Trang chủ Blog Trang 39

Chùm thơ: Gyảng Anh Iên

Vietnamese New Formalism by Alden Marin

Giới thiệu Diễn Đàn thơ Tân hình thức Việt

Gyảng Anh Iên

BÚN RIÊU

Làm sao hắn có thể
hiểu bằng cách nào chiếc
xe đạp của mười năm
trước lại sộc vào trí
nhớ của hắn khi hắn
đang ngồi ăn bát bún
riêu bên lề đường mà
cách đây cũng đúng mười
năm hắn đã đạp xe
đến trường mà khi đó
bà bán bún riêu còn
chưa lấy chồng và béo
nầng nẫng như bây giờ,
đang đon đả chào khách
để mau chóng bán hết
gánh bún riêu khi cơn
giông buổi chiều đang lừ
đừ kéo đến trong trí
nhớ của hắn với chiếc
áo sơ mi trắng ướt
sũng mưa mà chiếc xe
đạp không còn biết lăn
bánh về đâu ngang qua
con đường hắn đang ngồi
ăn bát bún riêu của
mười năm sau và không
hiểu bằng cách nào hắn
đã ăn hết cả trí nhớ.


 TỔ KHÚC 5

Không cần một chủ nhật
buồn thì trời vẫn u
ám và ảm đạm như
bài ca của Thái Thịnh
đang văng vẳng trong chiếc
loa máy tính cũ kĩ
của một ngày thứ năm
trời vẫn nhiều mây như
thế đã không thể đánh
thức hắn sớm hơn cho
bất cứ một niềm vui
nào để hắn thôi ảm
đạm như bài ca giờ
cũng không biết là của
ai đang văng vẳng trong
tiếng phong linh treo bên
cửa vắng.


LẶNG KHÚC

Có lẽ mẹ không bao giờ
nghĩ cái chết là thiêng liêng như mỗi
đêm tôi ngồi sâu trong bóng
tối hút hết gói thuốc lá và miên
man nghĩ về sự sống và
cái chết sẽ bắt đầu rồi kết thúc
tại đâu khi tâm trí của
mẹ mỗi ngày chỉ quẩn quanh với bữa
ăn sáng ăn trưa ăn tối
và không bao giờ biết được mỗi đêm
tôi đã ở đâu trong bóng
tối và miên man nghĩ về điều gì
khác hơn là sự sống và
cái chết sẽ bắt đầu rồi kết thúc
tại đâu khi không kiếm được
số tiền cho mẹ chữa căn bệnh thấp
khớp vì quẩn quanh với công
việc nhà quá nhiều và không còn có
thời gian để nghĩ về sự sống
và cái chết là thiêng liêng thêm nữa …


VÔ SẮC

cô gái đứng bên
cột điện có ông
lão ngồi bệt phía
dưới cả hai đều
chìa về phía gió
một bàn tay không
rõ có màu sắc
gì trong chiều muộn
có dòng người vẫn
qua lại tấp nập
ngược xuôi chẳng ai
buồn để tâm đến
một hay hai bàn
tay cao hay thấp
đang chìa ra phía
gió không rõ có
màu sắc gì trong
đêm tối đã thưa
bớt người qua lại
ngược xuôi. có gì
lạ đâu những kiểu
xin ăn hay làm
tiền không màu không
sắc trong thành phố
này!


VÔ THANH

cuộc sống ngột ngạt như
đôi chân em sẽ xỏ
vào đôi giày mỗi sáng
để đến sở làm mười
sáu tiếng mỗi ngày chỉ
để nhận một đồng lương
đủ cho một cuộc sống
bình yên như bàn tay
em sẽ chỉ còn đủ
sức nắm hờ lấy tay
anh trong đêm tối mịt
mờ những hi vọng và
những cơ hội cho một
cuộc sống tươi sáng hơn
như ly nước suối không
kịp uống trong buổi sáng
em quên xỏ đôi giày
để đến ngồi nắm lấy
tay anh.


VIẾT CHO NHỮNG NỖI BUỒN VIỄN CŨ

Tặng Tú Trinh

ly cà fê cũng bắt đầu học
cách thơm ngậy hơn giữa một mưa
Sàigòn để kéo chân nỗi buồn
ngồi lỳ nơi quán vắng có cỏ
và có cả gió máy lạnh thổi
buốt thay mùa đông câu chuyện mỗi
ngày đi vòng quanh nỗi buồn viễn
cũ và bất tận khói thuốc bất
tận ngả đầu nơi góc riêng, có
cọng tóc nào triết lý về sự
bạc màu của gốc đầu nơi sinh
ra những nơ-ron bạc nhược để
thay em thay ta nhắn tin cho
nỗi buồn ngày hôm qua và hẹn
nỗi buồn ngày mai ở một quán
vắng khác có cỏ và có cả
gió máy lạnh thổi buốt thay mùa
đông. Câu chuyện cứ thế mỗi ngày
đi vòng quanh nỗi buồn viễn cũ
và bất tận như sự học của
ly cà fê về cách thơm
ngậy hơn giữa một mưa Sàigòn.


BÀI THƠ ĐIẾU

Em ạ có khi tôi
rất ngại phải bắt đầu
một bài thơ bằng cái
chết của một ai đó
đang khiến cả em và
tôi không kìm lại được
dòng nước mắt tự nhiên
trào ra như một cách,
chúng ta hồi tưởng lại
những kỷ niệm gắn bó
giữa em và tôi và
người đó giờ đây chỉ
còn là những thủ tục
cảm xúc mang ý nghĩa,
tiễn đưa cái chết của
một ai đó giờ đây
vẫn khiến cả em và
tôi không kìm lại được
dòng nước mắt tự nhiên
trào ra như một cách
mà có khi chúng ta
không còn ngại để
phải kết thúc một bài
thơ về cái chết của
một ai đó như thế
này.


NGOÁI ĐẦU LÀ ĐÊM

Những nỗi buồn sẽ lần
lượt bị ném mạnh vào
đêm để rồi sẽ bắt
gặp những nỗi chán chường
đã lần lượt bị ném
mạnh vào đêm trước đó
cả hai gặp nhau, mừng
mừng tủi tủi để rồi
sẽ lại đánh thức những
nỗi cô đơn vẫn còn
vết thương dù đã lần
lượt bị ném mạnh vào
đêm từ lâu đến bao
giờ em và tôi sẽ
kéo nhau xông xả vào
đêm để đi tìm hố
rác của tâm hồn mà
chúng ta đã lần lượt
ném mạnh vào đêm và
không một lần ngoái đầu
nhìn lại?


ETHIC

Ethic khóc gọi mẹ
khi ngoài kia khung cửa
là hơi mưa đã lâu
rồi mẹ không còn hiểu
mưa là gì trong mớ
khái niệm bập bùng của
Ethic trong khi nó
vẫn đang khóc gọi mẹ
vì ngay trên khung cửa
vẫn là hơi mưa bốc
lên từ nấm mồ đã
lâu rồi mẹ vẫn nằm
và không còn hiểu mưa
là gì trong tiếng khóc
mồ côi của Ethic.


NHẬT KÝ

ngày hôm nay đang dần
trôi qua nơi đâu trong
đêm tối chỉ còn mùi
khói thuốc bay lởn vởn
trong bộ óc trống rỗng
và không còn nghĩ ngợi
được gì như làm sao
để nhớ hồi ban sáng
đã ăn món gì để
buổi trưa lại cồn cào
cơn đói không tài nào
giải thích được vì đã
không hề đi lại tới
lui cũng như nghĩ ngợi
bất cứ điều gì trong
một buổi chiều trời cứ
chực mưa giông mà không
tài nào đi ra khỏi
căn phòng máy lạnh
để hít mùi khói thuốc
bay lởn vởn trong bộ
óc trống rỗng và không
còn nghĩ ngợi được gì
như làm sao để ngủ
qua một đêm sau một
ngày dài như mọi ngày
đến thế …


Tranh bài: Alden Marin

TUẦN THƠ 6: CHÙM THƠ NHIỀU NGƯỜI VIẾT

Shattered-Pride_Patrick Kramer
https://patrickkramerart.com/#archive
Hoàng Huy Hùng

MƠ MỘNG

Tôi cần một giấc ngủ ngắn
để tìm lại giấc mơ dang

dở những giấc mơ truyền kỳ
nhiều tập những giấc mơ đủ

kéo dài đời tôi thành những
khu khai thác mỏ thành những

xâu chuỗi chuyện kể rất mơ
hồ mơ hồ rất vụn vặt

vụn vặt là tôi cần tĩnh
tâm nạp thêm năng lượng bằng

một giấc ngủ ngắn để nhìn
ra được một bầu trời mới

trong trẻo cao vời có tôi
đang tắm táp qua một đại

dương và tôi cần làm mới
bằng một giấc ngủ ngắn một

cái chợp mắt mơ màng khoan
khoái mơ màng để có một

giấc mộng đẹp giấc mộng đẹp.


Hòang Huy Hùng

KÝ ỨC QUE DIÊM

Đời chúng sinh ra để đốt, đốt
để cháy, cháy để nuôi dưỡng những
ký ức bình yên xưa cũ những
bình yên linh thiêng trong ngăn kéo

cái bàn trong căn phòng yên tĩnh
trong ngôi nhà yên tĩnh một nơi
bình yên cổ kính xưa cũ nâng
niu đời chúng sinh ra để đốt,

đốt để cháy, cháy chúng là những
que diêm trong hơi ấm của hộp
diêm cháy, cháy lên những ngọn lửa
nhỏ nhoi ấm cúng mang đến niềm

hy vọng, hy vọng linh thiêng từ

những que diêm trong hộp diêm xưa

cũ chúng là chứng nhân của những

thời khắc tìm lại bình yên.


Hồ Đăng Thanh Ngọc

MƯA VÔ SỰ

tiễn anh HTQ

Anh hãy ngồi lại đây một chút
để uống ly cà phê sáng và
hút với nhau một điếu thuốc con
ngựa hôm qua anh ghé lấy tờ

tạp chí và sau đó anh đi mãi
đã không kịp đến thăm anh ở
khoa tai mũi họng hay khoa ung
thư bởi anh đi quá nhanh như

một chiếc lá rụng chỉ rơi một
lần tôi cầm trên tay chiếc lá
và đi thắp một nén nhang thắp
một lần rồi sẽ mãi mãi bởi

chiếc lá chỉ rụng có một lần
rồi thôi để lại nụ cười hơi
sương hiền như lá hiền như trái
tim anh đôn hậu giữa mọi người

anh ngồi lại một chút rồi đi anh
nhé mùa mưa Huế đang bắt đầu
với những sợi mưa đan kết hoài
niệm với những con đường hun hút
mưa … mưa …

Vô sự mưa…


Hường Thanh

GẶP

Tôi đã mời anh đến
gặp tôi ở quận ba
tôi hẹn gặp anh như
hẹn gặp người bán vé
số tôi gặp anh cuối
buổi trưa một buổi trưa
tôi chưa ngủ sau bữa
ăn ngoài đường dưới trời
Sài Gòn chúng ta gặp
nhau và ngồi nói tiếng
nói trong lòng tôi nhìn
anh khuôn mặt anh già
dặn với thân thể gầy
gò nhưng có một nụ
cười với cái nướu rộng
anh nói những điều trong
lòng trong con tim chứ
không nói trong não bộ
để khiến tôi bối rối
tôi nói tôi muốn đăng
thơ sau ba tháng im
lìm giờ gặp anh như
tôi được yên lòng một
chút để khi tôi bắt
đầu ra khỏi cuộc nói
chuyện anh đã bắt tay
tôi và tôi đi.

19.9.2013 – Sài Gòn

Khánh Hà

ĐIỆU NHẠC NĂM GIỜ

Đêm thức trắng nghe tuyết tan nhỏ
giọt tong tong từ mái xuống thềm
nhớ những đêm nằm ở Sài gòn
nghe mưa nhỏ tong tong từ máng

xối căn nhà thuê trong con ngõ
hẹp vách ván mái tôn ngày nóng
hừng hực đêm có thể trèo lên
mái nằm ngắm sao trời cửa sổ

lúc nào cũng mở lồng lộng gió
mới năm giờ sáng có người dậy
đi lễ tiếng guốc lộc cộc tiếng
chuông beng beng điệu nhạc lúc năm

giờ bây giờ ba chục năm sau
Sài gòn có còn con ngõ hẹp
còn căn nhà vách ván mái tôn
còn tiếng mưa nhỏ tong tong tiếng

guốc lộc cộc tiếng chuông beng beng

điệu nhạc lúc năm giờ có còn

ai nghe thấy ai nghe thấy ai.

Lê Hưng Tiến

BỨC TRANH ẢO

vẽ em lên đỉnh núi thì
em bờ cõi hư hư thực thực … thốc
vào ngọn nắng vô tình lảnh
cảnh thì con nước cũng dáo dác li

ti … vẽ em đồng điệu trên
sóng mắt thì dốc ngược hồn anh từ
phía chân trời khi định mệnh
là viền ruộng xa xa thẳm thẳm… nơi

dong dỏng bóng dáng nền mây,
lại vẽ em tóc mai lưng trời môi
hồng khe khe khẽ khẽ màu
nước, và ngực căng tròn chái núi thì

cảm anh lầm lụi hoài trong
sâu thẳm hồn em, có lẽ vì nét
mày chao nghiêng giữa miền thu
nên định mệnh em sương khói lòng anh …


Lê Hưng Tiến

SẦU LÊN KHƠI

Con ve ve ve ve vãn
vãn tiếng mi cong gùi lòng đất gùi
giấc hoang cất lên cánh hồng
đòng đong đòng đong nghe hơi thở nặng

nợ phù sa như con tu
hú tu hú gọi í a í a
vào mùa nhấc lên mảng chữ
không thời gian của trái tim bạc màu

và trĩu nặng nỗi đau có
thể bài thơ hỏi chưa chấm nên cuộc
đời lẫm chẫm cái có có
không không và có thể là mùa mùa

lưng gánh nên ve ve gọi

bầy bay và tu hú gọi mảy may

về khi chủ ngữ khơi lên

sầu thì cửa trong lòng mất khoảnh khắc …


Khế Iêm

MẸ KHỔ

Mẹ già đã gìa ngồi

còng lưng bên gánh hàng

rong nơi góc phố bụi

mờ những bước chân qua

mẹ chờ gì và mẹ

chờ ai không mẹ không

chờ gì và mẹ không

chờ ai ngòai nỗi buồn

canh cánh từ thuở khai

sinh mẹ còn gì và

mẹ còn ai không mẹ

không còn gì mẹ không

còn ai ngòai lũ con

đứa lang bạt kỳ hồ

đầu đường xó chợ đứa

vợ bỏ đi hoang lặn

lội tìm trầm nơi rừng

sâu núi thẳm một sớm

tin về xảy chân đã

thành thiên cổ không ai

nuôi mẹ vậy mẹ nuôi

ai mẹ nuôi lũ cháu

còn thơ mồ côi mồ

cút bữa đói bữa no

trong vòng tay mẹ bà

ơi bà ơi mẹ như

chiếc lá đổi màu năm

cùng tháng tận ngồi đây

kẻ qua người lại không

ai thấy mẹ mẹ không

thấy ai rồi một hôm

mẹ nghe lũ chim non

quang quác đầu nhà kêu

trong hoang sơ mẹ

không kịp về cơn đau

ập đến mang xác mẹ

đi đi đâu về đâu

bà ơi bà ơi ngày

đi vào đêm mẹ không

kịp về mẹ không kịp

về mẹ ngồi bên đường

mẹ ngồi chết khô bên

gánh hàng rong người đi

kẻ ở phố vẫn như

xưa chỉ không còn cuộc

đời mẹ khổ bà ơi

bà ơi đi đâu về

đi.


Khế Iêm

TIẾNG HÁT TỪ CỔ XƯA

Chàng thất lạc tới ngôi nhà
hoang phế những con đừơng dẫn lối xưa
như cỏ dại và chàng đẩy
cửa vào như cánh cửa đẩy chàng vào
căn phòng lờ mờ tím than
và chàng đọc trên bức vách những con
chữ ngoằn ngòeo bay ra mùi
ẩm mốc của thứ thời gian đặc lại
và lõang tan trong lớp bụi
bậm tự thuở nào còn văng vẳng tiếng
cười đùa trong cơn huyên náo
của tình yêu như tiếng reo ca của
dục lạc tiếng nước chảy trong
chiều hè và dòng sông nước mắt và
nước mắt dòng sông … chàng vỗ
trán trong khoảng khắc rất nhanh của trí
nhớ cánh cửa sổ mở thoang
thỏang mùi hương thiên lý chàng thất lạc
chàng trong khỏanh khắc rất nhanh
ngôi nhà chừng như đang lung lay trong
gió những trang sách rã ra
bình nước tan biến chiếc máy chữ gõ
lọc cọc lọc cọc và cùng
lúc có tiếng chân bước của rất nhiều
người và chàng nhận ra những
khuôn mặt của thời xa vắng lặng câm
như đồ vật như những chiếc
bóng đang bước vào ngưỡng cửa luân lạc
và ngôi nhà tưởng như chỉ
là ý niệm trong chốc lát nảy sinh
nơi tâm trí chàng thực và
giả lẫn lộn và chàng chợt nhớ nàng
và không biết nàng có nhớ
chăng chàng nhớ chàng đã đội cho nàng
vòng gai và dắt nàng lách
qua khung cửa hẹp ôi cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy nay đâu

“– Có lẽ con thuyền chẳng kịp
tới bến sông sớm mai – Chắc
hẳn – Và trên núi cao bình
minh – Chúng ta đã mất khá
nhiều hơi sức – Có bao giờ
và bao đời mỗi khoảng khắc
trong trái tim thanh xuân tiếng
đập của cô tịch – Thôi đừng
nói nữa chúng ta đã chẳng
còn nhiều thì giờ – Chúng ta
còn rất nhiều thì giờ mà –
Trong chiếc túi áo thủng những
giấc mơ rơi đâu. – Đừng nhắc
tới những cánh chim tha Hương
– Ôi những cánh chim muôn phương.”

Chàng dẫm lên cỏ khô lênh đênh như
cánh chim điêu linh và trong
nỗi khắc khoải chập chờn chuyến xe nhọc
nhằn của quá khứ chàng thấy
nàng đang trở về sau cuộc hành hương
tưởng chừng như hôm qua nàng
còn chải tóc và hong khô đôi môi
trong gió ấm và không có
gì đẹp hơn nụ hôn nàng trong đêm
ngọt như mật ong cứ như
thế chàng thức ngủ từng hồi nghe tiếng
nói đang kể về những bi
kịch dang dở và trong cõi chật hẹp
của chiều ngày chàng thì thầm
với vô vọng thấy lũ kiến đục khoét
cơ thể những trái cây mang
đầy độc tố những nụ hoa nhả ra
mùi hương mê chàng không thấy
nàng và chàng bước ra từ hầm lửa
nhập thành kẻ lưu dân rách
rưới chập choạng ở khoảng cùng trời cuối
đất cứ như thế chàng quanh
quất giữa những bờ tường còn nồng mùi
vôi mới cùng đám cư dân
nửa quê nửa tỉnh trôi nổi trong những
ngôi nhà được góp nhặt bởi
mảnh vụn của nền văn minh xa xưa
khắc họa nỗi ray rứt … chàng
đứng dậy xốc áo chàng đi tìm chàng
chàng là ai chàng là ai …
đừng tin điều gì về chàng hỡi những
kẻ có mặt trên thế gian
hãy gầy lại đốm lửa nghi hoặc nhưng

Nàng vẫn tin mọi điều về
chàng nàng đi tìm chàng chàng ra đi
và chẳng trở về như chàng
trở về rồi lại ra đi làm rộn
trí nàng đến nỗi nàng cứ
tưởng chàng chưa hề có mặt trên thế
gian này vả chăng thế gian
này là thế gian nào trong cơn bối
rối nàng ngợ ngợ nàng là
ai là ai giữa những cuộc đời khác
và những cuộc tình khác nàng
văng vẳng nghe tiếng thì thầm đã bao
lần của chàng rằng chàng mong
được sống trên một hòn đảo vô danh
lánh xa những phiền toái nghe
sóng vỗ kể về những số phần phiêu
bạt để mỗi đêm nằm mơ
thấy bầy sư tử bên bờ biển Phi
Châu mặc cho cảnh đời man
dã quyến rũ tâm hồn mình còn nàng
nàng chỉ là người tình buồn
mãi đứng bên lề của cuộc đời chàng

Nàng xót xa chợt nhớ đến
cha nàng đã bỏ nhà ra đi rất
sớm theo tiếng gọi của tình
yêu và mẹ nàng sau những năm tháng
khốn khó đến cuối đời trong
cái lầm lộn của tuổi già vẫn tin
người chồng của mình mỗi đêm
đều về rất khuya để nối lại mối
tình dang dở (ôi nỗi đời
ương dở) như điệp khúc thời gian rồi
một hôm có lẽ chán nản
với những câu chuyện cứ lập lại và
có thể cha nàng đã về
thật để rủ người bạn đời tham dự
vào một chuyến đi không bao
giờ trở lại bà đã đi một mình
trong đêm vội vã không kịp
trang điểm để đẹp như một hoàng hậu
đến nỗi nơi căn phòng trong
chiếc tủ còn chứa những loại nước hoa
phấn sáp và những kiểu quần
áo đã rất xưa thơm mùi long não
và nàng nhìn mẹ nàng nằm
tiều tụy và bất động nhìn những đồ
vật đã được chuẩn bị rất
lâu cho một giờ cuối cùng mà lòng
nàng se lại ôi sắc đẹp
mộng mị cũng chứa đầy mầm bội phản

“– Thế còn câu chuyện mùa xuân
– Quái – … Người ngồi bên sông kể
về thời dựng nước những cánh
chim bỏ ngàn – Những đứa con
xuống biển – Cảnh phân ly đã
có từ thời huyền thoại – Chẳng
lẽ – Cuộc ra đi là mãi
mãi như con nước xuôi – Mùa
xuân năm ấy những đứa con
cam đảm vượt qua đầm lầy
sông bãi tìm đường ra biển
hiện thực lời nguyền đã nằm
trong sách sử – Hà … Hà … – Mùa
xuân năm ấy có nguyệt thực
và đêm tối kéo dài bất
tận … – Những giấc mơ vỡ tan
và chia lìa … – Nhưng – Biển cả
đã gột rửa quá khứ – Và
hỡi những cánh chim phiêu lưu
cứ bay đi, bay mãi… “

Nàng ngã bịnh một căn bịnh
kỳ lạ nàng giả vờ sống như giả
vờ chết và trong tình trạng
nhập nhằng của tâm trí nàng không còn
nhận ra nổi con đường nàng
đang đi ngôi nhà nơi nàng ở và
chỉ trong đêm tối nàng mới
nhận ra được nhan sắc mình cứ như
thế hàng thế kỷ qua nàng
lang thang trong ngôi nhà rộng thênh ngạc
nhiên về sự vắng vẻ và
dịu mát nàng chập chờn ăn uống chập
chờn tắm rửa và hát ngợi
ca về những mối tình của cả ngàn
năm trước nàng nghĩ đến chàng
đằm thắm hơn nhưng là chàng của nhiều
hình dạng những cánh tay dài
ngoằng những bàn chân to bè và cho
chàng những khuôn mặt đủ kiểu
của phường tuồng chàng là tập hợp của
mọi giai cấp ở từng thời
kỳ cứ như thế trò chơi kéo dài
vô tận đã làm nàng quên
mất một chàng có thật chẳng còn nhớ
đến tên chàng và bóng dáng
chàng phai dần đã làm lành nỗi thương
nhớ nhưng lại làm nàng sa
vào tình trạng lẫn lộn những chiếc mặt
nạ chồng chất trong ký ức
nàng chẳng khắc họa đường nét rõ rệt
nào ngoài sự buồn cười rồi
nàng tâm sự và đùa bỡn với những
hình nộm ăn sâu vào thế
giới giả trang đánh mất cá tính xáo
trộn nếp sinh hoạt và không
biết mình là ai nàng quên cả chính
nàng ôi câu chuyện của chàng

“Và nàng còn dài nhưng người
kể không kể tiếp vì đến
đây câu chuyện chưa có thêm
tình tiết mới bởi cuộc đời
của chàng và nàng tự nó
đang diễn biến và kết cấu
để hòan tất câu chuyện và
mỗi câu chuyện hòan tất hoàn
tất khi đã cuối đời và
không ai có thể kể câu
chuyện không phải của mình ngòai
nhân vật đang kể và câu
chuyện không phải của mình nếu
kể đúng ra chỉ chứa nửa
phần sự thật nhằm giải trí
trong phút giây và câu chuyện
nhằm giải trí trong phút
giây thì có gì đáng kể
và như thế người kể còn phải
đợi chờ và đợi chờ không
biết đến bao giờ đợi chờ
và đợi chờ chàng và nàng
tiếp tục kể câu chuyện đời
mình và người kể sẽ thuật
lại và người đọc cứ đọc
lại những gì đã đọc trong
lúc đợi chờ … đợi chờ
gì và đợi chờ ai.”


Tranh: Patrick Kramer

PHÂN TÂM HỌC VÀ THƠ

PHÂN TÂM HỌC VÀ THƠ

Frederick Feirstein

Hơn vài mươi năm qua, một trong cách biện minh cho việc từ bỏ các kỹ thuật “hình thức” của vần luật và thể loại như truyện kể tuyến tính, đến từ sự hiểu lầm, theo phân tâm học, về đặc tính tự nhiên của vô thức. Vô thức được nhận thức như một thực thể hoàn toàn “tự do,” như trong tiểu thuyết tình cảm, người điên được coi là “tự do.” (Hiểu biết thông thường cho biết, người điên không được tự do, mà bị tù hãm bởi những bí hiệu, trong trường hợp này là ảo giác và ảo tưởng.) Khái niệm sai lầm về đặc tính tự nhiên của vô thức, bắt nguồn từ những nhà hiện đại thuở đầu. Khi sự hiểu lầm biến thành kinh nghiệm truyền lại cho người đi sau, nó được dùng để tấn công, cho hình thức là lừa phỉnh giả mạo trên tiến trình vô thức, chỉ nói riêng về nguồn gốc sáng tạo thôi. Nhưng các nhà phân tâm học cũng biết, từ dữ kiện bệnh nghiệm, những bày tỏ của vô thức “tự do” như thế, được tìm thấy trong chiêm bao và “những phối hợp tự do” (mang lại hiện tượng tự động viết) thật ra từ những ảo tưởng thường trực của vô thức. Không chỉ có dữ kiện bệnh nghiệm của nhà phân tâm học, mà gần đây các nhà chuyên khoa não bộ và các nhà nghiên cứu về chiêm bao dẫn chúng ta đến chỗ hiểu được rằng vô thức, khác xa với vô kỷ luật, giống như vũ trụ của lý thuyết hỗn mang và phức tạp. Nó có những điều luật riêng đưa đến trật tự, mà phải được huấn luyện để quan sát thì mới nhận ra. Chúng ta gọi là “những tiến trình chính yeu” của dời đổi và cô đọng, và cũng là những điều luật đã hình thành ẩn dụ trong thơ và tác động ẩn dụ trong truyện và kịch. Điều thật sự giải phóng chúng ta là học hỏi và áp dụng những điều luật này trong nghệ thuật, kể cả nghệ thuật phân tâm học là nơi mà tiến trình chính yếu bị lay chuyển dưới sức lực ngày càng lớn mạnh của tiên nghiệm và bản ngã.

Mỉa mai thay, phân tâm học, từng là trọng tâm văn hóa trong phần lớn thế kỷ vừa qua, đã bị phỉ báng trong nhiều năm gần đây bởi giới hàn lâm với cùng lý do họ phỉ báng thơ “hình thức” và thơ tính truyện. Chủ yếu, nghệ thuật phân tâm là một nghệ thuật có tính truyện, trong đó truyện đời của một người được lần giở ngược lại, như một bi kịch Hy lạp, từ hậu quả đến nguyên nhân. Câu truyện được diễn ra có kịch tính và biểu tượng trong sự chuyển nhượng mà người phân tích kinh qua, như những hữu thể khác và “vật thể,” thí du, người phối ngẫu trong phát triển tình cảm của bệnh nhân, cả hai đều có thật hoặc chỉ là tưởng tượng. Phòng mạch tràn ngập những ông cha và bà mẹ, anh, chị, em và nhiều bản cái tôi khác. Ảo mộng và vết thương đã giúp hình thành những cái tôi như thế và chủ quan hóa những thứ khác, hiện ra trong chiêm bao kể cho nhà phân tâm nghe, và trong sự phối hợp tự do giữa mộng và thực chất khác. Trong tiến trình chữa trị, truyện kể mở ra và ẩn dụ chính yếu phát hiện động lực của những cái tôi khác nhau, bệnh nhân dần nhận thức được rằng anh hay chị ấy đang sống cuộc đời song đôi: một đời có ý thức, đời kia là ảo ảnh trau chuốt và vì nó là vô thức nên tự lặp lại trong vô số cảnh tương tự, cấu tiết với nhiều tình tiết phụ, tất cả đều được hư cấu bởi đứa trẻ (trong tâm trí họ).

Tựa như nhà thơ tính truyện dùng tình tiết có sẵn để tạo nên tác phẩm, tâm thức dùng tình tiết tiêu biểu để tạo nên những ảo mộng vô thức, thường để đáp lại cho cả hai, ước muốn bị cấm đoán và chấn thương. Giống nhà thơ tính truyện, đứa trẻ (trong tâm trí) trau chuốt một cách sáng tạo những tiêu biểu này với các chi tiết lấy từ đời riêng. Trong quá trình chữa trị, bệnh nhân và nhà phân tâm rồi sẽ cùng nhau khám phá hoặc dựng lại những thứ tình tiết chất chứa ấy như vài thí dụ sau đây, mặc cảm Oedipus hoặc ảo ảnh sinh đẻ bằng hậu môn hoặc ảo mộng Cô Bé Lọ Lem, biến thành điều mà Jacob Arlow gọi là “thần thoại cá nhân,” dẫn dắt phần lớn sự hiện hữu của một người.

Tâm tưởng của đứa trẻ, từ cách tạo nên thần thoại cá nhân để tồn tại và sinh trưởng, chúng ta có thể suy ra nền tảng tâm lý cho những xung động có tính truyện. Trong khi chúng ta buộc phải diễn lại những ảo ảnh như thế suốt đời mình để thỏa mãn và thích ứng, thì một vài người tái sản xuất chúng thành nghệ thuật tính truyện. Suốt đời chúng ta tạo nên nhiều bản khác nhau của những thần thoại một cách vô thức để đáp lời cho từng giai đoạn phát triển và mỗi chấn thương mới. Sự làm lại thần thoại cá nhân của tâm tưởng song đôi với cách một nhà văn trưởng thành lặp lại và phát triển yếu tố tình tiết chính, đề mục, và mô hình của hình tượng qua toàn thể tác phẩm. Như tất cả mọi nhà văn đều biết, hành động thám hiểm những ảo tưởng một cách sáng tạo vừa giúp giải quyết mâu thuẫn nội tại vừa dẫn đến chiều sâu ngữ căn xa hơn. Khi chúng ta bị nghẽn sáng tác hoặc rơi vào sự lặp lại một cách ngán ngẩm, đó là vì có vài khía cạnh nào đó của mâu thuẫn mà biểu tượng vẫn chưa chạm đến được, thay vào đó lại dẫn đến những biểu tượng bí ẩn của triệu chứng, tự mô phỏng, và thỉnh thoảng ngã lòng. (Ngay lúc này, tái diễn những ảo tưởng trong chuyển nhượng tốt cho việc nghẽn sáng tác – giống như một nhà đạo diễn hay sẽ giúp nhà soạn kịch viết lại kịch bản; trong trường hợp này là kịch bản đời sống.)

Bởi vì thần thoại cá nhân dựa trên những thứ tiêu biểu, thí dụ chia sẻ chung những thần thoại, có tiếng dội giữa tác phẩm của người viết và độc giả hay thính giả là những người tự họ diễn lại thần thoại ngày đêm một cách vô thức. Khi đèn mờ dần trong rạp hát hay khi độc giả tạo nên một màn tối bao trùm quanh một tập thơ, một trạng thái tựa-như-xuất-thần có thể xảy ra, qua đó độc giả bước vào thần thoại của tác giả một cách cương quyết, tìm được an ủi và giúp đỡ cho mâu thuẫn nội tâm. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về đời sống nội tại của một tác giả ở tuổi niên thiếu, và vài người trong chúng ta, kinh nghiệm này đã biến họ thành nhà văn. Vì lý do nào đó, mù mờ đối với tôi lúc này, khi đọc Le Bateau Ivre của Rimbaud ở tuổi 17 lại có một ảnh hưởng mạnh trên tôi. Trạng thái xuất thần này là một thứ mà tiên nghiệm (phần tâm tưởng nối cả hai với vô thức và hiện thực thức tỉnh) trở nên linh hoạt một cách cuồng nhiệt và đồng bộ. Là người viết, chúng ta kinh qua điều này khi đang trong hứng sáng tác. Chúng ta cũng kinh qua thứ xuất thần như thế khi thực thi nghệ thuật phân tâm, nhất là khi người được phân giải bắt đầu nói một cách ẩn dụ với nhịp điệu thôi miên. Phân tích gia bước vào trạng thái đó một cách cảm thông, dùng tiên nghiệm của riêng họ, như một diễn viên có phương pháp, làm khi nhập vai. Kinh nghiệm thường xảy ra khi sự đối kháng với chữa trị (phản ánh sự phòng vệ vô thức) giảm đi, những huyễn mộng vô thức và biến chuyển của chúng ló dạng trên dòng tuôn chảy của phối hợp tự do và ẩn dụ.

Nhà phân tích, như tôi, từ buổi đầu lắng nghe để tìm những ẩn dụ này bởi vì chúng dẫn đến vô thức, tổ chức biểu tượng của nó phải được tái hoạt động để sự thay đổi lâu dài xảy ra. Người được phân giải dùng một hoặc hai ẩn dụ chính nhiều lần suốt quá trình chữa trị. Chúng thường xuất hiện trong những phê bình có vẻ bình thường về cái tôi hoặc về hiện thực, cũng như trong chiêm bao. Arlow tìm thấy, ẩn dụ chính thường dẫn ngược lại những huyễn mộng vô thức đại biểu cho ước muốn bản năng và sự đối kháng. Tôi đã viết về việc làm thế nào mà ẩn dụ chính đó dẫn trở lại chấn thương. Ẩn dụ đại diện cho bản ngã, chấn thương đối với bản ngã, và đáp ứng của bản ngã đối với chấn thương. Tâm linh thì thơ mộng trong việc bày tỏ một cách tiện tặn những kinh nghiệm khác biệt này. Nó dùng một ẩn dụ thôi để diễn bày lý lẽ nội tại đối với kinh nghiệm của một vài chấn thương, rất giống nhà thơ, viết một chuỗi nhạc tính, phối hợp những ẩn dụ chính để có một tính truyện tiếp giáp.

Những ẩn dụ diễn bày chấn thương thường xuất hiện ngay trong lần chữa trị đầu tiên như là cliché, không phải người ta chỉ dùng đến thứ tiêu biểu mà còn vì tiên nghiệm chưa đủ mềm dẻo để làm sống lại những cliché đó và biến chúng thành ẩn dụ thực thụ. Khi cuộc phân tâm thành công, chúng ta thường thấy cliché được cảm nhận sâu xa hơn và được dùng trong đoạn cuối chữa trị, hoàn toàn khác với cách dùng ở lần chữa trị đầu tiên. Và cũng vậy, thoạt đầu cái tôi được tỏ bày trong cliché là thụ động, đến cuối cuộc chữa trị, cái tôi trở thành môi giới tác động trong cùng một ẩn dụ. Như vậy, thí dụ, (tôi đã kể lại đầy đủ chi tiết trong “Trauma, Fantasy, and Psychosomatosis”), một bệnh nhân trong lần chữa đầu tiên đã tả cách anh ta kẹt cứng trong ám ảnh, bằng cách nói là anh đang ở trong “một chiếc xe chưa sang số chạy.” (a car in neutral). Giấc mơ đầu tiên anh ta kể lại, anh ngồi trong một chiếc xe thể thao không nổ máy được. Suốt quá trình phân giải, anh có nhiều giấc mơ liên quan tới nhiều chiếc xe, và chúng ta rồi sẽ biết là đại biểu cho nhiều bản cái tôi khác nhau của anh ta. Ẩn dụ xe thể thao xuất hiện trong giấc mơ sau cùng anh kể và vẽ lại gọn gàng sự thay đổi trong vô thức là kết quả việc làm của cả hai, tôi và anh ấy: “Tôi đang lái một chiếc BMW trắng. Tôi thắng giải xe trong một cuộc thi. Tôi đang lái xe trên đường với kính xe mở rộng. Ngày tuyệt đẹp. Tôi không bao giờ nghĩ được một chiếc xe có thể khiến tôi cảm thấy sung sướng như thế này. Đây là dấu hiệu của giàu có, mọi việc đều hanh thông, Fred. Tôi đang lái xe trên đường. Một chiếc BMW. Quả là tốt đẹp hơn tôi tưởng.”

Tiên nghiệm của người bệnh (mà Suzanne Langer gọi là “biểu tượng hóa biến đổi” (symbolizing transformer)) đã trở nên vững chắc bằng cách học hỏi và thực hành nghệ thuật phân tâm học. Anh ta hiểu được ẩn dụ xe hơi một cách rõ ràng đến độ ngay cả trong trạng thái chiêm bao nó cũng dội lại nhiều hơn. Tiên nghiệm của anh bền vững hơn, được tự do nhờ ngủ nên thoát khỏi hiện thực, bắt đầu chơi đùa với dạng thức khác nhau của ẩn dụ dành cho những mục đích mới – như một nhà thơ chơi đùa với ẩn dụ, lật xoay chúng để tạo nên ý nghĩa.

Tiên nghiệm của anh trở nên mạnh mẽ bởi chính hành động kể lại giấc mơ cho cả anh và tôi cùng nghe. Anh cho tôi biết, qua nhiều năm điều mà Ephron và Carrington đã tìm thấy trong nghiên cứu một số R.E.M chiêm bao – rằng trong lúc (sức khỏe tâm thần của) một người tiến bộ theo với phân tích, không những chỉ có biểu tượng trong mơ trở nên dễ truyền đạt mà tự chính giấc mơ cũng trở nên có nhiều tính truyện hơn. Trong tiểu luận lôi cuốn của họ, Ephron và Carrington chứng minh rằng nhiều người ở lần chữa trị đầu tiên, giấc mơ của họ không những rời rạc phân mảnh và/hoặc không mạch lạc mà còn thiếu cả nhân vật và không có kết cấu. Rồi trong lúc bệnh nhân dần bình phục, nhân vật xuất hiện trong chiêm bao cũng như tình tiết của nó; thể như họ đang học cách sử dụng những tiến trình tiên nghiệm của họ, rất giống một nhà thơ tính truyện sử dụng khi làm thơ.

Tôi thấy, không những người ta chỉ học cách sử dụng ẩn dụ, biểu tượng, và kể truyện trong lúc cùng thực hành nghệ thuật phân tâm với tôi mà họ còn học cách sử dụng hình thức, như một “nhà thơ hình thức” dùng cả hai vần và luật để tạo nên tác phẩm nghệ thuật, một phương tiện để thám hiểm hiện thực nội tâm. Những người dùng vần luật đều biết rằng phương sách này thay vì gò bó, nó lại giúp tạo nên trạng thái xuất thần đưa đến những đẳng cấp sâu hơn trong tâm tưởng của mình. Thí dụ, chúng ta biết rằng vần dẫn đến sự nối kết ý nghĩa mà ý thức thường không sao chạm đến được. Bởi vì vần hình như là một cách để kết tụ vài ngả phối hợp đến từ những huyễn mộng vô thức.

Một bệnh nhân của tôi, canh tân lối chữa trị cũng như trong phát minh bệnh lý học, tìm ra phương pháp phối hợp tự do có hiệu quả hơn là kể cho tôi nghe những giấc mơ hoặc nói bất cứ gì hiện ra trong đầu. Anh vặn mờ đèn phòng ngủ và viết xuống những vần anh đặt ra trên xấp giấy dài. Anh giữ những vần này cuốn theo nhau cho đến khi chúng đưa đến một chất liệu hãy còn lạ lùng đối với tiên nghiệm hay vô thức. Vần giúp anh nâng lên chất liệu vô thức từ những bó buộc của chế phục, làm anh ta trở nên khỏe mạnh hơn, và vần biến thành những bài thơ đơn sơ.

Trong lúc làm việc với anh, tôi tình cờ đọc một cuốn sách, bản in giờ đã hết, của một tác giả tài ba và không mấy nổi tiếng, Theodore Thass-Thienemann, ông đã tìm và chứng minh trong hai quyển, ngữ nguyên học là con đường vương giả dẫn đến vô thức. Trong phần mang tựa đề “Sound Association and Rhyme,” ông nói (và tôi nghĩ rằng rất đáng để chép lại nguyên văn cả đoạn):

Khi có sự phối hợp của âm thanh, cũng sẽ có sự phối hợp của ý nghĩa… Nếu ta xem xét… một hoặc vài khái luận về vần, ta sẽ tìm thấy lần nữa sự xác nhận không cố ý của diễn dịch tâm lý qua dữ kiện triết học… Thơ thời trung cổ ưa chuộng những công thức vần tiêu biểu. Những công thức này đã được khảo sát kỹ bởi vô số kinh nghiệm nói, cho đến khi chúng đạt được sự chấp nhận tiêu biểu chung; kết quả chúng thường trưng bày với sự phân loại đặc biệt những đặc tính riêng của vần. Trong thơ trung cổ Đức, vần tiêu biểu thông thường nhất là kết nối lip:wip (chữ Đức hiện đại là Leib: Weib, “body”:”woman” – tạm dịch “thân hình”:”đàn bà”). Tuy nhiên, chữ Đức Leib không phải chỉ có “body” và “body-self” trong ngôn ngữ không dùng nữa, mà còn là “womb” (tử cung); Mutter-leib, đúng là “mother-body,” nghĩa giản dị là “womb”. Vần này được lặp đi lặp lại, ám ảnh dai dẳng trong tất cả thơ trung cổ Đức. Trong “Parzival” của Wolfram có một trăm hai mươi ba lần, và những bài thơ khác cũng có con số tương tự. Đâu là lý do lặp lại cách dùng công thức vần này? Ta biết được từ thí dụ bệnh lý, những lặp lại như thế là sự tuôn chảy của cưỡng chế và lo âu. Phối hợp “Tử cung” – “đàn bà” là căn nguyên lớn nhất của đè nén nỗi sợ và lo âu. Và còn có nhiều thí dụ tương tự nữa.

Qua nhiều thế kỷ, cá nhân chủ nghĩa ngày càng tăng, những công thức vần tiêu biểu mòn nhẵn đến độ biến thành dấu ấn của thơ dở nhất. Mỗi nhà thơ tự trọng đều cẩn thận né tránh như một thứ cấm kỵ (taboos), nhưng nhìn từ quan điểm tâm lý, loại vần-cấm-kỵ bị né tránh trong thơ thế kỷ mười tám cũng phơi bày chẳng kém gì những hình ảnh tiêu biểu trong thời Trung Cổ. Tôi lựa một trong những vần không có gì đặc sắc này như một kiểm thử cho diễn dịch ở trên. Ở thời trung cổ tiếng Đức muot-guot-tuot-bluot (tiếng Đức hiện đại Mut, “boldness”-gut, ”good”-tut, ”does”-Blut, “blood”) là một công thức thường dùng; nó dường như giản dị nói, tính can đảm (của trái tim) là những việc tốt. Công thức này thành vần-cấm-kỵ tầm thường Blut-Mut, “blood-boldness, bravery”. Tôi chọn những chữ hợp vần Đức vì tiếng Anh tương tự, blood, boldness, không hợp vần với nhau. Tuy nhiên, nếu cả hai khái niệm này đi với nhau trong tiếng Anh, phối hợp này sẽ đi qua sự kết nối vô thức của ý nghĩa. Tuy vậy, trong trường hợp này, công thức hợp vần Đức cũng không phải chỉ là sự phối hợp âm thanh mà thôi. Nhìn đến ngôn ngữ của Shakespeare ta thấy blood and boldness, cho dù không hợp thành một phối hợp vần mang vẻ thu hút lẫn nhau. Shakespeare nói, “The world will say, he is not Talbot’s blood / That basely fled when noble Talbot stood.” Tuy là vần khác nhau nhưng sự phối hợp của những ý nghĩa riêng biệt vẫn có. Một thí dụ khác: trong ngôn ngữ Shakespeare: “Be bloody, bold and resolute”; hay “He is bold and blushes not at death”; hay “O the blood more stirs to rouse a lion than to start a hare.” Những thí dụ như thế sinh sôi nảy nở và tập hợp trong cả một ngữ vựng chứng minh rằng những phối hợp thanh âm là biểu thị của ý nghĩa.

Để kết luận, thể nói rằng những thí dụ này chứng minh, những ý nghĩa đáng ngờ đã được phối hợp trong Anh ngữ không có vần; hậu quả là, nếu chúng được liên kết bằng vần, như trong Đức ngữ, thì hợp vần ấy cũng được ước đoán là “hợp vần của ý nghĩa.” Luận thuyết này đã bị chối từ một cách mãnh liệt bởi thí nghiệm tâm lý học, nhưng lại được xác nhận qua diễn dịch chiêm bao.

Phối hợp thanh âm nảy ra vài lạc thú từ cái kho thích nhại tiếng người khác một cách tự kiêu, được kinh qua bởi đứa trẻ. Nó nảy mầm từ lớp vỏ ngôn ngữ vô thức đầu tiên. Nó chân thật với cái ngôn ngữ lãng quên của ảo tưởng vô thức. Diễn dịch phân tích cố gắng dịch ngôn ngữ ảo tưởng vô thức này ra ngôn ngữ nói bình thường. Vần là một trong những đặc tính của ngôn ngữ gần như lãng quên và không ai biết của ảo tưởng. (173-75)

Thass-Thienemann là người duy nhất trong số những nhà văn phân tâm học sử dụng những từ trong thơ để giải thích tâm tưởng hoạt động, tạo nên cả hai, bệnh lý và sức khỏe. Có bốn người (Susan Deri, Laurence Kubie, Henry Krystal, và Joyce McDougall) đặc biệt lưu tâm đến việc diễn tả những khuyết điểm trong việc dùng biểu tượng để dẫn đến bệnh lý, và sử dụng trôi chảy những biểu tượng bên trong tâm tưởng và giữa tâm tưởng với thế giới bên ngoài, giúp tạo nên sức khỏe (tâm lý.) Mô hình sức khỏe của Deri là người nghệ sĩ đang sáng tác. Khi chúng ta “mạnh khỏe,” tiên nghiệm chuyên chở biểu tượng qua lại giữa những tiến trình vô thức và ý thức. Khi chúng ta “bệnh hoạn,” đó là vì tiên nghiệm đã gắn liền một cách cứng ngắc hoặc với hiện thực hoặc tiến trình vô thức. Thay vì thương thuyết đời sống nội tại và ngoại giới với nhau bằng những biểu tượng cộng hưởng, tiên nghiệm lại dựa trên cliché và ký hiệu, ngắt đi ảnh hưởng và chỉ phát ra trong tác động ngẫu nhiên.

Như thế, khi chấn thương khốc liệt hay sự lặp lại xảy ra, theo đó là sự bất lực hiển nhiên, biểu tượng hóa ảnh hưởng mà tâm tưởng bị sốc đang dựa hầu như hoàn toàn trên những ký hiệu. Một cựu chiến binh Việt Nam tôi đã chữa trị, cố tìm cách đọc người khác qua cảm tính, để có thể có câu trả lời đúng, tùy theo trường hợp. Cách nói của ông, Krystal gọi là “thích nghi” – hầu như hoàn toàn thiếu sự trầm bổng. Khi tôi hỏi đến sự phối hợp với chiêm bao (ít có và rất đơn giản) thì ông thường cho biết một cách máy móc, nhiều chi tiết hơn, không có màu sắc nhịp điệu, giống như một đứa trẻ kể lại tình tiết của một cuốn phim.

Trong cuốn Plea For A Measure Of Abnormality, Joyce McDougall thấy sự hình thành của triệu chứng rất quan trọng trong việc giúp những tâm tưởng tê cứng đó sống còn – nhất là khi sự thay thế là căn bệnh trí mạng psychosomatic, thứ bệnh khi tâm tưởng tê cứng, đưa đến việc dùng cơ thể một cách câm nín để truyền đạt cái đau. McDougall giúp những người như thế tránh được hiểm nguy psychosomatosis với triệu chứng bảo vệ dựa trên lời nói của chứng loạn thần kinh. Một khi chứng loạn thần kinh hình thành, McDougall từ từ giúp họ mang cái tâm tưởng tự vệ đến sự thật và tiến trình biểu tượng hóa uyển chuyển mà chúng ta gọi là (tâm thần) mạnh khỏe.

Như hầu hết những nhà phân tích hiện nay, nhất là những người chú ý đến truyện kể hay biểu tượng hóa, McDougall cẩn thận không dùng phân loại chẩn bệnh để miêu tả con người. Thay vào đó, trong hai cuốn rất hay Theaters Of The Mind và Theatres Of The Body, bà dung hợp ẩn dụ rạp hát, cả hai cho sự thấu hiểu những thất bại trong các tiến trình biểu tượng hóa và miêu tả cuộc du hành nội tại mà bà và bệnh nhân trải qua để chữa trị:

Khi dùng rạp hát như một ẩn dụ cho hiện thực tâm thần, tôi hy vọng tránh được sự phân loại tâm thần căn bản của thực thể y học. Những từ này áp dụng cho triệu chứng chứ không phải cho con người. Để nói một người nào đó là “điên khùng” (neurotic), “điên loạn” (psychotic), “làm việc xấu” (pervert), hay “loạn thần kinh hủy cơ thể” (psychosomatic), nó chỉ hơn việc đặt tên một chút xíu, chứ không đủ để diễn tả sự thể phức tạp và tinh tế là cá tính con người. Nó không những chỉ nuôi ảo tưởng rằng chúng ta đang nói một điều gì thích đáng về một người nào đó, mà còn ám chỉ rằng phần còn lại của chúng ta đều thoát khỏi bi kịch tâm thần nằm dưới triệu chứng mà những từ này nói đến.

Mỗi rạp-hát-bí-mật trong ta… đều giao ước trong việc diễn lại những vai trong quá khứ, dùng kỹ thuật đã khám phá ra ở tuổi thơ và tái sản xuất, với sự chính xác kỳ lạ, cũng những bi hài kịch ấy, với chung cuộc y hệt, cùng lượng đau và lạc thú như cũ. Thứ đã từng cố gắng tự chữa nỗi đau tâm thần và mâu thuẫn giờ lại là triệu chứng mà một người lớn, ta làm lại nữa, theo sau những giải quyết thời con trẻ giờ đã quên. Cảnh kết cuộc phân tâm này có thể gọi là mất trật tự tâm thần hay tự tôn, ghiền hay làm việc xấu, tâm thần hay thác loạn thần kinh, nhưng chúng đều đến từ cái Tôi trẻ con cần tự bảo vệ để chống lại những nỗi khổ tâm thần (3-7).

Nhà phân tâm bước vào những bi kịch thi vị của người bệnh, một cách biểu tượng hóa, với quan niệm giúp họ viết lại bi kịch, để chúng không còn là những hướng dẫn vô thức cố định, gò bó đời sống. Để làm được việc này một cách an toàn, nhà phân tâm phải có một kiến thức sâu kín với “những cá tính nội tâm và viễn kiến riêng” đến từ sự phân tích và tự phân tâm lấy mình. Kết quả, nhà phân tâm phải phân giải hai người cùng lúc, người được phân tâm giải và ông hay bà phân tâm gia, với sự nhận biết toàn triệt rằng người được phân giải sẽ đưa cả hai trên hành trình, dẫn đến những nơi không biết trước và nguy hiểm cho cả hai. Trong mỗi buổi phân giải, sự việc cùng-chữa- trị sẽ xảy ra, nếu nhà phân tâm vẫn mở rộng tâm tình và không ngừng đặt câu hỏi.

Roy Schafer trong The Analytic Attitude gọi phân tâm học là “cuộc đối thoại” và tả nó như cuộc đối thoại tính truyện, trong đó câu truyện lẫn lộn và bao quanh về cái tôi, ta đã học để sống bằng cách đi lại kinh nghiệm ấy một cách tích cực trong sự chuyển nhượng và làm lại một cách khó khăn, thể như thế giới tính truyện của một nhà thơ sẽ là thế. Schafer nói rằng,

Người ta trải qua cuộc phân giải – người được phân giải – kể với nhà phân tâm về chính họ và những người khác trong quá khứ và hiện tại. Trong lúc làm việc diễn dịch, nhà phân tâm kể lại những câu truyện này. Trong lúc kể lại, vài đặc điểm được nhấn mạnh trong khi những đặc điểm khác được đặt trong ngoặc đơn; vài đặc điểm được phát triển xa hơn, có thể thông suốt từ đầu tới đuôi. Việc kể lại là một đường dọc theo phân tâm học… sự phân chia trong nhà phân tâm và người được phân giải không cung cấp được vì cường độ ngày càng tăng, trong đó người được phân giải dần biến thành nhà đồng phân tâm những vấn đề của anh hay chị ấy và, trong vài liên quan nào đó, kể cả vấn đề của nhà phân tâm. Người được phân giải, chính thị, biến thành người kể truyện gan dạ và đáng tin hơn. (210-20)

Trong phần kết luận, chúng ta có thể nói rằng mục đích tối hậu của phân tâm học giúp người ta tự chữa bằng cách giúp họ trở thành những nhà thơ tính truyện hay hơn – với một khả năng tập quen để đổi những biểu tượng bí ẩn của triệu chứng ra ẩn dụ, và viết lại xung động và mục đích của những nhân vật nội tại của họ như thế nào, để tình tiết của đời sống có thể thay đổi tốt đẹp nhất, tùy theo hoàn cảnh thực tại cho phép.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

Trong cuốn “After New Formalism” của Annie Finch

TUẦN THƠ 49: SẦU RIÊNG

0
Chu Thụy Nguyên

TRANH LẬP THỂ PICASSO

Người phụ nữ trong tranh lập thể của
Picasso bỗng bước ra khỏi khung
tranh đầu hình thang đáy lớn đáy nhỏ
là cằm trong tòa lâu đài cổ vắng
lặng bỗng vang động “echo” tiếng chân
ả nặng nề khô khốc vừa chạm xuống
nền nhà một tròng con mắt lộ hẳn
ra ngoài tô đậm nỗi hằn học con
mắt kia dẹp lép như chiếc đĩa phẳng
ngực hình tam giác không đều không cân
nhọn hoắt bụng bầu dục lỗ rốn hình
vuông hai cánh tay xoắn như cặp lò
xo khòng khoèo giống hai ổ bánh mì
baguettes ả bước khập khễnh chân thấp
chân cao một chân co lên đặt xuống
một chân kéo lê mỗi bước như một
dấu chấm phẩy ốm như hai ống nứa
một dài một ngắn vừa xuống đến tầng
trệt tòa lâu đài ả bứt hết quần
áo ném lại tung tóe thân thể trần
trụi nổi bật làn da màu gỗ gụ
hai bầu vú đen bóng nhọn cứng ù
chạy ra đường phố sầm uất về phía
ngôi mộ Picasso gọi giục giã
đánh thức lão dậy một lúc sau nắp
ngôi mộ mở ra xác một ông lão
gầy xọp tóc bạc phơ từ từ ngoi
đầu ngồi lên nhìn kỹ ả thều thào
“Nàng chẳng phải là nguyên bản của ta
nàng chỉ là tranh chép!” Nói rồi lão
biến đi như sợi khói! …


Biển Bắc

SẦU RIÊNG

Lần đầu tiên khi ăn phần
sầu riêng mẹ tôi tách ra trái sầu
riêng mang nặng ở chợ về
cho tôi cùng với câu chuyện về trái
gai góc này đêm nào rớt
xuống đầu người ở đợ để lại vết
thương nâu sậm để lại trong
tôi ấn tượng sâu đậm đà khi lần
nào yên ăn phần sầu riêng
cũng đều có hương vị của lần đầu
tiên pha lẫn lần này là
mùi vị đặc thù của mỗi lần mỗi
người ăn và như vậy là
tùy ấn tượng về sầu riêng nên có
người mê cũng có người chê
mùi trái gai góc này đấy bạn ạ …

(đầu 2, không 10)

Bỉm

TỦN MỦN

ở góc đó em ơi
những con mèo đang nghịch
và leo trèo trên cây
chúng không trò chuyện, không
có một bông Quỳnh trắng
ngây thơ nào hết anh
uống nước cà rốt ép
và hút thuốc lá ở
cái quán cafe chúng
mình đã ngồi quán ca –
fe mình anh ngồi cơn
mưa ngoài trời không đủ
ướt những con mèo lặng
lẽ im lìm giữa bốn
bề tường dựng em ơi
không một bông Quỳnh nào
nở bên anh và ly
nước cà rốt ép những
chiếc ghế lạnh những con
mèo không trò chuyện chúng
leo cây và nghịch những
chiếc lá khô.

Sàigòn chiều 11/08

CẠN ĐẦY VÒNG QUANH

năm hoặc hơn năm ly
trà đá hẻm bốn bảy
cạn rồi đầy rồi cạn
tới khi những cái miệng
ngậm chặt sự im lặng
bao quanh tiếng xe cộ
tiếng rì rầm người lố
nhố năm hoặc hơn năm
ly trà đá không thể
bốc hơi mà chỉ thể
cạn rồi đầy rồi cạn
tới khi những cái miệng
ngậm chặt sự im lặng


Đài Sử

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ CUỐI CÙNG CỦA MỘT DÒNG HỌ

những người đàn bà cuối cùng của
một dòng họ họ xếp hàng theo
chiều ngang thời gian và nói bằng
ngôn ngữ lặng những đàn bà của
một dòng họ những người đàn bà
có là cuối cùng những người đàn
bà đi về theo cách riêng của
mỗi người đôi mắt mờ đục

người đàn bà thứ nhất

bà người đàn bà thứ nhất người
đàn bà lớn tuổi nhất tìm những
dấu vết rất cũ trên những người
đàn bà còn lại mang cùng một
họ những ý nghĩ đi từ người
này sang người khác và dừng lại
nơi ngôi mộ cổ hoang vắng lũ

soeur

chim về đậu nóc giáo đường tiếng
cù rúc trong chiều lặng lời nguyện
cầu âm vang người đàn bà thứ
nhì đôi mắt lòa vô hồn khoác
chiếc áo dòng tự hồi con gái
những giọt nước mắt những tiếng khóc
vô tình được chôn sâu và người
đàn bà thứ nhì thờ phụng chuá
cùng người bà thương yêu vô cùng
ông là cha của một dòng giáo
xứ người cuối đầu trước một mối
tình chân nguyên đã ra đi mãi
tự năm trước khi những bông tuyết
đầu mùa vừa nở chuông giáo đường
nghe nhẹ lênh thênh những cây nến
được thắp vào đêm sáp chảy dọc
thân nến và bám lại những hình
thù kỳ quái chập chờn trong ánh
đèn nhà thờ mờ vời vợi người

người đàn bà thứ ba

đàn bà đẫy cười vỡ tiếng cười
mang máng mùi lá uá điệu mozart
sâu rền khóc bằng tiếng cello lạc
thổ ngữ xứ người người đàn bà
thứ ba với hạnh phúc đếm bằng
đơn vị đêm đèn vàng rượu đàn
ông tiền và một cái họ mờ
trong tâm tưởng nhưng lúc nào cũng
như những ngọn roi quá khứ quất
vào hiện tại những tiếng thở than
quay về với người đàn bà thứ
ba khi đèn sân khấu tạm đóng
lại những chuyến bay đưa người đàn
bà thứ ba trở về ngôi mộ
cổ hoang vắng luôn có một ghế
trống không người đàn ông nào ngồi
vào để lấp cái trống vắng đó

người đã mất

vẫn còn con gái chưa một lần
lấy chồng người đàn bà nhoẻn miệng
cười âm thầm và đẹp mãi trong
khung hình trắng đen người đàn bà
với vóc dáng nhỏ chông chênh như
chiếc thuyền nhỏ ngày nào trên biển
chông chênh một lần rồi thôi người
đàn bà trẻ mãi với tháng với
năm những u ám của biển những
sự độc ác của con người không
hiện hữu trên khung hình trinh trắng
của người đàn bà mùa đông không
người đi về và người đi xa
như mọi năm đông năm nay cóng
lạnh hơn tuyết tan tác trắng đến
tận những vùng ký ức xa mù
những cọng nắng lập loè vương vất
những người đàn bà họ lại gặp
nhau bên kia bờ đại dương những
người đàn bà cuối của một dòng
họ họ tiễn đưa người đàn bà
thứ nhất đi về nơi sau cùng
cái nơi mà mọi người sẽ lại
gặp nhau cái nơi mà những xấu
xa không tồn tại hai khung hình
một gìa một trẻ hai người đàn
bà hai thế hệ chiếm một góc
khiêm tốn trên chiếc bàn thờ của
người đàn bà thứ nhì có tượng
chúa bị đóng đanh trên cây thập
tự thời gian làm rỉ máu họ

cầu nguyện

cầu nguyện họ đọc kinh của chính
họ những lời kinh lời đi về
của những người con lên núi và
xuống biển ngày nào họ mang chung
một dòng họ một dòng họ của
những chia cách một dòng họ của
những mất mát một dòng họ của
những hận thù cắng đắng và chính
họ những người đã viết ra những
lời nguyện ước những lời bội ước
vào thánh kinh của một dòng họ

người đàn bà cuối cùng

những dòng nước đổ dồn xuống mặt
đất trời mưa sùi sụt chồi xanh
bục ra từ những cành khô bật
thức dậy những sự sống nhỏ nhoi
người đàn bà nhìn xuyên qua khung
kính cửa sổ trong suốt bóng người
đàn bà vượt ra khỏi thân xác
băng qua khung cửa và tận hưởng
cái tinh khiết cái vô cùng của
đất trời của tạo hoá


Đòan Minh Hải

CHÂN GIÓ

Mỗi người chỉ có hai chân hai chân
bước đều hay hai chân đều bước có
khi chân này bước mà chân kia lui
và chân này lui nhưng chân kia bước
Nhiều lúc đang đi chân trái bỗng muốn
ngoặt về phải và chân phải quẹo hẳn
về trái cũng có lúc chân phải bước
sang chân trái và chân trái lại cứ
Bước sang phải có khi đang bước thì
chân phải bảo ngừng mà chân trái cứ
bước và khi chân trái đã ngừng lại
rồi mà chân phải không ngừng được …
Rồi cũng có lúc hai chân muốn ngừng
mà vẫn cứ bước rồi cùng bước đều
và đều bước và cũng chỉ có hai
chân thôi mà đôi khi chân này dẫm
Lên chân kia và chân kia đạp lên
chân này cứ thế mà nhào đầu chổng
đít lên trời …

Tặng anh Khế Iêm

Đòan Vương

NỤ CƯỜI ĐỂ LẠI

Tôi cũng có một câu
Chuyện về một người đàn
Bà nó không ồn ào
Lao xao như câu chuyện
Về người đàn bà mà
Các bạn vẫn kể người
Đàn bà tôi kể và
Chứng kiến rất thầm lặng
Sau mỗi nụ cười nụ
Cười vẫn tươi nhưng không
Thể làm tươi cuộc sống
Của người đàn bà tôi
Kể sự thầm lặng như
Những kệ hồ sơ vẫn
Im lìm mỗi ngày trên
Kệ gỗ trong căn phòng
Vẫn chật chỗ những kệ
Gỗ nối tiếp nhau ngày
Tháng vẫn trôi mau bút
Tích vẫn cứ lưu đày
Trên kệ gỗ và nỗi
Lòng không có chỗ
Chứa đựng những ước mơ
Bởi đồng lương nhà nước
Cứ chờ đến tháng nhận
Rồi là hết ngày lại
Ngày qua không kể hết
Những sự chi tiêu cũng
Làm trĩu nặng đôi điều
Hoài bão là sự hão
Huyền nặng lòng khi người
Đàn bà chợt nghĩ về
Hoài bão từ cái thời
Còn là thiếu nữ cứ
Tích tụ rồi lại im lìm
Im lìm như những dòng
Chữ trong những công văn
Quyết định … nằm trên kệ
Gỗ kia vẫn chung tình
Theo năm tháng đi qua
Với cuộc đời của người
Đàn bà làm công tác
Lưu trữ hồ sơ trong
Văn phòng nhà nước những
Mơ ước đời mình người
Đàn bà lại hy vọng
Đến đời các con làm
Mỏi lòng mong đợi trong
Thầm lặng cuộc đời người
Đàn bà tôi kể dẫu
Mỗi ngày làm việc không
Thể thiếu nụ cười nhưng
Nụ cười không thể làm
Tươi cuộc sống của người
Đàn bà mà tôi đã kể.


Đỗ Kh.

BÀ QUẢN GIA

Chào Khiêm đã nhận được hình và
điện thư thấy rất đẹp và buồn
Thật ra không có buồn nhưng rất
riêng tư thành thử chỉ có thể
là đọc giả nhưng người đọc bao
giờ cũng riêng có ý xem một
Truyện về confetti bị đánh
mất trên một con tàu biển tự
hỏi (không biết Cameron có
đánh cắp để dùng cho Tita
Nic) hôm nay mất một bức tường
tự hỏi (trong nhà có chăng thừa
nhiều vách) tự hỏi ở cửa hàng
bánh mì (sao bà hàng lại trông
Giống như một cái bánh ngọt vẽ
vời) tự hỏi mọi người đều có
thấy mọi thứ như là một loài
thông điệp mặc dù rất khó biết
Nó muốn nói gì tiến trình của
những kết luận hay: ai cũng có
thể nghĩ này nghĩ kia và nghĩ
thế nào cũng chẳng có gì đáng
Để ý “nhưng suy tư này không
trong tầm của bà quản gia và
do thế không được khai triển với
những thành quả gặt hái có thể”
Tôi tự hỏi là (nếu đời anh
là một tiểu thuyết thì đã đến
lúc bắt đầu nên viết) Bích Nga

10/12/00

Gỷang Anh Iên

QUẢ XOÀI ÂM MƯU RƠI VỠ MỘT (NĂM) LY TRÀ ĐÁ

Khi tôi ngồi ở hẻm
47 và gọi một
ly trà đá tôi nghe
tiếng nước sôi đang nguội
và tiếng chiếc xe hơi
to vừa đủ bắt chúng
tôi đứng lên nhường lối
để phải ngừng uống ly
trà đá giờ đây nghe
được tiếng đá tan trong
cái sắc vàng vọt của
bóng nước phản chiếu quả
xoài chín mục đang âm
mưu rơi vào đầu tôi
hay chúng tôi khi định
tiếp tục gọi thêm nhiều
hơn năm ly trà đá
giờ đây đã nghe tiếng
rạn vỡ từ sâu bên
trong lòng con hẻm 4
7 giữa tiếng bùng nổ
của những ùn tắc vởn
quanh trong lòng phố sài
gòn.


Hạc Thành Hoa

NHỮNG VIÊN KIM CƯƠNG CỦA BẦU TRỞI

bất ngờ rớt xuống từ
những đám mây màu chì
tích tụ khói đèn bao
nhiêu năm như sao rơi
sao rơi in trên cát
những đóa quỳnh không thực
tôi bàng hoàng khi chạm
vào những hạt mưa chạm
vào sức nóng đôi môi
chạm vào cái lạnh bầu
trời ôi những viên kim
cương bảy sắc cầu vồng
vừa chạm vào tay đã
vội tan thành nước chỉ
còn một bàn tay một
bàn tay đang khóc.


Cover paper: tranh Marka Batiashvili

THẬT MÀ

0

Nguyễn Văn Vũ
THẬT MÀ
Đọc xong bản tin tân hình
Thức rồi tôi cảm thấy như
Cái gì rất mới chạy vào
Con mắt chạy vào trong đầu
Bỗng nhiên muốn nói ra một
Điều gì dễ dàng như thở
Như hát một bài thơ tình
Nho nhỏ hay hát một bài
Dân ca nhẹ nhàng mà mẹ
Tôi đã hát ru tôi ngủ
Khi tôi nằm khóc trong chiếc
Nôi mây chỉ to bằng một
Cái sàng sàng lúa của bà
Tôi để quên lâu ngày sau
Tấm phên mục sau chuồng heo
Và tôi đang viết thật dễ
Dàng như thổi con tu huýt
Thổi cái bóng bay ngày thơ
Hay như đang thở hay như
Đang uống một ngụm nước dừa…
15 pm 13.10.2015
 
Tranh bài: “Cổ tích”, sơn dầu, họa sĩ Thái Tuấn

TUẦN THƠ 52: CHUYỆN BẮT ĐẦU

Thân Công Báo_góc chợ Hóc Môn
Thân Công Báo_góc chợ Hóc Môn

Chùm thơ nhiều tác giả

Hồ Đăng Thanh Ngọc

THỨC DẬY GIỜ ĐÓ

Buổi sáng tôi thức dậy cùng
với ánh sáng của sa mạc
và với cái đuôi của cơn
ngái ngủ lì lợm đu theo
cái bướu lạc đà thơ em,
rồi tôi thấy em thức dậy
cùng với niềm hân hoan bình
minh đang lên tươi mươi ngày
Bấy giờ sa mạc không còn
cả vết chân lạc đà, bão cát
đã chôn lấp những giấc mơ
cả những giấc mơ chạy trốn
Em thức dậy cùng tôi trên
thân phận đóa hoa tàn úa
dưới bỏng cháy của sa mạc
tỉnh thức này thật khủng khiếp
tôi không muốn thức dậy, em
không muốn thức dậy nữa, bấu
víu vào giấc mơ sót lại
nhưng …
đã thức dậy mất rồi!

chiều 22/4/2012

Hoàng Huy Hùng

BÀI CA LÃNG QUÊN

Giấc ngủ quên tôi ngủ quên trong căn
phòng đêm tối cũ kỹ cũ kỹ trong
giấc ngủ giờ đã chìm vào yên ả
cùng bài hát còn vang từ chiếc điện
thoại kỷ niệm bên tôi ôi bài ca
quen thuộc tôi yêu bài ca xưa cũ
vẫn còn bên tôi bên tôi trong căn
phòng đêm tối êm đềm trong giấc ngủ
êm đềm tôi đã thành xưa cũ trong
khung trời xưa cũ cùng thời gian miên
man không ngừng những thế giới bên ngoài
kia là những đợt sóng vỗ vào trong
giấc ngủ mộng mị vùi sâu trong bài
hát là người bạn thân như một kỷ
vật suốt đời tôi trân quý và những
kỷ vật thân thuộc thời đã xa dần
cùng với một tôi nào khác lạ lẫm
thức giấc sống trong một không gian nào
quá đỗi ma quái hư thực lãng quên
lãng quên.


Hường Thanh

MỘT NGƯỜI HỎI TÔI TRÊN ĐƯỜNG

trước của nhà tôi đứng
ngồi xuống rồi ngồi đứng
lên vì không quen ngồi
xổm lâu trước cửa nhà
mười tám giờ chiều kể
về mười bảy giờ trước
đó tôi chẵng có đứng
ngồi xuống rồi ngồi đứng
lên vì chờ đợi chứ
không phải vì tôi khó
chịu sự chờ đợi bây
giờ là sự quen thuộc
nhất trong cuộc đời tôi
tôi ngó quanh tôi nghiêng
qua nghiêng lại như thể
sự chuyển động đang ngó
nghiêng vào thời gian này
để bất chợt thấy một
người đi trên chiếc ves
pa màu đỏ dừng lại
dưới ánh đèn đường vừa
bật lên từ hai ba
mươi phút trước đó trong
khi tôi vẫn đang đứng
ngồi xuống rồi ngồi đứng
lên theo thói quen của
thường ngày và mọi ngày
thôi tôi nhìn thấy trên
chiếc xe đó là một
cô gái và cô gái
ấy hỏi tôi một điều
mà có vẻ như đang
lập lại như thể sự
chuyển động đang ngó nghiêng
qua lại vào phía tôi
tôi không biết trả lời
gì cho cô gái ấy
cho nên tôi để mười
tám giờ chiều trả lời
và tôi rồi lại cứ
đứng ngồi xuống rồi ngồi
đứng lên chờ đợi sự
quen thuộc trở về trong
cửa nhà…

26.8.2013

Khánh Hà

CHUYỆN BẮT ĐẦU

Chuyện một người đàn ông
và một người đàn bà
ở chung trong một ngôi
nhà là chuyện bắt đầu
cho tất cả là đầu
mối của mọi sự rắc
rối, buồn vui là nguồn
cảm hứng của văn chương
nghệ thuật và tất cả
tất cả từ khi thế
giới bắt đầu từ khi
con người bắt đầu không
biết đến bao giờ mới
chấm dứt chuyện ông A –
dam và bà E – và một
đàn ông và một đàn
bà khi người đàn ông
và người đàn bà mở
cánh cửa một ngôi nhà
thì mọi chuyện bắt đầu.


Khế Iêm

NHỮNG ĐỨA TRẺ

Những đứa trẻ lạc lõng
trên đường phố sài gòn
năm tháng trôi qua còi
cọc lớn lên năm tháng
trôi qua quẩn quanh kiếm
sống nơi gầm cầu bãi
rác những đứa trẻ việt
nam những đứa trẻ phi
châu ôi những đứa trẻ
những đứa trẻ syrie
irag afghanistan
những đứa trẻ tỵ nạn
những đứa trẻ hiện hình
trên mặt phẳng những bản
tin những đứa trẻ bị
cán dẹp những khổ đau
những khổ đau không còn
nước mắt những đứa trẻ
chẳng còn đứa trẻ những
đứa trẻ sinh ra trong
thời đại thông tin những
đứa trẻ sinh ra trong
thời đại vô cảm những
đứa trẻ xa cách thế
giới những thế giới xa
cách con người những con
ngừơi đánh mất con người
những cái ảo xóa nhòa
cái thực những trò lừa
những đứa trẻ bị xóa
nhòa tan biến những khổ
đau bị xóa nhòa tan
biến những cuộc đời chẳng
còn cuộc đời những ảo
ảnh nhưng cuộc đời vẫn
là cuộc đời cuộc đời
là những bản văn những
bản văn không nhân văn
trò lừa của những trò
lừa những đứa trẻ ôi
chao không khác những đứa
trẻ ôi chao chỉ là
ký hiệu những rỗng không
những ký hiệu không ký
hiệu.


Lê Hưng Tiến

BẠN TÔI

Quý gửi một bạn gái đã khuất
nằm mê hoang dã rồi tôi
hùa phận mình vào cõi xa hốc sợi
tình lên phiến đá cho tàn
thu rêu xanh chợt nghe nao nao đời
con gái vùi chớm giấc hoa
bên thánh giá trên chuyến xe chiều ôi
phiền muộn chở ngả đau chín
tầng mây … bóng ác ngửa ngửa nghiêng nghiêng
heo may gió heo may cát
heo may sương heo may khói … thằng bạn
tôi trần trụi rẻo buồn và
nung nấu từng sợi heo may dường như
mối tình ấy bao nhiêu cho
đủ sương đủ khói mà bạn tôi mỗi
khi chỉ thiên vào ký ức
ký ức tuôn ra máu mủ xô bờ
tôi đánh thức im lặng sợi
dây bấn bíu trên đường chỉ tay, có
lẽ bạn tôi níu sợi tình
chưa dài hơn tay ba bốn bảy gì
đó nên sóng gió cuồn cuộn
ú a ú ớ, nhưng sớm mai ai
biết được khói thơm phần mộ
hồn con gái độc thoại trong tâm tưởng
bạn tôi và giọt nắng lại
trong trẻo nguyên vẹn bao ngày.
Ai biết được …


Lê Ngọc Quế Anh

LÝ QUA CẦU

Ới a … vừa qua cầu em
hát câu ngẫu hứng mà cũng
đâu phải bổng dưng em ngẫu
hứng … Ới a … mà em hát
điệu lý qua cầu vì em
thấy anh vừa đến trên cao
nhìn đàn tàu ồn ào qua
ngang bến vắng anh than rằng
sao thuyền theo dòng mà không
vào bến cho nên em mới
hát tặng anh bài ca ngẫu
hứng ới a … điệu lý qua
cầu!


 MrDao

BỨC TƯỜNG CỬA SỔ

Trên bức tường có nhiều cửa
sô tôi thấy những mảnh hình
vuông xếp xen kẽ và ngăn
nắp với những mảnh đời … những
cánh cửa lúc đóng lúc mở
và những ai đang đóng cánh
cửa sổ của mình im ỉm
kia hãy bật chốt bỏ khóa
mở bung nó ra để bức
tường cửa sổ không đơn điệu
với thật nhiều cánh cửa cùng
góp mình vào bức tranh đời
và đừng sợ những cánh cửa
đã rêu màu thời gian cứ
mở nó ra để thấy được
không gian bên ngoài cho cả
bề mặt trong cánh cửa không
ố mốc vì ẩm thấp và
trong chấn song cửa gỗ kia
có ánh mắt biết nói thật
vậy sao không mở cửa ra
mở ra mở ra cho bức
tường cửa sổ thêm sinh động
và cho những mảnh hồn nhỏ
không khép lại trong không gian
u tối …


Nguyễn Thánh Ngã

TÔN NGỘ KHÔNG ĐẤT SÉT

đến thăm đường hầm điêu khắc ở
Đà Lạt xuất hiện một bầy khỉ
đất sét trông rất giống bầy khỉ
ở Hoa Quả Sơn trong Tây du
ký thuở nào những con khỉ đất
sét đã nhận ra tôi khi tôi
đến chào Tôn Ngộ Không và chụp
hình với Lão Tôn ở đường hầm
điêu khắc những con khỉ nhảy múa
gọi nhau chí chóe chỉ một mình
tôi thấy chỉ một mình tôi nghe
bởi chú khỉ trong tôi vẫn còn
nhớ chúng khi đọc truyện lúc xem
phim đã tạo nên những hình ảnh
khi những hình ảnh đập vào mắt
tôi thì bầy khỉ đất sét không
còn đất sét, Tôn Ngộ Không đất
sét không còn đất sét khi tôi …

UNTRACED

0

Huy Hùng
UNTRACED
Rất bình thường trong một
ngày bình thường đó là
một ngày x tháng y
năm z gã chợt reo
lên trong ý tưởng đột
xuất: phải ngụy trang lại
bộ mặt của gã phải
bảo hành bảo hành bảo
hành bộ mặt của gã
không dấu vết không được
để lại bất cứ một
dấu vết nghi hoặc nào
nơi bộ mặt của gã
đối với bất cứ ai
không dấu vết tất tần
tật tí tì ti ti
ti ti ti không dấu
vết sau sự tích “Chiếc
áo lông ngỗng” không dấu
vết tất tần tật sau
sự kiện gã phát hiện
tí tì ti ti ti
ti ti tàn thuốc lá
gã hút trong phòng riêng
không dấu vết tí tì
ti ti ti ti ti
sau sự kiện gã phát
hiện một sự thật: một
con tép trên mép con
mèo – không dấu vết tất
tần tật những bài thơ
gã đã làm đang làm
và sẽ làm và sẽ
(không) làm được và sẽ
(không) làm xong và sẽ
không để lộ tí tì
ti ti ti ti ti
bất cứ một dấu vết
nghi hoặc nào đối với
bất cứ ai dù chỉ
là một vết xước vết
xước xước xước xước trên
ria mép con mèo lèo
rắn Untraced!
Tranh bài: Vesna Bursich

NHÀ THƠ TRONG THỜI ĐẠI VĂN XUÔI

https://www.antoniocarrenoartist.com/paintings?lightbox=dataItem-ifxe2z1p
https://www.antoniocarrenoartist.com/paintings?lightbox=dataItem-ifxe2z1p
Dana Gioia

Như Ezra Pound vẫn nói, nếu thơ tượng trưng cho “hình thức cô đọng nhất của diễn tả ngôn từ,” nó đã đạt được cá tính giản lược và cường độ bằng cách nhìn nhận cách thức mà chữ đã được dùng trước đó. Thơ không hiện hữu trong cô lập, nó chia sẻ, khai thác lịch sử và văn chương của thứ ngôn ngữ nó được viết ra. Cho dù mỗi bài thơ đều tìm cách tạo dựng nên một toàn hảo tạm thời ở trong và về chính nó, nó đạt được mục đích này qua cách thừa nhận kinh nghiệm cả đời của độc giả bằng chữ, hình ảnh, ký hiệu, truyện kể, âm thanh, và những ý tưởng nằm ngoài chính bài thơ. Cách dùng chữ hay hình ảnh thành công nẩy bật ra bộ liên cấu, bài thơ có thể cô đọng một số lượng ý nghĩa trí tuệ, gợi cảm và xúc động vô lường trong một dòng hay một đoạn.

Lúc R.P. Blackmur lưu ý rằng “khi một chữ được dùng trong bài thơ, nó phải là tổng cộng của tất cả lịch sử thích hợp đã kết thể và riêng biệt trong một bối cảnh cá nhân,” ông có vẻ trừu tượng và phân tích lạnh lùng quá. Nhưng Blackmur là nhà thơ kiêm phê bình gia, và quan sát của ông phản ánh những vấn đề thực tế của cách làm thơ chân thật. Nhà thơ biết rằng độc giả sẽ mang lại tổng số kinh nghiệm của anh hay chị ấy trong cả hai, văn học và đời sống, đến với bài thơ, và bản viết phải chịu được sức nặng chú ý ấy. Thơ hay không bao giờ lượng định giảm thiểu độc giả của nó. Nó tích cực theo đuổi sự cộng tác trí tuệ và tưởng tượng của họ bằng cách giả định và khai thác một cấu kết bổ túc có chung.

Thẩm đoán chính xác điều gì cấu tạo nên cái cấu kết có chung ấy ở bất cứ lúc nào là phần việc của nhà thơ, bởi vì bất cứ truyền thốngvăn chương nào đang sinh hoạt cũng đều thay đổi liên tục. Việc định nghĩa truyền thống biến thành – ngấm ngầm hay ra mặt – một phần của hành động sáng tạo. Tác tạo từ phần kinh nghiệm văn hóa của độc giả mà nhà thơ đã phỏng chừng dùng làm nền cho bài thơ mới, cấu kết này tạo nên truyền thống tiện dụng của thời đại ấy.

Ta luôn luôn có rủi ro bị hiểu lầm khi dùng chữ truyền thống. Ngay ở năm 1917 T.S. Eliot đã nhận xét rằng từ này hiếm khi được dùng “ngoại trừ trong một nhóm từ kiểm duyệt.” Nói đến truyền thống là nhắc đến hình ảnh những cuốn sách cũ trong thư viện mốc meo hay hàng hàng bức tượng chân dung bằng cẩm thạch đóng bụi dọc dài theo tường. Nhưng khi nói đến “truyền thống tiện dụng” tôi cố ý nói đến một điều nhỏ hơn và thực dụng hơn – đấy chính là cái phần nhỏ của quá khứ mà nhà thơ dùng được ở một thời điểm riêng biệt trong lịch sử. Cái truyền thống tiện dụng này không phải là một thực thể cố định mà là một khái niệm năng động. Nó thay đổi – và thật thế, phải thay đổi – không phải chỉ từ thế hệ này sang thế hệ khác mà còn từ lớp độc giả này sang lớp độc giả khác.

Sáng tác một bài thơ cần – có hay không ý thức – khái niệm về một lớp độc giả. Để tạo nên thứ ngôn ngữ cần đến sự chính xác và cường độ, người viết phải phỏng đoán câu trả lời xác định của độc giả cho từng chữ, từng ý tưởng, từng hình ảnh. Một vài tác giả, như Shakespeare, hiểu biết độc giả trực tiếp. Những người khác, như Wallace Stevens, chỉ giản dị cho rằng có một lớp độc giả vô hình với trí thông minh uyên bác nhậy cảm. Còn những người khác nữa, như Pound trong Cantos, tìm cách phát minh, qua chính bài thơ, lớp độc giả lý tưởng chưa có mặt. Bất kể trường hợp nào vừa nói trên, ý tưởng của tác giả về lớp độc giả giúp anh hay chị ấy hình thành bài thơ. Trong quá khứ, quan hệ giữa nhà thơ và công chúng hình như không có vấn đề gì cả. Xã hội lúc đó chặt chẽ và đồng dạng hơn. Truyền thống văn hóa thay đổi chậm chạp, và độc giả cùng chia sẻ một số kiến thức và quan tâm bình thường. Nhà văn – kể cả những người canh tân như William Blake hay Walt Whitman – thường có thể lựa chọn lớp độc giả mà tri cảm của lớp độc giả ấy họ hiểu được (nếu không muốn nói là ủng hộ) và những giả định văn hóa chung chung họ cùng chia sẻ.

Ngày nay, nhà thơ đối diện một vấn đề thực tế khi cố gắng định nghĩa một truyền thống văn hóa bình thường tiện dụng cho họ và độc giả. Cái khó khăn này bắt nguồn từ xã hội đương đại, nơi mà sự gặt hái thông tin liên tục ngày càng phân tán độc giả vào những nhóm văn hóa chuyên môn không chia sẻ một cấu kết bổ túc bình thường nào. Trường hợp lại càng tệ hơn nữa bởi sự dời đổi văn hóa ra khỏi chữ in như là căn nguyên chính của thông tin và giải trí. Mặc dù vấn đề không hẳn riêng trong văn chương nhưng ảnh hưởng đến nhà thơ nặng nề hơn những nghệ sĩ khác vì nó hủy diệt cái cấu kết hồi tưởng đã cho thơ sự tập trung và cường độ riêng biệt. Làm cách nào để một nghệ thuật xuyên bản như thơ giữ được sức mạnh trong một nền văn hóa không còn học hỏi và yêu chuộng bản viết bằng chữ nữa? Nếu các nhà thơ giới hạn độc giả của mình trong những nhóm vẫn còn xem trọng chữ viết, thì làm sao họ viết cho những người không còn biết thơ là một môi giới nghệ thuật nghiêm túc được?

Chỉ cần nhắc đến sự nguyên tử hóa đời sống văn hóa Mỹ cũng đã đủ để hệ thống báo động ở mỗi trường phái tư tưởng bật sáng. Nhưng – trong giới hạn của tiểu luận này – tôi xin độc giả gác qua một bên tất cả mọi lý thuyết tại sao việc phân mảnh này xảy ra, mà còn gác qua cả chuyện thay đổi ấy có là một biến cố tích cực hay tiêu cực hay không. Ở đây, yếu tố liên hệ duy nhất là khái niệm truyền thống mà một nhà thơ nghiêm túc thời 1940 ưa chuộng đã không còn hiện hữu nữa. Chúng ta sống ở một xứ sở mà sinh viên năm đầu đại học không biết cuộc Nội chiến xảy ra ở thế kỷ nào, không thể nhận biết ngôn ngữ đối thoại thời La mã cổ, và không thể kể được tên một nhà thơ Lãng mạn. Không những các sinh viên này chưa bao giờ đọc một trang của Milton, mà còn có thể là họ cũng không hiểu nổi nếu như có đọc. Đề từ một bài thơ gần đây của Edgar Bowers tóm tắt một cách thích ứng trường hợp này. Nhắc lại lời của một sinh viên, “Apollo là ai?” Dĩ nhiên, sinh viên, không hoàn toàn đại diện cho cả lớp độc giả Mỹ, nhưng họ là, mượn tạm một thành ngữ của môn kinh tế, mức đo lường có thể tin tưởng được về những phương hướng văn hoá chung chung.

Vì nhà thơ không còn viết một cách ức đoán cho lớp độc giả đa dạng dùng chung một cấu kết lịch sử, văn chương, khoa học, thần thoại, và tôn giáo, anh hay chị ấy đối diện một loạt thỏa hiệp khốn khổ. Nhà thơ có thể lột trần ngôn ngữ của mình khỏi phần lớn những tham chiếu và cấu tạo nên một loại văn vần tối thiểu đạt được sự trong sáng với cái giá phải trả là sự thấu hiểu và cường độ. Hoặc, nhà thơ có thể để vào đấy một bố cục riêng tư (mà ở xã hội vị kỷ của chúng ta, gần như không tránh khỏi là tự truyện) thay thế cho cái bố cục truyền thống đại chúng đã mất. Phương pháp tự truyện đạt được tính trực tiếp nhưng lại mất tính phóng khoáng và quan chiếu. Hoặc, nhà thơ có thể tán đồng một tư tưởng đại chúng (thường là tín điều chính trị hay tôn giáo) để cung cấp một kết cấu xác định trước. Phương pháp này đạt được sự tiếp cận và chiều sâu nhưng thường với cái giá phải trả là ngay lập tức và độc lập. Sau cùng, nhà thơ có thể giới hạn độc giả của mình trong tầng lớp có học vẫn còn hiểu được những tín hiệu văn chương truyền thống – một quyết định giữ được cường độ của nghệ thuật thơ nhưng lại phó thác sinh khí và kết cấu có chung cho may rủi.

Ta có thể dễ dàng nhìn thấy lịch sử thơ Mỹ cận đại như một loạt dấy loạn chống lại và dung hợp với phạm trù văn hóa của người viết. Hầu hết những cách tân lớn đều bắt nguồn từ sự bất mãn về việc thơ bị sung công trong giới hàn lâm. Mỗi phong trào trọng đại mới đều cố gắng hình thành một vài hợp quần có ý nghĩa nằm ngoài đại học – vừa liên kết thơ với truyền thống văn hóa sinh thời, vừa hồi phục sinh khí cho truyền thống ấy với mục đích xã hội chân thật. Thí dụ như nhóm the Beats, nối viễn ảnh văn chương của họ với thái độ bất tương hợp của phe Tả, chống lại truyền thống văn hóa. Các nhà thơ Da Đen tìm lại tiếng nói của chính chủng tộc bị tước quyền của họ. Những nhà thơ chống đối ở cuối thập niên sáu mươi thần thọai hóa bố cục chính trị của thời chiến tranh Việt Nam thành truyền thống văn học cho đại chúng tham dự. Các nhà văn phái nữ tán đồng cấu trúc tư tưởng thuyết nữ quyền để mang lại trong thơ của họ một quan hệ xã hội lớn lao. Bất cứ gì có thể nghĩ đến là thành công nghệ thuật của những phong trào này, ta phải nhận thức được cái năng lực nẩy giật khởi đầu mà thành công ấy đã đem lại, bằng cách tái thiết sự liên kết thơ với nền văn hóa rộng lớn hơn. (Nhưng, mỉa may thay, mỗi cuộc dấy loạn đến từ giới hàn lâm hầu như đều bị dập xuống ngay tức thì bằng cách đồng hóa người lãnh đạo của phong trào ấy trong giới đại học, và sự va chạm trên văn hóa chung chung sau cùng bị giới hạn).

Thuyết Tân hình thức đại diện cho cuộc dấy loạn mới nhất trong loạt chống đối tính biên tế văn hóa của thơ. Sự thay đổi chung chung trong cảm tính văn chương, mà rồi sẽ được gọi là chủ nghĩa Tân hình thức, đã bắt đầu cách đây 20 năm khi một nhóm nhà thơ trẻ tạo ra – phải nhìn nhận là chỉ có trong tâm trí của họ – một lớp độc giả mới cho thơ. Xa lạ với loại thơ đang được tán thưởng và truyền bá ở đại học, những nhà thơ trẻ này – như tất cả mọi thế hệ nhà văn mới – tìm cách định nghĩa nghệ thuật đang ló dạng của họ qua quan hệ với lớp độc giả tưởng tượng. Những độc giả lý tưởng của họ không phải là nhà chuyên môn về thơ trong những chương trình Viết Văn, độc đoán bác bỏ loại thơ thể luật và tính truyện. Họ cũng không phải là những chuyên viên của ngành Văn khoa, thường quý giá sự khó khăn trên hết.

Lạc điệu với nhóm độc giả hàn lâm tuy nhỏ nhưng vững chắc về thơ mới, những người viết trẻ này bèn tưởng tượng thay vào đấy là những độc giả yêu mến văn chương nghệ thuật nhưng, hoặc chối từ hoặc chưa bao giờ biết đến dòng thơ đương đại. Đây không phải là khối độc giả của truyền hình hay radio, đối với những người này, chữ viết không phải là phương tiện thông tin chính yếu. Đó là lớp độc giảcủa văn xuôi – những cá nhân thông minh, có học, và phức tạp, tuy không còn đọc thơ nữa, nhưng vẫn ưa thích tiểu thuyết loại nghiêm túc, phim ảnh, kịch nghệ, vũ, nhạc cổ điển, tranh, và những nghệ thuật hiện đại khác. Trong khi những độc giả văn xuôi này có kinh nghiệm giới hạn về thơ đương đại, họ lại ít tiên kiến hơn về thơ đương đại nên hay không nên như thế nào. Đối với họ, thơ có thể luật hay tính truyện không vi phạm bất cứ cấm đoán lý thuyết nào trước đó, vì họ thưởng thức nhịp điệu, thể luật và truyện kể một cách không vị kỷ xem chúng vẫn là những yếu tố tự nhiên của nghệ thuật đại chúng như nhạc rock, nhạc kịch, và điện ảnh. Viết cho lớp độc giả chung chung mà thơ đã đánh mất từ lâu, những nhà Tân hình thức lựa chọn chấp nhận thay vì khước từ những khuynh hướng văn hóa rộng rãi trong thời đại của họ. Thay vì là những cái gai trong dòng nhóm văn hóa, họ mong mỏi biến thành nhà thơ trong thời đại văn xuôi.

Cho dù những nhà thơ Tân hình thức có thật sự với tới lớp độc giả rộng lớn này hay không, không phải là vấn đề ở đây. Điểm quan trọng – như những nhà thơ Beats và nhà thơ sức mạnh da đen trước đó – họ tìm cách phá vỡ tình trạng văn hóa trí tử nan giải đang xiết cổ nghệ thuật của họ. Trong trường hợp của các nhà thơ Tân hình thức, sự cố gắng này dính dáng tới việc tạo nên một lớp độc giả lý tưởng bình thường để định nghĩa những truyền thống văn hóa có ích cho họ, như những nhà thơ. Họ đánh liều trong việc theo đuổi lớp độc giả văn xuôi thường xa lạ với thơ nghiêm túc thay vì hướng đến những bè phái hàn lâm đang có mặt. Khi làm như thế, họ đã mặc nhiên ra khỏi hàng ngũ mô hình đang thịnh hành của thơ đương đại, khước từ những quan niệm thẩm mỹ siêu phức tạp hay thông minh hóa cao độ của những nhà thơ hàn lâm thời trang như Ashbery, Olson, Creeley, hay Merwin là những người mà tác phẩm của họ dường như chính yếu chỉ nhắm vào lớp độc giả riêng biệt gồm có các nhà phê bình và nhà thơ đồng nghiệp mà thôi.

Không rõ rệt như trên, ít nhất ngay từ đầu, là sự kiện các nhà thơ trẻ cũng từ giã những tiêu biểu thơ hình thức của thế hệ trước (như Merrill, Hecht, hay Hollander), là những người tự cho mình là người canh giữ cho truyền thống văn hóa cao Âu châu đang lâm cảnh hiểm nghèo. Lần tuyệt giao đầu tiên được tuyên bố với lời lẽ mãnh liệt bởi các nhà thơ trong phong trào hầu hết đều ít có cảm tình với dòng chính hàn lâm. Tuy vậy, lần tuyệt giao thứ hai lại không được mạch lạc rõ ràng cho lắm, vì người viết trẻ thường ngưỡng mộ những nhà thơ thể luật thời trước và xem họ như đồng minh văn chương. Tuy nhiên, hướng đi tất nhiên của thơ Tân hình thức cho thấy quan niệm thẩm mỹ của hai trường phái già trẻ không thể nào dung hòa được trên nhiềuphương diện.

Vì không có xung đột ra mặt giữa hai thế hệ già trẻ, một vài nhà phê bình đã dồn hai phe thành một. Những người gièm pha thường phê bình các nhà thơ Tân hình thức không làm nên điều gì mới cả. Theo họ, những nhà thơ trẻ này là lớp vỏ ngoài chứ không phải nhà cách tân, vì họ chỉ tiêu biểu cho thể thơ truyền thống Mỹ nối dài của những thập niên 1940, 1950. Lý luận kiểu này có đặc điểm giản dị, nhưng tiếc thay, nó cho thấy là họ không biết về những gì mà các nhà thơ trẻ này thật sự viết. Ta chỉ cần so sánh một bài thơ của Merrill hoặc Hollander với bài thơ của Tom Disch hay Molly Peacock cũng đủ nhận thấy họ khác nhau cấp tiến như thế nào qua độc giả, thể loại, âm sắc, di sản văn hóa, và ngay cả trong vận luật nữa. Sự lầm lẫn giữa hai nhóm tuy có liên quan nhưng bất đồng căn nguyên thế hệ, ta có thể đoán, nằm trong chính cụm từ chủ nghĩa Tân hình thức, là cụm từ rất dễ lầm lẫn. Ta không cần phải triết lý tối thiểu để biết rằng bất cứ người nào có hy vọng hiểu được một phong trào nghệ thuật – dù là Tân hình thức, Hiện đại, hay Lãng mạn – phải phân biệt được chính cái tên và hiện tượng mà cái tên ấy cố miêu tả. Cuộc tìm kiếm có trách nhiệm sẽ bắt đầu với những tác phẩm thật thụ mà phong trào ấy có, chứ không thể kết luận đại khái về cái tên mà những nhà văn học đã đặt cho một cách thờ ơ qua tuyên cáo thuở đầu của phong trào.

Bằng cách chỉ chú ý đến sự hồi sinh hình thức thể luật, cụm từ chủ nghĩa Tân hình thức đã làm mờ khuất sự thay đổi lớn lao hơn trong tính đa cảm của những nhà thơ trẻ này đang tỏ bày. Sử dụng nhịp điệu và vần luật chỉ là khía cạnh dời đổi thẩm mỹ sâu đậm hơn ra khỏi văn hóa bè phái trong giới đại học. Tính đa cảm mới này cũng dẫn đến sự trở lại của thơ tính truyện, thám hiểm văn hóa đại chúng cho cả thể thức và chủ đề, khước từ vẻ giả tạo avant-garde, bất tín những chủ đề tự truyện hẹp hòi, dùng lời nói đời thường tự nhiên không hổ thẹn, và khôi phục cảm xúc trực tiếp không châm biếm. Nhìn từ khía cạnh này, phong trào có thể được tả một cách chính xác hơn bằng một từ thay thế khác là thơ Mở Rộng (Expansive). Thuật ngữ này nắm được những quan tâm chiết trung và tham vọng văn hóa rộng lớn hơn của phong trào. Trong khi khả thi để chủ tâm một cách lợi ích trong việc hồi sinh thể luật thơ, thứ nhận thức hẹp hòi như thế lại có cái rủi là lỡ đi những vấn đề văn hóa to lớn đang lâm nguy. Nó còn bóp méo cả quan hệ giữa những nhà thơ trẻ hình thức và tính truyện với những nhà thơ thế hệ trước.

Có vài liên tục nối kết giữa các nhà thơ Tân hình thức và Phê bình Mới. Cả hai nhóm đều xác nhận nhịp điệu và thể luật là những phương thức chính đáng và “hữu cơ” của sáng tác văn chương. Họ còncho những bài thơ đã làm xong là một tác phẩm nghệ thuật có ý thức hơn là một sáng tạo ngẫu nhiên hay may rủi. Và cả hai trường phái đều tin rằng cốt yếu thơ là một nghệ thuật xuyên bản. Nói một cách khác, họ cho rằng thơ chỉ liên hệ đến đời sống qua lăng kính tự liên tưởng phức tạp của ngôn ngữ và mỗi bài thơ riêng biệt chỉ phô bày trọn vẹn ý nghĩa của nó trong bối cảnh văn chương rộng lớn.

Tuy vậy, ở những khía cạnh khác, quan niệm thẩm mỹ của nhóm Tân hình thức và Phê bình Mới bất đồng ý kiến với nhau. Nếu họ cùng chia sẻ niềm tin trong sự cần thiết đặt những bài thơ mới liên hệ với truyền thống, thì lại khác nhau đến độ không hòa giải được trong việc định nghĩa truyền thống nào dùng được cho những nghệ sĩ đương đại như họ. Nếu cả hai đều nhận thức được sự quan trọng của ý niệm độc giả trong việc hình thành bài thơ, mỗi nhóm lại chọn lấy một loại độc giả khác nhau. Tiếp đó là sự lựa chọn về âm sắc, văn phong, và chủ đề trong tác phẩm theo những đường hướng căn bản khác nhau mặc dù những tương tự đôi khi có trong vận luật. Và sau cùng, nhận biết lệch hướng về truyền thống có sẵn và độc giả dự kiến của họ dẫn đến chỗ theo đuổi những phương cách và thể loại khác nhau trong diễn bày văn chương. Tuy vậy, sự kiện hai trường phái văn chương khác nhau tự trong bản thể này không có gì đáng ngạc nhiên, vì mỗi trường phái xuất hiện trong một thời điểm lịch sử riêng biệt.

Thế hệ hình thức thời trước trưởng thành lúc Đệ nhị Thế chiến, và sự xuất hiện của họ trùng hợp với lúc văn hóa Mỹ thời hậu chiến đang nở rộ. Cái giả định trí tuệ đằng sau tác phẩm của họ phản ánh niềm tự tin bồng bột trong ưu thế quốc tế mới của Mỹ. Đi quanh Âu châu trong tư thế lính chiến hay nghiên cứu sinh học bổng Fulbright (hoặc kiêm cả hai), họ nhất quyết phải đứng ngang hàng với Cựu Thế giới bằng cách chứng tỏ sự tinh thông những phương cách truyền thống. Như thế, những nhà văn thế hệ trước này cũng là thế hệ đầu tiên của nhà thơ trong lịch sử văn học Mỹ đã đi vào thế giới đại học bằng số đông – đấy là môi trường mà họ nhận ra là thông minh và có nghệ sĩ tính thích hợp. Và cũng ở đấy, họ nhất định hướng đến đồng nghiệp hàn lâm của mình một cách bình đẳng. Họ làm những bài thơ cho thấy tài sử dụng trọn vẹn truyền thống văn chương Anh ngữ, hiểu biết và sung động bởi chủ nghĩa Hiện đại quốc tế. Trong nhiều trường hợp, liều mạng để bảo vệ (và sau đó, bỏ cả sự nghiệp giáo chức cho) nền Văn hóa phương Tây, họ phỏng chừng – như một trung tâm tư tưởng – đấy là sự quen thuộc sâu xa của độc giả với văn chương truyền thống. Tác phẩm của họ được làm ra để gánh trọn sức nặng của truyền thống và chịu đựng được sự soi mói của phê bình khảo sát. Tác phẩm của họ đòi hỏi trí tuệ, thẩm mỹ tự thức, tách rời cảm xúc, và cấu tạophức tạp. Độc giả của họ, theo định nghĩa, giới hạn trong nhóm đồng nghiệp trí thức của hàn lâm và nghệ sĩ ưu tú.

Nhóm Tân hình thức xuất hiện trong thời điểm ít lạc quan và giả định hơn. Họ trưởng thành lúc văn hóa mục rã ở thời đại chiến tranh Việt Nam, khi một loạt cách mạng tư tưởng thách đố những khái niệm bình thường về giá trị văn chương và chủ thể trí tuệ, hình thành quan niệm thẩm mỹ của thế hệ trước họ. Ý tưởng truyền thống – bao gồm luôn cả nguyên tắc hệ luận về thể loại, cách chọn lời, thi pháp và thể thơ – bị bác bỏ. Khái niệm kinh điển thông thường về một tác phẩm lớn ai cũng biết đến đã bị phá nổ nát vụn thành những mảnh truyền thống cạnh tranh lẫn nhau, mỗi mảnh dựa trên quan niệm thẩm mỹ mang tính cách loại bỏ của riêng nó. Nghệ thuật ly dị lạc thú và gắn liền với tư tưởng – nhất là về khái niệm giảm thiểu của avant-garde, cho rằng văn cách, như những họa đồ kỹ thuật của microchip, lúc nào cũng biến hóa chỉ để không hợp thời ngay lập tức bởi sự cách tân kế tiếp.

Nhận ra văn hóa cao đang lạc trong hỗn độn, nhóm Tân hình thức tìm phối cảnh trong văn hóa đại chúng. Trong phim ảnh, nhạc rock, khoa học giả tưởng, và những nghệ thuật đại chúng khác, họ tìm ra hình thức truyền thống và thể loại, mà hàn lâm đã bất tín nhiệm vì lý do tư tưởng trong nghệ thuật cao, vẫn còn được dùng một cách tích cực. Ngây thơ với lý thuyết, bằng một cách nào đó, quần chúng không còn hiểu được vần luật, thể loại và tính truyện là những phương cách xuất chúng của đàm luận làm ra để chế ngự tính cá biệt của họ mà thôi. Những tên khờ khạo ấy (quần chúng) thật sự tìm thấy thú vị và lạc thú trong những kỹ thuật lỗi thời ấy. Khoảng cách giữa thứ mà hàn lâm tuyên bố là đại diện cho nghệ thuật đại chúng và chính tự biểu trưng thật sự muốn là khích bác tưởng tượng. Các nhà thơ trẻ nhận thức được rằng, sau cuộc cách mạng, trong khi có thể quần chúng kêu gào cho thơ dự phóng và những sô kịch câm tân-DaDa, thì hiện tại lũng đoạn cho thấy là một thứ nghệ thuật dễ tham dự hơn đang được tiếp nhận.

Điều mà nhóm Tân hình thức – và những người đồng chí hướng trong âm nhạc, nghệ thuật, điêu khắc, và kịch nghệ – tưởng tượng đến là một phương cách tưởng tượng mới lấy chất liệu từ nghệ thuật đại chúng – những thể loại dễ tham gia, những chủ đề tâm tình ngay thẳng, cái khôi hài khiếm nhã, linh hoạt tính truyện, và tính chân thực của ngôn ngữ – và phối hợp chúng với sự chính xác, súc tích và tham vọng của nghệ thuật cao. Họ vẫn giữ trọn lời ký thác vào căn bản tuyệt mỹ của văn hóa cao nhưng nhận thức được rằng nghệ thuật nghiêm túc ấy đã biến thành xa lạ và tự gieo giống đồng tộc (inbreed). Như những nhà thơ Lãng mạn Anh và Đức tìm cách sửa đổi Tân-Cổ điển thế kỷ mười tám bằng cách đón nhận những dân ca lý tưởng hóa, huyền thoại, và ngôn ngữ thông thường, nhóm Tân hình thức lãnh trách nhiệm đòi hồi phục thơ đương đại bằng cách trộn lẫn những mô hình dân chủ và ưu tú trong một tổng hợp mới.

Công cuộc táo bạo đầy tưởng tượng trộn lẫn văn hóa cao và văn hóa đại chúng này làm bối rối hầu hết những nhà phê bình giới hàn lâm là những người đã cố gắng khảo sát chủ nghĩa Tân Hình Thức dựa trên những tập tục thông thường trong lãnh vực chuyên môn của họ. Vì phong trào này không có ý nghĩa gì hết trong khung cảnh cường tiến Hiện đại thường được dùng trong đại học để thảo luận về thơ đương đại, nó chỉ có thể được xem như là vài thứ tuyên ngôn thi vị, trở lại thế hệ Wilbur và Nemerov. Và cũng vậy, vì thể thơ và chủ đề lấy từ văn hóa đại chúng nằm ngoài những phương sách kinh điển của đại học về văn chương đương đại, những nhà tiền phong gạn lọc này hoặc vô hình hoặc khó hiểu đối với hầu hết những nhà phê bình. Trong khi nhiều lý thuyết gia văn chương có ảnh hưởng bàn luận say mê về văn hóa đại chúng nói chung, họ hiếm khi nào tỏ bày nhiệt tâm đến những đặc điểm rực rỡ của nó. Vì chủ tâm của họ chính yếu là tư tưởng, chính trị chứ không phải lạc thú biến thành nguyên tắc chủ yếu của họ. Không giống như những độc giả thật thụ của nghệ thuật đại chúng, họ quan sát nó, nói chung, trong dạng trừu tượng – thường là với yếu tố vô ý thức của nhà giáo dục hạ cố tới sự việc. Cho dù khao khát có được một ý thức chính trị vô giai cấp, họ không thể tránh khỏi điều kiện xã hội trong đẳng cấp ưu tú đại học của họ. Khi bàn bạc đến văn hóa đại chúng, họ cảm thấy bị bắt buộc một cách tự giác phải báo hiệu trình độ thưởng thức trí thức Bà la môn (Brahmin) của mình, bằng cách biểu lộ sự cách biệt phức tạp và trí thức hơn cái chất liệu thua kém đang được khảo sát. Kết quả là khái niệm, một nghệ sĩ nghiêm túc dùng những hình thức phổ thông không châm biếm, thiếu cách biệt, và phi chính trị làm cho những lý thuyết gia đương thời không những kinh ngạc mà còn xấu hổ.

Một vài nhà phê bình ngay lúc đầu đã hiểu được tính chính yếu của thơ tính truyện đối với công cuộc của Tân hình thức. Mặc dù sơ thiển không dính dáng gì đến cách dùng vần và luật, sự hồi sinh của thơ tính truyện cho phép những nhà thơ trẻ nói lên được vài vấn đề chung của văn hóa rộng lớn hơn, dẫn dắt họ trở lại với thể luật thơ. Trước hết, nó cho họ một phương cách văn chương bao hàm, tuy không được những lý thuyết gia hàn lâm ưa chuộng, nhưng lại hấp dẫn ngay lập tức lớp độc giả không-chuyên-nghiệp của tiểu thuyết và truyện ngắn. Thứ hai, truyện kể cung cấp cho các nhà thơ trẻ một thể loạitránh được chủ nghĩa tự yêu trong phong cách tự thú (thường làm bại hoại tác phẩm của thế hệ trước) và cho phép họ viết trực tiếp về những tình huống cảm xúc cao độ. Thứ ba, nó cho họ cơ hội cách tân vì thơ tính truyện đã không còn được tích cực khai phá bởi nhà thơ Mỹ từ thời Frost và Jeffers. Sau cùng – và cũng xảo diệu nhất – thơ tính truyện lấp đầy khoảng trống để lại bởi sự dần dần biến mất của bối cảnh văn hóa thông thường. Theo định nghĩa, một câu truyện tạo nên bối cảnh riêng trong lúc diễn biến. Những bối cảnh tâm lý, xã hội, và văn hóa kín đáo mà tiểu thuyết cấu tạo trong tâm trí độc giả cho phép truyện kể thắt lại ở những chỗ nào đó và đạt tới thời điểm luyến láy mạnh mẽ – “epiphanies” một độc giả của Joyce gọi thế –tiêu biểu cho hiệu quả thi vị tinh túy. Sự nghèo nàn về văn hóa đại chúng khiến cho khó mà đạt được những nối kết liên tưởng trong thơ trữ tình mà không giới hạn độc giả trong nhóm ưu tú. Bằng cách cấu tạo bối cảnh ad hoc (một lần duy nhất) của riêng mình trong bài thơ tính truyện, nhóm Tân hình thức theo đuổi thứ epiphanies tưởng tượng như thế trong phương thức tiếp cận rộng rãi hơn.

Tuy nhiên cái phương thức mới, đặc biệt cho thấy là không thể tham dự được bởi giới hàn lâm, đã đặt ra những khái niệm về thơ đương đại phải hoặc không phải là cái gì. Thí dụ như bài hùng ca khoa học giả tưởng, The New World của Frederick Turner, đã gặp phải sự chưng hửng hoặc sách nhiễu của những nhà bình luận hàn lâm, ngay cả khi nó nhận được những lời khen ngợi từ những tờ định kỳ không thuộc giới hàn lâm. Cũng như thế, tiểu thuyết thơ của Vikram Seth (sắp đặt theo kiểu kịch xã hội soap opera), The Golden Gate, bị gạt bỏ bởi một nhà bênh vực néo-avant-garde như Marjorie Perloff nhưng lại được chào đón nồng nhiệt bởi cả ngàn độc giả tiểu thuyết phức tạp. Nhiều nhà phê bình không hiểu được quan điểm rõ rệt rằng những người trong phong trào – như Timothy Steele hay R.S. Gwyn – đã phục hồi sinh khí cho thơ tình, thơ chế giễu, và thơ tính truyện, không phải từ những chủ nghĩa văn chương đồ cổ mà vì cả hai, tác giả và độc giả không thuộc giới hàn lâm, thật sự có khoái lạc với những thể loại này. Tôi nghĩ rằng, đấy không phải tình cờ, mà những nhà phê bình ký thác vào cái “mới” thường bỏ sót cái nguyên thủy nhất trong chủ nghĩa Tân hình thức. Và cũng không phải là tình cờ khi nhiều người trong nhóm lãnh đạo Tân hình thức hoặc làm việc ngoài đại học, hoặc nếu họ là thầy giáo, thường dạy về văn chương hơn là dạy về khoa viết văn. Như Perloff và những nhà phê bình khác đã lưu ý, phong trào ấy là cả hai, đáp lời thế hệ và đối nghịch, cho cái hôn mê của thơ dòng chính, hàn lâm Mỹ.

Đặc tính thế hệ và đối nghịch của chủ nghĩa Tân hình thức tối hậu là căn nguyên cho cả hai sức mạnh và yếu điểm của nó. Nếu phong trào mới có được linh hoạt và tự tin của tuổi trẻ, nó thường cho thấy sự ngây thơ, liều lĩnh và thiếu kinh nghiệm. Nó còn có tính cứng cỏi của một nhóm đã tự định nghĩa mình ngược chiều với thực hành dòng chính. Nhưng nếu cái khởi nguyên ấy phú cho các nhà thơ sự độc lập mạnh mẽ và bất cần đối với phê bình thời thượng và mẫu mã chuyên nghiệp đã làm suy yếu dòng thơ đương thời, thì nó cũng khuyến khích một thứ tự cho mình là chánh đáng thiển cận. Ta thấy tính hẹp hòi này rất rõ giữa đám cứng đầu trong nhóm Tân hình thức trẻ tuổi là những người có bản chất chống chủ nghĩa hiện đại. Là nhà phê bình, thì họ thường có khuynh hướng chiến đấu hơn là thám hiểm những ý tưởng mới, là nhà thơ thì họ lại có hướng bắt chước hơn là cách tân. Tuy vậy, những nhà truyền thống nóng nảy đó, chỉ đại diện cho một số nhỏ trong cái phong trào lớn lao đa dạng này.

Chủ nghĩa Tân Hình Thức vẫn còn là một phong trào trẻ đang trên tiến trình phát triển và tự định nghĩa. Bỏ qua những chống đối tích cực của thế hệ tuổi trung niên đã từng chiếm ưu thế trong thi ca, phong trào mới này không những chỉ tạo được tên tuổi mà còn thay đổi cả chương trình nghị sự của thơ Mỹ đương đại qua nhiều cách quan trọng. Thứ nhất, nó đã dời đổi sự quan tâm của thơ đương đại bằng cách mang sự chú ý nghiêm túc về thể luật, phương cách, và thể loại sau hàng thập niên bị quên lãng. Thứ hai, thơ và phê bình Tân hình thức đã dân chủ hóa đàm luận văn chương. Thơ có được sự tiếp cận của độc giả không chuyên môn. Cũng thế, bất cứ giới hạn nào mà họ có trong phạm vi nhà phê bình, nhóm Tân hình thức đã viết về thơ bằng những đặc ngữ đại chúng và như thế, vừa làm sống động vừa tiêu hủy huyền thoại phê bình. Sau chót, sự trở lại với thể thơ, tính truyện và những thể loại truyền thống làm thay đổi khái niệm dùng lại quá khứ bằng cách hồi sinh những khả thể đang giấc miên hàn trong thơ Mỹ ở thế kỷ hai mươi. Đến nay thì dường như những nhà thơ lớn có liên hệ với tính truyện như Frost, Jeffers và Robinson là trọng điểm của thực hành thơ đương đại. Trong lúc này những thay đổi mang lại bởi chủ nghĩa Tân hình thức vẫn còn tiếp tục với mức độ nhanh chóng, và số lượng thơ mới xuất hiện ngập tràn quá đỗi để có được một phán đoán vững chắc về chỗ đứng lâu dài của nó, nhưng không có gì để nghi ngờ nữa, phong trào ấy đã biến dạng và mở rộng nhiều khả thể cho nền thơ Mỹ.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch
Trong cuốn After new formalism, Annie Finch chủ biên, 1999
Tranh bài: Antonio Carreno

TẾT RỒI ĐÓ EM

0

Nguyễn Văn Vũ
TẾT RỒI ĐÓ EM

buông tay ra cho bóng vía
bay khỏi đêm ba mươi xóa đường chân
trời đi cho mặt trời đừng
ngại ngùng đạp đất sáng mồng một và
mở toang cánh cửa ra cho
em không ngại ngùng bước vào năm mới
không nhớ lại những tháng ngày
đen đủi sẽ không nơi nào làm em
rơi nước mắt không nơi nào
làm em tủi hờn hãy bay lên sợi
dây neo đã buông chân trời
đã xóa và cánh cửa tự kỷ đã
mở toang hãy bay lên nhớ
làm gì những dấu chân lấm bùn sau
cơn lũ quét những viên đá
cuội đã lăn mất tăm hãy bay lên
bay lên đi đừng quay lại
và đừng khóc hãy bay lên bay lên
đi đừng quay lại và đừng
khóc tết rồi đó em năm mới thì
phải hơn năm cũ em à …
Mồng Một tết Bính Thân