Trang chủ Blog Trang 34

TUẦN THƠ 53: LẶNG LẼ

Vương Ngọc Minh

LẶNG LẼ

tôi đang ngó ngang vì
ngỡ vướng vào một mạng
nhện chữ trong vô thức
nhưng thực ra không đúng
chữ trong vô thức không
hề là một mạng nhện
chúng nằm xếp đặt có
thứ tự lớp lang mặc
dù các lớp lang giờ
đã cũ kĩ thú thực
bao lâu rồi tôi cứ
ngồi ngồi đến độ không
buồn đứng dậy động đậy
thì chuyện chồm tới dù
chỉ để nhặt tuổi tên
lên lau chùi là không
hề và như mọi khi
như mọi khi tôi vẫn
tự hỏi “mà tại sao
phải đứng dậy chồm tới?
tại sao kêu con chữ
mà không kêu thằng chữ!”
tôi đang tự hỏi rằng
tại sao lại ngỡ vướng
vào một mạng nhện chữ
trong vô thức và đồng
thời cảm thấy là mình
sắp sửa sầu khổ thì
đột nhiên vụt đứng dậy
một hành động hoàn toàn
mang tính tự phát tôi
đứng im lặng nhìn thẳng
vào các mặt chữ và
như vậy tôi đứng im
lặng nhìn các mặt chữ
hằng mấy tiếng đồng hồ
rốt cùng vì chỉ muốn
lắng nghe ý nghĩ câu
“con cá sống nhờ nước!”
tôi tách từng chữ ra
cầm lên lau chùi cho
tới láng lẩy cho đến
khi đấy rồi thực kì
dị tôi cứ tiếp tục
tự hỏi “tại sao kêu
con chữ mà không kêu
thằng chữ – nhỉ!”


BIỂN CẠN CỢT

tôi hỏi con chim bói cá
mày có thấy tao ở đây
hôm qua nó đáp hôm qua
chả có đám mây nào ở
đây hết mẹ rượt cái cọc
nhọn tôi nói hừm có lẽ
nào mày quên rồi ư nó
đáp suýt nữa tôi té nhào
lộn cổ từ cái cọc nhọn
đấy tôi hỏi lại gằn từng
chữ mày có thấy tao ở
đây hôm qua con chim bói
cá ra vẻ nghĩ ngợi nó
đáp hôm qua anh có muốn
như vậy đâu anh mơ thì
có mẹ rượt cái cọc nhọn
tôi nói có lẽ nào mày
quên rồi ư nó đáp có
một thằng điên cắm cái cọc
nhọn kêu tôi đứng trên đó
suýt nữa tôi té nhào lộn
cổ tôi đưa mắt nhìn con
chim bói cá hỏi gằn từng
chữ hôm qua mày có thấy
tao ở đây ra vẻ nghĩ
ngợi con chim bói cá đáp
hôm qua có cái gì đáng
để nhớ lại chứ suýt nữa
tôi té nhào lộn cổ từ
cái cọc nhọn đấy tôi đảo
mắt nhìn quanh mẹ rượt
cái cọc nhọn con chim bói
cá cứ chực đổ nhào tôi
nói mày chưa bao giờ chú
ý đến điều gì cả cuộc
đời có bao giờ hết chuyện
chứ tốt hơn mày trả lời
tao là mày có thấy tao
ở đây nghĩa là trên đời
này hôm qua con chim bói
cá hết còn ra vẻ nghĩ
ngợi nó lưỡng lự đáp tôi
đã nhìn lên đầu thấy mây
nhiều vô kể có phải hôm
qua anh là mây suýt nữa
tôi té nhào lộn cổ đấy!


NGỒI BÊN ĐƯỜNG CHỜ MỘT NGỪƠI

đang thở dài thườn thượt
tôi nghĩ mình chả chú
ý hoặc chú tâm đến
gì nhưng tôi lầm bởi
tôi có phải người ở
tận đâu đâu đâu và
tất nhiên sau khi thở
dài thườn thượt có thể
tôi sẽ thở hổn hển
và nghĩ là mình không
chú ý hoặc chú tâm
đến gì nhưng thực ra
tôi đã lầm hết sức
trầm trọng hai mắt tôi
có thể lòi bất cứ
lúc nào bởi đơn giản
tôi có phải người ở
tận đâu đâu đâu đường
có phải của riêng ai
mọi thứ trên đời cũng
phù phiếm à không rồi
cũng trời đất và giờ
đây tôi chẳng còn mấy
tin tưởng vào chính sự
chú tâm của mình nữa
sắc sắc không không việc
thở dài thườn thượt hay
thở hổn hển cũng hết
còn ý nghĩa cho dẫu
sau đó tôi có đi
hết sai lầm này tới
sai lầm khác!


BÀI CHO BUỔI SÁNG

... và, hoài phương

Khi ánh ngày ùa thơ
vào phòng tôi vẫn chưa
có quyết định đúng hơn
chả rõ ràng  mục đích
gì sất cứ nằm đảo
mắt ngó từ góc phải
căn buồng sang góc trái
căn buồng ngó góc trên
cùng căn buồng xuống dưới
chân căn buồng ý nghĩ
nảy ra chỉ duy nhất
một ý nghĩ là tránh
ngó bốn vách buồng và
làm sao để đừng ngó
cái trần buồng rõ ràng
thơ sống với tôi mỗi
ngày chung chạ với các
vách buồng chẳng nhất thời
chút nào sất vòng hai
tay gối dưới gáy tôi
tập trung vào hai con
người một bằng xương bằng
thịt một người như ảo
như thực hết sức thơ
mộng nhưng quái (! ) ánh mắt
lại đảo ngó từ góc
trái căn buồng sang góc
phải căn buồng đoạn ngó
từ phía dưới chân căn
buồng lên phía trên cùng
căn buồng quái (!) phát nhận
ra rằng tôi đã không
hề ngó một cách thực
sự ngó bất kì gì
kể từ lúc ánh ngày
ùa thơ vào căn phòng
để đó một người như
ảo như thực hết sức
thơ mộng cùng các miếng
buồng – vách!


CHỮ HIẾU

mỗi lần bị tôi cấu
mông i rằng thực thần
sầu thị kêu tôi “đồ
già dịch!” quả tình tôi
không hiểu trong ba chữ
“đồ già dịch!” có hàm
chứa thêm nghĩa gì khác
tuy nhiên thấy thị cứ
đứng im thở dốc tất
nhiên sau lưng thị không
tài nào tôi có thể
đứng im cho đến khi
trong đầu tôi lóe lên
một ý tưởng và trong
lòng thị lóe lên niềm
thương cảm vâng niềm thương
cảm vô bờ bến chúng
tôi ngồi xuống phần tôi
từ đó thực thần sầu
cứ mặc kệ cho thị
liền miệng kêu “đồ già
dịch … đồ già dịch!” tôi
chỉ việc dò sao cho
đúng mạch câu chuyện – là
được!


ÔI!

với ta đàn bà hừm
phải gợi cảm bạo liệt
phải dữ dằn ngày tối
luôn mở miệng thở nói
nhỏ nhẹ “em sẽ mang
tương lai hạnh phúc lại
cho người” được vậy ngày
tối hả họng táp táp
ta sống đúng kiểu “con
cá sống nhờ nước” đàn
bà với ta hừm! phải
giảo quyệt đậm son phấn
không vớ vẩn luôn mở
miệng thở ngày tối thỏ
thẻ “tới đây kề bên
em sẽ đem tương lai
hạnh phúc lại cho người”
được thế ta rũ hết
những mùa đau đeo bám
từ địa ngục ngoi lên
cứ thế sống đời sống
cực hùng dũng tên tuổi
ta (om!) đại đa số
quần chúng hiện vẫn còn
khá xa lạ ngày tối
họ suy đoán tuổi đời
ta quá quắt chỉ dạng
u năm mươi đương giữa
chợ chơi tới chết thở
nói đúng nghĩa của từ
tự do hoàn toàn (chuyện
bao lâu nay ngày tối
đã chẳng màng tới quá
khứ kịch liệt thì sá
chi tương lai sống với
một đời sống thuần – con
cá sống nhờ nước!) bố
khỉ.


HỒI NÀY ƯA KHÓC CƯỜI LÃNG NHÁCH

cứ giấc 12 giờ
quí vị (thánh thần) cầm
ống kiếng vạn hoa lên
lắc độ vài chục lần
đoạn kê tai sẽ nghe
tiếng bấc tiếng chì của
chính tôi ở trỏng vang
ra còn giả như quí
vị (thánh thần) dám chui
vô trong sẽ thấy tôi
tự động ép xác vào
vạn hoa và khi đã
ở hẳn trong ống kiếng
sống đời quí  vị (thánh
thần) cứ tự tiện đứng
hay nằm ngồi tùy thích
nhưng nói trước việc đầu
tiên quí vị (thánh thần)
phải chặt bớt tay bớt
chân bẻ bớt răng (quên
mình đi) ăn nói thực
nhỏ nhẹ sao cho giống
lũ vạn hoa chả cần
giống tôi bởi không phải
trông nồi trông hướng nên
không việc gì quí vị
(thánh thần) sợ làm kinh
động bọn ảo giác ác
hoa còn muốn sống đời
đời trong ống kiếng vạn
hoa như tôi đã sống
bao năm qua quí vị
(thánh thần) nhớ luôn tâm
niệm đám trí nhớ chẳng
khác thứ kẻ thù truyền
kiếp (hồi tưởng về quá
vãng sẽ khiến người ta
sầu khổ) giả như có
thể bóp nát trí nhớ
thì bóp hệt bóp bánh
tráng nhá! phần tôi o –
kay tự nguyện nhắm lúc
nào ép xác vào vạn
hoa lúc nào không hòng
cho quí vị (thánh thần)
được tự do tự tung
tự tác từ bây giờ
trở đi chuyện công/ tư
của quí vị (thánh thần)
có dễ chịu chả dễ
chịu phải ráng làm sao
giết tôi chết!


ĐÔI CO

tôi không biết chuyện gì
sẽ xảy ra giữa tôi
và cái ngáp vặt của
chú sóc nhỏ nhưng rõ
ràng khi đó tôi thấy
một vạt nắng bóng bẩy
đổ lên mối sầu tôi
đìu hiu bao năm ròng chú
sóc nhỏ thì câm nín
chả nói làm gì nhưng
phần tôi tôi phải nói
không sẽ quên mất bị
vì giữa tôi và cái
ngáp vặt của chú sóc
nhỏ chả biết chuyện gì
sẽ xảy ra tôi muốn
nói do sự câm nín
của chú sóc nhỏ cũng
chả phải nói làm gì
phần tôi tôi phải nói
chao ôi không sẽ quên
mất trước mắt tôi khi
đấy một vạt nắng bóng
bẩy đổ lên mối sầu
tôi bao năm ròng nom
thực đìu hiu!


CHUYỆN

trong thâm tâm tôi (dân
chơi) vẫn luôn ao ước
ra đời hễ nom thấy
cô nào làm thơ thường
trực thì kiếm cách làm
cho cô ta có một
đứa con gặp trăm cô
làm trăm con (dứt khoát
không để có kiểu – năm
mươi con lên núi/ năm
mươi con xuống biển) cứ
tưởng tượng nội việc đứa
trẻ lớn khôn trong mỗi
ý nghĩ thơ của một
người mẹ làm thơ thường
trực niềm ao ước trong
thâm tâm tôi (dân chơi)
như được hun đúc lớn
thêm ra đời hễ nom
thấy cô nào làm thơ
một cách thường trực lập
tức niềm ao ước làm
cho cô ta có một
đứa con trổi dậy mạnh
mẽ nghĩa là tôi rất
muốn kiếm cách làm cho
cô ta có một đứa
con chao ôi tưởng tượng
mỗi đứa con chúng lớn
khôn nơi mỗi ý nghĩ
thơ của người mẹ làm
thơ một cách thường trực
thì tôi thấy cùng lắm
ngày/ tối chúng thơ thơ
thẩn thẩn cỡ tôi là
cùng!


SỰ ĐA CẢM

Còn biết phải làm gì chứ!
Tôi rất ham muốn gần gũi
Xác thịt với cô ta mỗi
Lần cô ta ghé chơi tôi
Mừng phát điên lên chuyện ham
Muốn gần gũi xác thịt với
Cô ta đã như một nhu
Cầu khao khát ngay lập tức
Được lên giường với cô ta
Khiến không sao chờ đợi – dẫu
Chỉ khoảnh khắc! nhưng thử nghĩ
Mỗi lần ghé chơi cô ta
Muốn phải xem tivi một
Chút – thư giản một chút – làm
Quen chỗ tôi trọ (cũ kĩ)
Một chút – thậm chí cô ta
Còn muốn tôi chạy ra chợ
Mua bao gạo – chai nước mắm
Ghé hàng quán gần đấy một
Chút – nếu có thể tạt vô
museums xem tranh! quả tình
Có lẽ – do cô quạnh quá
Lâu ngày tôi nghe theo chạy
Hộc tốc ra chợ mua bao
Gạo- mua chai nước mắm thậm
Chí còn tạt vô museums
Xem tranh! thú thực – làm tốt
Những sự việc như thế vẫn
Không sao giập tắt nổi chuyện
Ham muốn gần gũi xác thịt
Với cô ta phải nói tôi
Đã hồ hỡi hoàn thành dẫu
Mỗi việc một chút nhưng hết
Sức mau chóng vẻ vang và
Vội vã trở lui lại phòng
Trọ – giời ạ! tới nơi trăm
Bận như một cô ta ngủ
Khì – trên tay luôn nắm chắc
Tờ giấy  viết sẵn dòng chữ
“Để cho em ngủ một chút
Nhá!” tôi còn biết phải làm
Gì chứ!


MƯỜI PHÚT

Nghĩ. để mọi chuyện êm
thắm. nhưng. không giống bao
kẻ. với các lí lẽ
riêng. tôi chèn chữ chật
Cổ họng. chả ai đâu
gánh được nỗi khổ riêng
của ai. vậy rồi. tôi
chẳng cách chi ngậm họng
Nổi. thôi. để mọi chuyện
êm thắm. không giống như
bao người khác. tôi lèn
chữ. đã thành câu. đại
Khái: trăm năm trong cõi
người ta. chữ tài chữ
mệnh khéo là ghét nhau*
sâu xuống đóc họng. hòng
Đếch phải suy tính nọ.
kia. vì. nói cho cùng
ai đâu gánh được nỗi
khổ riêng của ai. vậy
Rồi. tôi nói. liên tu
bất tận (!) lạ một điều.
giọng nói giờ ngập màu.
sắc. cùng với tuyền những
Lí lẽ riêng.

*kiều, nguyễn du.

SÁNG THỨ TƯ

sáng nay trong đầu
giai điệu “ballet
suite từ – the nut –
cracker”của tchai –
kovsky cứ dợn
qua/ lại vào buổi
sáng nay như những
ngày này thiệt – tôi
chỉ việc ăn không
ngồi rồi! và vì
sự ăn không ngồi
rồi hắn đã khiến
cho thân – tâm luôn
cảm thấy tưng– một
cách hưng phấn hết
sức. đừng ai nói
việc ăn không ngồi
rồi sẽ không có
cửa cho hạng – kẻ
như tôi nghen. vào
những ngày này phải
như buổi sáng nay
khi mà giai điệu
“ballet suite từ –
the nutcracker”
của tchaikovsky
cứ dợn qua/ lại
trong đầu khiến tưng
hết sức – thiệt! chỉ
muốn ăn không ngồi
rồi miết – anh iêm
ạ!


THÁNG MƯỜI MỘT SURPRISE

tôi thức khá sớm ngày
nào cũng vậy sáng nay
ngồi đối diện bóng mình
dáng bóng chả khác khúc
đường cái trong đầu tôi
hiện nhiều ổ bánh mì
nổi trôi hình hài mỗi
ổ bánh mì dài khác
nhau mà quả chỉ mỗi
cái bóng biết tường tận
mỗi ổ bánh mì hình
hài dài tới đâu thôi
trong khi còn đương xác
định hình hài ổ bánh
mì nào dài còn vẹn
nguyên sống được nhờ ấp
tuyền hơi hướm đời thường
thì cái bóng luôn miệng
thúc giục tôi mỗi ngày
đắp bồi hừng đông vừa
rạng sao cho em luôn
đỏ da thắm thịt hãy
gánh lấy mối sầu kiếp
nạn lẫn nỗi đau đáu
em trông vời  ôi chao
hình hài mỗi ổ bánh
mì dài một cách cực
mang mang giả mà
thật thật mà hệt cổ
tích những ngày đầu tháng
mười một dẫu thức khá
sớm mỗi ngày tôi vẫn
hàm ơn em chuỗi tiếng
cười luôn lấp lánh từng
ổ bánh mì thịt nguội
thế nào rồi cũng rời
đây còn xuống phố tôi
không quên xách cái bóng
theo cùng với mày mặt
tươi tỉnh thơ tình ra
thơ tình nửa ổ bánh
mì vẫn chỉ nửa ổ
bánh mì nửa sự thật
không thể nào sự thật
vậy nhá! ở đây vẫn
chỉ riêng mỗi bóng biết
được hình hài mỗi ổ
bánh mì dài tới đâu
thôi!


 Page cover: Alex Alemany 1943 ~ Hyperrealist / Symbolist painter

XÂU CHUỖI THƠ: CHUYỆN TÌNH NGƯỜI BÁN VÉ SỐ

0
Negritude Painting, "La Jungla" by Cuban-born Afro-Chinese Painter Wilfredo Lam
Negritude Painting, "La Jungla" by Cuban-born Afro-Chinese Painter Wilfredo Lam

XÂU CHUỖI THƠ


CHUYỆN TÌNH NGƯỜI BÁN VÉ SỐ
ĐI DÉP BẰNG BÀN TAY TRÁI


Nguyễn Văn Vũ

ĐỜI BỤI

lếch thếch trên những con đường
đầy xe đầy người đầy bụi
người bán vé số thoát ra
từ cuộc chiến cuối thế kỷ
hai mươi đi dép bằng bàn
tay trái lắc qua lắc về
như con lắc mất trọng tâm
chân cẳng để lại đâu rồi
giữa rừng sâu giữa khe suối
ai nào biết được sáng ra
lết đi lết đi chiều tối
lết về lết về người bán
vé số đi dép bằng bàn
tay trái loay xoay như trái
bóng xì hơi lăn vào ngõ
cụt nương tựa vào bóng đêm
nghe bầy muỗi hát ca rồi
lăn đi lăn đi vào ngày
qua ngày đêm qua đêm lăn
đi lăn đi vào những tháng
những năm tăm tối trên chiếc
dép mang bằng bàn tay trái
và bàn tay còn lại thì
cong queo cong queo những tờ
vé số ế ẩm ngày mưa …


HỒI ỨC

chiều nay anh lết qua con đường
kỷ niệm của mối tình đẹp như
mơ bay giữa mùa xuân thứ hai
mươi cuộc đời lết qua cái mùa
xuân mở ra cánh cửa số phận
đưa anh rời xa cuộc hẹn hò
tóc bồng áo lụa rồi lết vào
cuộc đời áo lính giày da lết
vào cơn mê chìm nghỉm ba lô
súng đạn anh nhớ lại hình bóng
người anh yêu níu anh chao nghiêng
giữa bóng chiều níu anh quay ngược
về phía có mẹ anh có người
yêu anh đứng ngồi không yên ngóng
chờ tin anh từ vùng khói lửa
mịt mù đã xô anh lộn nhào
vào cánh cửa số phận dễ dàng
như sấp ngửa bàn tay dễ dàng
như ngọn đèn phụt tắt trước gió
đó là một buổi chiều không khác
gì những buổi chiều khác trong rừng
sâu không có tiếng cú kêu ma
không có tiếng tà hót giật mình
nhưng thần chết đã chớp mắt đưa
ngang lưỡi hái cắt vụn núi rừng
cắt vụn hơi thở của đám bạn
bè anh trộn xác vào đống ba
lô súng đạn không biết tai họa
nào ơn phước nào đã dành cho
anh sự sống với cái xác không
chân với mái đầu không mẹ khi
mẹ anh không còn gượng lên được
nữa vào cái ngày tin dữ đưa
về và người yêu anh … em ơi
chiều nay anh lết qua con đường
kỷ niệm của mối tình đẹp như
mơ bay giữa mùa xuân thứ hai
mươi cuộc đời anh đang lăn đi
lăn đi vào bóng tối như trái
bóng xì hơi lăn vào ngõ cụt…


SỐ PHẬN

Làm sao em có thể đứng vững được
dưới bầu trời không có mái che của
thượng đế một buổi chiều không khác gì
những buổi chiều khác giữa cái xóm nhỏ
xôn xao chuyện mất còn người mẹ khổ
đau nhận tin dữ gục xuống bên thềm
để không bao giờ nhìn thấy một lần
đứa con trai trở về cụt lủn trên
chiếc xe lăn dằn nát trái tim nhỏ
bé của người con gái lịm chết giữa
mùa xuân và mùa xuân những mùa xuân
đi qua cùng cơn gió lốc đẩy dòng
nước mắt chảy vào trang sử mới đẩy
người lính tàn phế lăn ra hè phố
lây lất ngày qua ngày đêm qua đêm
lăn vào những tháng năm tăm tối đẩy
người con gái chết lịm giữa mùa xuân
trôi dạt về phía biển khơi ngày qua
ngày đêm qua đêm người con gái đã
trôi đi đâu dạt về đâu nào ai
biết được nơi đầu sóng ngọn gió nơi
bầu trời không có mái che của thượng
đế người con gái đã tan thành rong
rêu hay bọt biển nào ai biết được…

Tháng 5 năm 2016
Page cover: Negritude Painting, "La Jungla" by Cuban-born Afro-Chinese Painter Wilfredo Lam
https://www.pinterest.com/pin/168322104792449260/

ĐIỀU TÔI MUỐN NÓI VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC

ĐIỀU TÔI MUỐN NÓI VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC
_________________________________________

Xuân Thủy

 

Điều muốn chia sẻ về thơ Tân hình thức, có lẽ tôi cũng đã nhắc đến nhiều, nhưng gần như là không trực tiếp và tập trung vào vấn đề, vì thế rất mong sự đồng cảm của tất cả các bạn, với tư cách một người đọc ngoài cuộc, chia sẻ cảm nhận của mình về thơ. Trong cuộc sống hiện đại này, đôi khi chúng ta không hề biết ông hàng xóm của chúng ta thế nào, nhưng chúng ta lại thích giữ vị trí nào đó để nói và bắt tất cả mọi người phải lắng nghe mình. Lịch sử văn mình loài người đã chứng minh rằng không thể sử dụng những định kiến hay bất cứ những định kiến nào để quy chụp cho toàn bộ thời gian và không gian, bởi vì nó vẫn luôn chảy trôi không ngừng cho dù loài người luôn cố gắng ghìm giữ nó lại như kìm cương con ngựa để tiện bề điều khiển theo ý chí của mình, ở thời mà mình chưa thể điều khiển được xe ô tô, máy bay hay đĩa bay hay chính trọng lực của cơ thể mỗi chúng ta.

Thực ra, điều tôi muốn sẻ chia, cũng bình thường, không có gì to tát cả, chỉ như anh hàng xóm kể về những điều thú vị trong cuộc đời của mình mà nhiều khi cả đời cũng chả biết ngay cả khi đã nhắm mắt xuôi tay. Nhưng nó bỗng trở nên to tát và có vẻ như điều gì đó ghê gớm đến mức là cách mạng hay thế này thế nọ theo một kiểu định kiến có sẵn trong sách vở và được thực hành một cách chớp nhoáng. Cái gì khác mình là không chấp nhận hay nói cách khác là cái gì khác với những định kiến sẵn có trong sự quen thuộc của mình (tôi) thì đều thế cả.

Tôi xin quay trở lại vấn đề, hôm nay, bài thơ này đã làm tôi có cảm hứng để chia sẻ cái cảm nghĩ riêng của tôi (tất nhiên riêng của tôi thôi). Từ thuở tôi sinh ra đến giờ thậm chí trong gia đình chưa có ai nghe những sẻ chia của tôi về cuộc sống này cả (tôi tự hỏi, tôi đang sinh ra ở đâu?) Xung quanh tôi, tôi không còn tin, không còn gì để tin, vì niềm tin cũng thật là mệt mỏi và thừa thãi quá, nên đổ đi … Xin được phép quay trở lại vấn đề, tôi muốn nhấn mạnh vào vấn đề mà các nhà thơ hiện nay không có thiện cảm cho lắm hoặc bị định kiến dư luận trái chiều, gây cản trở và tiếp tục tạo ra hệ quả định kiến trong sự tự do của chính mình: TẠI SAO LẠI CỨ XUỐNG DÒNG VÔ TỘI VẠ NHƯ VẬY, KHÔNG CÓ Ý CÓ TỨ GÌ CẢ?… một người đọc: TẠI SAO THƠ LÀ CỨ PHẢI XUỐNG DÒNG? hay kỹ thuật vắt dòng. (Mạc Mạc chia sẻ trên facebook).

Lưu Quang Vũ
PHỐ TA

(Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi … smile emoticon)

Phố của ta
Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều

Năm nay cà chua chín sớm
Trên quầy hàng đỏ hồng
Chị thợ may đi lấy chồng
Chị thợ may goá bụa
Năm nay tôi mặc đồ đen.
Bác đưa thư, có thư ai đấy?
Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ
Rụng đầy trước hiên.

Riêng bác thợ mộc già buồn bã
Thở khói thuốc lên trời
Anh thợ điện trên mái nhà mắc dây
Bà giáo về hưu ngồi dịch sách
Dậy cậu con tiếng Pháp
Suốt ngày chào: bông-dua

Phố của ta
Phố nghèo của ta
Những giọt nước sa
Trên cành thánh thót
Lũ trẻ lên gác thượng
Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng.

Em chờ anh trước cổng
Con chim sẻ của anh
Con chim sẻ tóc xù
Con chim sẻ của phố ta
Đừng buồn nữa nhá
Bác thợ mộc nói sai rồi
Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa
Tại sao cây táo lại nở hoa
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
“Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi.”

(Tất nhiên bài thơ không phải là thơ Tân hình thức)

PHỐ TA

(Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi … smile emoticon)

Phố của ta những cây táo
nở hoa mùa thu đấy thân
cây đang tróc vỏ con đường
lát đá nghiêng nghiêng trong …

sương chiều năm nay cà chua
chín sớm trên quầy hàng đỏ
hồng chị thợ may đi lấy
chồng chị thợ may goá bụa

năm nay tôi mặc đồ đen.
Bác đưa thư, có thư ai
đấy? Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ rụng đầy

trước hiên riêng bác thợ mộc
già buồn bã thở khói thuốc
lên trời anh thợ điện trên
mái nhà mắc dây bà giáo

về hưu ngồi dịch sách dậy
cậu con tiếng Pháp suốt ngày
chào: bông-dua … Phố của ta
phố nghèo của ta những giọt

nước sa trên cành thánh thót
lũ trẻ lên gác thượng thổi
bay cao bao bong bóng xà
phòng … Em chờ anh trước cổng

con chim sẻ của anh con
chim sẻ tóc xù con chim
sẻ của phố ta đừng buồn
nữa nhá bác thợ mộc nói

sai rồi nếu cuộc đời này
toàn chuyện xấu xa tại sao
cây táo lại nở hoa sao
rãnh nước trong veo đến

thế? “Con chim sẻ tóc xù
ơi bác thợ mộc nói sai rồi.”
_____________________________________

“Phố của ta những cây táo
nở hoa mùa thu đấy thân
cây đang tróc vỏ con đường
lát đá nghiêng nghiêng trong …” ­­

Phố của ta, trên con phố trồng những hàng táo, nở hoa vào mùa thu đấy! thân (thiết – một mối dây liên hệ cảm xúc giữa cây táo và hoa và mùa thu và con người sống trong không gian đó), (thân) cây đang tróc vỏ (và/ – /đồng điệu với) con đường lát đá nghiêng nghiêng trong … (mắt) của người đang vẽ lại phong cảnh của con phố trước mặt …

Nếu chúng ta đọc theo lối thông thường, và chỉ dừng lại ở từng câu một, chúng ta sẽ không thấy đầy đủ bức tranh kia, chiều sâu của không gian thời gian vật chất và tinh thần tình cảm của người đang hiện sinh trong chớp thoáng của kiếp người này. Quá nhiều, nhưng dường như không đủ vì chỉ dành thời gian để làm cho nhau mất hứng, cũng không lạ khi điều này rất dễ mất hứng. Vì tôi biết, ai cũng có thể nhận ra điều này khi khai thác tính đa nghĩa của tiếng Việt, điều mà ít ngôn ngữ nào khác có được nên đây chính là bản sắc của thơ Tân hình thức Việt. Tôi nghĩ đó cũng là bình thường, các bạn có thể khai phá tiếp tục và có thể hay hơn tôi … tôi chỉ góp tiếng nói bênh vực như cụ Đồ Chiểu dạy thôi ấy mà, đừng biến tôi thành kim tự tháp Ai Cập, vì sự câm của tôi, sự mất hứng của tôi cũng có mặt tốt của nó, đó là không tạo ra một định kiến mới để mọi người lại tiếp tục rơi vào. Định kiến kia có thể còn mãi nhưng thời gian và không gian vẫn luôn đang bào mòn nó đấy chứ, đúng không? Điều thú vị là

“Phố của ta”

Giả sử một câu thơ là một đơn vị không gian chuyển tải thời gian, tức là mắt người đọc nó, trên đơn vị không gian. “Phố của ta”, người đọc tự hỏi và tò mò, không hiểu rõ ràng thơ ở dạng này đọc không hiểu mới đúng, chứ sao có thể nói “Phố của ta những cây táo” là không hiểu, tuy được rút gọn nhưng có thể nhận biết được, mường tượng được “Phố của ta là gì?” Đó có lẽ tính phản hồi xuất hiện, người đọc tự hỏi và tự trả lời đồng điệu cùng lời giải khác của tác giả, tác giả thành người đọc như thể tự hỏi mình cái mình nói, cái mình tả lại có đúng chưa, ý nghĩa giáo dục lời ăn tiếng nói xuất hiện từ tính phản hồi, …

“Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều”

Dường như cảnh quan được vẽ lại một cách cố định và không có mối dây nào buộc vào nhau, từng cảnh rõ ràng mạch lạc, định hình,

“Phố của ta những cây táo
nở hoa mùa thu đấy thân
cây đang tróc vỏ con đường
lát đá nghiêng nghiêng trong …”

Giữ lại được nguyên ý nghĩa ban đầu của nhận biết của tác giả, sắp xếp có thể ngắn hơn 6 hoặc lớn hơn 6 chữ một dòng, ý nghĩa không khác nhưng cảm nhận về bức tranh có khác đi, “Những cây táo nở hoa” là văn viết thì “nở hoa mùa thu đấy” lại là văn nói. “Nghiêng nghiêng trong sương chiều” thì “lát đá nghiêng nghiêng trong …” tạo ra độ chênh vênh nghiêng nghiêng không có chỗ bám víu đến cả trong sương chiều cũng không có, mà ở trong trong một cõi nào không biết nữa …

Vô tình hay hữu ý tôi cũng như bao con người khác muốn chia sẻ điều này với người khác để nhận được những ý kiến của mọi người và bạn bè. Và có thể nhận ra những điều tiếp theo là, không phải bài thơ tự do/ truyền thống nào cũng có những điều thú vị đó và làm cho chúng ta có cảm hứng sống như vậy. Do đó, không thể cứ chuyển các thể thơ truyền thống trước đó sang dạng thơ Tân hình thức với những yếu tố như vừa phát hiện trên là có thế hình thành bài thơ được gọi là thơ Tân hình thức được. Để có một bài thơ Tân hình thức thì phải chủ động viết theo kỹ thuật thơ Tân hình thức là vậy.

Các bạn thơ của tôi cũng cho ý kiến:

Hường Thanh: “tuy việc chuyển thơ khác sang thơ Tân hình thức là chối bỏ nguyên tắc thơ Tân hình thức, chỉ nghĩ đến mộ cảnh quan đầy đủ … nhưng cũng đã khiến người khác từ khó chịu sang tò mò … Một bài thơ Tân hình thức khó làm ở chỗ ý tưởng và nhịp điệu, việc viết xuống dòng là tự nhiên không cần phải phân biệt, quan trọng là có những yếu tố Tân hình thức, thì đó sẽ là bài thơ hay.”

Khế Iêm: “Viết xuống dòng hay vắt dòng đã thành luật. Đã là luật thì không cần phải bàn luận nữa. Ai thắc mắc thì tự họ phải đi tìm đọc lý thuyết về thơ Tân hình thức. Chuyển thơ tự do sang thơ Tân hình thức sẽ không tạo được nhịp điệu mới và dễ gây hiểu lầm là thơ Tân hình thức không cần nhịp điệu. Đó là nguy hiểm, sẽ mất thì giờ để giải thích vì thế mà phải dứt khoát không chuyển nữa.”

Page cover: Artist Evan Roth’s work occupies the irregular zone at the intersection of free culture with popular culture, where viral media meets art, and graffiti connects with technology. From Feb. 5-March 2, Roth’s “Intellectual Property Donor,” is on display in the Center for the Art’s Ezra and Cecile Zilkha Gallery. Ginger Gregg Duggan and Judith Hoos Fox of c², curatorsquared, co-curated the exhibit.
http://newsletter.blogs.wesleyan.edu/author/msembos/page/2/

Tom Riordan: POEMS

0
Farideh Lashai, Untitled (1977)
Farideh Lashai, Untitled (1977)

POEMS


Tom Riordan

TWO SMALL FANS

With two small fans
our room sounds like
a 727 Whisper-Jet
and we are halfway
to the Virgin Islands
for our honeymoon.
A movie star’s boat
is anchored offshore
and his plate piled
with napoleons and
creampuffs directs
us to check out his
gut. What we adore
most are breakfast
and the newspaper
quietly delivered to
our surfside cabana
and trying to keep
up with eagle rays
in the lagoons. Oh,
we are not ready to
go home! All that
awaits us two floors
up from the bakery
is a sweltry studio
apartment whose
single saving grace
is its two small fans.


UNTITLED

we admire the near-delicacy
with which a red-tailed hawk
tears out the choicest tidbits
from inside a killed rat’s pelt

until there’s nothing else worth
ripping off and wriggling down
and it heaves the ransacked
carcass up and wolfs it whole


IMAGE THE SCAVENGER’S ECSTASY

as he lowers himself into the bin
and opens up the first big bag—
this, after a week of mostly slugs
and chewing over last year’s pretty
much worked-over hickory nuts.

Each night he tries the Italian deli’s
door and tonight it was unlocked—
each night he propositions every
girl in the shot-&-beer joint and
tonight every one of them said yes.

He doesn’t need an eternity of bliss.
One single glorious night like this,
and then each night recalling it,
and hoping that it happens again,
is paradise enough for a raccoon.


COLD CHRISTMAS IN GULFPORT

Palm fronds reflected
in clear plastic taped
over the trailer window,

Grandma is by the door
decked with pine cones
super-glued to a noose,

half-toothlessly grinning
because she’s got on
her wool church coat

cordoned by one mink
with its little wizened
face stitched to its tail.


THE CAR WINDOW

shattered into empty
sunflower husks
on the macadam
and inside the bar
a woman spit glass
into a tin ashtray
and told her lover
that neither of them
was ever going to
hit the other again.

Glass: tooth (răng)

CORANACH

It didn’t seem like
it was ever
going to get dark,
but now it has,
and night exhales
the same languor.
Who could die
in the summer?
And if you did,
it would have to
be an almost
imperceptible
death as you lay
in the fragrances
of mock-orange
and honeysuckl
and drifted off
in a similar way.
Do not go gentle,
though. It is better
you wait until fall
with its barreling
days and brisk
nights that hurt.


AFTER LEARNING

after learning
the hard way
that her tenth
consecutive
boyfriend was
an ugly drunk

her friend urged
her to change
her luck by
dating people
she did not
find attractive

but the upshot
was a better
appreciation
of the drunks


CRABBING

Thumb and forefinger
to thumb and forefinger,
he gives me the fulcrum
of the kite string.
A jumble lies on the sand;
a taut five feet slants
to the inlet’s dark sheet.

Thumb and forefinger
over thumb and forefinger,
I start to inch it up.

And inch it up.

And inch it up.

And inch it up.

Exactly how deep is this
motherfucking bay?
Or how long till the crab
is sated of the bait?
Or will it, claw to claw,
transfer the tautness
to a fellow crab and go?


EARLIER A ROBIN’S HEAD

Earlier a robin’s head
on the sidewalk in Bath,
tonight a squirrel’s tail
on the porch at home.
The town and country
witch is getting sloppy
one way or the other
so let’s cross our fingers
these are spare parts
spilling from her sack
and not components
of the spell that gets us
out of bed tomorrow.


STAR APPLE

the star apple
cupped in her scaly
gray-nailed hand is
yours for the taking
no strings attached

you burst into tears
and then wake up
to the resumption
of indelible pain


Tom Riordan lives in New Jersey in the U.S. with his wife and 3 children. He gardens, teaches English, cooks and cleans, runs the Environment Commission in his town, and writes.
Page Cover: Farideh Lashai, Untitled (1977).
Image: Courtesy of the Tehran Museum of Contemporary Art.

HAI QUẠT MÁY NHỎ

Với hai quạt máy nhỏ căn
phòng của chúng tôi kêu vang
như chiếc phản lực 727-
Whisper và chúng tôi đang
trên nửa đường tới Virgin
Islands hưởng tuần trăng mật.
Con tàu của một ngôi sao
điện ảnh được neo ở ngoài
bãi biển và cái đĩa đầy
bánh ngọt napoleons
và creampuffs làm chúng tôi
nhận ra cái bụng phệ của
hắn. Điều chúng tôi thích nhất
là bữa điểm tâm và tờ
nhật báo được lặng lẽ giao
tới tận lều ở bãi biển
và cố gắng theo kịp những
con cá đuối ở hồ nước
mặn. À, chúng tôi chưa sẵn
sàng về nhà. Tất cả đang
chờ đợi chúng tôi là cái
studio nóng và ẩm
trong một chung cư ở trên
lò bánh mì hai tầng lầu
mà sự đoái công chuộc tội
độc nhất của nó là hai cái
quạt máy nhỏ.


VÔ ĐỀ

chúng ta thán phục cách con chim
ưng đuôi đỏ gần như khéo léo
giật những miếng ngon nhất bên trong
bộ da của con chuột bị giết
cho đến khi không còn gì nữa
thì xé tọac và nuốt và kéo
cái xác chết không còn gì lên
xơi ngấu nghiến hết luôn bộ da


TƯỞNG TƯỢNG SỰ NGÂY NGẤT CỦA KẺ
VIẾT VĂN DÂM Ô

Như hắn tự thả mình trong thùng rác
và mở cái bao lớn đầu tiên – điều
này, sau một tuần ăn hầu hết những
con ốc sên và nhai hết những hạt
mại châu hơi nhiều năm ngóai
Mỗi đêm hắn thử một cửa hàng Ý
và đêm nay cửa hàng mở cửa – mỗi
đêm hắn gạ gẫm một cô gái ở
quán rượu rẻ tiền và đêm nay mỗi
cô đều đồng ý. Hắn không cần niềm
vui sướng vĩnh cửu. Một tối lẻ loi
huy hòang như vầy, và để rồi mỗi
đêm nhớ lại, và hy vọng trở lại
đó là vườn địa đàng đủ cho một
con gấu trúc.


GIÁNG SINH LẠNH Ở GULFPORT

Những cành cọ phản chiếu trong
miếng platic trong băng dính
qua cửa sổ của chiếc móc
Bà nội đứng tựa bên cửa
treo cái giải nơ kết bằng
những hạt thông cười phô răng
chiếc còn chiếc mất do bà
mặc chiếc áo bằng lông cừu
để đi nhà thờ quàng một
chiếc khăn quàng có khuôn mặt
nhỏ nhăn nheo khâu ở đuôi.


KÍNH CỬA XE

bị đập bể trông giống
những vỏ hạt rỗng của
hoa hướng dương trên đường
trải nhựa và bên trong
quán rượu một người đàn
bà nhổ chiếc răng gẫy vào
trong cái gạt tàn bằng
thiếc và bảo người bồ
rằng không một ai trong
bọn chúng vào bất cứ
lúc nào được đi đánh
kẻ khác lần nữa.

KHÓC TANG

Dường như là ngày
không bao giờ chấm
dứt nhưng bây giờ
chấm dứt, và đêm
thở ra cùng một
vẻ đờ đẫn. Ai
sẽ chết vào mùa
hè? Và nếu bạn
chết, thì đó là
cái chết không đáng
kể như bạn nằm
xuống trong mùi thơm
của hoa ngâu và
hoa kim ngân và
thiếp ngủ trong cùng
một cách. Đừng đi
nhẹ vào, dẫu sao.
Tốt hơn bạn đợi
tới mùa thu với
những ngày vút nhanh
và đêm vút lạnh.
* Coranach: là lời than khóc của người Ái Nhĩ Lan trong đám tang.

SAU KHI NGHE

bằng cách khó khăn
sau khi nghe rằng
người tình của cô
liên tục lần thứ
mười là một tay
bợm nhậu bạn cô
thúc dục cô thay
đổi sự may mắn
của mình bằng cách
hẹn hò với ai
đó nhưng cô không
tìm được ai lôi
cuốn kết quả cuối
cùng là sự nhận
biết khá hơn về
những người tình say.


CÂU CUA

Ngón cái và ngón trỏ
tới ngón cái và ngón
trỏ, hắn đưa cho tôi
điểm tựa của sợi dây
thả diều. Một mớ bòng
bong nằm trên mặt cát;
một sợi dây 5 feet
kéo căng xuyên tới mặt
nước đen của con lạch.
Ngón cái và ngón trỏ
qua ngón cái và ngón trỏ.
Tôi bắt đầu giựt nhẹ.

Và giựt nhẹ

Và giựt nhẹ
Và giựt nhẹ.
Không biết cái vịnh chết
tiệt này chính xác sâu
thế nào? Hoặc bao lâu
cho đến khi con cua
no mồi? Hoặc nó sẽ,
bằng càng với càng, chuyển
cái dây câu này tới
một bạn cua rồi đi?


TRƯỚC TIÊN LÀ ĐẦU CON CHIM MỎ ĐỎ

Trước tiên là đầu con chim mỏ
đỏ trên lề đường ở thành phố
Bath (sau đó) tối nay là đuôi
con sóc nơi mái hiên nhà.
Mụ phù thủy nửa quê nửa chợ
cẩu thả (đánh rơi ra) bằng
cách này hay cách khác bởi thế
hãy cầu mong những bộ phận
dư thừa này lọt ra từ túi
sách (trên vai) của mụ không phải
là thành phần của lá bùa mê
làm chúng ta thức giấc ngày mai.


VÚ SỮA

trái vú sữa nằm trong
lòng bàn tay tróc vẩy
với móng tay màu xám
của bà ta tặng không
cho bạn vô điều kiện
bạn bật khóc và rồi
thức giấc để bắt đầu
trở lại cơn đau không
thể nào gột bỏ được

Khế Iêm dịch

Tom Riordan sống ở tiểu bang New Jersey với vợ và 3 con. Ông làm vườn, dạy Anh ngữ, nấu nướng dọn dẹp, điều hành Ủy Ban Môi Trường trong thị xã, và viết.

TÔI ĐỌC CHÙM THƠ TÂN HÌNH THỨC

PGS, TS: Nguyễn Thái Hòa

 
 Là một độc giả ưa tìm cái mới trong thơ, tôi không thể bỏ qua “Chùm thơ Tân hình thức” trên báo Nghệ Thuật Mới. Trong một trang thơ có đến 8 nhà thơ với 8 bài được nhà phê bình Văn Giá và nhà thơ Khế Iêm – người chủ trương thơ Tân hình thức đã 15 năm nay – đích thân tuyển chọn thì còn phải nghi ngờ gì nữa.

Gọi là thơ Tân hình thức, nhưng có gì khác với thơ mới , thơ không vần, thơ tự do vẫn tràn lan trên các trang báo gần đây?

Xin thưa rằng: Có! Có cái mới mà không chỉ là hình thức mới.

Trước hết tôi thấy cả 8 bài, 8 tác giả đều giống nhau ở một số điểm chủ yếu.  Đó là cách ngắt dòng có thể khác nhau: 5 tiếng (chữ) như thơ Đài Sử; Nguyễn Thị Khánh Minh; 6 tiếng thơ Đức Phổ; 7 tiếng, thơ Huy Hùng; 8 tiếng thơ Khế Iêm, Trần Phục Khắc, Hồ Đăng Thanh Ngọc; tự do thơ Thiền Đăng … nhưng cả tám người nhất loạt phá tung ngữ pháp Tiếng Việt. Nói đúng hơn, khuôn khổ dòng thơ không tương đồng với mệnh đề ngữ pháp (đơn hay phức, chính hay phụ) như ta thường thấy trong thơ. Do đấy, phá vỡ luôn cả tiết tấu và nhịp điệu từ một câu văn nghiêm chỉnh, ý rất thẳng và mạch rất lộ để tạo ra thứ tiết tấu mới, rất mới:

Tôi kéo dài sự im lặng của
buổi sáng bằng cách uống thật chậm
ly cà phê và cố gắng không
cử động mạnh thế nhưng sự im
lặng của buổi sáng là cái gì v.v..

(Một ngày đại khái – Trần Khắc Phục)

Việc xáo trộn các thành phần cú pháp (phép đảo ngữ), việc ngắt dòng phi ngữ pháp (agrammatical) thiết tưởng không có gì mới, việc “đội mũ đỏ cho câu thơ”(V.Hugo), nhiều lắm cũng chỉ ở giới hạn ở những biện pháp tu từ hạn hữu. Nhưng với các nhà thơ chủ trương tân hình thức này thì thực sự là “băm vằm” một câu văn xuôi chuẩn mực. Bất chấp những cụm từ quen thuộc, những từ láy, từ ghép thông thường:

Tôi đã gặp những chiếc hũ
chìm lăn trên đường phố sài
gòn, những chiếc hũ chìm lăn
cùng với những chiếc xe dream…

(Hoạt cảnh – Đức Phổ)

Thế đấy! Không chỉ là câu bị chặt ra mà cả đến những cụm từ chứa đựng tiết tấu, lối nói thông thường (đi về/phía) mà cả những từ (hi/vọng; im /lặng; sài/gòn) cũng bị xé nhỏ.(Chú thích: dấu gạch chéo là dấu ngắt dòng thơ). Những điều họ có thể làm là nâng một vài câu văn xuôi lên thành văn bản mà văn bản không bị phá tung để tạo nhiều tứ thơ như một số bài thơ của một số nhà thơ ở hải ngoại. Khoảng năm 70 ở thế kỉ trước, Chàng Văn (Chế Lan Viên) cũng đã thử làm thơ từ một vài câu văn xuôi như thế, cốt để mình họa một vài quan niệm về thơ.

Có thể nói sự “công phá” không dừng lại ở câu, mệnh đề, cụm từ mà cả đến những từ quen dùng nhất. Đồng thời với sự “công phá ngữ pháp” là sự công phá tiết tấu (chỗ ngừng ngắn, ngừng vừa và ngừng dài) của lời nói thông thường, tạo nên cái nhạc điệu hài hòa trong câu thơ Việt.

Trong khi đó, thơ không vần, thơ tự do vẫn luôn giữ được những tiết tấu thông thường. Thử so sánh tiết tấu trong bài thơ “Gió” của Hoàng Vũ Thuật (cùng ở tạp chí này, tr.28):

Gió
độc quyền
đêm
độc quyền
ngày
phù thủy
thổi dịch đại ngàn
vuốt cao đồi núi
hùn hụt khe sâu …

Ngắt dòng như vậy, Hoàng Vũ Thuật đã tạo âm hưởng cho dòng thơ, tạo nhịp điệu cho thơ (Hoàng Vũ Thuật cũng có lúc ngắt dòng như các nhà thơ Tân hình thức nhưng với tỉ lệ thấp) nó cuốn hút ta, buộc ta phải theo một hướng như lá chờ bay theo chiều gió!

Thơ của các nhà thơ tân hình thức thì không thế. Nó như là một khối chữ, một mô hình ngôn từ, gợi ý cho độc giả đọc theo cách đọc của mình và tạo ra bài thơ của chính người đọc. Nó là một khối ru-bic bằng lời vuông vắn, tạo hình theo tay vặn của người chơi. Thơ cũng như một thứ nhịp nhảy hip – hop, ai muốn nhảy kiểu nào tùy theo ý thích của mình. Chẳng hạn, từ bài thơ 5 chữ, bài “Tĩnh vật” của Đài Sử:

Li rượu được đẩy qua
đẩy lại trên bàn bàn
tay cầm li rượu thay
đổi tốc độ di chuyển
ban đầu của li rượu
nhanh đến chóng mặt bàn
tay cầm li rượu tỉ
lệ thuận với tốc độ …

Nếu tôi thích nhịp thơ 4 chữ, thì tôi biến nó thành thơ của mình, tuy có méo mó:

Đẩy qua đẩy lại
Li rượu trên bàn
Li xoay chóng mặt
Theo đà bàn tay …

Hoặc biến nó thành nhịp thơ lục bát:

Đẩy qua đẩy lại trên bàn
Tay đưa li rượu bàn hoàn ngất ngây
Đẩy li nhanh đến thế này
Theo từng lời nói cơn say điên khùng …

Thế là tôi có thể tạo ra hai ba bài thơ, tuy cổ lỗ sĩ nhưng hợp với mình hơn. Vậy là các nhà thơ tân hình thức không buộc ta theo họ, mà họ gợi ý cho ta làm lại theo cách của ta. Thật là quảng đại, thật là dân chủ! Ý tưởng này không phải là không hề có! Từ xưa ta đã có cách Tập Kiều, dùng nhịp và lời của Truyện Kiều còn ý thì của ta. Có ai chê bai, bắt bẻ gì đâu!

Ước vọng lớn thật đấy, nhưng xin hãy dè chừng!

Có thể xem đây là một thí nghiệm cần phải có. Một khi đã có điêu khắc – lắp ráp mô-đun của nghệ sỹ Điềm Phùng Thị, đã có vũ đạo hip-hop, nhạc ráp, gups và nhiều thứ nữa thì thơ cũng không là ngoại lệ. Phải chăng nó báo hiệu nền móng của các hệ thi pháp mới, mĩ học mới của thời đại?

Với nghệ thuật của thời hiện đại, nói như một người nào đó: “Thích thì chơi, không thích thì thôi, ai bắt anh được”. Dù sao đây cũng là một cuộc tìm kiếm,  thử nghiệm. Và sự tìm kiếm lại có trong chính bản thân mình, chứ không ở nơi nào khác. Cả 8 bài thơ đều hướng vào trạng huống tâm lí không bình thường xuất hiện mỗi ngày (Một ngày đại khái – Khắc Phục; Trống rỗng – Nguyễn Tất Độ; Nghi ngờ – Hồ Đăng Thanh Ngọc; Tĩnh vật – Đài Sử ….) và họ đã thành thực phơi bày những cảm giác như có như không của một thế giới sâu kín. Dường như họ đi tìm cõi vô thức ở chính lòng mình để phát hiện mình và gợi ý cho người đọc tự phát hiện.

Nhưng nói lên điều sâu kín là một chuyện, còn gợi ý cho người khác phát hiện cái thế giới chìm sâu trong những lớp trầm tích ký ức lại là chuyện khác. Theo ý riêng của tôi, chỉ có bài “Con mèo đen” của Khế Iêm là có thể làm được điều đó:

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng …

Cái biểu tượng con mèo đen gợi một bóng hình ma quỷ, khiến cho ma quỷ cũng phải sợ, như tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại, một điềm xấu như người châu Âu hay Việt Nam thường tin đã ám ảnh nhà thơ. Nhưng, với Khế Iêm, con mèo đen gắn với xương sườn lại gợi một tứ thơ khác, có lẽ là Eva, cái xương sườn của Adam. Eva là “mèo đen” trong quá khứ tội lỗi của mình như kinh thánh của đạo Kitô. Cứ thế, độc giả có thể đi miên man trong kí ức chưa quên hoặc đã ngủ quên (tiềm thức) bây giờ thức dậy.

Và như vậy, tân hình thức lại phải có nội dung, nếu không thì chỉ là cái hộp ru-bic vuông chằn chặn không tìm ra khóa mở; hoặc ngược lại nó tung ra để thấy là … không có gì phải mở. Đó là cách đọc của tôi, còn người khác có thể có nhiều cách đọc khác.

Tuy nhiên, dù thành công hay thất bại, sự tìm kiếm thử nghiệm của tân hình thức cũng rất đáng trân trọng. Ở thời đại mà chỉ cần bấm một cái nốt nho nhỏ là lập tức hiện ra mọi thứ mình cần thì hãy bấm vào một vài nốt, thử xoay chiều cái khối rubic “tân hình thức” xem sao! Có thấy gì không, có được gì không? Nào hãy thử xem!

Đến đây tôi nhớ lại một chuyện ngắn đăng ở tạp chí Văn học Xô viết khoảng năm 60 thế kỉ trước. Chuyện rằng: có một nhà địa chất để cả cuộc đời đi ngang dọc khắp cả Liên bang Xô viết mà không tìm ra cái mỏ đồng nào cả, như ước nguyện. Thế rồi đến tuổi về hưu, một buổi chiều ngồi chơi trước của nhà bỗng phát hiện ra một mỏ đồng cực lớn. Không thể nói hết nỗi sung sướng của mình! Nhưng có được phút sung sướng ấy nhà địa chất phải trả giá bằng cả cuộc đời tìm kiếm.

Chắc những người chủ trương “Thơ tân hình thức” cũng muốn được như vậy!

Tháng 10/2012
N.T.H
Tranh bài: http://theformalist.org/ebooks/index12.html

TẠI SAO THƠ TÂN HÌNH THỨC KHÓ LÀM?

https://www.facebook.com/yurilaptevfan
https://www.facebook.com/yurilaptevfan

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt

Khế Iêm

 Đã đến lúc chúng ta phải trả lời những câu hỏi cốt lõi về thơ Tân hình thức Việt, nếu muốn dòng thơ này mạnh mẽ, và lôi kéo được nhiều người tham gia. Tại sao có người sáng tác hàng trăm bài thơ, nhưng chất lượng không đủ để được coi là thơ Tân hình thức? Tại sao đa phần những người tham gia chỉ gắn bó với thơ Tân hình thức một thời gian ngắn rồi thôi? Tại sao có người rất muốn tham gia sáng tác thơ Tân hình thức, nhưng cảm thấy lúng túng, vì khi thực hành thì bài thơ nào cũng biến thành một đọan văn xuôi đếm chữ, trong khuôn các thể thơ 5 chữ, 7 chữ, lục bát?

Vậy thì, phải làm thế nào để sáng tác được những bài thơ Tân hình thức thật sự? Làm thế nào để tạo khả năng cho những nhà thơ Tân hình thức đủ tự tin và hứng khởi, và khi đã đến với thơ Tân hình thức rồi thì không bao giờ từ bỏ?

Thơ Tân hình thức mới mẻ, dĩ nhiên, dễ hiểu nhờ tính truyện, hấp dẫn vì có nhịp điệu, và ý tưởng sâu sắc. Nhưng những tiêu chuẩn trên có bao nhiêu bài thơ đạt tới? Tại sao ý tưởng bài thơ cứ lan man, không đầu không cuối, còn kỹ thuật lập lại tại sao không tạo ra được nhịp điệu thơ?

Tất cả những câu hỏi trên, chỉ cần duy nhất một câu trả lời: chúng ta đã không sáng tác đúng cung cách một bài thơ Tân hình thức. Vì một sản phẩm khi tạo ra không đúng qui trình, sản phẩm đó không bao giờ đạt tiêu chuẩn chất lượng trong sản xuất. Thế thì đâu là cung cách sáng tác thơ Tân hình thức Việt?

“Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắcvần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, người làm thơ đọc thầm trong đầu để phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ, tạo thành nhịp điệu?”

Như vậy, muốn có nhạc tính hay nhịp điệu thơ, khi sáng tác phải ngâm hay đọc lên.

Nhưng thực tế, không thiếu những bài thơ chỉ là đoạn văn xuôi ghi xuống những suy nghĩ khơi khơi, hoặc với một vài ý tưởng đơn sơ, lập lại câu chữ một cách máy móc, rồi đếm chữ xuống dòng. Cách sáng tác này đang hình thành một lối mòn, được mô phỏng từ bài thơ này tới bài thơ khác, từ tác giả này tới tác giả khác. Kết quả là, ý tưởng đi một đàng, nhịp điệu đi một nẻo, không ăn khớp với nhau.

Sở dĩ như vậy vì đa số chúng ta quen làm thơ tự do, viết xuống giấy những suy nghĩ, ngắt câu thành những dòng dài, ngắn. Thơ tự do không quan tâm tới nhịp điệu, vì không có kỹ thuật tạo nhạc tính hay nhịp điệu như thơ vần điệu hay thơ Tân hình thức. Và khi thử nghiệm thơ Tân hình thức, chúng ta lại sáng tác theo cách làm của thơ tự do. Kết quả, thơ chỉ mang cái hình thức nhưng không đạt được cái hồn thơ Tân hình thức.

Để thoát ra tình trạng này, tuyệt đối không viết một đọan văn xuôi xuống giấy, mà chỉ ghi lại khi bài thơ đã xong (để hiệu đính và tiếp tục hoàn chỉnh), hoặc ghi xuống từng câu để khỏi quên, trước khi tiếp tục những câu thơ khác. Vì tiến trình làm thơ Tân hình thức là đọc thầm trong đầu, chứ không phải bằng cây viết và tờ  giấy. Có như thế, chúng ta mới nối kết những câu thơ với nhau bằng hơi thơ,  nhịp điệu mới gắn bó tự nhiên với ý tưởng. Khi sáng tác luôn luôn phải cảnh giác, tránh bài thơ khi đọc lên, nghe như văn xuôi. Điều này, người đọc không cần tinh ý, cũng rất dễ nhận ra.

Trước kia, từng có người phê bình: thơ Tân hình thức hỏng là do chính những nhà thơ Tân hình thức, chứ không phải ai khác. Có thể tạm giải thích:

Cách làm thơ là để phát huy tài năng của nhà thơ, và chúng ta phải tuân thủ, nếu muốn có thơ hay. Như vậy, chất lượng bài thơ tùy theo cách làm thơ. Làm thơ theo cách lặng lẽ viết xuống giấy, bài thơ sẽ nhạt nhẽo, như văn xuôi. Còn nếu làm thơ đọc thầm trong đầu, theo đúng cung cách thơ Tân hình thức, sẽ cho chúng ta những bài thơ Tân hình thức thật sự. Điều này giải mã, tại sao thơ Tân hình thức Việt lại ít người tham gia, có lẽ, vì họ không nắm được cách làm thơ.

Khi sáng tác bằng cách đọc thầm trong đầu, chúng ta luôn luôn bị ám ảnh về bài thơ, những tình tiết, ý tưởng sẽ từ từ được loại bỏ, thêm bớt, làm bật lên những ý chính và ý phụ, bài thơ sẽ không bị rơi vào tình trạng lan man, người đọc không biết bài thơ muốn nói gì. Nhịp điệu nối những câu thơ và toàn bài thơ sẽ được cân nhắc, thay đổi sao cho đạt hiệu quả, lôi cuốn người đọc. Dĩ nhiên, người làm thơ sẽ phải trải qua tình trạng chìm đắm trong bài thơ, bài thơ và tâm hồn nhà thơ là một, và những điều mới mẻ chỉ có thể phát hiện trong lúc này. Khi vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu, quen với cách làm thơ mới, và có được những bài thơ Tân hình thức hay, sẽ khơi gợi niềm đam mê nơi những nhà thơ.


Thơ Tân hình thức Việt chủ trương mang đời sống vào thơ, nhưng thật ra, chúng ta đang tách lìa đời sống. Đồng bằng sông Cửu Long hạn hán, cá chết hàng loạt ở Hà Tĩnh và các tỉnh miền Trung là thảm họa môi trường tác động mạnh mẽ đến mọi người, và ảnh hưởng đến hàng triệu triệu người dân nghèo, nhắc chúng ta phải định hướng lại cách sáng tác.

Có biết bao nhiêu tin tức, phóng sự và hình ảnh, trong báo chí chính thức đưa tin, internet đang là kho trữ liệu vô giá giúp chúng ta tìm kiếm những câu truyện có thực để sáng tác, ghi dấu và thể hiện thời đại chúng ta đang sống. Chúng ta trộn lẫn tính hư cấu của tiểu thuyết, tính chân thực của tình tiết trong câu truyện, hiện thực huyền ảo gì cũng được, miễn là thành thơ. Từ đó chúng ta sẽ kinh nghiệm được làn ranh giữa thơ và văn xuôi, nắm bắt được sự khác biệt giữa những tình tiết và cách diễn đạt của tiểu thuyết và thơ.

Chúng ta hãy áp dụng kỹ thuật xâu chuỗi: mỗi bài thơ là một đoạn tình tiết trong câu truyện, được liên kết với nhau thành chuỗi những bài thơ. Âm nhạc, chúng ta cũng đã từng có những trường ca như, “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy, “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương …

Nhưng trong tình trạng mới mẻ của loại thơ này, chưa ai có kinh nghiệm, chúng ta thử nghiệm cách làm như sau: mỗi tác giả tìm kiếm cốt truyện và tình tiết trên internet. Sau đó sáng tác, và gửi tới một bạn thơ nào đó nhờ góp ý, và cùng nhau biên tập cho tới khi hoàn chỉnh để bảo đảm chất lượng bài thơ. Đây cũng là bước khởi đầu “hướng tới một nhóm sáng tác”.

Butterfly Effect by Yuri Laptev

NHỮNG CUỐN LỊCH SỬ THƠ MỸ, PHỤC HƯNG HARLEM VÀ HIP HOP NHƯ TÂN HÌNH THỨC

HISTORIES OF AMERICAN POETRY, THE HARLEM RENAISSANCE AND HIP HOP AS NEW FORMALISM

William B Noseworthy

“Những cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ” chỉ có bốn ấn bản chính đáng kể, được viết theo chủ đề trên. Kreyborg (1934) là người đầu tiên viết và cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ được ấn hành rộng rãi, “Sức mạnh hát ” (Our Singing Strength), dùng tựa đề một bài thơ của Robert Frost, [tuyển tập này] chú trọng chủ yếu đến thơ được viết tại miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Gregory & Zaturneska (1969) viết rằng họ chú tâm vào Lịch Sử Thơ Mỹ, nhưng trong văn bản chỉ nhắc đến [những tác phẩm vào] 1900-1940, một lần nữa, cũng lại đề cập tới những bài thơ được viết trong vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, với một phần riêng, “Những Nhà Thơ Mỹ Da Đen” (trang 387-398), dành cho thơ Phục Hưng Harlem, đặc biệt nhấn mạnh đến những tác phẩm nổi tiếng của Paul Lawrence Dunbar từ Ohio, một nhà thơ được biết đến rộng rãi như “Nhà Thơ Mỹ Gốc Phi Nổi Tiếng Đầu Tiên Trong Anh Ngữ.” Thơ của Dunbar đầy những vần nghiêng (slant rhyme: hơi vần), vần trong dòng thơ (internal rhyme) và cấu trúc thể luật chính thức. Ông là đồng nghiệp sớm nhất của James Weldon Johnson và Qilliam Stanley Brainwaithe, những nhà thơ Harlem Phục sinh đầu tiên (Gregory & Zatruneska 1969: 392).  Một khuôn mặt khác cũng được Kreyborg đề cao, Claude McKay từ Jamaica, và kế đến là Langston Hughes, Countee Cullen, Sterling A. Brown và Margaret Walker. Tất cả những nhà thơ lãnh đạo Phục Hưng Harlem đều được công nhận trong tập [này], tuy nhiên thời kỳ lịch sử Phục Hưng Harlem lại không được nhắc đến.

Tuy Hồi Giáo đã bắt rễ sâu xa sâu nơi những tác giả Mỹ gốc Phi, Stauffer(1974) có thể coi là đại diện đầu tiên viết cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ,  xử lý những tác phẩm của nhà thơ Mỹ gốc Phi [bằng cách] chọn lại một cái tên có ảnh hưởng Hồi Giáo. Cuốn lịch sử của ông đã dành một mục cho LeRoi, hoặc Imamu Amiri Baraka. Đó cũng là cuốn “Lịch Sử Thơ Mỹ” sớm nhất đề cập đến Phục Hưng Harlem với đúng nghĩa của nó. Giới học giả Hoa Kỳ đã phải tốn 50 năm mới nhận ra tầm quan trọng của phong trào sáng tạo này. Stauffer (1974) vẫn dành một mục cho nhà thơ Mỹ gốc Phi đầu tiên, Paul Laurence Dunbar như là “Nhà thơ Thời Thoái Trào”(194-221), một mục cho John, McKay, và Hughes như những “Nhà thơ Mới” nhấn mạnh tới “khuynh hướng địa phương và ngôn ngữ” (221-256). Nhưng sau đó, Stauffer làm nổi bật những nhà thơ đồng thời với Baraka, “Những Nhà Thơ Da Đen”, như Conrad Kent Rivers, Dudley Randal, Raymond Patterson, James Emanuel, Sonia Sanchez, Nikki Giovanni, và Keorapetse Kgositsile, hầu hết trưởng thành vào những năm đầu phong trào dân quyền, thế kỷ 20, và đặc biệt, họ cố gắng tích cực phục hồi lại xã hội Hoa Kỳ, bằng cách nói lên sự thật một cách mạnh mẽ qua thơ, mặc dù sự thịnh hành của “thơ tự do” vào giữa thế kỷ 20 đã hạ thấp vị thế của thể thơ và vần.

Qua việc ấn hành cuốn Lịch Sử Thơ Mỹ Columbia (Parini & Miller 1993), những tác phẩm đầu tiên của những nhà thơ Mỹ- Phi nổi danh dần dần được công nhận một cách rộng rãi. Bây giờ, thơ “Phục Hưng Harlem” đã có những tiêu đề riêng (pp. 477-506), như ” Nhà Thơ Da Đen”  (pp. 707-728) và “Thơ Người Mỹ Bản Địa” (pp. 728-750). Theo tập này thì ý tưởng “Phục Hưng Harlem” là một thực trạng lịch sử xã hội, rõ ràng vẫn còn trong vòng thắc mắc vào thời điểm 1993, và cho dù Hip Hop và nhạc Rap đã phổ biến trong dòng chính, thơ diễn đọc (spoken-word poetry) đương đại đã không được đề cập trong tập này. [Tập sách] dành nhiều sự quan tâm cho Amiri Baraka, cũng như cho bất cứ ai trong những nhà thơ Mỹ ảnh hưởng nhất. Tuy nhiên, sự liên đới giữa xu hướng Nghệ Thuật Đen (Black Arts) của những năm 1960s and 1970s và phong trào Hip Hop mới khởi nguồn tại Bronx, thành phố New York vào những năm 1970, đã hầu như hoàn toàn vắng bóng. Nói một cách khác, tập sách này đã bỏ qua loại thơ diễn đọc phổ biến nhất vào thời gian nó được ấn hành.

Qua tác phẩm của nhạc sĩ chơi nhạc cho khán giả nhảy, nhà hoạt động, và  những nghệ sĩ Hip Hop, Afrika Bambatta nêu bật sự quan trọng mang tính xã hội ban đầu của những nghệ sĩ Hip Hop, như những thành viên băng nhóm hoàn lương, đã đem thanh thiếu niên đến nơi trình diễn nghệ thuật trong các khu phố nội thành. Nhưng những ca từ của ông (Afrika Bambatta) cũng nêu bật xu hướng quan trọng: sự trở lại của thể thơ bán chính thức và tầm quan trọng của vần. Những tổ chức  xã hội “Nước Đạo Hồi của Người Gốc Phi” (Afro-centric Nation of Islam) và “Nước của Nnhững Cha và Mẹ” (Nation of Gods and Earths (còn gọi tắt là 5% Nation) đã phổ biến trong những khu phố nội thành Hoa Kỳ, nhất là vào những năm 1950 và 1960 trở lại. Vì thế, chỉ là vấn đề thời gian trước khi thơ trình diễn phổ biến đính hôn với tiếng nói của Hồi Giáo, Hip Hop, và sự nhận thức xã hội. Tiêu biểu là những nghệ sĩ, những nhà hoạt động, và những nhà thơ như Ali Shaheed Mohammed, Q-Tip, Ice Cube, Phife Dawg, Busta Rhymes, Talib Kweli và Mos Def  (giờ là: Yasiin Bey), trong lập luận của họ, sự tái thức tỉnh của nhận thức xã hội là đặc tính của Phục Hưng Harlem và phong trào Nghệ Thuật Đen trong thể loại thơ mới, nói lên tiếng nói của sự thật với mọi con người trên thế giới. Trong khi sự kỳ thị của đạo Cơ Đốc Mỹ gốc Anh đã chủ động dẫm nát sự ảnh hưởng khởi nguồn từ phong tục Hồi giáo và Ả Rập, qua những thể thơ và hình thức thơ, suốt thế kỷ 20, cho đến thập niên 1990 và 2000 [sự kỳ thị] này mới không còn tồn tại.

Khế Iêm nhắc nhở chúng ta rằng tiếng Việt và tiếng Anh vốn là ngôn ngữ đơn âm, và mãi sau này tiếng Anh mới trở thành ngôn ngữ đa âm, khi ảnh hưởng từ vựng từ Hy Lạp và La Mã, được giới thiệu và chọn lọc qua những ngôn ngữ gốc La-tinh. Tương tự như vậy, bản chất vần mà thơ Tân hình thức tuân giữ, đã đến, không phải từ các ngôn ngữ gốc La Tinh [vốn] coi trọng thơ vần, mà từ tiếng Ả Rập, lần đầu tiên giới thiệu vần và thơ thể luật qua kinh Koran. Mos Def nhấn mạnh bản chất thơ thể luật và vần của kinh Koran  trong một cuộc phỏng vấn với học giả H. Samy Alim, và ở San Francisco, nghệ sĩ rap Bigga Figga cũng nhấn mạnh những điểm tương đồng giữa những cấu trúc ca từ của Hip Hop và “chủ ý sư phạm” của kinh Koran, trong đó vai trò của thơ thể luật và vần được sử dụng để “tiếp cận trái tim và khối óc nhân loại” (Samy Alim 2005: 264-268). Vì vậy, Hip Hop có phải làTân hình thức không? Là thơ Tự do? Hay đều không phải cả hai? Có phải những nhà thơ Tân hình thức tự xác định, nhận Hip Hop như người thừa kế thực sự của những truyền thống thơ Mỹ?

Các câu hỏi đặt ra ở trên phải thừa nhận là khiêu khích. Viết lách với một động lực để tìm ra sự thật thường là thế. Ý tưởng rõ ràng mời gọi phê bình. Ví dụ, Khế Iêm cho rằng [thơ] Tân hình Thức là phương tiện “bác cầu” xu thế xuất bản của Việt Nam và Hoa Kỳ, trong khi Linh Đinh chỉ trích Khế Iêm quá chú trọng [một cách] “nguy hiểm” vào Tân hình thức. Tôi không cho là như thế, chúng ta phải hiểu rằng có một số lượng đáng kể các tác giả Việt-Mỹ, Hao Phan, Đinh Linh và nhiều người khác, hết lòng chấp nhận ” Thế Hệ Beat” – như sự nhấn mạnh vào “Thơ tự do.” Tôi cũng lập luận rằng, trong nhiều cuộc thảo luận học thuật về thơ Tân hình thức như một thể loại thơ, đã có sự thiếu hiểu biết chung về tính phức tạp về lịch sử xã hội trong truyền thống thơ Mỹ, nhiều điều ấy đã được các học giả văn học Việt-Mỹ đưa ra ánh sáng. Tuy nhiên, đó không đúng với Tân hình thức vì cấu trúc vần của thơ Tân hình thức không chỉ mắc nợ từ nguồn thơ Ả Rập mà còn từ các nguồn khác. Chúng ta nhớ rằng có đến một phần ba của những người nô lệ châu Phi, trong đó có một số sheikh (lãnh tụ tôn giáo), những trí thức Hồi giáo đã được đưa sang Hoa Kỳ thông qua việc buôn bán nô lệ. Hai chất lượng thẩm mỹ chủ yếu  từ những bài hát bè (một người hát và toán đồng ca lập lại), và những bài thánh ca, được phổ biến trong văn hóa người Mỹ gốc Phi thế kỷ 19, là phương tiện dùng để tái tỉnh thức của Hồi Giáo tại Hoa Kỳ, bởi vì họ muốn bảo tồn chất lượng âm nhạc chính thức trong thơ. Mặc dù hầu hết các nô lệ người Mỹ gốc Phi đã buộc phải theo Cơ Đốc giáo và phải chọn những tên Thánh bằng tiếng Tây vào thế kỷ 19, những điều kiện lịch sử xã hội này là nền tảng cho sự tái thức tỉnh của người Hồi giáo Mỹ gốc Phi vào thế kỷ 20.

Mặc dù ảnh hưởng của văn hóa Hip Hop trên thi pháp đương đại Việt ít, nhưng vẫn có. Nhà thơ tự do Việt-Mỹ Bảo Phi được mời tham gia trong chương trình “Poetry Slam” vào những năm 2000, và chúng ta thấy [tác phẩm] Hip Hop đầu tiên được sản xuất bằng tiếng Việt và tại Việt Nam. Ở Wisconsin, các tác phẩm của cố thi sĩ Việt-Mỹ Johnny “Việt Nam” Nguyễn đang dần bị lãng quên một cách buồn bã chỉ trong một vài năm ngắn ngủi sau khi ông qua đời. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khả năng của các thế hệ nối tiếp của các nhà thơ Mỹ, ở bất kỳ truyền thống nào, sẽ không có những hạt giống từ ảnh hưởng của các nhà thơ Việt-Mỹ, các nhà thơ Ả Rập, và các nhà thơ người Mỹ gốc Phi đã gieo trong họ.

Trần Vũ Liên Tâm dịch

There are, notably, only four major published “Histories of American Poetry” written as such. Kreyborg (1934) proposed to write the first widely published History of American Poetry, using a subtitle from Robert Frost’s “Our Singing Strength,” that focuses, predominantly on poetry that was written in the northeastern United States. Gregory & Zaturneska (1969) wrote their own focused History of American Poetry, but the text only covered 1900-1940, again focusing predominantly on poems written in the northeastern United States with a separate section devoted to the Harlem Renaissance poets “The Negro Poet in America,” (pp. 387-398) which places special emphasis on the celebrated work of Paul Lawrence Dunbar of Ohio, widely billed as the “First popular African American poet writing in English.” Dunbar’s verses were filled with slant rhyme, internal rhyme and formal metered structures. He was an early contemporary of the early Harlem Renaissance poets James Weldon Johnson and William Stanley Brainwaithe (Gregory & Zatruneska 1969: 392). Another figure who features in Kreyborg’s highlight was Claude McKay of Jamaica, followed by Langston Hughes, Countee Cullen, Sterling A. Brown and Margaret Walker. All the leaders of the Harlem Renaissance were recognized in the volume, although the “Harlem Renaissance” as such was not.

Although Islam has deep roots among African American authorship, Stauffer (1974) may represent the first History of American Poetry that treats the works of an African-American poet to re-take an Islamic influenced name. His history devotes a small section LeRoi Jones, or Imamu Amiri Baraka. It is also the earliest “History of American Poetry” to make mention of the Harlem Renaissance as such. It took American scholarship 50 years to recognize the significance of this creative movement. Stauffer (1974) still devotes sections to earlier African American poet Paul Laurence Dunbar as a “Poet of the Twilight Years” (194-221) and to Johnson, McKay and Hughes as “New Poets” that emphasized “regionalism and language” (221-256). But then, with contemporaries of Baraka, Stauffer emphasizes “Black Poets” such as Conrad Kent Rivers, Dudley Randal, Raymond Patterson, James Emanuel, Sonia Sanchez, Nikki Giovanni, and Keorapetse Kgositsile, most of whom came of age during the early part of the civil rights movement in the twentieth century and were specifically attempting to actively reshape American society by speaking truth to power through verse, although the prevalence of “free verse” by the middle of the twentieth century had de-emphasized form and rhyme.

By the publication of the Columbia History of American Poetry (Parini & Miller 1993) the early works of renowned African American poets had become more widely recognized. Now the poetry of the “Harlem Renaissance” was given its own heading (pp. 477-506), as were the “Black Arts Poets” (pp. 707-728) and “Native American Poetry” (pp. 728-750). According to this volume the idea that the “Harlem Renaissance” was a socio-historical reality was apparently still in question in 1993 and even though Hip Hop and Rap music had already reached mainstream popularity, contemporary spoken word poetry wasn’t included in the volume. There was nearly as much attention devoted to Amiri Baraka as any other of the most influential of American poets. However, the connection between the Black Arts Movement of the 1960s and the 1970s and the almost immediately emerging Hip Hop movement that originated in the Bronx, New York City in the 1970s was entirely absent. In other words, the volume ignores the most popular poetic form at the time of its publication.

Through the work of DJ, Activist and Hip Hop artists Afrika Bambatta highlights the early social importance of Hip Hop artists as reformed gang members brought youth into the preforming arts scene in inner city neighborhoods. But his lyrics also highlight an important trend: the return to semi-formal verse structures and the re-emphasis on rhyme. The Afro-centric Nation of Islam and Nation of Gods and Earth (5% Nation) social organizations has already been popular in inner city neighborhoods in the United States, particularly from the 1950s and 1960s onward. Therefore, it was only a matter of time before popular performed poetry began to marry the voice of Islam, Hip Hop and social awareness. Artists, activists and poets such as Ali Shaheed Mohammed, Q-Tip, Ice Cube, Phife Dawg, Busta Rhymes, Talib Kweli and Mos Def (now: Yasiin Bey) represented, in their line of argument a re-awakening of the social awareness that was characteristic of the Harlem Renaissance and the Black Arts movement in a new poetic genre to speak truth to the people of the world. Whereas the prejudice of Anglo-American Christianity was actively stamped out Islam and Arabic cultures original influence on poetic forms and formalism throughout the twentieth century, by the late 1990s and 2000s, this was no longer the case.

Khế Iêm has reminded us that the Vietnamese language and English were both originally monosyllabic languages, and the pol-ysyllabalism was only introduced into English language works later, upon the influence of Greek and Roman words being introduced and filtered through romance languages. Similarly, the rhyming nature that New Formalists hold so dear, was brought to the world not from the Romance languages that celebrated rhyme, but from Arabic, which first introduced rhyme and meter through the Qur’an. Mos Def has emphasized the nature of the Qur’an as metered and rhymed in an interview with scholar H. Samy Alim and San Francisco rapper Bigga Figga also emphasized the similarities between Hip Hop lyrical structures and the “pedagogical intentions” of the Qur’an, in that the role of meter and rhyme was used to “reach the hearts and minds of human kind” (Samy Alim 2005: 264-268). So, is Hip Hop New Formalism? Is it Free Verse? Is it neither? Would self-identifying New Formalists recognize Hip Hop as the true inheritor of American Poetic traditions?

The questions posed above are admittedly provocative. Writing with a motive to uncover the truth often is. Having a clear idea invites critique. For example, Khế Iêm has emphasized New Formalism as a means to “bridge” the publishing climates of Vietnam and the United States, while Linh Dinh has critiqued Khế Iêm directly for placing a “dangerous” overemphasis on New Formalism. I would argue this is not the case, as long as we understand that there are a significant number of Vietnamese-American authors, Hao Phan, Linh Dinh and many others, who wholeheartedly accepted the “Beat Generation”-like emphasis on “Free Verse.” I would also argue that in many contemporary scholarly discussions of New Formalism as a genre there has been a general ignorance of the socio-historical complexities of American poetic tradition, many of which have been brought to light by Vietnamese-American literary scholars. But, it is not just the case that New Formalism owes the origins of rhyming structures to Arabic poetry. We should also be constantly reminded that as many as a third of African slaves, including a number of recorded sheikh Islamic intellectuals were brought to the United States through the slave trade. The two central aesthetic qualities of call and response work songs and hymnals popular in nineteenth century African-American culture were a means that primed a re-awakening of Islam in the United States as they preserved the emphasis on formalized musical qualities in verse. Even when as most of the African American slaves were forced to submit to Christianity and take on Euro-Christian names by the nineteenth century, these socio-historical conditions were a primer for the twentieth century re-awakening of Islam among African-Americans.

Although the influence of Hip Hop culture on Vietnamese contemporary Vietnamese poetics has been small, it is present. Vietnamese-American Free Verse poet Bao Phi was invited to join in Mos Def’s “Poetry Slam” productions in the 2000s, and we are beginning to see the first Hip Hop videos produced in Vietnamese and in Vietnam. In Wisconsin, the works of the late Vietnamese-American Johnny “Vietnam” Nguyen are being sadly beginning to be forgotten in only a short few years after his death. However, this does not mean that the ability of the next generation of poets, of any tradition will not have the seeds of influence of Vietnamese-American poets, of Arabic poets, and of African American poets already planted within them.


Bibliography

Alim, H Samy (2005). A New Research Agenda: Exploring the Transglobal Hip Hop Umma. Pp. 264-274 in eds. Miriam Cooke & Bruce B Lawrence.  Muslim Networks from Hajj to Hip Hop. Chapel Hill University Press: North Carolina.
Curtis, Edward E. (2002). Islam in Black America: Identity, Liberation and Difference in African-American Islamic Thought. State University of New York Press: New York.
Daulatzai, Sohail (2012). Black Star: Crescent Moon: The Muslim International and Black Freedom Beyond America. University of Minnesota Press: Minneapolis, MN.
GhaneaBassiri, Kambiz (2010). A History of Islam in America. Cambridge University Press: New York
Kreymborg, Alfred (1934). A History of American Poetry. Tudor Publishing Company: New York.
Parini, Jay & Millier, Brett C. (1993) The Columbia History of American Poetry. Columbia University Press: New York.
Stauffer, Donald Barlow (1974). A Short History of American Poetry. Dutton & Co.: New York.
Zaturenska, Marya and Gregory, Horace (1969). A History of American Poetry: 1900-1940. Gordian Press: New York.

 

TUẦN THƠ 50: BỨC TRANH ẢO

Giới thiệu Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt | Thơ Lê Hưng Tiến


BỨC TRANH ẢO

vẽ em lên đỉnh núi thì
em bờ cõi hư hư thực thực … thốc
vào ngọn nắng vô tình lảnh
cảnh thì con nước cũng dáo dác li
ti … vẽ em đồng điệu trên
sóng mắt thì dốc ngược hồn anh từ
phía chân trời khi định mệnh
là viền ruộng xa xa thẳm thẳm … nơi
dong dỏng bóng dáng nền mây,
lại vẽ em tóc mai lưng trời môi
hồng khe khe khẽ khẽ màu
nước, và ngực căng tròn chái núi thì
cảm anh lầm lụi hoài trong
sâu thẳm hồn em, có lẽ vì nét
mày chao nghiêng giữa miền thu
nên định mệnh em sương khói lòng anh…


CÁI TÔI CÓ THỂ

mở những khát vọng ra  từ cánh
cửa đập tan bờ sóng nên trái
tim không thể hú hớ nổi ngọn
gió thơ trên đồi hoang vu. Mênh
mông vỡ vụn rồi tự mất dần
bóng tối lung linh khi giấc khuya
vụt dậy tung hứng hàng hàng câu
trả lời vì sao và vì sao
trái tim không thể hú hớ nổi
ngọn gió thơ trên đồi hoang vu
khát vọng vẫn cô độc bởi dấu
chấm hỏi còn kìm kẹp phía sau mặt
trời đỏ lệ đang còn ẩn ngữ
những hoài niệm thông hành mà thế
giới con người luôn thức nhận chuỗi
chuỗi linh động linh động. Có thể
cái tôi cao trào nhưng bật khát
vọng ra thì cái tôi đã quá
vãng và chưa đủ cái tôi khát
vọng nên cái tôi không thể hú
hớ nổi ngọn gió thơ trên đồi
hoang vu hoang vu. Hoang và vu…


CHỮ KÝ

những giọt sương vắt kiệt mồ hôi
đến nỗi cơn mê bấn loạn nắng
mai đóng dấu bàn chân khô khốc
chú bé lượm mẫu chữ tàn canh
và gạch xiên con đường cô quạnh
cái hồ ao ước như là định
phận con kiến lận đận tìm quên
cái tên để mà nghe hơi đất
thở phào phào ngụ ngôn vòng vo
đường tinh khiết nên kiến con tận
tụy ký vào dấu lưng hỏi lửng …
nhiều khi chân lý buộc đường kẽ
tay đến nỗi những giọt sương vắt
kiệt mồ hôi từ hơi đất thở
phào phào ngụ ngôn ngụ ngôn thì
chú bé lại hâm hẩm dòng suy
tưởng bằng nước mắt mùa xanh xanh
con kiến con cũng leo vào giấc
mơ làm ù tai chú bé bé.


CHUYỆN CỦA MẤY NGƯỜI

cây bàng lổ đổ nắng với dấu vết
mốc meo lưng sóng bởi mỗi ngày chêm
chêm tí lửa nên vàng cánh gió làm
con tim hổn hển. Rồi có bà già
nọ dắt trưa lên đồng để đem câu
thơ gãy ngồi hong quê mùa, trong khi
đó thằng bé thì ngó đăm đẳm bầy
sẻ ngô  thổi trắng cái sáo diều đăm
chiêu cũng như cô gái nọ vắt vẻo
phần trong trắng của mình thổi hồn làm
tinh chất rồi bỏ vào lọ điểm trang…
bên kia cây bàng vẫn lổ đổ nắng
nên mấy tàn lá phủ xanh thời không
tuổi, có lẽ ai đó gọi tên mình
bằng cái nhìn khiếm thị nên chằm chằm
chăm chắm suy tư. Lẽ nào bà già
lên đồng giặt nắng, lẽ nào thằng bé
tắm trắng thời xanh, lẽ nào cô gái
hao hao hờ nhạy cảm, lẽ nào ai
đó ngồi chò hỏ cặm cụi ước ao…


LU LU

đêm qua con chó Lu Lu ru
rú ngọn gió độc mộc làm khối
âm thanh được đúc bằng ống khí
nhòn nhọn nhưng chẳng ai dám chĩa
vào khu bảo tồn đồng tiền tiếng
nói khi mặt trăng gối mộng Lu
Lu mang giấc khuya bên lề hoang
mang bằng âm thanh vữa ra từng
khối đá trắng dã như lời nói
khống hu hú những linh hồn bảo
tàng. Và đêm nay con chó Lu
Lu cũng ru rú ngọn gió độc
mộc khi chiếc mặt nạ bày biện
những hợp âm át giảm khiến Lu
Lu nhảy khỏi cái bóng nó rùng
rục linh cảm từ những sợi đêm
chằng bẵng rung lên nhưng chẳng ai
dám đóng cửa khu bảo tồn đồng
tiền tiếng nói …


MÁ TÔI

khói rơm thảy tro vào miệng đất
khi cò con vạt trắng giêng hai
thì Má tôi gánh mặt trời lên
núi để bán cánh chân con cò
người qua kẻ lại đói đồng không
ai mua ai bán cái lông bông
lần rồi Má tôi đong đếm ngày
và đêm để ủ từng lớp tinh
sương khi cò con lẩy bẩy thèm.
Và khi vệt sáng hấc linh tinh
những ngọn cỏ ngoai ngoải miền sám
hối thì Má tôi cùi cụi dệt
mảng khói rạ làm con cúi nhảy
tọt mồ hôi khi con cò bắt
đầu đói đồng chiêm Má tôi mới
thảy tro vào miệng đất.Mặt trời
vó ngựa thì những hạt hạt đắng
đót từ phận người người sinh sôi.


NGỤ NGÔN CỦA DẾ

Dế con đội gánh từng sợi
đêm treo ngược thời gian rao
rảo những bước cao vô vọng
đột nhiên khản cả vầng trăng
có nghe thút thít từ trong
lòng đất, tiếng xưa trở dạ
lót mềm bóng mây… Dế con
lốc vào lũ ăn mày rồi
vỡ lòng bài đồng ca khai
nhịp thời không gian nơi
tồn tại những ý nghĩ phù
du có thể nảy ra chân
chân cần mẫn, tay tay lùi
lụi trong tĩnh tĩnh động động
vêu vao mũi mũi mắt mắt
sự sống hình hài ngón ngón
thon thon be bé hòng họng,
cuộc chiến bản năng mất mất
còn còn chùng lên những linh
hồn vếu váo phù du treo
ngược sợi đêm Dế con lui
cui từ trái tim thoát hiểm
Khi bình minh đo đỏ Dế
con chưa nghĩ được điều tối
tăm tội vạ…


HÃY LÀ GIẤC MƠ HOANG

mở toang những giấc mơ mà thằng
bạn lỏng khỏng chìa ra chiếc khoá
nụ cười và cặp kính bâng quơ
rồi nó nghiền ngẫm mấy đoá tường
vi côi cút mùa xưa bỗng hồn
nó sâu lại chuỗi suy tư trần
truồng rét mướt. Mùa đông về người
ta thường buộc sợi chỉ vào giấc
hoang đàng để nằm nghe thời gian
qua từng kẽ tay duyên dáng đến
khi cơn mưa li ti cũng xâu
thành suối tóc nhớ nên nó ngồi
lụy người nhìn góc phố xơ xác
thương tiếc mùa yêu.Thế mới hiểu
được sự đời chỉ vỏn vẹn trong
gang tấc là đánh mất cả niềm
tin và lòng tự trọng đáng có
của mình.Ôi ! ma tuý là cái
nôi ám ảnh con người về nỗi
tuyệt vọng vui cùng hạnh phúc.Mênh
mông nào có thể tha hoá được
cô nàng tiên nâu với ma men
nó ảo ảnh. Cơn mưa ơi! hãy
để cảm thức nó trở về từ
giấc mơ hoang tìm lại nửa phần
hồn đã mất…


THỜI VỤ

bỏ vào khoảng trống cho mấy
vụ mùa thơ mảy may hạt ít ỏi
phù sa trên cánh đồng triển
hạn nên ai đó cầy xới lên sâu
thẳm làm con chuồn chuồn đói
những vầng thơ. Khi đường bay lấm tấm
vào sợi mưa ký ức bốc
hơi về đỉnh núi thì ai đó cũ
cái hồn nhiên và cái riêng
tư. Và những cái gọi trong thao thác
làm hư hao từng mớ cơ
thể rồi trái tim dong ruổi cũng làm
đủ ưu phiền. Bỏ vào khoảng
trống tháng ngày qua lỏng chỏng đôi vai
cày nên vụ mùa thơ gầy
guộc giống. Ném mồ hôi từ sóng mắt
cho chiều vật vã cho hồn
chữ cày cáy vụ mùa thơ chồi lên
tư lự rồi bỏ vào khoảng
trống bỏ vào khoảng rỗng khoảng không…


THƠ NHÌN NGHIÊNG

cái bóng đen bị đèn đỏ đỏ đỏ
chụp mũ những ngôn từ rỗng nắng và
bị vàng hớ những dấu chân xanh trùi
trụi không ai nên bài thơ chưa đủ
mày mạy làm tắt mắt. Có những mày
râu rẽ trái về sau họ đi đâu
đến đâu không ai biết nhưng chỉ biết
ngoài hiên gió ngổn ngang có khi họ
mang những câu thơ về rợp ngói hồng
người thiếu phụ dửng dưng rẽ phải với
cái bóng đen xâu xé mặt trưa rát
rạt đến khi đèn đỏ đỏ bỏ ngỏ
nhấp nháy và câu thơ rỉ tối tối
những cụ cao niên thăng thẳng một đường
thẳng câu thơ rù rì lên khói khi
đến ngã ba tam giác có cụ lung
lạc thơ mấy độ độ vuông chằn chặn
ngày cong đêm lối em mơ mớ thành
ý tứ con đường rất thèm bóng rao
vang như đèn đỏ đỏ bật câu thơ
điểm chỉ


Tranh bài: Claude Monet

TẠI SAO TIẾNG ANH LẠI THÍCH HỢP CHO VIỆC LÀM THƠ?

Jorie Graham

Pháp, Ý, và Tây Ban Nha có những họa sĩ [lẫy lừng] của đất nước; Đức và Ý có những nhà soạn nhạc; nhưng rất ít xứ sở có thể so đọ được với nước Anh và Mĩ khi nói về các nhà thơ. Nhà thơ Jorie Graham, người sử dụng được ba ngôn ngữ, đã đánh bạo đưa ra ý kiến để lí giải điều này.

Câu hỏi: Tại sao tiếng Anh lại thích hợp cho việc làm thơ hơn là những ngôn ngữ rô-man? [người dịch chú thích: Những ngôn ngữ rô-man là những ngôn ngữ bắt nguồn từ tiếng La-tinh, tỉ dụ tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha.]

Jorie Graham: Những ngôn ngữ rô-man là những ngôn ngữ nhận chịu sự thâm nhập rất sâu rộng của tiếng La-tinh, và nếu ta đi càng xa về phía bắc, nghĩa là càng xa khỏi tầm với của đế chế La-tinh, thì ngôn ngữ nói ở những miền xa đó càng sinh động hơn cho dù vẫn là trong vòng ngôn ngữ La-tinh; thế nên nếu bạn đi tới miền thật xa như nước Anh, là nước chưa từng bị đế chế La-tinh chinh phục hoàn toàn, bạn sẽ thấy ở đó có sự hiện diện đồng thời của ngôn ngữ Anglô-Xắcxông và ngôn ngữ La-tinh, điều này khiến cho tiếng Anh trở thành thứ tiếng duy nhất có tính phức tạp [phức hợp], cho dù những ngôn ngữ rô-man rất du dương và đẹp đẽ; sự phức tạp [phức hợp] đó một phần do sự kiện ở quần đảo Anh [British Isles: gồm Britain, Ai-len, và các đảo nhỏ khác] trong một số trường hợp [at a certain point] bạn cần phải dùng tới hai từ, một từ La-tinh và một từ Anglô-Xắcxông, để nói về cùng một sự vật. Và vì những từ tiếng Anglô-Xắcxông có khuynh hướng bớt phần phổ quát và tăng phần chính xác [cụ thể], thế nên bạn cần phải có thêm một từ La-tinh để chỉ một sự vật thường thấy ở bất kì nơi đâu trên toàn cõi đế chế La-tinh.

Vậy là bạn đã có sẵn một ngôn ngữ là một vốn liếng chung [pool] rất phong phú để mang tới những thuộc địa, bạn có một ngôn ngữ là thứ tiếng Anh có tính hấp thu rất tham lam mọi thứ tiếng khác vào bên trong nó, không giống như nhiều nền văn hóa rô-man khác, tiếng Anh đã, một cách cơ bản và đồng thời là may mắn và thích hợp, bắt đầu lấy trộm những từ của ngôn ngữ của thổ dân Mĩ, những từ của tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hà Lan, tiếng Bồ Đào Nha, và tiếng Pháp. Sở dĩ vậy, vì ngay từ đầu, nền văn hóa Anh là nền văn hóa mậu dịch [mercantile culture], nó muốn sao cho có thể mua và bán mọi thứ, và nó cần tới mọi thứ ngôn ngữ để có thể thực hiện được việc mua và bán. Và như thế bạn có một dòng chảy từ vựng ào ạt tràn vào tiếng Anh. Bạn không chỉ có hàng chục ngàn từ được tạo ra bởi những tài năng như Shakespeare, mà bạn còn có những tài sản phong phú không thể tưởng tượng được là những từ mà tiếng Anh lấy trộm được, và tất cả lại được hấp thu vào nước Mĩ. Không giống như nước Pháp, tỉ dụ vậy, là xứ sở muốn giữ cho ngôn ngữ của nó được thuần khiết [thuần chủng], bạn có thứ ngôn ngữ là tiếng Anh vốn không chỉ là không thuần khiết [không thuần chủng], và ngày càng không thuần khiết [không thuần chủng], có lẽ nó hấp thu những từ mới hàng ngày hàng giờ, nó còn làm cho điều đó trở thành điều có thể thực hiện được, bởi lẽ nó là một ngôn ngữ tiến triển chủ yếu là trong một xã hội vốn vẫn nỗ lực và thử nghiệm việc loại bỏ hệ thống các giai cấp [trong xã hội]. Và cũng vì vẫn chỉ là một thử nghiệm, nên bạn hẳn sẽ lưu ý rằng tiếng Anh của người Mĩ cho phép bạn sử dụng cả phong cách nói cao và thấp trong cùng một cụm từ, mà bạn vẫn không cảm thấy là bạn mắc sai lầm về ngữ pháp. Còn nếu bạn mới bắt đầu tập nói tiếng Ý hoặc tiếng Pháp, thì chỉ trong vòng vài phút thậm chí vài giây là người khác biết không chỉ là bạn từ xứ sở nào tới mà còn biết bạn thuộc thành phần kinh tế hoặc xã hội nào trong nền văn hóa mà bạn thuộc về.

Thế đó, ngôn ngữ Mĩ thì cực kì phong phú. Một trong những điều người ta nói về nước Mĩ là như sau: Người Mĩ sở hữu một kho từ vựng lớn nhất so với bất kì thứ ngôn ngữ nào hiện có trên hành tinh này, thế nhưng trong việc nói năng thường ngày họ lại sử dụng một kho từ vựng nhỏ nhất.

Người Pháp rất bực dọc về chuyện này, họ nói rằng tại sao tiếng Anh được coi là ngôn ngữ quốc tế trong khi có quá ít từ trong thứ ngôn ngữ đó; sở dĩ vậy, vì nói chung người Mĩ chỉ sử dụng một tỉ lệ rất nhỏ trong số những từ thực sự sẵn có trong kho từ vựng của họ. Nhưng thứ ngôn ngữ đó của họ lại là thứ ngôn ngữ cực kì phong phú nếu bạn sử dụng nó để làm thơ. (Phạm Kiều Tùng dịch)

Jorie Graham, một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất thế hệ hậu chiến Mỹ, giải thưởng Pulitzer về thơ, 1996. Sinh tại New York, lớn lên tại Ý và Pháp, theo học triết tại đại học Sorbone, Paris. Bà am hiểu 3 ngôn ngữ Anh, Pháp, Ý. Bạn đọc có thể nghe lời phát biểu của bà trên internet.

Tranh bài: Japanese Garden

NHỮNG DẤU ẤN THỜI HIỆN ĐẠI

NHỮNG DẤU ẤN THỜI HIỆN ĐẠI


Khế Iêm

(Phần 1)

Stanley J. Grenz, trong cuốn “A Primer On Postmodernism”, dựa theo những loạt phim Star Trek (Hành Trình giữa các vì sao), hình dung ra hình ảnh giữa chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại. Nhưng ông không quan tâm tới diễn biến của cuộc du hành, mà chỉ phân tích một số nhân vật mang tính khác biệt giữa hai thời kỳ văn hóa. Các loạt phim khoa học viễn tưởng Star Trek, ban đầu là các loạt phim truyền hình bao gồm: 1/ Star Trek: The Original Series (1966-69), 2/ Star Trek: The Animated Series (1973-74), 3/ Star Trek: The Next Generation (1987-1994), 4/ Star Trek: Deep Space Nine (1993-99), 5/ Star Trek: Voyager (1995-2001) và 6/ Star Trek: Enterprise (2001-05). Đây bộ phim truyền hình khoa học viễn tưởng đầu tiên với một dàn diễn viên trong vai diễn định kỳ. Các nhân vật chính là người từ Trái Đất có nhiệm vụ khám phá bên ngoài không gian. Trong quá trình này, con người gặp phải những người từ hệ hành tinh khác. Chiều hướng câu chuyện là việc xử lý đối với những người hiếu chiến ngoài hành tinh, các mối quan hệ cá nhân, và với sự diễn tiến hài hước nhẹ nhàng. Sau này, khi chuyển thành phim bao gồm: Star Trek: The Original Series (bộ phim gốc), câu chuyện xảy ra ở thế kỷ 24. Star Trek: The Next GenerationStar Trek: Deep Space Nine, xảy ra ở thế kỷ 25. Star Trek: Enterprise, xảy ra ở thế kỷ 23, thời gian trước bộ phim gốc. Bộ phim gần đây, năm 2009, nói về phi hành đoàn lúc còn trẻ, trong nhiệm vụ ngăn chặn dòng thời gian sắp bị phá hủy hoàn toàn bởi những người Romulans. Phần tiếp theo, Star Trek: Into Darkness, năm 2013, lấy bối cảnh trái đất sau hơn 250 năm, kể về phi hành đoàn phải đối mặt với kẻ khủng bố nguy hiểm, có âm mưu hủy diệt trái đất.

Ông phân chia phim Star Trek làm hai giai đoạn, thời kỳ Star Trek nguyên gốc (Star Trek: Original Series) và thời kỳ sau, Star Trek: thế hệ kế tiếp (Star Trek: The Next Generation). Thời kỳ nguyên gốc với thuyền trưởng James T. Kirk chỉ huy, phản ánh nhiều khía cạnh của Dự án Ánh sáng và cuối thời hiện đại. Phi hành đoàn bao gồm những người có quốc tịch khác nhau, cùng làm việc vì lợi ích chung của nhân loại. Họ là hình ảnh thu nhỏ của nhân chủng học phổ quát hiện đại. Thông điệp rất rõ ràng: “chúng tôi là tất cả con người, chúng tôi phải vượt qua những khác biệt và tham gia lực lượng để hoàn thành mệnh lệnh của chúng tôi, tìm kiếm sự chắc chắn, kiến thức khách quan của toàn bộ vũ trụ trong đó, không gian hiện ra lờ mờ là biên giới cuối cùng.”

Người anh hùng của Star Trek nguyên gốc là Spock, thành viên phi hành đoàn đến từ hành tinh khác (một phần con người, một phần Vulcan). Trong sự phi tính người, ông thực sự phục vụ như một con người siêu việt lý tưởng, thời Ánh sáng, hoàn toàn lý trí và không cảm xúc (hoặc ít nhất là có thể kiềm giữ cảm xúc). Lý trí vô tư của ông liên tục cung cấp chìa khóa để giải quyết các vấn đề gặp phải của phi hành đoàn trong cuộc thám hiểm. Cuối cùng, trong thời hiện đại, mọi vấn đề đều có thể được giải quyết bởi các chuyên viên lý trí.

(Vulcan là một giống loài có hình dạng người ở ngoài trái đất, được tạo ra từ phim Star Trek. Họ đã giúp hành tinh xóa nghèo đói, bệnh tật và khổ đau thời hậu chiến tranh thứ III mà không đòi hỏi gì. Họ là một trong những thành viên sáng lập Liên bang những hành tinh (United Federation of Planets), và có thể dùng kỹ thuật cao để khuất phục trái đất nếu họ muốn. Nhưng họ lại giúp loài người, dễ dàng chuyển tiếp tới những giống loài khác giữa các vì sao như một người anh em trong những giai đoạn bi kịch. Vì thế loài người trong thế kỷ 24, coi Vulcan là người bạn tốt. Những người Vulcan xuất hiện trong cả sáu tập truyền hình Star Trek, và ở trong bốn tập, Vulcan hay nửa người nửa vulcan đã đóng những vai chính. Romulan cũng là một giống loài giả tưởng trong loạt phim Star Trek, luôn luôn gây bất an với Liên bang những hành tinh mà trái đất là thành viên. Có cùng chung một tổ tiên nhưng bản tính Romulan sôi nổi, khôn lanh, cơ hội, khác hẳn với bản chất lý tính của Vulcan.)

 “Không gian – biên giới cuối cùng. Đây là cuộc hành trình của con thuyền vũ trụ Enterprise. Sứ mệnh cuối cùng – khám phá những thế giới mới lạ, tìm ra cuộc sống mới và những nền văn minh mới, dũng cảm tới một nơi trước đây không ai tới.” Đó là giọng nói quả quyết mào đầu của Star Trek: The Next Generation (1897- 1994), giai đoạn hai. Với thuyền trưởng Jean-Luc Picard, chỉ huy phi hành đoàn, Star Trek: thế hệ kế tiếp, đơn giản là phiên bản cập nhật của loạt phim Star Trek nguyên gốc. Những người sáng tạo phát hiện ra rằng thế giới ở giữa sự hoán chuyển hệ hình tinh tế: hiện đại sinh ra hậu hiện đại, kết quả là, thế hệ kế tiếp trở thành một phản xạ – có lẽ một khuôn đúc – qua thế giới quan của thế hệ mới nổi. Sự thay đổi rõ ràng từ Star Trek nguyên gốc đến Star Trek: thế hệ kế tiếp, phản ánh một quá trình chuyển đổi sâu sắc, xảy ra trong xã hội phương Tây.

Trong loạt phim Star Trek: thế hệ kế tiếp, phi hành đoàn Enterprise đa dạng hơn so với bản gốc, bao gồm các loài từ các phần khác của vũ trụ. Sự thay đổi này thể hiện tính phổ quát rộng lớn của hậu hiện đại,  trong đó các đơn vị xã hội là cộng đồng chứ không phải cá nhân. Quan trọng hơn, sự hiểu biết về cuộc tìm kiếm kiến thức đã thay đổi. Nhân loại không có khả năng hoàn thành mệnh lệnh một mình. Phi hành đoàn tượng trưng cho “sinh thái mới” của loài người trong quan hệ đối tác với vũ trụ. Nhiệm vụ của họ không còn mạnh dạn đi “mà không có người đã đi trước” nhưng “mà không có ai đã đi trước.”

Trong thế hệ kế tiếp, Spock được thay thế bằng Data (Dữ Kiện, một android.) Trong một nghĩa nào đó, Data là một phiên bản đầy đủ hơn, có trí tuệ siêu phàm, tuy không phải là con người siêu việt lý tưởng như Spock, bởi vì ông là một người máy. Không giống như Spock, ông không những mong muốn tìm hiểu con người mà còn muốn trở thành con người. Ông biết ông thiếu những thứ như một cảm giác hài hước, tình cảm, và khả năng mơ ước. Và quả thực, ông đã hoàn chỉnh hơn sau đó, khi phát hiện ra, nhà sản xuất lập trình một khả năng mơ ước vào mạch (circuitry) của ông.

Mặc dù Data thường cung cấp sự hỗ trợ có giá trị trong việc giải quyết các vấn đề, ông chỉ là một trong nhiều người đóng góp vào việc tìm kiếm các giải pháp. Ngoài “bậc thầy của trí lý” là Data, phi hành đoàn bao gồm những người có tay nghề cao trong chiều kích tình cảm và trực giác của đời sống con người. Đặc biệt nổi bật là cố vấn Troi, một phụ nữ có năng khiếu cảm nhận được cảm xúc ẩn dấu của người khác. Những hành trình mới của Enterprise dẫn phi hành đoàn nhiều màu sắc vào một vũ trụ hậu hiện đại, trong đó thời gian không còn đơn giản là tuyến tính, vẻ bề ngoài không nhất thiết phải là thực tại, và lý tính không phải luôn luôn được tin cậy.

*

Hiện đại và hậu hiện đại là sự tương phản giữa hai thời kỳ văn hóa. Cũng như loạt phim cuối, Star Trek: enterprise, đi ngược lại thời gian trước những phiên bản ban đầu, chúng ta bắt đầu từ thời kỳ bình minh của chủ nghĩa hiện đại, với những con người đã đóng dấu ấn trong bản báo cáo của nền văn minh phương Tây từ Sir Francis Bacon (1561-1626), René Descartes, Immanuel Kant, tới Friedrich Nietzsche.

Sir Francis Bacon (1561–1626), là triết gia và nhà khoa học Anh, trong nhiều phương diện, ông vừa là sản phẩm của thời kỳ Phục hưng, vừa đứng ở đầu thời đại Lý trí, đánh dấu sự chuyển tiếp từ Phục hưng qua Ánh sáng. Theo quan điểm của Bacon, được diễn đạt trong cuốn New Instrument, 1620, khoa học không thể tiến bộ nếu không khởi đi từ những sai lầm vốn có của quá khứ, và tiến hành trên căn bản kiến thức thực nghiệm và phương pháp qui nạp. Điều này có nghĩa, để đạt tới sự thực (hay chân lý), phải đi từ những quan sát đặc biệt tới những qui tắc chung, và nhấn mạnh tới “sự trộn lẫn giữa mê tín và thần học đã làm suy đồi triết lý.” Bacon cổ võ cho sự học và phiêu lưu qua sự ghi chép tỉ mỉ những quan sát và thực nghiệm, tạo ra kiến thức hữu ích và tốt đẹp cho con người.

Ông phân loại kiến thức nhân loại làm  ba loại: lịch sử, thơ ca, triết lý, tương ứng với tâm trí con người là ký ức, tưởng tượng lý trí. Trong đó ông đánh giá lịch sử và thơ ca chỉ là thứ yếu, đồng thời nâng cao giá trị của triết lý như mục tiêu cho sự tiến bộ đích thực của học tập. Bacon chỉ trích gay gắt những nhà truyền thống kinh viện, nhảy từ vài quan sát đặc biệt tới những định lý xa vời rồi suy diễn chúng qua chứng minh tam đoạn luận. Ông cũng cho rằng những nhà kinh nghiệm chủ nghĩa sai lạc với những thí nghiệm, không tham khảo những hiện tượng liên hệ vì chúng vô lý trong sự tổng hợp của họ. Theo Bacon, có 4 loại kiến thức sai lạc hay “quan niệm sai lầm” (idol) ở thời đại ông:

1: Sai lầm bộ tộc (idols of the tribe): Đó là những sai lầm ăn sâu vào bản chất con người, do sự đánh lừa của giác quan, nhận thức các hiện tượng không đúng bởi kết luận hay phán đoán vội vàng.

2: Sai lầm hang động (idols of the cave): Phản ánh từ những thành kiến, quan điểm có sẵn, vì ảnh hưởng khác nhau của gia đình, giáo dục, giới tính, thói quen, tập tục và các thành phần trong xã hội …  tâm trí con người vì thế cứ luẩn quẩn như trong hang động.

3: Sai lầm phố chợ (idols of the market-place): Là sai lầm do ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở đây bao gồm ngôn ngữ nói thông thường, những thuật ngữ, ngôn ngữ của những cộng đồng học thuật và các ngành nghề. Ngôn ngữ thường không gọi tên đúng các sự vật, các sự vật không đúng với tên gọi, hoặc định nghĩa chữ này từ những chữ khác.

4: Sai lầm kịch nghệ (idols of the theatre): Phát xuất từ những giáo điều mang tính triết lý được nhận thức từ những qui luật chứng minh sai. Thí dụ, trong triết học kinh viện, chỉ dựa trên vài quan sát tình cờ (không có bằng chứng thực nghiệm), xây dựng chủ yếu trên lập luận trừu tượng và suy đoán. Hoặc như chủ nghĩa kinh nghiệm, chỉ dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc duy nhất quan trọng (trên cơ sở hạn hẹp của nghiên cứu) rồi dựng thành một mô hình hay một hệ hình để giải thích tất cả các hiện tượng. Hoặc là những hệ thống tư tưởng pha trộn giữa thần học và triết học.

Bacon không đặt toán học là trung tâm trong kiến thức tự nhiên như các nhà tư tưởng Ánh sáng đến sau, nhưng ông được ca ngợi là một trong những nhà khoa học hiện đại đầu tiên, đưa ra phương pháp khoa học mới, nhấn mạnh vào thử nghiệm. Ông tin rằng các phương pháp khoa học không chỉ dẫn đến những khám phá cá nhân mà còn cho thấy mối tương quan giữa các ngành khoa học, đưa chúng thành một thể thống nhất. Và ông trở thành triết gia đặt nền tảng cho các ngành khoa học một cơ chế bao gồm các định luật của lý luận và các tiền đề, chia sẻ bởi các ngành khoa học  khác nhau. Tác phẩm của ông, A Treatise on The Advancement of Learning, xuất bản năm 1605, đề cập tới chiều hướng mới và tổ chức học tập, đạo đức học và qui tắc tiêu chuẩn trong một xã hội lý tưởng. Trong tác phẩm Novum Organum, (New Instrument), 1621, ông đề nghị thiết lập một phương pháp mới tìm kiếm kiến thức. Ngoài ra, ông còn thiết kế một tổ chức tương tự như hệ thống giáo dục hiện đại, khuyến cáo mở trường học và các trường đại học, thư viện, các phòng thí nghiệm, cải thiện tiền lương của giảng viên và giáo sư, thiết lập sự liên lạc giữa các trường đại học ở Âu châu. Hội Hoàng Gia (The Royal Society) được thành lập tại Luân Đôn năm 1662, gồm những nhà vật lý và triết học tự nhiên, theo mô hình và cảm hứng từ ảnh hưởng của Bacon. Chẳng bao lâu mô hình kiến thức kiểu Bacon được tổ chức ở toàn khắp Âu châu.

Francis Bacon được được phong tước Hầu trong triều đại vua James I, là một triết gia, một nhà khoa học, nhưng ông còn là một luật sư, một nhà chính trị. Ông là cha đẻ của chủ nghĩa kinh nghiệm, và là một trong những vĩ nhân làm thay đổi bộ mặt nền văn minh phương Tây. Nhưng trên hết chúng ta cần nhìn Bacon theo quan điểm xuyên suốt qua nhiều thế kỷ. Câu nói nổi tiếng của ông “Kiến thức là quyền lực”, đã là châm ngôn cho những công trình nghiên cứu khoa học, chinh phục và khám phá những bí mật của thiên nhiên. Đó cũng là một chủ đề gây chú ý, nối kết và thay đổi qua nhiều thời kỳ văn hóa, từ Ý chí Quyền lực (Will to Power) của Nietzsche đến Kiến thức Quyền lực của Foucault.

Bacon xem sự thật và tiện ích như hai mặt của một đồng tiền, và mục đích của khoa học là làm cho con người có quyền lực. Vì vậy ông cho rằng học tập là hành động, và hành động biện minh cho kiến thức. Khởi đầu, khoa học tìm kiếm quyền lực với thiên nhiên chứ không phải với con người, vì quyền lợi của nhân loại. Nhưng ở thời đại ông (sau Phục hưng), thế lực chính trị của nhà thờ Thiên chúa giáo suy giảm, nhường chỗ cho thế lực thế tục, và những giá trị cũ “tốt” và “xấu” nhường chỗ cho giá trị mới “hữu dụng” và “vô dụng”. Kiến thức tách rời khỏi những giá trị đạo đức Thiên chúa giáo, được bổ sung và kết hợp với nhà nước thế tục, trở thành quyền lực tiện ích. Và nếu trước đó ông giải thoát kiến thức khỏi bốn loại sai lầm, thì với kiến thức là quyền lực, có vẻ như lại tạo ra một sai lầm mới, quyền lực và tiện ích (idols of the power/ utility).

Kiến thức là quyền lực chinh phục thiên nhiên, và thiên nhiên xuất hiện như một đối tượng bị tấn công và tàn phá. Kể từ năm 1600, xã hội Âu châu thay đổi mạnh mẽ về kinh tế và thương mại, bắt đầu chủ nghĩa tư bản. Quyền lực nhà nước được định nghĩa tùy theo số lượng vàng bạc họ thủ đắc, nhập cảng ít xuất cảng nhiều. Và để đạt những mục tiêu trên, họ theo đuổi chính sách tìm kiếm thuộc địa, ở châu Mỹ, châu Phi, và sau này là châu Á. Sự quan tâm tới khoa học tạo điều kiện đổi mới công nghệ. La bàn, thiên văn, các phương tiện đi biển, súng ngắn và các loại vũ khí mới giúp người Âu châu đánh bại và chinh phục những người bản xứ, chống lại sự xâm chiếm đất đai của họ. Lợi ích của nhân loại, thật ra chỉ là của một nhóm nhỏ ưu tú có kiến thức và quyền lực. Nếu Tây Ban Nha khai thác các mỏ vàng, bạc ở các thuộc địa, thì Anh chủ yếu là trồng mía, bông, thuốc lá và các loại nông phẩm xuất cảng qua Âu châu. Virgina là tiểu bang đầu tiên của Mỹ trở thành thuộc địa Anh vào năm 1607, và Georgia vào năm 1733, tổng cộng là 13 tiểu bang. Khai thác mía và thuốc lá đòi hỏi công nhân, dẫn đến công việc mua bán nô lệ da đen từ Phi châu. Những tàu buôn trao đổi hàng hóa, súng đạn lấy những nô lệ da đen đem về các thuộc địa bán lấy lợi nhuận. Chinh phục thiên nhiên ở đây gồm có cả con người. Một câu nói của Bacon: “Nhà nước không thể mong đợi sự vĩ đại của đế chế, nếu không sẵn sàng nắm bắt bất kỳ cơ hội nào của chiến tranh.” Điều này ngụ ý, kiến thức như quyền lực trên thiên nhiên, trên con người và trên các quốc gia khác. Âu châu trở thành thế giới văn minh và các phần khác đều là đất đai và con người man dã, cần chiếm đóng và khai hóa.

Tóm lại, sự tìm kiếm quyền lực không kiềm chế trên con người và thiên nhiên, đánh đồng kiến thức với sự thực. Một nhóm nhỏ các nhà khoa học với hy vọng mơ hồ, có được quyền lực khi kết hợp với các thế lực chính trị, và trong tương lai nhân loại sẽ được chia sẻ những lợi ích của quyền lực này.  Khi coi con người và thiên nhiên như một thực thể có thể sử dụng và kiềm soát, kiến thức trở thành sự thật tuyệt đối, mà trước đây thuộc về tâm trí Thiên chúa, sáng tạo ra vũ trụ. Và khi mọi thứ trong vũ trụ là đối tượng khách quan để khai thác và sử dụng, tính chủ quan của con người bị trục xuất, thì khoa học là một hệ thống duy nhất đúng để am hiểu thế giới thực tại. Sự thực (chân lý) chỉ là khái niệm đặt trên nền tảng vô căn cứ, biện minh cho lòng tham không đáy. Tâm trí con người tạo ra những nguyên tắc thiện ác, đúng sai và hành sử trên tiến trình có sinh có diệt, cái tốt luôn đi kèm và thành cái xấu, hay ngược lại, và cả sự xảo biện.

Kiến thức là quyền lực, cho đến nay vẫn đúng, có điều, bản chất của quyền lực là bạo lực. Trong thực tại, nếu chúng ta theo dõi tin tức thời sự về những tranh chấp đang xảy ra giữa các đại cường trên thế giới và cách họ sử dụng kiến thức phục vụ cho mục đích chạy đua vũ trang và giành chiếm ưu thế chính trị, thì sẽ có những nhận thức rõ ràng hơn về sự liên quan không thể tách rời giữa kiến thức và quyền lực.

Tham khảo

– “Francis Bacon, the first philosopher of modern science: A non-western view”, Jatinder Bajaj.
– “The scientific Methods of Descartes and Bacon”, Tim Nordgren, 1998.
– “A Primer on Postmodernism”, Paperback, William B. Eerdmans, 1996, by Stanley J. Grenz.
– “Western Civilizations”, Robert Elerner, Standish Meacham, Edward McNall Burns, Volume II, 1988.
 
Tranh bài: Carl Laubin’s “A Classical Perspective.” (2012, oil on canvas. Courtesy University of Notre Dame School of Architecture)