Trang chủ Blog Trang 38

THẤP THOÁNG NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THƠ

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt


Khế Iêm
Tặng các nhà thơ Biển Bắc và Hồ Đăng Thanh Ngọc

Nhà thơ và nhà nghiên cứu Mỹ Timothy Steele, trong bài viết “Phép làm thơ cho những nhà thơ thế kỷ 21”, nhấn mạnh, cách làm thơ trong thế kỷ tới sẽ là tuôn nhịp điệu ngôn ngữ nói vào thể luật, để hình thành nhịp điệu thơ. Nhà thơ Mỹ, Carl Sandburg (1878 –1967) cho rằng,

“thơ tự do đã khai sinh – từ khi những người nguyên thủy và tiền sử cất tiếng nói với ngữ điệu hoặc sắc thái, tạo ra (hoặc ý nghĩa của âm nhạc hoặc vô nghĩa của giai điệu), lưu giữ và lập lại những giá trị rõ ràng và nội tại của nó – trước cả thời đại của sonnet, ballad, những thể thơ trong đó nhà văn phải ý thức một cách sắc sảo, ngay cả nhận thức một cách tinh tế, tổng cộng bao nhiêu âm tiết phải có trong mỗi dòng thơ.”

Ngữ điệu nói khi chuyển trên trang giấy thành nhịp điệu văn xuôi. Thơ tự do, với kỹ thuật phần mảnh, rải chữ, cắt chữ xuống dòng, một lần nữa biến nhịp điệu văn xuôi thành nhịp điệu hình ảnh, nhịp điệu ý tưởng, cũng trên trang giấy. Như vậy, nhịp điệu thơ tự do từ ban đầu là nhịp điệu của văn xuôi.

Cuộc hôn phối giữa thơ thể luật và thơ tự do đưa tới hệ quả, thể luật chắt lọc và cô đọng nhịp điệu văn xuôi, và nhịp điệu văn xuôi, cùng lúc, sẽ làm lơi lỏng thể luật, giúp nhà thơ tránh cách chọn chữ chọn lời, rơi vào tình trạng giả tạo như thời Victoria. Timothy Steele viết, “Tiếng Anh không bao gồm các âm tiết yếu hoặc mạnh rõ ràng. Mức tăng giảm độ nhấn giọng trong văn nói tiếng Anh hầu như vô hạn, và độ nhấn, đối với một âm tiết cụ thể có thể thay đổi từng lúc, phụ thuộc vào hoàn cảnh ngữ âm và lời nói, và trên bối cảnh ngữ pháp tu từ. Hơn nữa, nhà thơ thể luật không sáng tác những dòng thơ theo luật nhấn (không nhấn, nhấn). Thay vào đó, họ viết những nhóm chữ hay mệnh đề phù hợp với luật thơ hay những đoạn thơ; từ đó, chỉ cần một cái nhấn ban đầu, và sau đó, hầu hết những nhóm chữ hay mệnh đề sẽ có những âm tiết với mức độ nhấn khác nhau: thứ hai, thứ ba, hoặc yếu. Vì thế, trong câu thơ iambic, sự biến động giữa các âm tiết yếu và mạnh tương đối chứ không tuyệt đối. Đôi khi, cùng một âm tiết có thể được phát âm khá rõ. Vào những lúc khác, nó yên lặng và mỏng manh hơn. Những ví dụ trên cho thấy, sự khác nhịp điệu trong vòng trật tự thể luật được tăng cường bởi số lượng và vị trí của các mối nối cú pháp trong các dòng thơ. Các yếu tố khác như vắt dòng – việc mang ý nghĩa từ dòng này qua dòng kế tiếp, với hơi ngừng hoặc không ngừng ngữ pháp ở dòng cuối – cung cấp nhịp điệu bổ sung đa dạng cho những bài thơ thể luật.”

Ông phân biệt ra làm hai loại nhịp điệu: nhịp điệu của thể luật và nhịp điệu của ngôn ngữ nói chuyển tải vào thể luật. Sự phối hợp của hai loại nhịp điệu này tạo ra nhịp điệu của thơ. Nhịp điệu của thể luật, không nhấn, nhấn được gọi là nhịp luật trừu tượng vì nó có sẵn trong tâm thức nhà thơ. Khi gặp nhịp điệu của ngôn ngữ nói, nhịp luật là phương tiện lọc lại hay phối hợp để cho chúng ta nhịp điệu thơ. Nhưng tại sao lại gọi nhịp điệu của thể luật là nhịp luật trừu tượng? Để giải thích, chúng ta có thể viện dẫn cách sáng tác thơ vần điệu Việt: Những luật không nhấn, nhấn trong thơ tiếng Anh hay luật bằng trắc trong thơ Đường hay thơ Việt, chỉ để dạy trong những sách giáo khoa, học về thơ. Còn khi sáng tác, những nhà thơ, thuộc nằm lòng thơ từ lúc còn nhỏ, nên những giai điệu trầm bổng đã nằm sẵn trong tiềm thức. Họ không cần quan tâm tới luật bằng trắc, chỉ cần chọn chữ chọn lời rồi sắp xếp nhạc tính sao cho du dương trong đầu rồi viết thành thơ. Nhạc tính và phong cách từng bài, của từng nhà thơ luôn luôn khác lạ, dù trong khuôn khổ định sẵn của thơ vần điệu là lục bát, 7 chữ, 8 chữ hay 5 chữ.

Cách sáng tác như thế của thơ Việt, giúp cho nhà thơ có những rung động tinh tế về nhạc tính của ngôn ngữ, nhưng vì là ngôn ngữ đơn âm, và phải có vần ở cuối câu, nên nhà thơ không thể tuôn ngôn ngữ nói thông thường vào thơ được, mà nhịp điệu hay sự trầm bổng của ngôn ngữ nói chính là nhịp điệu hay sự trầm bổng của văn xuôi. Thơ khó có thể chuyển tải tư tưởng, và nhà thơ chỉ tập trung vào làm sao có những âm điệu du dương khi ngâm lên, làm rung động người nghe. Trái lại tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm, có rất nhiều vần trong mỗi chữ nên dù là có vần hay không vần, vẫn có thể mang ngôn ngữ nói vào thơ, và dễ dàng chuyển tải tư tưởng, Những nhà thơ lớn của thơ truyền thống phương Tây, từ những ngôn ngữ đa âm, đều có lợi thế này. Đối với thơ Việt, khi đưa nhịp điệu nói vào các thể không vần, lục bát, 5, 7, 8 chữ, cùng với kỹ thuật lập lại, vắt dòng, tất cả kết hợp lại thành một bộ máy kiềm chế, cô đọng câu chữ, và biến nhịp điệu nói thành nhịp điệu thơ.

Timothy Steele đề cập tới cách làm thơ ở thế kỷ 21, thế còn cách làm thơ ở thế kỷ 20? Trong thế kỷ 20, thơ thể luật tiếng Anh bị đẩy vào hậu trường, và thơ tự do Mỹ, tiêu biểu cho thơ phương Tây, trở thành vai diễn chính. Trả lời những câu hỏi này, chúng ta phải lần theo những bước chân thời Ánh sáng, cách nay hơn ba thế kỷ. Vào khoảng giữa thế kỷ 17, sau thời Phục hưng và cuộc chiến tranh tôn giáo (1618-1640), khí hậu lạc quan lan tỏa khắp Âu châu, mở ra thời kỳ Ánh sáng. Trong khi những nhà tư tưởng thời Phục Hưng và thời cải cách tôn giáo (Tin lành) cho rằng kiến thức quá khứ (La Hy) là nguồn đáng tin cậy của sự khôn ngoan, thì sau nửa thế kỷ 17, những nhà tư tưởng chối bỏ mọi thẩm quyền cổ đại, và chỉ dựa vào trí tuệ của chính họ, để xem kiến thức sẽ dẫn họ đi tới đâu. Họ nhấn mạnh vào khoa học, và cho rằng, kiến thức nếu không thực hành thì vô giá trị. Hầu hết tư tưởng Ánh sáng bắt nguồn từ ba tiền đề:

1/ toàn thể vũ trụ có thể nhận thức được bằng trí óc, và chi phối bằng những lực tự nhiên hơn là siêu nhiên;

2/ phương pháp khoa học chính xác có thể trả lời những câu hỏi nền tảng ở khắp mọi địa hạt;

3/ con người có thể được “giáo dục” để hoàn thành sự mở mang kiến thức gần như vô giới hạn.

Cuộc cách mạng khoa học thời Ánh sáng với phương pháp khoa học hiện đại, tổng hợp phương pháp qui nạp bằng những quan sát duy nghiệm của Francis Bacon, và phương pháp diễn dịch qua những nguyên lý rút ra bằng trực giác của Réne Decartes. Phương pháp khoa học hiện đại kết hợp với chủ nghĩa duy lý trong triết học là hai đặc tính chủ yếu thời hiện đại. Thời Ánh sáng kéo dài cho đến cuộc cách mạng Pháp 1789, và với sự phản kháng của chủ nghĩa Lãng mạn, vào nửa đầu thế kỷ 19. Một thế kỷ sau cuộc cách mạng khoa học là cách mạng kỹ nghệ nửa cuối thế kỷ 18, xảy ra ở Anh, khoảng thập niên 1760, khởi đầu với James Hargreaves phát minh ra máy xe sợi (spinning jenny) trong kỹ nghệ dệt năm 1767, và James Watt, phát minh ra máy hơi nước và đơn vị “mã lực’ vào năm 1769. Thời đại máy móc bắt đầu với năng lượng hơi (steam-power) và những xưởng đúc sắt ở vùng mỏ than Derbyshire, đặt nước Anh thành trung tâm của cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng sau đó tràn qua Âu châu vào đầu thế kỷ 19, kéo theo sự phát triển thành thị, hình thành đời sống thị dân, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tư bản. Cho đến những năm sau 1870, cuộc cách mạng kỹ nghệ lần thứ hai tiếp diễn. Công nghệ mới, đặc biệt trong lãnh vực thép, điện và sinh hóa, sản xuất những sản phẩm mới và những công trình kiến trúc hiện đại. Tiếp theo là những phát minh dồn dập đến chóng mặt: giao thông vận tải (xe hơi, máy bay, xe điện ngầm), truyền thông (phim ảnh, điện thoại, máy đánh chữ, máy ghi âm), vật liệu mới (bê tông cốt sắt, thép, kính dày, plastic…), nhiên liệu mới (dầu hỏa, điện, động cơ khí đốt, máy hơi nước…). Đầu thế kỷ 20, Max Planck giới thiệu lý thuyết Lượng tử (Quantum), cùng năm, Sigmund Freud mở đầu phân tâm học (psychoanalysis) với Giải thích giấc mơ (Interpretation of Dream), vào 1900, và Albert Einstein với lý thuyết Tương đối (1905 và 1915).

Chủ nghĩa hiện đại, về văn học nghệ thuật, được báo hiệu bởi chủ nghĩa Tượng trưng (thập niên 1860-1870) trong thơ, chủ nghĩa Ấn tượng (thập niên 1870- 1880) trong hội họa. Trước giữa thế kỷ 18, người thưởng ngoạn là giới quí tộc, sau 1870 là giai cấp trung lưu, nhưng từ đầu thế kỷ 20, tầng lớp người đọc và báo chí gia tăng, khiến những nhà văn và nghệ sĩ coi thường văn hóa vật chất tầm thường, đa sầu đa cảm. Họ không quan tâm tới độc giả rộng lớn, sống xa cách xã hội, đề cao sự tự ý thức, và tác phẩm chỉ để họ đọc với nhau. Trước 1850, người đọc dễ dàng đọc tiểu thuyết Dickens, sau 1900, người thưởng ngoạn bình thường khó mà hiểu nổi tranh Paul Cézanne hoặc một bài thơ của Paul Valéry. Nghệ sĩ và công chúng không còn nói cùng một ngôn ngữ. Sau 1900, bước qua thế kỷ 20, các nghệ sĩ và những nhà tư tưởng nổi loạn chống lại mọi định chế và học thuyết trước đó, trong mọi lãnh vực từ nghệ thuật, văn học, khoa học, y khoa, triết học … Họ là những nhà trí thức vô chính phủ, tự tách ra khỏi những ý tưởng, và phá vỡ mọi nguyên tắc, mọi phạm trù đã từng kết nối với những giá trị và trật tự truyền thống. Họ bác bỏ tất cả các nguyên tắc tôn giáo và đạo đức, phủ nhận mọi niềm tin, cho dù đó là chính trị, nghệ thuật, khoa học hay triết lý, như là phương tiện mở đường cho tiến bộ xã hội. Cuộc cách mạng hào hứng và rộng khắp đó, được gọi là chủ nghĩa hiện đại, và ảnh hưởng của nó còn kéo dài cho tới cuối thế kỷ.

Nguyên nhân đầu tiên là những khám phá về công nghệ mới đã thay đổi nếp sống con người. Nếu vào đầu thế kỷ 19, những nhà Lãng mạn lý tưởng hóa thiên nhiên, thì bây giờ thành phố thay thế thiên nhiên như một động lực của cuộc sống. Những thành phố lớn như Paris, New York, London, Berlin … những ngôi nhà chọc trời, những công ty liên doanh, và cả cuộc chiến tranh mang tầm thế giới đã để lại những vết cắt sâu đậm trong nền văn minh. Với tốc độ những khám phá khoa học đang diễn ra, văn hóa phải tự tái xác định không ngừng để bắt kịp với thời đại. Chưa bao giờ những trường phái ra đời nhiều như vậy, vì cái gì vừa mới xuất hiện, lập tức không còn mới nữa, điều họ gọi là sáng tạo và sáng tạo không ngừng, phản ảnh tiến trình đổi mới công nghệ. Chủ nghĩa Ly khai (secessionism), Dã thú (Fauvism), Biểu hiện, Lập thể, Vị lai, Dada, Siêu thực. Pablo Picasso đi xa trong thử nghiệm với nhiều phong cách, và không bao giờ cảm thấy thoải mái và bằng lòng với bất kỳ phong cách nào. Nếu trước kia, truyền thống nghệ thuật từ thời cổ đại là bắt chước, được hoàn thiện trong thời Phục hưng, và nổi bật trong thế lỷ 19, thì những nhà hiện đại coi đó là quá giới hạn và không phản ảnh được cuộc sống. Freud và Einstein đã hoàn toàn thay đổi nhận thức về thực tại. Freud yêu cầu chúng ta nhìn vào thế giới bên trong của một cá nhân mà trước đó đã bị đèn nén, và Einstein cho chúng ta thấy rằng, mọi thứ đều tương đối.

Trong bối cảnh và tình huống như vậy, thơ tự do ra đời.

– Trước hết, tập thơ Lá Cỏ (Leaves of Grass) của Walt Whitman, năm 1855, và Ác Hoa (Flowers of evil) của Charles Beaudelaire, năm 1857. Và thơ tự do Pháp bắt đầu khoảng 1880.
– Phái Hình tượng (Imagism, 1909-1917), Lập thể (Cubism, 1911-1921), Trừu tượng (Abtract art, 1909-1913), Dada (1916-1924), Siêu thực (Surrealism, 1924-1930).
– Chủ nghĩa hiện đại kéo dài từ 1910 tới 1930, bắt đầu với phái Hình tượng cho đến hết chủ nghĩa Siêu thực, là 20 năm. Năm 1929, khủng khoảng kinh tế toàn cầu, cho đến khoảng cuối thập niên 1930. Chiến tranh thế giới lần thứ II từ 1939-1945. Và từ thập niên 1950 tới 1980 là chủ nghĩa hậu hiện đại.

50 năm sau tập thơ Lá Cỏ của Whitman và 30 năm sau thơ tự do Pháp, thơ tự do không phát triển thêm, một phần chỉ dựa vào cú pháp và văn phạm, khó biến hóa, một phần khác là từ đầu thập niên 20, văn hóa Âu châu đã trở nên ốm yếu, tự mãn, nhàm chán, sợ hãi sự thay đổi, và bị ràng buộc quá nhiều vào quá khứ. Những chỉ dấu cho thấy sự chuyển hướng văn hóa, cuộc triển lãm tại New York City, mang tên Alfred Stieglitz 291 vào năm 1908, giới thiệu hầu hết những nghệ sĩ tiền phong Âu châu đương thời như Henri Matisse, Auguste Rodin, Henri Rousseau, Paul Cézanne, Pablo Picasso, và Marcel Duchamp. Nhưng nổi tiếng là cuộc triển lãm Armaty Show, một biến cố quan trọng trong lịch sử hội họa Mỹ, trong đó hội họa hiện thực Mỹ đã làm ngạc nhiên giới thưởng ngoạn, song hành với sự thử nghiệm của những phong trào tiền phong Âu châu, bao gồm những trường phái như Dã thú (Fauvism), Lập thể (Cubism). Cuộc triển lãm là chất xúc tác, làm cho những họa sĩ Mỹ độc lập hơn và sáng tạo “ngôn ngữ hội họa” của chính họ. Đặc biệt năm 1915, Marcel Duchamp định cư tại New York. Vào những thập niên 1940, 1950, trung tâm những phong trào tiền phong đã chuyển hoàn toàn từ Paris tới New York.

Thơ tự do Mỹ và thơ tự do Pháp phát triển riêng rẽ nhưng lại ảnh hưởng lẫn nhau một cách thú vị. Thơ tự do Pháp bắt nguồn từ thơ văn xuôi của Beaudelaire, Rimbaud, và được phát động từ Kaln khi ông đảm trách tờ La Vogue vào năm 1885. Nhưng thơ văn xuôi của Beaudelaire lại ảnh hưởng từ nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe, khi ông dịch những tác phẩm của Poe qua tiếng Pháp. Trong số báo 28, tháng 6 1886, xuất hiện những bài thơ tự do đầu tiên của Kaln, và một số bài thơ dịch từ tập Lá Cỏ của Whitman bởi Jules Laforgue. Những nhà phê bình Pháp cho rằng, hình thức thơ Whitman đã ảnh hưởng tới thơ tự do Pháp. Câu chuyện giữa thơ tự do Pháp, chủ nghĩa Tượng trưng và thơ tự do Mỹ dây dưa cho tới đầu thế kỷ 20, khi T. S. Eliot và Ezra Pound ảnh hưởng thơ tự do Pháp, qua nhà thơ Tượng trưng, nhà tiểu thuyết, nhà phê bình văn học và văn hóa đa dạng là Remy de Gourmont (1858 – 1915), trở về phát triển thơ tự do tiếng Anh.

De Gourmont là nhà thơ Tượng trưng cuối cùng, tiêu biểu cho tư tưởng lý trí và thi pháp Tượng trưng. Trong một tiểu luận đăng trong The New Age vào năm 1909, nhà thơ Anh, F. S. Flint cho rằng, tác phẩm của de Gourmont, một nghệ sĩ và nhà thơ,

“được nhìn qua đôi mắt lạnh lùng của nhà khoa học”.

Điều này gợi tới những nguyên tắc Ánh sáng

“chúng ta không do dự khi giới thiệu khoa học vào văn học hoặc văn học vào khoa học… Chúng ta thu thập trong tâm trí tất cả ý tưởng nó có thể chứa, và nhớ rằng lãnh vực trí thức là vô giới hạn.”

Tác phẩm của ông có tính phân tính và tổng hợp: chủ nghĩa hoài nghi sáng tạo, nói cách khác, đó là truyền thống thu nhỏ của thời đại Ánh sáng. Văn xuôi của de Gourmont kết hợp với chủ nghĩa Lý trí, ở cả kỹ thuật lẫn nội dung,

“phản ánh ngôn ngữ thông thường”

, và ngôn ngữ này trở thành nơi “nối kết văn hóa” giữa các ngôn ngữ khác nhau.

Thơ tự do với ngôn ngữ trọng âm đã như gặp một miền đất màu mỡ, phát triển tột độ qua những phong trào tiền phong. T. S. Eliot và Ezra Pound thừa hưởng và mang nguyên tắc lý trí của de Gourmount và tinh thần khai phá Mỹ vào thơ tự do, với phái Hình tượng, dùng hình ảnh cụ thể, diễn đạt trong sáng và ngôn ngữ thường ngày. Thơ tự do tiêu biểu cho lý trí thời hiện đại, còn được gọi là thơ trí tuệ hay thơ hiện đại, thể hiện sự tự ý thức cao độ trong cách nhìn thế giới bên ngoài, phản ảnh tư duy trong thời đại duy lý và những phát minh công nghệ mới. Thơ hiện đại có đặc tính: thử nghiệm, chủ nghĩa cá nhân, và chống chủ nghĩa hiện thực. Thử nghiệm, có nghĩa là luôn luôn tìm kiếm, chủ nghĩa cá nhân có nghĩa là trở thành trí thức và cá nhân tự tin (self-confidence). Nhấn mạnh vào lý trí hơn là tình cảm.

Thơ tự do, sau Walt Whitman, biến thành một lọai thơ khó với T. S. Eliot, Ezra Pound. “The Waste Land” của T. S. Eliot là một tác phẩm khó, ít nhất là 4 đặc điểm như sau: hình thức rời rạc và đứt đoạn, trích dẫn những tiếng ngoại quốc (Latin, Đức, Pháp, Ý, và Sanskrit), đủ loại ẩn dụ (tham khảo ít nhất 37 tác phẩm về nghệ thuật, văn học, lịch sử và âm nhạc), và cấu trúc huyền thoại. Những tham khảo này chẳng nhưng chỉ là bản văn chính yếu của văn học phương Tây (Kinh Thánh, Virgil, Ovid, Thánh Augustine, Dante, Shakespeare, Spenser) mà còn thơ của Baudelaire, Verlaine, Nerval, kịch của Thomas Middleon, Ben Webster, Thomas Kyd, John Lyle, ca kịch Oprera của Wagner, sách của Hermann Hesse, và Phật giáo. Bài thơ theo cách như vậy, chẳng khác nào bản trích yếu hay văn khố lưu trữ của nền văn minh phương Tây. Giống như hội họa, thơ chừng như sử dụng phương pháp cắt dán, từ rất nhiều nguồn sách báo khác nhau. Nhưng chẳng phải chỉ có thơ tự do là khó. Hội họa với tranh Lập thể, Trừu tượng, Siêu thực không khó sao? Nói tóm lại, những tác phẩm hiện đại, từ thơ, hội họa đến tiểu thuyết, được nhận biết là khó, kết hợp với sự xa lạ và khác biệt. Nhà văn hiện đại D. H. Lawrence (1885-1930) cho rằng

“… ở chừng mực nào đó, đọc một tiểu thuyết thật sự mới luôn luôn gây đau đớn. Luôn luôn có sự đề kháng. Điều này cũng giống như những bức tranh mới, âm nhạc mới. Bạn có thể phán đoán thực tại của chúng bởi sự kiện, chúng khuấy lên một sự đề kháng nào đó, và thúc ép, cuối cùng, sự mặc nhận nào đó.”

Thơ tự do không những khó trong cách đọc, còn khó trong cách làm. Có lẽ là nhà thơ phải tự tạo nên luật tắc của họ, từ bỏ tất cả những yếu tố truyền thống? Tạo ra luật tắc có nghĩa là tạo ra cấu trúc thơ, thay thế cho thể luật truyền thống. Có hai yếu tố trong cách làm một bài thơ: trật tự và hỗn mang. Trật tự là âm thanh (thể thơ) và thị giác (cấu trúc), dùng để kiềm chế hỗn mang là ý nghĩa và cách diễn đạt. Thơ tự do nếu không tạo ra được cấu trúc, người làm thơ mất phương tiện kiềm chế, thơ rơi vào tình trạng lan man, tuôn ra hết trang này đến trang khác, và người đọc sẽ không hiểu nhà thơ muốn nói gì. Nhưng tạo ra được cấu trúc thơ thì rất khó vì cấu trúc là hình thức bài thơ trên mặt giấy, cũng như thể thơ, phải làm cho người đọc nắm bắt được ngay, không cần qua lý luận. Có thể nhận ra điều này khi đọc thơ William Carlos Williams, ông tạo cấu trúc thơ từ nhịp điệu ngôn ngữ nói thông tục, và ông gọi là hình thể nghệ thuật (art form), trong những bài thơ ngắn, hình thức đơn giản nhưng ý nghĩa súc tích, và sâu lắng. Ông chủ trương thoát ra khỏi những thể thơ truyền thống và ẩn dụ không cần thiết, nhìn thế giới một cách cụ thể và trung thực. Marianne Moore từng viết, Williams dùng ngôn ngữ bình thường đến cả

“mèo và chó cũng có thể đọc”.

Williams là một trong những nhà thơ chính của phái Hình tượng, nhưng sau đó ông không đồng ý với giá trị thể hiện qua những sáng tác của Pound, đặc biệt là Eliot, bởi những nhà thơ này quá gắn liền với văn hóa và truyền thống Pháp. Thơ tự do sau thập niên 1950, được gọi là thơ hậu hiện đại. Ở đây cần nhấn mạnh, hội họa Trừu tượng Biểu hiện Mỹ (Abstract Expressionism) vào thập niên 1940 được coi là đỉnh cao của hội họa hiện đại, cũng là khó hiểu nhất, với những Jackson Pollock, Willem de Kooning, Arshile Gorky, Hans Hofmann… nhưng đến cuối thập niên 1950, Pop Art phản ứng lại, vẽ hình ảnh lập lại những đồ vật cụ thể thường ngày, như bức tranh 200 Campbell’s Soop cans, 1962, của Andy Warhol, hoặc Two Cheeseburgers With Everything 1962, của Claes Oldenburg … Âm nhạc cũng quay qua Pop music, Rap music, Hip hop … Nhưng tại sao trong thơ hậu hiện đại vẫn tiếp tục là loại thơ khó, khó hơn cả thời hiện đại. Câu chuyện như sau: Vào cuối thế kỷ 19, nhà thơ tự do đầu tiên của Mỹ Walt Whitman cho rằng,

“Để có những nhà thơ lớn, phải có số người đọc lớn.”

Người đọc Whitman ám chỉ tới trong thời ông là những người đọc bình thường. Một thế kỷ sau, hậu duệ những nhà thơ tự do của ông xóa sạch không còn người đọc bình thường nào. Thơ Mỹ rơi vào khủng khoảng vào cuối thập niên 1980, đến nỗi Joseph Epstein phải đặt câu hỏi, “Ai đã giết thơ?” Thơ hiện đại và hậu hiện đại tồn tại nhờ vào cơ chế đại học. Với hàng trăm chương trình viết văn trong các trường đại học Mỹ, hàng năm sản xuất hàng ngàn nhà thơ, những nhà thơ sau đó trở thành thầy dạy, cùng với sinh viên, là số người đọc của thơ hiện đại. Những đại học Mỹ có cơ chế tự trị và tự do học thuật, thường bảo trợ rộng rãi cho những hoạt động văn hóa, và ở thời đó, thơ tự do là loại thơ thuần lý, được phần đông giới giáo chức dạy văn, dùng như một nghề sinh sống, làm thơ càng ngày càng mất sức sống.

Williams có ảnh hưởng đặc biệt đối với những phong trào tiền phong thập niên 1950, từ the Beat Generation, the San Francisco Renaissance, trường phái Black Mountain, và trường phái New York. Ông trở thành một khuôn mặt chuyển tiếp giữa thơ hiện đại và hậu hiện đại. Cấu trúc thơ do ông thể hiện đã thành tiêu chuẩn cho những thế hệ sau noi theo. Nhưng nếu cấu trúc thơ của ông hình thành từ ngôn ngữ và đời sống bình thường với những con người bình thường, thì các phong trào tiền phong lại tạo ra những hình thức thơ bằng cách, tách nhóm chữ xuống dòng (phrase-breaking), tách chữ xuống dòng (word-breaking), vặn vẹo chữ (word-jamming). Thơ phá vỡ cú pháp văn phạm, ý tưởng rời rạc và phần mảnh, đẩy người đọc rơi vào mê cung của ngữ nghĩa. Những yếu tố như nhạc tính hay nhịp điệu âm thanh không còn được quan tâm. Thơ là tiến trình phân tích và tổng hợp, khó hiểu đến mức chỉ còn là trò chơi tung hứng giữa nhà thơ và những nhà phê bình. Thật ra, văn học nói chung, thoát thai từ chủ nghĩa hậu hiện đại, phản ứng lại những lý tưởng thời Ánh sáng và hiện đại, không thể giải quyết được những vấn đề của con người, nên đã đề cao vai trò của ngôn ngữ, hòa trộn giữa tâm trí và tưởng tượng (tiểu thuyết trinh thám, viễn tưởng …), chập chờn trên cái đống đổ nát của hiện đại. Đến thập niên 1980, thơ hậu hiện đại đẩy lên một tầng khác, dựa vào lý thuyết hậu cấu trúc, với phong trào tiền phong thơ Ngôn ngữ, biến thơ thành vô nghĩa. Và chấm dứt luôn thơ hậu hiện đại.

Nhưng tại sao lại phân thơ tự do ra hai thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại? Thơ hiện đại phản ánh nhịp độ khám phá dồn dập những công nghệ khoa học và chủ nghĩa duy lý. Nhưng đến sau thập niên 1950, những khám phá khoa học không còn kịch tính như đầu thế kỷ 20 nữa, thậm chí sau thế chiến thứ II, khoa học còn bị đặt dấu hỏi, và những lý tưởng thời Ánh sáng lụi tàn vì không hề mang hạnh phúc đến cho con người. Thơ hậu hiện đại chỉ còn cách phản ánh lại chính nó và tâm trí nhà thơ, với trò chơi ngôn ngữ và ý tưởng, tách lìa khỏi đời sống xã hội. Thơ tự do là sản phẩm của thời hiện đại và hậu hiện đại, như vậy, bây giờ biết sẽ đi đâu? Thật ra, sự phân chia thời kỳ hiện đại hay hậu hiện đại chỉ là trên hình thức. Văn hóa là dòng chảy liên tục và sự thay đổi cũng xảy ra từ từ chứ không hề mang tính đột phá. Văn học nghệ thuật ở bất cứ thời nào cũng là di sản trân quí của nhân loại. Thơ thể luật dù bị đẩy ra ngoài dòng chính ở phương Tây, nhưng vẫn tiềm tàng trong đời sống vô thức của những nhà thơ. Thơ tự do, chiếm ưu thế suốt một thế kỷ, với những phong trào tiền phong đầy sôi động, không dễ gì tự nhiên mất đi. Thơ vốn khó, theo Eliot, “phản ánh một thời đại phức tạp”, nhưng ở mặt khác, thơ tự do cũng là một thể thơ rất dễ dãi, vì người làm thơ dễ dấu đi sự thiếu năng khiếu của mình hơn các thể thơ khác. Thơ dễ, không cần ý thức về nhịp điệu, ngay cả cảm hứng, nên ai cũng có thể làm, trở thành phương tiện thoải mái ghi xuống những suy nghĩ hay những quan điểm cá nhân về chính trị, xã hội, triết lý, và cả biến thơ thành trò chơi tu từ.

Thơ tự do Mỹ, sau thập niên 1990, không còn độc quyền được giảng dạy trong những chương trình viết văn. Theo Altieri, khái niệm “kỹ năng phải kín đáo sao cho tác phẩm nói bằng giọng tự nhiên, làm cho người đọc như đang kinh nghiệm lại biến cố ngay từ ban đầu đã trở thành ‘lời kinh đương thời’ (contemporary litany), được ghi khắc bởi những nhà thực hành thơ, trong những chương trình viết văn.” Và thế hệ những nhà thơ trẻ thập niên 1990, như Dana Gioia, Timothy Steele, Mark Jarman, Frederick Turner … trở thành những người thầy giảng dạy, và họ đang là những nhân tố tích cực trong việc hòa giải giữa thể luật và tự do. Với sức mạnh và cơ sở có sẵn, với một lực lượng sinh viên và giáo sư không nhỏ, gây mầm cho việc trở lại kỹ năng và nghệ thuật thơ, thơ Mỹ trong thế kỷ mới, sẽ lại tạo nên một cuộc chơi lớn, đưa thơ tới những người đọc bình thường, không còn là đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Một lần nữa, thơ, vừa làm một bước nhảy tới tương lai vừa quay về nối kết với những giá trị đã thành tựu trong quá khứ.

Cách phân tích của Timothy Steele, giữa nhịp luật và nhịp điệu của ngôn ngữ nói, không phải là lý thuyết suông, mà là những phân tích, dựa theo những sáng tác mới của những tác giả trẻ thời thập niên 1990, đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ thể luật. Thật ra, đưa ngôn ngữ thông thường vào thể luật đã có từ thời Lãng mạn với nhà thơ William Wordsworth, và sau này với nhà thơ Robert Frost, mà ông gọi đó là “sự liên hệ cách điệu” (strained relation). Đầu thế kỷ 20, những nhà thơ tự do tách nhịp điệu văn xuôi ra khỏi thể luật, rải chữ xuống dòng thành nhịp điệu trên trang giấy, như đã nói ở trên. Và bây giờ, theo Timothy Steele, nhịp điệu văn xuôi lại tái hợp với thể luật, tạo nên cách làm thơ mới cho những nhà thơ thế kỷ 21, không khác gì với thơ Tân hình thức Việt. Bài viết của Timothy Steele vào năm 2006, trong khi thơ Tân hình thức Việt khởi đi trước đó, từ năm 2000, chứng tỏ, thơ Tân hình thức Việt có khả năng đồng hành với những nền thơ lớn khác trong thế kỷ tới. Nhưng thực tế thì khác hẳn, thơ Mỹ luôn luôn được sự hổ trợ bình đẳng và mạnh mẽ từ những cơ chế đại học, với những diễn đàn, hội thảo, in ấn, giải thưởng, những chương trình viết văn, giảng dạy … còn thơ Tân hình thức Việt, được kể, với hành trang chỉ là niềm tin mong manh vào sự quan tâm và công tâm của những nhà phê bình, và sự kiên trì của những nhà thơ thực hành nó.


Ghi chú thêm về thơ Tân hình thức Việt

Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc đề nghị, cần định nghĩa cụ thể những yếu tố thơ Tân hình thức Việt: vắt dòng, tính truyện, ngôn ngữ đời thường, và kỹ thuật lập lại. Nhà bình luận Luân Nguyễn cho rằng, cả 4 yếu tố này đều đã có trong thơ Việt. Ông dẫn ra,

“Ngôn ngữ dung tục và lối kể đã có trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyễn (thơ trung đại) (kê khoai, phì phạch, sướng, cọc, lỗ, đĩ, chợ búa, dưa muối,…);

kỹ thuật vắt dòng trong Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ

Trời cao xanh ngắt ô kìa
Hai con hạc trắng bay về bồng lai

, trong nhiều bài thơ Bích Khê (thơ Mới trước 1945)”. Thật ra, ngôn ngữ mà Luân Nguyễn nêu lên ở đây, là chữ, trong thơ vần điệu, còn ngôn ngữ thơ Tân hình thức được hiểu là

cách nói, cách diễn đạt của ngôn ngữ.

Ngôn ngữ thơ Tân hình thức cũng không hẳn là ngôn ngữ dung tục mà là ngôn ngữ nói thông thường, hay cách nói thông thường. Như ca dao là ngôn ngữ thông thường có vần có điệu, còn thơ Tân hình thức thì mang những câu nói đời thường vào thơ không vần. “Lối kể” trong thơ vần điệu có khác với “tính truyện” trong thơ Tân hình thức, vì trong thơ Tân hình thức, ngoài việc kể một câu truyện, trong những bài thơ ngắn còn có tính nối những ý tưởng liền lạc lại với nhau để hình thành tư tưởng trong thơ.

Vắt dòng (enjambment), được định nghĩa là sự nối kết ý nghĩa từ dòng này qua dòng khác, đã có từ xa xưa, tính từ thời Homer. Sau này thơ tự do, với dòng dài ngắn, dùng kỹ thuật này để rải chữ, xuống dòng, làm thành nhịp điệu thị giác, và gọi đó là dòng gãy (line-break). Đã có rất nhiều bài thơ Tân hình thức ở thời kỳ khởi đầu, cũng vắt dòng đấy, nhưng chỉ là dạng văn xuôi đếm chữ xuống dòng, không đúng tiêu chuẩn thơ Tân hình thức Việt. Nhưng thế nào là tiêu chuẩn thơ Tân hình thức? Một yếu tố thơ nếu đứng một mình, không có ý nghĩa gì cả, nó phải kết hợp với những yếu tố khác. Thơ vần điệu với vần, điệu và cách chọn chữ chọn lời. Thơ Tân hình thức Việt bao gồm 4 yếu tố, vắt dòng, tính truyện, ngôn ngữ đời thường, và kỹ thuật lập lại, nằm trong các thể thơ không vần, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ và lục bát.

Tài năng của người làm thơ là tổng hợp nhuần nhuyễn những yếu tố trên để làm thành tác phẩm. Tách rời bất cứ yếu tố nào riêng ra, là phá vỡ cái tổng thể của một thể thơ, và sẽ thất bại.

Một trong những yếu tố chính của thơ Tân hình thức Việt, là kỹ thuật lập lại. Trong thơ thể luật, sự lập lại những âm chữ, để tạo nhạc tính hay nhịp điệu, ở mọi nền thơ, dù khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ đơn âm hay đa âm, đều giống nhau – thơ tiếng Anh (không nhấn, nhấn), thơ Đường (bằng, trắc và đối), thơ Việt (bằng, trắc và vần). Bây giờ, thay vì lập lại âm chữ, Tân hình thức Việt lập lại những chữ kép (bằng, trắc). Trong các luật thơ, sự lập lại âm chữ trong dòng thơ, thường cố định, nhưng trong thơ Tân hình thức Việt, sự lập lại chữ những chữ kép (bằng, trắc), xảy ra ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ. Nhìn lại những luật thơ, sự lập lại các âm chữ dầy đặc trong mỗi dòng thơ, nhưng người đọc không nhận ra sự lập lại mả chỉ nghe thấy những âm vang tạo nên sự nhịp nhàng trầm bổng hay dồn dập của nhạc tính hay nhịp điệu. Đó là một thế mạnh trong các luật thơ. Nhưng khi lập lại những chữ kép (bằng, trắc), người đọc dễ nhận ra kỹ thuật lập lại. Vì thế, khi sử dụng kỹ thuật lập lại những chữ kép (bằng, trắc) cần tế nhị và tự nhiên, lạm dụng quá sẽ thành giả tạo, bởi vì dễ làm lộ kỹ thuật. Kỹ thuật lập lại là mục đích chính để tạo nhịp điệu (hay tiết tấu) trong các thể thơ, vì thế không có nhịp điệu là không có thơ.

Tân hình thức Việt chú tâm tới nhạc tính và nhịp điệu, nên để tránh vướng vào văn xuôi, một bài thơ đọc lên, trước nhất người đọc bị lôi cuốn bởi nhịp điệu ngôn ngữ, và những ý tưởng chìm sâu bên dưới. Hai yếu tố tối kỵ của văn xuôi, là sự lập lại (câu chữ, ý tưởng, hình ảnh) và ý tưởng không rõ ràng, trong khi đó lại là hai yếu tố mạnh trong thơ. Thêm nữa, ngôn ngữ thơ vốn dĩ cô đọng, quá nhiều chữ dư thừa cũng làm người đọc có cảm tưởng là văn xuôi. Đọc một bài thơ Tân hình thức Việt, là đọc liên tiếp, không dừng lại cuối dòng vì yếu tố vắt dòng, sự nhanh chậm tùy thuộc vào tốc độ của bài thơ, phong cách đọc của người đọc, và cần đọc rõ chữ. Thơ Tân hình thức Việt với thể thơ không vần, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ và lục bát, cùng những yếu tố như vắt dòng, tính truyện, ngôn ngữ đời thường, và kỹ thuật lập lại chỉ là hình thức bên ngoài, dùng để đánh giá kỹ năng sáng tác, còn phần tư duy sâu lắng, phong cách tân chiết trung, và khả năng chuyển tải tư tưởng, mới là vấn đề cốt lõi của dòng thơ này.

Thật ra, những lập luận trên chỉ là lý thuyết, dành cho những người muốn tìm hiểu, đi sâu vào lãnh vực sáng tác và phê bình. Trên thực tế, luật thơ phải rất đơn giản. Thơ tiếng Anh là luật một dòng thơ, mỗi dòng 10 âm tiết (không nhấn, nhấn, lập lại 5 lần), với vần hoặc không vần. Thơ truyền thống Việt, là luật vần ở cuối dòng, và thơ Tân hình thức Việt, cuối cùng là vắt dòng và kỹ thuật lập lại. Nhiều người thuộc nằm lòng thơ vần điệu, vẫn có thể làm thơ, không cần quan tâm tới luật vần. Hoặc đọc các bài thơ Tân hình thức rồi sau đó, tham gia sáng tác, và bằng tài năng, biến hóa thêm, tạo thành cá tính riêng. Nhưng nếu muốn tiến xa hơn, và không bị rơi vào bế tắc, thì lý thuyết giúp chúng ta tạo cảm hứng, mở rộng và phát hiện những yếu tố mới trong thơ.

Hạnh Ngộ

TÂM BIẾN ĐỔI

Hồi hôm có một chuyện
buồn muốn đi chết buổi
sáng nghĩ đến chiện sầu
bi đó lại muốn vào rừng

sâu không đối diện với
nó thôi ráng đi gội cái
đầu ráng đi pha ấm
trà uống một ngụm vào

bụng ây da trà quá
ngon sao có thể đi
chết trong rừng sâu một
mình giữa buổi sáng hôm

nay thảnh thơi muốn bước
tới thảnh thơi mới biết tâm
mình biến đổi không ngừng
nghỉ buồn vui như thác

nước cũng nhờ ngụm trà
sen của ba mua bữa
trước có bỏ chút tình
thân thiết … phải không ba?

11/9/2014

Bài thơ đọc lên nghe rất thật, rất thơ với ngôn ngữ đời thường, không tu từ, không ẩn dụ. Đã gọi là thơ thì có thơ là đủ. Nhịp điệu bài thơ bật ra tự nhiên, hài hòa, và đạt hiệu quả trong thể thơ 5 chữ. Người đọc bị cuốn đi, những ý tưởng quyện lấy nhau, không rõ ràng, gợi sự tò mò, bắt người đọc phải đọc lại nhiều lần. Bài thơ giống như cách làm bài thơ “Bún Riêu” của Gyảng Anh Iên, với cùng loại ngôn ngữ. Tiểu thuyết, phim ảnh, hội họa, thơ hiện đại và hậu hiện đại trước kia đều dựa vào sự tưởng tượng phong phú của tâm trí, cần tới ẩn dụ. Ẩn dụ là yếu tố trong cách làm thơ quan tâm tới chữ của thơ tự do và vần điệu. Còn ý tưởng liên tục, quyện lấy nhau, liên quan tới văn pháp nói trong thơ Tân hình thức Việt (hình thành một loại ẩn dụ khác chăng?) Và như vậy, thơ Tân hình thức Việt, mở ra một không gian mới, nắm bắt những khoảnh khắc của thực tại, trực tiếp, bằng một loại ngôn ngữ thơ, khác với tự do và vần điệu. Đó cũng là do nhu cầu diễn đạt khác nhau của từng thời kỳ thơ, chứ không phải loại thơ nào hay hơn, hoặc thích hợp hơn loại thơ nào. Sự xuất hiện của Hạnh Ngộ giống như trường hợp nhà thơ Dã Thảo. Nếu những bài thơ của Dã Thảo, mở đầu cho giai đoạn thứ hai của thơ Tân hình thức Việt, xác định phong cách thơ, thì bài thơ này của Hạnh Ngộ giúp chúng ta phân biệt, đây không những là ngôn ngữ nói, mà còn là những câu nói thường ngày, được đưa vào thơ. Vì mới lạ nên chưa thuận tai người đọc. Có lẽ, trong giai đoạn đầu, chỉ có những nhà thực hành thơ, mới thấy được cái khó và cái hay trong dòng thơ này.

Hường Thanh

MÈO ĐEN

buổi tối hay là lúc rạng
sáng tôi chợt nhìn thấy con
mèo đen nó đi qua tôi
từ phía sau như đi qua
tâm hồn tôi đi qua từ
những điểm tối tôi mà đến
với hành lang trước mặt nó

6.2014

Nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng viết về bài thơ của Hường Thanh như sau:

“Buổi tối hay trước trời sáng, mặt đất mờ mờ, con mèo đen di chuyển từ phía sau như bóng tối đi qua, như thời gian đi từ sau ra trước, từ quá khứ đến tương lai. Cái dáng của con mèo cắt lên nền trời huyền ảo, vẻ đẹp của nó, khả năng xuyên suốt của nó, bước đi không tiếng động. Sự di chuyển của thời gian biến thành sự di chuyển của không gian. Đây là một bài thơ Tân hình thức, nhưng không thật tiêu biểu, có lẽ vì quá ngắn nên nhạc điệu “riêng” được mong đợi của thể Tân hình thức không lộ rõ. Hai trong những tính chất quan trọng của Tân hình thức là không gian rộng và nhịp điệu, nhất là ở sự ngắt câu, tuy nhiên cũng đừng quên rằng như một thể thơ, nó có thể tích hợp vào mình những phong cách khác.”

Ngôn ngữ thơ Tân hình thức không phải một sớm một chiều là hoàn tất, mà đòi hỏi sự đóng góp của nhiều thế hệ nhà thơ, về cách diễn đạt, cùng tài năng và cách sử lý ngôn ngữ – biến hóa và đa sắc thái, trong nhiều chiều kích không và thời gian khác nhau. Thế hệ trong thơ, không phân biệt theo tuổi tác, mà theo ngôn ngữ thơ họ sử dụng. Có một thời gian rất lâu, hơn nửa thế kỷ, thơ Việt bao gồm nhiều thế hệ sáng tác với cùng ngôn ngữ thơ, tự do hay vần điệu. Sự chuyển đổi thế hệ và ngôn ngữ thơ xảy ra, khi có những tác động lớn, thay đổi cách sống, cách nghĩ của con người trong môi trường xã hội. Sự phát triển công nghệ cao, Iphone, Ipad, tạo nên một thế hệ nhà thơ, đang có một cách nhìn khác về thực tại. Điều này có thể giải thích: văn học nghệ thuật hiện đại chống lại chủ nghĩa hiện thực, và hậu hiện đại phủ nhận thế giới thực. Họ cho rằng, tất cả chỉ là quang cảnh bề ngoài, và nguồn gốc thực tại nằm ở bên trong chúng ta. Chúng ta sống trong thế giới hư cấu được tạo ra từ chính chúng ta, và thế giới này không có việc gì làm với thế giới thực, tồn tại bên ngoài. Tác phẩm nghệ thuật vì thế liên tục được tạo ra và tái tạo, qua ẩn dụ, hoán dụ và sự sắp đặt của tâm trí. Nhưng bây giờ, sự phát minh khoa học và những kỹ thuật tân kỳ về cảm ứng âm thanh hình ảnh của phim ảnh, truyền hình, video game, đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng. Và cũng cho thấy, đó là những thế giới giả tạo được phóng chiếu từ tâm trí. Vả lại, con người đang bị vây khốn trong tình trạng bất trắc, tai ương, khủng bố, chiến tranh, nghèo đói, chỉ mong ước một cuộc đời bình thường, nhưng không dễ gì có được.

Nhìn lại hành trình của thơ và hội họa phương Tây, thế kỷ 20, chúng ta cũng có thể có một cảnh quan thoáng qua cho thế kỷ 21. Với một nền văn hóa đầy sinh động và khai phá như văn hóa Mỹ, thơ tự do và hội họa đã phát triển tới cùng, và bây giờ, những nghệ sĩ và nhà thơ, chỉ có thể trải nghiệm lại những gì đã trải nghiệm, không có cách nào khác. Mọi cái mới, cái lạ không còn là yếu tố gây ngạc nhiên, và cả tác giả lẫn người thưởng ngoạn đều biết rằng, rồi sẽ chỉ loanh quanh đến thế. Ước muốn hướng tới một thể thơ mới, của những nhà thơ tự do, trong suốt thế kỷ qua, đã thất bại. Cách duy nhất, có lẽ là đề nghị sự hôn phối giữa tự do và thể luật của Timothy Steele, hy vọng vào khả năng chuyển tải tư tưởng và đưa đời sống hiện thực vào thơ, để có được những tác phẩm giá trị, nhưng không phải ai cũng đáp ứng, vì đòi hỏi kỹ năng. Hơn nữa, trong một xã hội càng ngày càng đa dạng, chúng ta cần có nhiều thể loại thơ cho nhiều tầng lớp, nhiều thế hệ người đọc. Người đọc bây giờ tinh nhạy, họ không đọc một loại thơ, mà cùng lúc, đọc nhiều thể loại thơ để so sánh, và chỉ có thể thuyết phục họ bằng những bài thơ hấp dẫn và có chất lượng. Kinh nghiệm thơ Tân hình thức Việt cho thấy, tuy chưa có nhiều sáng tác hay, nhưng số người đọc thích thú với loại thơ này không ít. Vả lại, thơ tự do đã độc diễn suốt thế kỷ 20, bây giờ chúng ta không thể lập lại như vậy, bằng một thể loại thơ khác, dù có hay cách mấy. Hiện nay, thơ tự do và vần điệu Việt vẫn chiếm đa số, nhưng khi những thế hệ mới tham gia sáng tác thơ Tân hình thức nhiều hơn, tình hình sẽ đổi khác. Có lẽ, đó mới chính là hiện trạng thơ ở thế kỷ 21.


Chú thích

– Walt Whitman‘s claim that “to have great poets there must be great audiences too.”
– Sandburg argues that free verse is as old as rhythmic speech: “When primitive and prehistoric man first spoke with cadence or color,” he writes, “making either musical meaning or melodic nonsense worth keeping and repeating for its definite and intrinsic values, then free verse was born, ages before the sonnet, the ballad, the verse forms wherein the writer or singer must be acutely conscious, even exquisitely aware, of how many syllables are to be arithmetically numbered per line.”
– D. H. Lawrence, “… to read a really new novel will always hurt, to some extent. There will always be resistance. The same with new pictures, new music. You may judge of their reality by the fact that they do arouse a certain resistance, and compel, at length, a ceratin acquiescence.”
– I’m delighted with the volume – I think we need a new international conception of poetry, and a community of mutual translation. In some ways one understands a poem better by being involved with translating it than by reading it in the language it was written in, as a native speaker. A new Republic of Letters? Congratulations to all!
– Đầu những năm 1990 xuất hiện internet, website, năm 2000, bắt đầu nở rộ năm 2004. Trong một bài viết vào năm 2009, của nhà thơ Mỹ Ron Silliman, ông cho rằng, trong vòng 5 năm (từ 2004 tới 2009), những nhà thơ Mỹ có sách xuất bản là 10 ngàn nhà thơ, tương đương với con số tốt nghiệp tiến sĩ trong các khoa viết văn. Nhưng nhà thơ Seth Abramson phản bác lại, cho rằng, trong 5 năm qua, số tạp chí thơ in ấn và online là 1000 tờ báo (có thể hơn), và nếu mỗi tạp chí sản sinh ra vài chục (có thể hơn) mỗi năm, thì số nhà thơ có sách xuất bản là khoảng 50 ngàn nhà thơ. Đó là chưa kể những blog cá nhân. Nhà thơ và thơ dở đã tăng lên theo cấp số nhân, theo các nhà nhận định thơ Mỹ.


Tham khảo

– Western Civilization, Volume 2, tái bản thứ 11, 1988, Robert E. Lerner, Standish Meacham, Edward McNall Burns.
– “Prosody for 21st – Century Poets”, Timothy Steele, 2006.
– Modernism, Chris Rodrigues & Chris Garratt, 2001.
– “The Background of Modern French Poetry: Essays and Interviews”, P. Mansell Jones
– “Who Killed Poetry”, Joseph Epstein, Commentary 1988.
– Kỷ Yếu Hội Thảo, Sông Hương, 2014.
– Vũ Điệu Không Vần, Khế Iêm, Văn Học, 2011
– “Đọc Một Bài Thơ Tân Hình Thức”, Nguyễn Đức Tùng, Báo giấy Tân hình thức số 6 / tháng 10, 2014.

Tranh bài: Rod Penner

BLUES

Giới thiệu diễn đàn thơ Tân hinh thức Việt


BLUES

Nguyễn Đăng Thường dịch

Nguồn gốc của từ blues tới nay vẫn còn mù mờ dù đã được sử dụng từ giữa thế kỷ 19. Blues không là một loại nhạc đơn thuần. Trên bình diện nhạc học, Blues (cũng như tất cả âm nhạc miền Nam Hoa Kỳ) sử dụng âm giai ngũ cung với một cung giảm là blue-note. Hệ thống này bắt nguồn từ châu Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Nam Dương), và người ta cũng gặp nó trong thế giới của người Celtes và người Da Đỏ ở Bắc Mỹ. Thật thế, cho đến năm 1832, thổ dân Cherokees vẫn còn ngụ tại lưu vực sông Mississipi. Những người nô lệ da đen đào tẩu tìm đến đó ẩn trú. Đặc tính của Blues là lắc (swing). Nhịp điệu này là sự đu đưa “nghịch phách” (contre-temps). Đối với người nô lệ da đen, nhịp điệu của thân thể là phương tiện duy nhất để chứng tỏ họ còn chút tự do. Thân thể được tùy tiện uốn éo bất cứ lúc nào dù bị xích xiềng. Sự lúc lắc giải thoát thân thể và đồng thời cũng cho tâm hồn được hưởng chút tự do. Trong bài Walkin’ Blues, Robert Johnson xác nhận:

Có kẻ bảo anh cái blues đó coi bộ còn dễ chịu mà
Nhưng nó hẳn là cái cảm giác tái tê nhất đó nha.

(Some people tells you the worried blues ain’t so bad
But it’s the worst feelin’ a good man ‘most ever had).

Little Brother Montgomery kể lại sự chạm trán đầu tiên với blues trong bài First Time I Met The Blues:

Lần đầu tiên con gặp blues là lúc con băng qua khu rừng
Blues theo con về nhà và mần cho con một trận nên thân
Giờ thì Chúa ơi blues đuổi theo con từ gốc này tới gốc nọ
Chúa cần nghe con van: Chú Blues ơi chú đừng giết cháu nhé!

Xin chào chú Blues chú tới đây làm gì mà sớm thế
Sao chú bám cháu hoài mỗi sáng mỗi tối và mỗi trưa.

(The first time I met the blues, I was walking through the woods
He knocked at my house and done me all harm he could
Now the blues got after me Lord and run me from tree to tree
You should have me begging: Mr Blues, don’t murder me!

Good morning Mr Blues, what are you doing here so soon?
You be’s with me in the morning and every night and noon)

Blues như vậy là sáng tác phẩm hồn nhiên của người da đen trên đất Mỹ để diễn tả nỗi đau sống.


Nhạc da đen trong thời nô lệ

Vào giữa thế kỷ 19, người nô lệ da đen thường ca hát đánh nhịp cho công việc có vẻ bớt nhọc nhằn. Những khúc ca này được gọi là working-song (lao ca) và chúng được bọn nô lệ hát đi hát lại cả ngày. Nhạc cụ được họ sử dụng trong thời kỳ này là đàn banjor ¾ tiền thân của banjo ¾ và cây fidle, vĩ cầm thông dụng của người Ái Nhĩ Lan. Đạo luật Black Code do các chủ đồn điền da trắng làm, cấm người da đen sử dụng trống và sáo. Họ sợ chúng sẽ trở thành phương tiện liên lạc trong việc tổ chức một cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, nhiều kẻ bóc lột cũng có có thái độ khoan hồng đối với dân nô lệ và cho phép gia đình họ được cư ngụ dưới những mái nhà nhỏ trên đồn điền. Chủ tớ thường tụ họp quây quần bên nhau trong những buổi chiều thứ bảy để ca và múa, tạo sự trao đổi Phi-Âu giữa những cộng đồng khác nhau.

Sau khi đã đối xử với dân nô lệ như những tên nửa tớ nửa người, bọn bóc lột lại mang Phúc Âm ra giảng, mong dân nô lệ sẽ tìm thấy hạnh phúc trong niềm tin yêu Chúa. Chẳng mấy chốc, các tín đồ mới này biến các ca khúc tôn giáo thành một loại nhạc pha trộn được gọi là negro-spiritual. Trong Thánh Kinh, những câu chuyện kể lại sự đau khổ của dân tộc Do Thái đã có phản hưởng sâu xa nơi bọn nô lệ da đen tự đồng hóa với dân tộc Hy Bá (Hébreux) muốn trốn thoát khỏi Ai Cập. Cuối thế kỷ 19, nhiều ngôi giáo đường da đen mọc lên, trong số này có vài nhà thờ Pentecôte (Pentecost). Do vậy đã có những hướng đạo tinh thần cổ xúy hăng say các bài gospel songs (Phúc Âm Ca).

Moses xin Người hãy xuống, hãy xuống đất Ai Cập này
Phán cho tên Pharaoh già phải thả ngay dân tộc ta

(Go down Moses, way down in Egypt’s land
Tell old Pharaoh, let my people go)

Khúc ca này là tiếng gọi giải phóng.


Giải phóng người Mỹ da đen

Mặc dù mang đậm cá tính di sản của châu Phi, Blues chưa hiện hữu trong thời kỳ nô lệ. Thật ra, Blues đã nảy sinh từ những biến đổi trong cuộc sống của người da đen. Vào cuối thế kỷ 19, tiếp theo cuộc nội chiến Mỹ, những khai thác lớn nhường chỗ cho các nông trại nhỏ. Cấu trúc của những khai thác mới này biến dạng và bọn nô lệ trở thành công nhân được trả lương. Thậm chí nhiều người có thể mua luôn miếng đất nơi gia đình sinh sống. Tuy nhiên quyền khai thác những mảnh đất trồng trọt này quá cao. Dần dà một loại ca khúc mới thay thế cho các bài lao ca ngày trước, đó là các bài ca của anh nông dân cô độc. Những giai điệu du dương tùy hứng (mélodies) này được gọi là hoolies, arhoolies, hay hollers.

Thế nhưng không phải tất cả những người da đen đều đã trở thành tá điền mà một số lớn phải đi tìm việc tại các nhà máy to hay ở những xí nghiệp nhỏ. Những thị dân mới này họp thành một giai cấp vô sản hạ tầng (sous-prolétariat) nghèo khổ cơ cực không có chút mảy may hy vọng về tương lai. Sự khai trương nhiều sòng bạc, rồi tới các rạp chiếu phim câm, góp phần vào sự phát triển một loại nhạc sĩ sử dụng dương cầm chơi các tình khúc thời thượng có đệm nhiều blue-notes. Ngoài ra, một kiểu nhạc sĩ mới cũng đã xuất hiện, thường di chuyển từ các sòng bạc đến các thôn làng, chơi nhạc để kiếm sống, có khi chỉ là một chỗ để ngủ qua đêm, một bữa ăn, hay chai rượu whisky: họ là những songsters (xin tạm dịch là “du ca sĩ” để phân biệt với ca sĩ). Các nhạc công kiêm ca sĩ này ngày càng sử dụng đàn ghi ta nhiều hơn, nhạc cụ này được coi là êm ái hơn đàn banjo và không đắt tiền như chiếc vĩ cầm.

Sự bãi bỏ chế độ nô lệ tất nhiên cũng đã thay đổi cái nhìn của dân da trắng ở miền Nam về cộng đồng da đen. Thế nhưng bọn người cực đoan thì tụ họp lại thành bè đảng (dưới hình thức hiệp hội), kỳ thị và bạo tàn hết mức, như đảng Ku Klux Klan. Một hình thức nô lệ mới dần dà lộ diện và bộc phát vào năm 1890 với sự ngăn cấm người da đen bỏ phiếu ở tiểu bang Mississipi: sự kỳ thị chủng tộc ra đời. Đối với dân da đen nó đồng nghĩa với sự xuống cấp các điều kiện sinh sống (sử dụng các bệnh viện thô sơ và văn hóa mức tối thiểu). Chính vào lúc đó, vào đầu thế kỷ 20, một phong trào nhạc mới bỗng xuất hiện, tựa vào gospels cũng như work-songs và ballades (tình ca) chuyên chở bởi các songters: nhạc Blues.


Những năm 20-40

Để bán các chiếc máy hát, các nhà kỹ nghệ về âm nhạc tìm kiếm loại nhạc thích hợp với những khách hàng tương lai. Nhiều loạt dĩa hát dành cho nhạc da đen được tung ra thị trường bày bán trong các cửa Hàng Bách Hóa (General Stores), đích thực là những tiệm tạp hóa ở các thị trấn miền Nam: đó là các dĩa nhạc chủng tộc (race records). Các cô ca nhi blues cổ điển (classic blues singers) là những ca sĩ trong các đoàn hát lưu động, thường được một giàn nhạc yểm trợ. Các buổi trình diễn dưới lều này (tent shows) là tiền thân của nhạc vũ trường Mỹ (music-hall). Như ca sĩ Bessie Smith chẳng hạn, đã có một thời kỳ vinh quang cho tới thập kỷ 20, nhờ giọng mộc (contralto) ấm mạnh, khiến các ca khúc của cô có thêm kích thước của bi kịch.

Blues thôn dã, có thể đã chào đời tại miền trung châu sông Mississipi, nhưng phát triển một cách khác biệt ở Tây-Nam hay trên bờ biển phía Đông, vì bị chi phối bởi các truyền thống nhạc địa phương. Bắt đầu từ năm 1925, các hãng sản xuất dĩa đã chú ý tới loại blues này. Các toán hướng đạo suy lùng tài năng mới (talent scouts) là những kẻ có đóng góp lớn lao trong việc khám phá nhiều nghệ sĩ tài hoa, đã đi khắp miền Nam để thu thanh tại chỗ các nhạc sĩ chuyên về loại blues này. Nhiều kiểu blues đần dà xuất hiện:

Blues miền trung châu (Delta Blues)

Chịu ảnh hưởng châu Phi rất mạnh, ghi ta thường được sử dụng để chơi các nốt sol hay ré. Kỹ thuật dùng ngón đàn tay trái để nhấn phím với một cái cổ chai cưa ngắn được mệnh danh là bottleneck. Đặc tính của loại blues này là nó có vẻ như thiếu lô gích. Trong số các tên tuổi lớn của loại này người ta có thể kể Charlie Patton.

Blues ven bờ biển phía Đông

Nhẹ nhàng hơn Delta, loại blues này có một nhịp điệu đều đặn bắt nhịp luân phiên theo nhạc trầm và một kiểu thức của đàn ghi ta: điệu ragtime. Sự kỳ thị ít hiện diện tại đây tạo điều kiện sinh sống thoải mái cho dân da đen. Blind Blake là một khuôn mặt tiêu biểu nhờ có một nhạc mục chung cho dân trắng và dân đen, đã để lại nhiều bài dân ca.

Blues miền Texas (Texas Blues)

Trong bối cảnh nô lệ rộng lớn, một kiểu thức chịu nhiều ảnh hưởng Tây Ban Nha và Mễ Tây Cơ đã xuất hiện. Trong các ca khúc của Blind Lemon Jefferson, người ta bắt gặp lại tiếng đàn ghi ta flamenco cùng với những câu chuyện hợp lý đượm chất hài ở độ hai.

Những năm 20-40: tại các đô thị

Ở các thành phố lớn, các loại blues truyền thống kể trên nhường chỗ cho những thể loại mới độc đáo, tinh hoa hơn. Tại New Orleans đã hình thành một loại nhạc khá đặc biệt, tuy có gốc blues nhưng được thêm những nét mới lạ, sẽ là những yếu tố để cấu tạo nhạc jazz hiện đại. Lonnie Johnson là nhạc sĩ ghi ta đại diện cho dòng nhạc này. Thủ đô của bông vải và là một trung tâm lớn của đổi chác, Memphis phát triển được một tuyền thống nhạc riêng. Tại đây đã nảy nở những giàn nhạc đàn giây được gọi là string-bands. Nhịp điệu thường được duy trì bởi một nhạc công thổi vào một cái hũ không (jug), do vậy mà có từ jug band. Những giai điệu du dương độc tấu đã tự kiềm chế khi chơi với các giàn blues này. Nhạc trở thành nhẹ nhàng hơn, hướng về vũ khúc và sự lạ nước lạ non (nhớ nhà), những đặc điểm của nhạc Memphis Jug Band.

Ở tại nơi hợp lưu của hai dòng Mississipi và Missouri, St Louis là sân khấu của những cuộc xung đột đẫm máu giữa da trắng và da đen. Đích thực là nhạc “tửu điếm” (cabaret), tiếng dương cầm chế ngự giai điệu du dương, để mặc cho đàn ghi ta độc tấu tùy hứng. Leroy Carr, tuy sống tại Indianapolis, nhưng đã để lại dấu ấn của tiếng đàn dương cầm trên các điệu Blues của St Louis.

Là nơi độc nhất có những trung tâm thu nhạc với phẩm chất cao, Chicago chứng kiến sự kéo về của nhiều nghệ sĩ blues thường ca hát trong các hội quán nhạc (clubs) để bổ sung lợi nhuận cho cuộc hành trình. Bởi thế cho nên điệu blues bán cổ điển bế bồng bởi Ma Rainey, và điệu blues Bluebird diễn tả bởi Big Maceo, tuy đi cạnh nhau nhưng không hề hòa lẫn.


Những năm 40-60

Theo gót những hoạt động kinh tế gắn liền với Thế Chiến 2, một số người da đen tậu được một nền tài chính khá dồi dào để họ có thể vươn tới giai cấp trung lưu địa phương. Sự khinh miệt hàng ngày của dân [da trắng] miền Nam khiến họ càng thêm khó chịu và họ đã khẳng định những ước vọng mới trong âm nhạc được điện hóa.

Điện đã cho Blues một tuổi trẻ thứ hai

Cây đàn ghi ta điện tạo cơ hội cho sự gia tăng các thanh âm và sự biến đổi các tác dụng âm thanh (effets sonores), nhất là nhờ có B B King ở Memphis và Muđy Waters ở Chicago. Tuy vậy ở hai nơi này, chiếc khẩu cầm (harmonica) là nhạc cụ thống trị. Nhờ có những dụng cụ phóng âm, Little Walter cũng như Sonny Boy Williamson đã biến chiếc harmonica thành địch thủ của cây saxophone. Vào khoảng cuối thập kỷ 50, sự cách tân đã đến từ khu phố ở phía tây của Chicago. Cái “âm thanh tây thành” này (West Side Sound) bốc lên một không khí bứt rứt tuyệt vọng. Với All Your Love và So Many Roads, Otis Rush phản ảnh nỗi thất vọng của mình. Người ta có thể khám phá tất cả chiều sâu của tiếng ca bi thảm của Buđy Guy trong bài Man And The Blues.

Ở Detroit, chỉ riêng John Lee Hooker là có thể vượt qua được sư lơ là của thính giả đối với Delta Blues truyền thống. Là một nhà soạn nhạc tài hoa, J L Hooker sáng chế một kiểu thức mới cho tiếng đàn ghi ta, rất gần gũi với các nguồn của Blues nhưng cũng đầy cá tính. Một trong những tuyệt tác của nhà nhạc sĩ này là bài Boom Boom, đã đạt tới chóp đỉnh mức độ truyền cảm.

Tuy vẫn tự nguyện khắng khít với nguồn, nhưng Texas Blues cũng có một nỗ lực vươn cánh. Loại “blues đầm lầy” này (swamp blues) đã lưu truyền đến tai chúng ta ngày nay nhờ giọng ca ấm và đầy xúc cảm của Lightnin’ Hopkins. Cá tính phi thường của nhà nhạc sĩ này đã ảnh hưởng sâu đậm tới Blues của California. Một lần nữa, New Orleans lại là nơi phát sinh một kiểu thức lạ lùng dần dà được gọi là rhythm’n’blues. Xuất phát từ điệu boogie-woogie và những ca khúc tình cảm, là những điệu nhạc mới như rumba và cajun, sẽ mọc rễ đâm chồi. Noi gương Big Joe Turner, các ca sĩ “gào thét” nỗi blues của mình để chế ngự giàn nhạc. Các chủ đề của Rock Around The Clock và vài loại khác làm nền tảng cho sự trồi lên của rock’n’roll và nhạc pop Anh.

Khác với miền Bắc nơi mà người da trắng hoàn toàn không cần biết đến sự biểu hiện tình cảm của văn hóa da đen, lạ thay đã có nhiều trao đổi hơn ở phía Nam. Các chủng tộc sát cánh nhau trong đời thường và một nền văn hóa miền Nam muốn độc quyền da trắng thật ra đã thấm đượm các yếu tố nhạc da đen và nhiều thứ khác. Country music ¾ từ Oldtime, Western Swing, Bluegrass đến Country hay Western ¾ đã nhiễm giọng blues dưới mọi hình thức. Được các nơi khác trên khắp cả nước gọi là hillbilly music, loại nhạc của “dân trắng khố rách” (poor white) được giới trẻ điện hóa và nhịp hóa cho nhanh hơn, sửdụng lại các từ rock và roll (lắc và lăn) của từ vựng Mỹ da đen. Đó là trường hợp của Johnny Winter.


Blues, ngày nay

Chính tại châu Âu nhạc Blues được hưởng một thứ nhìn nhận với sự thành công của Đại Nhạc Hội Blues Mỹ (American Blues Festival) trong năm 1962. Nhiều nghệ sĩ như Champion Jack Dupree hay Memphis Slim được biết mùi thành công tại Âu châu để không hồi hương. Sự kiểu thức hóa âm nhạc của họ mạnh mẽ hơn tùy vào tình trạng họ bị cắt đứt hay không với quần chúng Mỹ đen. Ở các khuôn viên đại học Mỹ trong những năm 60-70, thay vì trở về với dân ca, sinh viên Mỹ đã nghe lại những nhạc phẩm lớn của blues. Họ tổ chức những đại nhạc hội khổng lồ, họ xúc động mãnh liệt khi vỗ tay hoan nghênh những huyền thoại sống của blues như Mississipi John Hurt hay Skip James, đã được họ tìm đến thỉnh mời tận các làng mạc xa xôi hẻo lánh ở miền Nam. Khi gặt hái thành công rực rỡ bên Mỹ, nhiều nhạc sĩ rock’n’roll Anh, như ban Rolling Stones, tuyên bố trên ti vi Mỹ rằng nhạc của họ đã đến từ blues đen.

Nếu các tên tuổi lớn của blues như B B King và John Lee Hooker đã gây được sự chú ý của cả thế giới từ hai mươi năm qua, nhiều người Mỹ đen vẫn muốn chối bỏ nước Mỹ trắng. Chẳng hạn, với Aretha Franklin, soul đã thay thế disco, funk, và rap, các loại nhạc đại diện cho sự nổi dậy trong các ghettos của những thành phố lớn, và break, smurf từ đầu thập kỷ 90. “Nhạc ga ra” và “nhạc nhà” (garage và house music) đã hòa lẫn thành loại nhạc better dayz rất Nữu Ước.

Mặc dù những năm 80 đã khai tử blues, mấy năm gần đây blues đã hồi sinh. John Lee Hooker, đóng đô ở Paris, đã tái xuất (come-back) rất huy hoàng với những dĩa nhạc hát chung với những tên tuổi lớn của rock như Santanạ Những người khác như Robert Cray, những tay đàn ghi ta kỳ tài (virtuoses), soạn các ca khúc vinh danh blues, dù đã mất đi khá nhiều trung thực. Nhiều nhạc sĩ vẫn tiếp tục chơi nhạc blues trong làng của họ tại miền Nam của Bắc Mỹ. Chẳng hạn như R-L Burnside, sau nhiều năm sinh sống như một chủ nông trại, đã mang đàn ghi ta chu du khắp châu Âu để ca những bài blues, nghĩa là diễn tả tâm tư và cuộc đời của họ. Bị chối từ, sỉ nhục, miệt thị, bạc đãi, người da đen đã biến một biểu lộ cá nhân thành ngôn ngữ cộng đồng: nhạc Blues.

Blues trước tiên là nhạc của con tim, một kho xúc cảm.


TUẦN THƠ 33: NƠI UỐNG CÀ PHÊ SỚM

0
Hiếu chụp ảnh tại Yên Coffee
Hiếu chụp ảnh tại Yên Coffee

TUẦN THƠ

NƠI UỐNG CÀ PHÊ SỚM


Lý Đợi

MỘT ĐÊM Ở SYDNEY

Tặng thi sĩ Nguyễn Đăng Thường

người thủy thủ già qua đây nằm

tù đêm giáng sinh với tôi những

giờ đêm tăm tối khuya không ai

ghé thăm như bờ biển xa không

đôi mắt nào có rất nhiều tâm

sự xin thượng đế nhìn tôi cùng

rượu đỏ ngày phán xét bao giờ

tôi sẽ ngủ với em hay sẽ

quên nhưng đừng hôn tôi như thế

tưởng vì tôi phiêu lưu không xót

thương hay tôi chỉ thương em vì

đã nằm trên vai tôi nức nở

Sydney 12-1958

 Nguyên Quân

PHÂN CẢNH

trong danh bạ của em không

còn tên thằng bờm nên những gì anh

gởi đi không một lời hồi

đáp anh chừ thua thằng bờm có quạt

mo để đổi bây giờ anh

chỉ còn một trái tim rách rưới nắm

xôi xưa bờm ơi là những

lời hò hẹn nụ cười xưa bờm ơi

bao giờ tìm lại được vì

đã thành lọn khói trong trí nhớ mỏng

manh cũng đã thành giọt sương

dần bốc hơi vào dĩ vãng anh bây

giờ thành chiếc gai dằm trong

mắt cũng đã là bóng đêm trên con

đường em vui bước trong cổ

tích bờm ơi tình bao giờ cũng đẹp

ngày em tình cờ đứng

trước công trình xây dựng

ngổn ngang gạch đá vôi

vữa người ngợm với nụ

cười ngon ngọt trên bờ

môi hồng tươi thắm anh

đã dại ngộ hỏi – tìm

ai anh là người quản

đốc có thể tìm bất

cứ người ngợm chất liệu

nào em đang muốn tìm

em tươi cười – nhiều thứ

quá chẳng biết phải tìm

đâu cho ra người tình

bạn tôi nửa lao động chân tay

nửa nhà văn nửa ma cà bông

nửa người nửa ngợm thất cơ lỡ

vận cố gánh gồng hết cái thứ

nửa mùa tìm lên núi lập chuồng

nuôi gà một ngàn con gà giống

non nẽo non nớt rất cần sự

ấm bị cúp điện mấy đêm liền

chết trụi chỉ còn vài con ngắc

ngoải chén cơm nguội từ những ngày

hôm trước rắc ngang mấy hạt muối

sống chưa bao giờ anh cám cảnh

đói khát bằng lúc này lúc này

cơn lốc vần vụ trên cánh đồng

chỉ còn trơ cuống rạ và dưới

đáy hồ sâu con cá nhỏ không

buồn nhấc ngửa chiếc phao lúc này

người đàn bà góa đến từ phía

bên kia cánh đồng đang xắn cao

ống quần vớt từng cánh lục bình.


Nguyễn Đăng Thường

SURPRISE, SURPRISE

– Mày chỉ là tên hề buồn
tên hề buồn nhất thế giới
làm mọi người cười rộ

sau một đêm mưa rào tôi
ra xó vườn nhỏ thấy 1 đóa bạch
hồng mới ló lộng lẫy trong
buổi sớm mây tôi ngắm người
nó một chầy rồi chưa kịp mắng mầy
chỉ là đóa hồng là đóa
hồng là đóa thì bỗng nghe
trong bụi rậm có tiếng thì thầm a
rose is a rose is a

 28. 10. 2000

 Nguyễn Đăng Thường

NHỮNG NỤ HỒNG CỦA MÁU

mười ngàn lẻ một đêm mưa trước
ngày chúa bị đóng đinh trên cây
vĩ cầm buổi trưa hôm đó có
một tia nắng khẳng khiu chiếu dọi
qua khung cửa tò vò rơi trúng
ngay trên đầu con maggie 2
đứa tôi mặc y phục của tổ
tiên nhân loại a dong với ê
và trong vườn địa đàng không rắn
không mận đỏ chỉ có 2 đứa
tôi bơ vơ trên tấm nệm đặt
trên nền xi măng bụi căn hầm
squatter làm chỗ trú tạm
để nhai cần sa uống bia lon
ngốn cuốn sách hình tintin tới
tây tạng cả chục rưỡi lần hỡi
miếu đình chùa thiêng mái tôn rêu
phủ không còn chim chóc bay về
đấu hót đừng coi những gì bọn
các chú nói hãy cam những gì
bọn các bác nàm hồ hởi thổn
thức nhạc jazz tưng bừng pháo bông
đêm dạ hội chúng tôi nằm ngược
thổi kèn lịm chết ôi hạnh phúc
tuyệt vời giữa paris mưa tơ
đùa phất phơ áo nhung mềm môi
đào gái hà nội băm sáu phố
phường xưa cũ trong tưởng tượng đã
chết hãy tưởng tượng một chiều hè
êm ả bên bờ xa lộ biên
hòa tờ chính luận mới ra lò
loan tin mối tình bí mật của
rupert brooke đã bị bật mí
dĩ nhiên không phải tờ lá cải
ta mà một tờ xà lách tây
vừa đăng cái tin giựt gân ấy
hỡi em không là con bé tuổi
15 noel olivier
tóc vàng sóng mũi dọc dừa của
chàng thi sĩ lãng mạng yểu mệnh
tội nghiệp cho em tôi chỉ có
1 cái miệng cười nhạt nhẽo vô
duyên & 1 mái tóc xơ dừa
cứng ngắt đen thui những cành gai
nhọn đâm vào ngực tôi đau những
nụ hồng của máu & bởi ở
bên kia bờ đại tây dương hay
ở bên này bờ thái bình dương
thời cũng thế thôi máu huyết vẫn
là máu huyết mồ hôi nước mắt
vẫn là mồ hôi nước mắt đồng
tiền bát gạo vẫn là bát gạo
đồng tiền nghiện ngập rượu chè thất
nghiệp vẫn là thất nghiệp nghiện ngập
chè chén sáng chủ nhật ngon rồi
sẽ là bloody sunday &
palm beach sẽ là napalm for
each dĩ nhiên ngắt lá đụng cây
bứt mây động rừng bản dịch 1
tập thơ tiếng nga của nhà thơ
lão ấy có nhiều viên ngọc quí
hơn chiếc vòng vương miện của nữ
hoàng anh trưng bày trong tòa tháp
cổ london có lính canh mặc
áo đỏ quần đen tay cầm cây
thương của thời phục hưng & có
cửa sắt điện tử tự động đóng
sập xuống khi gặp biến những kẻ
thừa tiền & văn minh nhất thế
giới cộng thêm đám du khách nhật
vai đeo tòng teng máy ảnh máy
chỉ máy ổng máy bả nối đuôi
chen lấn dẫm lên chân nhau oh
i’m soly vào đứng xem trầm
trồ mỗi trự độ vài ba giây
dĩ nhiên dẫu rất muốn chúng tôi
vẫn không thể là 1 nữ hoàng
khả ái để bù lại anh xin
ca em nghe vài câu nôm na
của ông cụ nguyễn khuyên nguyễn dụ
gì đó này mợ nó nghe nhé
1 mai 1 mốt 1 ngày xưa
thơ thẩn kìa ai ăn bánh còng
tui rại tui rờ răng rắn rết
bà lanh bà lắt lưỡi lâu la
dĩ nhiên gầy mập đói no rách
lành đau mạnh già trẻ buồn vui
cù chớn cà lần hào nhã phong
hoa chi chi hay gì gì thì
2 đứa tôi cũng vẫn là 2
đứa tui như từ thủa mới chọc
đất ghẹo trời hay vào lúc ông tây
nhà đèn dựng nước an nam
ta & con maggie 1 bữa
nọ nó lẻn vào siêu thị siêu
thực siêu ăn cuỗm mất mẹ của
chàng 1 khúc thịt dồi to tổ
bố nó ngậm mãi ngậm hoài mà
chẳng teo mòn mẻ sứt thì nó
vẫn là con maggie đáng thương
nó cũng không thể là siêu sao
liz / maggie trong cuốn phim màu
mèo cái trên mái thiếc nóng đố
em biết mán ở đâu biết mao
mấy tuổi biết mưa mấy đồi đố
anh biết khỉ là ai dĩ nhiên
là tôi & tất cả bà con
ở đây ai cũng biết mặt cái
con ngựa đó hỡi người anh em
mỗi đêm khoác blouson đen mù
xoa đỏ nhét ló một góc chéo
ra ngoài mép túi sau quần jeans
đứng tựa quầy quán khuya đẫm mùi
bia đắng nước tiểu mặn mồ hôi
nồng hơi thở thối tha thuốc lá
marlboro cao bồi giả hiệu
1 ngày nào ta sẽ cỡi har
ley davidson tay trong tay
hò hơ hò dắt nhau về quê
tôi đói thăm nương ngô thăm đồng
lúa trên bến đò thủ thiêm vớt
cành rong ướt lên chùi những giọt
lệ khô 1/ 4 thế kỷ từ
chiều xuân xưa em qua đây làm
thuyền người dĩ nhiên thành hồ
rồi sẽ có cái tên mới là
sài gòn dĩ nhiên trên đường trần
ruổi dong dại nhờ khôn chịu cuộc
đời là manh chiếu rải những nụ
hồng chờ ta khi ta không buồn
ngủ tình yêu là suối mật bờ
xôi đợi ta khi ta chưa muốn
ăn dĩ nhiên đêm phải trắng ngày
phải đen biển trên cao trời dưới
thấp khi thủơ bé tôi thủ dâm
ôm rừng thu khiêu vũ dĩ nhiên
em không bao giờ thuộc về tôi
còn tôi chẳng khi nào là của
em & tụi mình ê cóc cần
cái chuyện khôi hài lẩm cẩm khối
tình trương mÿ chén nhựa em cười
vỡ tan ấy xin quí vị cho
1 tràng pháo miệng thật ròn như
còn ngồi rạp quốc thanh coi vở
con gái chị hằng hay đứng trong
rạp hát bộ bên hông trường tôn
thọ tường coi cọp tuồng triệu tử
long đoạt ấu chúa kính thưa quí
độc giả chúng tôi là những kẻ
lang thang trong các hành lang tàu
điện ngầm trên những thiên đường giả
tạo sống bằng dao búa của ác
mộng hằng ngày nên chỉ được biết
những cuộc tình 100 năm trong bụi
coœ lùm cây đêm nở sáng tàn
lũ chúng tôi & con maggie

 London, tháng 5 - 1991

 Nguyễn Hòai Phưong

GỌI ĐÒ

Đò ơi … Đằng nào thì đò cũng
đầy rồi. Thôi thì đò cứ thế
yên tâm mà sang sông đi. Nấn
ná ở lại thì đò cũng có
làm gì, đò có chờ, có đợi,
có chở thêm được ai đâu. Thôi
thì đằng nào cũng phải rời bến,
đò cứ sang sông, nhường bến lại
cho những con đò khác … Để những
con đò khác chở những con người
khác đầy rồi cũng phải sang sông,
nhường bến lại cho những con đò
khác nữa … Để đò sang sông rồi
đò lại quay về bến, đò lại
chờ, lại chở những đợt khách mới …
Đò ơi … Khách chưa đến rồi khách
sẽ đến. Kệ khách không đi đò
này thì đi đò khác. Kệ hết
đợt khách này lại có đợt khách
khác … Đò ơi … Đò đầy rồi thì
đò cứ sang sông … Đò ơi … ơ I …

 23 - 8 – 08

   Nguyễn Hữu Viện

GÓT CHÂN ẢO EM BƯỚC THỰC
QUA NGƯỠNG HỖN MANG

Em như đường gương vỡ gián đoạn cắt
tim anh thành ranh giới fractal cách
ly đứt đoạn phân khúc cả tâm hồn
em đoan trang em bước ra từ cõi
siêu thực hư hư đốn đến độ hỗn mang
võng mạc anh đứt đoạn bao đường fractal
đổ vỡ tràn tựa lá vàng thu sang
càng nhìn sâu vào em bằng kính hiển
vi mô châu thân em khối tỉ tế
bào xếp đặt trật tự hoàn chỉnh càng
nhìn sâu vào nền trời sau em bằng
kính viễn vọng thiên văn chương vũ trụ
như Vua Trụ tay ôm hàng triệu triệu
thiên hà tinh vân theo trật tự phi
Newton hoàn chỉnh chợt anh thảng thốt
giật mình lạc lõng lạt lòng càng lạc
trôi trong hỗn mang quang tử lang bạt
lãng tử không dương không âm không yêu
không hận không sống không chết quả như
hạt cơ bản neutrino vô duyên
vô tính vô tình càng lạc trôi lạc
lõng trong phức cảm phức hợp bản ngã
mình tích tắc trong khoảnh khắc sát na
nhậy cảm từng giọt thời gian nhỏ vào
ly nước lạnh dòng ấm đối lưu hỗn
mang tim anh hoang mang ngỡ ngàng khi
gót chân em bước qua ngưỡng không–thời–
gian cong cong parabol bước qua
điểm uốn song song …

 Paris, Thu 2001

 Nguyễn Họat

NHỮNG CON RỐI …

Dưới bầu trời trẻ thơ những con
Rối cứ khua chân những con Rối
cứ múa tay miệng luôn cười ngậm
tiếng. Hình như làn gió múa hình
như bầu trời múa giục con Rối
múa theo giục em Bé múa theo.
Gió vui quá reo lên Bé vui
quá reo lên sao Rối vui lại
ngậm tiếng? Bé hỏi mãi Rối lặng
im … Mẹ bé bảo đến mai ngày
Bé lớn lên Rối lớn lên sẽ
nghe thấy tiếng Rối nói sẽ nhìn
thấy Rối khua chân sẽ nhìn thấy
Rối múa tay. Thật nực cười những
con Rối dưới bầu trời đang múa
may.


 Nguyễn Thị Khánh Minh

NƠI UỐNG CÀ PHÊ SỚM

Đêm hôm qua tôi nói thầm
hết chuyện này đến chuyện nọ
thực tình tôi rất hoang mang
không biết mình nói trong mơ
hay mớ trong cơn nửa mê
nửa tỉnh hình như đó là
những câu tôi trả lời về
những việc mà ban ngày tôi
chưa kịp nói không có cơ
hội để giải bày trò chuyện
hoặc là những lời nếu không
nói thầm với đêm thì chỉ
biết đào mộ nơi con tim
mà cất qua một đêm như
thế sáng nay ngồi dưới nắng
đối diện với một dòng nước
chảy nghĩ đến những việc quen
thuộc phải làm mỗi ngày cái
trống trải riêng tư đeo nặng
mỗi ngày tôi không kìm được
giả vờ cài dây giày để
nước mắt có đường rơi xuống.


 Nguyễn Tất Độ

HAI CÂU

Tôi nhặt được một câu thơ bên
vệ đường trên gói xôi nóng hổi
mà bà lão bán xôi vừa cho
người ăn mày, bên hông xe đẩy
của bà lão tôi thấy một tấm
biển nhỏ ghi chữ “1 ngàn / gói”.
Tôi nhặt được một câu thơ trong
một nhà hàng trên món Cua Hoàng
Đế mà một đại gia vừa gọi
để làm vừa lòng cô gái ăn
mặc như một con điếm, menu
đề giá “1 triệu 5 trăm ngàn”.
Tôi ghép hai câu ấy lại thành
bài Tân Hình Thức và tôi viết
phía sau những con chữ đang hiển
hiện này, ai đọc được thì đọc!


 Nguyễn Thói Đời

DỌN NHÀ

Cái này cho vào thùng này
cái kia cho vào thùng kia nhưng cũng
không nhất thiết vậy cái này
cũng có thể cho vào thùng kia và
cái kia cũng có thể cho
vào thùng này miễn sao gói gọn tất
cả để mang đi đến một
nơi khác một nơi khác không em mà
nơi này cũng đã từ lâu
vắng em anh còn lại gì ngoài những
kỉ niệm những kỉ niệm bây
giờ đang được anh đóng gói kỉ niệm
này cho vào thùng này và
kỉ niệm kia cho vào thùng kia nhưng
cũng không nhất thiết vậy kỉ
niệm này cũng có thể cho vào thùng
kia và kỉ niệm kia cũng
có thể cho vào thùng này nhưng em
ạ thật ra thứ duy nhất
anh thật sự muốn đóng gói chính là
bản thân anh với những nghĩ
suy những nỗi buồn những nỗi trống trải
trong lòng từ ngày vắng em
trong căn nhà nhỏ


ĐÔI NÉT VỀ HIP HOP

0

Giới thiệu Diễn Đàn Thơ Tân hình thức Việt

__________________________________

wwww.thotanhinhthucviet.com

ĐÔI NÉT VỀ HIP HOP

___________________

Nguyễn Đăng Thường dịch

 

Ra đời ở Bronx (New York) trong thập niên 70, Hip Hop đã lan nhanh khắp thế giới và xâm nhập mọi nền văn hóa địa cầu. Là một hiện tượng độc nhất vô nhị, trong 30 năm qua, Hip Hop đã cách mạng mọi loại hình nghệ thuật (nhạc, họa, vũ, văn, thơ…) và biến đổi những xã hội trong đó văn hóa Hip Hop đã có cơ hội được phát biểu.

Định nghĩa

Hip Hop đã xuất hiện ở South Bronx, một ghetto của New York với vấn nạn ma túy và tội ác bạo tàn hết cỡ dưới mọi hình thức, khỏang giữa thập niên 70. Phong trào Hip Hop là giao điểm của nhiều nền văn hóa và khuynh hướng nghệ thuật. Đại để, ta có thể chia Hip Hop ra làm bốn địa hạt: khiêu vũ, nguệchh họa (graffiti), DJ’ing, và emc’ing (rap), có gắn bó chặt chẽ và đã uống chung cái nguồn lịch sử văn hóa xã hội Huê kỳ. Nghệ sĩ rap KRS One trong một bài viết về đề tài này đã có thêm 5 điểm chính yếu khác nữa, là: nghệ thuật sử dụng thân thể như một nhạc cụ (Beatboxing), thời trang vỉa hè (Street Fashion), ngôn ngữ đường phố (Street Language), cái khôn lanh ngoài ngõ để “rút tỉa những quy luật chung” (Street Knowledge), và kinh doanh chợ trời, nghĩa là tìm cách “biến 15 xen ra thành một đồng đô” (Street Entreprenueralism).

Hip Hop là một họat động có tính cách văn hóa vì nó bao trùm nhiều dạng thái biểu dương nghệ thuật, tuy khác biệt nhưng vẫn bổ túc nhau. Trong giai đoạn đầu, Hip Hop là văn hóa qui tụ những cộng động Mỹ-Phi và Mỹ-Porto-rican. Khu Bronx có một cộng đồng rất lớn dân Mỹ-Porto-rican. Họ mê nhạc disco trong thập kỷ 70. Cái lằn ranh văn hóa lúc ban đầu giữa hai cộng đồng này, đã được Hip Hop dần dà tẩy xóa. Nhóm Mỹ đen và nhóm Mỹ la-tinh có rất nhiều điểm tương đồng. Trước tiên là tính di truyền. Bởi họ mang chung dòng máu Tây-ban-nha. Người Tây-ban-nha khi tới đảo, vì nhu cầu sinh lý, đã hiếp phụ nữ bản xứ (thổ dân) mà con cháu sẽ là người Porto-rican. Khi tìm được vàng trên đảo, người Tây-ban-nha đã chở thêm dân nô lệ từ châu Phi tới để phụ giúp trong việc khai thác và đã tạo ra giống người Mỹ-Phi. Tóm lại, hai cộng đồng sống cạnh nhau và mang chung ít nhiều một dòng máu này, đã đặt nền ảng cho Hip Hop.

Có thể vì từ Hip Hop mang nhiều nghĩa và gợi nhiều ý khác nhau nên đã được giữ lại để chỉ định cái phong trào đã xuất hiện trong thập niên 70. Trước tiên vì nhạc Hip Hop tiếp tục dòng nhạc do người Mỹ-Phi sáng chế. Thật thế, Hip Hop gợi nhớ nhạc Be Bop (dòng nhạc jazz hiện đại xuất hiện sau thế chiến 2 nhờ các đóng góp của Dizzie Gillespie và Charly Parker). Hip Hop cũng có liên hệ với khiêu vũ. Hai âm “Hip” và “Hop” gợi nhớ vũ điệu của các “breakers” trong khu Bronx. “Hip” có nghĩa là “đúng mốt”. Nhưng nó cũng có thêm nghĩa của một tiếng lóng, là biết “xoay trở”. “Hop” thì là một từ gợi thanh, diễn tả sự nhảy vọt, vươn tới. Do vậy Hip Hop hàm ý sự tiến bộ và sự tiến thân nhờ tính thông minh và tài tháo vát.

Từ Hip Hop có thể đã do ca sĩ rap Love Bug Starky sáng chế. Hip Hop, theo các nghĩa kể trên, đã được các tay chủ lễ MC (Master of Ceremony) luôn luôn sử dụng trong các buổi dạ diễn, rồi trong các dĩa nhạc, dần dà đã lan khắp nước Mỹ và thế giới. Chúng ta sẽ thấy nguồn gốc của từ “Rap” trong phần sau. Hip Hop là một phương tiện để hiện hữu bằng một kiểu thức khác hơn sự hiện hữu do xã hội áp đặt. Hip Hop là một quan điểm về xã hội và những yếu tố của xã hội. Hip Hop đổi hướng, chiếm hữu, sáng tạo và biến cải cái tiêu cực thành cái tích cực.

Hip Hop, văn hóa vũ múa

Tất nhiên cái nguồn của vũ điệu Hip Hop là châu Phi, ngày xưa là một lục địa với vài chục tỉ người da đen, sẽ bị bắt giữ và chở sang Mỹ làm nô lệ phục vụ cho bọn người da trắng muốn biến cái lục địa mới đó thành “miền đất hứa”. Trong suốt những năm tháng nô lệ ấy, trong khi người da trắng và các giáo hoàng đặt nghi vấn về sự có mặt của “linh hồn” nơi bọn mọi đen, những người da đen này đã cố hồi sinh một nghệ thuật châu Phi chôn sâu trong đáy người họ, để cho tình cảnh của họ bớt phần cực nhọc. Gắn liền với âm nhạc mà người da đen sẽ sáng tạo trên đất Mỹ, vũ múa sẽ biểu lộ song song với tiến trình của âm nhạc. Như nó đã từng với Jazz, vũ múa là một yếu tố quan trọng đối với Hip Hop. Theo Buster Smith thì “nhạc jazz là một loại nhạc cốt để khiêu vũ”.

Quincy Jones nói thêm: “Ngày xưa, vũ trường là bến đỗ của các giàn nhạc jazz. Giàn nhạc khiêu vũ và giàn nhạc jazz chỉ là một mà thôi.” Teddy Wilson: “Thiếu khiêu vũ, nhạc sĩ jazz bị mất sự kích thích tối cần.” Trong nhạc jazz nguyên thủy, chính những vũ công đã nâng và giữ giàn nhạc. Nếu các vũ công tồi thì dàn nhạc cũng kém. Và Louis Armstrong đã xác định thêm tầm quan trọng của vũ trong nhạc đen: “Anh sẽ không nhìn thấy những diễn tiến trên sàn nhảy nếu mắt anh cứ dán chặt vào các nốt.”

Ở Ba Tư (Bresil) vũ múa từ châu Phi trở thành chiến cụ để chống lại bọn chủ trương mãi nô, hòa lẫn với các nhịp điệu Ba Tư tạo thành điệu vũ/chiến cụ capoiera. Vũ điệu Hip Hop dần dà tiến triển theo nhạc đen. Trên sân khấu, James Brown là một trong những vũ công thuộc hàng quái kiệt. Các bước cách tân của anh là nguồn cảm hứng lớn lao đối với các vũ công ở New York. Thêm vào cái văn hóa Mỹ-Phi đó, là sự đóng góp của người Porto-american thích vũ điệu disco ở Bronx, trong lúc người Mỹ đen thích vũ điệu funk hơn.

Vũ điệu Hip Hop gồm nhiều đặc tính

1. Vũ điệu Break. Còn giữ nhiều đặc tính của capoiera. Gồm nhiều kỹ thuật và động tác khéo léo (acrobatic) gần mặt đất, đã nẩy sinh ở New York. Các tay nghề của vũ điệu này là nhóm Rocksteady (Crazy Leg, Frosty Freeze, Ken Rock), nhóm Dynamic Rockers, và nhóm New York City breaker.

2. Vũ điệu Electric Boogie. Hóa thân của vũ điệu Electric Boogalloo từ bờ biển Tây Huê Kỳ, nơi mà vũ điệu này được thể hiện dưới các dạng thức của funk. Bên Pháp Electric Boogie có cái tên mới là Smurf. Vũ điệu này gồm nhiều kỹ thuật đặc biệt, như popin’ (?) do Boogalloo Jo sáng tạo, hoặc kỹ thuật lockin’ (khóa) do Don Campell sáng chế. Marcel Marceau, nghệ sĩ hề nhại điệu bộ (mime) lừng danh của Pháp đã đóng góp không nhỏ cho vũ điệu này với các sô của anh trên truyền hình Mỹ. ở bờ biển Tây cũng đã phát triển vũ điệu Hop Rock. Frosty Freeze (có thể là người đã sáng chế cử động “bước lui”, được ca sĩ Michael Jackson phổ biến dưới tên gọi Moonwalk), nhóm Rocsteady, và nhóm Electric Boogie Force là những diễn viên chính của vũ điệu này ở New York. Các vũ công này mau chóng trở thành những tên tuổi trong khu phố của họ. Đồng thời ở đầu thập niên 70, New York cũng đã có những vấn nạn băng đảng trầm trọng. Các tội ác cũng gia tăng, nhưng Hip Hop và vũ múa đã cho giới trẻ có được một sự chọn lựa mới.

Một trong số những nguyên tắc căn bản của Hip Hop (và tất nhiên cũng của vũ múa) là sự đo tài. Các vũ công từ nhiều khu phố đối đầu nhau trên sàn nhảy với những vũ thuật thay cho dao hay súng trên đường phố. Nhưng các trận thách đấu cũng có khi kết thúc bằng những cú đấm đá. Các vũ công còn trong lứa tuổi thiếu niên đều thuộc giới trẻ của các ghetto. Họ đã chuyển sự phẫn nộ vào vũ múa. Vũ múa đã trở thành mối đam mê hàng đầu. Nó thay thế cho cuộc đời nghèo khổ lang thang trên hè phố, trên bình diện tài chính cũng như tinh thần. Các vũ công được đặt cho cái biệt danh là “b. boys”, mẫu tự “b” là từ “breaking” viết tắt. Từ “break” trong tiếng Anh có nghĩa là “cắt đứt/ngưng nghỉ”. Trong các bài nhạc (soul và funk) break là lúc ca sĩ và nhạc sĩ ngừng nghỉ, trừ giàn trống và kèn trầm vẫn tiếp tục chơi để giữ nhịp “beat”. Đó là những lúc thuận tiện nhất để các vũ công trổ tài, mà một tay DJ (Disc Jockey/chạy dĩa nhạc) tên Kool Herc đã thấu hiểu, do vậy anh đã cho chạy đi chạy lại mãi các đoạn này với hai giàn máy hát, bên phải và bên trái. Chính anh đã gọi các vũ công là “b. boys”. Về sau “b. boys” (breakin’ boys) cũng có thêm nghĩa mới là “bad boys”.

DJ, những người dọn đường

DJ, hay Disk Jockey, những người giữ phận sự chạy các dĩa nhạc funk và disco đã có từ lâu, trong các buổi phát thanh nhạc radio hay trong các clubs. Nhưng Hip Hop đã thay đổi hẳn tình thế. Nếu không có các tay DJ thì sẽ không bao giờ có Hip Hop. Ba ông tổ của Hip Hop trên bình diện âm nhạc là ba chàng DJ: Kool Herc, Afrika Bambaataa, và Grand Master Flash.

Kool Herc gốc Jamaican. Thời niên thiếu anh đã rời Kignston tới New York sinh sống trong khu Bronx. Vì lực lưỡng và giỏi các môn thể dục điền kinh nên bạn đồng lớp gọi anh là Hercule, được rút ngắn thành Herc. Sau khi đã “xịt” (graffiti) tên anh lên các mặt tường, anh hướng về việc chạy dĩa (Dj’ing) và đã có thần kiến sử dụng cái “sound system” (hệ thống âm thanh) của thời thơ ấu trên đảo vào cái thực tại của khu Bronx. Anh tổ chức các buổi “nhót trong xóm” (Block Party) và chạy các dĩa Soul và Funk anh thích. Vì chỉ có một giàn máy nên anh phải nói vào micro như các tay DJ Jamaican trong khi tay kia anh thay dĩa. Chỉ khi anh “trộn âm” (mix, mixer) với hai giàn máy anh mới sáng tạo được những kỹ thuật pha trộn vẫn còn được sử dụng đến nay. Khi chơi cùng một dĩa nhạc trên hai giàn máy, anh đã có thể chơi đi chơi lại những đoạn anh thích, nhất là các đoạn “breaks”. Dần dà, vì phải để hết thì giờ và tâm trí vào việc hoàn hảo kỹ thuật trộn âm, Herc không thể tiếp tục “nói” (rap) vào micro như trước, nên anh phải mời vài bạn hữu, như Coke La Rock, giữ cái “mic” thế anh, tạo thành nhóm “Herculoids”, nhóm “ca sĩ” rap đầu tiên. Nếu không có nhóm này thì sẽ không có phần tiếp.

Nhờ thấy Kool Herc sử dụng các giàn máy mà Afrika Baambataa đã tìm được con đường của anh. Baambataa cũng ngụ trong khu Bronx. Khoảng đầu thập niên 70 anh thuộc một băng đảng New York tên Black Spades. Vừa tiếp tục đến trường Bambaataa vừa theo băng đảng lang thang trên đường phố cho tới ngày Soulski bạn anh bị ám sát. Bambaataa bèn suy gẫm về cuộc đời anh và tình cảnh của dân Mỹ-Phi trong xã hội da trắng không chỉ đã bóc lột bằng sự nô lệ hóa người da đen trong nhiều thế kỷ, mà ngày nay còn giam giữ họ trong sự nghèo túng, dốt nát, cùng với áp bức, hận thù và kỳ thị. Noi gương các lãnh tụ trong các phong trào đấu tranh đòi dân quyền như Malcom X, Martin Luther King, thậm chí Bobby Seale và Huey P. Newton (các tay đã sáng lập nhóm Black Panther Party), anh quyết định, với tư cách một anh ghetto trẻ, biến những năng lực tiêu cực đang lượn quanh trong môi trường của anh thành những năng lực tích cực qua trung gian của sự biểu hiện mỹ thuật và văn hóa Hip Hop, và anh trở thành một DJ như Kool Herc. Bambaataa là người đầu tiên pha trộn nhiều loại nhạc khác biệt nhau: vào Funk và Soul của những năm 60 và 70 anh trộn nhạc rock, nhạc công nghiệp Kraftwerk và nhiều loại nhạc khác nữa.

Nhóm Zulu Nation do Bambaataa thành lập, về sau qui tụ thêm vào hàng ngũ nhiều tay DJ khác, như Grandmixer DST, Jazzy Jay, Kool DJ Red Alert, Afrika Islam… Chẳng mấy chốc các vũ công cũng gia nhập Zulu Nation để trở thành những yếu tố liên bang của những người trẻ tuổi có liên hệ tới Hip Hop. Nhóm Nation Zulu Universelle có những buổi họp về các giá trị “Peace, Unity, Love, and Having Fun” (Hòa Bình, Thống Nhất, Tình Yêu, và Vui Hưởng). Họ xem âm nhạc và những biểu hiện mỹ thuật nền tảng của Hip Hop như là phương tiện để giáo dục và giải thoát giới trẻ ra khỏi những vướng mắc của sự bạo tàn. Tìm hứng trong các giá trị tôn giáo có tính các hoàn vũ và liên hiệp, cũng như vay mượn thêm của Hồi giáo (mặc dù cách phục sức của Bambaataa và các anh Zulu có thể khiến các ông trưởng sư Hồi giáo đứng tim) Bambaataa bám víu vào cái tên của bộ lạc “Zulu” ở Nam Phi đã đánh bại quân Hòa-lan vào năm 1879, nhờ sự đông đảo và đồng nhất. Tóm lại, Bambaataa đã muốn sử dụng âm nhạc và văn hóa như một nguyên động lực trong sự tiến thân.

Chúng ta đang ở giữa thập niên 70, và từ bốn hướng của khu Bronx những người trẻ tuổi đang liên kết trong sự hồ hởi chung đối với phong trào đang hình thành dưới mắt họ, mà chính họ lại là những diễn viên chính: phong trào Hip Hop. Cái thế hệ mà tới lúc đó xã hội đã không buồn để ý tới, mà xã hội Mỹ vẫn tội hóa, nhất định muốn cho thế giới (mặc dù lúc đó họ chưa ý thức rõ ràng được như vậy) chứng kiến cái khả năng sáng tạo của mình.

Khắp đó đây Kool Herc và các Herculoids mang sinh khí tới cho các Blocks Party và rất nhanh Bambaataa trở thành một lực lượng địch mãnh liệt. Khu Bronx chưa từng chứng kiến một hiện tượng như thế. Hàng nghìn người đổ xô về các công viên để được nghe cái âm thanh mới do các DJ pha trộn, nghe những gã nói vào micro, xem những gã vũ múa lộn đầu quay mòng, trong lúc ở đằng sau họ, vài tay “nguệchh ngoạc”, “vẽ vời” cũng từ bỏ sự vô danh an toàn để mạo hiểm nhập bọn. Khu Bronx náo động. Văn hóa hè phố sôi sục và mau chóng tràn ngập các khu phố khác của New York.

Một người trẻ tuổi khác, gốc Jamaican và cũng cư ngụ tại Bronx, giúp cho Hip Hop nới rộng tầm hoạt động. Grand Master Flash, nhìn Herc bên các giàn máy, bắt đầu để tâm đến sự điều khiển các máy móc có thể cho phát ra những âm thanh có sức gây phản ứng tức thì nơi các vũ công và đám đông. Grand Master Flash tận dụng những hiểu biết của anh về điện toán học ở trường để áp dụng vào nghệ thuật “dee jaying”. Anh hoàn chỉnh kỹ thuật của Herc. Rồi lấy hứng ở Grand Wizard Theodore, người sáng chế kỹ thuật “scratch”, Flash sáng chế các kỹ thuật “scratch” (cào) và “cut” (cắt) của anh. Vào năm 1976, Flash đã hoàn tất công việc của mình và cuộc đối chọi lại hệ thống âm thanh của Kool có thể khởi sự. Flash cũng bắt đầu viết lách vài cái vần, nhưng vì quá bận rộn với các giàn máy nên anh phải nhường vai MC lại cho những người khác.

Rap: văn hóa ngôn ngữ ghetto

Như đã thấy, Kool Herc có những home boys (“gà nhà”) như Coke La Rock và Clark Kent để rap theo những phần nhạc cụ trong các dĩa nhạc do Herc chơi. Coke và Clark thường xướng đọc những vần ứng khẩu hay những cảm nghĩ đã được thử trước, để lôi cuốn các vũ công trong các sô của họ. Các hoạt động trước micro này mang đến cho những người làm vậy cái biệt danh MC (đọc như “em xi”) có nghĩa là: Master of Ceremony (chủ lễ) hay Mic Controller (người sử dụng micro). Thế nhưng hành động thao dượt ngôn ngữ như vậy đã được biết trước đó dưới cái tên “Rap”.

“Rap” trong tiếng Anh có nghĩa là một cái gõ nhanh và nhẹ gây một tiếng động khẽ. Cũng có nghĩa là liên lạc bằng những tiếng gõ. Trong tiếng lóng Mỹ-Phi, từ “rap” chỉ định một người có ngôn ngữ sắc bén, sử dụng ngôn ngữ một cách lanh lẹ như H. “Rap” Brown, ngày nay được biết đến dưới cái tên Jamil Abdullah Al-Amine. Trong thập kỷ 60, Rap Brown là đảng viên của nhóm sinh viên bất bạo động SNCC (Student Non-Violent Coordination Comittee), rồi của Black Panther Party. Anh đã được cái biệt danh “Rap” trong những trò đấu khẩu được gọi là “dozens” mà anh là một tay thiện nghệ trong ghetto. Trò “The dozen” và các trò “Double Dutch jump rope” khác, có thể ví với cái trò “mẹ mày” nhưng bỏ bớt cái phần tồi tàn mà Arthur (?) đã mang vào. Nguyên tắc của trò đấu khẩu này là hai đối thủ cứ hạ nhau thả ga không chừa cả bà mẹ của địch thủ. Môn thể dục bằng mồm này đã được bọn trẻ ghetto thực hành, pha trộn các tiếng lóng của ngôn ngữ hè phố với sự ứng khẩu tức thì. Tiếng tăm của H. Rap Brown đã khiến cho từ “rap” được phổ cập nhanh chóng. Bởi Rap Brown đã từng là bộ trưởng của Black Panther Party và là một trong các diễn giả đã gây ấn tượng mạnh nhất của các thế hệ những nhà cách mạng trẻ.

Cách sử dụng tài tình lời ăn tiếng nói ấy là một truyền thống rất đặc biệt của người Mỹ-Phi, và trở ngược về tận châu Phi và các thầy phù thủy kể lại những huyền thoại và lịch sử các bộ lạc và các gia đình. Ở châu Phi, các thầy phù thủy là những kẻ giữ gìn lịch sử và cái khôn khéo (sagesse, wisdom) chung. Con cháu những người nô lệ gìn giữ cái nét đó trong di sản, nhưng đã cập nhật nó vào thực tại nước Mỹ và thế kỷ 20. Rap gợi hình ảnh một mục sư giảng đạo trong nhà thờ trên cái nền âm thanh của Gospel, hình ảnh một “bluesman” diễn tả cái thực tế tái tê của cuộc đời mình, hình ảnh một Louis Armstrong nói theo nhịp điệu của hai chiếc kèn đồng. Hoặc hình ảnh của những Lats Poets, đã hòa hợp thi ca của họ với nhịp tiết vừa thành thị vừa truyền thống, của những nhạc cụ có âm hưởng (percussion) trên các đường phố Harlem. Hay thêm nữa, hình ảnh một Gil Scott Heron đọc các bài thơ của mình trong tiếng nhạc soul.

Rap, với tư cách văn hóa truyền khẩu, đã luôn luôn là một yếu tố căn bản của văn hóa Mỹ-Phi. Các DJ của các đài phát thanh đã giữ một vai quan trọng trong cộng đồng da đen, với tính cách là nguồn thông tin âm nhạc cũng như chính trị. Cái tài ăn nói “bép xép” (gift to gab) của các tay DJ đài được hoan nghênh, và đã từng là một nguồn cảm hứng cho các tay rap đương thời, tuy cái từ “rap” cũng được liên kết (với “Jack the ripper”, tên sát nhân đã giết chết các cô gái điếm trong sương mù Luân Đôn thế kỷ 19) bằng cách chơi chữ, như trong trường hợp “Jack the rapper”.

Tất nhiên truyền thống khẩu truyền ấy cũng hòa lẫn vào các bài ca soul. James Brown rap “Brother Rap”, và chắc chắn anh đã phổ biến trên tỷ lệ hoàn cầu cái âm thanh mới lạ đó. Nhưng anh không phải là người đầu tiên đã xen một phần nói suông vào ca khúc. Issac Hayes, Barry White, và dĩ nhiên Millie Jackson cũng đã đệm những đoạn rap (nói suông) trong những chỗ “laid-back” (cool/nguội) của bài hát. Thực thế, từ “rap” từng được sử dụng để gọi sự nói theo nhạc, và nữ ca sĩ Millie Jackson là người đã quen thuộc với những khúc ca như thế, khiến cô có thể tiếp tục triển khai ở các đoạn có ca từ (lời nói được phổ nhạc) những chủ đề thường rất sexy và feminist (nữ quyền luận) trong các bài hát của cô. Cô cũng sẽ không quên cười cợt các tay rapper sau này đã nợ cô tất cả, như trong bài “I had to say it” cô nhạo báng ra mặt những Sugar Hill Gang và những Kurtis Blow khác.

Trên bình diện âm nhạc, rap nằm trong dòng tiếp nối nhạc funk và soul. Những âm thanh hiếm hoi, chỉ những người sành điệu mới được biết, nhờ có rap mà đã có thêm được một tuổi trẻ thứ hai. Les Metters, Sly & the family Stone, trọn bộ P. Funk của George Clinton, Curtis Mayfield, Isley Brothers, Ohio Players, O’ Jays, James Brown, Issac Hayes, Millie Jackson vừa kể… và nhiều tên tuổi khác đã cấu tạo các nền nhạc cho âm thanh “rap”.

Rap và nguồn gốc Jamaican

Giới trẻ Hip Hop tất nhiên đã lớn lên trong cái không khí soul và funk đó. Các DJ phát thanh các ca khúc của James Brown, Millie Jackson. Và rap, dễ đạt tới hơn một ca khúc quen thuộc, vì gần gũi với cái thực tế của ghetto nhất, mà cũng dễ đạt tới hơn một cuộc khẩu chiến “dozens”, trở thành một phương tiện để thể hiện của một phần giới trẻ. Nhưng cái kiểu thức phát âm đó (nói theo nhịp) không chỉ đến từ nhạc soul. Raggae cũng có cái đặc thù đó: ngoài các ca sĩ raggae cổ điển đã có thêm các Dee Jays chỉ nói trên nền nhạc của các bài riddim (?) dân gian ở Jamaica. Các tay Dee Jay này (được gọi vậy vì họ lấy lại kiểu thức phát âm của các tay DJ từ các đài phát thanh Mỹ “R&B US”) cũng là những người điều khiển những hệ thống âm thanh. Họ tạo không khí và thúc đẩy dân chúng. Họ không ca. Họ “chúc tụng” (toast). Rồi họ ghi âm các bài riddim dưới dạng thức dee jay.

Trong thập niên 50, hệ thống âm thanh đầu tiên được ghi nhận là của Tom the Great Sebastian, với DJ Duke Vin. Rồi là sự bùng nổ: Duke Reid (và DJ V-Rocket), Lord Koos, Icky Man, King Edward, và tay huyền thoại Sir Coxsone “the downbeat”, với DJ Winston “Count Matchuki”. Anh DJ này là người đầu tiên “chúc tụng” trên những riddim, và cuối thập niên 50 sẽ có thêm King Stitt và Opie nhập bọn.

Duke Reid, địch thủ của Coxsone, khi đó mới có thêm một phụ tá là tay “chúc tụng” (toaster) tên Cuttins. Thế là mỗi hệ thống âm thanh đều bắt chước làm y chang. Phải chờ đến giữa những năm 60 thì các bài “chúc tụng” trăm phần trăm mới được thu dĩa 45 vòng. Nhưng kẻ đã thực sự vinh danh bài “chúc tụng” (cũng được gọi với cái tên “dee jay style”) là U-Roy “the originator”. U-Roy “nhà phát minh” đã được đồng thanh công nhận là một bậc thầy. Được liên kết với kỹ thuật “Dub” (thêm các hiệu quả điện tử vào phần chơi nhạc cụ) do King Tubby sáng chế, U-Roy cách mạng nhạc raggae và có nhiều đệ tử. Kiểu thức toaster trở thành một hằng số trong nhạc Jamaica đã triển nở từ ska đến rocksteady, rồi tiến đến raggae, cho phép sự nẩy nở thực sự của toast trong nhạc khiêu vũ Jamaica tại các vũ trường, và mặc dù không ngừng tiến hóa, vẫn còn được lưu tồn đến nay.

Như thế, cái văn hóa “toast” và “sound system” đặc thù Jamaica ấy, đã theo Kool Herc di tản sang Huê Kỳ, trộn lẫn với soul, rồi Break Beat. Rap đã dần dà tiến tới cái dạng thức được biết đến ngày nay.

1979: Rapper’s Delight

Coke la Rock rap để đệm với các biểu diễn của Kool Herc từ hai giàn máy. Và giới trẻ ở khu Bronx tò mò và kích thích bởi kiểu thức diễn tả mới lạ này (và được Hip Hop làm cho sáng giá) đã khởi sự viết những câu vần. Bởi rap là một thể loại nhạc dễ vươn tới, nên chỉ cần một tờ giấy và một cây bút để viết. Và khả năng ngẫu tác, đọc ca lời, dòng chảy, bấy nhiêu là yếu tố để cá nhân hóa từng bài rap. Trước tiên, rap chỉ là hai giàn máy hát và một chiếc micro. Cái ý niệm mới này không chỉ lôi cuốn giới trẻ mà còn khiến họ cảm thấy cái âm nhạc đó đang ở trong tầm tay.

Các rapper (người rap/ca sĩ rap) đầu tiên hợp thành một lực lượng hùng hậu: Grandmaster Caz, JDL, cùng với các rapper khác và các DJ như Charlie Chase, Toney Tone hợp thành các nhóm Cold Crysh Brothers, Lovebug Starsky, Busy Bee, Kurtis Blow, Ramellzee, Fab 5 Freddy, The Fantastic Four, KK Rockwell, Rodney Cee, Zulu Queen Lisa Lee, Tanya Winley… Và Melle-Mel với Kid Creole rap cho Grandmaster Flash sẽ trở thành nhóm Furious Five.

Đồng thời các DJ lo hoàn chỉnh kỹ thuật của họ. Grand Wizard Theodore sáng chế kỹ thuật scratch, và tất cả DJ Hip Hop đều đã để lại dấu ấn của mình khi dji’ng. Cuối thập niên 70, văn hóa Hip Hop đã nẩy nở ở những nơi khác. Tín điệp đã được truyền đi và các clubs (hội quán/quán) bắt đầu để ý tới cái văn hóa mới lạ này. Quán Roxy mở cửa cho các DJ của nhóm Zulu Nation vào, và trở thành một nơi không thể tránh khỏi của thế hệ Hip Hop đầu tiên ở New York. Các vũ công trổ tài cùng với những thách đố và sự sôi sục của cái tiểu vũ trụ đó đã khiến nhiều ngoại nhân phải chú ý.

Sugar Hill Record, nhãn dĩa của Sylvia Robinson ở New Jersey (một tiểu bang ở về phía nam New York) muốn cho ra đời một dĩa rap. Bà mời các tay rapper lân cận như Big Bank Hank, Master Gee và Wonder Mike tất nhiên đã trở thành băng đảng Sugar Hill Gang một cách rất hợp lý hợp tình. Ca từ của nhóm này không tuyệt vời, một phần cóp lại ca từ của Grandmaster Caz, phần kia chứa đựng những vần vè cổ điển của H. Rap Brown: “I’m the hemp the demp, the ladies pimp, women fight for my delight” (xin tạm dịch: ta đây chính là tên đượi tên lười, tên ma cô của các bà các cô, họ cấu cào nhau để được nhào vô). Tất cả được rap trên nền nhạc cổ điển của Chic “Good Times”, nghĩa là có bảo đảm thành công mỹ mãn. Đó là năm 1979 và dĩa nhạc này đã lưu lại một dấu ấn vĩnh viễn trong lịch sử âm nhạc.

Thế nhưng dĩa nhạc rap đã được ghi khắc để thương mại hóa đầu tiên là dĩa “Personality Rock” của Kick Tim III, vài tháng trước đấy. Lúc ấy nhóm Funk “Fat Back Band” muốn hợp tác với một tay rapper và King Tim III đã tình nguyện nhảy vô. Do vậy họ đã thâu bài “Personality Rock” trên mặt B của dĩa “You’re My Candy Sweet” (cũng là dĩa “Personality Rock” kể trên).

Cũng trong năm 1979, sau sự thành công của nhóm Sugar Hill Gang, Grandmaster Flash & the Furious Five cũng phiêu lưu vào thị trường dĩa hát và cho ra đời dĩa nhạc “Super Rappin’ No 1”, đã thâu lại bài “7 minutes of Funk” của Tyrone Thomas và the Whole Darn Family’s dưới nhãn hiệu Castle Music. Năm ấy Paulette & Tanya Winley cho ra đời “Rhymin’ and Rappin’” của hãng Paul Winley Records, một nhãn hiệu nhạc funk muốn xé rào nhảy vào rap. Năm sau Tanya Winley cho ra mắt dĩa “Vicious Rap” (Rap phóng đãng).

Vẫn trong năm 79, ca sĩ rap Spoonie Gee được nhà sản xuất Peter Brown mời và kết quả là dĩa “Spoonin’ Rap” dưới nhãn hiệu Peter Brown. Trong cái năm 79 đánh dấu ấy, Castle Music cho ra đời “Rapping and Rocking the House” của nhóm Funky Four Plus One More, đặc biệt qui tụ KK Rock Well và Rodney Cee (về sau anh được biết với cái tên tuổi mới Double Trouble/Hai Dọa) cùng với nữ ca sĩ rap Sha Rock. Kurtis Blow để lại dấu ấn của một ca sĩ rap đã ký hợp đồng với một hãng dĩa lớn: Mercury, với dĩa “Rappin’ Blow”.

Trong cái tiểu vũ trụ Hip Hop, các cộng đồng Mỹ-Phi và Mỹ-Porto-rican đã giữ vai chính. Nhưng có hé mở và người Mỹ trắng, thường đến từ môi trường nguệchh họa (graffitti), cũng khởi sự bám víu cái thể loại nhạc mới đã hình thành: nhạc Rap.

Graffitti: Hip Hop xâm chiếm các mặt tường

Graffitti (xin tạm dịch là “nguệchh họa”) không phải là một văn hóa đã do Hip Hop tạo ra. Nguệchh họa đã từng có mặt, như rap và break danse, một dạng nghệ thuật cửa sau, một văn hóa bên lề, bởi thế cho nên nó cũng cần được sáp nhập vào phong trào Hip Hop. Khi các tay nguệch họa Mỹ Đen và Mỹ-Porto-rican trông thấy Hip Hop, họ cảm thấy tiềm năng của văn hóa mới này và bám vào ngay. Graffitti và Tag (Nguệch họa và Ký tên) là những yếu tố tạo hình của Hip Hop, cũng bị chế ngự bởi tinh thần đua tranh, vượt bực, cầu tiến như rap và vũ múa, cộng thêm sự phi pháp khiến cho nguệch họa là một trò chơi nhiều hiểm nguy.

Nguệch họa, nếu thu hẹp vào hành động vẽ và viết trên vách, thì đã có từ nghìn xưa. Nhưng trong hậu bán thế kỷ 20, các băng đảng ở New York đã sử dụng nó như một mã số để ghi ranh lãnh thổ của mình. Tương tự như khi mặt tường được dùng làm nền cho những khẩu hiệu chống đối của những người đấu tranh chính trị.

Trước tiên là ở Philadelphia, vào khoảng giữa thập niên 60, khi Cornbread và Cool Earl dùng bụi than để viết tên mình (tag) lên mặt tường. Tag chỉ là chữ ký của một tác giả, chỉ cần vài phút là xong, trong khi graffitti đòi hỏi nhiều thì giờ hơn. Tag được sử dụng bởi các băng đảng để ghi lãnh thổ. Nhưng khoảng cuối thập niên 60, tag đã có tầm cỡ hơn, vì không còn giới hạn trong sự hoạt động của các băng đảng.

New York, cuối thập kỷ 60: một thành phố với vô số những kẻ sống trong những khu phố ảm đạm của Bronx và Brooklyn. Bọn trẻ bị áp lực không ngừng, do sự túng thiếu hay sự bạo tàn. Ngoài ra chính phủ cũng xao nhãng lơ là, không có tổ chức chu đáo ở mức hạ tầng trong các khu phố này. Nhiều khu vực của Bronx đã bị thiêu rụi, bỏ phế. Chỗ nào có thể sử dụng được thì bọn trẻ tha hồ thao túng xịt sơn. Nhưng chúng không được các khu lân cận và cả nước Mỹ biết đến. Do vậy chúng nảy ý xịt sơn lên các toa tàu điện ngầm, khiến tác phẩm của chúng được cả thành phố và nhiều người chú ý.

Phong trào xịt sơn như vậy đã di chuyển từ đường phố sang tàu điện. Vì vậy sự cạnh tranh càng gia tăng vì bọn trẻ muốn được bạn bè nể phục. Thế nên các “Writers” (xin tạm dịch là “nguệch sĩ”, gom chung các tay “tag” và các tay”graffitti”) bắt đầu nới rộng tầm hoạt động đến các toa xe, để tác phẩm được tung ra khắp bốn phương. Tag là cách để cho người khác biết đến mình. Graffitti là để được nhìn nhận như là một nghệ sĩ.

Ở New York, nguệch sĩ đầu tiên được ghi danh sổ sách, từ năm 1970, là Taki. Gốc Hy-lạp, anh này phủ đầy các mặt tường New York với chữ ký Taki 183. Taki là tên, 183 là số nhà anh ở Manhattan. Đồng thời với anh có Julio 204, Joe 136 và Frank 207 cũng đã khiến cho thiên hạ bàn tán. Các nguệch sĩ này có một số đệ tử khó kiểm kê cho hết, như: Papo 184, Friendly Freddy, Super Kool 223, Wap, Barbara 62 và Eva 62 (hai nữ nguệch sĩ), Stay High 149, Lee 163rd, Phase 2, Snake 131, Japan 1, Moses 147, Hondo 1, Junior 161, Riff 140, v.v… Với ngần ấy nguệch sĩ, kiểu thức các chữ càng ngày càng thêm tầm quan trọng để cá nhân hóa từng người một. Kích thước và bề dày của chữ cũng đã gia tăng. Topcat 126, gốc gác ở Philadelphia với kiểu thức Block Letters. Phase 2 đặc biệt với kiểu chữ tròn Bubles Letters. Kiểu chữ 3 chiều (3D) do các xịt sĩ Flint 707 và Pistol sáng chế.

Vào năm 1972, Hugo Martinez sáng lập United Graffitti Artists (UGA) và trưng bày tác phẩm của Phase 2, Mico, Coco 144, Flint 707, Pistol, Bama, Snake và Stich. Ngoài ra, trên đường phố, nhiều toán được thành lập. Đáng kể là Ex-Vandals de Dino Nod và nhóm Wanted do Tracy 168 thành lập. Họ là những kẻ đã tiên phong trong việc minh họa thêm các nhân vật. AJ 161 và Silver Tips cũng tiên phong trong việc xịt cả một toa xe, được phổ biến bởi Butch, Kindo, Case, Lee, Mono, Comet, Ale 1, Slave, Doo 2, John 150. Giữa thập niên 70, nhóm “Throw up” xuất hiện với những nguệch sĩ như: TEE, DY 167, PI, CY, IN, PEO, LE, IZ, TO, OI, FI.

Nguệch họa đã để lại dấu ấn trên não trạng thị dân ở New York vì mỗi ngày họ sử dụng tàu điện và nhìn thấy các toa tàu. Nguệch họa cũng để lại dấu ấn trên khắp thế giới, qua báo chí và truyền thông. Tất nhiên thành phố New York không thể khoanh tay mãi. Các phương tiện lớn đã được điều động như rào kẽm gai. Các toa tàu được chùi rửa và phủ lớp sơn trắng, nhưng đồng thời các graffitti cũng được đưa vào các phòng tranh. Nhưng chỉ là một mốt thời thượng chóng qua. Thực chất của nguệch họa là một phương tiện để cho bọn trẻ nổi loạn. Đầu thập niên 80, Henry Chaflant với cuốn phim tài liệu “Style Wars” đã đưa nguệch họa lên màn bạc và để cho các nghệ sĩ graffitti được phát biểu cảm nghĩ. Kế đến là các phim về Hip Hop như “Wild Style” và “Beat Street”

Thập niên 80: Rap khắc vào dĩa nhựa đen

“Rapper Deligh” của Sugar Hill Gang và sự thành công hoàn vũ khiến các hãng dĩa chú ý tới rap. Hãng Mercury ký hợp đồng với Kurtis Blow. Hãng dĩa Pháp của Jean Caracos và Bernard Zekri, đặt trụ sở tại New York, chạy theo sự nghiệp của một số rappers và các DJ, như DST và Fab 5 Freddy. Tommy Boy, một nhãn hiệu mới, ký hợp đồng với Afrika Bambaataa và the Soul Sonic Force (GLOBE, Pow Wow & Bigggs). Riêng Grandmaster Flash cùng với nhóm Furious Five thì thương lượng được sự cộng tác với Sugar Hill Records, cũng như nhóm Treacherous Three (Kool Mool Dee, Special K, LA Sunshine). Tay DJ phát thanh rap đầu tiên là Mr Magic trong sô “Rap Attack” của anh trên đài WHBI ở New Jersey, rồi trên đài WBLS ở New York. Chẳng mấy chốc Kool DJ Red Alert cũng có giờ phát thanh xen kẽ của mình, từ đó Hip Hop không ngớt xâm chiếm các làn sóng điện.

Năm 1982, Bambaataa “cha đỡ đầu của Hip Hop” cho thính giả nghe tiếng ca của Zulu Nation với dĩa “Planet Rock” trở thành một “tube” (bản nhạc ăn khách) thế giới. Trích đoạn một “cấu trúc” (structure) của Kraftwerk, Bambaataa và nhóm Planet Patrol sáng chế một âm thanh mới: Electro Funk. Từ sự chi phối do Bambaata vào phần “beat” đó, nẩy sinh những loại “nhạc techno” ngày nay. “Planet Rock” là một bài nhạc “cult” của nhạc điện toán. Tiếp theo là “Looking for the Perfect Beat”, “Renegades of Funk”, và “Unity” song ca với James Brown “cha đỡ đầu của Funk”.

Cũng trong năm 1982, Hip Hop khắc dĩa “The Message”, một tín điệp xã hội, qua sự trung gian của Grandmaster Flash và nhóm Furious Five. “White Lines”, “New York, New York” tiếp tục vai trò rap xã hội. Nhóm Fab 5 Freddy thu vào dĩa Celluloid bài “Change the Beat” với mặt B là một bài rap Pháp của B-Side kết thúc bằng sự cào (scratch) mạnh nhất bởi các DJ: “Biiip Aaaathis stuff is really Freshhhh”. Thính giả được nghe B-Side bên cạnh Time Zone (một nhóm của Bambaataa) trên dĩa maxi “The Wildstyle” trong năm 1983. Rap bắt đầu được chính thức công nhận trên thị trường dĩa hát. Nhiều ca sĩ, như Blondie, chịu ảnh hưởng rap, cho ra mắt dĩa “Rapture” đã trở thành cổ điển. Năm 1983, Bill Laswell sản xuất an bum của nghệ sĩ Jazz Herbie Hancock dưới nhãn hiệu của Celluloid, và mời Grandmixer DST cào một bản nhạc khác, “Rock It”, đã trở thành một bài “cult”.

Hip Hop bước ra ngoài tiểu vũ trụ Bronx, được khiêu vũ phổ biến, các ca sĩ rap úa ra từ khắp các khu phố New York, và một lịch sử mới của Hip Hop đang hình thành. Nhóm Run DMC từ khu Manhattan tung ra dĩa “Suckers MC’c”, cách tân hình ảnh ca sĩ rap với sự lựa chọn thời trang Adidas và thêm gia vị cho rap bằng nhạc rock với các bài như “King Of Rock” và “Walk This Way” hát song ca với nhóm hard rock Aerosmith.

Các nhóm và ca sĩ rap nam nữ sinh sôi nẩy nở: Whodini, Roxane Shante, MC Shan & Marley Marl, UTFO và Real Roxane, Ice T từ Los Angeles hợp tác với Afrika Islam, một DJ Zulu. Ca sĩ rap khu Queens, LL Cool J gặt hái thành công liên tiếp với “I can’t live without my radio” và “Rock The Bells”. KRS One và DJ Scott La Rock lăng xê Boogie Down Productions, và vô số nhóm rap lại sinh sôi nảy nở: Cash Money và Marvelous, Eric B và Rakim, Stetsasonic, Slick Rick & beatboxer Doug E Fresh… Một thế hệ rap mới đang bước tới. Kể từ năm 1985, nhạc Rap triển nở với tốc độ phi thường ở Huê Kỳ.

Trang sử Hip Hop được tiếp tục viết

Lịch sử Hip Hop được tiếp tục viết mỗi ngày, khắp các nơi trên thế giới… Những người trẻ tuổi nam và nữ có nhiều hứng cảm tại khu Bronx trong thập kỷ 70 cho ra đời một hiện tượng đa văn hóa có tính cách hoàn vũ và phổ thông, đã lan tràn và cách mạng tất cả các loại hình văn chương nghệ thuật đương đại (âm nhạc, khiêu vũ, hội họa…)

Nhạc rap mang nội dung xã hội được đặt nền móng với tín điệp “The Message” vẫn tiếp tục với các nhóm như Public Enemy. Đã có thêm nhiều nhánh khác như Egotrip (Vị kỷ) với EPMD, Kool G Rap & Polo, Ultramagnetic MC’s, Big Daddy Kane. Gangsta rap với School D, và nhất là nhóm NWA ở Los Angeles với Dr Dre, Easy E, Ice Cube, MC Ren & Yella. Từ năm 1988 có thêm “đội” (posse) Native Tongue với Jungle Brothers, De La Soul, A Tribe Called Quest và Black Sheep, và các nhóm như Third Bass, KMD, Jazzy Jeff and Fresh Prince. Phía nữ giới có các cô Salt’N Pepa, Queen Latifah và MC Lyte. Các ngôi sao mới (và tỉ phú) hiện nay: Eminem, Missy Elliott, 50 Cent…

Từ cái nôi Bronx, Hip Hop đã tràn qua các khu phố khác của New York, khắp nước Mỹ, rồi nhanh chóng tới các nơi khác trên thế giới, để cuối cùng trở thành một thị trường khổng lồ với các ngôi sao, các nhà đầu tư, các câu chuyện ngồi lê đôi mách, được các ngành công nghiệp to lớn của Huê Kỳ ve vãn.

Nguyễn Đăng Thường dịch

& viết theo hai trang web tiếng Pháp tình cờ bắt gặp vài năm trước, nhưng đã lạc mất địa chỉ. Một tác giả có thể tên là Ben “Gee” (?). Thành thật cảm tạ và xin lỗi các gia chủ.

P H Ụ L Ụ C

Artist: Ice Cube
Album: Kill at Will
Song: Dead Homiez

Verse One:

Up early in the morning, dressed in black
Don’t ask why? ‘Cause I’m down in a suit and tie
They killed a homie that I went to school with (Damn!)
I tell ya life ain’t shit to fool with
I still hear the screams of his mother
While my nigga laid dead in the gutter (Shit!)
And it’s getting to my temple
Why is that the only time black folks get to ride in a limo?
It makes me so mad I want to get my sawed-in
And have some bodies hauled in
But no, I pay my respects and I’m through (whaddup Cube?)
Hug my crew, and maybe shed a tear or two
And I wanna get blitz
Grab my 40 ounce and then I reminisce
About a brother who had to be the one and only
So I dedicate this to my dead homiez…

Verse Two:

Another homie got murdered on a shakedown {three gun shots}
And his mother is at the funeral, havin’ a nervous breakdown
Two shots hit him in the face when they blasted {two gun shots}
A framed picture and a closed casket
A single file line about 50 cars long
All drivin’ slow with they lights on
He got a lot of flowers and a big wreath
What good is that when you’re six feet deep?
I look at that shit and gotta think to myself
And thank God for my health
‘Cause nobody really ever know
When it’s gonna be they family on the front row
So I take everything slow, go with the flow
And shut my motherfuckin’ mouth if I don’t know (Word!)
‘Cause that’s what Pops told me
But I wish he could have said it…to my dead homiez

Verse Three:

I remember we painted our names on the wall for fun
Now it’s “Rest in Peace” after every one
Except me, but I ain’t the one to front
Seems like I’m viewin’ a body after every month
Plus, I knew him when he was yea big
Pour beer on the curb before I take a swig
But somethin’ ain’t right
When it’s a tragedy, that’s the only time that the family’s tight
Lovin’ each other in a caring mood
There’s lots of people and lots of food
They say “Be Strong” and you’re tryin’
But how strong can you be when you see your Pops cryin’?
So that’s why Ice Cube’s dressed up
Because the city is so fuckin’ messed up
And everybody is so phony
Take a little time…to think about your dead homiez.

Nó ngủm rồi

Khúc Một:

Mới tảng sáng mà tôi đã đóng bộ đồ nỉ đen
Đừng thắc mắc vì chiếc cà vạt và cái bộ vó chẳng hèn
Thằng bạn đồng trường của tôi đã bị bọn cớm hạ rồi (Damn!)
Cuộc đời chẳng là cái đống cứt thơm để cho ta vọc
Tôi nghe tiếng bà già nó kêu trời và rống và khóc
Trong khi thằng mọi ngã lăn tòm vào lòng rãnh mương (Shit!)
Và tôi thảnh thơi cất bước tới ngôi thánh đường
Sao bọn mọi đen chỉ được ngồi xế những lúc như thế
Khiến tôi nổi nóng muốn vác cây súng cưa nòng ra
Để có thêm vài cái thây ma mà khuân vác về nhà
Tuy nhiên tôi chỉ cúi chào và thế là xong cuộc lễ (whaddup Cube?)
Ôm hôn bằng hữu và có thể rỏ một hai giọt lệ
Và muốn được xơi bom rơi đến gần như tắt thở
Nên hít 40 ounce để mà tưởng mà nhớ
Cái thằng bạn hiền thằng anh em độc nhất của tôi
Vì vậy tôi tặng bài này cho cái thằng đã ngủm rồi

Khúc Hai:

Lại thêm một thằng bạn thân bị bắn trong một trận càn quét {ba phát súng}
Và bà má nó đi đưa ma và bị khủng hoảng tinh thần
Hai phát súng nổ tung cái bản mặt mo đen của nó {hai phát súng}
Một tấm hình lộng kiếng với một chiếc mũ kết
Một cái hàng dài nối đuôi năm chục cái xế đen thui
Đèn pha vàng mờ mờ và đoàn xe chạy từ từ
Nó được rất nhiều bông hoa và một vòng hoa rất bự
Để làm gì hả khi ta đã nằm trong cái lỗ sâu 2 mét
Tôi ngó cái đống cứt to đó và tôi suy tôi xét
Cám ơn Thượng đế nhé về cái sức khỏe của tôi
Bởi chẳng có ai thực sự có tài đoán trước được nổi
Cái lúc gia đình mình sẽ đứng đợi ở nơi hàng đầu
Thế nên tôi cứ tà tà mà trôi xuôi theo dòng chảy
Và ngậm câm đụ má cái miệng hến lại nếu tôi chưa thể (Word!)
Vì các đấng sanh thành thường bảo ta làm thế
Nhưng sao họ chẳng bảo dùm cho cái thằng bạn đã ngủm của tui

Khúc Ba:

Tôi còn nhớ chúng tôi hay xịt tên mình lên tường để mua vui
Giờ thì phải ghi “An Nghĩ” theo ý của mọi người
Trừ tôi, nhưng tôi không là một tên hay chống đối
Hình như tôi phải nhìn một cái thây ma sau mỗi tháng
Số là tôi đã chơi thân nó khi nó chỉ mới bi to
Mà đã biết rót bia vào cốc rồi ngó tôi nốc một ngụm
Nhưng có điều gì đó coi bộ như là chưa thật ổn
Chỉ khi gặp biến thì người trong nhà mới xích gần nhau
Yêu thương nồng nàn trong tình tương thân tương ái
Cả đống bà con cả đống đồ ăn và thức uống
Họ bảo nên “Vững lòng” và ta cố vững lòng
Nhưng vững tới đâu khi bố mẹ nước mắt chảy ròng ròng
Thế nên thằng Ice Cube này mới chưng diện thật bảnh bao
Vì đụ mẹ cái thành phố chó đẻ này chỉ là một cái đống rác cao
Và mọi người đều giả trá và cù lần và cà chớn
Này… hãy để tí thời giờ mà nghĩ tới những thằng đã sạch trơn

Artist: 2 Live Crew
Album: Is What We Are
Song: We Want Some Pussy

Chorus(4x): [Luke]
Somebody say HEY-Y-Y-Y-Y WE WANT SOME PU-U-USSAY-Y-Y!
(HEY-Y-Y-Y-Y WE WANT SOME PU-U-USSAY-Y-Y!)

Verse 1: [Brother Marquis]

You see, me and my homies like to play this game
We call it Amtrak but some call it the train
We all would line up in a single-file line
And take our turns at waxing girls’ behinds
But every time it came to me, I was shit out of luck
Because I’d stick my dick in, and it would get stuck
The girls would say “Stop!” I’d say “I’m not!
That’s enough, I quit, ’cause y’all are bustin’ me out!”
I say, girls, don’t hide it, just divide it
And please don’t knock it until you’ve tried it
So to all of you bitches and all you hoes
Let’s have group sex and do the Rambo!

Chorus

Verse 2: [Fresh Kid Ice]

I’m the Peter Piper of the 1980’s
Got a long hard dick for all of the ladies
I don’t care if you got three babies
You can work the stick in my Mercedes
If you wanna blow, just let me know
We can go backstage at the end of the show
I’ll look at you, and you will look at me
With my dick in my hands as you fall to your knees
You know what to do, ’cause I won’t say please
Just nibble on my dick like a rat does cheese!

Chorus

Holy shit!

Bọn tui muốn có ngay vài cái lồn

Hợp xướng (4x): [Luke]
Thằng nào vừa bảo Ê–Ê–Ê–Ê–TỤI TAO MUỐN CÓ NGAY VÀI CÁI L-Ô-Ô-Ồ-Ồ-N-N
(Ê–Ê–Ê–Ê–TỤI TAO MUỐN CÓ NGAY VÀI CÁI L-Ô-Ô-Ồ-Ồ-N-N)

Khúc 1: [Brother Marquis]

Tui và lũ bụi đời thích mê cái chuyện bề rất văn nghệ
Gọi nó là Amstrak hay là trò hỏa xa cũng thế
Bọn tui nối đuôi thành một cái hàng dài
Và luân tay chà láng đít mông lũ con gái
Nhưng hễ tới phiên tui thì thế nào nó cũng khựng
Hễ tui nhét củ mì vô thì nó bị kẹt cứng
Tụi ghệ đòi “Tốp” tui bảo “Chưa ốp”
Nhưng tui cũng rút lui vì đã lúi lon thịt hộp
Tui bảo, ê, ghệ ơi đừng kẹp mà phải tách đôi
Cũng đừng chê quả thối khi chưa được nếm mùi ổi
Này bọn đĩ chó và lũ cặc bò
Nào ta hãy bề hội đùng với cái trò hùng Rambo

Hợp xướng

Khúc 2: [Fresh Kid Ice]

Của thập kỉ 80 tui là cậu Pitơ Paipơ mình gai
Củ dài và cứng cho lũ liền bà con gái
Tui đéo có lo nếu em đã có ba thằng nhóc
Em có thể ngồi Mercedes mà đánh bóng cái thằng trọc
Nếu như có thèm bú thì em cứ hú cho to nhé
Ta có thể vào hậu trường ngay sau cái buổi ré
Tui sẽ mé em và em cũng sẽ lé tui
Tay tui nâng dùi cui khi con ghệ quì gúi
Tui nói mi biết công việc của mi tao đéo cần năn nỉ
Mi cứ gặm cái dùi ni như chuột nhắm khúc bánh mì

Hợp xướng

Cứt thánh!

Nguyễn Đăng Thường phóng tác

NGÔN TỪ NÓI / THƠ SLAM

NGÔN TỪ NÓI / THƠ SLAM


Lisa Martinovic

Lời người dịch: Nhà thơ slam Lisa Martinovic đồng ý cho chúng tôi chuyển dịch bài viết ngắn này, khởi đầu giới thiệu với bạn đọc một phong trào thơ trình diễn Mỹ. Đây là một phong trào thơ được nhà thơ Marc Smith sáng lập tại Chicago. Câu chuyện tóm tắt như sau:

Marc Smith là một nhà thơ và là một công nhân xây dựng. Vào năn 1984, ông bắt đầu đọc thơ ở The Get Me High Lounge, một câu lạc bộ trình diễn nhạc jazz, một quán rượu tồi tàn, ẩm ướt và đã xuống cấp ở trung tâm thành phố Buck, kế bên thành phố Chicago. Mỗi đêm thứ Hai được dành cho thơ, nhưng thứ Hai lại là đêm môn bóng cà na được hâm mộ nhất ở Mỹ thừơng diễn ra, nên khán giả thưa vắng suốt năm. Vào năm 1986, Smith đến gặp Dave Jemilo, chủ nhân Green Mill Tavern (một câu lạc bộ nhạc Jazz và Al Capone trước kia thường lui tới), với dự tính dẫn chương trình hàng tuần cho một cuộc thi thơ vào mỗi đêm chủ nhật. Jemilo hoan nghênh ngay, và Uptown Poetry Slam được chào đời vào ngày 25 tháng 7 năm đó. Nơi đây, Smith từ từ thiết lập những đặc tính căn bản cho cuộc thi, bao gồm những giám khảo được chọn từ khán giả, và thưởng tiền mặt cho ngừơi thắng cuộc, và Green Mill trở thành thánh địa cho những nhà thơ trình diễn. Phong trào sau đó bắt rễ và nở rộ khắp nước Mỹ và tới các nước khác như Úc (Australia), Đức (Germany), Anh (UK), Thụy Sĩ (Switzerland), Pháp (France), Thụy Điển (Sweden), Đan Mạch (Denmark), Ái Nhĩ Lan (Ireland), Ý (Italy), Madagascar, and Singapore. Green Mill tọa lạc ngay trung tâm thành phố Chicago và Uptown Poetry Slam tiếp túc kéo dài 18 năm sau ngày thành lập.

Về luật lệ: Mỗi nhà thơ có 3 phút để trình diễn bài thơ. Nếu quá thời gian 3 phút, điểm sẽ bị trừ. Nhà thơ không được dùng những dụng cụ trang trí sân khấu, trang phục bất bình thường và nhạc cụ. Nhà thơ nhận điểm của 5 giám khảo, điểm cao và thấp không tính, chỉ tính điểm của ba giám khảo ở giữa, cộng lại, từ 0 tới 30. Nhà thơ phải thắng giải ở cấp địa phương rồi mới được dự tranh ở cấp tòan quốc.

Bài viết ngắn của nhà thơ Lisa Martinovic kèm theo 5 bài thơ slam nổi tiếng, nhưng vì bài thơ khá dài nên chúng tôi chỉ dịch kèm theo đây một bài, sau đó sẽ từ từ dịch và giới thiệu sau. Ngôn ngữ thơ slam là một thứ ngôn ngữ nói, tác giả thường sử dụng rất nhiều tiếng lóng và những đặc ngữ thông thường trong sinh họat đời sống nên khó chuyển dịch để lột tả tính trần trụi, mạnh bạo, tươi rói, tràn đầy sinh lực, gây cảm hứng mạnh nơi khán thính giả. Bản dịch vì thế chỉ theo sát ý nguyên bản, và bạn đọc sau khi nắm ý bài thơ, sẽ vừa theo dõi nguyên bản, vừa nghe và nhìn bài thơ được trình diễn trên youtube (có thể lên www.youtube.com, đánh chữ “The Wussy Boy Manifesto”, để thưởng thức bài thơ kèm theo). Những bài thơ slam dịch ra tiếng Việt vì thế luôn luôn phải kèm theo nguyên tác. Sau bài viết này của nhà thơ Lisa Martinovic, chúng tôi sẽ viết bài kế tiếp để giới thiệu thêm về phong trào thơ này.

(Thơ Nối kết Chuyện-kể-với-Ý-tưởng kèm theo Giọng điệu, Tâm trạng, Nhịp điệu, Cường điệu, Trò chơi Ngôn từ. Thường là thơ dài. Nhằm trình diễn trước một cử tọa.)

Thuật ngữ “bài thơ slam” thật ra là một phạm trù chủ chốt gồm chứa mọi bài thơ được trình diễn cho một số khán thính giả tại chỗ trong môi trường tranh tài. “Ngôn từ nói” liên hệ tới tất cả lọai thơ được trình diễn lớn giọng, bao gồm cả những môi trường không tranh tài như đọc qua micro phôn. Vì thế, tất cả những bài thơ khác thể lọai, từ haiku đến những bài thơ sonnet 14 câu, rồi những bài thơ tình, đều có thể coi là thơ slam hoặc những bài thơ được đọc thành lời. Và những bài thơ slam cùng những bài thơ đọc lên thành lời đó có thể coi như đích xác là cùng một thứ.

Vì những mục tiêu của lớp học, mỗi học sinh sẽ làm một bài thơ để trình diễn trên sân khấu cho một phần của lớp học lúc một cái “rầm” đóng lại ở bên trong lớp học – vì thế chúng ta gọi bài thơ là bài thơ slam.

Chỉ có một qui tắc duy nhất, ngòai sự đòi hỏi là luôn phải thích hợp đối với nhà trường (không dùng lời phỉ báng, những đề cập vu vơ tới tính dục, ma túy, rượu), đó là bài thơ phải giúp vui khán thính giả. Làm sao để đạt được điều đó? Giống như đối với bài thơ viết trên trang giấy, tuy nhiên cũng có khác. Sự giống nhau đó là, tất cả những yếu tố chủ chốt của thơ gồm: nói lên điều gì, chính xác và rành mạch và có óc sáng tạo, dùng hình tượng và ẩn dụ và những yếu tố âm thanh như nhịp điệu và vần.

Hai điều làm một bài thơ slam khác với bài thơ trên giấy. Đầu tiên là bộ phận trình diễn. Nó giúp đánh giá một bài thơ slam không như một bài thơ đọc lớn giọng, mà pha trộn 50% bài thơ, 50% trình diễn năng động trên sân khấu. Vì thế những bài thơ slam, luôn luôn được học thuộc lòng, thừơng dùng những thể hiện cường điệu hài hước, những góc cạnh vượt khỏi lệ thường, những nút thắt gây kinh ngạc, và những cảm xúc tràn đầy như tình yêu, nỗi buồn xé lòng, hoặc sự phẫn nộ. Chúng cũng có thể có những phần, nơi đó có những giọng để bắt chứơc hoặc những chỗ để di chuyển.

Điều thứ hai làm cho một bài thơ slam khác với bài thơ viết trên giấy là làm vui lòng khán thính giả. Bởi vì những nguyên tắc slam truyền thống hạn chế bài thơ trong 3 phút, những bài thơ slam thường bay lượn quanh thời lượng đó – đó là vì nhiều học sinh cảm thấy hơi dài ở vài lần đầu sáng tác. Họ có khuynh hướng, dù rằng không cần làm thế, mượn rất nhiều phong cách hip-hop, dùng nhiều vần giữa những dòng thơ, sự tuôn chảy nhịp điệu mà không có sự sắp xếp vần khe khắt, và dùng tiếng lóng.

Họ cũng thường rơi vào một trong ba nhóm: đùa vui, sử dụng tác động của cảm xúc, và đùa vui trộn lẫn sử dụng tác động của cảm xúc. Nhóm thứ ba có được nhiều người thắng cuộc hơn cả.

Xin nói tắt một lời về tác động của cảm xúc: hầu hết những bài thơ gây được tác động mạnh chứa đựng sự tự biểu lộ và những bí mật và những nỗi sợ hãi của cá nhân, hơn là chỉ biểu lộ sự phẫn nô ở bề ngòai, chẳng hạn như cách của những nhà lãnh đạo chính trị. Nếu bạn có thể để cho những bí mật và những sự yếu đuối và sợ hãi tuôn ra và làm nhẹ căng thẳng với sự hài hước và không tóat ra sự tự thương hại mà chỉ như sự hồi tưởng thật thà và khôn khéo, bạn là một nhà thơ slam đích thực.

Đây là ví dụ:
(Bạn đọc có thể vào www.youtube.com tìm “The Wussy Boy Manifesto” để vừa theo sát nguyên tác vừa nghe và nhìn bài thơ được trình diễn:

By Big Poppa E
The Wussy Boy Manifesto
_____________________

My name is Eirik Ott
And I am a Wussy Boy.
It’s taken me a long time to admit it.
I remember shouting out in high school,
“ No, Dad, I’m not gay! I’m just… sensitive.
I tried to like jet planes and hot rods
and football and Budweiser poster girls
but I never got the hang of it!
I don’t know what’s wrong with me…”
And then, I saw him,
there on the silver screen,
bigger than life and unafraid
of earrings and hair dye
and rejoicing in the music of The Cure,
Morrisey and Siouxsie and the Banshees,
walking loud and talking proud
my Wussy Boy icon:
Duckie in Pretty in Pink.
And I realized I wasn’t alone.
I looked around and saw other Wussy Boys
living large and proud of who they were:
Anthony Michael Hall, Wussy Boy;
Michael J. Fox, Wussy Boy; and
Lord God King of the Wussy Boy Movement,
Matthew Broderick,
unafraid to prove to the world
that sensitive guys kick ass!
Now, I am no longer afraid
of my Wussiness, hell no,
I am empowered by it!
When I pull up to a stoplight
And some redneck testosterone
methamphetamine jock frat boy pulls up
beside me cranking his Trans Am’s stereo
with power chord anthems
to big tits and date rape,
I no longer avert my gaze, hell no,
I just crank all 12 watts of my car stereo
and I rock out right to his face:
“ I am human and I need to be loved
just like everybody else does!”
I am Wussy Boy, hear me roar (meow).
Bar fight? Pshaww!
You think you can take me, huh,
just because I like poetry
better than Sports Illustrated?
Well, allow me to caution you
for I am not the average, every day,
run of the mill Wussy Boy you beat up
in high school, punk:
I am Wuss Core!
Don’t make me get Renaissance on your ass
because I WILL write a poem about you!
a poem that will tear your psyche limb from limb,
that will expose your selfish insecurities,
that will wound you deeper than knives
and gats and baseball bats could ever hope to.
You may see 65 inches of Wussy Boy
standing in front of you,
but my steel-toed soul
is ten feet tall and bulletproof!
Bring the pain, punk!
Beat the tar out of me!
Show everybody in this bar
what a real man can do,
but you’d better remember
that my bruises will fade,
my scars will shrink and disappear,
but my poem about the pitiful, small, helpless,
dumb-ass, no-neck oppressor you really are
will last forever.

Big Poppa E

Tuyên Ngôn Của Chàng Trai Ẻo Lả


Tên tôi là Eirik Ott
Và tôi là một chàng trai ẻo lả
Phải mất rất lâu tôi mới chấp nhận điều này.
Tôi nhớ đã gào lên ở trường trung học
“Không, ba ơi, con không phải đồng tính! Con chỉ … quá mẫn cảm.
Con thích máy bay phản lực và những chiếc xe cải tiến đang được ưa chuộng
và bóng cà-na và áp phích Budweiser in hình con gái
nhưng con chưa hề treo nó!
Con không biết có gì trục trặc với con …”
Và rồi, tôi thấy hắn,
đó, trên màn hình
huênh hoang và không sợ
bông tai và tóc nhuộm
và vui hưởng nhạc rock của các ban nhạc The Cure,
Morrisey và Siouxsie và The Banshees,
đi đứng mạnh bạo và nói năng lớn lối
hình tượng chàng trai ẻo lả của tôi
nhân vật Duckie trong phim Pretty in Pink
Và tôi thấy tôi không lẻ loi.
Tôi nhìn chung quanh và thấy những chàng trai ẻo lả khác
sống phóng khóang và tự hào là chính họ
Anthony Michael Hall, chàng trai ẻo lả;
Michael J. Fox, chàng trai ẻo lả, và
Phong trào chàng trai ẻo lả Lord God King,
Matthew Broderick,
không sợ chứng tỏ với thế giới
những kẻ mẫn cảm có sức mạnh!
Bây giờ, tôi không sợ
sự ẻo lả của tôi nữa, đừng hòng,
sự ẻo lả cho tôi quyền đó
Khi xe tôi tới và dừng ở đèn đỏ
Và vài chàng trai ảo tưởng nam tính xung dục
chơi thuốc kích thích vai u thịt bắp hợp thành đồng bọn dừng lại
bên cạnh trên chiếc xe Trans Am mở âm thanh lớn
với những bản thánh ca cảm xúc mạnh bạo
về những cặp vú lớn và cưỡng bức tình dục bạn gái
tôi không ngỏanh mặt làm ngơ nữa, đừng hòng,
tôi tăng âm thanh của xe tôi lên 12 watts
và công khai mở nhạc thật lớn
“Tôi là con người và tôi cần được thương yêu
như mọi người khác!”
Tôi là chàng trai ẻo lả, nghe tôi rống (mi-eo)
Đánh nhau nơi quán rượu? Sì ì ì!
Bạn nghĩ bạn có thể hạ tôi, hứ,
chỉ vì tôi thích thơ
hơn là tờ báo thể thao Sports Illustrated?
Thôi được, cho phép tôi cảnh cáo bạn
vì tôi không phải hạng trung bình, mỗi ngày
chàng trai ẻo lả không có gì đặc sắc bị bạn đánh
ở trường trung học, đồ du côn:
tôi là ẻo lả chính tông đây!
Đừng bắt tôi phải chứng tỏ tôi giỏi hơn bạn
bởi vì tôi SẼ viết một bài thơ về bạn!
một bài thơ sẽ tấn công tâm hồn bạn tới tấp
sẽ phơi bày những nỗi bất an ích kỷ của bạn
sẽ làm tổn thương bạn sâu đậm hơn là dao
và súng và gậy bóng chày từng mong đợi.
Bạn có thể thấy chàng trai ẻo lả 65 inches
đứng trước mặt bạn,
nhưng linh hồn tôi đựơc bảo vệ kiên cường
cao tới 10 feet và chắc chắn an tòan!
Cứ làm tôi đau đớn đi, đồ du côn!
Cứ hạ tôi đo ván đi!
Hãy chứng tỏ cho mọi người trong quán rượu này biết
người đàn ông thật sự có thể làm gì,
nhưng tốt hơn bạn nên nhớ
những vết bầm của tôi sẽ phai nhạt
những vết sẹo của tôi sẽ thu nhỏ và biến mất
nhưng bài thơ của tôi về kẻ áp bức đáng thương, nhỏ nhen
bất lực, ngu ngốc, còi cọc thật sự chính là bạn
sẽ sống mãi.

Khế Iêm dịch và giới thiệu

Tiểu sử

Nhà thơ Lisa Martinovic, sinh ra và là dân San Francisco. Bà đã đi khắp nước Mỹ như một nhà thơ trình diễn từ Nuyorican Poet’s Café ở New York tới City Lights ở San Francisco, và đã từng cùng trên sân khấu với những nhà thơ nổi tiếng Gary Snyder và Miller Williams. Bà thắng giải “Best Surprise Act” năm 1966 tại Liên hoan Thơ Quốc tế tại Austin, với bài Jim Bob Gets a Lap Dance. Ba lần thắng ở Ozark Grand Slam hàng năm, và tự coi là nữ hòang slam ở Ozarks. Bà cũng là nhà viết tiểu luận và thơ của bà xuất hiện trên nhiều tuyển tập và tạp chí nổi tiếng.

Big Poppa E sinh tại Bakersfield, California, là một nhà thơ slam. Những sự trình diễn của ông kết hợp giữa thơ, sự diễu hài và độc thọai kịch mang tính cường điệu cao về những mối liên hệ và văn hóa quần chúng. Ông tham gia đội thơ slam Austin năm 2009 và đại diện Austin, Texas, ở thơ slam tòan quốc Mỹ 2009, West Palm Beach từ 4-8 tháng 8. The Wussy Boy Manifesto là bài thơ xuất sắc của ông, khởi đầu năm1999 và sau đó được sự chú ý rộng lớn. Ms. Magazine đặt tên cho Big Poppa E là “hình tượng những người đàn ông ẻo lả” và báo The Los Angeles Times coi ông là “thủ lĩnh của phong trào những người đàn ông mới”.


NHẠC RAP: ẨN DỤ & THUYẾT GIÁO

NHẠC RAP:
ẨN DỤ & THUYẾT GIÁO
___________________

Christian Béthune

Từ biểu tượng đến thực tại,
tiền bạc như là bằng chứng và ẩn dụ

Trong thế trận đấu võ cố hữu của văn hóa hip-hop, tiền bạc giữ một địa vị định đoạt: trong cuộc đua tranh này, kiếm được nhiều tiền hơn địch thủlà nắm trong tay sự ưu thế. Và, nếu “sự hồn nhiên của các ca sĩ rap trong việc săn đuổi sự thành công vật chất là một trường hợp hi hữu trong giới nghệ sĩ thế kỷ 20” (1), thì sự quyết tâm làm giàu đó cũng gây khó chịu không ít trong số những người theo dõi, bởi nó vi phạm một trong những giả định thiết quan trọng của thẩm mỹ cho rằng giá trị thương mại và giá trị nghệ thuật tuyệt nhiên không nên độc nhiễm nhau. Là đề tài chính của nhiều bài ca rap, sự thoải mái về tiền bạc có tầm quan trọng ở cả hai mặt: trong phần hàm súc biểu tượng khá đậm đặc, và trong phần thực tế tích cực mà nó dâng hiến cho ke? đã thành công. Làm ra tiền không chỉ đơn giản là đạt sự thành công vật chất, mà còn là sự chiến thắng một hệ thống quỷ quyệt, được sắp đặt với mục đích cản trở sự thành công về mặt kinh tế của những người Mỹ-Phi:

Phần đông người da trắng nghĩ rằng với tư cách cá nhân, chúng tôi không nên hưởng thụ những lợi nhuận vật chất của sự thành đạt do công lao chúng tôi, bởi thế cho nên chúng tôi phải làm lụng vất vả gấp đôi, gấp ba những người da trắng để vươn tới sự thụ hưởng đó (2)

ca sĩ rap Sister Souljah nhận xét mà không cay đắng.

Trong phạm vi làm nên sự nghiệp có nghĩa là đạt tới sự chủ tể về cả hai mặt biểu tượng và thực tế, bằng cách chiến thắng một hệ thống thù nghịch, sự làm giàu, có thể trở thành mối tranh giành cho một cuộc vận động mỹ thuật mà sự tìm kiếm vật chất và sự tìm tòi thi ca có thể được xây dựng quanh một vận hành đồng tác. Nếu sức mạnh truyền đạt của lời nói cho phép văn từ biến đổi thực tế bằng cách thực hiện những tác động ngôn ngữ, thì tiền bạc, dưới mọi hình thức, có dự phần vào biểu tượng, như sự tìm tòi ngữ nguyên cho thấy có sự giống nhau giữa hai từ monnaie (tiền) và mot (tiếng) từ thời cổ đại Hy Lạp. Đó là một khái niệm về sự vật mà hình như cặp Eric and Paris Making Dollars (EPMD) tán đồng, bởi các tập dĩa của họ cho tới nay thường bao hàm từ business (thương mại) và hàm ý này thường lấp ló trong tựa đề nhiều bản rap: Eric B & Rakim: Paid In Full (Trả hết); D Nice: A Few Dollar More (Thêm vài đô la nữa); Notorious Big: I Love The Dough (Tôi mê tiền): LL Cool J: Another Dollar (Một đô la nữa), Wanna Get Paid (Tôi muốn được trả thù lao). Một thái độ đối với tiền bạc mà các ca sĩ nhạc rap Pháp cũng đã mượn lại chút ít: Idéal J: Je dois faire du cash (Tôi phải hái ra tiền mặt); Puissance Nord: Cash... (Tiền mặt…)

Ca khúc rap có thể đã miệt mài thái quá giá trị biểu tượng và giá trị vật chất của tiền bạc. Tuy nhiên, từ lâu rồi, văn hóa Mỹ-Phi đã biết sử dụng chúng như là yếu tố qui hồi của những trò vật lộn điền kinh (agonistique), cũng như của hệ đề mục (thématique) văn chương; phơi bày sự thoải mái trên phương diện vật chất – trong cách phục sức, trong các vật sở hữu, trong sự ăn xài rộng rãi – , sử dụng chúng như tiêu đề trong những huyền thoại anh hùng lúc chuyện trò, quả thật đã tạo ra những thái độ đặc ưu trong trò chơi song đôi của sự đối chọi xã vị và sáng chế ngôn từ. Ngay trong những bài blues đầu tiên, tiền bạc đã từng là đề tài cốt lõi của thi đề da đen, mà về sau người ta đã bắt gặp lại ở Ray Charles (Green back dollars) cũng như ở Archie Shepp (Money blues). Nếu ở một nước Mỹ khắc khổ (puritaine) nói chung, khẩn lệnh “hãy làm giàu” mang một giá trị đạo đức mà Lục Địa Cũ không nhìn nhận, thì đối với cộng đồng da đen nói riêng, tiền bạc có một kích thước thuộc về bản thể. Tên nô lệ thu gom được một số tiền khá đủtrong tay, có thể ôm hy vọng chuộc lại sự tự do của mình với người chủcũ, và bởi sự kiện này, hắn có thể bước từ hàng một vật dụng đơn thuần sang phẩm cách một con người. Trong trường hợp này, tiền bạc không còn là một dữ kiện thuộc về lượng, nó cũng không phải là một phẩm chất mới, để cộng thêm vào bản thể, nó nâng cấp một cá thể trong chính cái bản thể bằng cách cho phép cá thể vươn lên hàng một chủthể. Sau cuộc giải phóng nô lệ, tiền bạc lại còn là hy vọng của đám dân nô lệ cũ để vượt qua cái lằn ranh trắng danh tiếng, cái lằn ranh tuy vô hình nhưng vẫn ngăn chia họ với cái thế giới có nhiều đặc ân của người da trắng.

Tính đặc thù của các ca sĩ nhạc rap là họ thuộc vào hàng những nghệ sĩ da đen đầu tiên đã thành công trong việc tự kiểm điểm sự sản xuất cũng như sự phát hành tác phẩm của mình, hoặc thương lượng được với các nhà sản xuất những giao kèo có lợi. Trong khi các ca sĩ nhạc blues và các nghệ sĩ nhạc jazz đã thường thấy nguồn lợi tức đến từ nghệ thuật của họ rơi vào túi những hãng sản xuất dĩa nhạc, các ca sĩ nhạc rap đã vươn tới sự tự trị kinh tế thực sự, thậm chí họ có khi còn là chủnhân ông của cả một cái đế quốc tài chính nữa. Sự vinh quang chắt lọc được từ sự thành công vật chất mỹ mãn đó lại càng thêm thỏa mãn dưới mắt họ, vì bởi, với các tay ma cô và các tên găng tơ, và sự bạo tàn, và với những từ tục tĩu và những hình ảnh dâm dật trong ca lời của họ, các ca sĩ rap đã vươn tới cái thế giới tiền bạc và đặc ân bằng sự công kích dữ dội những giá trị bọc nỉ xuất phát từ cái thế giới thanh lịch của entertainment (3), bằng sự không ngần ngại thẳng tay hạ bệ vài cái huyền thoại của star system (4):

Với lắm người thằng Elvis là một anh hùng
Nhưng với tui thì nó chẳng là cục cứt chó gì hết ớ, bạn ạ
Đụ má nó và đụ má thằng John Wayne
Bởi tui là một thằng đen thui nên tui rất hãnh diện
Tui sẵn sàng và tui thời trang và tui có một núi tiền
Các đấng anh hùng của tui đéo cần xuất hiện trên mui tem

Elvis was a hero to most
But he never meant shit to me, you see
Motherfuck him and John Wayne
Cause I’m black and I’m proud
I’m ready and hyped plus I’m amped
Most of my heroes don’t appear on no stamps (5)

Cùng một tính cách với văn hóa Mỹ-Phi — cái văn hóa Mỹ-Phi phần lớn tùy thuộc vào sự đảo ngược bằng vật lộn điền kinh vài mảnh của văn hóa tây phương mà người ta đã dung thứ để cho lọt vào tay bọn nô lệ — chính bởi sự phá hoại từ bên trong cái lô gích của chủnghĩa tư bản mà cái thế giới hip-hop gây dựng sản nghiệp của những người tham dự, như xây cất một pháo đài trực diện ke? thù.

Bài thuyết giáo của ca sĩ nhạc rap

Sự tiếp cận giữa nhạc rap và thế giới thiêng liêng được thể hiện trước tiên trong cách đọc cắt nhịp. Nhiều tác giả đã nhấn mạnh sự tương đồng trên phương diện hình thức giữa cách phát âm những âm vần của ca sĩ rap với cách đọc [kinh] của các nhà thuyết giáo cổ võ đám con chiên: “Sức mạnh của tác phong hùng biện của giáo phái Mỹ-Phi đã cho ra đời nhạc soul rap mà người ta có thể xem như là một trong những thể loại tiền vệ của hip-hop”, David Toop (6) đã nhận định như vậy. Đúng là một sự quy hồi của vạn vật, bởi vì, noi theo cách thức của Richard White (biệt danh Mr. Clean đã phổ biến nhạc soul rap trong thập niên 70), đã có vài nhà thuyết giáo xuất thân từ những băng đảng. Yếu tố của chiến thuật truyền khẩu, cách thực hành đó của soul rap, do các preachers (nhà thuyết giáo) hoàn chỉnh, tăng cường quyền lực truyền cảm của lời bằng sự nhấn mạnh tiết nhịp của nghệ thuật phát âm dòng nhạc; nó tạo sự giao cảm với nội dung bài thuyết giáo và khiến mỗi đoàn viên của cộng đồng có cảm giác rằng nhà thuyết giáo chỉ ngỏ lời riêng với mình thôi, và bù lại nó xui khiến có một lời đối đáp hay phê bình, quả thật là một đối khúc củng cố cho sự hòa nhập của cư? tọa.

Người ta hoàn toàn tìm thấy lại ở các ca sĩ nhạc rap cái hiệu quả thuyết giáo đó, nó khiến người nghe bị trực tiếp lôi cuốn thẳng vào văn từ và được dựï phần vào sự xét đoán cái đang được nêu ra. Đó là một cách thức phát biểu nhằm hủy diệt khoảng cách giữa người diễn và người xem, giữa người xướng với người nghe, hầu tạo ra một cuộc thi đua tập thể mà mọi người đều được dự phần. Và khi Ice-T (7) xuất hiện trong chiếc áo tu sĩ, hiệu quả tất nhiên không chỉ thuần túy là sự nhại chơi.

Sự thực hành việc cắt ghép cũng là một yếu tố phổ thông khác nữa của kỹ thuật truyền khẩu. Tương tợ như người ca sĩ nhạc rap khi sử dụng lại những mẫu khúc lấy ra từ cái gia tài nhạc đen, nhà thuyết giáo cũng tạo dựng các bài thuyết giáo từ những mẫu kinh lựa chọn, những phát biểu sẵn có nhặt ra từ trong cái kho tàng kinh kệ mọi người đều biết, và cũng hệt như những samples (mẫu nhạc) được khai quật lên của các ca sĩ nhạc rap, chúng thường xuyên lui tới ghi dấu đánh nhịp cho cấu trúc của bài thuyết giáo. Gắn liền với phong cách đặc thù của sự đọc cắt nhịp, chung cho bài ca rap và bài thuyết giáo, cái sườn lấy ra từ vốn liếng bản xứ đó có hiệu quả tạo ra một chiếc sân chơi chung của ngôn từ như một sở hữu tập thể của mọi đoàn viên, mà người ChủLễ chỉ là một yếu tố. Tuy nhiên cũng có một sự khác biệt cơ bản: trong khi nhà thuyết giáo chỉ ngỏ lời với một giáo đoàn hạn chế giữa các bức tường của ngôi giáo đường — môt thứ cộng đồng mãnh liệt — thì các sứ thần của nhạc rap ngỏ lời với một tập đoàn thị dân vô tận, một tập thể mơ hồ mà người ta có thể xem như là khoáng diện. Điều này giải thích tại sao bài thuyết giáo chỉ hữu hiệu trong mãnh lực trực diện (nằm trong khuôn khổ của nơi thuyết giáo, trong khi ngược lại ca khúc rap tung tín điệp qua sự trung gian của những phương tiện tái tạo âm thanh: dĩa nhạc, băng nhạc, video, và phát thanh trên các làn sóng điện…). Trong khi bài thuyết giáo của vị mục sư qui tụ các tín đồ về nơi thờ phụng, ly tâm tự bản chất, ca khúc rap thì lại hướng về sự phân tán; vả lại, trừ vài trường hợp ngoại lệ, sự qui tụ vào một thính phòng chỉ tạo được sự thành công không đáng kể cho các nghệ sĩ hip-hop. Nếu so sánh với kết quả của dĩa nhạc hay của trích khúc, ca khúc rap bị mất một phần rạng rỡ khi xuất hiện trên sân khấu, và có ve? như tự bản chất, nó thuộc về sự ly tán. Ở thời điểm của họ, George Lapassade và Philippe Rousselot đã từng nhấn mạnh (8), qua sự phân tích bài Knowledge Is King một ca khúc của Kool Moe Dee, rằng ca khúc rap và bài thuyết giáo đều có chung một cấu trúc: “công thức để phóng đi không mang ý nghĩa, nhưng lại rất quan trọng trên phương diện ngắn gọn”, tiếp theo là lời khích lệ, nhưng bằng giọng truyền lệnh, để khai đề, thường đượm nhiều sắc thái tôn giáo: “Sự hiểu biết chính là quyền lực tối cao (Knowledge is king)”, cấu trúc mang tính cầu nguyện vinh danh sức vạn năng của Thượng Đế, mà bất cứ nhà thuyết giáo nào cũng có thể chọn lấy để xây dựng bài thuyết giáo của mình.

Cũng thấm đượm những hàm súc tôn giáo, bài rap Dead Homies / Chúng Ngủm Rồi (9) của Ice Cube cũng mang dáng ve? một bài thuyết giáo về cái chết, và đưa chúng ta vào một không khí xót thương đặc trưng của văn hóa da đen.

Khởi sự theo đúng cung cách của một nhà thuyết giáo đọc một bài điếu văn, Ice Cube, ngay trong đoạn dẫn nhập, đã đặt để khung cảnh và tiết lộ cho chúng ta biết về nội dung của bài thuyết pháp.

1. Tình trạng phi lý: mới tảng sáng mà tôi đã đóng bộ đồ [nỉ] đen (Up early in the morning dressed in black).

2. Sự phi lý của tình trạng đó chính là hệ quả của một biến cố tự chính nó cũng phi lý: thằng bạn chung trường với tôi đã bị bọn cớm hạ rồi (They killed a homie that I went to school with). Nhìn dưới góc cạnh tu từ hùng biện, sự phi lý nhân đôi ấy được nhấn mạnh thêm bởi câu thơ thứ hai: Đừng thắc mắc vì chuyện tôi đã rời nhà với chiếc cà vạt đen (Don’t ask why’ cuz I’m down in a black tie).

3. Chuyển đi từ sự đặc biệt của một biến cố sang sự tổng quát của quan điểm luân lý: Cuộc đời chẳng là cái đống cứt [thơm] để cho ta vọc (I tell you, life ain’t shit to fool with).

Phần kế tiếp của bài thuyết giáo sẽ được tán rộng theo lược đồ sơ khởi bằng cách lợp chồng chéo những bình diện khác biệt.

1. Bình diện thuộc về biến cố đặc biệt: việc mưu sát người con trai và sự đau khổ của thân nhân được mô tả rất hiện thực:

Tôi nghe tiếng bà già nó kêu trời và khóc và rống
Trong khi thằng mọi ngã lăn tòm vào lòng rãnh mương

(I still hear the screams from his mother
While my nigger lay dead in the gutter)

Những chi tiết về cuộc đời của người chết được nhắc nhở tới:

Tôi còn nhớ chúng tôi hay xịt tên mình lên tường để mua vui

(I remember we painted our names on the wall for fun)

Ước vọng trả thù, do sự tức giận, được hình dung như là một giải pháp:

Khiến tôi nổi nóng muốn vác cây súng cưa nòng ra
Để có thêm vài cái thây ma mà khuân vác về nhà
Tuy nhiên tôi chỉ cúi chào và thế là xong cuộc lễ
Ôm hôn bằng hữu và có thể rỏ một hai giọt lệ
Và muốn được xơi bom rơi đến gần như tắt thở

(It make me so mad I want to get my sawed-off
And have some bodies hauled off
But no, I pay my respects and I’m through
Hug my crew and maybe shed a tear or two
Then I wanna blitzed)

2. Thế nhưng lựa chọn con đường thù hận và bạo tàn là dự vào sự phi lý chung. Đúng vậy, khi tôi nâng cốc bia lên (grab my 40 oz):

… để mà tưởng mà nhớ
Cái thằng bạn hiền thằng anh em độc nhất của tôi

(… I remisce
About a brother who had to be the one and only)

Biến cố mà người ta than trách hôm nay không đơn le? mà là sự lập đi lập lại của một chuỗi những phi lý tương tự chỉ có sự thức tỉnh của lương tri mới tránh khỏi được:

Lại thêm một thằng bạn thân bị bắn trong một trận càn quét
Và bà má nó đi đưa ma và bị khủng hoảng tinh thần
Hai phát súng nổ tung cái bản mặt mo đen của nó

(Another homie got murdered on a shakedown
Now his mother’s at the funeral, having a nervous breakdown
Two shots hit him in the face when it blasted)

Bằng cách rất vén khéo, Ice Cube đi từ cái riêng đến cái chung khi xếp chồng lên nhau hai biến cố bi thương tương tợ. Như vậy, hai câu thơ cuối của Khúc Một về cái đám tang hôm nay cũng có liên hệ đến cái đám tang đã xảy ra trước đó không lâu. Ta gần như không thể biết chính xác sự bấn loạn tinh thần của người mẹ đã xảy ra trong buổi tang lễ hôm nay hay trong cái đám tang trước đó. Ta cảm thấy bị vướng mắc vào cái vòng bánh của một trạng huống thê lương không lối thoát.
3. Sự hòa lẫn đó cho phép người xướng đọc bắt qua sự tố cáo tình trạng đạo đức lỏng le?o đang bủa vây, bằng cách tuần tự điểm chỉ: bất công xã hội do sự kỳ thị,

Sao bọn mọi đen chỉ được ngồi xế những lúc như thế

(Why is that the only time when Black folks get to ride in a limo)

sự vặn vẹo méo mó của những liên hệ giữa những người thân trong gia đình và cộng đồng,

Chỉ khi gặp biến thì người trong nhà mới xích gần nhau

(When there’s a tragedy that’s the only time the family is tigh)

không khí bạo tàn được dung dưỡng và thế giới điên cuồng

Thế nên thằng Ice Cube này mới chưng diện thật bảnh bao
Vì đụ mẹ cái thành phố chó đe? này chỉ là một cái đống rác cao
Và mọi người đều giả trá và cù lần và cà chớn

(So that’s why Ice Cube is dressed up
Because the city is so fickin’ messed up
And every body so phony)

Tiện đây cũng xin ghi nhận rằng ba câu thơ kể trên đã lãnh vai trò đúc kết để dẫn đến kết luận của người thuyết giáo, vì luận điểm cuối cùng “So that’s why” (Bởi thế mà / Thế nên…) chính là câu đáp cho câu hỏi của khúc một “Don’t ask why” (Chớ hỏi tại sao / Đừng thắc mắc…)

Thảy đã được tỏ bày, nay chỉ cần kết luận bằng một lời kêu gọi cuối cùng:

Này… [bạn] hãy để tí thời giờ
mà nghĩ tới [cái] thằng đã sạch trơn

(Take a little time
to think about your dead homie)

Với tài khéo léo của một nhà thuyết giáo, Ice Cube đã đi từ cái “tôi” của nhập đề, đến cái “bạn” của kết luận, qua cái “ta” của tán rộng, và như thế bao hàm cả cư? tọa trong cộng đồng của lương tri và mặc niệm. Trong bài rap này, nếu nhìn từ góc cạnh bút pháp, thì không có một chi tiết nào đã bị phó mặc cho sự may rủi. Người Chủ Lễ đã bám thật sát hình thức truyền khẩu của bài thuyết giáo, của bài điếu văn.

Nguyễn Đăng Thường dịch

Chú thích
Trích dịch từ cuốn Le Rap, une esthétique hors la loi (Nhạc Rap, một thẩm mỹ ngoài vòng pháp luật) của Christian Béthune, nxb Éditions Autrement, 1999, Paris. Tựa bài này do người dịch đặt. Các tiểu tựa trong bài là của chính tác giả. Phần 1 (Từ biểu tượng đến…) dịch từ tr. 80-83. Phần 2 (Bài thuyết giáo…) từ tr. 163-168. Đặc biệt cảm tạ nhà phê bình Đặng Tiến và ái nữ của ông đã tra cứu và góp ý để chuyển ngữ hai từ rất khó dịch, là “illocutoire” và “auratique”, không có trong các từ điển Pháp thông dụng như cuốn Petit Robert. Hai từ này được tạm dịch là “quyền lực truyền cảm” (puissance illocutoire) và “mãnh lực trực diện” (présence auratique).

1. Ann Marlow, “The hermeneutics of rap”, trong cuốn Rap on Rap. Straigh-up Talk on Hip-Hop Culture, New York, Delta Books, 1995, tr. 222.

2. Id., tr. 208 (tuyên bố của Sister Souljah trong chương trình truyền hình “Larry King Live”).
3. Entertainment: gồm giới điện ảnh và xướng ca.
4. Star system: hệ minh tinh. Một hệ thống trong thời vàng son của Hollywood, trước thập 60: một diễn viên có ít nhiều khả năng được mời ký hợp đồng dài hạn và độc quyền (có khi còn ở lứa tuổi thiếu niên như Mickey Rooney, Elizabeth Taylor, Judy Garland…) với một hãng phim lớn. Sau đó họ được uốn nắn, chăm sóc, chỉ dạy, lựa chọn cho một hình ảnh bắt mắt (áo quần, mái tóc, trang sức…) và một vai tuồng thích hợp (đào thương, kép độc, kép mùi, gái thơ ngây, ca sĩ…) rồi được lăng xê để trở thành minh tinh hay siêu sao trên vòm trời Hồ Ly Vọng “có nhiều ngôi sao sáng chói hơn bầu trời thật”. Siêu sao cuối cùng và chói chang nhất (mà hình như cũng là nạn nhân đáng thương nhất) của star system là Marilyn Monroe.
5. Public Enemy, Fight the power, 1989.
6. The Rap Attack, London, Pluto Press, 1984, tr. 47.
7. Ice-T (tên thật là Tracy Morrow). Xin đừng lẫn lộn với Ice Cube. Bị tài tư? điện ảnh gạo cội của Hollywood Charlton Heston quy tội gây hận thù với bài “Cop Killer” (Giết Bọn Cớm), Ice-T đối đáp rất thông minh và mạch lạc, tố cáo sự đạo đức giả của ngôi sao điện ảnh lừng danh, khiến anh tức khắc trở thành một thần tượng và phát ngôn viên hữu hiệu cho giàn nhạc kim khí Body Count (Đếm Xác) của anh.
8. George Lapassade & Philippe Rousselot, op. cit. (?)
9. Dead Homies, Priority Records, 1990.

TRUYỀN THỐNG MỚI, CÁI ĐẸP XƯA

https://www.m-w-juergens.de/ausstellungen/2025_Schloss_Wiligrad/kunstverein_wiligrad_schloss.html
https://www.m-w-juergens.de/ausstellungen/2025_Schloss_Wiligrad/kunstverein_wiligrad_schloss.html
Frederick Turner

Fred TurnerNhà thơ & Triết gia
Fred Turner Nhà thơ & Triết gia

Người đọc quen thuộc với trạm này hẳn sẽ nhận ra một chất men nghệ thuật mới trong không khí. Họ biết rằng những nghệ sĩ khích động trong nhiều dạng thức đã hiện xuất theo bước suy tàn của chủ nghĩa hiện đại hóa thành hậu hiện đại, rằng họ đã bắt đầu gặp gỡ và trao đổi những trực giác xuyên qua những bộ môn nghệ thuật. Họ biết rằng cái thiết định nghệ thuật đang cố sức hạ giá hoặc bao sân nhận thức mới. Họ biết rằng những nghệ thuật mới sở hữu những tư tưởng về mỹ học, văn hóa, và triết học khiến cho phần nhiều cái lí thuyết và ngữ vựng của các chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại hóa ra lỗi thời. Họ biết rằng những kho báu của quá khứ nghệ thuật đang được khám phá trở lại khi các nghệ sĩ đủ loại tự học – hoặc tìm ra những bậc sư phụ trọng tuổi hơn chỉ dẫn – những kĩ năng kinh điển về họa, về giai điệu, về thi luật, về kể chuyện, về đóng kịch, về kiến trúc nhân hòa.

Tuy nhiên câu hỏi chúng ta luôn gặp là: tại sao nền nghệ thuật mới không được biết tỏ tường hơn? Tìm đâu ra nó trong những định chế công zân chính thức, trong những ấn bản và những nhà xuất bản nề nếp, trên truyền thanh truyền hình , trong những rạp hát lớn, trong các bảo tàng đô thị? Mặc dù trong kiến trúc và thiết kế đô thị, chủ nghĩa kinh điển mới và chủ nghĩa đô thị mới đang chiếm đất nhưng vẫn bị cái thiết định kiến trúc coi thường. Dân New York tìm đâu ra những gì đang diễn tiến trong các nghệ thuật mới? – chắc chắn không phải ở trong tiết mục nghệ thuật của tờ New York thời báo (The New York Times) hoặc ở tạp chí Người New York (The New Yorker). Nếu bạn đọc quen thuộc với những cơ sở tài trợ văn hóa lớn như các Ford, Guggenheim, Rockerfeller, Whitney, MacArthur foudation vân vân, câu hỏi hẳn sẽ là “ai tài trợ những nghệ sĩ mới trong công cuộc của họ?” Họ tất nhiên không có được những tài trợ hoặc trú sở lớn. Vậy mà tác phẩm của họ được công chúng hoan nghênh vì chúng đẹp và thích hợp mỗi khi được tiếp cận.
Vấn đề cũng cũ thôi: những người canh cổng. Họ chặn lối các họa sĩ Ấn tượng Pháp, họ chặn lối những ngưới thuộc chủ nghĩa Lãng mạn sơ kỳ, họ thiêu sống những nhà nhân bản sơ kỳ thời Phục hưng, họ trừ khử Jesus và Socrates. Vậy làm sao chúng ta phá xuyên các rào cản ngăn cách những nghệ sĩ của nhân dân với nhân dân?


Chân dung tự họaDo Họa sĩ Christopher Pugliese
Chân dung tự họa Do Họa sĩ Christopher Pugliese

Những trung tâm zao thế

Zải pháp truyền thống là chạy về đích. Trong môn bóng bầu dục, nếu vị jáo luyện đối phương đã bài bố toàn bộ phương tiện chống một cuộc tấn công trực ziện, giải pháp không phải là đánh thẳng vào sự phòng vệ mà là chạy vòng qua nó. Trong quân sự, quân Đức đã đánh chiến lũy Maginot của Pháp trong Thế chiến I bằng cách đó [trong Thế chiến II, các tướng Hoa kì Patton và MacArthur đã đạt thành công ở Anzio hải cảng ở Í], và Inchon [hải cảng Nhân Xuyên ở Triều tiên] cũng nhờ vậy. Các họa sĩ Ấn tượng thắng bằng cách mở phòng triển lãm của Những Kẻ Bị Từ Chối (Salon des Réfusés), những họa sĩ của chủ nghĩa hiện đại bằng cách mở cuộc Trưng bày ở Công binh Xưởng (Armory show). Nếu bạn đã ở trong giáo ban đại học, bạn hẳn biết rằng hầu như không thể nào xuyên phá một hệ thống quan liêu đã cốt hóa – Jải pháp là sáng tạo, một cách tự nguyện, một trung tâm jao thế về học tập, tư tưởng, và thảo luận ở nơi khác trong định chế, lôi cuốn các jáo sư và sinh viên bằng sự khích động về tư tưởng và sự sinh động về thảo luận cho đến khi cơ cấu cũ trở nên ngày càng bị cô lập và thiên chấp. Không ai còn thích ở đó nữa; quyền lực của nó lớn trên giấy tờ, nhưng thực tế trở thành chẳng còn liên quan; nó bị bỏ mặc cho kẹt trơ không người phò tá; đến lúc đó nó trở thành một phế tích không liên quan. Cuối cùng nó co thắt và tiêu ma không có cơ hội đập tan kẻ thù trong cuộc đương đầu mà với nguồn lực cưỡng chế nó có thể đáng kể. Ở Đông Âu năm 1989 sự tình xảy ra như thế – không còn ai đáng lưu í, có tính sáng tạo, hoặc năng động còn ở lại trong guồng máy quan liêu bạo chúa cũ của cộng sản, và nó sụp đổ vì chính trọng lượng của nó.

ttm23Tuy nhiên, để điều đó xảy ra trong nền văn hóa của chúng ta, công chúng phải biết những gì đang ziễn tiến, nhưng hiện nay công chúng phần lớn còn an tâm tin tưởng ở những kẻ ưu tú canh cổng của các phân bộ nghệ thuật, chán chường nuốt những thứ “đổi mới” lập lại trong thực đơn, chấp nhận rằng mình chưa hiểu nổi, và tiếp tục mua những thứ giả thiết phải mua. Nếu những phương tiện truyền thông cũ, mà nền thiết định hoàn toàn kiểm soát, là những phương tiện duy nhất, liên kết công chúng với nghệ thuật vốn cần và xứng đáng, thì vụ việc này hẳn là tuyệt vọng. Nhưng – và đây mới là đích điểm – khi thời thế cất cao tiếng gọi đòi hỏi những phương tiện mới thì kỹ thuật học của con người đã thường đáp ứng bằng một công cụ truyền thông mới mang tính cách mạng, thoát khỏi sự kiểm soát cưỡng chế của những kẻ canh cổng, đó là một zạng thức công luận và thảo luận “đáy tầng” “biên dưới lưới radar” và nó đã trở thành cái chuyển vận của một nền văn hóa mới.

Asphodel

Our guide turned in her saddle, broke the spell:
“You ride now through a field of asphodel,
The flower that grows on the plains of hell.
Across just such a field the pale shade came
Of proud Achilles, who had preferred a name
And short life to a long life without fame.
And summoned by Odysseus he gave
This wisdom, “Better by far to be a slave
Among the living, tha gread among the grave.”
I used to wonder, how did such a bloom
Become associated with the tomb?
Then one evening, walking through the gloom,
I noticed a strange fragance. It was sweet,
Like honey? but with hints of rotting meat,
And army of them bristled at my feet.”

Hoa Thủy Tiên

Kẻ hướng dẫn chúng tôi quay mình trên iên, zải bùa mê, nàng nói:
“Mong các bạn phi ngựa qua cánh đồng thủy tiên,
Thứ hoa mọc trên thảo nguyên của địa ngục.
Ngay bên kia cánh đồng hiện ra bóng mờ
Của chàng Achilley kiêu hùng ham lưu zanh
Và vắn số hơn là có tuổi thọ mà vô zanh
Được Odysseus chiêu tập, chàng ban
Lời khôn ngoan này, “Thà là nô lệ
Trong cõi sống, còn hơn xa vĩ đại trong nấm mồ”
Tôi thường tự hỏi, sao hoa như thế
Lại liên kết với cõi chết?
Rồi một chiều, zạo bước qua u minh,
Tôi thoáng nhận một mùi hương kì lạ – Nó ngọt ngào,
Như mật? Nhưng thoảng mùi thịt đang thối rữa
Là một binh đoàn hoa tua tủa zưới chân tôi.

A. E. Stallings

Mạng lưới

Với người Hy lạp cổ xưa, phương tiện đó là chữ viết. Với thời Phục hưng đó là máy in. Với chúng ta, kỹ thuật học tự hiến để vòng qua độc quyền của một văn hóa hiện hữu cố thủ và dãy chết, đã xuất hiện, như thể linh ứng. Đó là mạng lưới trời (internet).

Không phải dễ khiến nó hoạt động cho vận động văn hóa mới. Thực thế, giống như chữ viết và máy in trước nó, mạng lưới là một kỹ thuật học khá cũ – về mặt thiết iếu, chẳng khác với máy viễn kí mà tướng Ulysses S. Grant thường dùng để liên lạc với các tướng và máy vô tuyến điện truyền chân mà zới đầu tư thị trường chứng khoán ở Paris zùng trong thập niên 1850 để nhận trước những thông tinvề hàng hóa cập bến ở Marseilles. Và chúng ta cũng còn lâu mới nhận diện được những gì nó có thể làm trong tương lai, đặc biệt trong lãnh vực sản xuất và phổ biến văn hóa. Phải mất ít nhất cả trăm năm để các máy in của Gutenberg và Caxton bắt đầu làm tròn hứa hẹn triệt để chuyển hóa xã hội: cho tới lúc đó chúng chỉ thuần túy gia tốc cho công việc sao chép bằng tay, và khiến các zâm thư cũng như những văn bản thiêng liêng bằng tiếng Latin sẵn sàng cung ứng cho từng loại thân chủ. Phải nhiều năm qua đi trước khi những công cụ luật pháp, kinh tế, và í niệm như là luật bản quyền, nhà xuất bản, tạp chí định kì phê bình, nhà sách, thư viện công cộng, quyền tự do ấn loát, những đạo luật về phỉ báng vân vân mới cho phép thị trường đại chúng về chữ nghĩa có hoa lợi nuôi dưỡng được những tác phẩm của Dickens, Emerson, Tennyson, mấy chị em nhà Brontes, Longfellow, Balzac, Hugo, Dostoyevsky, và Hemingway. Cũng như với máy in, chúng ta phải phát minh những định chế mới và những tập tục sinh hoạt mới để đem lại sự sử zụng văn hóa tốt đẹp nhất cho mạng lưới.


Hi sinh

Chúng ta vẫn chưa giải quyết được những vấn đề sâu xa về quyền sở hữu trí tuệ, zanh nghĩa, và sự tuyển chọn biên tập mà mạng lưới nêu ra. Tôi tin rằng những tác gia về sách, tranh, nhạc, thiết kế kiến trúc, và tương tự có thể phải hi sinh phần lớn sự an toàn, thu nhập, và zanh nghĩa mà luật bản quyền cung ứng.

Tạo sinh hoạt nhờ vào sinh hoạt tư tưởng, từ ngữ, thị kiến, giai điệu chưa từng bao giờ là dễ dàng, và trong lịch sử không đơn giản như việc bán một cuốn sách, một dĩa hát, một tranh in, một tượng đồng, hoặc một bức họa. Trước khi có máy in, hầu như một nhà văn không thể nào bán một cuốn sách theo một nghĩa nào trọn vẹn. Ngay cho mãi tới thời Shakespeare những thi sĩ như Phillip Sidney “xuất bản” thơ của họ bằng cách chép tay bằng mực và gửi cho bạn bè, rồi những người này lại lưu chuyển như những chuyện tiếu lâm trên mạng lưới thường khi không có cả tên tác giả. Máy in cố định nội dung một cuốn sách vào biểu hiện vật thể trên mặt giấy và khiến cho nhà xuất bản có thể thồ được thù lao cho tác gia cùng với lợi nhuận của chính mình vào phí tổn vật liệu và chế tạo. Nhưng mạng lưới, như mọi người đều biết, là một nơi mà thông tin có thể tái tạo vô hạn không phí tổn và không tùy thuộc vào phương tiện thể hiện nó.


Mary Sông hằngDo Điêu khắc gia Ward T Elicker
Mary Sông hằng Do Điêu khắc gia Ward T Elicker

Những hoàn cảnh thay đổi

Chúng ta có thể phải tái phát minh cung cách trong đó những nhà phát minh, nghệ sĩ, nhà tư tưởng, có được zanh nghĩa và tài trợ và sinh hoạt nhờ tác phẩm của mình. Trong công cuộc này chúng ta có thể được hổ trợ nhờ một đặc điểm của phương tiện mới mà chúng ta đã từng liếc qua khả năng của nó, cung ứng tri thức cũ sẵn sàng mới lại. Chúng ta chỉ có thể học từ quá khứ. Một điều chúng ta học được là mặc dù trình tự hiện luôn có phần rủi ro, người ta đã có thể bằng những phương tiện gián tiếp được tưởng thưởng nhờ tác phẩm của mình. Các nhà thơ kiêm họa sĩ Trung quốc không được trả tiền về thơ hoặc những bức họa thủy mạc về phong cảnh của họ, nhưng trúng tuyển qua một kì khảo hạch về thơ phú họ có thể nhận được quan chức với bổng lộc. Một nhà văn cừ vào thế kỉ 16 hoặc 17 ở Anh không thể bán đại trà một cuốn sách nhưng có thể kiếm được một chân mục sư trong giáo hội Anh quốc hoặc có thể làm thư lại cho một bộ trưởng trong chính phủ. Văn học, dù phẩm chất rõ ràng tùy thuộc vào sự dấn thân nghệ thuật chân thực của tác giả, có thể tác động như một thứ quảng cáo hoặc tiếp thị cho chính tài năng của nhà văn.

Trong âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, kịch nghệ, và vũ đạo, những vấn đề tương tự cũng nảy sinh. Âm nhạc, như chúng biết qua vụ Napster còn dễ bị tổn thương hơn là văn học, vì những hoàn cảnh thay đổi do mạng lưới gây ra. Vốn trước kia chỉ có một sân đình quí tộc mới có thể bao nổi âm nhạc thời thượng thì ngày nay ai cũng có thể thủ đắc hầu như miễn phí. Những nghệ thuật tạo hình còn chưa gặp khủng khoảng toàn diện, cho đến khi nào kỹ thuật học vi ti (nanotechnology) cho phép chúng ta tạo được những bản phục chế chân xác của những vật thể ba chiều, nhưng nhiếp ảnh đã hình thành một cách sâu xa quan niệm về bản quyền thị giác và những nguyên tắc về tính nguyên tác. Những nghệ thuật trình diễn tất nhiên đã bị thách thức do điện ảnh, video, và bây giờ là những cách tân như Jenny-cam. Nhưng có lẽ hào quang của sự hiện diện nhân thân, là thứ không thể tái tạo, sẽ giữ cho các nghệ thuật này có thân chủ mua vé và có lợi nhuận theo cung cách của các gánh hát rong ngày xưa.


Những phương cách mới

Tuy nhiên, mặc dù những vấn đề báo nguy và có khả năng hoán cải cầu trường này, tôi tin rằng sự hứa hẹn của mạng lưới trong việc qua mặt trật tự giãy chết của chủ nghĩa hiện đại – hậu hiện đại thì lớn lao đến nỗi rất xứng đáng với những hiểm nghèo và hi sinh. Chính bản thân tôi ngày càng nghiêng về chiều hướng đưa tác phẩm của mình lên lưới và cho thiên hạ tha hồ sao chép nếu muốn. Những tác gia và nghệ sĩ khác tôi biết trong “vận động kinh điển tự nhiên” (natural classical movement) cũng cảm nhận như thế. Nếu chúng tôi tiến hành, chúng tôi sẽ quay trở lại trong một số phương cách về “nền kinh tế trao tặng” xưa hơn, nhưng không có sự an toàn của hệ thống làng xã xưa gồm những nghĩa vụ và đối đãi thiết thân. Trong làng, người láng giềng của tôi có thể bao tôi một chầu nhậu hoặc cho tôi một giỏ táo đổi lấy một bài thơ hay; nhưng một người lạ đọc tác phẩm của tôi ở một trạm trên lưới không hề cảm nhận nghĩa vụ như thế. Tuy thế, về lâu về dài, sự mất mát riêng thiết thân còn được bù lỗ nhiều phần hơn nhờ sự chuyển thể trong văn hóa do hậu quả kia – và nền văn hóa mới có thể cúng dường tốt hơn cho phong cách chúng ta muốn sống.

Nhà soạn nhạc Amy Scurria
Nhà soạn nhạc Amy Scurria

Hiện đã càng rõ là nhiều nhà xuất bản lớn bị những tổ hợp truyền thông khổng lồ nuốt chửng vì chúng tìm kiếm “nội dung” để lót trải cho những hệ thống lưu trữ và chuyển tải thông tin to tát, hầu như đã đánh mất cảm quan về văn hóa là gì ngoài việc tìm ra và đề cao những tên tuổi lớn và những ám ảnh theo chủ đề được thiết định. Những ân quán đại học, lẽ ra có thể cung ứng một chọn lựa giao thế thực sự, phần lớn là những cơ quan của nền thiết định hiện đại – hậu hiện đại. Đại loại có thể nói như thế về những công ti dĩa nhạc, bảo tàng, rạp hát, vân vân đã thiết định. Có lẽ những nghệ sĩ và những nhà văn thực sự cừ tự đánh lừa mình nếu họ nghĩ rằng họ có thể “xuyên nhập” một hệ thống như thế, hoặc cho rằng họ sẽ thành công nếu làm được điều đó. Ai thực sự muốn được đăng tải trên tờ báo The National Inquirer (Người Điều Tra Quốc Gia)? Về nội dung, thực sự có khác nhau bao nhiêu giữa zanh sách những cuốn giả tưởng và phi giả tưởng của nhiều nhà xuất bản lớn ở New York? Trong lúc đó có một lớp thính chúng ngày càng có giáo dục và bồn chồn mong mỏi những chất liệu nghệ thuật và văn hóa có phẩm chất cao (bằng chứng là sự thành công ngoạn mục của một số phim sản xuất độc lập không hề được quảng cáo chẳng hạn). Trong cảnh tượng bất ổn cao độ này, một sự thay đổi rất có thể đột chuyển một cuộc cách mạng.

Giả thử hầu hết những họa sĩ, thi sĩ, người kể chuyện, nhạc sĩ, thiết kế vân vân đơn giản cho đi tác phẩm của họ trên lưới. Sẽ có một cuộc khủng khoảng, người ta sẽ có thể có được những văn ho`a phẩm miễn phí có phẩm chất cao hơn những gì họ có thể có được nếu mua trả bằng tiền. Sẽ là một cuộc “tháo khoán” văn hóa – lối hành xử bán những sản phẩm cao cấp thấp hơn giá thị trường chịu nổi đễ triệt và làm phá sản những đầu nậu thị trường. Thực tình, tôi tin rằng hiện tượng này đã bắt đầu rồi. Các nhà khoa học hiện nay đều đặn vượt ngang những tạp chí tốn kém và đôi khi hẹp hòi ngoan cố in trên giấy, bằng cách loan báo những khám phá của họ, và những trạm trên lưới như Trung tâm zuy tân nghệ thuật (Art Renewal center) của Fred Ross nhận được hàng ngàn vụ vào thăm của những người iêu nghệ thuật không mất thì giờ đi đến các viện bảo tàng Whitney hoặc Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (The museum of Modern Art). Trong âm nhạc phổ thông, những nhóm nhạc mới và hay vượt qua mặt những thương hiệu dĩa hát và tặng không những sản phẩm mê mệt lòng người. Những tranh luận sống động nhất về thơ là ở trên mạng, nơi những bài thơ hay truyền quanh với tốc độ ánh sáng, đôi khi trút mất cả tên tác giả trong trình tự (sự trút tên là dấu hiệu kiện khang của hệ thống, nghịch lí thay). Nếu kẻ trung gian làm biến chất sản phẩm, có lẽ i nên bị loại trừ.

LancelotDo Họa sĩ Anthony J Ryder
Lancelot Do Họa sĩ Anthony J Ryder

Thế jới mới

Tới điểm này những sức mạnh của hệ thống cũ hóa thành những nhược điểm phá hủy. Những đạo luật về bản quyền, vốn bảo vệ hệ thống cũ, gần đây đã trở nên vừa gây hạn chế hơn lại vừa cưỡng chế hơn về mặt pháp lí, khi những tập đoàn công ti ráng sức khóa chặt nội dung vào những bộ máy thông tin của họ. Điều này trong thực hành có nghĩa là một phân bộ sản suất văn hóa trải dài suốt từ thời gian một tác phẩm nhập vào lãnh vực công cộng, bị đóng chặt do lệ phí. Như thế dĩ nhiên chúng ta vẫn còn cả những kho báu văn hóa lớn lao của quá khứ, và bất cứ sáng tạo nghệ thuật mới nào trong tương lai. Trái với nhà chiến lược của nền văn hóa tự nhiên kinh điển mới đang hiện xuất, điều này hiến ta một khẩu hiệu tuyệt vời: quá khứ và tương lai là của chúng ta; chúng ta hãy để cho đám canh cổng già nua cái hiện tại, là cái bị câm lặng vì luật bản quyền, là cái bị rút ruột hết í nghĩa đích thực vì sự suy tàn của chủ nghĩa hiện đại; và thay vào đó chúng ta hãy sáng tạo một thế giới mới.

ttm23Ba dị nghị lập tức trình ra khước bác kế hoạch này: tiền bạc, zanh nghĩa, và chọn lựa.

Dị nghị thứ nhất có thể phát biểu như thế này: nếu các nghệ sĩ và nhà văn chỉ đơn giản đưa tác phẩm của họ lên siêu mạng, là cái có thể tái tạo với những giá trị sản xuất cấp cao, những phẩm chất của nguyên bản, làm sao họ được trả tiền cho tác phẩm của mình? Dĩ nhiên người ta có thể trả lời rằng các nghệ sĩ chân chính, giống như Van Gogh tội nghiệp, dẫu chết đói vẫn không tránh được việc tạo ma thuật, dù có được trả tiền hay không.

Dẫu cho vô cảm, lập luận này vẫn giữ được tính ích lợi xã hội vì xã hội sẽ có được nghệ thuật nó cần thiết với giá hạ. Nhưng các nghệ sĩ chết đói rất có thể tạo ra thứ nghệ thuật mang đầy tuyệt vọng và vong thân cùng tổn thương tâm lí đến nỗi nhưng bông trái mà xã hội có được từ họ sẽ bị tẩm độc. Thực tình, tôi tin rằng nhiều trong những căn bệnh văn hóa tiếp theo phong trào Lãng mạn, khi các nghệ sĩ không còn được các phường hội và giới quí tộc bao bọc bảo vệ, có thể vạch dấu từ bệnh thái này.

Tòa nhà Lúa gạoDo Kiến trúc sư Allan Greenberg
Tòa nhà Lúa gạo Do Kiến trúc sư Allan Greenberg

Nhu cầu và phê bình của công chúng

Chúng ta đã lược nhìn qua một giải đáp: hệ thống Trung quốc hoặc hệ thống giáo hội Anh quốc, trong đó những tài năng nghệ thuật và văn học được minh nhiên nhìn nhận như những tư cách về thư lại hoặc viên chức. Chaucer, Donne, Milton, và Swift là những công bộc quan trọng của nhà nước hoặc nhà thờ. Van Eyck là một nhà ngoại giao và điệp viên hàng đầu của xứ Burgundy. Leonardo da Vini la quan binh hàng đầu trong các thiết định quân sự của Milan và Florence; Goethe là một chính khách; Bach là một viên chức cao cấp của nhà thờ. Ở Trung quốc, Lí Bạch là một quan lại của hoàng đế, cũng như Đỗ Phủ và Vương Bột đều là những thi-họa sĩ lớn của triều đại nhà Đường.

Hiện nay hệ thống đại học và cao đẳng Hoa kì đã thực thi nhiều chức năng của nhà thờ và nhà nước thuở xưa khi hổ trợ nghệ sĩ trong lúc họ sáng tác. Vấn đề ở đây là, khi bị cô lập với nhu cầu và phê bình của công chúng, các nghệ sĩ trong các phân khoa không thể được xét đoán qua phẩm chất tác phẩm của họ, và việc chọn lựa hay lưu giữ họ rơi vào việc giám sát của đám đồng liêu, mà trong giới nghệ thuật vốn đầy tai tiếng về hủ bại do chính tự thân việc giám sát này. Do hậu quả đó mà nghệt thuật hàn lâm còn phần lớn sa lầy trong vũng bùn của hậu kì chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại, vốn an nhiên cung ứng một loạt các tiêu chuẩn khuôn sáo về phán đoán ít ra cũng được các phe phái ở nhiều trường đại học khác nhau chia sẻ. Tệ hơn nữa, bởi thầy cô ở các phân khoa ngày nay càng được phán đoán một cách khuyết tịch theo mức độ đắc nhân tâm, nên quyền lợi của họ là không làm li cách các sinh viên khi bắt chúng phải học những môn khó như là vẽ hoặc luật thơ, thế cho nên các môn này suy vi. Còn đáng báo nguy hơn nữa, như Frederick Feirstein đã vạch ra, là các nghệ sĩ trong phân khoa đại học tiến tới chỗ coi như một tiêu chuẩn của nội dung nghệ thuật chính ngay những suy nghĩ và cảm xúc của đám thiếu niên họ dạy dỗ – sự nổi loạn, sự ham muốn cái mới, sự rập khuôn, sự ưa thích những giải pháp quá giản đơn, và những chân trời thời gian chật hẹp của chúng.

Mạng lưới có thể giúp ta giải quyết vấn nạn này bằng cách phơi mở các nghệ sĩ ở các phân khoa ra với đại chúng. Những đáo đạt và viện dẫn, cùng với một hệ thống lượng giá chúng, như thể các ngành khoa học đã sử dụng để xét đoán tầm quan trọng của những bài viết về khoa học có thể là một biện pháp rất đáng tin cậy hơn để đo lường giá trị của một nghệ sĩ so với việc được một mạng cố tri nào đó chọn đăng bài, hay được các giám hộ đồng quan điểm “đúng phép” về í hệ chọn triển lãm, hoặc tuyển dựa vào “tủ sách những nhà thơ trẻ”

An nghỉ IIDo Nhà thơ Richard Moore
An nghỉ II Do Nhà thơ Richard Moore

Tuy vậy, cuốn sách thực thụ, buổi trình diễn nhạc sống, sơn và bố, gạch và hồ, vẫn là những nền tảng thiết iếu của một diễn đàn nghệ thuật điện tử. Chúng giống như những tài nguyên thực thụ bảo đảm cho một đồng tiền giấy. Ở đây tôi cần vạch ra rằng những truyền thông mới không hề đe dọa những tiến lộ của các nghệ thuật. Thực ra chúng còn thường khi khiến cho một dạng thức truyền thống hơn về thông tin và biểu thị có thể đạt tới một sự toàn hảo hơn nhiều về nghệ thuật. Những thành đạt lớn nhất về nghệ thuật nói trong kịch nghệ chẳng hạn, tới nay bén gót những bước tiến ngoạn mục về sự biết chữ và truyền thông viết – ấy là ở Athens thời cổ đại với bi kịch và hài kịch Hi lạp sau sự sử dụng phổ biến của văn tự abc, và ở nước Anh thời nữ hoàng Elizabeth nơi kịch nghệ của Shakespeare có thể nở rộ trước một lớp thính chúng mê say và thông thạo với chữ in. Những người iêu điện ảnh từng sợ là truyền hình sẽ làm tiêu hủy điện ảnh; trái lại, truyền hình khi mang lấy những chức năng thô thiển của điện ảnh, đã giải phóng để điện ảnh trở thành nghệ thuật. Nhiếp ảnh cũng có thể làm điều như thế cho hội họa, như cuộc triển lãm Eakins gần đây của viện bảo tàng Metropolitan minh chứng. Những tạp chí nhỏ hoặc ấn quán nhỏ tận tâm với thơ hạng nhất, sẽ không bị mạng lưới thay thế, nhưng cả hai thứ đó sẽ trở thành nơi trữ tàng và kim bản vị của văn học trên mạng ảo.

Điều dị nghị chính iếu thứ nhì đối với mạng lưới liên quan đến vấn đề danh nghĩa. Nếu thông tin có thể tái tạo một cách vô hạn, làm sao các tác gia và nghệ sĩ có được, nếu không phải là tiền bạc, ít ra cũng là zanh nghĩa đã tạo ra tác phẩm? Như tôi đã gợi í, một sự vô danh nhất định ngay chính nó cũng là dấu hiệu của một dạng thức nghệ thuật dân chúng kiện khang. Có thể nào hòa hợp hai lí tưởng – thừa nhận tài năng sáng tác cho đúng cách, và một mối quan tâm hùng hậu của đại chúng vào phẩm chất của tự thân tác phẩm, bất kể đến danh tiếng của người tạo tác? Khéo sao, mạng lưới lại là phương tiện tuyệt vời về mặt này, như bất cứ thầy giáo nào cũng biết khi phải dò tìm một vụ nghi ngờ đạo văn. Chính cái kĩ thuật mà học sinh sử dụng để tìm ra tư liệu đánh cắp trên lưới thì lại càng dễ sử dụng để túm bắt i – chỉ cần ghép khoảng nửa câu trong bài văn bảnh một cách đáng ngờ lên trạm phục vụ truy tìm google, là nguyên bản với cả tựa đề, tác giả, toàn bộ hiện lên ngay. Rất dễ để tạo ra những hệ thống để thực hiện điều đó với những dạng thức về thị giác hoặc những chuỗi hòa âm, sao cho chừng nào tài liệu nhạc phổ nguyên bản còn trên tuyến, thì sự lưu thông vô danh của nó luôn luôn có thể dễ dàng dò đến tận người tạo tác. Ngay cả các tư tưởng cũng có thể dò tìm lại tận gốc, như tôi đã tìm ra được, bằng cách chọn lựa khéo léo những từ chìa khóa.

Dù cho có tìm ra được những đường lối thích hợp để thừa nhận và hổ trợ các nghệ sĩ trong một tương lai văn hóa truyền thông qua mạng lưới, vẫn còn một vấn đề nữa. Đó là dị nghị thứ ba, đối với nền kinh tế trao tặng biên giới mở ngỏ về các nghệ thuật mà tôi gợi í. Đó là vấn đề tuyển trạch, lựa chọn, và phẩm chất. Nếu những kẻ canh cổng hiện tại bị qua mặt và chế độ của họ teo tóp lại như thể đế quốc Xô viết cũ, thì ai là người sẽ giúp công chúng đãi lọc qua khối lượng mênh mông những sản xuất nghệ thuật tự xưng đủ mọi loại? Nghệ thuật xấu giống như đồng tiền xấu, tống mất thứ tốt. 500 kênh truyền hình có lẽ cho chúng ta nhiều lựa chọn hơn, nhưng mỗi lựa chọn lại kém phẩm chất; nếu muốn thức ăn ngon, chúng ta tới một tiệm ăn với vị đầu bếp tinh tế sành sỏi, chứ không phải tới một siêu thị. Một lí do khiến người ta ngưng đọc thơ mới, ngưng nghe nhạc nghiêm túc mới, hoặc ngưng đi tới các cuộc trưng bày hay trình diễn về nghệ thuật đương đại là vì quá nhiều những thứ họ thấy thì tầm thường, hoặc tệ hơn nữa, và họ không có thì giờ đãi lọc cứt sắt để tìm ra vàng ròng.

Nhưng ở đây một lần nữa, giải pháp lại tự hiện xuất. Nếu không có một thứ độc quyền hoặc tổ chức thao túng nào về phía những kẻ canh cổng, thì những người canh cổng tốt sẽ tự thân hiện xuất, qua một sự tuyển trạch bằng tiến hóa của thị trường tự do. Mạng lưới đã chứng tỏ tự thân hữu hiệu trong vai trò này. Trạm truy tìm thông tin Google chẳng hạn, như một chủng loại thành công vô kể, đã tiến hóa để trở thành công cụ nghiên cứu tổng quát chỉ trong vài năm ngắn ngủi. Những trạm mạng được ưa thích nhất mau chóng tự thiết định đối với người trượt mạng, và những hệ thống nối kết đã dẫn chúng ta với hấp lực ngày càng tăng về phía những trục nơi các tư liệu tốt nhất được thu thập. Lạ kì thay, là trình tự này, lại mang tính hợp tác hơn là cạnh tranh, hoặc đúng hơn, đồng thời có trọn vẹn cả hai tính chất này, bởi những trạm nhỏ hơn chính là những lối đưa tới những trạm ln hơn, và những trạm lớn hơn lại tham chiếu người trượt mạng ra những trạm nhỏ hơn.


Tony BennDo Họa sĩ Elizabeth Mulholland
Tony Benn Do Họa sĩ Elizabeth Mulholland

Cảnh quan văn hóa thay đổi

Tiếp theo điều này là hiện đang có một nhu cầu vĩ đại và một cơ hội vĩ đại cho những nhà biên tập, giám hộ, giám định, và phê bình hàng đầu sẵn sàng đem tài năng phục vụ nghệ thuật. Như chính các nghệ sĩ, những nhà biên tập phải trông chờ làm việc với thù lao tiên khởi ít ỏi, nhưng với khả năng có thể tạo được những danh tiếng lớn mà sớm muộn gì cũng chuyển thành những phần thưởng vật chất.

Vậy, nếu chúng ta lao vào việc, cả nghệ sĩ, biên tập, nhà phê bình, nhà giám hộ cùng với những người iêu nghệ thuật và những nhà giám định, chúng ta có cơ hội thay đổi triệt để cảnh quan văn hóa và xúc tiến một kỉ nguyên mới về nghệ thuật. Một số người nhìn xa trông rộng đã cống hiến thời giờ và tài năng vào tuyến, tạo những trạm trên lưới giúp công chúng tìm được nền nghệ thuật chính đáng của ngay thời mình. Tôi đã nêu ra Trung Tân Duy Tân Nghệ Thuật (Art Renewal) của Fred Ross. Arthur Morteson, với trạm Thơ Mở Rộng (Expansive Poetry) và nhạc trên tuyến (music Online), và Terry Ponick với Biên Thành Tạp chí (Edge City Review) đang hoạt động xuất sắc, cũng nên nhắc đến trạm Cổng Thơ (The Poetry Porch). Và cơ sở Newington (Cropsey Foundation) đang chuẩn bị mở trạm riêng, sẽ khuếch trương sứ mạng phi thường của tờ tạp chí này vào không gian điều khiển học.

Sau chót, vận động này cần một bảng chỉ dẫn đa khoa và một tổng trạm trung ương cho toàn thể ảo thành. Và đã có sẵng một ứng viên cho vai trò này: Trạm NewBohemia (Tân Lãng Du), trạm kiệt xuất của René Gruss lo toan không những việc tạo những nối kết trực tiếp với mọi công cuộc của kỉ nguyên “tự nhiên kinh điển” suốt mặt các nghệ thuật, mà còn là nơi những biến cố thực sự có tầm vóc, như triển lãm, hòa nhạc, ra sách, thi đua kiến trúc vân vân có thể trù hoạch và điều hợp.


Những trái cam & bìnhDo Họa sĩ David LigareThế jới mới
Những trái cam & bình Do Họa sĩ David Ligare Thế jới mới

Cả một thế giới mới về hoạt động văn hóa hiện đang mở ra, và ai biết được nó sẽ phát triển ra sao, hoặc ngay cả việc những chướng ngại lớn lao chặn đường nó có thể vượt qua được hay chăng? Có thể cái thiết định hậu hiện đại đang tồn tại sẽ đập nát hoặc hớp mất phong trào; không chừng sẽ có sự hoãn hòa lớn, và sự thay đổi sẽ mang tính tiến hóa hơn là cách mạng. René Gruss, với sự độc đáo đặc thù, lập luận rằng công cuộc và mạo hiểm làm những thay đổi nảy sinh thực sự mới là chuyện đáng kể – trần thuật về cuộc tái sinh tự thân là một bộ phận của nội dung kỉ nguyên văn hóa mới. Như vậy, mọi người đều liên quan đến vận động này, gồm cả hầu như ngay trong định nghĩa những độc giả của quí san nghệ thuật Hoa kì (American Arts Quarterly), đều đang làm lịch sử và dấn thân vào một trong những biến cố sáng tạo của câu chuyện loài người. Gruss đang hối thúc chúng ta tạo những kí lục, hình ảnh, hồi kí về những cuộc đàm thoại và gặp mặt, những biến cố của Hậu Vệ (Derriere Guard), những trao đổi thư, những bữa ăn trưa, những thỏa thuận, hoặc bất đồng, bởi vì chúng sẽ là thực chất của lịch sử văn hóa của chính chúng ta và là những tư liệu vô giá cho những nhà khảo cứu và sử gia tương lai. Quí biết bao nhiêu nếu có được những nhật kí hoặc phác thảo về việc Homer đọc thơ cho một thư kí, Giotto sửa soạn bích họa, Gutenberg quyết định với người khắc chữ của ông về con chữ đầu tiên làm sao thích nghi với minh họa, hoặc cách chuyển phù hiệu âm nhạc lên trang in.

Đây là thời gian hào hứng cho những nghệ sĩ và những ai iêu nghệ thuật chân chính, đòi hỏi hiểm nghèo và can trường. Nhưng những phần thưởng thật là lớn lao.


Nguyễn Tiến Văn dịch
Tranh bài: Manfred W. Juergens

GIỚI THIỆU FRACTALS: NHỮNG DẠNG THỨC CỦA HỖN MANG

John Briggs

Mọi người nói chuyện về thời tiết; đó là thứ chúng ta ai cũng biết. Mỗi buổi trưa, ánh nắng mặt trời rọi chiếu trong mái hiên, trong khi ở một nơi cư trú khác của thị trấn có thể đang mưa. Thời tiết là một hiện tượng mà chúng ta đều chia sẻ. Với sự biến đổi, sự tùy thuộc tổng quát, từ khoảnh khắc này qua khoảnh khắc khác, không thể dự đoán, thời tiết xâm nhập vào thời khóa biểu, thiết lập hay làm hư hại kế hoạch, ảnh hưởng đến trạng thái, và kết hợp chúng ta với môi trường chung quanh và lẫn nhau. Thời tiết điển hình cho một trật tự bí ẩn trong hỗn mang.

Vài thí dụ khác: Dạng thức tạo bởi những viên sỏi lộn xộn trong cảnh băng giá, trồi trên mặt đất, lốm đốm với rêu mốc. Cây mọc ngoài cánh đồng trống, cành và nhánh ngổn ngang tình cờ. Những con chim én tán loạn, giống như một nắm bụi được ném ra, nổi lên tiếng líu lo huyên náo, rồi tụ tập lại, bay nhập vào bầy đoàn có tổ chức. Ánh chớp nhoáng, đứt đoạn trên nền trời.

Hầu hết mọi người đều thấy đầy sự ngẫu nhiên trong thiên nhiên, vui thú làm sao, sâu sắc làm sao, đó là điều bình thường, có một trật tự cường tráng, ngay cả thần bí đối với những hình dạng biến đổi của làn sóng vỡ, lũ chim én trong buổi chiều mùa hạ, và thời tiết. Có hàng thế kỷ, những nhà khoa học không để ý tới những trật tự thường tình như vậy. Thái độ đó, rất lâu rồi, đã thành một thứ lương tri. Công việc truyền thống của khoa học đã đơn giản hóa, phơi bày lý giải cơ bản của thiên nhiên, rồi dùng như một phương tiện để chế ngự.

Nhưng hiện tượng thiên nhiên phức tạp như thời tiết không thể tháo rời, tẩy đi, và học dưới lớp kính của phòng thí nghiệm. Một cái cây đơn lẻ là kết quả của loạt chuyển đổi những tình huống duy nhất và rộng lớn, cái kính vạn hoa của những ảnh hưởng, như trọng lực, từ trường, cấu tạo của đất, gió, góc cạnh mặt trời, lũ côn trùng, mùa thu hoạch, và cây cối. Một làn sóng lẻ loi đập vào bờ biển, được đưa tới và duy trì bởi một tổ ong “động lực” hoặc những lực hoạt động liên tục, quá nhiều để xác định từng chi tiết.

Làn sóng và cây cối là những hệ thống động lực, mà trạng thái thay đổi qua thời gian. Những hệ thống như vậy thường đa diện, phức tạp, và tương thuộc. Chúng đẩy và kéo lẫn nhau ngay tức thời, tạo nên sự bất quy tắc nhạy bén và không thể đoán trước, là ký số của môi trường vật lý bao quanh. Từ quan điểm khoa học, sự bất qui tắc như thế từ lâu được coi đơn thuần như sự bừa bộn làm lu mờ quy cách cơ học của khoa học, vận hành bên dưới. Trên lý thuyết, những nhà khoa học tin rằng, sự bừa bộn đó có thể làm sáng tỏ và tiên đoán chính xác trạng thái vận hành, nếu thu thập đầy đủ thông tin để xác định vô số sự nối kết hổ tương giữa nguyên nhân và hậu quả. Qua đó, hầu như mọi người đều không hiểu rõ, rất nhiều giả thiết quan trọng về thiên nhiên đã bị đúc khuôn bởi ý tưởng khoa học này.

Trong thế kỷ 20, tràn ngập những khả năng thần diệu của khoa học để am hiểu và chế ngự môi trường vật lý bao quanh. Tiến bộ kỹ thuật làm lóa mắt của thế kỷ này làm mọi người tin rằng những gì khoa học không biết bây giờ về thiên nhiên, sẽ biết vào một ngày nào đó, và kiến thức này không tránh khỏi dẫn đến sự chế ngự càng lúc càng nhiều hơn. Theo giả thiết như vậy, ngay cả sự vận hành của hệ thống động lực phức tạp cao độ cũng phải nhường cho những công thức và máy tính của nhà khoa học. Thí dụ, trong cả thập kỷ những nhà khoa học đã đầu tư rất lớn, về tài năng và công nghệ vào việc nghiên cứu giả thuyết về một động lực mênh mông là khí hậu – mà chúng ta đều chia sẻ – bởi sự cải tiến về lượng và phẩm đo lường, tạo nên những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến thời tiết, sự tiên đoán thời tiết chắc chắn phải cải tiến. Và trong sự tiên đoán thời tiết, giả thiết sâu xa này đã bị lật nhào một cách mau chóng.


 

Gió từ những cánh muỗi

Năm 1961 một nhà khí tượng ở Massachusetts Institute of Technology, Edward Lorenz, đã khám phá ra một sự kiện gây xáo trộn. Ông thấy rằng thu thập nhiều thông tin về những biến đổi như tốc độ gió, sức ép không khí, độ ẩm, nhiệt độ, và những vệt nắng mặt trời sẽ không giúp sự tiên đoán chính xác thời tiết lâu dài. Lorenz quả quyết, sự tiên đoán thời tiết thất bại, không phải có bao nhiêu thông tin mà nhà khí tượng dồn cục lại được. Lý do, ông suy diễn, hệ thống động lực như thời tiết được cấu tạo bởi rất nhiều yếu tố tác động lẫn nhau, nhạy cảm cực độ ngay cả với sự kiện nhỏ nhất. Sức nóng tỏa ra từ mui xe, gió từ những cánh muỗi ở Madagascar, hầu hết những gì không bao gồm trong cách đo của nhà khí tượng, có thể đủ làm thay đổi sự vận hành của hệ thống thời tiết. Sự thấu hiểu của Lorenz có nghĩa, cảm nhận của giả thiết cũ vẫn còn đúng: hệ thống động lực phức tạp được quyết định bởi nguyên nhân của chúng. Nếu biết tất cả nguyên nhân, có thể biết trước những gì xảy ra. Nhưng những ảnh hưởng trên một hệ thống như vậy, Lorenz tìm thấy, có hiệu quả vô tận. Như một nhà vật lý ghi nhận, hệ thống rất nhạy cảm và bị ảnh hưởng bởi những gì nhỏ tí như sức hút của một điện tử ở đầu khác của vũ trụ. Thiên nhiên bị chi phối bởi hỗn mang, nhưng không phải thứ hỗn mang hời hợt, giảm thiểu thành trật tự một cách lý thuyết, nếu thu thập được đủ thông tin. Hơn nữa, hỗn mang của thiên nhiên thì sâu xa – chỉ một cách có đủ thông tin để hiểu, cũng bao gồm ảnh hưởng ngang bằng cố gắng tập hợp những thông tin.

Với khám phá của Lorenz, các nhà nghiên cứu hăng hái lao vào khảo sát tất cả các loại hệ thống động lực, từ mạch điện tới bộ não con người, và tìm ra luật mới. Kết quả này thúc đẩy họ thay đổi quan điểm về hiện thực. Với một tốc độ gây nhiều ấn tượng, những nhà khoa học chuyển sự nghiên cứu thiên nhiên như một trật tự, theo truyền thống, thành nghiên cứu thiên nhiên như hỗn mang, và qua đó, vẫn chưa có sự đồng thuận ngay tức khắc về việc định nghĩa thuật ngữ hỗn mang.

Trong huyền thoại và truyền thuyết, hầu hết mọi nền văn hóa đều vật lộn với ý tưởng, trật tự và hỗn mang là một lưỡng tính có từ ban sơ. Trong truyền thống Thiên chúa, Chúa được diễn tả như mang ánh sáng (trật tự), làm thay đổi diện mạo của thâm sâu (hỗn mang). Người Babylon cổ đại kể về người anh hùng huyền thoại, Marduk, quay tròn Tiamat, và biến người mẹ bất hòa điệu của tất cả, thành trật tự của trời và đất. Ở Ấn độ, Siva, cha của trật tự trên trời, ẩn trốn một cách ngược đời trong chỗ hỗn mang khủng khiếp như những bãi chiến trường, đốt cháy nền tảng của sự chết. Trong truyền thống cổ đại Trung hoa, hiện thực hàng ngày được tạo và tái tạo bởi sự đắp đổi giữa ánh sáng mang vào, nguyên tắc trật tự, dương, và bóng tối, tràn đầy trong vật chất, âm. Hy lạp cổ đại tách Apollo lý trí, chống lại Dionysius dâm dục và hỗn mang. Người Iroquois ở Bắc Mỹ tu luyện tinh thần giống như Dionysius, gagonsa hay mặt giả – đeo chiếc mặt nạ vặn vẹo kinh khủng thể hiện (và thanh lọc) tâm thần và sự hỗn loạn vật lý. Nhiều bộ lạc trên thế giới bao gồm nhân vật lừa đảo giữa những thần linh, cắt xén trật tự để thể hiện sự dối trá và châm biến liên tục của thực tại.

Tìm cách đơn giản hóa thiên nhiên vào một vài số lượng “luật”, khoa học hiện đại tự giữ khoảng cách giảm trừ như vậy, trong những miền tối tăm về ý tưởng hỗn mang. Tuy nhiên, trong thế kỷ thứ 19, những kỹ sư đã khám phá – với sự phiền muộn – một loại công nghệ hỗn mang. Họ nhận ra, năng lượng hay sức nóng, luôn luôn mất đi trong máy móc, và điều này đưa những nhà vật lý ghi nhận được nhiệt động lực hỗn mang, một loại súp phi vật thể mà kết quả là khi nóng, phân tử được cấu tạo của năng lượng định hướng nguội đi, hãm lại, và bắt đầu uốn lại với nhau một cách tình cờ. Hình thức này của hỗn mang gọi là “entropy.” Những nhà lý thuyết khoa học thế kỷ 19 tiên đoán, vũ trụ tự nó, một ngày nào đó có kinh nghiệm về sự chết nóng và chấm dứt trong tiếng rên rỉ của độ hỗn loạn, hòa tan giải thiên hà, những vì sao, sao chổi – mọi thứ – trong thang số một thứ nước lèo vũ trụ.


Hỗn mang nhạy cảm

Hình thái hỗn mang mà Lorenz và các nhà khoa học khám phá vào thập niên 1960 và 1970 có lẽ gần với hỗn mang của huyền thoại và truyền kỳ cổ xưa. Hỗn mang, mới đầu xuất hiện như những tinh thể đầy màu sắc và trừu tượng trên màn ảnh computer chung quanh thế giới, phô bày một trật tự mạnh mẽ, khó quên. Đó là hỗn mang, đúng vậy: không thể đoán trước. Nhà khoa học theo đuổi những tinh thể nhảy lò cò trên màn ảnh, phát hiện ra sự giàu có không thể tưởng tượng, từ trước đến nay.

Để chụp những bức hình lộng lẫy này, cứ tưởng tượng nhìn hai chiếc lá thu rơi song song trên con suối. Giòng suối, với những chiếc lá, đá, nhánh cây, khúc quanh, sức ép của nước, là một hệ thống động lực phức tạp, chảy quanh co qua rừng cây: thẳng, đang lặng lờ đột nhiên gặp dòng thác xoắn, vắt lại, tung tóe trên kè đá rồi bị những cành nhánh ngăn lại, tiếp tục êm đềm trôi. Hai chiếc lá rơi, trong khoảnh khắc, kéo lại gần nhau, cuộn tròn, nối đôi chung quanh cơn xoáy. Tuy nhiên, không lâu. Vị trí hai chiếc lá thay đổi nhẹ nhàng, tách ra bởi sự chuyển động của dòng nước, và bắt đầu rời xa. Sau một vòng xoáy khác, một chiếc đong đưa, lướt qua bờ rìa những nhánh cây, xuôi theo dòng chảy; còn chiếc khác quay tròn chậm chạp và mắc vào một nhánh cây nhỏ, nước đẩy ngược, cuốn như một giải băng mỏng, tối và rồi đổi chiều, nương theo một lối nhỏ, nhập vào dòng nước.

Những chiếc lá trong hệ thống động lực này là bằng chứng của sự nhạy cảm tối đa đối với điều kiện ban đầu. Sự thay đổi nhỏ tí ti ở điểm khởi hành dẫn tới sự khác biệt vô cùng lớn trong phần số của chúng. Sự quá nhạy cảm đó là chuẩn độ của hệ thống động lực hỗn mang. Sở dĩ như vậy bởi vì chúng luôn luôn chuyển động, thay đổi, và không bao giờ có chu kỳ lập lại một cách chính xác với tình trạng ban đầu. Giống như sự thay đổi dòng sông thời gian, như nhà hiền triết Hy lạp Heraclitus đã trầm ngâm: Chúng ta không thể bước hai lần vào cùng một dòng sông. Sự nghịch biện của Heraclitus đúng với dòng đời thực và là điểm chính của hỗn mang. Rõ ràng, ngay cả khi một hệ thống động lực phức tạp vận hành có qui tắc và trật tự, ở chỉ mức nguyên tắc nhạy cảm ngầm của hỗn mang, có thể làm tách lìa sự vật. Đó không phải là việc xấu. Thật ra, đó là phần giàu có của đời sống. Thí dụ, trong phôi nhi đang phát triển của cặp song sinh với DNA như nhau, những tế bào di chuyển tới vị trí để hình thành bộ óc song sinh theo quá trình và tạo nên dạng thức nối kết khác nhau. Sự phát triển phôi thai là một hệ thống động lực, và sự nhạy cảm cao độ của điều kiện ban đầu tạo nên cái nền cố hữu của hỗn mang, chắc chắn rằng những song sinh y khuôn đó sẽ không bao giờ y khuôn một cách hoàn toàn.


Hỗn mang: cửa sổ vào toàn thể

Một lý do mà những yếu tố trong hệ thống động lực hỗn mang nhạy cảm đối với điều kiện ban đầu là hệ thống phức tạp này lệ thuộc vào sự phản hồi. Thí dụ, qua sự chuyển động xoáy và hỗn loạn, nước trong dòng suối tạo sự phản hồi bởi sự gấp lại ngay tức khắc trên chính nó. Những hệ thống đầy dẫy sự phản hồi đa tạp gọi là “positive feedback”, thường xuyên chịu sự biến đổi quyết liệt trong vận hành, như khi người phát biểu kề máy vi âm quá gần, gây những tạp âm, làm thành tiếng rít chói tai, hoặc khi một giọt băng đá rất nhỏ trên cánh máy bay nổ bùng làm biến loạn không khí, cũng có thể đủ đưa đến hỗn loạn làm rớt máy bay. Hệ thống thay đổi triệt để qua sự phản hồi được gọi là phi tuyến tính (nonlinear). Như tên gọi, nó đối nghịch với hệ thống tuyến tính (linear system), là hệ thống có thể lý giải, gia tốc, và đoán trước. Hệ thống tuyến tính, nói một cách chính xác, là hệ thống có thể diễn tả bằng phương trình toán học tuyến tính – như hỏa tiễn đạn đạo và mặt trăng, di chuyển ổn định trong quĩ đạo chung quanh trái đất. Một con tàu vũ trụ được đẩy nhẹ bằng hỏa tiễn kích thủy lực (biến chuyển động quay thành chuyển động thẳng), đáp xuống chính xác trên bề mặt mặt trăng là hệ thống tuyến tính. Giống như sự bật nổ của kích thủy lực, thay đổi rất nhỏ trong hệ thống tuyến tính tạo nên những tác dụng nhỏ đoán trước được. Trong hệ thống phi tuyến tính, nói cách khác, sự gấp và tái gấp lại của phản hồi, phóng đại mau chóng những thay đổi nhỏ, vì thế tác dụng – như tiếng hú bất thình lình của diễn giả hoặc như viên sỏi lăn, làm băng lở – cân xứng với nguyên nhân. Những hệ thống phi tuyến tính vận hành một cách phi tuyến tính vì chúng đan dệt với sự phản hồi tích cực, nên chỉ cần một cái giật nhẹ ở bất cứ đâu, có thể phóng đại thành sự chấn động hoặc biến hóa không ngờ.

Những nhà hỗn mang nhận ra, trong vài trường hợp, hệ thống phi tuyến tính vận hành trong cách bình thường, trật tự, tuần hoàn cho tới khi một điều gì đó bắt đầu – vượt qua điểm giới hạn, bất thình lình đi vào hỗn mang. Nhưng rồi tới một điểm chuẩn nào đó, chúng trở lại trật tự cũ. Tưởng tượngï, một hòn đá nằm ở đáy dòng suối. Khi nước di chuyển bình thường, nhẹ lướt qua hòn đá, không một gợn sóng. Nhưng sau một trận mưa lớn, tốc độ của dòng chảy bất thình lình gây một vùng chảy rối trên mặt nước. Rồi khi trở lại bình thường, dòng chảy trên mặt nước vẫn như cũ nhưng hòn đá thì không còn nữa. Hoặc hỗn mang chồm lên trước hay không tùy thuộc vào vị trí. Điều đó có nghĩa là trong hệ thống động lực, hỗn mang và trật tự là những mặt nạ khác nhau mà hệ thống đã đeo vào: trong vài trường hợp hệ thống hiện ra một bộ mặt; trong trường hợp khác hiện ra bộ mặt khác. Những hệ thống này có thể xuất hiện đơn giản hay phức tạp; đơn giản và phức tạp ẩn trong nhau. Thật ra, những nhà hỗn mang đã soi sáng và tìm ra, trong hệ thống động lực điển hình, phương trình hoàn toàn đơn giản đưa tới kết quả tương tự như sự khiêu vũ vô trật tự của hỗn mang. Vì vậy, nghiên cứu về sự phức tạp không đẩy những nhà khoa học bỏ rơi niềm tin về sự đơn giản của tự nhiên – qua đó, chắc chắn, nó chứng minh quả là có một loại đơn giản kỳ lạ và bất định.

Những nhà hỗn mang nhận ra một cách nhanh chóng, vùng truyền ứng của hệ thống động lực – điểm mà từ đó hệ thống chuyển động từ đơn giản đến phức tạp, từ trật tự ổn định, trong sáng tới sự hồi chuyển tối đen và không thể hiểu thấu của tổng thể hỗn mang – rất thú vị. Bên trong vùng truyền ứng và miền giới hạn, hệ thống thoái hóa và hiện xuất trong những dạng thức (patterns). Qua chi tiết không thể đoán trước, có thể đoán trước những dạng thức và vùng biên độ của sự chuyển động. Thực tế, những nhà khoa học hiểu rằng, dạng thức của hệ thống được lập lại rõ ràng, bị lôi cuốn như thể chúng vỡ ra hoặc hiện xuất từ hỗn mang. Sự khám phá này soi sáng những nhà khoa học bởi vì nó còn giữ lại lòng tôn kính khoa học về sự đoán trước – cho tới bây giờ đó là loại đoán trước kỳ lạ và bất định.

Nhưng làm thế nào hiểu về thẩm mỹ kỳ lạ của hỗn mang? Câu trả lời không chần chừ, “tính toàn nhất.” Hệ thống động lực nhạy cảm, phi tuyến tính và không thể đoán trước trong từng chi tiết, vì chúng được mở, hoặc từ những ảnh hưởng bên ngoài hoặc do sự dao động tế vi từ bên trong. Với sự khám phá ra lý thuyết hỗn mang, điều không thể quên sự kiện đơn giản, hệ thống động lực – bao gồm tiến trình có ý nghĩa nhất trong thế giới chúng ta – không vận hành trong cô lập. Hai chiếc lá rơi từ ngoài vào dòng suối, có thể coi như tổng thể của hệ thống động lực gọi là dòng suối. Hơn thế, tự trong dòng suối, mọi yếu tố từ một cành cong mạnh mẽ tới chiếc lá nhỏ nhất và hòn sỏi – tác động ngay tức thời với nhau. Mặt khác, hệ thống động lực ám chỉ tính toàn nhất trong đó mọi thứ ảnh hưởng, hay ảnh hưởng tiềm tàng những thứ khác. Ở bất cứ lúc nào, sự phản hồi trong hệ thống động lực có thể khuếch đại một vài ảnh hưởng rõ ràng ngoài hay trong, phô bày quan hệ hổ tương của tính toàn nhất. Một cách nghịch lý, sự nghiên cứu về hỗn mang cũng là nghiên cứu về toàn thể.

Tuy nhiên, nhiều nhà hỗn mang học không dừng ở đó. Bởi sự ăn khớp chắc chắn đối với chủ đề, sự tranh cãi tiếp tục, làm sao định nghĩa một cách chính xác hỗn mang. Vài nhà khoa học hạn chế quan niệm của họ về hiện tượng hỗn mang ở vùng ranh giữa sự vận hành ổn định và hoàn toàn ngẫu nhiên. Những người khác nghiêng về cấp độ thuật ngữ của hỗn mang (với sự ngẫu nhiên ở mức cực độ), lý luận rằng ẩn dưới tất cả mọi cấp độ của hỗn mang là tính toàn nhất cơ bản. Nhưng ngay cả những nhà toàn nhất cũng đồng ý, phạm vi phong phú nhất của sự nghiên cứu về hỗn mang nằm dọc theo biên giới cực kỳ năng động, hiện hữu giữa ổn định và bất ổn định một cách khó hiểu.


Hình học của sự thô nhám

Trong thập niên 1960 và 1970, một nhà nghiên cứu của IBM, Benoit Mandelbrot khám phá ra hình học mới, “fractal”, và đẩy tới cùng ranh giới này. Mandelbrot đặt từ “fractal” gợi ý “đứt đoạn” và “phân đoạn” – loại hình học chú tâm tới những hình thể vỡ, gấp và không bằng phẳng. Hỗn mang đôi khi làm rối loạn hệ thống động lực và tồn tại đơn giản ở vị trí kín đáo. Hình học Fractal diễn đạt những vệt và ký hiệu ghi lại từ hành lang của hoạt tính động lực.

Chúng ta thấy fractal hàng ngày. Cây cối, núi non, lá mùa thu lác đác trong vườn: Tất cả là những dạng thức fractal, dấu hiệu của hoạt tính động lực lúc chuyển động. Lý thuyết hỗn mang kể câu chuyện về những vật thể hoang dã, xảy ra như hệ thống động lực, tiến hóa qua thời gian; hình học fractal ghi nhận những hình ảnh chuyển động trong không gian. Như vậy fractal là sự đứt đoạn còn lưu lại, sau sự va chạm của cơn địa chấn hoặc in dấu sự rối loạn và sói mòn của đại dương trên bờ biển ngoằn ngoèo; đó là cấu trúc của nhánh dương xỉ, qua mép trườn tăng trưởng của băng giá khi đông lại; khoảng cách những vì sao trên bầu trời đêm; những áng mây và lông vũ của ô nhiễm truyền ra từ thiết bị năng lượng. Khi mưa bão tự tạo trong cơn cuồng phong, để lại hình thể fractal của sự tàn phá. Ngay cả sự phức tạp khó hiểu của tinh thể tuyết (snowflake) là kết quả fractal của tiến trình hỗn mang kết hợp với tính đối xứng sáu lần của những tinh thể.

Fractal diễn tả sự thô nhám của thế giới, năng lực, sự thay đổi động lực và biến hóa. Fractal là hình ảnh của sự vật trong cách gấp và không gấp, phản hồi tự chúng và lẫn nhau. Nghiên cứu về fractal được thừa nhận qua sự thấu hiểu của nhiều nhà hỗn mang, phơi mở bí mật bất ngờ của những chuyển động động lực trong thiên nhiên.

Một trong những bí mật đó là thang số fractal. Fractal đưa ra chi tiết giống nhau trên nhiều thang số khác nhau. Thí dụ, vỏ thô nhám của cây cối lần lượt qua độ phóng đại tăng mạnh. Mỗi lần phóng đại, phát hiện thêm chi tiết nhăn nheo của lớp vỏ. Hơn nữa, trong nhiều fractal (như vỏ cây), thang số đi cùng với dạng thức tương đương khác của động lực tự nhiên: tự tương đồng (self similarity). Điều này có nghĩa, khi quan sát kỹ hình ảnh fractal, hình thể của một thang số giống như hình thể từng chi tiết của thang số khác. Thật là kỳ quái. Làm sao những hệ thống đó lại duy trì được sự tự tương đồng trong bản chất hỗn mang ở nhiều thang số khác nhau? Để hiểu nó, phải coi lại thời tiết một lần nữa.

Nhìn từ không gian, thời thiết trái đất xuất hiện trong một thang số rộng lớn: gờ mây cuộn hòa với vùng sáng, sọc lởm chởm, đây đó, bởi nhiều đám mây khác. Bản tường trình bất chợt về nhiệt độ ở thang số trên hành tinh này phô bày điểm nóng mênh mông cũng như những vùng mát. Giả thuyết, nếu thang số địa cầu có nhiều mây ở Bắc Mỹ và trên lục địa lúc này mát hơn bình thường. Giả thử thu nhỏ thang số của lục địa. Thang số của hình chụp không giống như chúng ta nhìn thấy toàn thể trên hành tinh. Hoàn toàn có vài vùng sáng đằng sau luồng khí chuyển động của những đám mây, và đây, với nhiều chi tiết trong bản nhiệt độ, một vài miền ở Hoa kỳø, trên thực tế, ấm bất thường. Ở thang số cỡ tiểu bang, Colorado hình như ấm hơn. Khi điều hòa tiên đoán thời tiết trạm TV Denver, toàn màn ảnh là bản đồ thời tiết tiểu bang. Một lần nữa chúng ta thấy cùng đốm màu giống như ở thang số lớn hơn. Có mây trên Colorado Springs và nhiệt độ khá lạnh, nhưng vùng Aspen bầu trời quang và ấm. Sự tiên đoán thời tiết làm bật cười một vài người bộ hành dọc theo rìa biên Independence Pass gần Aspen. Và ngay bây giờ, ở thang số tương đối nhỏ, có mưa. May mắn thay, từ vị trí thuận lợi đó họ nhìn thời tiết một cách cục bộ. Về thung lũng phía Tây bầu trời quang đãng, và khi di chuyển từ đèo này tới đèo khác dọc theo bờ rìa, họ kinh nghiệm một loại thời tiết thu nhỏ, thoáng qua không khí lạnh và ấm của ao hồ, cường độ đổ mưa nhanh hoặc chậm, và ngay cả một thoáng tia sáng mặt trời.

Rõ ràng, thời tiết ở những thang số khác nhau phô bày sự tự tương đồng, một cấu trúc fractal. Một cách để giải thích điều này, thời tiết thì toàn nhất, có nghĩa là giữa những phần của nó (đằng trước, những mảng mưa hay tuyết, vùng áp xuất cao hay thấp) là “phần của những phần” khác, và “phần của những phần của những phần” (ngay dưới sức nóng dìu dịu đang tỏa ra từ thân thể đẫm mồ hôi của một trong những người đi bộ, hoặc sức nóng của chất hóa học tạo ra bên trong sớ bắp thịt đang căng dãn). Kết quả là khi tất cả “những phần” này và “phần của những phần”bắt đầu tiếp dẫn lẫn nhau, chúng tạo ra hình ảnh (như bản đồ thời tiết) mà dạng thức có chi tiết tỉ lệ. Những dạng thức này minh họa sự kiện, sự chuyển động toàn thể hệ thống tiếp tục xảy ra ở mỗi thang số.

Trong thế giới trừu tượng Euclid, thang số không quan trọng, vì khi khuếch đại hình cầu, hình tam giác, hình vuông, hoặc đường thẳng không sinh ra nhiều thông tin mới. Trong thế giới fractal có những nếp gấp, nếp uốn, đưa tới những chi tiết vô tận, và thông tin càng lúc càng nhiều. Trong thế giới Euclid, nhà quan sát chuyển bước nhảy gián đoạn từ đường thẳng một chiều kích, hình vuông hai chiều kích tới hình khối ba chiều kích. Trong thế giới fractal, những chiều kích lộn xộn như trái banh xoắn lại, và đối tượng không phải hai hay ba chiều mà ở giữa đâu đó. Thực ra, hình học fractal được biết như hình học giữa các chiều kích (geometry between dimensions). Tùy thuộc nếp gấp hay phần mảnh, đối tượng của fractal có thể là bất cứ một trong những số vô cùng tận của chiều kích fractal.

Hình ảnh fractal tăng sự suy xét về hiện thực như nơi chốn làm bởi những thế giới bị gấp lại bên trong thế giới tự tương đồng – đó là, thế giới bị gấp lại giữa các chiều kích. Cúi xuống nhìn đám rêu trên kè đá, chúng ta thấy một rặng núi thu nhỏ che phủ cây cối, một thế giới vi mô của quang cảnh rộng lớn. Nhưng nếu đúng là mọi thứ trên hành tinh này tiến hóa qua tác động mạnh mẽ với mọi thứ khác, có lẽ chúng ta không ngạc nhiên về những hình ảnh tự tương đồng toàn nhất ở chung quanh. Những ngón tay trên bàn tay tự tương đồng với cánh chim họa mi và vây cá voi. Sau cùng, tất cả chúng ta tiến hóa bên trong một hệ thống động lực toàn nhất là cuộc đời.


Computer là cái kính hiển vi

Khi nhà khoa học và toán học bắt đầu làm việc với hình học fractal, họ ngạc nhiên khi tạo ra hình thể fractal rắc rối trên màn hình computer với phương thức phi tuyến tính rõ ràng đơn giản. Những phương thức này có hạn kỳ phản hồi: kết quả của phép tính cho thấy, vào trở lại một phương trình và phương trình đó hoạt động lại. Tiếp tục cho chạy lại một phương trình mà đầu vào lại là chính nó, đó là tiến trình trùng lặp. Điều này dẫn tới sự phức tạp dị thường, đôi khi là cấu trúc đẹp một cách kỳ quái phô bày fractal tự tương đồng. Một trong những cấu trúc nổi tiếng tạo ra từ computer để lập lại phương trình liên quan tới một bộ đặc biệt của những con số được đặt tên theo nhà toán học Benoit Mandelbrot, người đầu tiên khám phá ra vẻ đẹp của chúng.

Sự tự tương đồng tinh vi, thanh nhã và quái lạ xuất hiện dọc biên giới Mandelbrot set, tạo dựng biểu tượng thuần toán học về tiến trình hỗn mang của thế giới thực mà ở đó fractal tự tương đồng hiện hữu, nương theo mép rìa của gợn sóng, trong vùng nứt gẫy, và luồng khí thời tiết. Những nhà khoa học bây giờ thường xuyên dùng phương thức fractal lập lại, làm mẫu mực cho sự hồi chuyển và mở ra của hệ thống động lực thực, như dòng chảy rối của nước và nhiên liệu khí.

Thật khó phỏng đoán vai trò của computer trong cuộc cách mạng về fractal và hỗn mang. Nếu không có khả năng tính toán, lập lại phương trình hàng triệu lần, cuộc cách mạng có lẽ đã không thể xảy ra. Tốc độ cao, con số bị nghiền nát bởi computer trở thành sự nghiên cứu về hệ thống động lực phức tạp, như kính hiển vi nghiên cứu vi trùng học, bộ gia tốc hạt nghiên cứu về cấu trúc hạ tầng nguyên tử, và kính viễn vọng nghiên cứu về khoảng không gian mênh mông. Computer chú tâm vào hiện tượng chưa từng thấy trước đó. Sức mạnh computer làm hình ảnh sinh động từ những mẫu toán học, tăng sự hiểu biết về nét đẹp phức tạp của hỗn mang. Một kết quả ngạc nhiên đã kéo hai nền văn hóa lại với nhau sau cả trăm năm, nếu không nói là cả ngàn năm, bị ngăn cách.


Sự khám phá ra thẩm mỹ mới (và cũ)

Lý thuyết hỗn mang và hình học fractal kéo dài khả năng của khoa học để làm những gì đã làm xong: tìm thấy trật tự bên dưới sự rối loạn. Tuy nhiên, trật tự của hỗn mang cũng xác định giới hạn khả năng của chúng ta. Với computer, nhà khoa học có thể thấy hỗn mang, hiểu luật lệ của nó, nhưng không thể đoán trước hoặc kiềm chế. Tình trạng bất định trong lý thuyết hỗn mang và hình học fractal vọng lại hai khám phá khoa học của thế kỷ này: tính bất định nền tảng mà định lý Goel tìm thấy ẩn trong toán học và một chuỗi bất định của thực chất nguyên tử và nghịch lý được phát hiện bởi cơ học lượng tử. Khoa học, trong thế kỷ này, học được sự cố ý của thiên nhiên đằng sau tấm màn che, áp đặt một trật tự tế vi, và luôn luôn vượt ra ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

Những nghệ sĩ luôn luôn tận dụng và đánh giá những gì gọi là “trật tự trong bất định.” Nhà thơ lãng mạn Anh John Keats khâm phục những gì ông gọi “ khả năng thụ động,” khả năng hình thành “trong bất định, bí ẩn, và hồ nghi.” Ôâng cho rằng khả năng này là chìa khóa cho sức mạnh sáng. Leonardo da Vinci nhấn mạnh, “họa sĩ không hoài nghi, sẽ rất ít thành đạt,” và ông khuyên những nghệ sĩ lớp sau tìm sự hứng khởi cho tác phẩm trong những vết màu trên tường. Những nghệ sĩ đã khám phá, từ muôn đời, trong hoài nghi, bất định và ngẫu nhiên của đời sống, sự hài hòa đi thẳng tới yếu tính của hiện hữu. Bất cứ gì mà những họa sĩ, nhà thơ, hoặc nhạc sĩ mô tả – trừu tượng hay hiện thực – cuối cùng, tác phẩm của người nghệ sĩ ám chỉ thế giới trong những thế giới. Bên trong nghệ thuật luôn luôn có cái gì khác hơn những gì có thể bắt gặp bằng mắt, trí tuệ hay tai nghe. Bởi vì khả năng này gợi ra thế giới trong những thế giới, nghệ thuật luôn luôn fractal. Khoa học về hỗn mang giúp định nghĩa thẩm mỹ một cách mới mẻ, nằm dưới đáy những ý tưởng thay đổi nghệ thuật của từng thời kỳ khác nhau, văn hóa và trường phái.

Rất nhiều nghệ sĩ đương thời, như họa sĩ phong cảnh ở Connecticut Margaret Grimes, nhận ra trong lý thuyết hỗn mang sự nối kết sâu xa, khuynh hướng nghệ thuật cá nhân đối với thế giới. Grimes nói: “Những ý tưởng xác nhận có tính cách toán học điều tôi đã hiểu thấu rồi, kinh nghiệm qua sự quan sát về thiên nhiên. Những lý thuyết như vậy có tính cộng hưởng lớn, như sự thật mà chúng ta biết nhưng không biết diễn đạt làm sao.”

Họa sĩ New York, Nachume Miller, tham dự cuộc triển lãm nghệ thuật năm 1989 về hỗn mang, nhận xét, lý thuyết hỗn mang được áp dụng, chẳng những trên chủ đề mà còn trên tiến trình nghệ thuật qua đó tác phẩm trở thành hiện hữu: “cách mà tôi tiến hành hoàn toàn hỗn mang, không có gì rõ ràng. Chúng ta trả lời một chuỗi những biến cố xảy ra khi làm việc. Mới đầu là một kịch bản rối rắm trên mặt bố. Chúng ta không thật sự biết nó là gì. Ngay cả không thích nó, và nhìn thêm, làm quen dần dần với những gì xảy ra, chúng ta sẽ dần dần sáng tỏ.”

Nhiếp ảnh gia ở Oregon Joe Cantrell diễn tả tiến trình tương tự trong tác phẩm của ông: “Trật tự ở ngoài đó, trong rất nhiều bề mặt, từ đó chúng ta hoặc không có nhận thức nào hoặc đã được huấn luyện để không nhìn thấy nó. Tôi giật mình vì ngạc nhiên. Tôi thường nhập vào những chủ đề tầm thường. Nghệ thuật nhiếp ảnh tiến hành khả quan khi chúng ta ở trong tình trạng tự đánh mất mình. Chúng ta cảm thấy một điều gì thật tuyệt vời, ở phút cuối, nhưng không thể nhớ từng chi tiết cho tới khi nhìn thấy kết quả sau cùng.” Kết quả là một bản ghi fractal giữa sự tác động với chủ đề, thông thường là tự chính đối tượng fractal như nhánh dương sỉ, núi lửa, và rối nước. Thẩm mỹ mới (và cũ), qua hỗn mang, có thể diễn tả như sau:

Đó là toàn nhất: sự điều hòa trong đó mọi thứ đều bị ảnh hưởng bởi những thứ khác. Trong fractal toán học và tự nhiên, tính toàn nhất xuất hiện như sự tự tương đồng, chứng cớ của tiến trình phản hồi toàn nhất – có thể được ghi nhận từ sự biến đổi vô tận – không tạo bởi sự hoán vị mù quáng của vài hình thức ở những thang số khác nhau. Hơn thế, nó gần với sự tự tương đồng khi so sánh bàn tay con người với cánh chim họa mi, vây cá voi, và một nhánh cây. Công việc của nghệ sĩ là tìm ra và diễn tả sự liên hệ có ý nghĩa, giữa hình thức và chất lượng tự tương đồng và tự khác biệt cùng một lúc, để tạo ra tác phẩm nghệ thuật cho phép chúng ta, thoáng bắt sự tự nhiên toàn nhất của vũ trụ và sự hiện hữu của chúng ta trong đó. Miller nói về tác phẩm của ông, “nếu lấy một mảnh trong tác phẩm, dạng thức điển hình tôi dùng, trên nguyên tắc nó rất giống toàn thể bức tranh. Nó có cùng một loại lý giải như cái toàn thể.”

Miller nhấn mạnh, người nghệ sĩ không cố “tiêu biểu” cho tự nhiên. “Thay vì phác họa tự nhiên để bức tranh giống như tự nhiên.” Chúng nên giống hình thái đời sống – và đặc điểm chủ yếu của hình thái đời sống, trong cách fractal, tự nó phản ánh hệ thống động lực của tự nhiên như một toàn thể. Yếu tố toàn nhất là đặc điểm của cảm thụ thẩm mỹ mới (và cũ). Đó là tại sao khi chúng ta nhặt lấy viên sỏi màu lấp lánh trên bãi biển giữa những mớ lộn xộn, dù rằng nó có thể không hấp dẫn ở nơi hỗn mang tự nhiên. Cắt một lối đi trong rừng hay một đường cái trong rừng già, qua động tác của chúng ta, toàn cảnh trở nên biến đổi. Hỗn mang khẳng định chi tiết cá thể của vật chất. Những nghệ sĩ biết rằng giống như sự nhạy cảm của hệ thống động lực hỗn mang, thay đổi một phần nhỏ của bức tranh hay bài thơ có thể hủy diệt hay biến đổi tác phẩm.

Tính toàn nhất của thẩm mỹ mới mang lại mối quan hệ mới (và rất cũ) giữa người quan sát và vật thể được quan sát. Gốc Hy lạp của chữ thẩm mỹ gợi ý, kinh nghiệm thẩm mỹ liên quan tới sự biến đổi, thay thế cho cả đối tượng và người quan sát. Khoa học giả thiết một cách truyền thống, người quan sát có thể đứng ngoài và trở thành đối tượng về những gì mà họ quan sát. Lý thuyết hỗn mang khám phá, tuy nhiên, những nhà quan sát là phần không thể tách rời của hệ thống động lực, điều mà những nghệ sĩ luôn luôn hiểu được. Với lý thuyết hỗn mang, không còn có thể giả thiết, người quan sát có thể phân tích một cách thanh thản một đối tượng hoặc tiến hành trong phần cấu thành của nó (sự giả thiết đó trong khoa học được gọi là “thuyết hoàn nguyên”), bởi vì “những phần” là động lực và vì thế có những hiệu ứng không thể đoán trước. Grimes tóm tắt mỹ thuật mới khi bà cho rằng sự thấu đáo về “cấu trúc/tiến hóa, ổn định/ tự phát – sự sinh sản vô tận: Dạng thức mà chúng ta nhận biết, được cấu thành của những dạng thức đan dệt khác biệt vô cùng tận. Ý niệm về trật tự và hỗn mang phản ánh mối liên hệ tuyệt đối của toàn thể và ý nghĩa vô tận của từng phần, dù đó là một yếu tố, một hành động hay một tiến trình.”

Nghiên cứu về hỗn mang rõ ràng đã làm những nhà khoa học nhạy cảm đối với kinh nghiệm thẩm mỹ của nghệ thuật. Paul Rapp, nhà thần kinh học ở Medical College, Pennsylvania, thừa nhận, hình dạng ông biểu thị trên computer dù không thể so sánh với “monet tệ hại nhất.” Nhưng ông diễn đạt với sự nhiệt thành của một nghệ sĩ, phản ứng đối với biểu thị fractal này – tiêu biểu toán học của sự suy nghĩ trong trí óc con người. Những bức hình video về dữ kiện điện não ký chỉ ra, sự hoạt động điện từ của bộ não hỗn mang và bất khả đoán, trong đó một trật tự ẩn, bị lôi cuốn đối với một vùng chắc chắn của phần không gian thiết kế. Ông nói về sự khám phá ra những vùng quyến rũ kỳ lạ của fractal trong bộ óc: “Tác động cảm xúc của hình ảnh điện ký não, với tôi, thật đáng kể. Đầu tiên chúng ta có thể nhìn thấy những thay đổi trong hình học của hoạt động điện ký não xảy ra như là kết quả của hoạt động tri thức con người. Trước những attractor này được cấu tạo, tôi không biết chờ đợi gì. Tôi chờ đợi để nhìn thấy điều gì rất buồn chán, không thay đổi một cách có ý nghĩa như chủ thể bắt đầu nghĩ. Lúc mà những cấu trúc này tràn ngập trên màn ảnh và bắt đầu xoay tròn, tôi biết rằng tôi đang nhìn thấy điều gì phi thường.”

Scott Burns, giáo sư giảng dạy về môn công nghệ tổng quát trường đại học Illinois ở Urbana-Champaign, nhìn thấy những hình ảnh ông tạo ra từ hỗn mang toán học kích thích sự thán phục của người xem. “Một bạn đồng sự của tôi nói, ‘đây quả là căn bản về niềm tin Thượng đế.’ Tôi không đi xa hơn nhưng chắc chắn, đó là căn bản về lòng tôn kính thiên nhiên.”

Để có cảm giác làm sao thẩm mỹ hỗn mang mang hai nền văn hóa khoa học và nghệ thuật lại với nhau, so sánh với tuyên bố của Mario Markus, nhà vật lý ở Max Planck Institute, Dortmund, Đức quốc, và Eve Laramée, nhà điêu khắc ở New York.

Trong phòng thí nghiệm, Markus tạo ra những hình ảnh fractal duyên dáng, ký quái và ám tối, một tập hợp quan trọng của những phương trình dùng cho mẫu rối loạn. Markus kiềm chế qua những biến số như phương trình để mô tả, giá trị toán học để bắt đầu, màu sắc phân định giá trị, thang số và mức cường độ để dùng, ông nói, giống như sự kiềm chế mà nhà nhiếp ảnh thực hành qua chủ đề mà không phải bấm cái nút kỹ thuật trên computer. Ông lý luận, “những chọn lựa đặc biệt của một cá nhân, so sánh với những chọn lựa của người khác, cho phép chúng ta nhận biết ‘phong cách.’ của họ. Thật sự có thể nói rằng những phương trình còn có thể coi như một loại tranh vẽ mới bằng bút lông.”

Laramée sáng tạo những công trình nhìn giống cổ đại từ đồng, muối và nước. Có lần bà lắp ráp tác phẩm trong một phòng triển lãm, muối hòa tan và bắt đầu ăn những hình thể fractal phức tạp vào đồng, qua thời gian. Trong khi Markus cố tự lồng vào những phương trình của ông và áp dụng vài kiềm chế để hỗn mang tự động lộ ra, Laramée tách mình ra khỏi tiến trình và để hỗn mang thường xuyên cuốn vào. Bà nói, “Đó là điểm nơi tôi ‘di động’ bàn tay của người nghệ sĩ, và để cho tự nhiên tiếp tục hoàn tất tác phẩm.” Như vậy thẩm mỹ mới sáng tạo bởi hỗn mang đánh bẫy cả nghệ sĩ và khoa học gia, cả người quan sát và bị quan sát. Cái gọi là bức tường đối tượng/chủ thể, qua thế kỷ đã ngăn cách những nhà khoa học và nghệ sĩ tiếp cận với thiên nhiên và bây giờ đang bị vỡ ra từ cả hai phía.


Một vũ trụ đầy hỗn mang và fractal

Những nhận thức hầu như thay đổi hàng giờ như những nhà nghiên cứu khoa học và nghệ thuật soi xét qua cửa sổ của fractal và hỗn mang để khám phá dạng thức có ý nghĩa của sự bất định ở khắp nơi: bề mặt của một vài siêu vi bây giờ được biết là fractal. Nhịp điệu và ký số fractal rõ rệt được tìm thấy trong cơ quan nhận dopamine, men và chất dẫn truyền thần kinh trong bộ óc. Hình học fractal được dùng để diễn đạt sự thấm dầu qua sự cấu thành đá. Nhà soạn nhạc tạo nên loại âm nhạc fractal: nhà thảo chương đang nghiên cứu hiệu quả của hỗn mang trên mạng lưới computer; nhà hóa học áp dụng fractal vào sự sáng tạo chất nhựa tổng hợp và chất liệu đồ gốm; nhà kinh tế học áp dụng fractal tìm ra vị trí vùng quyến rũ kỳ lạ ẩn dưới sự thăng trầm của chỉ số thiếu hụt và tiêu chuẩn; nhà sinh thái học dùng nguyên tắc của sự tự tổ chức của hỗn mang để cấu tạo lại môi trường sống đã mất; những mẫu phi tuyến tính đã làm thành cuộc đua vũ trang quốc tế. Một nhà tiểu thuyết táo bạo đã dùng ý tưởng về vùng quyến rũ kỳ lạ trong tiểu thuyết khoa học giả tưởng, đánh giá hỗn mang với sự bất tử.

Ltt chuyển dịch
Từ Fractals, The Patterns of Chaos

MỘT BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT ĐƯỢC CHO LÀ HAY?

onversation Peace" by Olaf Schneider
onversation Peace" by Olaf Schneider
Văn Giá

Tôi bắt đầu nhan đề  bài viết bằng một câu hỏi có vẻ như khá liều lĩnh? Nó sẽ lập tức dẫn đến một phản biện ngay sau đó: “Hay” là một cách nói định tính, không tường minh được, anh cho là hay, tôi cho là không hay, thậm chí là dở thì thế nào? Thế nên, trong bài viết này, tôi chỉ dám đưa ra cái nhìn của riêng tôi mà thôi. Nếu ý kiến của tôi được số đông bạn nghề/bạn đọc chấp nhận, nghĩa là nó có sức thuyết phục ít nhiều; và ngược lại. Nhưng trên hết, tôi muốn coi đây là một  chia sẻ cùng những ai quan tâm đến thơ Tân hình thức Việt.

1.

Tôi nghĩ, cho đến thời điểm này, phong trào thơ Tân hình thức Việt đã xong giai đoạn lập thuyết, và đã bước hẳn sang giai đoạn thành tựu. Tại sao lại nói như vậy? Xin thưa, bằng nỗ lực của Khế Iêm và những người đồng chí hướng, bạn đọc đã được chứng kiến hàng loạt các tiểu luận và thực hành thơ đã được in ấn hoặc trên các trang mạng suốt từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay, tức là đã hơn 20 năm có lẻ[1]. Cho đến nay, nếu ai hỏi thơ Tân hình thức là thế nào thì câu trả lời đã dễ dàng. Trong một bài viết của tôi[1] cách đây hơn năm khi nhận định về tập tiểu luận của nhà thơ Khế Iêm, tôi cũng đã tóm lược 5 đặc điểm quan trọng nhất của  thơ Tân hình thức. Tôi nghĩ, những tiểu luận mang tính khoa học và hệ thống của Khế Iêm và khá nhiều các bài viết của các tác giả trong/ ngoài nước như thế đã đủ tư cách lập thuyết cho loại hình thơ này. Tôi dùng khái niệm “loại  hình” với một hàm nghĩa: trước và cùng với thơ Tân hình thức là mô những hình thơ khác, riêng Tân hình thức tự đứng độc lập như một mô hình khác.

2.

Khi đánh giá về một phong trào thơ, thường phải chú ý đến hai phương diện: lập thuyết và thực hành. Phương diện lập thuyết rất quan trọng, nó cho phép phong trào diễn ra một cách có bài bản, mang tính học thuật, tính trí thức, tính tự giác. Một phong trào như vậy phải có tư tưởng- tư tưởng nghệ thuật, được tư tưởng dẫn dắt và chỉ đạo. Công cuộc lập thuyết thơ Tân hình thức Việt này trước hết thuộc về nhà thơ Khế Iêm. Ngoài tư cách là một nhà thơ, tôi muốn dùng một danh xưng nữa để nói về con người này: Nhà lý luận thơ Tân hình thức Khế Iêm.

Tuy nhiên điều tôi muốn nói ở đây là: trong mọi lĩnh vực, lý thuyết nếu không có thực hành, không có sản phẩm thực chứng thì dễ đổ bể; nhưng riêng trong lĩnh vực nghệ thuật có khác một chút: sản phẩm được làm ra lại không thể mang tính đại trà, mà nhất thiết phải có những tác phẩm thực sự có giá trị, tác phẩm đỉnh cao. Nếu sản phẩm trong nghệ thuật ở mức làng nhàng, sẽ không thể bảo hiểm cho lý thuyết được. Cho nên, nhiệm vụ của phong trào thơ Tân hình thức Việt là phải có những tác phẩm hay, đỉnh cao, xứng đáng. Nếu không có được những tác phẩm xứng đáng minh chứng cho lý thuyết của mình, sẽ xảy ra hai khả năng: hoặc lý thuyết thiếu tính khả thi, hoặc người sáng tác chưa đủ tài năng để thẩm thấu và chuyển hóa lý thuyết thành các sáng tạo cụ thể.

3.

Trên một tinh thần như vậy, nhìn vào các tác phẩm thơ của Tân hình thức, cần chỉ xem đã có những bài thơ hay chưa, và số lượng ấy đủ để khẳng định phong trào đã trụ vững chưa?

Cũng xin nói thêm, ngày nay sự ra đời của một phong trào nghệ thuật nào đó không còn cảnh đối lập và loại trừ những thành tựu nghệ thuật khác trước nó và cùng với nó. Đó là câu chuyện trước kia. Thí dụ, Thơ mới 1932-1945 khi ra đời phủ định quyết liệt thơ trung đại để chiến thắng. Nhà thơ Trần Dần ngay từ những năm chống Pháp (1946-1954) đã đòi “chôn tiền chiến”. Tinh thần này được ông và những người bạn thơ cùng chí hướng cách tân như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Cung, Đặng Đình Hưng (sau này là Dương Tường, Hoàng Hưng) thực hành quyết liệt từ những năm 60 của thế kỷ 20 trở đi. Nhóm Sáng tạo[1] của Sài Gòn cùng quãng thời gian những năm 60 đó cũng lại quyết liệt phủ định Thơ mới để cách tân và khẳng định…Ngày hôm nay, tinh thần của chủ nghĩa hậu hiện đại- một trào lưu tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật – đã trở nên rộng khắp các châu lục ở cả cấp độ lý thuyết, cấp độ cảm quan và cấp độ thành tựu. Một trong những tinh thần cơ bản nhất của hậu hiện đại là: những CÁI KHÁC được quyền chung sống thân ái và bình đẳng bên cạnh nhau, không phủ định nhau và cùng đối thoại. Cho nên, phong trào thơ Tân hình hình ra đời trên một tinh thần dân chủ nghệ thuật như vậy, và cũng thực hành theo tinh thần đó. Ai chia sẻ được sẽ rất cảm kích, ai không chia sẻ được cũng không sao, cũng vẫn cần được tôn trọng – đơn giản là họ có những mối quan tâm và sở thích khác.

Trở lại với câu hỏi về việc đã có những bài thơ Tân hình thức được công nhận là hay? Tôi xin thưa, thực sự đã có một số lượng bài đủ để khẳng định phong trào thơ Tân hình thức đã có mặt ở xứ sở này và tham gia vào khung cảnh thơ ca chung của dân tộc.

Tôi thấy có một Khế Iêm với những bài thơ Con mèo đen, Bậc thang, Chiếc ghế mang tinh thần triết luận về một thế giới hư vô thật sâu lắng và ấn tượng. Thơ của Khế Iêm thường là khởi lên từ câu chuyện của/về một sự/con vật, một con người; ngay sau đó câu chuyện được đẩy về phía hư vô, như một trạng thái hoang mang, hỗn loạn, mất phương hướng, có khi gần với ảo giác. Trong những trường hợp ấy, con người trở nên tội nghiệp, thậm chí vô nghĩa. Phải chăng đó là những mảnh mầu khác nhau của một bi kịch tinh thần mà con người của thời hiện đại lâm vào…

Tôi thật thích thú với vẻ đẹp của tiết tấu ngôn từ trong bài thơ Cảm giác sóng của Nguyễn Thị Khánh Minh. Bài thơ này không hướng tới một ý nghĩa rõ ràng. Nó chỉ đẹp trong âm điệu, trong tiết tấu của những âm thanh. Nó đặc biệt thành công khi nắm bắt và biểu đạt thật rõ rệt cái cảm giác trườn vỗ trồi sụt của con sóng, không phải con sóng thực tại mà là con sóng trong tâm tưởng. Hãy nhắm mắt lại nghe bài thơ vang lên từng âm thanh để cảm nhận hết vẻ đẹp sâu lắng dịu dàng của toàn bài. Bài thơ này tiêu biểu cho một luận điểm rất quan trọng thuộc về bản chất của thơ: không có nhịp điệu sẽ không thành thơ. Điều thú vị ở bài thơ là nhà thơ đã tạo ra một nhịp điệu của một loại thơ vắt dòng, ngôn ngữ đời thường, đem lại cho bài thơ một hình thể rất đỗi tự nhiên. Có thể bắt gặp một số vẻ đẹp khác nữa cũng thuộc về nhịp điệu thơ như bài Me của Thiền Đăng, Tức cảnh của Khế Iêm. Với bài Me chẳng hạn, nhà thơ cũng tạo ra được một âm hưởng vang động không gian nhờ cái tiếng kêu của me ngày xưa trước số phận của một người cha đã khuất. Tiếng kêu được điệp lại liên tục trong không gian cánh đồng, núi đồi, sóng biển lạnh lẽo và cô độc, từ một quá khứ dội lại miên man, không dứt. Bài thơ phả vào người đọc một sự ớn lạnh, xa xót. Những bài thơ như thế đã chạm được vào chỗ sâu nhất của tình người.

Nhìn vào các sáng tạo thơ Tân hình thức, xét theo tính chất cảm hứng thơ, có thể tạm chia ra làm hai loại: thơ nghiêng về cảm xúc, và thơ nghiêng về triết luận.

Loại thơ thứ nhất, mục đích của nó chủ yếu để giãi bày cảm xúc, tâm tình của chủ thể trữ tình. Cho nên, loại thơ này đặc biệt chú ý đến nhịp điệu của toàn bài bằng cách lặp lại ngôn từ (với các cấp độ: từ, ngữ) và hình ảnh. Nhờ nhịp điệu, bài thơ có khả năng thúc vào trái tim của người đọc ngay lập tức. Những bài thơ như Cảm giác sóng, Me, Tức cảnh vừa nhắc tới trên kia là những trường hợp tiêu biểu. Có thể kể đến một bài thơ nữa cũng nằm trong từ trường cảm xúc này: Vài món bị đổ đi (Bỉm). Thoạt đọc, bài thơ mang một hình thức câu chuyện, kể lại việc chuẩn bị bữa ăn sáng của đôi nam nữ (vợ chồng/tình nhân?…). Đọc kỹ hóa ra tính tự sự chỉ là hình thức bên ngoài, mà ẩn sâu bên trong là một hạt nhân trữ tình rất rõ, đánh động lên nhiều cảm xúc: tình yêu, sự chăm sóc dịu dàng, nỗi oan uổng, hờn dỗi, sự vô tình…Bài thơ này khá giản dị mà chứa nhiều sức gợi.

Loại thơ thứ hai tạm gọi là thơ triết luận. Các nhà thơ thường bắt đầu từ một quan sát, sau đó bật lên một ý tưởng, một nhận thức, một đối thoại nào đó về thế giới. Thơ Khế Iêm phần lớn đi theo dạng thức này. Thơ anh mạnh về những ý nghĩa xoay vần, day trở với nhiều góc nhìn khác nhau về sự sống. Kết thúc thường không đưa ra một thức nhận có ý nghĩa quyết định luận nào, mà thường là những câu hỏi treo đấy, bỏ ngỏ, có ý nghĩa kêu gọi người đọc tham dự vào quá trình suy tưởng đó. Cùng hướng với dạng thơ này là bài thơ  Vệt mực và tờ giấy của Nguyễn Tất Độ. Bài thơ đưa ra hai tình huống: 1, tờ giấy trắng có vệt mực đen; 2, tờ giấy đen có vệt mực đen. Và các suy luận phong phú hiện lên, hướng về hai tình huống này. Nhờ vậy, bài thơ có được phong vị của một sự thông minh, thuộc về trí năng, đem lại những  khai mở thú vị cho người đọc.

4.

Như vậy, nếu căn cứ vào 4 đặc điểm thuộc về thi pháp của thơ Tân hình thức (vắt dòng, kỹ thuật lập lại, tính truyện, ngôn ngữ đời thường), thì mỗi bài thơ sẽ có những vận dụng và phối hợp các đặc điểm này không giống nhau, với những tỉ lệ khác nhau. Thêm nữa, các bài thơ, nhìn bề ngoài vẫn mang diện mạo của các thể thơ truyền thống (4/5/6/7/8/6-8 chữ…), nhưng cấu trúc mỗi dòng/câu thơ, mỗi câu ngữ pháp biến hóa khôn lường, theo đó nhịp điệu cũng biến hóa cùng. Đó chính là những điều kiện nhằm tạo nên sự đa dạng cho mọi tìm kiếm và thể nghiệm.

Một bài thơ Tân hình thức hay, ngoài việc đảm bảo 4 đặc điểm thuộc về thi pháp trên kia, nó vẫn cứ dựa trên những phẩm tính căn bản của thơ  đã được xác lập từ xưa tới nay: sự sâu sắc của ý/nghĩa, chiều sâu của cảm xúc, tính độc đáo trong biểu đạt, và dư vị toàn bài. Vâng, đó chính là vẻ đẹp của thơ ca muôn thuở. Thơ Việt như một dòng sông lớn mà thơ Tân hình thức đang là một chi lưu trong rất nhiều chi lưu cùng góp vào và cộng hưởng.

Tôi có thể kể được thêm những bài thơ Tân hình thức thú vị nữa. Nhưng chỉ với một số bài thơ được nhắc đến trên[1] kia đã tạo cho người đọc một niềm tin rằng đời sống thơ đương đại tiếng Việt đã ghi danh một loại hình thơ mang tên Tân hình thức. Mặc lòng thích/ không thích, thơ Tân hình thức vẫn cứ tồn tại và ngày càng khẳng định sự có mặt chính đáng của mình. Ai quay lưng với Tân hình thức sẽ tự làm nghèo đi quyền được tiếp nhận và thụ hưởng đa dạng mà mỗi người đều có cơ hội ngang bằng.

Cuối thu Hà Nội đã
vào heo may em tháng
Mười nỗi niềm dâng phố
2013 cúc/ hoa…

Ghi chú:

Năm 2000, nhà thơ Khế Iêm đã viết bài “Thơ Tân hình thức-nhắc lại-10 năm”, in trong Vũ điệu không vần- tứ khúc và những tiểu luận khác, NXB Văn học, 2011. Nhìn lại, hiện đã có một số công trình về thơ Tân hình thức Việt đã được công bố (trong tầm bao quát chắc chắn chưa đầy đủ của tôi):
-Nhiều tác giả, Poetry narrates/Thơ kể (Tuyển tập thơ Tân hình thức-ấn bản song ngữ), NXB Lao động, 2010
-Khế Iêm, Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận, NXB Văn học, 2011
-Khế Iêm, Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận, NXB Văn mới, 2013
-Tạp chí Sông Hương, chuyên đề về thơ Tân hình thức, tháng 6/2012
-Báo Nghệ thuật mới , Số 9-tháng 9/2012

Bài “Về một nỗ lực làm mới thơ Việt (Đọc Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận khác, NXB văn học, 2011)”, in trên tờ Nghệ thuật mới, Số 9-tháng 9/2012, sau in trong Người khác và tôi (Chân dung-tiểu luận, phê bình), NXB Hội nhà văn, 2013.

Vào quảng năm 1958-1961, nhóm cách tân thơ được thành lập xung quanh tạp chí mang tên Sáng tạo, bao gồm những tên tuổi như Mai Thảo, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Doãn Quốc Sỹ, Thần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Quách Thoại, Tô Thuỳ Yên, Thanh Tâm Tuyền. Tinh thần của họ là phủ nhận văn nghệ tiền chiến, trong đó có Thơ mới.


Xin kèm theo 5 bài thơ tôi cho là hay được lấy làm dẫn liệu cho bài viết này (tôi không nói 5 bài này là hay nhất). Với ý đồ để cho dẫn liệu được tập trung, nên tôi chỉ chọn có vậy (các bài thơ này được dẫn từ cuốn Poetry narrates/Thơ kể -Tuyển tập thơ Tân hình thức-ấn bản song ngữ, Sđd):

CON MÈO ĐEN

Khế Iêm

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;

con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo

linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong

cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẩu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn

của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo
đen có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.


CẢM GIÁC SÓNG

Nguyễn Thị Khánh Minh

Trên điểm tựa dịu dàng
tôi thấy mình bay lên
với đôi cánh mầu xanh
bung mình cảm giác biếc

con sóng tôi dâng lên
dào dạt hương biển xanh
dâng lên dâng lên và
nở hoa dâng lên dâng

lên và vỡ tràn dâng
lên dâng lên và xoá
hết -sóng men bia sủi
bờ cát ngọt – dấu vết

tôi – thành tựu giấc mơ


ME

Thiền Đăng

Me kêu bằng tiếng kêu xưa bên
đồng gió lạnh. Me ơi me kêu
bằng tiếng kêu xưa trên đồi núi
lạnh. Tiếng kêu không còn nao nao

như xưa nhưng yêu thương còn vang
âm xưa như me kêu ba bỏ
cánh đồng xưa lên núi đồi xưa
đi tìm đất lạ. Như me kêu

ba từ núi đồi xưa về đụn
cát xưa nằm nghe sóng biển. Như
đụn cát xưa vọng tiếng kêu xưa
tiếng me kêu ba từ thủa ngày

xưa bên đồng gió lạnh.

Phú Diên 08.2008

VỆT MỰC & TỜ GIẤY

Nguyễn Tất Độ

Tôi quệt một vệt đen lên tờ giấy
trắng. Một vệt đen trên tờ giấy trắng.
Tôi mang đi hỏi người.Có người nói:
”Một vệt đen”. Có người nói: ”Một tờ

giấy trắng”. Có thể vì không thấy một
vệt đen,hay thấy tờ giấy trắng kia
còn hữu dụng. Tôi thì nói: ”Một tờ
giấy trắng có vệt đen”. Lại nữa, tôi

quệt một vệt đen lên tờ giấy đen.
Tôi mang đi hỏi người. Ai cũng bảo:
”Một tờ giấy đen”. Có thể vì không
ai thấy vệt đen. Một vệt đen trên

tờ giấy đen thì làm sao mà thấy!
Duy chỉ mình tôi biết rõ, trên tờ
giấy đen có vệt đen. Lại nữa, tôi …


VÀI MÓN BỊ ĐỔ ĐI

Bỉm

em làm món trứng và
canh bí anh chỉ nhớ
lờ mờ vậy khi sáng
nay em dậy rất sớm

vừa làm vừa ngắm anh
ngủ anh nghĩ vậy anh
cố căng mắt ra để
khởi động một ngày mới

thấy em đang chăm chút
làm và chăm chú ngắm
anh ngủ thế mà chúng ta
đã đổ đi món trứng

canh bí và vài món
khác chỉ tại anh nói
không muốn ăn gì khi
anh cố căng mắt ra

để khởi động một ngày
mới bên cạnh em và
món trứng và canh bí
và vài món khác em

chăm chú chăm chú ngắm
anh khi anh ngủ lúc
sáng nay.


Tranh bài: Olaf Schneider

Chùm thơ: Biển Bắc

Giới thiệu

DIỄN ĐÀN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

_____________________________

Chùm thơ: Biển Bắc

________________

 

AI … DỪA TƯƠI … HÔN (!?)

Giữa trưa trời nắng
rát với một đời đầy mất
mát chị ngồi gốc
cây khô bán nước dừa tươi
để kiếm sống nơi
đô thị xô bồ lăn lóc
khắp góc cùng ngõ
cụt giữa trưa trời nắng rát
với cổ họng khô
khát tôi mua trái dừa uống
mát những giọt mồ
hôi nhỏ từ vầng trán nhọc
nhằn của chị như
vừa uống suối ngọt ngào êm
dịu chảy ra từ
chai cứng cuộc đời sau những
nhát dao nhuyễn nhừ
chém thấu vào thịt dừa mềm
mỏng kiếm sống giữa
trưa đời cháy rát sôi bỏng

(đầu 7, không 8)

 

CON DẾ

Không nằm trong hộp
diêm nhàu mang nhãn hiệu ký
ức mà rất cáo
cạnh trong vỏ da màu hiện
đại con dế của
tôi vẫn gáy vang ran trong
những đêm mưa lả
rả để ru giấc ngủ quạnh
lẻ với đôi cú
tin nhắn sáng lên của rung
động nhột nhạt ấm
áp trong hộp đêm……tôi nằm

(cuối 6, không 8)

MỘT TẤM HÌNH …

Chiều nay như nhiều lần em
ngồi đây một mình thật bình
yên coi lại tấm hình của
Nick Út chụp như nhiều lần
trong đầu em chiếu lại cuốn
phim của em quay qua ánh
mắt hãi hùng hiện trên tấm
hình của Nick Út chụp là
tấm hình cứu em ra khỏi
hãi hùng mà có bao giờ
hãi hùng ra khỏi mắt em !?

(cuối 6, không 7)

 

CHUYỆN GIẤC NGỦ KỂ

Em đến với anh mỗi đêm để
kể anh nghe chuyện một ngàn lẻ
một đêm mà anh chẳng buồn nghe
lại đi đọc mấy trang sách nhàm
nhạp khác đến nỗi anh phải ngáp

dài mấy hơi liền sau đó em
đè lên anh nhõng nhẽo bíu ríu
bờ vai đu nặng mí mắt kéo
anh vào vòng tay em để đưa
mình đến im lặng với những tiếng

thở lò bò càng lúc càng lơi
lạc trong tiềm thức giấc mơ đan
chéo nhau bao thứ chẳng có nghĩa
lý do đó anh hoang mang đến
nỗi anh sợ hãi hùng hổ thẹn

thùng thình lình anh vùng vẫy tay
xua đuổi em đi mặc dù (em
biết) anh thích em thậm chí nhiều
khi rất cần em lắm lúc ban
ngày em cũng đến với anh bất

cứ lúc nào chỗ nào anh muốn
em bởi vì (em biết) anh vẫn
thích em thậm chí rất cần có
em và sẽ một lần nào đó
đón em đến với anh mãi mãi……

(giữa 2, không 8)  

BỨC TRANH VỪA VẼ XONG

Không hiểu hiểu thế
nào mà khi thằng bé tròn
xoe đôi mắt reo
lên rằng bức tranh vừa vẽ
xong đẹp quá (!) tiếp
với câu hỏi rằng tại sao
chiếc máy bay trong
bức tranh đó không bay ra
khỏi khung vải ông
họa sĩ hết nhìn nó lại
ngó qua tấm giấy
thằng bé vẽ hình người bằng
một dấu thập có
vòng tròn trên đó với đôi
mắt tròn xoe rồi
chợt cười vang ném bó cọ
lên trời nhìn lại
bức tranh vừa vẽ xong reo
lên rằng hỏng bét(!)

(cuối 7, không 8)  

SẤM NGÀY CÙNG NGÔN NGỮ

Cho tới khi nào
họ tiến bộ hạ được khuôn
hạn chế tạo ra
cách phòng và chữa bệnh tình
yêu đương nhiên hậu
quả sẽ là sự diệt vong
linh hồn của chúng
tôi trong nghệ thuật xử dụng
chúng tôi để phô
diễn con tim bệnh hoạn nạn
truyền nhiễm trùng (tình-
yêu) vây họ trên con đường
đi đến bờ huyệt
mộ phần họ cũng sẽ mất
đi chứng minh sự
kiện mang và lây nhau bệnh
chứng chỉ riêng biệt
tích trữ trong trái tim họ

(cuối 7, không 8)

SỚM ĐẦU NĂM

Khi cả khu phố còn say
mèm trong giấc ngủ giao thừa
đêm qua hắn dậy rất sớm
bởi đêm qua hắn ngủ rất
sớm khi cả khu phố say
sưa đón giao thừa trong tràn

trề hy vọng là điều đã
từ lâu chẳng còn trong hắn
nên đêm qua hắn chẳng buồn
nao nức đón giao thừa để
dậy sớm chăm chú dò tấm
vé số hắn mua mỗi ngày

(một 1, không 11)

SẦU RIÊNG

Lần đầu tiên khi ăn phần
sầu riêng mẹ tôi tách ra trái sầu
riêng mang nặng ở chợ về
cho tôi cùng với câu chuyện về trái
gai góc này đềm nào rớt
xuống đầu người ở đợ để lại vết
thương nâu sậm để lại trong
tôi ấn tượng sâu đậm đà khi lần
nào yên ăn phần sầu riêng
cũng đều có hương vị của lần đầu
tiên pha lẫn lần này là
mùi vị đặc thù của mỗi lần mỗi
người ăn và như vậy là
tùy ấn tượng về sầu riêng nên có
người mê cũng có người chê
mùi trái gai góc này đấy bạn ạ ……

(đầu 2, không 10)

PHÔNG CHẮN GIÓ

Tôi dựa vào hư không
anh hỏi cô chủ hàng
cà phê có làn da
trắng mịn như sữa tươi

Khi ngả lưng vào tấm
bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà lâu nay đã
trở thành tấm phông chắn

Gió cho khách hàng đến
đây uống cà phê bó
gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng ngà ngà nhả

Khói thuốc lá vào khoảng
không không sao đâu anh
cô chủ hàng cà phê
có làn da trắng mịn

Như sữa tươi cười nói
em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống như
tất cả xung quanh đây

(cuối 5, không 14)

T/RỪNG NGƯỜI

Cô còn nhớ lần đầu
khi bước xuống đường đời
đã hỏi cô như vậy trong
buổi sáng nay khi cô

Bước xuống đường trời lả
hơi sương tình cảnh khi
đó cũng y hệt bây
giờ một rừng người từng

Người như những làn cây
ẩn hiện lờ mờ như
số phận của từng người
giữa rừng người mà dấu

Vết lần đầu là những
viên sỏi không nuôi sống
được một thời còn lần
sau là những mẩu vụn

Bánh khiến lạc lối cả
một đời rồi cô còn
nhớ lần đầu khi bước
xuống đường đời cô đã

Hỏi số phận mong mỏi
những điều gì ở nơi
cô mà số phận chỉ
vòng vo hỏi ngược lại

Rằng cô mong mỏi những
điều gì nơi số phận
mình khi bước xuống đường
đời lại hỏi cô như

Vậy trong buổi sáng nay
khi cô bước xuống đường
đời bước vào rừng người
bước đi với từng người

(cuối 4, không 14)

Tranh bài: Claude Monet