Hậu hiện đại – sự đứt gãy của “ý nghĩa”

Những câu thơ không cần cứu ai, chỉ cứu người viết
Những câu thơ không cần cứu ai, chỉ cứu người viết
Nguyễn Tiến Thanh

Có một thời người ta tin vào thơ như người ta tin vào Thượng đế. Tin rằng thơ mang theo những tầng sâu của linh hồn, là cái đẹp thuần túy vượt khỏi mọi bạo lực của thời đại. Tin rằng thơ là tiếng nói cuối cùng, là kẻ giữ hộ tinh thần con người khi thế giới này chỉ còn lại sự trơ lì.

Nhưng hậu hiện đại đến, không để phủ nhận thơ, mà để đặt một dấu hỏi khắc nghiệt hơn:

“Nếu không còn linh hồn, không còn bản thể, thì thơ còn nói thay ai?”

Hậu hiện đại đã khai tử đại tự sự. Không còn thi sĩ như sứ giả của chân lý, không còn thi ca là vết cắt thiêng liêng giữa người và muôn vật.

Mỗi tuyên bố đều bị nghi ngờ như một vết tích của quyền lực

– điều mà Lyotard từng đoan quyết.

Hậu hiện đại không đọc thơ – nó giải cấu trúc thơ, để chỉ ra rằng mọi ý nghĩa mà ta tưởng là trung tâm đều là một chơi trò dời chỗ không ngừng của dấu hiệu. Câu thơ không chỉ mơ hồ – nó tự rút lui khỏi nghĩa, để phơi ra bản chất không-nơi-trú của ngôn ngữ. Thơ không còn là chỗ trú của linh hồn. Thơ là căn nhà hoang của những ẩn dụ bị đẩy đến tận cùng của tan rã.

Thơ không còn là tiếng nói, chỉ là tiếng vọng. Nó từng được viết bởi những cái tôi rõ nét: Truyện Kiều là Nguyễn Du, Thần khúc là Dante , Bên kia sông Đuống là Hoàng Cầm. Nhưng hậu hiện đại đặt lại toàn bộ: Không còn “tôi”. Chỉ còn một trung tính không xác định phát ra tiếng gào của các mảnh vỡ. Roland Barthes gọi đó là “cái chết của tác giả”. Tác giả không còn là người kiến tạo nghĩa – chỉ là một vị trí tạm thời trong mạng lưới những dấu hiệu. Baudrillard còn tàn nhẫn hơn, nhìn thơ như một biểu tượng rỗng: nơi cái thực được thay thế bằng cái siêu thực, nơi cảm xúc bị mô phỏng lại để bán đi như những khoảnh khắc chân thực.

Thơ hôm nay, trong hậu hiện đại, không còn viết về cái tôi – mà là cái tôi bị vỡ ra và phản chiếu trong gương vạn mảnh. Mỗi bài thơ là một tiếng vọng, không biết vọng từ đâu, không biết vọng về đâu. Có khi ta viết một bài thơ chỉ để nghe lại giọng của chính mình – nhưng không chắc đó còn là mình. Có khi ta làm thơ như thử gõ lên một bức tường không có hồi âm – để biết: có thể chính thơ cũng đã rỗng.

Với hậu hiện đại, thơ trở thành một diễn ngôn không còn chủ thể – và cực đoan hơn- nó cho rằng diễn ngôn không còn phục tùng chân lý mà phục tùng quyền lực. Trong ánh nhìn ấy, thơ không chỉ là một hình thức nghệ thuật, mà là một diễn ngôn bị kiểm soát, định dạng, và cài mã hóa bởi các thiết chế – từ truyền thông, xuất bản đến thị trường thẩm mỹ.

Một phần thơ Việt hiện nay – hậu hiện đại hay tân hình thức- xét cho cùng, cũng là một sản phẩm của cơ chế diễn ngôn ấy. Ở đâu đó, nó chọn cách nổi loạn bằng hình thức, nhưng chưa chắc đã thoát ra khỏi quy luật của việc “thị trường hóa cảm xúc”.

Có thể người ta không viết thơ vì muốn nói, mà vì muốn được thấy là mình đang nói. Có thể thơ không còn được viết để đi tìm ý nghĩa, mà để mua một vị trí giữa các từ khoá hashtag. Nếu vậy, thơ hậu hiện đại là một vết rạn được phơi ra giữa các khối kiến trúc quyền lực. Nó không còn là ngôn ngữ của vĩnh cửu. Nó là một thực hành bất ổn – vừa chống lại diễn ngôn, vừa là sản phẩm của chính nó.

Vậy có còn cái đẹp sau khi bản thể tan rã không? Nếu không còn bản thể, không còn chân lý, không còn cái tôi – thì cái đẹp trong thơ hôm nay là gì? Không còn là xúc cảm cao cả. Không còn là chân – thiện – mỹ. Cái đẹp trở thành một vết nứt được nâng niu. Một khoảnh khắc đứt gãy được giữ lại như dấu hiệu rằng ta vẫn đang sống.

Ta không còn làm thơ để kêu gọi – mà để nhớ rằng có lần mình từng nói. Ta không còn làm thơ để cứu ai – mà để ghi lại rằng ta đã không thể cứu mình. Và có thể, trong sự bất lực đó, thơ tìm thấy một phẩm giá khác: phẩm giá của cái chưa từng trọn vẹn.

Trong cõi thơ không còn nền móng, thơ hậu hiện đại không xây dựng một thế giới. Nó ngồi giữa đống hoang tàn, và làm một động tác rất người: rút trong tro tàn ấy một câu thơ không ai hiểu – nhưng cũng không ai dám lãng quên.

Trong việc thực hành thơ của các tác giả Việt, trong phạm vi đọc của cá nhân, tôi thấy có mấy xu hướng. Ở nhiều tập thơ của các tác giả thế hệ 7x,8x, Derrida vang lên: mọi dấu hiệu về cái tôi trong thơ đều bị trượt, không định vị được, không khép kín. “Tôi” là một cấu trúc bị hủy thiêng. Nhà thơ không còn “viết về mình”, mà viết như một cách làm tiêu biến bản thể. Cái tôi trong thơ luôn đứng trên ranh giới: nửa vật thể – nửa ý niệm, nửa hiện hình – nửa siêu hình. Thơ giải cấu trúc bản thể, bào mòn ranh giới của ý nghĩa, và thường để lại một khoảng trắng giữa những từ – khoảng trắng ấy không phải im lặng, mà là vết cắt của ý thức. Ở những nhà thơ này, thơ không xác định một điểm tựa. Cái tôi biến mất trong hành trình đi vào vùng trắng của ngôn ngữ. Đây là thơ của một bản thể đang tan rã, không cố níu giữ gì, chỉ khắc lại những vết trượt của linh hồn.

Nếu Foucault còn sống và biết tiếng Việt, ông sẽ thích thú trước thực hành thơ của một nhóm thơ hậu hiện đại khá nổi tiếng ở Việt Nam. Họ không làm thơ như một trò chơi chữ. Họ dùng thơ như một gói chất nổ nhỏ gài vào cấu trúc diễn ngôn chính thống: từ mỹ học đến đạo đức, từ chính trị đến văn hóa tiêu dùng. Mỗi bài thơ đều như một cú phỉ nhổ lên tính thiêng liêng, và trong hành vi đó, thơ tự vạch mặt chính mình như một sản phẩm cũng bị chi phối bởi quyền lực và hình thức.

Các tác giả này chính là biểu hiện của hậu hiện đại ở chỗ: tẩy xóa “cái đẹp truyền thống”. Tẩy xóa “cái tôi tinh thần”. Phơi bày thơ như một diễn ngôn bị kiểm duyệt, bị thương mại hóa, hoặc bị thần thánh hóa sai chỗ. Không còn sự thanh cao,

không còn tính nhạc, không còn mộng mị. Họ viết thơ như một hành vi chống lại chính cái khung mà thơ từng bị đóng vào. Thơ họ dơ bẩn như cái bô của người già, nhưng đó là sự thật duy nhất họ không muốn lau đi. Foucault có thể sẽ vỗ tay:

“Diễn ngôn được dựng ra để cai trị – còn thơ như thế là đang phá hoại quyền lực.”

Tôi đặc biệt muốn nhắc đến một nhà thơ nữ định cư ở nước ngoài. Thơ chị không hẳn là giải cấu trúc. Chị khai thác triệt để cơ thể và dục tính như những hình ảnh bị phơi bày, lặp lại, tiêu thụ. Nhưng bên dưới vẻ đẹp lạnh lùng ấy là một mô hình Baudrillard hoàn hảo: Thơ mô phỏng khoái cảm. Khoái cảm mô phỏng tự do. Tự do mô phỏng bản thể.

Trong thế giới ấy, thơ không còn là phản ánh – mà là một sự mô phỏng sự mô phỏng. Nữ thi sĩ viết thơ bằng lưỡi, không để nói mà để làm đứt gãy thói quen hiểu. Thơ không còn là nơi chứa đựng kinh nghiệm sống – mà trở thành trình diễn của chính sự hoài nghi: Kinh nghiệm nào là thật? Cảm xúc nào không bị thao túng bởi thị hiếu? Ngôn ngữ nào không bị rút ruột?

“Nàng trút cởi bí mật úp trên vách đá và trầm mình vào im lặng tìm an toàn
mật mã chiếc chìa khóa mở cửa một nỗi đau kinh hoàng
căn nhà của một người đàn ông và ba người đàn bà
tràn ngập âm thanh và mùi hương phản cảm
tiếng động tình của cô gái, tiếng khóc của nữ chủ nhân, tiếng thở dài thất vọng của nàng ”.

Đó là một buổi trình diễn của những mô phỏng: Giới tính được mã hóa. Khoái cảm bị lặp đi lặp lại. Ngôn ngữ bị bôi trơn để trở thành một hình ảnh dễ lan truyền. Đây là Baudrillard – ở tầng sâu nhất: không còn ranh giới giữa thật và giả – chỉ còn các phiên bản của phiên bản.

Cũng không thể không nhắc đến một nhà thơ nổi tiếng, có thể coi là nổi tiếng nhất của những người nỗ lực khai phá một con đường mới trong thơ Việt sau 1975 . Ông không hậu hiện đại theo kiểu nhóm thơ hay tác giả nữ nói trên. Nhưng chính sự bám víu vào huyền thoại cá nhân, vào bóng tối, vào ký ức không thể phục dựng, lại làm nổi bật một điều: Thơ ông là nỗ lực níu giữ đại tự sự – nhưng trong một thế giới đã không còn nền tảng cho nó.

“Ta không thể nuôi nhau bằng những ánh sao trời
Anh nói vậy xin em đừng khóc
Những ngọn tóc em đang đổ xuống ngực anh
Như những rễ cây bò buồn trong sỏi đá”.

Ta có thể thấy ở đó một tàn dư của chủ nghĩa tượng trưng, nhưng không còn thiêng. Giấc mơ, ánh sao trời, đồng quê, cơ thể – tất cả đều biến thành dấu hiệu không còn gắn với trải nghiệm gốc. Lyotard đã nói: đại tự sự không chết hẳn – nó tồn tại như bóng ma không còn linh hồn. Thơ ông vì thế gợi cảm – và u uất – vì nó không chịu tan trong hậu hiện đại, nhưng bị hậu hiện đại bao vây đến mức mất phương hướng.

Khác với những hình thức trình diễn thơ trẻ hôm nay, thơ của một vài tác giả đương đại khác lại mang dáng vẻ truy nguyên: đi vào bản thể đang mục ruỗng, nhưng không để khôi phục nó – mà để giữ một chút phẩm giá cuối cùng còn lại từ đống hoang tàn. Họ làm thơ như chép lại những câu nói cuối cùng của một người sẽ bị quên mất. Không để ai nhớ. Chỉ để chính mình khỏi tan đi.

Thơ họ lặng lẽ, không kêu gào. Nhưng bên trong nó là một dòng kháng cự thầm lặng. Đây không còn là thơ để “nói điều gì đó” mà là để không rơi hoàn toàn vào câm lặng. Một hành vi của tự vệ bản thể giữa cơn bão tri thức và tiêu dùng.

Có thể thơ Việt hôm nay không còn là nơi cư trú của ý nghĩa.Nhưng nó vẫn là một vùng đứt gãy cần được giữ lại. Một bản thể chưa hoàn tất, nhưng biết mình đang rạn vỡ. Một tiếng gọi không ai đáp – nhưng vẫn vang lên như thanh âm kháng cự cuối cùng của cái đẹp không ai đón nhận.

Vì sau tất cả những Derrida, Baudrillard, Foucault và Lyotard, vẫn còn một điều mà thơ – dẫu hậu hiện đại đến đâu – vẫn không thể thôi cưu mang: Niềm tin mong manh rằng, vẫn có người lặng lẽ lắng nghe. Dù không hiểu. Dù không tin. Nhưng lắng nghe. Không có thơ cứu thế. Không có kẻ làm thơ thay ai. Chỉ có người – đứng giữa tàn tro của chính mình – cố giữ một mảnh chữ chưa cháy hết.

Thơ từng được xem như một căn phòng trú ẩn cuối cùng. Khi lịch sử lầm than, thơ cưu mang ý thức phản kháng. Khi thân thể bị hủy hoại, thơ giữ lại hình ảnh con người. Khi lý trí cạn kiệt, thơ khơi dậy điều chưa từng gọi tên.

Nó từng là nơi mà “tôi” tìm thấy chính mình. Nhưng trong bối cảnh hậu hiện đại – nơi mọi nền tảng của chân lý, đạo lý, niềm tin và bản thể đều bị giải thiêng – thơ liệu còn giữ được vai trò đó?

Hay thơ hôm nay, chỉ còn là vết trượt của ngôn ngữ, vết nứt của bản thể, một tiếng vọng không ai gọi, giữa một thế giới vốn không cần ai phải trả lời?

Không có một định nghĩa duy nhất cho “hậu hiện đại”. Lyotard chỉ gọi nó bằng một dấu hiệu: “sự hoài nghi đối với mọi đại tự sự.” Derrida không định nghĩa – ông giải cấu trúc. Baudrillard không tranh luận – ông dựng nên một thế giới mô phỏng, nơi hình ảnh giết chết thực tại. Foucault không nói về cái đẹp – ông truy lùng quyền lực ẩn trong mọi diễn ngôn. Trong thế giới ấy – thơ cũng không còn là một thực thể thiêng liêng đứng ngoài.

Thơ trở thành vật thể bị nghi vấn: Ai là chủ thể của câu thơ? Có tồn tại bản thể đứng sau ngôn ngữ? Cái tôi thơ ca là ai: người viết, người đọc, hay người được tưởng tượng ra để hoàn tất nghĩa? Thơ không còn đi tìm ý nghĩa – mà bày ra sự đứt gãy của ý nghĩa. Hãy thử đọc một bài thơ hậu hiện đại – bạn sẽ thấy: Không có trung tâm. Không có tuyến tính. Không có kết luận. Không ai chịu trách nhiệm cho câu thơ ấy.

Thơ hôm nay, nếu đi đúng tinh thần ấy, không còn nói lên điều gì đó – mà phơi bày khả năng bất khả của việc nói.Viết thơ – là thừa nhận rằng tôi không thể diễn đạt. Nhưng vẫn viết – vì nếu không, cái không thể ấy sẽ không bao giờ thành hình.

Trong hậu hiện đại, Thơ không còn là tiếng nói – chỉ còn là tiếng vọng. Không còn ai tin rằng thơ là tiếng nói của Chân – Thiện – Mỹ. Thơ hậu hiện đại không còn phát ngôn từ một cái tôi toàn vẹn. Nó nói bằng những vết nứt, những mảnh vụn, những vết cào của một bản thể chưa từng được hình thành. Barthes tuyên bố “cái chết của tác giả”. Nhưng trong thơ, ta có thể cảm thấy rõ hơn: “cái chết của bản thể”. Và rồi, thơ hôm nay có thể không cần người tin. Nhưng vẫn cần người đọc để lắng nghe cái không thể đọc nổi.

Không để hiểu. Không để phán xét. Mà để biết rằng có một nỗ lực chưa từng buông xuôi – giữa thế giới của mô phỏng, của quyền lực, của giải cấu trúc. Một câu thơ hôm nay – có thể không giữ lại ý nghĩa. Nhưng có thể giữ lại một vết chạm, dù rất mong manh, của người từng muốn nói điều gì đó – Trước khi mất hẳn khả năng nói.

Tôi vẫn yêu cái đẹp, theo cách cổ điển. Yêu một câu thơ còn vần, một ý nghĩ còn giữ nhịp thở của linh hồn. Vì vậy, tôi biết mình không thể sống hẳn trong thế giới hậu hiện đại – nơi mọi cấu trúc bị tháo rời, mọi ý nghĩa bị nghi ngờ, và vẻ đẹp trở thành trò chơi ngôn ngữ. Tôi đứng bên ngoài, nhưng không rời mắt. Tôi quan sát. Những con người sống trong đó – và cả thơ ca được sinh ra từ trong chính sự tan rã đó. Không phải để phê phán. Cũng không phải để tuyên xưng một niềm tin cũ. Chỉ là để hiểu. Để nhận ra mình đang ở đâu, khi những điều từng thiêng liêng giờ đã trở nên khả nghi.

Nguyễn Huy Thiệp từng đặt ra một câu hỏi, như một cái bẫy đã nguội dần:

“Đương đại – tức là suy đồi?”

Câu hỏi ấy, thoạt nhìn là sự do dự mang tính phản biện, nhưng kỳ thực – là một xác tín buốt lạnh: rằng trong cái gọi là “đương đại”, ông thấy nhiều hơn một sự tha hóa. Không phải chỉ đạo đức suy đồi, mà cả thẩm mỹ, cảm xúc, trí tuệ – tất cả đang trượt dần khỏi khả thể của cái gọi là “đẹp”. Nhưng tôi thì nghĩ khác. Dẫu không phủ nhận nỗi hoài nghi của ông là một nhắc nhở quan trọng, tôi vẫn tin: cái đẹp – nếu còn – sẽ không nằm trong một hình thức cố định nào, mà trong chính khả năng nó tự hoại, tự tra vấn, tự hồi sinh.

Vì thế, tôi cần đưa ra cảm nhận.

Và để điều đó không là một sự mơ hồ, tôi buộc phải nghĩ đến các ví dụ, những bài thơ, những khuynh hướng, những tiếng nói đã xuất hiện quanh mình. Nhưng bản tiểu luận này không phải là một tập phê bình. Nó càng không phải là một khảo sát học thuật về thơ, cũng không nhằm tổng kết hay hệ thống hóa bất kỳ lý luận nào. Vì thế, tôi không dẫn tên ai cụ thể.

Tôi chỉ muốn giữ lại một nhịp thở cho điều tôi tin: rằng ngay cả trong thế giới hậu hiện đại, nơi mọi giá trị đều bị lật ngược và tan rã, thì vẫn có một thứ – nếu còn – sẽ không để con người chết hẳn: một câu thơ viết ra khi không còn gì để bám víu, nhưng vẫn còn điều gì đó muốn được nói ra như thể linh hồn vẫn còn thở.

Câu hỏi sau cuối: Còn có thể làm thơ không, sau hậu hiện đại? Câu trả lời là: không thể – nếu bạn tin vào thơ như đã từng. Nhưng: Hoàn toàn có thể – nếu bạn tin rằng chính điều bất khả ấy mới là điều duy nhất còn lại để làm.

Thơ hôm nay không còn là công cụ diễn đạt, mà là bằng chứng cho thấy việc diễn đạt đã thất bại. Một chứng tích, một vết rạn, một tiếng động phát ra từ một bản thể không còn nguyên vẹn. Chúng ta không làm thơ để cứu thế giới. Chúng ta làm thơ để nhớ rằng, từng có người đứng trước hư vô mà vẫn không im lặng.

( Trích tiểu luận: Những câu thơ không cần cứu ai, chỉ cứu người viết.)

TUẦN THƠ 48: THƠ TRÊN BÁO THƠ

Đào Quốc Minh

CÁNH ĐỒNG CỐ HƯƠNG

ôi cánh đồng cố hương tôi
chiều ba mươi sụt sùi tiếng nước
con quốc đau lòng trên mảnh ván đò trôi
ván đò trôi ôi hỡi ván đò trôi
như con mắt em tôi ngập một trời rầu rĩ
lạc bến bờ lạc dòng thế kỷ
bóng tháp xưa như bong bóng hải hà
em chẳng về đắp mộ cho hoa
ôi cánh đồng cố hương tôi
chiều ba mươi chuông chùa làng lạnh lắm
nằm hắt hiu tổ mối rỗng trên gò
tiếng đã tắt những kinh cầu xa vắng
bởi trong lòng mang đứa bé bơ vơ
lau rậm rì lạc mất giấc mơ xưa
ôi cánh đồng cố hương tôi
chiều ba mươi linh hồn con chó nhỏ
bỏ tôi đi xa tít tận chân trời
tôi ngồi khóc trên nóc nhà không cánh
đang trồi lên từ nhân gian bất hạnh
những – nấm – mộ – mặt – trời
tiếng sủa nào vọng lại phía xa xôi

Trích: Thơ "Phục Sinh", Nxb Hội Nhà Văn, 2024.

Anh Hồng


ĐỘC THOẠI

Còn rất nhiều điều đang dang dở
chẳng lẽ lại buông tay?
khi gạch đá ném vào ta tơi bời đau đớn
khi những mặt nạ xung quanh rơi rơi
từng gương mặt méo mó, dị dạng hiện ra
không phải mặt người …

Còn rất nhiều điều đang dang dở
chẳng lẽ lại ngủ quên trong màn đêm êm dịu?
mơ một giấc mơ được bay qua ngọn núi cao
nhất chạm đến bầu trời …
được khóc cười riêng ta …
Chẳng lẽ lại buông tay?
khi bóng tối ập về xóa nhòa vệt sáng
sót lại bên chân trời vời vợi
tiếng vạc kêu thống thiết …
bám riết ta như xé nát lòng …
chẳng lẽ … và chẳng lẽ?

Trích thơ "tôi & đêm và", Nxb Hội Nhà Văn, 2013 (Thân quí tặng nhà thơ Khế Iêm) 

n g . a n h a n h

ĐÃ LÀ MỘT PHIỀN TOÁI SỐ 18

Khi anh nói yêu em
Loài quỷ dữ ẩn mình hiện hữu
Không chờ triệu hồi
Tái sinh

Khi anh bảo không thể ngừng yêu em
Cây hương thảo lìa đời
Hơi thở lên đồng ép lồng ngực
Giọt nước mắt vỡ thanh âm

Kẻ thất bại mang hành trang quá nửa đời
người.
Em
Chối từ
Đoạn kết viên mãn
Chúng mình hai cá thể nhân từ
Đợi hoàn lương

Khi anh nói yêu em
Loài quỷ dữ ẩn mình
Đừng đùa bỡn
Lần thứ hai

Trích thơ “Đã Là Một Phiền Toái”, Nxb Đà Nẵng, 2019

Mão Xuyên

KẺ KHỞI NGUỒN

Chính anh, kẻ khởi nguồn mọi thứ
Kẻ đã yêu một người bằng tất cả
Vào một khoảnh khắc, và ruống bỏ
Họ khi anh không còn thuộc khoảnh
Khắc ấy, kẻ đã tạo ra cái bóng của
Mình, kẻ đã tự moi xương sườn
Chính mình, kẻ đã nói với cái
Bóng, tất cả đều là anh
Anh là bóng tối, là ánh
Sáng và anh là cái không thể nói
Lẫn cái hiển nhiên được bật
Lên thành tiếng, nhưng những cái
Bóng giờ đã quên mất chính mình
Vẫn thường rỉ tai nhau từng
Tiếng rên của anh khi cầm
dao tự xẻo da thịt


Mai Văn Phấn

BÂY GIỜ MƯA PHÙN

Khi mưa phùn đã làm lại từ đầu
Anh còn trong mơ hét vang trong bóng tóc
Em bảo khi ấy em đã tỉnh
Bởi không gian ấm ướt đang về.
Cứ thương anh sao mơ nhiều, mơ lâu quá
Bởi lúc đó anh vẫn muốn hết mình
Thế còn ai cầm tay em,
Nghe tiếng thở của em bên kia mộng mị …
Anh bỗng sợ rồi mưa phùn nghe thấy
Biết chúng mình đã trẻ trung hơn xưa
Những ý nghĩ lung tung chạy cùng sóng lá
Mùa này nụ mầm thường lên rất nhanh.

Trích thơ “Nghi Lễ Nhận Tên”, Nxb Hải Phòng, 1999. (Quí tặng Tạp chí Thơ)

Phan Như

NÓN

Em đan những ngón tay màu xanh
gọi mùa thu về bên dốc núi
khi ta lăn tháng ngày gió bụi
gặp em bỗng nhớ quê nhà
Em đan những vần thơ tím ngát
gọi nắng xuân về bên phố xưa
khi ta nửa đời hương khói nhạt
gặp người lại nhớ rừng xưa
Tôi không mua cây lá trên ngàn
tôi đâu bán bài thơ phố tím
tôi chỉ là chàng xe thồ chở nón
đem rừng thăm lại phố xưa
Tôi xin đan một vòng tay ngà xanh
để em che nụ cười xa vắng
đời đi qua một ngày gió động
quai tình tôi buộc nắng mưa

Trích thơ “Sóng Vỡ Mạn Đời”, Nxb Đà Nẵng, 1999.

Lê Hưng Tiến

NHỮNG CON CHỮ TÁI SINH

Thời gian dãn nở
Tôi đốt mình cháy xuyên màn đêm
Những con chữ dật dờ sống sót
Những con chữ giành giựt sự sống cho nhau
Những con chữ bị thiêu rụi trong cái chết
tức tưởi
Những con chữ í ới bầy đàn oán than
Và những con chữ đôi lúc biết trước số phận
của mình
Tất thảy chỉ sự dãn nở thời gian
Khi con quay chạy vạy giấc mơ
Những con chữ hiển linh từ 4 giờ đến 5 giờ
sớm muộn
Mặt trời không dám đổ màu hồng lên
đường đi của cỏ
Tôi cũng không biết lối về của đôi mắt nhớ
Thần quái bỏ hoang ngoài hành lang
ngữ nghĩa
Tất thảy chỉ sự dãn nở thời gian
Khi thời gian lại tiếp tục dãn nở
Sự phóng sinh là tội đồ của cánh hẩu
trí tưởng
Cơ thể tôi cũng bị những con chữ ám muội
Nhập nhoạng trong mớ sản phẩm không
thời gian
Mỗi khi ban mai lên đồng
Tôi cày xới được vụ mùa thơ thở
Những con chữ bắt đầu tái sinh
Đòi mặt trời mọc hướng đằng chân
Không có lối cỏ đi về của gió
Và tôi bắt đầu bơ vơ giữa thời gian dãn nở

Trích thơ "Những Con Chữ Tái Sinh", Nxb Hội Nhà Văn, 2023. (Quí tặng nhà thơ Khế Iêm)
Nguyễn Sao Mai

HOA NI CÔ

Hoa thiền nở đóa ni cô,
Giật mình chuông mõ nam mô trúc bề.
Mắt nâu rớt hột bồ đề,
Ngẩn ngơ đỉnh Phật tóc thề em bay.
Thiên cung dời xuống cõi này
Để em hiện tướng tiên say giữa đời.
Suối tiên tắm thịt da người,
Câu kinh bỏ lại đất trời mai sau.
Búp em hồng nụ nhiệm mầu,
Tay năm ngón ấn hạc chầu dưới hoa.
Khép chân sen nở kiết già
Trên sen em nở một toà mê cung.
Trang thơ này để cúng dường
Ngọc thân bồ tát má hường trích tiên.
Vung tay lật đổ giường thiền
Áo xiêm bỏ lại qua triền cửa không.

2010

Đọc “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư

https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2025/06/23/doc-duong-ve-thuy-phu-cua-nha-van-tyt/
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2025/06/23/doc-duong-ve-thuy-phu-cua-nha-van-tyt/
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2024
Tựa: BÙI VĨNH PHÚC
Bạt: NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Tranh & Thiết kế bìa: ĐINH TRƯỜNG CHINH

Cuốn sách vẽ ra được một toàn cảnh với các chi tiết, tạo được một ấn tượng về cuộc chiến, về không gian và cuộc sống xã hội, lịch sử của các giai đoạn gối tiếp nhau. Và về cuộc bể dâu mà con người phải đối mặt, với những quyết định sai lầm của chính nó. Hay với cái “quyết định”, cái hướng đi mù loà, xiên xẹo và xộc xệch của lịch sử […] Cuốn tiểu thuyết này, với lịch sử được dùng làm một phông nền qua những gam mầu rất mờ nhạt, và ước muốn của nó, theo tôi thấy, là hướng về phía ánh sáng, về sự yên bình, về sự xoa dịu, qua lòng hiểu biết và niềm tin vào cái thiện, cái tốt.

Bùi Vĩnh Phúc, nhà phê bình văn học.

Với thủ pháp dùng hư cấu, phi hiện thực để người đọc lần ra chân tướng hiện thực, khiến Trịnh Y Thư có một thái độ khách quan khi viết về sự tương quan giữa các nhân vật với những sự kiện liên hệ đến lịch sử và ý thức hệ […] Thân phận con người quả là chiếc lá nhỏ nhoi trong cơn lốc lịch sử, đấy là một thông điệp nhắc nhở hay một kết luận buồn bã? Dù là gì nó đều nói lên nỗi thống khổ của phận người từ đó khích động các cảm xúc về lòng Trắc Ẩn, Nhân Đạo, Lương Thiện và Vị Tha. Đó là luồng ánh sáng chiếu xuyên suốt tác phẩm này, lấp lánh qua văn phong tả chân, bạo liệt mà không thiếu tính trữ tình của lòng nhân ái, đa cảm.

Nguyễn Thị Khánh Minh, nhà thơ.

1. Doãnh Cẩm Liên

Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà cảnh thì khác. Lối sắp xếp câu chuyện, dàn cảnh như trong phim trường. Tác giả dẫn dắt khán giả như đang xem một cuốn phim mà nhà đạo diễn đổi cảnh quay, đổi đề tài, đổi tâm tính mà vẫn luôn giữ khán giả ở lại với nhân vật của truyện, của con người Việt Nam trong suốt ba cuộc bể dâu.

Nhà văn Trịnh Y Thư thuộc nền văn học hiện đại, tại hải ngoại kể từ 1975. Nhìn dáng dấp, khuôn mặt, cách nói chuyện của ông, người ta thấy cái “cá tính” của ông hiện lên một cách rõ ràng. Những ai quen biết ông đều thấy cái gì ông đụng vào đều làm nó trở thành siêu! Làm nhân viên ngành điện tử viễn thông, viết văn, chơi classical guitar, sáng tác nhạc, ông đều làm tròn vai trò một cách xuất sắc.

Đường về thủy phủ là quyển sách gồm ba truyện vừa. Thoạt tiên độc giả cứ tưởng ba mẩu chuyện Ký ức của loài bò sát, Dưới những gốc nho biển và Đường về thủy phủ với tình tiết của những nhân vật khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, chẳng liên hệ gì với nhau. Thế nhưng không! Trịnh Y Thư đã không tiết lộ gì cả ở hai truyện đầu, và chỉ dần mở ra rồi nối kết chúng lại ở truyện vừa thứ ba Đường về thủy phủ. Các nhân vật bác sĩ Mẫn trong Ký ức của loài bò sát, nhân vật “cô” trong Dưới những gốc nho biển, nhân vật “tôi” trong Đường về thủy phủ đều có dây mơ rễ má với nhau.

Đọc Trịnh Y Thư để thấy tính cách, lối suy nghĩ, hành xử của người Việt Nam, tạm đại diện bởi những nhân vật trong truyện của ông, ở ba thời đại. Thời kỳ Pháp thuộc, thời hậu chiến tranh 1975, và thời kỳ lưu vong nơi xứ người. Cả ba thế hệ tuy với số tuổi cách biệt nhau từ 80 năm đến 20 năm tuổi đều có những tình cảm, nỗi niềm, khổ sở, chấn động tâm lý chẳng khác nhau là mấy. Cái hay của tác giả là lịch sử đất nước, con người Việt Nam trải dài từ hậu bán thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21, tất cả đều rất đúng, đều có thực. Ông đã tiểu thuyết hóa các nhân vật, trong đó là đại diện cho một số người có thật ở từng thời và từng vùng.

Ở Ký ức của loài bò sát, những nhân vật ở độ tuổi thiếu niên lớn dần thành những thanh niên sống trong khung cảnh lịch sử của người Việt chống Pháp. Họ sống động và sống thực, nên họ khóc cười, nôn ọe giống y tình huống thực của người đương thời ngày ấy. Những thiếu niên đùa phá rồi cười khúc khích khi xem trộm cảnh cô gái tắm bên giếng vườn sau nhà. Rồi thời gian trôi, người ngày lớn dần lên, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, cách đối xử của hai phe Việt Minh và kẻ xâm lấn – người Pháp – ngày càng tàn khốc. Tác giả đã tả chân và thực đến nỗi độc giả cũng phải muốn ọe theo tình cảnh của truyện. Nhưng tác giả vẫn luôn giữ được tính nhân bản của người Việt Nam ở phần kết, ở lời ru bú mớm của nhân vật Xụ Phụn Phèn. Cô ru đứa con khi cả hai mẹ con đều không còn trên cõi đời nữa: “Yêu là gì, hả mẹ?” “Yêu là có thể hy sinh thân mình cho người mình yêu.” “Thế mẹ có yêu bố không” […] “Bố sẽ về với mẹ con mình mãi mãi…” “Bao giờ, hả mẹ?” “Bố hẹn với mẹ con mình ở thủy phủ…” […] “… Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”

Trịnh Y Thư tài tình là vậy, ông chiếu cảnh người tàn sát người, người với bao nhiêu là tính xấu hành xử với người chân chất thật thà, nhưng ông vẫn lồng vào đấy “tình người”. Sự yêu thương giữa người và người có thật, cho dù thật hiếm hoi vì nó phải được che phủ dưới một lớp mặt lạnh lùng, vào thời điểm đó. Cái tài tình nhất là ông chấm dứt câu chuyện ở tình yêu thương của mẹ và con và người cha. Ông thuyết phục độc giả lấy lại niềm tin về con người. Con người có đốn mạt bao nhiêu vẫn không thể xóa hết những tính yêu thương chân thật trong lòng. Tính yêu thương của những người thật là “người”, không phải là “ngợm”!

Trong Dưới những gốc nho biển, nhân vật “cô” là nhân vật có thật đâu đó, trải dài suốt đất nước Việt Nam. Với tình huống chính trị đã qua thời chiến tranh, súng đạn của người miền Bắc – cộng sản xâm chiếm người miền Nam – Việt Nam Cộng Hòa, đã ngưng bặt. Nhưng người Việt ở cả hai miền Bắc-Nam nào được sống thanh bình trong yêu thương. Chế độ cộng sản và con người cộng sản vẫn còn tính hung tàn. Chẳng hiểu tại sao!? Nên, người miền Nam phải ra đi tìm tự do, cho dù họ quăng mình vào biển cả một mất một còn. Người vượt biển có thể thành công để đến bến bờ bên kia, ở một nước thứ ba. Hoặc họ thất bại thì lại tìm đường về Thủy Phủ, nơi không còn hận thù hay oán ghét. Nhân vật “cô” sống như ảo ảnh trên cõi đời vì thiếu tình thương mẫu tử. Mặc dù bên cạnh cô vẫn còn một bóng người yêu thương cô đấy, ông “bác sĩ bộ đội”. Có phải chăng nhân vật Mẫn trong truyện Ký ức của loài bò sát xuất hiện trở lại? Nhưng tình yêu của ông ta vẫn không thể thay thế được tình mẹ con mà cô đang tìm kiếm.

Và cuối cùng cô cũng tìm về Thủy Phủ!

Tiếp đến truyện thứ ba Đường về thủy phủ, độc giả cứ ngỡ và chờ nhân vật “tôi” cuối cùng cũng tìm đường về Thủy Phủ. Nhưng không! Tác giả không cho phép là vậy. Ông dùng kỹ thuật nghệ thuật viết tiểu thuyết tạo dựng nhân vật “tôi” bước ra từ trang sách của một nhà văn-giáo sư. “Tôi” như ảo ảnh dưới mắt độc giả. Nhân vật nữ mà giáo sư-nhà văn đã vẽ ra trong truyện để rồi cô sống thật. Mà chính nhân vật này đã nhiều lần “càm ràm” với giáo sư-nhà văn là mình quái đản cũng do vì ông đã tạo ra nó. Cả tác giả lẫn nhân vật sống quyện vào nhau, tạo ra những cảnh “thật” mà giống như “không thật” ở một xứ sở văn minh nhất trái đất. “Tôi” quay cuồng sống mà thẳm sâu trong tâm thức cô vẫn hỏi rằng “tôi là ai”, “bố mẹ tôi là ai?” Cô thiếu tình yêu thương máu mủ từ cha mẹ. Để rồi… “tôi” làm một chuyến trở về quê hương. Tìm kiếm lại gốc gác của mình với hy vọng mong manh là thấy lại được người mẹ ruột của mình. Và độc giả đã cùng “tôi” thấy được bao cảnh đời có thật mà người Việt phải chịu đựng trong cái gọi là “thời bình” đầy nhiễu nhương này.

“Tôi” không tìm ra được mẹ, nhưng ngược lại cô tìm được một ông “bố”. “Bố và con” rất tương đắc ở thời gian này. Bố-con chẳng có mảy may huyết thống nào, nhưng lại có được một tình thương yêu chân thật là nhờ vào cái gạch nối “mẹ” của cô. “Tôi” gần như sống trọn vẹn ở thời gian hiện tại, nơi “mẹ” cô từng ngồi. Và cuối cùng “tôi” quên khuấy cái chết cứu cánh mà cô đã từng nghĩ đến.

Thủy Phủ bị bỏ quên!

Màn từ từ hạ cùng với tiếng cười của hai “bố-con” ở nơi “mẹ” đã từng ngồi.

“Thủy Phủ” là chốn dành cho người có ước mơ mà không thành và cũng cho cả người đạt được ước mơ, nữa chứ. Ai mà chả chết! Thủy Phủ sẽ là thiên đường hay địa ngục tùy ở từng người. Người nào lúc ra đi với tâm hung ác thì Thủy Phủ chỉ có thể là địa ngục. Địa ngục ngay ở trần gian, ngay khi còn hít vào thở ra. Còn với người ra đi với tâm lành thiện, nhiều yêu thương thì Thủy Phủ sẽ trở thành thiên đường với đầy yêu thương, trở lại bản tính nguyên thủy của con người.

Thiện-ác, thiên đường-địa ngục là hai phạm trù mà con người khó tránh khỏi. Cái vấn đề ở đây là sống làm sao để ta có ngay thiên đường khi đang còn hít thở. Địa ngục-thiên đường nó nằm trong tâm. Cái tâm không ai nhìn thấy nó đang ở đâu, nhưng nó lại được nhận ra bởi sự yêu thương của người trao cho người. Nó còn được nhận ra bởi ánh mắt, tiếng cười và lời nói mà con người trao cho nhau.

Thủy Phủ sẽ tràn đầy lòng yêu thương và vang tiếng cười khi con người hiểu biết thế nào là tâm lành và tâm thiện!

Doãn Cẩm Liên | (California, ngày 30 tháng 10, 2024)

2. San Phi

Cuốn tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư là một tác phẩm ám ảnh và đầy trăn trở, khiến tôi phải đọc đi đọc lại và phải suy ngẫm nhiều lần. Vì sao? Vì mỗi khi khép sách lại, tôi luôn có cảm tưởng dường như mình đã bỏ sót một điều gì đó…

Tác phẩm tập hợp ba câu chuyện riêng lẻ nhưng được gắn kết bởi chủ đề chung: sự thất lạc của con người trong cuộc sống, hiện đại, đặc biệt là trong chiến tranh.

Đây là một tác phẩm siêu hư cấu phá vỡ những khuôn mẫu tiểu thuyết truyền thống, với những thử nghiệm về hình thức và kỹ thuật kể chuyện hiện đại.


Phần I – Ký ức của loài bò sát: Nỗi ám ảnh bi kịch chiến tranh

Phần I, Ký ức của loài bò sát là câu chuyện đầy nhức nhối được kể lại từ một ông lão chín mươi tư tuổi, đưa chúng ta trở về đoạn thời gian thống khổ, khốc liệt đầy những thảm cảnh man rợ và nhiều hệ lụy trong bề dày lịch sử, nơi mà những số phận khiến ta phải động lòng thương cảm xót xa, do con người Việt Nam đã gây ra cho chính dân tộc mình. Phải chăng sự tàn khốc máu lạnh được tác giả ví như những loài bò sát, mở đầu cuốn tiểu thuyết? Bằng những ký ức tuổi thơ bình yên của cậu bé 13 tuổi (ông lão khi còn nhỏ) ở Hà Nội thơ mộng, với những cánh đồng lúa xanh mướt và những trò chơi hồn nhiên. Đó là khoảng thời gian sung sướng nhất đời đối với những cậu học trò tinh nghịch, khoảng thời gian bọn trẻ được vui chơi thả diều, bắn chim. Hay hình ảnh cả bọn rủ nhau leo cây bị kiến cắn khi xem trộm cô hàng xóm tắm.

Tuy nhiên, bầu trời tự do đầy nắng kể từ khi gió lột sạch những lớp áo lá, và rồi bão dữ cuồng phong cũng ập đến. Bức tranh bình yên nhanh chóng bị thay thế bởi sự tàn khốc của chiến tranh khi quân Nhật tràn vào Đông Dương, dẫn đến nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc.

Cảnh tượng người dân chết la liệt khắp nơi, những người kiệt sức, đói khát, và phải chịu đựng nỗi đau mất mát người thân mà không thể cứu giúp. Đặc biệt, đoạn kể về việc một người đàn ông phải lóc thịt con mình để làm giò ăn là một trong những chi tiết rùng rợn và đau đớn nhất, thể hiện sự tàn khốc đến cùng cực của nạn đói và sự mất mát tinh thần mà con người phải chịu đựng.

“Mấy tháng qua làng tôi đói đến độ chết gần hết cả làng. Thoạt tiên là bọn trẻ con. Chúng chết nhanh lắm. Chỉ ba hôm không có cái ăn là bụng chúng ỏng ra, hai mắt như chó dại, ngồi đâu ngồi một chỗ, ruồi nhặng bám đầy mặt đầy người cũng không buồn xua đi. Chỉ một đêm là chết.”

(Ký ức của loài bò sát, tiểu đoạn 3).

Qua những trang sách tác giả mô tả: Ở mọi ngóc ngách, mọi diễn biến, mọi tình hình, người nằm chết la liệt ở khắp các con đường, hình ảnh những người kiệt sức, sống dở, chết dở vì đói khát, kiệt sức và lo sợ, còng queo xếp hàng dài nối nhau đi xin ăn…

“Còn đây giọt máu lặng thinh

Rơi mềm đá sỏi lặng nhìn thế gian”.

Nhìn thấy người thân chết mà không cứu được, biết đến lượt mình rồi sẽ chết mà không thoát được. Muốn tìm cái sống đã phải dứt bỏ nhà cửa ra đi, mong sao được cứu sống, nhưng rồi lại chết gục giữa đường. Trang sách phơi bày rất nhiều cái chết và xác chết, rất nhiều những hình ảnh hãi hùng man rợ và khủng khiếp, mà có lẽ nhiều người muốn quên đi mới có thể sống tiếp.

Tháng ngày còn in trên lồng ngực. Chúng ta luôn đi qua hiện tại với một màn che bưng mắt, tấm màn đó là những điều trực tiếp “tai nghe mắt thấy” hạn hẹp của mỗi cá nhân. Vì thế mà những thời khắc ta đang trải qua, có thể rất lâu sau này, trong những giấc mơ chừng như gục đầu trầm tư u uẩn. người ta sẽ còn quay trở lại mãi để khám phá những lớp sự thật dưới đống tro tàn đổ nát lịch sử.

Với ngòi bút tinh tế, tác giả không sa vào chiến tranh, chiến tích mà đi sâu vào cảm xúc. Tác giả đã khéo lồng vào câu chuyện những nhân vật tham gia chiến trường, đã dồn toàn bộ sức lực của mình trong mọi nỗ lực cho cuộc chiến. Tình bạn của anh dân quân và tù nhân người Pháp, tình yêu của nhân vật chính xưng tôi và cô gái người H’Mông. Nhân vật trong truyện không như các tác phẩm ngôn tình trong những cuốn tiểu thuyết thông thường khác, mà họ thực tế đến từng chi tiết, như được bước ra khỏi trang sách và sống trong thế giới thực vậy.

Mối tình đầu tiên: Khúc bi ca của núi rừng và dòng suối

Xụ Phụn Phèn, cô nàng người H’Mông ngây thơ mười lăm tuổi trong veo như một cơn gió nhẹ, bình yên và tươi mới, nhưng đầy ẩn chứa những khát khao yêu:

“Xụ Phụn Phèn là cô gái H’Mông mới mười lăm tuổi nhưng yêu tôi lắm. Da dẻ cô trắng hồng chứ không đen đủi như nhiều cô H’Mông khác. Khuôn mặt cô trong sáng, đôi mắt nâu, hai làn môi mỏng lúc nào cũng thắm đỏ, và khi cô trút bỏ chiếc áo thổ cẩm màu đen, nằm dài trên thảm cỏ mượt mà bên bờ suối thì trước mắt tôi hiện ra một bông hoa rừng tuyệt đẹp, chờ đợi tôi cúi xuống chiêm ngưỡng và chiếm đoạt.”

(Ký ức của loài bò sát, tiểu đoạn 14).

Một khúc ca đẹp. Thế nhưng, định mệnh nghiệt ngã giáng xuống. Đoạn thảm sát cuộc tấn công máu, diệt cả buôn làng người H’Mông. cho thấy số phận mỗi con người trở nên mong manh, ngắn ngủi và vô vọng giống như số phận của hai mẹ con Xụ Phụn Phèn. Đọc đến đây hình ảnh kinh khủng nhất hiện ra trong đầu tôi, một địa ngục trần gian chìm trong máu và nước mắt.

Bi kịch hằn sâu khi nàng Xụ Phụn Phèn ra đi, mang theo một sinh linh bé bỏng, giọt máu của mối tình đầu tiên. Trong giấc mơ hư ảo, nàng thì thầm cùng con, một lời hứa đau đáu:

“Đúng vậy, con ạ. Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”

(Ký ức của loài bò sát, tiểu đoạn 29).

Nơi chỉ còn sự bình yên vĩnh cửu của những dòng nước trong xanh. Đó là lời ru cuối cùng, là cánh cổng mở ra một thế giới khác, hành trình “đường về thủy phủ” của mẹ con Xụ Phụn Phèn, đây có lẽ là mong muốn của tác giả, muốn lồng vào trong độc giả đoạn phim ngắn một hứa hẹn bình yên nhất khi ta được trở về với bản thể uyên nguyên. Nơi mà không còn bom đạn hay hận thù, nơi tình yêu sẽ không bao giờ bị tổn thương.


Phần II – Dưới những gốc nho biển: Khúc bi ca lạc lõng

Nếu Phần I khắc họa những hình ảnh và hệ lụy tàn khốc mà chiến tranh gieo rắc lên đời sống người dân Bắc Việt, thì Phần II lại mở ra một bi kịch khác: Câu chuyện về một người con gái miền Trung, số phận như một chiếc lá lìa cành, bị cuốn trôi vào Nam rồi cuối cùng lại giạt về Bắc, để rồi chọn một cái kết bi thảm giữa vòng xoáy cuộc đời.

“Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh, hai chân cô như bị vô thức sai khiến, mắt cô nhìn nhưng chẳng hình ảnh nào đập vào trí óc, và các thứ âm thanh hỗn độn của một buổi họp chợ sáng nghe như những nhiễu âm không qua máy lọc.”

(Dưới những gốc nho biển, tiểu đoạn 1).

Nhà văn Trịnh Y thư có một lối viết độc đáo, nó là những biến tấu lãng mạn, một kết hợp giữa hiện thực khốc liệt và cảm xúc thăng hoa.

Trong bức tranh nghệ thuật của Trịnh Y Thư, khi đối diện với những bi kịch cuộc đời, ngòi bút hóa thành một chứng nhân điềm tĩnh, khách quan và đôi khi lạnh lùng, như một nhà sử học ghi lại dòng chảy nghiệt ngã của thời gian. Những sự thật trần trụi được phơi bày không cần một chút cường điệu, để nỗi kinh hoàng từ câu chuyện vang vọng trong không gian tâm hồn người đọc.

Tuy nhiên, khi chạm đến những cảnh vật, ngòi bút lại trở nên mềm mại và trữ tình đến lạ. Như dòng suối tuôn chảy, thấm đẫm từng câu chữ, biến những khung cảnh vốn vô tri thành một bức tranh sống động, vừa chân thực lại vừa nên thơ.

Hãy lắng nghe tiếng lòng của dòng sông: “… nước sông đỏ lờ lợ chảy nhẹ.” Đó là một hiện thực không thể chối cãi, nhưng khi âm thanh ấy hóa thành tiếng “thao thiết” cất lên, nó không còn là dòng vô tri chảy mà là lời thì thầm của tâm hồn, là khúc hát da diết của bao nỗi niềm chất chứa trong lòng nhân vật. Có lẽ, hình bóng “Cô”, một biểu tượng của nỗi đau hóa thân, nhưng cũng là ánh sáng phản kháng mong manh, le lói giữa màn đêm số phận.

Nhân vật “Cô” như một linh hồn lạc loài, bị số phận “du vào thế thụ động” với những biến cố tàn khốc đến xé lòng. Sự kiện Mậu Thân 1968 không chỉ là một trang lịch sử mà còn là vết sẹo không thể xóa nhòa trong ký ức của “Cô”. Hình ảnh toán lính xông vào nhà, cảnh người mẹ đi tìm xác chồng trong những hố chôn tập thể ở Huế, đặc biệt là chi tiết rợn người về chiếc “đầu lâu thứ mười tám”, tất cả là những mảnh vỡ của một quá khứ đầy đau thương, gieo rắc nỗi ám ảnh khôn nguôi.

“Bà ngồi xổm, hai tay bưng cái sọ người, ngắm nghía thật kỹ hàm răng trắng nhởn. Người sống, mỗi người một khuôn mặt, không ai giống ai, nhưng khi chết rồi, không sao phân biệt được xương sọ người này với người kia, cái nào cũng y hệt như nhau. Hai hốc mắt sâu hoắm của cái sọ người chĩa thẳng thật sát vào mắt bà như thôi miên…

[…]

Xem đến cái đầu lâu thứ mười tám thì bà biết chắc đây là đầu chồng bà.” (Dưới những gốc nho biển, tiểu đoạn 10).

Hậu quả không chỉ để lại những vết thương thể xác mà còn đục khoét tâm hồn “Cô” đến mức tê liệt. Nhà văn Trịnh Y Thư không né tránh việc chạm vào những tổn thương sâu sắc nhất, từ sự lạm dụng tàn bạo đến trạng thái “rối loạn lưỡng cực” và sự vô cảm đến ghê người. Tác phẩm không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà còn là tấm gương phản chiếu hiện thực khi “sự tử tế không thấy đâu nữa” và “xã hội chìm trong bùn đen”. “Cô” và người chồng định mệnh của mình, một thiên tài Toán học, bị tù cải tạo và chết bi thảm, xác thân bị thú rừng cắn xé trở thành biểu tượng cho sự hủy hoại những giá trị cao đẹp nhất.

Trong ngõ hẻm chật chội và những con phố đã đổi thay, một mối tình dị thường, như một bông hoa dại nở trên nền đất cằn cỗi, đã nảy nở giữa hai linh hồn lạc lõng. “Cô”, người phụ nữ mang trong mình nỗi đau chồng đã khuất trong trại cải tạo, gánh nặng con thơ và gánh nặng mưu sinh bằng những đêm dài ở quán cà phê, đôi khi là cả việc bán thân. Còn “gã” là một bác sĩ quân y Bắc quân, mang trong ánh mắt sự tĩnh lặng của cuộc chiến đã qua nhưng những vết thương không thể chữa lành.

Mối tình này khởi đầu như một giấc mơ, từ cách “gã” dõi theo “Cô” đầy ám ảnh, cho đến sự thật rằng “gã” chỉ muốn ngắm “Cô” trong trang phục, được dàn dựng công phu như một bức tranh hoàn hảo, không chút dục vọng.

Phải chăng trong mắt kẻ si tình khắp nơi đều là màu hồng, kể cả những điều được cho là phi lý? Thú thật, đọc đến đây tôi rất muốn hỏi tác giả, tôi không thể tưởng tượng nổi gã ngắm gì ở cô mà ngắm một cách say đắm suốt nửa giờ nhỉ?

“‘Anh đi tắt đèn.’

“Không, tôi thích để đèn.” Giọng gã từ tốn, êm nhu.

Cô đưa tay lên lần cởi khuy áo nhưng gã giơ tay cản lại. Cô nhìn gã ra vẻ thắc mắc, gã bảo cô:

‘Cô cứ để nguyên quần áo. Tôi chỉ ngồi đây ngắm cô thôi.’

Cô không nói gì nữa, thấy hơi lạ về trò chơi này của gã bác sĩ bộ đội, nhưng cô từng gặp những gã làng chơi có sở thích tình dục kỳ quặc, thậm chí quái đản, nên cô chẳng lấy gì làm kinh ngạc, và cô nằm yên cho gã ngắm mình. Gã ngồi ngang đùi cô, từ vị trí đó, gã có thể ngắm mặt cô rồi đến bộ ngực vun tròn, và xuống dần hạ thể nơi cặp đùi đàn bà săn chắc hiện rõ dưới lớp vải mỏng của chiếc quần tây màu đen. Gã ngồi nhìn cô như thế cả nửa giờ đồng hồ, hai người không nói gì với nhau.” (Dưới những gốc nho biển, tiểu đoạn 3).

Chỉ có một nỗi buồn xa vắng lạ lùng, một sự cảm thông vô hạn chảy tràn trong ánh mắt của “gã”, như dòng sông âm thầm chảy qua những miền ký ức xót xa. Nhà văn Trịnh Y Thư đã khéo léo khắc họa sự “hiểu biết và nhạy cảm” đến lạ lùng của gã, biến câu chuyện tình yêu này thành một nỗi buồn rất thật, rất thấm thía của những con người bị cuốn vào vòng xoáy lịch sử, của những giấc mơ dang dở và những vết thương không thể lành.

Chữ nghĩa của nhà văn Trịnh Y Thư luôn khép lại bằng một kết lửng, luôn để lại nhiều trăn trở cho người đọc, để độc giả tự tìm thấy một câu trả lời thỏa mãn cho chính bản thân mình.


Phần III – Đường về thủy phủ: Vũ điệu siêu thực của Nàng và kẻ sáng tạo

Trong cõi siêu thực, nơi ranh giới giữa thực và ảo mờ nhòe như sương khói, xuất hiện một mối tình cuồng si, đầy nổi loạn. “Tôi”, một nhân vật nữ tự xưng mình bước ra từ trang tiểu thuyết của “gã nhà văn” đang dạy học tại một miền đất xa xôi, mang trong mình cả sự căm thù lẫn say đắm.

“Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Tôi thù gã đến độ tôi muốn giết chết gã. Tôi ao ước có một mũi dao nhọn sắc lẻm cho tôi ấn sâu vào ngực gã với động tác êm nhẹ, từ tốn để trái tim gã khi bị mũi dao đâm thủng vẫn không hay biết đang bị đâm mà tiếp tục hân hoan đập những nhịp đập hối hả như thể sợ ngày mai không còn được đập.”

(Đường về thủy phủ, tiểu đoạn 1).

Cô căm ghét gã vì gã đã sáng tạo và ban cho cô một thân phận, một số phận mà cô không hề chọn lựa. Nhưng cũng chính gã là người đã thổi hồn vào cô, đã cho cô một cuộc sống, và từ đó, một tình yêu mãnh liệt, cháy bỏng đã nảy sinh, như ngọn lửa bùng lên từ tro tàn.

Câu chuyện càng trở nên phức tạp hơn khi cô, như một “sản phẩm” bứt ra khỏi khuôn khổ, “dan díu” với những cậu sinh viên khác, thể hiện sự nổi loạn của một linh hồn khát khao tự do, khát khao định đoạt số phận mình.

Mối tình này là sự hòa quyện giữa ảo ảnh và hiện thực, giữa trí tưởng tượng của người nghệ sĩ và đời sống cuộn chảy, mang đến vô vàn tầng ý nghĩa về thân phận, về sự tồn tại, về sự giằng xé giữa người sáng tạo và tác phẩm, giữa ước mơ và thực tại phũ phàng.

Trong một bối cảnh hiu quạnh của ghềnh đá đen trơ trọi giữa biển hoang sơ, với sóng vỗ rì rào và ánh đèn khách sạn trong sương chiều, một mối tình khác len lỏi, mang đến sự dịu dàng và trầm lắng. Nàng, một “đóa hoa tri thức”, và “gã nhà văn” xuất hiện như hai “dương bản” của một nguyên thể.

Họ là hai tâm hồn đồng điệu nhưng đối lập: nàng day dứt trước sự phi lý của kiếp người, gã kiên cường đối mặt thử thách. Mối quan hệ này là minh chứng cho một nội tâm bất tận, nơi nỗi đau và hy vọng, bi ai và dũng khí đan xen. Cả hai đều mang trong mình những vết thương lòng, những phản ứng bất thường và sự cô độc đến tận cùng, cùng nhau vật lộn với nghịch cảnh, tìm kiếm bình yên trong nỗi đau chung. Mà không phải ai cũng cảm nhận được nỗi sợ hãi, áp lực, nỗi cô đơn cùng cực, thật sâu từ trong tâm hồn.

“Tô phở” và hành trình trở về nguồn cội

Cuộc đời của “gã nhà văn” được Trịnh Y Thư khắc họa như một ân hận và nỗi buồn, hằn sâu bởi bi kịch chiến tranh. Giữa những giằng xé ấy, văn chương Trịnh Y Thư mở lối, không chỉ chạm đến nỗi bất lực của phận người mà còn gieo mầm hy vọng.

Và cùng lúc là hành trình của cô gái trở về nguồn cội. Điểm nhấn là hình ảnh “tô phở”, một biểu tượng của sự bình yên và nguồn cội. Trong một quán ăn Việt Nam hai người tình cờ ghé vào trên bước đường lang thang vô định, bỗng nhiên tiếng mẹ đẻ và hương vị tô phở nồng nàn không chỉ xoa dịu tâm hồn cô mà còn kết nối cô với cội nguồn, với quê hương và hình bóng người mẹ. Tô phở ấy đã dẫn lối cho cô trở về, tìm thấy an ủi và bình yên trong chính căn nhà cũ, nơi cô thuộc về.

Thủy phủ: Chốn nương tựa siêu hình

Xuyên suốt tác phẩm, “Đường về thủy phủ,” dẫn dắt người đọc đến những miền cảm xúc sâu thẳm, và có lẽ cũng là lời tự vấn về những điều còn mãi sau tất cả những biến cố của cuộc đời. Với một cái kết nhân hậu và nhân bản, nhà văn Trịnh Y Thư đã dẫn chúng ta trở về Thủy phủ, nơi yêu thương thay thế cho hận thù, và đời sống phù du này chỉ có ý nghĩa khi nào nó được định hình bằng tình yêu.

Đắm chìm vào từng trang sách, dù Lời ngỏ nhà văn Trịnh Y Thư có nói đây chỉ là câu chuyện hư cấu, là sản phẩm của trí tưởng tượng, nơi cuộc chiến chỉ hiện hữu qua những dòng chữ tài liệu, nhưng lạ thay, trái tim tôi đã vương vấn, đã hòa cùng nhịp đập với từng nhân vật. Như thể định mệnh đã an bài, những mảnh đời hư cấu ấy bỗng trở nên chân thật đến lạ, len lỏi vào tâm hồn, để lại những trang sách khó phai.

San Phi | Saigon, ngày 16 tháng 6 năm 2025

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí nói về sáng tạo

“Lò cừ nung nấu sự đời/ Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” _Hs. Nguyễn Gia Trí
“Lò cừ nung nấu sự đời/ Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” _Hs. Nguyễn Gia Trí
Ghi chép của họa sĩ Nguyễn Xuân Việt

Lời giới thiệu của Thụy Khuê

Ha sĩ Nguyn Gia Trí không ch đ li tranh mà còn đ li li cho hu thế. Nhng li ông nói trong khong t 75 đến 92 được ha sĩ Nguyn Xuân Vit, người hc trò ghi li trong mt cun cm nang nh ta đ “Ha sĩ Nguyn Gia Trí nói v sáng to” do Nhà xut bn Văn Hc in năm 1998 ti Sài Gòn. Đây là nhng câu nói tuy đc lp mà cũng như liên lc mt thiết vi nhau v ngh thut hi ha, ngh thut sơn mài, ngh thut sng, ngh thut thin ha.

Ha đo cũng như trà đo rút cc ch là con đường tìm đo ca mi người: bc tranh là phương tin đ người ngh sĩ “nâng” mình lên, v xong phi “b” nó đi, tìm li khác. Ngh thut nào cũng thế, nếu ngh sĩ ch biết dng li mt tác phm mà không tìm cách nâng mình lên là không sng na. 

Đc trích lc mt s li ca Nguyn Gia Trí, cũng là mt cách xem tranh ca ông, cách xem tt nht không qua li người phê bình mà trc tiếp qua li ha sĩ.                                                  Th. Kh.


http://1.bp.blogspot.com/-mHLR6R3SBWw/UtsD5WYeImI/AAAAAAAAclc/IZhz37C27jU/s1600/images.jpg

01.06.1975

Cứ vẽ, gặp cái gì vẽ cái ấy. Vẽ cho nhanh, cho kịp cảm xúc của mình.

Phải luyện mắt để nhìn, để thấy cái đẹp. Vẽ làm sao phải tạo được cuộc sống, cuộc sống xanh tươi như hoa cỏ.

Nếu tự mình không cảm xúc, không sáng tạo, thì không ai có thể giúp mình sáng tạo được.


14.11.1975

Giữa sáng tác và cuộc sống phải trong suốt, là giao cảm trực tiếp. Cuộc sống khơi gợi ta vẽ. Như cây phải hô hấp ánh sáng và nước, để nuôi lá đâm hoa.

Vứt bỏ mọi thành kiến cũ, xưa. Vẽ với đầu óc hoàn toàn mới. Chính những định kiến ước lệ giết chết nghệ thuật.

Đừng nghĩ đến kết quả của tranh, hay kết quả đời người nghệ sĩ. Hãy yêu và say mê cái đẹp. Học tập rút kinh nghiệm mọi người. Nhưng vẽ theo bản lĩnh của ta.

Tuổi trẻ là tuổi sôi động sáng tạo. Phải làm việc thật nhiều ở tuổi sung sức này.


05.01.1976

Đứng trước thiên nhiên và con người, phải xua đuổi mọi lý thuyết, giao cảm trực tiếp với con người và thiên nhiên mình vẽ.

Nên tạo sự thông cảm giữa giấy, mực, bút, chất liệu, để làm nên tác phẩm. Mỗi chất liệu có tiếng nói riêng, phải hiểu nói tiếng ấy.

Tính dân tộc không phải là lý thuyết, định kiến, nó từ tình cảm và cuộc sống của mỗi người, mỗi dân tộc tạo nên.

Bản chất và tính cách của mỗi người hiện lên trên tác phẩm, như thô bạo, trong sáng, hoặc yếu ớt, khỏe khoắn…

Vẽ nhiều chất liệu, thể loại, để mở mang đầu óc.


28.03.1976

Cái chính là hướng vẽ đúng (1)

Kỹ thuật cũng giống như xe đạp anh dùng để đi. Chú ý nhiều đến xe thì sẽ trở thành thợ máy. Phải có xe riêng của mình. Tất cả kỹ thuật đều chỉ là phương tiện.

Khi vẽ phải vứt bỏ mọi thành kiến. Thành kiến đã đầy rồi, thì rót gì vào cũng chỉ tràn ra.
Mỗi chất liệu có sở trường, sở đoản riêng. Phải biết tận dụng nó.

Người nghệ sĩ có sáng tạo, thì để tay vào cái gì, cái ấy thành nghệ thuật.

Hãy cứ đi mãi, làm việc mãi đừng nghĩ đến đích. Chỉ riêng tìm thấy chút cái đẹp mong manh, cũng là cả một quá trình mệt nhọc của người nghệ sĩ.

Khi vẽ là chúng ta sử dụng cái hữu hình để nói cái vô hình. Sa lầy vào lý luận, cảm xúc văn học, là rất nguy hiểm.

Nhìn hình phải rõ hơn. Vẽ thế nào để người ta thấy cây này khác cây kia.

Chủ yếu là do con mắt, nhìn hình chắc, thì nét vẽ chắc, màu chắc.


04.05.1979

Thời kỳ Van Gogh (2) Gauguin (3) và Cézanne (4)… họa sĩ bắt chước thiên nhiên một cách trực tiếp. Còn đến Picasso trở đi, thì làm ngược lại. Trước kia khung tranh là một cái cửa sổ, bên trong là thiên nhiên. Nay thì tranh là tranh. Trước kia tạo không gian ba chiều trên mặt phẳng, nay chỉ có hai chiều vì nó thật hơn.

Thấy mình đã là một bước tiến bộ lớn (5). Nhưng thấy mình, phải tự vượt lên mình. Không bị cái thấy ấy chi phối, thì mới giải thoát được. Học vẽ là phải tự mình suy nghĩ, tự mình đi. Cứ soi vào tâm mình thì không bao giờ lạc lối. Nghệ sĩ chân chính thì không bao giờ lạc lối cả. Vì khi anh tìm tòi, thì lạc vào đâu cũng thú vị. Cho dù lạc vào địa ngục, cũng là thấy được địa ngục. Vì anh luôn luôn đi tìm một cách vô tư trong sáng. Cái học nguy hiểm nhất là đi theo đuôi người khác, hoặc lạc vào tiền tài danh vọng.

Bắt chước thiên nhiên là để nắm qui luật thiên nhiên. Và từ đó sáng tạo ra một cái khác mạnh mẽ hơn thiên nhiên. Trước kia người ta làm cánh như con chim cũng bay được một ít. Nhưng đấy chỉ là cái vỏ bề ngoài, không có lực bay nội tại. Do đó còn thua một con chim chích nữa. Cũng bắt chước chim và thiên nhiên, người ta làm ra máy bay, tên lửa. Việc bắt chước ấy là một tiến bộ khác hẳn.

Mỗi bức tranh là một cơ thể sống. Nó có cuộc sống riêng của nó. Nó sẽ tác động đến người xem khác nếu họ có sự đồng cảm.

Hỏi: Về cách đi trong học tập và sáng tác thì phải vẽ chính xác rồi mới tìm tòi?

Đáp: Đặt vấn đề như vậy là đúng, nhưng không nên quá cứng. Những bước chuyển lớn, phải tự mình quyết định. Vì mình biết mình rõ nhất.

Với trừu tượng, chữ Hán là một thứ trừu tượng. Người Á Đông đi thẳng vào trừu tượng, và là người đi trước.


19.09.1979

Công của nghệ sĩ là rửa mắt cho công chúng. Cho công chúng nhìn sáng hơn, rõ hơn, và mới hơn. Muốn vậy nghệ sĩ phải có con mắt mới, cái đầu mới. Một quan niệm, một đầu óc quá cổ điển không có lợi cho sáng tác.

Nghệ sĩ dùng qui luật nhỏ của riêng mình để mò mẫm tìm qui luật lớn.

Với chất liệu sơn mài, hoặc chất liệu khác cũng vậy, không được bắt nó phải theo mình, mà phải tôn trọng chất liệu, hiểu nó và nương theo nó mà điều khiển.

Trên một tấm vóc (6), một tấm tole (7), hoặc một tờ giấy, nghệ sĩ được tự do tuyệt đối, không có tự do vì nghệ sĩ tự trói mình bằng những thành kiến quy tắc nào đấy.

Hỏi: Nên sử dụng kỹ thuật trong sáng tác như thế nào?

Đáp: Giải quyết kỹ thuật là giải quyết đi đến hoàn chỉnh, thỏa mãn về mọi mặt trên bức tranh của mình. Chưa thỏa mãn thì còn phải tìm, phải làm tiếp.

Tác phẩm nghệ thuật cũng như mặt trăng. Trên sông, hồ, cũng soi bóng trăng. Trên chén nước, cũng soi bóng trăng.

Hỏi: Hội họa là gì?

Đáp: Hội họa là nghệ thuật tạo hình. Cái gốc của nó là tạo hình. Tranh trừu tượng cũng là tạo hình. Hình rất đa dạng. Một nét, một phẩy cũng là hình. Màu sắc và hình không nhất thiết gắn với nhau như phái Ấn tượng đã vẽ.

Chữ Hán là một dạng tranh trừu tượng. Từ cái hình gần với thực tế, nó được tinh giản thành những tín hiệu.

Tôi đã đọc bản dịch thơ Tô Đông Pha viết: “không muốn vẽ cỏ cây, hoa lá, hoặc người, vì những cái cụ thể ấy trói buộc cảm xúc.” Nhưng tìm bản chính để đọc, thì không thấy.

Tranh phong tục địa phương hoặc phong cảnh cản trở nghệ sĩ truyền cảm xúc đến những người xem ở các nước khác (8).

Trong nghệ thuật không nên cố ý. Có hai câu thơ:
“Cố ý trồng hoa không nở
Vô tình cắm liễu liễu sum xuê” (9)
Nói chung là “sắm xe đạp của riêng mình (10) cho tốt để đi chơi.”

Chân, Thiện, Mỹ là một, không có đầu có cuối. Mọi cái gì đạt đến tuyệt đối đều có những thứ ấy.


29.04.1980

Nghệ thuật là phương tiện để nâng con người mình ngày càng tốt hơn.

Nhật vẽ tranh trừu tượng ngang hàng với Âu Châu. Họ vẽ bằng sơn dầu.

Hỏi: Năm 1960, bác sang Nhật mua vật liệu sơn mài. Bác thấy người Nhật họ vẽ sơn mài như thế nào?

Đáp: Không có gì đặc biệt.

Hỏi: Vì sao Nhật là nước có truyền thống vẽ sơn mài lâu đời, họ có những tranh sơn mài cổ nghệ thuật rất cao, mà lại không sử dụng nó trong nghệ thuật hiện đại?

Đáp: Có lẽ do thành kiến (11).

Bắt đầu vẽ sơn mài là đã vẽ trừu tượng rồi. Vì nó không thực như ngoài đời. Họa sĩ sơn mài nhìn vào tâm bên trong, chứ không nhìn vào cái vỏ bên ngoài của sự vật.

Sở dĩ sơn mài ngả về vàng son, vì sơn mài ngả về âm nhiều hơn, như các màu trong không gian đình chùa, cung điện.

Sơn mài vẽ nhiều vì càng vẽ càng “nghiện.” Mà mỗi ngày lại càng “nghiện” nặng hơn. Và điều ấy thì không có chất liệu nào có thể thay thế được.

Vẽ là một loại hình sinh hoạt đặc biệt, khác với mọi cái thông thường, nói là giàu rồi mới vẽ là không phải.

Tranh sơn mài có kỹ thuật riêng. Vẽ sơn mài mà nhìn bằng thói quen của sơn dầu là không được.

Sơn mài Việt Nam là kỹ thuật mới mẻ. Nó có cách giải quyết riêng, cách vẽ riêng của sơn mài.
Không nên lấy chất liệu này để phác thảo chất liệu kia. Vẽ lụa nhiều, sẽ tạo thói quen làm việc không tốt. Trong học tập, sáng tác, nếu “khéo quá” thì chậm tiến bộ.

Họa sĩ không làm việc để minh họa triết gia nào. Nghệ sĩ lúc sáng tác có những suy nghĩ riêng. Không nên bận tâm về việc giải thích hoặc mổ xẻ sáng tác như các nhà văn, nhà phê bình.

Một họa sĩ nếu không hiểu, không vẽ được sơn dầu, thì cũng không thể hiểu, không thể vẽ được sơn mài.


01.08.1980

Vì tôi làm việc bị lỗi lầm nhiều nên mới tiến bộ. Còn vẽ khéo quá, thì chậm phát triển.

Nếu không có cụ I (12) và bác phó Thành thì cũng không có sơn mài của tôi.

Công đức của cụ I lớn lắm.

Ngày xưa khi thấy tôi làm sơn mài, cụ I là họa sĩ sơn dầu không sao hiểu được vấn đề “Thời gian” trong cách vẽ sơn mài. Cụ rất thích sơn mài, rất muốn vẽ thử, nhưng cứ mỗi lần cụ nhìn thấy sơn ta nó lại “ăn” (13) cụ, nên đành phải thôi.

Mỗi bức tranh sơn mài, là tự mình đề ra một bài học để giải quyết: nét, độ chuyển của nét, thay đổi màu nền, đen trên son, đỏ trên đen, đen trên bạc v.v…

Hội họa gần với tôn giáo vì nó xuất phát từ tâm người ta. Nó không phải làm bằng óc hay bằng tay.

Phải làm nhiều. Tập điều khiển sơn mài. Chú ý đến những biến chuyển đậm nhạt của chi tiết nhỏ trên tranh.

Mỗi họa sĩ là một thế giới riêng biệt, không ai hiểu hết mình được.


19.11.1980

Làm nghệ thuật điều chính yếu nhất là thành thật. Cái hại nhất là giả với mình. Phải làm việc nghiêm túc, có khi đến khắc nghiệt với chính mình. Làm hàng trăm cái hỏng để chỉ lấy nửa cái được, hoặc một cái được. Người nghệ sĩ không bao giờ tự thỏa mãn.

Chất liệu chiếm một nửa người nghệ sĩ. Phải yêu chất liệu, như yêu vợ mình, thì mới có con là tác phẩm. Mỗi chất liệu có đặc điểm riêng. Phải nắm được tính chất riêng của nó. Ví dụ: độ dày mỏng của sơn dầu. Với sơn mài thì lại yêu cầu phẳng, độ bóng, hoặc bằng bất kỳ cách nào, miễn là đạt được hiệu quả nghệ thuật. Khi có điều gì chưa đạt, người vẽ áy náy, tìm cách khắc phục. Cho đến khi tạm thỏa mãn, hoặc thỏa mãn với bức tranh ấy.

Giữa phác thảo và tác phẩm là quá trình liền một mạch. Phác thảo chỉ là sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho tác phẩm. Ngoài ra, còn phải tính bước thực hiện để cho đạt hiệu quả. Hội họa là một phương pháp thiền.

Có người bảo “ông đã hòa cảm xúc tâm hồn của ông vào trong tranh.” Họ coi tâm hồn là một chất gì đó sền sệt, có thể đem nghiền trộn vào màu, rồi bôi lên tranh!

Chính vì họa sĩ muốn biết và thấy cái tâm mình, nên mới tìm tòi làm việc. Vì không biết nên mới vẽ.

Đối với hội họa trừu tượng, cũng không nên phân biệt với các môn phái khác. Nó cũng chỉ là phương tiện để họa sĩ tìm cái thật. Hội họa trừu tượng khó là vì họa sĩ không có chỗ dựa vào mẫu thực. Từng chấm, từng nét trong tranh trừu tượng cũng có hình riêng và là một với toàn thể tranh. Chi tiết cũng như những giọt sương. Nhưng mỗi giọt đều soi ánh mặt trời. Mọi chi tiết trong tranh đều chịu một sự kiểm soát ngang nhau.

Pollock (14) vẽ trừu tượng là ông “lên đồng,” nhập thể, tự mình là một với bức tranh. Mọi cảm xúc cuộc sống đều hiện lên đấy.

Học vẽ giống như người đi xe đạp, mới lên thì chuệnh choạng, nghiêng ngả, sau đó lấy lại được thăng bằng và cứ thế đạp thẳng đi được.

Vẽ là tự mình làm việc, tự mình khám phá, rút kinh nghiệm. Không phải cứ vẽ ngoằng, ngoằng, là được. Mà mỗi nét, mỗi hình, đều suy nghĩ để đạt hiệu quả, tưởng như “vô tâm,” tự nhiên như một hơi thở.

Những tranh thấy như đơn giản của Nhật, là cả một sự công phu mới đạt được. Hoặc ví như có người không biết uống trà theo “Trà Đạo” của Nhật, thì cho là nhạt. Cái nhạt ấy cũng phải luyện.

Sự sai lầm cũng như thành công có giá trị ngang nhau. Vì nó đều có công dụng: thúc đẩy người nghệ sĩ đi tới.

Đọc sách thì nên đọc thẳng vào bản gốc của các tác giả, tránh đọc những tác phẩm trung gian. Học hội họa, nên tránh đọc những bài viết về hội họa của các nhà phê bình.

Sáng tác, có lúc như trong mơ. Người vẽ không suy nghĩ, mà chỉ làm. Khi đã nghĩ mình vẽ trừu tượng, thì bức tranh lại không còn trừu tượng nữa. Lúc ấy sáng tác đã bị phân hai, giữa tranh và người vẽ tranh.

Tất cả vẫn là tự nhiên. Khi vẽ để diễn tả ý nào đó, thì đã là minh họa. Mức cao hơn, là biết chú ý đến bố cục, bút pháp v.v…

Trước thiên nhiên mình vẫn có thể rút ra cái trừu tượng. Có khi ở cái tướng cụ thể, mà người ta nhìn thấy trừu tượng.

Vẽ cũng như ăn. Phải ăn nhiều món thì mới sành, mới biết nấu nướng. Mỗi bức tranh làm xong đều phải suy nghĩ để rút kinh nghiệm: những hiệu quả cố ý, những cái được, cái hỏng…

Ngày xưa, thầy tôi thường nhắc: “Hãy coi chừng thói quen, sự quen tay.” Thói quen tốt còn được. Thói quen xấu, lâu ngày sẽ nguy hiểm, khó chữa. Hồi xưa thầy tôi đã hết lòng với tôi.

Khi Nhật chiếm Đông Dương, máy bay Đồng Minh ném bom Hà Nội. Hai thầy trò ngồi dưới hầm trú ẩn, cụ I nói với tôi: “Chiến tranh như thế này, thì tôi đành phải từ bỏ Giấc Mộng Lớn của mình thôi.”


26.02.1981

Tôi không dám phê bình. Nếu không tôi đã chẳng là tôi. Cái chính ở người vẽ thấy “ngon” hay không? Vì vẽ là vẽ cho mình, chứ không phải để bán, hay để triển lãm. Mọi sự phải hỏi mình.

Tranh là “phương tiện,” như “ngón tay chỉ mặt trăng” (15) của Phật. Có nhiều người không thấy trăng mà vẫn chỉ, chỉ lung tung.

Phải thay đổi phương tiện để “đầu óc luôn luôn mới.”

Trước một bức tranh chuẩn bị vẽ, phải tĩnh tâm và “xua mọi rác rưởi” (những cái nhớ về tranh người khác đã vẽ và những tình cảm đa tạp) rồi mới vẽ được.

Khi mình “vô ngã” thì lúc ấy nghệ thuật mới bắt đầu. Không phải Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Xuân Việt v.v… mà đấy là sơn sống cuộc sống của nó. Cũng như cây cối trong thiên nhiên, nó thích nghi và sinh trưởng theo điều kiện tự nhiên của nó, không bắt ép được. Cái gì cũng có tuần tự. Không thể vội. Không thể đốt cháy giai đoạn được.

Hỏi: Vẽ trừu tượng có phá mất hình thực hay làm hình thực yếu đi?

Đáp: Sợ vẽ trừu tượng sẽ ảnh hưởng đến hình thực? Sẽ có ảnh hưởng. Nhưng cũng như món ăn. Ăn vào sẽ tiêu hóa. Mình không thể trực tiếp thấy nó tiêu hóa như thế nào.

Ngày xưa, Hokusai vẽ một bức tranh, lấy guốc dẫm lên, nhổ nước vào tranh, cũng thành hội họa. Có cái “khí” hội họa thì ngậm màu nhổ vào tranh cũng ra mặt trời. Chứ không phải ở hoa tay.

“Ngón tay chỉ trăng” là phương tiện. Không có nó, có khi dùng cây chổi cũng được.

“Cố ý trồng hoa hoa tàn úa
Vô tình cắm liễu liễu đơm bông”

Có người vẽ tranh vui: trồng một cây non, sau lấy một cây que cắm cho dựa, kết quả cây thì héo, mà que thì lại mọc lá hoa, hội họa cũng vậy.

Hỏi: Nho giáo nói gốc ở “nhân.” Vậy gốc của người nghệ sĩ cũng là “nhân”?

Đáp: Phải. Vì họa sĩ cũng là người, nhưng không phải con người bằng xương thịt.

Hỏi: Triết Đông và triết Tây khác nhau như thế nào?

Đáp: Như cơm và bánh mì.

Vẽ trừu tượng như người ta lên mặt trăng. Phải chuẩn bị bình dưỡng khí như thế nào, trên ấy nó khác. Và rồi đất đá trên ấy cũng vẫn là đất đá.

Luyện tập từ những tranh nhỏ, cũng như luyện viết chữ cho chân phương, sau đó mới có thể viết những đại tự. Và cũng phải biết tin ở mình.


10.07.1981

Hồi xưa tôi vẽ tranh trừu tượng, xé giấy ra, rồi lắc xem sự thay đổi. Như thầy bói xem sự thay đổi của con bài, rồi họ dùng sự liên hệ riêng của mình với thế giới siêu hình mà phán đoán.

Hỏi: Dùng tay chỉ mặt trăng thì Phật mới chỉ được. Nếu không phải là Phật thì sao?

Đáp: Đấy là một ví dụ, còn có thể lấy ví dụ khác như: Nghệ thuật là phương tiện để mình đi vào thế giới chưa từng biết đến.

Mỗi tác phẩm là phương tiện đã bỏ lại. Người ta thường không thể sáng tạo được phương tiện nên mua về dùng.

Sự lầm lẫn phương tiện và cứu cánh dẫn người ta đến sự sai lạc rất tai hại.

Khi sáng tác, cũng như người làm xiếc, đu đi, đu lại, đến một nhịp nào đó thì buông tay. Lúc đầu tập bằng cách có bảo hiểm. Khi thuần thục thì không cần sự bảo hiểm nữa.

Khi vẽ sơn mài, có thể chuẩn bị ra giấy trước. Bắt tay vào tranh thì dùng sơn vẽ. Cũng như không thể dịch hết cái đẹp của thanh, sắc thơ, từ ngôn ngữ này ra ngôn ngữ khác.

Ta không “dịch” tranh từ giấy ra sơn mài. Vì mỗi chất liệu có đặc tính và cuộc sống riêng.

Sáng tác như sinh đẻ. Nếu không ham muốn thì không thể có tác phẩm.

Đi sâu vào một ngành thì có thể hiểu được ngành khác. Triết học là cái gốc, từ đây có thể hiểu cái khác. Đọc kinh rất khó, phải có người hướng dẫn đúng đắn thì may ra mới hiểu được.

Phải hiểu rõ bản chất của sơn thì may ra mới có thể điều khiển được nó.


26.09.1981

Tranh sơn mài để càng lâu càng tốt. Khi mài và đánh bóng sơn, vàng bạc không bị đi mất.
Sơn cũng có cuộc sống riêng của nó: cũng trẻ, già, chết (16). Vẽ sơn mài có cái lý riêng của sơn mài.

Khi vẽ là lúc mơ, lúc tỉnh, lúc ngất đi. Không ai vẽ lại giấc mơ.

Ý định của một bức tranh biến chuyển không lường trước được. Dù thế nào cũng giữ cho được chí ban đầu. Cũng như cuộc sống con người, có nhiều cái không định trước được. Tranh không có ý gì cả.

Vẽ sơn mài khó, nên phải tập cái khó. Người nghệ sĩ không được dễ dãi, nên gặp việc khó, càng tốt. Đó là cách thử thách ý chí của mình.

Cũng như lội bùn và leo núi, các chất liệu khác so với sơn mài, cũng vậy. Có biết khổ, mới biết sướng. Có biết xấu mới biết đẹp.

Trong những tranh trừu tượng, phải biết chọn ra những chỗ đẹp để phát triển. Cũng như người nấu ăn phải biết vị thức ăn của mình nấu.

Tranh không phải chỉ có hai chiều, mà còn có chiều sâu nữa, chiều sâu của tác giả.

Hồi xưa thời còn đi học, có một lần tôi làm phác thảo sơn mài mãi không được. Mỗi ngày cụ I vào lớp nhìn thấy bài lại lắc đầu. (Cụ I dạy vẽ rất ít nói, thường chỉ “gật” và “lắc” rồi chỉ vào chỗ được hay chưa được trên tranh). Sau một tuần làm bài cụ hỏi tôi: “Vẽ cảnh Hòn Gai đấy hả?” Vì trời đen, đất đen. Lúc ấy giống trong Thiền nói “Ngộ.” Tôi tự hỏi: “Sao ngói đỏ, tường trắng, mà trời đen, đất đen?” Và tôi chợt hiểu ra: sơn mài có cái “lý” riêng của nó. Sơn mài khác hẳn sơn dầu.

Có làm sơn mài mới hiểu “matière” (1). Trước tôi cứ nghĩ “matière” là vẽ quả táo, phải có chất như quả táo thực. Chất, không phải chất của vật. Làm tranh với các chất liệu khác đều tốt, nếu mình coi nó là bài tập.

Những người giỏi về kỹ thuật thường ít óc sáng tạo. Vì óc sáng tạo là cái gì mềm yếu, non nớt. Khi nó bị dày đặc, bị rắn lại, thì sẽ khô cứng và chết (18).

Trong văn học nghệ thuật nói chung, hội họa luôn luôn đi trước. Ví dụ họa sĩ sáng tác ra chiếc áo dài, rồi người ta mới làm văn làm thơ, làm bài hát về chiếc áo dài… (19)

Chất liệu hội họa là vật chất. Nghệ sĩ phải biến nó thành nghệ thuật, thành chính linh hồn mình.
Tập phân biệt các độ đen, độ son. Mỗi bức tranh là một bài tập. Phải biết yêu và sung sướng say mê những khó khăn lúc làm tranh. Không phải chỉ yêu tác phẩm đã hoàn thành.

Cách làm nhiều tranh sơn mài cùng một lúc cũng được. Tùy theo mỗi người, có người dễ, có người khó. Cũng như những diễn viên làm xiếc, họ có thể cho cùng quay mười chiếc đĩa trên các đầu que.

Mỗi tranh của tôi chỉ là bài tập tôi tự đặt cho mình. Nếu nói ra như vậy có lẽ họ sẽ không mua.
Người mua tranh, phần nhiều chỉ là mua một chữ ký đã nổi tiếng.

Mọi sự ở trong tác phẩm, chỉ một mình người đẻ ra tác phẩm biết.


09.10.1981

Mỗi vật đều có cái lý của vật ấy.

Bề mặt, phần ngọn của nghệ thuật, cũng như thiên nhiên, có muôn ngàn thứ. Vậy cái chính yếu: cần phải thấy cái “lý” bên trong.

Dùng vỏ trứng, phải có sáng tạo, nếu chỉ để thay màu trắng bằng trứng, thì không có vấn đề gì đặc biệt cả.

Vẽ sơn mài có định trước, nhưng có những cái đẹp tự nhiên xuất hiện, thì phải biết giữ lại.


11.12.1981

Sơn mài, sơn dầu là hai thế giới khác hẳn nhau. Không thể lấy cái đẹp tạo hình bên này mà tạo hình bên kia. Không thể chắp vá mà được. Nó phải nguyên phiến. Nó phải là nó, không pha tạp.
Nhanh chậm không thành vấn đề, bởi thời gian ở trong tâm ta. Có thể vẽ xuôi, vẽ ngược, đằng nào cũng được. Vì vẽ cũng như nét chữ của ta. Khi ta nhập thể, nó chính là ta, ta chính là nó. Khi ấy những sai sót vi tế nhất ta cũng phân biệt được. Như người chỉ huy một giàn nhạc giao hưởng có thể phân biệt được từng nốt nhỏ bị lạc điệu.

Tranh phải bỏ hết ý đi. Vì cố ý làm là đã có một khoảng cách giữa ta và chất liệu. Mà việc cố gắng thể hiện ý lại tạo một khoảng cách lớn hơn nữa.

Nhập thể cái toàn thể bao giờ cũng vậy, không phải ta chú ý đến cái nhỏ mà nó thành. Bao giờ cũng nhìn toàn bộ, nhìn cái lớn.

Vẽ sơn mài mới hiểu được thời gian, hiểu cuộc sống. Sơn mài là phương tiện để ta sống và nó cũng là cứu cánh. Đến lúc nào đó hai cái nhập vào làm một.

Cái gì là phương tiện thì cái ấy không thể là cứu cánh. (20)

Sống đúng, sống đủ, thì khi ta chết đi ta thấy mình đã làm đúng, làm đủ, không để uổng phí cuộc đời mình, ta có thể chết thanh thản.

Cái sống và cái chết, cũng như màu trắng và màu đen. Hai cái ấy ẩn hiện, đan xen vào nhau, như đậm nhạt trong một bức tranh, nó là một.

Không nên nói “Với hạnh phúc của người nghệ sĩ, thì hạnh phúc của người bình thường thấy thật đáng thương.”

Nói như vậy là cao ngạo. Vì mình không thể biết trong tâm người ta như thế nào. Tốt hơn hết là sống giản dị. Vì cao ngạo lắm có ngày sa xuống thấp.

Tôi không vẽ gì cả. Người khác vẽ, chất liệu tự nó vẽ.

Cả đời tôi làm sơn mài, tôi chỉ muốn chứng minh cái dụng đối với hội họa của nó. Vì thấy chất liệu quí mà người ta bỏ, hoặc cười chê, khinh thường nó.

Người ta phụ thuộc chất liệu, phương tiện nhiều lắm. Chất liệu sơn mài đẹp và có nhiều ngẫu nhiên. Nhưng cái khó, là mình, chứ không phải là vật. Mình khó tính, không thỏa mãn với cái làm được, bắt mình phải đi đến một cái khác khó khăn hơn.

Về bố cục và vẽ bốn phía, không phải là mình quyết định hết đâu.

Xước tranh, xem nghiêng bốn phía thì sẽ thấy hết. Đánh bóng, vết xước sẽ rõ hơn.

Tôi có thể vẽ mãi.

Cứ vẽ, không cần biết nó là hình gì, sẽ chỉnh sau.


01.06.1982

Nhà bác học cũng phải là một triết gia nhìn vấn đề mới lớn, nếu không chỉ là một nhà toán học bình thường.

Bắt rất nhanh một thoáng nhỏ đến trong óc. Một bức tranh, toàn thể phải được vẽ một hơi. Các chi tiết cùng xuất hiện trên bất cứ điểm nào. Nếu cái mặt vẽ một tiếng, mà bàn tay vẽ năm phút, thì đấy là sự thiếu nhất quán.

Kết thúc một bức tranh sơn mài là một cái chớp mắt cuối cùng. Cũng như nhạc sĩ sáng tác nghe toàn bộ bản nhạc trong chớp mắt, họa sĩ cũng vậy.

Để luyện tập, phải tập vẽ nhanh.

Hội họa chuyển động (Action Painting) của Pollock: một vệt sơn rơi thẳng, một vệt sơn vẩy ngang. Bụi sơn từng chấm nhỏ trong tranh, nếu soi kính hiển vi, cũng thấy sự sống vận động trong đó.

Vẽ sơn dầu dễ gây cho họa sĩ bệnh hời hợt. Vẽ sơn mài luyện được sự bền bỉ, cùng sống với tranh.

Nếu thành chuyên môn hóa về dessin, ký họa, phác thảo, thì không đi đến đâu cả, vì chất liệu nó chỉ có đến vậy. Chất liệu càng rộng thì càng khó.

Trên tranh sơn mài hoặc sơn dầu, một nét vẽ ngập ngừng, một nét vẽ bay bổng, đều nhìn thấy.

“Tự giác, giác tha.” Phải hiểu sâu hơn. Ta chỉ là một chấm nhỏ, tự giác là rất khó, còn giác tha, thì rộng lớn mênh mông.

Đọc thẳng vào kinh Phật, ít quan tâm đến cái nền triết Ấn. Chỉ biết được cái nhà cũng khó rồi.
Cách sống của đạo Phật chỉ đơn giản là làm việc gì cũng “lợi ta, lợi người.”
Bớt đọc sách đi, loạn chữ. Đọc sách nhiều có hại. Đọc sách như uống rượu để kích thích sáng tạo.

Không có bức tranh nào gọi là xong cả. Tất cả đều là phác thảo (21).

Làm sơn mài bận bịu như nuôi con mọn vậy. Cả đời làm sơn mài cực nhọc như tù khổ sai chung thân. (22)


Chú thích:

(1) Họa sĩ Nguyễn Sáng cũng có lần nói với tôi: vẽ là phải thay đổi, tìm tòi nhiều hình thức “nhưng cái chính là đừng để mất phương hướng” (Tất cả chú thích phần ghi chép của họa sĩ Nguyễn Xuân Việt).
(2) Họa sĩ Hòa Lan (1853-1890)
(3) Họa sĩ Pháp (1848-1903)
(4) Họa sĩ Pháp (1839-1906)
(5) Khi tôi hỏi: “Bao giờ thì một họa sĩ thấy mình,” ông trả lời ngay “Thấy mình thì chết rồi còn gì!” Sau đó ông nói tiếp câu trên.
(6) Gỗ bọc vải, bọc sơn để vẽ sơn mài.
(7) Vải căng trên khung gỗ để vẽ sơn dầu.
(8) Họa sĩ Mondrian cũng nói: “Nhân loại chỉ gặp nhau ở những gì phổ quát.”
(9) Hai câu thơ này ở trong tác phẩm của Kim Dung, được ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần, có khác chữ.
(10) Kỹ thuật riêng.
(11) Họa sĩ Nguyễn Gia Trí bắt đầu say mê sơn mài khi thấy tranh của họa sĩ Trần Quang Trân. Và chính họa sĩ Trần Quang Trân đã có thời gian sang Nhật Bản nghiên cứu kỹ thuật sơn mài cổ truyền Nhật đem áp dụng vào sáng tác sơn mài hiện đại ở Việt Nam.
(12) Họa sĩ Joseph Inguimberty hoặc gọi một cách thân mật là cụ I, như bác phó Thành (nghệ nhân sơn mài) mà Sinh viên trường CĐMT Đông Dương thường gọi.
(13) Bị dị ứng, sưng mặt, tay chân…
(14) Jackson Pollock, họa sĩ Mỹ (1912-1956)
(15) Phật chỉ sự khác biệt giữa phương tiện và cứu cánh trong kinh “Thủ Lăng Nghiêm.”
(16) Ông nói câu này để giải thích: vóc sơn mài phải để lâu cho sơn hết rút, mặt tranh sẽ phẳng mịn, không bị lên sớ gỗ.
(17) Chất của tranh.
(18) Có một lần, tôi đưa ông xem một tranh sơn mài của tôi đẹp, mà không sâu. Ông dẫn tôi ra vườn chỉ một giò phong lan mới ra hoa, cũng có cái đẹp như vậy: trơ, không hương. Ông im lặng, chỉ vào các đầu chùm rễ phong lan xanh non. Có lần ông chỉ vào một chi tiết đẹp ở tranh “Vườn Xuân Trung-Nam-Bắc” và nói: “giữ lấy cái mới” và ở một chỗ chưa đẹp thì ông nói: “Phải biết chịu đựng cái xấu.”
(19) Thời Phục Hưng ở Ý Michelangelo (1475-1564) là một họa sĩ, nhà thơ, kiến trúc sư, kiêm điêu khắc gia nổi tiếng đã nói: “… ai suy nghĩ cẩn thận và hiểu biết rõ việc làm của con người sẽ thấy ngay rằng mọi công trình của con người không gì ngoài hội họa hoặc là một bộ phận của hội họa.”
Ngày nay E. Powell (giám đốc bảo tàng quốc gia Mỹ) cũng nhận thấy: “Những yếu tố biểu hiện và những thủ pháp nghệ thuật đã làm cho mỹ thuật trở thành trung tâm kinh nghiệm của con người.”
(20) Cách nói của ông cũng như tranh của ông luôn hướng đến một cái gì đó huyền diệu khó nắm bắt có khi tưởng như mâu thuẫn. Có lần ông nói bâng quơ “Từ cái mù mờ sinh ra cái không mù mờ.”
(21) Ông không bao giờ thỏa mãn với một tác phẩm nào. Có lần tôi hỏi: “Bác có muốn xem tranh của bác còn lại trong thành phố hay không?” Ông đáp: “Không. Tôi không thích xem cái cũ, vì không chữa được.”
Kết thúc tranh “Vườn Xuân Trung-Nam-Bắc” khổ 2m x 5m4, khi đã 82 tuổi, ông còn muốn tạo “matière” lan ra toàn bộ khung hoa văn của tranh. Để nó mờ đi, giảm chất trang trí, và tăng chất hội họa lên. Vì sức yếu ông phải dừng lại và để nguyên như hiện nay.
(22) Thời gian sáng tác nhiều, ông phải dậy từ ba giờ sáng, uống trà đọc sách, sau đó chuẩn bị công việc cho thợ làm. (Khi việc nhiều xưởng vẽ có năm thợ). Buổi tối, ông sửa chữa tranh mà thợ đã thực hiện đến 10-11 giờ mới đi nghỉ.

TUẦN THƠ 44: MONG MANH

Nguyễn Lương Ba

DỊU DÀNG NHƯ HƠI THỞ

trước khi tôi xuống trên đôi

chân trần của tôi trước khi

tôi xuống cầu thang, không phải

sự mệt mỏi hay rối

loạn giấc ngủ mà tôi đã

mang theo như chùm ớt chuông

chớp nhoáng chín trong những chậu

cây cuối mùa của chúng tôi

cảm thấy căng thẳng sẵn sàng

tôi đã nghe thấy giọng nói

của một bài thơ thập niên

năm mươi nói về tình yêu

thương gọi chúng ta đến với

những điều của thế giới này

rõ ràng trong tai tôi đến

nỗi tôi không thể nằm đó

trong sự ấm áp bên trong

của cuộc hôn nhân của mình

ôm ấp, nâng niu một người

phụ nữ thanh thản ở độ

tuổi trung niên thay vào đó

là âm thanh trên kính tiếng

vải lanh sột soạt cơ thể

đệm của tôi tất cả kết

hợp lại để nói với tôi

rằng chúng ta ở đây chúng

ta ở đây những gì tôi

nghe thấy là tiếng lật trang

nhẹ nhàng tiếng tách trà xanh

nóng hổi của tôi trên chiếc

đĩa lớn của nó cạnh cứng

của tâm trí tôi vẽ một

đường thẳng không phải trên ròng

rọc dây phơi giữ những tấm

ga trải giường kêu cót két

mà thay vào đó kéo dài

như đường dây điện thoại vào

cõi vĩnh hằng nơi đôi khi

chúng ta đủ yên tĩnh hoặc

ngủ với tâm trí đủ trống

rỗng chúng ta có thể đến

thăm tôi không cần gối của

mình mặc dầu tôi luôn mang

xuống cầu thang khi những …

cơn bão cơ thể này đánh

thức tôi thường hy vọng sẽ

trở lại để ngủ đánh lừa

bản thân bằng ánh đèn nhiệm

vụ màu vàng tối nay có

điều gì đó gọi tôi xuống

cầu thang để đọc cuốn sách

cũ trên giá sách của tôi

từ thời đại học và nghĩ

rằng nếu không có tiêu đề

thì bài thơ sẽ không bao

giờ ở trong tâm trí tôi .

4/18/2025

Ý Nhi 

DẪU CHỈ LÀ CƠN MƯA

Mưa ồn ào mùa hạ
mưa dịu hiền mùa xuân
tháng ba ngày mưa nhuần
vòm hoa xoan tím ngát
Đất cằn trong khô khát
bỗng mát lành sau mưa
cây lá xanh vườn trưa
lại nồng nàn hơi thở
Anh có còn luôn nhớ
cái mùa mưa đầu tiên
con suối nhỏ bên thềm
bỗng cồn cào mùa lũ
Anh có còn luôn nhớ
mùa đông mưa trắng đồi
hoa lau phơ phất gió
dốc Dài và suối Ðôi
Hay chỉ mình em thôi
tháng năm dài vẫn nhớ
như nhớ về đống lửa
như nhớ về mặt trời
chắc bền và rực rỡ
thân gần và xa xôi
Em chẳng dám quên đâu
những gì mình đã có
để làm nên ngọn lửa
suốt cuộc đời hai ta
dẫu chỉ là cơn mưa
em làm sao quên được.

(1976)

Xuân Thủy

EM Ở ĐÂU

Lâu rồi không gặp em
Em có khoẻ không không
Em anh chết đã lâu
Rồi em thế nào rồi

Em còn sống hay đã
Chết lâu rồi ở trong
Anh anh phải tự hỏi
Anh đi chứ anh không

Nghe lời em nói yêu
Anh mà bỏ em đi
Rồi giờ anh nói lâu
Rồi không gặp em em

Có khoẻ không em còn
Sống hay đã chết
Hay như em vẫn nói
Em cao số lắm chưa

Chết được đâu nào là
Là gan là thận bệnh
Nền không tiêm chủng được
Không như người ta vì

Em là tình yêu … Em
Ở ngoài biên giới xa
Ngoài thế giới bủa vây
Quanh anh vì em ở

Trong anh nơi ngoài biên
Giới xa không có gì
Đã nói ngoài tình yêu
Hoà bình hay chiến tranh

#Covid 8/2021

Trần Hoàng Vy

SỰ THẬT HẠT SƯƠNG

Những hạt sương đêm ỏng ẹo, ma mị
lừa dối ngọn cỏ, mượn ánh sáng mặt
trời khi ngày vừa mới chớm, óng a
óng ánh, những chuỗi ngọc ảo ảnh giả

tạo bởi con mắt trần gian mê muội
vẽ đẹp của sương, chỉ có sự thật
của tia nắng mới, dám chỉ ra rằng
hạt sương lạnh tanh, sự thật nó là

đứa con rơi ra từ trong hơi nước
bám víu lấy cành cây, cọng cỏ, lá
xanh để thay tên đổi họ, lên ngôi
xưng là hạt sương lóng la, lóng

lánh. Không dám nhìn sự thật của hạt
nước, nên nắng phải tỏa hơi nóng bắt
hạt sương trở về nguyên dạng dáng hình
của nước, thấm vào đất mẹ hối cải

để cỏ cứ lên xanh từ sự thật…


Khế Iêm

THE STORY OF YOUR LIFE

Deaths that have never been real

deaths they have never occurred

like we have been born without

origin and arrived here

from the chaos momentarily

stopped because life and death

have been a story retold

incidentally retold and

is nothing more than a story

that within a few moments

has become old and after

a few moments the story

has been told and it is over

after it is told returning

to the teller so that other

stories like those have not been

told about life repeated

that have never been real

because we only exist

temporarily in a

life’s few moments and then

return somewhere from where we

came deaths that have never

been real and you have just

momentarily stopped

a few moments. Thank you for

coming into life and for

telling the story of your life.


CHUYỆN ĐỜI ANH


Những cái chết chưa bao

giờ có thật những cái

chết chưa bao giờ xảy

ra như chúng ta sinh

ra không căn không cội

và đến đây từ nơi

hỗn mang dừng lại giây

lâu bởi sống chết lâu

nay chỉ là câu chuyện

được kể lại kể lại

kể lại tình cờ và

chẳng qua mọi câu chuyện

chỉ mới trong vài giây

lâu mọi câu chuyện đã

cũ sau vài giây lâu

mọi chuyện kể kể xong

là xong mọi chuyện kể

kể xong trở về nơi

đã kể để những chuyện

kể khác kể lại những

chuyện chưa kể như cuộc

sống lặp lại lặp lại

mà chưa một lần có

thật vì chúng ta chỉ

vật vờ trong đời có

vài giây lâu rồi trở

về nơi nào từ đó

chúng ta đến đây những

cái chết chưa bao giờ

có thật và anh chỉ

mới dừng lại trong vài

giây lâu. Cám ơn anh

đã đến với đời và

kể xong câu chuyện đời

anh.


LA STORIA DELLA TUA VITA


Morti che non sono mai state reali

morti che non sono mai esistiti

come se fossimo nati senza

origine e siamo arrivati qui

dal caos momentaneamente

fermato perché la vita e la morte

sono state una storia raccontata

raccontata incidentalmente e

non è altro che una storia

che in pochi istanti

è diventata vecchia e dopo

pochi istanti la storia

è stata raccontata ed è finita

dopo che è stata raccontata tornando

al narratore in modo che altre

storie come quelle non siano state

raccontate sulla vita ripetuta

che non sono mai state reali

perché noi esistiamo solo

temporaneamente in pochi

pochi istanti di vita e poi

torniamo da qualche parte da dove veniamo

morti che non sono mai

state reali e tu hai solo

momentaneamente fermato

qualche istante. Grazie per

essere venuto alla vita e per

raccontare la storia della tua vita.

Báo Thơ số 16 số đặc biệt ngôn ngữ khác - Nhà thơ Lidia Chiarelli dịch.

Nguyên Thu

MONG MANH

Rặng tàn rợp bóng xa trời
Xa trong em mắt huyền thắp lửa
Sáng trên đóa môi mềm mộc
gió miên du lọn tóc huyền

mềm như lụa và êm như màu nắng
Đáy mặt hồ trong đựng đóa môi cười
Em e thẹn ráng chiều êm ả
Em chạm tay xoa lên mắt thương

Tách bóng nước tìm mơ một chuỗi
Níu ghì anh trong nỗi nhớ khuất xa
Em, sóng nước hòa cùng chết đuối
Mong manh
cái chạm lặng mờ.

Gò Vấp 5/6/2023

TUẦN THƠ 43: THƠ KHÁC

Photo: Crystal Cathedral Exhibition. Recreations of Michelangelo. 2019
Photo: Crystal Cathedral Exhibition. Recreations of Michelangelo. 2019
Mai Ninh

HUYỀN SỬ

Không có gã thanh niên bỏ những
kèn đồng giữa chợ dẫn tôi vào
sau cánh cổng sơn xanh sắt ố
bờ tường vỡ lở mái trần cầu
thang, lớp học hành lang trống vắng
ngày hè chất xếp ghế bàn chờ
sơn cọ sửa sang cho kịp tựu
trường, tôi đã chẳng biết trong lòng
đời sống bụi dơ chen chúc lất
lay người khốn khó vẫn còn nơi
thơ rực thắm bông hoa của gã
con trai mới được quá hai mươi
ngồi vẽ dưới mây cho đám trẻ
em nghèo một lớp học tường đầy
hình ảnh sáng vui thay rác rưởi
dềnh quanh chợ búa. Không có chàng
thanh niên lạ lẫm mời tôi vào
quán bờ đường uống thêm một ly
cà-phê đọng bã đen nhờ và
thổi vài hơi khói vòng nạc-ghi-
lê kêu bập bập làm sao tôi
biết người chủ quán đã bắt chàng
ta phải trả mười lần giá cả bình
thường vì dám mời một người
đàn bà ngoại quốc không quen bằng
món tiền ăn một ngày trọn ba
đồng Ai Cập đắng môi tôi son
khép ngoài đường bụi bay múa hồn
nhiên trong chiều nắng. Không có con
tàu trôi giữa hai bờ sông chỉ
là người lách vào huyền sử bao
ngàn năm ngủ yên vua trời đội
đêm kêu hoảng trong mồ mả đền
đài chùm bóng không gian u uất
đè lên phận người da cháy dân
nuy-bi bị lưu đày ra khỏi
quê hương cội nguồn nhường đất đai
mang phần mệnh tha phương trên lạc
đà cong lưng, họ lìa xa những
ngôi nhà tường vẽ hoa và chim
sắt vòng tròn mặt trời hơn bốn
ngàn năm về trước bà hoàng I-
Sis đào sông để tìm thân thể
người tình chung bị thù nhân chặt
mười bốn khúc thả trôi trong dòng
đục hờn ghen. Cuối cùng chỉ còn
thiếu đôi mắt đắm sâu nên huyền
thoại sông Nil không thoát khỏi chữ
Tình.

Nil, 2000 | bài trên trang cũ www.thotanhinhthuc.org

Khế Iêm | Xâu chuỗi thơ 

CHIẾC XE ĐẠP

BỨC TRANH (click vào tiêu đề nghe nhạc)

Người đàn ông dựa xe đạp

vào vách tường vừa kịp

cơn giông ập xuống mang

theo mưa và mưa và

mưa xoá nhoà biên cương

giữa sáng tối và sự

vật và bụi mờ đẩy

người đàn ông dần dần

lùi lại khoảng cách giữa

tiếng rơi mái hiên và

gió lạnh và chiếc xe

lấn tới lấn tới cho

đến khi những đường cong

vòng tròn những nan hoa

những góc cạnh khảm sâu

vào bức tường đã ố

màu thành bức tranh hiện

thực và người đàn ông

là chiếc bóng phai mờ

và cơn giông và mưa

và biên độ giữa hai

chiều thực tại còn đọng

lại nhiều năm sau đó

trong ký ức người đàn

ông những phút giây lạ

lùng tưởng chừng như câu

chuyện chỉ xảy ra trong

tâm trí.


KÝ HIỆU CỦA IM LẶNG

Tôi là chiếc xe đạp tôi

không có tâm trí thân

xác tôi là những ống

sắt vô cảm chủng loại

tôi những chiếc xe lăn

bánh trên mọi ngả đường

ngày ngày những mặt đường

mạch sống những con đường

hôm qua hôm kia quanh

co những con đường phố

nghèo trong giấc mơ người

người tất bật người người

đông vui cùng bầu trời

xanh xưa những chiếc xe

song song những tuổi thơ

những mối tình song song

dĩ vãng trong ký ức

con người còn bây giờ

chủng loại tôi đang dần

dần thu nhỏ lạc loài

giữa trùng trùng xe hơi

gắn máy dưới bầu trời

mây mù ô nhiễm trên

vỉa hè tràn đầy rác

rến tràn đầy tiếng ồn

tôi là sự vật giữa

các sự vật tiếng nói

của chủng loại tôi là

im lặng im lặng là

ký hiệu của sự vật.


NGƯỜI ĐÀN ÔNG KỂ

Tôi nói với người bán hàng

– tôi vừa dựng chiếc xe vào

mua bao thuốc lá lúc trở

ra chiếc xe đã không cánh

mà bay – sao khi không lại

mất – một giọng nói the thé

vang lên quanh tôi không một

bóng người ngoài con đường phía

trước lác đác vài chiếc xe

qua và trên nóc nhà cao

tầng một áng mây trôi – chiếc

xe đạp cũ đã xỉn màu

gắn bó với tôi suốt cuộc

đời nghèo – sao khi không lại

mất – giọng nói cất lên ở

ngoài hay trong tôi và có

kẻ nào đó xâm nhập tâm

trí đang trách cứ tôi tôi

thật sự có mặt tôi thật

sự có một chiếc xe đạp

chiếc xe đạp thật sự không

cánh mà bay – sao khi không

lại mất – tôi không nhận ra

tôi ai đưa tôi tới đây

để chỉ mua một bao thuốc

lá thời gian chẳng phải ngưng

lại mà fractal đứt đoạn

lãng quên không ký ức tôi


Trầm Phục Khắc

THƠ KHÁC

Thơ khác ngồi im để mặc cho
thơ giống nói những điều không khác
bên ngoài tấp nập hay văng vắng
thơ khác ngồi nghe thơ giống cho

đến khi cả hai cùng nhận ra
sự có mặt của người đàn ông
lắp ba lắp bắp người đàn ông
lắp ba lắp bắp có vẻ đang

đòi lại cái quyền được nghe và
được nói bên ngoài đột nhiên cực
thanh vắng cho đến khi cái quyền
được nghe có vẻ càng lúc càng

tỏ ra lấn át và đòi hỏi
cho bằng được cái quyền được nói
thì cái quyền được nghe và được
nói đành bỏ mặc…bỏ mặc cho

người đàn ông lắp ba lắp bắp
tiếp tục đòi lại cho bằng được
cái quyền được gọi khác đi là
cái quyền lắp ba lắp bắp đến

lúc này thì thơ khác không thể
ngồi im để mặc cho thơ giống
tiếp tục nói những điều không khác
bên ngoài bắt đầu đang tấp nập

tất cả đang ùa ra uà ra
cho đến khi cực kỳ ồn thì
cả thơ giống thơ khác và cả
người đàn ông lắp ba lắp bắp

đành phải bước ra bên ngoài dắt
díu nhau tìm cho được một chỗ
hợp lý hơn để mà tiếp tục
nói thêm về những điều không khác

…gởi Khế Iêm | nhà thơ Tô Thùy Yên và nhà văn Mai Thảo đã khuất, cả hai đều luôn viết thơ khác

Nguyễn Lương Ba

MỖI NGÀY CHÚNG TA CÓ CÙNG VỚI NHAU

Muốn tả chân em thì anh

đứng ngoài để tả chân em

đứng ngoài điều mình tả vì

chỉ để mô tả có thế

nào thì nói lên thế rồi

tự xóa một cách khách quan

để bây giờ nơi đó em

chờ người về nhớ ngày chia

tay để bây giờ nơi đây

những dấu chân khắc dấu

hoài niệm giấc mơ dài thật

lãng mạn chập chờn dài mãi

những hoài niệm trong căn

nhà đi tới đi lui với

chính mình bắt đầu tan tành

sức mẻ mỗi nơi một chút

sức mẻ tình yêu của Thượng

Đế sức mẻ không yêu ai

nữa từ chối sự sáng tạo

tình yêu nằm im giữa người

người nằm im chập chờn giấc

mơ xa lạ con virus

xa lạ tự tìm tự tạo

không có gì sẵn sàng cả.

Muốn tả chân em thì anh

đứng trong để tả chân em

đứng trong điều mình diễn tả

nhìn em như một lối nhìn

sáng rỡ xa lạ cái thế giới

nhìn nhìn em không có gì

sôi nổi hơn vấn đề sống

chết của con người nhân loại

Cuộc đời cũng chỉ có một.

Viết trong mùa Đại dịch Covid-19/tháng 4-2020

Hồ Đăng Thanh Ngọc

BÀI THƠ CỦA MỘT NHÀ THƠ

hôm qua nhà thơ làm bài thơ
trong lửa rồi đem chôn dưới vực
SÂU/ bài thơ về màu của đóa
hoa làm trái tim nhà thơ rướm

máu/ bài thơ về những chiếc lông
ngỗng màu tối trong những ngày xa
nhau, những chiếc lông sáng màu trở
lại khi người đàn ông trở về,

song con ngỗng đã chết/ bài thơ
về sợi tóc của cây dương liễu
được bàn tay tình yêu ve vuốt/
bài thơ về một cặp tình nhân

ôm nhau trong lúc nhẩm tính về
hóa đơn bữa tối trên bàn ăn
nơi một quán vắng/ bài thơ về
người phụ nữ đội ô đi trong

nắng chiều của ngày tận thế/ bài
thơ về vẻ đẹp của trái đất
này sẽ là niềm cay đắng/ bài
thơ của những đớn đau về những

mất mát đất đai/ bài thơ về
những linh hồn không còn hát nữa
dù đêm trăng rất sáng…Những bài
thơ là sự bất lực của ngữ

pháp. Tuy nhiên những bài thơ ngày
một bị rẻ rúng, trong khi nụ
hôn chân thật ngày một hiếm hoi

Báo Thơ • Tháng 12 năm 2021 • Năm thứ 1 • Số 2 

Tô Thùy Yên | Tặng Ngọc Dũng

Đời Sau Cái Chết | VIE POSTHUME

Em đắp mặt anh mười ngón tay nhánh huệ

Anh biết anh đã trút linh hồn

Sống dậy từ đây đằng sau cái chết

Vốn công phạt tình yêu kết liễu kẻ cô đơn

Em vùi xác anh dưới lớp tro mùa thu

Khuôn mặt ủ ê em bật trận mưa dầm

Tẩm thịt xương anh lạnh lùng rã mục

Bùng nở loài nấm độc tên bi thương

Anh kể kỷ niệm tuổi già chưa sống tới

Mà quên dĩ vãng của hôm nay

Đến thấy em không còn trẻ nữa

Anh chết yểu anh từng trải trước đời anh

Anh ngu đần chiếc bị lũng không hay

Bao đồng Xu thiếu thời đều lọt mất

Cuộc đời xúm lại khảo tra anh

Đứa bé trốn đi linh hồn râu tóc trắng

Em kiếm anh về em cũng ngu đần

Chúng ta thập thò ở ngưỡng cửa tình yêu

Cửa độc nhất tiếp thu người hối lỗi

Xin làm người theo đúng tuổi khai sinh

Vô ích em anh nằm xuống trối trăn

Đôi mắt trừng trừng không chịu khép

Như mặt biển chì nạm những đảo hoang

Tay em vuốt không đánh chìm được chúng.

Sáng Tạo bộ mới, số 2 tháng 8-1960 (trang 32-33) | TƯỞNG NHỚ NHÀ THƠ TÔ THÙY YÊN (1938-2019)

TUẦN THƠ 42: Tôi là bọt biển ở trong em

taryn-elliott
https://www.pexels.com/vi-vn/@taryn-elliott/
Đỗ Kh.

TÔI LÀ BỌT BIỂN

Tôi là bọt biển ở trong em
Người ta vào thì tôi lép tôi
Nép vô một bên người ta ra
Thì tôi lại phồng lên tôi không
Cứng tôi mềm có khi em vươn
Vai nó nở người ta hỏi tại
Sao em cười em cười là vì
Bình minh tới em cười là vì
Chiều rơi em cười là vì ở
Trong em dễ chịu không ai biết
Là ở trong em có một bọt
Biển nếu có ai hỏi sao em khô
Vậy thì tại nước em có ở
Bên trong tôi nằm đó mà hút

21/5/2025

Nguyễn Lương Ba

H Ò A Â M S Ư Ơ N G

Kinh doanh đường phố tăng vọt như vòi cứu hỏa mở
tràn ngập máng xối từ góc này sang góc khác
Khi cô ấy đi về nhà muộn sau những ngôi sao hạng nhất
xe buýt xuyên thành phố
rung chuyển căn nhà sát đường ray mỗi giờ
Tôi lắng nghe tiếng chìa khóa trong cửa
phía sau nó, chúng tôi theo bản năng cúi mình
bốn chuyến bay phía trên một thành phố đã biến thành
những kẻ đẩy xe qua hệ thống liên lạc nội bộ
Hôm nay cơn mưa rào nhà tôi
cũng đã mát rồi
tháng năm đã nhẹ nhàng bên trong
Biển trời chớm nở bến tàu mát dần
từ nhỏ bé mặc dù người đó hẳn phải có
Vũ trụ đã là nhà kho năm sau
Mya nhớ quê hương mùa đó
thách thức mùa màng sông cát
Sông biển sao biển thích thú
mực ăn sung hòa âm sương
biến đổi tươi dịu đập vỡ.

05/22/2025

Hà Bạch Quyên

CHÂN TRỜI XA KHƠI

luôn âm vang trong em lời
tình anh xưa vương vấn vương suốt đời
giông gió một đời em say
kinh nơi thiền môn một đời anh lưu

ly chân trời biền biệt tay
em lần chuỗi ngày đêm em thầm nguyện
xin ơn trên ban phước bình
an nhưng rồi rồi lại nhớ anh nhớ

anh như lá nhớ cành nhớ
anh như sóng hoài hôn lên bờ cát
nên lòng em nào ngưng cơn
dào dạt ơi anh! giờ nơi đâu anh

đang làm gì còn nhớ em
không khi mùa đông đến mùa tiễn đưa
anh em khóc đầm đìa một
lần tiễn anh một đời mất anh em

thành cây khô chờ rã mục
hay em hóa đá mai này luôn âm
vang trong em lời tình anh
xưa vương vấn vương suốt đời giông gió

một đời em say kinh nơi
thiền môn một đời anh mãi lưu ly
chân trời ơi … xa xa khơi ..!!

30082004

Thạch Tốt

TÔI LÀ CON CÁ

Cơn mưa rào của ngày hôm nay
thật cũng đã mát dịu dù rằng …
đã tháng năm nguôi ngoai trong lòng
trời chớm hạ biển vũng tàu mát

a ha vẫn thích con cá tuna
từ nhỏ dù rằng phải có người
kho ngon là đã tháng năm tôi
nhớ về quê cha mùa mưa đó

phá thuận an biển cát trắng sông
biển biển sông sao mà thỏa thích
hài hòa sung sướng ãn mực nướng
biến dịu dàng vỗ đập trong lành

nào đâu có ai oán biển ngàn
đời êm ái dù ở chung cư
hay bar mỹ xập xình biển vẫn
vỗ (hay đập) rì rào tiếng nhạc

cao ngất trường sơn…nào đâu ai
mà nghĩ biển bị nhiễm độc là
con cá chết trắng bờ bây giờ
chỉ ngồi mà nhìn ra biển and

now the sea is in me là
con cá thu , cá ngừ còn nữa
tôm cua hải sản bắt mồi làm
gì biến bị nhiễm độc cá chết

trắng bờ chảy nước miếng con cá
thu cá ngừ còn mấy con nữa
oại đặc sản chảy nước miếng đừng
nói chuyện buffet ồ sushi

nhớ tất niên giờ chỉ ngồi mà
nhìn ra biển, nhìn ra biển biết
làm sao ai gây ra?
Tôi là con cá, là con cá.

17.5.2025

Nguyên Thu

ANH VÀ CÂU CHUYỆN KỂ

Anh là thuốc của em
Anh là thức ăn của em
Anh là nguồn sống của em

Miếng bánh ngọt xếp que
Từng nụ tình nõn xanh
Ngôn ngữ dẫn dụ chất đầy

Sáng uống cạn môi anh
Trưa ăn miếng bánh ngọt
Tối thả vào buồng tim ngập ngụa
Em say cơn khát thèm

Cảm xúc của em là anh
Ngôn ngữ của em từ anh

Anh biến thành những chiếc phao
Cứu sinh em ngược dòng
Tình yêu và câu chuyện kể

Govap 13.8.2023

Xuân Thủy

NHÂN DÂN UKRAINE

Chuyến Tàu đêm nhẹ nhàng êm 
Sao như thể là đang mơ trong cung
Điện mùa hè ta đã ngủ
Trên chiếc giường êm ly trà nóng bóng
Gương soi như lau như ly
Nhìn rõ những hàng cây bên rừng từ 
Moscow đến Kiev trên hành trình

Ta đến trường đại học à không khu 
Ký túc xá trường đại học
Nơi một người bạn của Anh ta đang
Nghỉ hè mùa hè tỉnh giấc
Rất nhanh và chuyến Tàu êm cũng vậy
Đánh thức ta trong cung điện
Mùa hè và cốc trà thủy tinh trong

Cái giá bằng bạc Hoa Văn 
Thật bắt mắt và nghệ thuật bữa sáng
Xong và ta tiếp tục hành 
Trình một chặng đường nữa không xa không
Xa nữa sáng sớm mùa hè
Trong lành quá yên bình như thể chỉ
Còn cây lá làm bạn đường

Bạn đường thôi chỉ Cần một chuyến xe
Buýt nữa là tới nơi rồi
Chưa đến ca sáng và chưa có Tài
À mà không đã có Bác 
Tài trên xe nhưng chưa đến ca sáng
Không có hành khách nào chỉ
Có cây lá làm bạn cùng Anh – Bác
 
Tài xế trẻ vui cười và khỏe khoắn mà
Giọng nói lại nhẹ nhàng sao
Như những hàng cây lá cây lá rì
Rì rào thấy chúng tôi những
Người khách lạ Anh đã vui vẻ cho
Xe chạy mà không Cần ca
Ca gì cả Anh đón chúng tôi như 

Thành phố này đón chúng tôi…
Và cuộc picnic mùa hè chúng tôi
Có thêm người bạn mới thành
Phố này thành phố này thành phố chỉ
Có những người già nói tiếng
UKRAINE thành phố của những dòng
Sông ánh vàng chóp nhà thờ

Thành phố cung điện hòa bình Tôi bước 
đi trên con đường Bình yên 
Thiên đường Tôi nghĩ lại đó chính là
… à nhớ ra lần đó bác
Tài chở đi không mất tiền vì chưa
đến giờ ca trong ca mới
tính tiền tính tiền …chuyến xe thiên đường

Thiên đường vậy mà nhói đau
Lại có nơi tôi còn quá nhỏ để biết 
Tại sao một Thiên đường giàu có
Với những trái cam chín mọng nổi tiếng
Và biết bao những vùng đất
Đẹp tươi Thiên đường nơi không ai
Quan tâm đến chính trị chính

Eo làm gì trò chơi của những con 
Rối chúng phải làm gì đó 
Chứ để Bác Tài xế có lương cho
Gia Tài nhỏ bé bữa ăn 
Gia đình nay không còn nữa khó thế
Khó thế sao nhưng tôi không
Không tin đâu phát đại Bác đen ngòm

Vào tòa nhà Quốc hội UKRAINE 
Hôm này là của thành phố
Này của những hàng cây của dòng sông
Cửa chớp nhà thờ của cụ
Già đang ngồi trên ghế đá công viên
Nơi Quảng trường độc lập này
Có chăng đó chỉ là cuộc ẩu đả 

Trên đường phố như bao đường 
Phố khác ở phương Tây điều không có
Ở những miền viễn Đông nơi
Con người được hun đúc từ thời tiết
Khắc nghiệt và sự bao La
Trong tâm hồn nơi Thiên đường không
Cần luật lệ không Cần những
 
Trò chơi những vở kịch trên sân khấu
Nhỏ bé bao giờ cũng chỉ
Là nhỏ bé để làm gì làm gì Cho một 
đời chóng tàn cho cỗ máy
Đừng hỏng nếu không lấy gì đó … Đó
ở đây nơi tôi trở về quê
quê hương tôi thành phố không có ngày

nào là bình yên thành phố
không có ai chào tôi buổi sáng đón
chào tôi trên đường đi và
ai đó không ai cho tôi cái gì 
đó dù là nhỏ nhất trên
một phần thân thể của họ dù
thành phố này cũng đã từng mất mát

mất mát những máu xương cuộc
chiến tranh vệ quốc vĩ đại mà không 
tượng đài nào cho những người
anh hùng trong thành phố bây giờ ít
con người không ai còn nhớ để làm gì
thật là vô nghĩa như cái
sống tôi đang sống và cái chết được

an ủi một phần nào vì 
những con người sống cũng vô vị như…
à không phải thế chiều nay
tôi nhớ về những ngày xa xưa ấy
có lẽ chuyến tàu chúng tôi
khởi hành từ tờ mờ sáng hay rồi 
mãi đến chiều mới tới Kiep

và rồi cũng có thể không phải thế
chỉ là những ký ức vỡ 
nát chiều nay câu chuyện dài bất tận
đã phải kết thúc ở đâu
đó đâu đó trong những mảnh vỡ và
rồi còn những hành trình tiếp
theo đến những thành phố khác mùa hè

tôi ngắm trời xanh chiều nay
khung cửa sổ nhỏ chở tôi qua khoảng
trời mùa hè năm ấy dù
sao dù sao đi nữa thì cũng đã
muộn hay còn quá sớm nào đã vào ca
hay đã hết giờ làm việc
Bác tài xế trẻ vẫn giúp chúng tôi
một đoạn đường không mất tiền trên chuyến 
chuyến xe chuyến xe thiên đường…

25/2/2014

PHONG TRÀO TƯỢNG TRƯNG / SYMBOLIST MOVEMENT

Trong hình: từ bên trái: Paul Verlaine ngồi ngoài cùng, kể đến là Arthur Rimbaud tay chống cằm
Trong hình: từ bên trái: Paul Verlaine ngồi ngoài cùng, kể đến là Arthur Rimbaud tay chống cằm
(From :http://encarta.msn.com )

Phong trào Tượng Trưng là một phong trào trong văn học và nghệ thuật thị giác có nguồn gốc từ Pháp vào cuối thế kỷ 19.

Trong văn học, tượng trưng là một phong trào thẩm mỹ khuyến khích các nhà văn thể hiện ý tưởng, cảm xúc và giá trị của họ thông qua các biểu tượng hoặc gợi ý thay vì bằng các tuyên bố trực tiếp. Các nhà văn tượng trưng phản ứng với các xu hướng đầu thế kỷ 19 (chủ nghĩa lãng mạn của các tiểu thuyết gia như Victor Hugo, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên của Gustave Flaubert và Emile Zola), tuyên bố rằng trí tưởng tượng là người diễn giải thực sự của hiện thực. Họ cũng loại bỏ các quy tắc cứng nhắc của thơ ca và hình ảnh thơ ca rập khuôn của những người tiền nhiệm của họ, những người được gọi là Panassian. Những người tiền nhiệm quan trọng của thơ tượng trưng là nhà văn người Mỹ Edgar Allan Poe và nhà thơ người Pháp Gerard de Nerval.

Phong trào tượng trưng bắt đầu từ thơ của Charles Baudelaire, tác phẩm Les Fleurs du mal (Hoa của cái ác, 1857) và Le spleen de Paris (Lá lách của Paris, 1869) của ông bị những người đương thời đánh giá là suy đồi. Salon văn học và thơ của Stephane Mallarme, chẳng hạn như L’apres -midi d’un faune (Buổi chiều của một Faun, 1876) tiếp tục phong trào, các nghiên cứu văn xuôi của ông Divagation (Những lời lảm nhảm, 1897) đã hình thành nên một trong những tuyên bố quan trọng nhất về mỹ học tượng trưng. Ba tác phẩm thơ ca gắn liền với phong trào này là Romances sans paroles (Những bài ca không lời, 1874) của Paul Verlaine và “Le bateau ivre” (Chiếc thuyền say rượu, 1871) và Une saison en goes (Mùa ở địa ngục, 1873) của Arthur Rimbaud.

Phong trào Tượng trưng vẫn tồn tại cho đến tận những năm 1890, trong các tác phẩm của những nhà thơ Pháp như Jules Laforgue và Paul Valery cũng như của nhà văn và nhà phê bình Re’my de Gourmont. Pelle’as et Me’lisande, của nhà viết kịch người Bỉ Maurice Maeterlinck là một trong số ít vở kịch tượng trưng. Từ Pháp, chủ nghĩa tượng trưng lan rộng ra toàn thế giới – đặc biệt là đến Nga, nơi nó được chứng minh trong tác phẩm của nhà thơ Aleksandr Blok và có ảnh hưởng lớn đến việc định hình nền văn học thế kỷ 20.

Trong nghệ thuật thị giác, chủ nghĩa tượng trưng có cả ý nghĩa chung và ý nghĩa cụ thể. Theo một nghĩa nào đó, nó ám chỉ việc sử dụng một số quy ước hình ảnh nhất định (tư thế, cử chỉ hoặc một loạt các thuộc tính) để thể hiện một tài năng mang ý nghĩa ngụ ý trong một tác phẩm nghệ thuật (xem biểu tượng học). Theo một nghĩa khác, thuật ngữ chủ nghĩa tượng trưng ám chỉ một phong trào bắt đầu ở Pháp vào những năm 1880, như một phản ứng với chủ nghĩa lãng mạn và cách tiếp cận hiện thực ẩn chứa trong chủ nghĩa ấn tượng. Không hẳn là một phong cách tự thân, chủ nghĩa tượng trưng trong nghệ thuật là một xu hướng tư tưởng quốc tế đóng vai trò là chất xúc tác trong quá trình phát triển thoát khỏi sự biểu hiện trong nghệ thuật và hướng tới sự trừu tượng.

Nguồn cảm hứng ban đầu được tìm thấy trong tác phẩm của các họa sĩ người Pháp Pierre Cecile Puvis de Chavannes, Gustave Moreau và Odilon Redon, những người đã sử dụng màu sắc rực rỡ và sự biểu cảm phóng đại của đường nét để thể hiện những hình ảnh trong mơ đầy cảm xúc. thường hướng đến sự rùng rợn lấy cảm hứng từ các chủ đề văn học, tôn giáo hoặc thần thoại. Những người theo họ bao gồm các họa sĩ người Hà Lan Paul Gauguin và Emile Bernard. Gauguin và Bernard làm việc cùng nhau tại Pont-Aven, ở Britany, từ năm 1888 đến năm 1890 đã theo đuổi một phong cách sử dụng các màu sắc rực rỡ tinh khiết và các hình dạng được xác định bởi các đường viền dày tạo ra các tác phẩm phẳng, có hoa văn trang trí – ví dụ như Tầm nhìn sau bài giảng của Gauguin, hoặc Jacob Wrestling with the Angel (1888, Phòng trưng bày Quốc gia Scotland, Edinburgh) Phong cách này được họ gọi là chủ nghĩa tổng hợp hoặc chủ nghĩa tượng trưng (sử dụng hai thuật ngữ này thay thế cho nhau) để đối lập với cách tiếp cận phân tích của chủ nghĩa ấn tượng. Triển lãm tượng trưng đầu tiên được Gauguin tổ chức vào năm 1889-90 tại Hội chợ Thế giới Paris. Chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng đương đại của Pháp, xu hướng tượng trưng trong hội họa đã dẫn theo một hướng – từ năm 1889 đến năm 1900 – đến tác phẩm của Paul Serusier, Maurice Denis, Pierre Bonnard và Edouard Vuillard. Tự gọi mình là Nabis, họ nhấn mạnh nghệ thuật như một vật trang trí và sử dụng màu sắc một cách chủ quan. Chủ nghĩa tượng trưng cũng là nền tảng cho nhiều phong cách nghệ thuật rất khác nhau của Ferdinand Hodler, họa sĩ người Thụy Sĩ, James Ensor ở Bỉ, Edvard Munch, họa sĩ người Na Uy và nghệ thuật của Aubrey Bearsley, mối liên hệ giữa các khía cạnh khiêu dâm của chủ nghĩa tượng trưng và các hình thức quanh co của phong cách nghệ thuật mới được thấy rõ. Chủ nghĩa tượng trưng với mối quan tâm đến việc sử dụng màu sắc và hình thức mang tính ám chỉ chủ quan có thể được coi là nền tảng cho các phong cách nghệ thuật liên tiếp sau thế kỷ 20: trường phái dã thú, trường phái biểu hiện và trường phái siêu thực.

Symbolist movement a movement in literature and the visial arts thatoriginated in France in the late 19th century.

In literature, symbolist was an aesthetic movement that encouraged writers to express their ideas, feelings and values by means of symbols or suggestions rather than by direct statements. Symbolist writers in reaction to earlier 19th century trends( the romanticism of novelists such as Victor Hugo the realism and naturalism of Gustave Flaubert and Emile Zola), proclaimed that the imagination was the true interpreter pf reality. They also discarded rigid rules of versification and the stereotyped poetic images of their predecessors, the so called Panassians. Important precusors of symbolist poetry were the American writer Edgar Allan Poe and the French poet Gerard de Nerval.

The symbolist movement had its beginning in the poetry of Charles Baudelaire, whose Les Fleurs du mal( The Flower s of Evil,1857) and Le spleen de Paris(1869) were judged as decadent by his contemporaries. Stephane Mallarme’s literary salon and poetry, such as L’apres -midi d’un faune(The Aftenoon of a Faun,1876) carried on the movement, his proes studies Divagation (Ramblings,1897)formed one of the mosy important statement of symbolist aesthetics. Three works of poetry chierty associated with the movement are Paul Verlaine’s Romances sans paroles (Songs Without Words1874) and Arthur Rimbaud’s “Le bateau ivre”( The Drunken Boat 1871) and Une saison en enters (ASeason in Hell1873).

The symbolist movement survived well into the 1890s, in the works of such French poets as Jules Laforgue and Paul Valery as well as those of the writer and critic Re’my de Gourmont. Pelle’as et Me’lisande, by the Belgian playwright Maurice Maeterlinck is one of the few symbo,ist dramas. From France, symbolism spread worldwide- notably to Russia, where it was evidenced in the work of the poet Aleksandr Blok and had great influance on the shaping of 20th century literature.

n the visial arts, symbolism has both a general and a specific meaning. It refers in one sense to the use of certain pictorial convention (pose,gesture, or a repertoire of attributes) to express a talent allegorical meaning in a work of art( see iconnography) .In another sense the term symbolistm refers to a movement that began in France in the 1880s, as a reaction both to romanticism and to the realistic approach implicit in impressionism. Not so much a style per se symbolism in art was an international ideological trend that served as a catalist in the development away from representation in art and toward abstraction.

Inspiration was found initially in the work of the French painters Pierre Ce’cile Puvis de Chavannes, Gustave Moreau, and Odilon Redon, who used brillant colors and exaggerated expressiveness of line to represent emotionally charged dream visions. often verging on the macabre inspired by literary, religious or mytological subjets. Their followers included the Dutch painters Paul Gauguin and Emile Bernard. Gauguin and Bernard working together at Pont-Aven, in Britany, between 1888 and 1890 apopted a style that made use of pure brilliant colors and forms defined by heavy contour lines resulting in flat, decoratively patterned compositions-exemplified by Gauguin’s Vision after the Sermon, or Jacob Wrestling with the Angel(1888, National Gallery of Scotland, Edinburgh) This style they dubbed synthetist or symbolism (using the two terms interchangeably) in opposition to the analytic approach of impressionism. The first symbolist exhibition was organized by Gauguin in 1889-90 at the Paris World’s Fair. Influenced by contemporary French symbolist poetry, the symbolist trend in painting led in one direction – from 1889 to 1900- to the work of Paul Serusier, Maurice Denis, Pierre Bonnard and Edouard Vuillard. Calling themselves the Nabis, they emphasized art as decoration and used color subjectively. Symbolism also was basic to the very different styles of Ferdinand Hodler, the Swiss paiter, James Ensor in Belgium, Edvard Munch, the Norwegian artist and Aubrey Bearsley’s art, the link between the erotic aspects of symbolism and the sinuous forms of the art nouveau style is clearly seen Symbolism with its concern for the subjective allusive employment of color and form can be seen to underlie successive later 20th-century art styles as well: fauvism, expressionism and surrealism.

https://www.nevermorepoem.com/archives/5896

Tại sao chúng ta làm thơ?

Trịnh Y Thư

1. Thơ là biểu hiện và kết nối cảm xúc

Trước hết, về cơ bản, thơ ca cho phép các cá thể con người nói lên những cảm xúc, suy nghĩ và trải nghiệm sâu sắc nhất của họ. Nó có thể nắm bắt được các sắc thái cảm xúc của con người theo những cách mà các loại hình giao tiếp khác không thể làm được. Vay mượn câu nói của Milan Kundera, “có những điều chỉ tiểu thuyết mới nói được”, tôi có thể nói “có những điều chỉ thơ ca mới nói được.”

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà con người ngày càng xa cách, tách ly nhau; thơ ca là con đường cứu chuộc cuối cùng cho vấn nạn đó. Trong lúc sự hư ngụy, giả trá được tâng xưng lên làm chân lý, thì thơ ca vẫn lặng lẽ nói lên Sự Thật. Sự Thật của thơ ca là hy vọng cuối cùng cho con người tìm lại được sợi dây thắt buộc mình lại với nhau sau những phân liệt tranh chấp và hận thù.

Thơ ca mở rộng ngôn ngữ, cho phép nhà thơ giao cảm theo cách mà các hình thức khác – một cuộc trò chuyện thông thường, một câu chuyện kể bằng văn xuôi, v.v… – không mang lại được. Chúng ta có thể sử dụng thi ảnh và cảm xúc trong thơ để đạt đến mức độ giao cảm sâu sắc hơn, ngay cả khi thơ không chứa đựng những mật ngôn ẩn giấu, những ý nghĩa đa tầng.

Nhiều nhà thơ đương đại sử dụng tác phẩm của mình để nói lên các vấn đề công bằng xã hội, phân biệt giới tính, xu hướng tình dục, chủ đề chính trị và phê phán văn hóa. Thơ có thể nâng cao nhận thức, kích thích tư duy và truyền cảm hứng hành động cho những vấn đề quan trọng thuộc phạm vi chính trị-xã hội.

Thơ với tư cách là một loại hình nghệ thuật tiếp tục mang lại niềm cảm khoái thẩm mỹ. Việc sử dụng ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh và âm thanh có thể tạo ra vẻ đẹp và gợi lên cảm giác ngạc nhiên thích thú về nghệ thuật ngôn từ.

Thơ giúp bảo tồn di sản văn hóa bằng cách truyền lại những truyền thống, câu chuyện và giá trị qua nhiều thế hệ. Đồng thời, nó cũng cho phép đổi mới văn hóa, phản ánh bản sắc và trải nghiệm đang phát triển của con người trong một thế giới toàn cầu hóa.

2. Làm thơ là khám phá và bông đùa với ngôn ngữ

Thơ tự thân là một trò chơi ngôn ngữ, nó luôn tìm cách vượt qua những đường biên ngôn ngữ đời thường để khám phá những khả năng mới mẻ của ngôn ngữ. Thử nghiệm ngôn ngữ là phong nhiêu hóa ngôn ngữ và mở rộng sự hiểu biết cũng như cách sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ phải là một sinh ngữ nếu muốn tồn tại, nó luôn luôn biến đổi theo thời gian qua các thời đại, bằng không nó sẽ là một tử ngữ.

Thơ là một lối viết đặc biệt, khác rất nhiều so với các hình thức viết khác. Tuy nhiên, không có con đường đúng đắn duy nhất nào để trở thành một nhà thơ. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam từ thời Trung đại, nhà thơ thường được xem trọng, vì giới sĩ phu đào tạo trong môi trường Khổng-Mạnh phần nhiều chỉ làm thơ. Nhưng bước sang thời cận và hiện đại, nhà thơ Việt Nam đã “thoát xác”, không còn mang nặng tâm thức “văn dĩ tải đạo” nữa mà ngày càng giống các đồng nghiệp Tây phương của mình.

Thơ đương đại, Việt Nam nói riêng hay thế giới nói chung, là một loại hình nghệ thuật cho phép người viết sáng tạo mà không phập phồng lo sợ phải làm thế nào cho hoàn hảo, nhà thơ không cần lo lắng, phân vân về ý nghĩa. Một trong những tính cách đặc thù của thơ là cho phép người viết bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc, ý tưởng, quan điểm ​​của mình bằng một đường lối trừu tượng, cách điệu hóa tối đa, nếu cần, và không tuân theo các quy tắc viết “truyền thống”. Một nhà thơ, nếu hắn làm đúng công việc của mình, sẽ khiến người đọc phải cố gắng tìm ra chính xác ý nghĩa, mục đích hoặc cảm xúc được truyền tải là gì. Đây là một trò chơi, trò chơi đoán xem cái gì nằm trong trí óc người làm thơ khiến hắn viết như thế, một trò chơi thú vị.

Khi làm thơ, cũng như hầu hết các nhà thơ, tôi bị cuốn hút vào một khoảnh khắc nóng bỏng với một tứ thơ nào đó. Cái gì thôi thúc tôi viết bài thơ, tôi không thể suy nghĩ rõ ràng, nhưng tôi cần thể hiện dòng ý thức của mình, càng nhanh càng tốt, và chính những điều này khiến bài thơ cuối cùng trở nên thú vị. Thơ Siêu thực, với “lối viết tự động” tuôn trào từ tiềm thức, vô thức, hay giấc mơ, đã đẩy thơ ca đến một biên vực mới lạ, đầy hào hứng.

Thơ là một hình thức cho phép người viết bày tỏ sự đau khổ, nỗi sợ hãi và lo lắng của mình mà không cần phải chuẩn xác, thậm chí không mạch lạc ngay lần viết thử đầu tiên. Thơ cho phép người viết thể hiện mọi điều nhỏ nhặt trong tâm trí mình trên giấy (hoặc màn hình máy tính), theo một cách tiếp cận đơn giản. Lúc đó, mối quan tâm duy nhất của nhà thơ là hiểu được suy nghĩ và xử lý cảm xúc của mình.

Sau khi làm xong một bài thơ, tôi thường có thói quen quên nó và đi làm chuyện khác, như ra ngoài đi bộ hoặc hẹn bạn bè đi quán uống cà phê. Sau vài ngày, đôi khi cả tháng, tôi xem lại bài thơ đó với một góc nhìn mới mẻ. Giờ đây, tôi có thể chỉnh sửa cho trau chuốt bài thơ, xóa bỏ sai sót, những sai sót tôi có thể mắc phải trong bản phác thảo đầu tiên lúc tôi viết nó trong cảm xúc nóng hổi.

Chỉnh sửa và biên tập xong, nhà thơ vẫn có thể giữ được giọng điệu nguyên thủy và duy trì đúng ý nghĩa của nó. Cảm xúc nằm trên giấy, nhưng bây giờ nhà thơ phải trau chuốt lại một số từ hoặc cụm từ nhất định để cảm xúc thực sự đến với người đọc.

Vẻ đẹp của thơ nằm ở chỗ hầu hết được sáng tác trong cơn đồng thiếp, ngẫu hứng, từ một phân cảnh đời sống buồn bã hoặc một nhận thức bất chợt tình cờ dẫn đến sự suy ngẫm, thậm chí một cơn phẫn nộ, giận dữ, một niềm vui sướng hạnh phúc dạt dào. Viết những câu chữ mạch lạc, như trong một bài nghị luận, đòi hỏi phải suy nghĩ và cẩn trọng nhiều hơn. Nhưng với thơ, mọi quy tắc ngữ pháp gần như bị bỏ qua, không có đường biên, không có giới hạn cho sự phá cách. Trong thơ, sẽ không hề chi nếu người đọc tác phẩm của bạn không hiểu rõ ý nghĩa bạn đang cố gắng truyền tải là gì. Thơ là một hình thức viết mà người đọc có thể chấp nhận việc rút ra kết luận của riêng mình và diễn giải tác phẩm theo cách riêng. Ở chừng mực nào đó, người đọc thơ tiếp nối sự sáng tạo từ người làm thơ, thậm chí phủ lấp người làm thơ.

Nói vậy bởi tôi đang nghĩ đến thơ của thi sĩ Nguyễn-hòa-Trước.

Thơ Nguyễn-hòa-Trước được đặc trưng bởi sự tập trung vào tính sáng tạo của ngôn ngữ, sự giải cấu trúc của cú pháp và ngữ pháp thông thường, đồng thời khám phá những hạn chế và khả năng cố hữu của chính ngôn ngữ.

Thơ ông thường sử dụng cú pháp rời rạc. Cấu trúc thơ phân mảnh, thách thức các hình thức biểu đạt tuyến tính và tự sự thông thường. Sự phân mảnh phản ánh sự hoài nghi đối với ý tưởng về một ý nghĩa mạch lạc, đồng thời nhấn mạnh quá trình đọc thơ như một tương tác tích cực với ngôn ngữ. Người đọc thơ cùng lúc sáng tạo với người làm thơ. Thơ có thể gãy đoạn, không dễ cảm nhận tức thời, không đi thẳng từ trái tim người làm thơ sang trái tim người đọc, nhưng đó là sự gãy đoạn có ý thức khơi gợi những khả thể mỹ học khác lạ trong một tương quan mở. Chính nhờ vậy, ngôn ngữ trong thơ ông không bị lệ thuộc vào cái nghĩa, tức là cái tư tưởng tiên nghiệm, để từ đó thơ thoát ra khỏi thân phận công cụ, không bị trì kéo bởi trọng lượng khôn kham của sứ mệnh, và trở thành cứu cánh của văn học, của mỹ học.

Là một thử nghiệm ngôn ngữ ở cấp độ vần/nhịp điệu, từ pháp, cú pháp và ngữ nghĩa, nhà thơ thường sáng tạo những từ mới, sử dụng cách chơi chữ và vận dụng ngôn ngữ để làm nổi bật những phẩm chất vật chất của nó. Sự đổi mới ngôn ngữ này nhằm mục đích phá vỡ các thói quen đọc và hiểu.

Bởi thơ Nguyễn-hòa-Trước xem ngôn ngữ như một đối tượng vật chất, có xu hướng khám phá tính chất vật thể của nó cũng như cách thức nó định hình nhận thức và trải nghiệm, nên nhà thơ quan tâm đến kết cấu, cú điệu và hình thức trực quan của các từ trên mặt dệt bài thơ cũng như bối cảnh văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng chúng.

Theo lời chính nhà thơ thì “Viết là để ‘ngôn ngữ hóa’ cảm xúc và tưởng tượng của mình; mà hai thứ này thì cứ thay đổi, biến chuyển tùy lúc. Do đó, chúng bắt buộc ‘ngôn từ’ phải tự biến hóa liên tục theo.”

3. Miêu thuật trong thơ

Thơ có cần miêu thuật một câu chuyện nào không? Nếu là thơ vô ngôn, mật ngôn – tôi đang nghĩ đến nhiều bài thơ của nhà thơ Hoàng Xuân Sơn – thì không hề hiện hữu một tự sự nào, mà chỉ là tập hợp những từ chẳng liên quan gì đến nhau, cũng chẳng có ý nghĩa hữu cơ nào. Là người viết, chúng ta có khao khát muốn chia sẻ với độc giả những câu chuyện đời, từ những chuyện vụn vặt, vớ vẩn chẳng đâu vào đâu cho đến chuyện nói lên thân phận con người trong dòng chảy cuồng nộ của cái-gọi-là kiếp nhân sinh.

Nếu là thiên tài như Nguyễn Du, bạn cứ nhẩn nha viết bài trường ca trên ba nghìn câu lục bát miêu thuật một câu chuyện éo le, ngang trái nhiều nước mắt. Nhưng thật may mắn cho chúng ta, những kẻ hậu bối tầm thường, vẫn có nhiều hình thức và loại hình văn bản khác nhau có thể mang lại trải nghiệm, hoàn cảnh hoặc tình huống cho cuộc sống. Bạn khao khát muốn kể ra sự thật đầy cảm xúc của câu chuyện hằng ấp ủ trong lòng, bạn chỉ cần ghi lại những khoảnh khắc nhỏ và biến chúng thành những khoảnh khắc quan trọng. Bạn kể một câu chuyện mà không cần trau chuốt xây dựng từng chi tiết nhỏ. Đó là nơi thơ phát huy tác dụng.

Thơ có thể ngắn hoặc dài, tùy ý bạn. Bài thơ Trái đất của thi sĩ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc chỉ vẻn vẹn có sáu từ. Tôi cũng nghe truyền tụng thi sĩ Nguyễn Đức Sơn có một bài thơ tổng cộng ba từ “Hột thì le!” Nếu đấy là sự thật thì bài thơ của Sơn Núi có lẽ là bài thơ ngắn nhất lịch sử thơ ca! Tuy rất ngắn, nhưng cả hai bài thơ của hai thi sĩ (nếu có thể gọi đó là “bài” thơ) đều trọn vẹn “miêu thuật” một cảnh huống hay một cảm xúc nào đó. Chưa bao giờ người đọc đóng vai trò quan trọng hơn, bởi người đọc phải tiếp nối, lấp đầy những phần trắng, phần trống, hở, của bài thơ. Các thể thơ haiku hay hokku của Nhật Bản cũng có tác dụng tương tự, nó yêu cầu sự tương tác giữa văn bản thơ và người đọc để bật lên những điều thú vị nằm bên ngoài thơ.

Điều khiến thơ ca trở thành một loại hình nghệ thuật thiêng liêng là những câu chuyện được kể có rất ít lời. Kỳ thực, kể một câu chuyện lý thú dưới ba trăm từ là một tài năng ít người có được.

4. Hình thức bài thơ

Không có một hình thức nào được xem là đúng nhất cho một bài thơ. Tuy vậy, hình thức bài thơ cho phép người đọc có cái nhìn thoáng qua về dòng ý thức của nhà thơ. Mỗi đoạn thơ đều góp phần truyền tải một ý nghĩa, cảm xúc sâu sắc nào đó. Mỗi khổ thơ, cách ngắt dòng, dấu chấm hay dấu phẩy, những ký hiệu, thậm chí những đường nét như tranh vẽ đều được dụng công góp phần tạo nên bức tranh lớn hơn của bài thơ. Cách thức một bài thơ được định dạng nói lên nhiều điều về giọng điệu hoặc tâm trạng mà nhà thơ có thể đang cố gắng truyền tải. Nhà thơ có thể truyền tải một tư duy phân tán bằng cách sử dụng ngắt dòng và nhiều khoảng cách giữa các từ. Hoặc, nếu muốn bài thơ có vẻ sâu sắc hơn, bạn có thể làm thơ vần và mỗi khổ thơ có số dòng như nhau.

Không giống như văn xuôi, thơ yêu cầu chúng ta chú ý đến ngôn ngữ không chỉ từng câu, từng chữ mà còn từng âm tiết, từng âm thanh. Chính nhịp điệu và âm nhạc của thơ đòi hỏi chúng ta phải lắng nghe, mở rộng các giác quan và nhận thức cách chúng ta tiếp nhận ý nghĩa vào tâm trí mình.

Nhạc tính và những khoảng dừng (như những dấu lặng trong âm nhạc) được chủ ý xây dựng trong dòng ngắt quãng làm chúng ta chậm lại. Thơ yêu cầu chúng ta không nhảy về phía trước mà ngừng lại nuốt vào từng con chữ một để thẩm thấu trải nghiệm bàng bạc trong hồn thơ lai láng. Nó mời gọi sự hiện diện. Nó tiếc rẻ sao đêm chóng tàn.

Hình thức và nội dung không thể tách rời trong một bài thơ. Một bài thơ có ý nghĩa chính xác như những gì được biểu hiện trong hình thức của nó. Hình thức là nội dung và nội dung là hình thức. Điều này tương tự như tính lưỡng phân giữa tâm trí và thân thể con người.

Hình thức thơ của các nước Tây phương vào mấy chục năm giữa thế kỷ XX, nhất là thơ Mỹ, lâm vào tình trạng quá độ. Nó biến thành ký họa. Nhưng chỉ sau hai, ba thập kỷ tung hoành, nó lui vào bóng tối và ngày nay chỉ hiện hữu như một cước chú trong các giáo trình học đường cho các học sinh, sinh viên tìm hiểu về lịch sử thơ ca.

Sau khi bài thơ hoàn tất, nó có thể mang bất cứ ý nghĩa gì. Hãy để người đọc tự giải thích. Đó chính là điều khiến thơ trở thành một loại hình viết thú vị và bí ẩn. Thơ là phiên bản giấc mơ của nhà thơ. Qua thơ của mình, nhà thơ có thể tạo ra điều gì đó đẹp đẽ từ bóng tối mà họ có thể đang trải qua. Thơ mang lại cho người viết sự nhẹ nhõm và sự thú vị cho người đọc.

5. Mục đích của thơ là gì?

Đối với nhiều người, câu hỏi này thoạt đầu nghe có vẻ vớ vẩn, chẳng chút liên quan. Hoặc bạn thích đọc và làm thơ, hoặc thơ không có mối quan tâm đặc biệt nào đối với bạn, và trong cả hai trường hợp, lý luận trừu tượng về nó chỉ khiến bạn cảm thấy câu chuyện trở nên lạc đề. Nhưng ít nhất từ thế kỷ XVI bên Tây phương, các nhà thơ đã viết những chuyên luận về tầm mức quan trọng của thơ ca. Tập sách Apology for Poetry (Lời xin lỗi cho thơ ca) của Philip Sidney dựa trên khả năng của thơ trong việc hướng dẫn độc giả thông qua “niềm vui” và giúp họ đạt được các “thao tác đạo đức”. Vào đầu thế kỷ XIX, cuốn Defense of Poetry (Bảo vệ thơ ca) của thi hào Anh Percy Bysshe Shelley đưa ra lập thuyết dựa trên khả năng rèn luyện trí tưởng tượng của thơ. Theo ông, thơ ca “đánh thức và mở rộng tâm trí” con người.

Ngày nay, tính trung tâm văn hóa của thơ ca đã giảm sút đáng kể so với thời cách đây vài thế kỷ. Vào thời của họ, những thi sĩ như Shelley và Lord Byron có địa vị gần giống như các siêu sao nhạc pop, hay diễn viên điện ảnh thời nay. Nhưng những niềm vui và bài học từ thơ ca, nếu có, lại không giảm sút chút nào, và việc thể hiện rõ ràng lợi ích của thơ nhắc nhở chúng ta thơ là gì và chúng ta là ai, bởi thơ giúp chúng ta bộc lộ chính bản ngã mình.

Thơ hiện hữu trong mọi giai đoạn, mọi tâm trạng, mọi trải nghiệm của cuộc sống. Osip Mandelstam viết nguệch ngoạc những bài thơ trong ngục tù Gulag ở Siberia; Thanh Tâm Tuyền vừa lao động khổ dịch tại những trại tù cải tạo Bắc Việt vừa lẩm nhẩm những câu thơ trác tuyệt nhất của ông; Trần Mộng Tú vừa nấu cơm tối cho chồng con vừa bật ra trong đầu những vần thơ nền nã. Thơ đi cùng chúng ta, gặp chúng ta nơi chúng ta đang ở, dẫn chúng ta đến những bước tiếp theo. Trong cuộc đời tôi, thơ luôn là người bạn đồng hành. Tôi đã viết những bài thơ trong những khoảnh khắc đen tối nhất và hạnh phúc nhất đời mình.

Tôi nghĩ chừng đó thôi đã đủ cho thơ ca có một chỗ đứng trang trọng và viên mãn trong tâm hồn chúng ta.

6. Tại sao chúng ta làm thơ?

Khi chú ý đến ngôn ngữ, chúng ta thấy rằng ngôn ngữ mang ý nghĩa trong mối liên hệ với truyền thống, nhận thức, kinh nghiệm. Một từ có nghĩa là một cái gì đó khác so với các từ khác; cú điệu chỉ được hình thành trong mối quan hệ với các cú điệu và âm thanh khác. Thông thường, tâm-thân được xem là hai thực thể tách rời, riêng biệt, nhưng xuyên qua nhận thức của chính chúng ta, tâm-thân chỉ là những từ nói lên những phần trải nghiệm của chúng ta mà trên thực tế, không thể tách rời nhau. Tương tự, ý nghĩa của bài thơ xuất phát từ những mối quan hệ được hình thành giữa thế giới sống, giữa các từ trên trang giấy, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với chính người đọc. Nghề đọc, nghề làm thơ, do đó, gắn liền với thực tế sống.

Dù đôi khi thấy khó khăn, chúng ta vẫn thấy được mối liên hệ giữa cái cụ thể và cái thiêng liêng, giữa cái nhỏ nhoi và cái to lớn, cái gì chúng ta có thể biết và cái gì chúng ta không thể lĩnh hội. Khi chú ý đến những mối quan hệ này, chúng ta cũng chú ý đến những khoảng trống giữa các sự vật, giữa các từ, cái không gian im lặng, cái không gian bí ẩn nơi những khả thể có thể xảy ra.

Không gian của khả năng này chính là không gian của năng lượng sáng tạo, của tia lửa thiêng lóe sáng lên trong một giây phút bất chợt, phù du. Và mặc dù chỉ đọng lại trong tâm tưởng ta không quá một sát-na, nó chỉ hướng cho ta đến không gian mà nó mời gọi, nơi sự sáng tạo thành hình. Đó là lúc thần trí tưởng tượng dịch chuyển từ não thùy bên trái sang não thùy bên phải, thâm nhập vào không gian của sáng tạo. Đây là không gian của giấc mơ, của tiềm thức, của thần thoại, của thần cảm. Và không gian đó cũng là không gian diễn ra sự thay đổi. Nó là không gian của tiếng khóc nguyên sơ nhất của chúng ta – nỗi đau buồn, chấn thương, niềm đau thể xác – tất cả đều là một phần của không gian này và thường nằm ngoài ngôn ngữ. Đó cũng là không gian của niềm vui lớn nhất, ham muốn tình dục, tình yêu, và là không gian của chính sự thiêng liêng, của sự thần bí và kính sợ.

Điều thú vị là những trải nghiệm cao độ nhất đưa ta ra ngoài ngôn ngữ. Và nghịch lý thay, sự chú ý rất chặt chẽ đến ngôn ngữ mà thơ ca tạo ra lại đưa chúng ta vào trạng thái phi ngôn ngữ. Nó là khoảng không trống rỗng giữa các từ, trí tuệ của phi ngôn ngữ, cái mà nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh gọi là “phút mong manh giữa những từ”.

“Hãy nói lên Sự Thật nhưng hãy nói một cách nghiêng lệch.” Nữ sĩ Emily Dickinson thốt câu nói nổi tiếng đó. Thường thì chính sự nghiêng lệch của một bài thơ có thể đi đến sự thật một cách chính xác hơn. Mọi sáng tác đều là một quá trình khám phá, đặc biệt là thơ. Chính hình thức này đã cho phép chúng ta buông bỏ những cách nói hoặc suy nghĩ có tính thiên kiến, định sẵn về sự vật và thử nghiệm những hình thức mới, ý nghĩa mới. Chúng ta học hỏi thông qua quá trình đọc và viết của chính mình.

Một lý do ta làm thơ là để tuôn ra từ sâu thẳm bản ngã một số suy nghĩ, cảm xúc, hiểu biết, câu hỏi, thậm chí một giai điệu nào đó mà bạn không biết là có trong bạn hoặc được ai trên thế giới nói đến hay chưa. (Hãy quay lại câu nói của Milan Kundera.) Các hình thức viết khác, như báo cáo khoa học, phân tích chính trị, thị trường chứng khoán, báo chí, phần nhiều cố gắng nắm bắt và thông hiểu những điều đã biết. Thơ là sự khai phóng cái gì đó trước đây chưa từng được biết đến và đặt nó vào thế giới hữu hình. Bạn viết để mời gọi điều đó, để biến cái vô minh thành một tập hợp những điều bất ngờ, và với may mắn, những điều không thể ngờ tới.

Hấp lực của thơ thu hút những gì sâu sắc và những khả thể của thơ. Thơ cung cấp khả năng mở rộng khẩu độ và tăng phạm vi tiếp cận. Chúng ta thường sống trong tình trạng chính mình bị che khuất khỏi những người khác. Những yếu tố cô lập mang tính xã hội: quy ước, phép lịch sự; và cá nhân: rụt rè, tự sợ hãi hoặc mù quáng, mệt mỏi. Bước vào một bài thơ là chấp nhận rủi ro, chấp nhận cho bản ngã chui ra khỏi cái vỏ bọc kín bưng xưa nay nó nằm bất động. Việc làm thơ sẽ loại bỏ mọi biện pháp bảo vệ, để xem những bước tiếp theo sẽ như thế nào. Thơ là thủ thuật của ngôn ngữ, trong đó nhà thơ vừa là ảo thuật gia vừa là khán giả. Làm thơ có nghĩa là khám phá những điều mới mẻ trong cảm xúc và ý tưởng. Thơ thúc đẩy sự biến đổi của hiện hữu. Trật tự cũ, dù thế nào chăng nữa, một bài thơ sẽ thay đổi nó.

Thay đổi như thế nào thì chẳng hề có một công thức hay phương trình cho ta tính toán những con số để xem đáp án sau cùng là gì. Mỗi nhà thơ là một cá thể con người. Tôi không giống Khế Iêm hay Vương Ngọc Minh, tôi không có sự táo bạo, liều lĩnh, “dám chơi dám chịu” như hai anh, và chắc chắn phong vị thơ tôi không giống thơ hai anh. Sự thật là mỗi nhà thơ có một phong khí (mượn chữ của nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc) khác nhau, không ai giống ai, và đó chính là nét đẹp của thơ ca.

Yêu cầu cốt lõi của nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, về hình dạng, tính đặc biệt của trải nghiệm, được định vị bởi tâm hồn và trải nghiệm sống của người sáng tạo ra nó. Cái tôi là, tôi sẽ chẳng bao giờ biến đổi được. Và điều tôi luôn tâm niệm trong khi làm thơ là, “Hay mở cửa sổ rộng hơn vài phân cho thoải mái”.

Những gì chúng ta khao khát từ nghệ thuật là những điều còn thiếu sót trong cuộc sống mà chúng ta đang cố sống sao cho ý nghĩa. Luôn luôn thiếu một cái gì đó, và bởi thế việc sáng tạo nghệ thuật là vô tận. Nghệ thuật là con đường xuyên vũ trụ, không bao giờ đến đích. Người làm thơ, hơn ai hết vốn biết rõ điều đó, nên hắn chẳng bao giờ quan tâm đến sự thành công hay thất bại của mình.

Ngoài ra còn có vấn đề kết nối. Bạn không thể dựng một thi ảnh, một ẩn dụ, một câu chuyện, một cụm từ mà không nghiêng sâu hơn một chút vào thế giới được chia sẻ, mà không nhận ra rằng sự cô độc được cho là của bạn ở mọi điểm trong chu vi của nó đều chạm vào một số điểm khác. Sự hiện hữu của con người là một hữu-thể-tại-thế như triết gia Martin Heidegger nhận định. Bạn không thể đọc một bài thơ, nhất là một bài thơ hay, của người khác mà không nhận ra khuôn mặt của chính bạn trong trải nghiệm của họ. Nghệ thuật cho phép chúng ta cảm nhận một cách sâu sắc, chính xác và trìu mến hơn những gì hiện hữu xung quanh. Và nó mở rộng điều đó, mở rộng chúng ta.

7. Tại sao chúng ta vẫn làm thơ, khi không còn ai đọc thơ nữa?

Hy vọng tôi đã trả lời thỏa đáng phần nào câu hỏi “Tại sao chúng ta làm thơ” do bạn đưa ra, nhưng hình như bạn chưa chịu buông tha cho tôi mà còn bồi thêm một câu hỏi khác hóc búa hơn.

Vâng, chúng ta đang sinh sống trong một thời đại mà mọi thứ di chuyển với tốc độ ánh sáng. Con người ngày càng bị cuốn hút vào cái “hố đen huyền tẫn” không có lối trở ra, và các thứ không thiết yếu cho cuộc sống tất bật với nhịp độ chóng mặt đều bị bỏ rơi lại đằng sau, thậm chí bị ném vào bãi phế thải. Việc đọc sách là một trong những thứ bị vứt bỏ không thương tiếc đó, nhất là đọc thơ, làm thơ.

Ngày nay con người chỉ đọc những thông tin trên mạng, mà nội dung những thông tin ấy không lưu lại trong bộ nhớ của mình quá mươi giây đồng hồ để nhường chỗ cho những thông tin khác khẩn thiết, nóng bỏng hơn. Thơ ca trong thời hiện đại không còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống con người nữa, chẳng có gì quá đáng nếu ta xem nó như là một di chỉ của nền văn minh nhân loại đã qua, nó đã trở thành cổ tích.

Chưa hết, chúng ta còn đang sống trong một thời kỳ mà các cuộc khủng hoảng trên thế giới hình như liên tục tiếp diễn: chiến tranh; khủng hoảng kinh tế, chính trị; các băn khoăn về môi trường và biến đổi khí hậu; thậm chí cả những thảm họa từ thiên nhiên như động đất và thời tiết cũng được khuếch đại trong mối tương tác với một môi trường vốn từ lâu đã bị con người tha hóa biến đổi theo chiều hướng xấu. Toàn những vấn nạn to lớn cho con người và thế giới tương lai. Giữa bối cảnh đó, bạn có nghĩ rằng thơ ca và nghệ thuật nói chung có vai trò trong phản ứng của chúng ta trước những điều này và trong tiến trình biến đổi lớn hơn của xã hội?

Ở Việt Nam tôi thường nghe người ta tranh luận về sứ mệnh thơ ca, nhưng đó là thứ sứ mệnh làm thế nào để cõng “sông núi trên vai” (mà họ dịch là “mountain river on the shoulder” [sic]) hầu đưa đất nước tiến nhanh tiến mạnh lên Xã hội chủ nghĩa, chứ ít nghe ai nói về những vấn nạn của thế giới bạn nêu trên. Thực chất, ở ngoài này, từ lâu đã xảy ra những cuộc tranh luận về các vấn đề này.

Thế nhưng mục đích của nghệ thuật có phải là thực hiện những công việc to tát nằm ngoài sự tồn tại của chính nó không? Nghệ thuật có thay đổi điều gì bởi sự tồn tại hay không tồn tại của nó? Có nên để nghệ thuật khoác chiếc áo sứ mệnh nặng khôn kham lên thân thể ốm yếu, còm cõi đến thảm thương của nó không? Câu trả lời chung chung là, dù nhìn dưới lăng kính nào chăng nữa, tôi đều cho rằng nghệ thuật, nếu thực sự là nghệ thuật, phải là động lực hướng tới những cái tốt đẹp.

Nhưng nghệ thuật hoàn toàn mang tính vị lợi sẽ không phải nghệ thuật nữa, mà là quảng cáo hay tuyên truyền. Thơ Chế Lan Viên viết vào thời kỳ chiến tranh Nam-Bắc khích động thanh niên miền Bắc vào Nam chiến đấu “chống Mỹ cứu nước” là những văn bản tuyên truyền, không hơn không kém! Không phải thơ, thậm chí, không phải vè.

Nói cho cùng, nghệ thuật, nhất là nghệ thuật thơ ca, sau khi mọi chuyện ồn ỹ lắng đọng, vào cuối ngày chỉ để lại chút niềm vui nho nhỏ trong lòng người làm thơ và người đọc thơ. Một chút giao cảm nào đó dấy lên, và đó là hạnh phúc. Nhưng ngay cả niềm vui vô ích cũng không phải là tầm thường. Niềm vui chẳng có ý nghĩa trọng đại và không “đạt được” gì cả, nhưng lại là sự mở rộng thước đo không thể thiếu trong bất kỳ cuộc sống nào. Tại sao chúng ta muốn công lý, hay giảm bớt đau khổ, nếu không phải vì sự gia tăng hạnh phúc đơn giản mà nó mang lại?

Nghệ thuật không hẳn chỉ là vấn đề đáp ứng được cái đẹp, đem đến sự an ủi hay tìm lòng bình yên, mặc dù điều đó có thể xảy ra và có thể được hoan nghênh. Nghệ thuật cũng không hẳn để chỉnh đốn tính cách khiến cho cuộc sống tốt đẹp hơn, mặc dù điều đó đã xảy ra ở chừng mực nào đó trong lịch sử loài người, có thể đang xảy ra và tương lai vẫn có nhiều hứa hẹn. Tôi chỉ có thể nói một cách hết sức giản dị rằng nghệ thuật tốt là nghệ thuật có khả năng điều chỉnh lại tầm nhìn hầu làm giảm bớt sự loạn thị trong mắt chúng ta, giúp trái tim chúng ta đập cùng một nhịp đập với thiên nhiên và người bạn đồng hành. Điều này tôi không giải thích được mà chỉ cảm thấy trong mạch đập của mình khi đọc những bài thơ hay.

Tôi không nghĩ thơ ca sẽ biến mất khỏi mặt địa cầu, mặc dù ngày nay nó co cụm lại thành những cái “túi nhỏ”, trong đó các thi sĩ vẫn đắm chìm trong chữ nghĩa của mình để bày tỏ điều gì đó, không nhất thiết phải bày tỏ với ai, mà với chính mình. Những người làm thơ của thời đại hôm nay là những kẻ tự chọn đứng bên lề xu hướng thời đại, nhưng không chịu từ bỏ quan niệm cố hữu vốn xem mục đích của thơ ca bao gồm nhiều chức năng khác nhau, phản ánh khả năng thích ứng và sự phù hợp lâu dài của thơ trong cuộc sống.

BÁO THƠ SỐ 15 – SỐ ĐẶC BIỆT VỀ QUÊ NHÀ

Thơ Mỹ một thời đáng nhớ
Thơ Mỹ một thời đáng nhớ

Bạn đọc có thể đọc trực tiếp hoặc in ra giấy để đọc, đặt mua sách, báo
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi về Diễn đàn hoặc Email về Ban Biên Tập
Chân thành cảm ơn!


ĐỌC TRÊN ISSUU


Thơ • Chủ trương & chủ bút Khế Iêm • Tháng 3 năm 2025 • Năm thứ 5 • Số 15
Email: baogiay2015@gmail.com
www.thotanhinhthuc.com | www.thotanhinhthucviet.vn


SỐ ĐẶC BIỆT: VỀ QUÊ NHÀ


Lời Tòa Soạn


“XỔ HẾT ĐÓN TẾT”: BÙI CHÁT VÀ HÀNH TRÌNH ĐƯA NGHỆ THUẬT TRỞ VỀ ĐỜI SỐNG

Ngô Lực


TÂM TƯ CUỐI NĂM


THƠ VIỆT


Đào Quốc Minh

CÁNH ĐỒNG CỐ HƯƠNG


Anh Hồng

ĐỘC THOẠI


Nguyễn Đạt

KHÚC HÁT ĐƠN DƯƠNG

Tặng Lê Cung Bắc


n g . a n h a n h

ĐÃ LÀ MỘT PHIỀN TOÁI SỐ 18


Mão Xuyên

KẺ KHỞI NGUỒN


Đỗ Minh Tuấn

DUNG DANG DUNG DẺ


Thảo Phương

TIẾNG VỌNG

Tặng A


Mai Văn Phấn

BÂY GIỜ MƯA PHÙN


Phan Như

NÓN


Lê Hưng Tiến

NHỮNG CON CHỮ TÁI SINH


Nguyễn Sao Mai

MAI KHE SANH

Viết cho Huỳnh Bá Đức, quân nhân của nhóm ly khai chống chính phủ trong biến động miền Trung năm 1966, bị sát hại năm 1971, và Mai KheSanh của Đức thời cổ tích một chín năm bảy.

THIỀN SƯ

CON CHỮ

HOA NI CÔ


THƠ TÂN HÌNH THỨC


Hồ Đăng Thanh Ngọc

GÁC CHÂN


Phạm Quyên Chi

RỖNG 1


Huy Hùng

LÊN TIẾNG

Tặng nhà thơ Khế Iêm


Hường Thanh

CHỜ NGÀY MƯA


Nguyễn Thói Đời

CHÚNG MÌNH ƠI CHÚNG MÌNH


Nguyễn Thanh Sơn

BẢN TANGO CHO CUỘC TÌNH


Biển Bắc

AI … DỪA TƯƠI … HÔN (!?)


Sách Nhận Được


PGS TS Trần Hoài Anh
PGS TS Trần Hoài Anh

ĐỜI VÀ THƠ NGUYỄN BÍNH TRONG DI SẢN VĂN HỌC MIỀN NAM
TRƯỚC 1975


PGS TS Trần Hoài Anh

Nguyễn Bính là một thi tài thi ca xuất hiện không nhiều trong nền văn học dân tộc. Ông lặng lẽ sống, lặng lẽ làm thơ, lặng lẽ sáng tạo theo cách riêng của mình. Nguyễn Bính không bị cuốn cào sự ồn ào của những trào lưu văn hóa phương Tây đang là lực hút khá mạnh đối với các thi nhân cùng thời và âm thầm làm một kẻ lội ngược dòng, tắm mình trong dòng sông thi ca mang điệu hồn văn hóa dân tộc với âm hưởng ca dao “quê mùa”, ”chân chất” để làm nên những viện ngọc thi ca mà trải qua bao lớp bụi thời gian, với những biến thiên của bao hệ lụy xã hội vẫn không làm mờ đi mà ngược lại càng làm rực sáng hơn.


Tranh của họa sĩ Brielle-Do
Tranh của họa sĩ Brielle-Do