Trang chủ Blog Trang 41

TUẦN THƠ 46: NÓI VỚI NHAU Ở MỘT QUÁN SUSHI

Nguyễn Hòai Phưong

& nếu mày ngồi ở một góc như
một thằng ăn mày nhìn người qua
người lại thì mày mới thấy cuộc
đời mày vô nghĩa như thế nào
nếu mày ngồi ở một xó như
một kẻ hành khất nhìn người ra
người vào thì mày mới thấy đời
mày chẳng là cái quái gì thôi
thì mày hãy yên phận với một
tờ báo cũ một quyển sách nát
hãy bằng lòng với một cốc cà
phê cuối bình đắng ngắt một cốc
bia quá đát chua loét ngồi yên
đấy mà nhìn người ta ra ra
vào vào ngồi yên đấy mà nhìn
người ta đi đi lại lại nhìn
người ta nhìn mày một cách ghẻ
lạnh khinh bỉ như nhìn một con
chó đói nhìn người ta lóng ngóng
cầm đũa nhìn người ta bốc thức
ăn nhìn người ta nhồm nhoàm nhai
nhìn người ta húp sột soạt nhìn
người ta thì thầm người ta cười
người ta vuốt tóc vuốt má người
ta âu yếm nhau nhìn người ta
tất bật vội vội vàng vàng khẩn
trương nhìn người ta quát tháo người
ta cáu gắt chửi bới nhau nhìn
người ta thỉnh thoảng lại liếc nhìn
mày xem mày đang nhìn đi đâu
nhìn mày đang nhìn cái băng chuyền
vô hồn đang chầm chậm lạnh lùng
quay đưa những bát những đĩa nho
nhỏ đựng su si nguội ngắt nguội
ngơ đến bên những người ăn nhìn
những cánh tay thoăn thoắt tiếp đồ
ăn vào băng chuyền những cánh tay
thoăn thoắt lấy đồ ăn từ băng
chuyền ra tất cả chính xác như
những bộ phận của một cỗ máy
nếu mày mới có một ngày như
thế mà mày đã cảm thấy buồn
chán cảm thấy thất vọng thì đời
mày còn buồn chán mãi mãi đời
mày còn thất vọng dài dài mày
nên nhớ là mày phải luyện phải
tập làm quen với mọi hoàn cảnh
mày phải tập quên chính mày là
mày đi thật sự có phải mày
chẳng là cái quái gì không nào,
nếu &

Munich, 30 - 7 - 04

SURPRISE, SURPRISE

0

Nguyễn Đăng Thường
       – Mày chỉ là tên hề buồn
          tên hề buồn nhất thế giới
          làm mọi người cười rộ
sau một đêm mưa rào tôi
ra xó vườn nhỏ thấy 1 đóa bạch
hồng mới ló lộng lẫy trong
buổi sớm mây tôi ngắm người
nó một chầy rồi chưa kịp mắng mầy
chỉ là đóa hồng là đóa
hồng là đóa thì bỗng nghe
trong bụi rậm có tiếng thì thầm a
rose is a rose is a

28. 10. 2000

ĐIỆU NHẠC NĂM GIỜ

0

Khánh Hà
Đêm thức trắng nghe tuyết tan nhỏ
giọt tong tong từ mái xuống thềm
nhớ những đêm nằm ở Sài gòn
nghe mưa nhỏ tong tong từ máng
xối căn nhà thuê trong con ngõ
hẹp vách ván mái tôn ngày nóng
hừng hực đêm có thể trèo lên
mái nằm ngắm sao trời cửa sổ
lúc nào cũng mở lồng lộng gió
mới năm giờ sáng có người dậy
đi lễ tiếng guốc lộc cộc tiếng
chuông beng beng điệu nhạc lúc năm
giờ bây giờ ba chục năm sau
Sài gòn có còn con ngõ hẹp
còn căn nhà vách ván mái tôn
còn tiếng mưa nhỏ tong tong tiếng
guốc lộc cộc tiếng chuông beng beng
điệu nhạc lúc năm giờ có còn
ai nghe thấy ai nghe thấy ai.

SỐNG LÙI

0

Inrasara
Tôi sống trong cộng đồng mà mọi thứ
đều lùi. Những cái cây mọc lùi nhỏ,
nhỏ dần vào hạt mầm, tận kiếp trước
của hạt mầm. Những con sông chảy lùi,
rất xiết. Thằng bạn tôi, đám cháu của
tôi, anh em cha mẹ tôi đi thụt
lùi, bé, bé dại dần. Tôi đứng nhìn
họ, bất lực. Không thể níu. Những ý
tưởng thụt lùi về cổ sơ, bản chép
tay mọc thêm trang lật lùi như thể
hết làm thất lạc. Ngôi nhà cô hàng
xóm thuở bé thơ đã đổ nát được
dựng lại. Những giọng nói quen và lạ
bay lùi vào chiều vào trưa vào đêm,
gọi dậy oan hồn tu sĩ, tiếng thét
đại ngộ đánh thức loài hổ mang thần
thoại trườn đổ một góc rừng. Trận lốc
thổi lùi bóc từng lớp trầm tích lộ
thiên bạt ngàn, thành phố cổ triệu triệu
viên gạch vụn lành lặn trở lại dựng
mênh mông cụm tháp xum xuê, bàn tay
vẫy môi cười màu áo làng mạc tiếng
quạ kêu lũ chim bay lùi vào vòm
nắng. Một mình tôi đứng cô độc. Đứng
thôi mà như đã bước tới ghê lắm
rồi.

EVERY POEM IS AN EPITAPH *

0
 

Hà Nguyên Du
bước tiến tôi sẽ là bước đếm đến
mộ chí khi Thượng đế không cho con
người làm phép cộng mà trừ theo số
ba vạn sáu ngàn ngày mọi sinh vật
chỉ như một cây nến tự nhiên thắp
sáng hữu hạn để được tàn lụi và
về lại chất nến biến hóa với bản
sắc tiền định khóc với thẳm vực cười
với chóp đỉnh … bi lạc lạc bi … vũ
trụ là chiếc giá để cắm cây nến
vậy là em nến tôi nến tình yêu
mình nến gia quyến ta nến bằng hữu
ta nến thế sự nến bài thơ tôi
nến tập văn anh nến như Eliot
nói every poem là nến hay
hơn mỗi bài thơ là văn mộ chí
mỗi tình yêu là mộ chí mỗi hơi
thở là mộ chí mỗi làm tình là
mộ chí thế giới mộ chí nhân tài
mộ chí may mắn về mộ chí em
đừng thất chí nên cố lấy chí mà
lập chí để mình như mỗi bài thơ
là mộ chí mộ chí mộ chí … hoa
mộ chí lá mộ chí cây mộ chí
tư tưởng mộ chí văn học mộ chí
nghệ thuật mộ chí dân tộc mộ chí
nhân duyên mộ chí hệ quả mộ chí
thái cực mô chí đạo mộ chí…
———-
* Lời nói nổi tiếng của thi sĩ T.S Eliot
người được tạp chí Time chọn là thi sĩ của thế kỷ.

(Tranh: Bửu Chỉ)

BÀ QUẢN GIA

0

Đỗ Kh.
Chào Khiêm đã nhận được hình và
điện thư thấy rất đẹp và buồn
Thật ra không có buồn nhưng rất
riêng tư thành thử chỉ có thể
là đọc giả nhưng người đọc bao
giờ cũng riêng có ý xem một
Truyện về confetti bị đánh
mất trên một con tàu biển tự
hỏi (không biết Cameron có
đánh cắp để dùng cho Tita
Nic) hôm nay mất một bức tường
tự hỏi (trong nhà có chăng thừa
nhiều vách) tự hỏi ở cửa hàng
bánh mì (sao bà hàng lại trông
Giống như một cái bánh ngọt vẽ
vời) tự hỏi mọi người đều có
thấy mọi thứ như là một loài
thông điệp mặc dù rất khó biết
Nó muốn nói gì tiến trình của
những kết luận hay: ai cũng có
thể nghĩ này nghĩ kia và nghĩ
thế nào cũng chẳng có gì đáng
Để ý “nhưng suy tư này không
trong tầm của bà quản gia và
do thế không được khai triển với
những thành quả gặt hái có thể”
Tôi tự hỏi là (nếu đời anh
là một tiểu thuyết thì đã đến
lúc bắt đầu nên viết) Bích Nga
10/12/00
——————————–

Chú thích bức tranh kèm:

Johannes Vermeer, The Milkmaid and Pearl Earrings

 

Ý TƯỞNG

0

Đặng Xuân Hường
chợt nghĩ đến một ý
rất thơ rồi cũng chợt
quên mất tan mất trong
tâm trí như là chợt
đến chợt đi không còn
dấu vết gì cứ thế
lần mò mãi cũng chẳng
tìm ra rồi bỗng như
thấy đó nằm đó mà
không cách gì diễn tả
được sau đó lại biến
mất trong phút giây trong
tầm tay!

TÂN HÌNH THỨC GIỮA LẰN RANH HẬU HIỆN ĐẠI

Phan Tuấn Anh

“Thật vậy, lịch sử nghệ thuật, nói một cách nào đó, chính là một lịch sử của những khái niệm nghệ thuật.” [6,10]

1. Câu chuyện giữa dơi và chuột
Tân hình thức là một câu chuyện không phải mới bắt đầu, nhưng nó cứ mới mãi với rất nhiều người, trước tiên, bởi tâm trạng e dè với những trào lưu, thể loại mới. Nếu xét Tân hình thức như một trào lưu nghệ thuật đương đại trên văn đàn Việt, cả ở trong nước lẫn hải ngoại, thì đó là một trào lưu khá hoàn chỉnh. Tân hình thức có tuyên ngôn, cương lĩnh (qua những tiểu luận và 3 công trình lý thuyết của Khế Iêm), có thực hành sáng tạo (11 tập thơ, 1500 bài thơ, 115 tác giả – theo thông tin của Khế Iêm), có tổ chức/diễn đàn đóng vai trò trung tâm nghệ thuật cho trào lưu (trang tanhinhthuc.org hoặc tạp chí Thơ). Khốn thay, trong thời đại ngày nay, người ta lại đang bội thực bởi những trào lưu, trường phái mới đến từ “bên ngoài”, nên sự thận trọng là một tâm lý tự nhiên. Những cái mới chắc gì đã có giá trị? Đó có lẽ là câu chặc lưỡi an phận thủ thường có tính AQ của không ít người. Nếu xét Tân hình thức như một thể loại thơ, với những đặc trưng thi pháp riêng (vắt dòng, lặp lại, ngôn ngữ đời thường, tính truyện, nhịp điệu…), thì rủi thay, thể loại là lãnh vực chứng kiến ít sự vận động và phát triển nhất trong đời sống văn học. Người ta có kinh nghiệm để hững hờ về những cách tân thể loại, hay cao hơn nữa, là những đề xuất thể loại mới, dĩ nhiên, mọi cái mới đều không thể ra đời từ hư vô. Trong nhiều thế kỷ qua, chỉ xét ở riêng nền thơ Việt, liệu có mấy thể thơ đã sinh ra và đứng lại được? Cứ như cách phân loại của Khế Iêm, mấy trăm năm thơ Việt chỉ gói gọn vào ba “thể loại” cơ bản chính: thơ vần điệu (thực ra là thơ Đường luật thời trung đại), thơ tiền chiến (thực ra là Thơ Mới) và thơ tự do (thực ra là thơ của các nhà hiện đại như Trần Dần, Lê Đạt…). Trăm năm nào có ra gì, hoặc ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào? Đó có lẽ là câu chặc lưỡi tiếp theo dễ dàng hình dung đến của không ít người đứng bên ngoài “cuộc chơi”.

Như vậy, một mặt, nếu trên phương diện trào lưu, người ta ngại ngần vì Tân hình thức là cái mới trong một thời đại có quá nhiều cái mới, mặt khác, nếu trên phương diện thể loại, người ta ngại ngần vì nó chịu số phận ra đời trong một lịch sử văn học dân tộc với quá ít kinh nghiệm về những cách tân (thể loại). Lí do tiếp theo khiến Tân hình thức vấp phải sự e dè, đó là nó là một thuật ngữ có tiền tố “Tân”, khi nói nó mới, vậy thì ai cũ, ai chấp nhận mình cũ, thơ như thế nào là cũ, và ai dám đi theo cái mới ấy để phủ bóng lên những tượng đài, những người khổng lồ trong quá khứ? Tân hình thức, do đó, là một thuật ngữ có quá nhiều nguy cơ và sự khiêu khích. Trong thời điểm này, một phần người ta cũng ngại động chạm đến những thuật ngữ có những tiền tố như: tân (new), hậu (post), giải (de), tiền (pre)… bởi tính đối thoại (dialogic) của nó với các đại tự sự, các mệnh đề đi trước. Có đối thoại tất có những mâu thuẫn, bất đồng và phủ định. Không dễ chút nào, để đối thoại với những trung tâm luận (logoscentrism), những con rồng và những đại tự sự (grand narrative).
Chúng tôi sẽ còn quay lại vấn đề tại sao Tân hình thức sau 14 năm tiếp nhận, dẫu đã “động phòng” nhưng cứ mãi “còn tân” trong đời sống văn học Việt Nam ở phần sau. Trong phần này, trước tiên, để “trấn an” những nghi ngại mang tâm lý văn hóa nông nghiệp lúa nước, vốn thận trọng trước cái mới, cái khác, cái lệch chuẩn, chúng tôi sẽ chứng minh mọi cách tân đều có thể được lịch sử cưu mang và không có gì là “không phải đạo” trong nghệ thuật. Tân hình thức dĩ nhiên mới, và nó cũng khác, lệch chuẩn với cả kinh nghiệm thơ lục bát, thơ Đường luật trung đại, cũng như với Thơ Mới hay thế hệ những nhà thơ (theo hệ hình) hiện đại như Trần Dần, Lê Đạt… Cái khác trước tiên, dĩ nhiên, nó không vần. Tiếp theo, nó không tung hoành tự do trên phương diện câu như các nhà thơ hiện đại, mà lại quy vào những điển phạm hình thức truyền thống như thơ trung đại và Thơ Mới, gồm lục bát, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ… Cái khác cơ bản nữa, nó mang tính truyện, mà nói rõ hơn, nó mang tính tự sự rõ nét, có “người kể chuyện” thay cho cái tôi trữ tình. Hình thức là thơ (trữ tình), nhưng lại có yếu tố tự sự, nên hành vi đọc câu thơ buộc phải vượt qua giới hạn từng dòng, để đọc theo câu ngữ pháp kể chuyện. Cái khác cuối cùng, đó là ngôn ngữ, hình tượng thơ không theo lối bóng bẩy, trữ tình, ẩn dụ, mà theo phong cách ngôn ngữ đời thường, đưa hình tượng, sự kiện thường nhật vào trong thế giới nghệ thuật. Dĩ nhiên, còn có thể chỉ ra thêm nhiều “cái khác” (others), nhưng chừng đó thôi, cũng đã đủ những “dị tật” có thể biến Tân hình thức trở thành một “quái thai”, thách thức tất cả những kinh nghiệm nghệ thuật, kinh nghiệm thể loại, kinh nghiệm thẩm mỹ và kinh nghiệm đọc của chúng ta. Lúc này, hẳn nhiên lo ngại của Milan Kundera trong Một cuộc gặp gỡ rằng, chúng ta đang sống trong một “thế giới thiếu từng trải” [8,153] là có cơ sở. Thực ra, tất cả những điển phạm mà chúng ta từng an lòng tin tưởng, nhằm xác định các sự vật hiện tượng nói chung, đều chỉ tồn tại trong những khoảng khắc mong manh và ngắn ngủi trong lịch sử. Nếu ai đó cho rằng, khái niệm “ngôi nhà” của loài người là một nơi ở phải có cửa, có mái, có đồ gia dụng… thì hàng triệu năm tổ tiên chúng ta sống trong động đá lấy đâu ra mái, cửa, đồ gia dụng? Nếu ai đó nghĩ rằng vẻ đẹp của người phụ nữ là hàm răng trắng, những vết xăm trổ là biểu hiện của những kẻ xã hội đen, thì cần giải thích như thế nào về mấy trăm năm nhuộm răng đen và tập tục xăm mình của cha ông chúng ta?
Tương tự như thế, Cynthia Freeland trong chuyên luận nổi tiếng Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật đã ôn tồn nói với chúng ta, lịch sử nghệ thuật không phải là lịch sử của những điển phạm, quy tắc bất biến, mà là lịch sử của những quan/khái niệm nghệ thuật. Bản thân lý thuyết về “cái đẹp” như là bản chất thẩm mỹ của nghệ thuật cũng chỉ là di sản tư tưởng của I.Kant, hoặc khởi đi từ Kant, chứ không phải là quan niệm thống ngự mọi giai đoạn của lịch sử nghệ thuật. Mọi điển phạm, quy tắc nhằm định vị thể loại, thuộc tính thẩm mỹ, đặc trưng hình thức nghệ thuật đều không bất biến, phổ quát, mà luôn biến thiên tùy thuộc vào quan niệm về nghệ thuật trong các thời đại và không gian văn hóa khác nhau. Freeland viết: “khái niệm “nghệ thuật” mà chúng ta dùng đã không được hiểu đồng nhất ở rất nhiều nền văn hóa hay thời đại khác nhau. Sự thực hành và vai trò nghệ sỹ cũng phức tạp và khó nắm bắt khôn lường. Người thượng cổ và thổ dân hiện đại không hề chia tách nghệ thuật khỏi các nghi lễ hay đồ tạo tác. Các tín đồ Thiên chúa giáo châu Âu Trung cổ không làm nghệ thuật như ngày nay, mà chỉ cố gắng mô phỏng hay tôn vinh vẻ đẹp của Chúa trời…” [6,38]. Do đó, khi các nghệ sĩ Đa đa như M.Duchamp đem triển lãm cái bồn tiểu, Serrano vẽ bức tranh khét tiếng Đái vào Chúa, nhóm Young British Artists đem xác một con cá mập ngâm vào bể phóc môn để trưng bày, Ron Athey đem máu của chính mình ra biểu diễn, Piero Manzoni đem phân của mình đi bán như một bức tranh… thì đó cũng chính là nghệ thuật chứ không phải sự điên rồ. Chúng là nghệ thuật không phải bởi tính chất khác thường, gây shock, mà thực ra, bởi vì chúng thực ra rất “bình thường” trong lịch sử nghệ thuật. Những nghệ sĩ nói trên đã cấp cho các “tác phẩm” kì dị của họ một quan niệm nghệ thuật, lý thuyết của họ không phải xuất phát từ sự điên rồ, phản loạn, phi nhân tính, đồi bại, mà thực ra, chúng rất gần gũi với những lễ hội Charivari với tục bôi phân khách quan đường trong vui vẻ thời Trung cổ châu Âu, những lễ nghi hiến tế máu người của người Maya ở Nam Mỹ, những hành vi tự hủy hoại bản thân để hiến dâng cho thần linh của tu sĩ những dòng tu kín. Tất cả những nghi lễ không tách rời tính nghệ thuật ấy vẫn đang tồn tại hoặc đã tồn tại trong một quá khứ chưa xa xôi trong kí ức nhân loại. Thơ cũng tương tự, mọi điển phạm và quy tắc chỉ là điển phạm và quy tắc có tính lịch sử cụ thể và không gian cụ thể. Thơ không nhất thiết cứ phải có vần, có hình tượng, ngôn ngữ bóng bẩy, ẩn dụ. Chúng tôi chỉ đơn cử một ví dụ, tính truyện trong thơ Tân hình thức rõ ràng không phải là một khối u vô tăm tích, mà nó đã gợi nhắc cho tất cả chúng ta nhớ về một thời đại hoàng kim của truyện thơ Nôm thời trung đại. Và chẳng phải, tác phẩm văn học lớn nhất của dân tộc ta cho đến lúc này, chính là một tác phẩm truyện thơ (Truyện Kiều) đó hay sao?
Được rồi, nếu chúng ta cảm thấy tạm chấp nhận mọi cách tân của Tân hình thức thực ra không có gì quá ư đột xuất và “kỳ cục” trong lịch sử nghệ thuật, thì câu hỏi tiếp theo cần phải trả lời, Tân hình thức đã cách tân so với cái cũ nào? Một cách tổng quan nhất, xét từ góc độ hệ hình (paradigm) nghệ thuật, chúng ta cần phải giải quyết câu hỏi sau: Tân hình thức thuộc về hệ hình hiện đại hay hậu hiện đại? Nếu nó là hiện đại, thì dĩ nhiên, Tân hình thức là sự cách tân so với tiền hiện đại. Nếu Tân hình thức là hậu hiện đại, thì dĩ nhiên nó đã cách tân so với cả tiền hiện đại và hiện đại. Về những quan điểm đi trước, chúng ta dễ dàng nhận ra sự lúng túng và chưa thống nhất, nhằm khẳng định Tân hình thức thực ra là dơi (hậu hiện đại), hay là chuột (hiện đại). Trong tuyển tập tiểu luận Vũ điệu không vần – tứ khúc và những tiểu luận khác [7] của Khế Iêm, vấn đề dơi hay chuột này đôi chỗ khẳng định xác quyết, nhưng đôi chỗ khác lại mâu thuẫn. Nhìn chung, tổng quan lại quan điểm của “nhà lập thuyết”, “người tuyên ngôn” cho thơ Tân hình thức Việt Nam, Khế Iêm luôn khẳng định Tân hình thức là một trào lưu thơ hậu hiện đại, hoặc là, nó là một sáng tạo ra đời trong hoàn cảnh hậu hiện đại (hoàn cảnh internet và các học thuyết hỗn độn, ngẫu nhiên trong khoa học tự nhiên). Khế Iêm viết: “Nhưng những nhà thơ Tân hình thức chẳng dừng ở quan niệm làm mới, vì đó là phương cách của thời hiện đại, mà dùng thể truyền thống hòa trộn với chất hiện đại (bao gồm thơ tự do) giống như kiến trúc hậu hiện đại, tạo thành thể lai, hoàn toàn khác, không những hóa giải và làm tan biến truyền thống, mà cả hiện đại… thơ Tân hình thức, dù sao cũng chỉ là một mặt tích cực trong nhiều mặt của thơ hậu hiện đại, một nền thơ luôn bất định” [7,16-18]. Tuy nhiên, ở nhiều chỗ khác, mặc dù xếp Tân hình thức ra đời trong tinh thần và điều kiện hậu hiện đại, bản thân Khế Iêm lại cho rằng Tân hình thức lại là một “phong trào tiền phong”. Ông viết: “Chúng ta có thể nhìn ra hướng đi của thơ, nếu theo dõi sát và am hiểu cặn kẽ hai phong trào tiền phong này (thơ Ngôn ngữ và thơ Tân hình thức – PTA)” [7,174]. Vấn đề là, “những trào lưu tiền phong” lại đồng nghĩa với thuật ngữ “chủ nghĩa/hệ hình/nghệ thuật hiện đại”. Trong chuyên luận Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật của Nguyễn Văn Dân, tác giả ghi rõ: “Nói thêm về thuật ngữ “phong trào tiền phong”. Đây là một thuật ngữ được dùng như là một tiêu chuẩn để xác định tính hiện đại của các trào lưu văn học nghệ thuật mang tính đổi mới ở thời kỳ đầu thế kỷ XX. Chính vì thế, thuật ngữ “phong trào tiền phong” hay “chủ nghĩa tiền phong” được coi là đồng nghĩa với “chủ nghĩa hiện đại” hay nghệ thuật hiện đại” [5,8]. Cách hiểu của Khế Iêm về sự tương đồng giữa hai thuật ngữ “chủ nghĩa hiện đại” với “chủ nghĩa/trào lưu tiền phong” cũng không có gì khác biệt so với Nguyễn Văn Dân. “Thời hiện đại khoảng chừng thập niên 1850 đến 1950, bao gồm luôn cả chủ nghĩa Tượng trưng… gắn liền với những phong trào tiền phong, như chủ nghĩa Ấn tượng, Lập thể, Trừu tượng, Biểu hiện…Hiện sinh… Da Da, Siêu thực trong thơ…” [7,24]. Chính chỗ nhập nhèm dơi – chuột này đã dẫn đến một nguy cơ, những nhà nghiên cứu đi sau/theo Khế Iêm dễ lầm tưởng Tân hình thức là một trào lưu tiền phong, nói cách khác, là một trào lưu thuộc về hiện đại. Có lẽ, quan điểm của Nguyễn Đức Tùng trong bài viết Tại sao Tân hình thức? [in trong kỷ yếu hội thảo lần này] cũng xuất phát từ điểm nhập nhằng nói trên: “Phong trào Tân Hình Thức (THT) ra đời trong bối cảnh phát triển của chủ nghĩa hiện đại và thơ tự do, khi thơ có vần gần như hoàn toàn bị bỏ rơi”. Chỗ khác, có thể có người đã hiểu sai lập luận sau của Khế Iêm: “…và cuối cùng thơ hậu hiện đại chuyển sang một diện mạo khác với thơ Tân hình thức Hoa Kỳ” [7,25], để rồi cho rằng Tân hình thức là phi/vượt hậu hiện đại. Thực ra, trong đoạn vừa rồi, Khế Iêm muốn nhấn mạnh Tân hình thức như một trào lưu (thơ) hậu hiện đại mới, bên cạnh những trào lưu thơ hậu hiện đại khác như thơ Đa đa (Lê Huy Bắc xem Đa đa là hậu hiện đại), thơ ngôn ngữ (language poetry), thơ trình diễn (performance poetries)…
Lời khẳng quyết của chúng tôi, đó là Tân hình thức cả ở Hoa Kỳ và Việt Nam hoàn toàn là một trào lưu hậu hiện đại. Chỉ xét riêng mặt lịch đại thơ Tân hình thức Việt Nam, với bài thơ Tân hình thức đầu tiên với tựa đề Những Nụ Hồng của Máu ra đời năm 1991 của Nguyễn Đăng Thường (22 năm), hoặc tính từ năm 1999 (14 năm), là năm Khế Iêm làm bài Tân hình thức đầu tiên của ông là Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể và viết tiểu luận có tính tuyên ngôn đầu tiên với tựa đề Chú Giải Thơ Tân Hình Thức, thì trào lưu này hoàn toàn nằm trong thời hậu hiện đại. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Khế Iêm rằng, mặc dù tư tưởng triết học và quan niệm nghệ thuật hậu hiện đại thực ra đã xuất phát từ thập niên 50 thế kỷ XX trở đi, và có lẽ đạt đến đỉnh cao những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, tuy nhiên, phải từ thập niên 90 cho đến nay, những dự phóng và tiên báo về mặt xã hội, cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa hậu hiện đại mới được biểu hiện đầy đủ. Với một nước có tính chất “hậu hiện đại muộn” (tiếp thu lý thuyết muộn và hoàn cảnh kinh tế phát triển muộn) như Việt Nam, đặc trưng này càng thể hiện rõ. Xét về mặt mỹ học, có thể nói Tân hình thức hoàn toàn tuân theo mỹ học chiết trung, hay chính xác hơn, mỹ học Tân chiết trung của chủ nghĩa hậu hiện đại. Tư tưởng hậu hiện đại luôn nỗ lực đả phá nền tảng luận, trung tâm luận, đại tự sự… để đề cao tiểu tự sự, truy cầu tính đối thoại, đề cao diễn ngôn, do đó mỹ học của nó là mỹ học chiết trung, kết hợp nghệ thuật truyền thống (tiền hiện đại) với nghệ thuật tiền phong (hiện đại), chấp nhận kết/dung hợp mọi thể loại, mọi hình thức thi pháp. Đặc trưng mỹ học này không chỉ được biểu hiện trong văn học, mà còn biểu hiện phong phú trong những bộ môn nghệ thuật hậu hiện đại khác như hội họa, lắp ráp, sắp đặt, cắt dán, kiến trúc… Với thơ Tân hình thức, Khế Iêm lập ngôn rõ ràng theo mỹ học tân chiết trung: “Từ đó dẫn tới một cái nhìn về Tân hình thức (New Formalism). Gọi là Tân hình thức có nghĩa là lấy những thể cũ (old form) tiêu biểu cho một nền văn hóa, một truyền thống, định hướng lại, mang ý nghĩa vừa hòa tan vừa nối kết, giữa thời đại này và thời đại khác” [7,44]. Chúng ta có thể thấy Tân hình thức là một thể thơ có sự dung hợp, lai ghép rất nhiều truyền thống và quan niệm mỹ học thơ khác nhau. Nó chiết trung giữa ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ nghệ thuật; giữa thể tự sự với thể trữ tình; giữa thi pháp thơ cũ (số chữ trong câu, kĩ thuật vắt dòng) với thể thơ không vần của thơ hiện đại; giữa lối đọc theo câu (của tự sự) với lối đọc theo dòng (của thơ trữ tình)… Với Tân hình thức, chúng ta có thể tìm thấy mọi truyền thống và đặc trưng nghệ thuật của các dòng thơ trước đó. Sở dĩ dựa trên nền mỹ học chiết trung đó, là bởi thơ Tân hình thức được xây dựng dựa trên triết học đa bội – đặc trưng tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại. Theo Kosikov trong Văn bản – liên văn bản – lí thuyết liên văn bản [9], nếu triết học thống nhất thừa nhận một chủ thể siêu việt nào đó đóng vai trò trung tâm và khởi nguyên của thế giới, thì triết học đa bội (của Derrida, Foucault, Lyotard, Barthes…) đã xóa bỏ cái tuyệt đối, xóa bỏ trung tâm, xóa bỏ đại tự sự… Kosikov viết: “Bởi vậy, nền tảng triết học đa bội là quan niệm về tính nước đôi không thể loại bỏ ở mọi khách thể của đối tượng hoặc khái niệm – tính nước đôi này về nguyên tắc không thể khắc phục…” [9,83 – số tháng 8]. Chúng tôi không cần dẫn lại những sự kiện, gốc gác liên đới về mặt lịch sử của thơ Tân hình thức với các trào lưu hiện đại và cả các trào lưu hậu hiện đại khác mà Khế Iêm đã rất kì công phân tích trong các chuyên luận lập thuyết của mình, ở đây chỉ muốn nhấn mạnh lại quan điểm đa bội trong tư tưởng của ông về Tân hình thức, ngõ hầu làm rõ vấn đề mặc dù vừa giống chim (tiền hiện đại), bởi đôi cánh nhẹ nhàng thanh thoát, vừa giống chuột (hiện đại) bởi tính phá phách, khiêu khích, nhưng Tân hình thức thực ra là dơi (hậu hiện đại), chính bởi do nó vừa giống cả chim, lẫn chuột, nên nó là một hình thức lai ghép, chiết trung mới: “Những nhà thơ Tân hình thức chấp nhận tính truyện, tính trữ tình, tinh thần và thi pháp đời thường mà những nhà thơ Ngôn ngữ đã loại bỏ… Tóm lại, những nhà thơ Tân hình thức mở rộng và chấp nhận mọi khuynh hướng từ quá khứ tới hiện đại, phá vỡ những biên giới giữa nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau, giữa hội họa, âm nhạc và văn chương. Giữa hình thức nghệ thuật này với bất cứ hình thức nghệ thuật nào khác… làm đậm thêm tính lai của hậu hiện đại” [7,13-14]. Như vậy, lúc này, ta có thể vui đùa mà nghĩ, À! Thì ra các thiên thần có đôi cánh chim bay lượn như Eros (Cupid) là những anh hùng tiền hiện đại, còn năm anh em Chuột (Ngũ Thử) trong phim Bao Công là anh hùng hiện đại, dĩ nhiên, còn Người dơi (Batman) của chúng ta là vị anh hùng hậu hiện đại đích thực rồi.
2. Đáp lời với hư vô
Chúng tôi muốn mở rộng câu chuyện Tân hình thức ra một phạm vi rộng hơn, đó là câu chuyện về chủ nghĩa hậu hiện đại ở nước ta. Trước tiên, ít ai để ý rằng, Tân hình thức có một tiến trình phát triển song hành, gần như tương ứng đồng thanh với sự tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam, nhất là trên phương diện lý thuyết và phê bình. Còn nhớ, năm 1991, bài dịch đầu tiên về hậu hiện đại có tên Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại (A. Blach), đăng tải trên tạo chí Văn học (tháng 5 năm 1991) được công bố, thì theo Khế Iêm, đây cũng là thời điểm bài thơ Tân hình thức đầu tiên của Nguyễn Đăng Thường được công bố tại tạp chí Thế Kỷ 21, trong số 27, tháng 7 năm 1991 tại California. Năm 1994, trên tạp chí Thơ (số 2), theo Khế Iêm, có trích đoạn đăng bài thơ của Jean Ristat có tựa đề Từ Khúc Dục Mùa Xuân Rảo Bước (Đỗ Kh dịch). Chỉ một năm sau đó, ở Việt Nam, tạp chí Thông tin khoa học xã hội (số 2 năm 1995) cũng có bài nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại, với tựa đề Sự suy tàn của phong trào tiền phong: nghệ thuật hậu hiện đại. Và như ta đã biết, từ năm 1999 trở đi, khi Tân hình thức chính thức trở thành một trào lưu không chỉ ở hải ngoại, mà còn ở trong nước với công lao của Khế Iêm, Inrasara, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Đỗ Kh, Gyảng Anh Iên, Dã Thảo, Hường Thanh, Nguyễn Tất Độ… thì đồng thời, đây cũng là giai đoạn lí thuyết hậu hiện đại được tiếp nhận sâu rộng ở Việt Nam, động vọng sâu sắc cả trên phương diện phê bình lẫn sáng tạo, với công lao của Trương Đăng Dung, Phương Lựu, Lê Huy Bắc, Lã Nguyên, Đào Tuấn Ảnh, Phạm Xuân Nguyên, Nhật Chiêu, Đặng Thân… Như vậy là những con chữ đã đồng hành, và hẳn nhiên sự phát triển của Tân hình thức, một mặt vừa cổ vũ cho tiến trình tiếp nhận, ứng dụng chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam diễn ra nhanh hơn, rộng hơn và toàn diện hơn, mặt khác, sự tiếp nhận lí thuyết hậu hiện đại đã mở đường cho việc thông hiểu và chấp nhận Tân hình thức vào dòng chảy nền văn học dân tộc.
Nhưng quan trọng nhất, vai trò của Tân hình thức đối với tiến trình phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam là gì? Chúng ta có thể nhận định rằng, Tân hình thức đã trả lời cho hai câu hỏi truy vấn cơ bản nhất: Có chính thức có chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam hay không? Và bản sắc của chủ nghĩa hậu hiện đại Việt Nam là gì? Những câu hỏi mà những nhà khoa học bậc thầy của chúng tôi như Lã Nguyên (qua tiểu luận Văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam: Quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống) [3,203] và Lê Huy Bắc (qua chuyên luận Văn học hậu hiện đại – lí thuyết và tiếp nhận) [2] đã cất công đáp lời, nhưng chưa hẳn đã đi đến thống nhất, hoặc xóa tan những hoài nghi. Chúng tôi từng chỉ ra trong một tiểu luận khác rằng (Quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam) [1], ở Việt Nam hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn thận trọng với sự tồn tại của văn học hậu hiện đại, xem hậu hiện đại là một khái niệm rỗng, chưa chính xác, hoặc sự tồn tại của nó là một “quái thai, yêu nữ, bóng ma chập chờn, hạ văn hóa, văn hóa suy đồi”… Có thể nói, những tranh luận tưởng chừng phức tạp và nhiều hệ lụy nói trên, đáng ra đã có thể hóa giải ngay từ đầu, nếu như chúng ta nhớ lại trong lịch sử văn học Việt Nam đương đại, có một chỗ dành cho Tân hình thức. Với sự xuất hiện của Tân hình thức ở Việt Nam cách đây từ 14 năm, dĩ nhiên ban đầu từ hải ngoại, nhưng sau đó sức sống chính là ở trong nước, thì chúng ta hoàn toàn có thể yên tâm kí giấy khai sinh cho văn học hậu hiện đại ở Việt Nam. Khác với những trường hợp Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… tính hậu hiện đại còn (đôi chỗ) chưa hoàn chỉnh, hoặc chỉ dừng ở mức yếu tố, xen lẫn giữa những yếu tố hiện đại khác trong thế giới nghệ thuật, hơn nữa các tác giả nói trên cũng chưa có ý thức tự giác về lý thuyết hậu hiện đại trong thời điểm sáng tác, những nhà Tân hình thức hoàn toàn viết trong tâm thế hậu hiện đại, một số viết trong chính hoàn cảnh hậu hiện đại ở phương Tây (Khế Iêm, Đỗ Kh, Biển Bắc…), số khác viết trong nước, nhưng đồng thời còn kiêm luôn là nhà nghiên cứu văn học hậu hiện đại, hoặc đồng thời thực hành sáng tạo nhiều thể loại khác của văn học hậu hiện đại (Inrasara, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Lê Hưng Tiến…). Với sự có mặt của Tân hình thức, dứt khoát có thể khẳng định văn học hậu hiện đại Việt Nam đã tồn tại chính thức, không còn chuyện “yếu tố hậu hiện đại”, hay chỉ là sự lai ghép giữa hiện đại và hậu hiện đại nữa, xét trên quan điểm toàn thể. 14 năm trôi qua không lẽ vẫn chỉ là hư vô? 11 tập thơ, 1500 bài thơ không lẽ chỉ là vàng mã? 115 tác giả không lẽ chỉ là những xác chết? 3 tiểu luận không lẽ vẫn là sự bồng bột tự phát trong tư duy nghệ thuật? Khi chúng tôi đã khẳng định Tân hình thức là một trào lưu hậu hiện đại, thì đó không chỉ là quan điểm của cá nhân, mà còn của Khế Iêm, của Bod Grumman… Vậy câu hỏi tiếp theo chúng ta có thể giải đáp qua Tân hình thức là gì, đó là văn học hậu hiện đại Việt Nam mang bản sắc quốc tế hay bản địa, đó một cách tân hay một truyền thống như cách đặt vấn đề của Lã Nguyên.
Tân hình thức dĩ nhiên là một trào lưu hậu hiện đại xuất phát từ quốc tế, cụ thể là từ thơ Tân hình thức Hoa kỳ. Thơ Tân hình thức Hoa kỳ là một phản kháng chống lại thơ Ngôn ngữ, nhằm đi tìm lại công chúng đã bị đánh mất bởi tính hàn lâm và hóc hiểm của thơ ca đương đại. Thơ Tân hình thức Hoa kỳ xuất hiện từ những năm thập nhiên 90 thế kỉ trước, và sớm trở nên một trào lưu thơ hậu hiện đại phổ biến. Từ nền tảng thơ Tân hình thức Hoa kỳ, Khế Iêm và những đồng sự của ông đã ra sức lập thuyết, giới thiệu và xác định bản sắc riêng cho thơ Tân hình thức Việt Nam khi tiếp nhận trào lưu này vào đời sống văn học trong nước. Những nguyên tắc cơ bản nhất của thơ Tân hình thức Hoa kỳ vẫn được giữ lại, như các đặc trưng không vần, kĩ thuật vắt dòng, thể luật, tính truyện… nhưng bản sắc văn học Việt Nam được thể hiện trước tiên qua những thể luật (meter) mà Tân hình thức Việt Nam sử dụng, đó không phải là những thể của thơ phương Tây (mà đặc biệt là thơ Anh cổ), mà là thơ 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, và đặc biệt là lục bát truyền thống. Ví dụ bài số 6 của Nguyên Quân:
Trong danh bạ của em không
Còn tên thằng bờm nên những gì anh
Gởi đi không chừa một lời hồi
Đáp anh chừ thua thằng bờm có quạt…
Khế Iêm đã chỉ ra việc sử dụng thể luật (meter) nào cũng liên quan đến bản sắc và cả chủng tộc. Người phương Tây có âm vực dài, nên thơ họ thường có đến 10 âm tiết, trong khi đó, là một ngôn ngữ đơn âm, cũng như do âm vực ngắn hơn, nên thơ Việt thường chọn tối đa là 7, 8 chữ/âm. Tính bản địa của Tân hình thức Việt trước tiên là ở chỗ này, dù không vần, dù ngôn ngữ và hình tượng đời thường, tính truyện đậm nét, nhưng hình thức của nó không theo lối thơ của các nhà hiện đại như Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng… mà sử dụng những thể truyền thống. Tính truyện theo chúng tôi cũng mang bản sắc dân tộc, dù Tân hình thức Hoa kỳ cũng đề cao tính truyện, nhưng đây là một tương đồng văn hóa, hơn là một ảnh hưởng. Truyền thống thơ Trung đại Việt Nam, ngoài thơ Đường luật có tính chính thống, còn có cả một truyền thống truyện thơ Nôm nằm ở ngoại biên, với những kiệt tác bất hủ như Phan Trần, Lục Vân Tiên, Hoa Tiên… mà đặc biệt là Truyện Kiều. Truyện thơ Nôm luôn mang tính truyện đậm nét, bởi xét một cách nghiêm ngặt nó là một thể tự sự. Bản thân Khế Iêm cũng mong muốn xây dựng Tân hình thức như một thể “ca dao mới”, tức có tính bình dân, đời thường, gần gũi với số đông và khôi phục truyền thống kể chuyện của thơ thời cổ đại. Các kĩ thuật lặp lại trong Tân hình thức cũng mang truyền thống đồng dao trong văn học dân gian, nó tạo ra tính trò chơi và xác lập nhịp điệu, nhạc tính cho bài thơ. Thơ Tân hình thức đề cao nhịp điệu (rhythm), mỗi ngôn ngữ có một đặc trưng ngữ âm khác nhau để tạo nên nhịp điệu, nên Tân hình thức Việt tất yếu phải dựa trên đặc trưng ngữ âm tiếng Việt. “Mỗi ngôn ngữ có những bản sắc khác nhau, có khi ròn rã (như tiếng Anh), có khi du dương trầm bổng (như tiếng Việt) vì thế luật thơ cũng khác nhau. Luật iambic làm cô lại nhịp điệu nói của tiếng Anh, còn thơ Việt, chỉ là sự sắp xếp nhẹ nhàng tính bằng trắc của ngôn ngữ… vì ngôn ngữ tiếng Anh vừa đa âm và trọng âm, nên dễ vần ở cuối dòng thơ, và vì thế… nhà thơ có thể sử dụng cả thể luật thơ vần và không vần. Thơ vần và không vần trong thơ Anh chỉ khác nhau vần ở cuối dòng, còn luật thơ vẫn như nhau. Với thơ Việt, không thể mang những câu nói đời thường vào vì bị vướng luật vần ở cuối câu, nên phải dùng kĩ thuật vắt dòng và kỹ thuật lặp lại, thay thế vần” [7,118-119]. Nếu nhịp điệu trong thơ tiếng Anh được tạo ra bằng kĩ thuật “nhấn, không nhấn” tái lặp, thì trong thơ tiếng Việt, nhịp điệu được tạo bằng kĩ thuật lặp, kĩ thuật sử dụng thanh điệu bằng trắc và kĩ thuật ngắt nhịp (2 chữ, 4 chữ). Như vậy, nhịp điệu trong thơ Tân hình thức Việt là đặc trưng được xây dựng dựa trên bản sắc ngữ âm của tiếng Việt.
Kinh thánh viết “khởi thủy là lời”, một thể thơ được xây dựng dựa trên các đặc trưng ngôn ngữ Việt như thế, liệu có thể xem là một thứ lai căng, học đòi sống sượng từ phương Tây? Mà phải chăng, chỉ trừ lục bát, có thể loại văn học nào ở Việt Nam lại không được du nhập từ thế giới bên ngoài, thơ Đường luật từ Trung Hoa, thơ Mới, tiểu thuyết, truyện ngắn từ Pháp… Nếu từ chối những tiếp thu tinh hoa văn học thế giới, liệu chúng ta sẽ còn lại những gì? Dĩ nhiên, mọi tiếp thu vẫn cần tính tương thích, như sự gần gũi giữa tiếng Anh cổ và tiếng Việt, giữa luật nhấn, không nhấn với luật bằng trắc… mà Khế Iêm đã chỉ ra. Quan trọng hơn, mọi tiếp thu từ bên ngoài luôn cần ý thức không phải là sự bắt chước như một bản sao, mà cần xem đó là sự kế thừa nhằm phát huy nội lực, tinh hoa dân tộc trong hoàn cảnh toàn cầu hóa. Cái quan trọng nhất, mà những người quan niệm hậu hiện đại ở Việt Nam chỉ là hư vô có thể vin vào, nhưng thực ra họ thường lãng quên, đó chính là thời gian. Tức Tân hình thức cần chứng minh sự phát triển, chứ không phải tồn tại qua thời gian trong đời sống văn học dân tộc. Sự phát triển ấy bao gồm cả hai nghĩa, phát triển bản thân trào lưu và giúp cho nền văn học dân tộc phát triển. Nếu làm được hai mục tiêu ấy trong tương lai, có lẽ chúng ta đã có sự đáp lời đích đáng cho những “hư vô”. 14 năm, dẫu sao cũng chỉ là chớp mắt, chỉ mới là sự bắt đầu, chưa đủ “dậy thì” ngay cả cho một đời người thiếu nữ.
3. Những câu hỏi của nhân sư hay bi kịch Vũ Như Tô
Câu chuyện bắt đầu từ đứa con do thần Typhon và Ekhidna sinh ra có tên nhân sư Xphinc. Con nhân sư ngự ở vùng núi Xthynghione thành Thebai ấy vốn có “đầu đàn bà, hai bên vai có cánh, mình chó, đuôi rắn, vuốt sư tử” [4,295], nó được Hera phái đến thành Thebai nhằm trừng phạt dân chúng bởi vua Laios đã xúc phạm đến nữ thần. Mỗi người dân Thebai khi đi qua vùng núi Xthynghione đều phải trả lời những câu hỏi hóc búa mà con nhân sư đặt ra, nếu không trả lời được sẽ bị giết chết. Đọc lại Tân hình thức, đặc biệt là lý thuyết của trào lưu thơ này, chúng tôi cảm thấy có không ít câu hỏi hóc hiểm mà những nhà lập thuyết cần phải trả lời. Nếu không, nhất định con quái nhân sư Xphinc sẽ không để yên cho chúng ta. Đầu tiên, chúng tôi cảm thấy 14 năm qua, sở dĩ Tân hình thức sau phút giây hào hứng ban đầu, đã không thực sự lớn mạnh được thành một trào lưu rộng lớn mang tính toàn quốc, là bởi nhiều vấn đề liên quan đến thi pháp và mỹ học chưa được làm sáng tỏ. Mười bốn năm chỉ với 11 tập thơ là quá ít. Một năm chưa đến một tập thơ, chưa nói đến là hay hay dở. Nhất là cần đặt Tân hình thức trong ngữ cảnh văn học Việt Nam, là một “cường quốc thơ”, ít nhất là về mặt số lượng, nhà nhà làm thơ, người người in thơ, từ thơ hưu trí, thơ hội người mù cho đến thơ dịch, thơ Nobel, con số đó còn quá khiêm tốn. Trong 115 tác giả Tân hình thức, có mấy ai chỉ chuyên tâm làm thể loại này? Trong 1500 bài thơ Tân hình thức, có bao nhiều bài đứng lại được với thời gian? hay đơn giản những thành tựu chỉ là một nhúm mười mấy bài mà Khế Iêm thường xuyên dẫn đi dẫn lại trong các tiểu luận, trong đó, có không ít là của chính ông.
Câu hỏi hóc búa đầu tiên mà chúng tôi nghĩ Tân hình thức phải trả lời, đó là đặc trưng tính truyện. Thơ vốn không tương thích với tính truyện và thi pháp của nó không có ưu thế để tự sự. Dung lượng ngắn, số câu chữ hạn chế, ngay cả trường ca cũng không thể bao quát như tiểu thuyết, tại sao phải lấy sở đoản đi làm sở trường? Dĩ nhiên, những nhà lý thuyết cho rằng, đưa tính truyện vào thơ là để lôi kéo lại độc giả, một khi thơ tự do, thơ Ngôn ngữ đã đi quá xa trong những trò xiếc chữ nghĩa, biến ngôn ngữ thành một trò chơi hũ nút mà những người đọc không thể nào hiểu nổi. Thơ (Tân hình thức) muốn lôi kéo lại người đọc, nên cần khôi phục lại tính văn xuôi, “nhà thơ bây giờ mang nhịp điệu văn xuôi vào thơ, ít nhất phải hay như văn xuôi, nếu muốn nó trở thành thơ” [7,85]. Ở đây, chúng tôi đặc biệt băn khoăn, và nhớ lại sự tồn tại của hội họa sau khi ra đời nhiếp ảnh vào thế kỷ XX. Chúng tôi thấy rằng, sau sự ra đời của nhiếp ảnh, hội họa đã không chủ trương phải vẽ tả thực chi tiết hơn nữa, và đưa ra tuyên ngôn “họa sĩ bây giờ phải vẽ chân xác như nhiếp ảnh, ít nhất phải cụ thể như nhiếp ảnh, nếu muốn nó là hội họa”. Làm sao hội họa lại chính xác bằng nhiếp ảnh được, cái hội họa cần là quay về với điểm nhìn đường nét và màu sắc bên trong sự vật, thể hiện cái nhìn nội quan của người họa sĩ. Tương tự vậy, tại sao lại đưa thơ đi theo hướng văn xuôi? Trong khi ta thừa biết, thơ không bao giờ ưu thế nhằm tự sự. Đáng ra, cần phát huy hơn nữa những đặc trưng mang chất thơ như: ẩn dụ, nhạc tính, biểu tượng… thì Tân hình thức lại lấy tính truyện để vin vào. Chúng tôi nghĩ, hẳn nếu muốn đọc một câu chuyện, người ta đã không cần đến thơ. Lại nữa, chúng ta cần lưu ý, truyện thơ Nôm là một biểu tượng vĩ đại của việc đưa “tính truyện” trong thơ, nhưng hãy chú ý dung lượng của nó, tác phẩm Truyện Kiều dài bao nhiêu dòng/câu? Xin thưa 3254 dòng/câu. Trong khi đó, chúng tôi chưa thấy một bài Tân hình thức nào dài quá hai trang giấy. Thực ra, như đã nói, truyện thơ Nôm có bản chất nghệ thuật là tự sự, nó là “tiểu thuyết” diễn ra bằng hình thức “thơ”. Ngược lại, thơ Tân hình thức, dẫn đưa tính truyện vào, nhưng lại không có cốt truyện hoàn chỉnh và đồ sộ, nó vẫn là thơ trong bản chất nghệ thuật.
Khế Iêm muốn khôi phục lại tinh thần truyện kể của những người hát rong thời cổ/trung đại, những người từng sáng tạo nên Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Iliad và Odysseus… Nhưng điều đó là không thể, vì thời đại ngày nay không còn là thời đại của văn học truyền khẩu của quần chúng mù chữ, người đọc không đến với thơ qua người kể chuyện rong, mà bằng văn bản, họ đi tìm cái gì khác ngoài câu chuyện kể bình thường. Hơn nữa, những tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Iliad và Odysseus… mà ngày nay người đọc đương đại vẫn mến mộ, không còn nguyên nghĩa như lời kể của những nghệ sĩ kể chuyện dân gian nữa, mà là những văn bản đã được trau chuốt thành tầm kiệt tác do công lao của các tác gia lớn (La Quán Trung, Thi Nại Am…). Và ngày nay, chúng ta đang đọc chúng dưới hình thức văn xuôi, chính xác là dưới hình thức tiểu thuyết đấy chứ? Có còn là dưới hình thức thơ như nguyên bản mấy ngàn năm trước nữa đâu?
“Thi pháp đời thường” hay ngôn ngữ đời thường thay cho “thi pháp cảm tính” trong thơ Tân hình thức cũng tạo ra những khoảng cách thẩm mỹ đối với người đọc. Cứ cho là thơ dẫu sao cũng cần tính tự sự đi, nhưng đặc trưng ngôn ngữ trữ tình và các phương thức tu từ của thơ đã bị loại bỏ lại làm cho chúng tôi thấy e ngại. Truyện Kiều dẫu là tự sự, nhưng ngôn ngữ của nó đậm tính trữ tình, các thủ pháp tu từ trong tác phẩm này xứng đáng là những bài học giáo khoa cho những thi sĩ mọi thế hệ. Chúng tôi lại nhớ về nghệ thuật sắp đặt, lắp ráp, cắt dán của Đa đa mà ngày nay đông đảo người xem rất thích thú, dù đa phần quần chúng không hiểu gì. Cái nghệ thuật cần là một ấn tượng thẩm mỹ trong lòng quần chúng, và chính điều đó sẽ lôi kéo quần chúng, chứ không phải một câu chuyện đơn giản và dễ hiểu. Nghệ thuật không dùng để hiểu, mà để cảm, để rung động. Những câu chuyện đời/tầm thường có lẽ là ngôn ngữ của báo chí, chứ không phải của thơ. Ấn tượng tiêu cực do nhiều bài Tân hình thức đời đầu trên tạp chí Thơ gây ra là khá dai dẳng. Khi ấy, các bài thơ thực chất toàn là những bài báo thuần túy, được các “tác giả” thơ Tân hình thức chọn ra rồi tiến hành vắt dòng lại và gọi đó là tác phẩm thi ca. Phần nào đó, cách làm kiểu “thi pháp đời thường” này đã ám thị lên người đọc về một thể thơ thiếu chiều sâu của những câu chuyện, một nghệ thuật dễ dãi của câu chuyện vỉa hè.
Tân hình thức quan tâm nhiều đến nhịp điệu, chủ trương dùng bằng trắc, lặp lại và vắt dòng để tạo ra nhịp điệu. Điều đó hẳn nhiên đáng ghi nhận. Nhưng cái nhịp điệu quan trọng nhất, vẫn là cái nhịp điệu bên trong, tức dòng biến thiên nội cảm của cái tôi trữ tình, tiếc là điều đó lại bị xem nhẹ. Đã không vần, tức chủ trương cởi bỏ tự do hình thức cho thơ, nhưng tại sao lại gò vào những thứ duy hình thức gò bó khác không kém vần điệu là phép lặp, cân đối bằng trắc, vắt dòng? Tại sao không lấy chính sự vận động bên trong của tư tưởng và nội cảm của cái tôi làm nhịp điệu chính? Cuối cùng, chúng tôi quan tâm nhất đến kỹ thuật vắt dòng (enjambmnet). Khế Iêm đã dành rất nhiều tâm huyết để xây dựng một nội dung mỹ học cho kĩ thuật vắt dòng, và thực ra đó là những suy tư có tầm tư tưởng đáng ghi nhận. Theo ông, vắt dòng chống lại thói quen đọc dừng lại ở cuối dòng thơ, như khi ta đọc thơ tự do và đặc biệt là thơ vần điệu. Như thế, độc giả bị vẫy gọi đi tìm phần còn lại của câu, do dòng thơ và câu thơ trong Tân hình thức không còn là hai khái niệm tương đương như trong thơ tự do. Đặc trưng tiếp nhận này đẩy nhanh tốc độ đọc, buộc phải đọc thông qua mắt chứ không thể nghe ngâm thơ trực tiếp hay nghe đọc thơ qua radio được. “Điều này gợi tới ý niệm thời gian và không gian trong thơ” [7,258]. Trong lí thuyết của Khế Iêm, vắt dòng là đặc trưng cốt lõi khiến Tân hình thức là thơ, chứ không phải là văn xuôi, nếu bỏ đi vắt dòng, một bài Tân hình thức sẽ biến thành văn xuôi. Nhưng vắt dòng một cách khiên cưỡng, cứ 5, 7, 8 chữ hay 6 – 8 thì xuống dòng phải chăng là một sự cơ giới máy móc có tính khiên cưỡng, bất chấp ý thơ. Việc tách những từ ghép ra hai dòng đôi khi tạo ra ý lạ đột xuất mà Khế Iêm từng cho vài ví dụ. Nhưng nếu nó là thế này: “Chị em nô nức đặt vòng – hoa mộ liệt sỹ tỏ lòng biết ơn”, thì cũng là vắt dòng đấy, theo kiểu lục bát, lại tạo ra sự “phản tiếp nhận” đáng ngại. Vắt dòng như thế, tiềm ẩn nhiều nguy cơ phản cảm, bên cạnh sự cơ giới xuống dòng khá khó chịu khi đọc. Chính từ những trăn trở trên, dựa trên những điểm khả thủ, và cũng cả những “giới hạn” theo cách hiểu chủ quan, chúng tôi từng nỗ lực tạo ra một thứ thơ Tân tân hình thức (New new Formalism) cho riêng mình, nhưng thật ra cho đến nay vẫn chưa tạo ra thành quả. Đề xuất thi pháp của chúng tôi đó là bỏ kỹ thuật vắt dòng, giữ nguyên câu dài theo kiểu văn xuôi, cả khổ thơ biến thành khổ văn xuôi, nhưng áp dụng kỹ thuật gieo vần như thơ vần điệu, nhằm tạo liên kết và nhạc tính. Mới nhìn qua tưởng là văn xuôi, nhưng đọc ra đúng là thơ. Người đọc khi tiếp nhận không bị khó chịu bởi vắt dòng, họ đọc như đọc văn xuôi, nhưng lại thấy giữa các câu có một liên kết kiểu thơ – liên kết hình tượng, liên kết cảm xúc, liên kết nhạc tính bởi vần, chứ không phải liên kết cốt truyện theo kiểu tự sự. Ngôn ngữ và hình tượng cũng giữ lại tính chất ẩn dụ, bóng bẩy, tu từ truyền thống của thơ. Chúng tôi sẽ kèm theo một bài thơ ví dụ vào phần Phụ lục của tiểu luận này như một cách góp vui, nhằm chỉ ra những nghi ngại về Tân hình thức, đó đơn giản như một cách phản biện, hơn là một đề xuất mới mẻ có tính cách tân.
Mặc dù Tân hình thức vẫn cần giải đáp những câu hỏi hóc búa của con quái Xphinc, nhằm biến những nỗ lực của mình không trở thành bi kịch Vũ Như Tô, tức bi kịch hi sinh, nỗ lực lớn lao nhưng rồi đổ sông đổ bể, có tham vọng xây dựng công trình nghệ thuật vĩ đại, nhưng do quần chúng không hiểu, nên cuối cùng dẫn đến bi kịch diệt vong của người nghệ sĩ, thì vẫn rất cần khẳng định và ghi nhận những đóng góp của Tân hình thức. Điểm khả thủ nhất của trào lưu này, một cách chủ quan, chúng tôi cho rằng đó là khả năng dịch và chu chuyển trên nền tảng mạng. Tức khát vọng giao lưu sáng tạo với thế giới, hòa mình vào nền văn học nhân loại nhằm khẳng định bản sắc dân tộc. Tân hình thức với chúng tôi có vai trò tương tự những trào lưu tiền phong như Ấn tượng, Vị lai, Siêu thực… trên thế giới, hoặc những nhóm như Xuân Thu Nhã Tập, Dạ đài trong văn học hiện đại Việt Nam. Tức cống hiến của họ xét trên phương diện lý thuyết và tư duy nghệ thuật luôn đáng kể hơn việc thực hành sáng tạo. Lúc này, nếu chúng ta quay về với quan điểm của C.Freeland, xem lịch sử nghệ thuật chẳng qua là lịch sử của những khái niệm nghệ thuật, tức là, lịch sử của lý thuyết nghệ thuật, thế thì chẳng phải công lao của những nhà Tân hình thức thật đáng ghi nhận lắm sao?

Tài liệu tham khảo
1. Phan Tuấn Anh & Nguyễn Hồng Dũng (2011), “Quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghiên cứu văn học Việt Nam”, Tạp chí Khoa học (Đại học Huế), Tập 66, 3, tr.5-17.
2. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
3. Lê Huy Bắc (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội
4. Nguyễn Văn Dân (2004), Thần thoại Hy Lạp, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Nguyễn Văn Dân (2013), Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Cythia Freeland (2009), Thế mà là nghệ thuật ư?, Nxb Tri thức, Hà Nội.
7. Khế Iêm (2011), Vũ điệu không vần – tứ khúc và những tiểu luận khác, Nxb Văn học, Hà Nội.
8. Milan Kundera (2013), Một cuộc gặp gỡ, Nxb Văn học, Hà Nội.
9. G.K.Kosikov (2013), “Văn bản – liên văn bản – lí thuyết liên văn bản”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (2 kì), số 8 và 9 năm 2013.

HƯỚNG ĐẾN CÁC ĐƠN VỊ XÃ HỘI

Xuân Thủy

Tôi muốn lắng nghe nơi này – đất kinh kỳ cố đô – nơi lưu giữ giá trị sâu sắc nhất, truyền thống dân tộc, lịch sử của đất nước chúng ta có bề dày cần đến sự thấu hiểu hơn mong chờ sự truyền đạt, tôi muốn được dạy dỗ tinh thần văn hiến ấy. Có thể tôi chưa lĩnh hội được hết những giá trị của di sản to lớn đó nhưng tôi cần tự nhắc mình trong đó có sẵn tinh thần của sự chiến thắng hay hòa hợp, luật tắc hay bổn phận, tự do hay cố kết, trường tồn hay hạnh phúc, hiện sinh hay tin tưởng… đó là những phấn đấu ban đầu. Tôi tin tất cả những người trẻ tuổi ở Việt Nam đều mang trong mình những giá trị tốt đẹp của dân tộc.

Tôi đang trôi nổi trong một thế giới đa văn hóa, đa giá trị, đa cực và chúng buộc tôi phải thích nghi với tất cả. Trong xã hội vẫn không ngừng biến đổi, các giá trị phủ định lẫn nhau, ý nghĩ tôi không thể dừng lại, phân biệt và chọn lựa, bị đánh bạt trước mọi sự biến đổi quá mau lẹ và không kịp sắp xếp chúng vào một giá trị nào cố đạt được để hành động phù hợp với những gì xã hội mong muốn mà chỉ bị dẫn dắt bởi cái đã làm thay đổi chính các hình thái xã hội đó – khoa học hay thành quả của lịch sử – nhưng tôi được sản xuất trong những điều kiện đơn vị xã hội khác nhau chịu sự tác động khác nhau do vị trí không gian, thời gian khác nhau, nếu chúng ta chấp nhận sự tương đối thì không cần đến khẩu hiệu và sự đổi mới nghĩa là lịch sử là chưa hoàn thiện và cần sự đổi mới. Sự đổi mới luôn cô độc trước những mệnh lệnh đếm được của thành quả xã hội, trước “thơ” ca ngợi lịch sử, “thơ” cảm giác không phải của mình, “thơ” hiện đại vui nhộn nhưng không giải thích được,…chúng cho tôi động lực đổi mới nhưng tôi phải sống như thế nào trước những niềm hạnh phúc không trọn vẹn, tôi phải bơi đến đâu để có độc lập, tự do trong các đơn vị xã hội.

1. Từ biểu hiện thực tế: hướng đến số đông chứ không chỉ những nhóm nhận thức
Ở Mỹ có thói quen văn hóa là văn hóa tiền “Tip”, ở Việt Nam lại có câu “Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” nhưng ở Việt Nam còn vô số định chế khác nhằm đạt đến sự cân bằng và hài hòa,…(chắc ở Mỹ cũng vậy thôi), như vậy các định chế trở nên cồng kềnh, thật khó để chúng ta nắm bắt được nếu không có thời gian thích nghi, chính vì vậy các quan hệ xã hội tồn tại không vững chắc (tiền là phương tiên gắn kết thay cho ngôn ngữ giữa các vùng giao tiếp khác biệt không thể thấu hiểu lẫn nhau), chỉ sau khi các mối quan hệ xã hội sụp đổ thì thành quả xã hội mới tham gia vực dậy nó nếu đủ điều kiện nhất định. Cần quy định mức độ giàu có để áp dụng định chế tiền “Tip” hay “ăn khế trả vàng”, thật khó xác định trong thời đại ngày nay. Sau các hoạt động của định chế đó hẳn luôn có các câu chuyện được kể ra (Tám), đâu là câu chuyện điển hình như trong những thời đại trước đó, trong đoạn “Âm nhạc và con bò cái” trong “Không gia đình” hay “dòng tít nóng hổi trên mặt báo”. Không so sánh, nhưng khi ta chỉ quan tâm đến những điển hình to tát thì đã tiếp tay cho những điển hình nhỏ bé tồn tại cũng không chuẩn mực như thế và chúng ta đang quên mất những câu chuyện nhỏ nhưng chứa đựng chân giá trị từ quá khứ định hướng cho các đơn vị xã hội tồn tại. Do đó, văn hóa nghệ thuật nếu phiếm diện thì không đảm bảo cho hoạt động của thời đại nhưng nếu đòi hỏi sự chu toàn thì thời đại trở nên trì trệ.

Đứa trẻ khi sinh ra đã phải gánh chịu sự la mắng của cha mẹ chúng vì trái ý hay đã phải tiếp xúc quá nhiều dạng thức văn hóa nhưng không thể làm chủ chúng, bước ra khỏi đơn vị xã hội đứa trẻ tiếp cận – cái thì bắt buộc, cái không, lại có cái do chúng hay do người khác định đoạt – ví dụ như tại sao bạn đó được học lớp chọn, con thì không vì không nhận ra được chúng có quyền lựa chọn chứ không phải cha mẹ chúng. Đến khi học xong đại học mà vẫn phải đi làm các công việc phổ thông để có thêm thu nhập đảm bảo tồn tại đã là tốt lắm rồi khi mà tất cả mọi người trong cơ quan đều làm việc theo một cách thức không thay đổi suốt nhiều thế hệ trước đó nhằm duy trì vùng tồn tại của họ nhưng hoàn toàn không phù hợp với những gì được dạy – ví dụ học xong công nghệ thông tin thì giải pháp tốt nhất là mở cửa hàng sửa chữa máy tính thay vì đi làm công ăn lương, vậy thì học nghề tốt hơn học đại học… Xã hội phát triển theo hướng chọn lọc tự nhiên khi điều kiện tối thiểu của đơn vị xã hội không đảm bảo: ăn, ở, mặc, đi lại như thế nào?
Chiến tranh gieo rắc những chất độc hóa học lên đất nước chúng ta, có thể đong đếm được nhưng hòa bình có thể đong đếm được bao nhiêu hóa chất đã tưới vào tự nhiên hay chỉ đếm được những gì chúng ta làm được, không kiểm soát được thực tại, không làm chủ khoa học và tự nhiên được thì thật khó cho tương lai của chính chúng ta. Thực tế chiến tranh hay hòa bình chỉ là một trạng thái của mối quan hệ giữa người với người – người đại diện, còn các đơn vị xã hội bình thường hoàn toàn vô danh.
Cũng như ngành y tế, chăm lo sức khỏe cộng đồng ở nước ta còn hạn chế nên các bệnh viện trở nên quá tải, con người không nhận thức được về cơ thể về quyền tự nhiên của chính họ trước khi nhận thức phải làm việc theo những mệnh lệnh từ trong gia đình đến ngoài xã hội, trong một số nhà sách có hẳn một kho sách tham khảo đủ các loại – sách in lậu được bày bán công khai vậy sao ta có thể có một hệ thống chăm lo sức khỏe tinh thần tốt được.

2. Từ cội nguồn: tính nhạc, tính tự nhiên, đừng đánh mất ưu điểm ngôn ngữ đời thường
Dù khoa học có sức mạnh đến đâu, các mối quan hệ đơn vị xã hội vẫn dựa trên ngôn ngữ giao tiếp là cơ bản, chữ Hán Nôm giúp người Việt Nam hiểu và nhận biết các mối quan hệ xã hội trước khi hành động, chữ Quốc ngữ giúp con người hiểu và nhận biết từng đối tượng bên trong đó, mỗi từ ngữ đã là một nghệ thuật thanh âm bất tận.

Tiếng nói của con người dù thế nào cũng có thanh điệu từng từ khác nhau mà không cần phụ thuộc vào cảm xúc, biểu hiện các ý niệm khác nhau trên âm tiết các từ nối kết tạo thành điệu thức kết hợp với khả năng lấy hơi tạo thành trường độ cao thấp, dài ngắn khác nhau trên một một đoạn từ, dòng hay câu nhằm diễn đạt ý thức về thế giới quan qua cách đọc tác động đến người nghe.
Ngay cả từ không có thanh bằng, trắc như tiếng ngoại ngữ hay nốt nhạc cũng đã có thanh khác nhau và trong khi tiếng Việt giàu về thanh nhạc, thể thơ Đường không thể làm mất đi được cho đến tận ngày nay nhưng đã làm mất đi tính tự nhiên của ngôn ngữ nói, đa phần trở thành người không biết chữ viết.
Tiếng nói đó gắn liền với văn hóa làng xã với đặc trưng cộng đồng cao, việc đưa luật vần lục bát vào là một kỹ thuật bẻ gãy sự tự nhiên để đổi lại là sự liên kết mà ta lầm tưởng đó là chuyện bình thường – tại sao phải mất công đi tìm một từ cùng vần và cho đó mới là nghệ thuật khi tiếng Việt giàu ngữ nghĩa, cách hiểu (dẫn đến hiểu không chính xác hành động thường sai, đây là một đặc điểm làm chậm tiến trình nước ta có một Nhà nước Pháp quyền đúng nghĩa).
Các bài thơ hay được chuyển sang nhạc cũng bởi ít nhiều hướng đến công chúng hoặc thuần túy hay về mặt kỹ thuật. Người đọc, người nghe nếu xem xét trên nguyên bản chữ Nôm sẽ hiểu được gốc của ý nhưng đòi hỏi có thời gian lâu hơn, còn theo chữ Quốc ngữ thì dễ hiểu sai sang ý người đọc, người nghe nhận thức được mà không hiểu được ý tứ của tác giả, trong khi tác giả còn tiếp tay thêm bằng cách chỉ diễn đạt cảm xúc, không khẳng định một hành vi đúng.
Không phủ nhận được ưu điểm và đặc điểm tự nhiên của ngôn ngữ nói trong việc thúc đẩy xã hội phát triển nhưng việc viết các “status”và “chat” đã là ngôn ngữ viết – đòi hỏi nhiều hơn về năng lực với yêu cầu khắt khe hơn.

3. Từ đó: tính phản hồi, tính kể, vắt dòng hay thể thơ, không vần
Những tiếng dội nhờ các bờ tường được lặp lại trong các lăng mộ – nó giúp tôi truyền đạt đến xung quanh các ý niệm của mình và tin chắc chắn nếu như ai bên trong sự phản hồi đó đều nhận được sự truyền đạt mà không cho điều đó là tổn hại đến họ vì họ và tôi đều bên trong các giá trị khép kín một cách khéo léo cho sự tin tưởng có cơ hội được tồn tại ở hệ quy chiếu cái đẹp của “người” của “thơ” tự nhiên đã chỉnh sửa những tác động tiêu cực của xã hội lên ngôn ngữ nói (cái nhìn cân bằng, đa chiều, khách quan luôn có âm có dương trên mọi đối tượng). Khi lặp lại, tác giả suy nghĩ sâu sắc hơn về ý niệm truyền đạt đến người nghe, các từ, các chữ đơn giản dù khó thuộc hơn vì đặc điểm đa dạng ngữ nghĩa của tiếng Việt nhưng người đọc bị cuốn vào ý thơ, ngay cả khi bài thơ chưa bao quát toàn bộ vấn đề cũng không đánh mất đi sức hấp dẫn những câu chuyện “tám” vì người làm thơ và người tiếp nhận có chung ngôn ngữ đời thường có thể bổ sung cho nhau, nhờ “thơ” gắn kết lại – ví như “thơ” chỉ có một từ “thơ” mà biết bao góc cạnh đời sống trở nên đẹp hơn khi lặp lại từ “thơ” cho trọn, người đọc đã có cả một đời đẹp sao…

Người tự do thể hiện suy nghĩ của mình là đương nhiên nhưng để chia sẻ thì chuyển sang thơ Tân hình thức – tính truyện, tính giao tiếp, tính nhạc tạo nên một cuộc sống luôn vui tươi sáng rõ như những bản nhạc đời không dứt. Một thể thơ như vậy hình thành thoát dần các thể luật phá vỡ đi sự tự nhiên trong đời sống tình cảm của con người, tiến gần hơn, trực tiếp hơn giữa lời nói và hành động, giảm thời gian nhận biết mà không làm mất đi các giá trị cần thiết, cũng không làm mất đi tính cảm trong ngôn ngữ Việt, khai thác triệt để tính nhạc thật sự phù hợp với điều kiện, nhu cầu của con người hiện đại bên cạnh thơ vần điệu tuy hay về cảm xúc nhưng chỉ đạt đến các đặc trưng khái quát không giải quyết được nhu cầu hoạt động của con người trong những hoàn cảnh cụ thể.

4. Kết quả là: sự chia sẻ hướng đến cái đẹp, làm chủ thực tại, làm chủ thời đại
Sự chia sẻ là nhu cầu tất yếu của con người, việc chuyển tải quá nhiều thông điệp không đầu không cuối trên mạng xã hội gây ra tác động xấu đến các mối quan hệ xã hội, con người ngày càng xa cách nhau, cô độc ngay trên chính nơi họ tin rằng họ có thể gần lại với nhau hơn.

Nhận thức đúng về các khái niệm được khái quát nhưng vận dụng thế nào vào hoàn cảnh thực tại?, dẫn đến các chân giá trị đã đúc kết bị lung lay trước sự phát triển của các giá trị vật chất ngoài ý thức.
Thơ là hình thức ngắn gọn mà truyền tải được đúng các ý niệm thực tiễn và khoa học sẽ giúp con người làm chủ khoa học thay vì bị khoa học dẫn dắt, làm chủ cuộc sống, làm chủ thời đại hướng đến những giá trị tốt đẹp nhờ tính mỹ cảm. Cái đẹp có sẵn trong mỗi con người được tuôn nở, thơ là một hình thức sáng tạo tự nhiên của con người trong tạo hóa thay vì diễn văn xuôi chính luận.
Sự chuyển tải các giá trị từ quá khứ phù hợp với hoàn cảnh thực tại là vô cùng cần thiết, con người khoa học dần lộ diện đi tới cùng của sự nhận thức diễn đạt thay thế con người cảm tính, lời nói không đi đôi với việc làm, chỉ quan tâm tới lợi ích cá nhân vì cho rằng họ không thể có vai trò gì trong cộng đồng, dễ dẫn đến mâu thuẫn xung đột.

5. Sự công nhận: thơ Tân hình thức chỉ là trò chơi của những người trẻ tuổi?
Đó là nhận định của Hội nhà văn dù Hội đã cho in nhiều tập thơ được cho là phá cách và đổi mới ngôn ngữ. Nhà thơ Khê Iêm đã trình bày một cách đầy đủ và khoa học về mặt ngôn ngữ học, cho chúng ta tin rằng thơ Tân hình thức là phù hợp với quy luật phát triển xã hội, góp phần vào công cuộc phát triển của đất nước, xóa nhòa những hệ lụy tiêu cực của lịch sử, lưu giữ và phát huy những giá trị tích cực của cha ông, gắn kết con người trong xã hội toàn cầu vừa có bản sắc đặc tính Việt vừa giao tiếp được với quốc tế qua nhiều hình thức âm nhạc, hội họa, nghệ thuật đời sống.

Như vậy thơ Tân hình thức không phải là nghệ thuật là một phần của đời sống: “văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” – Hồ Chí Minh. Cho dù quan điểm từ trong Đại hội Đảng lần thứ VI đến tận hôm nay vẫn là “lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động”, dù các hoạt động văn hóa nghệ thuật có được tăng lên với mật độ hàng tuần trên các kênh truyền hình đi chăng nữa thì cũng còn quá xa các hoạt động trực tiếp của con người – chính những hoạt động cơ bản của đời sống con người xã hội đã là nghệ thuật, là đối tượng quan tâm của Hội nhà văn rồi – sao thơ Tân hình thức lại đứng ngoài.
Hội nhà văn cho rằng thơ Tân hình thức xuất phát từ Mỹ, là thơ vô cớ lặp lại và khó thuộc lòng không phù hợp với điều kiện Việt Nam (nền giáo dục ở nước ta là nên giáo dục nhai lại, thuộc lòng) mà hiện nay xu hướng của thế giới chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Người đọc dễ nhận ra thơ phương Tây và thơ Mỹ mang đậm chất liệu đời sống thường ngày, việc phát triển tư tưởng trong thơ phụ thuộc vào trình độ thưởng thức của người đọc chứ không phải là tác giả, do đó chỉ có thể nói có các ấn phẩm về thơ Tân hình thức được in tại Mỹ, còn về mặt lý luận như đã giải trình và ngôn ngữ học tôi không tin thơ Tân hình thức là văn hóa của Mỹ hay bất cứ nước nào vì nó có sẵn trong đời sống của con người cần được đào sâu khai thác.
Sau 8 tiếng làm việc người lao động, con người ý muốn, con người hành vi tiếp tục thực hiện các hành động nhằm tái tạo sức lao động, thêm vào đó họ phải duy trì sự tồn tại đó tốt hơn trong tương lai bằng sáng tạo của trí óc nên vấn đề khoa học là cơ bản trong tiến trình này bên cạnh chức năng giải trí của hoạt động văn hóa nghệ thuật đối với các quốc gia kém phát triển.
Thực tế dòng thơ cảm xúc của chúng ta khi dịch sang ngôn ngữ khác theo nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc nhận định thì các bạn bè quốc tế không hiểu được nếu họ không là người Việt Nam, hiểu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ngược lại những cốt truyện hay của các nước nếu được chuyển dịch sang thơ Tân hình thức sẽ dễ đi vào lòng công chúng ít thời gian đọc sách hơn.
Thơ Tân hình thức thật đúng như Maxim Gorky nói: “[âm nhạc phải] mang tính dân tộc về mặt hình thức và xã hội chủ nghĩa về mặt nội dung” – “Bàn về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, 1934.
Những nỗ lực đưa giá trị thời đại đến gần hơn với đời sống con người cần tiếp tục, trong đó những đối tượng không có khả năng tiếp cận với sách được quan tâm. Cần sự đồng lòng chung tay, không chỉ là sự công nhận của Hội liên hiệp Văn hóa nghệ thuật Việt Nam mà còn là hệ thống những chuẩn mực nhằm quảng bá văn hóa đời sống người Việt Nam và đến với thế giới góp phần xây dựng đất nước.
Hệ thống cơ sở hạ tầng phải được xây dựng và hoạt động đầy đủ về chất và lượng khi đã có một hệ thống kiến trúc thượng tầng vững chắc, những nhà thơ truyền thống cần cho in kinh doanh các tập thơ của mình chứ không phải chỉ để cho mình đọc hoặc trên internet và nhiều phương tiện truyền thông khác, có chính sách cơ chế hỗ trợ như in trước trả tiền sau,… các nhà phê bình thơ phải được coi trọng hơn là nhà xuất bản, có sự đánh giá theo quy trình và chuẩn mực quốc tế, người đọc phải nhận biết được vị trí trang trọng của thơ trong các nhà sách chứ không để tự nhận biết,… các tập thơ được in theo kế hoạch, theo chủ đề, theo đối tượng độc giả và không giới hạn tác giả thơ – có thể là của các em học sinh trong lớp,…

6. Mơ ước
Đi khắp đất nước sẽ thấy một bức tranh lớn có lẽ lớn hơn những tiểu thuyết vĩ đại của thế giới, lớn hơn cảnh khồng lồ những trận chiến khốc liệt được dựng lại trong các viện bảo tàng ở Châu Âu hay phim trường ở Mỹ. Những mảnh đời, những cái chết của cha ông trở thành vô danh hay có gì đó để nói vì nó đã khác cái chết của chúng ta hay chúng ta cũng sẽ chết như vậy – những niềm hạnh phúc không trọn vẹn trong các đơn vị xã hội,… đó là hiện thực chúng ta không mong muốn, đang để diễn ra, đang chấp nhận vì chỉ diễn tả sự bất lực của mình trong thơ. Tôi tin rằng khi lắng nghe được hết những lời chân thành và sâu thẳm trong tâm hồn con người thì ánh sáng sẽ lóe lên và soi sáng vì chúng ta không bao giờ thiếu sức lực mà chỉ thiếu cơ sở cho hành động của những gì đơn lẻ.

Bạn cảm thấy hạnh phúc thế nào khi mong chờ lời nói bình thường của các con, các cháu mình vì chúng luôn đưa ra những câu trả lời đúng nhất, chúng được hưởng sự chăm sóc tốt từ gia đình, chúng tiếp thu âm nhạc nước ngoài và những giai điệu vui tươi hạnh phúc của tuổi teen một cách nhanh chóng nhưng thật khó buộc chúng sống trong cảnh làng quê nghèo khó và tình người cũng dần mất đi nơi công cộng… thơ Tân hình thức thích hợp với nhạc Rap của chúng và kể cho chúng nghe câu chuyện của cha ông…
Nhà thơ Khế Iêm gợi ý nhỏ về một câu truyện kể nhiều người viết như trò chơi tâng bóng tập thể, tại sao không?, tôi không phải là nhà thơ, nhưng tôi tin các nhà thơ sẽ thành công, sẽ ủng hộ và đem đến cho thơ Tân hình thức những giá trị thẩm mỹ đã đạt được trong thơ truyền thống trên một cách tiếp cận khác, một hệ mã nguồn mở.
Cám ơn tất cả các bạn đã cho tôi cảm hứng táo bạo này vì tôi thực sự lúc này muốn làm một người khác hơn, tôi muốn làm nghề mình được đào tạo, rất tiếc tôi không có tài trong mọi lĩnh vực, và tôi cũng chỉ mới đọc sơ qua về thơ Tân hình thức, mong rằng đừng ai vì bài viết này nghĩ xấu về bất cứ điều gì, mong những điều tốt đẹp nhất sẽ đến!

THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT NAM – SỰ HIỆN DIỆN VÀ TƯƠNG LAI

Ngô Minh Hiền

Thơ tân hình thức Việt Nam- viết là một cách hiện hữu

Khi thế giới càng lúc càng trở nên hỗn độn và bị phân rã từ trong tồn tại của bản thể thì sự bất tín trong nhận thức đã trở thành tiền đề cho khát vọng về chân lý, về quan hệ bình đẳng và tin cậy giữa người sáng tạo và bạn đọc. Sáng tác của nghệ sĩ, do đó, đầy ắp sự hoài nghi và khát vọng “nhận thức lại, đánh giá lại mọi thứ” (M Bakhtin). Người ta không thể nhìn thế giới như một cố định, hoàn hảo và không thể đổi thay. Vì thế, thay vì chú tâm biến hiện thực thành những ngẫu tượng, các nhà thơ quan tâm đến thế giới tâm lý, văn hóa, chiều sâu ý nghĩa của tâm linh con người. Họ khước từ các khuôn mẫu, ni tấc của các chủ nghĩa văn chương, mong muốn phục dựng lại các hình thức thơ ca quá khứ trong sự mở rộng những giới hạn mới mẻ cho những hình thức vốn đã xưa cũ bằng chính sự phá hủy các trật tự truyền thống, sáng tạo những trật tự mới trong ý thức sâu sắc về mối quan hệ giữa cái truyền thống đich thực (the truly traditional) với cái nguyên sơ độc sáng đich thực (the truly original).

Sự ra đời và tồn tại của phong trào thơ tân hình thức Mỹ những năm 80, 90 của thế kỷ XX cho thấy, một khi cái vốn được coi là trung tâm, vốn trong tình thế luôn là thống trị có nguy cơ mất dần vị thế thì quay về với hình thức cũ chính là một “liệu pháp” hữu hiệu để thơ khẳng định lại vị thế đang bị lung lay của mình.

Cũng như nhiều phong trào đổi mới về nghệ thuật trên thế giới khi văn học trung tâm và ngoại biên đang có sự vận động, phương châm của phong trào thơ tân hình thức (New formalism poetry) là trở về với các hình thức, kỹ thuật nghệ thuật truyền thống. Khi quan tâm quá khứ và hướng tới tương lai, các nhà thơ tân hình thức đã thể hiện khát vọng, sức mạnh của những người muốn tạo cái mới, muốn quay về để khám phá cái mới từ những điều tưởng chừng đã cũ, chứng tỏ khả năng sáng tạo ngay trên nền của cái cũ. Và cũng chính vì chú trọng đến những hình thức đã ổn định của thơ ca truyền thống, hướng đến xây dựng những giá trị nhân văn mang tính phổ quát cho các cộng đồng khác nhau về văn hóa và ngôn ngữ, các nhà thơ thơ tân hình thức đã tạo ra được một thể thơ khác hẳn về hệ hình với thơ tự do và các thứ thơ “không cổ điển” khác.

Trong trạng thái lưu vong, các nhà văn Việt Nam ý thức rất rõ sự tồn tại của văn học Việt Nam trong xã hội phương Tây hiện đại là sự tồn tại của một bộ phận văn học ngoại vi, thiểu số, và gần như xa lạ với độc giả bản địa. Hơn ai hết, họ hiểu hoàn cảnh cụ thể “không thực sự hiện hữu nữa” của mình “ở một xứ sở không ai đọc và không ai cần đọc những điều mình viết” (Hoàng Ngọc Tuấn). Vì thế, nỗ lực sáng tạo với ý thức sâu sắc về nguồn gốc và giá trị của con người mình cùng với mong muốn tìm cách dung hòa hai nền văn hóa đang tồn tại trong bản sắc mỗi cá nhân là phương châm sáng tác của các nhà văn Việt Nam hải ngoại. Với họ, “viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực” (Nguyễn Hưng Quốc) và việc kiếm tìm một lối đường mới cho quá trình khám phá và thể hiện thơ ca là nguyên tắc sống còn đối với người sáng tác trong một thế giới khác biệt về nguồn cội.

Trong tọa độ “hoài niệm” và “hội nhập”, các nhà thơ tân hình thức Việt Nam hải ngoại đã nhanh chóng tìm thấy ở thơ tân hình thức Mỹ một sự “đồng điệu” và nhanh chóng lựa chọn nó như một cơ hội để có thể hiện hữu một cách ý nghĩa. Bằng cách triệt để sử dụng sự kết hợp đặc biệt giữa các hình thức thơ ca truyền thống với các nội dung mới dưới sự hỗ trợ của các kỹ thuật hiện đại, các nhà thơ tân hình thức Việt Nam hải ngoại đã không chỉ níu bám vào một điểm tự tinh thần vững chắc, gần gũi, kết thắt được với nguồn cội, tạo sức mạnh tinh thần để đươc sống và hy vọng về một cơ hội hòa nhập mà còn thể hiện được thái độ phản ứng của mình đối với sự bế tắc của thơ ca. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận rằng, trong ý thức sáng tạo ở hoàn cảnh đặc biệt của các nhà thơ tân hình thức Việt Nam hải ngoại còn có thể tồn tại mong muốn được làm khác với thơ ca trong nước, thứ thơ vốn còn nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với cái mới.

Với ý thức sâu sắc rằng thơ phải được sống, phải thoát khỏi thế bị động, bị cô lập và mong muốn tìm kiếm một phương cách hữu hiệu có khả năng chống lại nguy cơ chết mòn trong sự cô đơn của chính mình giữa thế giới của sự sống đang hiện tồn, các nhà thơ tân hình thức Việt Nam đã nỗ lực tạo ra trong thơ ca của mình những nội hàm thơ mới mẻ và nhiều ý nghĩa.
Có thể nói, việc tìm cách tiến vào trung tâm, tiếp cận với người đọc bản địa là một khát vọng chính đáng và vô cùng hợp lý của thơ tân hình thức Việt Nam nói riêng, văn học Việt Nam ở hải ngoại nói chung. Chính vì thế, tích cực sử dụng các hình thức thơ ca truyền thống, để chúng mang chuyển các nội dung mới chính là phương cách để các nhà thơ tân hình thức Việt Nam hải ngoại tiến vào trung tâm, hòa nhập với trung tâm và thoát khỏi tư thế thiểu số, bị cô lập.

Song, nếu hòa nhập vào văn chương dòng chính là một khát vọng thì nó cũng đồng thời là một thách thức không nhỏ đối với các nhà văn di dân khi mà trong tâm thức họ luôn hiện tồn song song hai nền văn hóa khác nhau và hoài niệm quá khứ đã trở thành một tâm thế thường trực, chi phối cuộc sống tinh thần họ. Vì thế, việc quay trở về cái cũ (các hình thức thơ ca truyền thống) là cách để các nhà thơ tân hình thức Việt Nam ở hải ngoại được cảm thấy gần gũi với nguồn cội văn hóa, được chứng tỏ sự hiện hữu của bản thân trong tâm thế của con người Việt. Đồng thời, việc tiếp cận với cái mới, ngay lúc nó vừa ra đời, vừa thể hiện sự thức thời của người sáng tạo về yêu cầu hội nhập văn hóa, vừa là cách để họ có thể hội nhập với xã hội đương đại, ngay tại nơi mình đang cư ngụ, ngay với những điều tiên tiến nhất để không thấy mình là kẻ xa lạ, kẻ bên lề, thiểu số trong xã hội bản địa.

Thơ tân hình thức Việt Nam… về đâu?

Những năm gần đây, xu thế hội nhập của văn chương thế giới đã có những tác động không nhỏ đối với văn học Việt Nam. Hiện tượng hợp lưu giữa văn học Việt Nam ở trong nước và hải ngoại đã mang đến cho văn chương Việt những sắc độ nghệ thuật mới, mang tính khởi biến. Từ các tập thơ in photo của Nhà xuất bản Giấy Vụn Bảy biến tấu con nhện, Khoan cắt bê tông (Lý Đợi), Xin lỗi hổng chịu nổi (Bùi Chát) đến Thơ Kể (do Khế Iêm biên soạn gồm tác phẩm của 26 nhà thơ trong và ngoài nước) của Nhà xuất bản Lao động), Thơ Khác (Khế Iêm) của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin…, thơ tân hình thức Việt Nam đã có những bước đi mới, khá ấn tượng, mang tính qui luật phù hợp với sự vận động và phát triển của thơ ca. Các nhà thơ tân hình thức đã cất lên những tiếng nói, tuy chưa phải là nhất quán và nghệ thuật nhưng khá quyết liệt, về cái mong muốn được thể hiện khả năng kiếm tìm, khám phá mới, được thể hiện một lối tư duy nghệ thuật khác chống lại lối tư duy nghệ thuật đã cũ nhàm, khuôn mẫu, thiếu sự sáng tạo mới mẻ.

Nếu ở hải ngoại, thơ tân hình thức Việt Nam là kết quả tất yếu của một quá trình tìm kiếm con đường sáng tạo bằng tâm thức hoài niệm và khát khao hội nhập thì sự tồn tại của thơ tân hình thức trong nước có thể được coi như một biểu hiện của tinh thần phản kháng, ý thức chống lại sự mòn nhàm của những lối tư duy thơ đã tồn tại ở Việt Nam nhiều năm qua. Nó cũng thể hiện khát vọng muốn theo kịp với thơ ca thế giới chứ không chỉ “học tập”, đi sau như lâu nay. Có thể nhận thấy điều này được thể hiện rất rõ trong thơ Lý Đợi, Bùi Chát, Inrasara, Đỗ Kh, Bỉm, Trần Phương Kỳ… Bản chất cách mạng của thơ tân hình thức không chỉ thể hiện ở cách nó nỗ lực kiến tạo cái mới bằng việc xóa bỏ cái cũ mà còn là sự khám phá trở lại những hình thức cũ. Tạo ra những nội dung mới trong các hình thức cũ, thơ tân hình thức Việt Nam không chỉ chủ trương quay về với lối thơ chủ về nghĩa mà còn hướng đến thể hiện chiều sâu thế giới tinh thần con người thông qua những câu chuyện cuộc đời trong nhiều mối quan hệ phức tạp của nó dưới sự trợ giúp của các hình thức, thủ pháp nghệ thuật hiện đại như hiệu ứng cánh bướm”, “kỹ thuật ô chữ’… . Có thể nhận thấy, trong thơ của các nhà thơ tân hình thức Việt Nam như Khế Yêm, Biển Bắc, Bỉm, Đỗ Quyên, Trần Tiến Dũng, Đỗ Kh., Lý Đợi… đầy ắp nỗi ám ảnh mong manh, vô hướng, nỗi hoài nghi về tồn tại bản thể của những tâm hồn cô đơn và lạc loài. Nó chứa đựng trăn trở khôn nguôi về sự hiện tồn mong manh của cá thể giữa cuộc đời cùng nỗi đau khi không thể thấu cảm hết lẽ đời, nhân sinh. Nó cũng là khát vọng tìm về bản thể, quá khứ và nguồn cội…

Với ngôn ngữ dân dã, đời thường, hạn chế tối đa việc sử dụng tu từ, thơ tân hình thức hướng tới mục tiêu gần gụi với cuộc sống đời thường, trở thành một thứ “thơ đời sống”, bất cần “sang trọng”, “cao cả”, bóng bẩy, mượt mà hay đại loại các tính chất tương tự vốn được chú trọng trong thơ vần điệu và thơ tự do. Kỹ thuật vắt dòng không chỉ khiến câu thơ thoát khỏi sự ràng buộc của cú pháp “chuẩn mực” để thực sự tự do mà hơn thế, nó còn kiên quyết phá bỏ những liên tưởng quen thuộc. Người sáng tác, vì thế, có thể hoàn toàn chủ động dịch chuyển thậm chí thay đổi những khuôn mẫu, khái niệm đã được cố định, không còn “tương thích” với đời sống mới của thơ ca. Và như vậy, thơ tân hình thức đã mở rộng biên độ của nghệ thuật, hướng tới một thế giới nghệ thuật rộng mở, phổ biến chứ không bó hẹp trong phạm vi một lớp người.

Trong hoàn cảnh thế giới đang hòa nhập cả về vật chất lẫn văn hóa tinh thần và tâm linh của con người để trở thành một phức thể, văn chương nghệ thuật phải là tiếng nói của tư tưởng cá nhân về cộng đồng, nhân loại, khi sử dụng các hình thức cũ để diễn đạt nội dung mới, bằng các nguyên tắc riêng, các nhà thơ tân hình thức Việt Nam đã không chỉ phát huy được khả năng sáng tạo của người làm thơ mà còn gia tăng khả năng hội nhập với văn hóa, văn học thế giới cho thơ mình. Đưa những nội dung mới vào những hình thức cũ và sử dụng mới các hình thức cũ ấy thực chất cũng là cách sáng tạo hình thức mới, góp phần làm phát triển thơ ca. Đây chính là tinh thần của thơ tân hình thức Việt Nam.

Nghệ thuật vốn/cần đươc tạo ra từ những xung động đặc biệt ở những thời khắc vụt hiện mơ hồ của cảm xúc. Những cảm xúc xuất hiện trong những khoảnh khắc (nhiều khi chỉ là thoáng chốc, rất mơ hồ, khó nắm bắt) đôi khi lại có khả năng tạo ra những xung động đặc biệt cho người sáng tạo. Vì thế, việc nắm bắt và xử lý các xung động bất ngờ, vụt hiện từ cảm xúc đó phải được nghệ thuật hóa trên nguyên tắc của sáng tạo mới có thể giúp tạo sinh các ý tưởng. Và điều quan trọng là chủ thể sáng tạo cần phải có khả năng “hiển thị” những xung động ấy làm cho nó trở thành cái có thể cụ thể.

Sáng tác thơ tân hình thức là cách các nhà thơ Việt Nam (cả ở hải ngoại và trong nước) chứng minh được khả năng sáng tạo của mình, để sáng tác của mình có thể vươn ra được thế giới. Vì thế, thơ tân hình thức Việt Nam cần phải là những kết quả có thật, cụ thể của một sự thay đổi hệ hình mới trong văn chương nghệ thuật. Vấn đề có lẽ không chỉ nằm ở cụm từ new form theo nghĩa đen của nó mà quan trọng hơn hết là bên cạnh các yếu tố thời gian, khí hậu nghệ thuật, thơ tân hình thức Việt Nam còn cần đến những tài năng thực sự. Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hóa và sự chuyển mình của hiện tượng hòa nhập đa văn hóa, việc để thơ không bị cuốn theo cơn cuộn xoáy của cơ chế thị trường là một ý thức vô cùng quan trọng của nhà thơ. Họ, những chủ thể sáng tạo, hơn bao giờ hết, cần phải có một tầm tri thức, văn hóa và cả khả thể hiện mình bằng bản lĩnh nghệ thuật.

Nhìn một cách bao quát, có thể nhận thấy, thơ tân hình thức Việt Nam là biểu hiện của sự nỗ lực tìm kiếm một con đường nghệ thuật mới của người sáng tạo. Các nhà thơ tân hình thức Việt Nam hải ngoại không chủ định bê nguyên xi cách tạo lập thơ của trường phái này ở Mỹ, ngay nơi họ sống và sáng tác, ngay thời điểm họ sáng tác vào thơ mình mà nỗ lực tạo nên những sắc màu riêng cho các sáng tạo của mình bằng cách kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật như tìm kiếm, kiến tạo nhịp điệu mới cho thơ, chiết lọc ý tưởng từ cuộc sống, sáng tạo ngôn ngữ thơ đời thường… để thơ có thể ‘tự tin” hội nhập với thơ ca nhân loại. Họ (cùng với cả các nhà thơ tân hình thức trng nước) đã phát huy thế mạnh của thơ tân hình thức bằng viêc kết hợp sử dụng các thể thơ Việt Nam truyền thống để chuyển tải các nội dung mới với các hình thức của thơ bản địa để diễn đạt tâm hồn Việt. Không thể phủ nhận rằng việc dịch thơ tân hình thức Việt Nam sang tiếng Anh, Pháp (Biển Bắc, Đỗ Vinh, Phan Khế, Trần Vũ Liên Tâm..) hoặc sáng tác đồng thời cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài (Khế Iêm, Biển Bắc, Phan Nhiên Hạo…) bước đầu đã khiến thơ tân hình thức Việt Nam có được những đóng góp đáng trân trọng.

Tuy vậy, không phải không thừa nhận rằng thơ tân hình thức được đón nhận ở Việt Nam khá dè dặt. Điều này có thể lý giải được bởi thơ tân hình thức kén người đọc. Có thể nhận thấy, nếu tính truyện tạo ra cho thơ tân hình thức sự nhất quán về ý tưởng thì sự kết hợp giữa kỹ thuật lặp lại (iteration) và vắt dòng lại hàm chứa nhiều yếu tố trái nghịch khiến thơ rất dễ trở nên rối rắm, khó hiểu. Bên cạnh đó, không hề đơn giản để có thể bóc tách các tầng nghĩa của thơ dựa trên sự đa nghĩa của ngôn từ, khi mà hiện tượng đồng âm dị nghĩa, cận nghĩa trong ngôn ngữ tiếng Việt vốn không phải là cá biệt và cũng không hề dễ hiểu. Vì thế, sẽ lại càng khó khăn khi mong muốn chuyển dịch thơ tiếng Việt ra ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Pháp…). Ngoài ra, do đặc tính kể của thơ tân hình thức khiến việc tạo lập ý tưởng đối với nó là một yêu cầu quan trọng nên một khi không có ý tưởng, thơ rất dễ rơi vào dễ dãi, đa ngôn mà rỗng tuếch, tầm thường.

Thơ tân hình thức không đươn giản là cuộc chơi kỹ xảo mà hơn hết, nó là một ý thức sáng tạo trong quan niệm về một hệ hình thơ ca mới. Cái mới vốn tiềm ẩn ngay trong cái đã tồn tại và chỉ đợi người sáng tạo khơi mở, thức gọi nó. Chính vì thế, cái mới nhiều khi lại bắt đầu từ ngay cái cũ, quen thuộc và chứa đựng rất nhiều những mới mẻ, không dễ nhận diện. Dĩ nhiên, không phải bao giờ cái mới cũng hiện ra từ việc phá bỏ cái cũ mà nhiều khi được hiểu là sự nhận thức lại/ thêm/khác về cái cũ. Và nếu coi cái/trường phái mới “thì hẳn phải xuất hiện từ bên lề” (ý Nguyên Ngọc) thì để được chấp nhận, thơ tân hình thức không chỉ cần đến những yếu tố thuộc về chủ thể sáng tạo mà còn cả ở phương diện tiếp nhận. Nghĩa là, thơ tân hình thức Việt Nam chỉ có lý do để tồn tại khi nó đáp ứng được tâm tư tình cảm của con người bằng khả năng chuyên chở hiệu quả các nội dung thời đại, kết nối thế giới, kết nối con người. Và bản thân người tiếp nhận phải có được sự tự do tuyệt đối trong tinh thần, không quá xa lạ với việc tiếp nhận cái mới và có đủ năng lực tư duy, cảm xúc nghệ thuật.

Không quá bi quan về sự tồn tại và phát triển của thơ tân hình thức Việt Nam nhưng cũng không thể hão huyền về một “làn sóng thơ ca mới”, người viết cho rằng, chỉ khi thơ tân hình thức Việt Nam có được sự ủng hộ của đông đảo người sáng tác cũng như người đọc, và chỉ khi bản thân nó chứa đựng những cách tân về nội dung và nghệ thuật để không hiện diện như sự mô phỏng, một mô hình đã cũ, thuần bắt chước thơ tân hình thức thế giới, không bị định vị bởi định kiến và những định hướng tư tưởng ích kỷ, lỗi thời.. thể thơ mang tính chất của một hệ hình nghệ thuật mới này mới có cơ hội để tồn tại và phát triển. Còn một khi không mang chứa được những nội hàm mới, thơ tân hình thức chỉ trở thành một thứ èo uột, được kiếm tìm trên cơ sở của một trí tưởng tượng nghèo nàn và cả một sự ảo tưởng về thơ ca không được xây dựng trên một nền tảng có thực của sự vận động của nghệ thuật.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Biển Bắc, Bỉm, Thiền Đăng, Nguyễn Tất Độ, Gyảng Anh Iên, (2008), Bướm sáu cánh, Nxb Tân hình thức.
  2. Frederick Turner, (2002), “Chủ nghĩa kinh điển mới và văn hóa”, Nguyễn Tiến Văn dịch, Nguồn: http://www.thotanhinhthuc.org, truy cập ngày 22/8/2013.
  3. Khế Iêm, (2010), Thơ Kể- Tuyển tập thơ tân hình thức, Nxb Lao động.
  4. Khế Iêm, (2011), Vũ điệu không vần- Tứ khúc và những tiểu luận khác, Nxb Văn học.
  5. Khế Iêm, (2012), “Phong cách thơ tân chiết trung”, Tạp chí Sông Hương (280)
  6. Khế Iêm, (2013), Other Poetry – Thơ Khác, Nxb Văn hóa thông tin.
  7. Inrasara, (2006), Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ tân hình thức, Nxb Hội Nhà văn.
  8. Inrasara, (2008), Song thoại với cái mới, Nxb Hội Nhà văn.
  9. Nguyễn Hưng Quốc, “Sống và viết như những người lưu vong”, Nguồn: http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=205, truy cập ngày 22/3/2013.
  10. Đặng Tiến, (2009), “Về một xu hướng thơ Việt hải ngoại”, Tạp chí Sông Hương (244)
  11. Đỗ Lai Thúy, (2012), Thơ như là mỹ học của cái khác, Nxb Hội nhà văn.
  12. Hoàng Ngọc Tuấn, “Vấn đề ngôn ngữ trong văn chương lưu vong”, Nguồn: http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=195, truy cập ngày 22/8/2013.