấy có mang theo ảnh người yêu cũ trong ví không? Ôi, chắc chắn điều đó sẽ khiến bạn mất hứng.
  3. Anh ấy đã chia tay với người yêu bao lâu rồi? Nếu không quá lâu thì bạn nên biết rằng anh ấy đang trong giai đoạn quay lại và có thể chia tay người yêu mới với bạn nhanh như khi anh ấy đến.

Tôi không phủ nhận sự thật rằng có rất nhiều câu chuyện tình yêu đẹp nảy sinh từ mối quan hệ hồi phục nhưng tôi muốn khuyên bạn hãy nhận thức được điều gì bạn sẽ gặp phải nếu bạn chọn một mối tình hồi phục.


Source by Linda E Cole

GIẢI MÃ THƠ

NỖI KHẮC KHOẢI THỜI GIAN VÀ NGÔN NGỮ

Đỗ Minh Tuấn

Để ngày xanh rơi vào miệng vực

Trong thơ ca nhân loại, các thi pháp, trường phái và phong cách khác nhau dường như đều bắt đầu từ thái độ cảm nhận của thi nhân với thời gian. Mơn trớn thời gian, chiêm ngưỡng thời gian, đưa đón thời gian, chiêm nghiệm thời gian, lặn sâu vào kẽ nứt của thời gian, tìm lại thời gian đã mất, tách bạch thời gian yêu và thời gian chết, thời gian trần thế và thời gian nghi lễ, thời gian cô độc và thời gian lễ hội … Tất cả những ứng xử khác nhau đó làm nền tảng tâm linh bản thể của những hành xử ngôn từ. Khế Iêm, ngay trong tập thơ đầu của mình đã nói bằng giọng điệu của thời gian. “Thanh Xuân”, tên tập thơ gợi một cảm nhận xanh mát trinh nguyên về thời gian đầu đời, về hương sắc đầu mùa và những cảm nhận tươi non. Nhưng thực tế, cảm nhận về thời gian trong đó đã nhuốm màu mệt mỏi, chán nản, u hoài. Bàng bạc khắp tập thơ là một nỗi ám ảnh về sự trớ trêu của thời gian, sự lệch nhịp với dòng đời và độc chất hư vô của cõi thời – không, nơi nhà thơ luôn bị đong đưa giữa khoảnh khắc và vĩnh cửu.

Cuộc sống trong thơ Khế Iêm chớp nhoáng, mọi thứ lại như luôn trễ hẹn khiến ta phải đợi chờ:

Tin báo rằng mặt trời đã tận
Trái đất là một thoáng lửa trôi
Tin báo
Chờ đợi
Mất hút
Lặng lẽ
Lá rơi trong khoảnh khắc
Ẩn mật
Mộng gõ tối tăm mắt rộn rã
Thoảng đưa hương ngâu thôn đời xa
Tắt
Thời gian bị trục trặc:
Lũ chim chóc đóng băng trong không
Và tháng ngày trôi bồng bềnh trên đất

Thời khắc bị nhuốm độc bởi quá khứ và tương lai, mất đi cái trinh nguyên của hiện tại, bị cái chết của người, của lời, của cảnh vật, ám ảnh như âm binh:

Những người đưa ta từ bao đời trước đến
Những người chôn ta từ bao đời sau về
Âm binh…
Cơn gió nào thổi tan lời nguyện
Con sói về ăn những mảnh trăng
Bên cõi người một hồn nắng tuyệt
Có tiếng người ở giữa lòng chăng

Tin báo

Ngày của thi nhân, ngày của thơ ca là cái ngày xanh rơi vào miệng vực. Và, trong tư cách kẻ làm chứng cho cái chết được báo trước của thời gian, thi nhân luôn hoang mang, bối rối trước cõi hình tướng nhập nhòa, trôi nổi:

Mắt quáng gà
Hư thực nhập nhòa hoài
Bực bội
Quá khứ dở hơi
Mẩu thuốc cháy

Khói

Trải khắp những trang thơ là một cõi đời tàn phế. Dường như cõi thế làm bằng mây, khói, toàn cảnh nước trôi, hoa trôi, mây tan, nắng tàn, nắng lung lay, chim tan tác, khói bất trắc, khói điên, gió chiếc, gió thoảng, gió tất tưởi, đoá hoa khóc, trăng vù xa … Một thế gian rạn vỡ tưởng chừng như làm bằng mây khói. Mây và khói lan tỏa che phủ khắp cõi thơ Khế Iêm gợi ấn tượng về cõi phù vân theo cái nhìn của nhà Phật. Mây và Khói dường như là biểu tượng nơi sâu thẳm nhất của vô thức nhà thơ, bởi nó kết tụ được tất cả cái tính cách gây hấn, ngất ngưởng, bất trắc(khói điên, khói ngất ngưởng, khói bất trắc, khói thiêng),cái vô thường của hình tướng, cái sinh thành và tan rã làm lộ diện thời gian, cái hình hài mật ngôn và cái lặng thinh câm nín của cõi vô ngôn hằng quyến rũ. Không phải ngẫu nhiên, những bài thơ mới nhất của Khế Iêm là sự hòa trộn của ám ảnh lời, ám ảnh thời gian, ở đó, cả lời và thời gian đều bị giam trong dạng khói. Thơ Khế Iêm là một ngục-biếckép theo cấu trúc như vậy, nó là một tù ngục nhốt chung vĩnh cửu và mong manh, lên tiếng và câm nín. Và bao trùm lên tất cả là nỗi khắc khoải về thời gian và ngôn ngữ, được phóng chiếu vào hình tượng khói, là nơi có thể ký thác được cả cái trần thế và thiêng liêng, cái vô hình và hữu hình, cái vô ngôn và mật ngôn, cái hiển hiện và khuất lấp, cái ám ảnh và phôi pha. Khói là hình tượng trọng tâm của cụm hình tượng trong thơ Khế Iêm gồm: Khói, Tro, Mây, Gió, Trăng, Hoa. Trong đó, chỉ có khói và tro là nối với gia đình và đời thực, còn mây, gió, trăng, hoa đều đã bị cổ điển hóa, cách điệu hóa, vũ trụ hóa. Xem cấu trúc của hệ thống hình tượng cũng thấy được tâm thế phiêu diêu của thi nhân rung cảm nhiều hơn với bầu trời, với cõi không, dù vẫn lắt lay kết với cõi thực bằng tro và khói – hai hủy thể của thời gian. Mang cảm thức lênh đênh, thân phận một con đò chốc chốc lại hiện lên trong thơ Khế Iêm dưới tia chớp giác ngộ về cõi thế hư ảo.

Thảng thốt cội rễ lời

Cõi thực tan rã như vậy, còn lại cõi lời của riêng thi nhân cũng trở nên ấp úng. Nhà thơ hoài nghi ngôn ngữ, phỉ báng lời bằng những cảm nhận bi đát: quặn lời, hắt hiu lời, khỏa thân lời, ngôn ngữ điếc, hoài hủy nói. Nhà triết học, thiền sư biết rõ chân tướng của ngôn từ là giả trá và bất lực, ngay cả những ngôn từ thượng thặng như lời kinh cũng chỉ là vật che khuất bản lai diện mục của thế gian:

khom
lưng bất động như thế cho đến khi giọt
chuông chiều kia làm tan đi người và vật
kiến tạo im ắng mà lâu nay bị
che khuất bởi cánh liếp của lời kinh

Níu lại

Lời là chiếc bình phong lộng ngôn cần phải xé đi, là thứ vô tích sự, chẳng làm ai phiền hà gì, chỉ chạy theo đuổi thiên nhiên, khi nào gió lên thì bảo. Nhà thơ ngộ ra một tình huống:

lúc khởi sinh
ngôn từ đã bắt đầu gầy mối hiểm nguy

Con người là kẻ:

cầm lời đi vào chỗ không hề biết trước

Cũng vẫn cái tư tưởng “Khởi thủy là lời” của Kinh Thánh, nhưng trong thơ Khế Iêm lời là mối nguy hiểm đầu tiên. Nếu Hölderlin coi ngôn ngữ là thứ làm chứng cho bản thể con người, thì Khế Iêm coi lời là sự xuyên tạc bản thể. Hơn một lần, nhà thơ để lộ địa chỉ cõi đẹp của mình ở chốn không lời và loay hoay giải thoát khỏi cõi lời, đốt cháy lời,chôn cất chữ để khai quang cái đẹp miên viễn kia :

đốt cháy lời
để mai kia mốt nọ
không truyền giao
không sách sử
nhưng ở bên kia chốn không lời
đóa hoa nở

Lời

đánh một giấc đồng
lòa chôn cất cho xong
mộ phần chữ

Lộng ngôn

Trong lúc chưa đạt tới cõi vô ngôn, chưa tới được đóa hoa trí huệ (Prâna) trong tâm thức thì thái độ sống thường trực của nhà thơ là:

đành chịu trầm mình không nói năng giữa thế giới vắng mặt (và có mặt)

Trầm mình
đánh
đổi lấy mạng sống bằng cách ngậm họng
lại
cấm
tuyệt đối không được thốt ra một lời nào

Cấm

Im lặng là cõi lời giả dạng vô ngôn, không phải vô ngôn đích thực. Im lặng là lời lẩn trốn, tàng hình, nhức nhối, chưa phải là sự tiêu vong. Nhà thơ hướng tới mật ngôn tới cõi Đẹp vô ngôn:

Thảng thốt
Cội rễ lời
Ta nghe dâu ngàn hoá bụi
Vô ngôn từ thuở nằm nôi
Phiêu khúc

Và có lúc, cõi lời đã như một quá khứ xa, một thuở nào, một hồi ức vang vọng và biến tấu:

Thuở lời, vọng tiếng chim ran
Đò quê, mật sóng giữa đàng lá không

Nhưng thi nhân đâu dễ thoát khỏi cõi lời, thoát khỏi cái bản thể được Chúa trời ban tặng. Trong nỗi khắc khoải nhớ hư vô, khao khát mật ngôn, nhà thơ ngồi ngó xéo vào vết nứt của im lặng để lắng nghe vọng tiếng chim ran,cố bắt lấy tiếng nói của muông thú, rồi học theo kẻ kiến tạo im lặng để diễn kịch lặp đi lặp lại, trong khi đó vẫn cố vớt vát những lời đang hấp hối để đối thoại với bông hoa mới nở – sứ giả của cõi đẹp mới khai sinh:

nói với đóa hoa chớm nở
lời chớm tàn
và phủ định mọi dấu vết
đã có từ lâu trên mặt đất

Dấu vết

Dù biết rằng đóa hoa ấy, cái đẹp đích thực ấy không nở ở cõi lời:

nhưng ở bên kia chốn không lời
đóa hoa nở

Và cái đẹp, tình yêu đã hiện diện lồ lộ ở cõi khác, như một cứu cánh có đủ thẩm quyền bắt nhà thơ tắt tiếng:

Ta tắt tiếng từ bao giờ không biết
Lúc nhìn em lồ lộ ngoài hư không
Lúc ta theo vồ vập màu chiều tà
Và chỉ thấy bụi rơi cùng nắng lạ

Thanh xuân

Cõi đời vô thường, ngôn ngữ vô ích và vô nghĩa. Con người mang lời nói để làm những việc phi lý. Ngôn ngữ bị mất đối tượng, trở nên một công cụ, bị thời gian lố bịch hoá, trở nên loang lổ, nham nhở, nhạt nhòa:

Tôi ngồi lại phân bua cùng nước cuốn
Ưu sầu

Kẻ kiến tạo im lặng

Trong thơ Khế Iêm, con người mang cái ngôn ngữ bất lực, lôi thôi đi giữa một thế giới đầy khói ám, đom đóm, hoàng hôn, trắng lân tinh, đá gầm rú, một thứ địa ngục ghê rợn của Dante để mà sừng sộ, phân bua với thế giới ấy. Và để rùng mình trước những mật ngôn, mật sóng thăm thẳm vây quanh. Trên nền cảnh giới nín câm và bí ẩn đến rùng rợn đó, ngôn từ càng trở nên bé nhỏ, lố lăng và yếu ớt biết bao. Trong thơ Khế Iêm, con người giống như một tử tù đeo tảng đá ngôn từ đi rong bên lề cõi lời, muốn vượt khỏi ngục biếc của cõi lời để hướng tới tự do. Nhưng hắn không thoát nổi thời gian, không thoát nổi cõi lời vì dai dẳng trong linh hồn hắn một năng lực phục sinh của cái thế gian đang tàn tạ:

Hãy ngồi lại nghe hơi thở tàn
Trên đầm sen vạn màu hôn ám
Em không hay một chiều tiễn biệt
Ta thổi tan mất dòng lửa đầu
Trong nôi nắng phôi pha
Dập dồn mở lại
Cánh chiều xưa
Mây nước xưa

Ưu sầu

Thời gian hư ảo, mong manh và tàn lụi, nhưng nó chính là kẻ mai phục trong ký ức để bất kỳ sống lại. Mỗi khoảnh khắc cụ thể của đời ta có thể phôi pha, vụt mất, và con người không thể dùng ngôn ngữ để phân bua với nó, sừng sộ với nó, níu kéo nó lại, nhưng nó vẫn không mất đi vì chỉ cần ta ngồi nghe hơi thở tàn, trên đầm sen vạn màu hôn ám,chỉ cần ta cận kề với cái đẹp ám bụi của đời sống để lắng nghe chút hơi tàn của nó là thời gian đã chết sẽ lại phục sinh như một tài sản vĩnh hằng, một ngục biếc ta muốn thoát mà không thể thoát. Chính cái năng lực kỳ lạ và sức giam hãm của thời gian, sức quyến rũ của cõi đời hư nát, sức níu kéo rủ rê của tình đời nham nhở đã hủy hoại tự do của con người, khiến nó luôn dùng dằng ở biên giới của cõi đời và đạo, cõi lời và lặng im. Thi nhân không thoát được ngục biếc của thời gian và ngôn ngữ, nhưng lại luôn muốn đào thoát khỏi cõi thế, cõi lời, luôn phóng tầm mắt tìm kiếm đóa hoa nở trong cõi không lời, khát khao hòa nhập vào hư không. Vĩnh cửu với hư không và im lặng đã lây nhiễm vào dòng đời làm nát thêm thời gian, làm rã mọi hình tướng và ngôn ngữ. Đó là cái cách Khế Iêm tái tạo một thế giới làm bằng mây, khói, ánh trăng, đom đóm, lân tinhvà những lời nham nhở. Nhà thơ sau khi hủy hoại thời gian, hủy hoại thế giới lại nuối tiếc thời gian và ngôn ngữ đã tàn hơi. Anh ta ký thác những hạt cát khoảnh khắc của mình trong sa mạc, đặt những bóng người, những cuộc tiễn biệt, những chiều nắng, những đầm sen vào vũ trụ vô cùng tận, và bằng cái nhìn triết học đó, anh ta đã đánh đắm từng khoảnh khắc, hủy diệt những hình hài, khống chế ngôn ngữ, đầu độc từng ngày sống. Thơ Khế Iêm là bi kịch, nỗi đau của sự đánh mất thời gian, nhiễm độc hư vô. Chứng viễn thi siêu hình khiến nhà thơ nhìn rõ những gì vô hình ngoài thời gian, còn những gì hữu hình trong thời gian lại trở nên mờ nhạt. Do đó, cái nhìn của nhà thơ là cái nhìn hủy diệt thời gian, ghê sợ thời gian nhưng lại khát khao và luyến tiếc thời gian.

Khế Iêm trong thơ là một thiền sư lưu luyến cùng đời sống, một quả lắc đong đưa giữa cô độc với sẻ chia, giữa đạo sĩ và người tình, giữa hủy diệt và xây dựng, giữa sự vượt thoát, đạp đổ và sự tiếc nuối, nở hoa. Cho nên, Ngục Biếc là cái tên chẳng vô tình, nó là tự thú của một người vừa muốn tự do, vượt thoát mọi ngục tù, vừa ôm giữ cái nhìn mỹ lệ hóa căn nhà ngục mình đang bị giam hãm. Cái nghịch lý sâu thẳm đó dẫn đến những cuộc phiêu lưu mỹ học oái oăm: dấn thân vào ngục tối để tìm tự do, phơi bày quyền lực hủy hoại ngôn ngữ của thời gian để cứu vớt ngôn từ, chối bỏ ngôn ngữ để đi tìm lại ngôn ngữ.

Cái luẩn quẩn hôn phối giữa tự do và nô lệ, giữa lời nói và im lặng, giữa minh triết và mật ngôn ấy, chính là cái vòng xoáy mãnh liệt của tâm thức quanh cái lỗ đen hư vô, nó cuốn tất cả mọi hình tướng, mọi ngôn từ trong cơn xoáy tâm linh sâu thẳm, tạo nên trong nhà thơ một thứ stress thơ ca. Cái stress độc đáo và mãnh liệt ấy là cội nguồn của một thi hứng, một giọng điệu đặc biệt có một không hai: giọng độc thoại, nhấm nhẳng, cà khịa, bất cần pha chút nổi khùng bất chợt.

Khế Iêm không mê đắm trong cuộc luân vũ ngôn ngữ kiểu Bùi Giáng, cũng không tỉnh táo trong trò Rubích ngôn ngữ kiểu Lê Đạt, mà hục hặc cà khịa với ngôn ngữ, loay hoay chối bỏ ngôn ngữ trong tư thế một thiền sư đã mấp mé ở ngưỡng cửa của đạt đạo mà vẫn luyến tiếc cõi tục lụy với đống ngôn từ đã rữa bởi những cảm quan hư vô. Phong cách của Khế Iêm là cái giọng lẩm bẩm của nhà triết học, tự cãi cọ với mình, nói những lời tối tăm không đầu không cuối, làm những động tác kỳ dị dập xóa tư duy, vừa phản ứng với những diễn biến trong thế giới lại vừa mê muội trong dòng suy tưởng của bản thân, vừa nhắc nhở mình những kế hoạch sống, vừa than thở với mình những thất bại, hoang mang, vừa reo vui hồn nhiên như trẻ thơ trước những tia chớp loé lên ở chân trời cõi Đẹp. Một cốt cách nửa người điên, nửa thiền sư.

Nếu như Lê Đạt makeup cho ngôn ngữ, thì Khế Iêm ngược lại luôn bêu riếu ngôn ngữ, trêu chọc ngữ pháp, đùa giỡn cà khịa với thói quen cú pháp: bẻ gẫy từ ngữ, xuống dòng bất chợt, giãn dòng đột xuất ném ra những khoảng trống trêu ngươi như đào những ổ gà trên đường đi của ta. Những câu nhát gừng, lửng lơ, ấp úng, bí hiểm và những khoảng trống bất chợt nằm chắn giữa câu thơ, chính là sự hiện diện của hư vô và lặng im xuyên qua ngôn ngữ. Hư vô không chỉ thẩm thấu vào trong tư duy, cú pháp mà còn kê ngai vàng chễm chệ giữa đường đi của dòng ngôn ngữ để ta phải nhìn nhận nó, vượt qua nó. Hư vô can dự vào tồn tại, lặng im can dự vào lời, hình thức đan xen ấy chính là sự tìm tòi từ cái nhìn triết học về sự cộng sinh giữa hùng biện và câm nín, thực chất là sự lưỡng lự của thi nhân giữa thái độ chối bỏ ngôn ngữ và thái độ tôn vinh ngôn ngữ như một chất liệu thơ được triết học tái sinh. Ngôn ngữ thơ Khế Iêm như nữ tù nhân đăng quang ngôi hoa hậu trong cuộc thi người đẹp trong tù, bước lên nhận vương miện còn đeo những trang sức bằng xiềng xích, vừa nghẹn ngào vì ý thức được thân phận của kẻ mất tự do, vừa kiêu hãnh vì những vinh quang đã có trong Ngục Biếc.

Thơ Khế Iêm luôn có lối nói nhát gừng, cấm cẳn, lẩn thẩn, lảm nhảm pha chút ngơ ngác và cáu bẳn. Dường như, thi pháp của ông luôn tạo ra bức mành mành ngôn ngữ vừa như muốn che đi cái mạch ngầm suy tư, cái vật thiêng đích thực “kiến tạo im lặng”, vừa như để lộ ra cái thấp thoáng của dòng tâm tưởng sau những mảng lời rời rạc, vô nghĩa và bất trắc. Nhà thơ cố tình làm cho ngôn ngữ trở nên lẩm cẩm, ú ớ, như muốn trêu tức ta. Thực chất là thái độ thù ghét ngôn ngữ của nhà triết học đã bộc lộ ra trong lối tu từ cà khịa và cáu bẳn của nhà thơ và cái tâm thế của kẻ sống trong đời mà ngưỡng vọng với vô ngôn, càng bồng bềnh như con đò chở đầy lời nói:

ngậm trắng một đò lời
với gió

Lời trong thơ Khế Iêm cũng y như con đò trôi dạt, xoay đảo, không có đích đến, đôi khi mắc cạn trong những khúc quanh lởm chởm của từ ngữ và hang hốc bế tắc. Thơ Khế Iêm phơi ra những ổ gà ngôn ngữ, những hang hốc tư duy, những què quặt ngữ pháp cũng giống như trong những khuôn hình của phim Xích Lô mà đạo diễn Trần Anh Hùng cố tình phơi ra những dây dợ lằng nhằng cột điện, rào sắt lởm chởm mà thường các nhà quay phim khác tránh né. Nó tạo dựng một hình ảnh nham nhở, rách rưới, gân guốc. Ngôn ngữ trong thơ Khế Iêm trở thành chất liệu tạo hình, nhà thơ đục đẽo chữ, bẻ gẫy câu, để tạo nên một thứ tượng gỗ của tâm thế, của Nàng thơ, cái chất liệu và cái dáng vẻ tranh chấp nhau trong từng bài thơ. Ngôn ngữ là một thứ chất liệu chết, như mẩu thạch cao rơi ra dưới tay người tạc tượng:

(và không ai nói với ai)
về con âm mở hổng cửa kéo
từng con chữ rơi
ra môi và răng

Rơi ra

Tiếng nói thực chất là một xác chết:

Tưởng rằng tiếng nói như xác ve
Cánh chim chết giấc trên non đá
Có biết trầm luân. Chỗ cát xoá

Bến sương

Từ ngôn ngữ tự trào đến ngôn ngữ tự hủy

Phần đầu tập Dấu Quê, ngôn ngữ mới chỉ bị hoài nghi, trêu chọc và giễu cợt. Những ý tưởng Thiền hiện diện qua một ngôn ngữ còn toàn vẹn ngữ pháp, lật tẩy những cảm hứng gắn liền với một “Vũ trụ ngôn ngữ đặc trị” (Artaud). Đó là thứ thi pháp của ngôn ngữ cổ điển tự giễu mình, một thứ ngữ pháp đầy mặc cảm. Đến cuối tập “Dấu Quê”, với Ngục Biếc,ngôn ngữ thơ Khế Iêm đã nhảy vọt từ tư cách vật tải ý tưởng Thiền tới tư cách vật mang tâm thức Thiền. Đó là cú nhảy tự vẫn của ngôn ngữ đặc trị, nó tự hủy một cách từ tốn, nghiêm trang, đầy thi vị. Từ ngôn ngữ tự trào đến ngôn ngữ tự hủy là một bước nhảy vọt về thi pháp, nhờ đó nhà thơ giã từ vũ trụ ngôn ngữ cổ điển, ngôn ngữ đặc trị – với bộ complet ngữ pháp cố tình gài lệch khuy áo cho xộc xệch – để đạt tới cõi vô ngôn, cõi tĩnh mịch của Thiền sư, cõi rợn ngợp, chói chang ánh sáng của minh triết. Trong Ngục Biếc,cũng như trong một vài bài thơ có dạng thức kịch của Khế Iêm, ta thấy có một hiệu ứng thơ ca đặc biệt: nhân vật nói mà như không nói, nhiều khi nói để mà không nói, đối thoại mà như độc thoại, lên tiếng càng nhiều thì càng trở nên câm nín. Mỗi câu nói, mỗi lời hỏi đều như lìa khỏi nhau, như cô đơn tuyệt đối, và chất thơ đặc biệt toát ra từ cái bơ vơ, bối rối, hoang mang, ngớ ngẩn, vu vơ chẳng đâu vào đâu ấy của ngôn ngữ và kẻ mang ngôn ngữ. Cái không đâu vào đâu của thứ ngôn ngữ nửa đối thoại nửa độc thoại trong Ngục Biếc,có một sắc thái thi vị đặc biệt vừa nhuốm màu hiện sinh, phi lý, vừa có cái run rẩy ngơ ngác của thân phận. Những bài thơ kịch như dạng Ngục Biếc của Khế Iêm giống như mớ ngôn ngữ hỗn độn, đang chới với cố chống lại sự lìa tan, cố bám vào những bờ mong manh của trật tự ngữ pháp cổ điển, của khát vọng đối thoại, giao lưu. Và chất thơ toát lên giống như tiếng rền rỉ, nhớn nhác, rối ren của kiếp người, của chúng sinh. Càng nói càng không hiểu nhau, càng ngờ vực nhau – thảm cảnh ấy của nhân loại được Khế Iêm tái hiện sinh động trong Ngục Biếc,gợi lên một thảm trạng đầy lo âu và cô đơn. Có thể nói, Ngục Biếc,là chặng thứ hai của quá trình ngôn ngữ tự hủy trong thơ Khế Iêm. Ngôn ngữ tự hủy cũng chính là bản thể tự hủy.

Tất cả cái ý nghĩa cổ điển, cái sắc thái thường hằng của ngôn ngữ đã trở nên đứt gẫy, và sự hiện diện của nó trong những chuỗi ký tự còn rên rỉ âm thanh kia chỉ là sự đùa cợt của thời gian, và ngôn ngữ cũng chỉ còn là một con rối lăng xăng. Tính hài của giai đoạn trước đã chuyển thành tính bi, sự đùa cợt ngôn ngữ đã biến thành sự lưu đày ngôn ngữ, vào nơi chốn vừa tự do vừa phi lịch sử. Đến giai đoạn thứ ba với những bài thơ “T.V. Ký”, “Bài Thơ Đi Tìm Bài Thơ”, “Đọc Chinh Phụ Ngâm”… thì ngôn ngữ đã trở nên những xác chết dưới chân thời gian. Nhìn vào bài thơ, ta thấy hiện lên lù lù dấu ấn của thời gian: ở “T.V Ký” là quyền uy của khoảnh khắc, ở “Bài Thơ Đi Tìm Bài Thơ” là sự ú tim giữa khoảnh khắc và vĩnh cửu, ở “Đọc Chinh Phụ Ngâm” là quyền uy của vĩnh cửu. Ngôn ngữ đã chết, nó trở thành một thành viên của ký ức, một thì quá khứ của thơ ca. Thơ Khế Iêm ở giai đoạn thứ ba chính là đám tang của ngôn ngữ, ở đó, những mẩu ngữ pháp cổ điển còn hiện diện chỉ là những mảnh hài cốt đầy bi thương, chứng tích của lịch sử. Những mệnh đề mang nghĩa rời rạc chỉ là sự dãy giụa vô vọng của ngôn ngữ trên đường rơi vào vực thẳm lãng quên.

Vậy là, hành trình thơ Khế Iêm qua ba giai đoạn: từ sự đùa giỡn của khoảnh khắc với ngôn ngữ giai đoạn đầu, qua sự xâm hại của vĩnh cửu vào ngôn ngữ giai đoạn “Ngục biếc”, tới sự toàn thắng của thời gian với ngôn ngữ ở giai đoạn những bài thơ có tính tạo hình hiện nay – đó chính là hành trình nằm trong logic tăng kiến của tâm thức thiền và thi pháp hậu hiện đại với cảm hứng suy tư có tính thời đại về những vấn đề ngôn ngữ trải dài trong thế kỷ, qua những chiêm nghiệm suy tưởng của Heidegger, Hölderlin, Wittgenstein và Lacan. Đó là dòng thi hứng chảy xiết giữa đôi bờ ngôn ngữ và thời gian, khoảnh khắc và vĩnh cửu, trật tự và hỗn độn, lịch sử và tự do, suy lý và minh triết. Đó cũng là những đoá hoa nở từ cái bắt tay của hiện tượng luận và thiền học, tôn giáo và triết học, văn hoá phương Đông và văn hoá Phương Tây. Nếu với phương Tây “khởi thủy là Lời, bản thể của Chúa với vĩnh cửu và hư vô gói trọn trong lời Chúa, thì với phương Đông nỗi ám ảnh thời gian là thẳm sâu và thường trực. Và như vậy, hành trình thơ Khế Iêm với sự đan xen, luân phiên và chuyển hoá của những khắc khoải về thời gian và ngôn ngữ cũng chính là hành trình về nguồn tâm linh. Quá trình thi sỹ tự vẫy vùng giải thoát khỏi “ngục biếc” của ngôn ngữ cũng là quá trình tìm kiếm và tái tạo những “dấu quê”.

Nếu không nhìn nhận thơ Khế Iêm trong cả hành trình, thì không thể nhìn ra cái định hướng về nguồn đó, vì, nếu xét về hình thức thuần túy thì những bài thơ có tính hội họa đã có nhiều trong thơ hậu hiện đại Mỹ và phương Tây. Xem xét cái logic tương tác giữa ám ảnh thời gian và ngôn ngữ trong thơ Khế Iêm chính là giải mã các biến thiên về cảm thức và thi pháp. Theo logic đó, ta có thể tiên tri về một chặng tới của thơ anh. Phải chăng, đó sẽ là chặng phục sinh của ngôn ngữ trong một cảm hứng “hồi xuân” như bất kỳ ai đã qua tuổi “thanh xuân”?

Chúng ta chờ đợi sự kiểm chứng với logic ấy trong những sáng tác mới của Khế Iêm.

Trích "THƠ KHÁC"