[TIN THƠ] New User Registration

New user registration on your site TIN THƠ:

Username: jeffersonbeit

Email: jefferson-beit@dixz.org

[TIN THƠ] New User Registration

New user registration on your site TIN THƠ:

Username: letha70103820

Email: letha.friese52@vipcherry.com

[TIN THƠ] Your site has updated to WordPress

Howdy! Your site at https://thotanhinhthucviet.vn has been updated automatically to WordPress 7.0.1.

No further action is needed on your part. For more on version 7.0.1, see the About WordPress screen:
https://thotanhinhthucviet.vn/wp-admin/about.php

If you experience any issues or need support, the volunteers in the WordPress.org support forums may be able to help.
https://wordpress.org/support/forums/

You also have some plugins or themes with updates available. Update them now:
https://thotanhinhthucviet.vn/wp-admin/

The WordPress Team

[TIN THƠ] Your Site is Experiencing a Technic

articlebase_get_post() in /home/qrfjjukz/public_html/wp-content/plugins/wp-automatic/core.php:564
Stack trace:
#0 /home/qrfjjukz/public_html/wp-content/plugins/wp-automatic/campaignsProcessor.php(527): wp_automatic->process_campaign()
#1 /home/qrfjjukz/public_html/wp-content/plugins/wp-automatic/campaignsProcessor.php(230): CampaignProcessor->processCampaign()
#2 /home/qrfjjukz/public_html/wp-content/plugins/wp-automatic/automatic_schedule.php(53): CampaignProcessor->process_campaigns()
#3 /home/qrfjjukz/public_html/wp-includes/class-wp-hook.php(341): wp_automatic_function()
#4 /home/qrfjjukz/public_html/wp-includes/class-wp-hook.php(365): WP_Hook->apply_filters()
#5 /home/qrfjjukz/public_html/wp-includes/plugin.php(570): WP_Hook->do_action()
#6 /home/qrfjjukz/public_html/wp-cron.php(191): do_action_ref_array()
#7 {main}
thrown

TUẦN THƠ 61: THÁNG TƯ

Nguyễn Lương Ba

Tưởng Nhớ Nhà Thơ Thanh Tâm Tuyền (22-3-2006)


VÀ MỘT VÀI Ý NGHĨ

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (1936–2006) là một trong những gương mặt tiêu biểu và có ảnh hưởng sâu sắc nhất của thơ ca hiện đại Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông gắn bó với phong trào Sáng Tạo – một phong trào văn học ở miền Nam Việt Nam trong thập niên 1950-60, chủ trương đổi mới triệt để ngôn ngữ và tư duy thi ca.

Thanh Tâm Tuyền là một trong những người đầu tiên viết thơ tự do ở Việt Nam một cách triệt để và nhất quán. Với tập thơ “Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy” (1957), ông đã phá bỏ hoàn toàn thể thơ lục bát, thất ngôn… để đi tìm một hình thức thơ mang màu sắc tâm tưởng, trực giác, và ý thức hiện sinh.

“Tôi là ai / là ai / mà yêu quá đời này.”

Câu thơ ấy không chỉ là một tiếng kêu nhân sinh, mà còn là một tuyên ngôn thơ: dứt khoát, mãnh liệt, và đầy chất vấn.

Thơ Thanh Tâm Tuyền thường mang nỗi cô đơn bản thể, một cảm thức lưu đày nội tâm, và đôi khi là phi lý, tương đồng với những triết lý hiện sinh của Sartre, Camus.

“Tôi có chỗ đứng rất nhỏ trong bóng tối
và đời sống vẫn trôi qua ngoài kia.”

Ông không ca ngợi quá khứ hay tương lai, mà luôn đau đáu với cái “hiện tại mất phương hướng” – một dấu hiệu rõ rệt của tinh thần hậu chiến.

Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền không tuân theo ngữ pháp truyền thống, ông sẵn sàng sử dụng câu ngắn, tách dòng phi quy tắc, thiết kế thị giác câu thơ, và dồn nén cảm xúc bằng âm thanh.

“mặt trời không xanh
trời không vàng
buổi sáng không có chim
chỉ có những bàn tay dựng ngược”

THƠ Ở ĐÂU XA

Có thể là chiếc lá
Có thể là tiếng chim
Có thể là hòn đá lăn bên vệ đường
Hay bóng người vụt qua cửa kính
Một chút nắng cuối ngày trên vai áo em
Một điều gì đó không tên
Nhưng chạm nhẹ vào hồn anh

Thành thơ

Chính cách viết ấy giúp thơ ông đạt được sự căng thẳng nội tại, gợi hình ảnh thị giác và tâm lý rất mạnh mẽ.

Sau 1975, Thanh Tâm Tuyền bị đi tù gần 10 năm. Sau đó ông định cư tại Mỹ, sống một cuộc đời trầm lặng. Tuy vậy, thơ ông không bị thời gian bào mòn, mà ngược lại ngày càng được nhìn nhận như một di sản thi ca hiện đại quý giá.

Thanh Tâm Tuyền nói về thơ:

“Tôi không làm thơ để ca tụng, mà để sống sót.”

Câu nói ấy cho thấy ông xem thơ như một cách tồn tại, một lối kháng cự âm thầm nhưng dữ dội với những gì phi lý và trống rỗng của cuộc đời.

Tác phẩm tiêu biểu của Thanh Tâm Tuyền:

Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1957)

Tôi Không Còn Cô Độc (1956)

Thơ Ở Đâu Xa (1990, sau định cư tại Mỹ).


Nguyễn Thị Kim Thoa

THÁNG TƯ

Tháng Tư
sen nở
gợi nhớ nhiều điều
hồng hoa
xanh lá
vàng nhụy xao lòng.

Tháng Tư
cháy bỏng
mưa rơi trong nắng
nắng lẫn mưa rơi
trên cầu người đi
dưới cầu nước chảy
sen nở quanh hồ
lòng người lóng ngóng.

Tháng Tư
bên đường
người đàn bà ngồi khóc
lạc đứa con đâu rồi
hai vòng tay níu chặt
chiếc nón rách trên đầu.

Tháng Tư
xe tăng
vào thành phố
một bàn tay vẩy
hai bàn tay buông
một người cười
đôi người khóc
cờ đỏ bay trên cầu
dưới cầu xác trẻ phơi.

cha đi tìm mẹ
bà đi tìm ông
giữa phố chợ đông
người cười người khóc
chỉ thấy
vỏ đạn và hoa phượng rơi.

Tháng Tư
thống nhất
Nam Bắc một nhà
miệng nói sẻ chia
lòng thì ái ngại
cảnh giác nhìn nhau
nghi ngờ.

Tháng Tư
cậu về thăm cháu
vui mừng cháu hỏi
ông tướng nhà mình
sao mà oai thế
nói chuyện mi tau
nhìn trước, ngó sau
cậu lớn giọng hỏi
nhà cô to thế?
cha sắp làm gì?

Cậu sợ nhà to
cậu sợ liên lụy
thằng cháu đại úy
cậu ra về gấp gáp
không kịp một bữa cơm
không bao giờ quay lại.

Mẹ buồn não ruột
nhớ anh hai mươi năm
gặp lại vài giây phút
nhìn em đầy ái ngại
chức vị to sợ nhờ
nhà em to sợ lụy.

Tháng Tư
trở lại trường
gặp mấy người bạn
mới ngày hôm qua
chen chân với mình
xuống tàu di tản
nay đã mũ cối dép râu
vai mang súng trường
hăm hở đi lui đi tới
không có chuyện gì
để nói
bạn bảo:
mình phải
siêng tập thể dục.

Buổi sáng
bạn đạp xe qua nhà mình
không phải để hỏi thăm
đêm qua em mơ gì?
buổi chiều
bạn đạp xe qua nhà mình
không phải để ngắm mình
ngồi hong tóc dưới giàn hoa tím
mà để xem mình
có tập thể dục như nội qui của trường
để chực xem mình
có chuẩn bị vượt biên.


mới hôm qua bạn bảo:
em mặc áo lụa mát cả hồn anh!
hôm nay bạn bảo:
quần đen áo bà ba sao em không mặc?
thầm nghĩ:
có thể bạn không sai
có thể bạn thật lòng
nhưng lòng mình sao cháy bỏng
cả ngàn độ.

Đoàn tụ, chia ly
hội ngộ, tan tác
trên giàn

Mẹ than
bầu bí quấn chặt nhau

Đau quá!

Bản đọc bài thơ Tháng Tư của bạn đọc gửi tới
1976

Một mùa thu buồn - Sài Gòn - Đà Nẵng tang thương - Cảm khái đời người như lá rụng !
Bài thơ LÁ CHUYỂN MÙA của bác sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, anlan phổ nhạc 18.9.2021 (12.8 Tân Sửu)

LÁ CHUYỂN MÙA

Hồn hoa lá mộng xanh trong cỏ biếc
Buổi mai hồng gợn tiếng gió hoàng hôn
Bóng mây trắng chìm sâu dòng nước bạc
Ngọn lá xanh thay giấc buổi thu sang
Từng đường gân chậm chạp uống nắng vàng
Những chiếc lá về đâu chiều thu cũ?
Từng vũng nước, bong bóng lăn tăn mỏi
Từng cơn mê, đưa ngược lối đi về
Thảng thốt vuốt bàn tay gầy guộc
Sắt se hơi lạnh gió đầu thu
Lá rơi, lá rơi
Mặt đất buồn
Ôm gối khóc
Lá chuyển mùa
Lá vụt bay xa
Mùi hương mai ngày hai mươi thơm ngát
Đường dốc dài, ai cúi vội bước đi
Hai bên đường, sỏi đá chênh vênh
Bảo rằng:
Em cẩn thận bước qua
Đừng lo ngày dài thôi nhung nhớ
Lá màu xanh rồi lá sẽ màu vàng
Đừng buồn hỏi nếu một mai
Lá chuyển mùa, lá úa.

Nguyễn Thị Kim Thoa - Huong Pham - Thanh Yên - Cô giáo anlan.

N g u y ễ n S a o M a i

TRƯỜNG THIÊN LỤC BÁT – TRUYỆN THƠ NÉN HƯƠNG VĂN MIẾU

Tập thơ trường thiên Nén Hương Văn Miếu của Nguyễn Sao Mai là một truyện thơ gồm hơn 4000 câu thơ lục bát trong bối cảnh vật đổi sao dời giữa và sau chiến tranh Nam Bắc Việt Nam, 1955-1975. Trích đăng ở đây là tâm tư và tâm tình của những người trong cuộc, qua những trích đoạn với những tiểu đề tác giả tạm đặt, chinh phu, chinh phụ, và những tiểu đề khác. Những tiểu đề này không có trong nguyên bản. Nén Hương Văn Miếu được viết vào những năm cuối tiền bán thập niên 90 của thế kỷ 20, năm 1993 - 1994. Một trích đoạn trong tập truyện thơ cũng đã được trích đăng trên tạp chí Sóng Văn (Nguyễn Sao Mai, Còn Đau Nỗi Buồn, Sóng Văn, số 1 Ra Mắt – Tháng 3 & 4 / 1996, trang 55) do Nguyễn Sao Mai chủ trương và chủ biên.

NÉN HƯƠNG VĂN MIẾU

Trăm năm vật đổi sao dời,
Dấu xưa lau sậy, hồn người đá bia.
Nước non chia cõi đi về,
Tấm lòng mây trắng lê thê nỗi buồn.
Trống đồng giục gió Trường Sơn,
Hồn kinh đô cũ dặm trường cờ bay,
Ngựa Hồ vừa hí thành Tây,
Nén hương văn miếu rụng đầy tro than.
Ngọn cờ chinh chiến về nam,
Máu xương đâu để vinh quang một nhà.
Đã đành là giá tự do,
Máu xương phải nở đóa hoa hòa bình.
Đêm dài đi gọi bình minh,
Xác anh em trải lời kinh nhiệm mầu.
Nước non sông núi gọi thù,
Giang sơn một mảnh dư đồ rách hai.
Vẽ chi biển rộng sông dài,
Nọ trang sử Việt tiếng cười bể dâu.

(Trích Nén Hương Văn Miếu, Nguyễn Sao Mai, truyện thơ, câu 1 – 18)

CHINH PHU 1

Từ em nghiêng nón sân trường,
Trái tim thánh nữ treo chuông trên đồng,
Đất gò trổ hạt máu xương,
Lúa ngô từng hạt hiện xương máu người,
Rẫy nương trồng thịt da tươi,
Trổ thảnh trái đắng trên chồi cây thu.
Thương em làm trái trên mùa,
Ta chinh chiến dưới ngọn cờ gió mưa.
Những con đường cũ ta xưa,
Từng đêm đứng gọi đời ta một mình.
Thương em từng ngọn tóc xanh,
Gọi nhau tóc trắng trên rừng vọng phu.
Bước chân qua đỉnh gió mù,
Tưởng khi mở hội cửa Ô đã gần,
Lòng ta đầu ngọn Thất sơn,
Mơ đêm Hà Nội hiện rồng cờ Nam,
Mơ em phố chợ gánh gồng,
Dựng đê xây phố giữa nông công trường,
Xây đền cho trái tim chuông,
Hồ Gươm trắng áo Trưng Vương Sài Gòn.


CHINH PHU 2

Gửi em này chút buồn này,
Lòng ta phố cũ mưa bay một trời.
Khi về mù mịt biển khơi,
Ta theo dấu ngựa xuống đời quạnh hiu,
Cờ tan theo cuộc trận chiều,
Chút hăm hở cũng xanh rêu oán thù.
Ta cười ngã ngựa sông khô,
Đâu con nước lũ dựng mồ thanh xuân,
Hỡi em tóc bạc đêm rằm,
Tuổi vàng thả nổi một giòng buồn tênh,
Bây giờ còn nhớ hay quên,
Hoa trong khuê các trăng miền lãng du.
Dấn thân vào trận gió mù,
Rẫy nương lật xác quân thù tìm nhau,
Mặt nhìn còn tưởng chiêm bao,
Thịt xương có lúc nỗi đau đớn này,
Hai mươi năm giấc mộng dài,
Hồn thu binh lửa trắng cây ngô đồng.
Ngày hè sững sốt tháng đông,
Ngọn cờ cuốn lại bóng rồng bay xa,
Phố Hời giọt nước mắt sa,
Trên trang sử cũ bóng tà dương phai,
Hai mươi năm chỉ một ngày,
Tỉnh ra mới biết trắng tay tang bồng,
Hồn em ngọn lúa trổ bông,
Lòng ta là một cánh đồng rạ khô,
Uổng công tháng đợi năm chờ,
Trói tay đứng giữa thế cờ ngửa nghiêng,
Nhớ ngày bốn hướng cung tên, (1)
Thương em khắc một lời nguyền trước sau,
Lên rừng chém rụng bóng sao,
Đón em ải Bắc vàng màu cờ Nam.

(1) Lễ mãn khóa ở trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1950-1975)

CHINH PHỤ 2

Ngọn cờ doanh trấn cõi xa,
Chân mây mặt đất biết là nơi đâu,
Bốn phương còn biết phương nào,
Tìm chàng đâu giữa chiêm bao giữa ngày,
Chiến bào theo vó câu bay,
Bỏ câu muối mặn gừng cay giữa đường,
Từ chàng chinh chiến tha phương,
Lòng em mây trắng tha hương dặm dài,
Rối bời lục nhạt hồng phai,
Tỉnh say trong mộng với người nay đâu,
Rẫy nương hoa trổ trái sầu,
Vườn trong hoa nở ra màu nhớ nhung,
Con thơ còn thuở ẵm bồng,
Đã nghe tiếng súng núi rừng đầu đêm,
Trông ra trăng lạnh trước thềm,
Đâu đây tiếng khóc bên đèn nỉ non,
Điệu ru nước mắt xóm đông,
Cũng là nước mắt nhớ mong xóm đoài,
Tương tư từng giọt ngắn dài,
Nỗi lòng thiếu phụ rơi ngoài núi non,
Quê nhà chiếc bóng héo hon,
Tóc xanh da trắng đâu còn ngày xưa,
Xuống đồng hái nụ hoa tơ,
Bỏ trong túi áo nằm mơ một mình,
Chống xuồng qua bãi nước trong,
Vớt hương thanh nữ dưới giòng khe sâu,
Vớt tình trong vũng mưa ngâu,
Thả con mộng nhỏ trôi vào đại dương,
Sợi tơ giăng ở đầu nguồn,
Suối khe đâu biết tình con sông dài,
Hồn chàng đi ở hôm mai,
Khi bên gối lạnh khi ngoài gió trăng,
Đêm thu hờ hững trái rằm,
Mùa đi để lại mấy lần tình suông,
Mênh mang trời đất não nùng,
Thanh xuân gào gọi tình chung trở về,
Bốn bề núi nhớ sông mê,
Tìm nhau hồn phách đi về chiêm bao.


CHINH PHU 3

Hỡi em sông Nhỉ núi Nùng,
Trắng hoa sữa ngọt một vùng tuổi thơ,
Ta từ đạp gió xông mưa,
Chiêm bao hoa gạo đỏ mùa hạ xanh,
Thay em tải đạn lên rừng,
Kim Bôi xanh dải thắt lưng gái Mường,
Nối tay tuyến lửa Trường sơn,
Nắm cơm hạt muối mở đường mà đi,
Trải thân xương sắt da chì,
Cõng trăng mười sáu đi về phương nam,
Nhập đoàn hỏa tuyến dân công,
Giật mình qua đỉnh Động Chân nhớ nhà,
Dốc cao đèo cả vượt qua,
Đêm nằm núi nhớ ngày ra vực sầu,
Đường dài sỏi đá tìm nhau,
Bóng chiều phố núi lạnh màu sông Son,
Mây qua đầu ngọn núi Hồng,
Xe qua Hà Tĩnh lòng còn bên truông,
Ngã ba Đồng Lộc mưa bom,
Cao xanh nỡ để thịt xương lấp bồi,
Xe đi chở nặng tiếng cười,
Mà mười cô gái đã người ngày xưa,
A của Tần Cúc bây giờ,
Hoa mua tím ngắt gió mùa đông xuân,
Ngẩn ngơ sông núi Lam Hồng,
Trái tim Ngàn Phố tấm lòng Ngàn Sâu,
Bóng ngày u uất chiêm bao,
Còn nghe tiếng hát ngày nào phá bom,
Núi Mòi mắt sáng sao hôm,
Chân trần gái núi đạp mòn đá khô,
Vũng sầu nước mắt đêm mưa,
Hiển linh đầu gió ngọn cờ cắm tiêu,
Lòng ta nắng xế bên đèo,
Thảm thương tiếng vượn gọi chiều trên non,
Ngày dài tiếng hát Trường sơn,
Đêm mơ Hà Nội xanh cơn sốt rừng,
Nỗi nhà con nước nguồn Moong,
Nỗi quê mây trắng dưới thung lũng Sầu,
Những người hôm trước nay đâu,
Bên đường nấm đất đỏ màu thịt xương.


CHINH PHỤ 3

Xót xa mười mấy năm trường,
Nước non nhớ nước bỏ nguồn ra đi,
Quê nhà từ buổi phân ly,
Mười năm một lá thư tay trở về,
Xót người sức ở măng tre,
Nghiêng vai gánh nặng lời thề núi sông,
Bao giờ cho đến phương Nam,
Để em giấc ngủ thấy vàng sao bay,
Bao giờ tay lại cầm tay,
Để em áo lụa như ngày hội xuân,
Lên cầu Thê Húc đứng trông,
Áo chinh nhân đỏ bóng tà dương rơi,
Mùa đi sầu ở lại đời,
Người đi bỏ lại nụ cười hôm qua,
Chồi măng nay đã tre già,
Liễu xanh thê thiết đâu là liễu xưa,
Khi về cây bưởi hái hoa,
Cắm sào đợi nước bao giờ cho trong, (1)
Giang sơn dưới ruộng trên đồng,
Vì thương tấc đất trăng vàng đổ đi, (2)
Ngài dài đêm ngắn sá gì,
Chờ cho gái lúa tháng hai trổ đòng,
Lòng người ở vụ đông xuân,
Bạc phơ tóc lão dân quân đứng ngồi,
Lòng em như áng mây trôi,
Nắng mưa thê thiết gọi người quan san,
Chút tình mộng thực đeo mang,
Biết đâu tháng héo năm tàn ở đâu,
Bước chân vừa động bên cầu,
Tưởng mình đứng giữa lối vào phố Nam,
Tình chàng như bóng đêm câm,
Tối đen giọt nắng lạ lùng sớm mai,
Lê thê hồn của tháng ngày,
Văn bia Hoàn Kiếm, dấu giày Ngọc Sơn.

(1)
Ca dao: ‘Sông sâu nước chảy đục lờ, cắm
sào đợi nước bao giờ cho trong’.
(2)
Ca dao, ‘cô kia tát nước bên đàng, sao cô
múc ánh trăng vàng đổ đi?’

LƯU ĐÀY 1

Trải bao gió núi mưa rừng,
Mái tranh vách cỏ nhà sàn dựng lên,
Cây còi gượng đứng ngả nghiêng,
Nghe trong mạch nhựa báo điềm tái sinh,
Đoàn người giáo mác cung tên,
Bầy đàn sống lại thuở huyền sử xưa,
Tay trần đỡ gió che mưa,
Trải thân xương thịt cho mùa cỏ rau,
Hai năm sương nắng dãi dầu,
Rẫy nương cũng đã xanh màu cỏ cây,
Đường về bóng nhạn chân mây,
Mà lòng cố quốc chim bay giữa trời,
Lên cao trông xuống sông dài,
Đau lòng con nước nhớ người ngày xưa,
Thuyền ai rồng phụng can qua,
Thanh gươm mở cõi lệnh ra chốn ngoài,
Còn nghe tiếng hét bên tai,
Phạt Chiêm vua Lý gọi trời giữa xuân,
Dập dồn trống trận Nghệ An,
Trước thuyền Kim Phụng rồng vàng hiện lên,
Thủy Vân thần nữ hiển linh,
Khí hùng Đại Việt tượng hình rồng tiên,
Trăm năm núi vững sông bền,
Thanh gươm vạch đất mũi tên vẽ trời,
Sông thiêng chảy giữa giòng đời,
Ỷ Lan làm trụ chống trời nhà Nam,
Tấm lòng công chúa Huyền Trân,
Trải dài sông núi dặm trường Lý Ô,
Về Nam mở rộng cõi bờ,
Vua Lê cắm mốc trên gò Đá Bia,
Thế thời khi thịnh khi suy,
Trên yên ngựa nhớ câu thơ cuối thuyền,
Nhớ xưa cung điện chúa Hoàng,
Nén hương Thiên Mụ lập đàn bên sông,
Ngự Bình làm ấn thiên phong,
Dựng riêng vương nghiệp dưới chân núi Hoành,
Bây giờ sông cạn núi mòn,
Giang sơn còn một vòng ôm giữa rừng,
Lá rừng rụng hết tháng năm,
Đường mai khập khiễng bước chân tội tù.

LƯU ĐÀY 2

Lênh đênh đầu ngọn gió mù,
Thấy ta xác cỏ đêm tù dưới khe.
Ở đây trời đất đi về,
Sao ta ghềnh thác bốn bề đại dương,
Phương nam phương nào đông phương?
Cuối đường chim nhỏ vẽ ngang giọt sầu,
Cuộc lưu đày đã dài lâu,
Mà vô lượng kiếp còn đau nỗi buồn.
Đưa nhau tư dạo lên đường,
Riêng tư lá cỏ đá cồn còn không?
Hồn lau lách ở bên sông,
Trái tim ghềnh bãi còn mong nhớ người?
Ừ thôi thì cuộc đổi dời,
Hiện bồ câu trắng bên trời tự do,
Sao ta vẫn kiếp ngựa khờ,
Chân phiêu bạt cháy lửa lò trầm luân,
Ừ thôi thì yêu quê hương,
Đeo xiềng ngồi hát bên đường phố ma,
Em còn ở cõi người ta,
Mà sao sỏi đá trên da thịt người,
Bước chân sinh tử rã rời,
Kéo lê vết xích một đời có không,
Cao xanh lòng cũng đại dương,
Bánh xe nghiến nát vô thường ở đâu?
Cuộc lưu đày đã dài lâu,
Mà vô lượng kiếp còn đau nỗi buồn


Thạch Tốt

VÀ NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ

Tháng Tư đến nghe tin dồn dập phía Hàng Xanh
trời trở giấc
mưa nhẹ vẽ những đường trên cát mềm,
nơi hơi thở cuối cùng, ngập ngừng của mùa đông
vẫn còn vương trong nỗi đau của cái chết.

Những hàng cây quên mất xanh là gì,
chúng lưỡng lự giữa và giữa
nụ hoa và trơ trụi, ánh sáng và xám xịt,
không chắc là đêm hay ngày.

Bầu trời được khâu bằng sắc xám mỏng dần,
một hy vọng mong manh không thể giữ lâu;
nó vỡ ra trong những đột ngột,
như những giấc mơ nửa nhớ, đang phai dần.

25042026

TUẦN THƠ SỐ 62: TÔI TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM

Báo Thơ-19_Đinh Cường
Báo Thơ-19_Đinh Cường
LỜI TÒA SOẠN

Thơ • Chủ trương Khế Iêm • Tháng 03 năm 2026 • Năm thứ 6 • Số 19
Email: tapchitho2022@gmail.com
www.thotanhinhthuc.com
www.thotanhinhthucviet.vn

SỐ ĐẶC BIỆT VỀ THƠ

Mỗi người đều có cái hay, cái dở, qua cái ngã (cái tôi). Khi bản ngã quá lớn sẽ làm con người trở nên ích kỷ, ít chịu trách nhiệm về những hành động lỗi lầm của mình, còn làm tổn thương người khác dẫn đến các mối quan hệ không lành mạnh, không ai ưa, và mọi người xa lánh.

Nếu cái ngã bình thường, cuộc đời hạnh phúc, có gia đình.

Khi không còn cái ngã (cái tôi), sống khiêm tốn, không tự cao tự đại, không khoe khoang, từ cái đúng, cũng thấy được cái sai, vì thế mới có tình người, giúp trở thành thơ, văn nghệ sĩ.

Nhà thơ Mỹ, Dana Gioia, đã từng nhận xét về dòng thơ Tân hình thức Việt:

“Những bài luận về kỹ thuật, như của bạn, rất quan trọng đối với các nhà thơ khác. Nó giúp họ làm rõ công việc của chính họ, và làm sắc nét quá trình sáng tạo của họ.” | (Essays on technique, such as yours, are very important to other poets. It helps them clarify their own work and sharpen their creative process.)

Nhưng cái mới, cái khác để được chấp nhận, không thể không trải qua sự chống đối, thử thách. Khi vượt qua những khó khăn tưởng như không thể vượt qua, thơ Tân hình thức Việt đã hình thành một thể thơ mới, đóng góp vào sự lớn mạnh của thơ Việt. Điều đó cũng tự nhiên vì trong những chuyển biến bình thường của cuộc sống. Một số tuyên ngôn nổi tiếng của triết gia thời cổ Hy lạp, Socrates:

“Knowledge and virtue were the same thing.” | (Kiến thức và đức hạnh giống nhau);

“Wrongdoing, is always involuntary, being the product of ignorance.” | (Làm ‘hay nói’ sai, luôn luôn vô tình là do sự thiếu hiểu biết);

“Two levels of knowledge: inspection and interpretation” | (Hai mức độ của kiến thức: sự xem xét kỹ và giải thích).

Điều này có nghĩa, sự hiểu biết phải được giải thích rõ ràng, đến nơi đến chốn. Nhưng kiến thức, theo Kant, là sự hiểu biết, và kinh nghiệm thực tại. Trong cuộc sống bình thường, Socrates gặp đầy rẫy chông gai, một cuộc hôn nhân với người vợ quá dữ dằn, đến nỗi ông phải thốt lên,

“Dẫu sao, nếu lấy một người vợ hiền, bạn sẽ hạnh phúc, nếu không sẽ thành một triết gia”.

Người vợ dữ dằn đó chính là kinh nghiệm thực tại, kết hợp với sự hiểu biết, giúp ông có được kiến thức để trở thành một nhà tư tưởng lớn. Socrates, Triết gia Hy lạp, đã để lại một số tuyên ngôn nổi tiếng:

“Một cuộc sống không có thử thách là một cuộc sống không đáng sống” – “ Điều tốt đẹp nhất là kiến thức, điều xấu xa là sự dốt nát” – “Những bộ óc lớn thảo luận về những ý tưởng, bộ óc trung bình bàn luận về những sự kiện, còn những bộ óc non yếu nói chuyện về con người”.

Trong đời sống hàng ngày, khi ý nghĩ dấy lên, tạo sự chuyển động, chuyển động gặp một ý nghĩ khác, gây ra cọ sát. Sống với nhau, mỗi người suy nghĩ mỗi khác, dĩ nhiên, ý nghĩ này lấn lướt ý nghĩ khác, sinh ra va chạm, va chạm gây ra phản ứng, phản ứng đưa đến hành động. Sự khác biệt giữa những ý nghĩ càng nhiều, sự đổ vỡ trong mối giao tiếp càng lớn. Trường hợp triết gia Socrates là một ví dụ điển hình. Vì vậy, chúng ta sẽ không lấy làm lạ, nếu thấy những văn nghệ sĩ, hay các nhà tư tưởng nổi tiếng, có một đời sống gia đình không hạnh phúc. Nói chung, dù hiền hay dữ, cái nào cũng tốt, nếu chúng ta nhận biết được sự tích cực của nó, hóa giải khổ
đau, bằng cách không phản ứng, cứ để cho ý nghĩ đến rồi đi. Vả chăng, đó cũng là yếu tố cần thiết, tạo nên cảm xúc, thành thơ.


Trình tự ý tưởng trong thơ bao gồm: kiến thức, ý tưởng và tưởng tượng.

– Kiến thức có được, bởi chúng ta thông qua việc học hỏi, và nhớ, từ nhiều nguồn khác nhau, sách vở và thực tại. Hơn nữa, khi áp dụng kiến thức để làm hành động, từ hành động chúng ta có được kinh nghiệm.

– Sau khi có được kiến thức về các chủ đề bài thơ, kết nối với những kinh nghiệm trong tiềm thức, những ý tưởng mới lóe ra trong nội tâm. Ý tưởng được liên kết với bộ óc sáng tạo.

– Khi mọi thứ đang diễn ra (hành động), tâm trí tưởng tượng các chiều hoạt động mới. Tưởng tượng cũng có thể là ảo ảnh. Các nhà làm phim (tác giả truyện) tưởng tượng một số khái niệm tưởng tượng, và phim siêu nhiên, giả thuyết được tạo ra. Hầu hết các trí tưởng tượng bắt đầu chỉ với ý tưởng nhỏ, rồi biến nó thành một chuỗi ý tưởng hoàn chỉnh, liền lạc. Trí tưởng tượng gắn liền với tư duy sáng tạo.

Ý tưởng và trí tưởng tượng (bao gồm cả suy nghĩ và lời nói) không có giá trị, cho đến khi nó được chuyển thành hành động. Hành động là cách tiến hành sáng tác.

– Cuối cùng, liên hệ giữa những chức năng sáng tạo trong não bộ, kết nối nhũng yếu tố giữa bán cầu não phải và trái. Nhịp điệu và ý tưởng tạo ra cảm xúc, vui buồn, giận ghét … qua trung gian của tri giác. Tri giác là thực tại ẩn giấu có thể cảm nhận, tin tưởng, hay giải thích nhưng không thể nhìn thấy. Về nhịp điệu, muốn tạo nhịp điệu mới, phải qua cách làm thơ, đọc thầm trong đầu, nghe nhạc … Bài thơ trở nên lôi cuốn, mới mẻ và hay, tùy thuộc vào tài năng của người làm thơ. Như vậy, sáng tác đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm, từ lý thuyết và thực hành, tới tư duy nghệ thuật. Đặc biệt, nhịp điệu là yếu tố khó trong thơ Tân hình thức, nếu bài nào cũng hao hao giống bài nào thì người đọc dĩ nhiên sẽ nhàm chán.

Khi một nguồn tư tưởng, hay một hiện tượng văn học xuất hiện thì không thể mất đi. Văn minh Hy lạp bị phủ nhận trong thời Trung cổ, nhưng lại sống lại ở thời Phục Hưng. Thơ không vần tiếng Anh bị lãng quên cuối thế kỷ 19, lại nở rộ với phong trào lãng mạn, giữa thế kỳ 19.


Triết gia Pháp, Jacques Derrida, cho rằng trung tâm văn hóa phương Tây dựa vào tư tưởng Thiên Chúa giáo, và các tôn giáo khác là ngoại biên. Từ đó ông đưa ra quan điểm về cái trung tâm, và ngoại biên. Nhưng trung tâm, và ngoại biên không hề cố định, cái trung tâm có lúc biến thành ngoại biên, và cái ngoại biên thành trung tâm. Như thơ tự do Mỹ là trung tâm suốt thế kỷ 20, đẩy thơ thể luật ra ngoại biên, nhưng đến đầu thập niên 1990s, thơ thể luật nổi lên, với tên New Formalism (Tân hình thức), đẩy thơ tự do ra ngoại biên, để bước vào dòng chính. Cho đến thập niên 2000s, cả hai, không dòng thơ nào là trung tâm hay ngoại biên. Như vậy, thời gian
luân phiên từ thơ tự do và thể luật, phải mất cả thế kỷ.

Thơ Tân hình thức Việt, cho đến bao giờ có thể bước vào dòng chính, ngang hàng với tự do và vần điệu, lúc đó Tân hình thức mới phát triển. Thời gian, chắc cũng phải cả thế kỷ. Và chúng ta cần duy trì một số lượng nhỏ những nhà thơ Tân hình thức tiền phong, từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Quay lại thời quá khứ, riêng thơ Việt, trước hết là thơ Mới, khởi đầu từ thập niên 1930s, tạo nên một dòng thơ vần điệu hay nhất trong thơ Việt. Cho đến 30 năm sau, 1960s, chuyển sang thơ tự do. Cả hai đều ảnh hường từ nền văn hóa Pháp, vì tất cả các nhà thơ nổi tiếng đều học tốt nghiệp từ trường Pháp.

Đến 30 năm sau, vào thập niên 1990s, những nhà thơ Mỹ và thế giới nổi tiếng Mỹ, lại từ tự do, chuyển thành vần điệu, với tên New Formalism (Tân hình thức). Cuốn sách “American Poetry and World – A Memorable Time” (Thơ Mỹ và Thế giới / Một Thời Đáng Nhớ)! được dịch thơ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, những bài thơ của những nhà thơ Mỹ và thế giới nổi tiếng, với 697 trang. Sau đó, 2 loại thơ “Cấu Trúc” và “Tân hình thức”, bản tiếng Anh của tôi, lại được những nhà thơ nổi tiếng thế giới dịch ra 10 loại ngôn ngữ khác nhau, tổng cộng “Thơ Mỹ Và Thế Giới – Một Thời Đáng Nhớ”, đã tới 990 trang.

Như chúng ta biết, nước Việt chịu sự đô hộ Pháp 100 năm, và trong thời gian đó, giới trí thức và nghệ sỹ đều tốt nghiệp từ nền văn hóa Pháp, cho nên ảnh hưởng rất nhiều trong sáng tác từ thơ, nhạc, hội họa Pháp. (Ngay cả chữ quốc ngữ là một thứ chữ được xây dựng theo nguyên tắc ghi âm bằng chữ Latin. Vào thế kỉ XVII, một số giáo sĩ Pháp dùng vào việc ghi âm tiếng Việt, tạo ra một thứ chữ thuận lợi hơn đối với mục đích truyền đạo.)

Đến bây giờ không còn mang tính đổi mới, hay sáng tạo nữa, và giới trẻ chỉ làm theo những gì đã có trước.


“Tôi Tự Hào Là Người Việt NAM”
– ST: Nguyễn Trung – Chuốc Bình An


TUẦN THƠ 60: THANH XUÂN

https://www.wsartasia.com/artist/galih-reza-suseno
https://www.wsartasia.com/artist/galih-reza-suseno

Tôi làm thơ vần điệu Thanh Xuân, vào khoảng 20 tuổi, qua cảm xúc và tự nhiên, với bút hiệu Khế Iêm. Khế Iêm là vô nghĩa, vô nghĩa cũng là vô danh. Tôi không thích cái danh nên không gửi đăng ở các tờ báo văn, văn học thời đó. Cho đến khi tới Mỹ lúc 40 tuổi, tôi gửi một bài thơ cho họa sĩ Duy Thanh, ông nói hay lắm, hãy gửi cho nhà văn & nhà thơ Mai Thảo, đăng trên báo Văn. Sau khi đăng xong tất cả, anh Mai Thảo đã bỏ tiền ra in cuốn thơ Thanh Xuân. Điều may mắn, khi đăng thơ vần điệu Thanh Xuân trên Con Đường Thơ Toàn Tập, đã được PGS.TS. Trần Hoài Anh, Nhà phê bình Văn Giá, PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn, ngợi khen. Khi qua Mỹ, tôi không còn làm thơ vần điệu nữa, mà chỉ làm thơ Cấu Trúc và Tân hình thực.

Hai bản nhạc thơ Thanh Xuân đầu tiên, qua nhạc sĩ Kim Vân: “Cõi Vạn Chiều” ca sĩ trình bày Bạch Lan, và “Thoáng Say”, ca sĩ trình bày Khánh Dũng.


GỬI LÃO TỬ

Thong dong về non xanh
Ngày hư hơi gió lành
Quán không lòng mong tưởng
Một chòm mây mai danh.


LỆ

Mắt khơi, giếng nước ngọc
Rong chơi, lên đồi trong
Cởi ra áo, trăng mọc
Lăm le một lệ dòng.


PHIÊU DIÊU

Khói nhang ngoài hiên chiều
Vẩn vơ, hoa bao nhiêu
Trôi đâu, tình vạn thuở
Bèo dâu thôi, phiêu diêu.


TÌNH MỘNG

Thấp thoáng chim bay qua
Động nghe lòng khóc òa
Hương xa, đóa quỳnh nở
Ấm êm, tình mộng là …


LẮP BẮP

Cho con Lê Trúc Tiên, Lê Hữu Quan Sơn, và các cháu Lê Thị Ý Nhi, Lê Thị Huyền, Lê Thị Hiền, Lê Thị Nhàn, Lê Minh Thi, Lê Minh Thảo, Lê Thị Quỳnh Như & Nguyễn Thế Phúc, Lê Trung Đính, Lê Thị Quỳnh Giao, Lê Hồng Xuân, Nguyễn Thị Minh Duyên …

Mở trang nhật báo
Đọc mục rao vặt
Thấy có đời mình
Thấy có lặng thinh


Một ngày bặt tiếng
Phố phắt bặt âm
Chiếc ấm quai đồng
Rót ra bụi vẩn


Ở trong cửa ô
Ở ngoài ô cửa
Bước lại từ đầu
Bước lại từ đâu


Một con sẻ lạc
Bới lời linh tinh
Giữa chốn huê tình
Dở hơi tê thấp.


NHÁNH SẦU

Với ngày, tiếng nói là miểng nhọn
Đập vỡ những chiều xanh tóc gai
Với thời, bao nỗi mắt ẩm ướt
Ôi chăng, chảy trôi nước tất bật

Bồi hồi những trái tim đồi xa
Dập vùi chút dĩ vãng chập chững
Bình nguyên thản nhiên trong lòng ta
Lần theo ngàn sương, bẫy ương ngạnh

Thở đi, bao la thay hừng đông
Thổi ra những thương tích bầm vập
Gõ ran những chảo đời có thật
Nghe ầm vang sóng rời đầu nguồn

Đã chở tro về chôn bến nhớ
Đã ngờ trong một thoáng từ ly
Là mở ngỏ ý tình, bỡ ngỡ
Ta uống nhầm rượu hay, cơn sầu bi.


CỘI THỀ

Mắt ứa, khóe xưa lệ
Lênh đênh quên mùa quê
Ánh lòng men ly biệt
Môi hôn run, cội thề.


TÀN ĐÔNG


Như hoàng hôn chảy, tiếng khoan nhặt
Như thời gian đắm trên môi hôn
Nơi cõi sắc mầm gió căn cắt
Len lén nghe lời, mênh mông non

Giữa âu yếm lửa nến bật tắt
Âm ấm hơi rượu men tuổi xuân
Ta chải chuốt hồn, đồng quạnh quẽ
Hoa, mắt trong
Đời sông thanh tân

Đã nuốt chửng váng ngày xao xác
Đã đìu hiu từ dạo bước chân lên
Những bát ngát của chiều ánh khao khát
Những rừng câm vời vợi, tro lênh đênh

Ta để ngỏ, ao chuôm và áo ngực
Thấy bay ra một cánh thinh không
Nói ấp úng
Buổi đồi nhật thực
Vẫy gọi ta về, sương tàn đông.


NGHE ĐÀN

Gánh về
một quải nắng trong
Chiều ra
hít thở
cho lòng trống trơn

Thoảng đâu
có một tiếng đờn
Nghe qua ngờ ngợ
cái hờn
thâm u

Ngoài trăng gió bãi
thổi vù
Thấy ma trên núi
ngồi tu
quặn lời

Kinh xưa một lá
tờ rơi
Trăm năm hỏi giấc
mộng người
có không.


TỰ CA

Mở mắt
Nhấp nháy nghi, hồn nhiên
Rơi trên thềm, ruộng đồng chảy mật
Chưa bao giờ nước và đất thành bùn
Chưa bao giờ điêu linh là mộng

Ta khởi từ đời có thật
Chạy đi rồi về gió tất tưởi
Chiều xa chôn hờ thây ngoài non
Đợi nhau từng giờ bướm thổn thức

Dừng lại con quay quẻ may rủi
Dắt tay bước qua cầu nước mắt
Thở dài
Cười
Tiếng hùng hổ
Nhè nhẹ rừng lời buông bông lơn

Nhát cuốc
Cỏ, hẳn nhiên chết
Cho nhanh ngày mầm héo xơ xác
Vay trả ngàn kiếp muôn biến đổi
Ta ca thiêm thiếp quê mùa thơm.


HOA KHÓI

Lên non, lên non cao
Vú căng trần núm đào
Phơi mình trong gió, nở
Hoa khói, nguyệt lao xao.


TUẦN THƠ 59: THƠ NGOẠI

Paul Lake
* Paul Lake (1951–2022), nhà thơ, nhà tiểu luận và giáo sư người Mỹ tại Đại học Công nghệ Arkansas. Tác phẩm của ông, Một Loại Hình Du Lịch Khác, đã giành được Giải thưởng của Quỹ Porter về Văn học Xuất sắc. Ngoài ra, ông đã được Giải thưởng Richard Wilbur về thơ vào năm 2006. Ông tốt nghiệp Đại học Towson với bằng Cử nhân và bằng thạc sĩ tại Đại học Stanford. Ông đã từng là nhà biên tập thơ cho First Things.

A MIDNIGHT DAWN | HÉ RẠNG NỬA ĐÊM

When tinkling glass
Rang in my ear,
I walked the hall
Where Chanticleer
Had crowed up dawn
With crackling mirth,
Red feathers flashing
From his perch,
While from the breach
In the ceiling swung
Our chandelier
Like a felon strung,
Legs wildly kicking,
Until my eyes
Spied red tongues licking
Toward the skies.
Then as engines
Flashed and roared
To save our roof,
The rooster soared
Passed blackened beams
And joists that left
The acrid scent
Of dragon’s breath.

Khi mặt kính leng keng
rung lên bên tai
tôi đi bộ ở hành lang
nơi chú Gà trống
thức suốt đêm với tiếng lục cục
tươi vui, với bộ lông đỏ
lóe sáng nơi chỗ đậu,
trong khi từ một lỗ hổng
trên trần nhà đung đưa
chùm đèn treo giống như
một tội nhân bị treo cổ
đôi chân quẫy đạp cuồng dại
cho đến khi mắt tôi
nhìn thấy chiếc lưỡi đỏ thè ra
hướng lên trời.
Lúc đó như những động cơ
vụt sáng và nổ đùng đùng
để tránh cho mái nhà của chúng tôi,
con gà trống bay lên
qua khỏi sườn nhà đã hóa đen
và những cái rầm nhà còn rơi lại
mùi cay sè của hơi thở rồng.


John Linnell (1792–1882), Bức tranh 1 (1853), sơn dầu trên vải, 88,3 x 147,3 cm, Bảo tàng Tate (Được JW Carlile tặng năm 1906), London. © Bảo tàng Tate và Bản quyền hình ảnh © Tate (2016), CC-BY-NC-ND 3.0 (Unported), 
http://www.tate.org.uk/art/artworks/linnell-harvest-home-sunset-the-last-load-n02060
Harvest Home, Sunset: The Last Load 1853 John Linnell 1792-1882 Presented by J.W. Carlile 1906 http://www.tate.org.uk/art/work/N02060
Phill Provance
* Phill Provance: Thơ ông đã và sắp xuất hiện trên The Baltimore Sun, Orbis, Vine Leaves, Cha, Noctua, Arsenic Lobster, The Axe Factory Review và nhiều tạp chí văn học khác. Tác phẩm của ông: The Adventures of Ace Hoyle. Và tập thơ đầu tay của ông The Day the Sun Rolled Out of the Sky được xuất bản năm 2011.

TOO FUNNY | QUÁ BUỒN CƯỜI

after Jean Follain
Drunk one morning
beneath the sallow night
the teacher fell asleep
on a massage bed at his gym
the warm jets of water
nuzzling his muscles
and prying at his bones
with delicate fingers.
He slept there three hours
with not a soul to wake him
then drove home soberly
fleeing a migraine.
His story now finished
the blonde waitress frowns
at tumblers and jiggers
arrayed like small houses
while huddled adjacent
his painter friend howls
till tears swarm his eyes
like skylarks.

sau Jean Follain
Người giáo viên say từ hừng
đông tới hết buổi sáng hắn
ngủ gục trong bồn tắm ở
phòng thể dục những tia nước
ấm rúc vào thớ thịt và
những ngón tay mềm tọc mạch
vào xương cốt hắn ngủ mê
mệt sau đó say khướt về
nhà cơn đau nửa đầu biến
mất. Câu chuyện của hắn đến
đây chấm dứt. Cô hầu bàn
tóc vàng cau có trước những
chiếc cốc lớn nhỏ xếp dồn
cục như những ngôi nhà nhỏ
người bạn họa sĩ của hắn
hú cho đến khi nước mắt
dàn dụa như bầy chim chiền
chiện.


Dana Gioia
* Dana Gioia, nhà thơ từng đoạt giải thưởng, và là Cựu Chủ tịch của Tổ chức Tài trợ Nghệ thuật Quốc gia. Ông là người California gốc Ý và Mexico. Vào năm 2015 Gioia được Thống đốc Jerry Brown bổ nhiệm Nhà thơ danh dự California.

PITY THE BEAUTIFUL | TỘI NGHIỆP NGƯỜI ĐẸP

Pity the beautiful,
the dolls, and the dishes,
the babes with big daddies
granting their wishes.

Pity the pretty boys,
the hunks, and Apollos,
the golden lads whom
success always follows.

The hotties, the knock-outs,
the tens out of ten,
the drop-dead gorgeous,
the great leading men.

Pity the faded,
the bloated, the blowsy,
the paunchy Adonis
whose luck’s gone lousy.

Pity the gods,
no longer divine.
Pity the night
the stars lose their shine.

Tội nghiệp người đẹp, những người đàn
bà hấp dẫn, những người đàn bà
thon gọn, những người đàn bà trẻ
với những nhân tình ra vẻ, đang

Ban phát cho họ những ước muốn.
Tội nghiệp những chàng đẹp trai, những
chàng trai lực lưỡng, và những chàng
trai nam tính, những chàng trai vàng

Mà sự thành công luôn luôn bám theo.
Những người lôi cuốn sự thèm muốn,
những người cám dỗ không cưỡng được,
những người ở hạng thóp, những người

Ngọai hạng, những người đàn ông hàng
đầu hết sẩy. Tội nghiệp kẻ tàn
lụi, kẻ béo phị, kẻ nhếch nhác,
chàng đẹp trai nay đã bụng phệ

Sự may mắn đến nước tồi tệ.
Tội nghiệp những vị thánh không còn
thiêng, tội nghiệp đêm, những vì
sao đánh mất sự chói sáng.

* Ghi chú: Apollos và Adonis là những vị thần thời cổ đại La Hy, chỉ những chàng đẹp trai. Nguyên tác thì kiệm lời, nhưng bản dịch thì nhiều lời để làm rõ ý, một phần vì bài thơ dùng nhiều tiếng lóng.

TUẦN THƠ 58: THƠ VIỆT

Sinh Lão Bệnh Tử _ hs. Nguyễn Đại Giang
Sinh Lão Bệnh Tử _ hs. Nguyễn Đại Giang
Cao Mỹ Nhân | Los Angeles November 17, 2022

POET’S STORY / CHUYỆN NHÀ THƠ

He told me:
“If you can’t write a good poem
Then never use the name of Poet“
I was embarrassed and turned away …
How to write a good poem
Poets never ask: “How?”
“What, just imagination
A poem in the stirring thoughts …”
Someone asked Poet To Thuy Yen
“What is your best poem?”
The famous Poet immediately shook
his head:
“I’m not really satisfied with the article”
Poet Thanh Tam Tuyen in contemplation
Every time someone asks about poetry
“Is author X’s poetry good or bad?”
Quietly, said: “Each poem has its
own privacy” Autumn 1994, in Prague, Czechoslovakia
Poet Cung Tram Tuong spent the whole night
reciting poetry
“Hey, Poetry is the Way.
Depends on the religious person…vaguely …”
So, poetry is vague and private.
Don’t bring it up for discussion.
Like to express feelings
Soak it up, and see others.
Vibration or indifference…

Anh nói với em rằng:
“Nếu không làm được một bài thơ hay
Thì chẳng bao giờ nên nhân danh Thi Sĩ “
Em mắc cở quay đi …
Bài thơ hay phải viết thế nào
Các thi sĩ chưa từng hỏi: “làm sao?“
“Làm sao ư, chỉ là tưởng tượng
Một bài thơ trong ý nghĩ xôn xao …”
Đã có người hỏi Thi Sĩ Tô Thuỳ Yên
“Xin cho biết bài thơ hay nhất của ông?“
Nhà Thơ tên tuổi ấy lắc đầu ngay:
“Tôi chưa vừa ý bài viết thực sự“
Thi Sĩ Thanh Tâm Tuyền tư lự
Mỗi lần ai hỏi về thơ
“Rằng thơ tác giả X đó hay, hay dở? “
Lặng yên, nói: “Mỗi thơ một riêng tư“
Mùa thu năm 1994, ở Praha Tiệp Khắc
Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng suốt đêm nói Thơ “Này, Thơ là cái Đạo
Tùy theo người tôn sùng tôn giáo …
vẩn vơ …”
Vậy thì, thơ là vu vơ, riêng tư
Đừng đưa ra bàn luận
Hay thích tỏ bày cảm nhận
Hãy ngâm lên, coi thử tha nhân Rung động hay thản nhiên …


Trần Mộng Tú | 9–9–2025

BÔNG HOA BÊN HÀNG RÀO

Hôm qua
Giữa then hàng rào nhà hàng xóm
Một cành hồng lách sang vườn nhà tôi
nở một bông thật đẹp
Bông hoa như đứa trẻ
vừa chui qua bức tường biên giới
trên môi còn ngậm nụ cười
Tôi đứng nhìn bông hoa
rồi lại nhìn xuống bàn tay mình
Tôi có nên mang bông hoa vào nhà
cho vào chiếc bình nhỏ
nâng niu trò chuyện với hoa
như vòng tay người bảo trợ
ôm em bé tỵ nạn vào lòng
Hay tôi cứ mặc hoa
với nắng gió bên ngoài
Ngày mai
người làm vườn đến chắc anh ta sẽ cắt nó
vứt vào bao rác
chỉ trong một khoảnh khắc
tàn một kiếp hoa!
Những đứa trẻ bên hàng rào tỵ nạn
Bây giờ đang ở đâu …?


Lý Thừa Nghiệp

CHÉN SỚM MAI

Mời người này chén sớm mai
Tôi còn đợi chuyến mưa dài đời sau
Mưa ngang núi mưa ba đào
Luống rau yên tử pha màu muối sương
Hương thiên lương hương thiên lương
Dấy thơm thiên hạ rạp đường phượng bay.
Phượng bay trên những rừng cây
Tôi đi hái ngọn mây gầy phía đông
Phía mênh mông phía không chồng
Vườn xưa lau sậy trổ bông thình lình
Kệ kinh vô tận kệ kinh
Mù sương bất chợt tỏ tình bình nguyên.
Mời người này chén mưa nghiêng
Hàng hàng thế giới hiện tiền gần xa
Này son sắc này ta bà
Đất đai róc rách tách cà phê quen
Bốn phương đường sá đỏ đèn
Chừng như thế giới bình yên bao giờ.


Hạ Đỏ

VISEGRAD

Những phố dài tu hú
Những đêm mưa dã tràng
Em la làng
Tiếng than
Tiếng thở
Tiếng vỗ cánh quạ đen
Oác oác
Anh trầm ngâm nghe đèn đường chảy vàng
Màu đồng đổ vuông ô gạch
Dậm chân đổ nghiêng con dốc
Màu dấu giày, vết chân chim
Ướm vào hôm nay những hôm qua hằn vết
Anh đi bên cạnh cái kết
Em khoác áo sương
Sương mai, sương mơ, sương mù mờ
Em, ca từ, chỉ dấu, kỷ niệm
Anh, thơ thẩn, lãng quên, quá khứ
Giấu vào trong nhau rồi xoá những chứng cứ
Những buổi hẹn hò ở Tây phương.


Hồ Quang Lĩnh 

SUNSHINE | NẮNG LÊN

Let the sun shine
let me go with you along January 2
visit old fields
the grass is still green
The orange bird is still in fairy tale color
The kapok tree at the village entrance
still promises March
waiting for the new sunshine
let me come back with you to walk through
the lingering sadness
Don’t worry when the evening light is fading
The wind still plays absentmindedly
still hazy
I still wait for you like the cotton tree waits
for summer
under the shade of clouds
I write you poems that smell of soapberry
dreamy and silly
vibrant youth with long hair
where i sit cool river
new lilies
like someone’s eyes were once green
contains the silence of the late night stars
let the sun shine
let me come back with you to weave
the wind and scatter the clouds
green old fields
sorrows sink into illusion
where i wait
the grass has resurrected

Hãy thắp nắng lên đi
để em về cùng tôi đi dọc Giêng hai
thăm cánh đồng năm cũ
cỏ vẫn thản nhiên xanh
chú cánh cam vẫn màu cổ tích
cây gạo đầu làng vẫn hẹn tháng Ba
chờ nắng mới thướt tha
để em về cùng tôi dạo qua nỗi muộn
phiền lay lắt
đừng bận lòng khi bóng chiều sắp tắt
gió vẫn đùa bâng quơ
vẫn chập chùng sương khói
tôi vẫn đợi em như cây gạo đợi mùa hè
dưới râm mát mây che
tôi viết tặng em những vần thơ thơm mùi bồ kết
mộng mơ và ngờ nghệch
tuổi hoa niên sôi nổi tóc bồng
nơi tôi ngồi dịu mát dòng sông
những bông loa kèn mới nở
như mắt ai xanh ngời một thuở
chứa điều tĩnh lặng của sao khuya
hãy thắp nắng lên đi
để em về cùng tôi đan gió rải mây
tươi xanh cánh đồng năm cũ
những muộn phiền chìm vào hư ảo
nơi tôi chờ
cây cỏ đã phục sinh

Trần Văn Giả 

QUESTION | HỎI


Sitting sadly counting the flying leaves
Leaves flying slowly have become thick
with ignorance
And I asked myself
How many girls truly love me.
Ngồi buồn đếm những lá bay
Lá bay chầm chậm đã dày vô minh
Và tôi đã hỏi chính mình
Bao nhiêu cô gái thật tình yêu tôi

MANY STORIES | NHIỀU CHUYỆN

So many miscellaneous things
Gecko calling in the morning startled
by dream
I come back to enjoy the showers
Which seed is bitter, which seed is me.

Bao nhiêu thứ chuyện linh tinh
Tắc kè kêu sáng giật mình chiêm bao
Em về hứng ngọn mưa rào
Hạt nào cay đắng hạt nào là tôi.

MOTHER | MẸ

Mom planted rows of sweet potatoes
Raising an orphan without relatives
Truong Road with morning dew
The grace on mother’s hair is eternal.
Mẹ trổng từng luống khoai lang
Nuôi con côi cút họ hàng mấy ai
Đường Truông những hạt sương mai
Điểm trên tóc mẹ ơn dài thiên thu.


Huy Tưởng

TĨNH VẬT ĐÃ MỜ,

Rêu loang
ngậm kiếm đã mờ
Bóng xưa
ai đạp
ngựa hồ hí xanh?


CẢNH TƯỢNG,

Tường câm
đêm cạn
mây chìm

trào lục diệp
vách
im mắt người

CỦA NGÀY SINH THI SĨ.

… của
ngày sinh thi sĩ

tiếng chim chớp rạch
đáy hoa lạnh người! …

ĐIÊU KHẮC,

Khảm trăng
chạm nét xa mù

lên biền biệt xanh ngu ngơ,
và …


Inrasara | 
(Trích: “Hành Hương Em”, NXB Trẻ – 1999 – Quý tặng nhà thơ Khế Iêm, Sàigòn, đầu năm 2000)

THI CA VÀ THI SĨ

Không là gì – không vì đâu
Một giọng nói mỏng manh dễ đổ
Vãi gieo vô hình trên cánh đồng ngôn ngữ
chưa vỡ
Cú hy vọng mùa sau.
Không gầy nửa khoảnh không làm đất đứng
Đi – như nỗi trầm tư
Không là gì – không vì đâu
Một hơi gió xâu dài thế kỷ.
Mãi vũng áo cơm
Mãi đỉnh cô đơn
Khiêm cung giữa bạt ngàn đau khổ
Thắp nắng dăm ba số phận mọn hèn.
Không là gì – không vì đâu
Đi – như là ở lại.


Phạm Quốc Bảo

LẨN THẨN

Lắm khi lẩn thẩn ta tự hỏi:
Bỗng dưng hiện diện ở nơi này?
Cha mẹ sinh con chẳng ngỏ lời
xem con có muốn được thành người?

Làm người đa phần khổ hơn vui
Ai ai cũng nếm đủ ngọt bùi.
Nhưng chỉ gian nan nhiều mới thấy
đậm đà cuộc sống giữa mọi người.

Sách xưa có nói trước cả đấy:
Trời có bao giờ nói thành lời (1)
mà mỗi năm tứ thời bát tiết (2)
Xuân Hạ Thu Đông thay đổi hoài.

Vũ trụ – vạn vật tự vần xoay
sinh – trụ – hoại – diệt theo tháng ngày (3)
vận hành tuần tự cứ như thế.
Chỉ được nhận ra bởi con người (4)

Thì ra chúng ta sống ở đời
đủ thân – tâm – trí giữa đất trời
sao cho yên ổn cân bằng cả
Không gian – thời gian lẫn trong ngoài.

Lẩn thẩn thế lại hóa hay
luôn tự tái xét – an bài tấm thân.

Ghi chú:
(1)
“Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên. Thiên hà ngôn tai?”: Trời đâu có nói gì? Bốn mùa cứ vận hành êm ả thường xuyên, vạn vật cứ tuần tự sinh hóa. Trời có nói gì đâu? [trích – chương 17: Dương Hóa trong sách Luận ngữ, thuộc Tứ Thư Tập Chú, tác giả Chu Hy [1130 –1200) triều đại Nhà Tống bên Trung Hoa]
(2)
“Tứ thời – bát tiết”: Từng năm đền đặn bốn mùa tám tiết diễn tiến ra..
(3)
Được sinh ra – Bám trụ, trưởng thành – tàn lụi dần – tự tận diệt.
(4)
”Nhân linh ư vạn vật”: Con người đứng đầu muôn loài nhờ không có những thân thể ( như các loài khác) mà còn có thêm trí não để nhận biết – học hỏi và phân biệt – áp dụng – thích ứng, và có lòng nhân để có thể sống dung hòa.
Thơ • Chủ trương & bút hiệu Khế Iêm • Tháng 12 năm 2025 • Năm thứ 5 • Số 18
Email: tapchitho2022@gmail.com

Tranh chủ đề: Sinh - Lão - Bệnh -Tử của Hs. Nguyễn Đại Giang

TUẦN THƠ 57: MƯA RƠI BÌNH MINH

Tranh Ngọc Dũng
Tranh Ngọc Dũng
Thạch Tốt

MƯA RƠI BÌNH MINH

vào sáng sớm ngay trước
bình minh, người yêu và
người yêu thức dậy và
uống một ngụm nước cô
ấy hỏi anh yêu em
hay chính anh hơn thực
sự nói sự thật tuyệt
đối anh ấy nói rằng
 
không còn gì ở em
nữa em như một viên
hồng ngọc giơ lên ​​đón
bình minh nó vẫn là
 
một viên đá hay một
thế giới làm bằng màu
đỏ Nó không có sức
đề kháng với ánh sáng
 
mặt trời một con chim
vô hình bay qua nhưng
tạo ra một cái bóng
nhanh cơ thể là gì
 
cái bóng của một cái
bóng của tình yêu của
em mà bằng cách nào
đó chứa đựng toàn bộ
 
vũ trụ một người đàn
ông ngủ say mặc dù
có điều gì đó bùng
cháy trong anh như mặt
 
trời như một đường viền
lộng lẫy được khâu dưới
viền áo anh ấy trở
mình dưới chăn bất kỳ
 
hình ảnh nào cũng là
lời nói dối một viên
đá đỏ trong suốt có
vị ngọt ngào em hôn
 
một cái miệng xinh đẹp
và một chiếc chìa khóa
xoay trong ổ khóa nỗi
sợ hãi của em một
 
câu nói được nói ra
trở nên sắc nét hơn
một lần nữa hoa hồng
đang xé toạc chiếc váy
 
của mình những bông hoa
xanh đã đến từ thế
giới bên kia say sưa
như làn gió thổi đến
 
một điều ngu ngốc mới
một lần nữa gần đỉnh
núi những nét ngọt ngào
của hoa hải quỳ xuất
 
hiện hoa lục bình nói
chuyện trang trọng với hoa
nhài bình an cho bạn
và bình an cho bạn
 
chàng trai hãy đi dạo
với tôi trên đồng cỏ
này một lần nữa có
những người theo đạo
 
ở khắp mọi nơi nụ
hoa e thẹn nhưng gió
đã thổi cô ấy đột
nhiên bạn tôi người bạn
 
ở đây như nước trong
suối như hoa sen trên
mặt nước đừng lo lắng
về việc lưu những bài
 
hát này và nếu một
trong những nhạc cụ của
chúng ta bị hỏng thì
cũng không sao chúng ta
 
đã rơi vào nơi nơi
mọi thứ đều là âm
nhạc tiếng gảy đàn và
tiếng sáo vươn lên bầu
 
khí quyển và ngay cả
khi toàn bộ cây đàn
hạc của thế giới có
cháy hết thì vẫn còn
 
những nhạc cụ ẩn đang
chơi nên ngọn nến nhấp
nháy rồi tắt chúng ta
có một mảnh đá lửa
 
và một tia lửa nghệ
thuật ca hát này là
bọt biển những chuyển động
duyên dáng đến từ một
 
viên ngọc trai ở đâu
đó dưới đáy đại dương
những bài thơ vươn lên
như những mảnh vụn và
 
mép của gỗ trôi dạt
dọc bãi biển muốn chúng
bắt nguồn từ một gốc
rễ chậm rãi và mạnh
 
mẽ mà chúng ta không
thể nhìn thấy hãy dừng
những từ ngữ lại ngay
bây giờ mở cửa sổ
ở giữa lồng ngực bạn
và để những tâm hồn
bay vào và bay ra
 
11.30.2025.

MAI MỐT

Tôi thức dậy và thấy
mình vẫn ở đó căn
phòng không đổi chỉ
có chiếc quạt quay chậm
Hơn như thể nó cũng
mệt mỏi vì phải thức
cùng tôi tôi nghĩ đến
tiếng ve hôm qua nó
ở đâu trong đêm nay
và tôi nghĩ đến những
âm thanh khác như tiếng
của một người đã quên.
11.2025

KHU CHUNG CƯ ROYAL LANE VILLAGE

 
Em là bài ca u
buồn của buổi sáng, nghiêm
túc và chậm rãi, em
thon thả em ăn mặc,
em xuống cầu thang trong
bộ đồ công sở và
lái xe đi, em trở
thành người thông thái và
quyền năng khiến cả ngày
trở nên khả thi trên
thế giới Nhưng em cũng
hát bài ca đó trong
đêm loạng choạng đi qua
ngôi nhà đến giường của
đứa trẻ, đến với cơ
thể hồng ấm êm của
người mẹ, để lại vị
đắng cho em Và mãi
mãi những đêm đó làm
xáo trộn cỗ máy tinh
tế của những ngày tháng
khi nụ cười của mẹ
hiện rõ trên gò má.
11.6.25

Nguyễn Lương Ba sưu tầm
 

THƠ VĂN MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975:

TẠP CHÍ VĂN SỐ 64(15/8/1966): TƯỞNG NIỆM BÍCH KHÊ

ĐINH CƯỜNG: THU XÀ VÀ PHẦN MỘ BÍCH KHÊ

 
Tôi đã đi thăm mộ Bích Khê với Thu An cháu gọi Bích Khê bằng cậu. Mùa hè năm 1963, tôi từ Huế vào Quảng Ngãi rồi về Thu Xà, nơi Bích Khê đã sinh ra, lớn lên và trở về nằm trong lòng đất vĩnh viễn ở đó. Thu Xà cách bến xe Quảng Ngãi 10 cây số. Với một con đường gồ ghề đá sỏi, hai bên là đồng lúa, rải rác có những trạm canh dân vệ, con đường còn mang nhiều dấu vết chiến tranh, nơi một ngã tư mà Tạ thu Thâu đã bị bắt, thời kỳ Việt Minh. Thu Xà là một quận lỵ gồm hai dãy phố cũ, phần đông là người Tàu đến ở buôn bán từ ngày trước, có những phố lầu hoang tàn bị bom thời kỳ 1945. Nhà Bích khê ở ngay phố, có một cổng dài đi vào. Tôi đến đó lúc trời nhá nhem tối. Chân đặt lên một sân trồng đầy hoa hồng, lòng bâng khuâng…tôi hỏi thăm bà Ngọc Sương, chị kế Bích Khê và Thu An vừa ở Sài Gòn ra. Lúc vào nhà tôi gặp ngay thân mẫu Bích Khê với đầu tóc bạc mướt, gương mặt phúc hậu. Bà sống cùng người con trưởng và con dâu trong căn nhà lâu đời đó. Tôi được kể căn nhà vẫn không có gì thay đổi. Nhà làm kiểu ba gian, một chái. Gian bên trái là phòng Bích Khê, gian giữa đặt bàn thờ, có ảnh Bích Khê, tôi đến thắp hương. Đêm đó tôi nằm trên chiếc sập cao nơi Bích Khê đã nằm ngày trước, với ngọn đèn dầu hỏa tôi mơ màng bóng dáng phảng phất của một người tài hoa bạc mệnh: Bích Khê. Gian phòng ẩm lạnh, trên chiếc sập gỗ trơn đó Bích Khê đã trở về nằm bệnh sau bao năm giang hồ. Sáng ở đầu sông nhớ núi. Đêm nằm trong núi nhớ sông. Sức khỏe đã hao mòn dần. Suốt ngày thơ thẩn, ướt ao gặp lại một người quen:
“Gió về mang cả mùi lăng tẩm / Buồn cắt lên đền những miếng đen./ Người viễn khách, lòng sầu vạn cổ /.Dặm mòn muốn gặp một người quen” .Thời gian này thỉnh thoảng có Quách Tấn gửi thơ cho Bích Khê đọc rồi họa lại, có lần Chế Lan Viên về thăm, Bích Khê mừng ứa nước mắt. .Đáng kể nhất là lần người yêu trở lại Thu Xà, mặc dầu nàng đã có chồng hai con, đó là nguồn an ủi cuối cùng cho những ngày tuyệt vọng của Bích Khê. Nh tên người yêu độc nhất của Bích Khê, vì trắc trở gia đình không cưới nhau được, mặc dầu tình yêu vẫn nồng cháy giữa hai người. Ở lại Thu Xà chỉ vài hôm Nh trở lại Sài-gòn, để lại cho Bích Khê một hồn đau xác gầy. Bích Khê tiễn nàng ra cổng với cảm giác vĩnh biệt. Cách mười hôm sau Bích Khê nhận được cam của Nh từ Sài-gòn gửi về và cũng từ đó Bích Khê không bao giờ còn trông thấy bóng dáng người tình nữa. .Cơn ho lại nặng thêm. Gia đình chạy thuốc thang đầy đủ cho đến phút cuối cùng. Nhưng bệnh tình đã đến chỗ tuyệt vọng. Bích Khê biết trước cái chết của mình nên vẫn điềm nhiên nói chuyện và an ủi gia đình. Trước hai tháng từ giả cõi đời, Bích Khê cứ tụng niệm”Di Lạc Tôn Phật” và tin tưởng ngày nhắm mắt sẽ có Phật đến rước. Một tối sau khi ăn cháo xong, Bích Khê gọi mẹ lên ngồi một bên nói cho mẹ biết là còn ba ngày nữa, nhằm ngày rằm Bích Khê sẽ chết và nói cho người nhà xuống Chùa Phú Thọ, xin phép mời một vị sư bạn cũ của Bích Khê lên ở với Bích Khê ba ngày đêm để tụng kinh cho chàng nghe. Đến đêm thứ ba thì Bích Khê thở hơi cuối cùng. Đúng như lời Bích Khê nói. Lúc ấy là mười hai giờ khuya, ngày 15 tháng Chạp năm Ất Dậu (tức ngày 17-1-1946). Cái chết đến với Bích Khê nhẹ nhàng quá nhưng cũng chua xót làm sao khiến ta nghĩ đến bệnh lao, nghĩ đến tuổi ba mươi phải lìa bỏ cõi đời. Nghĩ đến những văn thi sĩ cùng chung số phận. Keats sau mấy năm khắc khoải với vi trùng lao đã từ trần tại La Mã, Thạch Lam, Vũ trọng Phụng đã chết trong sự cơ hàn cay cực giữa Hà Nội. .Khi mùa xuân tới, khi cảnh vật xung quanh hồi sinh lại thì Bích Khê qua đời. Bích Khê qua đời giữa mùa xuân loạn ly, ngoài gia đình chả có một người bạn về đưa đám. . Rồi từ đó nắm mộ vẫn bằng đất, nằm thật buồn qua những năm tháng chiến tranh mà sau mười bảy năm, tôi được dịp về thăm được nằm lại trong căn phòng hoang vắng của Bích Khê mà cửa sổ nhìn ra một sân hoa hồng, những cánh hồng mà tôi và Anne đã hái đến cắm trước mộ thi sĩ để rồi những que nhang chưa cháy hết, những trẻ chăn bò đã đến lấy mang đi. Đã ba năm qua, từ ngày về Thu Xà, thời kỳ xe đò còn lưu thông suốt trên Quốc -lộ số 1, cho đến bây giờ bao nhiêu biến chuyển của thời cuộc. Chiến tranh lại tàn khốc hơn. Quốc lộ số 1 bị nghẽn. Quảng Ngãi là vùng có những trận đánh lớn và gay go nhất hiện nay. Gia đình Bích Khê còn lại bà mẹ năm nay đã 85 tuổi cùng người anh trưởng đã dời khỏi căn nhà thân yêu ở Thu Xà để tản cư lên tỉnh. Thu Xà đã trở nên vùng đất bất an mà bom đạn đã thả xuống quanh đó. Làm sao có lại buổi chiều dưới xóm dừa Cổ Lũy, một bến sông qua Phú Thọ, những mảng đá to nhìn xuống biển xanh. Tôi đã đứng trên cao đó nhìn về núi Thiên Ấn, núi Thiên Bút và dòng sông Trà Khúc uốn mình quanh bãi cát chạy dài. .Và phần mộ Bích Khê nằm lại thật đìu hiu khốc thảm cạnh hàng tre già cao vút, giữa một mảnh đất của hội quán mặc cho chiến tranh tràn về. Những con chim lạ có còn về đậu trên mồ Bích Khê và đứa trẻ với đàn bò mà tôi đã gặp ngày thăm mộ có phải lùa bò về thành phố như nhạc Sơn: Đàn bò vào thành phố, reo buồn tiếng nhạc chuông… Tôi nghĩ đến mộ Hàn Mặc Tử được xây trên Ghềnh Ráng cao nhờ sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè. Chiều mây về phủ trắng trên tượng Đức Mẹ và nghĩ đến một vùng mộ trắng trồng toàn hoa Violettes của thi sĩ Anh John Keats, trên bia không đề tên mà chỉ đề: “Here lies one whose name was writ in water” (Nơi đây an nghỉ một người mà tên đã ghi trên mặt nước) để rồi ước mong mộ Bích Khê sớm được dời đi xây trên ngọn núi cao của tỉnh Quảng Ngãi. Để tránh những giao thông hào, những làn mưa đạn ngày đêm tràn xuống phần đất khô cằn đó .
 
THƠ BÍCH KHÊ

LÀNG EM

Nơi đây làng cũ buồn thu quạnh
Anh có khi nào trở lại chưa?
Ngày đi chậm lắm, giòng sông biếc
Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa
Nơi đây thành phố đời ngưng mạch
Mấy nàng lai khách vẫn buồn mơ
Đường lên hội quán sương khuya xuống
Đâu mấy chàng trai rõi nhớ hồ?
Anh có khi nào còn trở lại
Chờ lúc hoàng hôn trăng đã lên
Tìm ngõ nhà em anh sẽ thấy
Khóm lan thơm nặng khí ưu phiền
Là lúc đêm về trên mái ngói
Những nhành nhãn muộn cánh dơi bay
Em đang nổi bệnh trong phòng vắng
Tình dậm theo trăng sáng sáng đầy…

HÀ NỘI VÀ HOÀNG ANH TUẤN VÀ…

Nguyễn Xuân Hoàng
 
Sáng nay San Jose mưa. Mưa nhỏ thôi.
Những ngày đầu tháng Mười, mùa Thu miền Bắc Cali không lạnh. Một người bạn quen từ Quận Cam vừa gửi tặng tôi một CD trong đó có ca khúc Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội. Đây là một bài hát khi mới ra đời, ban hợp ca Thăng Long đã mang đến cho người nghe nhiều ấn tượng. Bài hát đã lâu tôi không nghe. Nhưng lời của ca khúc tôi vẫn nhớ là do Hoàng Anh Tuấn viết cho nhạc của Phạm Đình Chương. Chúng tôi vẫn gọi anh là thi sĩ của Hà Nội. Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc/ Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm. Đó là hai câu thơ đã ở lại rất lâu trong tôi.
Tôi nhớ lần cuối gặp anh năm 2006 trong nhà dưỡng lão Mission De La Casa ở San Jose. Hôm đó, anh ngồi xe lăn, cười hỏi tôi. “Đi đâu?” “Thì đi thăm anh, chứ đi đâu!” “Này cậu, thế mà đã hai mươi năm rồi đấy!” Hoàng Anh Tuấn không nhớ những lần gặp nhau gần đây, trước ngày anh vào Viện Dưỡng Lão, mà chỉ nhớ chuyện của 20 năm trước, những ngày Đà Lạt , Sài Gòn… Đúng, năm 1986 tôi gặp anh ở Virginia khi vừa đặt chân xuống vùng đất tự do. Hôm đó, uống chưa hết ly rượu, tôi đọc lại hai câu thơ trên và trêu anh:“Trời ơi, tại sao yêu mà yêu muốn khóc là thế nào?” Hồi đó anh chỉ cười, không trả lời. Bây giờ chính anh nhắc lại, và nói, “Nghe đây, yêu mà không lấy được thì khóc chứ sao? Cậu vớ vẩn bỏ mẹ!” Và chúng tôi đã cười với nhau.Tôi vớ vẩn thật, đi thăm một người nằm trong nhà dưỡng lão mà trêu chọc, y như ngày ngồi bên anh trong một quán ăn ở Virginia giữa những chai bia.
Cái chất gì của Hà Nội khiến anh yêu mê thành phố ấy đến thế? Tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều: nhắc đến Hoàng Anh Tuấn là nhắc đến Hà Nội và nhắc đến Hà Nội cũng là nhắc đến Hoàng Anh Tuấn. Mặc dù, năm 1949, mới 17 tuổi, Hoàng Anh Tuấn đã rời Hà Nội đi Pháp du học. Paris, Sài Gòn, Dalat, rồi lại Paris, Virginia, San Jose … và bao thành phố khác.
Chưa một lần trở lại Hà Nội, thế nhưng, Hà Nội lúc nào cũng nguyên vẹn trong anh. Hà Nội tràn ngập trong những trang chữ của anh. Như thể sau năm 1949, ngày anh bỏ Hà Nội ra đi cho đến năm mươi năm sau, Hà Nội vẫn còn đập nhịp trong trái tim anh.
Tôi kiếm hồn tôi xưa Hà Nội
Thuở còn trong vắt gió vào Thu
Thoảng nghe ngọt tiếng cô hàng cốm
Chênh vênh đâu cuối phố Sinh Từ
Xa Hà Nội, Hoàng Anh Tuấn mang theo Ga Hàng Cỏ những sáng sớm ngái ngủ, Hồ Tây những buổi chiều tà, mang theo Hàng Đường, Hàng Gai, mang theo năm cửa ô… Anh không bứt được Hà Nội ra khỏi ký ức mình, không thể quên được những “hoa sấu lẳng lơ” (mà hoa sấu sao lại lẳng lơ nhỉ?) … Trong văn học Việt Nam, có lẽ không một thi sĩ nào dành cho thơ nhiều Hà Nội như Hoàng Anh Tuấn.
Khi Mai Thảo viết Đêm Giã Từ Hà Nội, anh đã chia tay Hà Nội thật sự. Rồi Tháng Giêng Cỏ Non, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương, Mười Đêm Ngà Ngọc… và sau cùng với Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền, Hà Nội có vẻ như đã ra khỏi anh.Khi Thanh Tâm Tuyền viết Bếp Lửa sau ngày vào Nam, rồi Tôi Không Còn Cô Độc, Một Chủ Nhật Khác, có lẽ Hà Nội vẫn còn trong Thanh Tâm Tuyền, nhưng những trang chữ của anh không còn tắm đẫm mùi hương Hà Nội nữa.
Còn ai Hà Nội hơn Nguyên Sa, vậy mà thơ anh tràn ngập Paris, tràn ngập chất sống phương Tây, tắm đẫm hơi thở thời hiện đại hơn là quá khứ. Chỉ có Hoàng Anh Tuấn vẫn chung thủy với thành phố của anh.
 
Em Hà Nội, Hàng Đường trong giọng nói
Để Hàng Bông êm ái lót cơn mơ
Thương những buổi chiều Bác Cổ ngày xưa
Anh nắn nót một trường thi lãng mạn…..

Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất
Ý Hàng Đào chín mộng trái môi chia
Xin Hàng Than rực cháy lửa đam mê
Khi quấn quít trong ái ân Hà Nội

(Bài thơ Hà Nội)
 
Hoặc
 
Hà Nội yêu xin cầm tay lần nữa
Một lần thôi cho vừa đủ hai lần
Thêm ngày xưa hạnh phúc rất thiên thần
Anh chết lặng trong tình yêu công chúa
Cho đến tận khi sắp xa lìa ‘cõi tạm’, Hà Nội vẫn là nỗi day dứt không nguôi trong anh. Xin được trích một đoản thi buồn của anh trong những ngày cuối đời:
 
Hà Nội anh giờ là giấc chiêm bao
Cùng thơ ấu đã già đi trăm tuổi
Buổi sáng nay tâm hồn nghe thơ dại
Một thoáng vui chợt tới chợt bay đi
Rồi nỗi buồn như lũ mọt ngu si
Gậm nhấm nốt nửa linh hồn rữa mục.
Bây giờ ngồi đây, trong căn phòng nhỏ của mình, giữa mùa thu San Jose, nghe lại Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội cũng chỉ là nghe lại một kỷ niệm:
 
Mưa hoàng hôn
Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà…
Vũ Ngọc Phan, trong “Hồi Ký Những Năm Tháng Ấy” viết:“Những người đã ở Hà Nội đến ba, bốn, năm đời, khi đi xa Hà Nội mà nhớ Hà Nội là thường tình, nhưng có người chỉ mới ở Hà Nội được một vài năm, có khi chỉ được mấy tháng, mà khi ra đi vẫn cứ nhớ cảnh, nhớ người, có thể là nhớ người hơn cả, thì đủ thấy Hà Nội có sức quyến rũ thật.”Có lẽ ông nói đúng, khi nghe ca khúc Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội của Trần Quang Lộc người ta đâu biết nhạc sĩ là người Quảng Trị. Nếu những người con của Hà Nội như Trọng Đài mô tả một Hà Nội Đêm Trở Gió với Cành me thì thầm gục đầu vào dĩ vãng, với Cô đơn sấu rụng ngoài ngõ vắng thì nhạc sĩ Trịnh, người con của cố đô Huế cũng dâng tặng Hà nội một ca khúc đầy hình ảnh và xúc cảm:
 
Hà Nội mùa thu,
cây cơm nguội vàng,
cây bàng lá đỏ,
nằm kề bên nhau,
phố xưa nhà cổ,
mái ngói thâm nâu.
Hà Nội mùa thu,
mùa thu Hà Nội,
 
mùa hoa sữa về
thơm từng ngọn gió,
mùa cốm xanh về,
thơm bàn tay nhỏ,
 
cốm sữa vỉa hè,
thơm bước chân qua .
Hồ Tây chiều thu,
mặt nước vàng lay
 
bờ xa mời gọi .
Màu sương thương nhớ,
bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.
(Nhớ Mùa Thu Hà Nội. Trịnh Công Sơn)
 
Hà Nội giờ đây có còn nguyên vẹn như những gì Hoàng Anh Tuấn, Mai Thảo, Trịnh Công Sơn … đã nhìn thấy không?
Hà Nội ngày xưa đó có sẽ chỉ còn là một hoài niệm trong lòng những người nhớ thương nó không? Tôi nhớ những câu thơ của Phan Vũ mà tôi đọc cách đây không lâu
 
Em ơi! Hà Nội phố!
Ta còn em năm cửa ô Năm cửa
gió Cơn bão thường niên qua đó
Ba mươi sáu phố, Bao nhiêu mảnh vỡ?
Ta còn em một màu xanh thời gian.
Một màu xám hư vô, Chợt nhòe, Chợt hiện.
Chợt lung linh ngọn nến,
Chợt mong manh Một dáng,
Một hình,
Nhợt nhạt vàng son,
Đậm đầy cay đắng…
Sao chỉ sống một thời với Hà Nội thôi mà ông viết nên một Hà Nội phố thật đến thế, sâu đến thế, và buồn đến thế?
Điều gì đã đưa chân ông trong những chiều lang thang trên các con phố xưa, tìm lại cái hồn sâu lắng còn quanh quất đâu đây của Hà Nội, miên man nghĩ, miên man nhớ đến độ:
 
“bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi con đường”.
 
Thơ, nhạc về Hà Nội dường như thời nào cũng đầy cảm xúc, nhưng sao vẫn thấy chất chứa nhiều nỗi nhớ quá, nhiều day dứt quá, nhiều hoài niệm quá… Và tôi tự hỏi giờ đây nếu Hoàng Anh Tuấn có một lần trở lại Hà Nội, liệu những bài thơ của anh về Hà Nội có còn mang vẻ đẹp như anh vẫn say mê làm cho đến tận ngày giã từ cuộc sống không? Hay kỷ niệm nào về những ngày xưa cũng đẹp, hay kỷ niệm thật ra chỉ đẹp khi đã là chuyện ngày xưa?
 
Nhớ Hoàng Anh Tuấn, mà tôi đã tản mạn đủ chuyện trên trời dưới đất. Cũng chỉ vì một thành phố trong thơ ông: Hà Nội. 
 


Hồ Đăng Thanh Ngọc

GÃ CHÀI SÔNG HƯƠNG

đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá đò
từ Vỹ Dạ thẳng Ngả Ba Sình đò chở
người tình đò chở trăng chênh đò chở ngày
xưa đi tới ngày nay đò chở mùa thu

đi qua mùa hạ đò chở mái rạ đi
về thành đô đò chở vu vơ đi qua
trời rộng đò chở khát vọng tới miền phù
hư gã chài ngất ngư chiều buông lưới nặng

cỏ lau chất ngất gió mênh mang lòng hát
ca ngày tháng cõi đời mơ suông gió không
thành tiếng bài ca cá con lời Nam Ai
vọng nhắn tình nước non …
*
gã chài chèo đò cập bến với liếp cá
nặng vợ gã lên bờ bán được giá mỉm
cười trong nắng chiều gã cũng cười theo trong
nắng chiều những nụ cười tỏa nắng hạnh phúc

ngày nào gã cũng mơ được như ngày này
bởi ngày nào cũng được như ngày này thì
đỡ lo miếng ăn cho mấy đứa nhỏ đỡ
lo cái áo cái quần đỡ lo học phí

cho con ừ đời gã chỉ cần liếp cá
nặng hàng ngày thế thôi vợ gã mua cho
gã cút rượu chống mỏi cuối chiều gã nâng
chén cuối mạn đò một ngày đã qua như

vạn ngày đã qua cầu mong bình yên cho
cá cho tôm đầy lưới nhỏ gã và vợ
gã không mong chi hơn không mong nhiều hơn
đò từ Đông Ba đò qua …

Huế, 4/2015

Phạm Quyên Chi

CĂN PHÒNG

Những ngày đóng cửa chặn
các sự vật tốt đẹp
từng xảy ra trong cuộc
đời dài của mình thời
gian xoay vòng diễn tiến
như bản năng mách bảo
không có thừa số tiền
để làm phiền một ai
ngoài cánh cửa người bạn
bán sách rong đang ngồi
lật từng trang giấy đúng
vị trí đúng tư thế ấy
không biết đến khi nào
cho xong chả là ngồi
để chờ với ý nghĩ
lê thê nhích gần lại
suốt một thời gian đóng
cửa chặn sự phản chiếu
tháng năm đã đi qua
của cuộc đời mình để
lộ ra chiếc bóng đang
chìm vào điều khó tin
khó tin đến phải tin
có thời gian mà không
kịp đóng cửa ngăn lấy
thói quen mơ hồ thế
giới bên ngoài xóa sạch
kí ức để trở lại
làm người ngoài căn phòng.


Nguyễn Văn Vũ

HOA RẤT LẠ

hoa của một mùa nhớ
đã xa hoa rất lạ và
hoa như cánh cửa này
vừa mở cho em bước

ra vườn nắng tràn ngập
tiếng gọi mời đừng quay
đầu nhìn lại con ngựa
ăn đường* sẽ níu chân

em và hoa rất lạ
chùm thơ dưới lòng hồ
sẽ làm em cay mi
mắt hãy im lặng dẫm

lên chiếc bóng chán chường
hãy đặt xuống bàn những
ly chai tính toán những
cái chạm cốc tầm thường
rồi đi đi cùng với
tiếng trống vọng về tương
lai đừng ngoái đầu nhìn
lại hoa rất lạ hạnh
phúc từ đây sẽ không
rời xa em nữa đâu …

*Con ngựa cưng được cho ăn (uống) đường khiến nó không muốn rời xa chủ.

Hường Thanh

SAO RƠI

Một ngôi sao chợt rơi
Rơi xuống bầu trời đêm
Kéo theo vầng kim tuyến
Long lanh trong mắt tôi

Ngẩn ngơ nhìn sao rơi
Mong manh trên bầu trời
Rơi như giọt nước mắt
Vạn vật thêm xao xuyến

Tôi chìa ra bàn tay
Hứng trọn màu giọt lệ
Là nhánh gió sao rơi
Từ nơi đâu nơi đâu

Cây cỏ đang chao mình
Vẫn lung lay trong gió
Nơi sao buồn rơi rơi
Nơi lòng tôi chơi vơi.

Ánh sao thật trong sáng
Lòng tôi ôm ngôi sao
Như ôm một người bạn

2006

Nguyễn Thanh Hiện

TRÁNG SĨ HỀ

thơ tặng Phạm Văn Phương
tráng sĩ ra đi hề
ngựa sắt không xì hơi
vẫn đi giữa trưa chan
chan nắng hề cứ muốn
úp mặt vào xiêm áo em
đất lở trời lở hề
không nao núng chỉ lo
em bỏ ta đi hề
buồn lắm tráng sĩ ra
đi thời a còng loang
lổ hề nón nhựa giày
nhựa
5/10/2014

Hà Bạch Nguyên

NHỚ … RÒNG RÃ

Em lấy trái tim em ra
ngoài và vạch tìm từng
ngăn ký ức ngăn ký
ức nào có hình ảnh

Anh hẹn hò cùng em
nơi công viên tao đàn
nọ hay cầu calmette
kia ngăn ký ức nào

Có nụ hôn đầu làm em
chết đắm ngăn ký ức
nào có bàn tay tuyệt
vời ơi anh ơi anh

Ơi! đến hơn 20
năm dư hương vẫn nực
nồng như mới mới hôm
qua mới hôm qua thôi

Mà anh!? Em lấy óc
em ra vạch từng sợi
dây thần kinh xem ngày
tiễn anh lên đường là

Ngày nào cớ sao giờ
em không nhớ chi hết
chỉ nhớ nụ hôn anh
chỉ nhớ bàn tay anh

Lau nước mắt em dầm
dề thằng út cứ xoay
quanh chụp hình và má
cứ nhìn em nhìn em

Không ngớt bầu trời giữa
trưa gắt nắng vẫn có
đôi chim trên hàng dây
điện kề mỏ nhau vẫn

Có đôi nhân tình dìu
nhau tiếng loa phóng
thanh ồn đôi tai em
đứng cạnh anh chờ lên

Đường anh ơi em nhớ
đến đoạn anh bước lên
máy bay chờ rồi cất

Cánh em như ngất đi
em như ngất đi em
nhớ đoạn phim này ròng
rã suốt cả đời em


Hạnh Ngộ

IM LẶNG CŨNG NHƯ LỜI

https://open.spotify.com/episode/5Rw0e2chUGEVfR0hCVNHlR?si=_T881ddaSIOh9zlgA2Lbfw | Mời nghe đọc trên Spotify

Cuộc đời là những chuyến đi gần nhau
thì ít chia ly thì nhiều khi muốn
hứa hẹn với anh những lời tư tình
có cánh chợt khựng lại bởi biết rằng

lời hứa đầu môi chẳng thành hiện thực
thực hiện được mới lạ những lời em
nói “muốn yêu anh mãi mãi” trong lúc

say đắm lắm mới dám nói lời sấm
truyền kiểu tình yêu vĩnh cửu yêu vô
thời hạn và cũng bởi cuộc đời là
những chuyến đi hôm qua anh nói “muốn

gần em mãi mãi” hôm nay anh ở
trời Tây em ở đời đây phương Đông
với cơn giông tình đen trắng như vậy
có phải lời nói gió bay hông? chắc

không vì âm thanh ấy đọng trong em
rất sâu vậy không phải giả cũng không
phải là thật anh biết mà em biết
mà lời nói bộc phát lúc tình say

em trân trọng khoảnh khắc ấy nên thôi
nếu có lần sau thì im lặng cho
rồi vì cuộc đời là những chuyến đi
gần nhau thời ít chia ly … cũng đành.