Trang chủ Blog Trang 39

NHỮNG BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC MỸ

Khế Iêm (giới thiệu)
Nhà bình luận thơ Angela Saunders cho rằng, “… Những âm thanh trôi chảy trong một ngôn ngữ bản địa đều có nét đặc thù về mặt ngôn ngữ và không dễ dàng để dịch sang một ngôn ngữ khác. Một bài thơ được sắp đặt theo những giai điệu và âm điệu trong một ngôn ngữ bản địa, khi được dịch sang ngôn ngữ khác, sẽ mất đi sức quyến rũ của nó về mặt thẩm mỹ.”
Những bài thơ tân hình thức Mỹ
Minh họa: NHÍM

Được sự đồng ý của nhà thơ Mark Jarman, đồng biên tập (với David Mason) tuyển tập “Rebel Angels: 25 Poets Of The New Formalism” (Những Thiên Sứ Nổi Dậy: 25 Nhà Thơ Tân Hình Thức) do Story Line Press xuất bản năm 1998, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số bài thơ trích trong tuyển tập này. Ngọai trừ hai bài thơ của nhà thơ Frederick Turner và Frederick Feirstein, thay vì lấy trong tuyển tập, chúng tôi trích từ tác phẩm của họ đã gửi cho chúng tôi. Như chúng ta biết thơ tân hình thức Mỹ là một phong trào thơ hồi phục lại thể luật (cũng giống như thơ vần điệu Việt), quan trọng hơn, hồi phục lại nhịp điệu thơ đã mất sau một thời kỳ dài của thơ tự do. Những bài thơ trong tuyển tập vì thế, bao gồm những bài thơ thể luật, có vầnkhông vần. Khi dịch, chúng tôi vẫn giữ nguyên số âm tiết của dòng thơ (10 hoặc 8 âm tiết), tương đương với số chữ trong thơ Việt, và không vần. Bởi vì hình dạng đều đặn của dòng thơ, tạo tâm lý thỏai mái khi đọc, không bị cảm giác vướng mắt vì dòng dài ngắn như thơ tự do.

Nhưng buồn thay, nhịp điệu ròn rã và nghệ thuật ngôn từ của ngôn ngữ tiếng Anh, không nhấn, nhấn, do thể luật tạo ra đã không còn. Chỉ còn chăng là những ý tưởng, mà ngay cả những ý tưởng cũng chưa hòan tất vì thiếu phương tiện chuyên chở là nhịp điệu. Bản dịch vì thế, chỉ chuyển được nghĩa bài thơ chứ không thể coi như một bài thơ.  Để bù lại, chúng tôi sẽ đưa lên internet nguyên bản tiếng Anh, theo dạng thơ song ngữ, để bạn đọc có thể đọc trực tiếp (nghe âm thanh nhịp điệu khi đọc lên) và thưởng thức nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thơ (cũng là một yếu tố quan trọng), vì khả năng hạn hẹp của trang giấy không cho phép chúng tôi in thêm nguyên tác.
Khế Iêm tuyển dịch
Marilyn Hacker
“DID YOU LOVE WELL WHAT
VERY SOON YOU LEFT?”
Did you love well what very soon you left?
Come home and take me in your arms and take
away this stomach ache, headache, heartache.
Never so full, I never was bereft
so utterly. The winter evenings drift
dark to the window. Not one word will make
you, where are you, turn in your day, or wake
from your night toward me. The only gift
I got to keep or give is what I’ve cried,
foodgates let down to mourning for the dead
chances, for the end of being young,
for everyone I loved who really died.
I drunk our one year out in brine instead
of honey from the seasons of your tongue.
Marilyn Hacker
ANH CÓ YÊU TRỌN VẸN NHỮNG GÌ ANH ĐÃ RỜI XA?
Anh có yêu trọn vẹn những gì anh đã rời
xa? Hãy trở về nhà ôm em trong tay và
lấy đi cơn đau bao tử, cơn nhức đầu, cơn
đau tim này. Chưa bao giờ trọn vẹn như vậy,
chưa bao giờ em mất đi hòan tòan như vậy.
Những chiều đông bóng tối dạt trôi vào cửa sổ.
Không có lời nào làm anh, anh ở đâu, bỏ
cả ngày, hoặc thức cả đêm hướng về em. Món
quà duy nhất mà em giữ hoặc cho là những
gì em than khóc, cống thóat nước thải ra nỗi
thương tiếc vì những cơ hội héo tàn, vì sự chấm
dứt lúc thanh xuân, vì từng người em yêu thật
sự đã chết. Suốt năm, em nghe, nước biển mặn
thay vì mật ong, lời tiếng bốn mùa biến đổi
của anh.
Rafael Campo
FOR J. W.
I know exactly what I want to say,
Except we’re men. Except it’s poetry,
And poetry is too precise. You know
That when we met on Robert’s porch, I knew.
My paper plate seemed suddenly too small;
I stepped on a potato chip. I watched
The ordinary spectacle of birds
Become magnificent until the sky,
Which was an ordinary sky was blue
And comforting across my face. At least
I thought I knew. I thought I’d seen your face
In poetry, in shapeless clouds, in ice –
Like staring deeply into frozen lakes.
I thought I’d heard your voice inside my chest,
And it was comforting, magnificent,
Like poetry but more precise. I knew,
Or thought I knew, exactly how I felt.
About the insects fizzing in the lawn.
About the stupid, ordinary birds,
About the poetry of Robert Frost,
Fragility and paper plates. I look at you.
Because we’re men, and frozen hard as ice –
So hard from muscles spreading out our chests –
I want to comfort you, and say it all
Except my poetry is imprecise.
Rafael Campo
GỬI J. W.
Tôi biết chính xác điều gì tôi muốn nói trừ
Ra chúng ta là những người đàn ông. Trừ ra
Đó là thơ, và thơ thì quá tinh xác. Anh
Biết khi chúng ta gặp nhau ở hiên nhà Ro-
Bert, tôi đã biết. Cái đĩa giấy của tôi hình
Như bất ngờ quá nhỏ; tôi dẫm lên một miếng
Khoai tây chiên. Tôi dõi theo sự chao liệng bình
Thừơng của những cánh chim, sự chao liệng trở nên
Lộng lẫy cho tới khi bầu trời, một bầu trời
Bình thừơng, xanh và thỏang thóat ngang qua tôi.
Ít nhất tôi nghĩ tôi biết. Tôi đã thấy khuôn
Mặt anh trong thơ, trong những đám mây không hình
Dạng, trong băng giá – giống như đang đăm đăm nhìn về
Hướng những hồ nước đông lạnh. Tôi nghĩ tôi đã
Nghe giọng anh trong ngực tôi, giọng nói thỏang thóat
Và lộng lẫy, như thơ nhưng tinh xác hơn. Tôi
Đã biết hoặc nghĩ tôi đã biết, đúng ra là
Làm sao tôi cảm thấy. Về những con côn trùng
Xì xèo trong bãi cỏ. Về những cánh chim bình
Thường và ngu ngốc, về thơ Robert Frost, sự
Dễ vỡ và những chiếc đĩa giấy. Tôi nhìn anh.
Bởi chúng ta là những người đàn ông, và đông
Cứng như băng – gồng lên để giữ cảm xúc bên
Trong lồng ngực – tôi muốn an ủi anh và nói hết
Cả. Trừ thơ tôi không tinh xác.
Tom Disch
CONVALESCING IN LONDON
Like a drunk treading on his trouser cuffs,
Time lurches past. Time goes too fast.
I don’t know what to do
And lie awake in the dark, overheated room,
Listering, listering to
Time lurches past. Time goes too fast.
I may not move about too much, nor drink,
My doctors say. I went to the Tower today,
Where many famous men
And women, waiting to die, found good thing to say
About death (a friend). Then
A few bridges and Hyde Park. Now it is dark.
Since my hepatitis I’m afraid
I’ve not been entertaining. It’s too hot
In here but when I raise
The window rain comes in, and noises
From the street. I cannot
Concentrate on anything, except the clock, ticking.
Tom Disch
HỒI SỨC Ở LUÂN ĐÔN
Giống như một kẻ say rượu dẫm lên
Những gấu quần dài, thời gian lảo đảo
Qua. Thời gian trôi qua nhanh. Tôi
Không biết làm gì, và nằm thức trong
Bóng tối, căn phòng quá nóng, lắng nghe,
Lắng nghe. Thời gian lảo đảo qua. Thời
Gian trôi qua nhanh. Bác sĩ nói, tôi
Không thể di động chung quanh quá nhiều,
Không uống rựơu. Tôi đến Tower hôm
Nay, nơi nhiều ông nổi tiếng và các
Bà, đang đợi chết, tìm thấy những điều
Tốt lành để nói, về cái chết (một
Người bạn). Rồi thì, vài chiếc cầu và
Hyde Park. Bây giờ trời tối. Vì
Bệnh viêm gan tôi sợ. Tôi không thấy
Vui. Ở đây rất nóng nhưng khi tôi
Nâng cửa sổ lên, mưa hắt vào, và
Những tiếng ồn ngòai đường phố. Tôi không
Thể tập trung vào bất cứ cái gì,
Ngòai chiếc đồng hồ, tích tắc.
Dana Gioia
MAZE WITHOUT A MINOTAUR
If we could only push these walls
apart, unfold the room the way
a child might take apart a box
and lay it flat upon the floor –
so many corners cleared at last!
Or else could rip away the roof
and stare down at the dirty rooms,
the hallways turning on themselves,
and understand at last their plan –
dark maze without a minotaur,
no monsters but ourselves.
Yet who
could bear to see it all? The slow
descending spirals of the dust
against the spotted windowpane,
the sunlight on the yellow lace,
the hoarded wine turned dark and sour,
the photographs, the letters – all
the crowded closets of the heart.
One wants to turn away – and cry
for fire to break out on the stairs
and raze each suffocating room.
But the walls stay, the roof remains
strong and immovable, and we
can only pray that if these rooms
have memories, they are not ours.
Dana Gioia
MÊ CUNG KHÔNG CÓ QUỈ ĐẦU BÒ
Nếu chúng ta có thể chỉ đẩy những
bức tường này ra xa, trải căn phòng
theo cách một đứa bé có thể tháo
rời một cái hộp và để nó nằm
dẹp trên sàn nhà – như vậy mọi góc
cạnh cuối cùng tan biến! Hoặc là chọc
thủng mái nhà và nhìn xuống những căn
phòng dơ bẩn, những hành lang tự nó
ngòan ngòeo, và cuối cùng hiểu họa đồ
của chúng – mê cung tối không có quỉ
đầu bò, không có quái vật chỉ có
chính chúng ta.
Ai nữa
Có thể chịu đựng cái nhìn hết mê
cung đời? Những đừơng bụi xoắn ốc chậm
rơi tương phản với khung kính lốm đốm,
ánh sáng mặt trời trên đăng ten vàng
màn cửa sổ, rượu cất trở nên thẫm
màu và chua, những tấm hình, những lá
thư – tất cả những ngăn chứa đầy ắp
của trái tim. Ngừơi ta muốn ngỏanh mặt
đi – và khóc vì ngọn lửa bùng cháy
trên cầu thang và san bằng từng căn
phòng ngộp thở. Nhưng những bức từơng vẫn
còn đó, mái nhà nguyên xi và kiên
cố, và chúng ta chỉ có thể cầu
nguyện nếu những căn phòng này có những
ký ức thì những ký ức đó chẳng
phải của chúng ta.
Minotaur là một quái vật nửa người nửa bò trong thần thoại Hi Lạp. Hoàng hậu của vua Minos, Pasiphae, giao phối với con bò và kết quả là sự ra đời của Minotaur. Minotaur đã gieo rắc kinh hoàng cho toàn đảo Crete nên vua Minos ra lệnh cho làm một một mê cung nhốt nó lại.
R. S. Gwynn
APPROACHING A SIGNIFICANT
BIRTHDAY, HE PERUSES
THE NORTON ANTHOLOGY OF POETRY
All human things are subject to decay.
Beauty is momentary in the mind.
The curfew tolls the knell of parting day.
If winter comes, can Spring be far behind?
Forlorn! The very word  is like a bell
And somewhat of a sad perplexity.
Here, take my picture, though I bid farewell.
In a dark time the eye begins to see.
The woods decay, the woods decay and fall –
Bare ruined choirs where late the sweet birds sang.
What but design of darkness to appall?
An aged man is but a paltry thing.
If I should die, think only this of me:
Crass casualty obstructs the sun and rain
When I have fears that I may cease to be,
To cease upon the midnight with no pain
And hear the spectral singing of the moon
And strictly meditate the thankless muse.
The world is too much with us, late and soon.
It gathers to a greatness, like the ooze.
Do not go gentle into that good night.
Fame is no plant that grows on mortal soil.
Again he raised the jug up to the light:
Old age hath yet his honor and his toil.
Downward to darkness on extended wings,
Break, break, break, on thy cold gray stones, O sea,
And tell sad stories of the death of kings.
I do not think that they will sing to me.
R. S. Gwynn
ĐẾN GẦN NGÀY SINH NHẬT ĐẦY Ý NGHĨA
HẮN ĐỌC TUYỂN TẬP THƠ DO NORTON XUẤT BẢN
Tất cả sở hữu của con ngừơi là đối tượng
Suy đồi. Cái đẹp chốc lát trong tâm trí. Giờ
Giới nghiêm rung chuông báo tử về một
Ngày chia tay. Nếu mùa đông tới, có thể mùa
Xuân bị bỏ rơi xa đằng sau? Bị bỏ rơi!
Ngày sinh nhật ấy giống như một tiếng chuông và
Là một phần của tình trạng bối rối tệ hại.
Đây, chụp tấm hình tôi, mặc dù tôi chào tạm
Biệt. Mắt bắt đầu nhìn thấy trong lần tăm tối.
Những rừng cây hư họai, những rừng cây hư họai
Và rơi – những đội hợp xướng điêu tàn trần trụi
Nơi mới đây những con chim dễ thương hót. Ngày
Sinh nhật là ý đồ của bóng tối làm hỏang
Sợ con người? Người đàn ông già chỉ là thứ
Vô giá trị. Nếu tôi chết, nên nghĩ về điều
Đó vì tôi: sự tử vong hòan tòan làm trở
Ngại bất tử, khi tôi sợ rằng có thể tôi
Không còn nữa, không còn nữa vào nửa đêm không
Đau đớn, và nghe hồn ma hát về mặt trăng
Và trầm tư tuyệt đối vào hồn thơ bội bạc.
Thế giới thì quá nhiều đối với chúng ta, sớm
Và muộn. Nó tập hợp sự lớn lao, giống như
Rò rỉ. Đừng đi nhẹ nhàng vào đêm an lành.
Danh tiếng không phải là cây cối mọc trên đất
Chết. Lần nữa hắn giơ cái bình ra ánh sáng;
Tuổi già có vinh dự và vất vả của nó
Từ trước tới nay. Đi xuống địa ngục bằng những
Cánh duỗi thẳng. Vỡ, vỡ, vỡ trên những hòn đá
Xám lạnh của mi, ôi biển, và kể những câu
Chuyện buồn về cái chết của những ông vua. Tôi
Không nghĩ những câu chuyện buồn sẽ hát vì tôi.
Timothy Steele
AN AUBADE
As she is showering, I wake to see
A shine of earrings on the bedside stand,
A single yellow sheet which, over me,
Has folds as intricate as drapery
In paintings from some fine old master’s hand.
The pillow which , in dozing, I embraced
Retains the salty sweetness of her skin;
I sense her smooth back, buttocks, belly, waist,
The leggy warmth which spread and gently laced
Around my legs and loins, and drew me in.
I stretch and curl about a bit and hear her
Singing among the water’s hiss and race.
Gradually the early light makes clear
The perfume bottles by the dresser’s mirror,
The silver flashlight, standing on its face,
Which shares the corner of the dresser with
An ivy spilling tendrils from a cup,
And so content am I, I can forgive
Pleasure for being brief and fugitive.
I’ll stretch some more, but postpone getting up
Until she finishes her shower and dries
(Now this and now that foot placed on a chair)
Her fineboned ankles, and her calves and thighs,
The pink full nipples of her breasts, and ties
Her towel up, turban-style, about her hair.
Timothy Steele
MỘT KHÚC NHẠC SỚM
Trong lúc nàng tắm, tôi thức dây nhìn, một cặp
Bông tai lấp lánh trên cái giá cạnh giường, một
Tấm chăn đơn màu vàng, kéo ngang qua tôi, xếp
Nếp phức tạp như tấm màn cửa trong những bức
Tranh từ bàn tay của những bậc thầy già giặn.
Cái gối, trong giấc ngủ chập chờn, tôi ôm còn
Vương vị ngọt mặn của da thịt nàng; tôi cảm
Nhận tấm lưng, mông, bụng, eo mượt mà của nàng,
Sự nồng ấm của đôi chân thon dài quấn lấy
Chân và hông tôi, và kéo tôi vào. Tôi duỗi
Mình và cuộn lại một chút và nghe nàng hát
Giữa tiếng nước tuôn chảy xè xè. Dần dần ánh
Sáng sớm rõ hơn, những lọ dầu thơm bên tấm
Gương của bàn trang điểm, cái đèn pin bằng bạc
Dựng úp mặt, ở góc bàn trang điểm, một chiếc
Ly cắm một dây leo trường sinh tỏa xuống. Và
Tôi thỏa mãn làm sao, có thể tha thứ niềm
Lạc thú vì ngắn ngủi và thóang qua. Tôi tính
Duỗi mình thêm, nhưng ngừng lại tỉnh giấc. Cho đến
Khi nàng tắm xong và lau khô (lúc bàn chân
Này lúc bàn chân kia đặt lên chiếc ghế), những
Mắt cá chân xương mịn, những bắp chân và bắp
Vế, những núm vú vun đầy màu hồng của nàng,
Và nàng đội cái khăn xếp, gấp chéo lên tóc.
Andrew Hudgins
ELEGY FOR MY FATHER,
WHO IS NOT DEAD
One day I’ll lift the telephone
and be told my father’s dead. He’s ready.
In the sureness of his faith, he talks
about the world beyond this world
as though his reservations have
been made. I think he wants to go,
a little bit – a new desire
to travel up, an itch
to see fresh worlds. Or older ones.
He thinks that when I follow him
he’ll wrap me in his arms and laugh,
the way he did when I arrived
on earth. I do not think he’s right.
He’s ready. I am not. I can’t
just say good-bye as cheerfully
ss if he were embarking on a trip
to make my later trip go well.
I see myself on deck, convinced
his ship’s gone down, while he’s comvinced
I’ll see him standing on the dock
and waving, shouting, Welcome back.
Andrew Hudgins
BÀI AI VÃN CHO CHA TÔI,
NGƯỜI KHÔNG CHẾT
Một hôm tôi nhắc điện thọai lên và
được biết về cái chết của cha tôi.
Ông sẵn sàng. Trong sự chắc chắn của
niềm tin, ông nói về thế giới ở
bên kia thế giới này y như thể
ông đã dành được một chỗ trước. Tôi
nghĩ ông khá là muốn đi – một khao
khát mới tăng cao, ngứa ngáy nhìn những
thế giới tươi mới. Hoặc xưa cũ. Ông
tưởng ra rằng khi tôi chết theo, ông
sẽ ôm tôi trong tay và cười, cái
cách của ông khi tôi sinh ra. Tôi
không cho là ông đúng. Ông sẵn sàng.
Tôi thì không. Tôi không thể chỉ nói
lời từ biệt một cách vui vẻ cứ
như là ông đang lên tàu du hành
để làm cuộc du hành sau đó của
tôi xuông xẻ. Tôi thấy mình trên boong
tàu, tin chắc con tàu của ông chìm
xuống, trong lúc ông tin chắc tôi sẽ
thấy ông đứng trên cầu tàu và vẫy
tay, la lớn, Hãy trở lại nhé.
Frederick Turner
THE WHEAT FIELD
This field of rustling wheat has gone from green
To almost hazy blue, to rufous gold.
Piers Plowman’s plot is what it seems to mean,
Eternal blessings sown a hundredfold,
Time’s wheel of tilth and fallow, reap and glean.
This glory is the mark of death to him
Who travels the North Dallas corridor.
These last years of the old millennium
Wealth in its heyday rises to a roar
Along the freeways of computerdom,
And field by field, wood by dappled wood,
The city, eating northward, prepotent,
Engorges land as its essential food.
They’ll sow, the year before development,
A field of corn to suck the soil’s last good.
This golden plot’s the mark upon the tree
That tells the woodman which one must come down;
It is the fever when the HIV
Plants its pale banner in the body’s town:
It is the sign of Man’s apostasy.
And the observer in his car or plane
Would on first seeing mourn this cruelty,
Meadows never to see the sun again,
Nature the victim to modernity
– And all the gracenotes of that grim refrain.
But there’s a chivalry of experience,
That carries thought beyond its first crude test,
That makes an actor of an audience,
And will not be content with second-best.
Creation flourishes on turbulence;
For what will happen here after the reaping?
The roads will come, the pipes and sewers and wires,
Young families will set up their housekeeping
In raw bright rooms that after a few years
Will be the secret nests of children sleeping;
Strange birds will fly among the orchard-trees
Where once huge flocks of starlings veered and wheeled;
Flowers bred by Romans, Arabs, Japanese,
Are planted there, where all was empty field,
By African and Asian refugees.
The golden corn has got another meaning;
Trans-substanced to a further sacrament;
New bread will rise fragrant out of the gleaning;
The human is what nature always meant;
The golden fall is but another greening
Into the dark fields of the firmament.
From the author: “The suburbs north of Dallas, especially Richardson, Plano and McKinney, have become a second Silicon Valley with high tech computer, communications, nanotech, and biotech companies.  Agricultural fields are being bulldozed to create new housing for the thousands of workers in the new corporate campuses.  Those workers come not only from North America but all over the world.
When a field is sown with wheat, it is a sign that this will be the last crop before the bulldozers move in.  The wheat field is for people of British ancestry a symbol of the “field full of folk”, the ancient medieval world of Christendom that the poet William Langland described in “Piers Plowman”, a traditional image of home, ancestral values, a worshipful attitude to heaven and earth, and a natural lifestyle.  My poem mourns the loss of that world, but also celebrates the emergence of a new “field full of folk”, a multi-ethnic community that is creating the future.
Cordially,
Fred”
___________________________________________________________
Frederick Turner
CÁNH ĐỒNG LÚA MÌ
Cánh đồng xào xạc lúa mì đã biến mất từ
Màu lục diệp thành màu xanh mù sương, rồi vàng
Hung. Vùng đất trong câu truyện Piers Plowman
Ngụ ý, những hồng ân vĩnh cửu đã được gieo
Xuống cả trăm lần, qua bánh xe thời gian của
Đất cày và ải, gặt hái và thu họach. Niềm
Vinh quang này, nay còn đâu, xuyên suốt hành lang
North Dallas. Những năm tháng cuối cùng của thiên
Niên kỷ ầm ĩ nổi lên sự thịnh vượng của
Thời vàng son dọc theo những xa lộ của vương
Quốc điện tóan, và cánh đồng tiếp giáp cánh đồng,
Rừng cây lốm đốm rừng cây, thành thị ăn lan về
Hướng Bắc, lấn lướt, nghiến ngấu đất đai như thực
Phẩm không thể thiếu. Họ gieo, năm trước khi mở
Mang, cánh đồng ngũ cốc, tận dụng đất trồng cho
Mùa gặt cuối. Cánh đồng ngũ cốc này chẳng khác
Nào dấu ghi trên cây dặn người tiều phu phải
Đốn ngã; đó là cơn sốt khi HIV
Cấy những biểu ngữ tái xanh trên thân thể thị
Trấn: dấu hiệu suy đồi đạo lý Con Người. Và
Người quan sát từ xe hoặc máy bay, đầu tiên
Là thương tiếc cho sự tàn ác này, những đồng
Cỏ không bao giờ thấy mặt trời lần nữa, thiên
Nhiên là nạn nhân của thời hiện đại – và tất
Cả những nốt nhạc không thiết yếu của điệp khúc
Ảm đạm đó. Nhưng có một trải nghiệm mang tinh
Thần hiệp sĩ đưa ý tưởng vượt quá thử nghiệm
Thô sơ ban đầu, làm diễn viên trong một khán
Giả, và sẽ không bằng lòng với những gì không
Hòan hảo. Sự sáng tạo nở hoa trong hỗn lọan;
Và điều gì sẽ xảy ra ở đây sau kỳ
Thu họach? Đó là những con đường sẽ hiện ra,
Điện nước cống rãnh, những gia đình trẻ sắp xếp
Công việc nhà, trong những căn phòng sáng sủa, mới
Tinh để sau đó vài năm trở thành tổ ấm
Cho con trẻ; những con chim kỳ lạ sẽ bay
Trên những vườn cây ăn trái nơi đã có lần
Những bầy chim đá đổi chiều và bay lượn; những
Lòai hoa giống La Mã, Ả rập Nhật bản, được
Trồng bởi những người tị nạn Phi châu và Á châu,
Nơi trước kia tòan là cánh đồng hoang. Cánh đồng
Ngũ cốc có một ý nghĩa khác; xuyên bản thể
Tới một lễ bí tích xa hơn. Bánh mì mới
Tỏa hương thơm từ sự thu nhặt; với thiên nhiên,
Con người luôn luôn giá trị; sự biến mất của
Lúa mì chỉ là khởi điểm khác bên trong những
Cánh đồng u tối của bầu trời.
Chú thích
Lời tác giả: Những vùng ngọai ô ở Bắc Dallas, đặc biệt là Ricardson, Plano và McKinney, đã trở thành Thung Lũng Silicon thứ hai với kỹ thuật cao về điện tóan, những công ty về mạng lưới tin học, kỹ thuật số, và kỹ thuật sinh học. Những cánh đồng nông nghiệp bị san phẳng để xây những khu nhà mới cho hàng ngàn công nhân trong những khuôn viên của những công ty mới. Những công nhân này chẳng phải đến từ Bắc Mỹ mà còn ở khắp nơi trên thế giới.
Khi một cánh đồng lúa mì đã gieo, thì đó là dấu hiệu của một vụ mùa chót trước khi những xe ủi đất bắt đầu làm việc. Cánh đồng lúa mì, đối với những người tổ tiên là người Anh, là “field full of fold” (cõi người), biểu tượng cho những người theo đạo Cơ đốc thời trung cổ và cổ đại mà nhà thơ  William Langland đã diễn tả trong “Piers Plowman”. “Cõi người” ấy chính là hình ảnh gia đình truyền thống, giá trị truyền thừa, thái độ tôn kính thiên đường hạ giới, và đời sống thiên nhiên. Bài thơ của tôi thương tiếc cho thế giới đó, nhưng đồng thời cũng tán dương sự nổi lên của một “cõi người” mới, một cộng đồng đa chủng tộc kiến tạo tương lai.
Piers Ploughman (viết năm 1360–1387) hay Visio Willelmi de Petro Ploughman (William’s Vision of Piers Ploughman) là tựa đề bài thơ ngụ ngôn Anh thời Trung cổ của William Langland được viết theo kỹ thuật điệp âm (alliterative: âm hay chữ đầu trước hai hay nhiều âm hay chữ tiếp theo) và không vần, chia thành từng đọan, gọi là “passus” (Latin là “step”). Piers Ploughman được những nhà phê bình coi như là một trong những tác phẩm lớn của văn học Anh, cùng với Canterbury Tales của Chauser, và Sir Gawain và the Green Knight trong thời Trung cổ.
Bài thơ bắt đầu nơi Malvern Hills ở Malvern, Worcestershire, Anh. Một người đàn ông tên là Will thiếp ngủ và thấy một tòa tháp trên một ngọn đồi và một thành lũy dưới một thung lũng sâu; giữa những biểu tượng thiên đường và địa ngục đó, là “cõi người” (field full of folk), đại diện cho thế giới lòai người. Trong phần đầu, Piers, một người thợ cày khiêm tốn, xuất hiện và nhận mình như một người kể truyện, dẫn đường tới sự thật. Những phần sau, liên quan tới người kể đi tìm những nhân vật Dowel, Dobet and Dobest.
From Wikipedia, the free encyclopedia
Frederick Feirstein
FATHER AND SON
Finally I’ve learned forgiveness at this age,
For your mistakes that crippled me,
Which I’ve repeated. I have seen far worse.
You made them out of ignorance, not choice.
The rage I had, the wisdom that I lacked
Amaze me now, as if a page
That I was reading suddenly caught fire
And images of you tumbled from the smoke,
Words you mumbled when you were very tired,
Dying, your hand in mine, that long last night,
Both knowing you had lost all breath to fight.
“It’s late,” you said, “I don’t want you to go.
But you have to leave me.” So I sighed
And, like a child in winter, buttoned up my coat.
“I love you,” we said simultaneously.
“Kiss your son for me,” who then was four months old.
The next day you were found unsaveable and cold.
So if I try to save you on this page
And if you try to save me from your realm,
Eons away, distances so vast
It seems a microscopic stage our past
Of father and son struggling through myth
Which we enacted witlessly and sick,
Dumb, irreconcilable, compelled
To make this seeming paradise a hell
In which we sleptwalked like the shade you are,
The shadow of a man I hoped to be.
Why were we burdened, little you and me
Or, as you often said, “How can this be?”
From the author: This poem alludes to is the tragic reconciliation I had with my father the day he died and my feelings later in which I sought forgiveness and found forgiveness for the difficulties in our relationship. In childhood we were very close. In my adolescence it was a difficult time for both of us. Its placement in the book is meant to suggest a parallel between our sleepwalking through life and the sleepwalkers in the 9/ll poem, that is the relationship between private and public trauma I talk about in the Afterword.
As you can gather, my poetry books are not collections but are carefully structured books.
________________________________________
Frederick Feirstein
CHA VÀ CON
Cuối cùng, ở tuổi này, con đã học được sự
Tha thứ, vì những sai sót của cha đã làm
Hỏng con, những sai sót đó con đã lập lại.
Tệ hại hơn nhiều. Những sai sót do cha không
Biết, chứ đâu chọn lựa. Con đã có thừa giận
Dữ, và thiếu sự khôn ngoan. Điều đó bây giờ
Làm con ngạc nhiên, như thể một trang sách con
Đang đọc bất thình lình bắt lửa. Và hình ảnh
Của cha ngã nhào từ cột khói, những tiếng cha
Lầm bầm khi đã mệt lả, lúc hấp hối, con
Đã nắm tay cha, đêm dài cuối cùng đó, cả
Hai chúng ta đều biết cha đã chiến đấu đến
Hết hơi. “Trễ rồi,” cha nói, “Cha không muốn
Con đi. Nhưng con phải bỏ cha ở lại.” Lúc
Đó con đã thở dài. Và, như một đứa trẻ
Trong mùa Đông, con cài áo khóac. “Con (cha) thương
Cha (con),” chúng ta cùng nói. “Hôn đứa cháu cho
Cha,” đứa cháu mới bốn tháng tuổi. Hôm sau, cha
Được tìm thấy đã chết và lạnh. Như thế, nếu
Con cứu cha trên trang giấy này và nếu cha
Cứu con từ vương quốc của cha, khỏang thời gian
Vô tận vụt qua, khỏang cách mênh mông đó, tưởng
Như một sân khấu vi mô, quá khứ của chúng
Ta của cha và con vẫy vùng qua huyền thọai
Mà chúng ta đã diễn vai như mất hồn và
Chán ngán, đần độn, bất tương nhượng, thúc bách để
Làm cái thiên đường ra vẻ này là địa ngục
Trong đó chúng ta đã mộng du như thể cha
Là cái bóng, cái bóng của người đàn ông con
Mong được trở thành. Tại sao chúng ta bị đè
Nặng, tuổi thơ của cha và con hoặc, như cha
Thường nói, “Làm sao lại có thể thế này nhỉ?”
Lời tác giả: Những ám dụ của bài thơ này, là sự hòa giải đầy bi kịch. Tôi đã ở bên người cha của mình khi ông chết, và những cảm xúc sau đó là tìm kiếm sự tha thứ và đã tìm thấy sự tha thứ cho những cảnh khó khăn trong mối liên hệ cha con. Trong thời thơ ấu, tôi rất gần gũi ông. Trong thời thanh niên là lúc khó khăn cho cả hai chúng tôi. Sự tìm kiếm đó trong cuốn sách hàm ý sự trùng hợp giữa sự mộng du của chúng tôi xuyên suốt cuộc đời và những kẻ mộng du trong bài thơ về biến cố 9/11, đó là sự liên hệ giữa cơn chấn thương riêng và chung mà tôi đã nói trong Lời Cuối.
Như bạn biết, những tập thơ của tôi không phải chỉ là những tuyển tập mà còn là những tập thơ được kết cấu cẩn thận.
Tóm tắt tiểu sử
Marilyn Hacker
Sinh năm 1942. Tác phẩm: Presentation Piece, Separations, Love, Death and the Changing of the Seasons, Going Back to the River, và Winter Numbers.
Rafael Campo
Sinh năm 1964. Tác phẩm: The Other Was Me The Poetry of  Healing: A Doctor’s Education in Empathy, Identity and Desire.
Tom Disch
Sinh năm 1940. Tác phẩm: Burn This, Dark Verses and LightYes, Let’s.
Dana Gioia
Sinh năm 1950. Tác phẩm: Daily HoroscopeThe Gods of Winter.
R. S. Gwynn
Sinh năm 1948. Tác phẩm: The Drive-in, Body Bags, The NarcissiadThe Area Code of God.
Timothy Steele
Sinh năm 1948. Tác phẩm: Uncertainties and Rest, The Prudent Heart, Sapphics Against Anger,The Color Wheel.
Andrew Huggins
Sinh năm 1951. Tác phẩm: Saints and Strangers, The Never-Ending, và The Glass Hammer.
Frederick Turner
Sinh năm 1943. Tác phẩm: The New Worl: An Epic poem, Natural Classicism: Essays on Literature and Science, Genesis: An Epic Poem, Rebirthof value: Meditations on Beauty, Ecology, Religion and Education, April Wind.
Frederick Feirstein
Sinh năm 1940. Tác phẩm: New& Selected Poems.
——————————-
(Nguồn: Tạp chí Sông Hương số 280/tháng 6-2012)

7 NGÀY

Xuân Thủy


BẢY NGÀY

để quên một cuộc tình đã cũ
hay vẫn còn mới nguyên mãi mãi
sống để dạ rồi chết mang theo
để đổi một cuộc tình mới mới

nguyên … cũng thế như cuộc tình đã
cũ và cũng luôn mới nguyên mãi
mãi cũng giống như người ta sắm
vợ mới thay cho vợ cũ sắm

xe mới thay cho xe cũ … sắm
nỗi nhớ mới thay nỗi nhớ cũ
đã hao mòn hay còn mới nguyên
mãi mãi như thói quen người Sài

Gòn dán keo xe để khi túng
hay đổi xe mới vẫn lấy lại
chút vốn còn mình đến dùng cái
xe người ta cũng đã khinh xa

lánh chứ đừng nói chả trách ai
trách mình thì có ấy chứ có
lửa thì mới có khói chứ sao?
thanh minh cái nỗi gì … tình yêu

anh biết chẳng qua chỉ là cái
lốc máy xe dù có tân trang
kiểu gì thì nó cũng hao mòn
theo thời gian vì không thể không

đi không thể còn mới nguyên như
lúc ban đầu như cái buổi anh
vồ vập trong cái nhìn đầu tiên
muốn nuốt chửng em như nuốt quả

xoài cát vàng ươm thơm ngát nhưng
không dám và giờ khi anh đã
mệt vì đợi chờ thì tình yêu
trong em lại càng tươi mới lạ

nhưng lại là với một quả xoài
cát khác không giống loài ác quỷ
như anh không thể xứng với người
đẹp như em một cái lốc máy

mới sau những lần đầu chạy roda
để quên một cuộc tình đã cũ
để đổi một cuộc tình mới mới
nguyên … cũng thế như cuộc tình đã

cũ và cũng luôn mới nguyên mãi
sau những lần đầu chạy roda và
anh gặp em người chưa từng gặp
khác với người anh đã từng muốn …

dù kết quả có thế nào thì
chúng ta chạy roda sau 7 ngày
thì tình yêu mãi mãi là cái
lốc máy xe dù có tân trang …

04/5/2013


Ảnh kèm bài: Tranh cát tình yêu – Anh Vũ – Bùi Anh Tuấn

VÀ EM

Nhiệt Đới Buồn

mưa lại rơi làm ồn
ào lỗ tai tôi mưa
buổi chiều không nghe được
tiếng động nào thêm nữa

nhìn ra cửa kính dơ
nhầy nhụa bụi dính thấy
cảnh vật nhạt và âm
ỉ những nỗi niềm bên

ngoài người cong lưng đứng
trên vỉa hè tìm chỗ
trú mưa và còn có
những người mặc mưa đi

để ướt lên áo quần
lên khuôn mặt từng người
chạy xe máy ào ạt
một vài bàn chân vụt

đi như là cơn bão
quét qua nhẹ nhàng tôi
không chìm đắm vào mưa
mà trông tháng sáu nhìn

bầu trời âm u những
đám mây ngày bỏ bóng
tối vào nhà và em
tay hứng mưa vào hồn

tôi …

5.6.2013

Ảnh kèm bài: Raining in the City by Eduard Gordeev 

NHỮNG CON ẾCH

0

Nguyễn Thói Đời
Ngồi đáy giếng nhìn lên trời những
con ếch thấy gì ngoài một khoảng
trời nhỏ nhoi dù nắng hay mưa
dù sớm hay tối thì cũng chỉ
là những khoảng trời nhỏ nhoi của
riêng những con ếch ngồi đáy giếng
nhìn lên trời, điều tuyệt vời của
đấng thiên nhiên là đã không trao
quyền quyết định vận mệnh của những
con ếch khác đang sinh sôi trên
cánh đồng vào tay những con ếch
ngồi trong giếng, chứ nếu không thì …
15.7.2013

CHÙM HOA GIẤY

0

Hòang Huy Hùng
Thời gian êm đềm trôi trong nhịp
điệu êm đềm của bản tình ca
hiphop dịu êm trên chiếc ghế
tựa tôi đang ngồi nơi hiên nhà
dưới giàn hoa giấy phủ bóng nở
đầy một màu tím dịu mát lan
tỏa mà quá khứ – kỷ niệm – hiện
tại đã hòa quyện làm một trong
đêm vắng thủa nào nơi hiên nhà
em hái tặng tôi chùm hoa giấy
chớm nở mối tình đầu đôi mình
chớm nở một màu tím ngất ngây
bông hoa giấy đong đưa theo nhịp
điệu êm đềm của bản tình ca
hiphop dịu êm trong đêm vắng
trong đêm vắng tưởng như còn đây
em hái tặng tôi chùm hoa giấy
chùm hoa giấy.

TRỐNG RỖNG

0
Nguyễn Tất Độ

Vào lúc không–khi–nào, tôi đang đứng
gần chỗ không–nơi–nào, tôi đã gặp
và làm quen với một người tên là
Không-Ai-Cả. Hai chúng tôi chào hỏi
nhau bằng không–câu–gì, rồi bắt đầu
chuyện trò với nhau nhiều thứ, đại loại
như về việc không–vấn–đề–gì. Rồi
tôi phải đi, người đó cũng phải đi.
Chia tay, đọng lại trong tôi không–một
–ý–nghĩ. Tôi về viết một bài thơ
trong đó không–có–một–ký–tự–nào,
để chia sẻ với không–một–người–nào
một câu chuyện không– (*)có–nội–dung–gì.


(*) hẳn-không
Tranh kèm bài: Không đề 2, Dương Đình Sang

TUẦN THƠ 48: GÓT CHÂN ẢO EM BƯỚC THỰC QUA NGƯỠNG HỖN MANG

0
Nguyễn Hữu Viện

Em như đường gương vỡ gián đoạn cắt
tim anh thành ranh giới fractal cách
ly đứt đoạn phân khúc cả tâm hồn
em đoan trang em bước ra từ cõi
siêu thực hư hư đốn đến độ hỗn mang
võng mạc anh đứt đoạn bao đường fractal
đổ vỡ tràn tựa lá vàng thu sang
càng nhìn sâu vào em bằng kính hiển
vi mô châu thân em khối tỉ tế
bào xếp đặt trật tự hoàn chỉnh càng
nhìn sâu vào nền trời sau em bằng
kính viễn vọng thiên văn chương vũ trụ
như Vua Trụ tay ôm hàng triệu triệu
thiên hà tinh vân theo trật tự phi
Newton hoàn chỉnh chợt anh thảng thốt
giật mình lạc lõng lạt lòng càng lạc
trôi trong hỗn mang quang tử lang bạt
lãng tử không dương không âm không yêu
không hận không sống không chết quả như
hạt cơ bản neutrino vô duyên
vô tính vô tình càng lạc trôi lạc
lõng trong phức cảm phức hợp bản ngã
mình tích tắc trong khoảnh khắc sát na
nhậy cảm từng giọt thời gian nhỏ vào
ly nước lạnh dòng ấm đối lưu hỗn
mang tim anh hoang mang ngỡ ngàng khi
gót chân em bước qua ngưỡng không–thời–
gian cong cong parabol bước qua
điểm uốn song song …

Paris, Thu 2001

GIẤC MƠ XUÂN

0

Nguyễn Tuyết Trinh
Khi những chiếc lá đã buông rơi
dưới cội cây mùa xuân trìu mến
ngọn gió đỏ níu cánh bay chim
én chảy lên ánh ngày lớp sáng
của phiêu lưu tôi muốn tìm kiếm
anh người đã từng đến trong giấc
mơ tôi tôi đã mơ nụ cười
anh và khoé mắt lặng lẽ không
để lộ thời gian mời linh hồn
tôi ương ngạnh trở về trong vòng
tay anh ve vuốt ấp ôm trên
những con đường mùa xuân mơ hồ
thời gian đi qua một cách vô
tích sự mỗi lúc một mau không
biết tới sự xót thương đổ đầy
tiếng khóc đơn độc quạnh hiu vào
cuộc đời tôi vẫn mơ tới gần
anh trang sức bằng bản thể căn
cốt của tình yêu buông lỏng sự
dối trá của những giấc mơ mù
mờ lập lờ không định hướng tôi
đã mơ được gần anh không sợ
tương lai chẳng ngại quá khứ là
tù nhân của một tình yêu duy
nhất có thật trọn vẹn thay vào
chỗ lạc lõng lạnh cóng của ảo
ảnh hư vô.

TỰA VÀO BÓNG TỐI TUYỆT LỘ

0

Nguyễn Tiến Đức
im lặng anh tựa vào bóng tối tuyệt
lộ quay về phương em anh tìm thấy
môi em thơm mùi dãi trẻ thơ đang
tụng niệm tràn trề chuỗi kinh xuân ngây
anh tìm thấy đóa cỏ linh diệu nở
trong dấu tích chân em để lại trên
đồi tử thảo anh tìm thấy chiếc võng
đan bằng những sợi tóc em buông thả
anh nằm chơi trò chơi dòng chợt vắt
anh tìm thấy mắt em chừa những mảnh
lửa bắn tung từ cơn bùng nổ sáng
tạo không cùng anh tìm thấy mắt em
nâu thẳm mở trên say nghiêng đất cùng
vũ điệu bụi hồng vơ vẩn đưa anh
vào sóng thân em biển ngầm anh tìm
thấy phía đông vuông cửa sổ phòng em
chốn duy nhất con chim thi ca mới
cất tiếng hót cấm kỵ tiếng hót phóng
viết vượt đỉnh trời sấm sét đang thiêu
rụi kinh kệ lẫn giáo điều vĩ đại.
Sinh nhật Kimberly 2002

LIVING IN POETRY

By Alexander Kotowske

 

Dưới đây là bản dịch của Phạm Kiều Tùng

Sống Trong Thơ

Alexander Kotowske

Alexander Kotowske thuộc về thế hệ người đọc trẻ nhất nước Mỹ. Ông say mê thơ, triết học và sử học và cũng là những ngành học ông đang theo đuổi

Điều trước nhất quyết định để thơ đích thực là thơ, chính là nhận thức [perception]. Yếu tính mãi mãi không thể định rõ của cái được gọi là “thơ” thì không phải là sở hữu riêng tư của một số ít những cá nhân tài năng, có tính sáng tạo và sâu sắc. Nhận thức có-tính-thơ, cảm thụ có-tính-thơ, vốn là điều kiện cần thiết nơi nhà thơ có tài năng sáng tạo, thì bắt nguồn từ những miền sâu thẳm của một tâm trí và tinh thần có tính phổ quát, chung cho mọi con người. Chúng ta thảy đều được phú bẩm để thụ hưởng Suối Nguồn Thơ. Điều cần phải được hiểu rõ, và là điều thường bị quên lãng, đó là thơ không chỉ là một dạng nghệ thuật; thực ra, thơ là một cách thái sống và nhìn ngắm. Thơ là trái tim nhảy múa cùng cặp mắt.

Phẩm chất và sự phong phú của cuộc sống chúng ta chủ yếu được định đoạt bởi tính chất của những nhận thức của chúng ta. Khi khảo sát thực tại theo cách có phản tỉnh thận trọng, chúng ta phát hiện ra rằng bản thân thực tại chủ yếu là một sự chọn lựa [của chúng ta]. Những nhà thơ không chỉ tạo ra thơ, mà họ sống trong thơ. Nếu cuộc sinh hoạt của chúng ta không còn là một tiến trình sáng tạo, và thoái hoá thành một vòng tuần hoàn khô khan, đơn điệu, và tẻ ngắt, thì đó chỉ vì chúng ta chọn cách sống không có điện năng của thơ. Điều tôi muốn nói có rất ít liên hệ với nghệ thuật hoặc những vấn đề chuyên môn trong việc làm thơ. Chủ yếu là tôi quan tâm tới điều có thể được gọi là “nhận thức có-tính-thơ”, là điều mà một cách cơ bản sẽ tiến-hóa-thành và gợi-hứng-cho công cuộc sáng tạo thơ. Có nghệ thuật, và trước đó có nhận thức mà nó định hình cho nghệ thuật đó; đó chính là điều kiện tiên quyết về mặt tâm lí để có được sự sáng tạo – nghệ thuật. Nói cách khác, nhà thơ có trước thơ; nghệ sĩ có trước nghệ thuật. Không phải là việc làm thơ khiến một người trở thành nhà thơ; điều đó chỉ là thứ yếu – như cái cây nở hoa và rồi kết trái. Tôi biện giải rằng điều kiện hoặc nhận thức có-tính-thơ là thứ mà tâm trí của bất kì ai cũng đều đạt tới được. Tôi không đưa ra luận cứ rằng bất kì ai cũng có thể làm thơ. Tôi chỉ muốn nói rõ rằng mọi người đều có khả năng đạt được nhận thức có-tính-thơ. Nếu bản chất làm nền tảng cho việc làm thơ lại tồn tại trong thế giới chung của trải nghiệm của con người, thì điều đó có nghĩa là chúng ta thảy đều sống trong thơ. Do vậy, chúng ta thảy đều sở hữu những chất liệu thô của thơ. Nhà thơ là người không chỉ nhận thức được, nhìn ra được tính-thơ trong thực tại (đây là một khả năng có tính phổ quát, mọi người đều có được), mà còn biểu đạt được, hoặc nói rõ ra được cái “tính-thơ” đó. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng nhận thức được cái “tính-thơ” trong thực tại theo đúng nghĩa là “tính-thơ” – khi mà nó bộc lộ trong trải nghiệm của chúng ta và định hình trong kí ức chúng ta – nhận thức đó chỉ là vấn đề của sự chọn lựa của chúng ta, không phải vấn đề về khả năng. “Bất kì ai đều là nhà thơ trong chừng mực mà người đó còn bíết đắm chìm trong cái đẹp mê hoặc của tự nhiên,” Ralph Waldo Emerson đã viết thế, “bởi lẽ mọi người đều có được những suy nghĩ về vũ trụ này, rằng nó chính là một lễ hội.” [1]

Tại sao chúng ta lại chọn cách sống va vấp như kẻ mù kẻ nghèo ngày này qua ngày khác, khi thế giới là thứ mà tâm trí ta khi nhận thức về nó cũng là lúc ta tùy nghi nhào nặn nó? Ý thức ta tuôn trào qua bản stencil tự tạo của tâm trí – dàn trải, định hình, và quyết định nên cái thực tại mà chúng ta đã chọn lựa để thể hiện. Đành rằng thế giới trình ra trước chúng ta những sự kiện đã-rồi, không thể thay đổi được nữa, thế nhưng chúng ta còn có tự do – trong mọi sự việc – để tùy nghi diễn giải những sự kiện đó. Khi cuộc đời được sống trải một cách có ý thức và có-tính-thơ, thì thế giới trở nên phù hợp với cái tâm trí nhận thức về nó. Đành rằng cùng một sự thể, người này thấy là đẹp, người khác thấy là tầm thường. Sở dĩ vậy, vì tâm trí, vì cái phối cảnh, cách tiếp cận cuộc sống chính là yếu tố quyết định. Với những con người bình thường ở thời chúng ta hiện nay, do được cung cấp thừa mứa những trò giải trí, nên họ có dáng vẻ người quan sát hơn là người tích cực, chủ động sống trải cuộc sống của chính họ, thì những lời lẽ sau đây của Henry David Thoreau rõ rệt là giúp cảnh tỉnh:

Cũng là đáng kể, việc có khả năng vẽ nên một bức tranh đặc biệt, hoặc tạc nên một pho tượng, như thế là làm ra được một vài thứ đẹp đẽ, nhưng sẽ là vinh quang gấp bội nếu tạc nên và vẽ ra được chính cái bầu không khí và môi trường qua đó chúng ta nhìn ngắm, chúng ta có thể hành động hợp đạo lí. Tác động vào chính cái phẩm chất của thời đại, đó mới là thứ nghệ thuật cao cả nhất. [2]

Những nhận thức giống như những cây cọ dùng để vẽ nên cái thực tại của chúng ta. Chúng ta thảy đều là những nghệ sĩ sáng tạo nên những thực tại. Thế tuy nhiên “sự buồn chán” và sự tầm thường lại trở thành những căn bệnh của thời chúng ta. Tại sao chúng ta tìm kiếm cái siêu phàm và cái khác thường và né tránh cái thường nhật? Tại sao chúng ta thầm nguyền rủa cái bất xác thay vì tán dương nó? Trong một thế giới bị tàn phá bởi sự phân hóa, tôn giáo, ma túy, và sự nghèo khổ, trong một tâm trí đã trở thành bản sao nhàm chán, nhàu nát của hàng tỉ những tâm trí khác, thì chưa bao giờ thế giới lại cực kì cần tới chất mật hoa tinh ròng của thơ như hiện nay.

Từ quá lâu rồi thơ trở thành sở thích bí truyền của một nhóm người đứng bên lề. Do nhận thức sai lầm phổ biến rằng có sự chia lìa giữa thơ và thực tại (hoặc giữa nghệ thuật và thực tại nói chung), phần đông người ta không tìm thấy trong thơ có gì là bổ ích hoặc thân thuộc. Với họ, thơ là địa hạt không thể thâm nhập và thuộc về cõi khác. Tâm trí con người hiện đại bị thu hẹp trong địa hạt cằn cỗi của lí trí và sự phân loại; nó có tính máy móc và tính toán; nó được cấu tạo để nhìn thế giới dưới dạng những luận cứ lô-gíc. Tuy nhiên trải nghiệm trực tiếp của chúng ta về cuộc sống (điều mà thơ cố nắm bắt vào “cái lồng của hình thái”, như Lu Chi từng viết) [3] lại chẳng hề là những thứ cứng nhắc đó: qua một dòng chảy đều đặn của những trải nghiệm thoáng qua, thực tại tràn vào và tràn khỏi chúng ta (khi thì gầm rú, khi thì thầm thì), chẳng hề có bất kì diễn giải, mô tả, hoặc phương hướng nào làm cơ sở. Đào bới tới cốt lõi của bất kì bài thơ nào thực-sự-là-thơ, bạn sẽ khám phá thấy một thế giới hệt như khi nó được trải nghiệm trực tiếp bởi tâm trí – một thế giới trần trụi, của cảm tính, và ngổn ngang. Thế giới là thơ được rỡ tung. Không có sự phân biệt giữa yếu tính của thơ và yếu tính của thực tại mang-tính-chủ-quan [subjective reality] (nghĩa là thực tại duy nhất, được trải nghiệm bởi một chủ thể là một con người). “Thơ là một công cuộc mang tính chủ quan và tự định đoạt,” cũng hệt như thực tại mà chúng ta trải nghiệm mỗi ngày.[4]. Chúng ta thảy đều tham dự vào thơ; hiểu theo một nghĩa nào đó, thơ hoạt hóa những mối quan hệ của chúng ta và thơ tràn ngập cuộc hiện hữu của chúng ta. Điều quyết định để thơ được thanh nhã đồng thời định hình cho thơ, thì bắt nguồn từ đại dương bao la của khả năng cảm thụ nhạy bén của con người. Có thể nói rằng người không-là-nhà-thơ [the non-poet] là người sống đó nhưng cũng như đã chết. Thế nhưng thơ lại được nhiều người coi là trò tiêu khiển của một thiểu số có tài năng và “có năng khiếu nghệ thuật”. Để thơ còn được tồn tại lâu dài, điều vô cùng quan trọng là nhận thức sai lầm vừa nêu trên cần được chấm dứt. Ta cần phải hiểu rằng cội rễ của thơ thì sâu xa hơn cái sản phẩm vật lí là những chữ có vần điệu được ghi trên giấy. Chính vào lúc tôi qui định thế giới [bằng nhận thức của tôi], thì tính khả hữu của thơ được dấy lên. Toàn bộ cuộc hiện hữu chợt tuôn trào từ Suối Nguồn Thơ – tuôn trào thành một loạt không dứt những diễn giải, màu sắc, và sự uyển chuyển. Chúng ta hít thở cái tinh thần ngọt ngào có-tính-thơ vào mọi khoảnh khắc của cuộc sống chúng ta, vậy mà chúng ta nằm im lìm, ngái ngủ ở ngưỡng cửa thiên đường. Chỉ vì thiếu nhận thức đúng đắn mà chúng ta cứ trượt dài từ ngày này sang ngày khác, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, phải vật lộn với cái bóng ma không ngừng oán than về sự buồn chán và âu lo. Đã tới lúc để “chúng ta cần phải nhìn thề giới bằng cặp mắt mới. [5]
Dường như là không cần thiết hoặc thừa thãi nếu trình bày với các nhà thơ và những người say mê văn chương về mục đích và sức mạnh của “nhận thức có-tính-thơ”, vả lại điểm chủ yếu của bài tiểu luận của tôi là giải thích sự triển khai của một dạng thơ mới, mà nếu được thực hiện một cách kĩ lưỡng và có chủ ý, có thể có khả năng làm thức tỉnh cái “nhận thức có-tính-thơ” tuy là phổ quát nơi mọi người nhưng lại nằm im lìm từ rất lâu rồi.

Người ta phải tự hỏi: tại sao thơ đã mất đi vị trí trung tâm của nó trong nền văn hóa của loài người? Và đâu là số phận của nó nếu thế giới cứ tiếp diễn như hiện nay? Với những người Hi Lạp cổ đại, thơ là nguồn sống, là nhân tố quyết định đối với thực tại của họ. Lịch sử, tôn giáo, đức lí của họ, thảy đều được xem xét thông qua thơ. “Hình tượng về một thế giới hào hùng và về những đức hạnh cao cả dị thường mà mọi người Hi Lạp mang theo trong tâm trí họ và họ rất thường phấn đấu để mô phỏng qua những hành động của họ, thì đã được Homer tạo dựng nên.” [6] Một tác giả là Timothy Steele từng ghi nhận rằng “lí do khiến Plato quá đỗi bận tâm tới tác động của thơ về mặt đạo đức và xã hội là bởi trong thời của ông thơ được xem như phương tiện để truyền đạt tri thức nói chung.” [7] Nhà thơ và thơ là không thể thiếu vắng trong cuộc vận hành của xã hội Hi Lạp thời đó. Nhưng trong thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay thì thơ (trong dạng thức chủ yếu là bị nhận thức sai lạc) lại nằm trong bóng tối – bị phủ bụi và tàn úa bên một bờ rìa ngày càng co cụm trong một nền văn hóa toàn cầu. Một cách chậm rãi và dai dẳng, thơ bị đẩy ra khỏi nền giáo dục của chúng ta. (Trong các trường đại học thời nay, hiện âm ỉ một kiểu nhạo báng ngành khoa học nhân văn theo cung cách đầy vẻ phô trương — rằng ngành học này là cổ lỗ, chẳng đáng quan tâm. Khi học phí tại các trường đại học tăng lên, và mức thu nhập của các ngành nghề sau khi tốt nghiệp ngày càng trở thành yếu tố duy nhất quyết định sự chọn lựa môn học chính của sinh viên, thì vị thế của các ngành nghệ thuật ngày càng mờ nhạt.) Chúng ta là nhịp đập rộn ràng của một cơ thể chủ yếu là có-tính-thơ, sống trải thông qua sự sáng tạo, sự biểu đạt, và thông qua cảm xúc, thế tuy nhiên chưa bao giờ cảm xúc lại quá xa rời cuộc sống hàng ngày của chúng ta như hiện nay. Con người thời nay sống và cảm nhận một cách gián tiếp theo kiểu sống hờ, cảm nhận lây theo, qua một màn hình tivi hoặc màn hình điện thoại di động. Chúng ta không còn coi thế giới của phim ảnh và kịch nghệ, hoặc thế giới của nghệ thuật nói chung, như một biến thái hoặc phản ánh của thực tại của chúng ta. Một cách vô thức chúng ta nhìn nhận yếu tố có-tính-thơ trong một vài bộ phim hoặc truyện; yếu tố đó làm bùng cháy những cảm xúc nơi chúng ta; thế tuy nhiên chúng ta lại chọn lựa việc không nhận thức được tính-thơ trong lòng cuộc sống của chính chúng ta. Chúng ta sống trải cuộc sống đầy bi kịch, hài kịch, và đầy tính-thơ, tuy nhiên chúng ta lại không nhận thức được cái bi, cái hài, và tính-thơ đó. Và vì thiếu một nhận thức như vậy, nên chúng ta sống trong cảnh nghèo nàn.

Khi chúng ta trú ngụ trong thế giới của thơ, khi chúng ta sống trong thơ, là chúng ta sống trong thế giới của ý nghĩa; nói thế, là nói rằng chúng ta đã nhận ra, một cách sâu sắc và thường trực, rằng chúng ta, với tư cách những cá nhân, đảm nhận vai trò trung tâm trong công cuộc sáng tạo nên thực tại của chúng ta. Điều này trực tiếp liên quan tới sự kiện khách quan của cuộc hiện hữu của chúng ta, rằng chúng ta thảy đều sở hữu khả năng tùy nghi ban phát ý nghĩa và giá trị cho bất kì trải nghiệm nào của chúng ta. Chúng ta rất giống những nghệ sĩ sáng tạo nên thực tại của chính chúng ta, hơn là những món đồ chơi [playthings] trong một thế giới thờ ơ, lãnh đạm. Theo lời triết gia Tây Ban Nha José Ortega y Gasset thì “cuộc sống là một nhiệm vụ có-tính-thơ, bởi lẽ con người phải phát minh ra điều mà hắn dự tính trở thành.” [8] Lời tuyên bố đó tỏ rõ là có một trọng trách mà con người phải đảm nhiệm, rằng “tôi là bản thân tôi và còn là tình huống mà tôi sống trong đó.” [9] Tự do của tôi trải rộng khắp cái thực tại mà tôi trải nghiệm bởi lẽ “thực tại quanh tôi ‘tạo nên nửa kia của con người tôi.’” [10] Thế tuy nhiên ngày nay chúng ta chỉ sống kiểu cục bộ, sống không trọn vẹn, và sống một cách thụ động, giống như những khán giả đờ đẫn xem một vở tuồng chán ngắt, với chỉ nửa phần bản ngã của chúng ta dấn mình vào cuộc sống. Nghệ thuật, phim ảnh, thơ bị coi là biệt lập, là khác với thực tại của đời thường nhật; là cuộc sống của cái khác nhẹ hẫng, ảo, và lí tưởng [the airy, virtual, and ideal other]; đem so sánh, thì thực tại của chúng ta xem ra là tầm thường nhạt nhẽo và “nhàm chán”; bởi lẽ chúng ta không cảm nhận một cách có ý thức thông qua những cảm xúc của chính chúng ta. Trong cuốn Poetry and Experience (Thơ và Trải nghiệm), nhà thơ Mĩ Archibald MacLeish cho người đọc nhận ra cái thân phận u ám của con người hiện đại, và ông tin rằng khả năng cảm nhận của con người đó đang chậm rãi chết dần:

Cảm nhận một niềm xúc động thì ít ra cũng là cảm nhận. Trong số những tội chống lại cuộc sống, thì cái tội tệ hại nhất là tội không còn cảm nhận [not to feel]. Và có lẽ là chưa từng có nền văn minh nào trong đó tội vừa nói trên – tội lờ đờ uể oải, tội thiếu sinh khí, tội lãnh cảm, làn da lạnh như da rắn, với con tim băng giá – lại phổ biến cho bằng nền văn minh thời công nghệ kĩ thuật của chúng ta, mà trong đó những cảm xúc vô hồn [emotionless emotions] của đám thiếu niên thì được sản xuất hàng loạt trên những màn hình tivi, những cảm xúc kiểu đó làm cái việc cảm nhận thay cho chúng ta, và khát vọng sống của một phụ nữ bị bóp méo bởi những quảng cáo trên truyền hình thành niềm khao khát một loại bột giặt mới, dùng cho cả gia đình, không hại cho đôi tay của bà, như thể bà chưa từng sống thực. Đó là cái chết hiện đại không đau đớn: sự héo mòn bị thương mại hóa của con tim. Không ai trong chúng ta được miễn trừ cái chết đó… Nếu thơ có thể làm sống lại những cảm xúc đã tê liệt của chúng ta, thì sự hữu dụng hiển nhiên có-tính-người của thơ không cần được chứng thực gì thêm nữa. [11]

Cảm xúc là máu huyết của thơ. Nó là chất liệu thô của nghệ thuật. Và không một ai độc chiếm được cảm xúc và nhận thức. Bởi nếu là vậy, thì thơ hẳn đã mai một từ rất lâu rồi, vì không thích đáng và thiếu kết nối với mọi người. Thơ chính là phận người, là nơi chốn/cảm xúc/nhận thức trong đó chúng ta có thể có được thể tính của chúng ta.

Chính là ở thời này, đối diện với cái chết của cảm xúc, mà nhà thơ phải gánh vác một trọng trách chưa từng thấy. Diễm phúc thay kẻ nào còn biết cảm xúc trong một thời gọi được là thời của sự tê liệt. Cái chết của triết lí và của thơ sẽ tới gần, điều thật đáng buồn, nếu như tinh thần phổ quát nằm bên trong những hoạt động chủ yếu của con người không được tiếp sức sống và được định dạng lại thành một dạng lí thú hơn và trong suốt hơn. Những nhà thơ phải chia sẻ quan điểm của họ. Giống như một tấm gương triển khai thành nhiều phản ánh đa dạng, thơ phản ánh thực tại, làm giàu thực tại, và tạo ra những thực tại mới. Nhà thơ sáng tạo một bài thơ cũng như một người sáng tạo nên thực tại. Ý nghĩa được phả vào trải nghiệm. Người đọc kiên nhẫn và có ý thức có thể chợt thấy lóe lên một tia sáng trong thơ, là tia sáng từ cái thực tại hiện đương hoặc còn ở dạng tiềm tàng của người đó. Bài thơ phù hợp với người đọc, và người đọc phù hợp với bài thơ. Cả hai, theo một nghĩa nào đó, đang tìm kiếm lẫn nhau – như băng tuyết trên núi tan chảy tạo ra vô vàn dòng chảy xuống thung lũng. Như Khế Iêm đã viết,
Và như thế chẳng có giải thích nào là gần đúng hay đúng nhất. Bài thơ hay một tác phẩm nghệ thuật, có một ý nghĩa tự thân, và người đọc hay thưởng ngoạn, từ nhiều góc cạnh khác nhau, có những tiếp cận và cảm nhận khác nhau. Và có lẽ, chính những giải thích của từng cá nhân người đọc, là những giải thích đúng nhất (cho riêng họ thôi).

Từng người đọc riêng lẻ sẽ nhận thức được những nối kết sâu và không lời giữa thực tại đang diễn biến của chính họ với những từ, những âm, và những ý nghĩa còn đang lưu chuyển của bài thơ. Tôi biết rằng tôi thực sự yêu quí một bài thơ khi tôi không thể diễn thành lời rằng tại sao tôi yêu quí nó. Đúng là như vậy. Đối với vô số những người yêu thơ, điều đó nói lên nguyên cớ chính của tình yêu họ dành cho thơ. Họ nhận ra rằng thơ đổ tràn vào thực tại, rằng chẳng bao giờ có thể phát hiện được cái này (thơ/thực tại) khởi đầu ở đâu và cái kia (thực tại/thơ) chấm dứt ở đâu, rằng thơ là thực tại được biểu đạt. Nhưng đối với đa số quần chúng, thơ vẫn là cái bí ẩn. Cùng với sự ghi nhận toàn bộ điều vừa nói trong tâm trí, chúng ta hãy bắt đầu tiến hành một cuộc thử nghiệm trong địa hạt nghệ thuật.

Thay vì than vãn về sự qua đi của thời gian, về cuộc cách mạng công nghệ kĩ thuật, và về tiến trình toàn cầu hóa của thế giới, chúng ta hãy sử dụng chính những sự kiện và những điều kiện đó để mở rộng mối quan tâm và tính thích đáng của thơ thời nay. Thế giới này đã chin mùi (và đầy khao khát) cho một phong trào văn học toàn cầu. Cùng với sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng và của Internet, các nhà thơ giờ đây có được khả năng chia sẻ tức khắc những ý tưởng, những viễn cảnh, và những thực tại tới khắp mọi phương trời gần xa. Khái niệm thơ chuỗi, tức là một bài thơ do nhiều nhà thơ liên tục tiếp tay nhau thực hiện, do Khế Iêm đề xuất, có lẽ là dạng thơ thích hợp nhất trong thời đại toàn cầu. Một dạng thơ không vần sống động nhưng đơn giản chính là mạch dẫn truyền hợp lí cho một khái niệm như vậy. Thơ như vậy dễ dịch sang ngôn ngữ khác, mà vẫn giữ được dáng vẻ truyền thống của thơ, và được nói lên bằng thứ tiếng hiểu được một cách phổ quát. Ý tưởng cơ bản là phải có được một nhóm các nhà thơ được tổ chức tốt, họ sẽ phối hợp với nhau tạo dựng một câu chuyện duy nhất nhưng gồm nhiều bài thơ, được viết ra bởi nhiều nhà thơ – tạo thành một chuỗi mạch lạc gồm nhiều bài thơ.

Một khía cạnh quan trọng của dạng thơ do nhiều người cộng tác là sự sử dụng nhất quán ngôn ngữ thông tục. Đây là điểm chủ yếu để thơ có được một cử tọa nói chung là vượt ngoài phạm vi trường đại học. Cuộc sống và những cuộc đối thoại hàng ngày của chúng ta phải tuôn chảy vào thơ theo cách khiến ta không thể nhận thấy được. Từ Euripides tới Horace, và tới thời hiện đại của Eliot và Pound, thơ được viết ra chính là một cuộc tìm kiếm lâu dài và không ngừng nghỉ để cuối cùng nắm bắt lấy thực tại sinh động. Nếu lịch sử có một qui luật vững chắc nào, thì qui luật đó chính là cách mạng. Và thật lí thú, là những nhà thơ cách mạng – từ cổ đại tới hiện đại – đều nổi bật lên do “lòng khao khát hội nhập được vào thơ cái cách nói thông tục đương thời.” ‘[13] Như Timothy Steele đã viết về cuộc cách mạng hiện đại trong thơ (nhưng cũng áp dụng được với những cuộc cách mạng thời xa xưa do Horace và Euripides phát động), rằng những cuộc cách mạng cốt ở “một sự phản kháng chống lại cách diễn đạt chẳng chút liên quan tới ngôn ngữ sinh động.” Thêm nữa, hầu hết những nhà thơ cách mạng không chỉ khao khát “hội nhập lời nói thực vào thơ” mà còn muốn “hội nhập đời sống thực vào thơ”. [14] Điều này là rất đáng chú ý, và từ đó có thể biện luận rằng nó còn là yếu tố quan trọng nhất của những cuộc cách mạng văn học. Thực tại và ngôn ngữ thường nhật dường như không ngừng nỗ lực tự khẳng định là suối nguồn của thơ. Ford Madox Ford có viết: “Thà là tôi hiểu được đoạn thơ trong đó có những cảm xúc và có khung cảnh của một tay vô chính phủ ở Phố Goodge còn hơn là nghe lại những ca khúc do các ngư nữ hát.” [15] Trước Ford gần 1,900 năm, Horace từng viết trong cuốn The Art of Poetry (Nghệ thuật Thơ) – cùng chia sẻ một thái độ tương tự rất đáng lưu ý – rằng những nhà thơ cần phải “nhìn vào cuộc sống và những phong tục tập quán để tìm ra khuôn mẫu, và rút ra từ đó những ngôn từ sinh động.” [16] Bài học rút ra từ những cuộc cách mạng đó – như thể Tinh thần của Thơ đã nói lên và chỉ dẫn một cách tinh tế thông qua sự hình thành của lịch sử của nó – là bài học rằng thơ là thực tại và thực tại là thơ. Có lẽ nghệ thuật thơ là tiếng báo hiệu của cốt lõi của thơ. Đây là điều mà dường như lịch sử của thơ đã chỉ ra vì, một cách kiên định, nhất quán, thơ luôn “trở về với thực tại.” Một bà lão tốt bụng mô tả những nỗi đau và những niềm vui trong cuộc đời mình, rồi kết thúc câu chuyện bằng tiếng thở dài biểu lộ sự thất vọng cùng cặp mắt mở to u tối, bà cụ chính là nhân vật trung tâm trong vở Bi kịch lớn nhất và hấp dẫn nhất chưa từng được viết ra, tuy nhiên bà cụ lại rên xiết dưới gánh nặng ngày càng nặng thêm của cuộc hiện hữu, khiến bà cụ không thể có cái nhìn thấu hiểu thông qua nỗi đau. Bạn thấy đó, bà cụ còn việc phải làm, là phát hiện ra thơ trong lòng thực tại. Đây chính là nhiệm vụ mà tôi hi vọng là phong trào thơ cộng tác, vào thời điểm nào đó, sẽ cân nhắc để đảm nhiệm. Bằng cách phối hợp nhiều viễn cảnh có-tính-thơ khác nhau (rất nhiều trái tim, rất nhiều tâm trí, rất nhiều cặp mắt, cùng chung sức làm việc), như thế có lẽ rằng chúng ta có thể đạt tới sự hiểu biết rõ ràng về nhận thức có-tính-thơ, hoặc về cái nhìn có-tính-thơ vốn là phổ quát, chung cho mọi người.

Như đã được nói rõ ở phần trên, thơ trước hết là một cách nhìn, và rốt cuộc là một dạng nghệ thuật. Dạng thơ cộng tác có khả năng nhắc nhở người đọc về sự phong phú của cuộc sống thường nhật đồng thời làm nổi bật mối tương quan giữa việc sáng tạo thơ và sáng tạo thực tại. Trong trường hợp thơ chuỗi, toàn bộ bài thơ không phải là trải nghiệm hoặc viễn cảnh duy nhất của một “người thấu thị” đơn lẻ có tài năng, như lịch sử của thơ cho thấy, mà là biểu đạt của rất nhiều cặp mắt cùng nhận thức cuộc sống trong thơ và thông qua thơ. Những nhà thơ có thể được phú bẩm cái năng khiếu biểu đạt, chứ không phải là năng khiếu thấu thị – vì năng khiếu này là chung cho mọi người. Và điều đó, theo ý tôi, là chiều hướng thích đáng cho tương lai của thơ. Nếu “chân lí của thơ là vẽ nên cái hồn người đúng như sự thật”, như John Stuart Mill từng viết, vậy thì nguồn gốc của thơ, hoặc thơ trong dạng nguyên thủy nhất và có hệ thống nhất, thì nằm trong “hồn người.” [17] Một cách lí tưởng, người đọc có thể phát hiện tỏ tường rằng những chữ được viết ra, rằng tác phẩm chỉ là phản ánh được nói rõ ra, tràn ngập ý nghĩa – một phản ánh có hơi thở và có nhạc điệu – của một thực tại chủ quan tự tạo, rằng cái nằm dưới những chữ và những gợi ý mới là suối nguồn của khả năng cảm thụ của con người. Bài thơ được sáng tạo nên, và với thực tại thì cũng vậy. Cuối cùng thì những nhà thơ mặc sức tưởng tượng về nội dung của câu chuyện, của hư cấu; nhưng để phong trào thơ đó có được ý nghĩa và hiệu quả, chứ không phải rốt cuộc trở thành ánh le lói của một ngọn lửa cháy tàn, thì nó phải tiếp nhận một loại triết lí có-tính-thơ, một mục đích dẫn đạo, và tích hợp viễn cảnh đó vào trong tác phẩm. Chúng ta thảy đều có khả năng sống trải những cuộc sống tràn đầy cảm hứng, nhìn ra được cái siêu việt bên trong cái tầm thường, rút ra được chất ngọt ngào từ cái thường ngày; thế nhưng có sự kiện thật đáng buồn rằng đa số trong chúng ta sống theo kiểu trông chờ sự cố, ngày này qua ngày khác, đồng thời thường coi rẻ cái khoảnh khắc giữa hai sự cố, cái ‘lâm thời’. Với niềm ái mộ tới mức cuồng tín, chúng ta đua đòi theo cuộc sống của những ngôi sao thể thao, những nhân vật nổi tiếng – chúng ta bị phỉnh gạt bởi lòng tin nông cạn rằng những ngôi sao đó đã đạt tới tột đỉnh của sự phát triển của con người, so với họ chúng ta thấy cuộc sống thường nhật của chúng ta thì nhợt nhạt, vô nghĩa, và “tẻ ngắt”. Nhưng cuộc sống có-tính-thơ hoàn toàn tương phản với một cuộc sống vô nghĩa hoặc “tẻ ngắt”. Thật sự là có sự tự tạo ra ý nghĩa trong bất kì trải nghiệm nào – bởi lẽ mỗi trải nghiệm đều được tái định dạng thông qua phản ánh và kết thúc bằng một hồi ức được “sáng tạo” một cách riêng biệt. Trừ thực tại không kể, thì không có gì uyển chuyển cho bằng quá khứ. Dạng thơ cộng tác, để có được một mục đích và một phương hướng, phải nhấn mạnh, thông qua cách nói và nội dung của nó, vào tính trung tâm của cá nhân trong thực tại, vào cái giá trị không kể xiết của cuộc đời và những trải nghiệm thường nhật của họ, vào cái năng khiếu lớn lao của khả năng cảm thụ, và vào khả năng sáng tạo để ban phát ý nghĩa cho cuộc sống. “Mỗi cuộc sống là một quan điểm về vũ trụ,” Ortega đã viết thế. [18] Thật là một vị trí đáng quí trọng biết bao và là vị trí có một không hai mà từng cá nhân nắm giữ! Thế nhưng cái sức mạnh đồng hóa trong xã hội đương đại của chúng ta lại gia tăng nhanh chóng, trong khi giá trị của cuộc sống cá nhân – nghĩa là sự phong phú của trải nghiệm nội tại và chủ quan – dường như lại sút giảm tương ứng. Như Ortega từng viết, “Mỗi con người đều có sứ mạng nói lên chân lí. Nơi nào mắt tôi nhìn tới, nơi đó không có cặp mắt nào khác; cái phần đó của thực tại mà mắt tôi nhìn thấy, thì không một ai khác nhìn ra được. Không một ai trong chúng ta là có thể thay thế, chúng ta thảy đều là thiết yếu … Viễn cảnh [từ đó mỗi người nhìn ngắm] là một trong những bộ phận cấu thành của thực tại.” [19]

Chúng ta hãy khởi sự bằng một mục đích. Thay vì là những nhà thơ làm việc riêng lẻ, thì phong trào thơ cộng tác khuyến khích những nhà thơ thảo luận và chia sẻ cùng nhau những viễn cảnh có-tính-thơ duy nhất của từng người, và cuối cùng khuyến khích họ kết hợp thành một viễn kiến duy nhất, trong khi vẫn gìn giữ tinh thần sáng tạo cá biệt của mọi người tham dự. Đó chính là nỗ lực rút ra và định dạng cái tinh thần phổ quát có-tính-thơ – là cái phổ quát và chung trong tâm khảm của mọi nhà thơ (và cuối cùng, tuy là chưa được thể hiện, trong tâm khảm và trong tâm trí của mọi con người). Xét trong bản chất, là một nhà thơ, nhìn ngắm như một nhà thơ nhìn ngắm, có nghĩa là có điều gì đó có thể được hiện thân nhờ vào tác phẩm trong một dạng chung và được đồng tình. Điều này là không dễ thực hiện, và là rất mờ tối khi thơ được sản sinh chỉ do một nhà thơ. Hiển nhiên là có những dị biệt lớn lao giữa những nhà thơ, nhưng tôi tin tưởng rằng chúng ta thảy đều có thể đồng ý rằng có một nghĩa chung nào đó của từ “nhà thơ” mà nó đoàn kết mọi nhà thơ lại với nhau, và chính sự có cùng đặc điểm đó [that commonality] đòi hỏi phải có một tiếng nói vào thời nay. Nếu nhiệm vụ trong tầm tay đó được hoàn tất và đủ sức nhắc nhở ít nhất chỉ một cá nhân thôi, rằng yếu tính của thơ là yếu tính của thực tại chủ quan, và rằng rốt cuộc thực tại lả một sự chọn lựa, thì tôi sẵn lòng coi thử nghiệm đó là một thành tựu. “Một con người lớn lao không phải người có thể biến đổi vụ việc, mà là người có thể biến đổi trạng thái của tâm trí tôi,” [20] nhà Hiền giả thị trấn Concord đã viết thế.

Sự phong phú của cuộc sống là không kể xiết. Nếu chúng ta lưu ý tới lời khuyên của Socrates, và sống trải một cuộc sống có phản tỉnh, suy tư sâu sắc, và chịu tự xét lại mình, có thể chúng ta sẽ phát hiện được trước khi lìa đời rằng có biết bao điều đáng giá không kể xiết hiện diện bên trong tâm trí chúng ta. Chúng ta hãy nắm bắt lấy sức mạnh của khả năng nhận thức và tính dễ uốn nắn của thực tại! Cớ sao chúng ta cứ phải đi tìm những cảnh tượng hùng vĩ và xa vời trong khi có những đóa hoa huệ nở rộ ngay bên dưới cửa sổ phòng ngủ của chúng ta? Trong tư thế thường trực kinh ngạc sững sờ trước tính-thơ của cuộc sống, chúng ta có được khả năng nhìn ra thơ trong mọi sự thể, như thể mọi khoảnh khắc đều xứng đáng để có được (và ngầm đòi hỏi) bài thơ của nó. Thơ xét như một nghệ thuật, như một triết lí, như một nhận thức, có quyền lực để làm nên những điều lớn lao trong thế giới. Khúc Ca mà chúng ta cất tiếng hát sẽ không bao giờ được hoàn tất. Nếu bạn tin tưởng rằng điều chủ yếu khiến nhà thơ là nhà-thơ-đúng-theo-nghĩa chỉ là sở hữu riêng tư của nhà thơ đó, bạn hãy bỏ qua những điều tôi đã nói, coi chúng như những mộng tưởng hão huyền, những ý kiến chẳng đem lại kết quả nào. Hầu như thái độ của tôi có thể được đúc kết bằng câu trả lời của thi sĩ Mĩ William Stafford: Khi được hỏi rằng khi nào ông ta trở thành một nhà thơ, ông đáp lại bằng câu hỏi mạnh mẽ và gây đảo lộn này: “Đó thực sự không phải là vấn đề. Vấn đề là khi nào bạn không còn là một nhà thơ?” Có điều gì đó sâu xa và không thể dò ra được trong thơ, mà nó bắt nguồn từ tâm hồn, và nó vốn dĩ vừa là của tôi vừa là của bạn. Thế giới kêu đòi, như vẫn luôn là vậy, rằng phải có nhà thơ của nó – nhà thơ, người hạm trưởng trầm lặng và cung kính của thời đại.

Một trải nghiệm mới trong nghệ thuật vừa được khởi sự. Trước mắt là một chân trời mà lúc nào cũng là của buổi hừng đông, rải đầy những thực tại còn chưa được thể hiện, chúng ta hãy rong buồm ra khơi. “Thời khắc này, như tất cả mọi thời khắc, là thời khắc rất đỗi thích hợp, nếu như quả thật chúng ta biết là phải làm gì với nó.” [21]


What concludes as poetry is first perception. The ever-undefined essence of what is called “poetry” is not the private possession of a few gifted, creative, and insightful individuals. The poetic perception, the poetic sensibility, which is the necessary condition of the creating poet, is drawn from the bottomless depths of a universal human mindand spirit. We are all blessed to contain the Castalian Spring. What must be understood, and what has largely been forgotten is that poetry is not merely an art form; in truth, it is a manner of living and seeing. It is the heart dancing with the eyes.

The quality and richness of our lives is chiefly determined by the nature of our perceptions. When reflectively examined we discover that reality itself is mostly a choice. Poets do not merely produce poetry; they live in poetry. If the activity of living ceases to be a creative process, and degenerates into a dry, monotonous, and uninspired cycle, it is solely because we choose to live without the electricity of poetry. What I mean to say has very little to do with the art or technicalities of writing poetry. I am mostly concerned with what can be called the “poetic perception,” which ultimately evolves into and inspires the creation of poetry. There is the art and then there is the perception that precedes and shapes the art; it is the psychological pre-condition for artistic creation. In other words, the poet precedes the poetry; the artist, the art. It is not the writing of poetry that makes a person a poet; that is secondary—as the tree first blossoms and then bears fruit. This poetic condition or perception is, I argue, accessible to every single human mind. I am not making the argument that everyone has the ability to write poetry; I am stating that everyone has the ability to perceive poetically.If the underlying substance of written poetry exists in the collective world of experience, then we all live in poetry. We all possess, therefore, poetry’s raw materials. The poet is he or she who not only perceives the poetic in reality (which is a universal ability), but who also expresses or articulates “the poetic.”It must be stressed, however, that to perceive “the poetic” in reality as being “the poetic”—whilst it unfolds in our experience and takes shape in our memory—is solely a matter of choice, not ability. “Every man is so far a poet as to be susceptible to these enchantments of nature,”wrote Ralph Waldo Emerson, “For all men have the thoughts whereof the universe is the celebration.”

Why do we choose to stumble blind and poor from day to day, when the world is as malleable as the mind that perceives it? Consciousness flows through the self-created stencil of the mind—spreading, forming, and concluding as the reality we have chosen to realize. Granted, the world presents us with unalterable facts, yet we have the freedom—in all things—of interpretation. When life is lived consciously and poetically, the world conforms to the mind that perceives it. Where one sees beauty, another sees banality. The mind, the perspective, the approach to life is the great determinant. For the average, overly-entertained individual of our time, who spectates rather than actively performs life, the following words of Henry David Thoreau are quite awakening:

It is something to be able to paint a particular picture, or to carve a statue, and so to make a few objects beautiful; but it is far more glorious to carve and paint the very atmosphere and medium through which we look, which morally we can do. To affect the quality of the day, that is the highest of arts.

Perceptions are like the brushes used to paint our reality. We are all artists creating realities. And yet “boredom” and banality has become the malady of our times. Why do we seek the sublime and unusual and shun the everyday? Why do we secretly curse uncertainty instead of celebrating it? In a world ravaged by division, religion, materialism, drugs, and poverty; in a mind that has become the stale and crumbling duplicate of a billion other minds; never before has the world so desperately needed the nectar of poetry.

Too long has poetry been the esoteric interest of a marginal group. Due to a widely perceived disjuncture between poetry and reality (or art and reality in general), the majority of the public finds nothing nourishing or familiar in poetry. It is to them impenetrable and otherworldly. The modern mind is confined to the sterile realm of reason and classification; it is mechanical and calculating; it is constructed to see the world in terms of logical arguments. Yet our immediate experience of life (what poetry seeks to capture in the “cage of form,” as Lu Chi once wrote) is none of these rigid things: in a steady stream of fleeting experiences, reality flows in and out of us (sometimes roaring, sometimes whispering), without any inherent explanation, description, or direction. Burrow into the heart of any genuine poem and you will discover the world as it is immediately experienced by the mind—naked, emotional, and disorderly. The world is poetry unpackaged. There is no distinction between the essence of poetry and the essence of subjective reality (that is, the unique reality experienced by a human subject).“Poetry is a subjective and self-determining enterprise,” as is the reality we daily experience. We all partake of poetry; it, in a certain sense, animates our relationships and pervades our existence. What concludes as refined and formed poetry is originally drawn from the vast sea of human sensibility. The non-poet, one might say, is the dead man. Yet, poetry is widely considered the pastime of a talented and “artistic” few. It is vital to the longevity of poetry that this misperception comes to an end. Let it be known that the root of poetry lies much deeper than the physical production of rhythmic words on paper. The moment I posit the world the possibility of poetry surges. All of existence springs from Castalia—bursting forth in an endless array of interpretation, color, and fluidity. We breathe the sweet poetic spirit every moment of our lives, yet we lie dormant and sleepy at heaven’s gates. For nothing more than a lack of perception, we slide from day to day, moment to moment, contending with the ever-complaining specter of boredom and anxiety. It is time “we come to look at the world with new eyes.”

It may seem unnecessary or redundant to express the purpose and power of “poetic perception” to poets and literary enthusiasts, but the point of my essay is to explain the development of a new form of poetry which, if crafted carefully and intentionally, has the potential to reawaken that long-dormant and universal “poetic perception.”

One must ask oneself: why has poetry lost its central position in human culture? And what is its fate if the world continues as it does? For the ancient Greeks, poetry was the life-blood of their reality. Their history, their religion, their ethics was seen through poetry. “The image of the heroic world and of heroic virtues, which every Greek carried in his mind and which he often enough strove to imitate in his actions, was created by Homer.” As noted by the author Timothy Steele, the “reason that Plato was so concerned about the moral and social effects of poetry was that poetry was in his time regarded as a medium for the communication of knowledge in general.” The poet and poetry were indispensable to the functioning of Greek society. But in the world we inhabit today, poetry (in its largely misperceived form) lies in darkness—covered with dust and wilting in the ever-shrinking margin of a global culture. Slowly and persistently it is pushed out of our education. (There brews in the universities today a portentous ridicule of the humanities—as if they were archaic and deserving minimal attention. And as tuition costs rise and potential income increasingly becomes the sole factor in determining a college major, the arts will continue to fade away.) We are this breathing, pulsating, essentially poetic organism, that lives through creation, expression, and feeling, yet never has feeling been so distant from our daily lives. Today the individual lives and feels vicariously through a television or cell phone screen. We no longer see the world of film and theatrics, or art in general, as a variation or reflection of our reality. We recognize unconsciously the poetic element in certain movie or stories; it fires our emotions; yet we choose not to perceive the poetic in our own lives. We live tragic, comedic, and poetic lives, yet we do not perceive them as such. And for the lack thereof, we live in poverty.

When we inhabit the world of poetry, when we live in poetry, we live in meaning; that is to say, we acutely and constantly recognize that we, as individuals, play a central role in the creation of our reality. This is directly related to the existential fact that we all possess the ability to freely give meaning and value to any experience. We are more like the artists of our own reality than the playthings of an indifferent world. According to the Spanish philosopher José Ortega y Gasset, “life is a poetic task, because man must invent what he is going to be.” There exists a great responsibility in the statement, “I am myself and my circumstance.” My freedom extends into the reality I experience because the “reality round about me ‘forms the other half of my person.’” Yet today we live partially and passively like glazed spectators at a boring play, with but half of our selves engaged in life. The art, the film, the poetry, is seen as isolated, as different from everyday reality; it is the life of the airy, virtual, and ideal other; in comparison, our reality seems mundane and “boring”; we do not consciously feel through our own feelings. In his book Poetry and Experience, the American poet Archibald MacLeish presents the bleak condition of the modern individual, whose ability to feel, he believes, is slowly dying:

To feel emotion is at least to feel. The crimes against life, the worst of all crimes is not to feel. And there was never, perhaps, a civilization in which that crime, the crime of torpor, of lethargy, of apathy, the snake-like skin of coldness-at-the-heart, was commoner than in our technological civilization in which the emotionless emotion of adolescent boys are mass produced on television screens to do our feeling for us, and a woman’s longing for her life is twisted, by singing commercials, into a longing for a new detergent, family size, which will keep her hands as innocent as though she had never lived. It is the modern painless death, this commercialized atrophy of the heart. None of us is safe from it…If poetry can call our numbed emotions to life, its plain human usefulness needs no further demonstration.

Feeling is the blood of poetry. It is the raw material of the art. And no one person has a monopoly on feeling and perception. If that was the case, poetry would have died long ago for lack of relevance and connection. Poetry is a human condition; it is a place/feeling/perception in which we may have our being.

It is today, in the face of the death of feeling, that the poet bears an unprecedented responsibility. In an age of numbness, one is blessed to feel. The death of philosophy and poetry sadly approaches if the catholic spirit within these essential human activities is not revitalized and reshaped into a more palatable and transparent form. The poets must share their eyes. Like an evolving mirror of manifold reflections, poetry reflects reality, enriches reality, and creates new realities. The poet creates a poem as the individual creates reality. Meaning is breathed into experience. The patient and conscious reader may discover a glimmer of her present or potential reality in the poetry—reflected backwards in a meaningful form. The poem conforms to the reader and the reader conforms to the poem. Both, in a certain sense, are seeking each other—as melting mountain ice creates countless paths to the valley. As KhếIém has written,

There is no explanation that is approximately correct or most correct. A poem or an artistic production has meaning in itself, and the readers or the observers, from many different angles, perceive and receive it differently. Perhaps the explanation of each individual reader is the most correct explanation (for their specific case).

The individual reader perceives deep and wordless connections between their own evolving reality and the words, sounds, and fluid meanings of the poem. I know that I truly love a poem when I cannot articulate why I love it. It just is. For numberless lovers of poetry, this is the central reason for their love. They recognize that poetry spills into reality; that where the one begins and the other ends is never discovered; that poetry is reality expressed. But for the majority of the public, poetry remains enigmatic. With all of this in mind, let us begin an experiment in art.

Rather than bemoan the passing of time, the technological revolution, and the globalization of the world, let us use these facts and conditions to expand the interest and relevance of poetry today. The world is ripe (and longing) for a global literary movement. With the advent of social media and the internet, poets now have the ability to instantaneously shares ideas, perspectives, and realities from all corners of the world. The concept of string poetry or a sequential poem created by the hands of numerous poets, as propounded by KhếIém, is perhaps the poetic form most conducive to a global age. A vibrant yet simple form of blank verse is the logical vessel for such a concept. It is easily translatable, retains the traditional appearance of poetry, and yet speaks in a universally intelligible tongue. The basic idea is that a well-organized group of poets will collaborate on a single story composed of multiple poems, written by multiple poets—creating a coherent string of poems.

One important aspect of the collaborative poetry will be its consistent use of colloquial language. This is essential if poetry is to have an audience, generally speaking, beyond the university. Our daily lives and conversations should flow imperceptibly into poetry. From Euripides to Horace, and into the modern age of Eliot and Pound, written poetry has been on a long and unceasing quest to finally grasp living reality. If history has any one steadfast rule, it is revolution. And interestingly enough, revolutionary poets—from ancient to modern times—are distinguished by their “desire to incorporate in poetry the diction of contemporary colloquial speech.” As Timothy Steele wrote concerning the modern revolution in poetry (but which is equally applicable to the ancient revolutions sparked by Horace and Euripides), the revolutions consisted of a “protest against an idiom which had no relationship to living language.” Furthermore, most of the revolutionary poets not only desired to “integrate real speech” but also “real life into poetry.” This is highly conspicuous, and arguably, the most important element of literary revolutions. Everyday reality and language is constantly, it seems, attempting to reassert itself as the wellspring of poetry. “I would rather read a picture in the verse of the emotions and environment of a Goodge Street anarchist,” wrote Ford Madox Ford, “than recapture what songs the sirens sang.” Preceding Ford by nearly 1,900 years, Horace wrote in the Art of Poetry—sharing a remarkably similar attitude—that poets should “look to life and manners for a model, and draw from thence living words.” The lesson from these revolutions—as if the Spirit of Poetry subtly speaks and instructs through the formation of its history—is that poetry is reality and reality is poetry. Perhaps the art of poetry is the harbinger of the heart of poetry. This is what the history of poetry seems to indicate since poetry consistently “returns to reality.” A kind old woman describes the pains and joys of her life, and then concludes her stories with a despairing sigh and a pair of large, lightless eyes; she is the central character in the greatest and sweetest Tragedy ever written, yet she groans under the ever-increasing weight of existence, unable to see through the pain. You see, she has yet to discover poetry in reality. It is this task I hope the collaborative movement will consider, at some time or another, taking on. By combining various poetic perspectives (numerous hearts, minds, and eyes all working in conjunction), perhaps we may then portray a clear vision of the poetic perception, or the universal poetic eye common to all persons.

As previously stated, poetry is first a manner of seeing, and finally, a form of art. The collaborative form of poetry has the potential to remind its readers of the richness of daily life while highlighting the relationship that exists between the creation of poetry and the creation of reality. In the case of sequential poetry, the totality of the poem is not the unique experience or perspective of a single gifted “seer,” as has historically been the case, but is the expression of numerous eyes which all perceive life in and through poetry. The poets may have been granted the gift of expression, as should be clear, but not of seeing—for that is accessible to all. And that, in my opinion, is the worthy direction of poetry’s future. If the “truth of poetry is to paint the human soul truly,” as John Stuart Mill once wrote, then the source of poetry, or poetry in its most primitive and organic form, is in the “human soul.” Ideally, the readers may subtly discover that the written word, the composition, is merely the articulated and meaning-saturated reflection—a breathing and musical reflection—of a self-created subjective reality; that what lies beneath the words and intimations is the well-spring of human sensibility. As the poem is created, so it is with reality. Ultimately the content of the story, the fiction, is open to the imagination of the poets; but if the movement is going to have meaning and effect, and not merely become the final flicker of a dying flame, it must adopt a sort of poetic philosophy, a guiding purpose, and integrate that perspective into the composition. We all have the ability to live inspired lives, to perceive the transcendent in the mundane, to extract the sweetness from the everyday; but it is a sad fact that most of us live event by event, date by date, while mostly considering the interim a banality. With fanatic devotion we follow the lives of sports stars and celebrities—deluded by the shallow belief that these stars have reached a sort of human apex, whilst in comparison our ordinary lives are pale, meaningless, and “boring.” But the poetic life is the antithesis to a meaningless or “boring” life. There is self-creating meaning in every experience—for each experience is reshaped through reflection and concludes as a distinctly “created” memory. Nothing but reality itself is more fluid than the past. The collaborative form of poetry, if it is to have a purpose and a direction, should emphasize through its diction and content, the centrality of the individual in reality, the untold worth of their everyday lives and experiences, the great gift of feeling, and the creative ability to give meaning. “Every life is a viewpoint on the universe,” wrote Ortega. What a worthy and incomparable position the individual holds! Yet the force of assimilation in our contemporary society is rapidly increasing, whilst the worth of the individual life, that is, the richness of internal and subjective experience, seems to decrease correspondingly. As Ortega wrote, “Every man has a mission of truth. Where my eye is, there is no other; that part of reality which my eye sees is seen by no other. There is no substitute for any of us, we are all necessary…Perspective is one of the components of reality.”

Let us begin with a purpose. Rather than poets working in isolation, the collaborative movement encourages poets to discuss and share their unique poetic perspectives, and to eventually meld theminto a single vision, whilst preserving the individual creative spirit of all involved. It is to draw out and give form to the universal poetic spirit—what is universal and common to the hearts of all poets (and ultimately, yet unrealized, in the hearts and minds of all humans). In essence, what it means be a poet, to see as a poet sees (that thing referred to when the word is used), that is what can be embodied by the work in a general and agreed upon form. This is less easily done and considerably more opaque when poetry is produced by a single poet. There are of course vast differences between different poets, but I believe that we can all agree that there is some common meaning to the word “poet” which unites them all, and it is that commonality that needs a voice today. If the completed task at hand is capable of reminding at least one single person that the essence of poetry is the essence of subjective reality, and that reality is ultimately a choice, then I would consider the experiment a success. “Not he is great who can alter matter,” wrote the Sage of Concord, “but he who can alter my state of mind.”

The richness of life is incalculable. If we heed the advice of old Socrates, and live a reflective, thoughtful, and examined life, we may discover before we die what untold worth exists within our minds. Let us embrace the power of perception and the malleability of reality! Why must we go in search of the grand and distant spectacle whilst the lilies blow beneath our bedroom window? Permanently transfixed by the poetic in life, we have the ability to see poetry in all things, as if every moment deserved (and secretly demanded) its poem. Poetry as an art, as a philosophy, as a perception, has the power to do great things in the world. The Song we sing is never complete. If you believe that what essentially makes a poet a poet is only the poet’s possession, then discard what has been said, for it amounts to nothing more than day-dreams and fruitless opinions. Much of my attitude can be summed up by the response of the American poet William Stafford: When asked when he became a poet, Stafford responded with a powerful and unsettling question: “That’s really not the question. The question is when did you stop being a poet?” There is something deep and unfathomed in poetry that originates in the soul, which is as much mine as it is yours. The world cries out, as it has always done, for its poet—that quiet and reverent captain of the age.

A new experiment in art begins. With the ever-dawning horizon strewn with realities not yet realized, let us set sail. “This time, like all times, is a very good one, if we but know what to do with it.”