Trang chủ Blog Trang 37

NHỮNG CUỐN LỊCH SỬ THƠ MỸ, PHỤC HƯNG HARLEM VÀ HIP HOP NHƯ TÂN HÌNH THỨC

HISTORIES OF AMERICAN POETRY, THE HARLEM RENAISSANCE AND HIP HOP AS NEW FORMALISM

William B Noseworthy

“Những cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ” chỉ có bốn ấn bản chính đáng kể, được viết theo chủ đề trên. Kreyborg (1934) là người đầu tiên viết và cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ được ấn hành rộng rãi, “Sức mạnh hát ” (Our Singing Strength), dùng tựa đề một bài thơ của Robert Frost, [tuyển tập này] chú trọng chủ yếu đến thơ được viết tại miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Gregory & Zaturneska (1969) viết rằng họ chú tâm vào Lịch Sử Thơ Mỹ, nhưng trong văn bản chỉ nhắc đến [những tác phẩm vào] 1900-1940, một lần nữa, cũng lại đề cập tới những bài thơ được viết trong vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, với một phần riêng, “Những Nhà Thơ Mỹ Da Đen” (trang 387-398), dành cho thơ Phục Hưng Harlem, đặc biệt nhấn mạnh đến những tác phẩm nổi tiếng của Paul Lawrence Dunbar từ Ohio, một nhà thơ được biết đến rộng rãi như “Nhà Thơ Mỹ Gốc Phi Nổi Tiếng Đầu Tiên Trong Anh Ngữ.” Thơ của Dunbar đầy những vần nghiêng (slant rhyme: hơi vần), vần trong dòng thơ (internal rhyme) và cấu trúc thể luật chính thức. Ông là đồng nghiệp sớm nhất của James Weldon Johnson và Qilliam Stanley Brainwaithe, những nhà thơ Harlem Phục sinh đầu tiên (Gregory & Zatruneska 1969: 392).  Một khuôn mặt khác cũng được Kreyborg đề cao, Claude McKay từ Jamaica, và kế đến là Langston Hughes, Countee Cullen, Sterling A. Brown và Margaret Walker. Tất cả những nhà thơ lãnh đạo Phục Hưng Harlem đều được công nhận trong tập [này], tuy nhiên thời kỳ lịch sử Phục Hưng Harlem lại không được nhắc đến.

Tuy Hồi Giáo đã bắt rễ sâu xa sâu nơi những tác giả Mỹ gốc Phi, Stauffer(1974) có thể coi là đại diện đầu tiên viết cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ,  xử lý những tác phẩm của nhà thơ Mỹ gốc Phi [bằng cách] chọn lại một cái tên có ảnh hưởng Hồi Giáo. Cuốn lịch sử của ông đã dành một mục cho LeRoi, hoặc Imamu Amiri Baraka. Đó cũng là cuốn “Lịch Sử Thơ Mỹ” sớm nhất đề cập đến Phục Hưng Harlem với đúng nghĩa của nó. Giới học giả Hoa Kỳ đã phải tốn 50 năm mới nhận ra tầm quan trọng của phong trào sáng tạo này. Stauffer (1974) vẫn dành một mục cho nhà thơ Mỹ gốc Phi đầu tiên, Paul Laurence Dunbar như là “Nhà thơ Thời Thoái Trào”(194-221), một mục cho John, McKay, và Hughes như những “Nhà thơ Mới” nhấn mạnh tới “khuynh hướng địa phương và ngôn ngữ” (221-256). Nhưng sau đó, Stauffer làm nổi bật những nhà thơ đồng thời với Baraka, “Những Nhà Thơ Da Đen”, như Conrad Kent Rivers, Dudley Randal, Raymond Patterson, James Emanuel, Sonia Sanchez, Nikki Giovanni, và Keorapetse Kgositsile, hầu hết trưởng thành vào những năm đầu phong trào dân quyền, thế kỷ 20, và đặc biệt, họ cố gắng tích cực phục hồi lại xã hội Hoa Kỳ, bằng cách nói lên sự thật một cách mạnh mẽ qua thơ, mặc dù sự thịnh hành của “thơ tự do” vào giữa thế kỷ 20 đã hạ thấp vị thế của thể thơ và vần.

Qua việc ấn hành cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ Columbia (Parini & Miller 1993), những tác phẩm đầu tiên của những nhà thơ Mỹ- Phi nổi danh dần dần được công nhận một cách rộng rãi. Bây giờ, thơ “Phục Hưng Harlem” đã có những tiêu đề riêng (pp. 477-506), như ” Nhà Thơ Da Đen”  (pp. 707-728) và “Thơ Người Mỹ Bản Địa” (pp. 728-750). Theo tập này thì ý tưởng “Phục Hưng Harlem” là một thực trạng lịch sử xã hội, rõ ràng vẫn còn trong vòng thắc mắc vào thời điểm 1993, và cho dù Hip Hop và nhạc Rap đã phổ biến trong dòng chính, thơ diễn đọc (spoken-word poetry) đương đại đã không được đề cập trong tập này. [Tập sách] dành nhiều sự quan tâm cho Amiri Baraka, cũng như cho bất cứ ai trong những nhà thơ Mỹ ảnh hưởng nhất. Tuy nhiên, sự liên đới giữa xu hướng Nghệ Thuật Đen (Black Arts) của những năm 1960s and 1970s và phong trào Hip Hop mới khởi nguồn tại Bronx, thành phố New York vào những năm 1970, đã hầu như hoàn toàn vắng bóng. Nói một cách khác, tập sách này đã bỏ qua loại thơ diễn đọc phổ biến nhất vào thời gian nó được ấn hành.

Qua tác phẩm của nhạc sĩ chơi nhạc cho khán giả nhảy, nhà hoạt động, và  những nghệ sĩ Hip Hop, Afrika Bambatta nêu bật sự quan trọng mang tính xã hội ban đầu của những nghệ sĩ Hip Hop, như những thành viên băng nhóm hoàn lương, đã đem thanh thiếu niên đến nơi trình diễn nghệ thuật trong các khu phố nội thành. Nhưng những ca từ của ông (Afrika Bambatta) cũng nêu bật xu hướng quan trọng: sự trở lại của thể thơ bán chính thức và tầm quan trọng của vần. Những tổ chức  xã hội “Nước Đạo Hồi của Người Gốc Phi” (Afro-centric Nation of Islam) và “Nước của Nnhững Cha và Mẹ” (Nation of Gods and Earths (còn gọi tắt là 5% Nation) đã phổ biến trong những khu phố nội thành Hoa Kỳ, nhất là vào những năm 1950 và 1960 trở lại. Vì thế, chỉ là vấn đề thời gian trước khi thơ trình diễn phổ biến đính hôn với tiếng nói của Hồi Giáo, Hip Hop, và sự nhận thức xã hội. Tiêu biểu là những nghệ sĩ, những nhà hoạt động, và những nhà thơ như Ali Shaheed Mohammed, Q-Tip, Ice Cube, Phife Dawg, Busta Rhymes, Talib Kweli và Mos Def  (giờ là: Yasiin Bey), trong lập luận của họ, sự tái thức tỉnh của nhận thức xã hội là đặc tính của Phục Hưng Harlem và phong trào Nghệ Thuật Đen trong thể loại thơ mới, nói lên tiếng nói của sự thật với mọi con người trên thế giới. Trong khi sự kỳ thị của đạo Cơ Đốc Mỹ gốc Anh đã chủ động dẫm nát sự ảnh hưởng khởi nguồn từ phong tục Hồi giáo và Ả Rập, qua những thể thơ và hình thức thơ, suốt thế kỷ 20, cho đến thập niên 1990 và 2000 [sự kỳ thị] này mới không còn tồn tại.

Khế Iêm nhắc nhở chúng ta rằng tiếng Việt và tiếng Anh vốn là ngôn ngữ đơn âm, và mãi sau này tiếng Anh mới trở thành ngôn ngữ đa âm, khi ảnh hưởng từ vựng từ Hy Lạp và La Mã, được giới thiệu và chọn lọc qua những ngôn ngữ gốc La-tinh. Tương tự như vậy, bản chất vần mà thơ Tân hình thức tuân giữ, đã đến, không phải từ các ngôn ngữ gốc La Tinh [vốn] coi trọng thơ vần, mà từ tiếng Ả Rập, lần đầu tiên giới thiệu vần và thơ thể luật qua kinh Koran. Mos Def nhấn mạnh bản chất thơ thể luật và vần của kinh Koran  trong một cuộc phỏng vấn với học giả H. Samy Alim, và ở San Francisco, nghệ sĩ rap Bigga Figga cũng nhấn mạnh những điểm tương đồng giữa những cấu trúc ca từ của Hip Hop và “chủ ý sư phạm” của kinh Koran, trong đó vai trò của thơ thể luật và vần được sử dụng để “tiếp cận trái tim và khối óc nhân loại” (Samy Alim 2005: 264-268). Vì vậy, Hip Hop có phải làTân hình thức không? Là thơ Tự do? Hay đều không phải cả hai? Có phải những nhà thơ Tân hình thức tự xác định, nhận Hip Hop như người thừa kế thực sự của những truyền thống thơ Mỹ?

Các câu hỏi đặt ra ở trên phải thừa nhận là khiêu khích. Viết lách với một động lực để tìm ra sự thật thường là thế. Ý tưởng rõ ràng mời gọi phê bình. Ví dụ, Khế Iêm cho rằng [thơ] Tân hình Thức là phương tiện “bác cầu” xu thế xuất bản của Việt Nam và Hoa Kỳ, trong khi Linh Đinh chỉ trích Khế Iêm quá chú trọng [một cách] “nguy hiểm” vào Tân hình thức. Tôi không cho là như thế, chúng ta phải hiểu rằng có một số lượng đáng kể các tác giả Việt-Mỹ, Hao Phan, Đinh Linh và nhiều người khác, hết lòng chấp nhận ” Thế Hệ Beat” – như sự nhấn mạnh vào “Thơ tự do.” Tôi cũng lập luận rằng, trong nhiều cuộc thảo luận học thuật về thơ Tân hình thức như một thể loại thơ, đã có sự thiếu hiểu biết chung về tính phức tạp về lịch sử xã hội trong truyền thống thơ Mỹ, nhiều điều ấy đã được các học giả văn học Việt-Mỹ đưa ra ánh sáng. Tuy nhiên, đó không đúng với Tân hình thức vì cấu trúc vần của thơ Tân hình thức không chỉ mắc nợ từ nguồn thơ Ả Rập mà còn từ các nguồn khác. Chúng ta nhớ rằng có đến một phần ba của những người nô lệ châu Phi, trong đó có một số sheikh (lãnh tụ tôn giáo), những trí thức Hồi giáo đã được đưa sang Hoa Kỳ thông qua việc buôn bán nô lệ. Hai chất lượng thẩm mỹ chủ yếu  từ những bài hát bè (một người hát và toán đồng ca lập lại), và những bài thánh ca, được phổ biến trong văn hóa người Mỹ gốc Phi thế kỷ 19, là phương tiện dùng để tái tỉnh thức của Hồi Giáo tại Hoa Kỳ, bởi vì họ muốn bảo tồn chất lượng âm nhạc chính thức trong thơ. Mặc dù hầu hết các nô lệ người Mỹ gốc Phi đã buộc phải theo Cơ Đốc giáo và phải chọn những tên Thánh bằng tiếng Tây vào thế kỷ 19, những điều kiện lịch sử xã hội này là nền tảng cho sự tái thức tỉnh của người Hồi giáo Mỹ gốc Phi vào thế kỷ 20.

Mặc dù ảnh hưởng của văn hóa Hip Hop trên thi pháp đương đại Việt ít, nhưng vẫn có. Nhà thơ tự do Việt-Mỹ Bảo Phi được mời tham gia trong chương trình “Poetry Slam” vào những năm 2000, và chúng ta thấy [tác phẩm] Hip Hop đầu tiên được sản xuất bằng tiếng Việt và tại Việt Nam. Ở Wisconsin, các tác phẩm của cố thi sĩ Việt-Mỹ Johnny “Việt Nam” Nguyễn đang dần bị lãng quên một cách buồn bã chỉ trong một vài năm ngắn ngủi sau khi ông qua đời. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khả năng của các thế hệ nối tiếp của các nhà thơ Mỹ, ở bất kỳ truyền thống nào, sẽ không có những hạt giống từ ảnh hưởng của các nhà thơ Việt-Mỹ, các nhà thơ Ả Rập, và các nhà thơ người Mỹ gốc Phi đã gieo trong họ.

Trần Vũ Liên Tâm dịch

There are, notably, only four major published “Histories of American Poetry” written as such. Kreyborg (1934) proposed to write the first widely published History of American Poetry, using a subtitle from Robert Frost’s “Our Singing Strength,” that focuses, predominantly on poetry that was written in the northeastern United States. Gregory & Zaturneska (1969) wrote their own focused History of American Poetry, but the text only covered 1900-1940, again focusing predominantly on poems written in the northeastern United States with a separate section devoted to the Harlem Renaissance poets “The Negro Poet in America,” (pp. 387-398) which places special emphasis on the celebrated work of Paul Lawrence Dunbar of Ohio, widely billed as the “First popular African American poet writing in English.” Dunbar’s verses were filled with slant rhyme, internal rhyme and formal metered structures. He was an early contemporary of the early Harlem Renaissance poets James Weldon Johnson and William Stanley Brainwaithe (Gregory & Zatruneska 1969: 392). Another figure who features in Kreyborg’s highlight was Claude McKay of Jamaica, followed by Langston Hughes, Countee Cullen, Sterling A. Brown and Margaret Walker. All the leaders of the Harlem Renaissance were recognized in the volume, although the “Harlem Renaissance” as such was not.

Although Islam has deep roots among African American authorship, Stauffer (1974) may represent the first History of American Poetry that treats the works of an African-American poet to re-take an Islamic influenced name. His history devotes a small section LeRoi Jones, or Imamu Amiri Baraka. It is also the earliest “History of American Poetry” to make mention of the Harlem Renaissance as such. It took American scholarship 50 years to recognize the significance of this creative movement. Stauffer (1974) still devotes sections to earlier African American poet Paul Laurence Dunbar as a “Poet of the Twilight Years” (194-221) and to Johnson, McKay and Hughes as “New Poets” that emphasized “regionalism and language” (221-256). But then, with contemporaries of Baraka, Stauffer emphasizes “Black Poets” such as Conrad Kent Rivers, Dudley Randal, Raymond Patterson, James Emanuel, Sonia Sanchez, Nikki Giovanni, and Keorapetse Kgositsile, most of whom came of age during the early part of the civil rights movement in the twentieth century and were specifically attempting to actively reshape American society by speaking truth to power through verse, although the prevalence of “free verse” by the middle of the twentieth century had de-emphasized form and rhyme.

By the publication of the Columbia History of American Poetry (Parini & Miller 1993) the early works of renowned African American poets had become more widely recognized. Now the poetry of the “Harlem Renaissance” was given its own heading (pp. 477-506), as were the “Black Arts Poets” (pp. 707-728) and “Native American Poetry” (pp. 728-750). According to this volume the idea that the “Harlem Renaissance” was a socio-historical reality was apparently still in question in 1993 and even though Hip Hop and Rap music had already reached mainstream popularity, contemporary spoken word poetry wasn’t included in the volume. There was nearly as much attention devoted to Amiri Baraka as any other of the most influential of American poets. However, the connection between the Black Arts Movement of the 1960s and the 1970s and the almost immediately emerging Hip Hop movement that originated in the Bronx, New York City in the 1970s was entirely absent. In other words, the volume ignores the most popular poetic form at the time of its publication.

Through the work of DJ, Activist and Hip Hop artists Afrika Bambatta highlights the early social importance of Hip Hop artists as reformed gang members brought youth into the preforming arts scene in inner city neighborhoods. But his lyrics also highlight an important trend: the return to semi-formal verse structures and the re-emphasis on rhyme. The Afro-centric Nation of Islam and Nation of Gods and Earth (5% Nation) social organizations has already been popular in inner city neighborhoods in the United States, particularly from the 1950s and 1960s onward. Therefore, it was only a matter of time before popular performed poetry began to marry the voice of Islam, Hip Hop and social awareness. Artists, activists and poets such as Ali Shaheed Mohammed, Q-Tip, Ice Cube, Phife Dawg, Busta Rhymes, Talib Kweli and Mos Def (now: Yasiin Bey) represented, in their line of argument a re-awakening of the social awareness that was characteristic of the Harlem Renaissance and the Black Arts movement in a new poetic genre to speak truth to the people of the world. Whereas the prejudice of Anglo-American Christianity was actively stamped out Islam and Arabic cultures original influence on poetic forms and formalism throughout the twentieth century, by the late 1990s and 2000s, this was no longer the case.

Khế Iêm has reminded us that the Vietnamese language and English were both originally monosyllabic languages, and the pol-ysyllabalism was only introduced into English language works later, upon the influence of Greek and Roman words being introduced and filtered through romance languages. Similarly, the rhyming nature that New Formalists hold so dear, was brought to the world not from the Romance languages that celebrated rhyme, but from Arabic, which first introduced rhyme and meter through the Qur’an. Mos Def has emphasized the nature of the Qur’an as metered and rhymed in an interview with scholar H. Samy Alim and San Francisco rapper Bigga Figga also emphasized the similarities between Hip Hop lyrical structures and the “pedagogical intentions” of the Qur’an, in that the role of meter and rhyme was used to “reach the hearts and minds of human kind” (Samy Alim 2005: 264-268). So, is Hip Hop New Formalism? Is it Free Verse? Is it neither? Would self-identifying New Formalists recognize Hip Hop as the true inheritor of American Poetic traditions?

The questions posed above are admittedly provocative. Writing with a motive to uncover the truth often is. Having a clear idea invites critique. For example, Khế Iêm has emphasized New Formalism as a means to “bridge” the publishing climates of Vietnam and the United States, while Linh Dinh has critiqued Khế Iêm directly for placing a “dangerous” overemphasis on New Formalism. I would argue this is not the case, as long as we understand that there are a significant number of Vietnamese-American authors, Hao Phan, Linh Dinh and many others, who wholeheartedly accepted the “Beat Generation”-like emphasis on “Free Verse.” I would also argue that in many contemporary scholarly discussions of New Formalism as a genre there has been a general ignorance of the socio-historical complexities of American poetic tradition, many of which have been brought to light by Vietnamese-American literary scholars. But, it is not just the case that New Formalism owes the origins of rhyming structures to Arabic poetry. We should also be constantly reminded that as many as a third of African slaves, including a number of recorded sheikh Islamic intellectuals were brought to the United States through the slave trade. The two central aesthetic qualities of call and response work songs and hymnals popular in nineteenth century African-American culture were a means that primed a re-awakening of Islam in the United States as they preserved the emphasis on formalized musical qualities in verse. Even when as most of the African American slaves were forced to submit to Christianity and take on Euro-Christian names by the nineteenth century, these socio-historical conditions were a primer for the twentieth century re-awakening of Islam among African-Americans.

Although the influence of Hip Hop culture on Vietnamese contemporary Vietnamese poetics has been small, it is present. Vietnamese-American Free Verse poet Bao Phi was invited to join in Mos Def’s “Poetry Slam” productions in the 2000s, and we are beginning to see the first Hip Hop videos produced in Vietnamese and in Vietnam. In Wisconsin, the works of the late Vietnamese-American Johnny “Vietnam” Nguyen are being sadly beginning to be forgotten in only a short few years after his death. However, this does not mean that the ability of the next generation of poets, of any tradition will not have the seeds of influence of Vietnamese-American poets, of Arabic poets, and of African American poets already planted within them.


Bibliography

Alim, H Samy (2005). A New Research Agenda: Exploring the Transglobal Hip Hop Umma. Pp. 264-274 in eds. Miriam Cooke & Bruce B Lawrence.  Muslim Networks from Hajj to Hip Hop. Chapel Hill University Press: North Carolina.
Curtis, Edward E. (2002). Islam in Black America: Identity, Liberation and Difference in African-American Islamic Thought. State University of New York Press: New York.
Daulatzai, Sohail (2012). Black Star: Crescent Moon: The Muslim International and Black Freedom Beyond America. University of Minnesota Press: Minneapolis, MN.
GhaneaBassiri, Kambiz (2010). A History of Islam in America. Cambridge University Press: New York
Kreymborg, Alfred (1934). A History of American Poetry. Tudor Publishing Company: New York.
Parini, Jay & Millier, Brett C. (1993) The Columbia History of American Poetry. Columbia University Press: New York.
Stauffer, Donald Barlow (1974). A Short History of American Poetry. Dutton & Co.: New York.
Zaturenska, Marya and Gregory, Horace (1969). A History of American Poetry: 1900-1940. Gordian Press: New York.

 

TUẦN THƠ 50: BỨC TRANH ẢO

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt | Thơ Lê Hưng Tiến


BỨC TRANH ẢO

vẽ em lên đỉnh núi thì
em bờ cõi hư hư thực thực … thốc
vào ngọn nắng vô tình lảnh
cảnh thì con nước cũng dáo dác li
ti … vẽ em đồng điệu trên
sóng mắt thì dốc ngược hồn anh từ
phía chân trời khi định mệnh
là viền ruộng xa xa thẳm thẳm … nơi
dong dỏng bóng dáng nền mây,
lại vẽ em tóc mai lưng trời môi
hồng khe khe khẽ khẽ màu
nước, và ngực căng tròn chái núi thì
cảm anh lầm lụi hoài trong
sâu thẳm hồn em, có lẽ vì nét
mày chao nghiêng giữa miền thu
nên định mệnh em sương khói lòng anh…


CÁI TÔI CÓ THỂ

mở những khát vọng ra  từ cánh
cửa đập tan bờ sóng nên trái
tim không thể hú hớ nổi ngọn
gió thơ trên đồi hoang vu. Mênh
mông vỡ vụn rồi tự mất dần
bóng tối lung linh khi giấc khuya
vụt dậy tung hứng hàng hàng câu
trả lời vì sao và vì sao
trái tim không thể hú hớ nổi
ngọn gió thơ trên đồi hoang vu
khát vọng vẫn cô độc bởi dấu
chấm hỏi còn kìm kẹp phía sau mặt
trời đỏ lệ đang còn ẩn ngữ
những hoài niệm thông hành mà thế
giới con người luôn thức nhận chuỗi
chuỗi linh động linh động. Có thể
cái tôi cao trào nhưng bật khát
vọng ra thì cái tôi đã quá
vãng và chưa đủ cái tôi khát
vọng nên cái tôi không thể hú
hớ nổi ngọn gió thơ trên đồi
hoang vu hoang vu. Hoang và vu…


CHỮ KÝ

những giọt sương vắt kiệt mồ hôi
đến nỗi cơn mê bấn loạn nắng
mai đóng dấu bàn chân khô khốc
chú bé lượm mẫu chữ tàn canh
và gạch xiên con đường cô quạnh
cái hồ ao ước như là định
phận con kiến lận đận tìm quên
cái tên để mà nghe hơi đất
thở phào phào ngụ ngôn vòng vo
đường tinh khiết nên kiến con tận
tụy ký vào dấu lưng hỏi lửng …
nhiều khi chân lý buộc đường kẽ
tay đến nỗi những giọt sương vắt
kiệt mồ hôi từ hơi đất thở
phào phào ngụ ngôn ngụ ngôn thì
chú bé lại hâm hẩm dòng suy
tưởng bằng nước mắt mùa xanh xanh
con kiến con cũng leo vào giấc
mơ làm ù tai chú bé bé.


CHUYỆN CỦA MẤY NGƯỜI

cây bàng lổ đổ nắng với dấu vết
mốc meo lưng sóng bởi mỗi ngày chêm
chêm tí lửa nên vàng cánh gió làm
con tim hổn hển. Rồi có bà già
nọ dắt trưa lên đồng để đem câu
thơ gãy ngồi hong quê mùa, trong khi
đó thằng bé thì ngó đăm đẳm bầy
sẻ ngô  thổi trắng cái sáo diều đăm
chiêu cũng như cô gái nọ vắt vẻo
phần trong trắng của mình thổi hồn làm
tinh chất rồi bỏ vào lọ điểm trang…
bên kia cây bàng vẫn lổ đổ nắng
nên mấy tàn lá phủ xanh thời không
tuổi, có lẽ ai đó gọi tên mình
bằng cái nhìn khiếm thị nên chằm chằm
chăm chắm suy tư. Lẽ nào bà già
lên đồng giặt nắng, lẽ nào thằng bé
tắm trắng thời xanh, lẽ nào cô gái
hao hao hờ nhạy cảm, lẽ nào ai
đó ngồi chò hỏ cặm cụi ước ao…


LU LU

đêm qua con chó Lu Lu ru
rú ngọn gió độc mộc làm khối
âm thanh được đúc bằng ống khí
nhòn nhọn nhưng chẳng ai dám chĩa
vào khu bảo tồn đồng tiền tiếng
nói khi mặt trăng gối mộng Lu
Lu mang giấc khuya bên lề hoang
mang bằng âm thanh vữa ra từng
khối đá trắng dã như lời nói
khống hu hú những linh hồn bảo
tàng. Và đêm nay con chó Lu
Lu cũng ru rú ngọn gió độc
mộc khi chiếc mặt nạ bày biện
những hợp âm át giảm khiến Lu
Lu nhảy khỏi cái bóng nó rùng
rục linh cảm từ những sợi đêm
chằng bẵng rung lên nhưng chẳng ai
dám đóng cửa khu bảo tồn đồng
tiền tiếng nói …


MÁ TÔI

khói rơm thảy tro vào miệng đất
khi cò con vạt trắng giêng hai
thì Má tôi gánh mặt trời lên
núi để bán cánh chân con cò
người qua kẻ lại đói đồng không
ai mua ai bán cái lông bông
lần rồi Má tôi đong đếm ngày
và đêm để ủ từng lớp tinh
sương khi cò con lẩy bẩy thèm.
Và khi vệt sáng hấc linh tinh
những ngọn cỏ ngoai ngoải miền sám
hối thì Má tôi cùi cụi dệt
mảng khói rạ làm con cúi nhảy
tọt mồ hôi khi con cò bắt
đầu đói đồng chiêm Má tôi mới
thảy tro vào miệng đất.Mặt trời
vó ngựa thì những hạt hạt đắng
đót từ phận người người sinh sôi.


NGỤ NGÔN CỦA DẾ

Dế con đội gánh từng sợi
đêm treo ngược thời gian rao
rảo những bước cao vô vọng
đột nhiên khản cả vầng trăng
có nghe thút thít từ trong
lòng đất, tiếng xưa trở dạ
lót mềm bóng mây… Dế con
lốc vào lũ ăn mày rồi
vỡ lòng bài đồng ca khai
nhịp thời không gian nơi
tồn tại những ý nghĩ phù
du có thể nảy ra chân
chân cần mẫn, tay tay lùi
lụi trong tĩnh tĩnh động động
vêu vao mũi mũi mắt mắt
sự sống hình hài ngón ngón
thon thon be bé hòng họng,
cuộc chiến bản năng mất mất
còn còn chùng lên những linh
hồn vếu váo phù du treo
ngược sợi đêm Dế con lui
cui từ trái tim thoát hiểm
Khi bình minh đo đỏ Dế
con chưa nghĩ được điều tối
tăm tội vạ…


HÃY LÀ GIẤC MƠ HOANG

mở toang những giấc mơ mà thằng
bạn lỏng khỏng chìa ra chiếc khoá
nụ cười và cặp kính bâng quơ
rồi nó nghiền ngẫm mấy đoá tường
vi côi cút mùa xưa bỗng hồn
nó sâu lại chuỗi suy tư trần
truồng rét mướt. Mùa đông về người
ta thường buộc sợi chỉ vào giấc
hoang đàng để nằm nghe thời gian
qua từng kẽ tay duyên dáng đến
khi cơn mưa li ti cũng xâu
thành suối tóc nhớ nên nó ngồi
lụy người nhìn góc phố xơ xác
thương tiếc mùa yêu.Thế mới hiểu
được sự đời chỉ vỏn vẹn trong
gang tấc là đánh mất cả niềm
tin và lòng tự trọng đáng có
của mình.Ôi ! ma tuý là cái
nôi ám ảnh con người về nỗi
tuyệt vọng vui cùng hạnh phúc.Mênh
mông nào có thể tha hoá được
cô nàng tiên nâu với ma men
nó ảo ảnh. Cơn mưa ơi! hãy
để cảm thức nó trở về từ
giấc mơ hoang tìm lại nửa phần
hồn đã mất…


THỜI VỤ

bỏ vào khoảng trống cho mấy
vụ mùa thơ mảy may hạt ít ỏi
phù sa trên cánh đồng triển
hạn nên ai đó cầy xới lên sâu
thẳm làm con chuồn chuồn đói
những vầng thơ. Khi đường bay lấm tấm
vào sợi mưa ký ức bốc
hơi về đỉnh núi thì ai đó cũ
cái hồn nhiên và cái riêng
tư. Và những cái gọi trong thao thác
làm hư hao từng mớ cơ
thể rồi trái tim dong ruổi cũng làm
đủ ưu phiền. Bỏ vào khoảng
trống tháng ngày qua lỏng chỏng đôi vai
cày nên vụ mùa thơ gầy
guộc giống. Ném mồ hôi từ sóng mắt
cho chiều vật vã cho hồn
chữ cày cáy vụ mùa thơ chồi lên
tư lự rồi bỏ vào khoảng
trống bỏ vào khoảng rỗng khoảng không…


THƠ NHÌN NGHIÊNG

cái bóng đen bị đèn đỏ đỏ đỏ
chụp mũ những ngôn từ rỗng nắng và
bị vàng hớ những dấu chân xanh trùi
trụi không ai nên bài thơ chưa đủ
mày mạy làm tắt mắt. Có những mày
râu rẽ trái về sau họ đi đâu
đến đâu không ai biết nhưng chỉ biết
ngoài hiên gió ngổn ngang có khi họ
mang những câu thơ về rợp ngói hồng
người thiếu phụ dửng dưng rẽ phải với
cái bóng đen xâu xé mặt trưa rát
rạt đến khi đèn đỏ đỏ bỏ ngỏ
nhấp nháy và câu thơ rỉ tối tối
những cụ cao niên thăng thẳng một đường
thẳng câu thơ rù rì lên khói khi
đến ngã ba tam giác có cụ lung
lạc thơ mấy độ độ vuông chằn chặn
ngày cong đêm lối em mơ mớ thành
ý tứ con đường rất thèm bóng rao
vang như đèn đỏ đỏ bật câu thơ
điểm chỉ


Tranh bài: Claude Monet

TẠI SAO TIẾNG ANH LẠI THÍCH HỢP CHO VIỆC LÀM THƠ?

Jorie Graham

Pháp, Ý, và Tây Ban Nha có những họa sĩ [lẫy lừng] của đất nước; Đức và Ý có những nhà soạn nhạc; nhưng rất ít xứ sở có thể so đọ được với nước Anh và Mĩ khi nói về các nhà thơ. Nhà thơ Jorie Graham, người sử dụng được ba ngôn ngữ, đã đánh bạo đưa ra ý kiến để lí giải điều này.

Câu hỏi: Tại sao tiếng Anh lại thích hợp cho việc làm thơ hơn là những ngôn ngữ rô-man? [người dịch chú thích: Những ngôn ngữ rô-man là những ngôn ngữ bắt nguồn từ tiếng La-tinh, tỉ dụ tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha.]

Jorie Graham: Những ngôn ngữ rô-man là những ngôn ngữ nhận chịu sự thâm nhập rất sâu rộng của tiếng La-tinh, và nếu ta đi càng xa về phía bắc, nghĩa là càng xa khỏi tầm với của đế chế La-tinh, thì ngôn ngữ nói ở những miền xa đó càng sinh động hơn cho dù vẫn là trong vòng ngôn ngữ La-tinh; thế nên nếu bạn đi tới miền thật xa như nước Anh, là nước chưa từng bị đế chế La-tinh chinh phục hoàn toàn, bạn sẽ thấy ở đó có sự hiện diện đồng thời của ngôn ngữ Anglô-Xắcxông và ngôn ngữ La-tinh, điều này khiến cho tiếng Anh trở thành thứ tiếng duy nhất có tính phức tạp [phức hợp], cho dù những ngôn ngữ rô-man rất du dương và đẹp đẽ; sự phức tạp [phức hợp] đó một phần do sự kiện ở quần đảo Anh [British Isles: gồm Britain, Ai-len, và các đảo nhỏ khác] trong một số trường hợp [at a certain point] bạn cần phải dùng tới hai từ, một từ La-tinh và một từ Anglô-Xắcxông, để nói về cùng một sự vật. Và vì những từ tiếng Anglô-Xắcxông có khuynh hướng bớt phần phổ quát và tăng phần chính xác [cụ thể], thế nên bạn cần phải có thêm một từ La-tinh để chỉ một sự vật thường thấy ở bất kì nơi đâu trên toàn cõi đế chế La-tinh.

Vậy là bạn đã có sẵn một ngôn ngữ là một vốn liếng chung [pool] rất phong phú để mang tới những thuộc địa, bạn có một ngôn ngữ là thứ tiếng Anh có tính hấp thu rất tham lam mọi thứ tiếng khác vào bên trong nó, không giống như nhiều nền văn hóa rô-man khác, tiếng Anh đã, một cách cơ bản và đồng thời là may mắn và thích hợp, bắt đầu lấy trộm những từ của ngôn ngữ của thổ dân Mĩ, những từ của tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hà Lan, tiếng Bồ Đào Nha, và tiếng Pháp. Sở dĩ vậy, vì ngay từ đầu, nền văn hóa Anh là nền văn hóa mậu dịch [mercantile culture], nó muốn sao cho có thể mua và bán mọi thứ, và nó cần tới mọi thứ ngôn ngữ để có thể thực hiện được việc mua và bán. Và như thế bạn có một dòng chảy từ vựng ào ạt tràn vào tiếng Anh. Bạn không chỉ có hàng chục ngàn từ được tạo ra bởi những tài năng như Shakespeare, mà bạn còn có những tài sản phong phú không thể tưởng tượng được là những từ mà tiếng Anh lấy trộm được, và tất cả lại được hấp thu vào nước Mĩ. Không giống như nước Pháp, tỉ dụ vậy, là xứ sở muốn giữ cho ngôn ngữ của nó được thuần khiết [thuần chủng], bạn có thứ ngôn ngữ là tiếng Anh vốn không chỉ là không thuần khiết [không thuần chủng], và ngày càng không thuần khiết [không thuần chủng], có lẽ nó hấp thu những từ mới hàng ngày hàng giờ, nó còn làm cho điều đó trở thành điều có thể thực hiện được, bởi lẽ nó là một ngôn ngữ tiến triển chủ yếu là trong một xã hội vốn vẫn nỗ lực và thử nghiệm việc loại bỏ hệ thống các giai cấp [trong xã hội]. Và cũng vì vẫn chỉ là một thử nghiệm, nên bạn hẳn sẽ lưu ý rằng tiếng Anh của người Mĩ cho phép bạn sử dụng cả phong cách nói cao và thấp trong cùng một cụm từ, mà bạn vẫn không cảm thấy là bạn mắc sai lầm về ngữ pháp. Còn nếu bạn mới bắt đầu tập nói tiếng Ý hoặc tiếng Pháp, thì chỉ trong vòng vài phút thậm chí vài giây là người khác biết không chỉ là bạn từ xứ sở nào tới mà còn biết bạn thuộc thành phần kinh tế hoặc xã hội nào trong nền văn hóa mà bạn thuộc về.

Thế đó, ngôn ngữ Mĩ thì cực kì phong phú. Một trong những điều người ta nói về nước Mĩ là như sau: Người Mĩ sở hữu một kho từ vựng lớn nhất so với bất kì thứ ngôn ngữ nào hiện có trên hành tinh này, thế nhưng trong việc nói năng thường ngày họ lại sử dụng một kho từ vựng nhỏ nhất.

Người Pháp rất bực dọc về chuyện này, họ nói rằng tại sao tiếng Anh được coi là ngôn ngữ quốc tế trong khi có quá ít từ trong thứ ngôn ngữ đó; sở dĩ vậy, vì nói chung người Mĩ chỉ sử dụng một tỉ lệ rất nhỏ trong số những từ thực sự sẵn có trong kho từ vựng của họ. Nhưng thứ ngôn ngữ đó của họ lại là thứ ngôn ngữ cực kì phong phú nếu bạn sử dụng nó để làm thơ. (Phạm Kiều Tùng dịch)

Jorie Graham, một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất thế hệ hậu chiến Mỹ, giải thưởng Pulitzer về thơ, 1996. Sinh tại New York, lớn lên tại Ý và Pháp, theo học triết tại đại học Sorbone, Paris. Bà am hiểu 3 ngôn ngữ Anh, Pháp, Ý. Bạn đọc có thể nghe lời phát biểu của bà trên internet.

Tranh bài: Japanese Garden

NHỮNG DẤU ẤN THỜI HIỆN ĐẠI

NHỮNG DẤU ẤN THỜI HIỆN ĐẠI


Khế Iêm

(Phần 1)

Stanley J. Grenz, trong cuốn “A Primer On Postmodernism”, dựa theo những loạt phim Star Trek (Hành Trình giữa các vì sao), hình dung ra hình ảnh giữa chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại. Nhưng ông không quan tâm tới diễn biến của cuộc du hành, mà chỉ phân tích một số nhân vật mang tính khác biệt giữa hai thời kỳ văn hóa. Các loạt phim khoa học viễn tưởng Star Trek, ban đầu là các loạt phim truyền hình bao gồm: 1/ Star Trek: The Original Series (1966-69), 2/ Star Trek: The Animated Series (1973-74), 3/ Star Trek: The Next Generation (1987-1994), 4/ Star Trek: Deep Space Nine (1993-99), 5/ Star Trek: Voyager (1995-2001) và 6/ Star Trek: Enterprise (2001-05). Đây bộ phim truyền hình khoa học viễn tưởng đầu tiên với một dàn diễn viên trong vai diễn định kỳ. Các nhân vật chính là người từ Trái Đất có nhiệm vụ khám phá bên ngoài không gian. Trong quá trình này, con người gặp phải những người từ hệ hành tinh khác. Chiều hướng câu chuyện là việc xử lý đối với những người hiếu chiến ngoài hành tinh, các mối quan hệ cá nhân, và với sự diễn tiến hài hước nhẹ nhàng. Sau này, khi chuyển thành phim bao gồm: Star Trek: The Original Series (bộ phim gốc), câu chuyện xảy ra ở thế kỷ 24. Star Trek: The Next Generation và Star Trek: Deep Space Nine, xảy ra ở thế kỷ 25. Star Trek: Enterprise, xảy ra ở thế kỷ 23, thời gian trước bộ phim gốc. Bộ phim gần đây, năm 2009, nói về phi hành đoàn lúc còn trẻ, trong nhiệm vụ ngăn chặn dòng thời gian sắp bị phá hủy hoàn toàn bởi những người Romulans. Phần tiếp theo, Star Trek: Into Darkness, năm 2013, lấy bối cảnh trái đất sau hơn 250 năm, kể về phi hành đoàn phải đối mặt với kẻ khủng bố nguy hiểm, có âm mưu hủy diệt trái đất.

Ông phân chia phim Star Trek làm hai giai đoạn, thời kỳ Star Trek nguyên gốc (Star Trek: Original Series) và thời kỳ sau, Star Trek: thế hệ kế tiếp (Star Trek: The Next Generation). Thời kỳ nguyên gốc với thuyền trưởng James T. Kirk chỉ huy, phản ánh nhiều khía cạnh của Dự án Ánh sáng và cuối thời hiện đại. Phi hành đoàn bao gồm những người có quốc tịch khác nhau, cùng làm việc vì lợi ích chung của nhân loại. Họ là hình ảnh thu nhỏ của nhân chủng học phổ quát hiện đại. Thông điệp rất rõ ràng: “chúng tôi là tất cả con người, chúng tôi phải vượt qua những khác biệt và tham gia lực lượng để hoàn thành mệnh lệnh của chúng tôi, tìm kiếm sự chắc chắn, kiến thức khách quan của toàn bộ vũ trụ trong đó, không gian hiện ra lờ mờ là biên giới cuối cùng.”

Người anh hùng của Star Trek nguyên gốc là Spock, thành viên phi hành đoàn đến từ hành tinh khác (một phần con người, một phần Vulcan). Trong sự phi tính người, ông thực sự phục vụ như một con người siêu việt lý tưởng, thời Ánh sáng, hoàn toàn lý trí và không cảm xúc (hoặc ít nhất là có thể kiềm giữ cảm xúc). Lý trí vô tư của ông liên tục cung cấp chìa khóa để giải quyết các vấn đề gặp phải của phi hành đoàn trong cuộc thám hiểm. Cuối cùng, trong thời hiện đại, mọi vấn đề đều có thể được giải quyết bởi các chuyên viên lý trí.

(Vulcan là một giống loài có hình dạng người ở ngoài trái đất, được tạo ra từ phim Star Trek. Họ đã giúp hành tinh xóa nghèo đói, bệnh tật và khổ đau thời hậu chiến tranh thứ III mà không đòi hỏi gì. Họ là một trong những thành viên sáng lập Liên bang những hành tinh (United Federation of Planets), và có thể dùng kỹ thuật cao để khuất phục trái đất nếu họ muốn. Nhưng họ lại giúp loài người, dễ dàng chuyển tiếp tới những giống loài khác giữa các vì sao như một người anh em trong những giai đoạn bi kịch. Vì thế loài người trong thế kỷ 24, coi Vulcan là người bạn tốt. Những người Vulcan xuất hiện trong cả sáu tập truyền hình Star Trek, và ở trong bốn tập, Vulcan hay nửa người nửa vulcan đã đóng những vai chính. Romulan cũng là một giống loài giả tưởng trong loạt phim Star Trek, luôn luôn gây bất an với Liên bang những hành tinh mà trái đất là thành viên. Có cùng chung một tổ tiên nhưng bản tính Romulan sôi nổi, khôn lanh, cơ hội, khác hẳn với bản chất lý tính của Vulcan.)

 “Không gian – biên giới cuối cùng. Đây là cuộc hành trình của con thuyền vũ trụ Enterprise. Sứ mệnh cuối cùng – khám phá những thế giới mới lạ, tìm ra cuộc sống mới và những nền văn minh mới, dũng cảm tới một nơi trước đây không ai tới.” Đó là giọng nói quả quyết mào đầu của Star Trek: The Next Generation (1897- 1994), giai đoạn hai. Với thuyền trưởng Jean-Luc Picard, chỉ huy phi hành đoàn, Star Trek: thế hệ kế tiếp, đơn giản là phiên bản cập nhật của loạt phim Star Trek nguyên gốc. Những người sáng tạo phát hiện ra rằng thế giới ở giữa sự hoán chuyển hệ hình tinh tế: hiện đại sinh ra hậu hiện đại, kết quả là, thế hệ kế tiếp trở thành một phản xạ – có lẽ một khuôn đúc – qua thế giới quan của thế hệ mới nổi. Sự thay đổi rõ ràng từ Star Trek nguyên gốc đến Star Trek: thế hệ kế tiếp, phản ánh một quá trình chuyển đổi sâu sắc, xảy ra trong xã hội phương Tây.

Trong loạt phim Star Trek: thế hệ kế tiếp, phi hành đoàn Enterprise đa dạng hơn so với bản gốc, bao gồm các loài từ các phần khác của vũ trụ. Sự thay đổi này thể hiện tính phổ quát rộng lớn của hậu hiện đại,  trong đó các đơn vị xã hội là cộng đồng chứ không phải cá nhân. Quan trọng hơn, sự hiểu biết về cuộc tìm kiếm kiến thức đã thay đổi. Nhân loại không có khả năng hoàn thành mệnh lệnh một mình. Phi hành đoàn tượng trưng cho “sinh thái mới” của loài người trong quan hệ đối tác với vũ trụ. Nhiệm vụ của họ không còn mạnh dạn đi “mà không có người đã đi trước” nhưng “mà không có ai đã đi trước.”

Trong thế hệ kế tiếp, Spock được thay thế bằng Data (Dữ Kiện, một android.) Trong một nghĩa nào đó, Data là một phiên bản đầy đủ hơn, có trí tuệ siêu phàm, tuy không phải là con người siêu việt lý tưởng như Spock, bởi vì ông là một người máy. Không giống như Spock, ông không những mong muốn tìm hiểu con người mà còn muốn trở thành con người. Ông biết ông thiếu những thứ như một cảm giác hài hước, tình cảm, và khả năng mơ ước. Và quả thực, ông đã hoàn chỉnh hơn sau đó, khi phát hiện ra, nhà sản xuất lập trình một khả năng mơ ước vào mạch (circuitry) của ông.

Mặc dù Data thường cung cấp sự hỗ trợ có giá trị trong việc giải quyết các vấn đề, ông chỉ là một trong nhiều người đóng góp vào việc tìm kiếm các giải pháp. Ngoài “bậc thầy của trí lý” là Data, phi hành đoàn bao gồm những người có tay nghề cao trong chiều kích tình cảm và trực giác của đời sống con người. Đặc biệt nổi bật là cố vấn Troi, một phụ nữ có năng khiếu cảm nhận được cảm xúc ẩn dấu của người khác. Những hành trình mới của Enterprise dẫn phi hành đoàn nhiều màu sắc vào một vũ trụ hậu hiện đại, trong đó thời gian không còn đơn giản là tuyến tính, vẻ bề ngoài không nhất thiết phải là thực tại, và lý tính không phải luôn luôn được tin cậy.

*

Hiện đại và hậu hiện đại là sự tương phản giữa hai thời kỳ văn hóa. Cũng như loạt phim cuối, Star Trek: enterprise, đi ngược lại thời gian trước những phiên bản ban đầu, chúng ta bắt đầu từ thời kỳ bình minh của chủ nghĩa hiện đại, với những con người đã đóng dấu ấn trong bản báo cáo của nền văn minh phương Tây từ Sir Francis Bacon (1561-1626), René Descartes, Immanuel Kant, tới Friedrich Nietzsche.

Sir Francis Bacon (1561–1626), là triết gia và nhà khoa học Anh, trong nhiều phương diện, ông vừa là sản phẩm của thời kỳ Phục hưng, vừa đứng ở đầu thời đại Lý trí, đánh dấu sự chuyển tiếp từ Phục hưng qua Ánh sáng. Theo quan điểm của Bacon, được diễn đạt trong cuốn New Instrument, 1620, khoa học không thể tiến bộ nếu không khởi đi từ những sai lầm vốn có của quá khứ, và tiến hành trên căn bản kiến thức thực nghiệm và phương pháp qui nạp. Điều này có nghĩa, để đạt tới sự thực (hay chân lý), phải đi từ những quan sát đặc biệt tới những qui tắc chung, và nhấn mạnh tới “sự trộn lẫn giữa mê tín và thần học đã làm suy đồi triết lý.” Bacon cổ võ cho sự học và phiêu lưu qua sự ghi chép tỉ mỉ những quan sát và thực nghiệm, tạo ra kiến thức hữu ích và tốt đẹp cho con người.

Ông phân loại kiến thức nhân loại làm  ba loại: lịch sử, thơ ca, và triết lý, tương ứng với tâm trí con người là ký ức, tưởng tượng và lý trí. Trong đó ông đánh giá lịch sử và thơ ca chỉ là thứ yếu, đồng thời nâng cao giá trị của triết lý như mục tiêu cho sự tiến bộ đích thực của học tập. Bacon chỉ trích gay gắt những nhà truyền thống kinh viện, nhảy từ vài quan sát đặc biệt tới những định lý xa vời rồi suy diễn chúng qua chứng minh tam đoạn luận. Ông cũng cho rằng những nhà kinh nghiệm chủ nghĩa sai lạc với những thí nghiệm, không tham khảo những hiện tượng liên hệ vì chúng vô lý trong sự tổng hợp của họ. Theo Bacon, có 4 loại kiến thức sai lạc hay “quan niệm sai lầm” (idol) ở thời đại ông:

1: Sai lầm bộ tộc (idols of the tribe): Đó là những sai lầm ăn sâu vào bản chất con người, do sự đánh lừa của giác quan, nhận thức các hiện tượng không đúng bởi kết luận hay phán đoán vội vàng.

2: Sai lầm hang động (idols of the cave): Phản ánh từ những thành kiến, quan điểm có sẵn, vì ảnh hưởng khác nhau của gia đình, giáo dục, giới tính, thói quen, tập tục và các thành phần trong xã hội …  tâm trí con người vì thế cứ luẩn quẩn như trong hang động.

3: Sai lầm phố chợ (idols of the market-place): Là sai lầm do ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở đây bao gồm ngôn ngữ nói thông thường, những thuật ngữ, ngôn ngữ của những cộng đồng học thuật và các ngành nghề. Ngôn ngữ thường không gọi tên đúng các sự vật, các sự vật không đúng với tên gọi, hoặc định nghĩa chữ này từ những chữ khác.

4: Sai lầm kịch nghệ (idols of the theatre): Phát xuất từ những giáo điều mang tính triết lý được nhận thức từ những qui luật chứng minh sai. Thí dụ, trong triết học kinh viện, chỉ dựa trên vài quan sát tình cờ (không có bằng chứng thực nghiệm), xây dựng chủ yếu trên lập luận trừu tượng và suy đoán. Hoặc như chủ nghĩa kinh nghiệm, chỉ dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc duy nhất quan trọng (trên cơ sở hạn hẹp của nghiên cứu) rồi dựng thành một mô hình hay một hệ hình để giải thích tất cả các hiện tượng. Hoặc là những hệ thống tư tưởng pha trộn giữa thần học và triết học.

Bacon không đặt toán học là trung tâm trong kiến thức tự nhiên như các nhà tư tưởng Ánh sáng đến sau, nhưng ông được ca ngợi là một trong những nhà khoa học hiện đại đầu tiên, đưa ra phương pháp khoa học mới, nhấn mạnh vào thử nghiệm. Ông tin rằng các phương pháp khoa học không chỉ dẫn đến những khám phá cá nhân mà còn cho thấy mối tương quan giữa các ngành khoa học, đưa chúng thành một thể thống nhất. Và ông trở thành triết gia đặt nền tảng cho các ngành khoa học một cơ chế bao gồm các định luật của lý luận và các tiền đề, chia sẻ bởi các ngành khoa học  khác nhau. Tác phẩm của ông, A Treatise on The Advancement of Learning, xuất bản năm 1605, đề cập tới chiều hướng mới và tổ chức học tập, đạo đức học và qui tắc tiêu chuẩn trong một xã hội lý tưởng. Trong tác phẩm Novum Organum, (New Instrument), 1621, ông đề nghị thiết lập một phương pháp mới tìm kiếm kiến thức. Ngoài ra, ông còn thiết kế một tổ chức tương tự như hệ thống giáo dục hiện đại, khuyến cáo mở trường học và các trường đại học, thư viện, các phòng thí nghiệm, cải thiện tiền lương của giảng viên và giáo sư, thiết lập sự liên lạc giữa các trường đại học ở Âu châu. Hội Hoàng Gia (The Royal Society) được thành lập tại Luân Đôn năm 1662, gồm những nhà vật lý và triết học tự nhiên, theo mô hình và cảm hứng từ ảnh hưởng của Bacon. Chẳng bao lâu mô hình kiến thức kiểu Bacon được tổ chức ở toàn khắp Âu châu.

Francis Bacon được được phong tước Hầu trong triều đại vua James I, là một triết gia, một nhà khoa học, nhưng ông còn là một luật sư, một nhà chính trị. Ông là cha đẻ của chủ nghĩa kinh nghiệm, và là một trong những vĩ nhân làm thay đổi bộ mặt nền văn minh phương Tây. Nhưng trên hết chúng ta cần nhìn Bacon theo quan điểm xuyên suốt qua nhiều thế kỷ. Câu nói nổi tiếng của ông “Kiến thức là quyền lực”, đã là châm ngôn cho những công trình nghiên cứu khoa học, chinh phục và khám phá những bí mật của thiên nhiên. Đó cũng là một chủ đề gây chú ý, nối kết và thay đổi qua nhiều thời kỳ văn hóa, từ Ý chí Quyền lực (Will to Power) của Nietzsche đến Kiến thức Quyền lực của Foucault.

Bacon xem sự thật và tiện ích như hai mặt của một đồng tiền, và mục đích của khoa học là làm cho con người có quyền lực. Vì vậy ông cho rằng học tập là hành động, và hành động biện minh cho kiến thức. Khởi đầu, khoa học tìm kiếm quyền lực với thiên nhiên chứ không phải với con người, vì quyền lợi của nhân loại. Nhưng ở thời đại ông (sau Phục hưng), thế lực chính trị của nhà thờ Thiên chúa giáo suy giảm, nhường chỗ cho thế lực thế tục, và những giá trị cũ “tốt” và “xấu” nhường chỗ cho giá trị mới “hữu dụng” và “vô dụng”. Kiến thức tách rời khỏi những giá trị đạo đức Thiên chúa giáo, được bổ sung và kết hợp với nhà nước thế tục, trở thành quyền lực và tiện ích. Và nếu trước đó ông giải thoát kiến thức khỏi bốn loại sai lầm, thì với kiến thức là quyền lực, có vẻ như lại tạo ra một sai lầm mới, quyền lực và tiện ích (idols of the power/ utility).

Kiến thức là quyền lực chinh phục thiên nhiên, và thiên nhiên xuất hiện như một đối tượng bị tấn công và tàn phá. Kể từ năm 1600, xã hội Âu châu thay đổi mạnh mẽ về kinh tế và thương mại, bắt đầu chủ nghĩa tư bản. Quyền lực nhà nước được định nghĩa tùy theo số lượng vàng bạc họ thủ đắc, nhập cảng ít xuất cảng nhiều. Và để đạt những mục tiêu trên, họ theo đuổi chính sách tìm kiếm thuộc địa, ở châu Mỹ, châu Phi, và sau này là châu Á. Sự quan tâm tới khoa học tạo điều kiện đổi mới công nghệ. La bàn, thiên văn, các phương tiện đi biển, súng ngắn và các loại vũ khí mới giúp người Âu châu đánh bại và chinh phục những người bản xứ, chống lại sự xâm chiếm đất đai của họ. Lợi ích của nhân loại, thật ra chỉ là của một nhóm nhỏ ưu tú có kiến thức và quyền lực. Nếu Tây Ban Nha khai thác các mỏ vàng, bạc ở các thuộc địa, thì Anh chủ yếu là trồng mía, bông, thuốc lá và các loại nông phẩm xuất cảng qua Âu châu. Virgina là tiểu bang đầu tiên của Mỹ trở thành thuộc địa Anh vào năm 1607, và Georgia vào năm 1733, tổng cộng là 13 tiểu bang. Khai thác mía và thuốc lá đòi hỏi công nhân, dẫn đến công việc mua bán nô lệ da đen từ Phi châu. Những tàu buôn trao đổi hàng hóa, súng đạn lấy những nô lệ da đen đem về các thuộc địa bán lấy lợi nhuận. Chinh phục thiên nhiên ở đây gồm có cả con người. Một câu nói của Bacon: “Nhà nước không thể mong đợi sự vĩ đại của đế chế, nếu không sẵn sàng nắm bắt bất kỳ cơ hội nào của chiến tranh.” Điều này ngụ ý, kiến thức như quyền lực trên thiên nhiên, trên con người và trên các quốc gia khác. Âu châu trở thành thế giới văn minh và các phần khác đều là đất đai và con người man dã, cần chiếm đóng và khai hóa.

Tóm lại, sự tìm kiếm quyền lực không kiềm chế trên con người và thiên nhiên, đánh đồng kiến thức với sự thực. Một nhóm nhỏ các nhà khoa học với hy vọng mơ hồ, có được quyền lực khi kết hợp với các thế lực chính trị, và trong tương lai nhân loại sẽ được chia sẻ những lợi ích của quyền lực này.  Khi coi con người và thiên nhiên như một thực thể có thể sử dụng và kiềm soát, kiến thức trở thành sự thật tuyệt đối, mà trước đây thuộc về tâm trí Thiên chúa, sáng tạo ra vũ trụ. Và khi mọi thứ trong vũ trụ là đối tượng khách quan để khai thác và sử dụng, tính chủ quan của con người bị trục xuất, thì khoa học là một hệ thống duy nhất đúng để am hiểu thế giới thực tại. Sự thực (chân lý) chỉ là khái niệm đặt trên nền tảng vô căn cứ, biện minh cho lòng tham không đáy. Tâm trí con người tạo ra những nguyên tắc thiện ác, đúng sai và hành sử trên tiến trình có sinh có diệt, cái tốt luôn đi kèm và thành cái xấu, hay ngược lại, và cả sự xảo biện.

Kiến thức là quyền lực, cho đến nay vẫn đúng, có điều, bản chất của quyền lực là bạo lực. Trong thực tại, nếu chúng ta theo dõi tin tức thời sự về những tranh chấp đang xảy ra giữa các đại cường trên thế giới và cách họ sử dụng kiến thức phục vụ cho mục đích chạy đua vũ trang và giành chiếm ưu thế chính trị, thì sẽ có những nhận thức rõ ràng hơn về sự liên quan không thể tách rời giữa kiến thức và quyền lực.

Tham khảo

– “Francis Bacon, the first philosopher of modern science: A non-western view”, Jatinder Bajaj.
– “The scientific Methods of Descartes and Bacon”, Tim Nordgren, 1998.
– “A Primer on Postmodernism”, Paperback, William B. Eerdmans, 1996, by Stanley J. Grenz.
– “Western Civilizations”, Robert Elerner, Standish Meacham, Edward McNall Burns, Volume II, 1988.
 
Tranh bài: Carl Laubin’s “A Classical Perspective.” (2012, oil on canvas. Courtesy University of Notre Dame School of Architecture)

TUẦN THƠ 35: DẶN ANH

Artist Serge Marshennikov's delicate oil portraits honour the inherent beauty of the female form
https://mymodernmet.com/serge-marshennikov-woman-paintings/
Frank O'Hara

BUỔI SÁNG

Tôi phải nói với em
làm sao tôi luôn yêu
em tôi nghĩ về điều
đó vào những buổi sáng
xám với nỗi chết trong
miệng rồi trà chưa bao
giờ đủ nóng và thuốc
lá khô chiếc áo khoác
màu hạt dẻ làm tôi
lạnh tôi cần em và
nhìn tuyết im ắng ngoài
cửa sổ trong đêm nơi
vũng tàu đậu những chiếc
xe buýt rực rỡ như
đám mây và tôi lẻ
loi nghĩ về những ống
sáo tôi luôn mất em
khi tôi ra bãi biển
cát ướt với nước mắt
dường như của tôi mặc
dù tôi chưa bao giờ
khóc và giữ em trong
trái tim tôi với niềm
vui thích em có vẻ
tự hào bãi đậu đông
xe và tôi đứng lúc
lắc chùm chìa khóa chiếc
xe hơi trống trơn như
xe đạp bây giờ em
đang làm gì em ăn
trưa ở đâu và có
nhiều cá trồng không thật
khó nghĩ về em với
không có tôi trong ý
tưởng em làm tôi buồn
phiền khi em ở một
mình đêm qua những vì
sao dầy đặc và hôm
nay tuyết là danh thiếp
của chúng tôi không thân
thiết không có gì làm
tôi sao lãng âm nhạc
chỉ là trò đố chữ
em có biết thế nào
khi em là người hành
khách duy nhất nếu đó
là nơi xa hơn nơi
tôi xin em đừng đi.

Khế Iêm dịch

Nguyễn Tất Độ

TRỐNG RỖNG

Vào lúc không-khi-nào, tôi đang đứng
gần chỗ không-nơi-nào, tôi đã gặp
và làm quen với một người tên là
Không-Ai-Cả. Hai chúng tôi chào hỏi
nhau bằng không-câu-gì, rồi bắt đầu
chuyện trò với nhau nhiều thứ, đại loại
như về việc không-vấn-đề-gì. Rồi
tôi phải đi, người đó cũng phải đi.
Chia tay, đọng lại trong tôi không-một
-ý-nghĩ. Tôi về viết một bài thơ
trong đó không-có-một-ký-tự-nào,
để chia sẻ với không-một-người-nào
một câu chuyện không – (*) có-nội-dung-gì.
(*):hẳn-không.


Hạnh Ngộ

DẶN ANH

Khi nhớ em anh đừng vào
facebook em xem hình em không
có ở đó em không ngủ
ở đó khi nhớ em anh
đừng đến quán quen em không
ăn ở đó em không chơi
ở đó khi nhớ em anh
hãy nhìn vào chính anh em
đang say ở đó em đang
mắc trong đó với nỗi nhớ
mất tân mất thân linh hồn
người nữ khi yêu như sóng
dữ ngày biển động biển đã
động từ khi anh đến vậy
anh còn tìm em ở đâu
nơi những quán quen quán lạ
chính anh chính em đã tự
làm biển động dữ dội đời
mình đau oằn quại trong nỗi
vụng dại sợ mất nhau có
nhau và nỗi đau nghi hoặc
khi vắng nhau hoặc khi ngóng
nhau thườn thượt làm sao được
những khi nhớ em anh đừng! …


Xuân Thủy

CÓ NHỮNG ƯỚC MUỐN BÌNH THƯỜNG

Tôi không muốn đi làm
nhưng đi làm để mẹ
vui đôi khi đi chẳng
giải quyết được gì thế
rồi mong ở nhà về
nhà đi con đường vòng
xa nhưng vắng hơn có
những ước muốn bình thường
không nói ra cơn gió
nhẹ thổi qua không ồn
ào nhưng chợt buồn vì
trên con đường xa hơn
đó không còn em ở
bên kia con sông chỉ
còn ngôi nhà với kỷ
niệm đã cũ rồi giờ
em đi xa đi xa
như con đường cứ kéo
xa ra ngôi nhà tôi
ở phía bên này sông
rồi vòng lại mới tới
con đường xa hơn không
kẹt xe không khói bụi
không ồn ào có cơn
gió mong về nhà nhưng
không nói ra không nói
ra vì có nói ra
cũng vậy thôi chỉ thấy
con đường đầy gió buổi
sáng trong lành và chiều
về lại đầy những giấc
mơ hạnh phúc thấy mẹ
đang loay hoay lục đục
làm gì đánh vài bản
đàn nho nhỏ nhâm nhi
ly cà phê lẩm bẩm
ca còn tôi quanh tôi đầy
những việc chưa làm xong
loay hoay loay hoay mãi

02/4/2015

Như Quỳnh de Prelle

TÌNH YÊU

tình yêu bay lên bay lên trời
đậu xuống một ngọn cây có con
chim đang hót ríu ran trong một
buổi sáng mùa xuân đầy nắng  nôi
tôi nhìn thấy ô cửa và những đứa
trẻ đang vui đùa chạy nhảy tung
tăng trong vườn hoa và chiếc xích
đu đẩy đi đẩy lại không ngưng
lại như những chuyến bay gần xa
dừng lại đâu đó và tiếp tục lên
cao như những cánh diều no gió
rồi tụt xuống mặt đất bất kỳ
lúc nào không ai ý thức được
không ai biết trước được nên làm
gì để tránh tổn thương mất mát

NGHE ĐỌC TRÊN SPOTIFY: https://open.spotify.com/episode/3u5UiIWkteipbUZKQDnEPE

Hường Thanh

HLE HGROACH

đi chăn đàn bò ngày
ngày chăn chúng ngày ngày
nhìn trông dấu chân kia
kìa những vết giẫm lên
giẫm lên màu xanh nào
đó thấy đau không đau
không giẫm lên từ những
chú bò đi chăn qua
ngày qua ngày đau không
ai thấy được họ trở
thành nỗi đau khi nào
để tìm ra đừng đơn
độc nữa giữa đường hãy
đi theo và chăn dắt
những chú bò giẫm cỏ
ngày ngày chăn chúng để
biết mùi loài cỏ để
tìm ra làm dịu những
gì chúng ta đang quên.

13.10.2015

*Hle hgroach: ngôn ngữ giarai-êđê nghĩa là cỏ muối, một loại gia vị – thực phẩm đặc sản ở vùng miền Tây Nguyên, để tìm ra cỏ này là phải đi theo dấu chân đàn bò trên đường rừng , cánh đồng để nhận biết mùi hương.


Hạc Thành Hoa

GIẤC MƠ CỦA ĐÁ

Không còn tảng đá nào được yên
thân bởi tiếng búa  và tiếng đục
vang lên vang lên ngay dưới chân
nàng đang nuôi một giấc mơ đến
thành đá từ khi có đá dù
trơ trọi một mình vẫn đứng cho
bầu trời bớt trống nàng tối sầm
những khi trời chuyển mưa lại xanh
ngay khi trời vừa tạnh nếu một
ngày nàng âm thầm bước xuống thì
cả bầu trời trống trài vô cùng
giấc mơ cũng  không còn nữa nàng
đã thật sự chết ngay khi vừa
sống … khi tôi rời thị xã ra
đi thì nàng đã hóa đá hôm
nay dưới mầu trời xanh ngày đó
không biết nàng có còn là đá
những nhát búa cuộc đời và chiếc
đục thời gian có để cho nàng
được yên với giấc mơ của đá.


Nguyễn Văn Vũ

ĐÀN BÒ

đàn bò lô nhô như sóng mà
sóng thì có lúc lặng lúc xô
còn đàn bò thì cứ lô nhô
tràn đường không ô tô nào qua
được còi hơi nổi điên ré liên
miên xe máy phát khùng tuôn lùng
nhùng rú ga vọt qua hố ga
rất gần khu đại học thành phố
mà như về đồng quê của năm
tháng nào xa lắm hết hồn vì
bị dồn đằng sau chúi đầu đằng
trước rồi cũng may đã đến lúc
đàn bò quặt quày quặt quày rẽ
vào đường xóm về chuồng đám ô
tô xe máy xe đạp có chỗ
chen nhau vượt lên vượt lên rồi
tranh nhau đằn qua những bãi phân
bò ướt nhẻm mà chạy như bị
ma đuổi như sợ hồn vía nhập
vào bãi tha ma cạnh bên đường…

               Hương Thủy, 20.01.2016

Khế Iêm

HÉO TÀN

Hắn bước vào quá khứ
hắn là quá khứ nơi
căn gác dưới lớp tôn
mái tôn những trưa hè
nắng nóng hắn là nắng
nóng ngồi đó hẳn là
ngồi đó quay lại một
thời niên thiếu chậm trôi
bây giờ đã chìm trong
ký ức như chiếc bóng
đậm đặc quạnh hiu kéo
dài cho đến khi hắn
như hạt bụi bị cuốn
vào cơn bão thời đại
mịt mù sương khói bỏ
lại đằng sau những người
sống trong ngôi nhà nửa
xây tường nửa gác gỗ
bây giờ không còn ai
và ngôi nhà cũng không
còn họ đã đi xa xa
rồi mang theo thời niên
thiếu đơn độc lặng câm
của hắn hắn nhớ họ
nhiều họ và hắn như
giọt mưa tung tóe trên
hè phố và mỗi tia
nước là một ngả đường
đời trần trụi bây giờ
họ ở đâu những người
anh em của hắn hắn
khóc những giọt nước mắt
khô bên cạnh mối sầu
thương và quá khứ hắn
bước ra phút giây như
chiếc lá đã héo tàn.


Gyảng Anh Iên

THƠ THẨN

Tôi luôn chờ cánh chò
nâu cuối cùng rơi xuống
đất sau những vòng xoay
bải hoải như dòng xe
xoắn xít nối đuôi nhau
chờ tan một kẹt xe
trong buổi chiều lừ đừ
chờ nối vào đêm như
cách loài người chờ giấc
ngủ bình yên sau một
ngày dài quá nhiều chờ
đợi như tôi đứng giữa
ngã tư đèn xanh đèn
đỏ chờ mắt nhòe đi
trong buổi chiều mà cánh
chò nâu cuối cùng không
còn biết rơi về đâu
sau những vòng xoay chờ
đợi …


Nguyễn Tiến Đức

CHƠI VẮT DÒNG MÙA ĐANG CỎ

… đục một tảng than ròng từ đáy mỏ
nối với những mạch lửa đầu của trái
đất thuở hỗn mang để phục chế mầu
đen nguyên thủy của hai tròng mắt em
ấn lúm đồng tiền của em dựng lại
đức tin về lỗ đinh xuyên quằn hai
bàn tay Chúa về lỗ đen của tâm
hồn mọi thứ ngôn ngữ đều mất hút
tán dương sợi tóc em đen là anh
vực dậy cái âm vang dòng sông đêm
dòng sông anh đánh mất dòng sông yêu
em giữa hai hành lang cỏ hấp hối
tô son môi cực đỏ Rouge Ab-
solu Lancôme em cứu mặt trời
hoàng hôn sống sót thêm những khoảnh khắc
đẹp thinh lặng trong ký ức của anh
mặc yếm mini xanh tơ một mảnh
dây buộc hờ lưng không em đã tái
tạo cánh diều tuổi thơ và anh chợt
thấy bầu trời giãn ra giãn thật lơ
mặc tank top em đã chiêu niệm cái
ngây thơ lẫn sự khiêu dụ nhớ E-
Và cũng để hở điểm trũng vĩnh cửu
trước khi bị đuổi ra khỏi địa đàng
đi guốc cao gót trong suốt em lênh
khênh phục sinh cho ly cà phê đá
trưa Sàigòn giọt mưa và giọt nước
mắt khi em xa một dòng sông đen
bay vù con xén tóc giam từ hộp
thơ lục bát khỏi những vần điệu úa
vàng đã đánh thức cái khát vọng về
tự do thôi thúc một cuộc đào thoát
vắt dòng những câu thơ để nhớ dáng
em xuống thang máy hốt hoảng từ một
cao ốc New York khi chiếc phi cơ
khủng bố đâm vào World Trade Center.

7-2002

Tranh bài: Artist Serge Marshennikov‘s delicate oil portraits honour the inherent beauty of the female form.

Tạp Chí Thơ

THƯ MỤC

TẠP CHÍ THƠ


Lời Nói Đầu


TC tho1

Tạp chí Thơ số ra mắt, mùa thu 1994 cho đến số 27, mùa Thu 2004 thì người chủ biên tờ báo đột nhiên chuyển giao cho những nhà thơ trẻ hơn. Nguyên do thật sự chỉ là sự hứng khởi cá nhân, vì ông cho rằng, làm công việc chủ biên tờ báo 10 năm đã là đủ. Nhưng vào giữa thập niên 1990 tới đầu năm 2000, email đã trở nên thông dụng, và cho đến nửa thập niên đầu thập niên 2000, thì website trở thành một phương tiện thông tin vô cùng tiên lợi và phát triển. Báo giấy với những tổn phí về in ấn và phát hành hạn hẹp, hơn nữa,  người viết phải chờ đợi rất lâu mới đến được với người đọc. Hệ quả là những tờ báo văn học ở hải ngọai như Văn, Văn Học … lần lượt phải đóng cửa, và Tạp chí Thơ, sau khi chuyển giao được vài số, cũng chịu chung số phận.

Nhà văn Mai Thảo viết, “Thơ vẫn còn có mặt giữa đời sống mặc dầu không còn là một nhu cầu hàng đầu  của người thưởng  ngoạn, do nơi  vẫn còn những  nhà thơ sống thơ  và làm thơ. Một cách tận  cùng và vô  điều kiện. Đó là hiện trạng  thơ ở ngoài nước  hiện giờ với Tạp  chí Thơ vừa phát hành số ra mắt. Tập thơ được trình bày tao nhã  từ trang bìa tới những trang  trong xứng đáng được  gọi là một nhã  tập từ lâu mới thấy. Tôi đọc cẩn thận với tất cả lòng yêu mến. Ngoài mấy tác giả đã thành danh như Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, phần lớn những người  có mặt đều là những nhà  thơ trẻ sau 1975, tiếng thơ cất lên từ  một bàn viết hải ngoại. Nói chung, đó là tập thơ của thơ muốn đi tới những chân  trời mới. Muốn làm mới rung động, làm mới ngôn ngữ, hoàn toàn. Cũng là được. Thơ phải có tham vọng. Cũng là  hay, thơ phải là  một thoát ly với những thời thơ trước nó.”

Tạp chí Thơ tập trung được hầu hết những ngừơi viết tinh hoa ở hải ngọai. Nhưng đa số đều là những người viết trẻ tuổi sau 1975, một thế hệ trưởng thành từ trường lớp và nghề nghiệp, tiếp cận trực tiếp với một nên văn hóa khác, nên cách viết cách nghĩ và cách sống của họ không còn giống với những thế hệ thập niên 1960 ở miền Nam trứơc đó. Họ thuộc về thập niên 1990, và những tác phẩm của họ thể hiện tinh thần học hỏi và khám phá trước một thế giới mới lạ, ngay từ số ra mắt. Và như thế, qua Tạp chí Thơ, chúng ta có thể nhận ra một thời kỳ rất đặc biệt của văn học Việt nam. Thời kỳ đó chỉ xảy ra một lần duy nhất, và không còn một thời kỳ nào như thế nữa. Vì những thế hệ sau này ở hải ngọai, họ không còn đọc tiếng Việt, và những sinh họat văn nghệ nếu có thì hòan tòan bằng tiếng Anh.

Đã có không ít bạn đọc chưa hề đọc Tạp chí Thơ. Chúng tôi làm lại Tạp chí Thơ qua dạng điện tử, ebook, gửi đến quí bạn đọc tòan bộ 27 số, từ giai đoạn số ra mắt, mùa Thu 1994, đến mùa Thu 2004, đồng thời giúp cho những nhà sưu tập, nghiên cứu về một giai đọan văn học của một thế hệ mới ở hải ngọai, dễ dàng tìm kiếm tài liệu.

TC tho2


Tạp Chí Thơ số 1           Tạp Chí Thơ số 2              Tạp Chí Thơ số 3


Tạp Chí Thơ số 4             Tạp Chí Thơ số 5              Tạp Chí Thơ số 6


Tạp Chí Thơ số 7            Tạp Chí Thơ số 8               Tạp Chí Thơ số 9


TC tho3


Tạp Chí Thơ số 10           Tạp Chí Thơ số 11           Tạp Chí Thơ số 12


Tạp Chí Thơ số 13           Tạp Chí Thơ số 14         Tạp Chí Thơ số 15


Tạp Chí Thơ số 16           Tạp Chí Thơ số 17          Tạp Chí Thơ số 18


TC tho4


Tạp Chí Thơ số 19           Tạp Chí Thơ số 20           Tạp Chí Thơ số 21


Tạp Chí Thơ số 22           Tạp Chí Thơ số 23         Tạp Chí Thơ số 24


Tạp Chí Thơ số 25          Tạp Chí Thơ số 26          Tạp Chí Thơ số 27


TC tho5

Tranh bài: Matt Story

TUẦN THƠ 63: MƯA BIẾN SẮC

science-and-charity
https://picassopen.vn/pablo-picasso-vai-net-ve-cuoc-doi-va-su-nghiep

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
https://thotanhinhthucviet.vn/Forums/


Chùm thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc

MƯA BIẾN SẮC

vũ hội mưa đã bắt đầu với
những trận sấm sét trên cao nổ
tung cả bầu trời chớp dông chớp
tây chớp nam chớp bắc chúng xẹt
vào tâm can vào não trạng vào
cơn ngái ngủ vào cơn say nguội
vào cơn cơ hội nhờ mưa rửa
tội vào hèn nhát mưu sinh vào
bức bối vào đủ thứ bụi bặm
vũ hội mưa đã bắt đầu lau
rửa những bộ mặt những gương mặt
biến sắc lá xanh hơn mặt đường
sạch sẽ hơn lòng người thơ thới
hay rối bời hơn thì mưa vẫn
cứ rơi cứ rửa cứ lau đi
lau lại có người ra hân hoan
tắm mưa có người đi sợ mưa
ướt có người núp trong nhà nhìn
ra mưa to quá con chó cũng
nằm yên tội nghiệp mặc kệ con
mèo kêu meo meo cầu vồng vẽ
nên bảy màu sau mưa? Mưa nhiễu
sự hay mưa vô sự? có người
ngồi trong nhà thò một chân ra
ngoài xem chân mình có biến sắc
hay không



NGHE NHẠC PAUL MAURIAT

ria mép ông cũng rung lên đánh
nhịp theo đôi tay giữ nhịp tài
hoa và những âm giai từ ánh
mắt của ông thoát ra bay lên
tầng trời bay vào cõi mơ tôi
lay động đám mây cao những sợi
dương cầm gõ lên vầng trán những
đỉnh núi vẫy gọi những triền đồi
trôi đi những lâu đài cổ kính
ngồi đọc lại trang tiểu thuyết của
Victo Huygo những rừng thông
đong đưa những nỗi buồn dịu nhẹ
những mặt hồ phơi niềm mong nhớ
ra hong trước gió và nắng những
cồn cát ngủ say trong mắt con
chồn tôi chui vào đám rong nào
đó nghe tiếng vỗ tay và những
dòng sông bật khóc nước mắt xanh
thẳm


THỨC DẬY GIỜ ĐÓ

Buổi sáng tôi thức dậy cùng
với ánh sáng của sa mạc
và với cái đuôi của cơn
ngái ngủ lì lợm đu theo
cái bướu lạc đà thơ em,
rồi tôi thấy em thức dậy
cùng với niềm hân hoan bình
minh đang lên tươi mươi ngày
Bấy giờ sa mạc không còn
cả vết chân lạc đà bão cát
đã chôn lấp những giấc mơ
cả những giấc mơ chạy trốn
Em thức dậy cùng tôi trên
thân phận đóa hoa tàn úa
dưới bỏng cháy của sa mạc
tỉnh thức này thật khủng khiếp
tôi không muốn thức dậy em
không muốn thức dậy nữa bấu
víu vào giấc mơ sót lại
nhưng …
đã thức dậy mất rồi!

 chiều 22/4/2012

CHƠI BÀN TAY

Trên vỉa hè thằng bé chơi trò
chơi bàn tay thằng bé đưa hai
bàn tay múp máp ra và đếm
mười ngón rồi ngón cái bàn tay
phải chạm tinh tế vào ngón út
bàn tay trái rồi ngón trỏ bàn
tay trái chạm vào ngón cái bàn
tay phải rồi ngón giữa bàn tay
phải chạm vào ngón đeo nhẫn bàn
tay trái rồi ngón giữa bàn tay
trái chạm ngón út bàn tay phải
và cuối cùng khi ngón cái bàn
tay trái định chạm ngón đeo nhẫn
bàn tay phải thì nó bỗng chán
không chơi nữa bàn tay nó thỏng
xuống thỏng thượt có lẽ đi chơi
game thì thích hơn chăng nhưng nó
đang đứng ngoài đường và nó còn
cố đưa ngón tay lên ngang mày
để xem ánh sáng có lọt qua
kẽ tay hay không nó nghĩ gì
thì làm sao tôi biết được nhưng
sao mà tôi lại nghĩ là nó
muốn đi chơi game cơ chứ làm
sao tôi nghĩ vậy làm sao tôi
nghĩ vậy trong buổi sáng trời hiu
hiu gió thế này?

21/11/2014


TRONG MƯA XUÂN

trong làn mưa xuân vòm long não
kể câu chuyện một ngàn lẻ một
về chiếc ô đi qua chiếc áo
mưa đi qua về chiếc ô đi
qua cùng cái mũ và cái mũ
đi qua cùng áo mưa và cái
mũ áo mưa chiếc ô đi qua
và cả cô gái để đầu trần
đi dưới mưa mái tóc ướt như
một bản hòa tấu puppet on a
string của Poul Mauriat
trong làn mưa xuân những li ti
giọt nước đang vô vàn chuyện kể
về những lời tỏ tình đã chảy
thành sông hôm qua đổ vào để
sáng nay đổ vào biển khơi thành
những đợt sóng triều dâng hôn khẽ
khàng lên những dấu chân chim trên
bờ cát vắng trong làn mưa xuân
trong những câu chuyện tình như có
lửa như chúng đang nở hoa


NHỮNG CON ĐƯỜNG

những con đường đã lao về
phía trước chúng không hề ngoái
lại dù cột cây số đã
nhắc những con đường từ tây
sang đông có con đường qua
sông hôm nay đã cạn khô
trơ đáy chỉ có bụi đỏ
soi bóng cho ngọn núi vừa
qua đời như dấu chân voi
đã chết nhiều năm trước những
lá cỏ mở lại ca khúc của
tiếng cưa vọng từ nắng rát
những con đường


HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG AN CỰU

Nắng đang tắt dần phía bên kia
cây cầu ở đó con cá thia
lia vừa móng nước vọng tiếng tí
tách đến chiếc thuyền dung phận nhỏ
chênh chao duy nhất trên sông An
Cựu bên trong có đôi vợ chồng
già xấp xỉ tám mươi đang thả
lưới những tay lưới giăng níu kéo
những ngày đã xa xưa những ngày
họ còn trẻ và dòng sông nắng
đục mưa trong những ngày những ngày
và bây giờ lũ bồ câu đã
bay về trên nóc nhà thờ Phủ
Cam gác mỏ vào tiếng chuông đang
thong thả nhấn nhá vào áng mây
hoàng hôn kéo sợi tơ vàng trong
tách cà phê cô độc nâu sòng
nâu cả cọng cỏ rung rinh hình
như con châu chấu vừa ngủ muộn
thức dậy giương mắt tròn không biết
làm gì hay thức dậy làm gì
khi hoàng hôn đang tối đến chân
mây nhưng ngày đi chưa tắt


HOÀI NIỆM TRĂNG

ánh trăng đã về thăm đồng quê
người nông dân tranh thủ ra cuốc
đồng trong ánh trăng lưỡi cuốc lóa
lên màu mơ ước 1980 lúc đó
hình như có tiếng ếch nhái kêu
gọi mùa lúa chín vàng hãy trở
lại những ánh trăng năm ấy bị
cuốc vỡ vụn cho giấc mơ cơm
no những nhát cuốc bổ cực lực
vào đất như sợ ánh trăng sẽ
lặn vào đất lặn vào bóng tối
năm đó có người nằm mơ về
những cuộc ra đi như bây giờ
ai đó đang nằm nhớ về những
ánh trăng mùa cũ một cú hoài
niệm trăng luyênh loáng
 


HOA HỒNG

con đường về nhà em hoa hồng
dại nở đầy trong tím lịm hoàng hôn
em đã đi về trong sương đêm
nên không nhìn thấy và nhiều khi
đêm quá dài hoa hồng không còn
tươi khi ngày mai nắng lên không
rực rỡ sân nhà em và những
cánh hoa hồng héo úa trong màu
xanh của cỏ gió đã thổi tung
những cánh hoa rơi lả tả trong
đốm sáng như những giọt máu chảy
từ đỉnh trời lòng chợt buồn khi
hoàng hôn lại đi qua ngõ nhà
em và lại thấy những đóa hồng
dại vẫn gai góc nở trong bóng
tối nở làm gì tội rứa hoa ơi!


ĐƯỜNG VỀ

sau tiếng còi tàu tiễn
đưa người con gái quay
trở về con đường đã
nhão nhoét lầy lội tôi
ra đứng đầu đường quạt
than hong mặt đường mong
con đường sớm khô để
bàn chân em không lầy
lội tôi mang lửa trái
tim ra đứng đầu đường
mong cầu ngọn lửa máu
sẽ hong khô mặt đường
để bàn chân em không
lầy lội cho đôi guốc
em kêu lên rổn rảng
như sự sống như niềm
vui quá ít ỏi nhưng
con đường đã càng nhão
nhoét hơn mặc tôi mặc
những mơ ước mặc những …

Tranh bài: Pablo Picasso “Khoa học và lòng nhân ái” (Science and Charity)

Ý NGHĨA NỘI TẠI CỦA THỂ THƠ

Scrawl, 2014, Acrylic, newspaper and stencil casings on canvas, 48 x 60 in. Image courtesy Waterhouse & Dodd. Bernie Taupin’s Painted Words
Scrawl, 2014, Acrylic, newspaper and stencil casings on canvas, 48 x 60 in. Image courtesy Waterhouse & Dodd. Bernie Taupin’s Painted Words
Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
https://thotanhinhthucviet.vn/Forums/

Ý NGHĨA NỘI TẠI CỦA THỂ THƠ


Frederick Turner

Điều trở nên rõ ràng, lúc này, trong lịch sử văn học Hoa kỳ, khuynh hướng năng động và đầy hứa hẹn nhất của thơ bây giờ là phong trào Mở rộng, hay Tân hình thức như đã được biết. Tạp chí định kỳ, hội nghị, tuyển tập thơ, tiểu luận phê bình và những chuyên khảo công nhận và tán dương bước ngoặt thi pháp này; những nhà thơ trẻ ôm lấy phương thức mới hoặc ít nhất quan tâm tới lý thuyết của nó.

Như vậy đây là lúc tốt nhất đặt phong cách này trong thử nghiệm – để xem đó hoặc chỉ là một phong cách, hoặc có triển vọng sâu xa và biến hóa tự nhiên nào trong nghệ thuật thơ ca, mang thực hành tới gần chức năng thực sự của nó hơn. Như một trong những người sáng lập và phát ngôn cho phong trào, tôi nhận ra, nếu chỉ thuần thể luật và truyện kể, dù khéo léo và đáng phục cũng chưa đủ; thơ hay đã được viết bằng thể tự do, thơ tầm thường được viết bằng niêm luật, những luật tắc tinh xảo và cấu trúc khéo léo của truyện kể. Triển vọng của khuynh hướng mới sẽ chỉ hiện thực khi những nhà thơ và người đọc có khả năng sử dụng yếu tố thể luật thơ ở mức sâu xa nhất, như bùa phép hoặc kỹ thuật tâm linh để mở cánh cửa giữa con người và thiên nhiên, ý thức và vô thức, hiện tại và quá khứ, lý trí và hỗn mang, đời sống và cái chết. Hoặc hơn nữa, ngay cả để gợi ra tính nhị nguyên, bị phản bội bởi ngôn ngữ, không thơ, thiếu khả năng khoa học sâu xa, làm cho tính nhị nguyên biến này mất.

Khi đáp ứng với luật tắc hoặc tình tiết thần thoại của bài thơ, chúng ta đang làm như một giống người khôn ngoan, một động vật cấp cao, một động vật có vú, có xương sống, một sinh vật, một bộ phận phức tạp và kỳ diệu của hóa học các-bon, trò chơi của hạt vật lý và lực, nút cuộn của không thời gian. Một cách khác, chúng ta không bị hạn chế, như bản tường trình bao hàm vô hạn, đối với chỉ mức mới đây của tiến hóa sinh vật, dẫn đến vùng ngữ học đặc biệt ở vỏ não thái dương, nhưng được tỏa ra trong toàn lịch sử tiến hóa.

Sự vui thú về luật tắc, như tôi đã tường trình trong The Neural Lyre, căn cứ trên nhịp ba-giây trong chu kỳ tiến hành thông tin con người, hay thần kinh hiện tại, và trung gian bởi sự tiết ra của vật dẫn truyền thần kinh cổ xưa. Nghiên cứu mới đây của Colwyn Trevarthen và Ellen Dissanayake cho rằng những bà mẹ và trẻ sơ sinh điều khiển cuộc trò chuyện tiền ngôn ngữ trong một thứ thánh ca “mẹ” (motherese) 1, và loài động vật có vú điều khiển sự chuyển động tiếp tục múa nhẹ, chú tâm tới lực kéo, và động tác diễn đạt trong chu kỳ ba-giây. Nhưng luật tắc quan trọng của thơ ở mức độ sâu xa hơn nhiều. Như nhà tâm lý ngữ học Michael Lynch và Kim Oller nhận ra, trong ô cửa ký ức, cứ khoảng ba-giây, chứa được 10 nhịp đập, tương đương với những âm tiết hoặc một khoảng ngừng ngắn nhất mà những phản xạ hành động của con người có thể còn tác dụng; trong vòng 1/3 giây này ẩn chứa 10 nhịp đập, bằng với khoảng ngừng tối thiểu, qua đó có thể nhận ra trật tự của hai âm thanh khác nhau; nói cách khác, trong khoảnh khắc rất nhỏ này chứa 10 khoảnh khắc nhỏ hơn, và chúng ta có thể nhận diện bất cứ gì trong cái khoảng ngừng tối thiểu này. Bộ óc dùng luật tắc trong đó thần kinh nung nóng được hoán đổi, mang thông tin chính xác về những gì được nhận thức hoặc ghi nhớ, và chất men cùng cơ xưởng RNA kiến tạo chất đạm của cơ thể thăm dò trung tâm sưu tầm DNA của nó trong một dạng thức nhịp điệu phân cấp phức tạp. Ilya Prigogine cho rằng phản ứng hóa học liên hợp, đặc biệt là chất xúc tác liên hệ này có một cấu trúc nhịp đập thời gian, và nhà vật lý và hóa học lượng tử đã biết từ lâu, vật chất có thể diễn tả như những cái nút ở đó năng lực lượng tử của tính chu kỳ cục bộ và khác nhau tìm ra giải pháp hài hòa – giống như một loại vần.

Như vậy, khi nhà thơ dùng và thính giả nghe luật tắc, bước đầu tiên của nhận thức hữu cơ, hòa nhập vào vũ trụ vật lý; chúng ta hiện hữu, nếu thích, ca ngợi sự tham dự vào sự hiện hữu của chính Gaia (Gaia herself) 2. Chúng ta khẳng định sự đơn độc với toàn thể quá khứ của thế giới, làm cho nó khả thể vì sự sáng tạo, để phát ra lực sáng tạo đi xa hơn khả năng của những trung tâm ngữ học tinh tế. Thơ trở thành bản dịch tăng tốc của chính sự tiến hóa, phản hồi thần diệu giữa những biến đổi, chọn lọc, và tính di truyền, sản xuất hoa phong lan, tinh dịch cá voi, siêu vi hình rạn thuốc lá, gấu trúc vĩ đại và đá ngầm san hô.

Có lẽ, điều này là ý nghĩa của huyền thoại Orpheus 3, nhà thơ đầu tiên của huyền thoại Hy lạp, giống như Solomon 4 hoặc Bồ tát Vyasa 5, nhà thơ huyền thoại của Mahabharata, có thể nói ngôn ngữ của động vật, thảo mộc và đá. Hành trình của Orpheus tới địa ngục và trở lại (như Virgil nói, bất cứ kẻ lừa đảo nào cũng có thể xuống đó, nhưng để trở lại – đây là lao động, là công việc) không phải chỉ tìm người vợ đã mất, Eurydice. Sự tìm kiếm người vợ đã mất có nghĩa là hồi phục sự nối kết hữu cơ với phần còn lại của vũ trụ. Đó là điểm mà Orpheus làm trong cuộc hành trình, bởi vì hắn sở hữu và có thể dùng đàn lyre, khí cụ mà những nhà thơ Hy lạp dùng để đo luật tắc và làm vần cho dòng. Lyre mở ra cánh cửa địa ngục; và khi Orpheus mất niềm tin về ảo thuật, ngoái lại xem Eurydice có còn theo sau không, một cách bi đát, hắn đã mất cô ta mãi mãi.

Chúng ta có thể lần theo lý luận bí ẩn của huyền thoại xa hơn; vì lyre của Orpheus (và của người cha Apollo) là nguyên nhân sự khám phá của Hermes 6, kẻ đổi lấy chiếc gậy trượng (caduceus),7 cái roi rắn cuốn dùng để ứng xử với định mệnh giữa những mảnh đất sống và chết. Vòng xoắn đôi của hai con rắn là kiểu mẫu chính xác của hình thể phân tử DNA; và điều đó không phải ngẫu nhiên, vì vòng xoắn đôi là biểu đồ trực giác của bất cứ tiến trình phản hồi nào, và DNA là tiến trình phản hồi của những tiến trình phản hồi. Nếu lyre, trong một vài ý nghĩa tương đương với chiếc gậy trượng, có thể kết luận, luật tắc của thơ tương tự như luật tắc của sự tái tạo sinh học và tiến hóa. Đó là sự thấu hiểu trung tâm những sonnet của Rilk về Orpheus. Những bản khác về loại bùa chú này là cái sáo ảo thuật của Mozart và de Ponte, cành cây vàng của Virgil, tiếng nói từ Chúa của Moses (cũng kết hợp của roi và rắn), tiếng trống của thầy phù thủy Á châu, kèn của những du sĩ ca thời Magyar cổ đại – có lẽ ngay cả “Mcguffin” của Alfred Hitchcock 8.

Đây là dịp tốt để nhấn mạnh vào luật tắc. Người ta có thể nhiều lần cùng tranh luận về kỹ thuật truyện kể, cái hệ thống kỳ diệu đến một lúc nào đó, lấy lại sự kỳ lạ của nó, bất cân xứng, phi không gian. Một câu truyện, giống như một giai điệu, có thể trở lại bất cứ chuỗi nào của những biến cố, phô bày ra một lần không tránh khỏi, xảy ra nhưng không thể đoán trước chúng xảy ra; bởi chính những biến cố dẫn đến một loại vũ trụ mới, tiền thân của chúng bây giờ ràng buộc không thể đảo ngược với những nguyên nhân. (Thí dụ dày đặc của điều này là truyện trinh thám, sự giải quyết rõ ràng do nhà thám tử vén màn lên, nhưng không phải trước đó). Trong ý nghĩa này, có lẽ chúng ta chấp nhận chiếc gậy trượng của Hermes, để trở ngược lại điều biết trước của câu truyện, và những con rắn là tính thay đổi của sự không biết trước. Sự không đoán trước của câu truyện làm chúng ta muốn biết những gì xảy ra kế tiếp – và điều này tại sao Sultan chừa ra cuộc đời của người kể chuyện Sheherezade 9, và Minos 10 chừa ra cuộc đời của Orpheus. Trong ánh sáng lưỡng tính này của luật tắc mang sự thinh lặng có ý nghĩa sâu xa. Dạng thức cố định những âm tiết nhấn và không nhấn (hoặc âm tiết dài và ngắn, giọng đổi và không đổi của thơ Trung hoa) có cùng mối liên hệ với dạng thức thay đổi của ngữ điệu nói, trôi nổi trên bố cục cố định, những yếu tố biết và chưa biết của một câu truyện. Hoặc chúng ta có thể nói rằng luật tắc là câu truyện vi mô, và câu truyện là luật tắc vĩ mô.

Như vậy, nếu chúng ta trở lại một cách nghiêm chỉnh luật tắc và truyện kể được công bố bởi những nhà thơ Tân hình thức và Mở rộng, toàn bộ trách nhiệm xã hội, tưởng tượng và trí tuệ mới mẻ, mở ra cho nhà thơ. Hoặc có lẽ, nói chính xác hơn, trách nhiệm cũ sẽ trở lại trong một hình thức mới. Trên thực chất, những nhà thơ của thời đại đang tới phải là những thầy phù thủy. Một thầy phù thủy không chỉ nói tiếng nói riêng tư về những âu lo riêng tư, hoặc diễn đạt thẩm mỹ, triết học, quan điểm chính trị thuần cá nhân. Một thầy phù thủy phát ngôn với, và cho, toàn thể nền văn hóa, sự phát ngôn kết hợp những trầm ngâm chung và sâu xa nhất, như sự tiêu biểu của nó khi bàn thảo đến sự khôn ngoan chết của chính nó. Hơn nữa, phần vụ của thầy phù thủy là để có một vài tầm rộng công cộng, ngay cả quần chúng, để bán những viễn kiến ngoài thị trường, để nghe và trả lời đối với nhu cầu và mong ước của thân chủ mà họ là lương tri.

Thầy phù thủy mới phải học thổ ngữ của bộ lạc – và bộ lạc đó bây giờ là toàn cầu, là nhân loại. Thổ ngữ quan trọng nhất là thỗ ngữ mà mọi người đều chia sẻ, phương tiện truyền thông chính thức của trao đổi và tiêu chuẩn của đồng thuận – đổi chác, luật lệ, kỹ thuật, và trên hết, khoa học. Khoa học là cách chúng ta học ngôn ngữ của tất cả phần còn lại của thiên nhiên, ngoài phạm vi con người, và như vậy quan trọng hơn cả đối với một nhà thơ mới, cần biết hơn là đổi chác và luật lệ. Kỹ thuật nối khoa học với những thứ khác – kỹ thuật đặc biệt của nhà thơ là luật tắc, truyện kể và tưởng tượng (mà tôi không đề cập đến ở đây vì nó đã được nói đến ở đâu đó).

Nếu chúng ta chấp nhận trách nhiệm của thầy phù thủy, rất nhiều điều kỳ diệu, nhà thơ khó hoàn tất bất thình lình trở nên dễ dàng. Một trong những điều đó là tìm kiếm chủ đề: chúng ta bận tâm tới việc giáo dục và chữa lành người đồng thời, chỉ cần nói về những gì họ cần biết và nghe. Những chuyện khác thì buồn cười. Một lúc nào đó chúng ta nhận ra chính mình như một loại đặc biệt của loài động vật có vú cao cấp, bị mắc bẫy và hiện thân trong trò chơi cụ thể của sự hiện hữu vật lý, bị đẩy vào sân khấu của sự giao tiếp sai, để cho và nhận những món quà của người khác, và để sống còn. Shakespeare, có lẽ là thầy phù thủy lớn nhất của mọi thời đại, đáp ứng mọi tiêu chuẩn khó khăn, đã biết tất cả những điều này rất kỹ. Tiềm năng sẵn có khác, bất thình lình sẽ được thấu suốt. Thay vì căng thẳng với những khái niệm buồn chán hàng ngày vì một vết bẩn giống như phiêu sinh vật trong nội tâm, chúng ta hầu như gặp phải vấn đề đối nghịch: làm sao cho phép lạ thành hiện hữu, với những mức độ vo ve và reo vang của sự phức tạp đồng tâm, đủ cục bộ để chuyên chở trong một hình ảnh hay một chuyện vặt. Cuối cùng, thầy phù thủy thật sự sẽ tìm ra sự hiếm hoi của tất cả những tiềm năng đương thời: thính giả thật sự, một nơi công cộng, không dẫn nhà thơ hy vọng nhận ra chính những cố gắng của thơ, không lôi cuốn bởi ma thuật mờ nhạt của những thành tích thi ca ở thời đại khác, không hy vọng chia sẻ tình thân của sự thất bại văn hóa và xã hội; nhưng cùng đến với nhau trong niềm vui sâu xa, cổ xưa, nghi lễ đặc biệt của sự kiến tạo thế giới.

Ltt chuyển dịch 
  1. Motherese theory: Nghiên cứu về cách tiếp nhận ngôn ngữ tự nhiên của trẻ thơ (tới khoảng 5 tuổi) từ người mẹ. (Ghi chú của ND).
  1. Gaia theory: Khoa học về đời sống trái đất. Nhà hóa học và khí quyển James Lovelock và nhà sinh học tiến hóa Lyn Margulis cho rằng trái đất tồn tại, phẩm chất giống như đời sống (life-like quality) xuất hiện từ sự tác động của sự hiện hữu các đời sống khác nhau và với hệ thống phi đời sống trên hành tinh (đá, khí quyển và đại dương), có khả năng tự điều chỉnh những cá tính bản thể của môi trường chung quanh, như nhiệt độ trung bình, chất mặn của đại dương, hỗn hợp chất khí (oxygen và carbon) trong khí quyển. (Ghi chú của ND).
  1. Orpheus là con của Apollo và Calliope, được cha là Apollo cho một cây đàn lyre và dạy cách sử dụng. Tài âm nhạc của Orpheus điêu luyện đến độ, không những quyến rũ muông thú mà cả đất đá, cỏ cây. Hắn dùng cây đàn lyre, xuống địa ngục để tìm vợ, Eurydice, bị rắn cắn chết. Hắn gặp vợ và chỉ có thể làm sống lại với một điều kiện: trên đường đi, hoàn toàn im lặng, không được ngoái lại nhìn người vợ theo sau. Nhưng không may, khi gần tới trần gian, trong khoảnh khắc hắn quên lời hứa, ngoái lại nhìn xem vợ mình có còn theo sau không, lập tức Eurydice tan biến mất. (Ghi chú của ND).
  1. Solomon: Con của vua David, nước Do Thái cổ, lên ngôi vào năm 970 B.C lúc còn rất trẻ, ghi dấu sự mở rộng bờ cõi Do thái, và liên minh với Ai cập và Phoenicia. (Ghi chú của ND).
  1. Bồ tát Vyasa đang nhập định tại Hi mã Lạp sơn thì được thần Brahma xuất hiện, truyền viết kinh Vệ Đà (Bồ Tát) Mahabharatham, vì lợi ích của con người. Bồ tát Vyasa cầu thần Ganesha viết xuống trong lúc ngài hát vì ngài không thể viết. Thần Ganesha bận vô số việc nên yêu cầu Bồ tát hát thật nhanh, đổi lại Bồ tát cầu thần Gansha phải hiểu nghĩa từng câu thơ trước khi viết xuống. Khi nào Bồ tát cảm thấy thần Ganesha viết quá nhanh, ngài lại đọc một câu thơ thật khó, và trong lúc thần Ganesha tìm hiểu nghĩa thì ngài có thời gian chuẩn bị sẵn một số câu thơ trong đầu. (Ghi chú của ND).
  1. Hermes: con của Zeus và Maia. Khi nữ thần Kalypso giữ Odysseus quá lâu trên đảo, Hermes được Zeus gửi tới để truyền lệnh phải thả Odysseus về nhà. Hermes là sứ giả, kẻ truyền rao sự bất tử. (Ghi chú của ND).
  1. Caduceus: Cây gậy tiêu biểu của sứ giả, một điềm báo. (Ghi chú của ND).
  2. Alfred Joseph Hitchcock (1899-1980): Nhà đạo diễn người Anh. (Ghi chú của ND).
  3. Hoàng hậu Sheherezade, người kể truyện Ngàn lẻ một đêm. (Ghi chú của ND).
  4. Minos, thần thoại Hy lạp, vua đảo Crete, con của Zeus và Europa. Vợ của Minos là Pasiphae sinh ra Androgeus, Glaucus, Ariadne và Phaedra. Vì Minos không chịu hy sinh cho thần Poseidon con bò đực trắng nên thần khiến cho Pasiphae hoài thai một con vật sinh ra Minotaur, một con quỉ đầu bò mình người. Minotaur bị nhốt trong một mê cung. Khi vua Aegeus của Athens giết Androgeus, Minos trả thù và buộc Athens phải triều cống hàng năm bảy thanh niên và bảy thanh nữ. Những người này bị nhốt trong mê cung, hoặc bị chết đói hoặc bị ăn tươi nuốt sống. Cuối cùng Theuseus cùng những nạn nhân này giết chết Minautor. Cùng với Aecus và Rhadamanthus, Minos trở thành một trong ba vị phán quan của Diêm vương Hades. (Ghi chú của ND).

Tranh bài:
Scrawl, 2014, Acrylic, newspaper and stencil casings on canvas, 48 x 60 in. Image courtesy Waterhouse & Dodd.
Bernie Taupin’s Painted Words

 

ĐỌC THƠ DIỄN ĐÀN: Kỳ 1

Dinah-Wakefield - https://www.dinahwakefield.com/product/andalucia-3
Dinah-Wakefield - https://www.dinahwakefield.com/product/andalucia-3

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
DIỄN ĐÀN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT


Biển Bắc

Một bài thơ Tân Hình Thức Việt điển hình phải đáp ứng các quy-/luật-tắc sau đây:

  1. Bài thơ phải mang hình thể một bài thơ trong những thể thơ Việt thông dụng! Hoặc phải có một khuôn khỏ đều đặn thông dụng

  2. Bài thơ phải có mang tính truyện/chuyện

  3. Sự lập/lặp lại phải hiện rõ nét, trải đều ra suốt bài thơ

  4. Bài thơ phải xử dụng ngôn ngữ đời thường

  5. Phải là thơ không vần chứ không là thơ vần điệu

Ngoài những yếu tố kỹ thuật, bài thơ được cho là hay còn tùy thuộc vào sự áp dụng nhuần nhuyễn và đồng bộ của các yếu tố kỹ thuật cùng ý tưởng mới lạ!


Hường Thanh

NHỮNG NGƯỜI LẠNH

ông lão đập vào cửa
sổ ông nói ông không
mở chiếc cửa đầu tiên
để vào nhà mà leo

vào phòng T từ cửa
sổ này mùi men trắng
trên mặt đập vào mắt
căn phòng cũng bị đập

vào hơi khí ngả nghiêng
ngả nghiêng ông lão bây
giờ gương mặt không chịu
chùi vết bẩn do leo

trèo lên cửa sổ T
nghĩ rằng chắc hẳn là
ông sẽ đập vào mặt
căn phòng này một chai

rượu rồi ông sẽ về
về ngay thôi sẽ không
phiền tới màu sắc cần
được đen đi ông mời

T uống mà thực ra
ông chỉ mang theo một
cây sáo ông mời T
thổi về những ngày người …

3.11.2015
  1. Bài thơ trọn khuôn 5 chữ 4 câu. Khổ thơ phù hợp với nhịp đọc của âm chữ trong từng câu của từng đoạn thơ.
  2. Bố cục hơi siêu thực, mơ hồ nhưng lại ăn khớp với câu chuyện về một cách vỗ về giấc ngủ của một người đang ngà ngà men rượu.
  3. Những âm chữ như “ông lão” được trải đều qua những lập lại của những ông nói; hơi khí; T nghĩ; thôi sẽ; ông sẽ; cây sáo.
  4. Tuy bài thơ xử dụng ngôn ngữ, chữ nghĩa đời thường, nhưng cấu trúc của các chữ đặt cạnh nhau lại cố ý chuyên chở những ẩn dụ hơi rối rắm: ông lão; cây sáo; màu sắc cần được đen đi; mùi men trắng; ….đập vào hơi khí ngả nghiêng…..
  5. Bài thơ xây dựng trên âm điệu đọc khừng khựng và không còn dâu vết vần điệu truyền thống.

Đốc kết: Ở mặt kỹ thuât, bài thơ này hội đủ trung bình những điểm cơ bản của TTHTV. Về ý tưởng thì rất là một câu chuyện có thể xảy ra ở đời sống thường ngày mang những cái suy tư rối rắm giữa hư thực của cuộc sống như là choáng váng men say và hơi mang tính “liêu trai quái dị”. Qua bài thơ này tính đa dạng của nội dung TTHTV được làm giàu thêm.


Trầm Phục Khắc

THEO NHAU

ở với thơ buồn
quá đi với thơ
vui hơn vì đi
thì có lúc nhanh
lúc chậm có lúc
vắng lúc gần có
lúc mơ lúc thật
nghĩa là có đi
thì có gặp chứ
ở hẳn có sẵn
rồi thì cần chi
gặp nữa tuy nhiên
đi với thơ có
chút rủi ro này
ấy là ngộ nhỡ
mai kia không đi
nổi nữa thì biết
tính sao thôi thì
chuyện nhỏ chuyện nhỏ
buồn chi chả buồn
ngồi đấy nằm đấy
mà vẫn theo nhau
có nghĩa là đi
chậm chạp chậm chạp
theo nhau theo nhau
lúc vắng lúc gần
lúc mơ lúc thật

  1. Bài thơ theo thể 4 chữ liên hoàn. Bài thơ chọn thể bốn chữ có chủ đích rất tài tình, vì nhịp đọc được dẫn như nhịp những bước chân (nhỏ) “Theo Nhau”.Thể thơ 4 chữ mà lại liên hoàn tuy rất hiếm thấy các thể thơ truyền thống thông dụng, nhưng vẫn có thể nhận diện.
  2. Tính truyện trong bài thơ này ẩn rất sâu trong những bước đi với thơ qua từng lúc, từng khúc được chở trên phong cách tự sự, lý luận của bài thơ.
  3. Cách lặp lại trong bài thơ này được quy tụ trong cách nói lúc này, lúc kia (lúc chậm lúc nhanh, lúc vắng, lúc gần, vân vân..)trải suốt bài thơ. Mặt lặp lại của cụm từ, âm chữ thì lại được thi triển một cách gượng gấp ở đoạn cuối bài thơ.
  4. Ngôn ngữ của bài thơ là một ví dụ của ngôn ngữ nói, ngôn ngữ đời thường! Phải chăng như vậy mới hợp với nội dung tự sự của bài thơ (?).
  5. Hẳn là bài thơ không vần, nhịp điệu được dẫn đi theo cách lập lại của cách nói lúc này lúc kia.

Đốc kết: Bài thơ này tuy là yếu ở mặt tính truyện/chuyện, mang nhiều tính cách tự sự lý luận à la truyền thống/tự do, nhưng lại mạnh ở mặt nhịp điệu cùng ngôn ngữ đời thường. Đặc điểm đáng chú tâm là cách áp dụng lặp lại cách nói để thay thế lặp lại cụm từ/âm chữ rất lý thú đáng học hỏi. Ý tưởng bài thơ rất quen thuộc trong ý niệm ví thơ như là người yêu, tình yêu, kiếp nhân sinh, mà tác giả cứ phải theo cái thay đổi của thơ, dù muốn hay không muốn. Tuy nhiên, thông điệp là cái tinh thần cầu tiến, học hỏi để theo kịp những cái đổi mới, cải thiện (của thơ, của TTHTV(?)). Ý tưởng đi đôi với phong cách sáng tác khám phá khiến bài thơ có giá trị ý nghĩa cho TTHTV.


Trầm Phục Khắc

LẶNG LẼ

con đường đẹp quá
đúng với giấc mơ
nhưng con đường rồi
phải hết mà giấc
mơ có cánh nên
giấc mơ còn nên
giấc mơ bay một
mình một mình lặng
lẽ lặng lẽ có
thấy ai đang ngóng
cổ nhìn không chắc
là không có muốn
ghé lại đây không
chắc là không giấc
mơ đâu biết nghe
đâu biết nhìn giấc
mơ buồn quá thật
là buồn mà chẳng
thể là của riêng
ai giấc mơ có
cánh thật là nhẹ
mà chẳng để bay
đến được nơi đâu
thôi thì cứ bay
một mình lặng lẽ
cho đến khi đuối
sức đuối sức đuối
sức may ra lại
rơi xuống một con
đường mà lại là
một con đường đẹp
đúng với giấc mơ
một mình lặng lẽ

  1. Bài thơ theo thể 4 chữ liên hoàn. Cách chọn thể thơ liên hoàn này hợp với cái lòng vòng của bài thơ: bắt đầu từ con đường, bay lên rồi lại rơi xuống con đường.
  2. Tính truyện của bài thơ này rất yếu trong cái “vòng lẩn quẩn” của cái tự sự triết lý. Giấc mơ thông thường đã rất riêng tư, mà bài thơ lại khai thác rỉ rả quá nên cái lý lẽ này trở thành nghịch lý.
  3. Những cụm từ như con đường; giấc mơ; lặng lẽ; được lặp lại suốt bài thơ một cách rất tự nhiên. Đặc biệt, cách lặp lại 3 lần cụm từ đuối sức liền một lúc làm nổi bật lên hình ảnh kiệt sức từ từ. Bài thơ rất nhuần nhuyễn ở mặt kỹ thuật này.
  4. Ngôn ngữ bài thơ này là ngôn ngữ nói, ngôn ngữ tâm sự muốn chia sẻ.
  5. Bài thơ không vần này nên trình bày theo thể thơ 7 chữ hoặc 6/8 bởi vì tính cách nhẹ nhàng của lời tâm sự mà thể 4 chữ rất có khuynh hướng thôi thúc, chụp giựt.

Đốc kết: Bài thơ này tuy ở mặt kỹ thuật lặp lại và ngôn ngữ đời thường rất xuất sắc, nhưng ở mặt tính truyện, ý tưởng và giọng điệu thì lại không được thu hút để gây hứng thú. Dù vậy, bài thơ này là một bài thơ THTV.


Hường Thanh

NĂM MÙNG MỐT

giờ này trên các cành
cây đang rung lắc lũ
khỉ gió rung lắc mông
trông buồn cười thật cây

cành cây ngày mốt đầu
năm buồn vui bị lũ
khí gió đem rung rung
lắc lắc mông trông mắc

cười thật cái đuôi quay
nguẩy cong cong cây tinh
thần nào biết rung lắc
sẽ là tinh thần mới rụng

vỡ các buồn vui đem
lên cành cây rung rung
lắc lắc mông trông tức
cười thật cái đuôi chất

xám quay nguẩy cong cong
cành đào mai rụng vỡ
vẫn là đào mai khỉ
gió đường trời còn lạnh !

9.2.2016 - Xuân Bính Thân
  1. Bài thơ được thể hiện qua hình thể của khổ thơ 5 chữ một câu, 4 câu một vế, hợp với nhịp vui nhộn của bài thơ.
  2. Bài thơ là một cái/tiếng cười vào cuộc đời rất “khỉ gió” có những tình huống “cái đuôi chất xám” được người ta dùng để rung cây nhát khỉ bị lòi ra cái “mông lắc lắc” trông “tức cười”, được lồng vào câu chuyện được kể trong bài thơ một cách khéo léo.
  3. Các âm ngang-bổng như rung lắc; trông mắc; đuôi chất; và âm chữ ngang-ngang như cây đang; mông trông; rung rung; cong cong..vân vân, được trải đều nhịp suốt bài thơ hợp với cách đọc vui nhộn.
  4. Ngôn ngữ trào phúng bình dị, rất dễ thương của đời thường.
  5. Bài thơ thành công ở cách lập lại các âm điệu trong thanh vui nhộn và dĩ nhiên không là vần điệu.

Đốc kết: Một bài thơ THTV hay! Đặc biệt viết vào mùng một tết năm khỉ, kể chuyện khỉ, nói chuyện khỉ gió của con người, cuộc đời …


Khế Iêm

XẤU XÍ

Cô gái mở cửa bước
vào chàng thanh niên như
chàng thanh niên mở cửa
bước vào cô gái như

cái đẹp này bước vào
cái đẹp khác nhưng người
đàn bà mở cửa bước
ra người đàn ông cũng

như người đàn ông mở
cửa bước ra người đàn
bà như cái xấu này
bước ra cái xấu khác

và sao người đàn bà
và người đàn ông xấu
xí đến thế cứ như
mỗi con người có một

thời thiên thần một thời
xấu xí và vì vậy
mà tại sao mỗi con
người xấu xí đến thế.

  1. Bài thơ mang khổ thơ 5 chữ một câu, 4 câu một vế, thường được thấy trong thơ truyền thống.
  2. Những cái so sánh giữa trẻ, già, đẹp, xấu của ngoại hình được giàn dựng qua một cách kể một câu chuyện, bọc ngoài cái so sánh giữa lúc ban đầu (khi mới yêu nhau thì cái gì cũng đẹp) và lúc về sau (khi đã chung sống lâu rồi thì có nhiều thói hư tật xấu làm mờ đi hình ảnh đẹp) ở bên trong.
  3. Kỹ thuật lặp/lập lại trong bài thơ này được áp dụng rất nhuần nhuyễn, không dư thừa mà rất tư nhiên, logic.
  4. Ngỗn ngữ xử dụng trong bài thơ rất đơn giản tự nhiên.
  5. Các âm điệu trong bài thơ được lập lại rất nhuyễn và rất đều và dĩ nhiên không nương vào vần điệu.

Đốc kết: Các kỹ thuật của TTHTV được áp dụng một cách thống nhất và nhuần nhuyễn. Một bài thơ THTV kiểu mẫu! Ý tưởng thì không mới lạ.


Nguyễn Văn Vũ

HẾT MẮC KẸT RỒI

vụng về những ngón tay mắc kẹt
vào khe vần điệu và những con
mắt nhập nhòe nhập nhòe cơn mơ
không lối ra nhiều khi muốn đi

chân đất muốn để đầu trần thả
cánh diều bay vút cao vút cao
muốn nói một lời đơn sơ thật
lòng như cơm trắng muối dưa như

giây phút hiếm hoi trải lòng cùng
bạn bè một chiều say đời ngả
nghiêng hay một sáng thảnh thơi hứng
chí vắt từng dòng từng dòng thành

những luống đời xôn xao như sóng
biển nhấp nhô nhấp nhô có cả
êm đềm và cuồng nộ có cả
quá khứ và tương lai đây rồi

có một trang thơ mới vừa mở
ra mở ra những dòng thơ mới
thiết tha chan chứa những niềm vui
những nỗi buồn của cuộc đời này…

  1. Bài thơ được trình bày qua thể thơ rất thông dụng trong thơ truyền thống: thất ngôn, tứ tuyệt; 7 chữ một câu, 4 câu một vế.
  2. Tính truyện chỉ bật ra một chút một cách liền mạch ở vế 2 và 3 trong suốt bài tự sự về ý niệm đã tìm ra một điều mới thay thế cho điều cũ đang bị “kẹt”.
  3. Những cụm từ lặp lại trong bài thơ chưa được trải đều để tạo nhịp, mà chỉ rất yếu ớt “cà lăm” một đôi đoạn, như : vút cao vút cao; nhập nhòe nhập nhòe; từng dòng từng dòng; nhấp nhô nhấp nhô.
  4. Tuy đã cố gắng thoát ra “khe vần điệu” và ngôn ngữ của bài thơ phần nhiều là ngôn ngữ đời thường rất gần gũi, nhưng vẫn còn “kẹt” lại đây đó ngôn ngữ thơ truyền thống như: luống đời, cuồng nộ ….
  5. Bài thơ tuy không giàu vần điệu, bởi kỹ thuật lặp lại cùng cái liền mạch của tính truyện chưa được áp dụng tốt, nhưng đã “hết mặc kẹt” vần điệu mà là bài thơ không vần.

Đốc kết: Mọi mặt kỹ thuật chưa được nhuần nhuyễn lắm, nhưng bài thơ hội đủ trung bình những yếu tố để nói rằng đây là một bài thơ THTV.


Hường Thanh

CÂY DÀN TREO

các chất chồng vẫn rất gọn
gàng lại ngổn ngang vẫn coi
như vẫn đựoc lấy lên chứ
không nằm để đó cho chồng

chất ý nghĩ mỗi lần đem
đi giặt giũ vẫn luôn chất
chồng người đen kịt như mọi
ngày làm công chồng chất bàn

tay chứ không còn là gánh
nặng bàn chân mỗi lần đều
bào mòn và tạo ra nếp
nhăn tuổi trẻ cắn vào những

ngổn ngang người đen kịt kia
cũng là một tất yếu hình
thành nên cây giàn để treo
đồ mà có treo đồ đâu…

15.10.2015

*đây là câu chuyện có phần dở hơi của tác giả về đống quần áo “lười” treo lên giàn (hoặc tủ).

  1. Bài thơ tuy không mang một hình thể của một khổ thơ truyền thống quen thuộc, nhưng có một khuôn khổ đều đặn : mỗi câu 6 chữ, 4 câu một vế, 4 vế cho bài thơ.
  2. Ý tưởng của bài thơ được lồng trong câu chuyện về những quần áo đã mặc, không đem đi giặt, để chất đống thành như một hình người (nộm) đen kịt, chuyên chở ý niệm những kinh nghiệm học hỏi trải qua (=quần áo đã mặc) bởi lười vận dụng trí óc, nên không rút ra những điều hay (=không đem giặt) thì cũng giống như mớ bùi nhùi đen kịt. Không giặt làm sao đem phơi, không rút tỉa làm sao đem ứng/áp dụng và như thế cái giàn treo hay sự hiện hữu không có chức năng.
  3. Cặp từ chính yếu của ý tưởng bài thơ “chất chồng” được luân phiên xoay ngược và lần lượt lặp lại đều đặn trong bài thơ. Mặt kỹ thuật này được thi triển một cách cân bằng vừa nhịp điệu, vừa ý tưởng.
  4. Ngôn ngữ xử dụng trong bài thơ đọc lên rất tự nhiên, rất đời thường.
  5. Bài thơ là một bài thơ không vần, dấu vết vần điệu không thấy xuất hiện nơi nào trong bài thơ .

Đốc kết: Giá trị đặc biệt của bài thơ THTV này là cách áp dụng kỹ thuật lặp lại đi đôi với tính truyện một cách đồng bộ rất cân bằng! Kỹ năng này nếu phát triển rộng ra các yếu tố kỹ thuật khác, thì TTHTV sẽ có những bài thơ xuất sắc.


Tranh bài: Dinah-Wakefield

TUẦN THƠ 36: TIẾNG BÊN KIA

https://www.paulklee.net/
https://www.paulklee.net/

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt
https://thotanhinhthucviet.vn/Forums/


TIẾNG BÊN KIA

Nguyễn Tiến Đức

TỰA VÀO BÓNG TỐI TUYỆT LỘ

im lặng anh tựa vào bóng tối tuyệt
lộ quay về phương em anh tìm thấy
môi em thơm mùi dãi trẻ thơ đang
tụng niệm tràn trề chuỗi kinh xuân ngây

anh tìm thấy đóa cỏ linh diệu nở
trong dấu tích chân em để lại trên
đồi tử thảo anh tìm thấy chiếc võng
đan bằng những sợi tóc em buông thả

anh nằm chơi trò chơi dòng chợt vắt
anh tìm thấy mắt em chừa những mảnh
lửa bắn tung từ cơn bùng nổ sáng
tạo không cùng anh tìm thấy mắt em

nâu thẳm mở trên say nghiêng đất cùng
vũ điệu bụi hồng vơ vẩn đưa anh
vào sóng thân em biển ngầm anh tìm
thấy phía đông vuông cửa sổ phòng em

chốn duy nhất con chim thi ca mới
cất tiếng hót cấm kỵ tiếng hót phóng
viết vượt đỉnh trời sấm sét đang thiêu
rụi kinh kệ lẫn giáo điều vĩ đại.

Sinh nhật Kimberly 2002

Nguyễn Tuyết Trinh

GIẤC MƠ XUÂN

Khi những chiếc lá đã buông rơi
dưới cội cây mùa xuân trìu mến
ngọn gió đỏ níu cánh bay chim
én chảy lên ánh ngày lớp sáng

của phiêu lưu tôi muốn tìm kiếm
anh người đã từng đến trong giấc
mơ tôi tôi đã mơ nụ cười
anh và khoé mắt lặng lẽ không

để lộ thời gian mời linh hồn
tôi ương ngạnh trở về trong vòng
tay anh ve vuốt ấp ôm trên
những con đường mùa xuân mơ hồ

thời gian đi qua một cách vô
tích sự mỗi lúc một mau không
biết tới sự xót thương đổ đầy
tiếng khóc đơn độc quạnh hiu vào

cuộc đời tôi vẫn mơ tới gần
anh trang sức bằng bản thể căn
cốt của tình yêu buông lỏng sự
dối trá của những giấc mơ mù

mờ lập lờ không định hướng tôi
đã mơ được gần anh không sợ
tương lai chẳng ngại quá khứ là
tù nhân của một tình yêu duy

nhất có thật trọn vẹn thay vào
chỗ lạc lõng lạnh cóng của ảo
ảnh hư vô.


Nhiệt Đới Buồn

TIẾNG BÊN KIA

Tiếng thì thào không phải không
phải tiếng đang thì thào nhưng
cứ thì thào ở bên kia
khi bên này với tôi chỉ

là bên im lặng bởi chung
quanh chỉ là bốn phía tường
và chỉ có tôi làm động
đậy mọi thứ chung quanh mà

thôi dù tiếng rất nhỏ như
tiếng lầm bầm của tôi như
tiếng sột soạt có vẻ mệt
mỏi trong căn phòng buổi chiều

mà bên kia bên đó vẫn
tiếng thì thào đó tiếng nói
không nói về tôi mà sao
tôi lại nghe làm gì khi

kéo dài liên tục qua một
thứ không gian buổi chiều khi
không phải tiếng thì thào mà
sao tôi lại cứ lắng nghe.


VÀ EM

mưa lại rơi làm ồn
ào lỗ tai tôi mưa
buổi chiều không nghe được
tiếng động nào thêm nữa

nhìn ra cửa kính dơ
nhầy nhụa bụi dính thấy
cảnh vật nhạt và âm
ỉ những nỗi niềm bên

ngoài người cong lưng đứng
trên vỉa hè tìm chỗ
trú mưa và còn có
những người mặc mưa đi

để ướt lên áo quần
lên khuôn mặt từng người
chạy xe máy ào ạt
một vài bàn chân vụt

đi như là cơn bão
quét qua nhẹ nhàng tôi
không chìm đắm vào mưa
mà trông tháng sáu nhìn

bầu trời âm u những
đám mây ngày bỏ bóng
tối vào nhà và em
tay hứng mưa vào hồn

tôi …

5.6.2013

Phạm An Nhiên

TỪ NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐI

“Huế, Sàigòn, Hà Nội, hai
mươi năm xa vẫn còn xa ..” (*)

Tôi trở lại ba mươi sáu
phố phường Hà Nội mỗi ngày
thêm một cổ xưa – như cô
gái ngồi chồm hổm ở chợ
Đồng Xuân rao hàng lẫu cá
lẫu đồ biển lẫu thập cẩm
mời anh ngồi xuống đây uống
bia Hà Nội đặc sản quê
hương ôi mấy mùa chinh chiến.

Huế của tôi có “O” về
qua Cửa Thượng cơm hến chiều
nay cay đắng trộn vào nhau
nghe ngậm ngùi câu hò mái
đẩy xuôi ngược Hương Giang qua
cầu Trường Tiền đêm lấp lánh
đèn xanh đèn đỏ tôi tìm
“O” áo trắng đã mấy mùa.

Sàigòn phố cà phê bụi
bặm cao ốc xây dở dang
như chuyện tình cô gái mặc
mini jupe làm nghề hớt
tóc ráy tai khoe đùi trắng
và đôi mắt nhiều đêm mất
ngủ xe taxi máy lạnh
và quán bia hơi Sàigòn
ôi đã mấy mùa chinh chiến

“Huế, Sàigòn, Hà Nội, hai
mươi năm xa vẫn còn xa…”

SG 08082004
 (*)TCS

Phạm Thị Anh Nga

CON TRAI BÉ BỎNG CỦA TÔI

con trai bé bỏng của tôi hãy còn
bé bỏng lắm nhưng chẳng hiểu do đâu
nhìn thấy bản in thử cuốn tản văn
mới xuất bản của tôi nhà in vừa

đưa xem trước nó liền xuýt xoa – ối
mẹ ơi rồi mẹ sẽ bán nó à
vậy còn hai tập thơ của ba thì
có bán không hở mẹ có ai mua

sách của mẹ và thơ của ba không
hở mẹ – tôi phì cười – ờ sách mẹ
thì mẹ không biết chứ thơ thì thuở
đời nào mà bán được hở con trai –

con trai tôi tiếp tục xuýt xoa – ôi
vậy là văn phải nuôi thơ hả mẹ
vậy mẹ phải làm sao bán sách thật
nhiều vào để mà bù cho tiền in

thơ chứ – con trai bé bỏng của tôi
đăm chiêu suy nghĩ moi óc để tìm
phương cách cuối cùng dường như
vô cùng hồ hởi nói – mẹ ạ mẹ

phải tìm cách khuyến mãi hay quảng cáo
bằng tờ rơi hay đố vui có thưởng
hay là mẹ in một tờ giấy to
nhiều màu thật đẹp ghi rằng ai mua

ba mươi cuốn sách của tôi sẽ được
tặng miễn phí một con mèo con và
mua sáu mươi cuốn thì sẽ được tặng
miễn phí một con mèo mẹ mẹ nhé –

ôi đứa con trai bé bỏng của tôi
chưa kịp lớn khôn thêm để hiểu thì
tình cờ thấy những bưu ảnh tranh bác
chỉ cất trong nhà – biết được ba nó

cùng một số người khác bỏ tiền ra
in nó lại giẩy nẩy lên – ối mẹ
ơi văn không chỉ nuôi thơ mà còn
phải nuôi cả tranh nữa hả mẹ ơi!

nhưng mà lạ lùng quá đỗi bây giờ
con trai bé bỏng của tôi khi gặp
một cuốn sách trang đầu tiên nó lật
xem lại là trang cuối in bao nhiêu

cuốn tại đâu giấy phép xuất bản số
mấy số đăng ký bao nhiêu in xong
và nộp lưu chiểu ngày tháng năm – rồi
một hôm con trai bé bỏng của tôi

trầm ngâm tư lự đăm chiêu thì thầm
với mẹ – con muốn in sách thì có
được không mẹ giấy phép xin ai hở
mẹ – ôi con trai bé bỏng của tôi.

12 / 2003

Phạm Việt Cường

JAZZ TRƯA

tháng hai mê mê qua mấy phố
trưa còn im đợi chút nắng run
mềm dưới bầu trời mây bạc ướt

xỉn kính xe mờ căm tôi đưa
em đi vẩn vơ ngó mấy chóp
nhà mốc cũ còn sót lại bên

những cao ốc mọc lên như nấm
dại ngắm những nụ đào hồng vừa
trổ bên đường những hàng cây trụi

lá như nắm xương tàn của mùa
xuân trước lần đầu chính em dẫn
tôi xuống phố kể chuyện đời trong

quán trưa vắng tanh rưng rức nhạc
Jazz hỏi tôi sao không có ai
hủ hỉ khi tắt đèn tối lửa.


Thiền Đăng

ĐỌAN KỊCH TRÊN HAI MẶT PHẲNG

Hắn ngước nhìn lên: trên tường, một
con thằn lằn đang trườn. Trườn lên
Lại trườn xuống. Trườn dọc. Rồi trườn
Ngang. Trườn từ trái sang phải. Lại
trườn từ phải sang trái.Trườn hoài

Hắn cúi nhìn xuống: dưới sàn, một
thằng người đang trườn.Trườn lên
Lại trườn xuống. Trườn dọc. Rồi trườn
ngang. Trườn từ trái sang phải. Lại
trườn từ phải sang trái. Trườn mãi.

Và cứ như thế. Hắn hết nhìn
lên trên tường, nơi con thằn lằn
đang trườn, trườn mãi trườn hoài, rồi
lại nhìn xuống dưới sàn, nơi một
thằng người, cũng đang trườn, trườn hoài

Trườn mãi


TPKỳ

THÁNG BA

Tháng Ba vẫn còn gió lạnh và
thỉnh thoảng cơn buồn lại kéo dài
đã đi qua một chặng lắng nghe
tiếng chân bước thầm bên sóng biển

màu trời chì ngửa tay đón gió
và chờ chút nắng về giữa tháng
Ba còn lạnh thôi thì cứ bước
đi khi còn bước được dù thấp

dù cao bãi cát kia vẫn lành
lặn như bao giờ và giữa trời
tháng Ba xám chì vẫn thấy hàng
cây bên đường những nụ non chớm

mọc và hình như xa có những
chồi đỏ khi tháng Ba vẫn còn
gió lạnh và thỉnh thoảng cơn buồn
lại kéo dài … dài hơn tháng Ba


Trầm Phục Khắc

MÂY BAY

Chiếc ghế đặt gần khung
cửa sổ trong một căn
phòng là một phần kỉ
niệm thuộc về của riêng

tôi cho dù đó vẫn
có thể là một phần
kỉ niệm của một hoặc
nhiều hơn một người nào

đó đã từng bước vào
căn phòng có chiếc ghế
đặt gần khung cửa sổ
thế nhưng vì rốt cục

rồi bất cứ ai trong
đó có tôi cũng đành
phải bước ra khỏi căn
nhà thậm chí bước ra

khỏi con đường có căn
nhà có căn phòng có
chiếc ghế đặt gần khung
cửa sổ và nếu có

may mắn lắm thì chỉ
còn lại thoáng mây bay.


Tranh bài: Paul Klee