Trang chủ Blog Trang 34

NGÔN NGỮ ĐƠN ÂM VÀ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT – VÀI DẪN GIẢI CỤ THỂ

Claudia Ricci Photography
Claudia Ricci Photography
Khế Iêm

Thơ Tân hình thức Việt tiếp nhận, học hỏi và hình thành từ hai nguồn thơ ảnh hưởng nhất tại phương Tây, thơ thể luật tiếng Anh và thơ tự do Mỹ, bổ sung thêm những công trình nghiên cứu chức năng sáng tạo của não bộ trong thơ. Thơ thể luật tiếng Anh với những nhà thơ thiên tài William Shakerspeare (1564 – 1616), John Milton (1608 – 1674), William Wordsworth (1770 – 1850), William Butler Yeats (1865 – 1939), W. H. Auden (1907 – 1973), Robert Frost (1874 – 1963) … Thơ tự do Mỹ với những nhà thơ Walt Whitman (1819 – 1892), William Carlos Williams (1883 – 1963), và những phong trào thơ hậu hiên đại.

Câu hỏi đặt ra, tại sao thơ tiếng Anh lại có thể sản sinh ra nhiều tài năng lớn như vậy? Có thể là do ngôn ngữ, theo nhà thơ Jorie Graham, “Tiếng Anh có khả năng hấp thu vô cùng tận đủ mọi loại ngôn ngữ từ các quốc gia khác, và là một ngôn ngữ lạ thường nếu dùng để làm thơ.” Và Chtistopher Cawdwell cho rằng “Thực tế, nước Anh đã có ba thế kỷ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển chủ nghĩa tư bản, trong cùng thời kỳ, nó dẫn đầu thế giới trong việc phát triển thơ, không phải những sự trùng hợp ngẫu nhiên không liên quan, nhưng là một phần chuyển động của lịch sử.”

1/ Tiếp nhận từ thơ thể luật tiếng Anh:

Theo những khám phá về chức năng sáng tạo trong não bộ, sáng tác thơ phải kết hợp được cả hai bán cầu não trái và phải. Và đó là lý do để thơ tiếng Anh có được những nhà thơ lớn và sức ảnh hưởng mang tầm thế giới, qua nhiều thế kỷ. Được như vậy, luật tắc của thể luật thơ đã đóng góp một phần quan trọng.

Theo những nhà nghiên cứu, sáng tạo bao gồm toàn thể não bộ, với bán cầu não phải và trái. Giữa hai bán cầu não có một mạng kết nối gọi là Corpus callosum. Trong bất cứ thể thơ nào cũng có luật tắc để tạo ra nhịp điệu. Thể thơ và nhịp điệu có khả năng lôi kéo theo những yếu tố khác như cảm xúc, trực giác, tưởng tượng, nhạc tính, vần … thuộc bán cầu não phải. Nhưng muốn kết nối được với ngôn ngữ, kiến thức và các yếu tố khác thuộc bán cầu não trái để tạo thành nội dung, còn phải tùy thuộc vào thể loại ngôn ngữ, đa hoặc đơn âm, và yếu tố kỹ thuật của thơ. Thơ thể luật tiếng Anh đã đáp ứng được với những điều kiện nêu trên.

Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm, nên thơ thể luật, dù có vần hay không vần ở cuối dòng thơ, vẫn có thể dùng kỹ thuật vắt dòng (enbjament) vắt ý tưởng từ dòng này qua dòng khác, làm cho liền lạc với nhau, hình thành tứ thơ hay tư tưởng trong thơ. Với kỹ thuật này, một câu dài hơn một dòng thơ, vẫn có thể tiếp tục qua một dòng khác, làm cho ý nghĩa được hoàn tất. Kỹ thuật vắt dòng đã có từ thời cổ đại, với Homer, và là một kỹ thuật chủ yếu và phổ biến trong thơ thể luật tiếng Anh thời Phục hưng. Chính kỹ thuật này đã giúp cho những nhà thơ thể luật tiếng Anh (và những ngôn ngữ đa âm khác) nối kết hai bán cầu trái và phải, phát huy tư tưởng, làm thành những tác phẩm lớn, lôi cuốn người đọc. Thơ Tân hình thức Việt tiếp nhận kỹ thuật và quan điểm này của thơ thể luật tiếng Anh. Nhưng vì tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm nên phải thay thế vần ở cuối dòng bằng kỹ thuật vắt dòng, để dễ dàng chuyển tải tư tưởng.

Trong khi thơ tự do Mỹ, phủ nhận thể luật của thơ truyền thống, đã đi một con đường ngược lại, bằng cách dùng kỹ thuật dòng gãy (line break) và phần mảnh (fragment), làm rời rạc và đứt đoạn ý tưởng trong thơ. Thơ trở nên khó hiểu, mang tính hàn lâm, hạn hẹp trong việc tìm kiếm phong cách (làm mới), sôi nổi với những phong trào tiền phong, đồng thời thu nhỏ người đọc trong giới những nhà thơ.

2/ Tiếp nhận từ thơ tự do Mỹ:

Thật ra, thơ tự do khởi đầu cũng muốn thay thế nhịp điệu tạo bởi luật tắc của thơ thể luật, bằng cách lập lại những câu chữ, và nhà thơ T. S. Eliot cho rằng, những nhà thơ hiện đại nên sử dụng vần ở bất cứ đâu hiệu quả nhất. Nhưng tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm, khi lập lại những câu chữ với quá nhiều âm tiết, không tạo được nhịp điệu mạnh so với thơ thể luật – dùng những đơn vị hai âm tiết, tiêu biểu là iambic, không nhấn, nhấn tương đương với đơn vị âm thanh bằng trắc trong tiếng Việt. Kỹ thuật lập lại những câu chữ không có tác dụng trong ngôn ngữ đa âm, nhưng lại đắc dụng trong ngôn ngữ đơn âm, là tiếng Việt. Nếu thơ thể luật tiếng Anh, tiêu biểu là dòng thơ iambic pentameter, tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh (không nhấn, nhấn), 5 lần trong một dòng thơ, thì thơ Tân hình thức Việt tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh bằng trắc (chữ kép) ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ. Vì thế nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt luôn luôn thay đổi và sinh động, không bị nhàm chán.

Thơ Tân hình thức Việt tiếp nhận kỹ thuật lập lại và quan điểm về vần của T. S. Eliot.

Trở lại với thơ tự do Mỹ, nhà thơ William Carlos Williams sau đó, không còn quan tâm tới nhịp điệu thơ nữa. Ông cho rằng, “thơ tự do tạm thời vô thể, nhưng nó không dừng lại ở đó, mà hướng tới một luật tắc mới.” Điều đó có nghĩa, thơ tự do cần tìm những hình thức (thể thơ) mới. Một trong những hình thức thơ, trông giống như thơ thể luật, nhưng với số âm tiết mỗi dòng thơ ít hơn (từ 5 tới 7 âm tiết thay vì 10 âm tiết của thơ thể luật), những ý tưởng liền lạc giống như thơ truyền thống, và dùng kỹ thuật vắt dòng thay vì dòng gãy. Ảnh hưởng của William Carlos Williams tới những nhà thơ ở những thế hệ sau, hình thức thơ này như một thể thơ phi chính thống. Điển hình là những bài thơ Peasant Wedding (Đám Cưới Quê) của William Carlos Williams và Morning (Buổi Sáng) của Frank O’ Hara. Bây giờ, khá nhiều những nhà thơ tự do Mỹ sáng tác theo, nhà thơ Tom Riordan chẳng hạn. Những hình thức loại thơ này trông giống những thể thơ 5 chữ, 7 chữ của thơ Tân hình thức Việt. Khuyết điểm là không quan tâm tới nhịp điệu, nên cách sáng tác vẫn nghiêng về bán cầu não trái như cách làm của thơ tự do.

3/ Nối kết giữa tự do và thể luật:

Trên Facebook, một câu hỏi được đặt ra: “Một nhà thơ đã khẳng định: thơ Tân hình thức là thứ thơ bắt người khác phải viết theo khuôn khổ – không được tự do, theo bạn nghĩ thì sao?” Nhà thơ Robert Frost, khi được hỏi về thơ tự do, nói: “Tôi vừa mới chơi quần vợt với lưới bị gỡ xuống” (I’d just as soon play tennis with the net down). Và nhà thơ T S Eliot nhấn mạnh “không có thơ nào là tự do đối với một nhà thơ muốn làm tốt việc làm thơ” (no vers is libre for the man who wants to do a good job) – Dù có lưới hay không, những nhà thơ (thể luật và tự do) đều chơi theo các qui tắc khác nhau. Theo John Ashbery, hiệu quả của thơ tự do dựa trên nhịp điệu và sự lặp đi lặp lại.

Nhưng như đã đề cập, thơ tự do khởi đầu, với T. S. Eliot, đã thất bại trong việc tạo nhịp điệu và những nhà thơ sau đó, với William Carlos Williams, chuyển qua việc tìm kiếm những hình thức (hay thể thơ) mới. Như vậy, thơ tự do, dù thóat ra khỏi truyền thống nhưng vẫn cố gắng nối kết với truyền thống. Nhưng cả hai cách đều có khiếm khuyết. Thơ Tân hình thứ Việt kết hợp được cả hai cố gắng của thơ Tự do Mỹ. Và vì chỉ dùng thể thơ ở khâu cuối cùng, để chỉnh lại nhịp điệu, sau khi bài thơ đã làm xong, nên không bị vướng vào khuôn khổ nào cả. Ngẫm lại, tái sử dụng những thể thơ truyền thống quả là yếu tố căn bản và tuyệt vời của thơ Tân hình thức Việt. Nó như chiếc neo giữ lại một con tàu. Đơn giản thế thôi, thơ Tân hình thức Việt trở thành thể loại thơ nối kết hoàn chỉnh giữa thể luật và tự do, giữa bán cầu não trái và phải.

Sự xuất hiện thơ tự do, nguyên nhân cũng vì sự xơ cứng về nhịp điệu và ngôn ngữ của thơ thể luật. Thơ thể luật tiếng Anh vì vậy cũng phải trải qua nhiều lần lơi lỏng luật tắc và thay đổi ngôn ngữ mới tồn tại được cho tới ngày nay. Gần đây nhất là dùng ngôn ngữ đời thường với thơ Tân hình thức Mỹ.

Rút tỉa ưu và khuyết điểm của hai dòng thơ lớn đó, với bề dày học thuật hàng thế kỷ, để tạo ra một thể loại thơ mới trong thơ Việt, với ước vọng sản sinh ra những nhà thơ Việt có tầm vóc trong tương lai, không phải dễ dàng. Và đã phải trải qua gần 18 năm, thơ Tân hình thức Việt mới hoàn tất được cách làm thơ. Nhưng còn sáng tác thì sao? “Những Nụ Hồng Của Máu” của Nguyễn Đăng Thường, “Bà Quản Gia” của Đỗ Kh., “Tình Xa” của Dã Thảo, “Bún Riêu” của Gyảng Anh Iên, “Biển Cạn Cợt” của Vương Ngọc Minh,  “Mùa Lau Trắng” của Đinh Thị Như Thúy, “Thật Mà” của Nguyễn Văn Vũ … Thơ Biển Bắc, Hường Thanh, Hồ Đăng Thanh Ngọc … và hàng trăm bài thơ khác, hình thành những sáng tác mang tình nền tảng của thơ Tân hình thức Việt.

Nhưng 18 năm qua, hết đợt này tới đợt khác, đến rồi đi, sáng tác thơ Tân hình thức vẫn rất chậm lụt, thậm chí còn bị hiểu sai, sáng tác không đúng cách, đưa tới tình trạng nhịp điệu đọc lên nghe như văn xuôi hoặc bài nào cũng giống bài nào. Tại sao?

– Mặc dù lý thuyết thơ Tân hình thức đã đi hết một con đường khá dài, nhưng cũng chỉ hoàn tất những tiểu luận quan trọng gần đây: “Nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt trong tiến trình sáng tác” (2015), “Cách làm thơ” (2016), và “Thơ và không thơ” (2017), về những chức năng sáng tạo trong não bộ.

– Đa số những nhà thơ đến với Tân hình thức quen với cách làm thơ vần điệu và tự do, đọc những sáng tác của những nhà thơ khác, rồi biến hóa theo cách của mình, ít quan tâm tới nhu cầu lý thuyết hay học thuật. Và dù có quan tâm chăng nữa thì cũng khó nhập tâm, vì không phải ai cũng có đủ niềm tin và đam mê để thay đổi những thói quen cũ. Vì vậy, thơ Tân hình thức Việt cần phải định hướng lại, cung cấp những hướng dẫn cụ thể bước đầu, để người làm thơ sáng tác đúng theo tiêu chuẩn thơ Tân hình thức, dù họ có quan tâm tới lý thuyết hay không. Sau khi có tác phẩm, chắc chắn họ quay lại tìm hiểu lý thuyết, tiến xa hơn, thể hiện tinh thần sáng tạo trong thơ.


Ngôn ngữ thơ đơn giản, dễ hiểu nhưng cái hay của thơ Tân hình thức Việt là cái hay của ý tưởng và nhịp điệu. Điều này cũng có nghĩa, một bài thơ thiếu một trong hai yếu tố trên, không thể là một bài thơ Tân hình thức Việt. Như vậy, trước hết chúng ta phải suy ngẫm và tìm kiếm những hiểu biết về chủ đề bài thơ. Sau đó phát triển những ý tưởng liền lạc để tạo thành nội dung. Theo Jesper, “sáng tạo là khả năng kết nối giữa kiến ​​thức và kinh nghiệm trong tiềm thức, trải qua rất nhiều quá trình khác nhau: khả năng ứng biến, suy nghĩ khác biệt, có ánh chớp lóe ra trong nội tâm (flashes of insight) …” Ánh chớp lóe ra trong nội tâm (flashes of insight) là những khoảnh khắc khi tâm trí được thư giãn, và không suy nghĩ theo phương pháp hay luận lý. Điều này có thể giải thích, khi thư giãn và để cho tâm trí đi lang thang, Thùy trán (Frontal lobe) rơi vào tình trạng ngủ tạm thời, giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc đưa ý tưởng từ tiềm thức vào ý thức và các ý tưởng sáng tạo sẽ xuất hiện. Như vậy, ý tưởng (cái nhìn mới) trong tiến trình làm thơ chính là ánh chớp lóe trong nội tâm khi kiến thức và trực giác của nhà thơ tiếp cận với thực tại.

Nhưng thơ Tân hình thức Việt là một dòng thơ mới, chưa phát triển đầy đủ, làm sao có được những bài thơ tiêu biểu, để chúng ta có thể biết cách tạo thành những ý tưởng liền lạc trong thơ? Nhà thơ Frederick Feirstein cho rằng “sự liền lạc của ý tưởng và cảm xúc là cách diễn đạt mà thơ Tân hình thức Mỹ coi là yếu tố quan trọng.” Như vậy, đó cũng là yếu tố quan trọng của thơ thể luật tiếng Anh, và là yếu tố khó nhất trong thơ.

Như trên chúng ta vừa đề cập, một số nhà thơ tự do Mỹ cũng có đang có khuynh hướng sáng tác những bài thơ có ý tưởng liền lạc, giống như thơ thể luật tuy không quan tâm tới luật tắc và nhịp điệu như thơ thể luật. Trong mục “Thơ dịch, đọc như Tân hình thức Việt” bao gồm cả những nhà thơ tự do như Williams Carlos Williams, Frank O’ Hara cho đến những nhà thơ đương thời như Tom Riordan, Phillip A. Ellis, cùng những nhà thơ thể luật như Dana Gioia, Frederick Feirstein, Sydney Lea … cho chúng ta thấy thế nào là những bài thơ có ý tưởng liền lạc. Nhưng khi chuyển dịch, dù là thơ tự do không có nhịp điệu hay thơ thơ thể luật có nhịp điệu, chúng ta không thể chuyển dịch nhịp điệu âm thanh ngôn ngữ, và chỉ có thể chuyển dịch ý tưởng mà thôi. Sở dĩ chúng ta đọc có cảm tưởng như đọc thơ Việt vì, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, dễ có những chữ đơn hoặc kép (bằng trắc) trùng hợp nên nghe thuận tai.

Nếu một bài thơ Tân hình thức Việt chỉ làm với những ý tưởng liền lạc như những bài thơ dịch nêu trên thì mới đi được nửa đoạn đường, tạo nội dung thơ với bán cẩu não trái. Chúng ta còn phải tạo nhịp điệu, với bán cầu não phải, thì mới nối kết được hai bán cầu não với nhau như thơ thể luật tiếng Anh. Trong bài viết “Những đặc điểm của thơ Tân hình thức Việt” nhấn mạnh, “Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắc và vần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa đi sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, đọc thầm trong đầu, và đọc đi đọc lại nhiều lần để phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ để tạo thành nhịp điệu.”

Khi đọc đi đọc lại nhiều lần, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Như vậy, bài thơ chỉ được ghi xuống trên giấy, sau khi đã hoàn tất. Và “đếm chữ xuống dòng” là khâu cuối cùng, dùng để chỉnh sửa, sau khi bài thơ đã làm xong. Lúc đó, chúng ta mới quyết định xem phải dùng thể thơ nào cho phù hợp với nhịp điệu bài thơ. Thể thơ 5 chữ cho nhịp điệu nhanh, 7 chữ cho nhịp điệu vừa, và lục bát cho thơ kể chuyện.

Nhưng tại sao phải đọc đi đọc lại, và tránh làm theo cách ghi xuống trên giấy rồi đếm chữ xuống dòng? Bởi như thế, chúng ta chỉ tạo được nhịp điệu văn xuôi, chứ không phải nhịp điệu thơ. Hành động đọc đi đọc lại nhiều lần, không những để hình dung ra nhịp điệu thơ, hạn chế sự nghĩ của tâm trí, mà chúng ta có thể phát huy khả năng sáng tạo, tưởng tượng, phối hợp giữa nội dung bài thơ (bán cầu não trái) với cảm xúc, trực giác (bán cầu não phải). Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể ghi xuống trên giấy để nhớ từng đoạn thơ đã làm, rồi tiếp tục theo cách đọc thầm trong đầu, cho đến hết bài thơ. Cuối cùng, nghe nhạc cổ điển và những bản nhạc hay Jazz, Hip hop … thường xuyên cũng có thể góp phần hiệu quả trong việc làm phong phú và biến đổi nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt.

Nếu về phần nội dung, chúng ta tham khảo những ý tưởng và cảm xúc liền lạc từ những bài dịch thơ Mỹ, vậy còn nhịp điệu thì sao? Chắc chắn, phải là những bài thơ Tân hình thức Việt. Điều này, tôi có thể nói qua về những trải nghiệm của mình. Tôi có thói quen làm thơ đọc thầm trong đầu, bây giờ nhìn lại, với cách làm thơ này, lọc ra được một số bài thơ Tân hình thức với những nhịp điệu mạnh không khác gì thơ thể luật tiếng Anh: “Tết Ở New York”; và đa dạng: “Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể”, “Con Mèo Đen”, “Chuyện Đời Anh”, “Mẹ Khổ”, “Chiếc Xe Đạp” … Như vậy, khi làm quen với cách làm thơ đọc thầm trong đầu, chúng ta sẽ có được những bài thơ với những nhịp điệu khác nhau, và khi tạo được sự đa dạng nhịp điệu, người làm thơ sẽ hứng khởi hơn trong sáng tác và hấp dẫn người đọc.

Theo Christopher và Seth Abramson, người đọc thơ giảm xuống mức tối thiểu, trong khi nhà thơ tăng tới mức lạm phát. Thơ Tân hình thức Việt đi theo chiều nghịch, là loại thơ khó làm, ít người tham gia, nhưng lại được nhiều người tìm đọc. Thơ đơn giản, dễ hiểu (ngôn ngữ), mới mẻ (ý tưởng) và hay (nhịp điệu), dĩ nhiên, lôi cuốn người đọc và không dễ làm. Iain McGilchrist, “Thơ giản dị cần nhiều kỹ năng hơn thơ khó hiểu. Nó phân biệt cơ bản giữa tính mới (newness) và tính lạ thường (novelty): thơ không cần tìm kiếm sự lạ thường, bởi vì thơ thật sự làm cho điều gì có vẻ quen thuộc trở nên mới mẻ.” Những tiêu chuẩn trên, thơ Tân hình thức Việt nhờ rút tỉa ưu khuyết điểm, từ thơ thể luật tiếng Anh, thơ tự do Mỹ đến những khám phá chức năng sáng tạo trong não bộ, và vì vậy, không còn hạn chế ở bất cứ chủ đề nào nữa. Vấn đề ít người tham gia, có thể giải thích, qua nghiên cứu về não bộ, thay đổi thói quen cũ và tập thói quen mới trong sáng tác là vô cùng khó, cần có thời gian. Hơn nữa, thơ Tân hình thức Việt chỉ đề nghị cách làm thơ từ một thể thơ mới, còn tham gia sáng tác lại tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tế và nhu cầu của những người làm thơ. Điều đó, ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta.

Ý tưởng liền lạc tạo ra nội dung, nội dung tạo ra tư tưởng, và nhạc tính (hay nhịp điệu) là vấn đề chung của thơ Việt, không phải chỉ với thơ Tân hình thức. Vượt qua những đỉnh núi đó, tùy thuộc vào đam mê và độ bền của từng nhà thơ. “Vài dẫn giải cụ thể” chỉ là sự gợi ý, mong giúp những nhà thơ tự tìm ra cách giải quyết những “độ khó” trong sáng tác của mình, không phải những mẫu mực. Trên hết, vẫn là tinh thần sáng tạo của người làm thơ. Chúng tôi sẽ đưa lên các website thơ Tân hình thức hai đề mục: “Thơ dịch, đọc như thơ Tân hình thức Việt”, và “Chùm thơ với nhịp điệu đa dạng” của từng tác giả hay nhiều tác giả. Xin đọc thêm bài viết, “Những đặc điểm của thơ Tân hình thức Việt”.


Tái bút

Nhà thơ Nguyễn Văn Vũ viết: “Tính liền lạc trong một bài thơ Tân hình thức Việt là một đòi hỏi hàng đầu, nếu không thực hiện được sự liền lạc thì việc bỏ dấu chấm câu và việc vắt dòng sẽ làm cho bài thơ đáng lẽ phải đời thường, dễ hiểu lại trở thành lạ lẫm và khó hiểu. Cho nên, một bài thơ Tân hình thức Việt muốn tạo được hiệu ứng, trước hết phải tạo được sự liền lạc – liền lạc về ý tưởng và liền lạc về câu  chữ; trong đó liền lạc về ý tưởng tạo ra tính truyện (nội dung), liền lạc về câu chữ tạo ra nhịp điệu. Nghĩa là với một ý tưởng liền lạc, người đọc sẽ  dễ dàng cảm nhận được nhà thơ muốn nói điều gì trong bài thơ, còn liền lạc trong câu chữ, cộng với kỷ thuật lặp lại các ngữ âm bằng trắc… sẽ cho người đọc cảm nhận được nhịp điệu của bài thơ (nhanh, chậm, vui, buồn…) mà bài thơ muốn diễn đạt.

“Có thể nhận thấy một điều nữa, về hình thức, việc thể hiện một bài thơ Tân hình thức Việt cũng giống như trình bày lời của một bản nhạc, chưa hết câu hết ý mà xuống dòng (vắt dòng) là việc bình thường, tùy thuộc vào cách bố trí phách nhịp trên mỗi dòng kẻ, nhằm tạo được một hình dạng dễ nhìn, đẹp mắt cho tổng thể chứ không ảnh hưởng gì đến chất lượng, nội đung của tác phẩm. Một điều nữa, chúng ta dùng hình thức của thơ truyền thống để trình bày một bài thơ Tân hình thức Việt thì cũng giống như kết nối hiện tại sinh động với quá khứ mẫu mực hay như cắm một bó hoa thời đại vào một chiếc bình cỗ xưa… vẫn tạo được sự hài hòa thú vị, sự hài hòa thú vị đó ẩn sâu trong hơi thở của thơ Tân hình thức Việt.”

Đổi mới thơ phải thay đổi ngôn ngữ và cách làm thơ. Đó là trường hợp thơ tự do Mỹ, khởi đầu với Walt Whitman, sau đó trường phái Hình tượng (Imagism), 1910, chủ trương, “dùng ngôn ngữ nói thông thường với chữ chính xác, hạn chế tĩnh từ … ” và cách làm thơ là không theo khuôn khổ và luật tắc của thơ thể luật. Nhưng ở thời hiện tại điều đó không đủ, cần phải có những tiêu chuẩn đánh giá có tính phổ quát. Thơ tự do Mỹ không có tiêu chuẩn nào để đánh giá, và là loại thơ khó hiểu đối với người đọc thông thường, vì thế thơ cần tới phê bình và giải thưởng thơ. Phê bình và giải thưởng là nhu cầu chủ yếu tạo ra sinh hoạt thơ Mỹ.

Thơ Tân hình thức Việt, trên lý thuyết, đã hoàn tất được cả hai giai đoạn. Giai đoạn 1 với ngôn ngữ đời thường và cách làm thơ. Giai đoạn 2 với hai tiêu chuẩn xác định một bài thơ Tân hình thức hay bao gồm ý tưởng và nhịp điệu. Từ đó, nhà thơ và người đọc tự mình có thể nhận ra mức độ hay của một bài thơ. Thơ Tân hình thức Việt quan tâm tới lớp người đọc thông thường mà thơ tự do đã bỏ rơi họ. Vì vậy, giá trị của thơ phải được đánh giá trực tiếp từ người đọc chứ không phụ thuộc vào phê bình hay giải thưởng thơ. Hay nói khác, phê bình và giải thưởng, nếu có, chỉ có mục đích ghi nhận cái hay của thơ, theo tiêu chuẩn đánh giá một bài thơ hay. Điều này giúp người làm thơ tự tin vào khả năng sáng tạo của họ, và vào tương lai của dòng thơ. Nhưng từ lý thuyết đến thực hành là cả một con đường xa vạn dặm, cần thời gian và kinh nghiệm, vì mỗi người làm thơ đều bị hạn chế bởi tài năng. Ý tưởng và nhịp điệu phải kết hợp ăn ý với nhau. Nếu không có nhịp điệu (cái hay), và chỉ có ý tưởng liền lạc (cái mới), thơ sẽ dễ nhàm chán, không lôi cuốn được người đọc. Vả lại, nhịp điệu cũng luôn luôn phải thay đổi cho từng mỗi bài thơ, vì nếu một tập thơ được in ra, nhịp điệu bài nào cũng giống bài nào, sẽ rất khó đọc. Hơn thế nữa, thơ cần cô đọng ngôn ngữ và ý tưởng, nhịp điệu có thể giúp loại bỏ những chữ thừa, ý tưởng rườm rà, không cần thiết và làm cho tư tưởng bài thơ rõ ràng và xuyên suốt. Như vậy, ý tưởng và nhịp điệu phải là những quan tâm không thể tách rời của người làm thơ Tân hình thức Việt.


  • Theo nhà thơ Phill Provance, thơ Mỹ có hàng ngàn giải thưởng thơ hàng năm.

* Theo Christopher, “Poetry is going extinct, government data show”, thơ chỉ còn 6,7 % người đọc. – Nhà thơ Mỹ Seth Abramson cho rằng, “Nếu bạn xem xét số lượng tạp chí thơ in và Online đang hoạt động, hơn 1.000, và mỗi tạp chí có tới vài chục (hoặc nhiều hơn) nhà thơ mỗi năm, số lượng các nhà thơ có sách xuất bản là khoảng 50.000 nhà thơ.”


Tranh bài: Red Bird Alert By Claudia Ricci

CHÙM THƠ ĐA NHỊP ĐIỆU: Nguyễn Văn Vũ

0
Farm Near Duivendrecht, 1907
Farm Near Duivendrecht, 1907
Nguyễn Văn Vũ

 Tính liền lạc trong một bài thơ Tân hình thức Việt là một đòi hỏi hàng đầu, nếu không thực hiện được sự liền lạc thì việc bỏ dấu chấm câu và việc vắt dòng sẽ làm cho bài thơ đáng lẻ phải đời thường, dễ hiểu lại trở thành lạ lẫm và khó hiểu. Cho nên, một bài thơ Tân hình thức Việt muốn tạo được hiệu ứng, trước hết phải tạo được sự liền lạc – liền lạc về ý tưởng và liền lạc về câu  chữ; Trong đó liền lạc về ý tưởng tạo ra tính truyện (nội dung), liền lạc về câu chữ tạo ra nhịp điệu. Nghĩa là với một ý tưởng liền lạc, người đọc sẽ  dễ dàng cảm nhận được nhà thơ muốn nói điều gì trong bài thơ, còn liền lạc trong câu chữ, cọng với kỷ thuật lặp lại các ngữ âm bằng trắc… sẽ cho người đọc cảm nhận được nhịp điệu của bài thơ (nhanh, chậm, vui, buồn…) mà bài thơ muốn diễn đạt.

Có thể nhận thấy một điều nữa, về hình thức, việc thể hiện một bài thơ Tân hình thức Việt cũng giống như trình bày lời của một bản nhạc, chưa hết câu hết ý mà xuống dòng ( vắt dòng ) là việc bình thường, tùy thuộc vào cách bố trí phách nhịp trên mỗi dòng kẽ, nhằm tạo được một hình dạng dễ nhìn, đẹp mắt cho tổng thể chứ không ảnh hưởng gì đến chất lượng, nội đung của tác phẩm. Một điều nữa, chúng ta dùng hình thức của thơ truyền thống để trình bày một bài thơ Tân hình thức Việt thì cũng giống như kết nối hiện tại sinh động với quá khứ mẫu mực hay như cắm một bó hoa thời đại vào một chiếc bình cỗ xưa… vẫn tạo được sự hài hòa thú vị, sự hài hòa thú vị đó ẩn sâu trong hơi thở của thơ Tân hình thức Việt.


THẬT MÀ

Đọc xong bản tin tân hình
Thức rồi bỗng nhiên thấy như
Có điều gì mới chạy vào
Con mắt chạy vào trong đầu
Bỗng nhiên muốn nói ra một
Điều gì dễ dàng như thở
Như hát một bài thơ tình
Nho nhỏ hay hát một bài
Dân ca nhẹ nhàng mà mẹ
Đã từng hát ru con ngủ
Khi con nằm khóc trong chiếc
Nôi mây chỉ to bằng một
Cái sàng sàng lúa của bà
Để quên lâu ngày phía sau
Tấm phên mục sau chuồng heo
Và thấy đang viết thật dễ
Dàng như thổi con tu huýt
Thổi cái bóng bay ngày thơ
Hay như đang thở hay như
Đang uống một ngụm nước dừa…


 NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ CÁI LÒ GẠCH

những người phụ nữ no bùn
đến từ đồng lúa còn trơ gốc rạ
còng lưng kéo những chiếc xe
cọc cà cọc cạch như trâu cày và
những người phụ nữ no lửa
bấm ngón chân trên tháp gạch chông chênh
cong lưng tựa vào cửa lò
than ngàn độ C rừng rực lửa và
những người phụ nữ no nắng
mặt đỏ như vỏ cua chuyền nhau viên
gạch đỏ như vỏ cua lên
chiếc xe cà tàng cà tàng chạy và
những người phụ nữ no hơi
đứng hỏng chân như không trọng lực vì
cả ngày no bùn no lửa
no nắng hết mẹ ca lo ri rồi
cứ như thế ngày nọ qua
ngày kia những người phụ nữ no nê
những nỗi nhục nhằn chồng chất
lên cuộc đời chai cứng như viên gạch
chai cứng dưới chân lò nung
một ngàn độ C không sợ mưa không
sợ nắng như nụ cười sau
tấm khăn che mặt ló ra lạ lùng
lấp lánh giọt mồ hôi câu
chuyện đời ngặt nghẻo cơn gió chiều vô
tư thổi qua lò lửa hun
hút câu chuyện đời vùi trong ánh lửa…


NHỮNG TÍCH TẮC

đó là lúc hơi men
tràn ứ vào cơn ác
mộng dìm chết niềm vui
trong tích tắc và chỉ
trong tích tắc cơn ác
mộng va đập vào trái
tim xô em tựa vào
tôi mà bước cho đến
khi không thể bước thêm
được bước nào nữa mà
bước vào cú va đập
hiện hình trong âm bản
câm nín phơi ra cái
đầu xương nứt đôi như
hai nửa xa nhau lâu
ngày gặp lại nhau như
tôi áp vào em dắt
em đi cõng em đi
đến ngày sau tuần sau
hay lâu hơn nữa để
hai nửa xa nhau lâu
ngày gặp lại nhau áp
vào nhau và nhận ra
bên cạnh nỗi đau muốn
chết bao giờ cũng có
một tích tắc hồn nhiên
làm nên điều kỳ diệu
một tích tắc hồn nhiên
làm cho ai muốn chết
cũng không muốn chết nữa…


CƠN MƯA

tôi đi về phía cơn mưa
va vào cơn mưa cơn mưa
không thấy tôi tôi thấy cơn
mưa xối xả tóc tai tôi
đầm đìa mớ đời khổ tôi
sủng nước thế là tôi đói
thế là em tôi đói em
ơi hỏng hỏng hỏng em ơi
nhịn nhịn nhịn mà thôi dễ
gì trông mưa là có mưa
trông lụt là có lụt này
em ơi ruộng đồng khô cạn
phù sa sông đen lợm mùi
cá chết thì thôi mưa cứ
mưa lụt cứ lụt chôn hết
xuống mồ mầm mống thối tha
cho phù sa thấm vào đồng
lúa cho anh còn ôm mớ
đời khổ chơi trò cút bắt
với những cơn mưa em à …


GHÉT GƠ*

được ghét gơ sẽ rất
thú vị bị ghét gơ
cũng rất thú vị như
cái bóng treo lơ lững
những tiếng ì xèo reo
réo chung quanh nghe có
khi như tiếng nhạc nỉ
non có khi như tiếng
ve ong óng chứ không
êm êm như nhạc thính
phòng hay nhè nhẹ như
tiếng ru à ơi nên
chi hết được ghét gơ
thì sẽ nhớ tiếng ve
ong óng tiếng nhạc nỉ
non nhớ nhớ như nhớ
vị ớt cay cay trong
món cơm hến xứ quê
chảy nước mắt nhưng
rất thú vị nên thật
lòng mong ai nấy đều
được ghét gơ một lần
điên điên như vậy cho
biết ghét gơ là gì

*”Ghét gơ” là từ láy của “Ghét”, làm nhẹ đi cái nghĩa ban đầu của “Ghét”, thường được nghe khi nói chuyện thông thường. Ví dụ như nói “… Thôi bỏ qua đi. Ghét gơ làm chi cho nặng lòng em ơi!… “


ĐỜI BỤI

lếch thếch trên những con đường
đầy xe đầy người đầy bụi,
người bán vé số thoát ra
từ cuộc chiến cuối thế kỷ
hai mươi đi dép bằng bàn
tay trái, lắc qua lắc về
như con lắc mất trọng tâm,
chân cẳng để lại đâu rồi
giữa rừng sâu, giữa khe suối
ai nào biết được, sáng ra
lết đi lết đi, chiều tối
lết về lết về, người bán
vé số đi dép bằng bàn
tay trái loay xoay như trái
bóng xì hơi lăn vào ngõ
cụt, nương tựa vào bóng đêm
nghe bầy muổi hát ca, rồi
lăn đi lăn đi vào ngày
qua ngày, đêm qua đêm, lăn
đi lăn đi vào những tháng,
những năm tăm tối trên chiếc
dép mang bằng bàn tay trái,
và bàn tay còn lại thì
cong queo, cong queo những tờ
vé số ế ẩm ngày mưa…


TẾT RỒI ĐÓ EM

buông tay ra cho bóng vía
bay khỏi đêm ba mươi, xóa đường chân
trời đi cho mặt trời đừng
ngại ngùng đạp đất sáng mồng một, và
mở toang cánh cửa ra cho
em không ngại ngùng bước vào năm mới,
không nhớ lại những tháng ngày
đen đủi, sẽ không nơi nào làm em
rơi nước mắt, không nơi nào
làm em tủi hờn, hãy bay lên, sợi
dây neo đã buông, chân trời
đã xóa, và cánh cửa tự kỷ đã
mở toang, hãy bay lên nhớ
làm gì những dấu chân lấm bùn sau
cơn lũ quét, những viên đá
cuội đã lăn mất tăm, hãy bay lên,
bay lên đi, đừng quay lại
và đừng khóc, hãy bay lên bay lên
đi, đừng quay lại và đừng
khóc, tết rồi đó em, năm mới thì
phải hơn năm cũ em à!


LY CÀ PHÊ VỈA HÈ

dưới mỗi ly cà phê
phơi đáy một tờ năm
ngàn thẳng thớm như tờ
lịch ngày rút ra từ
mớ ký ức cũ kỹ
cất dấu những câu chuyện
đời thường câu chuyện có
một đầu dây cột vào
những cánh diều hài hước
gặp cơn hào hứng trào
lên theo ngụm cà phê
đắng nổ ra nổ ra
những tràng cười phập phồng
cánh mũi con chim nhỏ
buổi sáng tập hót trên
cành long não gõ nhịp
gõ nhịp như mùa đến
mùa đi dọc con đường
xe máy tràn lan nuốt
chững lòng đường người đi
bộ mắt tròn xoe muốn
hỏi cớ gì những người
đàn ông trộn bụi trộn
đường trộn tiếng còi xe
trộn mùi bánh mì nướng
và trộn câu chuyện tiếu
lâm vào ly cà phê
buổi sáng cớ gì vậy…


Tranh bài: PIET MONDRIAN (1872-1944)
Farm Near Duivendrecht, 1907 (oil on canvas)

TUẦN THƠ 45: CHÙM THƠ ĐA NHỊP ĐIỆU

Khế Iêm

Sáng tác thơ Tân hình thức Việt bằng cách đọc thầm trong đầu, và đọc đi đọc lại nhiều lần, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Hơn thế nữa, chúng ta cũng tránh được những bế tắc thường xảy ra, với những bài thơ có nhịp điệu khác nhau, và khi tạo được sự đa dạng nhịp điệu, người làm thơ sẽ hứng khởi trong sáng tạo và hấp dẫn người đọc hơn. Mục “Chùm thơ đa nhịp điệu” mong đón nhận sáng tác của những bạn thơ để làm phong phú và sinh động thơ Tân hình thức Việt. Xin tham khảo: “Những đặc điểm của thơ Tân hình thức Việt” và “Sáng tác thơ Tân hình thức Việt, vài dẫn giải cụ thể”.


CHUYỆN ĐỜI ANH

            Gửi một nhà thơ

Những cái chết chưa bao
giờ có thật những cái
chết chưa bao giờ xảy
ra như chúng ta sinh
ra không căn không cội
và đến đây từ nơi
hỗn mang dừng lại giây
lâu … bởi sống chết lâu
nay chỉ là câu chuyện
được kể lại kể lại
kể lại tình cờ và
chẳng qua mọi câu chuyện
chỉ mới trong vài giây
lâu mọi câu chuyện đã
cũ sau vài giây lâu
mọi chuyện kể kể xong
là xong mọi chuyện kể
kể xong trở về nơi
đã kể để những chuyện
kể khác kể lại những
chuyện chưa kể như cuộc
sống lặp lại lặp lại
mà chưa một lần có
thật vì chúng ta chỉ
vật vờ trong đời có
vài giây lâu rồi trở
về nơi nào từ đó
chúng ta đến đây những
cái chết chưa bao giờ
có thật và anh chỉ
mới dừng lại trong vài
giây lâu. Cám ơn anh
đã đến với đời và
kể xong câu chuyện đời
anh.


TÂN HÌNH THỨC
VÀ CÂU CHUYỆN KỂ

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đã được
kể lại, từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng
giống lời nào, về người đàn bà và
đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được
gọi là chỗ chết, nơi góc phố được
gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ
bằng than đen; gãy góc, xấu xí như
cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ
nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như
thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng
nhưng người đàn bà và đàn con nheo
nhóc, vẫn kể lại câu chuyện đã được
kể lại, như người khác đã từng kể
lại, dù chẳng để lại gì ngoài câu
chuyện đã kể, bởi câu chuyện đang tự
kể lại, và không ai, ngay cả người
đàn bà và đàn con nheo nhóc, bước
ra ngoài câu chuyện đã được kể lại.


TẾT Ở NEW YORK

Năm cũ không bước qua
năm mới vì năm mới
vốn thông thương với năm
cũ trong lúc lũ tết
và lũ tuyết ập xuống
mái nhà ôm lấy nhau
không chịu tan ra chẳng
khác nào năm cũ nằm
ôm lấy năm mới nhì
nhằng không thể bước qua
nhau mãi cho đến lúc
giật mình thức giấc bởi
tiếng động của cái lạnh
làm se da thay cho
tiếng pháo nhắc tới tết.

20/2/2015

CON MÈO ĐEN

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;
con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo
linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong
cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẩu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn
của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo
đen có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.


BÀI THƠ XE ĐẠP

Người đàn ông dựa xe đạp
vào vách tường vừa kịp
cơn giông ập xuống mang
theo mưa và mưa và
mưa xoá nhoà biên cương
giữa sáng tối và sự
vật và bụi mờ đẩy
người đàn ông dần dần
lùi lại khoảng cách giữa
tiếng rơi mái hiên và
gió lạnh và chiếc xe
lấn tới lấn tới cho
đến khi những đường cong
vòng tròn những nan hoa
những góc cạnh khảm  sâu
vào bức tường đã ố
màu thành bức tranh hiện
thực và người đàn ông
là chiếc bóng phai mờ
và cơn giông và mưa
và biên độ giữa hai
chiều thực tại còn đọng
lại nhiều năm sau đó
trong ký ức người đàn
ông những phút giây lạ
lùng  tưởng chừng như câu
chuyện chỉ xảy ra trong
tâm trí.


MẸ KHỔ

Mẹ già đã già ngồi
còng lưng bên gánh hàng
rong nơi góc phố bụi
mờ những bước chân qua
mẹ chờ gì và mẹ
chờ ai không mẹ không
chờ gì và mẹ không
chờ ai ngòai nỗi buồn
canh cánh từ thuở khai
sinh mẹ còn gì và
mẹ còn ai không mẹ
không còn gì mẹ không
còn ai ngòai lũ con
đứa lang bạt kỳ hồ
đầu đường xó chợ đứa
vợ bỏ đi hoang lặn
lội tìm trầm nơi rừng
sâu núi thẳm một sớm
tin về xảy chân đã
thành thiên cổ không ai
nuôi mẹ vậy mẹ nuôi
ai mẹ nuôi lũ cháu
còn thơ mồ côi mồ
cút bữa đói bữa no
trong vòng tay mẹ bà
ơi bà ơi mẹ như
chiếc lá đổi màu năm
cùng tháng tận ngồi đây
kẻ qua người lại không
ai thấy mẹ mẹ không
thấy ai rồi một hôm
mẹ nghe lũ chim non
quang quác đầu nhà kêu
trong hoang sơ mẹ
không kịp về cơn đau
ập đến mang xác mẹ
đi đi đâu về đâu
bà ơi bà ơi ngày
đi vào đêm mẹ không
kịp về mẹ ngồi bên
đường mẹ ngồi chết khô
bên gánh hàng rong người
đi kẻ ở phố vẫn
như xưa chỉ không còn
cuộc đời mẹ khổ bà
ơi bà ơi bà ơi
bà ơi đi đâu về đi.


Tranh bài: Paul Klee 

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

Jeffrey Ripple, Figs, 1999 Courtesy Hackett-Freedman Gallery, San Francisco
Jeffrey Ripple, Figs, 1999 Courtesy Hackett-Freedman Gallery, San Francisco

Khế Iêm

Từ trước tới nay người đọc thường hiểu sai lệch thơ Tân hình thức Việt, vì đọc và phán đoán qua những sáng tác. Có lẽ vì phần lý thuyết chưa hoàn tất để có được những tiêu chuẩn hay, mặt khác, ngay cả những người làm thơ cũng không chịu tìm hiểu tới nơi tới chốn, quan điểm và cách làm thơ, nên đa số sáng tác chưa đúng thơ Tân hình thức Việt. Bây giờ, phần lý thuyết đã hoàn tất, gồm hai tập tiểu luận “Vũ điệu không vần” (2011), “Tân hình thức, nghĩ về cách làm thơ” (2016) và một tiểu luận về những chức năng sáng tạo trong não bộ, “Thơ và không thơ” (2017), giúp bổ túc cách sáng tác và tìm kiếm nội dung thơ. Tiêu chuẩn một bài thơ hay cũng đã có. Cái hay của thơ Tân hình thức Việt là cái hay của ý tưởng và nhịp điệu. Ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, nhưng nhịp điệu và ý tưởng phải mới mẻ và sâu sắc. Cũng cần nhắc lại, thơ Tân hình thức Việt nối kết giữa quá khứ và hiện tại – quá khứ như một nửa giấc mơ được nhớ lại – giữa truyền thống và hiện đại, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, theo quan điểm Tân chiết trung.

Bốn đặc điểm nổi bật của thơ Tân hình thức Việt: dùng lại các thể thơ truyền thống, cách tạo nhịp điệu, cách làm thơ, và sáng tác với tòan thể não bộ.

Thơ Tân hình thức Việt dùng lại các thể thơ Việt, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ và lục bát, thêm những yếu tố như vắt dòng, lập lại, tính truyện và ngôn ngữ đời thường. Vắt dòng vừa giữ cho bài thơ đúng hình thức của các thể thơ, vừa có tác dụng vắt ý tưởng từ dòng này qua dòng khác, làm cho liền lạc với nhau, hình thành tứ thơ hay tư tưởng trong thơ. Tính truyện có nghĩa là nối kết những ý tưởng với nhau, không rời rạc hay đứt đoạn như trong thơ tự do, và cũng có nghĩa là kể truyện. Ngôn ngữ đời thường được hiểu như dùng ngôn ngữ thông thường, để diễn đạt cuộc sống. Ba yếu tố trên cùng với kỹ thuật lập lại, phối hợp thành nghệ thuật thơ Tân hình thức Việt. Tuy nhiên, kỹ thuật lập lại, là yếu tố chủ chốt, hình thành nhịp điệu thơ, được tái định nghĩa như sau, ”lập lại những chữ kép (bằng trắc) phân phối vừa đủ trong bài thơ” để tạo nhịp điệu. Cả ngàn năm trước, từ Đông sang Tây, con người đã rút tỉa kinh nghiệm để tạo ra những thể thơ, giúp người làm thơ phát huy tài năng của họ. Thơ Đường, bằng bằng, trắc trắc, và thơ tiếng Anh, không nhấn, nhấn, tạo nhịp điệu bằng cách lập lại, xen kẽ những âm thanh mạnh và nhẹ trong một dòng thơ. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, chữ kép (hai chữ) có âm thanh bằng và trắc, tương đương với đơn vị âm thanh iambic (không nhấn, nhấn) của thơ thể luật tiếng Anh. Nếu thơ thể luật tiếng Anh, tiêu biểu là dòng thơ iambic pentameter, tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh (không nhấn, nhấn), 5 lần trong một dòng thơ, thì thơ Tân hình thức Việt tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh bằng trắc (chữ cặp đôi) ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ. Vì thế nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt luôn luôn thay đổi và sinh động, không bị nhàm chán.

“Trường hợp, do thói quen tình cờ, một người làm thơ thường sáng tác vào những lúc nửa thức nửa ngủ, chuyện gì sẽ xảy ra? Trong khoảng thời gian đó, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Mỗi thể loại thơ có cách làm thơ khác nhau, thơ vần điệu dựa vào cảm xúc, thơ tự do dùng tâm trí, còn thơ Tân hình thức kết hợp giữa cảm xúc và tâm trí. Khi làm thơ, trong trạng thái lơ mơ giữa thức và ngủ đó, chúng ta phải tìm cách nhớ lại những câu chữ vừa mới sáng tác, bằng cách đọc lên (đọc thầm trong đầu), và đọc đi đọc lại nhiều lần, vì không có sẵn giấy bút để ghi lại. Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắc và vần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa đi sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, nếu không đọc lên thì làm sao phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ để tạo thành nhịp điệu? Những chữ kép lập lại đóng vai trò như vần trong thơ vần điệu, nhưng rải ra khắp bài thơ, nên không rơi vào sự đều đặn, hạn chế như vần ở cuối giòng của thơ vần điệu. Điều này làm cho nhịp điệu trong thơ Tân hình thức Việt phong phú và khác biệt, nơi từng bài thơ và từng người làm thơ, đẩy tới nhiều mức độ khác nhau, từ trầm lắng đến sôi nổi. Nhưng dù ở mức độ nào, người đọc cũng phải nhận ra được nhịp điệu thơ.

“Câu chuyện trên rút ra kết luận: Không có gì bắt buộc chúng ta phải sáng tác trong lúc ngủ, mà có thể sáng tác bất cứ lúc nào cảm thấy có hứng khởi, ban ngày cũng như ban đêm, lúc thức cũng như lúc ngủ. Trong trường hợp này, hành động đọc đi đọc lại nhiều lần, không phải để nhớ, mà để hình dung ra nhịp điệu của thơ. Và việc ghi lại trên giấy mới có tác dụng để nhớ.  Khi đọc, và đọc đi đọc lại, sẽ hạn chế sự nghĩ của tâm trí, và bài thơ tiến hành theo những cảm nhận tự nhiên, chứ không phải từ những sắp xếp của lý trí. Sự ghi lại trên giấy khi bài thơ hoàn tất, chẳng khác nào quay trở lại một truyền thống mới là chữ in trong thời đại mà chữ in đang dần dần bị lãng quên, có lẽ là điều mà nhà thơ Frederick Turner gọi là ‘Truyền thống mới cái đẹp xưa’ chăng?” Trích, “Nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt trong tiến trình sáng tác”.

Mục đích luật tắc của Tân hình thức là tạo nhịp điệu thơ. Nếu bài thơ đọc lên, nghe âm hưởng của văn xuôi, là bởi người làm thơ theo cách viết trên giấy của thơ tự do, rồi đếm chữ xuống dòng. Nhịp điệu bài nào cũng hao hao giống nhau, vì đó là nhịp điệu văn xuôi. Còn nếu làm theo cách của thơ Tân hinh thức, sẽ tạo được nhịp điệu thật sự cho thơ, không bài nào giống bài nào. Đến đây, có ba điểm cần ghi nhận: 1/ ngôn ngữ thông thường trong thơ Tân hình thức còn có tác dụng dễ nhớ; 2/ bài thơ chỉ được ghi lại trên trang giấy, sau khi hoàn tất; 3/ “đếm chữ xuống dòng” là khâu cuối cùng, dùng để chỉnh sửa, sau khi bài thơ đã làm xong. Lúc đó, chúng ta mới quyết định xem phải dùng thể thơ nào cho phù hợp với nhịp điệu bài thơ. Thể thơ 5 chữ cho nhịp điệu nhanh, 7 chữ cho nhịp điệu vừa, và lục bát cho thơ kể chuyện.

Nhưng cách làm thơ Tân hình thức có khó không? Dễ không dễ, khó không khó, chẳng qua là do thói quen. Cách làm đó không đơn thuần là lý thuyết xuông, mà do kinh nghiệm của người viết. Tôi làm thơ vần điệu, thơ tự do, và Tân hình thức, tất cả đều làm theo cách đọc thầm trong đầu. Nhưng ngay cả thơ tự do, với những bài thơ ngắn, cũng có nhịp điệu rất mạnh. Và sau này, Tân hình thức là dòng thơ quan tâm tới nhịp điệu, nên tôi thấy đó là cách làm thơ thích hợp nhất. Vấn đề bây giờ là sự khao khát đổi mới của những nhà thơ tham gia sáng tác thơ Tân hình thức, có đủ mạnh để thay đổi thói quen đã được lập trình trong tiềm thức hay không. Và nếu thật sự muốn, phải làm sao để cách làm và lý thuyết thơ Tân hình thức nằm được và thay thói quen cũ trong tiềm thức (người làm thơ không còn bị ám ảnh và bận tâm tới những cái khung và kỹ thuật thơ), lúc đó khả năng sáng tạo mới có thể bộc phát và thành thơ. Để được như thế, phải nghiền ngẫm và ngấm dần qua năm tháng (ở thời đại internet, thói quen đọc lướt, thoáng qua rồi quên, ít ai chịu tìm hiểu kỹ điều gì). Vì trong tiềm thức chúng ta là cả một dãy trường thành những thói quen, thói quen nghĩ và làm thơ cũ, khó có thể vượt qua?

Người làm thơ trước khi làm thơ Tân hình thức có thể họ đã là những nhà thơ vần điệu hay tự do. Khi tham gia thơ Tân hình thức, nếu thấy không hợp, họ có thể trở về với vần điệu hay tự do. Thực tế, đâu có ai vừa làm thơ vần điệu vừa làm thơ tự do, vì như thế sẽ chẳng đi đến đâu, mỗi dòng thơ có cách làm khác nhau. Nhưng khi đã dấn thân vào con đường thơ Tân hình thức, họ phải thôi làm thơ vần điệu hay tự do. Lý do, thơ Tân hình thức sẽ bị vướng vào vần điệu của thơ vần, hoặc làm thơ theo cách nghĩ của thơ tự do. Như vậy sẽ làm hỏng thơ Tân hình thức, và sớm hay muộn gì cũng rơi vào bế tắc. Dĩ nhiên, chúng ta không thể bỏ ngay cách làm thơ cũ, nhưng thay đổi từ từ cho tới khi quen dần. Chẳng hạn, ghi xuống trên giấy từng đoạn thơ, rồi tiếp tục làm theo cách đọc thầm trong đầu, cho đến khi bài thơ hoàn tất. Tuy nhiên, dù biết cách tạo nhịp điệu, nhưng nếu ý tưởng yếu kém cũng khó thành công. Chúng ta cần phải nuôi dưỡng ý tưởng trong đầu, và tìm kiếm nội dung cho thơ.

“Theo khám phá những chức năng của não bộ, sáng tạo trong thơ là sự kết hợp giữa bán cầu não trái và phải, liên quan đến hoạt động của toàn thể não bộ. Trong suốt quá trình, cả khía cạnh lý trí và cảm xúc phải làm việc toàn diện với nhau. Thơ vần điệu sáng tác nghiêng về bán cầu não phải, với nhạc tính, nhịp điệu, cảm xúc, trong khi thơ tự do nghiêng về bán cầu não trái với ngôn ngữ và kiến thức. Trong thơ thể luật tiếng Anh, dù có vần hay không vần, vì là ngôn ngữ đa âm, với kỹ thuật vắt dòng, người làm thơ có tài năng vẫn có thể kết hợp hai bán cầu não với nhau. Trong khi thơ vần điệu Việt, không thể vắt dòng, vần ở cuối dòng giống như bức tường ngăn cản hai bán cầu não thông thương với nhau, thơ hoàn toàn sáng tác với bán cầu não phải. Thơ tự do, vì là dòng thơ trí tuệ, dĩ nhiên phải sáng tác theo bán cầu não trái. Thơ Tân hình thức Việt sáng tác với cả hai bán cầu não, nên khó cũng là điều đương nhiên.

“Nhưng chúng ta chỉ mới biết những chức năng của não bộ mới đây, nên những nhà thơ Tân hình thức Việt chưa vận dụng được khả năng sáng tạo  và phối hợp những yếu tố thơ trong bán cầu não phải  như tưởng tượng, cảm xúc, trực giác, nhịp điệu, vần ... Đồng thời cũng chưa ý thức được tầm quan trọng của kiến thức và tư duy nghệ thuật trong việc phát triển nội dung thơ. Bây giờ, nếu kết hợp giữa cách làm thơ Tân hình thức và những chức năng não bộ trong sáng tạo, giữa nghệ thuật thơ và đời sống thực tại, giữa “kiến thức và kinh nghiệm trong tiềm thức”, như ý kiến của Jesper, chúng ta hy vọng sẽ có được những nhà thơ Tân hình thức thực sự. Cụ thể hơn, thơ khẩn thiết cần một nội dung mới.

“Thơ không thể đổi mới, nếu không thay đổi cả hình thức lẫn nội dung. Vì nội dung là xương sống của bài thơ, ở đây là kiến thức. Theo Kant, kiến thức là cái gì đó được tạo ra bởi tâm trí, bằng cách lọc cảm giác thông qua các công cụ hiểu biết. Thiếu kiến thức, người làm thơ không thể phát hiện những ý tưởng mới trong những biến cố và sự việc thường ngày. Kiến thức và trực giác là sức mạnh trong tâm thức, tiếp cận với thực tại, tạo nên ánh sáng lóe trong nội tâm.” Trích, Thơ và không thơ.

Thời hiện đại, bắt đầu với thơ tự do Mỹ và trường phái Tượng trưng Pháp, văn học và hội họa quan tâm tới những thay đổi về phong cách (làm mới) hơn là nội dung, như các trường phái hội họa Ấn tượng, Lập thể, Trừu tượng … các trường phái thơ hậu hiện đại Mỹ Black Mountain, thơ Ngôn ngữ … tiểu thuyết mới Pháp … Nhưng thơ Tân hình thức Việt nối kết truyền thống (cảm xúc và nhịp điệu thuộc bán cầu não phải) và thơ tự do (kiến thức, trí tuệ thuộc bán cầu não trái), quan tâm tới cả hình thức lẫn nội dung. Kiến thức và tư duy nghệ thuật là những yếu tố cơ bản giúp nhà thơ tìm kiếm nội dung thơ. Và như vậy, cách làm thơ và khám phá những chức năng não bộ trong sáng tạo (tiểu luận Thơ và không thơ) đã kết hợp với nhau và làm thành lý thuyết thơ Tân hình thức Việt, đáp ứng nhu cầu người làm và đọc thơ, từ dễ đến khó, từ đơn giản tới phức tạp.

Sự khám phá những chức năng sáng tạo trong não bộ, kết hợp hai bán cầu não trong sáng tác, lại phù hợp với cách làm và lý thuyết thơ Tân hình thức. Thơ thể luật (hay vần điệu) đã có cả ngàn năm, thơ tự do cũng có lịch sử hơn trăm năm, mỗi loại thơ đều có cái hay của nó, ai thích thì làm, vì mục đích của thơ là mang lại niềm vui cho người làm và đọc thơ. Thơ Tân hình thức chỉ cung cấp thông tin, đáp ứng nhu cầu cho những ai thật sự muốn thay đổi thơ.  Nhưng nếu muốn thay đổi, phải hiểu rõ tường tận từng thể loại thơ. Đặc biệt, thơ tự do xuất phát từ Mỹ với hàng loạt những phong trào tiền phong, và thơ thể luật tiếng Anh, với từng bước cải đổi có bài bản và học thuật. Thơ Tân hình thức Việt nối kết và trầm tư nhiều thể loại thơ, rút tỉa một số nguyên tắc căn bản để làm thơ, từ đó, trong tiến trình của sáng tạo, sẽ còn vô số những phát kiến không ngừng, làm phong phú cho thể loại thơ này.

Tái bút

Một đặc điểm khác cũng cần nhấn mạnh để tránh gây ngộ nhận: Tiếng Việt, đơn âm và tiếng Anh, đa âm, là hai hệ thống ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau. Vì thế những thể thơ và luật tắc thơ cũng khác nhau. Những ngôn ngữ cùng một hệ thống, có thể có chung những thể thơ và luật tắc thơ. Thí dụ, thơ Việt có thể tiếp nhận những thể thơ và luật bằng trắc trong thơ Đường của Trung hoa. Trong khi các nước như Ý, Pháp, Anh lại có chung những thể thơ sonnet, ballad … và luật thơ, chỉ khác, tiếng Anh là tiếng trọng âm nên trong luật thơ âm ngắn (thơ Pháp và Ý) được thay bằng âm nhấn (thơ Anh) và âm dài được thay bằng âm không nhấn.

Nhưng kỹ thuật thơ như vần, lập lại các âm tiết để tạo nhịp điệu, hay vắt dòng của thơ ở ngôn ngữ  đơn hay đa âm đều giống nhau.

Ảnh hưởng văn hóa Pháp, những nhà thơ thời Thơ Mới không thể mang ngôn ngữ và những thể thơ Pháp du nhập vào thơ Việt, mà chỉ dùng những cảm xúc lãng mạn và ngôn ngữ tượng trưng tiếp nhận từ thơ Pháp, hóa giải luật lệ khe khắc của thơ Đường, chuyển những thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn thành những thể thơ 5 chữ, 7 chữ thuần Việt.

Bây giờ, Thơ Tân hình thức Việt cũng không thể mang nguyên si những thể sonnet, ballad hay luật iambic pentameter (không nhấn, nhấn lập lại 5 lần trong một dòng thơ 10 âm tiết) của thơ tiếng Anh vào thơ Việt. Nhưng những nhà thơ Tân hình thức đã dùng kỹ thuật vắt dòng (của thơ thể luật tiếng Anh), bỏ vần ở cuối dòng thơ của những thể Thơ Mới truyền thống như 5 chữ, 7 chữ, lục bát, biến những thể thơ này thành những thể thơ không vần.

Như vậy, nếu Thơ Mới dùng ảnh hưởng thơ Pháp để thay đổi những luật tắc của thơ Đường cho phù hợp với ngôn ngữ và thơ Việt, thì một lần nữa, thơ Tân hình thức tiếp nhận những yếu tố của thơ thể luật tiếng Anh và thơ tự do Mỹ, thay đổi những thể thơ có vần của Thơ Mới thành những thể thơ không vần, đáp ứng nhu cầu diễn đạt của thời đại.

Tháng 9, 2017

 

Tranh bài: Jeffrey Ripple, Figs, 1999 Courtesy Hackett-Freedman Gallery, San Francisco

TUẦN THƠ 29: BÀI THƠ CHỦ NHẬT

https://www.palestinechronicle.com/my-sisters-and-brothers-dont-you-cant-you-wont-you-see-a-poem/
https://www.palestinechronicle.com/my-sisters-and-brothers-dont-you-cant-you-wont-you-see-a-poem/

BÀI THƠ CHỦ NHẬT


Sáng tác xin gửi về Diễn đàn hoặc email: 
baogiaytanhinhthuc@yahoo.com | info@thotanhinhthucviet.vn

Nguyễn Phan Thịnh

KẺ LẠ

anh ngây thơ và anh sống như
thằng khờ đung đưa chân trên cầu

gục đầu nhìn dòng sông trôi và
ngẩng đầu nhìn làn mây trôi và

người thấy anh lơ mơ nghe gió
u u trong tai u u u

trong đầu u u u đêm ngày
ray rứt u u liên miên hòai

anh lù mù ngồi anh lờ mờ
bay và anh lơ ngơ khóc thầm

trước mọi nỗi đau thương tăm tối
co cóng bi thảm biết bao đời

tất cả điên rồ tất cả điêu
linh tất cả bốc mùi anh bay

dưới những vì sao và anh bay
một mình nát lòng không ai hay

anh ngồi đung đưa chân không trên
cầu người hằng ngược xuôi tất bật

ngày ngày là bầy ong thợ trong
một tổ ong nhân tạo cam đời

anh bay theo mây trôi theo sông
trôi ra biển trời một mình và

anh đau đớn không ai chia sẻ
một tình yêu cùng một niềm tin

anh cô đơn lặng im bay qua
nỗi chết trừu tượng và siêu hình

khờ khạo hay khật khùng mãi như
tên lạ mặt ở chính quê mình

làm sao anh có thể sống dửng
dưng giữa đời với người vô nghĩa

vô tình đến cây cũng mọc ngược
và sâu bọ cũng hóa thần linh


Nguyễn Cảnh Nguyên

BÀI THƠ CHỦ NHẬT

Trước mặt tôi là những người đàn
ông và những người đàn bà bên
phải và bên trái tôi là những
người đàn bà và những người đàn

ông xung quanh tôi những người đàn
ông và những người đàn bà đang
giành nhau nói như tự bao giờ
họ vẫn giành nhau nói về những

điều rất nhỏ nhặt mà tôi không
thể biết những điều rất đơn giản
mà tôi không thể hiểu thú thật
tôi không thể biết tại sao mà

tôi lại tỏ ra chán đến vậy
tôi không thể hiểu tại sao mà
tôi lại to ra buồn ngủ đến
thế tôi ngáp ngắn ngáp dài ngáp

đến sái quai hàm nhưng không thể
đứng dậy không thể bỏ đi đâu
không thể làm gì khác khi những
người đàn ông và những người đàn

bà xung quanh tôi vẫn còn tiếp
tục nói những người đàn bà và
những người đàn ông bên phải bên
trái tôi vẫn tiếp tục diễn thuyết

những người đàn ông và những người
đàn bà trước mặt tôi vẫn tiếp
tục la lối về những điều rất
đơn giản mà tôi không thể biết

về những điều nhỏ nhặt mà tôi
không thể hiểu tôi không thể hiểu
tại sao tôi lại buồn ngủ đến
vậy tôi xin lỗi các ông tôi

xin lỗi các bà xin cho tôi
ngủ một tí một chốc một tẹo
một lát đi tôi xin chống mắt
mà ngủ tôi nói thật tôi cũng

yêu kính và sợ chúa lắm chứ
bộ.


Nguyễn Đạt

MỘT LẦN GIỮA NHIỀU LẦN

Một lần giữa nhiều lần đi ngang
chiếc cầu nhìn xuống dòng sông thấy
đời đen màu trên hè đường dưới
chiếc cầu mưa xối xả cứ đợi

Mãi một người chẳng tới suốt đêm
thâu một lần ôi một lần quá
nhiều lần cứ đứng suốt đêm thâu
tự nhủ mình không thể trở về

Bất cứ đâu bất kể tự nhủ
mình lần này đây chắc là lần
mình tự tử một lần giữa nhiều
lần là lần này đây trên một

Bệ cửa sổ trên cao trên nhà
phố một bông hoa đỏ thắm mưa
tự nhủ một lần ngó thấy một
lần thôi cũng đủ xong về nơi

Cư ngụ tức nhiên nhà mình mở
vòi nước xối xã thay áo quần
châm điếu thuốc bắt đầu một giấc
mộng hết sức nên thơ.


Nguyễn Hoài Phương

GỌI ĐÒ

Đò ơi … đằng nào thì đò cũng
đầy rồi thôi thì đò cứ thế
yên tâm mà sang sông đi nấn
ná ở lại thì đò cũng có

làm gì đò có chờ có đợi
có chở thêm được ai đâu thôi
thì đằng nào cũng phải rời bến
đò cứ sang sông nhường bến lại

cho những con đò khác … để những
con đò khác chở những con người
khác đầy rồi cũng phải sang sông
nhường bến lại cho những con đò

khác nữa … để đò sang sông rồi
đò lại quay về bến đò lại
chờ lại chở những đợt khách mới …
đò ơi … khách chưa đến rồi khách

sẽ đến kệ khách không đi đò
này thì đi đò khác kệ hết
đợt khách này lại có đợt khách
khác … đò ơi … đò đầy rồi thì

đò cứ sang sông … đò ơi … ơ i…

23 - 8 – 08

Hạc Thành Hoa

NHỮNG VIÊN KIM CƯƠNG CỦA BẦU TRỞI

bất ngờ rớt xuống từ
những đám mây màu chì
tích tụ khói đèn bao
nhiêu năm như sao rơi

sao rơi in trên cát
những đóa quỳnh không thực
tôi bàng hoàng khi chạm
vào những hạt mưa chạm

vào sức nóng đôi môi
chạm vào cái lạnh bầu
trời ôi những viên kim
cương bảy sắc cầu vồng

vừa chạm vào tay đã
vội tan thành nước chỉ
còn một bàn tay một
bàn tay đang khóc.


Tranh bài: https://web.archive.org/web/20251218101654/https://www.palestinechronicle.com/my-sisters-and-brothers-dont-you-cant-you-wont-you-see-a-poem/

My Sisters and Brothers, Don’t You, Can’t You, Won’t You, See?

By Stephen Brackens Brinkley

We are all interconnected
We are all interdependent
We are all part of the One

My Sisters and Brothers,
Don’t you see?

Every microcosm is reflective of the macrocosm
As above so it is below
We are all each other’s keepers in the Human Family

My Sisters and Brothers,
Can’t You See?

Every ripple in the Supreme Lord’s pond
Makes its way to the largest lake where
It is eventually felt even in the farthest Ocean

My Sisters and Brothers,
Won’t You See?


– Stephen Brackens-Brinkley is a Christian minister, teacher, counselor and Human Rights Activist. He has been a strong supporter of the Palestinian cause for many years. He currently resides in San Diego, CA, USA. He contributed this poem to PalestineChronicle.com.

Anh chị em tôi ơi, các bạn có thấy không, các bạn có thể không, các bạn sẽ không thấy không?

Chúng ta đều có sự kết nối với nhau
Chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau
Chúng ta đều là một phần của Một

Các chị em và anh em của tôi ơi,
các bạn không thấy sao?

Mỗi vi mô đều phản ánh vĩ mô
Trên thì như vậy dưới thì như vậy
Chúng ta đều là người bảo vệ lẫn nhau trong Gia đình Nhân loại

Các chị em và anh em của tôi ơi,
các chị không thấy sao?

Mỗi gợn sóng trong ao của Chúa Tối Cao Đều
hướng đến hồ lớn nhất Nơi
Cuối cùng Nó được cảm nhận ngay cả ở Đại dương xa nhất

Các chị em và anh em của tôi ơi,
các chị em có thấy không?


– Stephen Brackens-Brinkley là một mục sư Cơ đốc, giáo viên, cố vấn và Nhà hoạt động nhân quyền. Ông là người ủng hộ mạnh mẽ cho sự nghiệp của người Palestine trong nhiều năm. Hiện ông đang sống tại San Diego, CA, Hoa Kỳ. Ông đã đóng góp bài thơ này cho PalestineChronicle.com.

THƠ SONG NGỮ 3: ĐỌC NHƯ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

"Sunrise" by Claude Monet
"Sunrise" by Claude Monet
THƠ DỊCH (ĐỌC NHƯ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT)

Dana Gioia

UNSAID

So much of what we live goes on inside –
The diaries of grief, the tongue-tied aches
Of unacknowledged love are no less real
For having passed unsaid. What we conceal
Is always more than what we dare confide.
Think of the letters that we write our dead.


CHƯA NÓI

Quá nhiều điều chúng ta sống xảy ra
như thực ở bên trong – những nhật ký
của mối sầu khổ, nỗi đớn đau không
nói được của cuộc tình không hồi đáp
vì có điều chưa nói đã trôi đi.
Điều che dấu luôn luôn nhiều hơn điều
chúng ta dám giải bày. Hãy nghĩ về
những con chữ chúng ta diễn đạt cái chết.


Tom Riordan

STAR APPLE

the star apple
cupped in her scaly
gray-nailed hand is
yours for the taking
no strings attached

you burst into tears
and then wake up
to the resumption
of indelible pain


VÚ SỮA

trái vú sữa nằm trong
lòng bàn tay tróc vẩy
với móng tay màu xám
của cô ta tặng không
cho bạn vô điều kiện

bạn bật khóc và rồi
thức giấc để bắt đầu
trở lại cơn đau không
thể nào quên được


TWO SMALL FANS

With two small fans
our room sounds like
a 727 Whisper-Jet
and we are halfway
to the Virgin Islands
for our honeymoon.
A movie star’s boat
is anchored offshore
and his plate piled
with napoleons and
creampuffs directs
us to check out his
gut. What we adore
most are breakfast
and the newspaper
quietly delivered to
our surfside cabana
and trying to keep
up with eagle rays
in the lagoons. Oh,
we are not ready to
go home! All that
awaits us two floors
up from the bakery
is a sweltry studio
apartment whose
single saving grace
is its two small fans.


HAI QUẠT MÁY NHỎ

Với hai quạt máy nhỏ căn
phòng của chúng tôi kêu vang
như chiếc phản lực 727-
Whisper và chúng tôi đang
trên nửa đường tới Virgin
Islands hưởng tuần trăng mật.
Con tàu của một ngôi sao
điện ảnh được neo ở ngoài
bãi biển và cái đĩa đầy
bánh ngọt napoleons
và creampuffs làm chúng tôi
nhận ra cái bụng phệ của
hắn. Điều chúng tôi thích nhất
là bữa điểm tâm và tờ
nhật báo được lặng lẽ giao
tới tận lều ở bãi biển
và cố gắng theo kịp những
con cá đuối ở hồ nước
mặn. À, chúng tôi chưa sẵn
sàng về nhà. Tất cả đang
chờ đợi chúng tôi là cái
studio nóng và ẩm
trong một chung cư ở trên
lò bánh mì hai tầng lầu
mà sự đoái công chuộc tội
độc nhất của nó là hai cái
quạt máy nhỏ.


Frank O’ Hara

MORNING

I’ve got to tell you
how I love you always
I think of it on grey
mornings with death

in my mouth the tea
is never hot enough
then and the cigarette
dry the maroon robe

chills me I need you
and look out the window
at the noiseless snow

At night on the dock
the buses glow like
clouds and I am lonely
thinking of flutes

I miss you always
when I go to the beach
the sand is wet with
tears that seem mine

although I never weep
and hold you in my
heart with a very real
humor you’d be proud of

the parking lot is
crowded and I stand
rattling my keys the car
is empty as a bicycle

what are you doing now
where did you eat your
lunch and were there
lots of anchovies it

is difficult to think
of you without me in
the sentence you depress
me when you are alone

Last night the stars
were numerous and today
snow is their calling
card I’ll not be cordial

there is nothing that
distracts me music is
only a crossword puzzle
do you know how it is

when you are the only
passenger if there is a
place further from me
I beg you do not go


BUỔI SÁNG

Tôi phải nói với em
làm sao tôi luôn yêu
em tôi nghĩ về điều
đó vào những buổi sáng

xám với nỗi chết trong
miệng rồi trà chưa bao
giờ đủ nóng và thuốc
lá khô chiếc áo khoác

màu hạt dẻ làm tôi
lạnh tôi cần em và
nhìn tuyết im ắng ngoài
cửa sổ trong đêm nơi

vũng tàu đậu những chiếc
xe buýt rực rỡ như
đám mây và tôi lẻ
loi nghĩ về những ống

sáo tôi luôn mất em
khi tôi ra bãi biển
cát ướt với nước mắt
dường như của tôi mặc

dù tôi chưa bao giờ
khóc và giữ em trong
trái tim tôi với niềm
vui thích em có vẻ

tự hào bãi đậu đông
xe và tôi đứng lúc
lắc chùm chìa khóa chiếc
xe hơi trống trơn như

xe đạp bây giờ em
đang làm gì em ăn
trưa ở đâu và có
nhiều cá trồng không thật

khó nghĩ về em với
không có tôi trong ý
tưởng em làm tôi buồn
phiền khi em ở một

mình đêm qua những vì
sao dầy đặc và hôm
nay tuyết là danh thiếp
của chúng tôi không thân

thiết không có gì làm
tôi sao lãng âm nhạc
chỉ là trò đố chữ
em có biết thế nào

khi em là người hành
khách duy nhất nếu đó
là nơi xa hơn nơi
tôi xin em đừng đi.

Tiểu sử: Frank O’ Hara (1926- 1966), là nhà thơ và nhà phê bình nghệ thuật, thuộc trường phái New York. Ông chịu ảnh hưởng của nhà thơ WilliamCarlos Williams, viết bằng ngôn ngữ thường ngày. Năm 1964, ông xuất bản tập thơ "Lunch Poems" (Những Bài Thơ Trong Bữa Ăn Trưa), mỏng, với 37 bài thơ, 70 trang, nhưng là tập thơ được tái bản mỗi năm, và được những nhà phê bình coi như là tập thơ của thế kỷ 21. Thơ ông thường ghi chep những chuyện vụn vặt thường ngày

Frederick Feirstein

JEU D’ESPRIT

I wrote a lyric that you said was pure,
Full of voiceless plosives, liquids, sibilants,
And, as a young girl licks an ice cream cone,
showed me how you rolled it on your tongue
And sweetly said, It’s written to be sung
By lovers in the shower as they moan
Or on a carpet in a kissing trance
Or in their twenties making up a tour
Of quiet rooms from Paris down toVence
Or in their early sixties left alone
As we are, still romantic, in our dance
That’s sexy, never clumsy, not mature,
Just loosening young vowels on our tongues,
Which in each other’s mouths are always sung


TRÒ CHƠI TINH THẦN

Tôi viết một bản tình ca mà em
Nói là tinh khiết, đầy những âm hơi
Âm nước âm xụyt không thành tiếng, và,
Như một cô gái trẻ nhấm nháp cây
Cà rem, cho tôi biết làm sao em
Cuộn nó trên đầu lưỡi và ngọt ngào
Nói, nó  được viết để hát lên bởi
Những cặp tình nhân trong phòng tắm như
Rên rỉ hoặc trên tấm thảm trong lúc
Hôn nhau mê đắm hoặc ở tuổi hai
Mươi trong những chuyến du hành nơi những
Căn phòng yên lặng từ Paris xuống
Vernice hoặc họ rời khỏi một mình
Vào đầu những năm sáu mươi như chúng
Ta, vẫn lãng mạn, trong điệu nhảy gợi
Cảm, không bao giờ vụng về, không chấm
Dứt, ngay lúc thả lỏng những nguyên âm
Non nớt trên đầu lưỡi những nguyên âm
Luôn được hát lên trong miệng nhau.


Sydney Lea


THE WRONG WAY WILL HAUNT YOU

(Shouting a hound)

Spittle beads as ice along
her jaw on this last winter day.
And when I lift her, all her bones
are loose and light as sprigs of hay.

For years her wail has cut the woods
in parts, familiar. Host of hares
have glanced behind as she ploughed on
and pushed them to me unawares.

Now her muzzle skims the earth
as if she breathed a far dim scent,
and yet she holds her tracks to suit
my final, difficult intent.

For years with gun in hand I sensed
her circle shrinking to my point.
How odd that ever I should be
the center to that whirling hunt.

Here a yip and there a chop
meant some prime buck still blessed with breath,
and in the silences I feared
she’d run him to her own cold death.

The snow that clouds my sights could be
a trailing snow, just wet and new
enough to keep a scent alive,
but not so deep that she’d fall through.



TÌNH THẾ KHÔNG HAY THƯỜNG ĐẾN

(Tiếng kêu một con chó săn)

Những hạt nước dãi như băng giá dọc
quai hàm con chó săn vào ngày cuối
đông. Và khi nhấc lên xương cốt nó
lỏng lẻo và nhẹ như một cọng cỏ

khô. Nhiều năm tiếng kêu quen thuộc của
nó đã cắt khu rừng thành từng phần.
Đám thỏ liếc nhìn phía sau không biết
nó đã rẽ và đẩy chúng tới tôi.

Bây giờ mõm nó là đà dưới mặt
đất như thể sự thính mũi của nó
đã lờ mờ xa, và lúc này ý
định giữ vòng săn đáp ứng mục tiêu

với nó là khó. Nhiều năm với cây
súng trong tay tôi có cảm giác nó
đã bắt đầu già. Tôi chưa bao giờ
trông chờ là trung tâm cuộc săn

cuồng quay đó. Đây là tiếng sủa và
kia là con mồi, có nghĩa là vài
con nai tơ vẫn sống, và trong yên
lặng tôi sợ việc săn đuổi đã mang

tới cái chết lạnh cho chính nó. Tuyết
phủ tầm nhìn của tôi có thể là
tuyết vẽ thành vệt, ướt và mới đủ
để giữ sự thính mũi tồn tại, nhưng

không quá sâu rằng nó đã thất bại.

 Khế Iêm chuyển dịch

Tiểu sử: Sydney Lea (1942 –), sáng lập và cựu chủ biên tờ “The New England Review”, tác giả thơ, truyện, tiểu luận. Tuyển tập thơ của ông bao gồm Searching the Drowned Man, The Floating Candles, No Sign, Prayer for Little City và The Blainville Testament. Ông sống ở Newbury, Vermont, Hoa Kỳ.
Bài thơ trích trong tuyển tập thơ “Rebel Angels, 25 Poets of the New Formalism” (Những Thiên Thần Nổi Loạn, 25 Nhà Thơ Tân Hình Thức), do Mark Jarman và Davis Mason chủ biên, Story Line Press xuất bản, 1998.

Tranh bài: “Sunrise” by Claude Monet

TUẦN THƠ 31: ĐỌC NHƯ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

THƠ DỊCH
(ĐỌC NHƯ TÂN HÌNH THỨC VIỆT)
______________________________

Thơ không thể dịch vì không thể dịch âm thanh và nhạc tính ngôn ngữ, trừ khi thay đổi cách làm thơ như thơ Tân hình thức Việt. Từ Đông sang Tây, ai cũng biết như vậy. Đã có bao nhiêu bài thơ Đường luật dịch ra tiếng Việt, đạt như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu do Tản Đà dịch? Có bài thơ tiếng Anh, tiếng Pháp nào dịch ra tiếng Việt đúng theo tiêu chuẩn thơ Việt như Hoàng Hạc Lâu? Chắc là không. Vì vậy mà người đọc Việt bình thường, từ trước tới nay, ít ai đọc thơ dịch, vì khô khan và không thấy gì lôi cuốn. Đó là lý do, qua phương tiện dịch thuật, mục đích của chúng tôi là đi tìm một tiêu chuẩn chuyển dịch để dịch một số bài thơ tiếng Anh, cả thể luật lẫn tự do, thành thơ Tân hình thức Việt, cho người Việt đọc. Trong hàng trăm bài thơ song ngữ Anh Việt, trên website www.thotanhinhthuc.org, chúng tôi cũng chỉ chọn được khoảng hơn 10/100 (cho đến nay gồm 30 bài), là những bài dịch, đọc theo tiêu chuẩn thơ Tân hình thức Việt. Nói là tiêu chuẩn thơ Tân hình thức Việt, vì hiện nay loại thơ này có hàng ngàn người đọc, và trên tờ Poetry Journal In Print  và những tuyển tập thơ song ngữ Việt-Anh, qua phản hồi, đang được chú ý của cộng đồng thơ Mỹ, với những bài thơ có ý tưởng liền lạc, dễ hiểu, và mới lạ đối với họ. Đó cũng là tiêu chuẩn chuyển dịch, để lọc một số bài thơ tiếng Anh, khi dịch ra, có thể đọc tương đương như đọc một bài thơ Tân hình thức Việt – dịch thành thơ, góp phần thay đổi định kiến từ trước tới nay, dịch là diệt. Dịch, như vậy, cũng nằm trong tiến trình của sáng tạo.

Điều ngạc nhiên, trong những bài thơ tiếng Anh được chuyển dịch dưới đây có cả thơ thể luật và thơ tự do. Thơ thể luật tiếng Anh theo luật tắc của dòng thơ. Luật tắc thông dụng nhất là dòng thơ 10 âm tiết (mỗi âm tiết tương đương với một chữ trong tiếng Việt), iambic parameter (không nhấn, nhấn, lập lại 5 lần như vậy thành 10 âm tiết). Những nhà thơ thể luật gồm: Dana Gioia, Frederick Feirstein, Sydney Lea. Số còn lại là những nhà thơ tự do: William Carlos Williams, Frank O’ Hara, Tom Riordan, Phillip A. Ellis.

Đối với thơ thể luật tiếng Anh, dòng 10 âm tiết, chúng ta dùng thể thơ 8 chữ để dịch. Còn những bài thơ của những nhà thơ tự do, chúng ta thấy có dáng dấp của những thể thơ Tân hình thức Việt. Nhưng thật ra, đó là thơ do những nhà thơ tự do sáng tác. Họ tạo ra hình thức thơ giống như những thể thơ nhưng không theo luật tắc như thơ thể luật. Số âm tiết mỗi dòng thơ không đồng đều, từ 5 tới 7 âm tiết. Sự tương đồng giữa những bài thơ thể luật và tự do nguyên tác tiếng Anh là cách diễn đạt với những ý tưởng và cảm xúc liền lạc. Điều ngẫu nhiên, cách diễn đạt này cũng trùng hợp với thơ Tân hình thức Việt. Mỗi ngôn ngữ, đơn âm hoặc đa âm, có văn phạm khác nhau, luật tắc và cách làm thơ khác nhau, vì vậy khi dịch thơ, tự do hay thể luật không phải là mối bận tâm của người dịch. Vấn đề quan trọng là tìm trong bài thơ nguyên tác có yếu tố chung nào với thơ Việt hay không, ở đây là cách diễn đạt. Đối với tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, có rất nhiều chữ đơn hoặc chữ kép (bằng trắc) được lặp lại một cách tự nhiên, tạo thành nhịp điệu, nếu cách diễn đạt có những ý tưởng và cảm xúc liên tục. Đó là lý do tại sao những bài thơ dịch khi dùng những thể thơ Tân hình thức Việt lại có thể đọc như một bài thơ sáng tác. Thơ Tân hình thức Việt chủ trương nối kết giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống và tự do, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, quan trọng hơn giữa bán cầu não trái và phải trong sáng tác. Chủ trương như vậy không hề có trong thơ Tân hình thức Mỹ. Nhưng không ngờ, trong thơ dịch, Tân hình thức Việt cũng có khả năng nối kết cả hai thể loại thể luật và tự do của thơ tiếng Anh.

Nhưng loại thơ này trong thơ Mỹ không phải dễ làm. Từ những nhà thơ đã quá cố như Williams Carlos Williams, Frank O’ Hara cho đến những nhà thơ đương thời như Tom Riordan, Phillip A. Ellis lâu lâu mới có một bài, còn đa phần là những bài thơ tự do thông thường. Vì thế, tuy không được coi là cách làm thơ chính thức, nhưng đang được phổ biến. Điều ghi nhận, một số nhà thơ trẻ hiện nay, cũng có khuynh hướng làm loại thơ dòng ngắn này nhưng bằng luật tắc thơ thể luật chứ không phải thơ tự do.

Trở lại thơ Tân hình thức Việt, với những khám phá về não bộ, những sáng tác trước đây cần có sự chuyển hướng mới. Sáng tạo đòi hỏi sự kết hợp cả hai bán cầu não phải và trái. Thơ không thể chỉ sáng tác với một bán cầu não phải hay trái. Dù thơ Tân hình thức Việt chủ trương phối hợp giữa thơ truyền thống (bán cầu não phải) và thơ hiện đại (bán cầu não trái), nhưng thực tế những bài thơ vẫn thiếu sức tưởng tượng, cảm xúc và nhịp điệu, đồng thời nội dung chưa thoát khỏi nội dung của những dòng thơ cũ. Thơ Tân hình thức Việt chắc chắn sẽ còn thay đổi nhiều, khi những nhà thơ tài năng thuộc thế hệ sau, có khả năng tổng hợp giữa cách làm thơ Tân hình thức và những chức năng sáng tạo trong não bộ.

Dana Gioia

PITY THE BEAUTIFUL

Pity the beautiful,
the dolls, and the dishes,
the babes with big daddies
granting their wishes.
Pity the pretty boys,
the hunks, and Apollos,
the golden lads whom
success always follows.
The hotties, the knock-outs,
the tens out of ten,
the drop-dead gorgeous,
the great leading men.
Pity the faded,
the bloated, the blowsy,
the paunchy Adonis
whose luck’s gone lousy.
Pity the gods,
no longer divine.
Pity the night
the stars lose their shine.

TỘI NGHIỆP NGƯỜI ĐẸP

Tội nghiệp người đẹp, những người đàn
bà hấp dẫn, những người đàn bà
thon gọn, những người đàn bà trẻ
với những nhân tình ra vẻ, đang
Ban phát cho họ những ước muốn.
Tội nghiệp những chàng đẹp trai, những
chàng trai lực lưỡng, và những chàng
trai nam tính, những chàng trai vàng
Mà sự thành công luôn luôn bám theo.
Những người lôi cuốn sự thèm muốn,
những người cám dỗ không cưỡng được,
những người ở hạng thóp, những người
Ngọai hạng, những người đàn ông hàng
đầu hết sẩy. Tội nghiệp kẻ tàn
lụi, kẻ béo phị, kẻ nhếch nhác,
chàng đẹp trai nay đã bụng phệ
Sự may mắn đến nước tồi tệ.
Tội nghiệp những vị thánh không còn
thiêng, tội nghiệp đêm, những vì
sao đánh mất sự chói sáng.

Ghi chú
Apollos và Adonis là những vị thần thời cổ đại La Hy, chỉ những chàng đẹp trai. Bài nguyên tác thì kiệm lời, nhưng bản dịch thì nhiều lời để làm rõ ý, một phần vì bài thơ dùng nhiều tiếng lóng.

Tiểu sử: Dana Gioia là một tác giả đa dạng, là nhà thơ, nhà phê bình, nhà giảng dạy. Ông sinh năm 1950, đã xuất bản hai tập thơ Daily Horoscope và The Gods of Winter. Ông cũng đã xuất bản tập tiểu luận nổi tiếng, Can Poetry Matter? (tiểu luận Can Poetry Matter đã được dịch và đăng trên Tạp chí Thơ số 20, mùa Xuân 2001). Tập thơ dịch Motteti: Poem of Love của Eugenio Montale. Cùng với William Jay Smith biên tập Poems from Italy, và với Michael Palma, New Italian Poets. Ông biên tập cuốn The Ceremony and Other Stories của Weldon Kees. Tác phẩm mới nhất của ông, 99 Poems: New & Selected, xuất bản năm 2016. Tác phẩm của ông xuất hiện trên The New Yorker, The Hudson Review, và nhiều tạp chí khác.

Ông soạn nhiều tuyển tập như Twentieth-Century American Poetry (Thơ Mỹ thế kỷ 20), 100 Great Poets of the English Language (100 nhà thơ nổi tiếng ngôn ngữ Anh), The Longman Anthology of Short Fiction, Literature: An Introduction to Fiction, Poetry, Drama, and Writing (Sách văn học soạn cùng với W. J. Kennedy, 2000 trang, tái bản lần thứ 7 vào năm 1999).

Ông được tổng thống George Bush bổ nhiệm là chủ tịch Quĩ Ủy ban Yểm trợ Nghệ thuật, NEA (National Endowment for the Arts), với sự chuẩn thuận của Thương viện, nhiệm kỳ 2005-2009. Ông cũng được thống đốc Edmund G. Brown bổ nhiệm là Nhà thơ Danh dự Tiểu bang California (Poet Laureate of California), với sự chuẩn thuận của thượng viện tiểu bang, nhiệm kỳ 2015-2017. Ông hiện giảng dạy về thơ và văn học đại chúng (Poetry and Public Culture) tại University of Southern California, Los Angeles.  Xin đọc thêm trên website của ông www.danagioia.com

Ông cũng cộng tác với Báo Giấy, Poetry Journal In Print, cùng với các nhà thơ Frederick Turner, Frederick Feirstein, William B Noseworthy, Alexander Kotowske, Angela Saunders tham gia cuộc hội thảo “Thơ Tân Hình Thức Việt: Tiếp Nhận và Sáng Tạo”, do Sông Hương tổ chức năm 2014, tại Huế. Những tiểu luận và thơ dịch của ông xuất hiện trên Tạp chí Thơ, Báo Giấy, Sông Hương, Poetry Journal In Print, các website www.thotanhinhthucviet.vn, www.thotanhinhthuc.org, www.vanviet.info … với các dịch giả như Điểm Thọ, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phạm Kiều Tùng … Ông cũng là người tổ chức buổi đọc thơ song ngữ Anh Việt, tại quận Cam, California ngày 20 tháng 11, 2016, trong chương trình đọc thơ khắp 58 quận thuộc tiểu bang California của nhà thơ danh dự tiểu bang, với sự tham gia của Khế Iêm và nhà nghiên cứu âm nhạc trẻ Tina Hùynh.

Williams Carlos Williams

COMPLETE DESTRUCTION

It was an icy day.
We buried the cat,
then took her box
and set fire to it
in the back yard.
Those fleas that escaped
earth and fire
died by the cold.

SỰ HỦY DIỆT HOÀN TOÀN

Đó là một ngày giá
lạnh. Chúng tôi chôn cất
con mèo, rồi mang cái
hộp dùng để đại tiện
của nó đốt ngoài sân
sau. Những con bọ chét
thóat khỏi đất và lửa
chết vì lạnh.

Tiểu sử: Williams Carlos Williams (1883-1963), sau Ezra Pound, ông là một nhà thơ quan trọng của phong trào Hình tượng (Imagist). Nhưng quan niệm sáng tác, đơn giản, dễ hiểu và ý tưởng sâu sắc, lại hoàn toàn khác hẳn những nhà thơ như T. S. Eliot và Ezra Pound. Ảnh hưởng của ông bao trùm suốt thế kỷ 20, đặc biệt là những nhà thơ trẻ Mỹ thập niên 1950s, 1960s.

Tom Riordan

THE CAR WINDOW

shattered into empty
sunflower husks
on the macadam
and inside the bar
a woman spit glass
into a tin ashtray
and told her lover
that neither of them
was ever going to
hit the other again.

KÍNH CỬA XE

bị đập bể trông giống những
vỏ rỗng hạt của hoa hướng
dương trên đường trải nhựa và
bên trong quán rượu một người
đàn bà nhổ chiếc răng gẫy
vào cái gạt tàn bằng thiếc
và bảo người bồ rằng không
một ai trong bọn chúng vào
bất cứ lúc nào được đi
đánh kẻ khác lần nữa.

  • Glass: ám chỉ chiếc răng gẫy.

 

Tom Riordan

IMAGE THE SCAVENGER’S ECSTASY

as he lowers himself into the bin
and opens up the first big bag—
this, after a week of mostly slugs
and chewing over last year’s pretty
much worked-over hickory nuts.

Each night he tries the Italian deli’s
door and tonight it was unlocked—
each night he propositions every
girl in the shot-&-beer joint and
tonight every one of them said yes.

He doesn’t need an eternity of bliss.
One single glorious night like this,
and then each night recalling it,
and hoping that it happens again,
is paradise enough for a raccoon.

 

TƯỞNG TƯỢNG SỰ NGÂY NGẤT CỦA KẺ
VIẾT VĂN DÂM Ô

Như hắn tự thả mình trong thùng rác
Và mở cái bao lớn đầu tiên – điều
này, sau một tuần ăn hầu hết những
con ốc sên và nhai hết những hạt
mại châu héo khô hơi nhiều năm ngóai

Mỗi đêm hắn thử một cửa hàng Ý
và đêm nay cửa hàng mở cửa – mỗi
đêm hắn gạ gẫm một cô gái ở
quán rượu rẻ tiền và đêm nay mỗi
cô đều đồng ý. Hắn không cần niềm

vui sướng vĩnh cửu. Một tối lẻ loi
huy hòang như vầy, và để rồi mỗi
đêm nhớ lại, và hy vọng trở lại
đó là vườn địa đàng đủ cho một
con gấu trúc.

Tiểu sử: Tom Riordan hiện cư ngụ tại tiểu bang New Jersey. Ông từng là nhà biên tập (editor) một website về thơ nổi tiếng www.poetrycircle.com. Ông cộng tác với webtesite thotanhinhthuc.org, mục “Tiếng Thơ Khác” (Other Poetry Voices). Ông viết bài điểm sách cho tuyển tập Thơ Kể (Poetry Narrates), và bài giới thiệu cho tập thơ “Dấu Quê” (Traces of my Homeland). Nhiều bài thơ của ông khá gần với thơ Tân hình thức Việt.

Frederick Feirstein

SHAKESPEARE

If I could live a Muslim cabbie’s day
Driving in traffic, parking at noon to pray
In 96th Street’s Mosque, I’d stop to chat
With vendors hawking fruit, pashminas, books
Even about my centuries of fame;
If I could be a New York City hack
I’d give up every sonnet, every play,
Not in disgrace with men’s eyes, not in shame
For just one sandwich stuffed with sizzling fat
Plump Falstaff in a greasy apron cooks,
I’d take blank time, not scripted Fortune, back.

SHAKESPEARE

Nếu tôi có thể sống một ngày của
Người tài xế taxi Hồi giáo lái
Trong lúc đông xe, ngừng lại buổi trưa
Cầu nguyện tại Thánh đường Hồi giáo đường
96, tán gẫu với những người bán
Trái cây, khăn trùm đầu, sách, ngay cả
Hàng thế kỷ tăm tiếng của tôi; nếu
Tôi có thể là người tài xế taxi
Ở thành phố New York, tôi  sẽ từ
Bỏ mỗi bài thơ, mỗi vở kịch, không
Được trọng vọng dưới mắt mọi người, không
Xấu hổ với chỉ chiếc bánh sandwich
Nhét đầy mỡ nóng do Falstaff béo
Tròn mặc tạp dề dính dầu mỡ làm,
Tôi chọn một tương lai mở, không
Phải thứ tương lai tiền định, ngược đời.

Ghi chú
Sir John Falstaff là nhận vật trong kịch William Shakerspeare.

Tiểu sử: Frederick Feirstein là một nhà thơ quan trọng trong phong trào Thơ Tân hình thức Mỹ (New Formalism Poetry). Ông cũng là kịch tác gia (đã có cả mươi mười hai vở được diễn ở New York), nhà viết kịch bản phim và truyền hình. Frederick Feirstein đã cho xuất bản tám tập thơ. Ông đã đoạt được những giải thưởng văn học sau đây: Giải thưởng Thơ của Guggenheim Fellowship, Giải thưởng Thơ của Society of America’s John Masefield, Giải thưởng Thơ của England’s Arvon, và Giải dành cho Kịch nghệ của Rockefeller Foundation’s OADR.

Ông là người đồng sáng lập phong trào Expansive Poetry và là người tạo ra chương trình đọc sách của nhà Barnes & Noble. Tiểu sử của ông được ghi trong Dictionary of Literary Biography và tiểu sử tự thuật của ông được ghi trong Contemporary Authors Autobiography Series.

Ông công tác với webtesite thotanhinhthuc.org, mục “Tiếng Thơ Khác” (Other Poetry Voices). Ông viết bài giới thiệu cho tập Thơ Khác (Other Poetry). Ông cũng cộng tác với Báo Giấy, Poetry Journal In Print, cùng với các nhà thơ Frederick Turner, Dana Gioia, William B Noseworthy, Alexander Kotowske, Angela Saunders tham gia cuộc hội thảo “Thơ Tân Hình Thức Việt: Tiếp Nhận và Sáng Tạo”, do Sông Hương tổ chức năm 2014, tại Huế. Những tiểu luận và thơ dịch của ông xuất hiện trên Tạp chí Thơ, Báo Giấy, Sông Hương, Poetry Journal In Print, các website www.thotanhinhthucviet.vn, www.thotanhinhthuc.org,

Phillip A. Ellis

DEAD, WHITE WOOD

Out of the futile grasp
of ghost-white ghost gums,
a cold moon rising,
coloured the hue
of cold smoke furling in flat,
florescent shapes
that were formed beneath
an overarching lamp
falling asleep in the declining
hours of sinking mercury,
and sleepiness settling
like emptied dreams
lazily turbulent
as from cigarettes,
ash-grey as moons
in ghost gums’ ringbarked grasps,
I dream of the trees
marching towards me,
an orchard of dead, white
wood.

KẺ CHẾT, RỪNG TRẮNG

Thoát ra khỏi sự nắm bắt
vô vọng của những cây bạch
đàn ma – ma trắng một mặt
trăng lạnh nhô lên tô điểm
sắc thái một làn khói lạnh
gợn theo bề mặt tạo thành
những hình dạng huỳnh quang bên
dưới ngọn đèn trăng bao quát
như ai đó thiếp ngủ lúc
nửa đêm về sáng khi hàn
thử biểu xuống thấp thấm lạnh
và sự ngái ngủ làm thư
dãn như những giấc mơ trống
rỗng lộn xộn một cách uể
oải được nhả từ khói của
những điếu thuốc lá đầu ngày
và màu xám tro không khác
gì những mặt trăng phản ánh
từ những khoanh nhẫn của vỏ
những cây bạch đàn ma, tôi
mơ những cây bạch đàn ấy
bước đều về phía tôi, vườn
cây của kẻ chết, rừng trắng.

* ghost gums: một loài cây có vỏ trắng. Ringbarked: vòng vỏ cây bị gỡ bỏ, nguyên nhân làm cho cây chết; bị coi là bất hợp pháp ở Úc.

Tiểu sử: Phillip A. Ellis, nhà thơ Úc, sinh năm 1968, một học giả và nhà phê bình. Tuyển tập thơ, The Flayed Man, đã được xuất bản bởi Gothic Press (http://www.gothicpress.com/) và đang hoàn tất một tuyển tập khác cho nhà xuất bản Diminuendo Press. Nhà xuất bản Hippocampus. Ông công tác với webtesite thotanhinhthuc.org, mục “Tiếng Thơ Khác” (Other Poetry Voices).

Khế Iêm chuyển dịch
Tranh: Onteniente by Clark Hulings
http://www.huffingtonpost.com/brandon-kralik/the-enduring-legacy-of-clarl-hulings_b_5431803.html
 

SINH KHÍ THƠ CỦA TAM KHOA

Frederick Turner

 

Dĩ nhiên, khi để chữ “Tam Khoa” trong tựa đề, tôi muốn nói đến những thứ liên quan tới chương trình giáo dục cổ điển – “ba phương pháp” – văn phạm, lý luận và tu từ. Và tranh luận tôi muốn đưa ra ở đây là chúng ta cần xem xét lại những môn học này như là nền tảng thiết yếu cho thơ (là thứ thơ) mà người ta có thể thực sự đọc được và nhận thấy có giá trị.

Qua vài năm gần đây, ngày càng có nhiều chú ý đến sự thất thoát của thể và luật trong nghệ thuật thơ. Bàn luận về hình thức thơ thì quan trọng, nhưng có lẽ cốt yếu hơn nữa là bàn luận về nội dung, thực chất, và những chủ đề của thơ. Chiếc cầu nối giữa cái này với cái kia theo truyền thống là Tam Khoa – thế nào để tập hợp tư tưởng và cảm xúc vào trong chữ, thế nào để đạt được sinh khí mạch lạc, một sinh lực nói ra điều gì đó quan trọng và lý thú với một tác động thích hợp và đáng nhớ. Văn phạm đặt người nói và người nghe vào cùng một đẳng cấp ngôn ngữ học, tự nó thiết lập ra mã luật, qua đó, thông điệp được gởi đi và nhận lại: những thứ nào được kể ra. Lý luận biểu lộ tính cần thiết của quan hệ giữa tiên đề và bằng chứng viện dẫn trong thông điệp và kết luận rút ra từ đấy: thế nào mà những thứ ấy được biết đến. Tu từ thêm da thêm thịt hay tạo ra thể hình cho lý luận trong điều kiện cảm xúc và đam mê, kêu gọi ký ức kết hợp có chung của chúng ta như là minh họa của thông điệp: thế nào mà các thứ ấy truyền thông với nhau. Tu từ dùng những nguồn đặc ngữ phong phú của ngôn ngữ để vạch ra sắc thái tinh tế của châm biếm, mâu thuẫn, ngờ vực, tiếc nuối, nhạo báng, v.v…, thích hợp với đàm luận; và lôi cuốn chúng ta tiếp tục lắng nghe bởi sự khôn ngoan, hồi hộp, và mê hoặc của nó.

Cả ba yếu tố của Tam Khoa đều nằm dưới sự tấn công ý thức qua nhiều thập niên. Văn phạm cũng bị nghi ngờ là một thứ áo trói chuyên quyền, buộc tâm trí người sử dụng ngôn ngữ phù hợp với tiêu chuẩn văn hóa xã hội của ông hay bà ấy, (bằng cách) khéo léo cài đặt trong những luật tắc văn phạm. Những nhà ký hiệu học như Saussure, những triết gia như Derrida, những nhà xã hội ngôn ngữ học như McLuhan, các nhà khảo cổ học như Lévi-Strauss, và ngôn ngữ đối chiếu học như Sapir và Whorf đã thử (với những lý do cao nhã nhất) để xoáy mòn lòng tin của chúng ta vào chính những mã hiệu mà ta dùng để giao tiếp với nhau.

Lý luận cũng vậy, cũng bị tấn công. Đối với lối tiếp cận Lãng mạn cũ rằng lý luận biểu hiện tính hiện thực của lý trí, không phải của con tim, bị buộc thêm những tội xa hơn nữa, rằng lý luận là một phát minh phương Tây, một công cụ thuộc địa, một phương tiện dương tính của thống trị, một bào chữa cho sự khai thác khuyến mãi, một phương pháp giảm thiểu sự xa lạ hóa. Foucault còn đi xa đến độ đặt ra định đề vô ước tính cấp tiến của những hệ thống chú giải bản văn cổ điển khác nhau, những “chính thể sức mạnh và kiến thức” khác nhau, làm cho bất cứ khái niệm nào về trao đổi giữa ngôn ngữ và “thế giới thật” huyền thoại, thành ảo tưởng. Feyerabend và Latour còn đi xa hơn thế, nghi ngờ ngay cả tính hợp lệ của các ngành khoa học, kẹt trong một hệ thống hợp lý mà tự nó không thể cải thiện.

Sự tấn công vào Tu từ có từ xưa hơn nữa, kể từ những nghi vấn thời Ánh sáng, về chỗ đứng của nó trong  diễn tả các sự thực nguyên thủy, và sự ngờ vực của Puritan hay Jansenist về vị trí của nó trong tôn giáo xác thực. Chính tự chữ “tu từ”, trừ khi được định giá bởi vài ba thành ngữ như “ngành tu từ,”  có nghĩa, trong lối nói bình thường, là “kể chuyện huyên thuyên,” (spin), “dài dòng” (verbiage), hay “tào lao” (flim-flam). Eliot phàn nàn về tu từ của Milton, Williams đòi hỏi “No ideas but in things,” (Mọi tư tưởng, ý nghĩa tự chúng đã nằm sẵn trong vật thể mà tác giả nhắc đến), MacLeish thì tuyên bố “một bài thơ không nên có nghĩa mà chỉ nên là bài thơ.”

Trong những năm gần đây, bắt đầu có một thứ gọi là phản công  trong thế giới ngôn ngữ học và khoa học thần kinh chống lại kiểu vứt bỏ những cách cổ điển này để nối lại sinh khí mạch lạc (articulate energy). Gây ấn tượng hơn nữa, Chomsky cho thấy rằng trong tất cả mọi ngữ pháp của thế giới con người có một cú pháp cơ bản nằm sâu bên dưới, và Steven Pinker và những người khác nối kết cú pháp này với sự tiến hóa có chung của chúng ta. Như vậy, chỉ một cú đánh, hình như vậy, hai học thuyết hậu hiện đại lỗi thời này bị hủy diệt. Nếu ngữ pháp là một luật tắc giả tạo, ít ra nó cũng được chia sẻ bởi tất cả con người, và đã chứng tỏ tính áp dụng có lợi của nó trong thế giới thật bởi sự kiện rằng chúng ta đã sống sót và thịnh vượng nhờ vào cách sử dụng nó. Và nếu nhân loại bởi đặc tính tự nhiên là những con vật dùng-ngữ-pháp, thì tiền đề cốt yếu nổi lên từ mồ mả ông cha một cách ớn lạnh rằng – chúng ta có một đặc tính tự nhiên, và rằng đặc tính ấy có phần trừu tượng và cú pháp.

Giống như vậy, lý luận cũng tìm được những cách đẩy lui kẻ thù, như vạch ra theo toán học rằng nhiều lý luận khác nhau có thể cùng hiện hữu một cách hòa đồng (lý luận cổ điển, Boolean lý luận, fuzzy logic, lý luận lượng tử, ngoại lý luận và nội lý luận, v.v…) mà không hề thôi không còn là lý luận và không có chướng ngại chuyển dịch ở những biên giới hổ tương của chúng. Vài ba nơi nào khác trong vũ trụ (dường như đã lấy lại được đặc quyền thật sự hiện hữu ngoài kia) hoạt động tùy theo những lý luận khác nhau: nhưng những lý luận này có thể hòa thuận với nhau trong cùng một vũ trụ đàm luận, giống như chúng đã từng làm thế trong cùng một vũ trụ của các thứ.

Và tu từ, cũng vậy, dường như đang trở lại như là một thứ không cần thiết phải là xấu xa. Dưới cụm từ “tu từ của,” ít ra nó đã biến thành một từ trung tính, bao hàm các thứ như “nghệ thuật của”, “văn hóa của”, hay ngay cả “vở kịch lý thú của” như trong câu “tu từ của thời trang y phục/tiểu thuyết/nấu ăn kiểu Pháp/kiểu tóc người da đen/thiết kế xe theo ý riêng/tôn giáo/rap/dân chủ,” v.v… Như quảng cáo (Mad Men), kỹ thuật cao (Jobs, The Social Network) và kinh doanh (Mr. Selfridge) đã biến thành đáng nể, chúng ta bắt đầu nhận ra những cú đẩy tương đối vô hại cho kinh tế mà trình bày mang tính thuyết phục có thể mang lại. Những thầy cô dạy viết văn cấp tiến còn thúc giục học trò của họ “bán” khái niệm trong truyện hay nhân vật hay quan điểm của mình cho độc giả – và bán ở đây theo cái  nghĩa là không có gì nhiều hơn hay ít hơn là tu từ cả.

Cho nên, nếu chúng ta mang Tam Khoa trở lại trong thơ, điều gì chúng ta mong mỏi sẽ xảy ra? Tôi muốn bắt đầu bằng cách minh họa thế nào mà thơ có lẽ đã chịu đựng sâu xa từ những khái-niệm-có-ý-tốt của “làm cho  mới,” bằng cách lấy đi xương và gân là những thứ giúp nó đứng vững, cử động, và có một vai trò tích cực trong thế giới. Một phần bị thôi thúc bởi sự hiểu lầm về những lời khen của Ezra Pound về ngôn ngữ hình tượng của thơ Trung hoa, các nhà thẩm quyền về thơ – thầy cô dạy sáng tác, các lớp thực tập, biên tập viên – cho rằng các nhà thơ nên lấy ra tất cả mọi ngữ pháp không thi vị, và chú trọng ý nghĩa vào một chuỗi hình ảnh. Thành công của Pound trong việc biên tập “The Waste Land” biến thành viên thuốc độc cho thơ nói chung. Thử khảo sát bài thơ sau đây:

cái chết
kêu gọi
lật đổ
chết cái chết giết tôi
nghỉ ngơi giấc ngủ hình ảnh
lạc thú tuôn trào
người ta đi
nghỉ ngơi xương linh hồn giao
nô lệ số phận may mắn các vua bọn đàn ông liều mạng
thuốc độc chiến tranh bệnh hoạn trú ngụ
giấc ngủ thức giấc
cái chết cái chết chết.

death
called
overthow
die death kill me
rest sleep pictures
pleasure flow
men go
rest bones soul delivery
slave fate chance kings desperate me
poison war sickness dwell
sleep wake
death death die.

Không tệ lắm một bài thơ trung học đệ nhị cấp, tự nhiên đầy những sáo ngữ, diễn tả nỗi lo lắng tuổi trẻ và mảnh vụn cảm xúc tôn giáo. Dĩ nhiên đó là phiên bản thực tập bài thơ “Death be not proud:” của John Donne; kịch tính đầy kinh ngạc của nhà thơ, tháo lui trước sự tiến tới lặng lẽ của kẻ thù, ném ra những tranh luận mâu thuẫn bất lực và hỗ tương, như ném đồ sành sứ, trong gọng kềm báo oán của ông. Donne đã làm hết mọi thứ bằng ngữ pháp:

Cái chết, chớ nên kiêu hãnh, cho dù vài người đã cầu ngươi đến|
Mạnh mẽ và kinh khiếp, bởi vì ngươi không là thế,
Đối với những người ngươi nghĩ rằng ngươi lật đổ
Chết không, Cái Chết tội nghiệp, ngươi cũng chưa thể giết tôi.
An nghỉ và ngủ chỉ là những hình ảnh cái chết của ngươi,
Nhiều lạc thú; từ anh phải tuôn trào nhiều hơn,
Và sớm nhất những người tốt nhất của chúng ta sẽ đi với ngươi,
Thân xác an nghỉ, và linh hồn được giao phó.
Ngươi là nô lệ của số mệnh, may rủi, các vua và bọn liều mạng,
Và với độc dược, chiến tranh, và bệnh hoạn cư ngụ,
Và thuốc phiện hay bùa mê cũng làm ta ngủ vậy
Và tốt hơn cả cú đánh của ngươi, thế thì tại sao ngươi vênh váo?
Một giấc ngủ ngắn đã qua, chúng ta thức mãi mãi
Và không còn cái chết nào nữa. Cái chết, ngươi sẽ chết.

Death, be not proud, though some have called thee
Mighty and dreadful, for thou art not so;
For those whom thou think’st thou dost overthrow
Die not, poor Death, nor yet canst thou kill me.
From rest and sleep, which but thy pictures be,
Much pleasure; then from thee much more must flow,
And soonest our best men with thee do go,
Rest of their bones, and soul’s delivery.
Thou art slave to fate, chance, kings, and deperate men,
And dost with poison, war, and sickness dwell,
And poppy and charms can make us sleep as well
And better than thy stroke, why swell’st thou then?
Out short sleep past, we wake eternally
And death shall be no more, Death, thou shalt die.

Chuỗi tiếp nối của bài thơ, của mệnh lệnh, những mệnh đề lệ thuộc, điều kiện, đại từ quan hệ, lối cầu khẩn, và những dấu mốc thời gian, kết thúc bằng một câu hỏi và một mệnh lệnh khác, tóm lược toàn thể thân bài của một phấn đấu tâm linh đã đặt chồng lên, suốt cả lịch sử dài của suy đoán thần học, và rồi xếp chồng lên với nhiều lớp châm biếm, tùy theo trường hợp của độc giả, người kể chuyện, nhà thơ, và Thượng Đế mà nhà thơ cố gắng phục vụ. Thứ tự hoàn thành của tam khoa có mặt: ngữ pháp, mà chúng ta đã khảo sát; lý luận, như đã được  minh họa bởi những mâu thuẫn đáng thương ở giữa bài thơ (ông chứng minh cái chết là tốt đẹp, rồi kinh tởm, rồi tốt đẹp, rồi lại kinh tởm), và tu từ trong nhiều trớ trêu và tác động cảm xúc đi từ sợ hãi, hợp lý hóa, hy vọng, và bất chấp. Và ngay cả khi chúng ta cho phép ngữ pháp có mặt, bài thơ chỉ là một chuỗi sáo ngữ của ‘các nhà truyền giáo’ mà không có hàm ẩn bi kịch và hàm ẩn chiều sâu tâm lý trong vở kịch lý luận và tu từ. Tôi đã mượn kỹ thuật của Donne trong bài trả lời của riêng tôi cho ông:

Gởi Donne trong Quan Tài

Cái chết không tự hào, mà kiên nhẫn. Hắn có thể đợi,
Vì thời gian, và xử trí, luôn luôn về phe hắn.
Sự khiêm tốn của cái chết nổi tiếng trong tranh luận,
Kẻ chiến thắng bởi số mệnh không cần đến kiêu hãnh.

Hãy để người thua cân nhắc cái gì họ có trong tay,
Cái gì còn lại của thời gian và sinh lực:
Không cần nhắc đến họ đứng nơi nào!—
Rồi họ sẽ nghiêng chào điều tất yếu.

Thật vậy, tại sao lại mếch lòng trước khốn cùng của họ?
Cái chết sẽ vỗ vai khi họ đến nơi.
Có thể tệ hơn thế – tệ hơn đấy là không có trí khôn –
Ít ra họ biết không thể còn chống cự.

Cái chết cho phép chúng ta giữ kiếm của mình và để ý đến thái độ của hắn,
Ngã mũ đen của hắn trong lúc chúng ta hạ cờ.

Death is not proud, but patient. He can wait,
For time, and tact, are always on his side.
Death’s humbleness is famous in debate,
The fated winner has no need for pride.

Let losers ponder what they have in hand,
What still remains of time and energy:
No need of a reminder where they stand!—
They will soon bow to the necessity.

Indeed, why take offence at their distress?
Death pats them on the back when they come around.
It could be worse – worse would be witlessness—|
At least they knew they could not hold the ground.

Death let us keep our swords and mind his manners,
Doffing his black hat as we strike our banners.

(Light: A Quarterly of Light Verse 56-57 (Spring-Summer 2007) p.61)

Theo Donne, tôi trông cậy một cách đích xác vào những đặc ngữ và khẩu hiệu thường bị chỉ trích trong các lớp thực tập: “time is on his side,” “famous in debate,” “no need of a reminder,” “have in hand,” “why take offence,” “pat on the back,” “come round,” “it could be worse,” “hold the ground,” “keep your sword,” “mind your manners,” “doffing his hat,” “strike his banners.” Tôi nghĩ rằng cả bài thơ sẽ biến mất trong một thứ lớp thực tập như thế. Chính là ngữ pháp, lý luận và tu từ của bài thơ đã mang lại thứ đời sống nó có.

Có thể, hay hơn nữa, là cách dùng tài giỏi những clichés của Dana Gioia lấy từ văn hóa quảng cáo và phổ thông trong bài thơ “At the Waterfront Café”, trong cuốn Interrogations at Noon (Graywolf Press, p. 37). Sau đây là vài câu:

Cập bến bờ sông êm ả, những chiếc thuyền đong đưa dưới nắng
Trong khi thuyền trưởng ghé uống rượu pha và kể lại cuộc đua họ đã tham dự.
Binh lính trong quân phục ka-ki, chiếm đóng quán cà phê thời thượng.
Smirnoff (vodka) leng keng trong ly của họ. Không ai uống nước suối Perrier.

Trong bãi, người giúp đậu xe
Phơi nắng bên chiếc Mercedes bóng loáng
Cho đến khi có khách thúc dậy
Hỏi đường đến nhà vệ sinh nữ.

Trong khi đó ở bàn cạnh bến tàu, trinh khiết trong giày tennis trắng,
Suy tính cách nào ít ca lô ri nhất để cầm lòng thèm ăn của họ,
Hai hội viên Thanh Niên đẫm mồ côi, mệt rã sau trận đấu một chọi một.
Kiên cường họ chọn chén trái cây và một ly Haut-Brion.

Trong khi đó, tựa những nhà ngoại giao lớn
Với thanh lịch và nghệ thuật quản lý,
Từ những tàn tích của một bữa ăn trưa
Bồi bàn bới lấy tiền buộc boa của mình…

Docked beside the quiet river, yachts are rocking in the sun
While their skippers stop for cocktails to replay the race they’re run.
Military in their khakis, they invade the chic café.
Smirnoff tinkles in their tumblers. No one’s drinking Perier.

In the partking lot a valet
Sunbathes by a sleek Mercedes
Till he’s prodded by a matron
For directions to the Ladies’.

Meanwhile at a dockside table, virginal in tennis whites,
Figuring the least caloric way to staunch their appetites,
Sit two sweaty Junior Leaguers, wilting from their one-on-one.
Stoically they choose the fruitcup and a glass of Haut-Brion.

Meanwhile like great diplomats
With elegance and statesmanship,
From the ruins of a luncheon
Waiters excavate their tip…

Sự pha chế âm tiết nhấn không nhấn (trochaic) tinh tế này sẽ vô khả thi nếu không có đầy đủ các phương kế Tam Khoa. Gioia biết các thứ gọi là gì, sắp xếp chúng lại với độ chính xác hợp lý một cách đâu ra đó, và phân phối cho chúng sự dồi dào cảm xúc và thái độ tinh tế phức tạp một cách tu từ. Sẵn đây, kết cuộc bài thơ hoàn toàn ngược lại bất cứ mong mỏi nào cho rằng bài thơ này chỉ trích bọn nhà giàu theo đúng tiêu chuẩn chính trị phải đạo (politically-correct):

Nhưng đêm nay tôi hy vọng họ sẽ phồn vinh,
Họ có nông cạn không? Mặc kệ.
Ghen tuông thì quá sức bình thường,
Phong cách và nét đẹp quá sức hiếm hoi.

But tonight I hope they prosper,
Are they shallow? I don’t care.
Jealousy is all too common,
Style and beauty much too rare.

Ta thử lấy vài thí dụ ngẫu nhiên viết bởi các nhà thơ đương đại có để ý đến các phương kế Tam Khoa:

Giờ thì tôi sẽ định nghĩa tình yêu chân thật.
Đừng lo – tôi sẽ không nhu nhược hay mềm yếu, đấy sẽ không
Là một đống tào lao ủy mị. Tôi không
Miêu tả nó bằng biểu tượng an bình. [turtle-dove: symbol of peace]
Cho tôi một cơ hội. Nó sôi bọt lên
Loại dung nham đó, quá nóng để sờ hay biết,
Bởi vì nó vừa đốt vừa tạo ra. Chỉ nên nhìn nó đi
Qua những con đường nhỏ của điều chúng ta nói
Chúng ta nghĩ rằng mình biết mình là đấy.

(trích từ bài thơ “What Love Is” của David Rothman trong The New Formalist, tháng 4, 2011)

Cụm từ “the little roads of what we say/We think we know we are” dùng nguyên cả nghĩa rộng của tính đệ quy đối với Chomsky chỉ định tính đặc thù của ngữ pháp nhân loại, để nói đến một thứ gì đó không thể nói được. Chúng ta là thứ gì đó; có lẽ chúng ta biết mình là cái gì; ít ra chúng ta nghĩ rằng mình biết; hay có thể chúng ta chỉ nói rằng chúng ta nghĩ vậy, nhưng không thể chắc được rằng mình thật sự có niềm tin đó. Và rồi ông dẫn dung nham chảy qua suốt cả cơ cấu (bài thơ).

Hay thử lấy những câu này trong “The Stone Mason” của Jan Schreiber:
Và từ từ thứ ấy thành hình,
nhận lấy thể hình mà ông nói ông đã làm để dựng ra
mặc dù chi tiết ẩn chứa vài ngạc nhiên nào đó
và có những chỗ ông nói rằng ông đã thất bại.

And gradually the thing materializes,
assumes the shape he’d say he worked to build
although the details harbor some surprises
and there are places where he’d say he failed.

(trong The Poem Tree: An Online Poetry Anthology http://www.poemtree.com/poems/StoneMason.htm)

Giống như Rothman, ông đùa với sự khác biệt giữa “worked to build that shape” và “say he worked to build that shape,” và thêm vào đấy sự mơ hồ của “would” trong những cụm từ lập lại “he’d say.” Có phải ông luôn luôn có thói quen nói rằng (“would say”) đấy là cố tình, hay dĩ nhiên đấy là ông “would say”, hay phải nhìn nhận rằng toàn thể thứ đó ít nhiều được thành hình bởi ngẫu nhiên và hoàn cảnh – hay đấy là trong lúc xây dựng ông quyết định rằng bản tường trình tương lai của mình về công việc mà ông sẽ giải thích (“would say”) nó bằng cách này và cách này?

Mù mờ thường được khen ngợi bởi những thầy dạy sáng tác văn chương thích hủy cấu trúc hơn. Nhưng những mù mờ này hoàn toàn khác với những mù mờ của bản văn mà tác giả hay độc giả hoặc cả hai, không hiểu được vì nó không có hình dạng ngữ pháp, lý luận hay tu từ. Đó là sự khác biệt giữa một hình ảnh đích thực của đám mây, một mù mờ thật sự, và ảnh mây phủ và không phân biệt được của thứ gì đó – và như vậy là giả mạo – với hình dạng rõ ràng của chính nó. Sự nhầm lẫn này dẫn đến vô số đối tượng ngôn ngữ khó khăn một cách khổ sở tuôn ra đầy trong báo chí thi ca của chúng ta.

Cách sử dụng toàn thể nghệ thuật ngôn ngữ truyền thống có thể được cập nhật hóa một cách năng nổ, như bài thơ mười bốn câu hơi bầm dập như Frederick Feirstein cho thấy, nắm bắt một hồi tưởng chắc chắn là sau-9/11:

As Time Goes By

Đấy là thời đại vàng son chúng ta sống.
Mỗi ngày là mùa hè, tình yêu khắp nơi,
Trong từng mỗi phân tử của khí trời New York
Khi chúng ta trẻ và chỉ tin chính mình.
Đó là thời đại hào quang chúng ta sống.
Mùa hè cuối thế kỷ hai mươi, tình yêu khắp nơi.
Tôi sẽ dừng cạnh em giữa lúc tản bộ để sững nhìn
Em, mua một trái đào, trèo lên bậc thang xe buýt.
Và có những chữ nhưng, nhưng luôn luôn và & và
Ngồi ở công viên Central, viết nguệc ngoạc lên tay nhau,
Và tôi đọc những bài thơ, thứ tiểu thuyết giản dị của mình
Trong vận, vần và lối phát âm của thành phố New York.
Khi chiều dần tàn chúng ta sẽ giữ nụ hôn sậm màu.
Khi buồn, em phải nhớ đến đây.

That was a golden age in which we lived.
Each day was summer, love was everywhere,
In every molecule of New York air
When we were young and just believe in us.
That was a haloed age in which we lived,
Late twentieth-century summer, love was everywhere.
I’d stop beside you on our walks to stare
At you, buying a peach, climbing a bus’s stair.
And there were buts, but always and & and
Sitting in Central, doodling each other’s hand,
And I recited poems, my simple fiction
In meter, rhyme and New York City diction.
As dusk drew near we’d hold a darkening kiss.
When you’re distressed, you must remember this.

(Dark Energy, Grolier Established Poets 2013, p.70)

Lý lẽ của bài thơ này nằm trong sự hồi nhớ thập niên 80, lúc Feirstein nhớ lại, tự chính nó là lúc hồi tưởng, nhớ lại thập niên 60; và thời sùng bái việc hồi tưởng thập niên 40 bắt đầu, mỉa mai thay đã được cất giữ thiêng liêng trong phim Casablanca. Đây là hồi tưởng cho một hồi tưởng cho một hồi tưởng, và tự giễu cợt mình đã làm thế. Dĩ nhiên cả bài thơ đẫm trong âm nhạc của bài hát tựa đề; như vậy Fred và Linda, trong khi đóng vai Bogart và Bergman ở Paris, cũng hoàn toàn xác thực với nhau cùng lúc đó. Lý luận của bài thơ rằng tu từ – tu từ của ám chỉ so sánh – là cách con người sống trong đời sống thật của họ. Chỉ có bên trong cái ma trận mạnh mẽ này của tham khảo văn hóa và thái độ đa cảm gượng gạo mà một câu ngữ pháp tuyệt diệu lạ lùng như thế này mới có thể bất thần chú trọng vào ý nghĩa sâu thẳm nhất:

Và có những chữ nhưng, nhưng luôn luôn và & và.

Thật vậy, không có ý tưởng gì hết nhưng có các thứ!

Trong “Mr. Entropy Meets the Weak Anthropic Principle” của Jack Butler (Broken Halleluhah, Texas Review Press, 2013, p. 58), Butler xoay sở để cô đọng trong mười bốn câu Petrarchan toàn thể lịch sử của vũ trụ; và khảo sát cặn kẽ cho thấy cách nào ông làm được như thế, bằng một xâu thay đổi ngữ pháp và tu từ về véc tơ dòng hay nhấn lệch (syncopation).

Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
như những con nòng nọc trong một hồ cạn nước mưa,
như những con chuột túi trên cánh đồng lóe lửa.
Không có gì biến thành tốt hơn mà không trở nên xấu hơn,
Chính lục địa này, đã giảm rút, sẽ buộc
Khối lượng kinh khiếp của nó thành đá nhão một lần nữa,
Những dãy ngân hà này sập đổ vào lỗ cống đen.
Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
Và nếu nó không chết, chúng ta cũng không tồn tại:
Đời sống hiện hữu trong bao bọc nhỏ nhất,
Từ năng lực tăng nhanh đến khả năng vỡ vụn.
Chất thải của những gì rục rã dựng chúng ta lên.
Tàn rụi của các sao tạo ra trái đất nặng nề này.
Chúng ta chết, và một thứ mới lạ nào đó sinh ra.

We’re born into a dying universe,
like tadpoles in a drying pool of rain,
like pocket gophers on a flaring plain.

Nothing is getting better that won’t be worse.
This very continent, subducted, will force
Its shuddering mass to magma once again,
These galaxies collapse in a black drain.

We’re born into a dying universe,
And if it weren’t dying, we wouldn’t be:
Life catches in the smallest envelope,
Quickens to broken possibility.
The waste of what runs down propels us up.
The ruin of novae made this heavy earth.
We die, and something novel comes to birth.

Bằng cách chia cấu trúc tự nhiên 4-4-3-3 của mười bốn câu Petrarchan ra 3-4-7 ông đã bẻ gãy tính cân xứng của hình thức, giống như thiên nhiên trong thơ của ông bẻ gãy những cân xứng của chính nó để tạo ra những cấu trúc mới. Trong hai đoạn đầu, chúng ta có thể đọc được ý nghĩa qua hai cách – cách ông phân chia ngữ pháp, hay tùy theo phối hợp của vần, như vầy:

Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
như những con nòng nọc trong một hồ cạn nước mưa,
như những con chuột túi trên cánh đồng lóe lửa:
Không có gì biến thành tốt hơn mà không trở nên xấu hơn.
Chính lục địa này, đã co rút, sẽ buộc
Khối lượng kinh khiếp của nó thành đá nhão một lần nữa,
Những dãy ngân hà này sập đổ vào lỗ cống đen:
Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết.

 Nhưng nếu chúng ta đọc kiểu này, khi đến chỗ ngoặt (volta) truyền thống, hay đổi hướng của bài thơ, chúng ta nhận ra mình đã phá vỡ một mảng cốt yếu của ngữ pháp và lý luận, mà với chúng, câu ấy phải được đọc như sau:

Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
Và nếu nó không chết, chúng ta cũng không tồn tại:

Ở đấy Butler đối mặt chúng ta với một mù mờ và phân độ ngữ pháp chính xác: câu này có nghĩa “và nếu vũ trụ không chết, chúng ta cũng không chết” hay “và nếu vũ trụ không chết, chúng ta hoàn toàn không hiện hữu, vì chúng ta sẽ không thể có mặt”? Nhưng đến đây thì điều này không còn là nghịch lý nữa: như Neils Borh đã nói, đối nghịch với một sự thật sâu xa là một sự thật sâu xa khác.

Một cách tự nhiên hai câu kế tiếp giới thiệu chúng ta vào nguồn gốc của đời sống và sự sinh ra của nó trong “khả năng vỡ vụn”. Đến đây, ba câu cuối đóng màn nhào lộn của riêng chúng, đổi từ một kết cuộc Petrarchan qua cặp đôi kiểu Shakespeare (couplet), và tổng kết bằng một cái nện mạnh vào ý nghĩa của toàn thể bài thơ: từ điêu tàn của “các ngôi sao” hiện ra thứ “mới lạ.”

Nói một cách khác, một trong những ích lợi của cách dùng rất chính xác ngữ pháp, lý luận và tu từ là cách ngắt tinh tế trong chúng, những bùng nổ khổng lồ của ý nghĩa có thể được tạo ra. Và tôi không chắc rằng những bùng nổ như thế có thể xảy ra bằng cách nào khác hơn.

Lối sử dụng chính xác cấu trúc ngữ pháp, lý luận và tu từ không phải chỉ là một bài tập thông thái của trí tuệ hay cách hay nhất để đề xuất nghịch lý siêu hình học hay điều bí ẩn: nó cũng có thể là một vũ khí tiềm tàng của diễn tả cảm xúc. Hãy xem xét bài thơ mười bốn câu của Shakespeare (57):

(chúng tôi tạm dịch theo nghĩa đen. Bài thơ này được biết đến là Will – Shakespeare – viết cho một người bạn trai trẻ. Độc giả có thể tìm hiểu nhiều hơn về các bài sonnets của Shakespeare trên mạng).

Là nô lệ của anh, tôi nên làm gì ngoại trừ chờ đợi
bất cứ giờ nào khi anh muốn bất cứ gì?
Tôi không có gì để làm với thì giờ quý báu của mình,
Cũng không có dịch vụ nào khác, cho đến khi anh cần.
Tôi cũng không dám trách móc giờ giấc chậm chạp
Khi tôi trông đồng hồ đợi anh.
Cũng không cay đắng nghĩ đến sự vắng mặt của anh
Khi anh bỏ đầy tớ của anh (là tôi);
Cũng không dám hỏi với ý nghĩ ghen tuông của mình
Nơi nào anh có thể đến, hay đang làm gì,
Nhưng y như một nô lệ buồn bã, tôi chờ đợi và không nghĩ đến gì cả,
Những người chung quanh anh vui sướng ra sao.
Tình yêu đúng là một thằng khờ, trong bất cứ hành động nào anh muốn
Bất cứ gì anh làm, hắn vẫn không nghĩ xấu về anh.

Being your slave, what should I do but tend
Upon the hours and times of your desire?
I have no precious time at all to spend,
Nor services to do, till you require.
Nor date I chide the world-without-end hour
Whilst I, my sovereign, watch the clock for you.
Nor think the bitterness of absence sour
When you have bid your servant once adieu;
Nor dare I question with my jealous thought,
Save, where you are how happy you make those.
So true a fool is love that in your will
Though you do anything, he thinks no ill.  

Cái tài hoa của bài thơ này là thông điệp xúc cảm đích xác đối nghịch với ý nghĩa công khai của nó. Lập đi lập lại chữ “cũng không,” (nor) lên đến nơi cao nhất mà trong đó Will chơi chữ với chính tên ông và tự gọi mình là một thằng khờ, biến những câu từ “Tôi không có gì để làm với thì giờ quý báu của mình” đến “Những người chung quanh anh vui sướng ra sao.” trong một câu đơn lẻ. Đấy hẳn hòi rõ ràng là bảng ghi chép những việc làm xấu hổ mà bà vợ đưa cho ông chồng lầm lỗi xem, bảng kể tội cách  nào mà bà không phiền hà chi hết khi ông đối xử với bà như thảm chùi chân. Nhưng trong trường hợp này thì còn có con dao xúc cảm đổi chiều xa hơn nữa: Shakespear biết rất rõ rằng khi dùng đến đòn tống tiền rẻ tiền loại này ông đang tự làm giảm giá trị của mình và rằng người yêu mến, khi đặt ông vào một vị trí như thế đó, đã chấn thương ông thêm một lần nữa.

Để tôi lấy một thí dụ khác, cho thấy ích lợi của Tam Khoa – thí dụ này lấy từ thơ thông dụng rất hay trong thời đại chúng ta.

Để tôi đưa anh đến
Vì tôi cũng đang tới
Strawberry Fields
Không có gì là thật cả
Và không có gì để lo lắng cả
Strawberry Fields mãi mãi.

Let me take you down
Cause I’m going to
Strawberry Fields
Nothing is real
And nothing to get hung about
Strawberry Fields forever.

(http://www.azlyrics.com/lyrics/beatles/strawberryfieldsforever.html)

Tiếng Anh, cũng như tiếng Trung hoa, là ngôn ngữ có sắc điệu, đấy là, sắc điệu của một âm, xác định rõ ràng hay thay đổi ý nghĩa của  một câu. Không giống tiếng Trung hoa, nơi mà âm giọng xác định nghĩa từ vựng của một chữ, trong tiếng Anh, âm giọng có thể xác định lý luận và ngay cả ám chỉ ngữ pháp của nó. Và trong lúc làm như thế nó có thể ảnh hưởng sâu xa đến ngụ ý tu từ của câu. Một thí dụ đơn giản có thể làm điều này rõ ràng hơn: thử lấy câu “Con chó cắn anh ta.” Ở đây “con chó cắn anh ta” (nhấn mạnh và lên giọng) trả lời những câu hỏi như “Phải con mèo cắn anh ta không?” và bằng với “Đấy là con chó cắn anh ta.” “Con chó cắn anh ta” (nhấn mạnh và lên giọng” trả lời cho, thí dụ, câu hỏi “Nó cắn hay nó cào?” và ngang bằng với “Cắn là nó cắn.” Tương tự, “con chó cắn anh ta” trả lời câu hỏi về ai là nạn nhân. Rồi  nếu âm giọng hạ thấp hơn với nhấn mạnh, ta có thể ám chỉ rằng dĩ nhiên đó là con chó cắn anh ta, hay dĩ nhiên đó là cắn, hay thứ gì khác như “dĩ nhiên chó không bao giờ cắn đàn bà.” Rồi nếu cả câu được phát âm với giọng cao, nhưng âm cuối  cao hơn một chút, nó liền biến thành một câu hỏi.

Điều mà vận luật – và nhạc trong một bài hát – có thể làm được là giúp phân định rõ âm sắc nào được dùng, hoặc ngay cả như trong “Strawberry Fields,” gợi ý và kiểm soát những mơ hồ mạnh mẽ đầy ý nghĩa. “Để tôi đưa anh đến/đi” là một đặc ngữ trả lời một yêu cầu, như “Làm cách nào để tôi đến Strawberry Fields,” và trong chuyện trò bình thường, chỗ  nhấn sẽ trên chữ “take” (đưa) – người nói không phải chỉ đường cho người hỏi, mà đưa hắn đến đó. Lennon dừng lại ở chỗ này trước khi tiếp tục, ám chỉ rằng câu kế tiếp không là “bởi vì tôi đang đi đến Strawberry Fields,” sẽ là trùng lặp, vì người kia đã hỏi đường đến đó. Cho nên câu kế tiếp thực sự là “bởi vì tôi cũng đến đó,” và nhạc nhấn mạnh nơi “cũng,” thích hợp với lối đọc đó. Tôi đưa anh đi bởi vì tôi cũng đến đó, hoặc là ít ra, tôi mới vừa quyết định rằng đấy là nơi, sau cùng mà nói, thì tôi thật sự muốn đến. Giờ, còn lại chữ “Strawberry Fields” như dấu chấm than ngờ vực, “Strawberry Fields??”, tách rời khỏi câu trước theo ngữ pháp. Đấy là, như khung nhạc cố tình nhấn vào, một tiếng thở dài! – một tiếng thở dài ám chỉ một thứ gì như “tại sao quá lâu rồi tôi không nghĩ đến chỗ đáng yêu đó?” Và giờ thì nó dẫn đến một lẩm bẩm trầm ngâm bên trong về thực tại của nơi đó, hay thực tại của bất cứ nơi nào, và không lo lắng vì đến đó hay lo lắng về nó. Đoạn thơ, lấy hết can đảm, có thể nói như vậy, kết thúc bằng một cổ vũ luyến tiếc nửa-như-châm-biếm nhưng chua chát, thể như lời khuyến khích ta nói với đội thua trận mà mình ủng hộ: Strawberry Fields mãi mãi!” Giờ thì chỗ nhấn lại khác đi: “fields” giờ là hai âm, nguyên âm đôi biến thành một kiểu như nức nở, toàn thể thành ngữ là một tuyên bố ngang ngạnh trả lời câu hỏi nguyên thủy, “Strawberry Fields?”

Sự pha trộn to lớn đậm đặc chữ nghĩa và cảm xúc đầy kịch tính, bất kể Lennon có gọi như thế không, đã được làm ra bởi cách sử dụng nghệ thuật Tam Khoa. Như vậy, chúng ta chớ nên tìm cách ngăn cấm chúng trong thơ của mình.

Translate by Điểm Thọ | Nguyên tác: The Poetic Energy of the Trivium
  1. Đặt theo tên nhà toán học thế kỷ mười chín George Boole, Boolean logic là một thể thức toán đại số, trong đó mọi giá trị đều được giảm xuống chỉ còn là Đúng hay Sai. Boolean logic rất quan trọng trong ngành tin học bởi vì nó thích hợp với hệ thống nhị phân, mà trong đó mỗi bit chứa số 1 hoặc số 0. Nói một cách khác, mỗi bit có giá trị Đúng hoặc Sai mà thôi. Bit là đơn vị thông tin trong hệ thống nhị phân.
  2. Fuzzy logic là một cách tiếp cận khác trong tính toán dựa trên “mức độ sự thật” thay vì bình thường “Đúng hay Sai” (1 hoặc 0) của Boolean logic, mà máy tính hiện đại dựa vào. Ý tưởng fuzzy logic đã đượ đề xuất bởi Dr. Lotfi Zadeh, đại học Universersity of Berkeley trong thập niên 1960.
  3. Trong bài Sonnet số 135 của Shakerspeare, No Fear, người kể tên là Will, nhưng người đàn bà ông ta nói tới cũng có người yêu khác tên là Will. Trong bài thơ này chữ “will” được dùng tới 13 lần, ám chỉ”William”, “sự ham muốn tình dục”, “dương vật”, “âm vật”, tùy theo ngữ cảnh, và thường thì, có nhiều ý nghĩa hơn cả những điều đã được đề cập tới. Đó là cách chơi chữ của chữ “will”.

 

Tranh: Piet Mondriaan, Rij bomen langs het Gein (Row of Trees Along the Gein), 1905

THƠ NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG

Complimentary, Jharkhand, 2013
Complimentary, Jharkhand, 2013

NHỮNG NỤ HỒNG CỦA MÁU

Bài thơ này đã đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21 (số 27 tháng 7 - 1991) và tác giả đã sửa thêm để đăng lại trên Tạp chí Thơ. Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường tâm sự: "Bài thơ khá dài (dòng), vì tôi rất mong muốn, với vài ba người, nó sẽ là một thứ Chanson du Mal-Aimé hoặc Giây phút chạnh lòng hay Le condamné à mort… của một thời kỳ / thời đại nhiễu nhương.” Những Nụ Hồng của Máu là một ca khúc đầy “âm thanh và cuồng nộ”; là thơ tình, thơ lãng mạng, thơ hài, thơ châm, thơ hiện thực / siêu thực, thơ hạng nhất, thơ hạng bét hay không thơ (tùy ở người đọc); là tiểu thuyết ba xu, là soap opera, là film noir, cải lương, hát bội, TV, phim thời sự; là một bức tranh cắt dán “hầm bà lằng” hay “đầy nghệ thuật” (tùy vào người xem) với những hình ảnh cóp nhặt từ đông tây kim cổ. Bài thơ từng được coi như một tin báo về dòng thơ Tân hình thức Việt.

mười ngàn lẻ một đêm mưa trước
ngày chúa bị đóng đinh trên cây
vĩ cầm buổi trưa hôm đó có
một tia nắng khẳng khiu chiếu dọi
qua khung cửa tò vò rơi trúng
ngay trên đầu con maggie 2
đứa tôi mặc y phục của tổ
tiên nhân loại a dong với ê
và trong vườn địa đàng không rắn
không mận đỏ chỉ có 2 đứa
tôi bơ vơ trên tấm nệm đặt
trên nền xi măng bụi căn hầm
squatter làm chỗ trú tạm
để nhai cần sa uống bia lon
ngốn cuốn sách hình tintin tới
tây tạng cả chục rưỡi lần hỡi
miếu đình chùa thiêng mái tôn rêu
phủ không còn chim chóc bay về
đấu hót đừng coi những gì bọn
các chú nói hãy coi những gì
bọn các bác làm hồ hởi thổn
thức nhạc jazz tưng bừng pháo bông
đêm dạ hội chúng tôi nằm ngược
thổi kèn lịm chết ôi hạnh phúc
tuyệt vời giữa paris mưa tơ
đùa phất phơ áo nhung mềm môi
đào gái hà nội băm sáu phố
phường xưa cũ trong tưởng tượng đã
chết hãy tưởng tượng một chiều hè
êm ả bên bờ xa lộ biên
hòa tờ chính luận mới ra lò
loan tin mối tình bí mật của
rupert brooke đã bị bật mí
dĩ nhiên không phải tờ lá cải
ta mà một tờ xà lách tây
vừa đăng cái tin giựt gân ấy
hỡi em không là con bé tuổi
15 noel olivier
tóc vàng sóng mũi dọc dừa của
chàng thi sĩ lãng mạng yểu mệnh
tội nghiệp cho em tôi chỉ có
1 cái miệng cười nhạt nhẽo vô
duyên & 1 mái tóc xơ dừa
cứng ngắt đen thui những cành gai
nhọn đâm vào ngực tôi đau những
nụ hồng của máu & bởi ở
bên kia bờ đại tây dương hay
ở bên này bờ thái bình dương
thời cũng thế thôi máu huyết vẫn
là máu huyết mồ hôi nước mắt
vẫn là mồ hôi nước mắt đồng
tiền bát gạo vẫn là bát gạo
đồng tiền nghiện ngập rượu chè thất
nghiệp vẫn là thất nghiệp nghiện ngập
chè chén sáng chủ nhật ngon rồi
sẽ là bloody sunday &
palm beach sẽ là napalm for
each dĩ nhiên ngắt lá đụng cây
bứt mây động rừng bản dịch 1
tập thơ tiếng nga của nhà thơ
lão ấy có nhiều viên ngọc quí
hơn chiếc vòng vương miện của nữ
hoàng anh trưng bày trong tòa tháp
cổ london có lính canh mặc
áo đỏ quần đen tay cầm cây
thương của thời phục hưng & có
cửa sắt điện tử tự động đóng
sập xuống khi gặp biến những kẻ
thừa tiền & văn minh nhất thế
giới cộng thêm đám du khách nhật
vai đeo tòng teng máy ảnh máy
chỉ máy ổng máy bả nối đuôi
chen lấn dẫm lên chân nhau oh
i’m solely vào đứng xem trầm
trồ mỗi trự độ vài ba giây
dĩ nhiên dẫu rất muốn chúng tôi
vẫn không thể là 1 nữ hoàng
khả ái để bù lại anh xin
ca em nghe vài câu nôm na
của ông cụ nguyễn khuyên nguyễn dụ
gì đó này mợ nó nghe nhé
1 mai 1 mốt 1 ngày xưa
thơ thẩn kìa ai ăn bánh còng
tui rại tui rờ răng rắn rết
bà lanh bà lắt lưỡi lâu la
dĩ nhiên gầy mập đói no rách
lành đau mạnh già trẻ buồn vui
cù chớn cà lần hào nhã phong
hoa chi chi hay gì gì thì
2 đứa tôi cũng vẫn là 2
đứa tui như từ thủa mới chọc
đất ghẹo trời hay vào lúc ông tây
nhà đèn dựng nước an nam
ta & con maggie 1 bữa
nọ nó lẻn vào siêu thị siêu
thực siêu ăn cuỗm mất mẹ của
chàng 1 khúc thịt dồi to tổ
bố nó ngậm mãi ngậm hoài mà
chẳng teo mòn mẻ sứt thì nó
vẫn là con maggie đáng thương
nó cũng không thể là siêu sao
liz / maggie trong cuốn phim màu
mèo cái trên mái thiếc nóng đố
em biết mán ở đâu biết mao
mấy tuổi biết mưa mấy đồi đố
anh biết khỉ là ai dĩ nhiên
là tôi & tất cả bà con
ở đây ai cũng biết mặt cái
con ngựa đó hỡi người anh em
mỗi đêm khoác blouson đen mù
xoa đỏ nhét ló một góc chéo
ra ngoài mép túi sau quần jeans
đứng tựa quầy quán khuya đẫm mùi
bia đắng nước tiểu mặn mồ hôi
nồng hơi thở thối tha thuốc lá
marlboro cao bồi giả hiệu
1 ngày nào ta sẽ cỡi har
ley davidson tay trong tay
hò hơ hò dắt nhau về quê
tôi đòi thăm nương ngô thăm đồng
lúa trên bến đò thủ thiêm vớt
cành rong ướt lên chùi những giọt
lệ khô 1/ 4 thế kỷ từ
chiều xuân xưa em qua đây làm
thuyền người dĩ nhiên thành hồ
rồi sẽ có cái tên mới là
sài gòn dĩ nhiên trên đường trần
ruổi dong dại nhờ khôn chịu cuộc
đời là manh chiếu rải những nụ
hồng chờ ta khi ta không buồn
ngủ tình yêu là suối mật bờ
xôi đợi ta khi ta chưa muốn
ăn dĩ nhiên đêm phải trắng ngày
phải đen biển trên cao trời dưới
thấp khi thủơ bé tôi thủ dâm
ôm rừng thu khiêu vũ dĩ nhiên
em không bao giờ thuộc về tôi
còn tôi chẳng khi nào là của
em & tụi mình ê cóc cần
cái chuyện khôi hài lẩm cẩm khối
tình trương mÿ chén nhựa em cười
vỡ tan ấy xin quí vị cho
1 tràng pháo miệng thật ròn như
còn ngồi rạp quốc thanh coi vở
con gái chị hằng hay đứng trong
rạp hát bộ bên hông trường tôn
thọ tường coi cọp tuồng triệu tử
long đoạt ấu chúa kính thưa quí
độc giả chúng tôi là những kẻ
lang thang trong các hành lang tàu
điện ngầm trên những thiên đường giả
tạo sống bằng dao búa của ác
mộng hằng ngày nên chỉ được biết
những cuộc tình 100 năm trong bụi
có lùm cây đêm nở sáng tàn
lũ chúng tôi & con maggie

London, tháng 5 - 1991

LE SQUARE

ngày sinh nhật của bà
đầm già duras nó
lang thang tới 1 quảng
trường tĩnh mịch rợp bóng
mát ngồi xớ rớ dĩ
nhiên là một mình trên
chiếc băng ghế lắng nghe
chim chóc trên lá cành
xanh xao xí xô xí
xào bằng tiếng ăng-lê
khiến nó chợt nghĩ tới
cuốn phim kinh dị của
ông già Hitch bụng phệ
mà phát ghê nghe toàn
thân anh hào nổi da
heo trên cái square
trời vào mùa hạ / hè
hệt như trong mùa đông
winter / hiver trời
thì dĩ nhiên lúc nào
cũng phải xanh màu thiên
thanh cho nó nên tranh
ma tít xơ nhưng lơ
ciel bleu không hiểu
sao bỗng khiến nó mơ
thấy những hạt lựu đỏ
hồng trong chén chè xuân
sa hay sương xa (?) người
thầy việt văn trẻ ốm
đói ho lao tên nguyễn
khoa ngày xưa ở ngôi
trường kiến thiết cũ lợp
mái tôn xi măng nóng
bức nằm trên con đường
nancy như trường pé
trus ký (đường nancy
sau nới rộng thành đại
lộ cộng hòa dưới thời
đệ I cộng hòa) ngôi
trường tư thục đó cũng
như căn nhà nó ở
gần cái chợ chồm hổm
cũng tên là nancy
người thầy cũ đã thao
thao bất tận giảng câu
“(lâm) bạch vân” — tên của
một thằng bạn đã được
gia đình giàu sang cho
sang pháp du hí — “ (lâm)
bạch vân tây tán (gái)
thủy đông lưu (bị) “ gió
thoảng rất nhẹ và nắng
rỏ những giọt nắng rất
buồn xuống mũi giầy nó
da đen size 5 mua
sale £4.99
ô hay sao nắng lại
buồn nhỉ chắc là tại
vì hi hi nó đang
mần thi và pác xơ
cờ đêm hôm trước nó
đã tắm douche nước suối
và soi kiếng ngắm nhìn
bóng mình thấy hình ta
ôi rất là xếch xy.


SURPRISE, SURPRISE

– Mày chỉ là tên hề buồn
tên hề buồn nhất thế giới
làm mọi người cười rộ

sau một đêm mưa rào tôi
ra xó vườn nhỏ thấy 1 đóa bạch
hồng mới ló lộng lẫy trong
buổi sớm mây, tôi ngắm người
nó một chầy rồi chưa kịp mắng, mầy
chỉ là đóa hồng là đóa
hồng là đóa, thì bỗng nghe
trong bụi rậm có tiếng thì thầm a
nose is a nose is a


TÂN HÌNH THỨC & CỐI XAY GIÓ

trang thơ tân hình thức gởi meo
mời đóng góp bài cho số báo
in đầu tháng sáu khiến tôi nhớ
lúc nó mang tiếng khóc bưng đầu
mà ra dù chỉ là một cách
nói đùa cho thêm vui dĩ nhiên
lúc đó lúc tân hình thức mới
mở mắt chào đời nhiều người đã
vội bĩu môi chê đè bảo văn
xuôi dù có vắt dòng thì cũng
chỉ là văn xuôi vân vân và
vân vân tôi hứng chí gần như
một mình đôn kihôtê đơn
thương độc mã tả xung hữu đột
đứng ra binh vực đâm cái cối
xay gió của định kiến khó lay
chuyển nay tân hình thức đã có
tiếng vang trong ngoài và một số
không nhỏ tác giả và tác phẩm
tân hình thức hỡi những ai đã
từng chê bai không tiếc lời ném
trứng thối cà chua vung vít một
thủa không vang bóng đang ở đâu
nay hãy ra thử múa coi đây


COMPUTER GAME

chim điện toán
chim điện toán _Tranh Nguyễn Đăng Thường

                              Tặng Khế Iêm

tôi nói tao không sợ chết
nó nói ô kê rồi rút
súng lục ra bắn tôi ba
phát vào ngực tôi ngã quỵ
xuống sàn gỗ bất tỉnh nhân
sự ba tiếng rồi xoa ngực
nhổm dậy nói tao không sợ
chết nó nói ô kê rồi
lấy cái baseball bat nện
vào đầu tôi ba cú bể
đầu máu tuôn xối xả tôi
ngã quỵ bất tỉnh nhân sự
trên sân cỏ ba phút rồi
phủi đít đứng lên nói tao
không sợ chết nó nói ô
kê rồi cầm cái khăn quàng
cổ siết chặt cổ họng tôi
cho tới khi tôi tắt thở
ngã quỵ bất tỉnh nhân sự
bên bờ sông ba giây rồi
vuốt tóc ngồi xếp bằng nói
tao không sợ chết nó nói
fuck you shithole tôi nói
ô kê you come here
nó kinh quá vắt giò lên
cổ chạy trốn chết tới đầu
đường thấy tôi đương đứng chờ
nó nói tao không sợ chết

London, 04.04.14

Ghi chú

Độc giả có thể coi bài thơ này như là một biểu tượng ẩn dụ về Thơ tân hình thức hay về bất cứ một cái gì bất khuất khác. NĐT

TRanh bài: My paintings are realistic, but not real: Kathryn Myers

TUẦN THƠ 26: CHÚNG TA CÓ GÌ?

the-gleaners-by-jean-francois-millet.webp
https://www.identifythisart.com/art-movements-styles/pre-modern-art/realism-art-movement/
Chùm thơ nhiều người viết

CHÚNG TA CÓ GÌ?

Nguyễn Văn Vũ

CƠN MƯA

tôi đi về phía cơn mưa
va vào cơn mưa cơn mưa
không thấy tôi tôi thấy cơn
mưa xối xả tóc tai tôi
đầm đìa mớ đời khổ tôi
sủng nước thế là tôi đói
thế là em tôi đói em
ơi hỏng hỏng hỏng em ơi
nhịn nhịn nhịn mà thôi dễ
gì trông mưa là có mưa
trông lụt là có lụt này
em ơi ruộng đồng khô cạn
phù sa sông đen lợm mùi
cá chết thì thôi mưa cứ
mưa lụt cứ lụt chôn hết
xuống mồ mầm mống thối tha
cho phù sa thấm vào đồng
lúa cho anh còn ôm mớ
đời khổ chơi trò cút bắt
với những cơn mưa em à …


NỖI HOANG MANG

người lái xe già chở nỗi hoang mang
chạy qua thị trấn chạy qua những ngã
tư đèn đỏ nhấp nháy nỗi hoang mang
ré lên trong tiếng xe máy nẹt bô
vụt qua đèn đỏ ré lên trong câu
chuyện người cứu người người lại nổi điên
cho người một nhát dao ngọt xớt xuyên
qua trái tim chưa nói xong lời tử
tế ré lên trong câu chuyện người chen
lấn người xô đẩy người giành giật lá
bùa giữa lễ hội người giẫm đạp người
tắt thở ré lên nỗi hoang mang đánh
thức lũ thần thánh dẫn người lái xe
già chở nỗi hoang mang chạy vòng qua
cánh rừng vắng trao nhầm nỗi hoang mang
vào tay kẻ cướp đang chực chờ nhảy
ra xin đểu một chuyến đi rồi bóp
cổ nỗi hoang mang, quẳng xuống vực cho
hết đời người lái xe già chở nỗi
hoang mang chạy lòng vòng trong thị trấn …


Trầm Phục Khắc

CHƯA BIẾT MẶT THIÊN ĐÀNG

Những sự thật đánh tráo sự thật
và tiếp tục đánh tráo cho đến
khi sự thật biến thành sự thật
qủa táo bay lơ lửng không rơi
về mặt đất và ánh sáng đi
chậm lại đi chậm lại rồi dừng
hẳn lại ngơ ngác rất lâu rồi
đi ngược lại và cuối cùng lao
ngược hướng thời gian và tiếng thét
câm đi ngược về tim và những
mái đầu bạc phơ vụt nhánh đen
và rồi cả không gian và rồi
cả thời gian và rồi cả thế
gian đi ngược lại chui trở lại
những bào thai để chờ đợi phút
giây đất trời sinh nở ôi phút
giây sự thật chưa là sự thật
mà chỉ là giấc mơ đẹp đẽ
của khổ đau và hạnh phúc thuở
trần gian chưa biết mặt thiên đàng


ĐÃ CŨ – THƯ GỞI BẠN

Các bạn thân mến chúng
ta đã bỏ nhau rồi
bỏ giấc mơ bỏ cuộc
đời bỏ mùa xuân đi
sống mùa xuân khác bỏ
con đường đi bước con
đường khác bỏ áo thơ
ngây khoác áo dạn dầy
Các bạn thân mến đâu
còn năm nào cũ hơn
năm cũ áo nào cũ
hơn áo cũ con phố
nào giấc mơ nào cuộc
đời nào … chúng ta nào
Vâng đâu còn bởi vì
chẳng còn chúng ta nào
chúng ta cũ nào chúng
ta sẽ cũ nào…cũ
hơn và đáng yêu hơn
là…chúng ta đã cũ
(… bỏ nhau và đã cũ)


Vương Ngọc Minh

QUÁN TRIỆT

cục nợ đời tôi có
vo tròn như trái banh
thì mối quan hệ giữa
tôi với sự sống/ chết
đấy vẫn mối quan hệ
mở tuy nhiên cực bấp
bênh hễ đối đầu bất
trắc tôi ném ngay cục
nợ đời hì hục quát
“hey! thượng đế ông biến
đi cho tôi nhờ!” thay
vì vo tròn bất trắc
như trái banh giống vo
tròn cục nợ đời cũng
như làm tất cả các
điều tỉ dụ mang mối
quan hệ giữa tôi với
sự sống/ chết ra dọa
mối bất trắc giả như
có thể thì cầu khấn
“xin hãy thương xót thượng
đế ngài đừng khiến con
đau đớn một cách công
khai thêm nữa!” nhưng cuối
cùng thì sao? phải trở
lại mối quan hệ giữa
tôi với sự sống/ chết
đấy một mối quan hệ
mở cực bấp bênh thú
thực tôi có vo mối
quan hệ ấy tròn như
trái banh thì mọi vật
sự trên đời cũng chỉ
như cục nợ đời và
như đã nói ở đây
tôi có vo cục nợ
đời tròn như trái banh
cũng chả đi đến đâu
(you know that?) một mối
quan hệ mở cực bấp
bênh thú thực lắm lúc
tôi cứ nghĩ: thôi không
thở nữa nhưng có được
á dẫu có vo điều
cực bấp bênh tròn như
trái banh tôi vẫn chịu
gánh vác hàng ngày tuyền
những ngày vô tích sự
những ngày trống dài lê
thê và cứ như thế
e cho đến đối đầu
chỉ còn với mối quan
hệ giữa tôi – cái chết!


KỆ …

chả chút cường điệu như
như cò xám rình kiếm
cái ăn thế là bọn
tôi dò tìm nhau hễ
đồng hồ bên này buổi
sáng i rằng đồng hồ
bên kia buổi tối/ bên
kia ngủ bên đây thức
lắm lúc chả chút cường
điệu bọn tôi có hỏi
nhau “làm quái gì cứ
ngủ thế!” nhưng đấy cũng
chỉ màu mè (biết làm
sao được khi mà ngôn
ngữ nói ở đây được
viết trên bàn phiếm và
nhờ computer chuyển
đi qua cái màn hình vâng
chúng tôi không hề mở
miệng trong khi ai chả
biết tỏng bốn cái khoái
ở đời “ăn ngủ đụ
ỉa” ngày nào lũ cò
xám còn rình kiếm ăn
thì bọn tôi chẳng cách
chi làm khác được (thể
phách là cát bụi!) đúng
vậy bọn tôi còn nhiều
việc “lắt nh ắt” khác tỉ
như dò la trên face
book chả chút cường điệu
bọn tôi hỏi nhau “to
day have we met some
where before?” và tự
trả lời “mm … hm
we don’t think so!” chỉ
vậy nhưng bọn tôi mất
khối thời giờ và vì
cái thái độ ấy thái
độ chả chút cường điệu
hiện tại thực hết sức
ủy mị lũ cò xám
vẫn ti ếp tục rình kiếm
ăn khi tôi nói “đàn
bà có hết thảy mọi
thứ đàn ông thích” lập
tức bọn đàn bà nhao
nhao “đàn ông không tự
săn sóc mình thì khổ
thân” quả thực vậy cá
nhân tôi có phải phù
thủy đâu là đàn bà
các em phải biết đạo
phật có con đường trung
đạo (viết/ dịch bất kể
gì các em nên theo)
cuộc đời thường chả chút
cường điệu giả có phía
bên này tất có phía
bên kia (đối nghịch lại)
phía này mạnh thì phía
kia mạnh phía này nhẹ
thì phía kia nhẹ nên
khi không dính (mắc) vào
bên này thì sẽ tránh
được phản ứng bên kia
tỉ như thương lắm sẽ
có ngày ghét lắm/ thương
chút chút có ngày ghét
chút chút trong cái này
đã chứa sẵn cái kia
nhá anh nói chả chút
cường điệu nhá – ôi gái!


Trần Hoàng Vy

NHỮNG CON SÓC

Những con sóc chui ra từ nắng
ấm báo hiệu ngày nắng ấm áp
phơi những cái đuôi ướt át mùa
băng giá tháng giêng về tháng giêng
về cây sồi reo vui hạt sồi
đâm chồi mùa lá mới con sóc
nhỏ hứng tình ve vãn nàng sóc
thiếu nữ bâng khuâng muốn trở thành
thiếu phụ bởi nắng ấm và cái
đuôi ấm lót tổ bông lau tháng
giêng như đôi mắt tròn xoe ngây
thơ mơ mùa xuân ban đầu dấn
thân tình ái những con sóc nhỏ
đuôi phơi nắng quanh cây sồi già
rướn thân thụ thai mùa trái mới
chắc kịp nuôi thêm những chú sóc
nhỏ cùng với mùa xuân chơm chớm …
những con sóc bình yên nắng ấm
áp má kề đuôi hồn nhiên ru
tình xao động vũ khúc bông lau …


GIỌT NƯỚC

Thoạt đầu giọt nước có
hình gì trong chiếc ly
thủy tinh người đàn bà
cầm trên tay nghiêng đổ
giọt nước tròn lăn trượt
kéo thân phận hình hạt
đậu méo mó khốn khó
và sóng soài trên mặt
chiếc bàn đá lấm tấm
những hạt nước thiên biến
vạn hóa những hình thù
lạ lùng giọt nước chảy
dài thấm thía nỗi đau
của những vật nó thấm
vào giọt nước sắc nhọn
tích tụ thành hình thù
của vật chứa nó quân
tử tính như thủy hóa
thân hạt nước buồn thiu.


Xuân Thủy

TẾT TRÊN QUÊ HƯƠNG TÔI BÂY GIỜ CHẠNH BUỒN

Đi thăm vài người thấy
vài người không hạnh phúc
đi chợ Tết thấy vài
người nằm bên vệ đường
buổi tối buổi sáng đi
ngoài đường đất vẫn dơ
bùn đất đường vẫn bụi
bẩn quá một vài nơi
đi thăm vài nơi thấy
vài người hạnh phúc cười
cười sao như trên đường
đi một vài một vài
những một vài như cảnh
vật có thế này thế
khác chỗ này mùa lũ
chỗ kia mùa hạn ngay
giữa mùa xuân chỗ này
màu đỏ chỗ kia chấm
chấm thêm vàng vàng chấm
những giọt nước mắt khô
không lăn được đâu đó
vài em nhỏ người lớn
cờ bạc rượu chè be
bét vài thanh niên đua
xe phân khối lớn trong
khi đa số đa phần
người người đi xe chầm
chậm chầm chậm trên đường
quê hương tôi chạnh buồn
tôi buồn nhé buồn là
đúng hay sai chứ làm
chi đây … cứ thế cười
cười cứ thế …


CHÚNG TA CÓ GÌ

Để bàn trên mặt báo
những câu chuyện để nói
hằng ngày hay những bài
thơ không bàn gì hết
những bài thơ chỉ nói
về những bài thơ trong
đó có gì để nói
chúng ta có gì để
bàn nếu không phải là
câu chuyện tiền điện tiền
nước tiền thuê nhà của
anh sinh viên kiến trúc không
có gì để bàn trên
giảng đường vì chỉ có
tiền điện tiền nước tiền
thuê nhà trên giảng đường
là những bài thơ những
bài thơ đã cũ từ
chục năm về trước họ
đã biết cũng những từ
những chữ như tiền điện
tiền nước tiền thuê nhà
không cần phải học cứ
thế đi thi chép chép
đúng từng đó chữ tiền
điện tiền nước tiền thuê
nhà như những bài thơ
trên giảng đường đã cũ
chỉ cần chép chép lại
giống như thế nếu không
sẽ không điểm chúng ta
có gì để nói ngoài chuyện
sao mắc quá vậy tiền
nhà mỗi ngày một tăng
còn những bài thơ trên
giảng đường vẫn thế như
những bông hoa khô bất
tử bụi bám đầy không
còn sức sống chẳng ai
bàn làm gì vì nếu
bàn sẽ bị không điểm …
p/s
để đủ điểm học thạc
sĩ hãy thuộc lòng tất
cả và đừng hỏi tại
sao những đứa trẻ bây
giờ không biết đọc sách
chúng chỉ xem và chơi
ipad không cần gì
thêm có gì có gì?


Hoàng Huy Hùng

NGỌN ĐÈN

Ánh sáng đã trở lại nơi
ngọn đèn đặt trên cái bàn
gỗ cho người chủ từng đêm
viết ra những con chữ được
đóng hộp đặt vào những cái
ngăn trong tăm tối của Hộp
Đen dù ánh sáng của ngọn
đèn đã trở lại chiếu sáng
tất cả mặt bàn chiếu sáng
cả căn phòng phủ bụi bặm
trên mặt bàn trống không trống
không như hải cảng hoang phế
hoang phế (còn ý nghĩa gì?)
không còn những con tầu biển
cập bến cảng dù đêm đêm
ánh sáng của ngọn đèn đã
được trở lại chỉ có người
chủ từng đêm từng đêm vẫn
cô độc tự tô vẽ nên
tự truyện cho chính mình.

21/12/2012

 CON TẦU ĐẮM

                                                                                                   viết tiếp bài Ngọn Đèn

Tô vẽ nên tự truyện cho chính
mình – thế những tập tự truyện này
ngoài người chủ ra thì để cho
ai đây còn có ai ngoài người
chủ làm bạn với cây bút và
quyển vở làm bạn với cái bàn
và ngọn đèn là những cặp đôi
không rời không thể thiếu cùng nhau
phối hợp tạo ra những con chữ
những bài văn những bài thơ này
viết ra để cho ai giống như
ngọn đèn bàn này từng đêm vẫn
tỏa sáng nhưng không thể soi rọi
đến những khoảng tối khoảng tối khác
những khoảng tối không dám chạm đến
không dám chạm vào những khoảng tối
trong đầu sa ngã theo cơn buồn
ngủ những khoảng tối như thể trong
lòng đại dương chôn vùi xác những
con tầu biển để đến một ngày
người ta khai quật lên những kho
báu những của cải những cổ vật
trong con tầu đắm được soi rọi
bởi ánh sáng trở lại như đến
một ngày người chủ lục lọi vào
những ngăn tủ tăm tối những căn
hầm những căn phòng tối rất lâu
đời rồi tìm ra những kho báu
những của cải những cổ vật bị
ẩn giấu vào ngăn tối lãng quên
khối di sản này như được khai
quật lên từ đáy lòng đại dương
là đây người chủ đã tạo nên
cả một đại dương từ những quyển
vở từ ngôi nhà của mình có
những khoảng tối.

9/12/2014

Tranh bài: The Gleaners by Jean-François Millet