Trang chủ Blog Trang 33

TÂM –/CẢM THỨC THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

https://www.1st-art-gallery.com/Camille-Pissarro/Boulevard-Montmartre-Night-Effect.html
https://www.1st-art-gallery.com/Camille-Pissarro/Boulevard-Montmartre-Night-Effect.html
Biển Bắc

… … Chúng ta bây giờ bước vào trong thế giới tâm thức hay còn gọi là cảm thức của Thơ Tân Hình Thức Việt.

Tâm thức là gì? Có rất thật nhiều quan điểm khác nhau về tâm thức. Trong một số luận thuyết, thì những gợi ý của triết học và lý thuyết là chủ yếu. Tâm thức cũng là chủ đề của triết học, đặc biệt là của một bộ môn khoa học gọi là khoa “triết lý của cái tâm”. Các lý thuyết ý thức đầu tiên bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, khoảng 2.500 năm trước. Những lý thuyết ý thức đầu tiên này không xây dựng từ một tầm nhìn của tôn giáo, mà là từ một tầm nhìn xã-hội-con-người. Các đại diện nổi tiếng nhất là Plato và Aristotle.

Tâm-thức, đôi khi được gọi tắt là tâm, là từ chỉ chung cho các khía cạnh của trí tuệ (intellect) và ý thức (consciousness), thể hiện trong các kết hợp của tư duy, tri giác, trí nhớ, cảm xúc, ý muốn, và trí tưởng tượng; tâm-thức là dòng ý thức.

Nó bao gồm tất cả các quá trình có ý thức của bộ não. Đôi khi, trong một số ngữ cảnh, nghĩa của cụm từ tâm-thức còn bao hàm hoạt động của tiềm thức con người.”

Theo Hán-Việt-Ngữ chữ “tâm“có nghĩa là trái tim. Theo quan niệm của người Á-châu nói chung, người Việt nói riêng, thì tâm(=trái tim) là vật để suy ngẫm, nghĩ ngợi, cho nên điều gì thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm. Như vậy tâm thức là tư tưởng. Ngoài ra chúng ta vẫn thường nói “trong bụng”, hay “trong lòng” để ám chỉ chữ “tâm”, như chúng ta hay nói:

“trong bụng anh nghĩ gì, tôi đều biết”
“miệng ngoài liến thoắng vui vầy … trong lòng thì chứa đủ đầy mưu toan”

Thông thường trong văn hóa Đông Phương, đặc biệt văn hóa Việt, chữ tâm bản thân nó có một ngữ nghĩa lành hay hoặc lương thiện trong sáng (bụng dạ ngay thẳng).

“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

(Nguyễn Du)

Theo những điều trên, thì ở một góc độ nhất định nào đó, tâm thức là những ý thức của tư tưởng và là những điều hướng đến của tư tưởng mà thường là những điểm tốt đẹp, trong sáng và hoàn thiện. Như đã được biết đến, mặt tâm-/cảm-thức của Thơ Tân Hình Thức Việt được kết hợp với mặt kỹ thuật một cách liền mạch ở bốn nền móng của thể thơ này:

  1. Tính Truyện/Chuyện;

  2. Ngôn Ngữ Đời Thường;

  3. Vắt Dòng;

  4. Phản Hồi và Lập/Lặp Lại.

Có nghĩa là, với Thơ Tân Hình Thức Việt, bốn điểm ở trên đây là những điều hướng đến của tư tưởng.


Tính Truyện/Chuyện

Ngày nay, xã-hội-con-người được các nhà phân tách của các khoa, như là nhân-chủng-học, xã-hội-học, mệnh danh là “thế giới phân mảnh và cai trị bởi thông tin” hoặc “tập hợp của hỗn độn” hay còn gọi là “ thế giới tự kỷ” và được hình thành từ hai mặt song song:

1) Xuất phát từ Anh-quốc khoảng 1750, rồi sau đó lan tỏa ra toàn thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp bao gồm một số giai đoạn. Thời điểm của mỗi giai đoạn khác nhau ở mọi quốc gia, ở mọi khu vực trên thế giới. Ở những nơi cách mạng công nghiệp bùng nổ trễ, thì những giai đoạn đầu không lập lại như những nơi trước đó mà được bỏ qua để bắt kịp giai đoạn đang tiến hành mọi nơi. Giai đoạn đầu là giai đoạn của sắt đúc/gang và công cụ bằng hơi nước. Giai đoạn kế đó là giai đoạn của sắt thép, điện, tua-bin và công cụ đốt. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn của (máy) tính, truyền thông và toàn cầu hóa. Tác động của cách mạng công nghiệp vô cùng sâu rộng, làm thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa và kỹ thuật. Sự thay đổi này đã không thể nào chuyển hồi được nữa và từ đó càng ngày càng tăng tốc theo số cấp nhân.

Rồi bắt đầu những năm1969-1974, bằng cách chuyển đổi từ tương tự (analog) sang dạng số thông tin điện tử (digital), các hệ thống thông tin liên lạc đã được cải thiện vượt bực. Đặc biệt là từ khi hiện tượng Internet tiếp cận với đại công chúng vào năm 1993, cuộc cách mạng kỹ thuật số được coi như là phát động và mở ra một thời đại nano. Thế giới hơn bao giờ hết, rất nhỏ bé và gần kề ngay trước mắt: thu gọn trực tiếp trong màn hình trước mắt chúng ta. Không cần phải “đi một đàng học một sàng khôn” hay “ra đi mới biết xứ đông” nữa mà chỉ cần truy mạng, lướt nét. Thời đại thông tin quá tải khiến thế giới rơi vào trạng thái mập mờ giữa những điều đáng hoặc không đáng tin cậy và bảo-mật hoặc đời-tư trở thành những cụm từ chủ yếu của xã-hội-con-người. Đời sống 24/7 tuy bề ngoài rất đượm nét kết nối (mạng lưới), nhưng lại phân mảnh tơi bời bởi cái ý tưởng mập mờ kia.

2) Song song với sự hình thành và lan rộng toàn cầu của cách mạng cộng nghiệp chuyển tiếp đến cách mạng kỹ thuật số, hiện tượng đô-thị-hóa cũng từ đó lan rộng khắp thế giới cho đến ngày nay. Văn hóa miền quê/nông thôn/làng mạc dần dà mất đất nhường chỗ cho văn hóa đô thị. Nếp sống sinh hoạt và giao cảm từ trong gia đình, bạn bè, người thân ra đến ngoài đường, ngoài đời đã thay đổi rất nhiều. Ở cạnh sát nhau, nhưng mạnh ai nấy sống, có chết rồi cũng chẳng ai hay. Phong cách sống theo kiểu “Nước sông không chạm nước giếng” đã cuốn phăng đi mặt tình cảm “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Người hàng xóm là ai, mình cũng không hề biết, gia đình người bạn mình ngoài ngõ có ai mình cũng không biết. Đời sống xô bồ nhộn nhịp tuy bề ngoài rất chung đụng, nhưng lại rất xa cách rời rạc. Những mối quan hệ dường như rất lỏng lẻo, rất LẠT (lẽo) (LAT=Living Apart Together; tạm dịch: Chung Sống Trong Xa Cách).

“mập mờ giữa những điều đáng hoặc không đáng tin cậy”

Lịch sử của xã-hội-con-người luôn luôn là những câu chuyện được truyền lại. Trong câu chuyện to lớn, có những câu chuyện nhỏ bé ghép lại và đó là cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều có câu chuyện đời của chúng ta. Chính ngay trong thế giới riêng tư của chúng ta, cũng đã có những mảnh ghép của mọi suy nghĩ cùng cảm xúc đi kèm với những chuyện xảy ra. Ai trong chúng ta lại không có những lúc ngồi lắng đọng lại những cái đi qua đời mình trong một ngày, một tuần, một tháng, một năm hay một đoạn đời, để rút tỉa những điều chúng ta muốn nắm bắt. Như vậy là chúng ta xây dựng những thành tố nội dung (content) rời rạc thành mẩu truyện có một bối cảnh nhận ra được; chúng ta tính-truyện-hóa hay là câu-chuyện-hóa những suy nghĩ cùng cảm xúc của mình. Nói một cách khác, chúng ta tổ chức những mảng rời hỗn độn của không gian và thời gian thành một hệ thống trật tự có một tiến trình hẳn hòi. Và đây rõ ràng là tính cách của hiệu ứng cánh bướm: hệ thống trật tự trong hiện tượng hỗn mang. Điểm Tính Truyện/Chuyện trong Thơ Tân Hình Thức Việt là sợi chỉ đỏ nối kết của suy nghĩ,cảm xúc, không gian và thời gian rời rạc.

sợi chỉ đỏ nối kết suy nghĩ,cảm xúc, không gian và thời gian.

Vì vậy, Tính Truyện/Chuyện là yếu tố giúp chúng ta tổ chức bố cục cùng nội câu chuyện đời chúng ta. Với một câu truyện/chuyện rành-mạch/-lạc, khi chúng ta kể câu chuyện của chúng ta là chúng ta gióng lên tiếng nói vững vàng dễ hiểu của chúng ta. Khi chúng ta nghe câu chuyện của chúng ta là chúng ta sẽ có điều kiện nhìn, nhận được chính mình và chúng ta nhìn nhận được nhau, để thông cảm cùng chấp nhận bản thân mình và lẫn nhau.

Điểm Tính Truyện/Chuyện của tâm thức ở đây chính là sự nối kết. Ở mức độ cá nhân là nối kết giữa suy nghĩ, cảm xúc, của bản thân mình. Ở tầm rộng hơn là nối kết giữa người viết, người đọc và người nghe với nhau. Còn ở mức độ rộng lớn của không gian và thời gian là nối kết các nền văn hóa, tín ngưỡng và dân tộc, trong quá khứ cùng hiện tại, lại với nhau. Bước chênh vênh trên bối cảnh phân mảnh tơi bời của đời sống trong thời đại nano này, cho dù ở cấp độ nào, chúng ta cần cái sự nối kết để cân bằng cuộc sống.

“Mạng xa-lộ-viễn-thông Nối đường xa lại gần Kéo đường gần ra xa”


Ngôn Ngữ Đời Thường

Không rõ chính xác rằng lịch sử thơ ca bắt đầu từ thời điểm nào, nhưng nó đã xuất hiện ở những nền văn hóa (cổ xưa) khác nhau, thậm chí trước khi người ta biết viết, biết đọc. Có nghĩa là lịch sử của thơ đã khơi-khởi từ trước khi phát minh ra chữ viết. Người ta tin rằng những bài thơ đầu tiên xuất hiện sớm nhất đều được học thuộc lòng và đọc lên hoặc hát lên. Trong thời trung cổ việc này được thực hiện qua cách hát rong những câu chuyện đầy đủ được sắp thành (âm) vần. Sau khi kỹ thuật in-ấn được phát triển, thơ ca cũng đã phát triển thành những hình thức có cấu trúc chặt chẽ.

Thơ ca theo từ điển Hy-Lạp (ποίησις/ poiesis) có nghĩa là tạo-hình, (sáng-) tạo ra hay hoặc làm ra (cái gì đó). Thơ ca hay còn gọi là thơ phú là một lãnh vực nghệ thuật văn chương, chú tâm lấy ngôn-ngữ để đạt đến hiệu ứng mỹ học/thẩm mỹ (tỷ dụ nhạc-nhịp) và liên tưởng (ví dụ hình ảnh hay thị giác) hầu làm tăng cường/đẩy mạnh, hay vạch trần/phá đổ, hoặc khoanh tròn/đóng khung, hay làm nổi bật lên, hoặc chi phối sự xác định của một ý niệm/ý nghĩa nguyên thủy/thực tế của một điều gì đó hay hoặc lèo lái nó theo một hướng bất ngờ.

Cái thú vị mà thơ ca đem lại cho người đọc và người nghe, được tạo bởi sự kết hợp đặc biệt của hình thức, âm thanh và ý nghĩa đặc thù của các câu thơ. Những thú vị này có thể có tính chất cảm xúc (ví dụ như xúc động hay gợi nhớ), hay trí tuệ (ví dụ như nhìn nhận, hiểu biết hoặc cho sắc thái) hoặc (khôi) hài hước, vân vân.

Nói một cách khác, phải chăng thơ (ca) là những hình ảnh, âm thanh, màu sắc, mùi vị và cảm giác rất thú vị được phóng lên, đánh động, pha trộn, dấy lên và khơi dậy trong chúng ta qua ngôn ngữ với một với một cách truyền đạt đã có sự chủ đích chọn lựa trước (?). Như vậy ngôn ngữ là một công cụ của thơ với mục đích là tạo hiệu ứng để truyền tải, truyền đạt (?). Và hình ảnh, âm thanh, màu sắc, mùi vị và cảm giác mà chúng ta liên tưởng hoặc chúng ta cho là thẩm mỹ cần có điểm (đọc: sự kiện) quen thuộc để nhận-diện/-biết hoặc điểm mốc để so sánh, thẩm định. Vì thế ngôn ngữ trong/của thơ có phải (nên) là ngôn ngữ quen thuộc có điểm mốc để người đọc, người nghe dễ hiểu và tiếp nhận dễ dàng. Và có cái gì quen thuộc hơn hay có điểm mốc nào xác đáng hơn cho bằng cuộc sống đời thường (nhật) của chúng ta!? Vì vậy ngôn ngữ quen thuộc là ngôn ngữ (trong) đời (sống) thường (nhật)!

“Trăm hay không bằng tay quen”

Quan niệm về thơ ca thay đổi theo thời gian, theo mọi thời đại, trải suốt theo chiều dài của lịch sử con người. Ngôn ngữ của thơ ca cũng thay đổi và chia nhánh:

  1. Ngôn ngữ không liên quan đến/ khôn

  2. Ngôn ngữ mô tả/diễn bày/nói về đời sống thực tế;

  3. Ngôn ngữ gợi lên/hình dung đời sống thực tại;

  4. Ngôn ngữ không liên quan đến/ không ăn nhập gì với đời sống hiện thực.

Dần dà ngôn ngữ của thơ ca từ phản ánh trực tiếp thực tại, đi đến công cuộc tìm kiếm ý nghĩa cùng hình ảnh và rồi lấn sâu vào quá trình sản xuất từ ngữ biến thơ ca thành một trò chơi chữ nghĩa xa lạ với cuộc sống. Vai trò cùng vị trí của nhà thơ cũng chuyển đổi từ kẻ tường thuật (đọc: kể chuyện) về sự thực (tế), đến người ghi chép về chủ đề xã hội/văn hóa, đến sứ giả tuyên truyền các ý tưởng về ý thức hệ rồi đến thành kẻ quay lưng lại với xã hội/đời sống để rút vào thế giới riêng biệt của mình và tù túng mình trong nhà máy ngôn ngữ trên hoang đảo của (thơ) mình. Từ đó thơ ca càng ngày càng đánh mất đi ngôn ngữ nguyên ròng, đánh mất đi sự sáng tạo và tiếp nhận. Nói một cách khác, thơ ca đã mất đi người viết, người đọc và người nghe và như vậy mất đi cuộc sống nói chung và cuộc sống của thơ ca nói riêng.

Nhưng một điều không hề thay đổi hay mất đi, đó là điểm khơi-khởi của thơ ca: từ đời sống. Điều hướng đến của Thơ Tân Hình Thức Việt, khi xử dụng ngôn ngữ đời thường, là đem đời sống thường nhật vào thơ ca và trả thơ ca về với đời sống. Qua ngôn ngữ đời thường, Thơ Tân Hình Thức Việt đưa thơ ca trở về điểm khơi-khởi, phục hồi lại ngôn ngữ ban đầu của thơ ca; mô tả/diễn bày/nói về đời sống thực tế và phục hồi lại vai trò nguyên gốc của nhà thơ; tường thuật/kể chuyện về sự thực (tế). Có như thế, nhịp cầu đã đứt đoạn trên chiều dài lịch sử giữa người viết với người đọc và người nghe, giữa sáng tạo với tiếp nhận mới lại được nối liền tiếp và thơ ca lại là thơ ca; là cuộc sống.

Chơi trò chữ nghĩa trên tháp ngà Babylon


Vắt Dòng

Sự trở về điểm khơi-khởi không có nghĩa là sao lại chép lại những phong trào đã đi qua hay những phong cách nào một cách giống hệt nhau. Vắt dòng trong tâm thức Thơ Tân Hình Thức Việt hướng đến nét sáng tạo đặc biệt và điểm độc đáo của sáng tác. Cụm từ “VẮT DÒNG” nên được hiểu từ hai mặt:

1) VẮT= chắt lọc ra những tinh túy, những cái hay của những phong trào, phong cách trong DÒNG chảy văn học.

2) VẮT= làm cho gãy DÒNG, ở đây có nghĩa là tách ra khỏi sự sáo mòn của những phong trào, phong cách trong DÒNG chảy văn học.

Bước cải tiến trên những bước đi qua

Hiểu biết cùng kinh nghiệm luôn được xây dựng từ những bài học trước đó cùng những trải qua trước kia. Thế nên, Thơ Tân Hình Thức Việt khi trở ngược về quá trình phát triển của thơ ca, luôn trân trọng giá trị của những bước đi, thành tựu của những phong trào đã qua hoặc đang hiện hành. Tuyệt nhiên, Thơ Tân Hình Thức Việt không chỉ trích/phán xét bất cứ phong trào, trường phái hay thể thơ nào mà chỉ rút tỉa những tinh túy của các bên liên quan. Chẳng phải con người đang sống trong một thế giới cao thăng với những tiện nghi đời sống tuyệt vời, được gặt hái từ những tinh túy vắt/chắt lọc ra từ những bài học cùng kinh nghiệm của lịch sử, khoa học, kỹ thuật và mọi thảy ngành nghề sao? Thơ Tân Hình Thức Việt cũng chắt lọc, một số tinh túy vắt ra từ trong dòng chảy văn học đa dạng để cải tiến nhằm đưa thơ ca về với đời sống một cách phù hợp đáp ứng.

Sáng tạo là làm ra một cái gì đó mới. Mới ở đây có nghĩa là khác hơn cái đã có/hiện diện cho dù bất cứ là một phần nhỏ nào hay là toàn bộ. Tuy là rút tỉa kinh nghiệm, lọc ra những bài học của những phong trào, thể thơ khác, nhưng Thơ Tân Hình Thức Việt có bản sắc riêng với những điểm đặc trưng của riêng mình, chứ không sao chép lại của thể thơ nào khác. Như trong phần “Bước Đi/Vào Thơ Tân Hình Thức Việt” chúng ta đã thấy rằng trong Thơ Tân Hình Thức Việt, “Hiệu Ứng Cánh Bướm” là một yếu tố bao quát/bao trùm. Những thay đổi vô cùng nhỏ nhoi, tuy nhiên, có thể có kết quả to lớn. Bản sắc của Thơ Tân Hình Thức Việt được định vị ra sao còn tùy thuộc vào khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ với sự áp dụng nhuần nhuyễn tâm thức cùng kỹ thuật của TTHT Việt và ứng dụng ngôn ngữ một cách khéo léo để tạo nét độc đáo.

Sự điên rồ: làm điều tương tự lặp đi lặp lại và mong đợi kết quả khác biệt.”

Albert Einstein

Ở thời đại toàn cầu, mọi thứ đã được đồng bộ hóa gần như triệt để, khiến chúng ta khó khăn trong việc nhận định và nhận diện. Mọi thứ đều na ná giống nhau, thậm chí danh tính và bản sắc của mỗi cá nhân cũng dễ bị lẫn lộn. Hơn bao giờ hết cá-nhân-chủ-nghĩa bùng dậy một cách mãnh liệt pha lẫn niềm nơm nớp bị đánh tráo hay bị ăn cắp danh tính của mình. Nhu cầu tách ra khỏi đám đông để định vị bản sắc của mình đã dần dà trở thành là một trong những nhu cầu cơ bản của mỗi cá nhân.

Sáng tác lại càng khó khăn hơn để phân biệt chính mình trước những cám dỗ của những lối sói mòn sẵn có. Khẩu hiệu quen thuộc: “ tư duy theo quan niệm toàn cầu, thực hành theo khái niệm bản địa” (Anh-ngữ: “Think globally, act locally”), nhắc nhở chúng ta nhìn nhận sự việc một cách tổng thể nhưng hành động một cách cá thể để không mất đi bản sắc. Vắt Dòng trong Thơ Tân Hình Thức Việt cũng vậy, tuy là vắt-lọc ra những tinh hoa của các phong trào, phong cách và thể loại, nhưng đồng thời cũng vắt-tách ra khỏi đường-biên-bắt-chước các phong trào,

phong cách và thể loại trong dòng chảy của thơ ca, để định vị bản sắc của sự sáng tạo và nét đặc biệt của sáng tác.


Phản Hồi và Lập/Lặp Lại

Quá trình tiến hóa của con người ở thời đại này đã đạt đến điểm thăng hoa gần như tột cùng. Hầu hết mọi vẫn đề đã được soi-rọi, suy-tính kỹ lưỡng từ mọi mặt và mọi thứ cũng đã được phát minh đến mức xuất sắc. Sự thăng hoa tột đỉnh này phải chăng là kết quả của quá trình học tập/hỏi không ngừng của con người (!?). Có thể nói là quá trình tiến hóa của con người đồng nghĩa với quá trình học tập/hỏi của con người. Thơ Tân Hình Thức Việt nêu cao, khuyến khích cùng hỗ trợ cho tinh thần học tập/hỏi được xây dựng trên sự tôn trong lẫn nhau.

Theo nhà tâm-lý-giáo-dục người Mỹ, David Kolb, con người học tập/hỏi theo 4 phong cách:

  1. Học bằng cách thực hành hoặc trải nghiệm (người thực hiện);

  2. Học bằng cách quan sát và suy ngẫm (người mơ mộng);

  3. Học bằng cách phân tích và suy tính (người suy nghĩ);

  4. Học qua những thí nghiệm một cách chủ động/tích cực (người quyết định).

Bởi mỗi người đều là một cá thể duy nhất, đặc biệt nên mỗi người chúng ta học theo cách phù hợp riêng với bản thân mình. Thơ Tân Hình Thức Việt phản hồi những câu chuyện đời thường, những câu chuyện của cuộc sống như nó là, để người tiệp cận, tiếp nhận nó một cách trực tiếp mà không cần thông qua sự diễn giải của nhà thơ. Còn tiếp nhận ra sao, rút ra điều gì, bằng phong cách học tập/hỏi nào hay đánh giá điều phản hồi ra sao, đó là quyền riêng của người tiếp cận. Yếu tố Phản Hồi trong Thơ Tân Hình Thức Việt hướng đến sự tôn trọng tuyệt đối quyền làm người cùng giá trị của mỗi con người.

Bỏ qua một bên bộ-lọc-chủ-quan của nhà thơ, Thơ Tân Hình Thức Việt hướng đến việc (tái thiết) lập lại vai trò của nhà thơ từ thuở khơi-khởi của thơ ca: vai trò của một người kể chuyện/truyện. Trong vai trò này nhà thơ là người lập lại (kể lại/thuật lại) những câu chuyện/truyện trong/của cuộc sống đời thường (nhật), là phản hồi trực tiếp thực tại chứ không bị chi phối bởi bất cứ vai trò của người trong câu chuyện.

Bức gương phản hồi

Nhờ bước thăng hoa của tiến hóa, đời sống con người tốt hơn và tuổi thọ trung bình cũng cao hơn. Dân số toàn cầu do đó gia tăng không ngừng đi đôi với mức gia tăng của nhu cầu lương thực, sản phẩm tiêu-dùng. Một thế giới quá đông người gắn liền với hậu quả của hiện tượng xài-xả quá mức. Chúng ta xài nhiều đưa đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung ứng và khan hiếm tài nguyên và chúng ta xả nhiều khiến môi sinh bị ô nhiễm và khí hậu bị biến đổi. Các ngành công nghệ hay ở những lãnh vực khác đều áp dụng kỹ thuật tái-chế/-xử-dụng (recycle) để hạn chế đến mức tối đa sự lãng phí năng-nguồn và ô nhiễm môi sinh. Thơ Tân Hình Thức Việt từ góc độ Lập/Lặp Lại, khuyến khích, động viên ý tưởng recycle để hạn chế sự lãng phí và ô nhiễm. Bước trở về con đường thơ ca, lặp/lập lại hay tái-xử-dụng lại các thể thơ truyền thống Thơ Tân Hình Thức Việt còn làm sáng tỏ sự tôn trọng và trân trọng giá trị của những phong trào/thể thơ khác.

Sự nối kết những phân mảnh và hiệu ứng cánh bướm

Như vậy, với bốn tiêu chí ở trên, tâm thức của Thơ Tân Hình Thức Việt lấy con người với cuộc sống làm trọng tâm, hướng đến sự nối kết giữa những phân mảnh nội tâm, giữa người và người, giữa các quốc gia, sắc dân, chủng tộc, văn hóa cùng tôn giáo với nhau trong một thế giới trong-lành. Bằng cuộc trở về qua bốn nẻo đã được biết đến ở những phần trên, Thơ Tân Hình Thức Việt muốn (tái thiết) lập lại một nền thơ ca nguyên-thuần, phục hồi lại vai trò của nhà thơ thuở khơi-khởi của thơ ca, đem đời sống thực tại vào thơ và đem thơ trả về với đời sống. Môn nghệ thuật phức tạp và có cấu trúc nhất và đồng thời đơn giản và hỗn loạn nhất vẫn vốn là cuộc sống đang đi đến … … .

Tới đây, chúng ta đã đi vào trong thế giới tâm-/cảm thức của Thơ Tân Hình Thức Việt và đã nắm bắt được những điều hướng đến của bốn tiêu chí bản sắc đặc trưng của Thơ Tân Hình Thức Việt. Từ trong thế giới tâm-/cảm thức này chúng ta đào sâu vào từng khâu kỹ thuật của bốn trụ móng của Thơ Tân Hình Thức Việt (Tính Truyện/Chuyện; Ngôn Ngữ Đời Thường; Vắt Dòng; Phản Hồi và Lập/Lặp Lại) để cùng nhau tiếp tục nốt hành trình chúng ta đã bước qua và đang bước đến, để tìm thấy những câu trả lời cho những điều chúng ta muốn biết:

 Nội dung Thơ Tân Hình Thức Việt ra sao?

 Tính Truyện/Chuyện là như thế nào?

 Ngôn Ngữ Đời Thường là ngôn ngữ nào?

 Vắt Dòng là vắt dòng gì và vắt ra sao?

 Phản Hồi và Lập/Lặp Lại cái gì?

 Không vần hay có vần?

 Đọc một bài thơ Tân Hình Thức Việt bằng cách nào?

 Làm sao để thưởng thức được giá trị của (một bài) Thơ Tân Hình Thức Việt?

Nào, chúng ta lại bước tiếp nữa … …

Paper Cover: Boulevard Montmartre; Night Effect. by Camille Pissarro
http://www.1st-art-gallery.com/Camille-Pissarro/Camille-Pissarro-oil-paintings.html

XÂU CHUỖI THƠ: CHIẾC XE ĐẠP

 XÂU CHUỖI THƠ
CHIẾC XE ĐẠP
Khế Iêm


BỨC TRANH

Người đàn ông dựa xe đạp
vào vách tường vừa kịp
cơn giông ập xuống mang
theo mưa và mưa và
mưa xoá nhoà biên cương
giữa sáng tối và sự
vật và bụi mờ đẩy
người đàn ông dần dần
lùi lại khoảng cách giữa
tiếng rơi mái hiên và
gió lạnh và chiếc xe
lấn tới lấn tới cho
đến khi những đường cong
vòng tròn những nan hoa
những góc cạnh khảm  sâu
vào bức tường đã ố
màu thành bức tranh hiện
thực và người đàn ông
là chiếc bóng phai mờ
và cơn giông và mưa
và biên độ giữa hai
chiều thực tại còn đọng
lại nhiều năm sau đó
trong ký ức người đàn
ông những phút giây lạ
lùng  tưởng chừng như câu
chuyện chỉ xảy ra trong
tâm trí.


KÝ HIỆU CỦA IM LẶNG

Tôi là chiếc xe đạp tôi
không  có tâm trí thân
xác tôi là những ống
sắt vô cảm chủng loại
tôi những chiếc xe lăn
bánh trên mọi ngả đường
ngày ngày những mặt đường
mạch sống những con đường
hôm qua hôm kia quanh
co những con đường phố
nghèo trong giấc mơ người
người tất bật người người
đông vui cùng bầu trời
xanh xưa những chiếc xe
song song những tuổi thơ
những mối tình song song
dĩ vãng trong ký ức
con người còn bây giờ
chủng loại tôi đang dần
dần thu nhỏ lạc loài
giữa trùng trùng xe hơi
gắn máy dưới bầu trời
mây mù ô nhiễm trên
vỉa hè tràn  đầy rác
rến tràn đầy tiếng ồn
tôi là sự vật giữa
các sự vật tiếng nói
của chủng loại tôi là
im lặng im lặng là
ký hiệu của sự vật.


NGƯỜI ĐÀN ÔNG KỂ

Tôi nói với người bán hàng
– tôi vừa dựng chiếc xe vào
mua bao thuốc lá lúc trở
ra chiếc xe đã không cánh
mà bay – sao khi không lại
mất – một giọng nói the thé
vang lên quanh tôi không một
bóng người ngoài con đường phía
trước lác đác vài chiếc xe
qua và trên nóc nhà cao
tầng một áng mây trôi – chiếc
xe đạp cũ đã xỉn màu
gắn bó với tôi suốt cuộc
đời nghèo – sao khi không lại
mất – giọng nói cất lên ở
ngoài hay trong tôi và có
kẻ nào đó xâm nhập tâm
trí đang trách cứ tôi tôi
thật sự có mặt tôi thật
sự có một chiếc xe đạp
chiếc xe đạp thật sự không
cánh mà bay – sao khi không
lại mất – tôi không nhận ra
tôi ai đưa tôi tới đây
để chỉ mua một bao thuốc
lá thời gian chẳng phải ngưng
lại mà fractal đứt đoạn
lãng quên không ký ức tôi
là kẻ dấu mặt tôi che
dấu tôi tôi chào người bán
hàng bước ra tôi mở cửa
căn nhà bước vào ánh sáng
mờ mờ chiếc xe đạp cũ
xỉn màu những đường cong vòng
tròn những nan hoa góc cạnh
mờ mờ như bức tranh hiện
thực ai đưa tôi trở lại
căn nhà trong thoáng chốc ai
là ai trong tôi sao tôi
không biết tôi móc túi lấy
bao thuốc lá bao thuốc lá
mờ mờ trên tay tôi mờ
mờ mờ mờ.


* Đa số những người bị xáo trộn về tâm lý (schizophrenia) nghe thấy 1, 2 giọng hay nhiều giọng trong đầu, còn thông thường là do bị ảo giác (hallucination). Những giọng nói thường gây tổn thương, khiếm nhã, ồn ào, làm phiền muộn, đôi khi ra lệnh khiến người nghe phải làm theo.

*Paper Cover: Francesco Capello has done a whole series of bicycle paintings.

ĐỌC – DIỄN THƠ TÂN HÌNH THỨC

[⚠️ Suspicious Content] Introduce Christine Ellger, 1948 | Surrealist Fine Art Photographer
Christine Ellger http:/www.tuttartpitturasculturapoesiamusica.com;
Biển Bắc | 21.4.2015

Như chúng ta đã biết, một đặc trưng điển hình của Thơ Tân Hình Thức Việt là tính truyện/chuyện. Thế nên Thơ Tân Hình Thức Việt là một loại thơ kể truyện/chuyện và mỗi bài Thơ Tân Hình Thức Việt là một câu truyện/chuyện kể. Thông thường, chúng ta hay nói rằng kể chuyện hay đọc truyện. Như vậy Thơ Tân Hình Thức Việt là một thể thơ để kể, để đọc (!)

Văn xuôi  hay thơ ca, bất cứ thể loại nào ở cả hai lãnh vực này, đều có cách đọc của nó. Và như thế, mỗi cách đọc đều có cái khái niệm cùng định nghĩa riêng của nó. Trong văn học xưa, nay, từ mọi góc cạnh của từng sân chơi, đã có nhiều bàn luận và định nghĩa về cái ĐỌC. Theo cách phổ biến, ĐỌC được định nghĩa như sau:

  1. Phát thành tiếng, thành lời những điều đã được viết ra theo đúng trình tự, bản viết có sẵn.

  2. Nhìn vào một tập hợp kí hiệu, bản viết, bản vẽ để tiếp thu nội dung.

  3. Thấu hiểu điều không lộ ra bằng quan sát mắt nhìn vào những biểu hiện bên ngoài hiểu rõ điều gì.

  4. Thu lấy thông tin từ một thiết bị lưu trữ của máy tính (như đĩa từ, đĩa CD, v.v.).

Là một thể thơ để kể, để đọc (một câu truyện/chuyện), Thơ Tân Hình Thức Việt dĩ nhiên cũng có cách đọc riêng của nó cùng khái niệm, định nghĩa về cái đọc rất đặc thù. Trong phạm trù Thơ Tân Hình Thức Việt, ĐỌC được định nghĩa như sau:

Quan sát bản ký-hiệu, nhìn bản-viết, cất lên tiếng-lời-nói cộng với hiển thị biểu-thức-cơ-thể, với mục đích truyền đạt nội dung, tư tưởng, một hoặc cùng một lúc nhiều kỹ thuật trong bốn kỹ thuật của thể Thơ Tân Hình Thức Việt, của một điều gì đó để được tiếp nhận.

Như vậy, cái đọc của Thơ Tân Hình Thức Việt có 2 cách:

  1. Đọc trong im lặng.

  2. Đọc thành tiếng.

Khi chúng ta đọc một bài Thơ Tân Hình Thức Việt trong im lặng, lần đầu tiên, dĩ nhiên chúng ta đọc bằng mắt (thị giác). Chúng ta quan sát bài viết, thấy nó là một tập hợp của những chữ được sắp xếp theo một trình tự mang hình thức một bài thơ, một bài thơ hình thể truyền thống:

Phông Chắn Gió

Tôi dựa vào hư không
anh hỏi cô chủ hàng
cà phê có làn da
trắng mịn như sữa tươi

Khi ngả lưng vào tấm
bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà lâu nay đã
trở thành tấm phông chắn

Gió cho khách hàng đến
đây uống cà phê bó
gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng ngà ngà nhả

Khói thuốc lá vào khoảng
không không sao đâu anh
cô chủ hàng cà phê
có làn da trắng mịn

Như sữa tươi cười nói
em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống như
tất cả xung quanh đây

Và rồi chúng ta đọc trong đầu theo lối đọc quen thuộc đã thành thói quen. Thói quen đọc thơ truyền thống là ngừng lại ở mỗi hàng chữ, rồi chúng ta mong đợi những hàng chữ kế dưới sẽ có những vần điệu theo thể luật quen thuộc như lục-bát (6A-6A8B-6B-6B8C), tứ tuyệt (A-A-B-A hoặc A-B-A-B), liên hoàn (A-A B-B C-C …) hay song-thất-lục-bát (7A-7B-6B-6B8C-7C-7D-….). Nhưng Thơ Tân Hình Thức Việt là một loại thơ không vần nên chúng ta bị thất vọng trước những mong đợi ở vần điệu, khiến chúng ta bối rối khó hiểu nên chúng ta lại thử đọc lại thêm một lần. Lần này, chúng ta dõi mắt đi tìm vần điệu quen thuộc để chúng ta bắt nhịp đọc cho trôi chảy. Kỹ thuật lặp/lập lại một số cụm từ hay chữ hoặc âm-chữ trong Thơ Tân Hình Thức Việt cốt là để trợ giúp cho việc bắt nhịp này. Những lặp/lập lại trong bài-thơ-ví-dụ gồm có:

Hư-không; Chủ-hàng; Làn-da;Trắng-mịn; Sữa-tươi; Vàng-ngà; Cà-phê………

Bởi vì, có thể vẫn còn quen theo thể luật cố định của thơ truyền thống, nên cho dù chúng ta bắt được nhịp vần chứ có thể chưa bắt được nhịp điệu của bài thơ, nên chúng ta thấy nó khang khác, còn lùng bùng, trúc trắc, trục trặc. Bước kế là chúng ta buông thả đầu mối âm-ngữ (=vần điệu và con chữ) để nắm-bắt nội dung nên chúng ta thử đọc bài thơ một lèo như một bài văn xuôi. Có thể chúng ta đọc đi đọc lại thêm vài lần, hoặc chỉ một lần, chúng ta rút ra kết luận cho riêng mình về nội dung của bài thơ: à ra thế!

Như vậy, một bài Thơ Tân Hình Thức Việt khi đọc trong im lặng, đọc một mình, là một môi trường cho người đọc và người viết “gặp nhau” qua sự nối kết của nội dung, tư tưởng truyền đạt và được tiếp nhận. Ngôn ngữ đời thường, ngôn-ngữ-nói là một phương tiện tốt, gần gũi người đọc để dễ hiểu. Đọc một bài Thơ Tân Hình Thức Việt trong im lặng, chúng ta phải thay đổi cách đọc thơ như chúng ta vẫn quen cách đọc thơ truyền thống. Nghĩa là chúng ta, trước tiên, không để hình thể truyền thống của bài thơ quyết định nhịp đọc của chúng ta (nghỉ hơi, lên giọng, xuống giọng vân vân) và kế đến, không để vần điệu chi phối động cơ thúc đẩy chúng ta đọc. Thơ Tân Hình Thức Việt với ngôn ngữ đời thường, chính xác hơn là ngôn-ngữ-nói, cho dù trong im lặng hay thành tiếng, là một thể thơ để đọc từ quan điểm thực chất nội dung cùng tư tưởng, tuyệt nhiên không phải là thể thơ thị giác. Hãy để sự hiếu kỳ về nội dung, tư tưởng của bài Thơ Tân Hình Thức Việt thức thách chúng ta nắm bắt, để sự vắt dòng quyến rũ chúng ta khắc phục và những lặp/lập lại lôi cuốn chúng ta theo mạch chảy của bài thơ từ chữ đầu đến chữ cuối! Hãy đọc liền mạch:

Tôi dựa vào hư không anh hỏi cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa tươi khi ngả lưng vào tấm bia ngôi mộ vô chủ vàng ngà lâu nay đã trở thành tấm phông chắn gió cho khách hàng đến đây uống cà phê bó gối trên những chiếc đẩu nhựa vàng ngà ngà nhả khói thuốc lá vào khoảng không không sao đâu anh cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa tươi cười nói em cũng dựa vào hư không để kiếm sống như tất cả xung quanh đây

Và hãy tự đặt dấu phẩy, dấu chấm, dấu hỏi, vân vân trong bài thơ, theo suy diễn của mình. Rồi thì: à ra thế! Ra là chúng ta khi đọc bài thơ trong im lặng, một mình, chúng ta tự quyết cách đọc của mình và khống chế thế giới trí tưởng tượng của mình. Bởi vì cái hiểu ở đây rất riêng biệt, rất chủ quan. Bởi vì người viết quyết định cái viết, cách viết khi viết bài thơ chứ không quyết định cái đọc và cách đọc.

Âm thanh đọc trong tri óc, trong thế giới tưởng tượng của chúng ta thường thường được phát lên với một giọng đều đều (=đơn điệu). Đồng thời âm thanh chúng ta đọc trong im lặng cũng rất chủ quan theo lối suy diễn xây dựng trên những hình ảnh đã trải nghiệm của chúng ta. Như chúng ta biết rằng “tiếng mưa”, “tiếng gió” là một thứ tiếng, ngôn ngữ rất đời thường xuyên mọi quốc gia, mọi sắc dân, mọi chủng tộc. Bởi vì bất cứ ai trên trái đất này, bất cứ thông thạo hay không thông thạo ngôn ngữ nào, khi nghe tiếng mưa hay tiếng gió, cũng đều hiểu và biết rằng đó là mưa là gió. Tuy nhiên, khi đọc chữ “gió” hay chữ “mưa”, thì tiếng, hay âm thanh của gió, mưa có thể khác biệt giữa người này với người kia. Lý do của sự khác biệt này là cái ấn tượng về gió và mưa giữa người này và người kia khác nhau:

  • Với một người ở sa-mạc thì tiếng gió nghe vun vút, ào ào, còn người ở trong rừng cây lại nghe tiếng gió rì rào, lao xao;

  • Ở đồng nội, một người nghe tiếng gió kêu râm ri, vi vu, trong khi ở núi đồi một người nghe ra tiếng gió vi vút, hun hút;

  • Với một tâm trạng phấn khởi thì tiếng mưa rơi nghe rào rào, lộp độp;

  • Tiếng mưa sẽ tí tách, lả chả khi chúng ta nghe trong tâm trạng buồn-ngùi.

Như vậy, những (khác biệt của) ấn tượng sẽ được sáng tỏ khi được biểu hiện. Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, vốn là một câu chuyện/truyện với một nội dung/tư tưởng muốn truyền đạt, được kể qua một thể thơ không vần lồng trong nhịp điệu nào đó. Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt sẽ được tiếp nhận đúng giá trị của nó khi được truyền đạt bằng cùng một lúc qua ngôn ngữ và hành động. Ngôn ngữ, ở đây là lời kể hay là âm thanh đọc. Hành động, ở đây là biểu cảm hay là thể hiện cảm xúc. Nói một cách đơn giản: cách tốt nhất để thưởng thức một bài Thơ Tân Hình Thức Việt là đọc thành lên thành tiếng theo nhịp điệu của bài thơ với những hành động cụ thể để diễn đạt cảm xúc.

Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt có thể đọc từ 3 góc độ:

  1. Từ quan điểm của người viết;

  2. Từ quan điểm của người đọc;

  3. Từ quan điểm của người nghe.

Ở quan điểm của người viết thì thông thường là góc nhìn của người muốn truyền đạt một điều gì đó. Người viết hay đọc những gì mình viết trong im lặng với những màu sắc, âm thanh, mùi, vị, cảm giác trong trí óc chứ không bằng bất cứ một giác quan nào. Người viết trước giờ vẫn hay quen dùng ngôn-ngữ-viết, nên thường có những ngộ nhận ở mặt cảnh ngữ khi đọc. Thơ Tân Hình Thức Việt với kỹ thuật dùng ngôn ngữ đời thường, hay chính xác hơn là ngôn-ngữ-nói, xem ra là một phương tiện rất thích hợp để nối cầu giữa người viết và người đọc; giữa truyền đạt và tiếp nhận. Và sẽ khắc phục được nhiều ngộ nhận ở mặt cảnh ngữ. Tuy vậy, do không dùng những dấu chấm, phẩy, hỏi, than, vân vân, trong một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, nên sự chọn hình thể bài thơ cũng là một điều quan trọng đối với sự truyền đạt. Mà có đôi khi cũng là một cách người viết đánh đố người đọc để tạo hứng thú.

Cái hứng thú giải mã những điều người viết muốn nói lên, là quan điểm chủ yếu của người đọc khi đọc. Giải mã ở đây, là khám phá ra nội dung của bài thơ để tiếp nhận tư tưởng của người viết muốn truyền đạt. Điển hình dưới đây:

Tôi dựa vào hư không

Câu 5 chữ này của bài thơ, là câu bắt đầu của bài thơ ví dụ ở phần trên. Người đọc có thể giải mã, ít nhất, theo 2 cách:

  1. Tôi dựa vào hư không!

  2. Tôi dựa vào hư không?

Cách thứ nhất, người đọc thêm dấu chấm than (!), thì câu chữ này được hiểu là một câu tuyên bố theo nghĩa rằng tôi sống trong mơ hồ, sống không có điểm tựa, sống dựa vào những điều linh thiêng, khuất mày khuất mặt.

Cách thứ hai, người đọc thêm dấu chấm hỏi (?), câu chữ này lại được hiểu theo nghĩa một câu hỏi rằng tôi dựa vào cái gì đó (ở đây là tấm phông chắn gió) có bị hư (hại gì) không? Ở một cách hiểu khác nữa là tôi xin phép để ngồi/đứng dựa lưng vào tấm phông chắn gió.

Khi đọc trong im lặng, người đọc muốn tìm đầu mối để nắm bắt bài thơ để “tìm gặp” người viết, nối kết luồng tư tưởng của nhau. Khi đọc một bài Thơ Tân Hình Thức Việt lên thành tiếng, người đọc cởi chiếc-áo-tiếp-nhận, mặc vào chiếc áo của người truyền đạt. Qua âm thanh đọc cộng với những hành động diễn đạt cảm xúc, người đọc đóng vai trò truyền đạt nội dung, tư tưởng của bài thơ đến người nghe.

Quan điểm của người nghe là muốn tiếp nhận điều truyền đạt bằng mọi giác quan của mình. Khi một bài Thơ Tân Hình Thức Việt được đọc lên thành tiếng, có hai loại người nghe:

  1. Người đọc

  2. Người nghe

Người đọc, khi đọc lên sẽ nghe tiếng của mình, nhưng âm thanh đó bị chi phối bởi tâm trí của người đọc. Có nghĩa là, người đọc sẽ nghe âm thanh đọc một cách chủ quan; âm thanh của chính mình phát ra mà người đọc nghe được có phần khác với âm thanh mà người khác nghe được. Điều này rất đơn giản vì lẽ âm thanh phát từ miệng ra phía đằng trước, trong khi đôi tai của người đọc ở phía sau cái miệng, nên nghe âm thanh từ đằng sau nó hay nói chính xác hơn là ở trong cuống họng. Một chứng cứ về sự kiện này là khi chúng ta nghe lại tiếng của mình trong bản ghi âm/hình, chúng ta cảm thấy khác lạ và có đôi khi không nhận ra đó là tiếng của mình.

Khác với người đọc nghe âm thanh của chính mình, người nghe tiếp cận âm thanh đọc ở đằng trước, ở một góc độ khách quan. Kiểu cách đọc cùng diễn đạt ảnh hưởng đến âm thanh cùng hình ảnh muốn truyền đạt và định đoạt phần lớn những gì mà người nghe tiếp nhận. Vẫn là câu chữ của ví dụ ở phần trên:

Tôi dựa vào hư không

Nếu người đọc đọc câu chữ này với một giọng thiết tha khẩn khoản đi đôi với ánh mắt dò hỏi trong một tư thế chờ đợi (câu trả lời), thì người nghe, thấy, sẽ tiếp nhận nó là một câu hỏi. Nhưng với một giọng trầm trọng cùng với anh mắt nghiêm túc trong một tư thế bình thường, tự nhiên, thì người nghe sẽ tiếp nhận câu chữ kia như là một lời tuyên bố.

Để thưởng thức giá trị một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta cũng nên có một cách truyền đạt điển hình. Cách điển hình này, trong Thơ Tân Hình Thức Việt được gọi là Đọc-Diễn và có một quá trình như sau:

  1. Đọc bài thơ liền một mạch để nắm bắt nội dung một cách tổng thể;

  2. Sắp xếp lại bài thơ theo cách đọc của người đọc;

  3. Đọc lại bài thơ theo cách suy diễn của người đọc;

  4. Lập lại nhiều lần đọc đến khi đọc được trôi chảy nhuần nhuyễn;

  5. Tìm ra những nhịp điệu trong bài thơ, của bài thơ;

  6. Đọc lại bài thơ với nhịp điệu đã nắm bắt được;

  7. Lập lại nhiều lần đọc đến khi đọc được nhịp nhàng;

  8. Thể hiện những hành động biểu hiện cảm xúc của từng câu chữ, câu đọc;

  9. Đọc bài thơ với nhịp điệu của nó và diễn đạt cảm xúc của từng đoạn;

  10. Đọc-Diễn bài Thơ Tân Hình Thức Việt cho (nhiều) người nghe.


Như vậy, Đọc-Diễn một bài Thơ Tân Hình Thức Việt có 10 công đoạn, đòi hỏi một sự chuẩn bị nhiều tâm huyết cùng công tập dợt và đọc diễn một cách (như) chuyên nghiệp. Khi thực hành quá trình Đọc-Diễn một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, có những điều của từng bước một, chúng ta nên lưu ý để tránh rơi vào vết xe của lãnh vực nghệ thuật (văn chương) khác hoặc thể thơ khác.

  1. Như đã nêu lên ở phần đọc trong im lặng ở trên, khi đọc (lên thành tiếng) một bài Thơ Tân Hình Thức Việt để nắm bắt được nội dung và tư tưởng của nó, chúng ta nên đọc liền một mạch như một bài văn xuôi. Chúng ta không để bị chi phối bởi hình thể của bài thơ. Bởi ngộ nhận, nên có nhiều ý kiến cho rằng một bài văn xuôi sắp xếp chữ theo thể hình một bài thơ truyền thống, hẳn là một bài Thơ Tân Hình Thức Việt. Điều này hoàn toàn sai lầm, vì như đã biết, Thơ Tân Hình Thức Việt có tâm thức, ngôn ngữ, kỹ thuật cùng nội dung đặc thù riêng biệt. Mục đích của bước thứ nhất trong quá trình Đọc-Diễn là để làm nổi bật lên tính truyện/chuyện của bài Thơ Tân Hình Thức Việt, để hiểu rõ nội dung. Là từ một bài Thơ Tân Hình Thức Việt (= điểm nguồn) đọc như một bài văn xuôi (=dị dạng) chứ không phải là ngược lại. Xin xem ví dụ ở phần đọc trong im lặng.

  2. Khi chúng ta đã nắm bắt được nội dung của bài Thơ Tân Hình Thức Việt rồi, chúng ta cải biên nó thành một bài kể chuyên/truyện. Chúng ta tùy theo suy diễn câu chuyện/truyện kể, thêm dấu chấm, phẩy, hỏi, than, vân vân, để đọc cho đúng ngữ điệu, giọng lên xuống.

Phông Chắn Gió

Tôi dựa vào hư không
anh hỏi cô chủ hàng
cà phê có làn da
trắng mịn như sữa tươi

Khi ngả lưng vào tấm
bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà lâu nay đã
trở thành tấm phông chắn

Gió cho khách hàng đến
đây uống cà phê bó
gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng ngà ngà nhả

Khói thuốc lá vào khoảng
không không sao đâu anh
cô chủ hàng cà phê
có làn da trắng mịn

Như sữa tươi cười nói
em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống như
tất cả xung quanh đây

–> 

Phông Chắn Gió

“Tôi dựa vào hư không?”
Anh hỏi cô chủ hàng cà phê, có làn da trắng mịn như
sữa tươi, khi ngả lưng vào tấm bia ngôi mộ vô chủ
vàng ngà, lâu nay đã trở thành tấm phông chắn
gió, cho khách hàng đến đây uống cà phê, bó gối trên
những chiếc đẩu
nhựa vàng, ngà ngà nhả khói thuốc lá vào khoảng
không.

“Không sao đâu anh!”
Cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa, tươi
cười nói:
“Em cũng dựa vào hư không để kiếm sống như tất cả
xung quanh đây!”


3. Sau khi sắp lại bài Thơ Tân Hình Thức Việt theo một bài đọc, chúng ta ngắt đoạn từng câu chữ, đọc lên thành từng câu nói:

Phông Chắn Gió

“Tôi dựa vào hư không?”
Anh hỏi cô chủ hàng cà phê, có làn da trắng mịn như sữa tươi, khi ngả
lưng vào tấm bia ngôi mộ vô chủ vàng ngà, lâu nay đã trở thành tấm
phông chắn
gió, cho khách hàng đến đây uống cà phê, bó gối trên những chiếc đẩu
nhựa vàng, ngà ngà nhả khói thuốc lá vào khoảng không.

“Không sao đâu anh!”
Cô chủ hàng cà phê có làn da trắng mịn như sữa, tươi cười nói:
“Em cũng dựa vào hư không để kiếm sống như tất cả xung quanh
đây!”

–>

Phông Chắn Gió

“Tôi dựa vào hư không?”
Anh hỏi cô chủ hàng cà
phê
có làn da trắng mịn
như sữa tươi
khi ngả lưng vào tấm bia
ngôi mộ vô chủ vàng
ngà lâu nay đã trở thành
tấm phông
chắn gió cho khách hàng
đến đây uống cà phê
bó gối trên những chiếc
đẩu nhựa vàng
ngà ngà nhả khói thuốc lá
vào khoảng không
“Không sao đâu anh!”
Cô chủ hàng cà phê có
làn da trắng mịn như sữa
tươi cười nói:
“Em cũng dựa vào hư
không để kiếm sống
như tất cả xung quanh
đây!”


4. Rồi chúng ta đọc đi đọc lại cho trôi chảy nhuyễn nhuần hơi thở lên xuống, những chỗ cần nhấn mạnh, những chỗ cần đọc nhỏ, vân vân. Nếu cần thiết, chúng ta lại cải biên theo những khám phá mới khi đọc lên bài thơ.

5. Khi chúng ta đọc bài thơ, được chúng ta cải biên theo hơi nhịp đọc của mình, có thể chúng ta đã khám phá ra cái nhịp điệu trong bài thơ rồi. Khi chúng ta khám phá ra nhịp điệu của bài thơ, chúng ta có thể vô tình đã đọc theo nhịp điệu đó rồi. Nhưng điều quan trọng là chúng ta phải nắm bắt nhịp điệu một cách có ý thức. Lưu ý rằng chúng ta tìm nhịp điệu chứ chúng ta không tìm vần điệu! Như chúng đã biết, kỹ thuật lặp/lập lại một số câu chữ, hay âm chữ, cốt là để tạo nhịp điệu cho bài thơ. Thế nên, chúng ta chú tâm đi tìm những câu chữ hay âm chữ được lặp/lập lại trong bài thơ (coi ví dụ ở phần đọc trong im lặng ở trên). Mục đích của bước thứ năm này trong quá trình Đọc-Diễn là để nhịp nhàng điệu đọc, để làm vang lên nhạc tính của bài Thơ Tân Hình Thức Việt.  Có thể, bài Thơ Tân Hình Thức Việt được chúng ta cải biên theo nhịp điệu để đọc, mang hình thể một bài thơ Tự Do Việt, nhưng tuyệt đối không phải là bài thơ Tự Do Việt. Cho nên cách suy luận rằng, nhiều bài thơ Tự Do Việt đem xếp thành một bài thơ mang thể hình một bài thơ tuyền thống là một bài Thơ Tân Hình Thức Việt mới, là hoàn toàn không chính xác! Một bài thơ Tư Do Việt là một bài thơ Tự Do Việt không thể là một bài Thơ Tân Hình Thức Việt được. Một bài thơ của một thể khác, ví dụ thể thơ Tự Do Việt, cải biên thành thể Thơ Tân Hình Thức Việt, là giả mạo, mà ngôn ngữ đời thường hay gọi là “đồ dzỏm”, “hàng nhái”, hoặc trước kia hay nói là “đồ made in Hồng Kông, bên hông Chợ-Lớn” và bây giờ là “hàng trúng quả” (âm tiếng Hoa phổ thông Trúng Quả = Trung Quốc).

Dưới đây là ví dụ cải biên bài Thơ Tân Hình Thức Việt theo những câu chữ hay âm chữ được lặp/lập lại trong bài thơ, cho nhịp nhàng hơi nhịp đọc:

Thúy-Liên-Khúc-Điều-Chi-

Không cần nói điều
chi cả khi không còn lối
nào đi đâu đây
trong sân chơi tình yêu lâu
nay đông dân chơi
hình như không còn mới điều
chi mà đi rong
mòn mỏi tìm ra rung-động-
lòng đỏ mắt mong
mộng đồng cỏ mát dưới chân
đồi suối êm đềm
tóc em mềm duỗi bên thềm
mà thực tại thì
mệt lả và ngược lại thì
hết ngả đi đâu
đây khi lâu nay không cần
dối điều chi cả
khi mong còn lối để đi

–>

Thúy-Liên-Khúc-Điều-Chi-

Không cần nói điều chi
cả khi không còn lối nào đi
đâu đây trong sân chơi tình yêu
lâu nay đông dân chơi… hình như
không còn mới điều chi
mà đi… rong
mòn mỏi tìm ra
rung-động-lòng… đỏ mắt
mong mộng… đồng cỏ mát
dưới chân đồi
suối êm đềm
tóc em mềm
duỗi bên thềm
mà thực tại
thì mệt lả
và ngược lại
thì hết ngả
đi đâu đây
khi lâu nay
không cần dối điều chi
cả khi
mong còn lối để đi


Thúy-Liên-Khúc-Lạc-

Thế đấy rồi một
hơi mất hút đời chột đui
bị lạc trong dòng
lời vì lạc trong lòng người
ta lạc trong giấc
mơ xa lạc ngay cả trong
bài thơ này đây
mới thật mỉa mai này đây
đó bật ngửa tay
ôm vai trong truyện tranh hôm
nay anh là anh
hùng ngày mai là kẻ ác
cùng bày mưu lừa
kẻ khác là nạn nhân của
chính mình và đính
tình bằng giấc mơ hằng ước
mơ làm kẻ kể
chuyện lạc trong dòng lời lạc
trong lòng người… yêu…

–>

Thúy-Liên-Khúc-Lạc-

Thế đấy rồi một hơi
mất hút đời chột đui
bị lạc trong dòng lời
vì lạc trong lòng người
ta lạc trong giấc mơ xa
lạc ngay cả trong bài thơ này
đây mới thật mỉa mai
này đây đó bật ngửa… tay…
ôm vai trong truyện tranh
hôm nay anh là anh hùng
ngày mai là kẻ ác… cùng
bày mưu lừa kẻ khác
là nạn nhân của chính mình
và đính tình
bằng giấc mơ hằng ước mơ
làm kẻ kể chuyện
lạc trong dòng lời
lạc trong lòng người… yêu


6. Với nhịp điệu bài thơ đã nắm bắt được, chúng ta đọc lên bài Thơ Tân Hình Thức Việt nhịp nhàng như một bài nhạc. Xin lưu ý là một bài nhạc chứ không phải bài hát! Khi chúng ta đọc bài Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta để nhịp điệu của nó chi phối và dẫn dắt hơi nhịp đọc của chúng ta. Ở bước này, chúng ta cần phân định và xác định rõ ràng cái ĐỌC một bài Thơ Tân Hình Thức Việt. Là một thể thơ không vần, Thơ Tân Hình Thức Việt chú tâm vào nhịp điệu, nên khi đọc, chúng ta đọc theo nhịp điệu, chứ không theo thói quen đọc thơ truyền thống, đọc theo vần điệu. Chúng ta không đọc rỉ rả, hay ngâm, hay vịnh, tấu như chúng ta hay quen thơ vần điệu. Chúng ta cũng không cao giọng, trịnh trọng đọc xướng như đọc thơ Tự Do Việt. Là thể thơ mang tính truyện/chuyện, Thơ Tân Hình Thức Việt là một thể thơ để kể (= đọc-diễn) như là kể một câu chuyện/truyện với một giọng kể bình thường, không cầu kỳ. Ai trong chúng ta khi còn bé, không thường thì cũng thi thoảng, cũng được những người lớn kể chuyện/truyện cổ tích, huyền thoại, một ngàn lẻ một đêm, vân vân cho chúng ta nghe. Cứ thử tưởng tượng, họ kể bằng với giọng ngâm, vịnh như ngâm thơ vần điệu, hay cao giọng, trịnh trọng như thơ Tự Do Việt thì chúng ta sẽ có được những ấn tượng gì nhỉ? Truyện/chuyện Kiều thì là một trường hợp hi hữu, nhưng không ai nói là kể truyện kiều cả, mà là ngâm Kiều, vịnh Kiều, vân vân. Thậm chí là bói Kiều.

7. Từ ý thức của nhịp điệu bài Thơ Tân Hình Thức Việt, qua kỹ thuật lặp/lập lại của các câu chữ hay âm chữ, chúng ta đọc đi đọc lại bài thơ đến mức có thể đọc trong im lặng cũng như thành tiếng. Nghĩa là chúng ta để cho nhịp điệu bài thơ thấm đẫm vào vô thức, chúng ta từ vô thức, đi đến ý thức và trở về lại vô thức khi đã nhập tâm nhịp điệu của bài Thơ Tân Hình Thức Việt.

8. Khi chúng ta nắm vững từ nội dung lẫn nhịp điệu của bài thơ rồi, chúng ta bước qua từ Đọc, đến công đoạn Diễn. Ở bước này, chúng ta chú ý đến mỗi câu chữ, đoạn thơ, có những cảm xúc gì nổi lên. Nếu cần thiết, chúng ta ghi chú ở sau mỗi câu, đoạn, cái cảm xúc của câu, đoạn đó, như “giận”, “mặt hớn hở” “đăm chiêu” “tươi cười”, vân vân. Sau đó từng câu chữ chúng ta đọc lên, chúng ta tập những hạnh động biểu cảm, diễn xúc của câu chữ đó.

9. Sau khi đã tập dợt những hành động biểu cảm, diễn xúc của từng đoạn trong bài thơ, chúng ta tập đọc nhịp điệu bài thơ đi đôi với diễn xúc một cách đồng bộ. Nghĩa là chúng ta đọc trọn bài Thơ Tân Hình Thức Việt theo nhịp điệu câu chữ (verbal) của nó và đồng thời diễn những cảm xúc (non-verbal) của nó theo quy trình của bài thơ. Tập dợt nhiều lần đến khi chúng ta đọc và diễn ăn khớp một cách trơn tru.

10. Xong rồi, bạn đã sẵn sàng để Đọc-Diễn một bài Thơ Tân Hình Thức Việt! Bạn hãy đứng lên, đọc diễn cho mình, cho người khác, cho nhiều người khác bài Thơ Tân Hình Thức Việt!

Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, ở một góc độ nhất định, là một sinh hoạt văn hóa, giải trí lành mạnh, rất phù hợp diễn ra trong những buổi họp nhóm, sinh hoạt trong gia đình, sinh hoạt ở trường học, đại học hay câu lạc bộ, vân vân. Nếu thể được, cần nên có những sân khấu cho những buổi Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, được tổ chức trong tinh thần giao lưu. Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta không cần thiết phải hóa trang với những bộ trang phục và trang điểm ấn tượng để gây chú ý. Cốt lõi là nội dung, tư tưởng của bài thơ được truyền đạt qua nhịp điệu đọc cùng những hành động diễn cảm trực tiếp để bổ sung cho câu chữ, để người nghe tiếp nhận trọn vẹn nhất. Chúng ta không màu mè gượp ép!

Chúng ta đến tham-gia (participate) buổi Đọc-Diễn Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta là một phần của buổi đó, chúng ta cứ là như chúng ta, chúng ta ăn mặc, đi đứng như hàng ngày chúng ta vẫn vậy. Một người quen mặc veston, thì mặc veston, người quen mặc quần jeans, thì mặc quần jeans. Chúng ta là những người viết, người đọc và người nghe cùng một lúc.

Một bài Thơ Tân Hình Thức Việt, từ viết, đến đọc-diễn và nghe-thấy là một cuộc Trải-Cảm:

  • Người viết, khi viết trải cảm giác ra trên câu chữ, thành nội dung của một câu truyện/chuyện kể để truyền đạt tư tưởng;

  • Người đọc-diễn, qua quá trình đọc-diễn, trải nghiệm những cảm giác được người viết trải ra, tiếp nhận chúng. Rồi khi đọc-diễn lại truyền tải, truyền đạt nội dung, tư tưởng đến người nghe-thấy;

  • Người nghe-thấy trải lòng ra với những điều mà người đọc-diễn muốn truyền dạt để cảm nhận những cảm giác. Và theo sự tiếp nhận của mình, người nghe-thấy có thể phản ánh lại, truyền đạt lại những điều tiếp nhận được đến người viết để rút tỉa;

  • Người viết, có thể lúc đầu viết theo góc độ người viết, nên có thể điều muốn truyền đạt được tiếp nhận từ quan điểm của người đọc-diễn đến người nghe-thấy, khác đi. Khi tiếp nhận phản ánh từ người đọc-diễn và người nghe-thấy, người viết có thể khám phá những điều khi mình viết chưa nhìn ra để thấy rằng một bài thơ rất đa chiều.

Với một nền kỹ thuật truyền thông tuyệt vời của thời nay, thì vấn đề liên lạc giữa người viết, người đọc-diễn và người nghe-thấy với nhau, ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình truyền đạt và tiếp nhận, đã chẳng còn là vấn đề gì cả! Tìm gặp nhau để liên lạc trao đổi, chỉ là chuyện của một vài cái kích (nút) chuột hoặc vài ba cái vuốt màn hình.

Một bài thơ, khi từ trong tư tưởng của người viết được hình thành câu chữ trên trang giấy, nó đã chết. Khi từ nơi bài viết đi vào trong tâm trí người đọc (trong im lặng), bài thơ lại chết thêm lần nữa. Rồi xuyên qua quá trình Đọc-Diễn, bài thơ cũng lại chết thêm một lần kế. Vừa đến lúc người nghe-thấy tiếp nhận nó, bài thơ lại chết đi thêm một lần. Chỉ đến khi điều phản ánh được tiếp nhận bởi người viết, do người đọc-diễn hoặc/và người nghe-thấy truyền đạt, bài thơ được tái sinh, hay nói chính xác hơn là được đầu thai. Một trong những mặt cảm thức của Thơ Tân Hình Thức Việt là sự nối kết được lồng trong yếu tố tính truyện/chuyện của thể thơ này. Sự nối kết này được thể hiện rõ nét qua cuộc Trải-Cảm, từ lúc bài thơ sinh ra, chết đi nhiều lần và tái sinh. “Biết” thơ và “Yêu” thơ không còn được biểu thị qua việc thuộc làu thơ nữa. Việc đọc vanh vách thơ không cần nữa, việc đọc-diễn thơ ngoạn mục cũng không cần nữa, vì bài thơ đã chết đi và đã đầu thai rồi. Chỉ còn tư tưởng đọng lại! Duy nhất!

(giữa 2, không 15) | http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c326/n19348/Doc-Dien-Tho-Tan-Hinh-Thuc-Viet.html

Paper Cover: Introduce Christine Ellger, 1948 | Surrealist Fine Art Photographer
http://www.tuttartpitturasculturapoesiamusica.com/2016_02_01_archive.html

XÂU CHUỖI THƠ: NGƯỜI VỢ TRẺ

Paper cover: Scotland-based artist and Star Wars buff David Hamilton (aka wintersixfour) decided to merge classical paintings and the characters from his beloved saga together Interesting fact: Christina here was a real person who suffered from polio and lived near Wyeth; hence she would drag herself around. | https://www.demilked.com/classical-paintings-art-history-star-wars-david-hamilton/
Paper cover: Scotland-based artist and Star Wars buff David Hamilton (aka wintersixfour) decided to merge classical paintings and the characters from his beloved saga together Interesting fact: Christina here was a real person who suffered from polio and lived near Wyeth; hence she would drag herself around. | https://www.demilked.com/classical-paintings-art-history-star-wars-david-hamilton/
Hường Thanh

THƠ DẠI

người mẹ non dại khi
đứa con thơ sinh ra
đầu đời đứa con thơ
sinh ra người mẹ trẻ
sau cơn giao hoan người
đàn bà thơ dại nghĩ
về mùi tình yêu mình
vào người đàn ông cho
đến khi đứa con thơ
sinh ra người đàn bà
(công nhân quét rác) quét
qua cuộc đời nhiều chuyện
tan rã trong đêm trông
thấy đứa con ai nằm
thơ dại bên trong chiếc
thùng rác im im bên
những chiếc lá không còn
non dại vì đã khô
trong một ngày tan rã
rồi.


NGƯỜI VỢ

hắn đánh người vợ trẻ ngất
xỉu như một hành vi với
cái cây trồng sau vườn nhà
hắn người vợ trẻ ngày bỏ
qua thì cái cây cũng thẳng
trở lại trở về giường chăm
non đứa bé mới mười tám
ngày tuổi hắn lại đi tới
hắn đánh người vợ trẻ vì
người vợ không cho hắn “vui
vẻ” đứa bé mới sinh ra
làm sao người vợ trẻ trở
lại lạc thú hắn điên lên
cơn điên dại làm hắn dập
chết cái cây non mới mười
tám ngày tuổi của hắn cái
cây quá nhỏ làm sao thẳng
lên một ngày sau chỉ còn
người vợ trẻ nằm giường ám
ảnh về cái cây sau vườn.


BÀO THAI

chứng nghẽn mạch máu của scarlett
sẽ đi qua mạch máu của người
mẹ các bác sĩ không thể làm
cách nào khác và nỗi đau đi
qua nỗi đau lúc trở về nhà
scarlett bước ra nhà tắm rồi
vào bếp cùng người yêu người mẹ
đến bên ôm con gái trước khi
vào phòng khách thì đột nhiên từ
phòng bếp đi qua phòng khách là
tiếng kêu của bức tranh Scream
bị rơi nằm nền nhà tiếng kêu
đi qua tiếng thét cô gái scar-
lett ngã xuống vì chứng nghẽn mạch
máu các bác sĩ không thể nào
cứu được bào thai trong bụng bởi
không thể đi qua có thể phép
màu và các bác sĩ đành phải
đưa bào thai ngược trở về tử
cung của người mẹ trẻ đã chết.

14.6.2016

Paper cover: Scotland-based artist and Star Wars buff David Hamilton (aka wintersixfour) decided to merge classical paintings and the characters from his beloved saga together
Interesting fact: Christina here was a real person who suffered from polio and lived near Wyeth; hence she would drag herself around.
http://www.demilked.com/classical-paintings-art-history-star-wars-david-hamilton/

BƯỚC ĐI / VÀO THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

Paper Cover: Pieter Brueghel the younger 1564/1565–1637/1638 Belgian, Flemish Village Festival in Honour of Saint Hubert and Saint Anthony 1632 The Fitzwilliam Museum
Brueghel the younger, Pieter; Village Festival in Honour of Saint Hubert and Saint Anthony; The Fitzwilliam Museum; http://www.artuk.org/artworks/village-festival-in-honour-of-saint-hubert-and-saint-anthony-4441

BƯỚC ĐI / VÀO THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT


Biển Bắc

 

Sự Hình Thành Thơ Tân Hình Thức Việt

Lấy cảm hứng từ phong trào thơ New Formalism của một nhóm nhà thơ Mỹ,  vào cuối năm 1999 đầu năm 2000, một nhà thơ Việt với bút hiệu là Khế Iêm, giới thiệu vào nền thơ Việt một thể thơ mới, với tên gọi: Thơ Tân Hình Thức.

Lúc ban đầu, có lẽ, chỉ mới ở giai đoạn “khai phong”, thơ Tân Hình Thức rút ra một số yếu tố của thơ tiếng Anh, để hình thành luật tắc cho một thể thơ mới, nhân tiện mượn thuật ngữ  Tân Hình Thức để gọi cho thuận miệng, có nghĩa là một thể thơ mới. Tuy trong trường hợp đầu tiên, cụm từ “Tân Hình Thức” được dịch ra từ cụm từ “New Formalism”, nhưng khi du nhập vào thơ Việt, những tư tưởng và kỹ thuật của New Formalism bắt được luồng sinh khí đặc thù của di sản văn hóa, di sản thi ca Việt và trải qua hơn một thập-niên đã được khai phá, phát triển thành một thể thơ với một bản sắc riêng: Thơ Tân Hình Thức Việt.

Tuy là xuất phát từ nguồn cảm hứng của phong trào thơ New Formalism, có nhiều điểm giống nhau, vẫn luôn giao lưu, cộng tác với phong trào thơ này, nhưng Thơ Tân Hình Thức Việt là một nhánh chảy riêng biệt trong giòng mênh mông của văn học nghê thuật. Với một số lượng sáng tác đáng kể, từ những bài viết phê bình, lí luận, sáng tác thơ, ấn phẩm và những sinh hoạt đặc trưng, Thơ Tân Hình Thức Việt đã đủ được công nhận là một thể thơ riêng biệt.

Nhìn, Nhận Thơ Tân Hình Thức Việt

Thơ Tân Hình Thức bước ra, bước rẽ hay nói đúng hơn là bước trở về những con đường của cuộc hành trình thơ ca Việt. Với tư duy được xây dựng trên cơ sở của học thuyết hỗn mang (chaos theory school), Thơ Tân Hình Thức Việt áp dụng hiệu ứng cánh bướm qua quy trình đệ quy phi tuyến tính, vào cái mọi khía cạnh khái niệm của thơ ca:

  • Lí luận về thơ;

  • Sáng tác thơ;

  • Thưởng thức thơ;

  • Đọc-diễn thơ;

  • Phê bình về thơ.

Mặt cảm thức của Thơ Tân Hình Thức Việt được kết hợp với mặt kỹ thuật một cách liền mạch ở bốn nền móng của thể thơ này:

  1. Tính Truyện/Chuyện;

  2. Ngôn Ngữ Đời Thường;

  3. Vắt Dòng;

  4. Phản Hồi và Lập/Lặp Lại.

Lý Thuyết Hỗn Mang

Lý thuyết Hỗn Mang  là tên phổ biến cho các lãnh vực của toán học, nghiên cứu về hành vi và thực trạng của một số hệ thống động lực. Tên chính thức của toán học là hệ thống năng động. Những chương trình nghiên cứu, xem xét các trường hợp nào mà sự hỗn mang (được) xác định (trước) được hình thành và chúng có những đặc tính gì. Khái niệm về hỗn mang ở đây có một ý nghĩa kỹ thuật, khác với thuật ngữ được sử dụng hàng ngày. Hỗn mang (được) xác định (trước) có nghĩa là các sự kiện xảy ra dường như một cách rối loạn, dù vậy đã được xác định một cách chính xác và được sắp xếp, được thành lập theo một thuật toán hoặc tính quy luật.

Trước kia, các nhà nghiên cứu nghĩ rằng các hệ thống vật lý xuất hiện những điều không thể đoán trước được, chỉ có vẻ như vậy, hoặc vì sự phức tạp của chúng, hoặc bởi sự đa dạng của các thành tố mang lại những thay đổi trong các hệ thống này. Với sự phát triển của lý thuyết hệ thống, người ta nhận ra rằng điều này là không đúng sự thật. Ngay cả hệ thống rất đơn giản, với trong đó các thành phần của hệ thống ảnh hưởng lẫn nhau một cách phi tuyến tính, đều có thể biểu hiện hiện tượng “hỗn mang (được) xác định (trước)”. Với sự ra đời của máy vi  tính người ta đã có thể nghiên cứu điều này.

Hiệu Ứng Cánh Bướm

Trong Thơ Tân Hình Thức Việt, nói riêng, hiệu ứng cánh bướm là một yếu tố bao quát/bao trùm. Từ đây, ở những khoản, từ cảm thức đến kỹ thuật, từng phần một, chúng ta sẽ đi sâu vào cái áp dụng hiệu ứng cánh bướm vào mỗi khía cạnh.

Buoc di 1(Ảnh: Lorenz-Attractor của Edward Lorenz trong một không gian pha ba chiều. Nguồn: Internet)

Thuật ngữ Hiệu Ứng Cánh Bướm được dùng để mô tả một số hiện tượng hỗn mang. Các hiệu ứng cánh bướm đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết hỗn mang. Hiệu ứng cánh bướm là sự nhạy cảm mạnh mẽ của sự khác biệt đối với những điều kiện ban đầu. Ở những hệ thống phi tuyến tính với độ nhạy cao, sự chênh lệch của mỗi bước có thể tăng theo cấp số nhân.

“Sai một ly, đi một dặm”

Dự báo thời tiết tốt nhất của chúng ta luôn được rút ra từ các giải pháp của hệ thống phương trình vi phân kết nối. Trong số các chương trình này thường không có những giải pháp được biết chính xác, nhưng số lượng chuỗi tính toán nối tiếp có thể cho một chúng ta một xác suất đáng tin cậy. Nói một cách cụ thể, với những dữ liệu đo lường thời tiết của hôm nay, chúng ta có thể tính toán được nhiệt độ thời tiết của ngày mai.

Từ thập-niên 50, Edward Lorenz đã cho thấy rằng phương trình vi phân (kết nối) có thể không ổn định. Điều này có nghĩa rằng các lỗi trong thời gian tính toán số phát triển. Nếu ví dụ nhiệt độ, hôm nay 0,1 ° C được đo không chính xác, sai lệch so với dự báo cho ngày mai đã là 0,2 °C. Trong quá trình đo lường một tuần, chúng ta sẽ có sự sai lạc của dự báo nhiệt độ là 1,4 °C và trong hai tuần thì dự báo nhiệt độ và thời tiết hoàn toàn không còn có ý nghĩa gì nữa.

“Dự báo thời tiết: nói thiệt chết liền!”

Cái tên Hiệu Ứng Cánh Bướm được dựa trên một phép ẩn dụ với giai thoại thường được đề cập, là tiếng vỗ của một con bướm trong rừng rậm của Brazil có thể được quyết định giữa thời tiết tốt và một cơn bão ở Nhật Bản.

Quy Trình Đệ Quy Phi Tuyến Tính

Độ tuyến tính nghĩa là kết quả của một quá trình thường được cân đối với nguyên nhân. Những thay đổi nhỏ có tác động nhỏ, thay đổi lớn có hậu quả lớn. Hiệu ứng cánh bướm cho chúng ta biết rằng điều này không phải là sự thật tuyệt đối. Những thay đổi vô cùng nhỏ nhoi, tuy nhiên, có thể có hậu quả to lớn. Đây là điều lệ căn bản của các quy trình phi tuyến tính. Như vậy phi tuyến tính cho thấy sự  không tương xứng/cân đối giữa hậu quả và nguyên nhân. Hiệu ứng cánh bướm có quá trình đệ quy lặp đi lặp lại. Như đã vừa nêu trên, đệ quy là một quá trình phản hồi với trong đó quá trình này lặp lại như là một phần của bản thân nó. Kết quả của một phương trình (đầu ra) được trả lại cho các đầu vào của so phương trình và quá trình này lặp lại bất tận. Nếu một thay đổi nhỏ được thực hiện trong điều kiện ban đầu của phương trình, nó sẽ lại được phóng đại ra từng lần trong quá trình đệ quy (phản hồi tích cực).

Ví dụ khi chúngt ta đặt hai tấm gương đối diện với nhau, chúng sẽ có được một sự lặp lại bất tận của cùng một hình ảnh.

Buoc di 2
(Ảnh: Một hành lang với hai bên gương đối diện nhau. Nguồn: Internet)

Ví dụ, nếu chúng ta đặt một cái loa (đối diện) gần với một chiếc micrô, âm thanh từ cái loa phát ra được thâu vào lại chiếc micrô rồi âm lực lại được phóng đại theo từng lần, từng lần phát ra, thâu vào một cách bất tận. Cụ thể như trong một trường hợp thường xảy ra trong phòng hát Karaoke, khi người hát vô tình cầm micrô đứng trước loa, lập tức mọi người đều phải bị giựt mình đến chói tai đinh óc với tiếng rít réo inh ỏi, vang, dội.

Buoc di 3

Bước Vào Thơ Tân Hình Thức Việt

Với Thơ Tân Hình Thức Việt, thơ là sự phản hồi và lặp/lập lại của một số thành tố liên quan với nhau trong và của đời thường. Đời thường ở đây có nghĩa là đời sống thường nhật, đời sống hàng ngày. Trong cuộc sống hàng ngày có muôn đời sống và có muôn mặt, mọi tầng lớp xã hội, mọi giới tính, mọi tín ngưỡng, mọi ngành nghề, mọi hoàn cảnh, mọi âm thanh và nhịp điệu, mọi màu sắc cùng mọi mùi vị.

Những sự kiện xung quanh chúng ta, trong cuộc sống hàng ngày, xảy ra một cách như thể không có tổ chức, không có một hệ thống nhất định. Cũng vẫn là trên con đường từ nhà đến cơ quan, đến trường, đến quán, đến chợ, đến phòng mạch, vân vân, vẫn hàng ngày hai buổi đi-về, nhưng những chuyện xảy ra của hôm qua khác với ngày hôm nay và ngày mai thì chúng ta chưa biết chừng. Ví dụ:

  • Hôm qua từ nhà đi đến chỗ ngã tư đèn-xanh-đèn-đỏ, mải cắm đầu chạy nên không thấy đèn đỏ, không kịp thắng nên đụng vào xe trước. Dừng lại bên lề đường, năn nỉ giải thích đủ điều mà anh ta không thông cảm, nên đành móc túi bồi thường 100 nghìn, anh ta mới chịu rồi đi tiếp. Vì phải dừng lại giàn xếp vụ đụng xe, nên đến chỗ bùng binh đúng ngay giờ cao điểm, bị ùn tắc và rồi phải móc điện thoại gọi cho bạn đồng nghiệp hủy cuộc hẹn nhau ở quán ăn sáng. Hôm nay, cũng trên đường tới cơ quan, cũng chạy qua chỗ ngã tư đèn-xanh-đèn-đỏ, nhưng không gặp chuyện gì nên chạy ngon ơ đến chỗ bùng binh trước giờ cao điểm. Vừa đến bùng binh thì móc điện thoại ra nghe người bạn đồng nghiệp hẹn đến quán khác ăn sáng, lý do cô ta phải chạy vòng đường khác bởi đường đằng trước xảy ra tai nạn giao thông nên bị khóa lại. Khi ăn sáng xong, phải móc túi trả 100 nghìn cho 2 xuất ăn uống, vì phải chuộc cái “tội” hôm qua hủy cuộc hẹn ăn sáng với cô bạn đồng nghiệp. Khi đến giờ phải bắt đầu công việc, cô bạn đồng nghiệp lại hẹn: ngày mai, cùng một thời điểm cùng một địa điểm, như mọi ngày nghe!? Ngày mai… … …

Sự kiện cùng những hình ảnh ở trên đây làm bật ra cái thành tố phi tuyến tính của quá trình (đường đi) hàng ngày trong cuộc sống hàng ngày. Nếu ở độ tuyến tính, thì quá trình (đường đi) hàng ngày vẫn cứ đều đều: đúng cùng thời điểm, đúng cùng địa điểm, xảy ra đúng cùng sự kiện. Đầu vào (địa điểm và thời điểm, chặng khởi hành) sẽ cân bằng với đầu ra (địa điểm và thời điểm, chặng đến nơi) song song với chiều dài của đoạn đường và tốc độ chạy xe.

Buoc di 4
(Minh-họa: Độ tuyến tính của quá trình hàng ngày)

Nhưng những điều kiện ban đầu của mỗi chặng trên quá trình/đường đi thay đổi, hay hoặc xảy ra không đo lường trước được, như:

  • dừng lại bên lề đường giàn xếp vụ đụng xe;

  • bị ùn tắc;

  • hủy cuộc hen;

  • người bạn đồng nghiệp hẹn đến quán khác ăn sáng;

  • đường đằng trước xảy ra tai nạn giao thông nên bị khóa lại.

Nên những thời điểm và địa điểm, được dự trù trước, đã thay đổi không lượng trước được, với tỷ lệ chưa chắc đã cân đối với tốc độ của sự kiện diễn ra và tốc độ của hành trình.

Tốc độ của sự kiện diễn ra, ở đây là thời gian dành cho/ bỏ ra một sự kiện. Ví dụ: hôm qua, từ lúc dừng lại bên lề đường giàn xếp vụ đụng xe, đến lúc được đi tiếp, mất hết 15 phút. Và hôm nay, cũng có thể đụng vào xe trước và dừng lại bên lề đường giàn xếp vụ đụng xe (không biết chừng; phi tuyến tính mà!), với kinh nghiệm của ngày hôm qua, không dừng lại bên lề đường, năn nỉ giải thích đủ điều nữa mà móc túi bồi thường 100 nghìn liền và được đi tiếp nhanh chóng. Cho nên chỉ mất hết 5 phút cho sự việc này thôi. Như vậy tốc độ của sự kiện này, ngày hôm nay nhanh hơn ngày hôm qua.

Tốc độ của hành trình, ở đây là thời gian bỏ ra/dành cho sự di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm kia. Ví dụ: hôm qua, từ chỗ ngã tư đèn-xanh-đèn-đỏ chạy đến bùng binh, vì phải dừng lại bên lề đường giàn xếp vụ đụng xe, thấy bị trễ rồi, nên phóng xe nhanh và chỉ mất 8 phút. Và hôm nay, từ chỗ ngã tư đèn-xanh-đèn-đỏ chạy đến bùng binh, tuy không phải dừng lại bên lề đường giàn xếp vụ đụng xe, nhưng lại bị trời mưa mà lại có đoàn xe đưa đám tang đi trước, nên chạy xe chậm rì mất hết 25 phút. Như vậy tốc độ của hành trình từ chỗ ngã tư đèn-xanh-đèn-đỏ đến bùng binh của ngày hôm qua nhanh hơn ngày hôm nay.

Trên con đường hàng ngày hai buổi đi-về, đâu có phải chỉ có một mình mình, mà còn có nhiều người khác nữa cũng đi, về. May ra, chúng ta chỉ có thể kế hoạch hoặc điều khiển chuyến đi của mình, nhưng chắc chắn chúng ta không có thể điều khiển hoặc kế hoạch chuyến đi của những người khác trên con đường chúng ta đang đi. Nói một cách cụ thể đơn giản hơn là chúng ta chỉ có thể lái chiếc xe của chúng ta chứ không thể cùng một lúc chúng lái những chiếc xe khác của người khác trên đường. Có nghĩa rằng hành trình của chúng ta luôn tiếp xúc với, va chạm vào những hành trình khác, xung quanh, trên con đường. Mọi di-chuyển-động xuyên xéo, chồng chéo lên nhau. Điều này nói lên tính cách hỗn mang của/trong đời thường/cuộc sống hàng ngày. Ấy thế mà, mới nhìn vào thì coi bộ những  di-chuyển-động xuyên xéo, chồng chéo lên nhau rất hỗn loạn, nhưng xe cộ thì lạng lách, người thì núp nách, uyển chuyển nhịp nhàng rất tài tình. Như là được sắp xếp như một hệ thống thường lệ, như được thành lập theo một quy luật nhất định. Và dòng di-chuyển-động vẫn cứ trôi chảy không ngừng nghỉ với một nhịp điệu phi tuyến tính.

Buoc di 5
(Ảnh: di-chuyển-động xuyên xéo, chồng chéo lên nhau. Nguồn: Internet)

Qui Trình và Luật Tắc Thơ Tân Hình Thức Việt

Như đã vừa nói ở phần trên, thơ đối với Thơ Tân Hình Thức Việt là sự phản hồi và lặp/lập lại của một số thành tố liên quan với nhau trong và của đời thường. Những tác phẩm của Thơ Tân Hình Thức Việt là những bức phản ánh của (giá trị) đời-/cuộc-sống. Cũng giống như một bức vẽ, một tấm hình, một diễn cảnh (scene) hay một đoạn thu hình từ một góc nhìn nào đó. Nhưng đặc biệt, Thơ Tân Hình Thức Việt với sự áp dụng hiệu ứng cánh bướm có quá trình đệ quy, tức là phản hồi và lặp/lập lại. Có nghĩa là làm ngưng đọng những sự kiện xảy ra cuộc sống đời thường (=phản hồi) rồi lại chuyển động chúng qua sự lặp/lập lại, rồi lại phản hồi những lặp/lập lại, rồi lại lặp/lập lại những phản hồi, vân vân và vân vân.

Buoc di 6 (watermarked)
Xin bấm vào bức hình để đọc rõ chữ. (Minh họa: Qui trình trật-tự-hóa của Thơ Tân Hình Thức Việt với yếu tố phản hồi và lập lại. Hiệu ứng cánh bướm trong Thơ Tân Hình Thức Việt )

Hầu hết, trong cuộc sống, để nắm bắt, điều khiển hay làm chủ một vấn đề gì, chúng ta đều cố gắng hệ thống hóa chúng bằng một quá trình có tính quy luật. Và như vậy, thế giới mới có mọi khoa học, bộ môn, ngành nghề, lãnh vực với những quy luật cùng hệ thống riêng. Thơ Tân Hình Thức Việt cũng không ngoại lệ, cũng có hệ thống và luật tắc của nó. Để làm trật tự những di-chuyển-động xuyên xéo, chồng chéo lên nhau (=hiện tượng hỗn mang của hệ thống), Thơ Tân Hình Thức Việt lấy kỹ thuật phản hồilặp/lập lại làm yếu tố cho qui trình trật tự của một bài thơ.

Một bài thơ Tân Hình Thức Việt điển hình phải đáp ứng các quy-/luật-tắc sau đây:

  1. Bài thơ phải có mang tính truyện/chuyện;

  2. Bài thơ phải xử dụng ngôn ngữ đời thường;

  3. Bài thơ phải mang hình thể một bài thơ trong những thể thơ Việt thông dụng;

  4. Sự lập/lặp lại phải hiện rõ nét, trải đều ra suốt bài thơ;

  5. Phải là thể thơ không vần chứ không như thể thơ vần điệu.

Nếu không hội đủ những quy-/luật-tắc ở trên, một bài thơ chưa hoàn chỉnh trọn gói, để được coi là một bài thơ Tân Hình Thức Việt thực thụ. Một ngộ nhận thường xảy ra là có những đoạn văn xuôi, bài viết, hay những bài thơ tự do Việt, thậm chí những bài thơ vần điệu được cải biên, thêm câu, cắt chữ  rồi sắp xếp theo một thể hình bài thơ khác và sau đó cho rằng đấy là một bài thơ Tân Hình Thức Việt. Việc làm này được người ta hay gọi là “chuyển thành thể thơ Tân Hình Thức”. Đây là một sai lầm rất đáng lo ngại, vì do vô tình hay cố ý, hành động này gây ra một cái nhìn nhận lệch lạc về hệ thống của (một bài) Thơ Tân Hình Thức Việt. Hành động “chuyển thành thể thơ Tân Hình Thức” này, nói một cách thông dụng, chỉ là một xảo thuật “mông má”, “chắp vá” mà không thành tạo được bản sắc đặc trưng của (môt bài) thơ Tân Hình Thức Việt.

Ngoài những quy-/luật-tắc tạo đường nét để tạo cho hệ thống một quy trình thể hiện bản sắc, (một bài) thơ Tân Hình Thức Việt còn (phải) được xây dựng trên cơ sở tâm-/cảm-thức của nó. Và như ở đoạn đầu tiên, chúng ta đã biết rằng mặt cảm thức của Thơ Tân Hình Thức Việt được kết hợp với mặt kỹ thuật một cách liền mạch ở bốn nền móng của thể thơ này:

  1. Tính Truyện/Chuyện;

  2. Ngôn Ngữ Đời Thường;

  3. Vắt Dòng;

  4. Phản Hồi và Lập/Lặp Lại.

Có cơ sở tâm-/cảm-thức, có những kỹ thuật để đáp ứng mọi quy-/luật-tắc của quy trình, chúng ta cần thêm nội dung để tạo nên (một bài) thơ Tân Hình Thức Việt. Những tác phẩm của Thơ Tân Hình Thức Việt vốn là những bức phản ánh của (giá trị) đời-/cuộc-sống hàng ngày. Trong cuộc sống hàng ngày vốn có muôn đời sống và có muôn mặt, đủ mọi tầng lớp xã hội, đều mọi giới tính, chung mọi tín ngưỡng, chia mọi ngành nghề, ở mọi hoàn cảnh, vang vọng mọi âm thanh và nhịp điệu, óng mọi màu sắc cùng thoảng mọi mùi vị. Vì vậy, nội dung của (một bài) thơ Tân Hình Thức Việt cũng rất đa dạng và phong phú như đời-/cuộc-sống hàng ngày với tất cả ở trong lẫn ngoài của nó.

Và rồi, chúng ta đã qua những bước đầu tiên, sơ khởi làm quen với những nguyên tắc căn bản của thơ Tân Hình Thức Việt:

  1. Chúng ta đã lượt qua sự xuất hiện của thơ Tân Hình Thức Việt;

  2. Chúng ta duyệt lại những điểm nhìn nhận ra thơ Tân Hình Thức Việt;

  3. Chúng ta làm quen lý thuyết hỗn mang;

  4. Chúng ta tìm hiểu thế nào là hiệu ứng cánh bướm;

  5. Chúng ta bàn vào quy trình đệ quy phi tuyến tính;

  6. Chúng ta mang những điều vừa tiếp xúc trên, bước vào Thơ Tân Hình Thức Việt;

  7. Chúng ta tiếp cận với qui trình và luật tắc Thơ Tân Hình Thức Việt.

Bước kế tiếp chúng ta bước sâu vào, bàn rộng thêm ra những thành tố của hệ thống (một bài) Thơ Tân Hình Thức Việt, để hiểu rõ thêm những điều cần nắm bắt. Chúng ta đi vào Cách-Thức Thơ Tân Hình Thức Việt với câu trả lời cho những câu hỏi đang chờ:

  • Mặt cảm thức Thơ Tân Hình Thức Việt có những điều gì, ra sao?

  • Nội dung Thơ Tân Hình Thức Việt ra sao?

  • Tính Truyện/Chuyện là như thế nào?

  • Ngôn Ngữ Đời Thường là ngôn ngữ nào?

  • Vắt Dòng là vắt dòng gì và vắt ra sao?

  • Phản Hồi và Lập/Lặp Lại cái gì?

  • Không vần hay có vần?

  • Đọc một bài thơ Tân Hình Thức Việt bằng cách nào?

  • Làm sao để thưởng thức được giá trị của (một bài) Thơ Tân Hình Thức Việt?

Chúng ta sẽ cùng tìm thấy để hiểu ra:

Cách làm + Cách diễn-đọc + Cách thưởng Thức (một bài) Thơ Tân Hình Thức Việt + Tâm-/Cảm-Thức Thơ Tân Hình Thức Việt = Cách-Thức Thơ Tân Hình Thức Việt.

Nào, chúng ta lại bước tiếp … …


Paper Cover: Pieter Brueghel the younger
1564/1565–1637/1638
Belgian, Flemish
Village Festival in Honour of Saint Hubert and Saint Anthony 1632
The Fitzwilliam Museum

TUẦN THƠ 55: NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ CÁI LÒ GẠCH

”Brick Worker” by Moksumul Haque, Bangladesh. Regional Winner, South Asia. A private enterprise worker is working at a brick field. Small businesses create new jobs for many poor people.
”Brick Worker” by Moksumul Haque, Bangladesh. Regional Winner, South Asia. A private enterprise worker is working at a brick field. Small businesses create new jobs for many poor people.
XÂU CHUỖI THƠ
Nguyễn Văn Vũ

MÙA LỬA

những người phụ nữ no bùn
đến từ đồng lúa còn trơ gốc rạ
còng lưng kéo những chiếc xe
cọc cà cọc cạch như trâu cày và
những người phụ nữ no lửa
bấm ngón chân trên tháp gạch chông chênh
cong lưng tựa vào cửa lò
than ngàn độ C rừng rực lửa và
những người phụ nữ no nắng
mặt đỏ như vỏ cua chuyền nhau viên
gạch đỏ như vỏ cua lên
chiếc xe cà tàng cà tàng chạy và
những người phụ nữ no hơi
đứng hỏng chân như không trọng lực vì
cả ngày no bùn no lửa
no nắng hết mẹ ca lo ri rồi
cứ như thế ngày nọ qua
ngày kia những người phụ nữ no nê
những nỗi nhục nhằn chồng chất
lên cuộc đời chai cứng như viên gạch
chai cứng dưới chân lò nung
một ngàn độ C không sợ mưa không
sợ nắng như nụ cười sau
tấm khăn che mặt ló ra lạ lùng
lấp lánh giọt mồ hôi câu
chuyện đời ngặt nghẻo cơn gió chiều vô
tư thổi qua lò lửa hun
hút câu chuyện đời vùi trong ánh lửa …


MÙA GẶT

chị đang nghĩ gì trên con đường
trở về với đồng lúa chín vàng
những con sáo trâu cũng bay về
đậu xuống bãi cỏ nghiêng mắt nhìn
chị chị nhìn con sáo trâu ngẩn
ngơ ấy chị biết chắc là nó
lại nhớ rất nhớ đàn trâu già
sống hết đời trâu đã hóa kiếp
để lại cánh đồng cho những người
phụ nữ đến mùa gặt lại trở
về trở về từ cái lò gạch
rừng rực một ngàn độ C rồi
hết mùa gặt lại ra đi để
lại cánh đồng trơ gốc rạ cho
bầy sáo trâu bầy sáo trâu với
cánh đồng bát ngát nắng gió có
lúc cũng gợi cho chị những ước
mơ về một nơi nào xa xa
chói chang ánh đèn màu rầm rập
xe cộ và tiếng lao xao trong
quán rượu những quán rượu tai ác
giơ ra nắm đấm điên khùng đánh
gục người đàn ông chắc nịch như
trâu thành con sâu gặm rách cuộc
đời chị cuộc đời của những đứa
trẻ lớn lên bên người cha chạm
chập không còn nhận ra lối đi
đi ra cánh đồng hay lối về
về cái lò gạch thân thương cái
lò gạch rừng rực một ngàn độ
C ôm lấy chị níu chị về
sống chết với những giọt mồ hôi …


MÙA LŨ

chị nhìn đàn cò trắng
về rải ra những vạt
chiều trắng trên cánh đồng
nước nổi cơn gió bấc
quạt tắt ngọn lửa rừng
rực một ngàn độ C
lụi tàn cánh cửa lò
khép lại sau lưng chị
người phụ nữ quay mặt
tránh gió thở dài đống
tro nguội dần thở dài
nỗi đằng đẳng mưa mưa
những ngày mưa vùi mặt
trong góc nhà ám khói
mà nhớ lửa nhớ nắng
nhớ gió nhớ câu chuyện
đời không kể xiết mà
kể sao xiết câu chuyện
đời rách như miếng giẻ
rách không thể lau khô
giọt nước mắt lăn thầm
trong bóng đêm như tấm
phên che chắn đời khổ
để không nhìn thấy đời
khổ sau tấm phên che
những ước mơ những ước
mơ ngập tràn mưa lũ
ngập tràn ngày tháng dìm
chết cuộc tình dìm chết
người đàn ông chắc nịch
của chị thành đồ bỏ
đi bỏ đi mà sao
không bỏ vào lò lửa
ngàn độ C để cùng
chị nung những viên gạch
đỏ như vỏ cua cùng
chị còng lưng kéo chiếc
xe cọc cà cọc cạch
chở lửa chở nắng chở
gió đi hết cuộc đời …

Tháng 6 . 2016

Paper Cover: ”Brick Worker” by Moksumul Haque, Bangladesh. Regional Winner, South Asia. A private enterprise worker is working at a brick field. Small businesses create new jobs for many poor people.

PHỎNG VẤN ĐỖ QUYÊN: TOÀN CẦU HÓA LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH KHẢ ÁI

PHỎNG VẤN ĐỖ QUYÊN
TOÀN CẦU HÓA LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH KHẢ ÁI

 

Lời Tòa Soạn: Văn hóa, văn học nghệ thuật của một quốc gia dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay không chỉ tồn tại trong phạm vi biên giới quốc gia mà còn có mặt ở nhiều nơi trên thế giới với những đặc điểm, những con đường đi ra, và trở về, khác nhau bởi các điều kiện địa chính trị/kinh tế/xã hội/văn hóa khác nhau. Văn hóa, văn học  nghệ thuật Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó. Nhân dịp có tham luận  tham dự Hội thảo quốc gia “Thế hệ nhà văn sau 1975” tổ chức tại Hà nội, nhà thơ Đỗ Quyên, hiện sinh sống và sáng tác ở Canada, đã nhận lời mời làm khách của VHNA.

Phan Thắng:Chào anh, cảm ơn anh đã nhận lời làm khách của Văn hóa Nghệ An. Thú thật, lúc mới nghe danh, tôi cứ tưởng Đỗ Quyên là nữ thi sỹ. Tôi không biết bút danh này là định mệnh văn chương của anh hay chính vì con đường văn chương của anh mà có cái danh rất nữ tính này?

Đỗ Quyên:Có lẽ cả hai. Cũng khối chuyện buồn vui quanh đó. Buồn, vì nó tôi nhận phận làm chim Đỗ Quyên. Như truyền thuyết vua Đỗ Vũ nước Thục thời Chiến Quốc, bị hóa thành chim cuốc kêu than, nhớ nhung quê hương khi phiêu bạt đất khách. Vui, vì nó dẫn tới sự bé cái nhầm của các chàng các ông, từ độc giả đến văn hữu mà nhiều nhất là các nhà nam biên tập. Hihi…

Dạo còn trong nước và sang Liên Xô/Nga, đã đam mê viết lách rồi nhưng tài tử, tôi dùng khi tên thật lúc bút danh loạn cào cào. Đến Đức, bài thơ đầu tiên mang bút danh mới là cốt gửi đến mẹ tôi để xin phép “cải danh”. “Đỗ Quyên con chọn để làm tên/Bên những dòng thơ đẫm ruột mềm/Hè đó, một chiều… Con lạc bước/Quê người lối khác rẽ sang bên…”

Phan Thắng:Đã từng là giảng viên vật lý hạt nhân ở Đại học Bách khoa Hà Nội, không hiểu can cớ vì sao anh lại từ bỏ con đường khoa học đó để đến với văn chương?

Đỗ Quyên:Với đa phần người xa xứ; không kể những người xa xứ một cách bình thường và may mắn; thì tam đại sự (sự nghiệp, tài sản, gia đình) thường được/bị thay đổi vô cùng bất ngờ. Nếu không muốn bảo là… lộn tùng phèo – theo quan niệm trong trường phái Đảo ngược / Upsidedownism của họa sĩ Nguyễn Đại Giang bên Mỹ.

Với riêng tôi, đó là thay đổi không tốt; không thành công nơi xứ người. Do không đủ tài năng để vừa theo đuổi làm vật lý hạt nhân – một loại nghề vốn rất khó, vừa làm văn chương báo chí – một nghiệp vốn rất nặng). Nhại lối phát ngôn gây sốc mấy ngày qua bởi đại diện doanh nghiệp Formosa họ Chu tên Phàm: “Chọn đi: muốn bắt cá, tôm hay là muốn xây cái nhà máy thép hiện đại!”. Một người làm đối ngoại như thế, cư xử kiểu nhị nguyên 0-1 là sai lè lè. Còn với những người viết văn tự đẩy mìnhxuống tàu/ embarquement (như quan niệm nhà văn dấn thân của triết gia J.P. Sartre), tôi nghĩ mình không sai nhiều lắm khi chọn thơ văn trên bãi cát hành trình viễn xứ.

Phan Thắng:Anh thực sự sống với văn chương, nói cách khác là làm văn chương, hoạt động văn chương chuyên nghiệp từ khi ra nước ngoài. Sự hấp dẫn của văn chương hay là tình thế của cuộc đời mà có sự gắn bó này?

Đỗ Quyên:Sự mê hoặc bởi văn chương là chính, là tiềm năng; tình thế đổi đời là phụ, là môi trường.

Như bao con dân Việt có một đất nước thơ che chở, tôi sinh ra trong một gia đình yêu chuộng văn học. Hồi bé 7 anh chị em nhà tôi đều phải viết nhật ký. Kỷ luật thép: hàng ngày; không viết là ăn cơm muối, nặng hơn thì ăn đòn; viết bằng thơ được miễn 3 ngày. Có lẽ cha mẹ tôi – như đa số đấng sinh thành trên đời – không muốn con cái lấy văn nghệ làm nghề kiếm sống. Ông nội tôi là lương y, cha mẹ, chú cậu tôi đều hành nghề y dược. Chị cả tôi đã vào đại học Y rồi, các cụ chưa yên tâm, ép anh trai cả tôi để rồi anh tự ý đổi hồ sơ sang trường Tổng hợp khoa Toán, và đi bộ đội về lại hứng chí chuyển qua khoa Văn khiến song thân thêm một phen điên đầu!

Nếu vẫn ngon lành với nghề vật lý hạt nhân tại Việt Nam, hoặc ngoài này, thì chắc tôi vẫn viết, viết phong lưu là đằng khác. Nhưng nhiều đề tài và cách viết sẽ khó có được, hoặc có thì theo kiểu khác, khi mà đời tôi suôn sẻ.

Phan Thắng:Theo tôi biết, anh từng sinh sống và làm việc ở nhiều nước, từ Liên Xô/Nga, Đức đến Úc, Canada….; lại từng làm báo nữa. Chắc anh đã có nhiều sự quan tâm và quan sát tìm hiểu về sự hiện diện, sự tồn tại của văn hóa Việt Nam nói chung và văn chương nghệ thuật nói riêng ở nước ngoài. Anh có thể cho chúng tôi biết những nhận xét của mình về sự tồn tại ngoài biên giới quốc gia của văn hóa, văn chương dân tộc Việt Nam?

Đỗ Quyên:Tôi cứ nghĩ, là đại phúc với bất cứ quốc gia nào khi ở ngoài biên cương xuất hiện, phát triển một dòng nhánh văn hóa, kéo theo là văn chương dân tộc. Đại phúc cho quốc gia đó (gọi là quốc gia thứ nhất). Song có là hồng phúc cho quốc gia thứ hai, nói rộng là cho phần thế giới còn lại, hay không tùy mục đích lan truyền văn hóa.

Về quốc gia thứ hai: Việt Nam với một ngàn năm Bắc thuộc là một ví dụ cực tồi theo quan niệm trên. Việt Nam qua một trăm năm Pháp thuộc, từ lâu vẫn là ví dụ tồi, và vài năm nay với cách nhìn thoang thoáng, có ý kiến bảo chỉ là hơi hơi tồi!? Nhưng văn hóa Anh và việc ra đời và phát triển của nước Mỹ hơn 200 năm lại là một ví dụ khác.

Có thể nói, văn hóa Việt ở ngoài Tổ quốc hình thành từ rất lâu. Còn văn học Việt ở ngoài nước, chỉ sau 30/4/1975, nó mới thật sự được coi là một thực thể văn học, bằng việc ra đời và phát triển nhanh của một cộng đồng mang tên hoàn toàn mới về nội hàm người-Việt-hải-ngoại, dù từ chữ vẫn cũ: người-Việt, hải-ngoại. Tất nhiên, cũng phải nói rằng, trước đó ở Pháp chẳng hạn cũng đã có sự hiện diện của  văn học Việt Nam, tuy rằng chưa đủ mạnh để được xác định là một thực thể.

Phan Thắng:Anh có rút ra các đặc điểm gì không về sự hiện diện, tồn tại của đời sống văn hóa Việt ở các nước mà anh biết?

Đỗ Quyên:Đặc điểm thì chỉ có một. Thế mà lại rất khác nhau về cách giải thích, dẫn chứng. Đúng là chuyện coi voi. Tất cả là bởi chính kiến. Ví dụ nóng hổi: tác giả Nguyễn Thanh Việt với tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm Tình Viên) vừa đoạt giải thưởng danh giá Mỹ Pulitzer năm nay.

Tôi sẽ nêu 5 đặc điểm của sinh hoạt văn hóa Việt đương đại ở ngoài nước.

Một, khi tiềm tàng lúc hiển lộ ý thức chính trị gần như chi phối các sinh hoạt chính của văn hóa cộng đồng qua tương quan miền Nam – miền Bắc, Công giáo – Phật giáo… Chưa hy vọng nhiều đặc điểm này mất đi, hoặc thay đổi theo hướng tốt, trong mươi năm tới.

Hai, bản chất bảo thủ bản sắc Việt tính khá rõ và chắc. Ngay ở các gia đình, cá nhân hội nhập nhất – “Mỹ nhất”, “Tây nhất” – thì bản sắc Việt tính vẫn ẩn hiện.

Ba, ngày càng hội nhập tốt đời sống văn hóa bản xứ, tuy không thể đứng vị trí hàng đầu.

Bốn, ngày càng lưu thông, dù giao lưu vẫn chưa thật dễ dàng với tất cả những gì mà văn hóa Việt trong nước đang sở hữu.

Năm, đây như một cái kho duy nhất có thể lưu giữ một số Việt tính mà văn hóa Việt nguồn, tức là trong nước, đã mất đi, mờ nhạt trong dòng thời gian.

Phan Thắng:Cụ thể hơn, anh hãy nói cho chúng tôi biết về sinh hoạt văn học của người Việt Nam ở những nước mà anh sinh sống, Canada chẳng hạn?

Đỗ Quyên:Cần nhắc đến tác giả của những bài tổng quan, giới thiệu đáng chú ý về văn chương tiếng Việt ở ngoài nước. Trong nước: Hoàng Ngọc Hiến, Huệ Chi, Lê Hoài Nguyên, Phạm Xuân Nguyên… Ngoài nước: Võ Phiến, Mai Kim Ngọc, Đặng Tiến, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Thụy Khuê, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Hưng Quốc, Trần Vũ… Nước ngoài: Anatoli Soloklov…

Từ sau 1975 sinh hoạt văn học Việt ngoài nước có 3 đặc điểm lớn. Thứ nhất, về nguồn gốc, và không kể ở các nước Đông Âu, Liên Xô cũ, đó là kết quả từ dòng chảy tiếp văn chương miền Nam trước 1975; Thứ hai, về mục đích, viết để giải tỏa bức xúc, trăn trở về thời cuộc, nhất là về chính trị , rõ hơn cả ở những cây bút xuất xứ từ chính quyền VNCH cũ; gần đây là về bảo toàn lãnh thổ. Các tác giả viết vì lý do văn chương ngày càng tăng; Thứ ba, về cảm hứng, theo ý thức tự do và cá nhân.

Trong 10 năm qua dòng văn học này mang hình dáng rất đổi khác. Tác động của văn học tới đời sống tinh thần người Việt tại đây không còn như trước. Lượng và chất của công chúng độc giả và tác giả đến từ trong nước tăng mạnh, dường như trở thành nguồn nuôi chính.

Tính phân tán là điều dễ thấy nhất của văn chương Việt ngoài nước hiện nay; nói theo ngôn ngữ hậu hiện đại là giải trung tâm.

Về địa – văn hóa: Tính chất của một nền “văn học lưu vong” giảm, ít nhất qua bề mặt, số lượng tác phẩm và tác giả và nhường chỗ cho sự trưởng thành nền “văn học di dân”. Hoa Kỳ không còn là trung tâm văn hóa đọc của người Việt hải ngoại.

Về nội dung: Không còn giới hạn ở 3 đề tài điển hình (nhớ quê hương , phận ly hương; nối dài văn học miền Nam; thích nghi, hội nhập) mà tất cả hòa vào nhau rồi được cộng thêm một số đề tài mới, tới mức khó định danh đề tài chính như trước; trừ đề tài muôn thuở là tình yêu. Rõ nhất là sự liên đề tài với các vấn đề nóng hổi Việt Nam: quan hệ Việt-Trung, biển Đông, đất đai, Ngày 30/4…

Về phong cách: cũng rất đa dạng. Sự đồng hành độc lập, ôn hòa của cả chục phong cách.

Về triển vọng: Bi quan về hiện tượng lão hóa của văn học Việt hải ngoại đang giảm, internet và tính nóng bỏng của tình hình nước nhà đã thành hai tác động chính.

Đây là các đóa hoa, cành lá dễ nhận diện trong hơn 20 năm qua trên nhánh văn chương Việt nơi Đất lạnh tình nồng – Canada.

Báo chí, nhà xuất bản: Ðất Việt, Làng Văn, Nắng Mới, Trăm Con, Người Việt Hải Ngoại, Việt Thường, Truyền Thông… Tác giả: Nam Dao, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trang Châu, Vân Hải, Song Thao, Hoàng Chính, Hồ Ðình Nghiêm, Hạnh Nguyên… (Văn); Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn, Phan Ni Tấn, Bắc Phong, Lâm Hảo Dũng, Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Nguyễn Ðức Tùng, Ðỗ Quyên, Trân Sa, Lưu Diệu Vân… (Thơ); Lê Hữu Mục, Đỗ Khánh Hoan, Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Tiến Văn, Nguyễn Ước, Hà Vũ Trọng… (Khảo cứu, dịch thuật); Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Vy-Khanh… (Phê bình, lý luận); Phạm Hữu Trác, Việt Phong, Hải Triều, Lương Châu Phước, Nguyễn Hữu Nghĩa, Tư Ðồ Tuệ, Trịnh Ðộ… (Nhà báo).

Phan Thắng:Anh có nhận xét gì về đội ngũ các nhà văn, giới nghiên cứu khoa học xã hội, văn hóa, văn học ở những nước mà anh biết?

Đỗ Quyên:Tôi nói qua về giai đoạn hiện tại. Thú vị nhất, khác với cộng đồng chung, giới làm văn học, văn hóa ở đây khi cư xử khá giống nhau giữa các quốc gia. Nhiều năm qua ảnh hưởng chính trị giảm đi nhiều; ở một số báo chí, diễn đàn gần như không hiển lộ như trước. Tất nhiên ngầm bên trong vẫn khá mạnh. Giới văn nghệ sĩ chúng tôi có vẻ lớn khôn nhiều, đã biết nhìn nhau mà chơi, mà viết. Rất nhiều năm rồi, tôi chưa biết một xì-căng-đan nào đáng kể như thời hoàng kim của văn nghệ hải ngoại 1985-1995/2000.

Về phong trào, không còn phong phú như trước. Các diễn đàn chính chỉ còn các báo mạng, như Da Màu, Diễn Đàn Thế Kỷ, Gió-O, Thơ tân hình thức Việt (Mỹ), Tiền Vệ (Úc), Diễn Đàn (Pháp), Người Bạn Đường (Nga)… Tờ báo giấy văn học, văn hóa đáng kể còn lại có lẽ là Khởi Hành (Mỹ)?

Về thế hệ, chưa thấy nhiều tác giả mới ở tuổi 8X-9X. Nổi và mạnh nhất là cánh 6X-7X và vài bạn 8X. Văn: Phạm Thị Hoài, Lê Thị Thấm Vân, Lê Minh Hà, Thuận, Nguyễn Thị Hải Hà, Trần Vũ, Đặng Thơ Thơ, Hiệu Constant, Lưu Thủy Hương, Hoàng Ngọc Thư…; Thơ: Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, Thận Nhiên, Đinh Trường Chinh, Lê Đình Nhất Lang, Nguyễn Hoàng Nam, Lưu Diệu Vân, Khánh Phương, Như Quỳnh de Prelle, Đỗ Lê Anhdao, Phan Quỳnh Trâm…; Phê bình, biên khảo: Đoàn Cầm Thi, Đinh Từ Bích Thúy, Trịnh Thanh Thủy… Cũng như văn chương trong nước, giới nữ lấn át về số lượng.

Về địa lý: nhiều vị chuyển hẳn bàn văn về quê nhà (Thái Kim Lan, Nguyễn Tiến Văn) hoặc về trong các tháng năm cuối cùng mà vẫn hành nghề (Tạ Chí Đại Trường – vừa mất, rồi cũng không ít vị quay lại quốc gia định cư. Riêng giới nghiên cứu văn học, khoa học xã hội, thập niên qua tăng trưởng rất mạnh, phần lớn nhờ lớp người đến từ Việt Nam học tập rồi định cư.

Phan Thắng:Sự giao lưu, ảnh hưởng từ văn học của chúng ta tới văn học sở tại như thế nào?

Đỗ Quyên:Có thể mạnh nhất là ở Úc và Séc. Ở Mỹ, rõ ràng là hùng mạnh hơn tất cả các nước gộp lại. Nhưng cái nước đó tôi thấy quá là mênh mang, khó hiểu. Văn học hải ngoại bằng tiếng Việt là thiểu số không mạnh, nếu có ảnh hưởng thì ở điểm, không thể nào ở diện. Dường như tới nay, Nguyễn Thanh Việt là điểm son nhất mà văn giới gốc Việt đã vẽ trên bảng giá trị văn chương Mỹ, dù chàng vẽ bằng tiếng Mỹ, chưa bằng tiếng Việt! Cũng có thể nói thế với nước Pháp và Linda Lê.

Phan Thắng:Ngoài một số người mà anh vừa nhắc đến, có nhiều người Việt viết văn bằng tiếng nước ngoài không? Và có nhiều tác phẩm văn học Việt được dịch sang tiếng của các nước sở tại?

Đỗ Quyên:Chắc có đến trên dưới 30 nhà văn gốc Việt viết bằng tiếng ngoại quốc tạo được ít nhiều tên tuổi. Linda Lê là nhà văn có tác phẩm mang nội dung và phong cách ít dính dáng đến vấn đề Việt Nam nhất. Việt Nam ở nữ tiểu thuyết gia ấy chỉ là cảm hứng, không là mục đích. Khác hẳn đa số các đồng nghiệp đồng “cố hương” ở Mỹ, Canada, Úc như Monique Trương, Lan Cao, Nguyễn Quí Đức, Nguyễn Thanh Việt, Kim Thúy, Kiên Nguyễn, Nam Lê… Còn có hai nhà văn viết tiếng Pháp, Anh khá nổi danh từ lâu là Kim Lefèvre và Andrew Pham.

Một số tay bút song ngữ Việt-Mỹ, Việt-Pháp mà tiếng Việt là chính, đã có tác phẩm từ các tạp chí, nhà sách uy tín như Đỗ Kh., Nguyễn Tiên Hoàng, Đinh Linh…Với sáng tác tiếng Việt được dịch sang tiếng các nước sở tại để vinh danh, tôi chỉ biết thơ Du Tử Lê.

Phan Thắng:Thực trạng và khả năng quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài như thế nào, theo anh?

Đỗ Quyên:Điều này tôi được biết hầu hết là từ báo chí, bạn bè trong nước, nên xin không dẫn lại. Cũng có vài nhận xét riêng, nhưng có lẽ xin khất lần sau.

Phan Thắng:Theo quan sát và nhận định của anh thì văn học, các sinh hoạt văn chương, văn hóa đã có những đóng góp gì cho quá trình hòa hợp, hòa giải dân tộc?

Đỗ Quyên:Chúng ta vào “vùng nhậy cảm” nhất của cộng đồng Việt ở đây, mà văn học, văn hóa dễ trở thành trường văn trận bút! Để an toàn người ta thường ngại, nói khác sự thật, dối lòng. Tôi dành những đêm vừa qua để nghĩ sao hiệu quả. Trao đổi chân thành cùng anh, dù chưa đầy đủ như ý.

Là một trong các yếu tố quan trọng nhất của hoạt động tinh thần xã hội và đất nước trước và sau chiến tranh, lãnh vực văn chương, văn hóa đã không thể vắng mặt bằng ảnh hưởng đối ngẫu của mình cho công cuộc hòa hợp, hòa giải dân tộc. Ngôn ngữ nhà binh gọi là vũ khí không tiếng súng, là con dao hai lưỡi. Còn các nhà vật lý thì bảo chúng có tác dụng lực và phản lực. Đây, những bài thơ làm hai con tim chụm lại; kia, những câu ca khiến tay phải chém tay trái…

Tiến trình hòa hợp, hòa giải dân tộc Việt Nam hiện nay ở giai đoạn mà các bên liên đới đã có khá đủ các thông tin về nhau, về cuộc chiến, về thời đại; và nhất là có nhiều chia sẻ, cộng tác sau thời gian dài “đắc nhân tâm” chờ đợi, cảm thông…

Và đang là khoảng thời gian thúc tiến hoặc xô lùi quá trình, các bên đều cần thẳng thắn và có thái độ nghiêm túc để cùng hướng tới sự hòa hợp. Về văn nghệ, theo tôi cần tôn trọng xu thế văn nghệ, văn hóa mang tinh thần và khuynh hướng “không quốc nội không hải ngoại” như các tạp chí, báo mạng Diễn Đàn, Hợp Lưu, Trăm Con, Talawas ở giai đoạn trước.

Phan Thắng:Anh có thể cho dẫn chứng về vai trò quan trọng của văn học, văn hóa trong công việc này?

Đỗ Quyên: Xin minh họa bằng 1 tác phẩm, 1 tạp chí, 1 sự kiện và 2 tác giả quen thuộc trong làng văn nghệ, văn hóa ngoài này và với cả phạm vi không nhỏ của văn giới quê nhà.

Năm 1990, tuyển tập Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương ra đời như một trái bom chữ nghĩa và quan điểm nổ giữa trung tâm tỵ nạn hải ngoại là quận Cam, Nam California, và sang chấn khắp thế giới Việt ngoài nước. “Đọc và viết về 79 tác giả trong nước” của “cao trào văn nghệ phản kháng tại Việt Nam”, cuốn sách của ”27 tác giả ngoài nước” đến từ hầu khắp các quốc gia lớn với nhiều chính kiến khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, dày tới 800 trang khổ to (mà các đoạn vừa dẫn là tiêu đề trang bìa 1 và bìa 4). Những dịp qua bên đó, khi gặp các chính chủ của cuốn sách, như Nhật Tiến, Đỗ Hữu Tài, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, Thân Trọng Mẫn, Lê Bi, Hoàng Khởi Phong, Phan Tấn Hải… tôi hay tra vấn họ về những gì trong-ngoài một ấn phẩm văn chương hiếm về thể loại, đẹp về nhân tình và lạ về thời cuộc đến thế!

Năm 1991 và khởi từ phần lớn các tác giả cuốn sách, Tạp chí Hợp Lưu với họa sĩ – nhà văn Khánh Trường trong vai chủ biên đã hiện diện cũng tại chính trung tâm tỵ nạn Việt trên xứ Mỹ.

Về sự kiện, trào lưu văn học. Kể từ mùa xuân năm 2000 đến mùa xuân này, cũng tại trung điểm của văn chương Việt hải ngoại là Quận Cam, nhóm thơ Tân hình thức Việt đã gây tiếng vang đáng kể từ ngoài nước rồi nhanh chóng lan vào trong nước. Từng lôi kéo được ngót trăm nhà thơ, nhà phê bình, dịch giả toàn cầu, kể cả người ngoại quốc, vào cuộc thử nghiệm ngôn ngữ Việt, thơ Tân hình thức Việt, với Tạp chí Thơ là diễn đàn, chỉ là một khuynh hướng văn nghệ thuần túy, phi chính trị. Vậy mà cái nhóm thơ rời rạc về tổ chức ấy bằng tinh thần muốn cải tạo tận gốc thơ ca dân tộc, trên thực tế đã hồn nhiên ghé đôi vai mảnh mai vào sứ mệnh hòa hợp hòa giải của cả đất nước.

Kể từ sau 1975, khác với nhóm văn sĩ phản chiến từ Trung Tâm William Joiner Centre, Đại Học UMASS (Mỹ), do nhà thơ Kevin Bowen làm Giám đốc và nhà thơ Nguyễn Bá Chung làm Điều hành, người Việt hậu chiến chưa biết một nhóm văn học nào của chính người Việt có thể tập tụ được nhiều loại tác giả ở nhiều quá khứ khác nhau cùng làm một công tác văn học như thế! Tạp chí Sông Hương ở Huế với Tổng biên tập – nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc đã làm con thuyền trung chuyển dòng thơ lạ lẫm, có phần kỳ quặc này, làm cho nó giao lưu hai bờ đại dương trước khi vượt ngăn cách giữa hai bờ sông Bến Hải với các lớp tác giả và khó hơn cả là với độc giả, dư luận cùng giới quản lý văn nghệ.

Phan Thắng:Văn hóa, văn học Việt Nam ở nước ngoài cần sự tiếp sức như thế nào từ trong nước?

Đỗ Quyên:Theo tôi, với quan hệ trong – ngoài một quốc gia, khác với kinh tế, khoa học… văn học, hơn nữa là văn hóa, không cần hỗ trợ. Bởi đó là các hoạt động tinh thần tự giác và tự do của từng cá nhân hướng về cộng đồng. Cái cần thì lại ở ngoài tầm với của văn học, văn hóa. Không gì khác, ấy là chính trị. Một khi sự lưu thông, giao lưu, hợp lưu trong – ngoài dễ như trở bàn tay, tất cả sẽ đến. Mà điều đó, theo tôi là đã bắt đầu có rồi đó. Những đại sự bao giờ cũng cần tự giác và tự do.

Phan Thắng:Anh có đề xuất, kiến nghị gì không với tư cách là một người hoạt động văn hóa, văn học ở nước ngoài về vấn đề này?

Đỗ Quyên:Như từng trả lời phỏng vấn của nhà văn – nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập mươi năm trước, là một người viết, tôi chỉ nên thưa thốt với bạn đọc. Với bạn đọc trong nước bình thường, tôi mong hãy là những độc giả chân chính. Với bạn đọc trong nước cũng là người viết, tôi đâu thể nói gì. Với bạn đọc trong nước là người quản lý, lãnh đạo văn nghệ, văn hóa, tôi thực sự mong muốn những đối thoại này, cùng những sáng tác ở ngoài nước có thể tới đông đảo người đọc trong nước. Nếu những bức tường, tấm vách đã có tai – như trong thành ngữ dân gian – thì các lời thơ, câu văn cũng phải có lưỡi, có tâm tư của chúng. Chắc chắn, phải có…

Phan Thắng:Quan sát và nhận xét, nhận định của anh về Toàn cầu hóa về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa, một cái nhìn của một người Việt Nam từ ngoài nước?

Đỗ Quyên:Dùng lại ý tưởng của Joseph Brodsky – một người Nga lưu vong ở Mỹ, thi sỹ đoạt giải Nobel – về sự thay đổi vai trò ngôn ngữ nơi xứ người, tôi thấy trong công cuộc toàn cầu hóa, bản sắc văn hóa dân tộc ở các quốc gia đang phát triển “trước kia là thanh kiếm, nay trở thành cái mộc”.

Dẫu ở thế bị động, khi mà chỉ nhóm G-7 mới có thể chủ động, với Việt Nam và người Việt khắp nơi, Toàn cầu hóa vẫn là một định mệnh khả ái. Không nên, vì không thể, cưỡng lại!

Cho tôi được dẫn lại đoạn kết từ bài “Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay” của một trong các nhà Việt Nam học uy tín và quen thuộc là A.A. Sokolov, PGS-TS sử học tại Viện Hàn lâm khoa học Nga:

Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế và văn hoá vốn càng ngày càng có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phải góp phần thúc đẩy việc bắc những nhịp cầu vững chắc giữa văn học ở trong nước và văn học ở ngoài nước, mà điều đó đến lượt nó, sẽ xúc tiến quá trình phục hồi sự công bằng lịch sử – đưa trả các nhà văn Việt Nam và những tác phẩm của họ ở hải ngoại về lại Tổ quốc lịch sử của mình.”

Phan Thắng: Cảm ơn anh đã làm khách của VHNA và đã dành cho chúng tôi một cuộc trao đổi thú vị.

Paper Cover: Albanian-born artist Agim Sulaj at the North Wall Art

http://beforeitsnews.com/alternative/2013/02/oxford-art-exhibition-the-north-wall-agim-sulaj-2567138.html

XÂU CHUỖI THƠ: CHIẾC BÓNG BÊN KIA

XÂU CHUỖI THƠ
CHIẾC BÓNG BÊN KIA
Khế Iêm


 
MẸ KHỔ
Mẹ già đã già ngồi
còng lưng bên gánh hàng
rong nơi góc phố bụi
mờ những bước chân qua
mẹ chờ gì và mẹ
chờ ai không mẹ không
chờ gì và mẹ không
chờ ai ngòai nỗi buồn
canh cánh từ thuở khai
sinh mẹ còn gì và
mẹ còn ai không mẹ
không còn gì mẹ không
còn ai ngòai lũ con
đứa lang bạt kỳ hồ
đầu đường xó chợ đứa
vợ bỏ đi hoang lặn
lội tìm trầm nơi rừng
sâu núi thẳm một sớm
tin về xảy chân đã
thành thiên cổ không ai
nuôi mẹ vậy mẹ nuôi
ai mẹ nuôi lũ cháu
còn thơ mồ côi mồ
cút bữa đói bữa no
trong vòng tay mẹ bà
ơi bà ơi mẹ như
chiếc lá đổi màu năm
cùng tháng tận ngồi đây
kẻ qua người lại không
ai thấy mẹ mẹ không
thấy ai rồi một hôm
mẹ nghe lũ chim non
quang quác đầu nhà kêu
trong hoang sơ mẹ
không kịp về cơn đau
ập đến mang xác mẹ
đi đi đâu về đâu
bà ơi bà ơi ngày
đi vào đêm mẹ không
kịp về mẹ ngồi bên
đường mẹ ngồi chết khô
bên gánh hàng rong người
đi kẻ ở phố vẫn
như xưa chỉ không còn
cuộc đời mẹ khổ bà
ơi bà ơi bà ơi
bà ơi đi đâu về đi.


 
LỜI KỂ NGẮN
“Anh ơi đi đâu vào
đây” người đàn ông bước
vào bóng tối như bóng
tối bước vào đời một
người đàn bà bóng tối
nhập vào bóng tối người
đàn ông nhập vào người
đàn bà, “em chỉ là
một gái giang hồ” bỏ
chồng bỏ con chẳng phải
chồng em là kẻ vũ
phu mà tại em lẳng
lơ rồi sa chân lỡ
bước em lỡ bước sa
chân nhưng thôi sao lại
nói những chuyện cà kê
chồng em em biết anh
ta vô công rồi nghể
cờ gian bạc lận đến
lúc đường cùng nợ nần
chồng chất trốn đi tìm
trầm biệt tăm tích nghe
đâu đã bỏ xác nơi
rừng sâu ôi “ăn của
rừng rưng rưng nước mắt”
cuộc đời chồng em vốn
là phận bạc chẳng phải
tại ai tại khổ quá
đi thôi “anh ơi đi
đâu thì đi” người đàn
ông bước ra bóng tối
như bóng tối bước qua
đời người đàn bà – em
trở về chốn cũ mẹ
chồng em ôi bà mẹ
khổ ngồi chết bên đường
còn ai còn ai những
đứa con thơ mồ côi
thất tán xẻ đàn tan
nghé con ơi con ơi
“đi đâu về đâu”.


 
CUỘC HOÀ ĐIỆU CỦA CHIẾC BÓNG
Tôi là chiếc bóng người đàn
ông tôi có thể đọc tâm
tư mọi người nhưng không ai
đọc được tâm tư tôi tôi
không có tâm tư tôi là
chiếc bóng chiếc bóng không thể
nói với chiếc bóng tôi nói
với con người tôi ở phía
bên kia người đàn ông nhập
vai người chồng bạc mệnh năm
cái đầu chụm vào nhau thành
vòng tròn bên dưới lấp ló
những lá bài sắc màu ôi
anh ta chẳng phải dân tứ
chiến giang hồ gì lỡ vướng
vào trò đỏ đen may rủi
mà cuộc đời vốn là mớ
bòng bong đừng nói nữa đừng
phân bua hai đứa bé ăn
xin từ từ tóp lại giữa
hai cơn đói trên cái phông
gầm cầu bãi rác thu trong
chiếc bóng người đàn bà vẽ
vẽ đi vẽ lại hết chi
tiết này chồng chất lên chi
tiết khác hai số phận hoen
ố trên khung bố thời gian
em gá nghĩa với chồng em
chẳng qua may rủi rủi nhiều
hơn may đừng nói nữa đừng
khóc than người đàn ông lắng
nghe đâu đó câu chuyện như
đời mình đọc lại đời mình
những đứa con và bà mẹ
khổ thấp thoáng trong không gian
người chồng cờ gian bạc lận
tôi là chiếc bóng tôi là
người kể chuyện bằng ngôn ngữ
bóng tối người đàn ông là
bản sao người chồng và người
đàn bà là kẻ buôn chuyện
bản sao nhân vật –  vợ bỏ
đi hoang chẳng hề trở về
chốn cũ câu chuyện còn lại
toàn những bản sao tôi là
chiếc bóng bản sao của những
bản sao tôi là kẻ chết
một hồn ma.


Lời dẫn: Mẹ bỏ nhà đi hoang, cha chết, ở với bà, bà chết, hai đứa cháu mồ côi có thể được đưa vào viện mồ côi, hoặc như một phóng sự xã hội, đứa bé trai 6 tuổi ăn xin nuôi đứa em gái 4 tuổi. Câu chuyện tưởng như đã chấm dứt, nhưng không, nó lại mở ra một chiều kích khác của hiện thực … Người đàn ông nhập vai người chồng, người đàn bà nhập vai người vợ, còn chiếc bóng gồm ba nhân vật, là người kể chuyện, người đàn ông, và là người ở phía bên kia, người chồng.


Paper cover: Lenora: Scanno, in the region of Abruzzo, Italy
http://indulgy.com/post/H8kFZRDLh1/katie-holten-trees-of-the-usa-vi-eastern-regio
 

Diary of A Rainy Day

Thơ Dã Thảo

Diary of A Rainy Day

when the sun goes behind
clouds and rain starts pouring
down my mind returns to
the old rainy days when

I was lonely, walking
wet in rain, you once told
me you loved so much walking
in rain, laughed at me carrying

a huge black umbrella
while the tiny bubbles
did not even wet your
hands, oh the rain oh the

rain, over my childhood
roads, oh the rain oh the
rain, over the less traveled
roads, raining on the very

familiar walkway
this chilly afternoon
to the almost empty
cafeteria when I

am not carrying the
big black umbrella and
not seeing your smile
anywhere

Original in English by the author

Faraway Love

I still go by here every day,
buildings tall and old as always,
the balcony a light color
and low where you used to place
your hands talking to the absent-
minded friends while watching me walk
by every morning. But now
you are no longer standing there
in the sun to greet me with smiles
sometimes bright; if I look back at
you by the low balcony,
sometimes I see only a wink
behind my footsteps that passes
by and disappears into your
dark glasses, that would not return
until lunch when we are in the
cafeteria in the fleeting
moments of noon hurried with everyday
things, we speak of the crackbrained and
bragging boss, lay-offs past, now and
coming soon; stories about being
in jail, about world terror, mostly
about broken things (although we
do not miss them we still think of
them), stories about you and a
young girl who speaks the same language
but is not of the same skin
color, about me and a young
boy who is not the same skin
color and speaks the same language
but never stories about us
alone. I go by everyday
buildings, tall as always; the talker
by the balcony is no longer,
the greeting in the sun no longer,
the morning smiles no longer,
eyes quietly warming; you have
left me before I could tell you
about my refugee roots, my first
generation immigration
and the minority community
Chinese, Vietnamese, Spanish,
Cambodians, Indonesians,
Cubans, and Malaysians; and all
you know is that I am a citizen
of a mixed race nation I love
to work I am lazy at playing
I like brad pitt I am not
addicted to soccer I am
not obsessed with football I
like jazz I love hiphop I
am a different skin color, speak
a different language, am with
the same company. Now that
you are gone, I miss you much!!!
(but I do not say as much because it
does not count for anything anyway.)

Translated by Đỗ Vinh

Paper Cover: Amazing Rainy Day Paintings by Gregory Thielker

Nhật Ký Ngày Mưa

Khi mặt trời khuất sau mây
và mưa bỗng đổ lênh láng
tôi nhớ về những ngày cũ
xưa lẻ loi bước trong mưa

anh xưa có lần bảo yêu
thiết tha lang thang trong mưa
cười diễu nhìn tôi ôm
chiếc dù đen to tổ chảng

những hạt mưa bong bóng nhỏ
xíu nào đủ ướt đôi tay
ô mưa rơi ô mưa rơi
trên những con đường tuổi thơ

ô mưa ơi ô mưa rơi
trên lối vắng người lại qua
mưa rơi trên lối mòn rất
quen buổi chiều sắt se đến

cafeteria trống vắng
không chiếc dù đen tổ chảng
và nụ cười anh vắng bóng.


 

Tình Xa

em vẫn qua đấy mỗi ngày
building cao cao và cũ
ban công thấp thấp màu nhạt
nơi anh thường tì đôi tay
chuyện trò cùng đám bạn lơ
đãng và sẽ nhìn thấy em
qua đấy mỗi sáng giờ không
còn anh đứng trong nắng gửi
một lời chào có khi một
nụ cười tươi nếu em tình
cờ liếc nhìn ban công thấp
đôi khi chỉ là ánh mắt
thầm dõi bước em qua và
em sẽ biến mất trong màu
kính sẫm tối anh sẽ chẳng
nhìn thấy cho đến lúc chúng
mình ăn trưa cafeteria
chen chúc những phút ban trưa
vội vàng lắm chuyện đời thường
để nói chuyện xếp dở hơi
phách lối, laid-off, đã,
đang và sắp tới, chuyện trại
tù, chuyện khủng bố thế giới
nhiều nhất là những tan vỡ
dù không hối tiếc vẫn nhớ
tình anh với ả con gái
cùng ngôn ngữ khác màu da
tình em với gã con trai
cùng màu da khác ngôn ngữ
nhưng chưa lần nhắc chuyện chúng
mình em mỗi ngày đi qua
building cao cao vẫn có
người tì tay chuyện trò
bên ban công thấp không còn
lời chào trong nắng không còn
nụ cười buổi sáng không còn
ánh mắt lặng lẽ ấm áp
anh đã đi xa em chưa
kịp kể nguồn gốc em dân
tị nạn thế hệ thứ nhất
không thuộc cộng đồng thiểu số
mít, tàu, xì, campuchia,
inđônêzia, cuba,
malayzia… anh biết
mỗi điều em là công dân
hợp chủng quốc em mê làm
việc em lười rong chơi em
khoái Brad Pitt chẳng ghiền bóng
đá không nghiện bóng cà na
em mê jazz khoái hiphop
em khác màu da khác ngôn
ngữ cùng công ty giờ đây
anh đã ra đi… nhớ nhiều!!!
(nhưng chẳng nói nói ra nhiều
cũng vậy thôi.)

COLUMBIA RUNS A TEMPERATURE / COLUMBIA LÊN CƠN SỐT

Frederick Turner

COLUMBIA RUNS A TEMPERATURE 

Those monster-states that held the world in fear,
Sloughing the dead nations they had sucked dry,
Have found a place to lay their eggs in: here.
And now I am so weak that I could cry.

I am defeated.  All my strength was spent
Wrestling in darkness with their nine-faced lie;
And when their wall and blood-drenched battlement
Had fallen, then I thought my work was done,
And I once more could seek enlightenment;
And take the old path of the evening sun
Along the forest-edge, the meadow-mazes,
To where I knew the river had to run.
But now I see the sickness in their faces,
The cold envy of any sexual gift,
The shamed self-righteous screaming of the races;
My body’s torn with each new-fangled rift,
Chiefly within the head, that is its school,
Where the disease is feverish and swift.

This land’s the body, and I am the soul.
I am sent here to fill the hills with nerves,
To take the pulse of every molecule.
My people are those quick electric nerves:
They are my ganglia and sensorium.
It is the flesh that cries, the god that serves.
Yeats feared that innocence was drowned, and some
Thought him an old fussbudget to complain:
The rough beast, as he said it would, did come.
The best lack all conviction, now as then.
My poets cower and will not tell the truth.
Within my guts the beast has grown again.

I will remember the fresh strength of my youth,
When I struck through the snows of Germany,
And dared the monster’s claw, the monster’s tooth,
And laid the chambers bare for all to see,
And in the cold air of the soldier’s myth,
Made history a work of poetry.


(Bản dịch dành tặng các bạn thanh niên Việt Nam trước hiểm họa xâm lăng. Ngày 20 tháng 6 – 2011, KI)

Columbia Lên Cơn Sốt

Những nhà nước phát xít đã kiềm hãm thế giới
Trong sợ hãi, vứt bỏ những đất nước tê liệt
Sau khi đã bòn rút cạn kiệt, chúng tìm được
Một nơi để gieo mầm: ở đây: Và bây giờ
Tôi quá yếu khiến khóc được. Tôi bị đánh bại.

Mọi sức lực của tôi đã hao tổn do phải
Vật lộn trong bóng tối với khả năng dối trá
Lớn lao của chúng; và khi bức tường thành và
Những chiến trường đẫm máu sụp đổ, thì lúc đó
Tôi nghĩ rằng việc của tôi đã xong, và thêm
Một lần nữa tôi có thể tìm thấy ánh sáng
Khai minh; và tôi đi trên con đường xưa dưới
Nắng chiều dọc theo bìa rừng, dọc theo những mảng
Cỏ, tới một nơi tôi biết dòng sông phải chảy.
Nhưng giờ đây tôi nhìn ra sự đau yếu trên
Khuôn mặt của chúng, bản năng sinh tồn giữa áp
Chế và lẽ tự nhiên, sự kêu gào tự thị
Đáng xấu hổ của những chủng lọai;

Thân xác tôi bị xé ra với từng phân hóa
Mới phát sinh, chủ yếu bên trong đầu, đó là
Môi trường, nơi bệnh tật lây lan và cấp tính.
Miền đất này là thân xác và tôi là linh
Hồn. Tôi được gửi tới đây để làm đầy thân
Thể với cảm xúc, để bắt nhịp đập của mỗi
Phân tử. Dân tộc tôi là những sợi thần kinh
Nhạy bén đó: Họ là trung khu thần kinh và
Là cảm quan của tôi. Chính là xác thịt đang
Kêu đòi, là thần linh phụng sự. Nhà thơ Yeats
Sợ rằng sự vô tội đã tiêu trầm và vài
Người nghĩ ông là một ông già hay càm ràm
Khi kêu than: Thú dữ hung tàn, như ông nói,
Đã tới. Những người tốt nhất mất đi mọi niềm
Xác tín, bao giờ cũng vậy. Những nhà thơ của
Tôi co rúm lại và sẽ không nói sự thật.

Bên trong tôi con thú dữ lại một lần lớn
Dậy. Tôi sẽ nhớ lại sức mạnh tươi rói của
Thời trai trẻ, khi tôi chiến đấu khó khăn trong
Tuyết ở Đức, và dám đương đầu móng vuốt và
Răng nanh của lòai quái vật, và lột trần sự
Thật về những nhà nước tồi tệ cho mọi người
Thấy, và trong không khí lạnh của huyền thọai ngừơi
Chiến binh, biến lịch sử thành một tác phẩm thơ.

Translated into Vietnamese by Khế Iêm | Tạp chí Sông Hương | 26/08/2011

Chú thích

“Columbia” là District of Columbia, một thành phố ở Mỹ, tiểu bang Washington, thường được viết là Washington DC, để ám chỉ, thành phố không ở trong tiểu bang mà ở trong nước Mỹ, và có thể ở trong một cái gì đó, một khu vực mà chúng ta đặt tên là Columbia, liên hệ tới Chistopher Columbus, người khám phá ra châu Mỹ.

“Columbia” cũng là một cái tên ái quốc xưa kia để chỉ nước Mỹ, tương tự như chúng ta nói “America” hay “Uncle Sam” (Chú Sam) ngày nay.

“monster-states” (những nhà nước phát xít) trích dẫn từ nhà thơ Hungary, Attila Jószef, trong bài thơ “A Welcome to Thomas Mann.”, nói về chế độ của  Hitler, Đức.

 “ở đây:” là ở Mỹ.

Tôi (I): là lòai người.

The cold envy of any sexual gift,
Bản năng sinh tồn giữa áp chế và lẽ tự nhiên,

Nếu dịch theo nghĩa đen thì nghĩa như sau: “Lòng ghen ghét ghẻ lạnh đối với bất kỳ quan hệ tính dục dễ dãi nào.”

Nhưng qua email trao đổi với tác giả thì nghĩa rất rộng: Chữ “gift” có thể là quà tặng, có thể là tài năng thiên phú (của một nghệ sĩ), có thể là một “cảm hứng thơ”. Ở đây, tác giả muốn đề cập tới những hệ tư tưởng về tính dục, tính dục đồng tính, tính dục không sinh con đẻ cái tấn công tính dục bình thường và tự nhiên về quan hệ nam nữ cùng với những hệ tư tưởng chính trị đã tạo nên những vấn đề cho nước Mỹ. Tác giả cho rằng người dịch có thể dịch nghĩa câu này theo rất nhiều cách khác nhau.

Bài thơ trích trong tập thơ “Hadean Eclogues”, bản thảo do tác giả gửi tặng.

Frederick Turner là một học giả, một nhà thơ tiền phong Mỹ, một trong những người sáng lập hai phong trào thơ tân hình thức và thơ mở rộng, tác giả tiểu luận “Chủ Nghĩa Kinh Điển Mới Và văn Hóa”, do Tạp Chí Thơ tuyển chọn và giới thiệu (Nguyễn Tiến Văn dịch) lần đầu tiên trên số 24, mùa Xuân 2003, và là một bài tiểu luận được nhiều bạn đọc Việt Nam ưa thích.

Prehistoric Cave Paintings
http://www.touropia.com/prehistoric-cave-paintings/