Trang chủ Blog Trang 40

TRUYỆN “THƠ TÂN HÌNH THỨC”

TRUYỆN “THƠ TÂN HÌNH THỨC”
Khế Iêm


LTS:
"Bong Bóng của Tôi" ảnh của Võ Anh Kiệt - Huy chương vàng VAPA cuộc thi ảnh quốc tế lần thứ 3 của CLB Gia Định Việt Nam 2012
Truyện “Thơ Tân Hình Thức” – Tạp chí Sông Hương

Đến nay, thơ Tân Hình Thức đã xuất hiện trong dòng chảy văn học Việt Nam trên mười năm. Thơ Tân Hình Thức đã thật sự trở thành một trào lưu mới mẻ như là một cách tân thơ Việt đương đại (Tạp chí sông Hương đã giới thiệu một chuyên đề về thơ Tân Hình Thức vào tháng 6/2012, tiếp đó, báo Nghệ Thuật Mới cũng đã dành chuyên trang để giới thiệu rộng rãi thơ Tân Hình Thức vào tháng 9/2012). Không chỉ dừng lại ở đó, các họa sỹ và các nhạc sỹ cũng đã vào cuộc.
Để bạn đọc hình dung đầy đủ hơn về thơ Tân Hình Thức, trong số báo này, sông Hương xin giới thiệu tiểu luận về Truyện “thơ Tân Hình Thức” của Khế Iêm và hai tác phẩm truyện thơ như là xác tín về biên độ rộng mở không giới hạn của thơ Tân Hình Thức. Bên cạnh đó là những bức tranh phong cách Tân Hình Thức và một ca khúc phổ thơ Tân Hình Thức mà khi giai điệu được cất lên, những ngôn từ đời thường của thơ Tân Hình Thức cũng lay động lòng người một cách thấu triệt không kém những ca từ thắm thiết của dòng nhạc tiền chiến. Có khác chăng, là trong không gian những phác lộ thẩm mỹ hoàn toàn mới…


Thơ và văn xuôi là hai phong cách khác nhau, luôn luôn lẩn tránh và hòa trộn lẫn nhau vì sử dụng cùng một ngôn ngữ diễn đạt. Phương tiện của thơ là thể luật, mục đích tạo nhịp điệu, còn phương tiện của văn xuôi là cú pháp văn phạm, gần với ngôn ngữ nói thông thường. Thật ra, từ khởi đầu, thơ thoát thai từ ngôn ngữ thông thường, rồi từ từ cô đọng ngôn ngữ để khi đọc hay ngâm nga cho có nhịp điệu trầm bổng, hình thành thể luật riêng biệt. John Schmit khi nghiên cứu về thơ Emily Dickinson, cho thấy bà đã tạo ra sự tối tăm trong thơ và người đọc mỗi người hiểu một cách khác nhau, bằng cách đơn giản là nuốt chữ và một phần của câu. Ông đã dùng luật cú pháp (syntatic rule) phục hồi lại những gì đã mất và cho rằng thơ dễ hiểu hơn nếu biết được cách làm thơ.1 Như vậy, do cách chọn chữ, chọn âm, cô đọng tới mức tối đa vì nhu cầu sáng tác, những nhà thơ vần luật đã phá vỡ văn phạm của ngôn ngữ thông thường bằng cách giấu đi những chữ thừa (của văn phạm cú pháp) và người đọc có thể tự hồi phục lại khi đọc. Điều này tạo nên ngộ nhận, thơ không cần đúng văn phạm, và gây lấn cấn giữa thơ và văn xuôi. (Thơ và văn xuôi có nhiều yếu tố chung và riêng, người thưởng ngọan không cần bận tâm, chỉ đọc lên và cảm nhận bài thơ có thơ hay không là đủ). Và khi hồi phục những chữ đã mất để am hiểu thơ, đồng thời, kích thích sự tưởng tượng và cảm giác mông lung của người đọc. Cách làm thơ đó chúng ta thường gọi đó là nghệ thuật tu từ.

Nhà thơ Timothy Steele cho rằng “thơ là nghệ thuật đầu tiên và văn xuôi bắt chước nó.”2 Từ thời cổ đại tới thời Trung cổ phương Tây, văn xuôi gần giống với thơ, cả vần và nhịp điệu, mục đích làm cho văn xuôi dễ nhớ và lôi cuốn như thơ, bởi vì thời đó, thơ được coi như phương tiện truyền đạt kiến thức tổng quát. Từ thời Phục Hưng, những ngôn ngữ bản địa phát triển, văn học bản địa (vernacular literarure) mau chóng lấn lướt văn học Latin, văn xuôi từ từ tách ra khỏi thơ. Cho đến cuối thế kỷ 19, tiểu thuyết đã giành được vị trí quan trọng trong đời sống văn học. Tính dễ nhớ và lôi cuốn của văn xuôi nhờ vào văn phong và tình tiết câu truyện. Thơ thể luật, cuối cùng, phải lui vào hậu trường. Một phần là những yếu tố chính như truyện kể, bị tiểu thuyết lấy mất, một phần khác là sự tách ra của thơ tự do. Cuối thế kỷ thứ 19, thơ tự do nổi loạn chống lại cách làm thơ chọn chữ xưa cũ (antiquated diction), làm cho ngôn ngữ thơ trở nên sáo rỗng (fustian), giả tạo (affected) của thời Vicroria (Victorian Period). Khi phá vỡ thể luật, không còn gì kiềm chế, thơ tự do phục hồi cú pháp văn phạm của văn xuôi, hòa nhập ngôn ngữ nói và đưa cuộc đời thực vào thơ. Theo nhà thơ William Carlos Williams, thể luật cung cấp nhạc tính cho thơ, còn chữ cung cấp nghĩa cho thơ. Nhưng khi không còn thể luật, âm của con chữ tự nó có chức năng tạo nhạc. Nhà thơ không còn dùng chữ để chuyển nghĩa, mà chú tâm vào âm chữ. Nghĩa của chữ và của bài thơ được suy diễn và giải thích bởi từng cá nhân người đọc. Để đạt tới điều này, thơ tự do dùng kỹ thuật dòng gãy (line break), cắt chữ hay nhóm chữ xuống dòng, tạo tốc đọc chậm, lắng nghe từng con âm chữ. Kỹ thuật này cũng dùng để xóa đi dấu vết của câu văn xuôi. Nhưng rồi thơ tự do, sau rất nhiều phong trào tiền phong, đã khẳng định được vị trí và vóc dáng của mình. Thơ không còn dùng chữ để tạo nhạc tính nữa, mà qua sự phát triển kỹ thuật in ấn, nhạc tính thơ được thay thế bằng nhịp điệu thị giác trên trang giấy. Nhà thơ tạo cấu trúc thơ, tìm kiếm ý nghĩa qua tiến trình phân tích với quan niệm, hình thức cũng là nội dung.

Nhà thơ Pháp Stéphen Mallarmé trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1891 cho rằng, thơ tự do sẽ sớm trở về thể luật phổ quát, đặc biệt là với dòng thơ Alexandrine 12 âm tiết. Nhiều nhà thơ rất gần với phong trào thơ hiện đại cũng không nghĩ, thơ tự do sẽ kéo dài mãi như thế. Đối với những người chống đối thể luật, họ hy vọng một thể luật mới sẽ xuất hiện khi thể luật truyền thống cũ không còn. Nhà thơ Mỹ William Carlos Williams, “thơ tự do tạm thời vô thể, nhưng nó không dừng lại ở đó, mà sẽ hướng tới một luật tắc mới.”3 Điều tiên đoán của Mallarmé hình như đúng với thơ Tân Hình Thức Mỹ, khi họ trở về với các thể thơ truyền thống, bằng cách đơn giản, đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ. Điều mong chờ của Williams chưa xảy ra.

Không thiếu những nhà thơ có ý thức sáng tạo, tài năng và sự am hiểu rành rẽ nghệ thuật thơ, đạt tới cấu trúc thơ. Điều này đã xảy ra trong quá khứ với những phong trào tiền phong và những nhà thơ tiền phong Mỹ. Nhưng thơ không có một cơ chế chung tạo nhịp điệu để chuyên chở cảm xúc, mà chỉ phô bày ý tưởng, và người làm thơ đi sau tưởng lầm, tự do thì muốn làm thế nào thì làm. Kỹ thuật dòng gãy, ngắt chữ hay nhóm chữ xuống dòng, nếu nối lại cho liền lạc câu văn, nhiều khi chỉ là một đoạn văn xuôi tầm thường, tẻ nhạt, hoặc là những ý tưởng rời rạc, vô nghĩa. Lỗi là do khi sử dụng kỹ thuật này, người làm thơ khó nhận dạng ra câu văn xuôi. Và nếu nhịp điệu thị giác, tùy thuộc vào văn hóa in ấn trên trang giấy, từng làm nên cấu trúc thơ và đưa thơ tự do tới chỗ hoàn chỉnh, thì ngày nay, người đọc đang quen dần với việc đọc trên Internet, nhịp điệu ấy khó còn hiệu quả như trước kia, so với âm thanh hình ảnh tân kỳ của kỹ thuật điện toán.

Thơ Tân Hình thức Việt chuyển những thể thơ có vần qua thể thơ không vần với những yếu tố cơ bản: vắt dòng, kỹ thuật lập lại, tính truyệnngôn ngữ đời thường. Vắt dòng làm cho ý tưởng liên tục, và cũng như thơ tự do, khi hồi phục văn xuôi, những nhà thơ Tân Hình Thức làm mất dấu vết văn xuôi bằng cách sử dụng kỹ thuật lập lại để tạo nhịp điệu, hoặc xóa bỏ dấu chấm phẩy của cú pháp văn phạm. Một bài thơ có nhịp điệu mạnh chừng nào, văn xuôi càng bị lu mờ đi, và người đọc mới đọc ra thơ. Nhiều nhà thơ phải bỏ cuộc vì không tạo ra được nhịp điệu, khi bài thơ hiện ra như văn xuôi. Những nhà thơ Tân Hình Thức Mỹ cho rằng thơ thể luật đã đánh mất nhiều chất liệu của nó cho tiểu thuyết, và nếu muốn hồi phục lại, thơ phải tiếp thu những đặc tính của tiểu thuyết. Tiểu thuyết đã lấy đi một yếu tố cốt lõi trong thơ, tính truyện, và đã tạo ra những tác phẩm lớn, với những tình tiết lôi cuốn hấp dẫn. Thơ tự do, với kỹ thuật dòng gãy, phần mảnh ý tưởng, nên không duy trì được yếu tố truyện kể sau khi tách rời khỏi thơ truyền thống.

Trong tình trạng kỹ thuật điện toán phát triển nhanh đến chóng mặt, tiểu thuyết không phải không có những khó khăn. Con người phải đối mặt với nhiều vấn đề xáo trộn trong đời sống. Iphone, Ipad đang trở thành những phương tiện bất ly thân. Thời gian không còn đủ để người ta nhẩn nha đọc một cuốn tiểu thuyết, dù là tiểu thuyết hay, thay vào đó, họ đọc tiểu thuyết qua phim ảnh, truyền hình, với những kỹ thuật vô cùng xảo diệu. Nhưng tâm lý con người không phải cứ đắm mình trong không gian ảo với những tưởng tượng cũng ảo. Đến một lúc, người ta có nhu cầu trở về với thơ và truyện, những con chữ, nhưng với một hình thức thích hợp hơn trước. Thơ Tân Hình Thức Việt cần giải quyết thêm phần kỹ thuật kể, và cung ứng cho người đọc một thể loại mới, cùng một lúc vừa đọc được cả thơ lẫn truyện.


“Thơ cổ điển Việt Nam, truyện Kiều chẳng hạn, thường là những truyện dài bằng thơ. Cho đến thơ vần điệu Tiền chiến (thập niên 1930), và thơ tự do (thập niên 1960), ảnh hưởng của thơ hiện đại phương Tây (Tượng trưng, Siêu thực), tính truyện bị loại bỏ, và thơ thường sáng tác trên căn bản những cảm hứng tình cờ, ngẫu nhiên. Khi thơ tân hình thức Việt hồi phục lại tính truyện kể, lại không thể kể như thơ cổ điển vì hai cách làm thơ khác nhau, nên vẫn sáng tác theo những cảm xúc nhất thời như vậy. Sự loay hoay đó kéo dài, vì một lý do đơn giản, chúng ta chưa có một kỹ thuật kể, áp dụng vào trong thơ.

“Kỹ thuật kể mới: Một bài thơ đứng một mình, tự nó là một bài thơ hoàn chỉnh, nhưng khi có những tình tiết và ý tưởng liên hệ tới những bài thơ khác, chúng ta có một xâu chuỗi thơ. (Đối với thơ Tân Hình Thức, những bài thơ trong một xâu chuỗi có thể ở bất kỳ thể thơ nào, từ 5, 7, 8 chữ hay lục bát. Và có thể dùng kỹ thuật vắt dòng, nối dòng cuối của bài trước và dòng đầu của bài sau, để cho có vẻ liền lạc, nhưng không phải là nguyên tắc bắt buộc.) Mỗi xâu chuỗi là một câu truyện liền lạc với đầy đủ tình tiết. Một câu truyện có thể cần một hay nhiều xâu chuỗi, và khi tập hợp nhiều câu truyện độc lập với nhau, tập thơ chẳng khác nào một tuyển tập truyện ngắn. Chúng ta có kỹ thuật xâu chuỗi cho một truyện ngắn bằng thơ. Nhưng xâu chuỗi thơ làm chúng ta liên tưởng tới những mẫu tự, được xếp theo chiều ngang và chiều dọc của một ô chữ (crossword puzzle). Trong một ô chữ, mỗi mẫu tự nối với những mẫu tự khác thành những chữ hoặc nhóm chữ, không khác nào mỗi bài thơ trong xâu chuỗi thơ. Như vậy nếu đặt những xâu chuỗi thơ trong một khung ô chữ, gặp nhau hoặc song song, chúng ta có kỹ thuật ô chữ để tạo bố cục cho một truyện dài bằng thơ. Hai kỹ thuật xâu chuỗi và ô chữ, gọi chung là kỹ thuật ô chữ, có khả năng tạo nên những tác phẩm tuyến tính hoặc phi tuyến tính và đa cốt truyện cho thơ Việt. Sự nhạy bén, tinh thần sáng tạo nơi nhà thơ là cần thiết, để khai triển câu truyện vừa đơn giản vừa phức tạp, làm sao người đọc dễ dàng theo dõi, không qua sự diễn giải của phê bình. Điều ghi nhận, hiệu ứng cánh bướmkỹ thuật ô chữ là những yếu tố ngoài thơ, lần đầu tiên được áp dụng vào thơ, nói lên nỗ lực không ngừng để hoàn thiện những đường nét cơ bản của một dòng thơ mới. Nhà thơ Biển Bắc cho rằng, chúng ta có thể nối nhiều bài thơ của nhiều tác giả thành một câu truyện kể, giống hình thức một tuyển tập. Và như thế, thơ Tân Hình Thức Việt, với kỹ thuật ô chữ sẽ trở thành một trò chơi lý thú, thích hợp với thế hệ của thời vi tính.”4

Chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ, sáng tác theo kỹ thuật dựng truyện mới này: “Những người đàn bà cuối cùng của một dòng họ” của Đài Sử, và “Tiếng hát từ cổ xưa” của Khế Iêm. Cả hai bài đều là những bài thơ dài. Nếu sáng tác để thử nghiệm kỹ thuật xâu chuỗi thì kỹ thuật này chưa được khai triển tới nơi, vì những đoạn thơ không đủ cá tính đặc biệt, tự nó là một bài thơ, vừa độc lập vừa phối hợp thành chuỗi. Nhưng hai bài thơ làm bật hai yếu tố trong kỹ thuật dựng truyện: bố cục và tình tiết. Bố cục của bài thơ khác với bố cục trong cốt truyện tiểu thuyết. Và tình tiết trong tiểu thuyết được miêu tả rất chi ly, trong khi tình tiết trong thơ chỉ là những chi tiết biểu trưng, hòa nhịp với nhịp điệu và ngôn ngữ tạo thành những hấp lực riêng. Một câu hỏi được nêu ra cho bài thơ thứ hai, tại sao lại dùng thể lục bát? Người đọc có thể bị bối rối khi những ấn tượng của thơ lục bát có vần còn ăn sâu trong tiềm thức? Câu trả lời có thể mang tính chủ quan: Thơ lục bát có vần thường dùng vần bằng, tạo nên âm điệu êm ả và đều đặn như những điệu ru, cách đọc không nhanh không chậm nhờ ở vần, nghe như một dòng sông uốn khúc trôi. Bây giờ khi bỏ vần, thay đổi âm điệu thơ, hình dạng bài thơ vẫn cho ta ấn tượng như một dòng sông trôi, nhưng âm thanh và tốc độ thay đổi, réo rắt và rộn rã hơn. Chúng ta sẽ nhận ra một lục bát khác với lục bát từ trước tới nay, trong cách đọc và sáng tác. Thơ lục bát có vần hay không vần, thích hợp với giọng kể, chỉ là phương cách làm thơ, và sự hiện diện của cả hai tạo cho thơ hình ảnh đa dạng và phong phú. Vấn đề là bài thơ đọc lên có thơ hay không. Hiểu tới đó thì chúng ta sẽ giải trừ được những vướng mắc không cần thiết để đạt tới sự hoàn thiện trong việc thưởng ngoạn thơ.

Hai bài thơ là những thử nghiệm về ngôn ngữ, bố cục, tình tiết và cách kể một câu truyện, qua đó gợi ý giúp chúng ta tìm kiếm, khai triển nghệ thuật kể riêng của mình. Chắc chắn, sẽ không ai giống ai và không bài thơ nào giống bài thơ nào, vì đó là thơ, là tiêu chí nghệ thuật. Thơ Tân Hình Thức Việt đang bước qua một giai đoạn  mới.


Chú thích và tham khảo:
1 “Những Quan Điểm Thẩm Mỹ Mới”, Khế Iêm, “Vũ Điệu Không Vần”, Nxb Văn học, 2011.
2 “Missing Measures”, Timothy Steele, The University of Arkansas Press, 1990.
3 The free verse movement seemed, in Williams’ word, “a formless interim”; it not was considered an end in itself, but was to lead to a “new way of measuring”.
4 Trích trong bài, “Thời Gian Phần Mảnh” [Fractal Time] Trong Thơ Thanh Ngọc.


Tiếng hát từ cổ xưa

 Chàng thất lạc tới ngôi nhà
hoang phế những con đường dẫn lối xưa
như cỏ dại và chàng đẩy
cửa vào như cánh cửa đẩy chàng vào
căn phòng lờ mờ tím than
và chàng đọc trên bức vách những con
chữ ngoằn ngòeo bay ra mùi
ẩm mốc của thứ thời gian đặc lại
và lõang tan trong lớp bụi
bậm tự thuở nào còn văng vẳng tiếng
cười đùa trong cơn huyên náo
của tình yêu như tiếng reo ca của
dục lạc tiếng nước chảy trong
chiều hè và dòng sông nước mắt và
nước mắt dòng sông… chàng vỗ
trán trong khoảng khắc rất nhanh của trí
nhớ cánh cửa sổ mở thoang
thoảng mùi hương thiên lý chàng thất lạc
chàng trong khỏanh khắc rất nhanh
ngôi nhà chừng như đang lung lay trong
gió những trang sách rã ra
bình nước tan biến chiếc máy chữ gõ
lọc cọc lọc cọc và cùng
lúc có tiếng chân bước của rất nhiều
người và chàng nhận ra những
khuôn mặt của thời xa vắng lặng câm
như đồ vật như những chiếc
bóng đang bước vào ngưỡng cửa luân lạc
và ngôi nhà tưởng như chỉ
là ý niệm trong chốc lát nảy sinh
nơi tâm trí chàng thực và
giả lẫn lộn và chàng chợt nhớ nàng
và không biết nàng có nhớ
chăng chàng nhớ chàng đã đội cho nàng
vòng gai và dắt nàng lách
qua khung cửa hẹp ôi cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy nay đâu
“- Có lẽ con thuyền chẳng kịp
tới bến sông sớm mai – Chắc
hẳn – Và trên núi cao bình
minh – Chúng ta đã mất khá
nhiều hơi sức – Có bao giờ
và bao đời mỗi khoảng khắc
trong trái tim thanh xuân tiếng
đập của cô tịch – Thôi đừng
nói nữa chúng ta đã chẳng
còn nhiều thì giờ – Chúng ta
còn rất nhiều thì giờ mà –
Trong chiếc túi áo thủng những
giấc mơ rơi đâu. – Đừng nhắc
tới những cánh chim tha Hương
– Ôi những cánh chim muôn phương.”
Chàng dẫm lên cỏ khô lênh đênh như
cánh chim điêu linh và trong
nỗi khắc khoải chập chờn chuyến xe nhọc
nhằn của quá khứ chàng thấy
nàng đang trở về sau cuộc hành hương
tưởng chừng như hôm qua nàng
còn chải tóc và hong khô đôi môi
trong gió ấm và không có
gì đẹp hơn nụ hôn nàng trong đêm
ngọt như mật ong cứ như
thế chàng thức ngủ từng hồi nghe tiếng
nói đang kể về những bi
kịch dang dở và trong cõi chật hẹp
của chiều ngày chàng thì thầm
với vô vọng thấy lũ kiến đục khoét
cơ thể những trái cây mang
đầy độc tố những nụ hoa nhả ra
mùi hương mê chàng không thấy
nàng và chàng bước ra từ hầm lửa
nhập thành kẻ lưu dân rách
rưới chập choạng ở khoảng cùng trời cuối
đất cứ như thế chàng quanh
quất giữa những bờ tường còn nồng mùi
vôi mới cùng đám cư dân
nửa quê nửa tỉnh trôi nổi trong những
ngôi nhà được góp nhặt bởi
mảnh vụn của nền văn minh xa xưa
khắc họa nỗi ray rứt… chàng
đứng dậy xốc áo chàng đi tìm chàng
chàng là ai chàng là ai…
đừng tin điều gì về chàng hỡi những
kẻ có mặt trên thế gian
hãy gầy lại đốm lửa nghi hoặc nhưng
Nàng vẫn tin mọi điều về
chàng nàng đi tìm chàng chàng ra đi
và chẳng trở về như chàng
trở về rồi lại ra đi làm rộn
trí nàng đến nỗi nàng cứ
tưởng chàng chưa hề có mặt trên thế
gian này vả chăng thế gian
này là thế gian nào trong cơn bối
rối nàng ngợ ngợ nàng là
ai là ai giữa những cuộc đời khác
và những cuộc tình khác nàng
văng vẳng nghe tiếng thì thầm đã bao
lần của chàng rằng chàng mong
được sống trên một hòn đảo vô danh
lánh xa những phiền toái nghe
sóng vỗ kể về những số phần phiêu
bạt để mỗi đêm nằm mơ
thấy bầy sư tử bên bờ biển Phi
Châu mặc cho cảnh đời man
dã quyến rũ tâm hồn mình còn nàng
nàng chỉ là người tình buồn
mãi đứng bên lề của cuộc đời chàng
Nàng xót xa chợt nhớ đến
cha nàng đã bỏ nhà ra đi rất
sớm theo tiếng gọi của tình
yêu và mẹ nàng sau những năm tháng
khốn khó đến cuối đời trong
cái lầm lộn của tuổi già vẫn tin
người chồng của mình mỗi đêm
đều về rất khuya để nối lại mối
tình dang dở (ôi nỗi đời
ương dở) như điệp khúc thời gian rồi
một hôm có lẽ chán nản
với những câu chuyện cứ lập lại và
có thể cha nàng đã về
thật để rủ người bạn đời tham dự
vào một chuyến đi không bao
giờ trở lại bà đã đi một mình
trong đêm vội vã không kịp
trang điểm để đẹp như một hoàng hậu
đến nỗi nơi căn phòng trong
chiếc tủ còn chứa những loại nước hoa
phấn sáp và những kiểu quần
áo đã rất xưa thơm mùi long não
và nàng nhìn mẹ nàng nằm
tiều tụy và bất động nhìn những đồ
vật đã được chuẩn bị rất
lâu cho một giờ cuối cùng mà lòng
nàng se lại ôi sắc đẹp
mộng mị cũng chứa đầy mầm bội phản
“- Thế còn câu chuyện mùa xuân
– Quái -… Người ngồi bên sông kể
về thời dựng nước những cánh
chim bỏ ngàn – Những đứa con
xuống biển – Cảnh phân ly đã
có từ thời huyền thoại – Chẳng
lẽ – Cuộc ra đi là mãi
mãi như con nước xuôi – Mùa
xuân năm ấy những đứa con
cam đảm vượt qua đầm lầy
sông bãi tìm đường ra biển
hiện thực lời nguyền đã nằm
trong sách sử – Hà… Hà… – Mùa
xuân năm ấy có nguyệt thực
và đêm tối kéo dài bất
tận… – Những giấc mơ vỡ tan
và chia lìa… – Nhưng – Biển cả
đã gột rửa quá khứ – Và
hỡi những cánh chim phiêu lưu
cứ bay đi, bay mãi…”
Nàng ngã bịnh một căn bịnh
kỳ lạ nàng giả vờ sống như giả
vờ chết và trong tình trạng
nhập nhằng của tâm trí nàng không còn
nhận ra nổi con đường nàng
đang đi ngôi nhà nơi nàng ở và
chỉ trong đêm tối nàng mới
nhận ra được nhan sắc mình cứ như
thế hàng thế kỷ qua nàng
lang thang trong ngôi nhà rộng thênh ngạc
nhiên về sự vắng vẻ và
dịu mát nàng chập chờn ăn uống chập
chờn tắm rửa và hát ngợi
ca về những mối tình của cả ngàn
năm trước nàng nghĩ đến chàng
đằm thắm hơn nhưng là chàng của nhiều
hình dạng những cánh tay dài
ngoằng những bàn chân to bè và cho
chàng những khuôn mặt đủ kiểu
của phường tuồng chàng là tập hợp của
mọi giai cấp ở từng thời
kỳ cứ như thế trò chơi kéo dài
vô tận đã làm nàng quên
mất một chàng có thật chẳng còn nhớ
đến tên chàng và bóng dáng
chàng phai dần đã làm lành nỗi thương
nhớ nhưng lại làm nàng sa
vào tình trạng lẫn lộn những chiếc mặt
nạ chồng chất trong ký ức
nàng chẳng khắc họa đường nét rõ rệt
nào ngoài sự buồn cười rồi
nàng tâm sự và đùa bỡn với những
hình nộm ăn sâu vào thế
giới giả trang đánh mất cá tính xáo
trộn nếp sinh hoạt và không
biết mình là ai nàng quên cả chính
nàng ôi câu chuyện của chàng
“Và nàng còn dài nhưng người
kể không kể tiếp vì đến
đây câu chuyện chưa có thêm
tình tiết mới bởi cuộc đời
của chàng và nàng tự nó
đang diễn biến và kết cấu
để hòan tất câu chuyện và
mỗi câu chuyện hoàn tất hoàn
tất khi đã cuối đời và
không ai có thể kể câu
chuyện không phải của mình ngoài
nhân vật đang kể và câu
chuyện không phải của mình nếu
kể đúng ra chỉ chứa nửa
phần sự thật nhằm giải trí
trong phút giây và câu chuyện
nhằm giải trí trong phút
giây thì có gì đáng kể
và như thế người kể còn phải
đợi chờ và đợi chờ không
biết đến bao giờ đợi chờ
và đợi chờ chàng và nàng
tiếp tục kể câu chuyện đời
mình và người kể sẽ thuật
lại và người đọc cứ đọc
lại những gì đã đọc trong
lúc đợi chờ… đợi chờ
gì và đợi chờ ai.”
(Nguồn: Khế Iêm – Sông Hương Số đặc biệt 7/tháng 12-2012)

BÌNH LUẬN VỀ “THƠ KHÁC”

BÌNH LUẬN VỀ “THƠ KHÁC” 

Alexander Kotowske

Trong khoảng vô số giờ phút thú vị tôi chúi mũi vào một tập thơ hoặc văn, có những lúc tôi ngẩng đầu khỏi cuốn sách hoặc ngước mắt khỏi dòng chảy nhịp nhàng của bài thơ, và tự đặt một câu hỏi mà nó đòi được giải đáp: điều gì đã buộc tôi tiếp tục; điều gì hiện hữu bên trong bài thơ khiến đôi mắt khát khao của tôi dán chặt vào những dòng dưỡng chất, năm này qua năm khác?
Có vài lý do ùa vào tâm trí, tất cả chúng đều quan trọng và xác thực như nhau, trừ một lý do, chừng như đứng ở vị trí cao hơn cả. Đó là khi những dòng thơ nối kết tôi với Cái Tôi đã mất của tôi, cái tôi lang thang, và điều này đánh thức tâm hồn giữa lòng thế giới hỗn độn quá thiên về chủ nghĩa vật chất này, nhắc nhở tôi rằng tôi sở hữu được cái gì đó vốn là phi vật chất; rồi thì dường như tôi nhớ được tại sao tôi yêu thơ, bởi vì thơ đã nhớ tới tôi, cái tôi vĩnh hằng bị giấu kín. Và khi tôi tình cờ gặp được một bài thơ hoặc một tập thơ giữ lại được yếu tố phi thời gian, vô giá và, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng đó còn là yếu tố hiếm hoi trong thế giới viết văn làm thơ đương đại của chúng ta, sau đó thì tôi biết tôi đã tình cờ gặp được một cái gì đó lớn lao.
Của Khế Iêm: thơ tỏ lộ sự thấu hiểu thật sâu sắc, những tiểu luận kích động tư duy, và đặc biệt là tuyển tập thơ song ngữ đầu tiên và gần đây nhất được đặt tên là Thơ Khác; tất cả là một gương mẫu quý giá về sự lớn lao mà tôi xin trân trọng để nói thế. Ngay sau khi người đọc có thể rời mắt khỏi sự phối hợp và nhịp điệu đẹp đẽ của những họa tiết trên bìa sách, để đắm chìm nơi miền sâu thẳm của những bài thơ của Khế Iêm, họ có thể thấy rằng những bài thơ của ông, một cách khả ái, chúng giản dị, uyển chuyển, biểu đạt rõ ràng, và sâu sắc; và chúng chẳng thể dẫn họ theo hướng nào khác ngoài hướng đi vào bên trong, và hướng tới một sự thấu hiểu sáng suốt hơn về thực tại của chính họ. Trong khi chúng ta bước chậm rãi xuyên qua mê cung những ý nghĩ lấp lánh sắc thái của sự quan sát nội tâm đan quyện vào nhau qua suốt những bài thơ của Khế Iêm, thì chúng ta bắt đầu đặt câu hỏi về thực tại của thời gian, về thực tại của không gian, và về đời sống mà chúng ta coi như thực tại của chúng ta. Đôi khi một bài thơ thật trang nghiêm lại kết thúc bằng một cảm giác đột ngột về sự cô độc cực kì, như thể chỉ những điều để biết, để cảm nhận, nối kết chúng ta với thực tại của chúng ta, mới là những cảm xúc gào thét bên trong ta. Và rồi, trong những khoảnh khắc đó, khi Khế Iêm để mặc chúng ta tự hỏi chúng ta nên đi đâu, thì ông bắt đầu vẫy chào tạm biệt một ảo tưởng khác, khi ông đứng bên đây đường, nóng lòng từ biệt niềm xúc cảm buồn rầu đã cứng đọng lại, nhưng nó vẫn kiên trì trụ ở bên kia đường; và dù ông có thể thốt lời “buồn ơi, tạm biệt, buồn ơi” trong khi vẫy tay chào, thế nhưng ông không thể dứt khỏi người bạn thân thiết ấy mà ông từng giữ trong lòng và “nuôi dưỡng” đã quá lâu. Những bài thơ nhiều lần nhắc nhở chúng ta về tính tạm bợ của cuộc sống chúng ta, và về vài sợi dây mỏng manh ít ỏi ràng buộc chúng ta với nó, nhưng chính từ cuộc hiện hữu chừng như trần thế đó lại tuôn trào những từ thật táo bạo trong bài thơ Chuyện đời anh: “Những cái chết chưa bao giờ có thật, những cái chết chưa bao giờ xảy ra”. Điều bí ẩn mỉa mai này mà ông đề xướng chừng như giải phóng chúng ta một cách huyền nhiệm khỏi những âu lo vô ích về cái không biết. Dường như ông muốn nói rằng còn có nhiều điều cần biết hơn là chỉ riêng cuộc sống và cuộc hiện hữu này, vì thế đừng quá bám chặt lấy nó, tốt hơn hãy thả lỏng bàn tay nắm chặt nó do sợ hãi, để buông trôi vào vĩnh cửu, vì bạn đã sống ở bên trong vĩnh cửu rồi. Trong bài thơ Tức cảnh, một cách thích thú người đọc sống trọn một ngày thư giãn với cà phê và tiếng chim hót mà ông nói tới, và cái bóng thoáng hiện của đám mây trôi qua chừng như nhắc nhở chúng ta về cuộc đời phù du nhưng đẹp đẽ của chúng ta, và đúng vào lúc người đọc nghĩ rằng mình biết được điều gì đang xảy tới hoặc biết được điều có thể được ám chỉ, thì Khế Iêm lại kết thúc bài thơ bằng câu “cũng không có gì… cả như bóng mây.” Cái tính chất đôi khi hàm hồ và mỉa mai mà nó là đặc trưng của một số bài thơ của Khế Iêm có lẽ là một trong những yếu tố thú vị nhất và duy nhất của thơ ông. Những bài thơ này cho phép người đọc bắt đầu hiểu rõ được cái thế giới mà ông trình ra và tính phân cực của những gì có thể là chân lí, và dành cho người đọc vai trò của người quyết định tối hậu về quan điểm của họ đối với thực tại.

Trong khi tôi đọc những bài thơ đó, và đọc lại chúng một cách thú vị, tôi không ngừng nhận ra niềm hối thúc phải đọc lớn lên, và mặc dầu chúng được dịch từ tiếng Việt qua tiếng Anh, tôi vẫn nghe ra được một bài hát phổ biến trôi qua đầu lưỡi, một bài hát được nhận ra là không thuộc một ngôn ngữ từng được biết nào. Những dòng thơ tuôn chảy vừa lặng lẽ vừa hùng hồn. Những bài thơ không bị câu thúc và không bị lây nhiễm cái bệnh dịch của người viết hiện đại, đó là sự giả trá. Khế Iêm cho thấy tinh thần khiêm tốn nồng hậu và đầu óc sáng suốt của ông trong những dòng thơ đó, và chúng ta bắt đầu cảm thấy quen thuộc với nhà thơ cũng như với những bài thơ của ông khi chúng trôi xuôi theo dòng sông chảy nhịp nhàng qua tư duy thông tuệ của ông. Có những lúc trong khi đang đọc Thơ Khác, những người đọc nào cực kì tập trung đầu óc và hướng sự tập trung đó vào bên trong con người mình, về những gì được viết ra, thì những người đọc đó sẽ tìm được cảm giác an nhiên khuây khỏa trong sự tĩnh lặng của tư duy Khế Iêm. Trong một bài thơ như bài Con chim chết, sự nghiêm ngặt của thời gian và sự không tránh khỏi của cái chết dường như trôi đi mất, như con chim từng một thời đẹp đẽ và sinh động giờ sa xuống cái chết trên bức tranh sơn dầu bất tử cho “ngàn đời sau”, và rồi, trong vòng cái chu kì lộng lẫy này mà chúng ta gọi là cuộc đời, con chim đó có thể trở lại với sự sống chừng nào mà những gì là đẹp trong thế giới vẫn tiếp tục tồn tại. Mặc dù toàn bộ chuyện này có thể xem ra rất rối rắm, với những cuộc sống tươi đẹp của chúng ta và những cái chết không tránh khỏi, và với tất cả những câu hỏi không thể trả lời được mà chúng bao quanh nó, thì Khế Iêm để chúng ta ở lại trong một trạng thái nguôi ngoai không sao tả xiết, khi ông điềm tĩnh nói, “hỡi cuộc đời nhập nhằng nhập nhằng mãi ơi, xin chào từ biệt mi.” Chúng ta nghe thấy những lời lẽ của một người đã thực sự giải hòa được với cái không biết, và người đó chừng như không còn sống trong sự sợ hãi nữa, mà mỉm cười trước sự huyền bí đẹp đẽ bao quanh cuộc hiện hữu của chúng ta.

Có những câu hỏi tinh tế bên trong những bài thơ; những câu hỏi xưa cũ khiến tôi tự hỏi, “Làm sao tôi có thể đòi quyền hiện hữu nếu tôi không biết thực sự thì hiện hữu nghĩa là gì?” Và rồi một bài thơ khác xuất hiện sau đó để đập tan mối hoài nghi của tôi bằng câu hỏi và câu trả lời khôn khéo “ai là tôi”, và một giọng nói đáp lại bằng một sự thật hầu như có hàm ý một cách châm chọc, “tôi là ai”. Khế Iêm không cần phải trình bày cặn kẽ những giải thích chi li về những sự thật mà ông ngụ ý. Ông chỉ đề xuất một điều có thể là sự thật, và để cho người đọc thâm trầm đưa ra quyết định sau cùng. Thơ Khác của Khế Iêm là một cái giếng sâu thẳm của thứ minh triết cực kì đơn giản. Người đọc được mời uống một ly tư duy của ông, và để thấy điều có thể được làm nguôi ngoai bên trong cái ly đó. Tôi chắc rằng người đọc sẽ không trở nên khát. Dù chủ đề bài thơ là đề tài về sự khổ đau vốn đòi hỏi sự tinh tế, hoặc là một cô gái da đen xinh đẹp không thể làm khô cạn nỗi buồn ướt sũng đôi mắt cô do nỗi sầu khổ tuôn tràn của một cuộc đời khác; dù là một bài thơ xục xạo vào mọi ngõ ngách của thực tại và ướm thử những phối cảnh của một vật tầm thường như chiếc ghế, thì một dòng êm ả của những ý nghĩ lặng lẽ và an nhiên chừng như tuôn chảy xuyên suốt tất cả những bài thơ, và để người đọc ở lại trong sự an bình vô giá của tâm trí khi trang thơ cuối cùng được gấp lại.


LỜI BÌNH


Đó là một quan niệm tuyệt vời, và là một đóng góp quan trọng đối với văn học thế giới. Có lẽ ý tưởng xưa về nền “cộng hòa văn chương” có thể nổi lên lần nữa trong thời đại nơi tất cả đều nhận ra tính nhân bản chung của chúng ta và tìm kiếm cho văn học nghệ thuật một nền tảng đúng hơn, vì sự đồng cảm hơn là hệ tư tưởng.

Nhà thơ & học giả Frederick Turner


Bài “Những Chiếc Ghế” thách thức cái giả định rằng chiếc ghế là chiếc ghế, liệt kê một loạt những gì mà một chiếc ghế có thể là, hoặc có thể không là, hoặc là, hoặc không là, hoặc khác với những chiếc ghế khác, về cơ bản đã kết luận rằng chúng ta không biết gì cả về những chiếc ghế, và không thể biết, không biết chút gì về bất cứ thứ gì, và không thể biết …
Một trong những bài thơ, “Giữa Ai Và Ai,” bắt đầu:

Thật ra thật ra thật ra tôi không
biết bắt đầu như thế nào, từ khi
nhận ra khoảng cách giữa chiếc ghế không
ai ngồi và chiếc ghế tôi đang ngồi,

mà chiếc ghế không ai ngồi, tôi cũng
đã từng ngồi và chiếc ghế tôi đang
ngồi, có lúc tôi đã không ngồi …

Điều này cho bạn thấy quan điểm của Khế Iêm về những khía cạnh mâu thuẫn và khó nắm bắt của thực tại, và ở vài mức độ, làm sao chúng tác động lên những mối quan hệ cá nhân. Trong khi diện mạo những bài thơ thì trong sáng và đơn giản, nhưng những mối quan tâm của ông lại phức tạp.

Nhiều bài thơ ý nghĩa trùm lấp lên nhau như những lớp ngói, nhiều hơn hết thảy những bài thơ nếu đọc riêng lẻ. Chúng phản ánh điều đáng suy nghĩ thuộc trải nghiệm về hai văn hóa, “ai và ai” là một người, hai người, hoặc là một lỗ hổng – lỗ hổng tha hương, lỗ hổng giữa tất cả chúng ta và thế giới trong đó chúng ta tìm – và không tìm – chính chúng ta.

Nhà thơ Tom Riordan


Phạm Kiều Tùng dịch


ĐỌC TRÊN ISSUU


Alexander Kotowske

During the countless pleasant hours that I have spent with my nose buried in a book of poetry or literature, there are occasions when I lift my head from the book or raise my eyes from the rhythmic flow of the poem, and ask myself a question that begs to be answered: what is it that compels me to continue; what exists within poetry that keeps my hungry eyes fixed to the alimental lines, year after year? Several reasons rush to mind, and they are all equally important and true, except one, which seems to stand superior to them all. This is when the lines of poetry connect me to my lost Self, the wandering I, and awakens the soul amidst this chaotic world that is consumed with materialism, reminding me that I possess what is immaterial; then I seem to remember why I love poetry, because poetry has remembered me, the hidden eternal me. And when I stumble upon a piece or book of poetry that withholds this timeless, priceless and, I regretfully say, within our contemporary world’s writing and poetry, rare element, then I know that I have stumbled upon something great.

The deeply insightful poetry and lofty, thought-provoking essays of KheIem, and especially his latest debut collection of bi-lingual poetry entitled Other Poetry, are a golden example of this greatness which I speak of so highly. Once the readers are able to remove their eyes from the beautiful interplay and rhythm of the designs which cover the surface of this book, and to dive into the deep of KheIem’s poems, they may find that his endearingly simple, fluid, articulate and profound poems may lead them in no other direction then into themselves, and towards a more lucid understating of their own reality. As we slowly step through the labyrinth of introspection-sparking thoughts intertwined throughout KheIem’s poems, we begin to question the reality of time, the reality of space, and the life we consider our reality. At times, a solemn poem ends with a sudden feeling of sublime loneliness, as if the only things to know, to feel, linking us to our reality, are the emotions roaring within. And then, in these moments when KheIem leaves us wondering where we should go, he begins to wave goodbye to another illusion, as he stands upon the opposite side of the street, longing to say goodbye to the immovable emotion of sadness, but it remains steadfast on the other side of the street; and, although he may say, while waving his hand, “sadness, goodbye, oh, sadness,” he cannot part from a close friend he kept within and “nurtured” for so long. The poems repeatedly remind us of the transitory nature of our life, and of the few thin strings that connect us to it, but bursting forth from this seemingly temporal existence come the bold words within the poem The Story of Your Life, “Deaths that have never been real deaths they have never occurred”. This ironic enigma which he proposes seems to mysteriously free us from the needless worries of the unknown.

He seems to say that there is more than life and this existence to be known, so do not cling too tightly to it, rather release the fearfully clenched grip and drift into the everlasting, for you already live within it. In the poem, On the Spur of the Moment, the reader pleasantly absorbs a relaxing day of coffee and the song of birds he speaks of, and the fugacious shade of a passing cloud seems to remind us of our fleeting but beautiful life, and just as the reader thinks that he knows what’s coming or what may have been im-plied, KheIem concludes the poem with, “but nothing comes of it… not even cloud shadows.” The sometimes ambivalent and ironic nature which characterize some of the poems is perhaps one of the most interesting and unique elements of his poetry. They allow the reader to come to grips with the world he presents and the polarity of the possible truths, leaving the reader the ultimate decider of their own view upon reality.

As I read and enjoyably re-read the poems, I continually find the urge to read them aloud, and although they are translated from Vietnamese into English, I hear a universal song float off my tongue, which is recognized as no known language. The lines flow both quietly and eloquently. The poems are uninhibited and uninfected with the plague of the modern writing man, pretense. KheIem has borne his warm modest spirit and insightful mind within these lines, and we begin to feel acquainted with the poet as well as his poems as they drift along the rhythmic river of his wise thought. There are times while reading Other Poetry that the readers who focus deeply and inwardly on what is written will find a consoling sense of serenity in the quietude of KheIem’s thought. In such a poem as A Dead Bird, the rigidity of time and inevitableness of death seem to float away, as the bird which was once beautiful and living descends in death upon the immortal canvas for “a thousand generations,” and then, within this magnificent cycle we call life, it then can return to the living as long as what is beautiful in the world remains. Although this all may seem very perplexing, with our beautiful lives and unavoidable deaths, and all the unanswerable questions which surround it, KheIem leaves us in a state of indescribable solace, as he calmly says, “no matter what, life continues to be unexplainable confusion, goodbye.” We hear the words of a man who has truly made peace with what is unknown, and seems to live no longer in fear, but smiles at the beautiful mystery wrapped around our existence.

There are subtle questions within the poems; age-old questions that cause me to ask myself, “How can I claim to exist if I don’t know what it truly means to exist?” And then another poem comes along later to demolish my doubt with the clever question and answer “who am I,” and a voice returns with the almost sarcastically implied truth,“i am who.” KheIem does not need to state elaborately detailed explanations of the truths he so cleverly purports. He merely propounds a possible truth, and leaves the thoughtful reader to make the final decision. KheIem’s Other Poetry is an abysmal well of simplistic wisdom. The readers are invited to take a drink of his thought, and to see what may be found quenching within it. I am sure the readers will not go thirsty. Whether the subject is the delicate topic of suffering or a beautiful dark skinned girl who cannot dry the sadness that has soaked into her eyes from the spilled grief of another’s life; whether it’s a poem that pokes around the reality and tries on the different perspectives of an object as mundane as a chair, a calm current of tranquil and serene thoughts seem to flow throughout all the poems, and leaves the reader in a priceless peace of mind as the final page is turned.


COMMENTS


It is a splendid concept, and an important contribution to world literature. Perhaps the old idea of the “republic of letters” can rise again in an age where we are all recognizing our common humanity and finding literature and art a better basis for communion than ideology.

Poet & scholar Frederick Turner

“Chairs,” challenges the assumption that a chair is a chair, cataloging a series of things one chair might be, or might not be, or is, or isn’t, or is different from chairs, concluding essentially that we know nothing at all about chairs, and cannot; nothing at all about anything, and cannot …
One of the poems, “Between Who and Who,” begins

The truth is, the truth is, the truth
is i don’t know how to begin,
since i acknowledged the space be-
tween the unoccupied chair and

the chair i am sitting in, but
i had sat in the unoccu-
pied chair before…

This gives you an idea of Khế Iêm’s interest in the elusive and/ or contradictory aspects of reality, and to some degree, how they impact personal relationships. While the faces of his poems are clear and simple to read, his concerns are complex.

Many of the poems overlap like shingles, more than the sum of their parts. They reflect something of the experience of being bicultural, the “who and who” being one person, two people, or a gap – the expatriate’s gap, and the gap between all of us and the world in which we find – and don’t find – ourselves.

Poet Tom Riordan

Bạn đọc có thể đọc trực tiếp hoặc in ra giấy để đọc, đặt mua sách, báo
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi vào Diễn đàn hoặc Email về Ban Biên Tập
Chân thành cảm ơn!


NHỮNG THIÊN SỨ NỔI DẬY: 25 NHÀ THƠ TÂN HÌNH THỨC

MARK JARMAN & DAVID MASON

 

Cách mạng, như nhà phê bình Monroe Spears nhận xét, vốn được nuôi dưỡng từ trong cốt tủy của cá tính Hoa Kỳ. Cá tính đó đã hiển hiện đặc thù trong thi ca Hoa Kỳ hiện đại.

Những thiên sứ nổi dậy: 25 nhà thơ tân hình thức

Nhà thơ Mark Jarman – Ảnh: wiki

 

Vậy không lạ gì trong sự phát triển trong thi ca Hoa Kỳ gần đây là sự trỗi dậy lại của luật âm tiết (meter) và phép gieo vần (rhyme), cũng như tính chất kể chuyện tự sự (narrative), trong số lớn những nhà thơ trẻ, sau một thời kì mà những thành tố thiết yếu này của văn vần đã bị vùi dập. Chúng tôi hi vọng chứng minh rằng những nhà thơ được biết là Tân Hình Thức đã làm ra những bài thơ đáng chú ý về vẻ đẹp, sự chuẩn xác và sự đáng nhớ trong ngôn ngữ, cũng như về tình và ý. Tuyển tập này nhằm tiêu khiển, nhưng cũng nhằm truyền thụ bằng cách thu thập tuyệt tác của 25 nhà thơ mới quan trọng viết trong nhiều hình thức – một số là truyền thống, một số vừa mới ra lò – rút ra từ kinh nghiệm trong thế hệ của họ. Những nhà thơ này đại diện cho một sự thay đổi nền tảng, phải gọi là một cuộc cách mạng, trong nghệ thuật thi ca như đang thực hành ở đất nước này.

Những nhà thơ trong tuyển tập này đều sinh từ 1940 trở lại. Họ trưởng thành viết văn làm thơ khi phần lớn các nhà thơ Hoa Kỳ đã từ bỏ luật âm tiết và phép gieo vần. Những chấn động văn hóa của các thập niên 1960 và 1970, nối gót theo chủ nghĩa hiện đại (modernism) và hai cuộc thế chiến, đã sản sinh một nền thi ca mà trong đó những khuôn khổ truyền thống bị coi là tương phản với sự thật. Sự nở rộ của thơ tự do (free verse) trong cuộc Chiến tranh Lạnh tự thân đã là một thay đổi, một cuộc cách mạng nuôi dưỡng bằng tính cách Hoa Kỳ. Những nhà thơ ít tuổi hơn thời đó đã đọc tác phẩm của Allen Ginsberg, Amiri Baraka, Diana Wakoski, Denise Levertov, và học hỏi sự chuyển dời trong phong cách từ thơ luật (formal verse) sang thơ tự do nơi những nhà thơ như Robert Lowell và Adrienne Rich. Khi họ bắt chước các bậc trưởng thượng, rất thường khi kết quả là một thứ thơ nói đến những mối quan tâm xã hội, nhưng họ làm thế trong một ngôn ngữ có tầm hạn hẹp về hình thức. Thơ và văn xuôi đã trở nên gần như không phân biệt nổi và “văn vần” (verse) thành ra một từ mang nghĩa xấu. Di sản điệp phụ âm đầu (alliterative) và kho từ vựng phong phú của tiếng Anh cũng bị tổn hại nữa, khi phạm vi thính âm của thơ co rút lại trong cú pháp tầm thường nhất khả dĩ.

Dĩ nhiên cũng có những nhà thơ Hoa Kỳ lớn tuổi chẳng hề từ bỏ những hình thức truyền thống, và một số là nhà giáo vẫn giữ cho sống động những giá trị thẩm mĩ luống tuổi, cầm cự trước những tấn công vào tác phẩm của họ bởi những nhà phê bình ngỡ là hễ cứ vận luật và trái với tính cách của dân tộc Hoa Kỳ. Người ta nghĩ đến những người như J. V. Cunningham, Anthony Hecht, Howard Nemerov, và Richard Wilbur, cùng với X. J. Kennedy và Mona Van Duyn, chủ trì những tạp chí như Counter/Measures [Đối/Vận luật] và Perspective [Viễn kiến] vẫn từng thân thiện với những người viết luật thi. Người ta nhớ lại rằng Donald Justice, đã từng rời bỏ vận luật trong tác phẩm thời đầu, đã quay trở lại với vận luật vào giữa thập niên 1970. Những nhà thơ này can đảm trong chí nguyện với nghệ thuật. Nhưng thời tuổi trẻ họ đã từng được tập luyện trong nghề thơ ấy và thấm đậm trong mĩ học khuôn khổ của Yvor Winters, John Crowe Ransom, Allen Tate, và những nhà Tân Phê bình (New Critics). Họ khởi hứng từ cái có thể gọi là “qui phạm cao cấp của văn học” (the high canon of literature), được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng về nghệ thuật, phản ngữ, là lễ tiết từ thời Phục hưng của văn học Anh.

Dù thừa nhận mang nợ trước những vị thầy trọng tuổi này, những nhà thơ Tân Hình Thức gốc rễ lại khác biệt rất xa. Những nhà thơ trẻ này trưởng thành trong kỉ nguyên của âm nhạc rock, Chiến tranh Việt Nam, Phong trào Dân quyền [tranh đấu cho người Da đen bình quyền], hạn chế sinh sản [giải phóng phụ nữ], thử nghiệm với các dược liệu tâm ảo, và phong trào nữ quyền (feminism). Không phải chỉ nước Hoa Kỳ mà họ cư ngụ đã khác biệt một cách triệt để so với thời thập niên 1930 và 1940, là thời gian phần lớn các thầy dạy của họ trưởng thành, mà ngay cả nền văn học bao quanh họ cũng ít gắn bó với truyền thống. Ngay từ ngữ “truyền thống” cũng đã bị kết nối một cách sáo mòn với một số quan điểm riêng tư của T. S. Eliot [bảo thủ, Kitô giáo, giai cấp ưu tú], và bị thẳng thừng gạt bỏ như lời nguyền rủa. Những nhà thơ trẻ học được cách phi trường ốc.

Học thức và kĩ xảo bị xem như những chuyện khả nghi về mặt chính trị. Thi ca Hoa Kỳ đã bước vào một giai đoạn lãng mạn nữa, giống như một thời dậy thì muộn màng.

Điều đáng kể không phải ở chỗ một vài nhà thơ lớn tuổi đã bám đất trước sự công hãm này, cho bằng những nhà thơ trẻ suốt quang phổ chính trị, văn hóa, và sắc tộc đã bắt đầu quay mặt đi với những trào lưu văn học chủ lực. Bằng nhu cầu và tình tự, họ đã khám phá lại sức mạnh cố hữu của tiếng nói khuôn khổ, ngay cả vần điệu, và sức mạnh của chuyện kể để chuyển tải kinh nghiệm, bao gồm luôn cả kinh nghiệm thiểu số hoặc bị gạt bên lề. Họ cũng hiểu rằng toàn bộ cả một cõi lạc thú đã bị khước từ đối với họ bởi phần lớn thi ca đương đại. Một số những nhà thơ trẻ này đã thụ huấn với Robert Fitzgerald tại Đại học Harvard, với Yvor Winters và Donald Davie ở Đại học Stanford, với Allen Tate ở Đại học Sewanee, với John Hollander ở Đại học Yale, và với J. V. Cunningham ở Đại học Brandeis. Nhưng một số rất lớn những nhà thơ trẻ hoàn toàn không có cơ may được đào luyện như thế, đã tìm kiếm thông tin về vận luật ở bất kể nơi nào họ có thể, bằng bản năng họ cảm thấy rằng những kĩ thuật chung cho âm nhạc đại chúng, chẳng hạn, cũng có giá trị sử dụng trong thơ.

Nhà phê bình Robert McPhillips đã nhận xét rằng những tập thơ đầu tay của Charles Martin, Timothy Steele, và những nhà thơ khác, phần lớn chẳng được chú ý. Đến cuối thập niên 1970, ít nhà phê bình thấy được những gì đang xảy ra, hoặc hiểu được tại sao một thế hệ các nhà thơ trẻ lại cảm thấy bị giới hạn bởi những loại thơ tự do thường được xuất bản nhất. McPhillips gợi ý rằng chính việc xuất bản tập thơ đầu tay của Brad Leithauser mang tên Hundreds of Fireflies [Hàng trăm đom đóm] năm 1982 đã lần đầu tiên lôi cuốn sự chú ý lớn đến trào lưu này. Điều đó có thể đúng, và vào giữa thập niên 1980, đã có những tuyển tập như Strong Measures [Nhịp mạnh] do Philip Dacey và David Jauss chủ biên, và tập Ecstatic Occasions, Expedient Forms [Cơ hội xuất thần, thể thức thích nghi) do David Lehman chủ biên, đã báo hiệu sự quan tâm mới này về vận luật. Tập trước quá rộng rãi trong định nghĩa về hình thức, khó thích hợp cho các thầy cô sử dụng lâu bền; và cả hai tập đều ôm đồm cả những nhà thơ lớn tuổi và trẻ tuổi, xóa nhòa sự khác biệt giữa các thế hệ. Tuyển tập của chúng tôi có tính chuẩn xác hơn trong việc định nghĩa cả về hình thức thơ và về giai đoạn lịch sử.

Từ ngữ Tân Hình Thức (New Formalism) thoạt tiên là một thuộc từ được các nhà phê bình thù nghịch sử dụng để bác bỏ phong trào này và ngay cả những người theo phong trào cũng thường coi là khiếm khuyết. Một số nhà thơ như Frederick Turner và Frederick Feirstein ưa sử dụng từ Expansive Poetry (Thơ Mở rộng) hơn, bởi nó có thể bao gồm cả hiện tượng liên hệ là thơ Tân Tự Sự (New Narrative) mà phần nhiều cũng theo vận luật. Thơ Tân Tự Sự được những tạp chí như The Hudson Review, The New England Review, và The Reaper [Người gặt lúa] ủng hộ, đã giới thiệu một dòng hiện thực mới vào thi ca đương đại, do ảnh hưởng của Robinson, Frost, và Jeffers, và cũng chịu ảnh hưởng của toàn lãnh vực tiểu thuyết hiện đại. Nhà thơ Vikram Seth, sinh tại Calcutta, một phần thụ huấn ở California, nhưng nay đã quay về quê hương Ấn Độ, năm 1986 đã xuất bản tập The Golden Gate [Kim môn] một tiểu thuyết bằng thơ về hai mươi mấy cư dân San Francisco bằng những khổ thơ gieo vần kĩ lưỡng hay mượn từ Pushkin. Julia Alvarez đã viết một tự truyện tiểu thuyết hóa trong thể sonnet chuỗi, gọi là “33”. Tác phẩm After the Lost War [Sau cuộc chiến bại] của Andrew Hudgins, là một xử lí trường thiên mới mẻ về cuộc Nội Chiến của Hoa Kỳ và hậu cảnh. Đó là chưa kể đến một loạt những thơ tự sự của Dana Gioia, Paul Lake, Robert McDowell, và Mary Jo Salter, hoặc những thử nghiệm về kịch thơ của Tom Disch.

Vậy mà chúng tôi chọn giữ từ ngữ Tân Hình Thức, bởi nó mô tả đúng nhất phong trào này và sự phân biệt giữa thơ tự do và thơ hình thức. Ta hiểu rằng một người thuộc khuynh hướng hình thức chủ yếu viết trong vận luật của truyền thống văn học Anh và thường trong những hình thức thi ca gắn bó với những vận luật ấy. Đó là trường hợp của những nhà thơ tập hợp ở đây. Tuy nhiên, những nhà thơ Tân Hình Thức cũng phản ánh những trào lưu có ý nghĩa văn hóa rộng, chẳng phải không liên hệ tới sự trở về với giai điệu trong âm nhạc nghiêm túc, với sự hình dung trong các nghệ thuật tạo hình, và với nhân vật và cốt truyện trong tiểu thuyết. Sự lơ là với tay nghề về thi pháp trong thơ đã đưa lại hậu quả là một khí hậu văn học mà trong đó, lần đầu tiên trong lịch sử, đời tư của nghệ sĩ cũng như sự phải đạo của các thái độ chính trị của nghệ sĩ ấy trở thành những tiêu chuẩn mĩ học quan trọng. Cũng đúng thực là hầu như chẳng có nhà phê bình văn học mới đáng kể nào, ngoại trừ những người theo chủ nghĩa nữ quyền, xuất hiện trong số các nhà thơ vào thập niên 1960 và 1970. Khi các nhà Tân Hình Thức đã đảm nhận việc phê bình được tín phục, những nét đại cương của phong trào mới này hiện hình rõ hơn. Trong khi sự từ bỏ đại quy mô các hình thức truyền thống – và luôn trọn những loại hình như thơ trào phúng châm biếm, thơ tự sự, và kịch thơ – đã chứng tỏ là quá hạn hẹp, thì những hiện tượng đại chúng và đa dạng như là thơ cao bồi (đồng quê) và nhạc rap minh chứng rằng vận luật đặc trưng của Emily Dickinson cũng mang tính cách Hoa Kỳ chẳng khác nào thơ tự do của Walt Whitman.

Một trong những công kích xôm trò nhằm vào những nhà thơ đã có cái táo tợn là dám dùng vận luật là bài bình luận của Diana Wakoski “Chủ nghĩa Tân Bảo thủ trong thơ Hoa Kỳ” (Đăng trên tạp chí American Book Review [Điểm sách Hoa Kỳ], số tháng 5&6 năm 1986) tố giác những nhà thơ đủ loại như John Hollander, Robert Pinsky, T.S. Eliot, và Robert Frost là đã sử dụng những kĩ thuật mà Wakoski xem là trọng tâm thuộc châu Âu (Eurocentric). Bà đặc biệt nổi nóng với những nhà thơ trẻ viết theo khuôn khổ. Đánh đồng các chủ trương chính trị với mĩ học, bà quy chiếu về “cái thế hệ mới đang đi tới này không có cách gì xử lí được nỗi âu lo suốt mặt vậy nên muốn một loạt những công thức và quy luật an toàn, cho dù là đối với hình thức thơ hoặc với cung cách đối trị với khiếm ngạch trong ngân sách quốc gia.” Vấn đề với những phát biểu như của bà Wakoski là chúng làm mù mờ bất cứ sự phân biệt mĩ học hữu ích nào. Trong trường hợp này, bà thật sự qui chiếu nhà thơ Hollander là ‘quỷ vương Satan’. Wakoski nói về “một truyền thống Whitman”, nhưng bà trông chờ độc giả phải cứ thế mà tin những lời lảm nhảm mơ hồ này, mà bà chẳng hề làm sáng tỏ tại sao những nhà thơ như Frost và Pinsky lại thiếu tính cách Hoa Kỳ, và chẳng hề vật lộn với những mâu thuẫn trong lí thuyết về thơ của Williams. Bài luận văn của bà về mặt ngôn từ tương đương với một võ sĩ chỉ biết quạt túi bụi để trả đòn.

Gạt bỏ quan niệm ủy mị cho rằng vận luật là phi – Hoa Kỳ, những nhà thơ Tân Hình Thức đã góp sức một sự đồng thuận mới, bảo vệ giá trị chất liệu của thơ chống sự xâm lấn của văn xuôi, trong khi đồng thời bảo vệ những chủ đề đại chúng chống lại sự cáo buộc là dung tục. Sau hết, đây là những nhà thơ trưởng thành khi truyền hình là phương tiện truyền thông mạnh mẽ nhất. Tuy thế, rốt ráo ra, sự khám phá lại về vận luật do những cây bút trẻ nhắc nhở chúng ta rằng ngôn ngữ đòi hỏi mỗi thế hệ tiếp nối lại phải canh tân.

Hành vi làm những bài thơ bằng tiếng nói có chừng mực khuôn khổ đã thừa nhận một lễ độ văn minh được quí trọng, là đề cao không chỉ về kĩ thuật, mà còn về cả một tầm nhìn văn hóa rộng lớn hơn đó là phục hồi sự hài hòa và cân xứng cho mọi nghệ thuật. Đó là một ý tưởng có tầm quan trọng lớn lao trong những tác phẩm phê bình như cuốn Chủ nghĩa cổ điển tự nhiên (Natural Classicism) của Frederick Turner, cuốn Thơ có thể quan trọng chăng? (Can Poetry Matter?) của Dana Gioia và cuốn Những tiên tri và những giáo sư (Prophets & Professors) của Bruce Bawer. Như Timothy Steele đã viết trong thiên luận văn uyên bác Thất luật: thơ hiện đại và cuộc nổi loạn chống vận luật (Missing Measures: Modern Poetry and the Revolt Against Meter):

“Cái thiết yếu cho đời sống con người và sự tiếp nối của nó vẫn là một tình yêu cho thiên nhiên, một hăng say vì công lí, một sẵn sàng về hòa khí, một nhạy cảm bột phát trước cái đẹp và lạc thú, một quan tâm về quá khứ, một hi vọng trước tương lai, và trên hết, là một mong mỏi rằng mọi người cũng có được cơ hội và khuyến khích để san sẻ những phẩm tính đó. Một nghệ thuật bằng tiếng nói có chừng mực khuôn khổ nuôi dưỡng những phẩm tính đó trong một cung cách mà không sự theo đuổi nào có thể sánh bằng.”

Một thế hệ mới những nhà thơ Hoa Kỳ ắt là phải khám phá ra nền tảng chung về mĩ học này dẫu cho khởi đi từ những bối cảnh xã hội và chính trị phức biệt. Tuyển tập này sẽ phô bày sự phức biệt ấy. Tân Hình Thức kết hợp những nhà thơ khác biệt nhau đến như là Marilyn Hacker và Sydney Lea, Rafael Campo và R.S. Gwynn, những nhà thơ tâm sự có, ai vãn có, phúng thích có, và dịu dàng xúc động cũng có. Phạm vi các chủ đề và hình thức đã phục hồi sinh lực cho nghệ thuật thi ca một cách phì nhiêu. Tuyển tập này đánh dấu sự đơm hoa và việc qui tụ những nhà thơ cá tính riêng biệt này vào chung một chiếu ngồi giữa hai bìa sách như thế này là lần đầu tiên. Hai mươi lăm nhà thơ này nằm trong số những người sẽ dẫn nền thơ Hoa Kỳ vào trong thế kỉ 21.

Những người biên tập sách này đã đặt ra vài tiêu chuẩn để kết tụ. Thứ nhất, chúng tôi chỉ tập hợp những nhà thơ Hoa Kỳ sinh trong năm 1940 hoặc về sau, là những nhà văn xuất đầu lộ diện trong những thập niên 1970, 1980, và 1990 và còn đang phát triển nghề thơ. Khi nhuận sắc tuyển tập, chúng tôi loại ra nhiều nhà thơ sáng giá, một số vì những lí do khiên cưỡng như là quốc tịch, một số khác vì họ chưa xuất bản tập thơ nào. Thứ hai, chúng tôi chỉ chọn những bài thơ trong đó việc sử dụng hình thức là nghiêm nhặt và chủ trì. Những nhà thơ Tân Hình thức không phải là những người luôn luôn câu nệ vào luật trọng âm trong âm tiết. Một số sử dụng luật âm tiết hoặc trọng âm. Một số trong những bài thơ tuyển ở đây mang tính thử nghiệm về âm tiết, nhưng chúng tôi quả thực muốn có sự tín nhiệm cả trong câu thơ và phép tu từ. Không có bài thơ nào là “giả hình thức” (pseudo-formal), theo như một từ ngữ của Dana Gioia. Thứ ba, chúng tôi không muốn những bài thơ nào chỉ thuần là hình thức. Nghĩa là những bài thơ thao tác vững vàng trong thi luật, nhưng không gây xúc động hoặc thuyết phục chúng tôi về mặt con người, đều bị loại trừ.

Chọn tiêu bản từ tác phẩm của một số nhà thơ là cả một sự gay go. Nơi một số người tuyệt tác lại nằm ở những chuỗi thơ và thơ tự sự dài cả tập. Chúng tôi cố trích diễm khi khả dĩ, hoặc chọn những bài thơ ngắn hơn, tự nén hơn. Sau chót, chúng tôi muốn kết tụ tác phẩm của vài nhà thơ mới góp mặt với ít nhất đã có một tập thơ vấn thế, cùng với những nhà thơ quen thuộc hơn. Điều này gợi ra rằng Tân Hình Thức là một vận động không hạn hẹp, mà vẫn liên tục thu hút những người gia nhập mới từ nhiều bối cảnh. Vấn đề loại ra và gom vào trong các tuyển tập bao giờ cũng bất toàn trong đề đạt, và tuyển tập này không phải là ngoại lệ. Độc giả có thể thấy những đề nghị đọc thêm ở cuối sách.

Nếu chúng tôi đặc biệt đề bạt những nhà thơ Tân Hình Thức, đó là vì trong cung cách họ xúc tiến đến hình thức và chủ đề có phần đa dạng hơn so với một số tác phẩm của những thế hệ trước. Có lúc trong tác phẩm của họ chúng tôi thấy sự thanh nhã và kĩ xảo lưu loát, có lúc lại thô phác sinh động. Trong thơ của họ nghe ra có sự khám phá ra cái gì đã bị lạc mất, một cảm thức về chất phế thải được tôi đúc lại, một sự tái phát minh ra bánh xe, và những hình thức mới nở bừng từ những hình thức cũ. Là người Hoa Kỳ, những nhà thơ này san sẻ một tình yêu với những kẻ không chữ nghĩa. Họ tìm ra những chủ đề giấu mặt nơi không ngờ. Bởi những người theo chủ nghĩa hình thức, họ ban một đời sống nôm na mới cho những hình thức xưa, nhưng họ cũng phát minh ra những hình thức mới của riêng họ. Chắc chắn đây là một chức năng của chất cách mạng bẩm sinh hằng nuôi dưỡng trong cá tính Hoa Kỳ. Hễ khi nào một sự thay đổi nền tảng xảy ra, và những hình thức cũ, đã bị liệng đi, được khám phá trở lại, sự hồi sinh ấy hẳn sẽ bao gồm một sự tái bài bố hình thế. Trong tay những nhà thơ này, những hình thức truyền thống như không vần (blank verse) và thể sonnet [thơ 14 hàng] trong khi vẫn tuân thủ những quy luật xưa, dường như lại mới tinh khôi.

Những độc giả thú vị về hình thức hoặc muốn có một bản đồ hướng dẫn qua cảnh sắc biến cải, và đa dạng, và kì thú không cùng của nền thơ Hoa Kỳ đương đại, ắt sẽ tìm được sự hân thưởng trong hội hoa đăng nơi những bài thơ sau đây.

Nguyễn Tiến Văn dịch
(Nguồn: Tạp chí Sông Hương số 280/tháng 6-2012)

—————————–
Dịch toàn văn bài tựa cho tuyển tập Rebel Angels: 25 Poets of the New Formalism, chủ biên: Mark Jarman và David Mason, (1996), 280 trang, Nxb Story Line Press, Ashland, Oregon. tr. xv – xx
.

PHONG CÁCH TÂN CHIẾT TRUNG

Ugo La Pietra và "Ghế bành Flabello" trong loạt "Ghế bành tân chiết trung", do Busnelli sản xuất, 1985
Ugo La Pietra và "Ghế bành Flabello" trong loạt "Ghế bành tân chiết trung", do Busnelli sản xuất, 1985
KHẾ IÊM
Ký họa của Duy Thanh
Ký họa của Duy Thanh

Charles Jencks, lý thuyết gia hậu hiện đại về kiến trúc cho rằng, quá khứ không thật sự bị hủy diệt, vì hủy diệt sẽ dẫn tới im lặng. Kiến trúc hậu hiện đại dùng kỹ thuật hiện đại và những kiểu mẫu xưa, tạo một mã số đôi (double code) qua chủ nghĩa chiết trung (eclecticism), kết hợp hai phong cách khác nhau của hai thời kỳ khác nhau. Nhại lại, tối nghĩa, mâu thuẫn, nghịch lý, vì ngôi nhà còn là một ngôn ngữ, có thể được đọc như một cuốn sách, có tính hàm ý và ám chỉ. Kiến trúc hậu hiện đại không nói “cái này/ hoặc cái kia” (either/or) mà nói “cả hai/và” (both/and). Trong một tiểu luận “Cái đẹp là gì?” ông cho rằng, cái đẹp trở lại.(1) Nhưng là cái đẹp trái ngược giữa truyền thống và hiện đại, tạo bảng phân loại biến thiên (continuum) giữa quá khứ và hiện tại. Quá khứ như một nửa giấc mơ được nhớ lại.(2)

Vào những năm 2000, ở Bắc Mỹ, kiến trúc nhà ở thịnh hành một loại kiến trúc gọi là chủ nghĩa tân chiết trung (neo-eclecticism), mặt ngoài, thể hiện cái đẹp cổ điển, lấy mẫu mã từ kiến trúc những thế kỷ trước của Âu châu, Địa Trung Hải, Anh… Nhưng bên trong được thiết kế tiện nghi, sang trọng phù hợp với nếp sống hiện đại. Người ta gọi kiến trúc tân chiết trung như một loại kiến trúc hậu hiện đại lơi lỏng, một thứ chủ nghĩa kinh điển mới trong nghệ thuật và kiến trúc. Những nhà kiến trúc áp dụng hình học fractal (fractal geometry) và lý thuyết hỗn mang (chaos), tạo nên vẻ đẹp tự tương đồng (self-similar) – kiến trúc fractal (fractal architecture) – gãy khúc, không đều đặn, và những yếu tố trật tự (strange Attractor) của hiệu ứng cánh bướm vào những công trình kiến trúc. Điều này chứng tỏ, chủ nghĩa hậu hiện đại luôn luôn biến đổi, bởi nếu không kết hợp được với cái đẹp truyền thống, thích ứng với đời sống, thì cũng chỉ là thời kỳ quá độ của chủ nghĩa hiện đại.

Trở lại với thơ, Tân Hình Thức là cái tên gọi trời cho, vì thể thơ không vần thật sự mới lạ đối với thơ Việt. Dùng lại những thể thơ 5, 7, 8 và lục bát, tượng trưng cho truyền thống thơ Việt, thu nạp các yếu tố: tính truyện, ngôn ngữ đời thường, vắt dòng từ thơ truyền thống Anh, và kỹ thuật lặp lại từ thơ tự do Mỹ. Trừ tính truyện mà nền thơ nào cũng có, ba yếu tố còn lại hoàn toàn mới với thơ Việt, được coi như là những yếu tố hiện đại. Thể thơ truyền thống Việt bao lấy những yếu tố hiện đại, chẳng khác nào chủ nghĩa tân chiết trung của kiến trúc. Bài thơ vận hành theo hình thái của hiệu ứng cánh bướm: Ngôn ngữ tạo ra âm thanh, ý tưởng và hình ảnh, biểu tượng cho tính tự tương đồng trong hình học fractal và yếu tố trật tự trong lý thuyết hỗn mang. Kỹ thuật lặp lại làm chức năng phản hồi (feedback) và lặp lại (iteration) mang những âm thanh, ý tưởng và hình ảnh chuyển động. Và vắt dòng làm thành sự tuôn chảy liên tục của hệ thống động lực là bài thơ. Sự tác động ngầm của tất cả những yếu tố trên tạo ra ý nghĩa bài thơ. Khi nhà thơ Anh, Earl Surray giới thiệu thể thơ không vần vào thơ Anh, ông chỉ bỏ vần ở cuối dòng, còn luật tắc iambic (không nhấn, nhấn) vẫn giữ nguyên, nhà xuất bản đã gọi đó là thể thơ lạ. Nhưng bây giờ, thể thơ không vần Việt, vừa phức tạp vừa đơn giản, tổng hợp rất nhiều yếu tố khác nhau, từ Đông sang Tây, từ truyền thống đến hiện đại, để làm nên một thể thơ đặc biệt tân kỳ.

Trước kia, thơ Việt chỉ có những thể loại thơ vần, bây giờ có thêm thể loại thơ không vần, như một gạch nối với thơ tự do, làm cân bằng và tạo thêm sức mạnh cho thơ Việt. Thơ tự do cũng là loại thơ thoát ra khỏi luật vần truyền thống, nhưng không thể gọi là thể thơ không vần, vì không có một cấu trúc thể luật làm nền. Thật ra vần không phổ biến trong ngôn ngữ trọng âm như tiếng Anh và tiếng Đức. Ngay thơ cổ điển Hy Lạp và La tinh cũng không dùng vần. Vần xâm nhập vào thơ Âu châu vào cuối thời Trung cổ từ ngôn ngữ Ả Rập. Trước đó những ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Đức thường dùng sự trùng âm (alliteration) hay chữ đầu, trước hai hay nhiều chữ tiếp theo để thay thế vần. Như vậy sự lập lại những câu chữ của thơ không vần Việt cũng là điều tự nhiên. Còn ngôn ngữ thơ, từ thời cổ đại, là ngôn ngữ nói thông thường, với những từ cụ thể, dễ hiểu. Chẳng hạn tiếng Sanskrit, trong giao tiếp thường ngày có rất nhiều vần, matr part (mẹ và cha), britra mitra (anh em và bạn), thơ là ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ đời thường là thơ. Sau đó vì nhu cầu phát triển về tâm linh (tôn giáo), triết học, khoa học… những từ trừu tượng được tạo ra để diễn đạt, đáp ứng nhu cầu của lớp người đọc có học và trong giới cung đình. Từ trừu tượng càng ngày càng nhiều, được tiếp nhận qua lại từ ngôn ngữ này tới ngôn ngữ khác. Như tiếng Anh được vay mượn từ tiếng La tinh, tiếng Pháp… tiếng Việt với từ Hán Việt… Thơ tiếng Anh, cho tới thế kỷ 18, vẫn còn là những chữ thanh nhã, diễm lệ, chọn lọc, cho đến thời Lãng mạn (chấm dứt vào khoảng 1848, trước thời kỳ hiện đại), với Wordsworth, mới trở lại với ngôn ngữ thông thường. Thơ tân hình thức Việt sử dụng ngôn ngữ đời thường, ai cũng hiểu được, từ bình dân đến cao cấp, có tác dụng xóa bỏ mọi phân cách giữa nhiều tầng lớp xã hội nói cùng một ngôn ngữ, không những thế, còn đưa thơ tới người đọc từ những nền văn hóa và ngôn ngữ khác qua dịch thuật, bằng cách thay đổi phương pháp sáng tác, chuyển phong cách, nhạc tính và văn hóa một bài thơ từ ngôn ngữ này đến một ngôn ngữ khác.

Một bài thơ tân hình thức Việt, điều quan trọng vẫn là làm mất đi âm hưởng văn xuôi và tạo nên những nhịp điệu mới. Đối với thơ tân hình thức Mỹ, quay về với những thể thơ truyền thống, đã có sẵn cơ chế thể luật để tạo ra nhịp điệu, nên những nhà thơ không cần phải bận tâm nhiều về nhịp điệu. Trong khi những nhà thơ tân hình thức Việt phải tự tạo nhịp điệu cho thơ, tuy đòi hỏi nhiều ở tài năng, nhưng nhờ vậy không rơi vào sự đều đặn của thể luật, và mỗi nhà thơ có những phương cách riêng để tìm kiếm nhịp điệu cho thơ mình, thách đố tinh thần sáng tạo và thơ không bị nhàm chán. Tạo ra nhịp điệu mới, có nghĩa là làm phong phú nhạc tính trong thơ. Chúng ta phải ý thức về nhịp điệu mới tạo ra được nhịp điệu, và làm một điều đơn giản như sau: nghe nhạc, bất cứ loại nhạc nào chúng ta thích, từ Dân ca, Pop Music, Jazz, Rap Music, Hip Hop… Nếu có điều kiện, thưởng thức phong cách trình diễn của những ca sĩ như Fergie, Beyoncé, Rihanna, Timberlake… để kết hợp thêm với cả nhịp điệu hình ảnh. Chúng ta cũng có thể nghe đọc những bài thơ hay từ những ngôn ngữ khác, âm thanh vang lên trong ta, đó là nhạc tính của thơ. Al Rocheleau đề nghị, cứ nghe bản Nocturnes (Dạ Khúc) của Chopin 100 lần, trong thời gian hơn một tháng, nhạc tính trong thơ của nhà thơ sẽ cải thiện. Dòng thơ (line) trở nên linh động, thể luật trở nên uyển chuyển, chữ chọn sẽ hay hơn… Bản độc tấu piano có thể so sánh với cấu trúc thơ, mỗi nốt là một chữ, một hợp âm hay chuỗi hợp âm tương đương với một dòng hay câu thơ…

Nhắc tới ngôn ngữ và nhịp điệu là nhìn ngược về một chặng đường đã qua. Thơ tân hình thức như một trạm dừng chân, người lữ hành ghé qua vui chơi trong chốc lát, rồi lại quay về với cuộc hành trình thơ cũ của họ. Bởi đối với những nhà thơ lớn tuổi, ngôn ngữ trừu tượng, khó hiểu của những dòng thơ cũ đã trở thành nếp gấp, khó có thể từ bỏ để nắm bắt ngôn ngữ tự nhiên đời thường của thơ tân hình thức. Hơn nữa, tạo nhịp điệu mới và lấy thơ từ cuộc sống chung quanh không dễ, khi chúng ta đã quen thuộc với thế giới tưởng tượng và mộng ảo. Có khi là, chúng ta chưa đủ tự tin để buông bỏ những gì đã cũ, vẫn cùng một lúc sáng tác nhiều thể loại khác nhau, và như thế phong cách và ngôn ngữ trở nên lộn xộn. Đa số những nhà thơ đến với thơ tân hình thức một cách dễ dãi, viết một đoạn văn xuôi hoặc một bài thơ tự do rồi đếm chữ xuống dòng, để thành những dạng thơ 5, 7, 8 hay lục bát, chứ chưa có nỗ lực nào về ngôn ngữ và nhịp điệu. Những bài thơ như thế mau chóng rơi vào lãng quên vì nhàm chán. Thơ, đủ các thể loại, hằng hà sa số, nhưng kiếm một bài thơ hay nào có dễ, huống chi thơ tân hình thức lại là một thể thơ mới. Ôi, thơ sao mà khó vậy.

Một bài thơ tân hình thức Việt, sau khi đọc xong, những ý tưởng hình ảnh, qua qui trình phản hồi và lặp lại, chuyển động không ngừng trong tâm trí, bắt người đọc khi đọc xong phải đọc lại từ đầu, để lần theo câu chuyện và những ý tưởng còn ẩn sâu bên trong. Các loại hình nghệ thuật từ thơ, hội họa đến tiểu thuyết từ cổ đại đến trước thời hiện đại thuộc về truyền thống chủ về nghĩa. Chỉ khi xuất hiện thơ tự do, phá bỏ thể luật, nhịp điệu và tính truyện của thơ truyền thống, tạo ra những phong trào tiền phong, và cuối cùng, đỉnh cao là thơ ngôn ngữ Mỹ (L=A=N=G-U=A=G=E POETRY), thập niên 1980, quay về với bản thân của chính ngôn ngữ, đạt tới cùng độ của sự vô nghĩa. “Cuộc đời vốn dĩ vô nghĩa, nhưng để sống, người ta phải đi tìm ý nghĩa cho nó. Mỗi thời có một trang giấy trắng riêng lẻ để viết lên, ghi dấu sự tồn tại, không thể viết đè lên trang giấy đã viết của thời khác. Sự vô nghĩa chính là ý nghĩa được viết trên trang giấy của thời hiện đại.” Và rằng, “sự trái ngược giữa truyền thống và hiện đại chỉ là hai mặt của một đồng tiền, đi tìm kiếm cho tác phẩm hoặc đời sống một ý nghĩa hoặc cứ để nó vô nghĩa như là nó vô nghĩa”(3). Nhà văn, nhà phê bình Văn Giá cho rằng thơ tân hình thức Việt chủ về nghĩa, chứ không phải chủ về chữ như: “…những tìm kiếm cách tân thơ Việt mấy chục năm qua, có một chủ trương được khởi lên từ nhà thơ Trần Dần, và cùng với ông là một số nhà thơ khác, họ đã tiến hành sáng tạo một loại thơ chủ về chữ: “thơ dòng chữ” (Trần Dần), “bóng chữ” (Lê Đạt), “thi pháp âm bồi” (Dương Tường). Loại thơ này muốn đối lập với loại thơ chủ về nghĩa, bị các ông coi là thứ thơ theo kiểu truyền thống “Thi dĩ ngôn chí”(4).

Hồi phục quan điểm chủ về nghĩa của truyền thống, nhưng qua một hình hài khác hẳn là thể thơ không vần, thơ tân hình thức Việt thoát khỏi những định kiến, phân cách, ngay cả những phân cách mang tầm văn hóa. Bởi vì bất cứ khi nào có sự chuyển đổi của nền văn minh, đời sống xã hội thay đổi, văn học nghệ thuật luôn luôn phải thích ứng với tâm tư tình cảm của con người. Chắc hẳn là những thế hệ sinh sau năm 1980, đã quen thuộc với môi trường internet, đang có nhu cầu học hỏi và giao tiếp với thế giới rộng lớn bao quanh, mong muốn có sự thay đổi triệt để này để chuyên chở nội dung của thời đại họ. Chúng ta cần nhấn mạnh, các thể thơ chỉ là phương tiện để chuyên chở nội dung, và mỗi thế hệ có những nội dung của chính họ. Đôi khi nội dung của thế hệ này, thế hệ khác không hiểu nổi. Khoảng cách giữa các thế hệ càng cách xa khi những tiện nghi đời sống càng cao vì những phát minh mới. Nội dung của một thế hệ đã qua, thường chỉ còn như một giá trị dùng để tham khảo.

Thơ có vô số khả thể, và tự nó, đang có những thay đổi diện mạo, trở thành nhân tố tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa những chủng tộc, những sắc dân. Một lần nữa, thơ xoay mặt ra với thế giới bên ngoài, đóng vai trò nối kết giữa nội tâm và ngoại giới, giữa con người và con người, như nhà thơ Frederick Turner, qua Thơ Khác, ghi nhận, “Có lẽ ý tưởng xưa về nền ‘cộng hòa văn chương’ có thể nổi lên lần nữa trong thời đại nơi tất cả đều nhận ra tính nhân bản chung của chúng ta và tìm kiếm cho văn học nghệ thuật một nền tảng đúng hơn, vì sự đồng cảm hơn là hệ tư tưởng.”5 Thuật ngữ nền ‘cộng hòa văn chương’ thường dùng chỉ những cộng đồng trí thức cuối thế kỷ 17 và thế kỷ 18 ở Âu châu và Mỹ. Họ luân lưu những lá thư viết tay, trao đổi những bản văn hoặc những tập sách mỏng đã xuất bản, mở rộng sự nối kết, trải dài qua những biên giới quốc gia nhưng vẫn tôn trọng sự khác biệt ngôn ngữ và văn hóa.

Trong thời đại toàn cầu hóa, mối liên hệ về chính trị, kinh tế giữa các quốc gia tăng cao, sẽ kéo theo những tác động văn hóa, nhu cầu hiểu biết, cảm thông, giao tiếp giữa các nền văn hóa. Khả năng nối kết của thơ tân hình thức Việt quả là rộng lớn, nhưng chúng ta chưa nhìn thấy kết quả bao nhiêu. Điều đó tùy thuộc vào sự tham dự và thực hành của nhiều thế hệ. Mười năm của một dòng thơ, thật là quá ngắn, mới chỉ vừa đủ một dợm bước chân. Nhưng với tinh thần bình đẳng, ai cũng như ai của những nhà thơ đang thực tập dòng thơ này, không ngừng học hỏi, không ngại sai sót, hòa đồng với mọi tầng lớp xã hội, đưa cuộc sống bình thường vào thơ, làm cho thơ có thêm một chút hương vị, như vậy chẳng vui lắm sao.

K.I

……………………………………
(1)  “What is beauty” trong tạp chí Prospect (Prospect Magazine) số 66 tháng 8-2001. (Beauty is back).
(2) “It is almost like a haft-remembered dream”, from Jencks, Postmodernism: The New Classicism in Art and Architecture.
(3) Đọc Hội Họa, “Vũ điệu không vần”, Nxb Văn Học, 2011.
(4) “Về một nỗ lực làm mới thơ Việt”, Văn Giá.
(5) Email, Frederick Turner, “It is a splendid concept, and an important contribution to world literature. Perhaps the old idea of the “republic of letters” can rise again in an age where we are all recognizing our common humanity and finding literature and art a better basis for communion than ideology.

NHỮNG BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC MỸ

Khế Iêm (giới thiệu)
Nhà bình luận thơ Angela Saunders cho rằng, “… Những âm thanh trôi chảy trong một ngôn ngữ bản địa đều có nét đặc thù về mặt ngôn ngữ và không dễ dàng để dịch sang một ngôn ngữ khác. Một bài thơ được sắp đặt theo những giai điệu và âm điệu trong một ngôn ngữ bản địa, khi được dịch sang ngôn ngữ khác, sẽ mất đi sức quyến rũ của nó về mặt thẩm mỹ.”
Những bài thơ tân hình thức Mỹ
Minh họa: NHÍM

Được sự đồng ý của nhà thơ Mark Jarman, đồng biên tập (với David Mason) tuyển tập “Rebel Angels: 25 Poets Of The New Formalism” (Những Thiên Sứ Nổi Dậy: 25 Nhà Thơ Tân Hình Thức) do Story Line Press xuất bản năm 1998, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số bài thơ trích trong tuyển tập này. Ngọai trừ hai bài thơ của nhà thơ Frederick Turner và Frederick Feirstein, thay vì lấy trong tuyển tập, chúng tôi trích từ tác phẩm của họ đã gửi cho chúng tôi. Như chúng ta biết thơ tân hình thức Mỹ là một phong trào thơ hồi phục lại thể luật (cũng giống như thơ vần điệu Việt), quan trọng hơn, hồi phục lại nhịp điệu thơ đã mất sau một thời kỳ dài của thơ tự do. Những bài thơ trong tuyển tập vì thế, bao gồm những bài thơ thể luật, có vầnkhông vần. Khi dịch, chúng tôi vẫn giữ nguyên số âm tiết của dòng thơ (10 hoặc 8 âm tiết), tương đương với số chữ trong thơ Việt, và không vần. Bởi vì hình dạng đều đặn của dòng thơ, tạo tâm lý thỏai mái khi đọc, không bị cảm giác vướng mắt vì dòng dài ngắn như thơ tự do.

Nhưng buồn thay, nhịp điệu ròn rã và nghệ thuật ngôn từ của ngôn ngữ tiếng Anh, không nhấn, nhấn, do thể luật tạo ra đã không còn. Chỉ còn chăng là những ý tưởng, mà ngay cả những ý tưởng cũng chưa hòan tất vì thiếu phương tiện chuyên chở là nhịp điệu. Bản dịch vì thế, chỉ chuyển được nghĩa bài thơ chứ không thể coi như một bài thơ.  Để bù lại, chúng tôi sẽ đưa lên internet nguyên bản tiếng Anh, theo dạng thơ song ngữ, để bạn đọc có thể đọc trực tiếp (nghe âm thanh nhịp điệu khi đọc lên) và thưởng thức nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thơ (cũng là một yếu tố quan trọng), vì khả năng hạn hẹp của trang giấy không cho phép chúng tôi in thêm nguyên tác.
Khế Iêm tuyển dịch
Marilyn Hacker
“DID YOU LOVE WELL WHAT
VERY SOON YOU LEFT?”
Did you love well what very soon you left?
Come home and take me in your arms and take
away this stomach ache, headache, heartache.
Never so full, I never was bereft
so utterly. The winter evenings drift
dark to the window. Not one word will make
you, where are you, turn in your day, or wake
from your night toward me. The only gift
I got to keep or give is what I’ve cried,
foodgates let down to mourning for the dead
chances, for the end of being young,
for everyone I loved who really died.
I drunk our one year out in brine instead
of honey from the seasons of your tongue.
Marilyn Hacker
ANH CÓ YÊU TRỌN VẸN NHỮNG GÌ ANH ĐÃ RỜI XA?
Anh có yêu trọn vẹn những gì anh đã rời
xa? Hãy trở về nhà ôm em trong tay và
lấy đi cơn đau bao tử, cơn nhức đầu, cơn
đau tim này. Chưa bao giờ trọn vẹn như vậy,
chưa bao giờ em mất đi hòan tòan như vậy.
Những chiều đông bóng tối dạt trôi vào cửa sổ.
Không có lời nào làm anh, anh ở đâu, bỏ
cả ngày, hoặc thức cả đêm hướng về em. Món
quà duy nhất mà em giữ hoặc cho là những
gì em than khóc, cống thóat nước thải ra nỗi
thương tiếc vì những cơ hội héo tàn, vì sự chấm
dứt lúc thanh xuân, vì từng người em yêu thật
sự đã chết. Suốt năm, em nghe, nước biển mặn
thay vì mật ong, lời tiếng bốn mùa biến đổi
của anh.
Rafael Campo
FOR J. W.
I know exactly what I want to say,
Except we’re men. Except it’s poetry,
And poetry is too precise. You know
That when we met on Robert’s porch, I knew.
My paper plate seemed suddenly too small;
I stepped on a potato chip. I watched
The ordinary spectacle of birds
Become magnificent until the sky,
Which was an ordinary sky was blue
And comforting across my face. At least
I thought I knew. I thought I’d seen your face
In poetry, in shapeless clouds, in ice –
Like staring deeply into frozen lakes.
I thought I’d heard your voice inside my chest,
And it was comforting, magnificent,
Like poetry but more precise. I knew,
Or thought I knew, exactly how I felt.
About the insects fizzing in the lawn.
About the stupid, ordinary birds,
About the poetry of Robert Frost,
Fragility and paper plates. I look at you.
Because we’re men, and frozen hard as ice –
So hard from muscles spreading out our chests –
I want to comfort you, and say it all
Except my poetry is imprecise.
Rafael Campo
GỬI J. W.
Tôi biết chính xác điều gì tôi muốn nói trừ
Ra chúng ta là những người đàn ông. Trừ ra
Đó là thơ, và thơ thì quá tinh xác. Anh
Biết khi chúng ta gặp nhau ở hiên nhà Ro-
Bert, tôi đã biết. Cái đĩa giấy của tôi hình
Như bất ngờ quá nhỏ; tôi dẫm lên một miếng
Khoai tây chiên. Tôi dõi theo sự chao liệng bình
Thừơng của những cánh chim, sự chao liệng trở nên
Lộng lẫy cho tới khi bầu trời, một bầu trời
Bình thừơng, xanh và thỏang thóat ngang qua tôi.
Ít nhất tôi nghĩ tôi biết. Tôi đã thấy khuôn
Mặt anh trong thơ, trong những đám mây không hình
Dạng, trong băng giá – giống như đang đăm đăm nhìn về
Hướng những hồ nước đông lạnh. Tôi nghĩ tôi đã
Nghe giọng anh trong ngực tôi, giọng nói thỏang thóat
Và lộng lẫy, như thơ nhưng tinh xác hơn. Tôi
Đã biết hoặc nghĩ tôi đã biết, đúng ra là
Làm sao tôi cảm thấy. Về những con côn trùng
Xì xèo trong bãi cỏ. Về những cánh chim bình
Thường và ngu ngốc, về thơ Robert Frost, sự
Dễ vỡ và những chiếc đĩa giấy. Tôi nhìn anh.
Bởi chúng ta là những người đàn ông, và đông
Cứng như băng – gồng lên để giữ cảm xúc bên
Trong lồng ngực – tôi muốn an ủi anh và nói hết
Cả. Trừ thơ tôi không tinh xác.
Tom Disch
CONVALESCING IN LONDON
Like a drunk treading on his trouser cuffs,
Time lurches past. Time goes too fast.
I don’t know what to do
And lie awake in the dark, overheated room,
Listering, listering to
Time lurches past. Time goes too fast.
I may not move about too much, nor drink,
My doctors say. I went to the Tower today,
Where many famous men
And women, waiting to die, found good thing to say
About death (a friend). Then
A few bridges and Hyde Park. Now it is dark.
Since my hepatitis I’m afraid
I’ve not been entertaining. It’s too hot
In here but when I raise
The window rain comes in, and noises
From the street. I cannot
Concentrate on anything, except the clock, ticking.
Tom Disch
HỒI SỨC Ở LUÂN ĐÔN
Giống như một kẻ say rượu dẫm lên
Những gấu quần dài, thời gian lảo đảo
Qua. Thời gian trôi qua nhanh. Tôi
Không biết làm gì, và nằm thức trong
Bóng tối, căn phòng quá nóng, lắng nghe,
Lắng nghe. Thời gian lảo đảo qua. Thời
Gian trôi qua nhanh. Bác sĩ nói, tôi
Không thể di động chung quanh quá nhiều,
Không uống rựơu. Tôi đến Tower hôm
Nay, nơi nhiều ông nổi tiếng và các
Bà, đang đợi chết, tìm thấy những điều
Tốt lành để nói, về cái chết (một
Người bạn). Rồi thì, vài chiếc cầu và
Hyde Park. Bây giờ trời tối. Vì
Bệnh viêm gan tôi sợ. Tôi không thấy
Vui. Ở đây rất nóng nhưng khi tôi
Nâng cửa sổ lên, mưa hắt vào, và
Những tiếng ồn ngòai đường phố. Tôi không
Thể tập trung vào bất cứ cái gì,
Ngòai chiếc đồng hồ, tích tắc.
Dana Gioia
MAZE WITHOUT A MINOTAUR
If we could only push these walls
apart, unfold the room the way
a child might take apart a box
and lay it flat upon the floor –
so many corners cleared at last!
Or else could rip away the roof
and stare down at the dirty rooms,
the hallways turning on themselves,
and understand at last their plan –
dark maze without a minotaur,
no monsters but ourselves.
Yet who
could bear to see it all? The slow
descending spirals of the dust
against the spotted windowpane,
the sunlight on the yellow lace,
the hoarded wine turned dark and sour,
the photographs, the letters – all
the crowded closets of the heart.
One wants to turn away – and cry
for fire to break out on the stairs
and raze each suffocating room.
But the walls stay, the roof remains
strong and immovable, and we
can only pray that if these rooms
have memories, they are not ours.
Dana Gioia
MÊ CUNG KHÔNG CÓ QUỈ ĐẦU BÒ
Nếu chúng ta có thể chỉ đẩy những
bức tường này ra xa, trải căn phòng
theo cách một đứa bé có thể tháo
rời một cái hộp và để nó nằm
dẹp trên sàn nhà – như vậy mọi góc
cạnh cuối cùng tan biến! Hoặc là chọc
thủng mái nhà và nhìn xuống những căn
phòng dơ bẩn, những hành lang tự nó
ngòan ngòeo, và cuối cùng hiểu họa đồ
của chúng – mê cung tối không có quỉ
đầu bò, không có quái vật chỉ có
chính chúng ta.
Ai nữa
Có thể chịu đựng cái nhìn hết mê
cung đời? Những đừơng bụi xoắn ốc chậm
rơi tương phản với khung kính lốm đốm,
ánh sáng mặt trời trên đăng ten vàng
màn cửa sổ, rượu cất trở nên thẫm
màu và chua, những tấm hình, những lá
thư – tất cả những ngăn chứa đầy ắp
của trái tim. Ngừơi ta muốn ngỏanh mặt
đi – và khóc vì ngọn lửa bùng cháy
trên cầu thang và san bằng từng căn
phòng ngộp thở. Nhưng những bức từơng vẫn
còn đó, mái nhà nguyên xi và kiên
cố, và chúng ta chỉ có thể cầu
nguyện nếu những căn phòng này có những
ký ức thì những ký ức đó chẳng
phải của chúng ta.
Minotaur là một quái vật nửa người nửa bò trong thần thoại Hi Lạp. Hoàng hậu của vua Minos, Pasiphae, giao phối với con bò và kết quả là sự ra đời của Minotaur. Minotaur đã gieo rắc kinh hoàng cho toàn đảo Crete nên vua Minos ra lệnh cho làm một một mê cung nhốt nó lại.
R. S. Gwynn
APPROACHING A SIGNIFICANT
BIRTHDAY, HE PERUSES
THE NORTON ANTHOLOGY OF POETRY
All human things are subject to decay.
Beauty is momentary in the mind.
The curfew tolls the knell of parting day.
If winter comes, can Spring be far behind?
Forlorn! The very word  is like a bell
And somewhat of a sad perplexity.
Here, take my picture, though I bid farewell.
In a dark time the eye begins to see.
The woods decay, the woods decay and fall –
Bare ruined choirs where late the sweet birds sang.
What but design of darkness to appall?
An aged man is but a paltry thing.
If I should die, think only this of me:
Crass casualty obstructs the sun and rain
When I have fears that I may cease to be,
To cease upon the midnight with no pain
And hear the spectral singing of the moon
And strictly meditate the thankless muse.
The world is too much with us, late and soon.
It gathers to a greatness, like the ooze.
Do not go gentle into that good night.
Fame is no plant that grows on mortal soil.
Again he raised the jug up to the light:
Old age hath yet his honor and his toil.
Downward to darkness on extended wings,
Break, break, break, on thy cold gray stones, O sea,
And tell sad stories of the death of kings.
I do not think that they will sing to me.
R. S. Gwynn
ĐẾN GẦN NGÀY SINH NHẬT ĐẦY Ý NGHĨA
HẮN ĐỌC TUYỂN TẬP THƠ DO NORTON XUẤT BẢN
Tất cả sở hữu của con ngừơi là đối tượng
Suy đồi. Cái đẹp chốc lát trong tâm trí. Giờ
Giới nghiêm rung chuông báo tử về một
Ngày chia tay. Nếu mùa đông tới, có thể mùa
Xuân bị bỏ rơi xa đằng sau? Bị bỏ rơi!
Ngày sinh nhật ấy giống như một tiếng chuông và
Là một phần của tình trạng bối rối tệ hại.
Đây, chụp tấm hình tôi, mặc dù tôi chào tạm
Biệt. Mắt bắt đầu nhìn thấy trong lần tăm tối.
Những rừng cây hư họai, những rừng cây hư họai
Và rơi – những đội hợp xướng điêu tàn trần trụi
Nơi mới đây những con chim dễ thương hót. Ngày
Sinh nhật là ý đồ của bóng tối làm hỏang
Sợ con người? Người đàn ông già chỉ là thứ
Vô giá trị. Nếu tôi chết, nên nghĩ về điều
Đó vì tôi: sự tử vong hòan tòan làm trở
Ngại bất tử, khi tôi sợ rằng có thể tôi
Không còn nữa, không còn nữa vào nửa đêm không
Đau đớn, và nghe hồn ma hát về mặt trăng
Và trầm tư tuyệt đối vào hồn thơ bội bạc.
Thế giới thì quá nhiều đối với chúng ta, sớm
Và muộn. Nó tập hợp sự lớn lao, giống như
Rò rỉ. Đừng đi nhẹ nhàng vào đêm an lành.
Danh tiếng không phải là cây cối mọc trên đất
Chết. Lần nữa hắn giơ cái bình ra ánh sáng;
Tuổi già có vinh dự và vất vả của nó
Từ trước tới nay. Đi xuống địa ngục bằng những
Cánh duỗi thẳng. Vỡ, vỡ, vỡ trên những hòn đá
Xám lạnh của mi, ôi biển, và kể những câu
Chuyện buồn về cái chết của những ông vua. Tôi
Không nghĩ những câu chuyện buồn sẽ hát vì tôi.
Timothy Steele
AN AUBADE
As she is showering, I wake to see
A shine of earrings on the bedside stand,
A single yellow sheet which, over me,
Has folds as intricate as drapery
In paintings from some fine old master’s hand.
The pillow which , in dozing, I embraced
Retains the salty sweetness of her skin;
I sense her smooth back, buttocks, belly, waist,
The leggy warmth which spread and gently laced
Around my legs and loins, and drew me in.
I stretch and curl about a bit and hear her
Singing among the water’s hiss and race.
Gradually the early light makes clear
The perfume bottles by the dresser’s mirror,
The silver flashlight, standing on its face,
Which shares the corner of the dresser with
An ivy spilling tendrils from a cup,
And so content am I, I can forgive
Pleasure for being brief and fugitive.
I’ll stretch some more, but postpone getting up
Until she finishes her shower and dries
(Now this and now that foot placed on a chair)
Her fineboned ankles, and her calves and thighs,
The pink full nipples of her breasts, and ties
Her towel up, turban-style, about her hair.
Timothy Steele
MỘT KHÚC NHẠC SỚM
Trong lúc nàng tắm, tôi thức dây nhìn, một cặp
Bông tai lấp lánh trên cái giá cạnh giường, một
Tấm chăn đơn màu vàng, kéo ngang qua tôi, xếp
Nếp phức tạp như tấm màn cửa trong những bức
Tranh từ bàn tay của những bậc thầy già giặn.
Cái gối, trong giấc ngủ chập chờn, tôi ôm còn
Vương vị ngọt mặn của da thịt nàng; tôi cảm
Nhận tấm lưng, mông, bụng, eo mượt mà của nàng,
Sự nồng ấm của đôi chân thon dài quấn lấy
Chân và hông tôi, và kéo tôi vào. Tôi duỗi
Mình và cuộn lại một chút và nghe nàng hát
Giữa tiếng nước tuôn chảy xè xè. Dần dần ánh
Sáng sớm rõ hơn, những lọ dầu thơm bên tấm
Gương của bàn trang điểm, cái đèn pin bằng bạc
Dựng úp mặt, ở góc bàn trang điểm, một chiếc
Ly cắm một dây leo trường sinh tỏa xuống. Và
Tôi thỏa mãn làm sao, có thể tha thứ niềm
Lạc thú vì ngắn ngủi và thóang qua. Tôi tính
Duỗi mình thêm, nhưng ngừng lại tỉnh giấc. Cho đến
Khi nàng tắm xong và lau khô (lúc bàn chân
Này lúc bàn chân kia đặt lên chiếc ghế), những
Mắt cá chân xương mịn, những bắp chân và bắp
Vế, những núm vú vun đầy màu hồng của nàng,
Và nàng đội cái khăn xếp, gấp chéo lên tóc.
Andrew Hudgins
ELEGY FOR MY FATHER,
WHO IS NOT DEAD
One day I’ll lift the telephone
and be told my father’s dead. He’s ready.
In the sureness of his faith, he talks
about the world beyond this world
as though his reservations have
been made. I think he wants to go,
a little bit – a new desire
to travel up, an itch
to see fresh worlds. Or older ones.
He thinks that when I follow him
he’ll wrap me in his arms and laugh,
the way he did when I arrived
on earth. I do not think he’s right.
He’s ready. I am not. I can’t
just say good-bye as cheerfully
ss if he were embarking on a trip
to make my later trip go well.
I see myself on deck, convinced
his ship’s gone down, while he’s comvinced
I’ll see him standing on the dock
and waving, shouting, Welcome back.
Andrew Hudgins
BÀI AI VÃN CHO CHA TÔI,
NGƯỜI KHÔNG CHẾT
Một hôm tôi nhắc điện thọai lên và
được biết về cái chết của cha tôi.
Ông sẵn sàng. Trong sự chắc chắn của
niềm tin, ông nói về thế giới ở
bên kia thế giới này y như thể
ông đã dành được một chỗ trước. Tôi
nghĩ ông khá là muốn đi – một khao
khát mới tăng cao, ngứa ngáy nhìn những
thế giới tươi mới. Hoặc xưa cũ. Ông
tưởng ra rằng khi tôi chết theo, ông
sẽ ôm tôi trong tay và cười, cái
cách của ông khi tôi sinh ra. Tôi
không cho là ông đúng. Ông sẵn sàng.
Tôi thì không. Tôi không thể chỉ nói
lời từ biệt một cách vui vẻ cứ
như là ông đang lên tàu du hành
để làm cuộc du hành sau đó của
tôi xuông xẻ. Tôi thấy mình trên boong
tàu, tin chắc con tàu của ông chìm
xuống, trong lúc ông tin chắc tôi sẽ
thấy ông đứng trên cầu tàu và vẫy
tay, la lớn, Hãy trở lại nhé.
Frederick Turner
THE WHEAT FIELD
This field of rustling wheat has gone from green
To almost hazy blue, to rufous gold.
Piers Plowman’s plot is what it seems to mean,
Eternal blessings sown a hundredfold,
Time’s wheel of tilth and fallow, reap and glean.
This glory is the mark of death to him
Who travels the North Dallas corridor.
These last years of the old millennium
Wealth in its heyday rises to a roar
Along the freeways of computerdom,
And field by field, wood by dappled wood,
The city, eating northward, prepotent,
Engorges land as its essential food.
They’ll sow, the year before development,
A field of corn to suck the soil’s last good.
This golden plot’s the mark upon the tree
That tells the woodman which one must come down;
It is the fever when the HIV
Plants its pale banner in the body’s town:
It is the sign of Man’s apostasy.
And the observer in his car or plane
Would on first seeing mourn this cruelty,
Meadows never to see the sun again,
Nature the victim to modernity
– And all the gracenotes of that grim refrain.
But there’s a chivalry of experience,
That carries thought beyond its first crude test,
That makes an actor of an audience,
And will not be content with second-best.
Creation flourishes on turbulence;
For what will happen here after the reaping?
The roads will come, the pipes and sewers and wires,
Young families will set up their housekeeping
In raw bright rooms that after a few years
Will be the secret nests of children sleeping;
Strange birds will fly among the orchard-trees
Where once huge flocks of starlings veered and wheeled;
Flowers bred by Romans, Arabs, Japanese,
Are planted there, where all was empty field,
By African and Asian refugees.
The golden corn has got another meaning;
Trans-substanced to a further sacrament;
New bread will rise fragrant out of the gleaning;
The human is what nature always meant;
The golden fall is but another greening
Into the dark fields of the firmament.
From the author: “The suburbs north of Dallas, especially Richardson, Plano and McKinney, have become a second Silicon Valley with high tech computer, communications, nanotech, and biotech companies.  Agricultural fields are being bulldozed to create new housing for the thousands of workers in the new corporate campuses.  Those workers come not only from North America but all over the world.
When a field is sown with wheat, it is a sign that this will be the last crop before the bulldozers move in.  The wheat field is for people of British ancestry a symbol of the “field full of folk”, the ancient medieval world of Christendom that the poet William Langland described in “Piers Plowman”, a traditional image of home, ancestral values, a worshipful attitude to heaven and earth, and a natural lifestyle.  My poem mourns the loss of that world, but also celebrates the emergence of a new “field full of folk”, a multi-ethnic community that is creating the future.
Cordially,
Fred”
___________________________________________________________
Frederick Turner
CÁNH ĐỒNG LÚA MÌ
Cánh đồng xào xạc lúa mì đã biến mất từ
Màu lục diệp thành màu xanh mù sương, rồi vàng
Hung. Vùng đất trong câu truyện Piers Plowman
Ngụ ý, những hồng ân vĩnh cửu đã được gieo
Xuống cả trăm lần, qua bánh xe thời gian của
Đất cày và ải, gặt hái và thu họach. Niềm
Vinh quang này, nay còn đâu, xuyên suốt hành lang
North Dallas. Những năm tháng cuối cùng của thiên
Niên kỷ ầm ĩ nổi lên sự thịnh vượng của
Thời vàng son dọc theo những xa lộ của vương
Quốc điện tóan, và cánh đồng tiếp giáp cánh đồng,
Rừng cây lốm đốm rừng cây, thành thị ăn lan về
Hướng Bắc, lấn lướt, nghiến ngấu đất đai như thực
Phẩm không thể thiếu. Họ gieo, năm trước khi mở
Mang, cánh đồng ngũ cốc, tận dụng đất trồng cho
Mùa gặt cuối. Cánh đồng ngũ cốc này chẳng khác
Nào dấu ghi trên cây dặn người tiều phu phải
Đốn ngã; đó là cơn sốt khi HIV
Cấy những biểu ngữ tái xanh trên thân thể thị
Trấn: dấu hiệu suy đồi đạo lý Con Người. Và
Người quan sát từ xe hoặc máy bay, đầu tiên
Là thương tiếc cho sự tàn ác này, những đồng
Cỏ không bao giờ thấy mặt trời lần nữa, thiên
Nhiên là nạn nhân của thời hiện đại – và tất
Cả những nốt nhạc không thiết yếu của điệp khúc
Ảm đạm đó. Nhưng có một trải nghiệm mang tinh
Thần hiệp sĩ đưa ý tưởng vượt quá thử nghiệm
Thô sơ ban đầu, làm diễn viên trong một khán
Giả, và sẽ không bằng lòng với những gì không
Hòan hảo. Sự sáng tạo nở hoa trong hỗn lọan;
Và điều gì sẽ xảy ra ở đây sau kỳ
Thu họach? Đó là những con đường sẽ hiện ra,
Điện nước cống rãnh, những gia đình trẻ sắp xếp
Công việc nhà, trong những căn phòng sáng sủa, mới
Tinh để sau đó vài năm trở thành tổ ấm
Cho con trẻ; những con chim kỳ lạ sẽ bay
Trên những vườn cây ăn trái nơi đã có lần
Những bầy chim đá đổi chiều và bay lượn; những
Lòai hoa giống La Mã, Ả rập Nhật bản, được
Trồng bởi những người tị nạn Phi châu và Á châu,
Nơi trước kia tòan là cánh đồng hoang. Cánh đồng
Ngũ cốc có một ý nghĩa khác; xuyên bản thể
Tới một lễ bí tích xa hơn. Bánh mì mới
Tỏa hương thơm từ sự thu nhặt; với thiên nhiên,
Con người luôn luôn giá trị; sự biến mất của
Lúa mì chỉ là khởi điểm khác bên trong những
Cánh đồng u tối của bầu trời.
Chú thích
Lời tác giả: Những vùng ngọai ô ở Bắc Dallas, đặc biệt là Ricardson, Plano và McKinney, đã trở thành Thung Lũng Silicon thứ hai với kỹ thuật cao về điện tóan, những công ty về mạng lưới tin học, kỹ thuật số, và kỹ thuật sinh học. Những cánh đồng nông nghiệp bị san phẳng để xây những khu nhà mới cho hàng ngàn công nhân trong những khuôn viên của những công ty mới. Những công nhân này chẳng phải đến từ Bắc Mỹ mà còn ở khắp nơi trên thế giới.
Khi một cánh đồng lúa mì đã gieo, thì đó là dấu hiệu của một vụ mùa chót trước khi những xe ủi đất bắt đầu làm việc. Cánh đồng lúa mì, đối với những người tổ tiên là người Anh, là “field full of fold” (cõi người), biểu tượng cho những người theo đạo Cơ đốc thời trung cổ và cổ đại mà nhà thơ  William Langland đã diễn tả trong “Piers Plowman”. “Cõi người” ấy chính là hình ảnh gia đình truyền thống, giá trị truyền thừa, thái độ tôn kính thiên đường hạ giới, và đời sống thiên nhiên. Bài thơ của tôi thương tiếc cho thế giới đó, nhưng đồng thời cũng tán dương sự nổi lên của một “cõi người” mới, một cộng đồng đa chủng tộc kiến tạo tương lai.
Piers Ploughman (viết năm 1360–1387) hay Visio Willelmi de Petro Ploughman (William’s Vision of Piers Ploughman) là tựa đề bài thơ ngụ ngôn Anh thời Trung cổ của William Langland được viết theo kỹ thuật điệp âm (alliterative: âm hay chữ đầu trước hai hay nhiều âm hay chữ tiếp theo) và không vần, chia thành từng đọan, gọi là “passus” (Latin là “step”). Piers Ploughman được những nhà phê bình coi như là một trong những tác phẩm lớn của văn học Anh, cùng với Canterbury Tales của Chauser, và Sir Gawain và the Green Knight trong thời Trung cổ.
Bài thơ bắt đầu nơi Malvern Hills ở Malvern, Worcestershire, Anh. Một người đàn ông tên là Will thiếp ngủ và thấy một tòa tháp trên một ngọn đồi và một thành lũy dưới một thung lũng sâu; giữa những biểu tượng thiên đường và địa ngục đó, là “cõi người” (field full of folk), đại diện cho thế giới lòai người. Trong phần đầu, Piers, một người thợ cày khiêm tốn, xuất hiện và nhận mình như một người kể truyện, dẫn đường tới sự thật. Những phần sau, liên quan tới người kể đi tìm những nhân vật Dowel, Dobet and Dobest.
From Wikipedia, the free encyclopedia
Frederick Feirstein
FATHER AND SON
Finally I’ve learned forgiveness at this age,
For your mistakes that crippled me,
Which I’ve repeated. I have seen far worse.
You made them out of ignorance, not choice.
The rage I had, the wisdom that I lacked
Amaze me now, as if a page
That I was reading suddenly caught fire
And images of you tumbled from the smoke,
Words you mumbled when you were very tired,
Dying, your hand in mine, that long last night,
Both knowing you had lost all breath to fight.
“It’s late,” you said, “I don’t want you to go.
But you have to leave me.” So I sighed
And, like a child in winter, buttoned up my coat.
“I love you,” we said simultaneously.
“Kiss your son for me,” who then was four months old.
The next day you were found unsaveable and cold.
So if I try to save you on this page
And if you try to save me from your realm,
Eons away, distances so vast
It seems a microscopic stage our past
Of father and son struggling through myth
Which we enacted witlessly and sick,
Dumb, irreconcilable, compelled
To make this seeming paradise a hell
In which we sleptwalked like the shade you are,
The shadow of a man I hoped to be.
Why were we burdened, little you and me
Or, as you often said, “How can this be?”
From the author: This poem alludes to is the tragic reconciliation I had with my father the day he died and my feelings later in which I sought forgiveness and found forgiveness for the difficulties in our relationship. In childhood we were very close. In my adolescence it was a difficult time for both of us. Its placement in the book is meant to suggest a parallel between our sleepwalking through life and the sleepwalkers in the 9/ll poem, that is the relationship between private and public trauma I talk about in the Afterword.
As you can gather, my poetry books are not collections but are carefully structured books.
________________________________________
Frederick Feirstein
CHA VÀ CON
Cuối cùng, ở tuổi này, con đã học được sự
Tha thứ, vì những sai sót của cha đã làm
Hỏng con, những sai sót đó con đã lập lại.
Tệ hại hơn nhiều. Những sai sót do cha không
Biết, chứ đâu chọn lựa. Con đã có thừa giận
Dữ, và thiếu sự khôn ngoan. Điều đó bây giờ
Làm con ngạc nhiên, như thể một trang sách con
Đang đọc bất thình lình bắt lửa. Và hình ảnh
Của cha ngã nhào từ cột khói, những tiếng cha
Lầm bầm khi đã mệt lả, lúc hấp hối, con
Đã nắm tay cha, đêm dài cuối cùng đó, cả
Hai chúng ta đều biết cha đã chiến đấu đến
Hết hơi. “Trễ rồi,” cha nói, “Cha không muốn
Con đi. Nhưng con phải bỏ cha ở lại.” Lúc
Đó con đã thở dài. Và, như một đứa trẻ
Trong mùa Đông, con cài áo khóac. “Con (cha) thương
Cha (con),” chúng ta cùng nói. “Hôn đứa cháu cho
Cha,” đứa cháu mới bốn tháng tuổi. Hôm sau, cha
Được tìm thấy đã chết và lạnh. Như thế, nếu
Con cứu cha trên trang giấy này và nếu cha
Cứu con từ vương quốc của cha, khỏang thời gian
Vô tận vụt qua, khỏang cách mênh mông đó, tưởng
Như một sân khấu vi mô, quá khứ của chúng
Ta của cha và con vẫy vùng qua huyền thọai
Mà chúng ta đã diễn vai như mất hồn và
Chán ngán, đần độn, bất tương nhượng, thúc bách để
Làm cái thiên đường ra vẻ này là địa ngục
Trong đó chúng ta đã mộng du như thể cha
Là cái bóng, cái bóng của người đàn ông con
Mong được trở thành. Tại sao chúng ta bị đè
Nặng, tuổi thơ của cha và con hoặc, như cha
Thường nói, “Làm sao lại có thể thế này nhỉ?”
Lời tác giả: Những ám dụ của bài thơ này, là sự hòa giải đầy bi kịch. Tôi đã ở bên người cha của mình khi ông chết, và những cảm xúc sau đó là tìm kiếm sự tha thứ và đã tìm thấy sự tha thứ cho những cảnh khó khăn trong mối liên hệ cha con. Trong thời thơ ấu, tôi rất gần gũi ông. Trong thời thanh niên là lúc khó khăn cho cả hai chúng tôi. Sự tìm kiếm đó trong cuốn sách hàm ý sự trùng hợp giữa sự mộng du của chúng tôi xuyên suốt cuộc đời và những kẻ mộng du trong bài thơ về biến cố 9/11, đó là sự liên hệ giữa cơn chấn thương riêng và chung mà tôi đã nói trong Lời Cuối.
Như bạn biết, những tập thơ của tôi không phải chỉ là những tuyển tập mà còn là những tập thơ được kết cấu cẩn thận.
Tóm tắt tiểu sử
Marilyn Hacker
Sinh năm 1942. Tác phẩm: Presentation Piece, Separations, Love, Death and the Changing of the Seasons, Going Back to the River, và Winter Numbers.
Rafael Campo
Sinh năm 1964. Tác phẩm: The Other Was Me The Poetry of  Healing: A Doctor’s Education in Empathy, Identity and Desire.
Tom Disch
Sinh năm 1940. Tác phẩm: Burn This, Dark Verses and LightYes, Let’s.
Dana Gioia
Sinh năm 1950. Tác phẩm: Daily HoroscopeThe Gods of Winter.
R. S. Gwynn
Sinh năm 1948. Tác phẩm: The Drive-in, Body Bags, The NarcissiadThe Area Code of God.
Timothy Steele
Sinh năm 1948. Tác phẩm: Uncertainties and Rest, The Prudent Heart, Sapphics Against Anger,The Color Wheel.
Andrew Huggins
Sinh năm 1951. Tác phẩm: Saints and Strangers, The Never-Ending, và The Glass Hammer.
Frederick Turner
Sinh năm 1943. Tác phẩm: The New Worl: An Epic poem, Natural Classicism: Essays on Literature and Science, Genesis: An Epic Poem, Rebirthof value: Meditations on Beauty, Ecology, Religion and Education, April Wind.
Frederick Feirstein
Sinh năm 1940. Tác phẩm: New& Selected Poems.
——————————-
(Nguồn: Tạp chí Sông Hương số 280/tháng 6-2012)

7 NGÀY

Xuân Thủy


BẢY NGÀY

để quên một cuộc tình đã cũ
hay vẫn còn mới nguyên mãi mãi
sống để dạ rồi chết mang theo
để đổi một cuộc tình mới mới

nguyên … cũng thế như cuộc tình đã
cũ và cũng luôn mới nguyên mãi
mãi cũng giống như người ta sắm
vợ mới thay cho vợ cũ sắm

xe mới thay cho xe cũ … sắm
nỗi nhớ mới thay nỗi nhớ cũ
đã hao mòn hay còn mới nguyên
mãi mãi như thói quen người Sài

Gòn dán keo xe để khi túng
hay đổi xe mới vẫn lấy lại
chút vốn còn mình đến dùng cái
xe người ta cũng đã khinh xa

lánh chứ đừng nói chả trách ai
trách mình thì có ấy chứ có
lửa thì mới có khói chứ sao?
thanh minh cái nỗi gì … tình yêu

anh biết chẳng qua chỉ là cái
lốc máy xe dù có tân trang
kiểu gì thì nó cũng hao mòn
theo thời gian vì không thể không

đi không thể còn mới nguyên như
lúc ban đầu như cái buổi anh
vồ vập trong cái nhìn đầu tiên
muốn nuốt chửng em như nuốt quả

xoài cát vàng ươm thơm ngát nhưng
không dám và giờ khi anh đã
mệt vì đợi chờ thì tình yêu
trong em lại càng tươi mới lạ

nhưng lại là với một quả xoài
cát khác không giống loài ác quỷ
như anh không thể xứng với người
đẹp như em một cái lốc máy

mới sau những lần đầu chạy roda
để quên một cuộc tình đã cũ
để đổi một cuộc tình mới mới
nguyên … cũng thế như cuộc tình đã

cũ và cũng luôn mới nguyên mãi
sau những lần đầu chạy roda và
anh gặp em người chưa từng gặp
khác với người anh đã từng muốn …

dù kết quả có thế nào thì
chúng ta chạy roda sau 7 ngày
thì tình yêu mãi mãi là cái
lốc máy xe dù có tân trang …

04/5/2013


Ảnh kèm bài: Tranh cát tình yêu – Anh Vũ – Bùi Anh Tuấn

VÀ EM

Nhiệt Đới Buồn

mưa lại rơi làm ồn
ào lỗ tai tôi mưa
buổi chiều không nghe được
tiếng động nào thêm nữa

nhìn ra cửa kính dơ
nhầy nhụa bụi dính thấy
cảnh vật nhạt và âm
ỉ những nỗi niềm bên

ngoài người cong lưng đứng
trên vỉa hè tìm chỗ
trú mưa và còn có
những người mặc mưa đi

để ướt lên áo quần
lên khuôn mặt từng người
chạy xe máy ào ạt
một vài bàn chân vụt

đi như là cơn bão
quét qua nhẹ nhàng tôi
không chìm đắm vào mưa
mà trông tháng sáu nhìn

bầu trời âm u những
đám mây ngày bỏ bóng
tối vào nhà và em
tay hứng mưa vào hồn

tôi …

5.6.2013

Ảnh kèm bài: Raining in the City by Eduard Gordeev 

NHỮNG CON ẾCH

0

Nguyễn Thói Đời
Ngồi đáy giếng nhìn lên trời những
con ếch thấy gì ngoài một khoảng
trời nhỏ nhoi dù nắng hay mưa
dù sớm hay tối thì cũng chỉ
là những khoảng trời nhỏ nhoi của
riêng những con ếch ngồi đáy giếng
nhìn lên trời, điều tuyệt vời của
đấng thiên nhiên là đã không trao
quyền quyết định vận mệnh của những
con ếch khác đang sinh sôi trên
cánh đồng vào tay những con ếch
ngồi trong giếng, chứ nếu không thì …
15.7.2013

CHÙM HOA GIẤY

0

Hòang Huy Hùng
Thời gian êm đềm trôi trong nhịp
điệu êm đềm của bản tình ca
hiphop dịu êm trên chiếc ghế
tựa tôi đang ngồi nơi hiên nhà
dưới giàn hoa giấy phủ bóng nở
đầy một màu tím dịu mát lan
tỏa mà quá khứ – kỷ niệm – hiện
tại đã hòa quyện làm một trong
đêm vắng thủa nào nơi hiên nhà
em hái tặng tôi chùm hoa giấy
chớm nở mối tình đầu đôi mình
chớm nở một màu tím ngất ngây
bông hoa giấy đong đưa theo nhịp
điệu êm đềm của bản tình ca
hiphop dịu êm trong đêm vắng
trong đêm vắng tưởng như còn đây
em hái tặng tôi chùm hoa giấy
chùm hoa giấy.

TRỐNG RỖNG

0
Nguyễn Tất Độ

Vào lúc không–khi–nào, tôi đang đứng
gần chỗ không–nơi–nào, tôi đã gặp
và làm quen với một người tên là
Không-Ai-Cả. Hai chúng tôi chào hỏi
nhau bằng không–câu–gì, rồi bắt đầu
chuyện trò với nhau nhiều thứ, đại loại
như về việc không–vấn–đề–gì. Rồi
tôi phải đi, người đó cũng phải đi.
Chia tay, đọng lại trong tôi không–một
–ý–nghĩ. Tôi về viết một bài thơ
trong đó không–có–một–ký–tự–nào,
để chia sẻ với không–một–người–nào
một câu chuyện không– (*)có–nội–dung–gì.


(*) hẳn-không
Tranh kèm bài: Không đề 2, Dương Đình Sang