Trang chủ Blog Trang 37

PHÂN TÂM HỌC VÀ THƠ

PHÂN TÂM HỌC VÀ THƠ

Frederick Feirstein

Hơn vài mươi năm qua, một trong cách biện minh cho việc từ bỏ các kỹ thuật “hình thức” của vần luật và thể loại như truyện kể tuyến tính, đến từ sự hiểu lầm, theo phân tâm học, về đặc tính tự nhiên của vô thức. Vô thức được nhận thức như một thực thể hoàn toàn “tự do,” như trong tiểu thuyết tình cảm, người điên được coi là “tự do.” (Hiểu biết thông thường cho biết, người điên không được tự do, mà bị tù hãm bởi những bí hiệu, trong trường hợp này là ảo giác và ảo tưởng.) Khái niệm sai lầm về đặc tính tự nhiên của vô thức, bắt nguồn từ những nhà hiện đại thuở đầu. Khi sự hiểu lầm biến thành kinh nghiệm truyền lại cho người đi sau, nó được dùng để tấn công, cho hình thức là lừa phỉnh giả mạo trên tiến trình vô thức, chỉ nói riêng về nguồn gốc sáng tạo thôi. Nhưng các nhà phân tâm học cũng biết, từ dữ kiện bệnh nghiệm, những bày tỏ của vô thức “tự do” như thế, được tìm thấy trong chiêm bao và “những phối hợp tự do” (mang lại hiện tượng tự động viết) thật ra từ những ảo tưởng thường trực của vô thức. Không chỉ có dữ kiện bệnh nghiệm của nhà phân tâm học, mà gần đây các nhà chuyên khoa não bộ và các nhà nghiên cứu về chiêm bao dẫn chúng ta đến chỗ hiểu được rằng vô thức, khác xa với vô kỷ luật, giống như vũ trụ của lý thuyết hỗn mang và phức tạp. Nó có những điều luật riêng đưa đến trật tự, mà phải được huấn luyện để quan sát thì mới nhận ra. Chúng ta gọi là “những tiến trình chính yeu” của dời đổi và cô đọng, và cũng là những điều luật đã hình thành ẩn dụ trong thơ và tác động ẩn dụ trong truyện và kịch. Điều thật sự giải phóng chúng ta là học hỏi và áp dụng những điều luật này trong nghệ thuật, kể cả nghệ thuật phân tâm học là nơi mà tiến trình chính yếu bị lay chuyển dưới sức lực ngày càng lớn mạnh của tiên nghiệm và bản ngã.

Mỉa mai thay, phân tâm học, từng là trọng tâm văn hóa trong phần lớn thế kỷ vừa qua, đã bị phỉ báng trong nhiều năm gần đây bởi giới hàn lâm với cùng lý do họ phỉ báng thơ “hình thức” và thơ tính truyện. Chủ yếu, nghệ thuật phân tâm là một nghệ thuật có tính truyện, trong đó truyện đời của một người được lần giở ngược lại, như một bi kịch Hy lạp, từ hậu quả đến nguyên nhân. Câu truyện được diễn ra có kịch tính và biểu tượng trong sự chuyển nhượng mà người phân tích kinh qua, như những hữu thể khác và “vật thể,” thí du, người phối ngẫu trong phát triển tình cảm của bệnh nhân, cả hai đều có thật hoặc chỉ là tưởng tượng. Phòng mạch tràn ngập những ông cha và bà mẹ, anh, chị, em và nhiều bản cái tôi khác. Ảo mộng và vết thương đã giúp hình thành những cái tôi như thế và chủ quan hóa những thứ khác, hiện ra trong chiêm bao kể cho nhà phân tâm nghe, và trong sự phối hợp tự do giữa mộng và thực chất khác. Trong tiến trình chữa trị, truyện kể mở ra và ẩn dụ chính yếu phát hiện động lực của những cái tôi khác nhau, bệnh nhân dần nhận thức được rằng anh hay chị ấy đang sống cuộc đời song đôi: một đời có ý thức, đời kia là ảo ảnh trau chuốt và vì nó là vô thức nên tự lặp lại trong vô số cảnh tương tự, cấu tiết với nhiều tình tiết phụ, tất cả đều được hư cấu bởi đứa trẻ (trong tâm trí họ).

Tựa như nhà thơ tính truyện dùng tình tiết có sẵn để tạo nên tác phẩm, tâm thức dùng tình tiết tiêu biểu để tạo nên những ảo mộng vô thức, thường để đáp lại cho cả hai, ước muốn bị cấm đoán và chấn thương. Giống nhà thơ tính truyện, đứa trẻ (trong tâm trí) trau chuốt một cách sáng tạo những tiêu biểu này với các chi tiết lấy từ đời riêng. Trong quá trình chữa trị, bệnh nhân và nhà phân tâm rồi sẽ cùng nhau khám phá hoặc dựng lại những thứ tình tiết chất chứa ấy như vài thí dụ sau đây, mặc cảm Oedipus hoặc ảo ảnh sinh đẻ bằng hậu môn hoặc ảo mộng Cô Bé Lọ Lem, biến thành điều mà Jacob Arlow gọi là “thần thoại cá nhân,” dẫn dắt phần lớn sự hiện hữu của một người.

Tâm tưởng của đứa trẻ, từ cách tạo nên thần thoại cá nhân để tồn tại và sinh trưởng, chúng ta có thể suy ra nền tảng tâm lý cho những xung động có tính truyện. Trong khi chúng ta buộc phải diễn lại những ảo ảnh như thế suốt đời mình để thỏa mãn và thích ứng, thì một vài người tái sản xuất chúng thành nghệ thuật tính truyện. Suốt đời chúng ta tạo nên nhiều bản khác nhau của những thần thoại một cách vô thức để đáp lời cho từng giai đoạn phát triển và mỗi chấn thương mới. Sự làm lại thần thoại cá nhân của tâm tưởng song đôi với cách một nhà văn trưởng thành lặp lại và phát triển yếu tố tình tiết chính, đề mục, và mô hình của hình tượng qua toàn thể tác phẩm. Như tất cả mọi nhà văn đều biết, hành động thám hiểm những ảo tưởng một cách sáng tạo vừa giúp giải quyết mâu thuẫn nội tại vừa dẫn đến chiều sâu ngữ căn xa hơn. Khi chúng ta bị nghẽn sáng tác hoặc rơi vào sự lặp lại một cách ngán ngẩm, đó là vì có vài khía cạnh nào đó của mâu thuẫn mà biểu tượng vẫn chưa chạm đến được, thay vào đó lại dẫn đến những biểu tượng bí ẩn của triệu chứng, tự mô phỏng, và thỉnh thoảng ngã lòng. (Ngay lúc này, tái diễn những ảo tưởng trong chuyển nhượng tốt cho việc nghẽn sáng tác – giống như một nhà đạo diễn hay sẽ giúp nhà soạn kịch viết lại kịch bản; trong trường hợp này là kịch bản đời sống.)

Bởi vì thần thoại cá nhân dựa trên những thứ tiêu biểu, thí dụ chia sẻ chung những thần thoại, có tiếng dội giữa tác phẩm của người viết và độc giả hay thính giả là những người tự họ diễn lại thần thoại ngày đêm một cách vô thức. Khi đèn mờ dần trong rạp hát hay khi độc giả tạo nên một màn tối bao trùm quanh một tập thơ, một trạng thái tựa-như-xuất-thần có thể xảy ra, qua đó độc giả bước vào thần thoại của tác giả một cách cương quyết, tìm được an ủi và giúp đỡ cho mâu thuẫn nội tâm. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về đời sống nội tại của một tác giả ở tuổi niên thiếu, và vài người trong chúng ta, kinh nghiệm này đã biến họ thành nhà văn. Vì lý do nào đó, mù mờ đối với tôi lúc này, khi đọc Le Bateau Ivre của Rimbaud ở tuổi 17 lại có một ảnh hưởng mạnh trên tôi. Trạng thái xuất thần này là một thứ mà tiên nghiệm (phần tâm tưởng nối cả hai với vô thức và hiện thực thức tỉnh) trở nên linh hoạt một cách cuồng nhiệt và đồng bộ. Là người viết, chúng ta kinh qua điều này khi đang trong hứng sáng tác. Chúng ta cũng kinh qua thứ xuất thần như thế khi thực thi nghệ thuật phân tâm, nhất là khi người được phân giải bắt đầu nói một cách ẩn dụ với nhịp điệu thôi miên. Phân tích gia bước vào trạng thái đó một cách cảm thông, dùng tiên nghiệm của riêng họ, như một diễn viên có phương pháp, làm khi nhập vai. Kinh nghiệm thường xảy ra khi sự đối kháng với chữa trị (phản ánh sự phòng vệ vô thức) giảm đi, những huyễn mộng vô thức và biến chuyển của chúng ló dạng trên dòng tuôn chảy của phối hợp tự do và ẩn dụ.

Nhà phân tích, như tôi, từ buổi đầu lắng nghe để tìm những ẩn dụ này bởi vì chúng dẫn đến vô thức, tổ chức biểu tượng của nó phải được tái hoạt động để sự thay đổi lâu dài xảy ra. Người được phân giải dùng một hoặc hai ẩn dụ chính nhiều lần suốt quá trình chữa trị. Chúng thường xuất hiện trong những phê bình có vẻ bình thường về cái tôi hoặc về hiện thực, cũng như trong chiêm bao. Arlow tìm thấy, ẩn dụ chính thường dẫn ngược lại những huyễn mộng vô thức đại biểu cho ước muốn bản năng và sự đối kháng. Tôi đã viết về việc làm thế nào mà ẩn dụ chính đó dẫn trở lại chấn thương. Ẩn dụ đại diện cho bản ngã, chấn thương đối với bản ngã, và đáp ứng của bản ngã đối với chấn thương. Tâm linh thì thơ mộng trong việc bày tỏ một cách tiện tặn những kinh nghiệm khác biệt này. Nó dùng một ẩn dụ thôi để diễn bày lý lẽ nội tại đối với kinh nghiệm của một vài chấn thương, rất giống nhà thơ, viết một chuỗi nhạc tính, phối hợp những ẩn dụ chính để có một tính truyện tiếp giáp.

Những ẩn dụ diễn bày chấn thương thường xuất hiện ngay trong lần chữa trị đầu tiên như là cliché, không phải người ta chỉ dùng đến thứ tiêu biểu mà còn vì tiên nghiệm chưa đủ mềm dẻo để làm sống lại những cliché đó và biến chúng thành ẩn dụ thực thụ. Khi cuộc phân tâm thành công, chúng ta thường thấy cliché được cảm nhận sâu xa hơn và được dùng trong đoạn cuối chữa trị, hoàn toàn khác với cách dùng ở lần chữa trị đầu tiên. Và cũng vậy, thoạt đầu cái tôi được tỏ bày trong cliché là thụ động, đến cuối cuộc chữa trị, cái tôi trở thành môi giới tác động trong cùng một ẩn dụ. Như vậy, thí dụ, (tôi đã kể lại đầy đủ chi tiết trong “Trauma, Fantasy, and Psychosomatosis”), một bệnh nhân trong lần chữa đầu tiên đã tả cách anh ta kẹt cứng trong ám ảnh, bằng cách nói là anh đang ở trong “một chiếc xe chưa sang số chạy.” (a car in neutral). Giấc mơ đầu tiên anh ta kể lại, anh ngồi trong một chiếc xe thể thao không nổ máy được. Suốt quá trình phân giải, anh có nhiều giấc mơ liên quan tới nhiều chiếc xe, và chúng ta rồi sẽ biết là đại biểu cho nhiều bản cái tôi khác nhau của anh ta. Ẩn dụ xe thể thao xuất hiện trong giấc mơ sau cùng anh kể và vẽ lại gọn gàng sự thay đổi trong vô thức là kết quả việc làm của cả hai, tôi và anh ấy: “Tôi đang lái một chiếc BMW trắng. Tôi thắng giải xe trong một cuộc thi. Tôi đang lái xe trên đường với kính xe mở rộng. Ngày tuyệt đẹp. Tôi không bao giờ nghĩ được một chiếc xe có thể khiến tôi cảm thấy sung sướng như thế này. Đây là dấu hiệu của giàu có, mọi việc đều hanh thông, Fred. Tôi đang lái xe trên đường. Một chiếc BMW. Quả là tốt đẹp hơn tôi tưởng.”

Tiên nghiệm của người bệnh (mà Suzanne Langer gọi là “biểu tượng hóa biến đổi” (symbolizing transformer)) đã trở nên vững chắc bằng cách học hỏi và thực hành nghệ thuật phân tâm học. Anh ta hiểu được ẩn dụ xe hơi một cách rõ ràng đến độ ngay cả trong trạng thái chiêm bao nó cũng dội lại nhiều hơn. Tiên nghiệm của anh bền vững hơn, được tự do nhờ ngủ nên thoát khỏi hiện thực, bắt đầu chơi đùa với dạng thức khác nhau của ẩn dụ dành cho những mục đích mới – như một nhà thơ chơi đùa với ẩn dụ, lật xoay chúng để tạo nên ý nghĩa.

Tiên nghiệm của anh trở nên mạnh mẽ bởi chính hành động kể lại giấc mơ cho cả anh và tôi cùng nghe. Anh cho tôi biết, qua nhiều năm điều mà Ephron và Carrington đã tìm thấy trong nghiên cứu một số R.E.M chiêm bao – rằng trong lúc (sức khỏe tâm thần của) một người tiến bộ theo với phân tích, không những chỉ có biểu tượng trong mơ trở nên dễ truyền đạt mà tự chính giấc mơ cũng trở nên có nhiều tính truyện hơn. Trong tiểu luận lôi cuốn của họ, Ephron và Carrington chứng minh rằng nhiều người ở lần chữa trị đầu tiên, giấc mơ của họ không những rời rạc phân mảnh và/hoặc không mạch lạc mà còn thiếu cả nhân vật và không có kết cấu. Rồi trong lúc bệnh nhân dần bình phục, nhân vật xuất hiện trong chiêm bao cũng như tình tiết của nó; thể như họ đang học cách sử dụng những tiến trình tiên nghiệm của họ, rất giống một nhà thơ tính truyện sử dụng khi làm thơ.

Tôi thấy, không những người ta chỉ học cách sử dụng ẩn dụ, biểu tượng, và kể truyện trong lúc cùng thực hành nghệ thuật phân tâm với tôi mà họ còn học cách sử dụng hình thức, như một “nhà thơ hình thức” dùng cả hai vần và luật để tạo nên tác phẩm nghệ thuật, một phương tiện để thám hiểm hiện thực nội tâm. Những người dùng vần luật đều biết rằng phương sách này thay vì gò bó, nó lại giúp tạo nên trạng thái xuất thần đưa đến những đẳng cấp sâu hơn trong tâm tưởng của mình. Thí dụ, chúng ta biết rằng vần dẫn đến sự nối kết ý nghĩa mà ý thức thường không sao chạm đến được. Bởi vì vần hình như là một cách để kết tụ vài ngả phối hợp đến từ những huyễn mộng vô thức.

Một bệnh nhân của tôi, canh tân lối chữa trị cũng như trong phát minh bệnh lý học, tìm ra phương pháp phối hợp tự do có hiệu quả hơn là kể cho tôi nghe những giấc mơ hoặc nói bất cứ gì hiện ra trong đầu. Anh vặn mờ đèn phòng ngủ và viết xuống những vần anh đặt ra trên xấp giấy dài. Anh giữ những vần này cuốn theo nhau cho đến khi chúng đưa đến một chất liệu hãy còn lạ lùng đối với tiên nghiệm hay vô thức. Vần giúp anh nâng lên chất liệu vô thức từ những bó buộc của chế phục, làm anh ta trở nên khỏe mạnh hơn, và vần biến thành những bài thơ đơn sơ.

Trong lúc làm việc với anh, tôi tình cờ đọc một cuốn sách, bản in giờ đã hết, của một tác giả tài ba và không mấy nổi tiếng, Theodore Thass-Thienemann, ông đã tìm và chứng minh trong hai quyển, ngữ nguyên học là con đường vương giả dẫn đến vô thức. Trong phần mang tựa đề “Sound Association and Rhyme,” ông nói (và tôi nghĩ rằng rất đáng để chép lại nguyên văn cả đoạn):

Khi có sự phối hợp của âm thanh, cũng sẽ có sự phối hợp của ý nghĩa… Nếu ta xem xét… một hoặc vài khái luận về vần, ta sẽ tìm thấy lần nữa sự xác nhận không cố ý của diễn dịch tâm lý qua dữ kiện triết học… Thơ thời trung cổ ưa chuộng những công thức vần tiêu biểu. Những công thức này đã được khảo sát kỹ bởi vô số kinh nghiệm nói, cho đến khi chúng đạt được sự chấp nhận tiêu biểu chung; kết quả chúng thường trưng bày với sự phân loại đặc biệt những đặc tính riêng của vần. Trong thơ trung cổ Đức, vần tiêu biểu thông thường nhất là kết nối lip:wip (chữ Đức hiện đại là Leib: Weib, “body”:”woman” – tạm dịch “thân hình”:”đàn bà”). Tuy nhiên, chữ Đức Leib không phải chỉ có “body” và “body-self” trong ngôn ngữ không dùng nữa, mà còn là “womb” (tử cung); Mutter-leib, đúng là “mother-body,” nghĩa giản dị là “womb”. Vần này được lặp đi lặp lại, ám ảnh dai dẳng trong tất cả thơ trung cổ Đức. Trong “Parzival” của Wolfram có một trăm hai mươi ba lần, và những bài thơ khác cũng có con số tương tự. Đâu là lý do lặp lại cách dùng công thức vần này? Ta biết được từ thí dụ bệnh lý, những lặp lại như thế là sự tuôn chảy của cưỡng chế và lo âu. Phối hợp “Tử cung” – “đàn bà” là căn nguyên lớn nhất của đè nén nỗi sợ và lo âu. Và còn có nhiều thí dụ tương tự nữa.

Qua nhiều thế kỷ, cá nhân chủ nghĩa ngày càng tăng, những công thức vần tiêu biểu mòn nhẵn đến độ biến thành dấu ấn của thơ dở nhất. Mỗi nhà thơ tự trọng đều cẩn thận né tránh như một thứ cấm kỵ (taboos), nhưng nhìn từ quan điểm tâm lý, loại vần-cấm-kỵ bị né tránh trong thơ thế kỷ mười tám cũng phơi bày chẳng kém gì những hình ảnh tiêu biểu trong thời Trung Cổ. Tôi lựa một trong những vần không có gì đặc sắc này như một kiểm thử cho diễn dịch ở trên. Ở thời trung cổ tiếng Đức muot-guot-tuot-bluot (tiếng Đức hiện đại Mut, “boldness”-gut, ”good”-tut, ”does”-Blut, “blood”) là một công thức thường dùng; nó dường như giản dị nói, tính can đảm (của trái tim) là những việc tốt. Công thức này thành vần-cấm-kỵ tầm thường Blut-Mut, “blood-boldness, bravery”. Tôi chọn những chữ hợp vần Đức vì tiếng Anh tương tự, blood, boldness, không hợp vần với nhau. Tuy nhiên, nếu cả hai khái niệm này đi với nhau trong tiếng Anh, phối hợp này sẽ đi qua sự kết nối vô thức của ý nghĩa. Tuy vậy, trong trường hợp này, công thức hợp vần Đức cũng không phải chỉ là sự phối hợp âm thanh mà thôi. Nhìn đến ngôn ngữ của Shakespeare ta thấy blood and boldness, cho dù không hợp thành một phối hợp vần mang vẻ thu hút lẫn nhau. Shakespeare nói, “The world will say, he is not Talbot’s blood / That basely fled when noble Talbot stood.” Tuy là vần khác nhau nhưng sự phối hợp của những ý nghĩa riêng biệt vẫn có. Một thí dụ khác: trong ngôn ngữ Shakespeare: “Be bloody, bold and resolute”; hay “He is bold and blushes not at death”; hay “O the blood more stirs to rouse a lion than to start a hare.” Những thí dụ như thế sinh sôi nảy nở và tập hợp trong cả một ngữ vựng chứng minh rằng những phối hợp thanh âm là biểu thị của ý nghĩa.

Để kết luận, thể nói rằng những thí dụ này chứng minh, những ý nghĩa đáng ngờ đã được phối hợp trong Anh ngữ không có vần; hậu quả là, nếu chúng được liên kết bằng vần, như trong Đức ngữ, thì hợp vần ấy cũng được ước đoán là “hợp vần của ý nghĩa.” Luận thuyết này đã bị chối từ một cách mãnh liệt bởi thí nghiệm tâm lý học, nhưng lại được xác nhận qua diễn dịch chiêm bao.

Phối hợp thanh âm nảy ra vài lạc thú từ cái kho thích nhại tiếng người khác một cách tự kiêu, được kinh qua bởi đứa trẻ. Nó nảy mầm từ lớp vỏ ngôn ngữ vô thức đầu tiên. Nó chân thật với cái ngôn ngữ lãng quên của ảo tưởng vô thức. Diễn dịch phân tích cố gắng dịch ngôn ngữ ảo tưởng vô thức này ra ngôn ngữ nói bình thường. Vần là một trong những đặc tính của ngôn ngữ gần như lãng quên và không ai biết của ảo tưởng. (173-75)

Thass-Thienemann là người duy nhất trong số những nhà văn phân tâm học sử dụng những từ trong thơ để giải thích tâm tưởng hoạt động, tạo nên cả hai, bệnh lý và sức khỏe. Có bốn người (Susan Deri, Laurence Kubie, Henry Krystal, và Joyce McDougall) đặc biệt lưu tâm đến việc diễn tả những khuyết điểm trong việc dùng biểu tượng để dẫn đến bệnh lý, và sử dụng trôi chảy những biểu tượng bên trong tâm tưởng và giữa tâm tưởng với thế giới bên ngoài, giúp tạo nên sức khỏe (tâm lý.) Mô hình sức khỏe của Deri là người nghệ sĩ đang sáng tác. Khi chúng ta “mạnh khỏe,” tiên nghiệm chuyên chở biểu tượng qua lại giữa những tiến trình vô thức và ý thức. Khi chúng ta “bệnh hoạn,” đó là vì tiên nghiệm đã gắn liền một cách cứng ngắc hoặc với hiện thực hoặc tiến trình vô thức. Thay vì thương thuyết đời sống nội tại và ngoại giới với nhau bằng những biểu tượng cộng hưởng, tiên nghiệm lại dựa trên cliché và ký hiệu, ngắt đi ảnh hưởng và chỉ phát ra trong tác động ngẫu nhiên.

Như thế, khi chấn thương khốc liệt hay sự lặp lại xảy ra, theo đó là sự bất lực hiển nhiên, biểu tượng hóa ảnh hưởng mà tâm tưởng bị sốc đang dựa hầu như hoàn toàn trên những ký hiệu. Một cựu chiến binh Việt Nam tôi đã chữa trị, cố tìm cách đọc người khác qua cảm tính, để có thể có câu trả lời đúng, tùy theo trường hợp. Cách nói của ông, Krystal gọi là “thích nghi” – hầu như hoàn toàn thiếu sự trầm bổng. Khi tôi hỏi đến sự phối hợp với chiêm bao (ít có và rất đơn giản) thì ông thường cho biết một cách máy móc, nhiều chi tiết hơn, không có màu sắc nhịp điệu, giống như một đứa trẻ kể lại tình tiết của một cuốn phim.

Trong cuốn Plea For A Measure Of Abnormality, Joyce McDougall thấy sự hình thành của triệu chứng rất quan trọng trong việc giúp những tâm tưởng tê cứng đó sống còn – nhất là khi sự thay thế là căn bệnh trí mạng psychosomatic, thứ bệnh khi tâm tưởng tê cứng, đưa đến việc dùng cơ thể một cách câm nín để truyền đạt cái đau. McDougall giúp những người như thế tránh được hiểm nguy psychosomatosis với triệu chứng bảo vệ dựa trên lời nói của chứng loạn thần kinh. Một khi chứng loạn thần kinh hình thành, McDougall từ từ giúp họ mang cái tâm tưởng tự vệ đến sự thật và tiến trình biểu tượng hóa uyển chuyển mà chúng ta gọi là (tâm thần) mạnh khỏe.

Như hầu hết những nhà phân tích hiện nay, nhất là những người chú ý đến truyện kể hay biểu tượng hóa, McDougall cẩn thận không dùng phân loại chẩn bệnh để miêu tả con người. Thay vào đó, trong hai cuốn rất hay Theaters Of The Mind và Theatres Of The Body, bà dung hợp ẩn dụ rạp hát, cả hai cho sự thấu hiểu những thất bại trong các tiến trình biểu tượng hóa và miêu tả cuộc du hành nội tại mà bà và bệnh nhân trải qua để chữa trị:

Khi dùng rạp hát như một ẩn dụ cho hiện thực tâm thần, tôi hy vọng tránh được sự phân loại tâm thần căn bản của thực thể y học. Những từ này áp dụng cho triệu chứng chứ không phải cho con người. Để nói một người nào đó là “điên khùng” (neurotic), “điên loạn” (psychotic), “làm việc xấu” (pervert), hay “loạn thần kinh hủy cơ thể” (psychosomatic), nó chỉ hơn việc đặt tên một chút xíu, chứ không đủ để diễn tả sự thể phức tạp và tinh tế là cá tính con người. Nó không những chỉ nuôi ảo tưởng rằng chúng ta đang nói một điều gì thích đáng về một người nào đó, mà còn ám chỉ rằng phần còn lại của chúng ta đều thoát khỏi bi kịch tâm thần nằm dưới triệu chứng mà những từ này nói đến.

Mỗi rạp-hát-bí-mật trong ta… đều giao ước trong việc diễn lại những vai trong quá khứ, dùng kỹ thuật đã khám phá ra ở tuổi thơ và tái sản xuất, với sự chính xác kỳ lạ, cũng những bi hài kịch ấy, với chung cuộc y hệt, cùng lượng đau và lạc thú như cũ. Thứ đã từng cố gắng tự chữa nỗi đau tâm thần và mâu thuẫn giờ lại là triệu chứng mà một người lớn, ta làm lại nữa, theo sau những giải quyết thời con trẻ giờ đã quên. Cảnh kết cuộc phân tâm này có thể gọi là mất trật tự tâm thần hay tự tôn, ghiền hay làm việc xấu, tâm thần hay thác loạn thần kinh, nhưng chúng đều đến từ cái Tôi trẻ con cần tự bảo vệ để chống lại những nỗi khổ tâm thần (3-7).

Nhà phân tâm bước vào những bi kịch thi vị của người bệnh, một cách biểu tượng hóa, với quan niệm giúp họ viết lại bi kịch, để chúng không còn là những hướng dẫn vô thức cố định, gò bó đời sống. Để làm được việc này một cách an toàn, nhà phân tâm phải có một kiến thức sâu kín với “những cá tính nội tâm và viễn kiến riêng” đến từ sự phân tích và tự phân tâm lấy mình. Kết quả, nhà phân tâm phải phân giải hai người cùng lúc, người được phân tâm giải và ông hay bà phân tâm gia, với sự nhận biết toàn triệt rằng người được phân giải sẽ đưa cả hai trên hành trình, dẫn đến những nơi không biết trước và nguy hiểm cho cả hai. Trong mỗi buổi phân giải, sự việc cùng-chữa- trị sẽ xảy ra, nếu nhà phân tâm vẫn mở rộng tâm tình và không ngừng đặt câu hỏi.

Roy Schafer trong The Analytic Attitude gọi phân tâm học là “cuộc đối thoại” và tả nó như cuộc đối thoại tính truyện, trong đó câu truyện lẫn lộn và bao quanh về cái tôi, ta đã học để sống bằng cách đi lại kinh nghiệm ấy một cách tích cực trong sự chuyển nhượng và làm lại một cách khó khăn, thể như thế giới tính truyện của một nhà thơ sẽ là thế. Schafer nói rằng,

Người ta trải qua cuộc phân giải – người được phân giải – kể với nhà phân tâm về chính họ và những người khác trong quá khứ và hiện tại. Trong lúc làm việc diễn dịch, nhà phân tâm kể lại những câu truyện này. Trong lúc kể lại, vài đặc điểm được nhấn mạnh trong khi những đặc điểm khác được đặt trong ngoặc đơn; vài đặc điểm được phát triển xa hơn, có thể thông suốt từ đầu tới đuôi. Việc kể lại là một đường dọc theo phân tâm học… sự phân chia trong nhà phân tâm và người được phân giải không cung cấp được vì cường độ ngày càng tăng, trong đó người được phân giải dần biến thành nhà đồng phân tâm những vấn đề của anh hay chị ấy và, trong vài liên quan nào đó, kể cả vấn đề của nhà phân tâm. Người được phân giải, chính thị, biến thành người kể truyện gan dạ và đáng tin hơn. (210-20)

Trong phần kết luận, chúng ta có thể nói rằng mục đích tối hậu của phân tâm học giúp người ta tự chữa bằng cách giúp họ trở thành những nhà thơ tính truyện hay hơn – với một khả năng tập quen để đổi những biểu tượng bí ẩn của triệu chứng ra ẩn dụ, và viết lại xung động và mục đích của những nhân vật nội tại của họ như thế nào, để tình tiết của đời sống có thể thay đổi tốt đẹp nhất, tùy theo hoàn cảnh thực tại cho phép.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

Trong cuốn “After New Formalism” của Annie Finch

TUẦN THƠ 49: SẦU RIÊNG

0
Chu Thụy Nguyên

TRANH LẬP THỂ PICASSO

Người phụ nữ trong tranh lập thể của
Picasso bỗng bước ra khỏi khung
tranh đầu hình thang đáy lớn đáy nhỏ
là cằm trong tòa lâu đài cổ vắng
lặng bỗng vang động “echo” tiếng chân
ả nặng nề khô khốc vừa chạm xuống
nền nhà một tròng con mắt lộ hẳn
ra ngoài tô đậm nỗi hằn học con
mắt kia dẹp lép như chiếc đĩa phẳng
ngực hình tam giác không đều không cân
nhọn hoắt bụng bầu dục lỗ rốn hình
vuông hai cánh tay xoắn như cặp lò
xo khòng khoèo giống hai ổ bánh mì
baguettes ả bước khập khễnh chân thấp
chân cao một chân co lên đặt xuống
một chân kéo lê mỗi bước như một
dấu chấm phẩy ốm như hai ống nứa
một dài một ngắn vừa xuống đến tầng
trệt tòa lâu đài ả bứt hết quần
áo ném lại tung tóe thân thể trần
trụi nổi bật làn da màu gỗ gụ
hai bầu vú đen bóng nhọn cứng ù
chạy ra đường phố sầm uất về phía
ngôi mộ Picasso gọi giục giã
đánh thức lão dậy một lúc sau nắp
ngôi mộ mở ra xác một ông lão
gầy xọp tóc bạc phơ từ từ ngoi
đầu ngồi lên nhìn kỹ ả thều thào
“Nàng chẳng phải là nguyên bản của ta
nàng chỉ là tranh chép!” Nói rồi lão
biến đi như sợi khói! …


Biển Bắc

SẦU RIÊNG

Lần đầu tiên khi ăn phần
sầu riêng mẹ tôi tách ra trái sầu
riêng mang nặng ở chợ về
cho tôi cùng với câu chuyện về trái
gai góc này đêm nào rớt
xuống đầu người ở đợ để lại vết
thương nâu sậm để lại trong
tôi ấn tượng sâu đậm đà khi lần
nào yên ăn phần sầu riêng
cũng đều có hương vị của lần đầu
tiên pha lẫn lần này là
mùi vị đặc thù của mỗi lần mỗi
người ăn và như vậy là
tùy ấn tượng về sầu riêng nên có
người mê cũng có người chê
mùi trái gai góc này đấy bạn ạ …

(đầu 2, không 10)

Bỉm

TỦN MỦN

ở góc đó em ơi
những con mèo đang nghịch
và leo trèo trên cây
chúng không trò chuyện, không
có một bông Quỳnh trắng
ngây thơ nào hết anh
uống nước cà rốt ép
và hút thuốc lá ở
cái quán cafe chúng
mình đã ngồi quán ca –
fe mình anh ngồi cơn
mưa ngoài trời không đủ
ướt những con mèo lặng
lẽ im lìm giữa bốn
bề tường dựng em ơi
không một bông Quỳnh nào
nở bên anh và ly
nước cà rốt ép những
chiếc ghế lạnh những con
mèo không trò chuyện chúng
leo cây và nghịch những
chiếc lá khô.

Sàigòn chiều 11/08

CẠN ĐẦY VÒNG QUANH

năm hoặc hơn năm ly
trà đá hẻm bốn bảy
cạn rồi đầy rồi cạn
tới khi những cái miệng
ngậm chặt sự im lặng
bao quanh tiếng xe cộ
tiếng rì rầm người lố
nhố năm hoặc hơn năm
ly trà đá không thể
bốc hơi mà chỉ thể
cạn rồi đầy rồi cạn
tới khi những cái miệng
ngậm chặt sự im lặng


Đài Sử

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ CUỐI CÙNG CỦA MỘT DÒNG HỌ

những người đàn bà cuối cùng của
một dòng họ họ xếp hàng theo
chiều ngang thời gian và nói bằng
ngôn ngữ lặng những đàn bà của
một dòng họ những người đàn bà
có là cuối cùng những người đàn
bà đi về theo cách riêng của
mỗi người đôi mắt mờ đục

người đàn bà thứ nhất

bà người đàn bà thứ nhất người
đàn bà lớn tuổi nhất tìm những
dấu vết rất cũ trên những người
đàn bà còn lại mang cùng một
họ những ý nghĩ đi từ người
này sang người khác và dừng lại
nơi ngôi mộ cổ hoang vắng lũ

soeur

chim về đậu nóc giáo đường tiếng
cù rúc trong chiều lặng lời nguyện
cầu âm vang người đàn bà thứ
nhì đôi mắt lòa vô hồn khoác
chiếc áo dòng tự hồi con gái
những giọt nước mắt những tiếng khóc
vô tình được chôn sâu và người
đàn bà thứ nhì thờ phụng chuá
cùng người bà thương yêu vô cùng
ông là cha của một dòng giáo
xứ người cuối đầu trước một mối
tình chân nguyên đã ra đi mãi
tự năm trước khi những bông tuyết
đầu mùa vừa nở chuông giáo đường
nghe nhẹ lênh thênh những cây nến
được thắp vào đêm sáp chảy dọc
thân nến và bám lại những hình
thù kỳ quái chập chờn trong ánh
đèn nhà thờ mờ vời vợi người

người đàn bà thứ ba

đàn bà đẫy cười vỡ tiếng cười
mang máng mùi lá uá điệu mozart
sâu rền khóc bằng tiếng cello lạc
thổ ngữ xứ người người đàn bà
thứ ba với hạnh phúc đếm bằng
đơn vị đêm đèn vàng rượu đàn
ông tiền và một cái họ mờ
trong tâm tưởng nhưng lúc nào cũng
như những ngọn roi quá khứ quất
vào hiện tại những tiếng thở than
quay về với người đàn bà thứ
ba khi đèn sân khấu tạm đóng
lại những chuyến bay đưa người đàn
bà thứ ba trở về ngôi mộ
cổ hoang vắng luôn có một ghế
trống không người đàn ông nào ngồi
vào để lấp cái trống vắng đó

người đã mất

vẫn còn con gái chưa một lần
lấy chồng người đàn bà nhoẻn miệng
cười âm thầm và đẹp mãi trong
khung hình trắng đen người đàn bà
với vóc dáng nhỏ chông chênh như
chiếc thuyền nhỏ ngày nào trên biển
chông chênh một lần rồi thôi người
đàn bà trẻ mãi với tháng với
năm những u ám của biển những
sự độc ác của con người không
hiện hữu trên khung hình trinh trắng
của người đàn bà mùa đông không
người đi về và người đi xa
như mọi năm đông năm nay cóng
lạnh hơn tuyết tan tác trắng đến
tận những vùng ký ức xa mù
những cọng nắng lập loè vương vất
những người đàn bà họ lại gặp
nhau bên kia bờ đại dương những
người đàn bà cuối của một dòng
họ họ tiễn đưa người đàn bà
thứ nhất đi về nơi sau cùng
cái nơi mà mọi người sẽ lại
gặp nhau cái nơi mà những xấu
xa không tồn tại hai khung hình
một gìa một trẻ hai người đàn
bà hai thế hệ chiếm một góc
khiêm tốn trên chiếc bàn thờ của
người đàn bà thứ nhì có tượng
chúa bị đóng đanh trên cây thập
tự thời gian làm rỉ máu họ

cầu nguyện

cầu nguyện họ đọc kinh của chính
họ những lời kinh lời đi về
của những người con lên núi và
xuống biển ngày nào họ mang chung
một dòng họ một dòng họ của
những chia cách một dòng họ của
những mất mát một dòng họ của
những hận thù cắng đắng và chính
họ những người đã viết ra những
lời nguyện ước những lời bội ước
vào thánh kinh của một dòng họ

người đàn bà cuối cùng

những dòng nước đổ dồn xuống mặt
đất trời mưa sùi sụt chồi xanh
bục ra từ những cành khô bật
thức dậy những sự sống nhỏ nhoi
người đàn bà nhìn xuyên qua khung
kính cửa sổ trong suốt bóng người
đàn bà vượt ra khỏi thân xác
băng qua khung cửa và tận hưởng
cái tinh khiết cái vô cùng của
đất trời của tạo hoá


Đòan Minh Hải

CHÂN GIÓ

Mỗi người chỉ có hai chân hai chân
bước đều hay hai chân đều bước có
khi chân này bước mà chân kia lui
và chân này lui nhưng chân kia bước
Nhiều lúc đang đi chân trái bỗng muốn
ngoặt về phải và chân phải quẹo hẳn
về trái cũng có lúc chân phải bước
sang chân trái và chân trái lại cứ
Bước sang phải có khi đang bước thì
chân phải bảo ngừng mà chân trái cứ
bước và khi chân trái đã ngừng lại
rồi mà chân phải không ngừng được …
Rồi cũng có lúc hai chân muốn ngừng
mà vẫn cứ bước rồi cùng bước đều
và đều bước và cũng chỉ có hai
chân thôi mà đôi khi chân này dẫm
Lên chân kia và chân kia đạp lên
chân này cứ thế mà nhào đầu chổng
đít lên trời …

Tặng anh Khế Iêm

Đòan Vương

NỤ CƯỜI ĐỂ LẠI

Tôi cũng có một câu
Chuyện về một người đàn
Bà nó không ồn ào
Lao xao như câu chuyện
Về người đàn bà mà
Các bạn vẫn kể người
Đàn bà tôi kể và
Chứng kiến rất thầm lặng
Sau mỗi nụ cười nụ
Cười vẫn tươi nhưng không
Thể làm tươi cuộc sống
Của người đàn bà tôi
Kể sự thầm lặng như
Những kệ hồ sơ vẫn
Im lìm mỗi ngày trên
Kệ gỗ trong căn phòng
Vẫn chật chỗ những kệ
Gỗ nối tiếp nhau ngày
Tháng vẫn trôi mau bút
Tích vẫn cứ lưu đày
Trên kệ gỗ và nỗi
Lòng không có chỗ
Chứa đựng những ước mơ
Bởi đồng lương nhà nước
Cứ chờ đến tháng nhận
Rồi là hết ngày lại
Ngày qua không kể hết
Những sự chi tiêu cũng
Làm trĩu nặng đôi điều
Hoài bão là sự hão
Huyền nặng lòng khi người
Đàn bà chợt nghĩ về
Hoài bão từ cái thời
Còn là thiếu nữ cứ
Tích tụ rồi lại im lìm
Im lìm như những dòng
Chữ trong những công văn
Quyết định … nằm trên kệ
Gỗ kia vẫn chung tình
Theo năm tháng đi qua
Với cuộc đời của người
Đàn bà làm công tác
Lưu trữ hồ sơ trong
Văn phòng nhà nước những
Mơ ước đời mình người
Đàn bà lại hy vọng
Đến đời các con làm
Mỏi lòng mong đợi trong
Thầm lặng cuộc đời người
Đàn bà tôi kể dẫu
Mỗi ngày làm việc không
Thể thiếu nụ cười nhưng
Nụ cười không thể làm
Tươi cuộc sống của người
Đàn bà mà tôi đã kể.


Đỗ Kh.

BÀ QUẢN GIA

Chào Khiêm đã nhận được hình và
điện thư thấy rất đẹp và buồn
Thật ra không có buồn nhưng rất
riêng tư thành thử chỉ có thể
là đọc giả nhưng người đọc bao
giờ cũng riêng có ý xem một
Truyện về confetti bị đánh
mất trên một con tàu biển tự
hỏi (không biết Cameron có
đánh cắp để dùng cho Tita
Nic) hôm nay mất một bức tường
tự hỏi (trong nhà có chăng thừa
nhiều vách) tự hỏi ở cửa hàng
bánh mì (sao bà hàng lại trông
Giống như một cái bánh ngọt vẽ
vời) tự hỏi mọi người đều có
thấy mọi thứ như là một loài
thông điệp mặc dù rất khó biết
Nó muốn nói gì tiến trình của
những kết luận hay: ai cũng có
thể nghĩ này nghĩ kia và nghĩ
thế nào cũng chẳng có gì đáng
Để ý “nhưng suy tư này không
trong tầm của bà quản gia và
do thế không được khai triển với
những thành quả gặt hái có thể”
Tôi tự hỏi là (nếu đời anh
là một tiểu thuyết thì đã đến
lúc bắt đầu nên viết) Bích Nga

10/12/00

Gỷang Anh Iên

QUẢ XOÀI ÂM MƯU RƠI VỠ MỘT (NĂM) LY TRÀ ĐÁ

Khi tôi ngồi ở hẻm
47 và gọi một
ly trà đá tôi nghe
tiếng nước sôi đang nguội
và tiếng chiếc xe hơi
to vừa đủ bắt chúng
tôi đứng lên nhường lối
để phải ngừng uống ly
trà đá giờ đây nghe
được tiếng đá tan trong
cái sắc vàng vọt của
bóng nước phản chiếu quả
xoài chín mục đang âm
mưu rơi vào đầu tôi
hay chúng tôi khi định
tiếp tục gọi thêm nhiều
hơn năm ly trà đá
giờ đây đã nghe tiếng
rạn vỡ từ sâu bên
trong lòng con hẻm 4
7 giữa tiếng bùng nổ
của những ùn tắc vởn
quanh trong lòng phố sài
gòn.


Hạc Thành Hoa

NHỮNG VIÊN KIM CƯƠNG CỦA BẦU TRỞI

bất ngờ rớt xuống từ
những đám mây màu chì
tích tụ khói đèn bao
nhiêu năm như sao rơi
sao rơi in trên cát
những đóa quỳnh không thực
tôi bàng hoàng khi chạm
vào những hạt mưa chạm
vào sức nóng đôi môi
chạm vào cái lạnh bầu
trời ôi những viên kim
cương bảy sắc cầu vồng
vừa chạm vào tay đã
vội tan thành nước chỉ
còn một bàn tay một
bàn tay đang khóc.


Cover paper: tranh Marka Batiashvili

THẬT MÀ

0

Nguyễn Văn Vũ
THẬT MÀ
Đọc xong bản tin tân hình
Thức rồi tôi cảm thấy như
Cái gì rất mới chạy vào
Con mắt chạy vào trong đầu
Bỗng nhiên muốn nói ra một
Điều gì dễ dàng như thở
Như hát một bài thơ tình
Nho nhỏ hay hát một bài
Dân ca nhẹ nhàng mà mẹ
Tôi đã hát ru tôi ngủ
Khi tôi nằm khóc trong chiếc
Nôi mây chỉ to bằng một
Cái sàng sàng lúa của bà
Tôi để quên lâu ngày sau
Tấm phên mục sau chuồng heo
Và tôi đang viết thật dễ
Dàng như thổi con tu huýt
Thổi cái bóng bay ngày thơ
Hay như đang thở hay như
Đang uống một ngụm nước dừa…
15 pm 13.10.2015
 
Tranh bài: “Cổ tích”, sơn dầu, họa sĩ Thái Tuấn

TUẦN THƠ 52: CHUYỆN BẮT ĐẦU

Thân Công Báo_góc chợ Hóc Môn
Thân Công Báo_góc chợ Hóc Môn

Chùm thơ nhiều tác giả

Hồ Đăng Thanh Ngọc

THỨC DẬY GIỜ ĐÓ

Buổi sáng tôi thức dậy cùng
với ánh sáng của sa mạc
và với cái đuôi của cơn
ngái ngủ lì lợm đu theo
cái bướu lạc đà thơ em,
rồi tôi thấy em thức dậy
cùng với niềm hân hoan bình
minh đang lên tươi mươi ngày
Bấy giờ sa mạc không còn
cả vết chân lạc đà, bão cát
đã chôn lấp những giấc mơ
cả những giấc mơ chạy trốn
Em thức dậy cùng tôi trên
thân phận đóa hoa tàn úa
dưới bỏng cháy của sa mạc
tỉnh thức này thật khủng khiếp
tôi không muốn thức dậy, em
không muốn thức dậy nữa, bấu
víu vào giấc mơ sót lại
nhưng …
đã thức dậy mất rồi!

chiều 22/4/2012

Hoàng Huy Hùng

BÀI CA LÃNG QUÊN

Giấc ngủ quên tôi ngủ quên trong căn
phòng đêm tối cũ kỹ cũ kỹ trong
giấc ngủ giờ đã chìm vào yên ả
cùng bài hát còn vang từ chiếc điện
thoại kỷ niệm bên tôi ôi bài ca
quen thuộc tôi yêu bài ca xưa cũ
vẫn còn bên tôi bên tôi trong căn
phòng đêm tối êm đềm trong giấc ngủ
êm đềm tôi đã thành xưa cũ trong
khung trời xưa cũ cùng thời gian miên
man không ngừng những thế giới bên ngoài
kia là những đợt sóng vỗ vào trong
giấc ngủ mộng mị vùi sâu trong bài
hát là người bạn thân như một kỷ
vật suốt đời tôi trân quý và những
kỷ vật thân thuộc thời đã xa dần
cùng với một tôi nào khác lạ lẫm
thức giấc sống trong một không gian nào
quá đỗi ma quái hư thực lãng quên
lãng quên.


Hường Thanh

MỘT NGƯỜI HỎI TÔI TRÊN ĐƯỜNG

trước của nhà tôi đứng
ngồi xuống rồi ngồi đứng
lên vì không quen ngồi
xổm lâu trước cửa nhà
mười tám giờ chiều kể
về mười bảy giờ trước
đó tôi chẵng có đứng
ngồi xuống rồi ngồi đứng
lên vì chờ đợi chứ
không phải vì tôi khó
chịu sự chờ đợi bây
giờ là sự quen thuộc
nhất trong cuộc đời tôi
tôi ngó quanh tôi nghiêng
qua nghiêng lại như thể
sự chuyển động đang ngó
nghiêng vào thời gian này
để bất chợt thấy một
người đi trên chiếc ves
pa màu đỏ dừng lại
dưới ánh đèn đường vừa
bật lên từ hai ba
mươi phút trước đó trong
khi tôi vẫn đang đứng
ngồi xuống rồi ngồi đứng
lên theo thói quen của
thường ngày và mọi ngày
thôi tôi nhìn thấy trên
chiếc xe đó là một
cô gái và cô gái
ấy hỏi tôi một điều
mà có vẻ như đang
lập lại như thể sự
chuyển động đang ngó nghiêng
qua lại vào phía tôi
tôi không biết trả lời
gì cho cô gái ấy
cho nên tôi để mười
tám giờ chiều trả lời
và tôi rồi lại cứ
đứng ngồi xuống rồi ngồi
đứng lên chờ đợi sự
quen thuộc trở về trong
cửa nhà…

26.8.2013

Khánh Hà

CHUYỆN BẮT ĐẦU

Chuyện một người đàn ông
và một người đàn bà
ở chung trong một ngôi
nhà là chuyện bắt đầu
cho tất cả là đầu
mối của mọi sự rắc
rối, buồn vui là nguồn
cảm hứng của văn chương
nghệ thuật và tất cả
tất cả từ khi thế
giới bắt đầu từ khi
con người bắt đầu không
biết đến bao giờ mới
chấm dứt chuyện ông A –
dam và bà E – và một
đàn ông và một đàn
bà khi người đàn ông
và người đàn bà mở
cánh cửa một ngôi nhà
thì mọi chuyện bắt đầu.


Khế Iêm

NHỮNG ĐỨA TRẺ

Những đứa trẻ lạc lõng
trên đường phố sài gòn
năm tháng trôi qua còi
cọc lớn lên năm tháng
trôi qua quẩn quanh kiếm
sống nơi gầm cầu bãi
rác những đứa trẻ việt
nam những đứa trẻ phi
châu ôi những đứa trẻ
những đứa trẻ syrie
irag afghanistan
những đứa trẻ tỵ nạn
những đứa trẻ hiện hình
trên mặt phẳng những bản
tin những đứa trẻ bị
cán dẹp những khổ đau
những khổ đau không còn
nước mắt những đứa trẻ
chẳng còn đứa trẻ những
đứa trẻ sinh ra trong
thời đại thông tin những
đứa trẻ sinh ra trong
thời đại vô cảm những
đứa trẻ xa cách thế
giới những thế giới xa
cách con người những con
ngừơi đánh mất con người
những cái ảo xóa nhòa
cái thực những trò lừa
những đứa trẻ bị xóa
nhòa tan biến những khổ
đau bị xóa nhòa tan
biến những cuộc đời chẳng
còn cuộc đời những ảo
ảnh nhưng cuộc đời vẫn
là cuộc đời cuộc đời
là những bản văn những
bản văn không nhân văn
trò lừa của những trò
lừa những đứa trẻ ôi
chao không khác những đứa
trẻ ôi chao chỉ là
ký hiệu những rỗng không
những ký hiệu không ký
hiệu.


Lê Hưng Tiến

BẠN TÔI

Quý gửi một bạn gái đã khuất
nằm mê hoang dã rồi tôi
hùa phận mình vào cõi xa hốc sợi
tình lên phiến đá cho tàn
thu rêu xanh chợt nghe nao nao đời
con gái vùi chớm giấc hoa
bên thánh giá trên chuyến xe chiều ôi
phiền muộn chở ngả đau chín
tầng mây … bóng ác ngửa ngửa nghiêng nghiêng
heo may gió heo may cát
heo may sương heo may khói … thằng bạn
tôi trần trụi rẻo buồn và
nung nấu từng sợi heo may dường như
mối tình ấy bao nhiêu cho
đủ sương đủ khói mà bạn tôi mỗi
khi chỉ thiên vào ký ức
ký ức tuôn ra máu mủ xô bờ
tôi đánh thức im lặng sợi
dây bấn bíu trên đường chỉ tay, có
lẽ bạn tôi níu sợi tình
chưa dài hơn tay ba bốn bảy gì
đó nên sóng gió cuồn cuộn
ú a ú ớ, nhưng sớm mai ai
biết được khói thơm phần mộ
hồn con gái độc thoại trong tâm tưởng
bạn tôi và giọt nắng lại
trong trẻo nguyên vẹn bao ngày.
Ai biết được …


Lê Ngọc Quế Anh

LÝ QUA CẦU

Ới a … vừa qua cầu em
hát câu ngẫu hứng mà cũng
đâu phải bổng dưng em ngẫu
hứng … Ới a … mà em hát
điệu lý qua cầu vì em
thấy anh vừa đến trên cao
nhìn đàn tàu ồn ào qua
ngang bến vắng anh than rằng
sao thuyền theo dòng mà không
vào bến cho nên em mới
hát tặng anh bài ca ngẫu
hứng ới a … điệu lý qua
cầu!


 MrDao

BỨC TƯỜNG CỬA SỔ

Trên bức tường có nhiều cửa
sô tôi thấy những mảnh hình
vuông xếp xen kẽ và ngăn
nắp với những mảnh đời … những
cánh cửa lúc đóng lúc mở
và những ai đang đóng cánh
cửa sổ của mình im ỉm
kia hãy bật chốt bỏ khóa
mở bung nó ra để bức
tường cửa sổ không đơn điệu
với thật nhiều cánh cửa cùng
góp mình vào bức tranh đời
và đừng sợ những cánh cửa
đã rêu màu thời gian cứ
mở nó ra để thấy được
không gian bên ngoài cho cả
bề mặt trong cánh cửa không
ố mốc vì ẩm thấp và
trong chấn song cửa gỗ kia
có ánh mắt biết nói thật
vậy sao không mở cửa ra
mở ra mở ra cho bức
tường cửa sổ thêm sinh động
và cho những mảnh hồn nhỏ
không khép lại trong không gian
u tối …


Nguyễn Thánh Ngã

TÔN NGỘ KHÔNG ĐẤT SÉT

đến thăm đường hầm điêu khắc ở
Đà Lạt xuất hiện một bầy khỉ
đất sét trông rất giống bầy khỉ
ở Hoa Quả Sơn trong Tây du
ký thuở nào những con khỉ đất
sét đã nhận ra tôi khi tôi
đến chào Tôn Ngộ Không và chụp
hình với Lão Tôn ở đường hầm
điêu khắc những con khỉ nhảy múa
gọi nhau chí chóe chỉ một mình
tôi thấy chỉ một mình tôi nghe
bởi chú khỉ trong tôi vẫn còn
nhớ chúng khi đọc truyện lúc xem
phim đã tạo nên những hình ảnh
khi những hình ảnh đập vào mắt
tôi thì bầy khỉ đất sét không
còn đất sét, Tôn Ngộ Không đất
sét không còn đất sét khi tôi …

UNTRACED

0

Huy Hùng
UNTRACED
Rất bình thường trong một
ngày bình thường đó là
một ngày x tháng y
năm z gã chợt reo
lên trong ý tưởng đột
xuất: phải ngụy trang lại
bộ mặt của gã phải
bảo hành bảo hành bảo
hành bộ mặt của gã
không dấu vết không được
để lại bất cứ một
dấu vết nghi hoặc nào
nơi bộ mặt của gã
đối với bất cứ ai
không dấu vết tất tần
tật tí tì ti ti
ti ti ti không dấu
vết sau sự tích “Chiếc
áo lông ngỗng” không dấu
vết tất tần tật sau
sự kiện gã phát hiện
tí tì ti ti ti
ti ti tàn thuốc lá
gã hút trong phòng riêng
không dấu vết tí tì
ti ti ti ti ti
sau sự kiện gã phát
hiện một sự thật: một
con tép trên mép con
mèo – không dấu vết tất
tần tật những bài thơ
gã đã làm đang làm
và sẽ làm và sẽ
(không) làm được và sẽ
(không) làm xong và sẽ
không để lộ tí tì
ti ti ti ti ti
bất cứ một dấu vết
nghi hoặc nào đối với
bất cứ ai dù chỉ
là một vết xước vết
xước xước xước xước trên
ria mép con mèo lèo
rắn Untraced!
Tranh bài: Vesna Bursich

NHÀ THƠ TRONG THỜI ĐẠI VĂN XUÔI

https://www.antoniocarrenoartist.com/paintings?lightbox=dataItem-ifxe2z1p
https://www.antoniocarrenoartist.com/paintings?lightbox=dataItem-ifxe2z1p
Dana Gioia

Như Ezra Pound vẫn nói, nếu thơ tượng trưng cho “hình thức cô đọng nhất của diễn tả ngôn từ,” nó đã đạt được cá tính giản lược và cường độ bằng cách nhìn nhận cách thức mà chữ đã được dùng trước đó. Thơ không hiện hữu trong cô lập, nó chia sẻ, khai thác lịch sử và văn chương của thứ ngôn ngữ nó được viết ra. Cho dù mỗi bài thơ đều tìm cách tạo dựng nên một toàn hảo tạm thời ở trong và về chính nó, nó đạt được mục đích này qua cách thừa nhận kinh nghiệm cả đời của độc giả bằng chữ, hình ảnh, ký hiệu, truyện kể, âm thanh, và những ý tưởng nằm ngoài chính bài thơ. Cách dùng chữ hay hình ảnh thành công nẩy bật ra bộ liên cấu, bài thơ có thể cô đọng một số lượng ý nghĩa trí tuệ, gợi cảm và xúc động vô lường trong một dòng hay một đoạn.

Lúc R.P. Blackmur lưu ý rằng “khi một chữ được dùng trong bài thơ, nó phải là tổng cộng của tất cả lịch sử thích hợp đã kết thể và riêng biệt trong một bối cảnh cá nhân,” ông có vẻ trừu tượng và phân tích lạnh lùng quá. Nhưng Blackmur là nhà thơ kiêm phê bình gia, và quan sát của ông phản ánh những vấn đề thực tế của cách làm thơ chân thật. Nhà thơ biết rằng độc giả sẽ mang lại tổng số kinh nghiệm của anh hay chị ấy trong cả hai, văn học và đời sống, đến với bài thơ, và bản viết phải chịu được sức nặng chú ý ấy. Thơ hay không bao giờ lượng định giảm thiểu độc giả của nó. Nó tích cực theo đuổi sự cộng tác trí tuệ và tưởng tượng của họ bằng cách giả định và khai thác một cấu kết bổ túc có chung.

Thẩm đoán chính xác điều gì cấu tạo nên cái cấu kết có chung ấy ở bất cứ lúc nào là phần việc của nhà thơ, bởi vì bất cứ truyền thốngvăn chương nào đang sinh hoạt cũng đều thay đổi liên tục. Việc định nghĩa truyền thống biến thành – ngấm ngầm hay ra mặt – một phần của hành động sáng tạo. Tác tạo từ phần kinh nghiệm văn hóa của độc giả mà nhà thơ đã phỏng chừng dùng làm nền cho bài thơ mới, cấu kết này tạo nên truyền thống tiện dụng của thời đại ấy.

Ta luôn luôn có rủi ro bị hiểu lầm khi dùng chữ truyền thống. Ngay ở năm 1917 T.S. Eliot đã nhận xét rằng từ này hiếm khi được dùng “ngoại trừ trong một nhóm từ kiểm duyệt.” Nói đến truyền thống là nhắc đến hình ảnh những cuốn sách cũ trong thư viện mốc meo hay hàng hàng bức tượng chân dung bằng cẩm thạch đóng bụi dọc dài theo tường. Nhưng khi nói đến “truyền thống tiện dụng” tôi cố ý nói đến một điều nhỏ hơn và thực dụng hơn – đấy chính là cái phần nhỏ của quá khứ mà nhà thơ dùng được ở một thời điểm riêng biệt trong lịch sử. Cái truyền thống tiện dụng này không phải là một thực thể cố định mà là một khái niệm năng động. Nó thay đổi – và thật thế, phải thay đổi – không phải chỉ từ thế hệ này sang thế hệ khác mà còn từ lớp độc giả này sang lớp độc giả khác.

Sáng tác một bài thơ cần – có hay không ý thức – khái niệm về một lớp độc giả. Để tạo nên thứ ngôn ngữ cần đến sự chính xác và cường độ, người viết phải phỏng đoán câu trả lời xác định của độc giả cho từng chữ, từng ý tưởng, từng hình ảnh. Một vài tác giả, như Shakespeare, hiểu biết độc giả trực tiếp. Những người khác, như Wallace Stevens, chỉ giản dị cho rằng có một lớp độc giả vô hình với trí thông minh uyên bác nhậy cảm. Còn những người khác nữa, như Pound trong Cantos, tìm cách phát minh, qua chính bài thơ, lớp độc giả lý tưởng chưa có mặt. Bất kể trường hợp nào vừa nói trên, ý tưởng của tác giả về lớp độc giả giúp anh hay chị ấy hình thành bài thơ. Trong quá khứ, quan hệ giữa nhà thơ và công chúng hình như không có vấn đề gì cả. Xã hội lúc đó chặt chẽ và đồng dạng hơn. Truyền thống văn hóa thay đổi chậm chạp, và độc giả cùng chia sẻ một số kiến thức và quan tâm bình thường. Nhà văn – kể cả những người canh tân như William Blake hay Walt Whitman – thường có thể lựa chọn lớp độc giả mà tri cảm của lớp độc giả ấy họ hiểu được (nếu không muốn nói là ủng hộ) và những giả định văn hóa chung chung họ cùng chia sẻ.

Ngày nay, nhà thơ đối diện một vấn đề thực tế khi cố gắng định nghĩa một truyền thống văn hóa bình thường tiện dụng cho họ và độc giả. Cái khó khăn này bắt nguồn từ xã hội đương đại, nơi mà sự gặt hái thông tin liên tục ngày càng phân tán độc giả vào những nhóm văn hóa chuyên môn không chia sẻ một cấu kết bổ túc bình thường nào. Trường hợp lại càng tệ hơn nữa bởi sự dời đổi văn hóa ra khỏi chữ in như là căn nguyên chính của thông tin và giải trí. Mặc dù vấn đề không hẳn riêng trong văn chương nhưng ảnh hưởng đến nhà thơ nặng nề hơn những nghệ sĩ khác vì nó hủy diệt cái cấu kết hồi tưởng đã cho thơ sự tập trung và cường độ riêng biệt. Làm cách nào để một nghệ thuật xuyên bản như thơ giữ được sức mạnh trong một nền văn hóa không còn học hỏi và yêu chuộng bản viết bằng chữ nữa? Nếu các nhà thơ giới hạn độc giả của mình trong những nhóm vẫn còn xem trọng chữ viết, thì làm sao họ viết cho những người không còn biết thơ là một môi giới nghệ thuật nghiêm túc được?

Chỉ cần nhắc đến sự nguyên tử hóa đời sống văn hóa Mỹ cũng đã đủ để hệ thống báo động ở mỗi trường phái tư tưởng bật sáng. Nhưng – trong giới hạn của tiểu luận này – tôi xin độc giả gác qua một bên tất cả mọi lý thuyết tại sao việc phân mảnh này xảy ra, mà còn gác qua cả chuyện thay đổi ấy có là một biến cố tích cực hay tiêu cực hay không. Ở đây, yếu tố liên hệ duy nhất là khái niệm truyền thống mà một nhà thơ nghiêm túc thời 1940 ưa chuộng đã không còn hiện hữu nữa. Chúng ta sống ở một xứ sở mà sinh viên năm đầu đại học không biết cuộc Nội chiến xảy ra ở thế kỷ nào, không thể nhận biết ngôn ngữ đối thoại thời La mã cổ, và không thể kể được tên một nhà thơ Lãng mạn. Không những các sinh viên này chưa bao giờ đọc một trang của Milton, mà còn có thể là họ cũng không hiểu nổi nếu như có đọc. Đề từ một bài thơ gần đây của Edgar Bowers tóm tắt một cách thích ứng trường hợp này. Nhắc lại lời của một sinh viên, “Apollo là ai?” Dĩ nhiên, sinh viên, không hoàn toàn đại diện cho cả lớp độc giả Mỹ, nhưng họ là, mượn tạm một thành ngữ của môn kinh tế, mức đo lường có thể tin tưởng được về những phương hướng văn hoá chung chung.

Vì nhà thơ không còn viết một cách ức đoán cho lớp độc giả đa dạng dùng chung một cấu kết lịch sử, văn chương, khoa học, thần thoại, và tôn giáo, anh hay chị ấy đối diện một loạt thỏa hiệp khốn khổ. Nhà thơ có thể lột trần ngôn ngữ của mình khỏi phần lớn những tham chiếu và cấu tạo nên một loại văn vần tối thiểu đạt được sự trong sáng với cái giá phải trả là sự thấu hiểu và cường độ. Hoặc, nhà thơ có thể để vào đấy một bố cục riêng tư (mà ở xã hội vị kỷ của chúng ta, gần như không tránh khỏi là tự truyện) thay thế cho cái bố cục truyền thống đại chúng đã mất. Phương pháp tự truyện đạt được tính trực tiếp nhưng lại mất tính phóng khoáng và quan chiếu. Hoặc, nhà thơ có thể tán đồng một tư tưởng đại chúng (thường là tín điều chính trị hay tôn giáo) để cung cấp một kết cấu xác định trước. Phương pháp này đạt được sự tiếp cận và chiều sâu nhưng thường với cái giá phải trả là ngay lập tức và độc lập. Sau cùng, nhà thơ có thể giới hạn độc giả của mình trong tầng lớp có học vẫn còn hiểu được những tín hiệu văn chương truyền thống – một quyết định giữ được cường độ của nghệ thuật thơ nhưng lại phó thác sinh khí và kết cấu có chung cho may rủi.

Ta có thể dễ dàng nhìn thấy lịch sử thơ Mỹ cận đại như một loạt dấy loạn chống lại và dung hợp với phạm trù văn hóa của người viết. Hầu hết những cách tân lớn đều bắt nguồn từ sự bất mãn về việc thơ bị sung công trong giới hàn lâm. Mỗi phong trào trọng đại mới đều cố gắng hình thành một vài hợp quần có ý nghĩa nằm ngoài đại học – vừa liên kết thơ với truyền thống văn hóa sinh thời, vừa hồi phục sinh khí cho truyền thống ấy với mục đích xã hội chân thật. Thí dụ như nhóm the Beats, nối viễn ảnh văn chương của họ với thái độ bất tương hợp của phe Tả, chống lại truyền thống văn hóa. Các nhà thơ Da Đen tìm lại tiếng nói của chính chủng tộc bị tước quyền của họ. Những nhà thơ chống đối ở cuối thập niên sáu mươi thần thọai hóa bố cục chính trị của thời chiến tranh Việt Nam thành truyền thống văn học cho đại chúng tham dự. Các nhà văn phái nữ tán đồng cấu trúc tư tưởng thuyết nữ quyền để mang lại trong thơ của họ một quan hệ xã hội lớn lao. Bất cứ gì có thể nghĩ đến là thành công nghệ thuật của những phong trào này, ta phải nhận thức được cái năng lực nẩy giật khởi đầu mà thành công ấy đã đem lại, bằng cách tái thiết sự liên kết thơ với nền văn hóa rộng lớn hơn. (Nhưng, mỉa may thay, mỗi cuộc dấy loạn đến từ giới hàn lâm hầu như đều bị dập xuống ngay tức thì bằng cách đồng hóa người lãnh đạo của phong trào ấy trong giới đại học, và sự va chạm trên văn hóa chung chung sau cùng bị giới hạn).

Thuyết Tân hình thức đại diện cho cuộc dấy loạn mới nhất trong loạt chống đối tính biên tế văn hóa của thơ. Sự thay đổi chung chung trong cảm tính văn chương, mà rồi sẽ được gọi là chủ nghĩa Tân hình thức, đã bắt đầu cách đây 20 năm khi một nhóm nhà thơ trẻ tạo ra – phải nhìn nhận là chỉ có trong tâm trí của họ – một lớp độc giả mới cho thơ. Xa lạ với loại thơ đang được tán thưởng và truyền bá ở đại học, những nhà thơ trẻ này – như tất cả mọi thế hệ nhà văn mới – tìm cách định nghĩa nghệ thuật đang ló dạng của họ qua quan hệ với lớp độc giả tưởng tượng. Những độc giả lý tưởng của họ không phải là nhà chuyên môn về thơ trong những chương trình Viết Văn, độc đoán bác bỏ loại thơ thể luật và tính truyện. Họ cũng không phải là những chuyên viên của ngành Văn khoa, thường quý giá sự khó khăn trên hết.

Lạc điệu với nhóm độc giả hàn lâm tuy nhỏ nhưng vững chắc về thơ mới, những người viết trẻ này bèn tưởng tượng thay vào đấy là những độc giả yêu mến văn chương nghệ thuật nhưng, hoặc chối từ hoặc chưa bao giờ biết đến dòng thơ đương đại. Đây không phải là khối độc giả của truyền hình hay radio, đối với những người này, chữ viết không phải là phương tiện thông tin chính yếu. Đó là lớp độc giảcủa văn xuôi – những cá nhân thông minh, có học, và phức tạp, tuy không còn đọc thơ nữa, nhưng vẫn ưa thích tiểu thuyết loại nghiêm túc, phim ảnh, kịch nghệ, vũ, nhạc cổ điển, tranh, và những nghệ thuật hiện đại khác. Trong khi những độc giả văn xuôi này có kinh nghiệm giới hạn về thơ đương đại, họ lại ít tiên kiến hơn về thơ đương đại nên hay không nên như thế nào. Đối với họ, thơ có thể luật hay tính truyện không vi phạm bất cứ cấm đoán lý thuyết nào trước đó, vì họ thưởng thức nhịp điệu, thể luật và truyện kể một cách không vị kỷ xem chúng vẫn là những yếu tố tự nhiên của nghệ thuật đại chúng như nhạc rock, nhạc kịch, và điện ảnh. Viết cho lớp độc giả chung chung mà thơ đã đánh mất từ lâu, những nhà Tân hình thức lựa chọn chấp nhận thay vì khước từ những khuynh hướng văn hóa rộng rãi trong thời đại của họ. Thay vì là những cái gai trong dòng nhóm văn hóa, họ mong mỏi biến thành nhà thơ trong thời đại văn xuôi.

Cho dù những nhà thơ Tân hình thức có thật sự với tới lớp độc giả rộng lớn này hay không, không phải là vấn đề ở đây. Điểm quan trọng – như những nhà thơ Beats và nhà thơ sức mạnh da đen trước đó – họ tìm cách phá vỡ tình trạng văn hóa trí tử nan giải đang xiết cổ nghệ thuật của họ. Trong trường hợp của các nhà thơ Tân hình thức, sự cố gắng này dính dáng tới việc tạo nên một lớp độc giả lý tưởng bình thường để định nghĩa những truyền thống văn hóa có ích cho họ, như những nhà thơ. Họ đánh liều trong việc theo đuổi lớp độc giả văn xuôi thường xa lạ với thơ nghiêm túc thay vì hướng đến những bè phái hàn lâm đang có mặt. Khi làm như thế, họ đã mặc nhiên ra khỏi hàng ngũ mô hình đang thịnh hành của thơ đương đại, khước từ những quan niệm thẩm mỹ siêu phức tạp hay thông minh hóa cao độ của những nhà thơ hàn lâm thời trang như Ashbery, Olson, Creeley, hay Merwin là những người mà tác phẩm của họ dường như chính yếu chỉ nhắm vào lớp độc giả riêng biệt gồm có các nhà phê bình và nhà thơ đồng nghiệp mà thôi.

Không rõ rệt như trên, ít nhất ngay từ đầu, là sự kiện các nhà thơ trẻ cũng từ giã những tiêu biểu thơ hình thức của thế hệ trước (như Merrill, Hecht, hay Hollander), là những người tự cho mình là người canh giữ cho truyền thống văn hóa cao Âu châu đang lâm cảnh hiểm nghèo. Lần tuyệt giao đầu tiên được tuyên bố với lời lẽ mãnh liệt bởi các nhà thơ trong phong trào hầu hết đều ít có cảm tình với dòng chính hàn lâm. Tuy vậy, lần tuyệt giao thứ hai lại không được mạch lạc rõ ràng cho lắm, vì người viết trẻ thường ngưỡng mộ những nhà thơ thể luật thời trước và xem họ như đồng minh văn chương. Tuy nhiên, hướng đi tất nhiên của thơ Tân hình thức cho thấy quan niệm thẩm mỹ của hai trường phái già trẻ không thể nào dung hòa được trên nhiềuphương diện.

Vì không có xung đột ra mặt giữa hai thế hệ già trẻ, một vài nhà phê bình đã dồn hai phe thành một. Những người gièm pha thường phê bình các nhà thơ Tân hình thức không làm nên điều gì mới cả. Theo họ, những nhà thơ trẻ này là lớp vỏ ngoài chứ không phải nhà cách tân, vì họ chỉ tiêu biểu cho thể thơ truyền thống Mỹ nối dài của những thập niên 1940, 1950. Lý luận kiểu này có đặc điểm giản dị, nhưng tiếc thay, nó cho thấy là họ không biết về những gì mà các nhà thơ trẻ này thật sự viết. Ta chỉ cần so sánh một bài thơ của Merrill hoặc Hollander với bài thơ của Tom Disch hay Molly Peacock cũng đủ nhận thấy họ khác nhau cấp tiến như thế nào qua độc giả, thể loại, âm sắc, di sản văn hóa, và ngay cả trong vận luật nữa. Sự lầm lẫn giữa hai nhóm tuy có liên quan nhưng bất đồng căn nguyên thế hệ, ta có thể đoán, nằm trong chính cụm từ chủ nghĩa Tân hình thức, là cụm từ rất dễ lầm lẫn. Ta không cần phải triết lý tối thiểu để biết rằng bất cứ người nào có hy vọng hiểu được một phong trào nghệ thuật – dù là Tân hình thức, Hiện đại, hay Lãng mạn – phải phân biệt được chính cái tên và hiện tượng mà cái tên ấy cố miêu tả. Cuộc tìm kiếm có trách nhiệm sẽ bắt đầu với những tác phẩm thật thụ mà phong trào ấy có, chứ không thể kết luận đại khái về cái tên mà những nhà văn học đã đặt cho một cách thờ ơ qua tuyên cáo thuở đầu của phong trào.

Bằng cách chỉ chú ý đến sự hồi sinh hình thức thể luật, cụm từ chủ nghĩa Tân hình thức đã làm mờ khuất sự thay đổi lớn lao hơn trong tính đa cảm của những nhà thơ trẻ này đang tỏ bày. Sử dụng nhịp điệu và vần luật chỉ là khía cạnh dời đổi thẩm mỹ sâu đậm hơn ra khỏi văn hóa bè phái trong giới đại học. Tính đa cảm mới này cũng dẫn đến sự trở lại của thơ tính truyện, thám hiểm văn hóa đại chúng cho cả thể thức và chủ đề, khước từ vẻ giả tạo avant-garde, bất tín những chủ đề tự truyện hẹp hòi, dùng lời nói đời thường tự nhiên không hổ thẹn, và khôi phục cảm xúc trực tiếp không châm biếm. Nhìn từ khía cạnh này, phong trào có thể được tả một cách chính xác hơn bằng một từ thay thế khác là thơ Mở Rộng (Expansive). Thuật ngữ này nắm được những quan tâm chiết trung và tham vọng văn hóa rộng lớn hơn của phong trào. Trong khi khả thi để chủ tâm một cách lợi ích trong việc hồi sinh thể luật thơ, thứ nhận thức hẹp hòi như thế lại có cái rủi là lỡ đi những vấn đề văn hóa to lớn đang lâm nguy. Nó còn bóp méo cả quan hệ giữa những nhà thơ trẻ hình thức và tính truyện với những nhà thơ thế hệ trước.

Có vài liên tục nối kết giữa các nhà thơ Tân hình thức và Phê bình Mới. Cả hai nhóm đều xác nhận nhịp điệu và thể luật là những phương thức chính đáng và “hữu cơ” của sáng tác văn chương. Họ còncho những bài thơ đã làm xong là một tác phẩm nghệ thuật có ý thức hơn là một sáng tạo ngẫu nhiên hay may rủi. Và cả hai trường phái đều tin rằng cốt yếu thơ là một nghệ thuật xuyên bản. Nói một cách khác, họ cho rằng thơ chỉ liên hệ đến đời sống qua lăng kính tự liên tưởng phức tạp của ngôn ngữ và mỗi bài thơ riêng biệt chỉ phô bày trọn vẹn ý nghĩa của nó trong bối cảnh văn chương rộng lớn.

Tuy vậy, ở những khía cạnh khác, quan niệm thẩm mỹ của nhóm Tân hình thức và Phê bình Mới bất đồng ý kiến với nhau. Nếu họ cùng chia sẻ niềm tin trong sự cần thiết đặt những bài thơ mới liên hệ với truyền thống, thì lại khác nhau đến độ không hòa giải được trong việc định nghĩa truyền thống nào dùng được cho những nghệ sĩ đương đại như họ. Nếu cả hai đều nhận thức được sự quan trọng của ý niệm độc giả trong việc hình thành bài thơ, mỗi nhóm lại chọn lấy một loại độc giả khác nhau. Tiếp đó là sự lựa chọn về âm sắc, văn phong, và chủ đề trong tác phẩm theo những đường hướng căn bản khác nhau mặc dù những tương tự đôi khi có trong vận luật. Và sau cùng, nhận biết lệch hướng về truyền thống có sẵn và độc giả dự kiến của họ dẫn đến chỗ theo đuổi những phương cách và thể loại khác nhau trong diễn bày văn chương. Tuy vậy, sự kiện hai trường phái văn chương khác nhau tự trong bản thể này không có gì đáng ngạc nhiên, vì mỗi trường phái xuất hiện trong một thời điểm lịch sử riêng biệt.

Thế hệ hình thức thời trước trưởng thành lúc Đệ nhị Thế chiến, và sự xuất hiện của họ trùng hợp với lúc văn hóa Mỹ thời hậu chiến đang nở rộ. Cái giả định trí tuệ đằng sau tác phẩm của họ phản ánh niềm tự tin bồng bột trong ưu thế quốc tế mới của Mỹ. Đi quanh Âu châu trong tư thế lính chiến hay nghiên cứu sinh học bổng Fulbright (hoặc kiêm cả hai), họ nhất quyết phải đứng ngang hàng với Cựu Thế giới bằng cách chứng tỏ sự tinh thông những phương cách truyền thống. Như thế, những nhà văn thế hệ trước này cũng là thế hệ đầu tiên của nhà thơ trong lịch sử văn học Mỹ đã đi vào thế giới đại học bằng số đông – đấy là môi trường mà họ nhận ra là thông minh và có nghệ sĩ tính thích hợp. Và cũng ở đấy, họ nhất định hướng đến đồng nghiệp hàn lâm của mình một cách bình đẳng. Họ làm những bài thơ cho thấy tài sử dụng trọn vẹn truyền thống văn chương Anh ngữ, hiểu biết và sung động bởi chủ nghĩa Hiện đại quốc tế. Trong nhiều trường hợp, liều mạng để bảo vệ (và sau đó, bỏ cả sự nghiệp giáo chức cho) nền Văn hóa phương Tây, họ phỏng chừng – như một trung tâm tư tưởng – đấy là sự quen thuộc sâu xa của độc giả với văn chương truyền thống. Tác phẩm của họ được làm ra để gánh trọn sức nặng của truyền thống và chịu đựng được sự soi mói của phê bình khảo sát. Tác phẩm của họ đòi hỏi trí tuệ, thẩm mỹ tự thức, tách rời cảm xúc, và cấu tạophức tạp. Độc giả của họ, theo định nghĩa, giới hạn trong nhóm đồng nghiệp trí thức của hàn lâm và nghệ sĩ ưu tú.

Nhóm Tân hình thức xuất hiện trong thời điểm ít lạc quan và giả định hơn. Họ trưởng thành lúc văn hóa mục rã ở thời đại chiến tranh Việt Nam, khi một loạt cách mạng tư tưởng thách đố những khái niệm bình thường về giá trị văn chương và chủ thể trí tuệ, hình thành quan niệm thẩm mỹ của thế hệ trước họ. Ý tưởng truyền thống – bao gồm luôn cả nguyên tắc hệ luận về thể loại, cách chọn lời, thi pháp và thể thơ – bị bác bỏ. Khái niệm kinh điển thông thường về một tác phẩm lớn ai cũng biết đến đã bị phá nổ nát vụn thành những mảnh truyền thống cạnh tranh lẫn nhau, mỗi mảnh dựa trên quan niệm thẩm mỹ mang tính cách loại bỏ của riêng nó. Nghệ thuật ly dị lạc thú và gắn liền với tư tưởng – nhất là về khái niệm giảm thiểu của avant-garde, cho rằng văn cách, như những họa đồ kỹ thuật của microchip, lúc nào cũng biến hóa chỉ để không hợp thời ngay lập tức bởi sự cách tân kế tiếp.

Nhận ra văn hóa cao đang lạc trong hỗn độn, nhóm Tân hình thức tìm phối cảnh trong văn hóa đại chúng. Trong phim ảnh, nhạc rock, khoa học giả tưởng, và những nghệ thuật đại chúng khác, họ tìm ra hình thức truyền thống và thể loại, mà hàn lâm đã bất tín nhiệm vì lý do tư tưởng trong nghệ thuật cao, vẫn còn được dùng một cách tích cực. Ngây thơ với lý thuyết, bằng một cách nào đó, quần chúng không còn hiểu được vần luật, thể loại và tính truyện là những phương cách xuất chúng của đàm luận làm ra để chế ngự tính cá biệt của họ mà thôi. Những tên khờ khạo ấy (quần chúng) thật sự tìm thấy thú vị và lạc thú trong những kỹ thuật lỗi thời ấy. Khoảng cách giữa thứ mà hàn lâm tuyên bố là đại diện cho nghệ thuật đại chúng và chính tự biểu trưng thật sự muốn là khích bác tưởng tượng. Các nhà thơ trẻ nhận thức được rằng, sau cuộc cách mạng, trong khi có thể quần chúng kêu gào cho thơ dự phóng và những sô kịch câm tân-DaDa, thì hiện tại lũng đoạn cho thấy là một thứ nghệ thuật dễ tham dự hơn đang được tiếp nhận.

Điều mà nhóm Tân hình thức – và những người đồng chí hướng trong âm nhạc, nghệ thuật, điêu khắc, và kịch nghệ – tưởng tượng đến là một phương cách tưởng tượng mới lấy chất liệu từ nghệ thuật đại chúng – những thể loại dễ tham gia, những chủ đề tâm tình ngay thẳng, cái khôi hài khiếm nhã, linh hoạt tính truyện, và tính chân thực của ngôn ngữ – và phối hợp chúng với sự chính xác, súc tích và tham vọng của nghệ thuật cao. Họ vẫn giữ trọn lời ký thác vào căn bản tuyệt mỹ của văn hóa cao nhưng nhận thức được rằng nghệ thuật nghiêm túc ấy đã biến thành xa lạ và tự gieo giống đồng tộc (inbreed). Như những nhà thơ Lãng mạn Anh và Đức tìm cách sửa đổi Tân-Cổ điển thế kỷ mười tám bằng cách đón nhận những dân ca lý tưởng hóa, huyền thoại, và ngôn ngữ thông thường, nhóm Tân hình thức lãnh trách nhiệm đòi hồi phục thơ đương đại bằng cách trộn lẫn những mô hình dân chủ và ưu tú trong một tổng hợp mới.

Công cuộc táo bạo đầy tưởng tượng trộn lẫn văn hóa cao và văn hóa đại chúng này làm bối rối hầu hết những nhà phê bình giới hàn lâm là những người đã cố gắng khảo sát chủ nghĩa Tân Hình Thức dựa trên những tập tục thông thường trong lãnh vực chuyên môn của họ. Vì phong trào này không có ý nghĩa gì hết trong khung cảnh cường tiến Hiện đại thường được dùng trong đại học để thảo luận về thơ đương đại, nó chỉ có thể được xem như là vài thứ tuyên ngôn thi vị, trở lại thế hệ Wilbur và Nemerov. Và cũng vậy, vì thể thơ và chủ đề lấy từ văn hóa đại chúng nằm ngoài những phương sách kinh điển của đại học về văn chương đương đại, những nhà tiền phong gạn lọc này hoặc vô hình hoặc khó hiểu đối với hầu hết những nhà phê bình. Trong khi nhiều lý thuyết gia văn chương có ảnh hưởng bàn luận say mê về văn hóa đại chúng nói chung, họ hiếm khi nào tỏ bày nhiệt tâm đến những đặc điểm rực rỡ của nó. Vì chủ tâm của họ chính yếu là tư tưởng, chính trị chứ không phải lạc thú biến thành nguyên tắc chủ yếu của họ. Không giống như những độc giả thật thụ của nghệ thuật đại chúng, họ quan sát nó, nói chung, trong dạng trừu tượng – thường là với yếu tố vô ý thức của nhà giáo dục hạ cố tới sự việc. Cho dù khao khát có được một ý thức chính trị vô giai cấp, họ không thể tránh khỏi điều kiện xã hội trong đẳng cấp ưu tú đại học của họ. Khi bàn bạc đến văn hóa đại chúng, họ cảm thấy bị bắt buộc một cách tự giác phải báo hiệu trình độ thưởng thức trí thức Bà la môn (Brahmin) của mình, bằng cách biểu lộ sự cách biệt phức tạp và trí thức hơn cái chất liệu thua kém đang được khảo sát. Kết quả là khái niệm, một nghệ sĩ nghiêm túc dùng những hình thức phổ thông không châm biếm, thiếu cách biệt, và phi chính trị làm cho những lý thuyết gia đương thời không những kinh ngạc mà còn xấu hổ.

Một vài nhà phê bình ngay lúc đầu đã hiểu được tính chính yếu của thơ tính truyện đối với công cuộc của Tân hình thức. Mặc dù sơ thiển không dính dáng gì đến cách dùng vần và luật, sự hồi sinh của thơ tính truyện cho phép những nhà thơ trẻ nói lên được vài vấn đề chung của văn hóa rộng lớn hơn, dẫn dắt họ trở lại với thể luật thơ. Trước hết, nó cho họ một phương cách văn chương bao hàm, tuy không được những lý thuyết gia hàn lâm ưa chuộng, nhưng lại hấp dẫn ngay lập tức lớp độc giả không-chuyên-nghiệp của tiểu thuyết và truyện ngắn. Thứ hai, truyện kể cung cấp cho các nhà thơ trẻ một thể loạitránh được chủ nghĩa tự yêu trong phong cách tự thú (thường làm bại hoại tác phẩm của thế hệ trước) và cho phép họ viết trực tiếp về những tình huống cảm xúc cao độ. Thứ ba, nó cho họ cơ hội cách tân vì thơ tính truyện đã không còn được tích cực khai phá bởi nhà thơ Mỹ từ thời Frost và Jeffers. Sau cùng – và cũng xảo diệu nhất – thơ tính truyện lấp đầy khoảng trống để lại bởi sự dần dần biến mất của bối cảnh văn hóa thông thường. Theo định nghĩa, một câu truyện tạo nên bối cảnh riêng trong lúc diễn biến. Những bối cảnh tâm lý, xã hội, và văn hóa kín đáo mà tiểu thuyết cấu tạo trong tâm trí độc giả cho phép truyện kể thắt lại ở những chỗ nào đó và đạt tới thời điểm luyến láy mạnh mẽ – “epiphanies” một độc giả của Joyce gọi thế –tiêu biểu cho hiệu quả thi vị tinh túy. Sự nghèo nàn về văn hóa đại chúng khiến cho khó mà đạt được những nối kết liên tưởng trong thơ trữ tình mà không giới hạn độc giả trong nhóm ưu tú. Bằng cách cấu tạo bối cảnh ad hoc (một lần duy nhất) của riêng mình trong bài thơ tính truyện, nhóm Tân hình thức theo đuổi thứ epiphanies tưởng tượng như thế trong phương thức tiếp cận rộng rãi hơn.

Tuy nhiên cái phương thức mới, đặc biệt cho thấy là không thể tham dự được bởi giới hàn lâm, đã đặt ra những khái niệm về thơ đương đại phải hoặc không phải là cái gì. Thí dụ như bài hùng ca khoa học giả tưởng, The New World của Frederick Turner, đã gặp phải sự chưng hửng hoặc sách nhiễu của những nhà bình luận hàn lâm, ngay cả khi nó nhận được những lời khen ngợi từ những tờ định kỳ không thuộc giới hàn lâm. Cũng như thế, tiểu thuyết thơ của Vikram Seth (sắp đặt theo kiểu kịch xã hội soap opera), The Golden Gate, bị gạt bỏ bởi một nhà bênh vực néo-avant-garde như Marjorie Perloff nhưng lại được chào đón nồng nhiệt bởi cả ngàn độc giả tiểu thuyết phức tạp. Nhiều nhà phê bình không hiểu được quan điểm rõ rệt rằng những người trong phong trào – như Timothy Steele hay R.S. Gwyn – đã phục hồi sinh khí cho thơ tình, thơ chế giễu, và thơ tính truyện, không phải từ những chủ nghĩa văn chương đồ cổ mà vì cả hai, tác giả và độc giả không thuộc giới hàn lâm, thật sự có khoái lạc với những thể loại này. Tôi nghĩ rằng, đấy không phải tình cờ, mà những nhà phê bình ký thác vào cái “mới” thường bỏ sót cái nguyên thủy nhất trong chủ nghĩa Tân hình thức. Và cũng không phải là tình cờ khi nhiều người trong nhóm lãnh đạo Tân hình thức hoặc làm việc ngoài đại học, hoặc nếu họ là thầy giáo, thường dạy về văn chương hơn là dạy về khoa viết văn. Như Perloff và những nhà phê bình khác đã lưu ý, phong trào ấy là cả hai, đáp lời thế hệ và đối nghịch, cho cái hôn mê của thơ dòng chính, hàn lâm Mỹ.

Đặc tính thế hệ và đối nghịch của chủ nghĩa Tân hình thức tối hậu là căn nguyên cho cả hai sức mạnh và yếu điểm của nó. Nếu phong trào mới có được linh hoạt và tự tin của tuổi trẻ, nó thường cho thấy sự ngây thơ, liều lĩnh và thiếu kinh nghiệm. Nó còn có tính cứng cỏi của một nhóm đã tự định nghĩa mình ngược chiều với thực hành dòng chính. Nhưng nếu cái khởi nguyên ấy phú cho các nhà thơ sự độc lập mạnh mẽ và bất cần đối với phê bình thời thượng và mẫu mã chuyên nghiệp đã làm suy yếu dòng thơ đương thời, thì nó cũng khuyến khích một thứ tự cho mình là chánh đáng thiển cận. Ta thấy tính hẹp hòi này rất rõ giữa đám cứng đầu trong nhóm Tân hình thức trẻ tuổi là những người có bản chất chống chủ nghĩa hiện đại. Là nhà phê bình, thì họ thường có khuynh hướng chiến đấu hơn là thám hiểm những ý tưởng mới, là nhà thơ thì họ lại có hướng bắt chước hơn là cách tân. Tuy vậy, những nhà truyền thống nóng nảy đó, chỉ đại diện cho một số nhỏ trong cái phong trào lớn lao đa dạng này.

Chủ nghĩa Tân Hình Thức vẫn còn là một phong trào trẻ đang trên tiến trình phát triển và tự định nghĩa. Bỏ qua những chống đối tích cực của thế hệ tuổi trung niên đã từng chiếm ưu thế trong thi ca, phong trào mới này không những chỉ tạo được tên tuổi mà còn thay đổi cả chương trình nghị sự của thơ Mỹ đương đại qua nhiều cách quan trọng. Thứ nhất, nó đã dời đổi sự quan tâm của thơ đương đại bằng cách mang sự chú ý nghiêm túc về thể luật, phương cách, và thể loại sau hàng thập niên bị quên lãng. Thứ hai, thơ và phê bình Tân hình thức đã dân chủ hóa đàm luận văn chương. Thơ có được sự tiếp cận của độc giả không chuyên môn. Cũng thế, bất cứ giới hạn nào mà họ có trong phạm vi nhà phê bình, nhóm Tân hình thức đã viết về thơ bằng những đặc ngữ đại chúng và như thế, vừa làm sống động vừa tiêu hủy huyền thoại phê bình. Sau chót, sự trở lại với thể thơ, tính truyện và những thể loại truyền thống làm thay đổi khái niệm dùng lại quá khứ bằng cách hồi sinh những khả thể đang giấc miên hàn trong thơ Mỹ ở thế kỷ hai mươi. Đến nay thì dường như những nhà thơ lớn có liên hệ với tính truyện như Frost, Jeffers và Robinson là trọng điểm của thực hành thơ đương đại. Trong lúc này những thay đổi mang lại bởi chủ nghĩa Tân hình thức vẫn còn tiếp tục với mức độ nhanh chóng, và số lượng thơ mới xuất hiện ngập tràn quá đỗi để có được một phán đoán vững chắc về chỗ đứng lâu dài của nó, nhưng không có gì để nghi ngờ nữa, phong trào ấy đã biến dạng và mở rộng nhiều khả thể cho nền thơ Mỹ.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch
Trong cuốn After new formalism, Annie Finch chủ biên, 1999
Tranh bài: Antonio Carreno

IN MEMORY OF W. B. YEATS

 


IN MEMORY OF W. B. YEATS
W. H. Auden – 1907-1973

I

He disappeared in the dead of winter:
The brooks were frozen, the airports almost deserted,
And snow disfigured the public statues;
The mercury sank in the mouth of the dying day.
What instruments we have agree
The day of his death was a dark cold day.
Far from his illness
The wolves ran on through the evergreen forests,
The peasant river was untempted by the fashionable quays;
By mourning tongues
The death of the poet was kept from his poems.
But for him it was his last afternoon as himself,
An afternoon of nurses and rumours;
The provinces of his body revolted,
The squares of his mind were empty,
Silence invaded the suburbs,
The current of his feeling failed; he became his admirers.
Now he is scattered among a hundred cities
And wholly given over to unfamiliar affections,
To find his happiness in another kind of wood
And be punished under a foreign code of conscience.
The words of a dead man
Are modified in the guts of the living.
But in the importance and noise of to-morrow
When the brokers are roaring like beasts on the floor of the Bourse,
And the poor have the sufferings to which they are fairly accustomed,
And each in the cell of himself is almost convinced of his freedom,
A few thousand will think of this day
As one thinks of a day when one did something slightly unusual.
What instruments we have agree
The day of his death was a dark cold day.

II

You were silly like us; your gift survived it all:
The parish of rich women, physical decay,
Yourself. Mad Ireland hurt you into poetry.
Now Ireland has her madness and her weather still,
For poetry makes nothing happen: it survives
In the valley of its making where executives
Would never want to tamper, flows on south
From ranches of isolation and the busy griefs,
Raw towns that we believe and die in; it survives,
A way of happening, a mouth.

III

Earth, receive an honoured guest:
William Yeats is laid to rest.
Let the Irish vessel lie
Emptied of its poetry.
In the nightmare of the dark
All the dogs of Europe bark,
And the living nations wait,
Each sequestered in its hate;
Intellectual disgrace
Stares from every human face,
And the seas of pity lie
Locked and frozen in each eye.
Follow, poet, follow right
To the bottom of the night,
With your unconstraining voice
Still persuade us to rejoice;
With the farming of a verse
Make a vineyard of the curse,
Sing of human unsuccess
In a rapture of distress;
In the deserts of the heart
Let the healing fountain start,
In the prison of his days
Teach the free man how to praise.


 TƯỞNG NHỚ W. B. YEATS

I

Ông biến mất trong cái chết mùa Đông
Những dòng suối đóng băng, những phi trường trống trải,
Và tuyết làm biến dạng những pho tượng ngoài công cộng;
Nhiệt kế xuống thấp trong ngày nhà thơ hấp hối.
Phép đo nào chúng ta đồng thuận
Ngày cái chết của ông là một ngày tối lạnh.
Xa hơn sự đau yếu của ông
Những con sói vẫn chạy qua những cánh rừng xanh,
Dòng sông quê không bị lôi cuốn bởi những bến cảng tân thời;
Bằng những lời than vãn
Cái chết của nhà thơ không ở trong những bài thơ ông.
Nhưng với ông đó là buổi chiều cuối cùng như chính ông,
Một buổi chiều của y tá và những tin đồn;
Những tỉnh thành của thân xác nổi loạn,
Những quảng trường của tâm trí rỗng không,
Sự im lặng xâm nhập ngoại ô,
Dòng cảm xúc dần tàn; ông trở thành những người hâm mộ ông.
Bây giờ thơ ông được trải khắp hàng trăm thành phố
Và hoàn toàn đem lại những cảm xúc thờ ơ,
Để tìm kiếm hạnh phúc của ông nơi một khu rừng khác
Và bị trừng phạt dưới mã số xa lạ của lương tâm.
Lời của một người chết
Được thay đổi trong lòng sự sống.
Nhưng trong sự quan trọng và ầm ĩ của ngày mai
Khi những nhà môi giới gầm lên như thú dữ ở sàn chứng khoán
Bourse, Paris,
Và những người nghèo vốn quen với nỗi khổ đau,
Và mỗi người trong tế bào của chính mình hầu hết tin chắc vào sự tự do,
Vài ngàn người sẽ nghĩ về ngày này
Như mỗi người nghĩ về một ngày khi đã làm được điều gì khác thường.
Phép đo nào chúng ta đồng thuận
Ngày cái chết của ông là một ngày tối lạnh.

II

Ông cũng ngốc như chúng ta; món quà của ông sống lâu hơn hết:
Khu của những phụ nữ giàu có, tình trạng suy tàn thể xác,
Chính ông. Ái nhĩ lan điên rồ làm ông đau trong thơ
Bây giờ Ái nhĩ lan có chứng điên của nó và tiết trời yên tĩnh,
Vì thơ không làm điều gì xảy ra: nó sống sót
Trong thung lũng của sự sáng tạo nơi những người có trách nhiệm
Không bao giờ muốn đổi thay, chảy về Nam
Từ nông trại của sự cô lập và nỗi sầu khổ lăng xăng,
Nhưng thành phố nguyên sơ chúng ta tin và chết; nó sống sót
Là cách nó xảy ra, là thơ.

III

Trái đất nhận người khách danh dự
William Yeats được yên nghỉ.
Hãy để thân xác ông nằm
Trống vắng trong thơ.
Trong cơn ác mộng của bóng tối
Tất cả chó Âu châu sủa,
Và người sống đợi chờ,
Tách biệt nhau trong lòng căm thù;
Sự suy nghĩ chủ quan nghèo nàn
Trên mỗi khuôn mặt người
Và biển của lòng trắc ẩn nằm
Khóa và đóng băng trong mỗi con mắt.
Hãy theo đuổi, nhà thơ, theo đuổi triệt để
Từ đáy cùng đêm
Với tiếng nói không bị hạn chế
Vẫn còn làm chúng ta hân hoan;
Với sự tu dưỡng một vần thơ
Làm cho sự nguyền rủa trở thành vườn nho,
Hãy hát về sự thất bại của loài người
Trong trạng thái say mê của nỗi khốn cùng;
Trong sa mạc của con tim
Hãy để suối nước chữa lành bắt đầu chảy
Trong nhà tù của thời ông
Dạy cho con người tự do biết ngợi ca.

Khế Iêm dịch


In Memory of W. B. Yeats read by W. H. Auden from Don Yorty on Vimeo.

Đọc và chú giải

W. H. Auden đến định cư ở New York ngày 26 tháng 1 năm 1939. Ba ngày sau, ông nghe tin nhà thơ W. B. Yeats mất, 73 tuổi. Lúc đó Auden mới 32 tuổi. Ông viết bài thơ tưởng nhớ W. B. Yeats trên tờ The New Republic, 8 tháng 3, 1939. W. B. Yeats (1865 –1939), nhà thơ Ái nhĩ lan, giải thưởng Nobel văn chương 1923, là nhà thơ thể luật, bác cầu giữa chủ nghĩa Lãng mạn và hiện đại, một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của thế kỷ 20. Ông sinh ở Ái nhĩ lan, trong một gia đình theo đạo Tin lành, và chuyển tới Luân Đôn sống từ năm mới 2 tuổi. W. H. Auden (1907-1973), nhà thơ Anh, quốc tịch Hoa kỳ, theo đạo Thiên chúa giáo, là nhà thơ thể luật, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ 20.

TẾT RỒI ĐÓ EM

0

Nguyễn Văn Vũ
TẾT RỒI ĐÓ EM

buông tay ra cho bóng vía
bay khỏi đêm ba mươi xóa đường chân
trời đi cho mặt trời đừng
ngại ngùng đạp đất sáng mồng một và
mở toang cánh cửa ra cho
em không ngại ngùng bước vào năm mới
không nhớ lại những tháng ngày
đen đủi sẽ không nơi nào làm em
rơi nước mắt không nơi nào
làm em tủi hờn hãy bay lên sợi
dây neo đã buông chân trời
đã xóa và cánh cửa tự kỷ đã
mở toang hãy bay lên nhớ
làm gì những dấu chân lấm bùn sau
cơn lũ quét những viên đá
cuội đã lăn mất tăm hãy bay lên
bay lên đi đừng quay lại
và đừng khóc hãy bay lên bay lên
đi đừng quay lại và đừng
khóc tết rồi đó em năm mới thì
phải hơn năm cũ em à …
Mồng Một tết Bính Thân

Chùm thơ nhiều tác giả 2: TĨNH VẬT

0

Chùm thơ nhiều tác giả
___________________

TĨNH VẬT

 
Xuân Thủy
ÔI! TRỜI ÔI
trời lại làm mưa mưa
đi đâu đây trong gió
chiều lồng lộng một mình
một mình… lặng nghe gió
đi về tiếng chuông ngân
ngân mõ cóc cóc chùa
nghiêng nước đổ xe hơi
đỗ lại một người đi
đi cánh cò bay trên
tháp rùa kêu gõ nắng
bạc đầu keng keng kinh
kinh nhang trầm thắp khói
lan mờ mờ người mờ
mờ âm thanh lặng tiếng
mõ gõ đều đều đều
người người người này người
nọ người kia đi vào
chùa … người ăn xin ở
cổng xe hơi lăn bánh
lăn bánh trong mưa trong
gió bụi nhòa nhòa…
04/6/2015

Biển Bắc
CON DẾ
Không nằm trong hộp
diêm nhàu mang nhãn hiệu ký
ức mà rất cáo
cạnh trong vỏ da màu hiện
đại con dế của
tôi vẫn gáy vang ran trong
những đêm mưa lả
rả để ru giấc ngủ quạnh
lẻ với đôi cú
tin nhắn sáng lên của rung
động nhột nhạt ấm
áp trong hộp đêm……tôi nằm
(cuối 6, không 8)
 
Đinh Thị Như Thúy
CÂY TRONG SƯƠNG
những tiếng gọi như tan
vào khoảng rỗng sương dâng
mịt mờ suốt một ngày
một đêm dài một ngày
dài một đêm dài rồi
ngày dài rồi đêm dài
tiếp nối những tiếng gọi
cứ tan vào khoảng rỗng
sương dâng mịt mờ chỉ
cây và cây và cây
những cây trổ mầm xanh
bên cầu những cây trơ
trụi lá những cây nứt
ngang thân mầm rễ đỏ
những cây ngơ ngác ươm
hoa nhẫn nại đứng im
lìm trong màn sương bủa
vây như sữa chỉ cây
và cây và cây đầm
đìa chảy từ lá từ
thân những dòng nước mắt
trong suốt lạnh chỉ cây
và cây buồn bã chịu
đựng chỉ cây và cây
vẫn những tiếng gọi như
tan vào khoảng rỗng vẫn
sương dâng mịt mờ suốt
những ngày dài những đêm
dài vẫn chỉ cây và
cây và cây bất lực
cháy những đốm lửa rưng
rưng trong ký ức
20.4.2014
 
Đài Sử
TĨNH VẬT
Ly rượu được đẩy qua
đẩy lại trên bàn bàn
tay cầm ly rượu thay
đổi tốc độ di chuyển
ban đầu của ly rượu
nhanh đến chóng mặt bàn
tay cầm ly rượu tỷ
lệ thuận với tốc độ
của nó lời nói tỷ
lệ nghịch với nó theo
thời gian tốc độ của
ly rượu chậm dần và
rồi những bàn tay hờ
hững với nó và rồi
những lời nói chua chát
với nó ly rượu di
chuyển với vận tốc say
cho đến khi nó không
còn đứng vững ly rượu
rơi vào khoảng không chạm
đất vỡ toang.
 
Đặng Thân
THÁP BÚT
Ngong ngỏng bên nghiên mực. Loi choi
“Tả thiên thanh” như dáng điệu một
Tên dặt dẹo đứng thủ dâm thầm
Lặng suốt trăm năm. Hồn trí thức
Triền miên miền ẩn ức. Cả dân
Tộc lộc ngộc một đoàn người vía
Hồn nhược tiểu. Khí thăng hoa được
Một chút này chăng. Phút thăng hoa
Cưỡng bức. Một thánh thi tạc dựng
Ba chữ “địt mẹ giời” để giải tỏa
Cả khối lòng bi ức của quân
Trí thức. Bất bình chi bấy hóa
Công ơi. Từ bấy cây dương vật
Đá hóa Ngôi Lời. Cả nước vào
Phen dậm dật, sụt sùi, lầm than
Huyết lệ. Thủ dâm ơi nay đã
Thành quốc túy. Tất cả say sưa.
Bao thi sỹ thủ dâm trước nàng
Thơ. Bấy hủ nho thủ dâm trước
Bàn thờ. Nàng thơ hình tam giác.
Cũng là biểu tượng của Tam Tài
Thiên địa nhân. Tam giác Pita
Gore. Ngọn bút… Bàn thờ hình chữ
Nhật. Hình quốc kỳ. Tiền tệ. Mực
Nghiên… Ngọc hành đá cô đọng nỗi
Ưu phiền cẩm thạch phóng tinh hoài
Đầy mãi một Hồ Gươm. Làm cạn
Kiệt cả khí thần sỹ tử. Hồ
Ngàn năm như vết chân Giao Chỉ.
Ướm chân vô kết tử thánh tiên
Rồng. Tồng ngồng bay lên Thăng Long
17.1.2005
 
Đặng Xuân Hường
Ý TƯỞNG
chợt nghĩ đến một ý
rất thơ rồi cũng chợt
quên mất tan mất trong
tâm trí như là chợt
đến chợt đi không còn
dấu vết gì cứ thế
lần mò mãi cũng chẳng
tìm ra rồi bỗng như
thấy đó nằm đó mà
không cách gì diễn tả
được sau đó lại biến
mất trong phút giây trong
tầm tay!
 
Đình Nguyên
BUỔI SÁNG
Lại là một buổi sáng không phải buổi
chiều tôi ngồi cùng anh cà phê buổi
sáng cũng vẫn trăn trở đam mê một
đời yêu thơ vẫn là buổi sáng hừng
hực lửa trong anh cháy không phải buổi
chiều
Nối câu chuyện buổi sáng năm nào buổi
sáng năm qua vẫn ngồi cà phê buổi
sáng và như một con đường tất định
sẽ ắt trở thành buổi sáng luôn ngự
trị trong anh nối dài thao thức yêu
thơ
Câu chuyện muốn viết ra buổi sáng năm
qua rạng rỡ đẹp như buổi sáng còn
có cả một ngày cho ánh hồng dương
đi qua nói thì dài mà vẫn chưa
đi qua buổi sáng tôi nhìn thấy buổi
sáng
Ngọn lửa trong anh cháy y như buổi
sáng rực lên màu sắc đẹp đẽ vô
cùng vì nó được đốt bằng củi đam
mê trong hình hài ốm yếu gã cách
tân thơ sống trọn một đời với thơ…
thơ…
Ai nói gã Khế Iêm ra sao thì
ra chứ tôi thấy trong anh cả buổi
sáng rạng hồng vì thật sự đó chính
là buổi sáng người bạn vong niên của
tôi ơi đừng bao giờ để tắt ngọn
lửa
Buổi sáng đi qua chậm nhưng anh còn
một ngày dài mình vẫn chưa thấy buổi
trưa nên còn nhiều chuyện để làm vào
những buổi sáng anh bình minh tôi cũng
bình minh các bạn bình minh ngày rạng
rỡ
(tặng Khế Iêm)
19-04-2013
 
Đoàn Vương
THÁNG SÁU
Tháng sáu mang trên vai những cơn
mưa dông dài vô tận lận đận
suối nguồn cơn gào thét như dội
về từ ngàn kiếp xa xôi … tháng
sáu xa vời tháng sáu chơi vơi
chợt nhớ chợt quên điều mình chưa
nói đêm trăng em hỏi tháng sáu
trầm tư tháng sáu suy tư nỗi
niềm hoa phượng trong tiếng ve sầu
nén xuống vực sâu trăm ngàn bận
rộn tháng sáu chộn rộn những tiếng
còi tàu xuôi bắc vào nam nỗi
niềm vô vàn in vào đêm vắng
tháng sáu trời nắng tháng sáu trời
mưa em ơi về chưa giao mùa
đang đợi tháng sáu mong đợi tháng
sáu ngậm ngùi những vét chân trôi
hòa trong bóng nước em không giữ
được tháng sáu riêng mình vòm trời
bình minh mắt em bỡ ngỡ tháng
sáu mong nhớ tháng sáu qua rồi
mình em hiểu thôi nỗi niềm tháng
sáu … tháng sáu mang trên vô tận
cơn gào thét dội vào suối nguồn …
06/2013
 
V.Ũ
ETHIC
Ethic khóc gọi mẹ
khi ngoài kia khung cửa
là hơi mưa đã lâu
rồi mẹ không còn hiểu
mưa là gì trong mớ
khái niệm bập bùng của
Ethic trong khi nó
vẫn đang khóc gọi mẹ
vì ngay trên khung cửa
vẫn là hơi mưa bốc
lên từ nấm mồ đã
lâu rồi mẹ vẫn nằm
và không còn hiểu mưa
là gì trong tiếng khóc
mồ côi của Ethic
 
Hạc Thành Hoa
GIẤC MƠ CỦA ĐÁ
Không còn tảng đá nào được yên
thân bởi tiếng búa và tiếng đục
vang lên vang lên ngay dưới chân
nàng đang nuôi một giấc mơ đến
thành đá từ khi có đá dù
trơ trọi một mình vẫn đứng cho
bầu trời bớt trống nàng tối sầm
những khi trời chuyển mưa lại xanh
ngay khi trời vừa tạnh nếu một
ngày nàng âm thầm bước xuống thì
cả bầu trời trống trài vô cùng
giấc mơ cũng không còn nữa nàng
đã thật sự chết ngay khi vừa
sống … khi tôi rời thị xã ra
đi thì nàng đã hóa đá hôm
nay dưới mầu trời xanh ngày đó
không biết nàng có còn là đá
những nhát búa cuộc đời và chiếc
đục thời gian có để cho nàng
được yên với giấc mơ của đá.
 
Hạnh Ngộ
CẢM ƠN EM
Cảm ơn em đã không tô son
Sau khi ăn để anh có thể hôn
Em tự nhiên và không sợ vết
Son dính trên cổ áo bài hát
Về vết son môi trên áo anh
Đã xưa rồi Diễm đã xưa rồi!
Cảm ơn em đã không xài nước
Hoa để anh không phải quay quắt
Nhớ mùi hương ấy trong những ngày
Thiếu vắng em không có mùi em
Anh cảm ơn em đã không thường
Nhắn tin vào những tối bận rộn
Không hỏi ở đâu buồn hay vui
Không nhắn “em nhớ anh” dù biết
Em rất nhớ, cảm ơn em đã
Cho anh những giây phút tự do
Trong ràng buộc với nỗi nhớ em …
Sàigòn, 14–11–2014
Tranh bài: Thomas Arvid

TUẦN THƠ 32: MÙA LAU TRẮNG

0

TUẦN THƠ
_________

MÙA LAU TRẮNG

Khế Iêm
TẾT Ở NEW YORK
Năm cũ không bước qua
năm mới vì năm mới
vốn thông thương với năm
cũ trong lúc lũ tết
và lũ tuyết ập xuống
mái nhà ôm lấy nhau
không chịu tan ra chẳng
khác nào năm cũ nằm
ôm lấy năm mới nhì
nhằng không thể bước qua
nhau mãi cho đến lúc
giật mình thức giấc bởi
tiếng động của cái lạnh
làm se da thay cho
tiếng pháo nhắc tới tết.
20/2/2015
 
Hạnh Ngộ
TÂM BIẾN ĐỔI
Hồi hôm có một chuyện
buồn muốn đi chết buổi
sáng nghĩ đến chiện sầu
bi đó lại muốn vào rừng
sâu không đối diện với
nó thôi ráng đi gội cái
đầu ráng đi pha ấm
trà uống một ngụm vào
bụng ây da trà quá
ngon sao có thể đi
chết trong rừng sâu một
mình giữa buổi sáng hôm
nay thảnh thơi muốn bước
tới thảnh thơi mới biết tâm
mình biến đổi không ngừng
nghỉ buồn vui như thác
nước cũng nhờ ngụm trà
sen của ba mua bữa
trước có bỏ chút tình
thân thiết … phải không ba?
11/9/2014
 
Hường Thanh
TƯỞNG HÌNH
Này cái bàn chẳng biết nói
gì im lìm quá một không
gian cái bàn sao chẳng im
đi những ước lệ là cái
bàn chẳng biết nói gì ngoài
sự hình thành là cái bàn
có những cuốn sách chưa từng
là cuốn sách để tồn tại
trên cái bàn tại sao tôi
không cảm nhận được gì cả
nhưng những ìm lìm trong cái
bàn dưới cái bàn trên cái
bàn góc này góc kia vẫn
chẵng biết nói gì ngoài những
cuốn sách không phải cuốn sách
để trên bàn vuông buồn bã.
10.2014
 
Đinh Thị Như Thúy
MÙA LAU TRẮNG
thật thì chẳng có gì
liên quan (chắc hẳn vậy
rồi) giữa những bông cỏ
lau cứ quẫy ngời ngợi
trong nắng sớm sáng nay
với cái bệnh viện không
dưng đầy ắp các bà
già trầu đầy ắp các
mùi dầu (cả dầu xanh
con ó dầu nhị thiên
đường cả dầu tràm) cả
bàn chân đau tưởng sơ
sịa như không việc gì
bỗng chốc lại hóa ra
nghiêm trọng này chân ta
đã phung phí mi ghê
gớm bởi suốt ngày suốt
tháng suốt năm đã bao
nhiêu dịch chuyển bao nhiêu
công việc bao nhiêu lang
thang bao nhiêu rã rời
đau mỏi giờ thì thôi
chẳng thể bước một bước
cho trọn vẹn một hứa
hẹn bình thường huống hồ
hứa hẹn với những bông
lau (trắng lộng lẫy) cứ
luôn quẫy ngời ngợi bất
kể nắng sớm nắng trưa
nắng chiều hay trong đêm
tối cứ luôn quẫy ngời
ngợi khắp khắp bãi hoang
ở ngoại ô thành phố
20.11.2014
 
Thạch Tốt
BÀI THƠ CHO THIẾU LẬP
Chiếc xe đạp một ngày mười ngàn
Mướn ở khách sạn một cô gái
Nói đi mô về cứ bỏ trước
Cửa á! nhớ trời mưa trời mưa
Chiếc xe đạp thiếu lập ơi có
Còn đi xe đạp qua cầu đập
Đá nhớ ra rồi đừng cười nhé
Chiếc xe bỏ lại trên mui xe
Đò Phương à Phương Belgium
Giờ mi ra răng mụ nhớ lại
Thật dễ sợ bốn giờ sáng hả
Cọc cạch cọc cạch thiếu lập nhớ
Không Phương đã vô nha trang (Phương
Này Phương khác) ngồi giặt áo bên
Bờ sông ờ nhớ chứ bạn thân
Mà (gone crazy by little to love)
Thôi Lập ơi có nhiều thuốc trị
Ho ho khan ho đàm ho lâu
Ngày ăn ngủ không được gầy yếu
Mệt mỏi ho về đêm ho suyễn
Ho dây dưa không dứt nhớ nhé
Uống phế tạng bửu la vạn linh
(có bán ở các tiệm thuốc bắc)
Nhớ mang khẩu trang nha thiếu lập.
29.11.2014
 
Hồ Đăng Thanh Ngọc
TRONG MƯA XUÂN
trong làn mưa xuân vòm long não
kể câu chuyện một ngàn lẻ một
về chiếc ô đi qua chiếc áo
mưa đi qua về chiếc ô đi
qua cùng cái mũ và cái mũ
đi qua cùng áo mưa và cái
mũ áo mưa chiếc ô đi qua
và cả cô gái để đầu trần
đi dưới mưa mái tóc ướt như
một bản hòa tấu puppet on a
string của Poul Mauriat
trong làn mưa xuân những li ti
giọt nước đang vô vàn chuyện kể
về những lời tỏ tình đã chảy
thành sông hôm qua đổ vào để
sáng nay đổ vào biển khơi thành
những đợt sóng triều dâng hôn khẽ
khàng lên những dấu chân chim trên
bờ cát vắng trong làn mưa xuân
trong những câu chuyện tình như có
lửa như chúng đang nở hoa
 
Biển Bắc
T / RỪNG NGƯỜI
Cô còn nhớ lần đầu
khi bước xuống đường đời
đã hỏi cô như vậy trong
buổi sáng nay khi cô
Bước xuống đường trời lả
hơi sương tình cảnh khi
đó cũng y hệt bây
giờ một rừng người từng
Người như những làn cây
ẩn hiện lờ mờ như
số phận của từng người
giữa rừng người mà dấu
Vết lần đầu là những
viên sỏi không nuôi sống
được một thời còn lần
sau là những mẩu vụn
Bánh khiến lạc lối cả
một đời rồi cô còn
nhớ lần đầu khi bước
xuống đường đời cô đã
Hỏi số phận mong mỏi
những điều gì ở nơi
cô mà số phận chỉ
vòng vo hỏi ngược lại
Rằng cô mong mỏi những
điều gì nơi số phận
mình khi bước xuống đường
đời lại hỏi cô như
Vậy trong buổi sáng nay
khi cô bước xuống đường
đời bước vào rừng người
bước đi với từng người
(cuối 4, không 14)