Như thế…Tôi đã đến với Tân hình thức.

Bài dự thi “ Giải thơ Tân hình thức”

Nguyễn Ngọc Trìu 

Cái mới của thơ Tân hình thức Việt thật lạ ! Cái mới không xuất phát từ hình thức mà từ đòi hỏi của nội dung. Điều đó khiến tôi tò mò, khám phá và trải nghiệm. Ban đầu tôi lay hoay với vắt dòng, hì hục với lặp lại, mơ hồ với tính truyện,  ngỡ ngàng với ngôn ngữ đời thường (nhất là từ bỏ tu từ ). Quả là khác, khác rất xa  so với cách làm thơ gieo vần. Cứ viết, cứ viết rồi tôi cũng nhận rathêm : Cần phải bỏ thói quen biểu hiện cảm xúc trực tiếp; cần giấu cảm xúc của người viết đi, giấu kín sau câu chuyện và các chi tiết cấu thành câu chuyện.

Cứ viết, rồi dần dà tôi cũng nhận ra tính truyện khiến cho Tân hình thức xích lại gần đời sống , đời thực (dẫu vẫn có sự tham gia của yếu tố ảo giác ). Tân hình thức không trở thành đánh đố người đọc như một số xu hướng làm mới thơ ca trong vài thập kỉ qua. Câu chuyện mà mỗi bài Tân hình thức mang  đến dễ nhớ và dễ bám sâu vào trí nhớ của người đọc.Tôi nghĩ, sức hấp dẫn của thơ Tân hình thức một phần lớn là đây, trong khi đó cái hay của thơ vần điệu thường ở từ, ở hình ảnh, ở nhịp điệu… đọng lại trong một cặp câu hoặc một khổ thơ. Tính truyện cũng là yếu tố góp một phần lớn làm nên khả năng hội nhập dễ dàng của Tân hình thức. Thơ vần điệu ít có khả năng này.

Gần đây các nhà thơ lớn của thơ Tân hình thức cho rằng  một bài Tân hình thức có giá trị phải có ý tưởng mới lạ và nhạc tính. Con đường tắt… đã được chỉ ra. Rõ ràng, có thước đo khoa học hẳn hoi (ở một chừng mực nào đó) , không mơ màng  như xác định cái hay của một bài thơ  theo lối gieo vần. Ý tưởng mới lạ phải nhờ vào tài năng . Khó rồi…Ý tưởng mới lạ đến từ tính truyệnhay còn từ đâu nữa ? Thật không dễ trả lời. Nhà thơ  Inrasara dư thừa sức viết là vậy, thế mà, sau 18 bài tân hình thức, đành tạm chia tay với dòng thơ này, vì “ không đủ  ý tưởng mới ”.  Có nhạc tính, mà tính nhạc ở mỗi bài cần có nét riêng… Càng khó, càng khó để trở thành “ dân ca của thời hiện đại ” nói như nhà thơ Mai Văn Phấn.

Cái khó của thơ Tân hình thức còn ở phía người đọc. Độc giả chưa quen với cách đọc một mạch từ đầu đến chữ cuối cùng, rồi mới đọc lại và tự ngắt theo ý của người đọc, từ đó sẽ  nhận ra đoạn giàu nhạc tính nhất trong bài. Từ lối ngưng nghỉ theo từng dòng thơ của thơ gieo vần đến cách đọc liền mạch vắt dòng liên tục của thơ Tân hình thức là sự chuyển đổi không phải một sớm một chiều.

Thôi thì cứ viết và chờ, bài thơ hay vẫn đang ở phía trước kia mà!

Có một điều rất cần chia sẻ, không hiểu sao từ khi đến với thơ THT,vài năm nay, tôi gần như không còn cảm hứng viết thơ gieo vần. Có lẽ nó là 2 hệ hình tư duy thơ khá xa nhau chăng …

tháng 11/ 2020

 

David Plante: Cái chết của người tình Hy Lạp

Được viết như một khúc bi ca dành cho người bạn đời bốn mươi năm của ông, Nikos Stangos, một bài thơ dài cả sách của David Plante Cái chết của một người tình Hy Lạp là một trong những khám phá cá nhân yêu thích của tôi trong năm. Được sáng tác thành những khổ thơ có độ dài khác nhau – có đoạn dài vài trang và có đoạn chỉ vài dòng – bài thơ cũng khám phá bản thân thơ: làm thế nào thơ có thể đóng vai trò là vật chứa đựng tất cả những gì chúng ta đang cảm nhận, và việc gửi vật chứa đó ra ngoài thế giới ảnh hưởng đến tất cả chúng ta như thế nào?

Tôi không giỏi nói chuyện về thơ. Nó quá giàu cảm xúc và tôi thiếu ngôn ngữ phản biện để diễn đạt thỏa đáng những gì tôi đang cảm nhận, nhưng bộ phim này hay đến mức tôi phải thử. Không phải là bài thơ này đặc biệt phức tạp. Theo nhiều cách, nó rất đơn giản. Nó quá phong phú, và thành thật mà nói, tôi không hiểu tại sao một số khổ thơ lại gây ấn tượng với tôi như vậy.

Đây là cách nó bắt đầu (đã quyến rũ tôi):

Đây là bài thơ tuyết rơi
Trong rừng mùa đông, mùi
Của nhựa trong không khí gelid,
Và một con nai cảnh giác và tĩnh lặng,

Cây cối là tinh thể
Băng rất rõ ràng và cỏ dại hiện ra
Trong dòng chảy hiện tại,
Và không có lối đi hay nền đá

Còn lại từ một thời điểm khác,
Và không có ai, bao giờ, chặt cây,
Gió và đá băng mãi tinh khiết
Ở vùng đất bất khả xâm phạm này, và không có ai ở đó.

Lật trang:

Anh ôm em trong vòng tay cho đến khi cơ thể em
Trời lạnh và anh đặt em lên giường
Và quay ra cửa sổ để xem
Đêm nhường chỗ cho ngày,
Và tôi quay lại với bạn,
Chết trong căn phòng ngập nắng.

Tình yêu của tôi, tình yêu của tôi, tình yêu của tôi.

Tôi áp trán vào tường
Khi cơ thể của bạn được thực hiện,
Và cơn đau đớn đến với tôi,
Anh ấy đi rồi, anh ấy đã chết,
Những tấm trải giường xộc xệch,
Những chiếc gối trên sàn,
Và tôi đã ngủ ở nơi bạn chết.

Khi bài thơ tiếp tục, có rất nhiều đề cập đến thần thoại, anh hùng và thơ ca Hy Lạp, đồng thời khám phá ý nghĩa của tất cả những điều đó. . . và bằng cách nào. Plante tự hỏi làm thế nào mà anh ta, một người không tin vào Chúa, vẫn bị tổn thương khi Donne kêu gọi Chúa để đánh đập trái tim anh ta. Làm sao nỗi đau buồn của anh ấy cũng có ý nghĩa?

Trong quá trình khám phá này, chúng tôi có được những khổ thơ ngắn hay như thế này:

Lữ khách hãy nghỉ dưới bóng thông,
Và lắng nghe tiếng sáo xa của người chăn cừu
Trên những ngọn đồi, và nghĩ rằng, theo thời gian,
Bạn sẽ đi bộ qua những ngọn đồi và không quay trở lại.

Phần lớn đây là một cuộc hành trình đầy cảm xúc mà tôi được tham gia và bản thân tôi cũng tự hỏi làm thế nào điều kỳ diệu được thực hiện. Và tôi tự hỏi tôi, với tư cách là độc giả, đóng vai trò gì trong bài bi ca này:

Sẽ không ai tin rằng anh yêu em như anh đã từng
Cho đến khi anh cũng chết, bởi vì tình yêu của chúng ta
Sẽ chỉ có ý nghĩa lâu dài khi
Bài thơ này không còn là của tôi nữa
Tình yêu của chúng ta không còn là của chúng ta nữa, nhưng sẽ là
Nơi thơ vươn lên thành thơ,
Và bỏ rơi chúng tôi, […]

Tôi thích được ngạc nhiên trước một cuốn sách, và cuốn sách này vẫn tiếp tục làm tôi ngạc nhiên kể từ khi tôi đặt nó xuống.

bài đăng David Plante: Cái chết của người tình Hy Lạp xuất hiện đầu tiên trên Mookse và Gripes.


Nguồn bài viết gốc: The Mookse and the Gripes. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Mẹ, Yêu Ở Tuổi Sáu Mươi của Susanna Styve • Đọc Một Chút Thơ

Khác, Dịu dàng
CHIA SẺ VỚI TÂM CẢM ƠN

Bài thơ này xuất hiện ở Khác, Dịu dàng bởi Susanna Steve do Laurel Poetry Collective xuất bản, 2003. (Có sẵn trên: Amazon • Hiệu sách)

SỰ MIÊU TẢ

“Tập thơ đầu tiên của Susanna Styve, Linh tinh, Dịu dàng, mời chúng ta vào thế giới riêng tư, đôi khi cô đơn, của một đứa trẻ duy nhất, mang đến sự an ủi cho những người lớn lên như những đứa trẻ một và thách thức những người khác lao xuống hang thỏ đầy ngạc nhiên. Những bài thơ văn xuôi của Styve tạo ra một câu chuyện chuyển động nhanh, từ nghiêm túc đến nhẹ nhàng. Cuốn sách chuyển động nhẹ nhàng với sự hóm hỉnh và hài hước dí dỏm.” (Nguồn)


Nguồn bài viết gốc: Read A Little Poetry. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

19 October 2026 | Susanna Styve

Mother, In Love at Sixty

Reason number one it can’t work: his name is Bill. For god’s
sake, he hunts. He has no pets, other than two doting
daughters, and his ex-wife is still alive. He’s simply not my
type. Who wants to get married again, anyway? I’m too old.
I go South at the first frost. Plus, he’s messy. Men are messy.
He could die. Then where would I be?

Mẹ, Tình Yêu Tuổi Sáu Mươi

Lý do đầu tiên khiến chuyện này không thể thành: tên anh ta là Bill. Trời ạ
, anh ta đi săn. Anh ta không nuôi thú cưng nào khác ngoài hai
cô con gái ngoan ngoãn, và vợ cũ của anh ta vẫn còn sống. Anh ta đơn giản là không phải
gu của tôi. Ai lại muốn tái hôn chứ? Tôi quá già rồi.
Tôi sẽ đi về phía Nam ngay khi có sương giá đầu tiên. Thêm nữa, anh ta bừa bộn. Đàn ông thì thường bừa bộn.
Anh ta có thể chết. Lúc đó tôi sẽ ở đâu?

Mary Beard: Kinh điển nói chuyện: Cú sốc của người xưa

Nói chuyện kinh điển: Cú sốc của người xưa
của Mary Beard (2026)
Nhà xuất bản Đại học Chicago (2026)
198 trang

Vào năm 2023, Mary Beard đã có một loạt bài giảng tại Đại học Chicago và tôi cảm thấy may mắn khi giờ đây cô ấy đã chuyển thể những bài giảng đó thành một cuốn sách mới: Nói chuyện kinh điển: Cú sốc của người xưa. Có lẽ tôi là người hơi quá tôn sùng những tác phẩm kinh điển, nên tôi ngay lập tức bị thu hút bởi lời giới thiệu của Beard:

Một câu hỏi lớn thúc đẩy cuốn sách này. Điểm của kinh điển cổ đại là gì? Nói cách khác, tại sao chúng ta phải bận tâm về những gì con người đã làm cách đây 2.000 năm hoặc hơn: những gì họ đã làm, đã viết và nghĩ? Bây giờ tất cả có thể có ý nghĩa gì với chúng ta? Tôi muốn ghi lại những gì vẫn rất thú vị, bổ ích và đôi khi đáng lo ngại về thế giới cổ điển – hoặc ít nhất là những gì đã gây phấn khích, khen thưởng và bất an. Tôi. Thông điệp cơ bản là bạn sẽ thu được nhiều lợi ích hơn từ những tác phẩm kinh điển nếu bạn tôn trọng nó ít hơn. Ngạc nhiên, ngạc nhiên, thích thú, bối rối, thậm chí ghê tởm, vâng. Tôn kính và biết ơn, không.

Điều đó khá ly kỳ đối với tôi. Tôi thích gặp những quan điểm giúp tôi nhìn rõ hơn, ngay cả khi điều đó có nghĩa – có thể đặc biệt nếu nó có nghĩa – thách thức một quan điểm sai lầm và thiển cận mà tôi có thể nắm giữ.

Cuốn sách tiếp theo không như tôi mong đợi, nhưng tôi thấy mình vui vì điều đó. Hãy xem, ban đầu tôi nghĩ nó sẽ tập trung chủ yếu vào các văn bản cổ mà tôi vô cùng yêu thích, làm phức tạp chúng (và chắc chắn sẽ làm được rất nhiều việc cho tôi). Vì vậy, tôi hơi ngạc nhiên khi cuốn sách mở đầu bằng cảnh Beard thảo luận về một ổ bánh mì cổ từ Thebes của Ai Cập cổ đại. Một ổ bánh mì đang làm gì trong một cuốn sách về Kinh điển? Tôi tự hỏi.

Chà, rõ ràng, đây là một cuốn sách về Kinh điển như một lĩnh vực nghiên cứu dành cho một thế giới rộng lớn và đa dạng, chứ không chỉ nói về cú sốc của kịch Hy Lạp cổ. Với sự nghiệp của Beard, lẽ ra tôi phải biết rõ hơn, nhưng tôi đến với chủ đề này với tư cách là một tay tài tử được đánh giá cao. Có lẽ suy nghĩ của tôi có ích cho những người cùng cảnh ngộ.

Bây giờ đã điều chỉnh tốt hơn cho cuốn sách (mặc dù trong thâm tâm vẫn khao khát được Mary Beard đi sâu vào một số tác phẩm văn học cổ đại yêu thích của riêng tôi), tôi thấy mình ngày càng thích thú với tinh thần khám phá của cuốn sách. Thay vì xây dựng một lập luận thẳng thắn, Beard chuyển qua một loạt các chi tiết cho thấy cả cuộc đời suy nghĩ về thế giới cổ đại không phải như một đền thờ của sự vĩ đại mà là một thứ gì đó lộn xộn, đáng ngạc nhiên, gây tranh cãi và liên tục có khả năng gây sốc cho chúng ta.

Cuối cùng, đó là điều tôi đánh giá cao nhất Nói chuyện cổ điển. Sự bảo vệ của Beard trong lĩnh vực này không bắt nguồn từ những tuyên bố rằng thế giới Cổ điển đại diện cho một đỉnh cao không thể nghi ngờ nào đó của nền văn minh. Trên thực tế, cô ấy đã nhiều lần chứng minh một trường hợp vững chắc chống lại kiểu suy nghĩ đó. Thay vào đó, cô lập luận về cái mà cô gọi là “tính mới nghịch lý của các tác phẩm kinh điển”: cách mà những vật liệu cổ xưa này vẫn khiến chúng ta lo lắng, chống lại chúng ta và vạch trần những cách thức đang thay đổi mà các nền văn hóa sau này, bao gồm cả nền văn hóa của chúng ta, đã sử dụng và lạm dụng chúng.

Và rõ ràng lập luận của cô ấy rất quan trọng. Trong lời cảm ơn ở cuối cuốn sách, Beard lưu ý rằng trong khi cuốn sách này đang được hoàn thiện, chính Đại học Chicago, nơi bà giảng dạy Và nhà xuất bản cuốn sách này, đã “tạm dừng tuyển sinh vào các chương trình nhân văn sau đại học, bao gồm cả Kinh điển.” Ghi chú đó mang lại sự sâu sắc hơn cho dự án.

bài đăng Mary Beard: Kinh điển nói chuyện: Cú sốc của người xưa xuất hiện đầu tiên trên Mookse và Gripes.


Nguồn bài viết gốc: The Mookse and the Gripes. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Đặc sắc thơ tháng Tám

New poems from MARCUS WICKER and ELLEN HINSEY | August 27, 2026

Đừng bao giờ quên: thời Bạo chúa đã đến với những người khác trước bạn—họ cũng đã vượt qua cơn lũ trên con đường đầy giông bão của nó. Vì Tyranny luôn tưởng tượng nó sẽ viết nên lịch sử. Nhưng, hết lần này đến lần khác, chính Công lý sẽ trỗi dậy, rồi cúi đầu viết – thay vào đó, lịch sử về sự sụp đổ của Chế độ chuyên chế.

What if an alien landed in Atlanta in January 2020 and tried to document everything it saw for two years? Not just the big stuff like the pandemic, the protests, the Capitol riot, but also the unfiltered everyday occurrences: binge-watching reality t.v. and some retail therapy, a young girl quieting her wailing sister in the middle of an airport Popeye’s with a kiss to her invisibly injured elbow. That’s the premise of Dear Mothership, the new poetry collection from Marcus Wicker (Ecco, September 8). Part Afrofuturist odyssey, part cultural chronicle, the collection weaves the ATLien emissary’s observations together as it examines what is alien in our world, alongside poems that chart upheavals both personal and political.

PALINODE WITH WRINKLES & EXFOLIATING MASKS

“To get the job always stay starched,
creased to death.” I said that once.
Until a barber showed me the cost
in a handheld mirror. Relax your face
she’d say, martinizing my brow
with the flat of her palm. As if that
muscle hadn’t been shorn, long ago.


PALINODE IN DEFENSE OF SMALL TALK

          Who said the babbling brook was frivolous?
          Grace soothes in code. Cascades, above stones.

A rung above Stone-Age glyph or smoke signal
I ring my mother.          Mama! I squawk.

          My son! she rings.    Whatcha know good?
          A metronomic two-chirp canon—

midair murmuration two Cancers
shape into mudflaps against mood contagion.

          Sometimes, dirt moods shape words into rocks
          we kick across remote twin provinces.

When we kick our tires across the moat,
we close distance. Let down a drawbridge.

          We let slow care dam the murk; draw us close.
          Who said the babbling brook was frivolous?

From the book DEAR MOTHERSHIP: Poems by Marcus Wicker. Copyright © 2026 by Marcus Wicker. Reprinted by permission of Ecco, an imprint of HarperCollins Publishers. Preorder here.

Nếu một người ngoài hành tinh hạ cánh ở Atlanta vào tháng 1 năm 2020 và cố gắng ghi lại mọi thứ họ nhìn thấy trong suốt hai năm thì sao? Không chỉ những chuyện lớn như đại dịch, các cuộc biểu tình, bạo loạn ở Capitol, mà còn cả những sự kiện hàng ngày không được kiểm duyệt: xem liên tục tivi thực tế và mua sắm liệu pháp, một cô bé làm dịu em gái đang khóc lóc giữa cửa hàng Popeye’s sân bay bằng một nụ hôn lên khuỷu tay bị thương vô hình. Đó là tiền đề của Dear Mothership, tuyển tập thơ mới của Marcus Wicker (Ecco, ngày 8 tháng 9). Một phần là hành trình Afrofuturist, một phần biên niên sử văn hóa, tuyển tập này đan xen những quan sát của đại diện ATLien khi khám phá những điều xa lạ trong thế giới của chúng ta, cùng với những bài thơ ghi lại những biến động cả cá nhân lẫn chính trị.

PALINODE VỚI NẾP NHĂN & MẶT NẠ TẨY TẾ BÀO CHẾT

“Để có được công việc thì luôn phải cứng rắn,
nhăn nheo đến chết.” Tôi đã nói điều đó một lần.
Cho đến khi một thợ cắt tóc cho tôi xem chi phí
trong gương cầm tay. Thư giãn khuôn mặt
đi, cô ấy nói, dùng lòng bàn tay xoa
nhẹ lông mày tôi. Như thể cơ bắp đó
chưa từng bị cắt từ lâu.


PALINODE ĐỂ BẢO VỆ NHỮNG CÂU CHUYỆN XÃ GIAO

Ai nói con suối róc rách là phù phiếm?
Grace xoa dịu bằng mật mã. Những thác nước, trên những tảng đá.

Một bậc cao hơn dấu hiệu thời Đồ Đá hoặc tín hiệu
khói, tôi gọi cho mẹ tôi. Mẹ ơi! Tôi kêu lên.

Con trai tôi! Cô ấy gọi điện thoại. Bạn biết gì rõ?
Một bản
canon hai tiếng líu loạn—

tiếng thì thầm giữa không trung, hai Cự Giải
biến thành tấm chắn bùn chống lại sự lây lan tâm trạng.

Đôi khi, tâm trạng đất bẩn biến lời nói thành những
tảng đá mà ta đá qua hai tỉnh song sinh xa xôi.

Khi chúng tôi đạp lốp xe qua hào nước,
chúng tôi thu hẹp khoảng cách. Hạ cầu kéo xuống.

Chúng ta để sự chăm sóc chậm rãi che chắn sự mờ mịt; Kéo chúng ta lại gần.
Ai nói con suối róc rách là phù phiếm?

Trích từ cuốn sách DEAR MOTHERSHIP: Poems by Marcus Wicker. Bản quyền © 2026 thuộc về Marcus Wicker. Được tái bản với sự cho phép của Ecco, một nhãn hiệu của HarperCollins Publishers. Đặt trước tại đây.

Anatomy of the Eclipse (Arrowsmith Press, October 15) chronicles the approach – and arrival – of a period of civic darkness. From the war in Eastern Europe to the spread of violence and lawlessness, Hinsey’s new volume tracks the danger signals of a world advancing towards edge-light. Yet, while oracular and oblique, these poems also quicken something in us, prior and utterly secure, an aspect of being that remains unintimidated by the portents of darkness. These poems also brace, embrace, and fortify, probing our potential for renewal through affirmation and compassion.

[ARCHIVE]
A NEW TRANSLATION OF SENECA

It is not the man who has too little, but the man who craves more, that is poor.
– Seneca

Few are the marble cities that have escaped the Tyrant time.If news of its arrival is heralded over the high city walls, bear this tribulation with dignity. For like the eternal plague seasons: the trial of its fever hour too shall pass.Instead, return to the ivory scrolls and sit serenely beneath the venerable stoa. At the hour when plaited leaves weave a shadow wreath beneath your feet.Recall lines bequeathed for passage through Tyranny’s entangled thicket. Though the heat flush of temper inhabit you: for all that is indefensible—mantle yourself in patience.Time will divulge the deceit of the ill-intentioned act.Do not permit the dismantling of the house of your compassion. Even if its columns are besieged: it is a fortress that stands each day it is affirmed anew.Keep the Laws ever before you—like the standard bearer’s rugged torch, they will lead your way forward through the tenebrous darkness.For even if sheathed in Tyrian rhetoric, the weapons of fear are employed by the weak. What is justly done requires no recourse to Terror.And never forget: the Tyrant time reached others before you—they too weathered the deluge of its tempest-strewn path.For Tyranny always imagines it will write history. But, time and again, it is Justice that will arise, then bow down to write—the history of Tyranny’s demise, instead.


[ARCHIVE]
ENDURANCE

If you must: weigh out endurance with the wreath of your breath.For below the snow is frozen ice—but under this ransomed night: there is also fire.This is what frightens them: an irresistible faith, and the willingness to burn.They would prefer to imprint hoarfrost on the honeycomb of ice grammar.They would prefer slag syllables soldering the lips ever more tightly together.Or to make their approach like transit trains—that pass unnamed below the rusted signal bridges.But the landscape remains unchanged—it still contains unmarked spaces they can’t fill.Afternoon light’s alpha blaze over the far, solemn mountains—A body’s unscripted leap into speech—beside the tacit reign of silence.For lessons learned during the Dark Season remain encrypted in the rings of the crooked tree:If the land is frozen, the old, cured wood of the alphabet will burn.If the word no longer catches fire: in silence’s depths—the omega’s grace-lit arch endures, upright.Listen while I speak these words slowly. I may only have the time to tell you once.


[INSTRUCTION MANUAL]
INQUIRY INTO THE DIRECTION OF TIME

1.
The Classical Conceit

Beyond the far horizon, the future beckons with its transcendent brilliance.


2.
Traditional Corollary

And beneficent dawn eternally augurs the bright contours of a new day.


3.
Once Considered Implicit

Contained in Time’s essence is a balm by which past transgressions will one day be absolved.


4.
Unforeseen Quantum Possibility

The disquieting suspicion that the Past—glimpsed in the rear-view mirror—may be closer than one thinks.


5.
Formerly a Debunked Theory

That when the Past’s volume reached a critical quantitative peak, it could trigger a landslide back—into the present.


6.
A Verified Quantum Event

The murderous velocity with which the Past can avalanche into the present.


7.
Recent Headlines

“When the Terror returned, they were forced to relive the past’s darkest hours.”


8.
A Current Type of Affliction

To watch as the predatory Past circles back—a black hawk—carrying no restorative balm for the living.


9.
Trial Transcript

He reported: “The fresh graves were discovered where previous graves—not yet excavated—were believed to be found.”


10.
Grammatical Query

Without definitive release from the Past—will lament now be our only present tense?


11.
Paradigm Shift

And that bright future: has it retreated over the far horizon? Why does it now seem—it may never be reached?

Marcus Wicker is the author of three books of poetry: DEAR MOTHERSHIP, Silencer, and Maybe the Saddest Thing, selected by D.A. Powell for the National Poetry Series. His honors include a National Endowment for the Arts Creative Writing Fellowship, the Poetry Society of America’s Lyric Poetry Award, a Pushcart Prize, and Ruth Lilly Fellowship, as well as fellowships from the Harvard Radcliffe Institute, The Fine Arts Work Center, and Cave Canem. Wicker’s poems have appeared in The Nation, The New Republic, The Atlantic, Oxford American, and Poetry Magazine. He is an Associate Professor and the Orgill Chair of English at the University of Memphis, where he teaches in the MFA program.
Ellen Hinsey is an award-winning poet, essayist and translator. She is the author of ten previous books of poetry, essays, dialogue, and literary translation. Recent books include The Invisible Fugue and The Illegal Age, a National Poetry Series Finalist as well as the UK Poetry Book Society’s 2018 Autumn Choice. Hinsey’s essays on democracy are collected in Mastering the Past: Contemporary Central and Eastern Europe and the Rise of Illiberalism. Cities of Memory received the Yale Younger Poets Award. A former fellow of the American Academy in Berlin, her work has appeared in the New York Times, the New Yorker, and The Irish Times, among others.

From the beginning, The Common has brought you transportive writing and exciting new voices. We are committed to supporting writers and maintaining free, unrestricted access to our website, but we can’t do it without you. Become an integral part of our global community of readers and writers by donating today. No amount is too small. Thank you!

Giải phẫu của Nhật thực (Arrowsmith Press, ngày 15 tháng 10) ghi lại sự đến – và sự xuất hiện – của một giai đoạn bóng tối trong xã hội. Từ cuộc chiến ở Đông Âu đến sự lan rộng của bạo lực và vô pháp luật, tập sách mới của Hinsey theo dõi những tín hiệu nguy hiểm của một thế giới đang tiến tới ánh sáng rìa. Tuy vậy, dù mang tính tiên tri và gián tiếp, những bài thơ này cũng làm sống động điều gì đó trong chúng ta, vốn đã đi trước và hoàn toàn an toàn, một khía cạnh của sự tồn tại không bị đe dọa bởi những điềm báo của bóng tối. Những bài thơ này cũng nâng đỡ, ôm lấy và củng cố, khám phá tiềm năng đổi mới của chúng ta thông qua sự khẳng định và lòng trắc ẩn.

[LƯU TRỮ]
BẢN DỊCH MỚI CỦA SENECA

Không phải người có quá ít, mà là người khao khát nhiều hơn mới là người nghèo.
– Seneca

Rất ít thành phố bằng đá cẩm thạch thoát khỏi thời kỳ Bạo chúa.Nếu tin tức về sự xuất hiện của nó được thông báo qua các bức tường thành cao, hãy chịu đựng thử thách này với phẩm giá. Bởi vì giống như mùa dịch bệnh vĩnh cửu: thử thách của giờ sốt cũng sẽ qua đi.Thay vào đó, hãy quay lại với những cuộn giấy ngà và ngồi yên bình dưới stoa cổ kính. Vào giờ mà lá tết dệt nên vòng bóng dưới chân bạn.Hãy nhớ lại những đường dây được để lại để đi qua bụi rậm rối rắm của Tyranny. Dù cơn nóng giận vẫn ngự trị trong bạn: dù có điều gì không thể biện minh được—hãy kiên nhẫn với bản thân.Thời gian sẽ hé lộ sự lừa dối của hành động ác ý này.Đừng để nhà bị phá hủy vì lòng trắc ẩn của bạn. Ngay cả khi các cột của nó bị bao vây: đó là một pháo đài đứng vững mỗi ngày được khẳng định lại.Hãy giữ Luật pháp luôn trước mặt bạn—như ngọn đuốc thô ráp của người cầm cờ, chúng sẽ dẫn bạn tiến về phía trước xuyên qua bóng tối u ám.Bởi dù được bao bọc trong lời lẽ Tyrian, vũ khí của nỗi sợ vẫn được sử dụng bởi kẻ yếu. Những gì được thực hiện đúng đắn không cần phải dùng đến Khủng bố.Và đừng bao giờ quên: thời kỳ Bạo Chúa đã đến với những người khác trước bạn—họ cũng đã vượt qua cơn mưa của con đường đầy bão tố đó.Bởi vì Tyranny luôn tưởng tượng nó sẽ viết nên lịch sử. Nhưng, hết lần này đến lần khác, chính Công lý sẽ xuất hiện, rồi cúi đầu viết—thay vào đó là lịch sử về sự diệt vong của Tyranny.


[LƯU TRỮ]
SỨC BỀN

Nếu cần: hãy cân nhắc sức bền bằng vòng hoa hơi thở của bạn.Bởi bên dưới tuyết là băng đóng băng—nhưng dưới đêm chuộc lỗi này: còn có lửa.Đó là điều khiến họ sợ hãi: một đức tin không thể cưỡng lại, và sự sẵn sàng cháy bỏng.Họ muốn in dấu oarfrost lên tổ ong của ngữ pháp băng giá.Họ thích các âm tiết slag hàn môi chặt hơn nữa.Hoặc tiếp cận như những chuyến tàu công cộng—đi qua không tên dưới những cây cầu tín hiệu rỉ sét.Nhưng cảnh quan vẫn không thay đổi—vẫn còn những khoảng trống chưa được đánh dấu mà họ không thể lấp đầy.Ánh sáng alpha buổi chiều rực rỡ trên những ngọn núi xa xăm, trang nghiêm—Một cơ thể nhảy vào lời nói không theo kịch bản—bên cạnh sự im lặng ngầm.Những bài học rút ra trong Mùa Đen Tối vẫn được mã hóa trong những vòng tròn của cây cong:Nếu đất bị đóng băng, phần gỗ cũ đã được xử lý của bảng chữ cái sẽ cháy.Nếu từ đó không còn bùng cháy: trong sự im lặng sâu thẳm—vòm chân được thắp sáng bởi ân sủng của omega vẫn tồn tại, đứng thẳng.Hãy lắng nghe khi tôi nói những lời này chậm rãi. Tôi có thể chỉ có thời gian nói với bạn một lần.


[HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG]
ĐIỀU TRA VỀ HƯỚNG CỦA THỜI GIAN

1.
Khái niệm cổ điển

Phía sau chân trời xa xôi, tương lai đang gọi mời với ánh sáng siêu việt vượt trội.


2.
Hệ quả truyền thống

Và bình minh nhân từ vĩnh cửu báo hiệu những đường nét rực rỡ của một ngày mới.


3.
Một khi được coi là ngầm định

Chứa đựng trong bản chất của Thời gian là một liều thuốc để một ngày nào đó những lỗi lầm trong quá khứ sẽ được tha thứ.


4.
Khả năng lượng tử không lường trước

Sự nghi ngờ đáng lo ngại rằng Quá khứ—thoáng qua qua gương chiếu hậu—có thể gần hơn ta tưởng.


5.
Trước đây là một lý thuyết đã bị bác bỏ

Rằng khi khối lượng của Quá khứ đạt đến đỉnh định lượng quan trọng, nó có thể kích hoạt một sự sụp đổ trở lại—về hiện tại.


6.
Sự kiện lượng tử đã được xác minh

Tốc độ giết người mà Quá khứ có thể lao về hiện tại.


7.
Tiêu đề gần đây

“Khi Terror trở lại, họ buộc phải sống lại những giờ phút đen tối nhất của quá khứ.”


8.
Một loại bệnh hiện nay

Để nhìn quá khứ săn mồi quay trở lại—như một con diều hâu—không mang theo liều thuốc chữa lành cho người sống.


9.
Bản ghi phiên tòa

Ông báo cáo: “Những ngôi mộ mới được phát hiện ở nơi mà các ngôi mộ trước đó—chưa được khai quật—được cho là đã tìm thấy.”


10.
Truy vấn ngữ pháp

Nếu không có sự giải thoát dứt khoát khỏi quá khứ—liệu than khóc có phải là thì hiện tại duy nhất của chúng ta?


11.
Sự chuyển đổi mô hình

Và tương lai tươi sáng đó: liệu nó đã lùi về phía chân trời xa chưa? Tại sao giờ đây có vẻ như—có thể sẽ không bao giờ đạt được?

Marcus Wicker là tác giả của ba tập thơ: DEAR MOTHERSHIP, Silencer, và Maybe the Saddest Thing, được D.A. Powell chọn cho National Poetry Series. Các giải thưởng của ông bao gồm Học bổng Viết sáng tạo của Quỹ Quốc gia về Nghệ thuật, Giải Thơ Trữ tình của Hiệp hội Thơ ca Hoa Kỳ, Giải thưởng Pushcart, và Học bổng Ruth Lilly, cũng như các học bổng từ Viện Radcliffe Harvard, Trung tâm Nghệ thuật Mỹ thuật và Cave Canem. Các bài thơ của Wicker đã xuất hiện trên The Nation, The New Republic, The Atlantic, Oxford American và Poetry Magazine. Ông là Phó Giáo sư và Chủ tịch Orgill ngành Tiếng Anh tại Đại học Memphis, nơi ông giảng dạy trong chương trình MFA.
Ellen Hinsey là một nhà thơ, nhà tiểu luận và dịch giả từng đoạt giải thưởng. Bà là tác giả của mười cuốn sách thơ, tiểu luận, đối thoại và dịch văn học trước đây. Các cuốn sách gần đây bao gồm The Invisible Fugue và The Illegal Age, lọt vào vòng chung kết National Poetry Series cũng như Autumn Choice 2018 của Hiệp hội Sách Thơ Vương quốc Anh. Các bài luận của Hinsey về dân chủ được tập hợp trong cuốn Mastering the Past: Contemporary Central and Eastern Europe and the Rise of Illiberalism. Cities of Memory đã nhận Giải thưởng Nhà thơ Trẻ Yale. Là cựu thành viên của Viện Hàn lâm Mỹ tại Berlin, các tác phẩm của bà đã xuất hiện trên New York Times, New Yorker và The Irish Times, cùng nhiều nơi khác.

Ngay từ đầu, The Common đã mang đến cho bạn những bài viết đầy cảm xúc và những tiếng nói mới đầy hứng khởi. Chúng tôi cam kết hỗ trợ các tác giả và duy trì quyền truy cập miễn phí, không giới hạn vào trang web của mình, nhưng chúng tôi không thể làm điều đó nếu thiếu bạn. Hãy trở thành một phần không thể thiếu của cộng đồng độc giả và nhà văn toàn cầu của chúng tôi bằng cách quyên góp ngay hôm nay. Không có số tiền nào là quá nhỏ. Cảm ơn bạn!


Nguồn bài viết gốc: Poetry | The Common. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Một trận chiến chúng ta phải thắng: Yan Lianke về ghép trận | A Battle We Had to Win: Yan Lianke on Matchmaking

Tác giả cùng vợ là Trạch Lập Sa tại Hang Long Môn gần Lạc Dương, năm 1984. ảnh Yan Lianke.
Tác giả cùng vợ là Trạch Lập Sa tại Hang Long Môn gần Lạc Dương, năm 1984. ảnh Yan Lianke.
Yến Liên Khoa | Ngày 6 tháng 10 năm 2026

Tôi được thăng chức lên cấp cán bộ vào cuối năm 1982, với rất nhiều sự chú ý. Mùa xuân năm sau, tôi trở về nhà trong vinh quang rực rỡ, sẵn sàng gặp bạn đời.

Hồi đó, nếu bạn vẫn chưa kết hôn ở tuổi hai mươi lăm, người ta nói bạn đã bị bỏ lại trên kệ. Dù vậy, tôi chưa bao giờ, ít nhất trong suốt cuộc đời mình, nghĩ về kiểu người mình muốn kết hôn. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến cách tình yêu sẽ bắt đầu, nó có thể diễn ra ra sao. Ngay cả tình yêu được tạo nên từ gì, nặng bao nhiêu, tỷ lệ ý nghĩa của nó là cảm xúc hay thể xác, hay cái nào quan trọng hơn: tình yêu tâm linh hay tình yêu thể xác. Bây giờ tôi nghĩ điều đó giống như hỏi liệu việc trồng hay thu hoạch quan trọng hơn.

Sau bữa tối một đêm, dưới ánh đèn 15 watt, mọi người đều trang nghiêm bàn luận về buổi mai mối của tôi vào ngày hôm sau. Chị gái tôi sẽ dọn dẹp nhà cửa từ trong ra ngoài, trong khi mẹ tôi sẽ đi mua nguyên liệu làm mì với thịt heo xay. Ngay khi mặt trời chiếu lên sân sau, cha tôi sẽ bị đuổi đến đó và không hề động đậy, nếu không ông sẽ ho, và đờm sẽ ám ảnh ông suốt cả ngày.

Cha tôi vui vẻ nhận nhiệm vụ. Anh ấy đã lên kế hoạch trốn tránh trong buổi hẹn của tôi để ngăn cô gái phát hiện ra bệnh mãn tính của mình.

Tôi cảm thấy áy náy khi bắt cha mình tránh mặt để có một cuộc hôn nhân tiềm năng, nhưng ý nghĩ đó chỉ thoáng qua trong đầu rồi tôi để nó trôi đi. Đây là trận chiến mà chúng ta phải thắng. Thời gian trôi qua và chẳng mấy chốc mặt trời mọc, rực rỡ như mọi khi. Trái đất quay với tốc độ ổn định tương tự. Những cây ở cổng trước và trên bãi cỏ làng vẫn y như ngày hôm trước, và cả ngày trước nữa. Tuy nhiên, gia đình chúng tôi có thể sẽ không bao giờ như trước nữa.

Cha tôi lẻn vào sân sau ngay sau bữa sáng. Ánh nắng mặt trời và chiếc radio là bạn đồng hành không ngừng, như những món quà từ chính cuộc sống, dòng máu chảy trong huyết quản anh. Mẹ tôi đã mang đồ ăn về và bắt đầu bận rộn trong bếp. Cô không đủ chi và phải mượn cả tay chân của dì vợ.

Bạn hẹn của tôi đến sau mười giờ, hoặc có thể mười một giờ, nhưng dù sao thì không phải vào buổi trưa như cô ấy dự định. Người phụ nữ đó làm việc tại bộ phận phân phối của trung tâm bán lẻ thị trấn chúng tôi. Cô ấy “có một vị trí,” nghĩa là cô ấy còn nhiều điều phải hoàn thành trong cuộc sống. Bà có một thị trấn hukou, và thực phẩm của bà được nhà nước cung cấp, chứ không phải sản phẩm của lao động vất vả trên đồng ruộng. Chúng tôi đã tạo ra một cặp đôi khá cân bằng. Trong hành trình cuộc đời, chúng tôi đã kết thúc ở cùng một sân ga, hoặc ít nhất là đổi tàu ở cùng một ga.

Vai trò của người mai mối trong hôn nhân Trung Quốc là sự pha trộn dễ bị chế giễu giữa sự lừa đảo, tâng bốc và dối trá. Tuy nhiên, qua hàng ngàn năm lịch sử hôn nhân bền vững, các nhà mai mối đã đóng vai trò thiết yếu. Người mai mối của tôi, kiểu người đàn ông lớn tuổi mà người ta gọi là Chú, là một cán bộ từ thị trấn kế bên. Quan trọng hơn, người chú này là người yêu văn học, đã đọc nhiều sách và từng xuất bản thơ trên Peony, tạp chí văn học địa phương ở Lạc Dương. Người phụ nữ anh ấy chọn cho tôi cũng là người có tác phẩm văn học, và thơ của cô ấy cũng từng xuất hiện trên tạp chí Peony. Chúng tôi ở đó, một bộ ba nhà văn vùng quê.

“Hai người có nhiều điểm chung, sẽ có nhiều chuyện để nói,” chú đã trấn an tôi.

Khi chúng đến gần, một số đứa trẻ địa phương chạy vào nhà chúng tôi hét lên, “Chúng đến rồi! Họ đến rồi!”

Mẹ và chị gái tôi đã đuổi bọn trẻ đi. Rồi họ xuất hiện, chú đi trước cùng bạn trai tôi phía sau. Cô ấy bước qua ngưỡng cửa nhà chúng tôi mà không hề ngại ngùng, vừa trò chuyện với người mai mối về chuyện của thị trấn. Bà vào trong, ngồi xuống, nhận quả trứng bỏ túi mà mẹ tôi nhanh chóng chiên cho, khuấy đường ở đáy bát bằng đũa, rồi đặt một chân lên đầu gối đối diện, lắc chân.

Nhìn cô ấy từ một bên, tôi cảm thấy sững sờ. Lần này không giống như một buổi ghép mối—một cuộc gặp gỡ lãng mạn huyền bí, dịu dàng nhưng lại vô cùng quan trọng. Cô ấy cư xử như thể đến nhà chúng tôi để kiểm tra hoặc nghiên cứu thực địa. Tôi đứng đó như một vị khách, như một người hầu, cho đến khi chú chú nhận ra và nói, “Ngồi đi.”

Rồi chuyện tình bắt đầu. Bên ngoài, những cây paulownia và du đang nở rộ, hương hoa kim ngân lan tỏa không giới hạn trong sân nhà chúng tôi. Gà và vịt không làm phiền buổi hẹn của chúng tôi, nhưng mẹ và chị gái tôi vẫn đuổi chúng đi, rồi quyết định ra ngoài, để lại sân rộng lớn, ngôi nhà và sự yên tĩnh cho chú, người phụ nữ và tôi. Tôi nghe thấy tiếng bước chân ngoài đường, tiếng hoa paulownia bị côn trùng gặm nhấm rơi xuống đất.

Mẹ đã đưa cho chú và cô gái trẻ mỗi người một đĩa với bốn quả trứng bỏ túi, còn tôi lấy hai quả. Mười quả trứng, một lễ vật cho chuyện tình của tôi. Tôi không nhớ chú đã ăn hết trứng chưa, nhưng tôi đã ăn cả hai quả trứng, trong khi bạn hẹn chỉ ăn một quả trước khi đẩy đĩa ra. Cô ấy nói rằng cô ấy không thích mùi đất của trứng vùng quê. Khi chú và tôi mang đĩa vào bếp, chú nói, “Nhìn xem cô ấy hào phóng thế nào. Cậu là sĩ quan quân đội, nên cởi mở hơn một chút.” Khi chúng tôi trở lại phòng khách, anh ta nói có việc phải lo và để tôi và cô ấy ở ngã rẽ định mệnh.

Trong sự im lặng đó, cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu. “Cậu từng có thơ ở Peony à?”

Cô ấy nhìn tôi đầy tự hào.

“Tôi đã xuất bản vài truyện ngắn và một vở kịch một hồi,” tôi nói, cố tỏ ra bình thường. “Tất cả đều xuất hiện trên các tạp chí địa phương và tạp chí quân đội khu vực Vũ Hán.”

“Thì sao?” cô ấy nói to, nhìn tôi lần nữa, để chân lắc lư trên không. Tôi cảm thấy chân cô ấy giơ lên và bàn chân run rẩy chiếm hết không gian và thời gian, khiến tôi không thể nói thêm. Như thể không gian và thời gian là tài sản riêng của cô ấy, không liên quan gì đến tôi. Tôi im lặng, nhưng sự im lặng của tôi khiến cô ấy chú ý: cô ấy nhận ra mắt tôi đang dán vào chân cô ấy, hạ nó xuống sàn và nhìn tôi với một biểu cảm khó tả.

“Gia đình tôi rất nghèo,” tôi nói với cô ấy.

Cô ấy có vẻ giật mình. “Tôi biết.”

“Tôi đoán cô chưa nghe nói cha tôi bị ốm sao?”

“Tôi có rồi.” Cô ấy nhìn tôi nghiêm trang, rồi đột ngột đổi chủ đề. “Đơn vị của anh có đi chiến tranh không?”

“Tôi không biết.” Tôi quay đi.

Không còn gì để nói nữa. Mẹ tôi, chị gái tôi và người mai mối quay lại mang đồ ăn cho một cặp đôi đang hẹn hò. Hai bát mì đầu tiên với thịt heo xay được dành cho bạn hẹn của tôi và người mai mối. Chiếc bát thứ ba được đưa cho cha tôi, vẫn còn giấu trong sân sau. Dù mùa xuân ấm áp, anh vẫn có một chiếc chăn cũ phủ lên. Chiếc radio dưới chân anh ấy đang phát nhạc kịch Hà Nam Làng Triều Dương, và anh ấy đang ăn hết những quả trứng thừa của bạn hẹn của tôi. Cười tươi, anh hỏi, “Dạo này thế nào?” Tôi lắc đầu.

“Tại sao vậy?” anh hỏi.

“Ngay khi cô ấy đến, cô ấy bắt chéo chân và liên tục lắc chân.”

Cha tôi đã nghĩ về điều đó. “Vậy là cô ấy tự tin. Cô ấy có một công việc chính phủ.”

“Là vì cô ấy coi thường chúng ta,” tôi buột miệng nói chắc chắn.

Anh suy nghĩ thêm. “Chúng ta không cần phải sống cùng nhau sau khi anh kết hôn. Nói với cô ấy là tôi sẽ không cản đường anh.”

Tôi đã suy nghĩ suốt một năm. “Chúng ta sẽ xem sao,” tôi nói.

Vài ngày sau, tôi trở về đơn vị của mình. Tôi đã viết thư cho cô ấy ngay khi đến, và cô ấy trả lời sau nửa tháng. Tôi lại viết thư cho bà, và sau hai mươi ngày nhận được lá thư thứ hai. Tôi đã viết thư cho cô ấy lần thứ ba và nói, “Nếu cô nghĩ mối quan hệ của chúng ta không phù hợp, chúng ta có thể kết thúc ở đây.”

Cô ấy trả lời ngay lập tức. “Chính anh là người nói chuyện sẽ không thành, không phải tôi. Cảm ơn vì điều đó!”

Và thế là mối quan hệ này, vốn bắt đầu ồn ào như vậy, đã tan biến. Một khởi đầu nhanh, một kết thúc nhanh, như một cơn gió thổi qua cánh đồng.


Quân đội không phải lúc nào cũng cho nghỉ nếu cha mẹ bạn ốm, nhưng nếu một binh sĩ hoặc sĩ quan lớn tuổi nói muốn về nhà để ghép mối, họ sẽ được duyệt chín trên mười lần. Tôi đã dùng kỳ nghỉ mai mối để giúp bố mẹ thu hoạch—dù phải công bằng mà nói, tôi cũng đã gặp một người hẹn hò khi ở nhà. Một ngày nọ, cha tôi và tôi đang làm việc thì một chiếc jeep dừng lại không xa chúng tôi, và có người bước ra trên sườn đồi giữa cánh đồng của chúng tôi, cách đó khoảng một trăm mét, gọi tên tôi và vẫy tay khẩn thiết đến mức dường như có điều gì đó quan trọng đã xảy ra trong cuộc đời tôi hoặc của ông.

Cha tôi và tôi đứng chết trân lại. “Mau lên! Nhanh lên!”

Mắt tôi tập trung. Người đàn ông đang la hét là chú Ji, một người họ hàng xa, giờ đang giậm chân vì lo lắng. Tôi thả cái đập vụn và vội chạy đến bên anh ấy. Khi tôi đến gần, anh ta nói, “Lên xe!” và đẩy tôi vào phía sau xe jeep.

Thở ra, chiếc xe rời đi. Chúng tôi bỏ lại cha tôi, cánh đồng lúa mì, ngôi làng, những con phố. Cuộn mình trong cái nóng, sự im lặng và mồ hôi, tôi cuộn mình trong chiếc jeep cổ và cố đoán xem số phận của mình sẽ diễn ra như thế nào. Người cầm lái đang mở đường cho tôi là người đứng đầu cục thương mại của quận. Sự im lặng của trưởng phòng khiến bầu không khí trở nên nghiêm trọng đến mức bạn sẽ nghĩ chúng ta đang trên đường đến nơi hành hình. Anh ấy không nói một lời nào, và tôi cũng không dám hỏi gì.

Chúng tôi đã đi được khá nhiều cây số thì ông ấy quay lại nói rằng cha tôi đã báo cho chú Ji rằng ông lo tôi sẽ sống độc thân suốt đời. Bây giờ, ông nói, mọi thứ đã được giải quyết. Một cô gái làm việc ở cửa hàng bách hóa Lạc Dương sẵn sàng cưới tôi—tôi chỉ cần nói một tiếng. Hơn nữa, anh ta bí ẩn nói thêm rằng cô gái không hề biết chúng tôi sẽ đến trong ngày hôm đó. Chúng tôi lén vào cửa hàng và anh ấy chỉ cho tôi xem cô ấy. Nếu tôi thích những gì mình thấy, anh ấy sẽ đi nói với cô ấy để chúng tôi có thể gặp nhau nghiêm túc và yêu nhau. Tất nhiên, nếu tôi từ chối, điều đó có thể làm cô ấy buồn.

Cô ấy đã đồng ý cho chúng tôi kết hôn mà không hề nhìn thấy tôi.

Hơn nữa, cô gái này không phải người làng chúng tôi hay thậm chí từ trung tâm huyện; cô ấy đến từ kinh đô tỉnh, Lạc Dương, nơi tôi rất khao khát được đến. Phản ứng đầu tiên của tôi là nhìn xuống. Tôi mang đôi giày mùa thu hoạch quen thuộc, một đôi dép xỏ ngón cũ dễ dàng mang vào và tháo ra. Làm sao tôi có thể mặc những thứ bẩn thỉu, cũ kỹ này khi đi hẹn hò? Trong khi đó, chú Ji nhận thấy tóc tôi đầy tua lúa mì và mặt tôi đầy bụi bẩn. “Chúng ta sẽ tìm nước và rửa sạch cho cậu.”

Hàng chục cây số sau, khi chúng tôi đi qua đồi Longmen, anh ấy nhìn thấy một máy bơm cơ khí phun nước khắp cánh đồng và dừng lại để tôi rửa sạch bụi bẩn và sự mệt mỏi của làng trên mặt, tóc và tinh thần. Khi xong việc, chúng tôi tiếp tục lái xe, vô tư và rạng rỡ, đến trung tâm của thế giới đã biết: thành phố Lạc Dương.

Lạc Dương cách làng tôi sáu mươi hai cây số. Khi chúng tôi bước vào thành phố, tim tôi đập nhanh hơn. Những con đường rộng, những con phố giao nhau, dòng người đi bộ không ngừng, những tòa nhà cao tầng—cột điện báo đặt đều dọc đường, những cô gái trẻ đạp xe về nhà sau giờ làm, những đứa trẻ tiểu học nắm tay nhau băng qua đường. Một nền văn minh đang vẫy gọi tôi. Ngay lúc đó tôi quyết định: Nếu cô gái ở cửa hàng bách hóa này đã đồng ý cưới tôi mà không gặp mặt, thì tôi có lý do gì để từ chối cô ấy? Chúng ta sẽ đối mặt với những cơn bão của sự tồn tại, qua mọi khó khăn, cùng nhau già đi đến cuối cùng. Cô ấy bao nhiêu tuổi? Lớn hơn hoặc trẻ hơn một chút cũng được. Cao bao nhiêu? Một inch nhỏ hơn cũng chẳng quan trọng. Có học thức đến mức nào? Tôi thậm chí còn chưa tốt nghiệp trung học. Và dù cô ấy không xinh đẹp, thì cô ấy có thể không hấp dẫn đến mức nào? Tôi không định kén chọn. Tôi không có gì phải lo.

Chiếc jeep dừng lại đột ngột trước một tòa nhà cao tầng. Chú Ji xuống xe, liếc đồng hồ và nói chúng ta đến đúng lúc. Tôi đứng bên lề đường trong khi anh ấy chăm sóc quần áo và vuốt tóc rối của tôi. Anh ta sẽ chỉ vào cô gái ở lối vào, anh ta nói với tôi một cách lén lút, rồi bước vào như một khách hàng bình thường. Sau khi thống nhất mật mã bí mật, chúng tôi bước vào cửa hàng bách hóa. Cô ấy ở tầng một, nhưng giờ tôi không nhớ rõ là cô ấy bán vải hay quần áo. Đây không phải là mất trí nhớ; Tôi vừa phấn khích vừa lo lắng đến mức không nhận ra (hoặc quan tâm) đến những gì xung quanh cô ấy, thậm chí là những gì cô ấy đang mặc.

Khi một bông hoa đỏ thẫm nở, không ai quan tâm nếu có lá xung quanh.

Cô ấy đẹp đến mức tôi phải khựng lại. Tôi đã nhìn vào chỗ chú Ji chỉ và ngay lập tức biết ông ấy nói về ai. Không cao cũng không thấp, da hơi rám nắng, khuôn mặt như trái cây chín, mắt đảo quanh khi cô đếm các món hàng của khách. Tôi cảm giác như đã từng thấy cô ấy ở đâu đó trước đây. Sự quen thuộc tức thì này khiến tôi tin vào bản chất huyền bí của hôn nhân. Tôi quyết định sẽ yêu cô ấy. Chúng tôi sẽ kết hôn và có con. Tôi đã chịu đựng những lúc tồi tệ nhất với cô ấy, cho đến tận cuối đời.

Chú Ji chỉ vào cô ấy chỉ trong một giây, và tôi chỉ mất chưa đầy một giây để quyết định sẽ cưới cô ấy. “Thấy cô ấy chưa?” anh thì thầm. Tôi gật đầu với sự chắc chắn hiếm thấy. “Cái màu xanh da trời, không phải xám đậm.” Anh lại nghiêng người thì thầm rằng hôn nhân là sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời một người, thậm chí còn quan trọng hơn cả việc trở thành hoàng đế. Tôi cần chắc chắn rằng mình đã suy nghĩ kỹ về chuyện này. Có nghĩa là có, không nghĩa là không, và tôi không thể đồng ý chỉ vì cô ấy đồng ý trước.

Nói xong, chú Ji hòa vào đám đông, để tôi chìm trong suy nghĩ bên lối vào. Khi anh biến mất, tôi chuyển sự chú ý sang người phụ nữ, ngoại hình, trang phục, những chuyển động nhộn nhịp của cô. Tôi nhận thấy cô ấy đang nhìn về phía mình, và trong cơn hoảng loạn tôi đã rút lui ra ngoài.

Bầu trời xanh thẳm, rộng mở và trong suốt như trái tim tôi. Cuộc sống và thế giới thật đẹp. Tôi cảm thấy một luồng biết ơn lớn đối với cha mẹ vì đã mang tôi ra đời.

Sau một khoảng thời gian nhỏ như đậu, chú Ji bước ra khỏi cửa hàng, khuôn mặt rạng rỡ. Đứng trên con đường Trung Châu giữa lòng Lạc Dương, với đất, trời và cây cối làm chứng, tôi biết đây là khoảnh khắc trọng đại, trang nghiêm nhất trong đời tôi và số phận của cả gia đình tôi.

“Vậy sao?” anh hỏi.

Với sự tự tin lớn, tôi gật đầu.

Anh mỉm cười. “Tôi cần cậu trả lời có hoặc không.”

Tôi cũng rạng rỡ. “Đúng vậy.”

“Tuyệt vời. Tôi sẽ báo cho bố mẹ cô ấy biết, và khi tôi ở đó chúng ta cũng sẽ hẹn một ngày.”

Và thế là, gần như tình cờ và không suy nghĩ kỹ lưỡng, bức màn lại mở ra cho một chuyện tình khác. Chú Ji và chiếc xe jeep của ông rời đi. Anh ấy bảo tôi chờ ở cửa hàng bách hóa, rằng anh ấy sẽ quay lại rất sớm với “một ngày đã được sắp xếp.”

Chúng tôi đến lúc một giờ chiều và ở trong nhà khoảng tám phút, nhưng anh ấy mất cả ba tiếng mới quay lại. Trong thời gian đó, cơn đói ập đến như một cơn bão. Tôi rất muốn mua đồ ăn ở nhà hàng đối diện, nhưng tôi không mang theo một xu nào. Tôi ngồi trên lề đường như một đứa trẻ bị bỏ rơi, ngước nhìn lên bầu trời, quan sát những người qua lại. Khi chú Ji về, tôi nghĩ, việc đầu tiên tôi sẽ làm là lấy một bát mì.

Lúc hơn bốn giờ một chút, chiếc jeep khựng lại trước mặt tôi. Chú Ji đã ra ngoài. Mặt anh ta xanh lá, như vừa bị đấm. Anh nhìn chằm chằm vào cửa hàng bách hóa, nhìn các quầy mì bên cạnh, nhìn dòng người qua lại. Sau một lúc do dự, anh nói, “Đi thôi. Chúng ta có thể nói chuyện thêm ở nhà.”

Chúng ta đã vào được. Chúng tôi về nhà.

Hơn hai giờ sau, chiếc jeep dừng lại bên cánh đồng lúa mì. Những tia hoàng hôn cuối cùng bừng cháy như lửa. Chú Ji là người ít nói, nhưng ông vẫn cố nói: “Đừng bao giờ nhắc lại chuyện này nữa.” Sau khi đưa tôi về, ông vẫy tay chào bố tôi, người vẫn đang thu hoạch, và nói ông bận nên sẽ không ghé qua nhà chúng tôi.

Năm 1989 hoặc 1990, khi tôi không chỉ kết hôn mà còn có một đứa con bốn hoặc năm tuổi, tôi đang học văn học tại Học viện Mỹ thuật Quân Giải phóng Nhân dân ở Bắc Kinh. Chúng tôi về nhà vào dịp năm mới, và vào ngày thứ hai, theo truyền thống khi gặp người thân, chú Ji—đã nghỉ hưu từ lâu—mang đến nhà chúng tôi với một giỏ quà.

Mỉm cười, anh nói với tôi rằng cô gái ở cửa hàng bách hóa Lạc Dương đã thấy một bài báo về tôi trên tờ Lạc Dương—một bức ảnh màu của tôi dưới tiêu đề “Quận Lạc Dương tạo ra tài năng”—và cô ấy đã đến nhà anh phàn nàn rằng anh chưa từng nhắc đến, khi mới giới thiệu tôi, rằng tôi là người yêu văn học và viết truyện hư cấu. “Cô ấy và cả gia đình hối hận vì đã từ chối anh. Thôi, để họ hối hận đi!” anh cười khúc khích. Chỉ lúc đó tôi mới biết cô gái trẻ đó là cháu gái của chú Ji. Lý do tôi tìm thấy cô ấy là người quen là vì cô ấy rất giống con gái lớn của ông ấy.

Sau khi xử lý thông tin mới này, tôi mỉm cười ngượng ngùng với anh ấy.

Rất thường xuyên, một nụ cười ngượng ngùng sau khi điều gì đó kết thúc lại mang một vẻ đẹp riêng.

*

Sau khi tiểu thuyết của tôi được xuất bản và tôi được thăng chức, tôi nghĩ mình có đủ khả năng để tìm được một người vợ thành phố, nhưng chỉ trong ba năm tôi chỉ gây ra tổn thương và bị tổn thương đáp lại. Sau khi bị vài cô gái thành phố chế giễu và từ chối, tôi nhận ra bị từ chối cũng là một cách an ủi riêng.

Rồi vào cuối năm 1983, một người bạn đã giới thiệu tôi với vợ tôi. Không chỉ đến từ Kaifeng, một thành phố, cô còn xinh đẹp và tinh tế hơn tất cả các cô gái tôi từng được mai mối trước đây. Điều tôi do dự là bố mẹ cô ấy, tức là gia đình chồng tôi, có ba con trai nhưng chỉ có một con gái. Họ đã nói rõ rằng, sau khi tôi rời quân đội, họ muốn chúng tôi ở lại Khai Phong.

Tất cả những gì tôi mơ ước từ khi còn nhỏ là trốn thoát vào thành phố, nhưng nơi tôi thực sự hy vọng định cư là Lạc Dương, chứ không phải Khai Phong xa xôi. Vì vậy, chúng tôi đã do dự về một số điều, và âm thầm chấp nhận những điều khác, kể cả sự do dự của nhau. Một ngày nọ năm 1984, anh trai tôi gọi điện cho tôi tại trại quân đội ở Thượng Thu để báo rằng cha chúng tôi đã bị bệnh nặng vài ngày trước đó. Ông đã gọi anh trai tôi đến bên giường bệnh và nói rằng căn bệnh hen suyễn đã đeo bám anh suốt nhiều năm sẽ khiến anh khó sống sót qua cái lạnh và hoang vắng của mùa đông. Sau cả đời làm việc vất vả, ba trong bốn người con của ông đã kết hôn, nhưng ông đau lòng khi con út vẫn độc thân.

Giá mà Lianke có thể lấy chồng, anh nói, dù không khí lạnh có lấy đi chúng ta, anh vẫn sẽ đi với trái tim nhẹ nhàng hơn.

Anh trai tôi và tôi, cách nhau vài trăm cây số, im lặng một lúc. Tôi nghe thấy hơi thở gấp gáp của anh, buồn bã và bất lực. Chắc hắn đang ở một trong những buồng điện thoại bưu điện ở huyện Tống, Tây Hà Nam. Có thể anh ta nhận ra sự bất lực của em trai mình ở Đông Hà Nam. Cả hai chúng tôi đều không nói một lời nào.

Ngay khi cảm giác như sự im lặng sắp bùng nổ, anh trai tôi chậm rãi nói, “Này, hãy đi nói chuyện với họ đi, nếu có thể thì anh nên kết hôn.”

Nói xong, anh cúp máy. Tiếng lách cách nghe như một người nông dân yếu ớt đóng cuốc mà anh ta đã dùng cả đời xuống đất vào cuối ngày làm việc. Tôi nhìn chằm chằm vào những giọt hơi thở cô đặc của mình trên ống nghe, rồi nhìn bầu trời mùa hè và những hàng cây trong sân ngoài cửa sổ. Khi tôi rời văn phòng, tiếng kèn báo hiệu kết thúc ngày, và tiếng còi báo động gọi các cán bộ của sư đoàn đến căng tin. Tôi quyết định bỏ bữa tối.

Tôi ngước nhìn lên mái vòm trời rộng lớn, rồi nhìn ra đồng bằng Đông Hà Nam bên ngoài bức tường gạch đỏ. Tôi thò tay vào túi lấy ví, một tờ giấy bìa gấp lại, và đếm tiền. Rồi, không quay lại ký túc xá lấy đồ, tôi bước qua cổng chính của trại. Hướng về ga tàu. Tôi sắp kết hôn.

Tôi đang trên đường đến Khai Phong, nơi tôi sẽ nói với người bạn đời do dự, chấp nhận của mình: Làm ơn hãy lấy tôi. Tôi phải kết hôn trước cuối năm nay! Đó là điều số phận đã sắp đặt cho tôi. Số phận của cha tôi đã quyết định số phận của tôi. Tôi muốn nói với cô ấy: Nếu bạn đồng ý, chúng ta sẽ giống như bất kỳ cặp vợ chồng nào trên đời. Nếu bạn từ chối, hãy chia tay như một đàn chim én rải rác, mỗi con bay về hướng riêng, và mọi thứ đi qua giữa chúng ta sẽ chỉ là một cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên trên phố.

Chạy nước rút suốt chặng đường, tôi kịp bắt kịp xe buýt. Ở đầu bên kia, tôi chạy đi bắt chuyến tàu lúc một giờ. Hồi đó, chuyến đi từ Thượng Khiếu đến Khải Phong mất khoảng ba tiếng. Tôi mua vé đứng và đứng vững suốt chặng đường. Tôi không nhớ nổi những lo lắng nào đã tràn ngập tâm trí khi chúng tôi lao qua những đồng bằng cát rộng lớn ở Đông Hà Nam, cũng như liệu tôi có nghĩ gì về đói khát, nghèo đói, trốn thoát và đấu tranh khi đi qua những đụn cát của huyện Lankao, mềm mại như bánh bao hấp. Tôi đã đến Khai Phong. Có hutong với đền của vị tướng quân, như mô tả trong Thủy Hử, và tôi đã chờ ở đó lúc hoàng hôn để người yêu tôi trở về sau giờ làm.

Khi cô ấy xuất hiện, tôi sẽ lột danh thiếp và trình bày đề xuất trước cô ấy.

Cô ấy ở đó, trên chiếc xe đạp. Nhìn thấy tôi ở lối vào hutong, cô ấy đứng im một giây, phanh gấp gáp. Như thể không có gì bất thường, cô hỏi, “Anh đến thành phố làm việc à?”

Tôi đứng trong hutong đó, cách cô ấy vài bước, và nói với cô ấy, như tôi đã dự định, rằng cha tôi đang ốm; Tôi muốn kết hôn; Tất cả đều vì anh. Cô ấy đứng đối diện tôi. Giữa chúng tôi là chiếc xe đạp của cô ấy, sẵn sàng tiến lên hoặc rút lui. Tôi nhìn kỹ khuôn mặt cô ấy nhưng không biết cô ấy đang sốc hay bất an, vui hay bối rối. Cô làm việc tại nhà máy xe điện của Kaifeng, nơi cô xuất sắc với vai trò kỹ thuật viên tiện. Bộ đồng phục xám xanh của cô hòa vào bầu trời hoàng hôn. Chúng tôi đứng đó một lúc. Cuối cùng, cô nói với sự lịch sự tuyệt vời: “Con cần về nhà và nói chuyện với bố mẹ.”

Cô rời đi chậm rãi, đẩy chiếc xe đạp phía trước như thể đó là tương lai không thể biết trước, đi bộ thay vì trở lại yên ngựa. Tôi nhìn bóng cô ấy kéo dài hàng chục bước phía trước, và tôi gọi lớn, “Tôi sẽ đợi ở đây chờ câu trả lời của cậu!”

Tôi không biết việc la hét với cô ấy có thể được coi là ép buộc hay đe dọa hay không. Cô ấy quay lại nhìn tôi, không gật đầu hay nói gì, rồi bước đi với những bước đi có chủ ý.

Tôi đã ăn một bữa vừa là bữa trưa vừa là bữa tối tại góc phố của cô ấy, trên đường Chuigutai. Tôi mất hơn ba mươi phút để thanh toán vé, xếp hàng, lấy bát mì hầm lớn và chọn chỗ ngồi cạnh cửa sổ. Lúc đó, cô ấy đã quay lại và đứng ở cửa tìm tôi. Cô ấy ngập ngừng một lúc, đỏ mặt, rồi nói với tôi rằng bố mẹ cô ấy đã đồng ý: Chúng tôi có thể kết hôn, và nếu cha tôi mất, mẹ tôi có thể sống trong thành phố cùng chúng tôi, để chúng tôi có thể chăm sóc bà.

Không đợi tôi trả lời, cô ấy nhìn trái phải rồi quay đi. Nói xong, cô vội vã rời khỏi nhà hàng nhỏ ven đường đó. Những giọt nước mắt trong vắt tuôn rơi khi tôi nhìn xuống hutong nhỏ hẹp, lốm đốm, dõi theo hình dáng cô rời đi, đầy lòng biết ơn và tình cảm cho số phận của chúng ta, của cô và của tôi.

Chúng tôi kết hôn vào ngày Quốc khánh năm đó, ngày 1 tháng 10 năm 1984. Mùa đông đó, không lâu sau đám cưới, cha tôi rời bỏ chúng tôi và thế giới mà ông luôn trân trọng, đúng như ông đã dự đoán.

Tôi đã học được rất nhiều từ việc kết hôn với cô ấy. Còn về những gì cô đã đạt được hay mất đi, cô đã được lợi hay bỏ lỡ ra sao—cô chưa bao giờ nói về những điều đó.

Trích từ The Women của Yan Lianke, được Jeremy Tiang dịch từ tiếng Trung, dự kiến xuất bản bởi Verso vào ngày 27 tháng 10.
Yan Lianke là tác giả của hơn mười lăm tiểu thuyết, cũng như hồi ký Ba Anh Em, dịch bởi Carlos Rojas. Ngoài ra còn The Women, tiểu thuyết The Family Plot của ông, sẽ được xuất bản bởi Grove vào năm 2027, cũng do Jeremy Tiang dịch. Bài phỏng vấn của ông trên Art of Fiction xuất hiện trong số 256.
Jeremy Tiang là một tiểu thuyết gia và nhà viết kịch, người đã dịch hơn ba mươi cuốn sách từ tiếng Trung.

The author with his wife, Zhai Lisha, at the Longmen Grottoes near Luoyang, 1984. Courtesy of Yan Lianke.

I was promoted to the rank of cadre in late 1982, with much fanfare. The next spring, I returned home in a blaze of glory, ready to meet a mate. 

Back then, if you were still unmarried at twenty-five, people said you’d been left on the shelf. Even so, I’d never, not in my whole life, thought about what kind of person I wanted to marry. I’d never considered how love would begin, how it might unfold. Not even what love was made of or how much it weighed, what proportion of its significance was emotional or physical, or which was more important: spiritual or sensual love. Now I think that’s like asking whether planting or harvesting matters more.

After dinner one night, by the light of a fifteen-watt lamp, everyone talked solemnly about my matchmaking session the next day. My sister would clean the house inside and out, while my mother would head out first thing in the morning to buy the ingredients for noodles with ground pork. As soon as the sun had warmed the rear courtyard, my father would be banished there and wouldn’t stir an inch, otherwise he’d start coughing, and phlegm would plague him for the rest of the day.

My father cheerfully accepted his assignment. He’d already planned to hide himself away during my date to prevent the girl from finding out about his chronic illness.

I felt bad making my father stay out of sight for the sake of a potential marriage, but the thought merely passed through my mind before I let it drift away. This was a battle we had to win. Time slipped by and soon the sun was rising, dazzling as always. The earth turned at the same steady rate. The trees by our front gate and on the village green were the same as they had been the day before, and the day before that. Our family, though, might never be the same again.

My father ducked into the rear courtyard right after breakfast. Sunlight and his radio were his constant companions, like gifts from life itself, the blood running through his veins. My mother had come back with the groceries and gotten busy in the kitchen. She didn’t have enough limbs and had to borrow Fourth Aunt-in-Law’s arms and legs too.

My date arrived sometime after ten, or maybe eleven, but anyway not at noon like she was supposed to. The woman worked in the distribution unit of our town’s retail center. She “had a position,” which meant she had things to accomplish in life. She had a town hukou, and her food was provided by the state, rather than a product of toiling in the fields. We made a fairly equal match. In the journey of life, we’d ended up on the same platform, or at least we were changing trains at the same station. 

The role of the matchmaker in Chinese marriages is an easily mocked amalgamation of chicanery, flattery, and lies. Yet over thousands of years of unflagging marital history, matchmakers have played an essential role. My matchmaker, the kind of older man one called Uncle, was a cadre from the next town. More importantly, this uncle was a lover of literature who’d read many books and had published poems in Peony, the local Luoyang literary magazine. The woman he’d picked for me was also literary, and her poems had also appeared in Peony. There we were, a trio of countryside litterateurs.

“You have a lot in common, there’ll be plenty to talk about,” the uncle had reassured me.

As they approached, some local children darted into our home to yell, “They’re coming! They’re coming!” 

My mother and sister shooed the kids away. Then they were here, the uncle striding ahead with my date behind him. She stepped over our threshold without any sign of shyness, chatting away with the matchmaker about some town business. She came inside, sat down, accepted the pocket egg that my mother quickly fried for her, stirred the sugar at the bottom of the bowl with her chopsticks, and rested one foot on the opposite knee, shaking her legs. 

Watching her from one side, I felt dumbstruck. This didn’t feel like a matchmaking session—a mystical, tender, yet enormously consequential romantic encounter. She behaved as if she’d come to our home for an inspection or field study. I stood there like a visitor, like a servant, until the uncle noticed and uttered the words, “Go on, sit.” 

Then the romance began. Outside, the paulownia and elm trees were in full bloom, and the fragrance of honeysuckle wafted unconstrained through our courtyard. The chickens and ducks weren’t interfering with our date, but nonetheless my mother and sister shooed them away, then decided to go out, leaving the vast courtyard, the house, and the silence to the uncle and the woman and me. I could hear footsteps in the street outside, the faint patter of insect-gnawed paulownia blossoms dropping through the air and hitting the ground.

Mother had given the uncle and the young woman each a plate with four pocket eggs, while I got two. Ten eggs, an offering to my romance. I can’t remember if the uncle finished his eggs, but I ate both of mine, while my date had only one before pushing the plate away. She didn’t like the earthy smell of countryside eggs, she said. As the uncle and I brought the plates to the kitchen, he said, “Look how generous she’s being. You’re an army officer, you could stand to be a bit more open.” When we got back to the living room, he claimed he had something to take care of and left me and her alone at the crossroads of fate.

Into this silence, our conversation unfolded. “You’ve had poems in Peony?”

She shot me a look full of pride.

“I’ve published a few short stories and a one-act play,” I said, trying to sound casual. “All in provincial magazines and the Wuhan-area army journal.”

“So what?” she said loudly, looking at me again, allowing her foot to sway in the air. I felt like her raised leg and shaking foot took up all the space and time, leaving me unable to say more. As if space and time were her private property, nothing to do with me. I fell quiet, but my silence alerted her: she noticed my eyes were fixed on her foot, lowered it to the floor and looked at me with an indescribable expression.

“My family is very poor,” I said to her. 

She seemed startled. “I know.”

“I suppose you haven’t heard that my father’s ill?”

“I have.” She looked at me solemnly, then abruptly changed the subject. “Is your unit going to war?”

“I don’t know.” I looked away.

Nothing more to say. My mother, my sister, and the matchmaker came back in with food for a courting couple. The first two bowls of noodles with ground pork went to my date and the matchmaker. The third bowl went to my father, still hidden in the rear courtyard. Despite the spring warmth, he had an old comforter over him. The radio at his feet was playing the Henan opera Chaoyang Village, and he was finishing my date’s leftover eggs. Grinning, he asked, “How’s it going?” I shook my head. 

“How come?” he asked. 

“As soon as she got here, she crossed her legs and kept shaking them.”

My father thought about that. “So she’s confident. She has a government job.”

“It’s because she looks down on us,” I blurted out with certainty.

He thought some more. “We don’t have to live together after you’re married. Tell her I won’t get in your way.”

I thought for what felt like a year. “We’ll see,” I said. 

A few days later, I went back to my unit. I wrote her a letter as soon as I arrived, and she replied half a month later. I wrote her again, and after twenty days received her second letter. I wrote her a third time and said, “If you think our relationship isn’t suitable, we can end things here.” 

She replied immediately. “You were the one who said it won’t work out, not me. Thank you for that!”

And so this relationship, which began with such clamor, fizzled out. A quick beginning, a quick ending, like a gust of wind across a field. 

*

The army didn’t always give you time off if your parents were ill, but if an older soldier or officer said they wanted to go home for matchmaking, they’d get approved nine times out of ten. I used my matchmaking leave to help my parents with the harvest—though, to be fair, I did also meet a date while I was home. One day, my father and I were working when a jeep pulled up not far from us, and someone came out onto the ridge between our fields, about a hundred meters away, calling my name and waving so urgently it seemed that something significant must have happened in my life or his.

My father and I froze. “Come quick! Hurry up!”

My eyes focused. The shouting man was Uncle Ji, a distant relative, who was now stamping his feet with anxiety. I dropped my thresher and hurried over to him. When I got close, he said, “Get in!” and shoved me into the back of the jeep.

Belching air, the vehicle pulled away. We left behind my father, the wheat field, the village, the streets. Swaddled in heat, silence, and sweat, I hunkered down in the ancient jeep and tried to guess what twist of my fate this portended. The man in the driver’s seat forging this new path for me was the head of our county’s bureau of commerce. The bureau head’s silence made the atmosphere so solemn you’d have thought we were on our way to an execution ground. He didn’t say a single word, and I didn’t dare to ask any questions. 

We’d gone quite a few kilometers before he turned around to say that my father had gotten word to Uncle Ji that he was concerned I’d be a bachelor for the rest of my days. Now, he said, everything was sorted. A girl who worked in a Luoyang department store was willing to marry me—I had only to say the word. Furthermore, he added mysteriously, the girl had no idea we were coming that day. We would creep into the store and he’d point her out to me. If I liked what I saw, he’d go tell her so we could meet properly and fall in love. Of course, if I said no, that might hurt her feelings.

She had agreed to our marriage without setting eyes on me.

What’s more, this girl wasn’t from our village or even from the county seat; she was from the provincial capital, Luoyang, where I desperately wanted to be. My first reaction was to look down. I had on my usual harvest footwear, an old pair of flip-flops that slipped on and off easily. How could I wear these grubby, worn-out things on a date? Meanwhile, Uncle Ji noticed that my hair was littered with wheat tassels and my face was covered in grime. “We’ll find some water and get you cleaned up.” 

Dozens of kilometers later, as we passed Longmen Hill, he spotted a mechanical pump spraying water across a field and stopped so I could wash the village dirt and exhaustion off my face, hair, and spirit. When I was done, we drove on, carefree and radiant, to the center of the known world: Luoyang city. 

Luoyang was sixty-two kilometers from my village. As we entered the city, my pulse quickened. The wide roads, the crisscrossing streets, the constant flow of pedestrians, the tall buildings—telegraph poles evenly spaced along the road, young women cycling home after work, elementary-school children holding hands to cross the road. A civilization beckoning me. There and then I decided: If this department store girl had agreed to marry me sight unseen, what reason could I possibly have to reject her? We would face the storms of existence, through thick and thin, growing old together to the bitter end. How old was she? A little older or younger was fine. How tall? An inch more or less could hardly matter. How educated? I hadn’t even finished high school myself. And even if she wasn’t pretty, how unattractive could she really be? I wasn’t going to be picky. I had nothing to worry about. 

The jeep pulled up abruptly outside a tall building. Uncle Ji got out, glanced at his watch, and said we’d arrived at exactly the right time. I stood by the side of the road while he fussed with my clothes and smoothed my tousled hair. He would point out the girl from the entrance, he told me furtively, and then he would walk in like a regular customer. Having agreed on our secret code, we strode into the department store. She was on the first floor, though I can’t remember now if she was selling fabric or clothes. This isn’t amnesia; I was just so excited and nervous that I didn’t notice (or care) what was around her, or even what she was wearing.

When a crimson flower blooms, no one cares if there are leaves around it.

She was so beautiful that I stopped in my tracks. I’d looked where Uncle Ji’s finger was pointing and knew right away who he meant. Neither tall nor short, skin a little tan, face like a ripe fruit, eyes darting around as she added up a customer’s purchases. I felt as if I’d seen her somewhere before. This instant familiarity made me believe in the mystical nature of marriage. I decided I would fall in love with her. We would get married and have kids. I would suffer the worst of times with her, all the way to the end.

Uncle Ji pointed at her for all of one second, and it took me less than a second to decide I would marry her. “See her?” he whispered. I nodded with unusual certainty. “The one in sky blue, not dark gray.” He leaned over again to murmur that marriage was the most important event in a person’s life, even more crucial than something like becoming emperor. I needed to be absolutely sure I’d thought this through. Yes meant yes, no meant no, and I couldn’t just go along because she’d said yes first.

With that, Uncle Ji melted into the crowd, leaving me lost in thought by the entrance. As he disappeared, I turned my attention and focus onto the woman, her appearance, her clothes, her bustling movements. I noticed she was looking my way, and in a panic I retreated back outside.

The sky was intensely blue, as open and clear as my heart. Life and the world were so beautiful. I felt a jolt of gratitude toward my parents for bringing me into existence.

After a bean-size segment of time, Uncle Ji emerged from the store, his face aglow. Standing on Zhongzhou Middle Road in the heart of Luoyang, with the earth and sky and trees as our witnesses, I knew this was the most consequential, solemn moment of my whole life and my entire family’s fate.

“So?” he asked.

With great confidence, I nodded.

He smiled. “I need you to say yes or no.”

I beamed too. “Yes.”

“Wonderful. I’ll let her parents know, and while I’m there we’ll fix a day too.”

And so, almost by chance and without careful consideration, the curtain rose on yet another romance. Uncle Ji and his jeep pulled away. He’d told me to wait by the department store entrance, that he’d be back very soon having “fixed a day.” 

We’d arrived at one in the afternoon and spent about eight minutes inside, but it took him a whole three hours to return. During that time, hunger came over me like a storm. I longed to grab some food from the restaurant across the road, but I didn’t have a cent on me. I sat on the curb like an abandoned child, looking up at the sky, watching the passersby. When Uncle Ji got back, I thought, the first thing I’d do is get a bowl of noodles.

At a little past four, the jeep sputtered to a halt in front of me. Uncle Ji got out. His face was green, as if he’d just been punched. He stared at the department store, at the noodle stalls next to him, at the flow of people. After a moment’s hesitation, he said, “Let’s go. We can talk more at home.”

We got in. We went home.

More than two hours later, the jeep stopped by the wheat field. The last glimmers of sunset blazed like fire. Uncle Ji was a man of few words, but he managed to say, “Let’s never mention this again.” After dropping me off, he waved at my father, who was still harvesting, and said he was busy, so he wouldn’t stop by our home. 

In 1989 or 1990, by which time I was not only married but had a child of four or five, I was studying literature at the People’s Liberation Army Academy of Art in Beijing. We visited home that New Year, and on the second day, which is traditionally when you see your relatives, Uncle Ji—long since retired—came to our home with a gift basket. 

Smiling, he told me the Luoyang department store girl had seen an article about me in the Luoyang Daily—a color photo of me beneath the headline “Luoyang District Produces a Talent”—and she’d gone round to his place to complain that he never mentioned, back when he’d first introduced me, that I was a literature lover who wrote fiction. “She and her whole family regret turning you down. Well, let them regret it!” he chortled. Only then did I find out that the young woman was Uncle Ji’s niece. The reason I’d found her familiar is that she looked a lot like his eldest daughter.

After processing this new information, I smiled awkwardly at him.

All too often, an awkward smile after something ends carries its own kind of beauty.

*

After my fiction was published and I’d been promoted, I thought I had what it took to find a city wife, but in a mere three years I’d managed only to cause hurt and be hurt in return. After getting sneered at and turned down by several city girls, I found that rejection was its own form of consolation. 

Then, in late 1983, a friend introduced me to my wife. Not only was she from Kaifeng, a city, she was more beautiful and refined than all the girls I’d previously been set up with. My hesitation was that her parents, my would-be in-laws, had three boys but only one girl. They had made it clear that, after I left the army, they wanted us to remain in Kaifeng.

All that I’d dreamed of since I was a child was of escaping to the city, but the place where I truly hoped to settle was Luoyang, not faraway Kaifeng. And so we hesitated over some things, and silently accepted others, including each other’s hesitation. One day in 1984, my brother called me at my army camp in Shangqiu to say that our father had fallen seriously ill a few days earlier. He’d summoned my brother to his bedside and told him that the asthma that had plagued him for years would make it difficult to survive the cold and desolation of winter. After a lifetime of hard work, three of his four children were married, but it pained him that his youngest son remained a bachelor.

If only Lianke could be married, he said, even if the frigid air took him from us, he’d go with a lighter heart.

My brother and I, a few hundred kilometers apart, were quiet for a while. I heard his ragged breath, sorrowful and helpless. He must be in one of the post office phone booths in Song County, West Henan. Maybe he detected the ineffectual distress of his little brother in East Henan. Neither of us said a word.

Just as it felt like the silence might explode, my brother slowly said, “Look, go talk it over with them, and if it’s possible, then you should get married.”

With that, he hung up. The click sounded like a farmer feebly driving the hoe he’d used all his life into the soil at the end of the workday. I stared at the beads of my condensed breath on the receiver, then at the summer sky and trees in the courtyard outside the window. As I left the office, the bugle signaled the end of the day, and the klaxon summoned the division’s cadres to the cafeteria. I decided to skip dinner.

I looked up at the vast dome of the heavens, then at the plains of East Henan beyond the red brick wall. I reached into my pocket for my wallet, a sheet of folded cardstock, and counted my money. Then, without even going back to my dorm to get my stuff, I walked through the main gate of the camp. Toward the train station. I was getting married.

I was heading to Kaifeng, where I would say to my hesitant, accepting partner: Please marry me. I have to get married by the end of this year! That’s what fate has arranged for me. My father’s fate has decided mine. I wanted to tell her: If you say yes, we’ll be like any other husband and wife in the world. If you refuse, let’s part like a scattering flock of swallows, each flying in our own direction, and everything that passes between us will be no more than a random encounter in the street. 

Sprinting all the way, I managed to catch the bus. At the other end, I ran to catch the one o’clock train. Back then, the trip from Shangqiu to Kaifeng took about three hours. I bought a standing ticket and remained on my feet all the way. I can’t recall what anxieties filled my mind as we sped through the wide, sandy plains of East Henan, nor whether I had any thoughts about hunger, poverty, escape, and struggle as we passed by the dunes of Lankao County, pillowy as steamed buns. I arrived in Kaifeng. There was the hutong with the Temple of the Chief Minister, as described in The Water Margin, and I waited there in the sunset for my sweetheart to return from work.

When she showed up, I would reveal my cards and lay out my proposal before her.

There she was, on her bicycle. Spotting me at the hutong entrance, she froze for a second, abruptly braking. As if nothing was out of the ordinary, she asked, “Are you in town for work?”

I stood in that hutong, a couple of paces from her, and told her, as I’d planned, that my father was ill; I wanted to get married; this was all for his sake. She stood facing me. Between us was her bicycle, ready to advance or retreat. I searched her face but couldn’t tell if she was shocked or uneasy, happy or troubled. She worked at Kaifeng’s electric vehicle factory, where she excelled as a lathe technician. Her gray-blue uniform blended into the dusk sky. We stood there for a while. Eventually, she said with great propriety, “I need to go home and talk it over with my parents.”

She left slowly, pushing the bicycle ahead of her as if it were the unknowable future, walking rather than getting back in the saddle. I watched as her shadow stretched dozens of paces ahead of her, and I called out, “I’ll wait here for your answer!”

I don’t know if shouting after her could be considered coercing or threatening. She turned back to look at me, not nodding or saying anything, then walked away with deliberate steps.

I had a meal that served as both lunch and dinner at her street corner, on Chuigutai Road. It took me more than thirty minutes to pay for a ticket, stand in line, collect my large bowl of stewed noodles, and grab a window seat. By then, she’d come back and was standing in the doorway searching for me. She hesitated a moment, blushing, then told me that her parents had agreed: We could get married, and if my father were to die, my mother could live in the city with us, so we’d be able to take care of her. 

Without waiting for me to respond, she looked left and right, then turned to go. Having said her piece, she hurried away from that small roadside restaurant. Crystalline tears streamed from my eyes as I gazed down the narrow, mottled hutong, watching her departing form, full of thanks and affection for our fate, hers and mine. 

We were married on National Day that year, October 1, 1984. That winter, not long after our wedding, my father left us and this world that he had always cherished, just as he had foreseen.

I’ve gained so much from being married to her. As for what she’s gained or lost, how she’s benefited or missed out—she has never spoken about these things.

From Yan Lianke’s The Women, translated from the Chinese by Jeremy Tiang, to be published by Verso on October 27. 
Yan Lianke is the author of more than fifteen novels, as well as the memoir Three Brothers, translated by Carlos Rojas. In addition to The Women, his novel The Family Plot will be published by Grove in 2027, also translated by Jeremy Tiang. His Art of Fiction interview appeared in issue no. 256. 
Jeremy Tiang is a novelist and playwright who has translated more than thirty books from the Chinese. 

Nguồn bài viết gốc: The Paris Review. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Bài thơ cuối cùng của Prynne

Tác phẩm Single Tangle Mine (2026) của JH Prynne , Face Press. Ảnh do Ian Heames cung cấp.
Tác phẩm Single Tangle Mine (2026) của JH Prynne , Face Press. Ảnh do Ian Heames cung cấp.
Ryan Ruby | Ngày 7 tháng 10 năm 2026

Whenever I find myself in London, the first thing I do is go to the London Review Bookshop, down the street from the British Museum in Bloomsbury. I ask a bookseller to take me to the basement floor and open the supply closet. There, along with the shop’s buckets and mops and other cleaning supplies, are two shelves containing the latest sequences by the poet J. H. Prynne (1936–2026). Released in limited editions with print runs of between a hundred and two hundred and fifty copies by small presses in Cambridge, these beautifully designed and sometimes miniature chapbooks are kept in the supply closet in order, I assume, to prevent theft. I must have visited it half a dozen times since 2016, when Prynne was first recommended to me by a friend as a way of getting out of a particularly interminable reading slump.

Prynne saved poetry for me. Reading The White Stones (1969), rereleased that year by NYRB Poets, I experienced at thirty-three the same sense of wonder at what it was possible to do with the English language that I felt when I first read The Waste Land at fourteen, and Self-Portrait in a Convex Mirror at twenty-five. It was an experience that, at the time, I was worried I would never have again. Of course, I did not know then what we know now: that, entering his ninth decade, Prynne still had more than seven hundred pages of poetry in him; in other words, that there was more of his work yet to be read than had already been written, a late-in-life burst of literary activity comparable only to that of Friederike Mayröcker. Despite his age, Prynne never seemed to belong to a bygone era; his poems were always ultracontemporary, unless they were of the future. After I finished the great yellow brick of the third volume of his Poems—spanning Kitchen Poems (1968) and Al-Dente (2014)—he became the only living artist in any medium whose every new release I felt compelled to get my hands on as soon as it became available.

For whatever reason, my enthusiasm for the work did not translate into interest in the man. Even now, I find it difficult to conjure up an image of Prynne, or of what his voice sounded like—not that these were things he made widely available. Information about him—the disavowed first collection, Force of Circumstance (1962); the correspondences with Charles Olson and Ed Dorn; the rivalry between the avant-garde British Poetry Revival and the Movement represented by more mainstream poets like Philip Larkin and Kingsley Amis; the coterie of poets he established in Cambridge, where he was a librarian at Gonville & Caius College; the engagement with Chinese poetry and heterodox Maoism; the near-Talmudic commentaries on English poetry—reached me sporadically, like rumors. I think I knew that he was already in poor health when I put the Bloodaxe Books edition of Poems 2016–2024, a collection that includes the twenty chapbooks I took home from the supply closet along with sixteen others, at the top of my New York Times ballot for the best books of the first quarter of the twenty-first century. Otherwise, our one-way relationship was mediated exclusively by paper and ink.

It was only when Prynne died in Cambridge on April 22, at the age of eighty-nine, that I began to read about him, starting with the obituaries. Two months later, on my way back to Berlin from delivering a paper on Jeff Dolven—who, along with Joshua Kotin, interviewed Prynne for this magazine—at the University of St. Andrews, I stopped off in London to make one final pilgrimage to the supply closet. I read his last two sequences, Which Scarf Match, published in March, and Single Tangle Mine, published in early April, on the plane. When I reached “Foxglove Alimony,” the concluding poem of Single Tangle Mine and thus of his body of work, I did not feel what I sometimes feel when a great writer dies—that wistful ingratitude accompanying the knowledge that there is nothing more of this mind left to encounter. The reason, I suspect, is this: it will be many years before I, or anyone else for that matter, catch up with Prynne’s mind.

All easy poets are alike; each difficult poet is difficult in his or her own way. Prynne’s poetry cannot be discussed without reference to its difficulty. What drew me at first to poems like “The Numbers,” “Aristeas, in Seven Years,” and “L’Extase de M. Poher” was that their difficulty was of a type that I already knew and enjoyed. The early “philosophical songs”—in the words of the poet Keston Sutherland, one of Prynne’s ablest interpreters—feature recondite diction, spliced syntax, and open-field lineation; juxtapositions of prehistory and current events; the importation of the vocabularies of such discourses as geology, metallurgy, and economics; and the unattributed allusions to the poets of Greco-Roman antiquity, Chinese classics, and British Romanticism. All of these were familiar to me as a reader of Pound’s “Rock-Drill” and “Thrones” cantos, Olson’s Maximus Poems, and Dorn’s Gunslinger.

What I came to admire most about Prynne, however, was that he did not view this suite of “late Modernist” rhetorical gestures and techniques as the exhaustion of formal possibility. Once a decade, if not more often, he published a collection or sequence that would deliberately and recalcitrantly deepen the level of difficulty. The Oval Window (1983) puzzled everyone, until N. H. Reeve and Richard Kerridge, acting on information provided by Prynne himself, revealed some of its source materials. The “oval window” refers to a “rough opening” in a medieval stone house in Tinkler Crags, east of the Lake District and south of Hadrian’s Wall, whose ruins now stand on land owned by the Ministry of Defence. Prynne’s photo of the structure he describes as “not quite a cabin” appears on the cover of the first edition. That there are direct borrowings from the Bible, Ovid, Shakespeare, Wordsworth, and the poets of the tenth-century Chinese anthology Among the Flowers is one thing, but without Reeve and Kerridge’s annotations probably no one would have found out that “strips of brighter green” is taken from Sir Archibald Geikie’s 1904 Scottish Reminiscences or that “looping ahead with do and while” is taken from Brian Kernighan and P. J. Plauger’s 1974 technical manual The Elements of Programming Style, or that “smartly clad” is taken from an August 1983 review in the Times of a performance by the Texas rock trio ZZ Top. 

Trying to get a handle on Red D Gypsum (1998), a sequence from what was already being called Prynne’s “late-late” period, Nigel Wheale, to take another example, calls our attention to what is conspicuously absent from the poems: narrative, spatiotemporal context, speaking persona. Without these time-honored means of hermeneutic orientation at his disposal, Wheale instead examines the cover design; gives a brief geological, cultural, and etymological history of gypsum; and connects the appearance of financial terminology throughout the sequence to the epigraph, taken from a book on managing derivatives.

By the time we get to the thirty-five-line, five-sentence stanza of “Foxglove Alimony,” not only are there no pronouns to denote a speaker or addressee, there are no articles either; there are two, maybe three prepositions and a single conjunction. What remains are 155 words, fewer than half of which would figure into anyone’s daily vocabulary, whose parts of speech, grammatical mood, and tense are not always possible to determine with any certainty—to say nothing of which of the possible definitions is being used in a given instance, and which word or phrase is supposed to modify which. The result looks less like Chomsky’s “Colorless green ideas sleep furiously”—the sort of perfectly grammatical, but nonetheless nonsensical proposition beloved of the Surrealists and their imitators—as it does like this: 

             Redstart formaldehyde incessant kite
opaline gruesome pantechnicon, irritate mortal
arresting summitry decorate wallow oiled
filigree retrograde. Misted in
dewfall coral anthracite serpentine
castigate, arachnid pellucid canopy ecstatic; arrest
divested reduction phantom symptom curtains
ascertain fusion tunnel or
bangle, litany guitar abrogate synthetic
monumental, attentive petrel oceanic raffia
gratin portentous gentian portcullis languid bid.
Wayfaring judgment cadmium optimal
elevator trachea, irritating
marquetry insensible fictional passional
fabulative advancement; lancet pricket
wilderness—foxglove alimony shine
exacting forage haystacks
intrusion camphor, millstone subsequent prime.
Remittance pertinence grit
assumption partition ultimate cramp
genuflect greengage agony
cascading snowfall; imbricate persistent attune
panoply scattering howsomever coverlet antidote;
share alreadiness congruent alongside pant
refugee overland sledge silage imitate allocate.
Investigate emollient split cloudbank pursuant to
snail track forgiven evenly electoral, violet asserted;
openly colourant wrist matching held.
Pungent exclusive mastery, oblique additional veil
attraction cherished soon,
impartial sumptuous vacancy esteem
lobster franji-panji ocular courage essential
riotous precaution bouts
crewel; silverweed magnetic kindred sundered
intarsia buttermilk glabrous phoenix.

These words at first appear to be arranged according to a principle that is sonic rather than semantic. No poet, in my view, has come closer to realizing Pater’s dictum that “all poetry aspires to the condition of music” than the late-late-late Prynne. His enchanting, incantatory lyrics have been compared to the atonal compositions of Berg and Stockhausen, but I think they’re best captured by Ben Phillips’s description: “remixes of the dictionary.” I find reading a poem like “Foxglove Alimony” for sound rather than sense—what Kerridge calls “horizontal reading”—to be immensely satisfying, but nonetheless unsatisfactory on principle. Is it just too difficult to read vertically?

In one understanding of the term, a “difficult” poem is simply a poem that we do not yet know how to read. In fact, you might describe the vast proliferation of literary theories and methodologies during the twentieth century, from close reading to distant reading, as a series of complex hermeneutic machines invented for the purpose of making sense of the resistant language of Modernist writing, even if they were also put to other uses. In the annotated edition of The Oval Window, and in edited collections such as A Manner of Utterance (2009) and journals such as Glossator and Hix Eros, however, the first generation of Prynne’s critics has had recourse to an older tradition of textual interpretation: philology. They have adopted Prynne’s practice from his book-length commentaries on Shakespeare’s Sonnet 94, Herbert’s “Love (III),” and Wordsworth’s “The Solitary Reaper”—in which each semantic unit receives one or more paragraphs of historical contextualization and etymological analysis—to read Prynne himself.

Single tangle could refer to the design of a metal “pricket” candle sconce, a type of space manifold in geometric topology and knot theory, or a repetitive pattern drawn for the purpose of meditation in a New Age version of Zen. A “single tangle mine” could thus be read as a place out of which patterns are extracted. (Unless the sequence’s titular tangle is a “coil,” like Hamlet’s “mortal coil,” and “mine” is a possessive pronoun, such that the phrase means “my one life,” a not-unfitting title for a poet’s last collection, even a poet as impersonal as Prynne.) Following the lead of the aforementioned critics, I looked up every word in “Foxglove Alimony” to see what patterns I could discover there. 

What emerged was a series of lexical clusters—one of which, interestingly enough, concerned patterns, in the form of decorative handiwork: filigree, marquetry, crewel, intarsia. Others included the natural categories of Pliny the Elder, Carl Linnaeus, and twenty questions: animal (redstart, snail, kite, arachnid, coral, petrel, pricket, lobster, phoenix), vegetable (foxglove, raffia, haystack, greengage, silage, franji-panji, silverweed), and mineral or chemical (colourant, formaldehyde, anthracite, serpentine, synthetic, cadmium). Finally, I noticed a cluster of terms with medical associations, perhaps reflecting the conditions or setting in which Prynne was writing: trachea, camphor, emollient, ocular, lancet, cramp, phantom symptom, antidote, mortal. With regard to the last word, a pantechnicon (literally, “all the arts”) is a horse-drawn removal van named after a nineteenth-century company that sold carriages and furniture in London; perhaps it is called “gruesome” because the furniture removed by it will be the poet’s body, making it a hearse.

Of the many threads that might undo these knots, I’ll tug on the obvious one here. Foxglove is a flowering plant indigenous to the British Isles. Its campanulate petals are long enough for bees to disappear into, which is the function the flower serves in sonnets by Wordsworth and Keats, and in the first stanza of Prynne’s “Again in the Black Cloud” (1974), where “towards purple, the white bees / swarm out from the open voice gap.” Its flowers, seeds, and leaves contain a chemical compound that can be deadly for humans to ingest, but is also the active ingredient in a class of heart medications.  This would make the foxglove a kind of pharmakon, which readers of the Phaedrus will recall is the contronym Plato uses to describe writing, which he says is both the poison and the cure for memory. In Iron Age Celtic cultures, the flower, colloquially known as dead man’s bells and fairy gloves, was laid on graves to protect the dead on their trip to the underworld. On this reading, “foxglove alimony” would be the price one pays to the earth following one’s divorce from life. 

I suspect, however, that Prynne chose the Digitalis purpurea for its color. The word purple derives from the Greek word porphura, the name of the reddish-violet fabric dye, or “colourant,” made out of the “track” secreted by a gland of the sea “snail” Murex in the Phoenician city of Tyre. This, at least, is what connects the first and the last words of the poem: the “redstart,” or Phoenicurus phoenicurus, a bird that can be found in the Foxglove Covert, a nature reserve created on Ministry of Defence lands in North Yorkshire in 1992, and the “phoenix,” a bird that burns and rises from the ashes once every five hundred and forty years, which can be found as a symbol for the cyclical nature of time in nearly every folkloric system from the Nile to the Yangtze.   

As both Wheale and Beci Carver note in their respective commentaries on Red D Gypsum and Dune Quail Eggs (2021)—which, like a quail egg, is small enough to fit in the palm of one’s hand—no reading of a Prynne poem would be complete without considering the material features of the printed object in which it appears. The white cover of Single Tangle Mine features a circle made out of small black flecks. The same circular motif can be found on the last page, immediately following “Foxglove Alimony,” in a square image which depicts a cartoonish bird surrounded by the flowering branch it holds in its claws and its beak.   

Giustiniani riggiola featured in Single Tangle Mine. Courtesy of Ian Heames.

Curious about the image, I emailed Ian Heames—whose Face Press published Single Tangle Mine and many of the other Prynne chapbooks in my collection—to ask where he found it. He told me that it was a riggiola—or hand-painted majolica tile—probably eighteenth-century, from the Neapolitan ceramics firm Giustiniani. “I found it on eBay,” Heames wrote, “and it immediately staked a strong if somewhat occulted connection with the title of the book and the phoenix with which it ends.” There was “something oddly comic” about the bird’s pose, he added, “in a sawing-off-the-branch-you’re-sat-on sort of way.” 

Digging a little further, I learned that the designs of Nicola Giustiniani’s tiles were inspired by those on the walls on the floors of the villas that had just been excavated in Pompeii, which was destroyed when Mount Vesuvius erupted in 79 A.D. One of the casualties of that event was Pliny the Elder, who, as the commander of the Roman fleet in the Gulf of Naples, courageously led the rescue operations. Pliny’s ten-volume treasury of first-century scientific knowledge, the Naturalis Historia—which contains, among other things, much of our information about Tyrian dye production and the legendary phoenix—was in its final revisions when he died of smoke inhalation on the beach at nearby Stabiae. As for the image on the cover of Single Tangle Mine, Heames called it a wreath. Not of funerary cypress or even triumphal laurel, I thought, but of eternally recurring ash. 

Ryan Ruby is the author of Context Collapse: A Poem Containing a History of Poetry and The Zero and the One: A Novel. He is the recipient of the 2023 Silvers Prize for Literary Criticism from the Robert B. Silvers Foundation.

Nguồn bài viết gốc: The Paris Review. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Mỗi khi có dịp đến London, việc đầu tiên tôi làm là ghé thăm hiệu sách London Review, nằm trên cùng con phố với Bảo tàng Anh ở Bloomsbury. Tôi nhờ một người bán sách dẫn tôi xuống tầng hầm và mở kho chứa đồ dùng. Ở đó, cùng với xô, chổi lau nhà và các dụng cụ vệ sinh khác của cửa hàng, có hai kệ trưng bày những tập thơ mới nhất của nhà thơ J.H. Prynne (1936–2026). Được phát hành với số lượng giới hạn, mỗi tập chỉ in từ 100 đến 250 bản bởi các nhà xuất bản nhỏ ở Cambridge, những cuốn sách nhỏ được thiết kế đẹp mắt và đôi khi có kích thước nhỏ nhắn này được cất giữ trong kho chứa đồ dùng, tôi cho rằng là để tránh bị trộm. Tôi chắc hẳn đã ghé thăm nó đến nửa tá lần kể từ năm 2016, khi Prynne được một người bạn giới thiệu cho tôi như một cách để thoát khỏi tình trạng chán đọc kéo dài tưởng chừng như vô tận.

Prynne đã cứu rỗi thơ ca cho tôi. Khi đọc tập thơ Những Viên Đá Trắng (1969), được nhà xuất bản NYRB Poets tái bản năm đó, ở tuổi 33, tôi đã trải nghiệm cảm giác kinh ngạc tương tự về những gì có thể làm được với ngôn ngữ tiếng Anh như khi lần đầu đọc Vùng Đất Hoang ở tuổi 14, và Chân Dung Tự Họa Trong Gương Lồi ở tuổi 25. Đó là một trải nghiệm mà lúc đó tôi lo lắng mình sẽ không bao giờ có lại được. Tất nhiên, lúc đó tôi không biết những gì chúng ta biết bây giờ: rằng, bước sang thập niên thứ chín của cuộc đời, Prynne vẫn còn hơn 700 trang thơ; nói cách khác, tác phẩm của ông chưa được đọc còn nhiều hơn những gì đã được viết, một sự bùng nổ hoạt động văn chương ở tuổi xế chiều chỉ có thể so sánh với Friederike Mayröcker. Bất chấp tuổi tác, Prynne dường như không bao giờ thuộc về một thời đại đã qua; thơ của ông luôn cực kỳ hiện đại, trừ khi chúng thuộc về tương lai. Sau khi tôi đọc xong tập thơ thứ ba đồ sộ màu vàng của ông —bao gồm Kitchen Poems (1968) và Al-Dente (2014)—ông trở thành nghệ sĩ đương đại duy nhất trong bất kỳ lĩnh vực nào mà mỗi tác phẩm mới của ông đều khiến tôi cảm thấy thôi thúc phải sở hữu ngay khi có mặt trên thị trường.

Vì lý do nào đó, sự nhiệt tình của tôi đối với tác phẩm của ông không chuyển hóa thành sự quan tâm đến con người ông. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn khó hình dung ra hình ảnh của Prynne, hay giọng nói của ông nghe như thế nào—không phải là ông đã công khai những điều này. Thông tin về ông—tập thơ đầu tay bị từ chối, Force of Circumstance (1962); thư từ trao đổi với Charles Olson và Ed Dorn; sự cạnh tranh giữa phong trào Phục hưng Thơ ca Anh tiên phong và Phong trào được đại diện bởi các nhà thơ chính thống hơn như Philip Larkin và Kingsley Amis; nhóm các nhà thơ mà ông thành lập ở Cambridge, nơi ông làm thủ thư tại trường Gonville & Caius; sự gắn bó với thơ ca Trung Quốc và chủ nghĩa Mao dị giáo; những lời bình luận gần như mang tính kinh điển về thơ ca Anh—đến với tôi một cách rời rạc, như những lời đồn đại. Tôi nghĩ tôi đã biết ông ấy sức khỏe yếu khi tôi đưa ấn bản Poems 2016–2024 của nhà xuất bản Bloodaxe Books , một tuyển tập bao gồm hai mươi tập thơ nhỏ tôi lấy về từ kho đồ dùng văn phòng cùng với mười sáu tập khác, lên đầu danh sách bình chọn của tôi trên tờ New York Times cho những cuốn sách hay nhất trong quý đầu tiên của thế kỷ XXI. Ngoài ra, mối quan hệ một chiều giữa chúng tôi chỉ được truyền đạt qua giấy và mực.

Chỉ đến khi Prynne qua đời ở Cambridge vào ngày 22 tháng 4, ở tuổi 89, tôi mới bắt đầu tìm hiểu về ông, bắt đầu từ những bài cáo phó. Hai tháng sau, trên đường trở về Berlin sau khi trình bày một bài báo về Jeff Dolven—người cùng với Joshua Kotin đã phỏng vấn Prynne cho tạp chí này—tại Đại học St. Andrews, tôi đã dừng chân ở London để thực hiện một chuyến hành hương cuối cùng đến kho lưu trữ tác phẩm của ông. Tôi đã đọc hai chuỗi thơ cuối cùng của ông, Which Scarf Match , được xuất bản vào tháng 3, và Single Tangle Mine , được xuất bản vào đầu tháng 4, trên máy bay. Khi tôi đọc đến “Foxglove Alimony”, bài thơ kết thúc của Single Tangle Mine và do đó cũng là toàn bộ tác phẩm của ông, tôi không cảm thấy điều mà đôi khi tôi cảm thấy khi một nhà văn vĩ đại qua đời—nỗi nhớ nhung vô ơn đi kèm với nhận thức rằng không còn gì nữa về tâm hồn này để khám phá. Lý do, tôi nghi ngờ, là: sẽ phải mất nhiều năm nữa trước khi tôi, hoặc bất kỳ ai khác, có thể bắt kịp với tâm trí của Prynne.

Những nhà thơ dễ đọc đều giống nhau; mỗi nhà thơ khó đọc lại khó theo cách riêng của họ. Không thể bàn luận về thơ của Prynne mà không đề cập đến độ khó của nó. Điều thu hút tôi ngay từ đầu đến những bài thơ như “Những Con Số”, “Aristeas, trong Bảy Năm”, và “L’Extase de M. Poher” là độ khó của chúng thuộc loại mà tôi đã biết và yêu thích. Những “bài thơ triết học” thời kỳ đầu – theo lời của nhà thơ Keston Sutherland, một trong những người diễn giải tài giỏi nhất về Prynne – có đặc điểm là cách dùng từ khó hiểu, cú pháp chắp vá và lối viết dòng thơ phóng khoáng; sự đối lập giữa thời tiền sử và các sự kiện hiện tại; việc nhập khẩu vốn từ vựng của các ngành như địa chất, luyện kim và kinh tế; và những ám chỉ không rõ nguồn gốc đến các nhà thơ Hy Lạp-La Mã cổ đại, kinh điển Trung Quốc và chủ nghĩa lãng mạn Anh. Tất cả những điều này đều quen thuộc với tôi khi tôi đọc các khúc ca “Rock-Drill” và “Thrones” của Pound, tập thơ Maximus của Olson và cuốn Gunslinger của Dorn .

Tuy nhiên, điều tôi ngưỡng mộ nhất ở Prynne là ông không coi chuỗi các cử chỉ và kỹ thuật tu từ “Hậu Hiện đại” này như là sự cạn kiệt khả năng hình thức. Cứ mỗi thập kỷ, hoặc thường xuyên hơn, ông lại xuất bản một tuyển tập hoặc chuỗi tác phẩm mà cố tình và ngoan cố làm tăng thêm độ khó. Tác phẩm The Oval Window (1983) đã làm mọi người bối rối, cho đến khi NH Reeve và Richard Kerridge, dựa trên thông tin do chính Prynne cung cấp, đã tiết lộ một số tài liệu nguồn của nó. “Cửa sổ hình bầu dục” ở đây đề cập đến một “lỗ mở thô sơ” trong một ngôi nhà đá thời trung cổ ở Tinkler Crags, phía đông của Vùng Hồ và phía nam của Bức tường Hadrian, mà tàn tích của nó hiện nằm trên khu đất thuộc sở hữu của Bộ Quốc phòng. Ảnh của Prynne về công trình mà ông mô tả là “không hẳn là một căn nhà gỗ” xuất hiện trên bìa của ấn bản đầu tiên. Việc có những đoạn vay mượn trực tiếp từ Kinh Thánh, Ovid, Shakespeare, Wordsworth và các nhà thơ trong tuyển tập thơ Trung Quốc thế kỷ thứ mười ” Giữa những bông hoa ” là một chuyện, nhưng nếu không có những chú thích của Reeve và Kerridge, có lẽ sẽ không ai phát hiện ra rằng “những dải màu xanh lá cây tươi sáng hơn” được lấy từ cuốn ” Hồi ức Scotland ” năm 1904 của Sir Archibald Geikie , hay cụm từ “vòng lặp phía trước với do và while” được lấy từ cuốn cẩm nang kỹ thuật ” Các yếu tố của phong cách lập trình” năm 1974 của Brian Kernighan và PJ Plauger, hoặc cụm từ “ăn mặc chỉnh tề” được lấy từ bài đánh giá trên tờ Times tháng 8 năm 1983 về buổi biểu diễn của bộ ba nhạc rock Texas ZZ Top. 

Để hiểu rõ hơn về Red D Gypsum (1998), một chuỗi thơ được gọi là giai đoạn “cuối cùng” của Prynne, Nigel Wheale, lấy một ví dụ khác, đã chỉ ra những gì vắng mặt rõ rệt trong các bài thơ: tự sự, bối cảnh không gian-thời gian, và ngôi kể. Không có những phương tiện định hướng diễn giải truyền thống này, Wheale thay vào đó xem xét thiết kế bìa; đưa ra một lịch sử ngắn gọn về địa chất, văn hóa và từ nguyên học của thạch cao; và liên kết sự xuất hiện của thuật ngữ tài chính xuyên suốt chuỗi thơ với lời đề từ, được trích từ một cuốn sách về quản lý các công cụ phái sinh.

Đến khi chúng ta đọc đến khổ thơ 35 dòng, 5 câu của bài thơ “Foxglove Alimony”, không chỉ không có đại từ nào để chỉ người nói hay người được nói đến, mà cũng không có mạo từ; chỉ có hai, có thể ba giới từ và một liên từ duy nhất. Những gì còn lại là 155 từ, chưa đến một nửa trong số đó xuất hiện trong vốn từ vựng hàng ngày của bất kỳ ai, mà từ loại, thể ngữ pháp và thì của chúng không phải lúc nào cũng có thể xác định chắc chắn – chưa kể đến việc định nghĩa nào trong số các định nghĩa có thể được sử dụng trong một trường hợp cụ thể, và từ hoặc cụm từ nào được cho là bổ nghĩa cho từ hoặc cụm từ nào. Kết quả trông giống như thế này hơn là câu nói nổi tiếng của Chomsky “Những ý tưởng xanh không màu ngủ một cách giận dữ” – kiểu mệnh đề hoàn toàn đúng ngữ pháp nhưng vẫn vô nghĩa được những người theo chủ nghĩa Siêu thực và những người bắt chước họ yêu thích – mà giống như thế này: 

             Chim sẻ đỏ formaldehyde diều mờ
đục khủng khiếp pantechnicon, kích thích người chết
bắt giữ hội nghị thượng đỉnh trang trí đắm chìm dầu chạm khắc
tinh xảo thoái hóa. Sương mù trong
sương san hô than đá serpentine
trừng phạt, nhện tán cây trong suốt ngây ngất; bắt giữ
tước bỏ giảm triệu chứng ảo ảnh rèm cửa
xác định sự hợp nhất đường hầm hoặc
vòng tay, lời cầu nguyện guitar hủy bỏ tổng hợp
hoành tráng, chim hải âu chú ý đại dương raffia
gratin điềm báo gentian cổng thành uể oải đấu thầu.
Phán xét lang thang cadmium
thang máy tối ưu khí quản, kích thích
khảm gỗ vô cảm hư cấu đam mê
sự tiến bộ; dao nhọn đâm vào
vùng hoang dã—hoa mao địa hoàng tiền cấp dưỡng tỏa sáng
chính xác thức ăn gia súc đống cỏ khô
xâm nhập long não, cối xay đá tiếp theo chính.
Tiền gửi sự liên quan sự
kiên trì giả định phân vùng chuột rút cuối cùng quỳ gối mận
xanh đau đớn
tuyết rơi; chồng chéo dai dẳng
điều chỉnh toàn bộ rải rác tuy nhiên tấm phủ thuốc giải độc;
chia sẻ đã sẵn sàng phù hợp bên cạnh quần lót
người tị nạn xe trượt tuyết trên đất liền thức ăn ủ chua bắt chước phân bổ.
Điều tra chất làm mềm bị chia tách đám mây theo
dấu vết ốc sên được tha thứ một cách đồng đều trong cuộc bầu cử, màu tím được khẳng định;
cổ tay màu sắc phù hợp được giữ một cách công khai.
Sự thành thạo độc quyền cay nồng,
sự hấp dẫn của tấm màn bổ sung xiên được trân trọng sớm,
vị trí trống xa hoa công bằng, sự kính trọng
tôm hùm franji-panji, lòng can đảm thị giác thiết yếu
, sự phòng ngừa hỗn loạn, các trận đấu
thêu; rong biển bạc, từ tính, họ hàng, bị chia cắt
, khảm bơ sữa, chim phượng hoàng nhẵn nhụi.

Thoạt nhìn, những từ ngữ này dường như được sắp xếp theo một nguyên tắc thiên về âm thanh hơn là ngữ nghĩa. Theo tôi, không nhà thơ nào tiến gần hơn đến việc hiện thực hóa châm ngôn của Pater rằng “mọi thơ ca đều hướng tới trạng thái của âm nhạc” hơn Prynne ở giai đoạn cuối đời. Những lời thơ mê hoặc, đầy chất thần chú của ông đã được so sánh với những tác phẩm phi điệu tính của Berg và Stockhausen, nhưng tôi nghĩ chúng được mô tả chính xác nhất bằng lời của Ben Phillips: “những bản phối lại của từ điển”. Tôi thấy việc đọc một bài thơ như “Foxglove Alimony” để cảm nhận âm thanh hơn là ý nghĩa—điều mà Kerridge gọi là “đọc theo chiều ngang”—vô cùng thỏa mãn, nhưng về nguyên tắc vẫn chưa thỏa mãn. Phải chăng việc đọc theo chiều dọc quá khó?

Theo một cách hiểu, một bài thơ “khó hiểu” đơn giản là một bài thơ mà chúng ta chưa biết cách đọc. Trên thực tế, người ta có thể mô tả sự bùng nổ mạnh mẽ của các lý thuyết và phương pháp luận văn học trong thế kỷ XX, từ đọc kỹ đến đọc tổng quát, như một loạt các cỗ máy diễn giải phức tạp được phát minh ra nhằm mục đích hiểu được ngôn ngữ khó nắm bắt của văn học Hiện đại, ngay cả khi chúng cũng được sử dụng cho các mục đích khác. Tuy nhiên, trong ấn bản chú giải của The Oval Window , và trong các tuyển tập được biên tập như A Manner of Utterance (2009) và các tạp chí như Glossator và Hix Eros , thế hệ các nhà phê bình đầu tiên của Prynne đã viện đến một truyền thống diễn giải văn bản lâu đời hơn: ngữ văn học. Họ đã áp dụng cách làm của Prynne từ những bài bình luận dài tập của ông về bài thơ Sonnet 94 của Shakespeare, bài thơ “Love (III)” của Herbert và bài thơ “The Solitary Reaper” của Wordsworth—trong đó mỗi đơn vị ngữ nghĩa được dành một hoặc nhiều đoạn để phân tích bối cảnh lịch sử và nguồn gốc từ ngữ—để đọc chính Prynne. 

” Single tangle” có thể đề cập đến thiết kế của một giá nến kim loại hình “chân cắm”, một loại đa tạp không gian trong tôpô hình học và lý thuyết nút thắt, hoặc một mô hình lặp đi lặp lại được vẽ ra với mục đích thiền định trong một phiên bản Thiền tông thời đại mới. “Single tangle mine” do đó có thể được hiểu là một nơi mà từ đó các mô hình được trích xuất. (Trừ khi “tangle” trong tiêu đề của chuỗi là một “cuộn dây”, giống như “cuộn dây chết chóc” của Hamlet, và “mine” là một đại từ sở hữu, sao cho cụm từ có nghĩa là “cuộc đời duy nhất của tôi”, một tiêu đề không hề không phù hợp cho tập thơ cuối cùng của một nhà thơ, ngay cả một nhà thơ vô cảm như Prynne.) Theo gợi ý của các nhà phê bình đã đề cập ở trên, tôi đã tra cứu từng từ trong “Foxglove Alimony” để xem tôi có thể khám phá ra những mô hình nào ở đó. 

Những gì xuất hiện là một loạt các cụm từ vựng—một trong số đó, khá thú vị, liên quan đến các họa tiết, dưới dạng các sản phẩm thủ công trang trí: filigree , marquetry , crewel , intarsia . Những cụm từ khác bao gồm các phạm trù tự nhiên của Pliny the Elder, Carl Linnaeus, và hai mươi câu hỏi: động vật ( redstart , snail , kite , arachnid , coral , petrel , pricket , lobster , phoenix ), thực vật ( foxglove , raffia , haystack , greengage , silage , franji-panji , silverweed ), và khoáng chất hoặc hóa chất ( colourant , formaldehyde , anthracite , serpentine , synthetic , cadmium ). Cuối cùng, tôi nhận thấy một cụm thuật ngữ có liên quan đến y học, có lẽ phản ánh điều kiện hoặc bối cảnh mà Prynne đang viết: trachea , long não , chất làm mềm da , nhãn khoa , dao mổ , chuột rút , triệu chứng ảo , thuốc giải độc , mortal . Về từ cuối cùng, ” pantechnicon ” (nghĩa đen là “tất cả các loại hình nghệ thuật”) là một loại xe vận chuyển đồ đạc kéo bằng ngựa, được đặt tên theo một công ty thế kỷ XIX chuyên bán xe ngựa và đồ nội thất ở London; có lẽ nó được gọi là “ghê rợn” vì đồ đạc được vận chuyển bởi nó sẽ là thi thể của nhà thơ, biến nó thành một chiếc xe tang.

Trong số nhiều sợi chỉ có thể gỡ rối những nút thắt này, tôi sẽ chọn sợi chỉ hiển nhiên nhất. Hoa mao địa hoàng là một loài thực vật có hoa bản địa của quần đảo Anh. Những cánh hoa hình chuông của nó đủ dài để ong có thể chui vào, đó cũng là chức năng mà loài hoa này đảm nhiệm trong các bài thơ sonnet của Wordsworth và Keats, và trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ “Again in the Black Cloud” (1974) của Prynne, nơi “hướng về màu tím, những con ong trắng / bay ra từ khe hở giọng nói”. Hoa, hạt và lá của nó chứa một hợp chất hóa học có thể gây chết người nếu nuốt phải, nhưng cũng là thành phần hoạt chất trong một loại thuốc tim mạch. Điều này khiến hoa mao địa hoàng trở thành một loại dược chất (pharmakon) , mà những người đọc tác phẩm Phaedrus sẽ nhớ rằng đó là từ trái nghĩa mà Plato dùng để mô tả việc viết, ông nói rằng nó vừa là chất độc vừa là phương thuốc chữa trị trí nhớ. Trong các nền văn hóa Celtic thời kỳ đồ sắt, loài hoa này, thường được gọi là chuông của người chết và găng tay tiên, được đặt trên mộ để bảo vệ người chết trên hành trình xuống thế giới ngầm. Theo cách hiểu này, “tiền cấp dưỡng hoa mao địa hoàng” sẽ là cái giá mà người ta phải trả cho đất mẹ sau khi ly dị khỏi cuộc sống. 

Tuy nhiên, tôi nghi ngờ rằng Prynne đã chọn cây Digitalis purpurea vì màu sắc của nó. Từ ” tím” bắt nguồn từ từ “porphura ” trong tiếng Hy Lạp , tên của thuốc nhuộm vải màu đỏ tím, hay “chất tạo màu”, được làm từ “chất tiết” của tuyến ốc biển Murex ở thành phố Tyre của người Phoenicia. Ít nhất, đây là điều liên kết từ đầu tiên và từ cuối cùng của bài thơ: “chim chích đỏ”, hay Phoenicurus phoenicurus , một loài chim có thể tìm thấy ở Foxglove Covert, một khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập trên đất của Bộ Quốc phòng ở Bắc Yorkshire vào năm 1992, và “phượng hoàng”, một loài chim bốc cháy và hồi sinh từ tro tàn cứ sau mỗi 540 năm, được coi là biểu tượng cho tính chu kỳ của thời gian trong hầu hết mọi hệ thống văn hóa dân gian từ sông Nile đến sông Dương Tử.  

Như cả Wheale và Beci Carver đều lưu ý trong các bài bình luận tương ứng của họ về Red D Gypsum và Dune Quail Eggs (2021) — tác phẩm nhỏ gọn như trứng chim cút, vừa vặn trong lòng bàn tay — việc đọc một bài thơ của Prynne sẽ không trọn vẹn nếu không xem xét các đặc điểm vật chất của ấn phẩm mà bài thơ xuất hiện. Bìa trắng của Single Tangle Mine có một vòng tròn được tạo thành từ những chấm đen nhỏ. Họa tiết hình tròn tương tự có thể được tìm thấy ở trang cuối cùng, ngay sau bài thơ “Foxglove Alimony”, trong một hình vuông mô tả một con chim hoạt hình được bao quanh bởi cành hoa mà nó đang giữ trong móng vuốt và mỏ của mình.   

Tò mò về bức ảnh, tôi đã gửi email cho Ian Heames—người mà nhà xuất bản Face Press đã phát hành cuốn Single Tangle Mine và nhiều tập thơ khác của Prynne trong bộ sưu tập của tôi—để hỏi ông ấy tìm thấy nó ở đâu. Ông ấy nói với tôi rằng đó là một viên gạch men majolica vẽ tay —có lẽ từ thế kỷ XVIII, của hãng gốm sứ Giustiniani ở Naples. “Tôi tìm thấy nó trên eBay,” Heames viết, “và nó ngay lập tức tạo ra một mối liên hệ mạnh mẽ, dù có phần khó hiểu, với tiêu đề của cuốn sách và hình ảnh chim phượng hoàng ở cuối truyện.” Ông ấy nói thêm rằng tư thế của con chim có “điều gì đó kỳ lạ và hài hước”, “theo kiểu như đang cưa cành cây mà mình đang ngồi lên vậy.” 

Tìm hiểu sâu hơn một chút, tôi biết được rằng các thiết kế gạch của Nicola Giustiniani được lấy cảm hứng từ những họa tiết trên tường và sàn của các biệt thự vừa được khai quật ở Pompeii, thành phố đã bị phá hủy khi núi lửa Vesuvius phun trào vào năm 79 sau Công nguyên. Một trong những nạn nhân của sự kiện đó là Pliny Già, người chỉ huy hạm đội La Mã ở Vịnh Naples, đã dũng cảm dẫn đầu các hoạt động cứu hộ. Bộ sách mười tập về kiến ​​thức khoa học thế kỷ thứ nhất của Pliny, Naturalis Historia —trong đó có nhiều thông tin của chúng ta về sản xuất thuốc nhuộm Tyrian và chim phượng hoàng huyền thoại—đang trong giai đoạn chỉnh sửa cuối cùng khi ông qua đời vì ngạt khói trên bãi biển Stabiae gần đó. Còn về hình ảnh trên bìa cuốn Single Tangle Mine , Heames gọi đó là một vòng hoa. Tôi nghĩ, không phải là vòng hoa của cây bách tang lễ hay thậm chí là vòng nguyệt quế khải hoàn, mà là của cây tần bì trường tồn mãi mãi. 


Ryan Ruby là tác giả của Context Collapse: A Poem Containing a History of Poetry và The Zero and the One: A Novel. Ông là người nhận giải thưởng Silvers năm 2023 cho hạng mục Phê bình Văn học từ Quỹ Robert B. Silvers.

Viết tiểu thuyết? Giống như việc trở thành một nhà thiết kế thời trang. — Công báo Harvard

Viết lách, Douglas Stuart nói, rất giống thời trang.

“Trong thời trang, bạn luôn phải tạo mẫu,” tiểu thuyết gia từng đoạt giải thưởng, người đã dành hơn hai thập kỷ làm nhà thiết kế, cho biết. “Bạn bắt đầu với một giấc mơ, sau đó bạn phác họa nó bằng bút chì, rồi bạn ném bản phác thảo đó ra. Bạn vẽ nó bằng mực, rồi ném nó ra, rồi bạn vẽ nó theo cách mà người tạo mẫu có thể hiểu được. … Sau đó, tạo ra một nguyên mẫu, sau đó bạn có được phiên bản đầu tiên. Bạn khớp với nó và đó là quá trình làm lại liên tục một ý tưởng.”

Stuart đã đưa ra quan sát này trong cuộc trò chuyện gần đây tại Trung tâm Mahindra với Charlie Tyson, thành viên cấp dưới của Hiệp hội Nghiên cứu sinh Harvard, để thảo luận về cuốn tiểu thuyết thứ ba của nhà văn Scotland, “John of John,” được phát hành vào tháng Năm. Cuốn sách ghi lại câu chuyện của một người cha và con trai trong bối cảnh ngành dệt may ở Outer Hebrides.

Stuart đã trở thành một hiện tượng văn học đột phá với tác phẩm đầu tay đoạt giải Booker năm 2020, cuốn sách bán tự truyện “Shuggie Bain,” kể về một chàng trai trẻ ở Glasgow những năm 1980 khi anh phải đối mặt với nghèo đói, bạo lực và tình yêu gia đình phức tạp. Cuốn sách thứ hai của ông, “Young Mungo” năm 2022, là câu chuyện tình yêu giữa hai chàng trai trẻ thuộc các tôn giáo khác nhau, những người tìm thấy niềm an ủi ở nhau bất chấp bạo lực và đấu tranh kinh tế.

Khi bắt đầu viết “Shuggie”, Stuart cho biết anh đã tìm kiếm nguồn cảm hứng từ các nhà văn khác.

“Lúc đầu, tôi thực sự muốn trở thành Cormac McCarthy, và tôi đã bắt chước anh ấy, điều đó thật kinh khủng,” anh nói. “Và tôi thực sự nhận ra rằng, bạn chỉ cần sử dụng những gì mình có.”

Stuart lớn lên ở Glasgow dưới chính sách thị trường tự do của Chủ nghĩa Thatcher, chính sách này đã đẩy nhanh sự suy thoái của ngành công nghiệp và khai thác than do nhà nước bảo trợ, đồng thời dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao. Anh chứng kiến ​​anh trai mình và những người cùng thế hệ đấu tranh để tìm chỗ đứng kinh tế.

Stuart cho biết anh đã tận dụng những cơ hội mà anh trai mình không có, theo học trường nghệ thuật và lấy bằng cử nhân tại Trường Cao đẳng Dệt may Scotland và lấy bằng thạc sĩ thiết kế tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hoàng gia ở London.

“Shuggie Bain” đã thành hình trong hơn một thập kỷ, khi Stuart cân bằng công việc tại một số hãng thời trang ở Thành phố New York. Vào năm 2019, khi cuốn sách của anh ấy chuẩn bị xuất bản, anh ấy đã nghỉ việc thiết kế và chuyển sang viết văn toàn thời gian.

Đó là lúc những hạt giống đầu tiên của “John of John” được gieo trồng.

“Phải mất 18 tháng để xuất bản một cuốn sách, và khoảng ba tháng sau đó, tôi đã làm việc cả đời, vì vậy tôi bắt đầu trở nên mất tập trung và lo lắng, và một ngày nọ, tôi nói với chồng mình, ‘Em nghĩ em sẽ đi đến Hebrides,’” Stuart nói. “Anh ấy nói, ‘Được rồi…’ anh ấy rất muốn thoát khỏi tôi và sự lo lắng của tôi.”

“Sau hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi về bạo lực băng đảng và về sự suy tàn của thành phố, tôi cũng muốn chứng tỏ rằng tầng lớp lao động rất có khả năng yêu cái đẹp dưới mọi hình thức.”

Douglas Stuart

Stuart cho biết chuyến lưu trú, bắt đầu như một cách để khám phá đất nước của anh, đã biến thành một chuyến đi nghiên cứu.

“Tôi tưởng tôi sẽ viết một câu chuyện về sự trở về. Bạn đã ra đi. Bạn đã nhìn thấy một phần thế giới. Bạn đang trở về nhà ở một thị trấn nhỏ.”

“John of John” theo chân Cal, một chàng trai trẻ trở về ngôi làng trên đảo nhỏ của mình với lý do chăm sóc bà ngoại ốm yếu Ella. Nhưng trên thực tế, đó là cơ hội để Cal tốt nghiệp trường nghệ thuật kết nối với cha mình – một thợ dệt làm việc trong ngành sản xuất vải tuýt truyền thống. Cả hai người đàn ông đấu tranh để chia sẻ cuộc sống của họ với nhau và tìm cách kết nối thông qua nghề này.

Stuart nói: “Tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết về những người đàn ông thuộc tầng lớp lao động yêu cái đẹp. “Đó là một trong những điều đầu tiên tôi muốn làm. Sau hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên về bạo lực băng đảng và về sự suy tàn của thành phố, tôi cũng muốn chứng tỏ rằng tầng lớp lao động rất có khả năng yêu cái đẹp dưới mọi hình thức.”

Cal và cha anh có chung tình yêu với màu sắc và sự sáng tạo. Đảo Harris, nơi họ sinh sống, bị thống trị bởi những cư dân (bao gồm cả cha của Cal) với niềm tin sùng đạo theo đạo Tin lành và đạo Calvin. Cả hai cha con đều kỳ quặc – một sự thật mà mỗi người đều giấu kín với nhau.

Stuart nhớ lại khoảnh khắc cuốn sách thực sự thành hình trong chuyến đi đến quần đảo này.

Anh nhận thấy nhiều người đàn ông lớn tuổi mà anh gặp đều độc thân. Nói chuyện với một phụ nữ địa phương, anh ấy nói rằng anh ấy nghĩ một số người trong số họ chắc chắn là người đồng tính.

“Và người phụ nữ nhìn tôi, lùi lại một chút và nói: ‘Điều đó không thể xảy ra”, anh nói. “Và tôi nghĩ, trong khoảnh khắc đó, vấn đề không phải là về người con trai trở về nhà, mà là về người cha mà anh ta đã bỏ lại. Mà là về những người đàn ông và phụ nữ đã đánh mất sự tiến bộ của mình theo cách đó.”


Nguồn bài viết gốc: Arts & Culture Archives — Harvard Gazette. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Tuần xem xét

Tom_Sawyer_1876_frontispiece-1024x691
Tom_Sawyer_1876_frontispiece-1024x691

Những câu chuyện đáng chú ý gần đây:

“Tên khốn vĩ đại của nước Mỹ”
Dorothea Israel Wolfson, Claremont xét sách

Trong một bài luận dành cho Claremont xét sách đánh dấu kỷ niệm 100 năm của Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer Dorothea Israel Wolfson lưu ý rằng cuốn tiểu thuyết đã nắm bắt được “điều gì đó thiết yếu về tính cách người Mỹ”. Wolfson cho rằng, bất chấp vẻ ngoài của chúng trông như thế nào, những trò trốn tránh thời niên thiếu của Tom, Wolfson lập luận, đều táo bạo và hào hiệp theo đúng nghĩa của chúng: anh ấy “không chỉ làm bừng sáng thị trấn bằng cuộc nổi loạn kỳ quái của mình mà còn bảo vệ nó bằng những hành động anh hùng của mình”. Các nước châu Âu có văn hóa dân gian và những anh hùng thần thoại của riêng họ, nhưng nước Mỹ có thể khẳng định “anh hùng cậu bé chân đất, vùng rừng sâu, Tom Sawyer”.

“Văn hóa giết cha mẹ”
Ephraim Radner, Điều đầu tiên

Ephraim Radner đề cập đến than thở—một thuật ngữ âm nhạc để chỉ những tác phẩm tôn vinh những người thầy đã khuất của các nhà soạn nhạc thời Trung cổ và Phục hưng—trong một bài tiểu luận cảm động dành cho Điều đầu tiên khám phá “phước lành của sự thừa kế.” Radner lập luận rằng thay vì từ chối những mối liên kết giữa chúng ta (cha mẹ và con cái, thầy và trò), chúng ta phải tôn vinh chúng. Những mối quan hệ này cấu trúc nên thế giới của chúng ta. “Bạn và tôi là những người mở rộng,” anh ấy viết, “không phải những dòng dõi mới được tạo ra từ hư không.” các than thởkhi đó, sẽ đóng một vai trò trong cuộc sống đương đại: Radner khẳng định, “chính lời than thở hướng dẫn người sống về cảm giác và hành vi đúng đắn.”

“’Hãy bám sát thành phố!’”
Josiah Osgood, Tạp chí văn học Times

TRONG Tạp chí văn học TimesJosiah Osgood ca ngợi cuốn tiểu sử mới của nhà cổ điển Catherine Edwards Nhà hùng biện: Cuộc đời của Cicero và sự kết thúc của nền Cộng hòa La Mã. Osgood xác định khó khăn trong việc tạo ra một lịch sử toàn diện về Cicero: “Sản phẩm của anh ấy quá rộng rãi, nó có thể khiến những người viết tiểu sử choáng ngợp.” Điều này khiến một số người chỉ che đậy lịch sử của ông với tư cách là một chính khách. Nhưng Edwards tập trung vào các khía cạnh khác trong cuộc sống của con người: Cicero nổi tiếng với tư cách là nhà hùng biện trong các phiên tòa hình sự ở Rome, và sau khi trở thành một chính khách, ông đã viết những chuyên luận chính trị đã truyền cảm hứng cho các chính trị gia và triết gia trong suốt lịch sử. Osgood ca ngợi sự chú ý của Edwards đến sự phức tạp trong cuộc sống và công việc của Cicero cũng như những lời kêu gọi Nhà hùng biện “cuốn tiểu sử đáng chú ý của Cicero và một hướng dẫn sâu sắc về thế giới của anh ấy.”


Nguồn bài viết gốc: The New Criterion. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Sống lại năm 2020 qua tiểu thuyết – Harvard Gazette

Leah De Forest. Photo by Adrianne Mathiowetz
Leah De Forest. Photo by Adrianne Mathiowetz

Đầu cuốn tiểu thuyết đầu tay của Leah De Forest, người dân New York dừng lại để chiêm ngưỡng những hạt mưa béo ngậy nhìn từ phía cửa sổ thoải mái. Thật khốn khổ khi bị mắc mưa mà không có ô, nhưng qua kính thì đẹp.

“Và chẳng phải có rất nhiều thứ sao?” De Forest viết trong “Bất kỳ loại ngày mai nào đã biết” xuất bản ngày 15 tháng 9. “Đẹp không chỉ từ xa mà còn từ Phải khoảng cách.”

Cuốn tiểu thuyết diễn ra vào những ngày đầu siêu thực của đại dịch COVID-19, thời điểm của những chiếc khẩu trang tạm bợ, những cửa hàng tạp hóa được lau bằng thuốc tẩy và tự hỏi mọi chuyện sẽ tồi tệ đến mức nào. Phim kể về bốn người phụ nữ – một cô con gái, một người mẹ và một người bà, cùng với một vị khách bất ngờ – bị nhốt trong một căn hộ ở Thành phố New York trong những tuần áp dụng lệnh phong tỏa. Cuốn sách này tham gia vào một danh mục tiểu thuyết ngày càng phát triển đề cập đến thời kỳ kỳ lạ đó, bao gồm “Transcription” của Ben Lerner, “Tom Lake” của Ann Patchett và “Our Country Friends” của Gary Shteyngart.

De Forest, giảng viên và cố vấn học thuật tại Trường Khuyến nông Harvard, nói về những thách thức và khả năng tái hiện lại đại dịch trong tiểu thuyết. Cuộc phỏng vấn đã được chỉnh sửa cho rõ ràng và dài.


Gazette: Điều gì khiến bạn muốn tham gia vào thời điểm đặc biệt của đại dịch đầu tiên?

Rừng Leah De: Tôi thực sự đã bắt đầu viết cuốn sách này vào năm 2018. Bản thảo mà tôi hoàn thành vào năm 2019 lấy bối cảnh ở Thành phố New York, thường liên quan đến sự dịch chuyển và sự thuộc về, và nó kể về một nhân vật đang phải vật lộn với một căn bệnh mới.

Vào năm 2020, tôi bắt đầu thực hiện bản dự thảo tiếp theo – và thay đổi hướng đi để giải quyết những gì đang diễn ra trên thế giới. Mọi thứ đều cảm thấy không ổn định vào thời điểm đó và tôi quan tâm đến cách mọi người đối phó với điều đó. Phủ nhận, lo lắng, rút ​​lui: Tôi chắc chắn rằng tất cả chúng ta đều đã thấy rất nhiều phản ứng khác nhau. Tôi lấy các nhân vật của mình và khám phá cách mỗi người trong số họ chuyển hóa trong những tuần đầu đó.

Bạn có lo lắng rằng độc giả sẽ không sẵn sàng hoặc không muốn xem lại khoảng thời gian căng thẳng và khó khăn như vậy không?

Khi bạn viết một cuốn sách, bạn đang viết câu chuyện trước mắt bạn. Đây là những gì đã ở trước mặt tôi. Sau này, bạn có thể bắt đầu suy nghĩ xem liệu có độc giả đọc sách hay không và thị trường sẽ như thế nào.

Tiểu thuyết luôn là một phần quan trọng trong cách tôi xử lý thế giới. Văn học có vai trò liên tục trong việc thể hiện nhiều trải nghiệm – tôi nghĩ bao gồm cả đại dịch đã ảnh hưởng đến rất nhiều người. Bất kỳ cuốn sách nào cũng chỉ có thể kể được một phần của bất kỳ sự kiện hoặc trải nghiệm nào, phải không? Tôi hy vọng rằng khi mọi người bắt đầu cảm thấy sẵn sàng đọc về đại dịch, họ sẽ tìm được những cuốn sách phù hợp với mình.

Bạn nghĩ gì về thể loại văn học phụ về COVID-19 xuất hiện trong vài năm gần đây?

Nhìn lại, đại dịch có thể giống như một loại bong bóng. Chúng tôi đã cùng nhau bước vào khoảng thời gian kỳ lạ này, và rồi đến một thời điểm nào đó – và chính xác là thời điểm đó đối với mọi người là khác nhau, và đối với một số người, điều đó tất nhiên vẫn đang tiếp diễn – chúng tôi đã bước ra khỏi thời điểm đó. Khi mới bắt đầu nói chuyện với mọi người về cuốn sách này, tôi nhận thấy rằng mọi người thường có một câu chuyện để kể. Có thể là, “Tôi trở về nhà để ở bên gia đình lần đầu tiên sau một thập kỷ và chúng tôi đã cãi nhau suốt thời gian qua” hoặc “Tôi phải cách ly trong phòng ngủ thời thơ ấu của mình”. Và tất nhiên là có rất nhiều mất mát. Có rất nhiều thứ để xử lý.

“Chúng ta đã cùng nhau bước vào khoảng thời gian kỳ lạ này, và rồi đến một thời điểm nào đó – và chính xác thì đó là thời điểm khác nhau đối với mọi người, và đối với một số người, điều đó tất nhiên vẫn đang tiếp diễn – chúng ta đã bước ra khỏi thời điểm đó.”

Ví dụ, về những cuốn sách ngoài kia, tôi ngưỡng mộ cách mà “Tom Lake” của Ann Patchett nắm bắt được cảm giác cô lập mà mọi người cảm thấy trong thời kỳ đại dịch – và cách mà gia đình trong cuốn sách đó phải rút lui. Theo một cách nào đó, nhu cầu bị cô lập đã khiến gia đình quay trở lại với chính nó.

Cuốn sách của bạn kể về ba thế hệ phụ nữ trong gia đình Parris, mỗi thế hệ đương đầu với đại dịch theo những cách khác nhau, vì vậy hãy kể cho tôi nghe một chút về những người phụ nữ đó.

Hadley Parris, người mẹ, lúc đầu tin chắc rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi. Có thể hiểu được, cô ấy nghĩ, “Chà, chắc chắn điều này không thể xảy ra được.”

Mẹ của Hadley, Aileen, bị ám ảnh bởi tin tức này. Cô ấy theo dõi mọi thứ từng chút một – theo một cách nào đó, cô ấy bị mê hoặc bởi màn trình diễn cũng như thực tế. Tuy nhiên, thời gian trôi qua, cô ấy sợ hãi. Và Isabelle, một trong những nhân vật trẻ hơn, nói chung là lo lắng về tương lai, vì vậy đối với cô, đó là sự xác nhận cho điều cô đã biết: Mọi thứ thật tồi tệ. Có sự căng thẳng giữa các nhân vật, bởi vì bạn có một người nói, “Mọi thứ sẽ ổn thôi” và một người khác nói, “Đợi đã, tôi thực sự không nghĩ chuyện này sẽ ổn.”

Nhân vật chính thứ tư, Anna, là một cô gái tuổi teen được gia đình Parris nhận vào lúc cần thiết. Nhưng Anna cần tiếp tục làm việc bên ngoài nhà để kiếm sống, điều mà Aileen coi là rủi ro phơi bày ích kỷ. Hãy nói với tôi về sự căng thẳng đó.

Tôi luôn quan tâm đến việc các yếu tố cấu trúc, chẳng hạn như giai cấp, ảnh hưởng như thế nào đến cách mọi người tương tác. Trong trường hợp của Aileen, cô ấy không hiểu được quan điểm của người khác, mặc dù đôi khi cô ấy cũng cố gắng. Điều đó khiến cô ấy trở nên thú vị khi làm việc cùng vì cô ấy thường hiểu nhầm chuyện gì đang xảy ra và gặp khó khăn trong việc hiểu cảm xúc của người khác. Trong tình huống này, mặc dù cuối cùng cô ấy có thể hiểu rằng việc một người nào đó bỏ việc là không thể, nhưng cô ấy sẽ thực sự đấu tranh để cảm thấy Tại sao.

Thông qua người kể chuyện toàn tri của mình, bạn cũng nhập tâm vào suy nghĩ của những người khác trên thế giới này, người đàn ông ở bến xe buýt, một y tá ở bệnh viện. Tại sao bạn chọn đến thăm những thế giới quan khác này?

Đại dịch nhắc nhở chúng ta rằng tất cả chúng ta đều được kết nối với nhau như thế nào. Mọi người gắn bó với các nhóm và khu dân cư; trong nhiều trường hợp, đó là một trải nghiệm được chia sẻ. Nhưng theo những cách khác, chúng tôi thực sự bị cô lập. Trải nghiệm không giống nhau đối với mọi người. Về mặt cuốn sách, có một sự căng thẳng thú vị: Những nhân vật này ở trong một không gian rất hạn chế, nhưng cả thế giới rộng lớn luôn ở ngay ngoài đó, ảnh hưởng đến tất cả họ một cách rất trực tiếp, theo những cách mà họ không phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy.

Với mỗi nhịp đập của trái tim, mỗi khoảnh khắc chúng ta đang sống, có rất nhiều điều đang diễn ra. Tất nhiên, trong cơ thể của chúng ta, cũng như trong gia đình, cộng đồng của chúng ta và hơn thế nữa. Viết theo cách này ít nhất cho phép tôi tưởng tượng rằng tôi có thể tiếp cận được phần nào sự phức tạp đó. Một người kể chuyện toàn tri có thể nắm bắt được cảm giác về phạm vi mà không phải lúc nào bạn cũng có được khi bạn đang sống trong thời điểm hiện tại. Và tôi thực sự thích làm việc ở chế độ này. Đó là sự tưởng tượng lý tưởng, phải không? Giống như việc đi dự một bữa tiệc tối và có thể đọc được suy nghĩ của mọi người tại bàn ăn, những gì mọi người đang nghĩ và không nói với người khác – cũng như phóng vào chiếc Toyota Corolla đang chạy ngang qua, xem chuyện gì đang diễn ra trong đó và có thể phóng to vào một nhà kho ở xa, nơi ai đó đang đóng gói bông cải xanh, tất hoặc phụ tùng xe đạp.

Cuốn sách và các nhân vật của nó đều đang vật lộn với sự không chắc chắn theo cách riêng của họ. Bạn hy vọng độc giả rút ra được điều gì về cách chúng ta có thể liên hệ với cảm giác khó chịu khi không biết?

Có rất nhiều điều trên thế giới này không chắc chắn và tôi nghĩ tất cả chúng ta phải tìm cách chung sống với điều đó. Tôi không có câu trả lời đơn giản về cách thực hiện, đó có lẽ là lý do tại sao tôi viết một cuốn sách về vấn đề này. Nhưng tôi sẽ nói điều này: Những cuốn sách tôi yêu thích nhất cho tôi thấy điều gì đó mà tôi nhận ra trên thế giới và có lẽ vẫn chưa thể hiện rõ ràng cho chính mình. Tôi hy vọng rằng những độc giả quan tâm đến việc kiểm tra sự không chắc chắn và các mối quan hệ phức tạp giữa mẹ và con gái cũng như những cách kỳ lạ và đôi khi đáng kinh ngạc mà tất cả chúng ta kết nối với nhau có thể tìm thấy một số điều đó trong cuốn sách này.


Nguồn bài viết gốc: Arts & Culture Archives — Harvard Gazette. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.

Đặc Sắc Thơ Tháng 9 Năm 2026


Tháng này, chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến các bạn những bài thơ của BRIONNE JANAE , GRAY DAVIDSON CARROLL và WILBERT TURNER III .

Mục lục
  • Brionne Janae, “Bạn phải bước qua thung lũng cô đơn đó”
  • Gray Davidson Carroll, “Aubade, hay Ars Poetica trong vai đàn ông”
  • Wilbert Turner III, “Nỗi tuyệt vọng của kẻ liều lĩnh”
Từ trái sang phải: Brionne Janae, Gray Davidson Carroll và Wilbert Turner III.Ảnh tác giả: Brionne Janae, Gray Davidson Carroll và Wilbert Turner III

BẠN PHẢI ĐI BỘ TRONG THUNG LŨNG CÔ ĐƠN ẤY –

Tác giả: Brionne Janae | ~ dựa trên tiểu thuyết Mississippi của John Hurt

            Và bạn đã vượt qua nó như thế nào?
            Và bạn có giữ được không? Bạn có giữ được tinh thần của mình không?

Bạn phải tự mình đi bộ mới biết được.

Và khi trở về, bạn thấy nó trong tình trạng như thế nào?
            Ý bạn là bạn đang ở trong tình trạng nào?
            Bạn có còn ở nơi bạn đã rời đi không?
            Và còn ai ở lại?
            Có ai còn ở lại không?
            Và bạn chắc chắn đến mức nào rằng bạn có thể liên lạc được với họ?

Không ai khác có thể đi thay bạn được đâu.

            Tôi chỉ muốn hỏi ai đã giữ cơ thể bạn
            , và nếu không phải bạn thì ai hoặc cái gì đã giữ nó?
            Và họ đã giữ nó như thế nào ?
            Tôi muốn hỏi liệu có đau không khi họ giữ bạn, và họ đã giữ bạn như thế nào
            khi họ giữ bạn lại?

Bạn phải tự mình đi qua thung lũng đó.        

            Và liệu hai người có luôn ở bên nhau khi tìm thấy
            thi thể của mình không? Nếu thực sự tìm thấy nó?
            Trái tim của bạn vẫn còn đập trong lồng ngực chứ?
            Hay nó đã tan vỡ? Nó có tan tác như
            những chiếc lá gãy không?
            Và bạn có nhận ra mình có thể hàn gắn nó không?
            Bạn có đủ khả năng để hàn gắn nó không?
            Chắc chắn bạn không cần phải làm điều đó một mình chứ?

           


Aubade, hay Ars Poetica như những con người –

Tác giả: Gray Davidson Carroll | Ngày 18 tháng 8 năm 2025, Springfield , Massachusetts

Ở đây, những người đàn ông trên chuyến tàu Amtrak này, cả hành khách và phi hành đoàn, đều quen biết nhau
. Họ chào hỏi nhau dưới ánh
nắng ấm áp của cuối tháng Tám khi chúng tôi bước từ sân ga lên toa tàu.

Giovanni hiện đang ở New Haven, vẫn đang nghỉ phép sau khi
con anh ấy chào đời. Con gái của Jason đang bắt đầu năm thứ hai
đại học, sống ở Boston với sáu người bạn cùng phòng khác.

Với giá trứng hiện nay, thật khó tưởng tượng có
cách nào khác. Ed, cầu Chúa phù hộ cho cậu ấy, còn ba tháng
điều trị xạ trị nữa trước khi được xác nhận hoàn toàn khỏi bệnh.

Vỗ lưng, siết vai, lắc đầu –
thời gian trôi qua thật nhanh. Và rồi tiếng còi vang lên,
vang vọng từ giữa những kẽ răng trắng muốt.


Desperado Despair (Tuyệt vọng của kẻ liều lĩnh)

Tác giả: Wilbert Turner III

Tôi không hẳn muốn được yêu thương.
Tôi chỉ muốn được phép
yêu thương một ai đó.

Tôi sinh ra ở thành phố của tình anh em
nhưng tôi không có anh em trai
nên không thể yêu thương họ.

Tôi được đặt tên theo ông nội,
mặc dù chẳng ai dạy tôi cách
yêu thương một hồn ma không hề ám ảnh mình.

Ông ấy để lại một người em trai,
chú David của cha tôi.
Mỗi Chủ nhật, chú ấy đều giảng đạo
không phải về tình yêu mà về những ngọn lửa
suýt thiêu rụi Meshach Shadrach
và Abednego.

Đúng vậy, đó là chú David của bố tôi,
người không bao giờ bỏ lỡ cơ hội nói với tôi rằng
tôi trông rất giống người anh trai đã mất của ông ấy.

Và người anh trai đó đã nhét những viên bi
vào tai David
như một ảo thuật gia vụng về đang cố gắng
tìm kiếm tiếng la hét thay vì tiếng vỗ tay.

Tôi luôn cảm thấy việc yêu anh ấy là điều phạm pháp.
Nhưng tôi có thể yêu những thứ khác.
Chủ yếu chỉ là những thứ vật chất.

Danh sách những thứ tôi được phép yêu thích:
Cạnh tranh, Sự vô cảm, Chửi rủa,
Giới hạn, Giận dữ, Tàn bạo, Sự táo bạo,
Nước Mỹ.
Luôn luôn là nước Mỹ chết tiệt.

Ông nội tôi đã hít thở từng hơi thở
và trải qua từng khoảnh khắc được nhào nặn bởi nước Mỹ.
Ông chưa bao giờ rời bỏ đất nước.
Thế nhưng, tôi không thể yêu thương ông.

Tôi phải hỏi: Phải chăng nước Mỹ vĩ đại nhất
chỉ đơn giản vì ngọn lửa của nó rực rỡ nhất?
Bởi vì tôi rất muốn yêu một ngọn lửa
, nhưng ngọn lửa Mỹ luôn lướt qua kẽ tay tôi trơn trượt hơn cả băng.

Và nếu có bao giờ tôi cất tiếng ca ngợi nước Mỹ,
thì hãy biết rằng đó là một bản ballad pha trộn
giữa những lời tán dương ngọt ngào và chua chát.

Tôi có một người bà mà tôi rất yêu thương.
Và tôi vẫn luôn yêu thương bà.
Nhưng liệu bạn có thể yêu thương ông bà, cha, chú,
bác hay mẹ không?
Liệu bạn có thể yêu thương bất cứ ai ngoài những vai trò đó không?

Nếu vai trò của họ giờ là “bóng ma”,
liệu bạn vẫn có thể yêu thương họ không?


Brionne Janae là một nhà thơ và nghệ sĩ giảng dạy sống ở Brooklyn cùng với hai chú chó của mình. Họ là tác giả của Because You Were Mine (2023), được đề cử giải Lambda Literary Award hạng mục Thơ đồng tính nữ, Blessed are the Peacemakers (2021), đoạt giải Cave Canem Northwestern University Press Poetry Prize năm 2020, và After Jubilee (2017). Brionne là một người nhận học bổng NEA Creative Writing năm 2023, cựu sinh viên của Hedgebrook và là một người nhận học bổng Cave Canem danh giá.
Gray Davidson Carroll là một nhà văn, vũ công, ca sĩ, người chuyên dùng dụng cụ thông tắc bồn cầu bằng nước lạnh và (tự xưng) là nhà giả kim thuật sôcôla nóng, da trắng , chuyển giới nữ, đến từ Brooklyn qua miền tây Massachusetts và những nơi kỳ lạ và bị lãng quên khác. Tác phẩm của họ đã được đăng tải hoặc sắp được đăng tải trên Rattle, The Common, ONLY POEMS, Offing và nhiều nơi khác.
Wilbert Turner III là một nhà văn người Mỹ gốc Phi, sinh ra và lớn lên ở Nam Philadelphia. Ông là người đồng dẫn chương trình và phụ trách chuỗi sự kiện đọc sách Sunday Salon NYC từ năm 2023. Ông viết về những người biến những không gian bên lề thành những không gian quyền lực. Tốt nghiệp Đại học St. John's ở Queens và Trường New School ở Manhattan, hiện ông đang sống ở Brooklyn cùng vợ.

Ngay từ đầu,  The Common  đã mang đến cho bạn những tác phẩm văn học đầy cảm xúc và những giọng văn mới mẻ đầy thú vị. Chúng tôi cam kết hỗ trợ các tác giả và duy trì quyền truy cập miễn phí, không giới hạn vào trang web của mình, nhưng chúng tôi không thể làm được điều đó nếu thiếu sự hỗ trợ của bạn. Hãy trở thành một phần không thể thiếu của cộng đồng độc giả và nhà văn toàn cầu của chúng tôi bằng cách quyên góp ngay hôm nay. Mọi khoản đóng góp dù nhỏ cũng đều đáng quý. Cảm ơn bạn!

Nguồn bài viết gốc: Poetry | The Common. Nội dung được tổng hợp và biên dịch cho mục đích tìm hiểu văn hóa – giáo dục tâm hồn.