Trang chủ Blog Trang 32

Kiều Maily: Thơ Thời sự

0

MƯỜI BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC THỜI SỰ
_____________________________________

Kiều Maily

I

LỜI KỂ CỦA CON CÁ

Tôi đã cố bơi xa thật xa nhưng
không thể nữa rồi bạn bè tôi anh
chị em tôi dù tôi đã cố bơi
xa thật xa nhưng tôi đã bơi trở
lại vào bờ. Bà con lối xóm tôi
đồng loại tôi chưa biết không ai báo
cho chúng biết dù tôi đã bơi thật
xa nhưng tôi đã bơi vào bờ trở
lại để báo cho chúng rằng chúng đang
gặp nguy rằng nhưng không thể kịp nữa
rồi không thể. Tôi nhìn thấy họ như
đang bơi vào bờ. Không phải bơi mà
là tắp vào giạt vào bờ cát thật
gần thật gần chúng phơi bụng trắng hếu
trên bãi cát. Khi lũ người chạy đến
xem tôi đã cố bơi xa thật xa
bờ cát trắng thân thương kinh hoàng ấy.
 
 
TIẾNG KÊU
Tôi nghe tiếng kêu trước mặt sau
lưng khắp xung quanh tiếng kêu tôi
chưa từng nghe một lần trong đời.
Tôi cố bơi thật xa khỏi tiếng
kêu hãi hùng rờn rợn tôi chưa
từng nghe mẹ tôi chưa từng nghe
bà ngoại tôi cũng chưa từng nghe
tiếng kêu. Tôi cố bơi thoát khỏi
tiếng kêu đuổi tôi sau lưng rờn
rợn tiếng kêu có thể chỉ xảy
ra trong truyện cổ tích ông cố
ngoại kể tôi nghe. Khi bão thốc
sóng lừng mây đen ập xuống đám
ngư dân gào thét tiếng kêu vọng
vào đêm tôi cố bơi thật xa thoát
khỏi tiếng kêu của đồng loại tôi.
Đồng loại tôi đang tuyệt vọng kêu
cứu.
 
SỐNG SÓT

Biển lặng. Sóng đã yên.
Tôi bơi trở lại gần
bờ gần bờ hơn. Đồng
loại tôi thấy thưa thớt
hơn. Như thể đi vắng.
Đám rong rêu quặt quẹo.
Loài tảo nằm mệt phờ.
Tôi bơi trở lại bờ.
Loài người và máy ảnh.
Không phải ngư dân. Không
phải đám con cháu họ.
Một loài người rất lạ
đến rồi đi. Rồi lại
đến lại đi. Tôi nhìn
và tôi quay đi. Bơi
ra xa bờ. Xa mùi
tử thi đồng loại tôi
chết phơi mình trắng bờ.
Biển đã lặng. Sóng đã
yên. Nhiều ngôi nhà đồng
loại tôi bỏ hoang. Tôi
hiểu từ nay lũ cá
đã phải sống sót như
chúng tôi khó sống hơn,
có lẽ.
 
Ở NƠI ẤY, TÔI THẤY (1)

Ở nơi ấy tôi thấy họ cào chúng
tôi chất đống rồi họ xúc chúng tôi
chở đi. Tôi đã thấy họ đổ chúng
tôi ra bãi sau chợ. Mấy bà bán
cá đi qua đi qua tôi thấy họ
nhìn chúng tôi ngờ ngợ rồi bỏ đi.
Mấy bà khác lại đến xúc chúng tôi
đến bày ở quày cá quen thuộc. Tôi
đã thấy những người mua cá nhìn chúng
tôi với ánh mắt đầy hồ nghi tôi
chưa từng nhìn thấy. Rồi những người mua
cá khác lại đến họ ngờ ngợ mua
một dúm như thể chúng tôi vừa phạm
tội gì đó không biết không thể biết.
Nhưng rồi dúm cá cũng được nấu chin,
tôi thấy họ bày chúng tôi lên bàn
ngờ ngọ họ gắp chúng tôi ngờ ngợ.
Tôi muốn khóc muốn kêu to lên rằng
chúng tôi không có lỗi không có lỗi
có lỗi.
 
Ở NƠI ẤY, TÔI THẤY (2)

Ở nơi ấy tôi thấy họ ngậm chúng tôi
họ đi dọc đường phố và họ vẽ
chúng tôi trên các bảng hiệu tôi đã
thấy tôi đã nghe họ kêu vang tên
chúng tôi khắp các nẻo phố chuyện tôi
tin chắc ông cố ngoại sẽ không bao
giờ tin nổi điều tôi đã tận mắt
nhìn thấy hôm nay trên đường phố Huế
Hà Nội Sài Gòn bà nội có thể
tin tôi kể điều tôi đã nghe đã
thấy tận mắt họ treo hình chúng tôi
như thể chúng tôi là nhân vật của
năm của dân tộc của đất nước Việt
Nam này tôi chợt hiểu chúng tôi trở
thành quan trọng như thế nào trong đời
họ dân tộc họ đất nước họ hôm
nay và mai sau tôi thấy họ viết
to hàng chữ CÁ CẦN BIỂN SẠCH tôi
đã thấy và chợt hiểu chúng tôi cần
gì và họ cần gì.
 
II.
NHỮNG BẦY CỪU

Những bầy cừu đi vào bãi nắng
Phan Rang những bầy cừu khờ khạo
cố đi về phía bên kia bãi nắng
với hi vọng bên ấy có cỏ.
Chúng nghĩ rằng bên ấy có nước
những bầy cừu khờ khạo tội nghiệp
đi vào bãi nắng Phan Rang chín tháng
mười lăm ngày không có hạt mưa
không có lùm mây bay ngang bầu
trời. Những bầy cừu khờ khạo đi
theo con đầu đàn vào bãi nắng
Phan Rang khô khát. Chúng đi về
phía bên kia bãi nắng tìm cỏ
tìm nước. Những bầy cừu đói cỏ
khát nước chúng chạy đi để rồi
chạy lại. Những bầy cừu khờ khạo
tội nghiệp băng qua cánh đồng không
mảnh rừng trắng băng qua con sông
cạn nước. Những bầy cừu khờ khạo
tội nghiệp.

CHỜ MƯA


Ngoại bảo lũ ếch giữa trưa nắng mà
kêu là trời sắp mưa nhưng mấy rày
chúng không còn để kêu nên không biết
đâu mà chờ. Chỉ thấy bầy trâu nằm
lơ đễnh dưới bóng me khô chờ đám
trẻ chúng tôi đi theo bà con Cham
xuống bãi biển làm lễ Cầu mưa chờ
những cơn mưa đầu mùa. Như mỗi năm
người Cham làm lễ và chờ. Trên rẫy
bắp anh nông dân bước ra khỏi chòi
tranh nhìn trời và chờ. Thằng em thợ
may thành phố vừa phone về hỏi mẹ
Sài Gòn đang mưa quê mình có mưa
Không, mẹ bảo cha mi dưới ruộng sâu
đang chờ cơn mưa đầu mùa vẫn chưa
tới. Đã qua tháng tư tháng năm sắp
vào tháng sáu, dân quê mình vẫn mỏi
cổ chờ những cơn mưa chắc sẽ không
bao giờ tới.
 
PALEI

Thuở đất trời đổi mới
dân làng bỏ đi vào
thành phố làm ăn làm
việc làng làm thưa. Để
mấy tháng sau xum xuê
về rủ rê nhau bỏ
đi nhiều hơn làng thưa
hơn. Rồi Ramưwan
người về màu áo tiếng
cười làng như thể xôm
hơn. Và rồi năm tới
năm sau nữa người bỏ
làng đi có nhiều người
không về làng vắng càng
vắng hơn. Tết không về
Katê không về đến mùa
Ramưwan cũng không
thấy về. Cha nói năm
có mỗi Ramưwan
mà không về palei
một lần thì thôi chớ.
Năm nay lấy cớ hạn
hán mất mùa không có
nước tưới nước tắm nước
đánh răng cũng phải mua.
Phan Rang nóng hơn Sài
Gòn khô hơn miền Tây
chú Thăn không về chị
Thoa không về. Nhà bỏ
hoang Ghur thành Ghur hoang
làng làm hoang. Người bỏ
đi đâu mất rồi.
 
THẰNG XANH

Thằng Xanh năm đổi mới là chàng
trai Cham đầu tiên bỏ làng đi
biệt tăm. Để bảy năm sau thằng
Xanh trở về mua đất rẫy, sắm
lũ bò dê cừu đến người Cwah
Patih làng bên mấy bận lác
mắt nhìn thằng Xanh dân Pabblap
thức thời biết chớp cơ hội làm
ăn. Trong khi thanh niên Cham rục
rịch học hội nhập thì lũ bò
dê cừu thằng Xanh đã đẻ chật
chuồng. Cha thằng Xanh tìm mua thêm
đất trồng cỏ, hỏi mua đất thổ
cư xây nhà nuôi đám lâu la
chăn bò dê cừu giúp việc thằng
Xanh. Năm nay tôi về, làng kể
đất rẫy nhiễm mặn nặng cỏ chết,
thằng Xanh bán lũ bò. Nắng hạn
thiếu nước, bầy dê cừu cũng đã
bán tháo. Đám lâu la thằng Xanh
bỏ vào thành phố kiếm việc. Làng
kể thằng Xanh hôm kia vừa kêu
bán nhà. Biết đâu thằng Xanh bỏ
làng đi, lần nữa.
 
ANH
Ramưwan năm nay đang gió
Xalatan thổi tan mấy vũng
nước nhỏ cuối cùng gượng đọng lại
dưới đám ruộng trũng sau nhà. Anh
về không. Ramưwan năm xưa
mưa đổ xuống đồi quê anh về
trượt chân ngã em đỡ anh dậy
hai mình cười như bị thọc léc.
Ramưwan năm nay anh về
không nắng Phan Rang đốt cháy chùm
me non cuối ngõ chúng mình hái
năm xưa Ramưwan mưa trút
nước lên ba lô anh về con
Mực nhảy chồm vào anh ba nạt
Ramưwan năm nay nó vừa
bỏ đi đâu không biết nhà không
còn nghe tiếng nó sủa em nghe
nhớ Ramưwan năm xưa mấy
chú dê non nhà bên ăn no rửng
mỡ chơi húc nhau em nhớ. Anh
về không…
 
Cover Page: Fish Still Life with Stormy Seas, Willem Ormea and Abraham Willaerts, Dutch Golden Age, 1636
 

NHỮNG CHỦ THUYẾT VĂN HÓA

17-1990s-antonio-ko-right-aisle-god-expels-adam-and-eve-from-eden
17-1990s-antonio-ko-right-aisle-god-expels-adam-and-eve-from-eden
Khế Iêm

Đời sống xã hội và thay đổi tiện nghi do những tiến bộ công nghệ đem lại, đã phân chia hai thời kỳ rõ rệt, trước và sau thập niên 1990. Email trở nên phổ biến ở những năm đầu thập niên 1990, và website, những phương tiện truyền thông, xuất hiện sau những năm 2000, với hàng lọat sản phẩm mới: Iphone, Ipad, Youtube, Facebook … tạo nên hố ngăn cách giữa các thế hệ, trưởng thành trước và sau thập niên 1980. Cuối thập niên 1980, là thời điểm báo hiệu, chấm dứt chủ nghĩa hậu hiện đại, một trò chơi ngôn ngữ và lý luận giữa những khái niệm, có mặt và vắng mặt, giữa văn bản và tác giả, giữa con người và thực tại. Những khái niệm đó không liên quan gì tới đời sống, và chỉ thuần xảy ra trong tâm trí, nên khi tất cả, từ chính trị, kinh tế, văn hóa chuyển qua tình trạng toàn cầu hóa, chủ nghĩa hậu hiện đại, dĩ nhiên, phải suy tàn.

Chủ nghĩa hậu hiện đại kéo dài vừa đúng 4 thập niên, từ đầu thập niên 1950 đến cuối thập niên 1980. Có sự giống nhau kỳ lạ giữa chủ nghĩa lãng mạn, cũng kéo dài 4 thập niên, và chủ nghĩa hậu hiện đại. Chủ nghĩa Lãng mạn xuất hiện ở nửa đầu thế kỷ 19, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện nửa sau thế kỷ 20. Chủ nghĩa Lãng mạn cũng ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa hậu hiện đại, hòa trộn giữa triết học và văn học. Chủ nghĩa lãng mạn ở cuối thời kỳ Ánh sáng, còn chủ nghĩa hậu hiện đại ở cuối thời kỳ hiện đại, đều chống lại Ánh sáng. Cuối thế kỷ 19, cảm giác vỡ mộng và xa lạ trong những xã hội Âu châu lan rộng, và người ta cho rằng sự lạc quan về sự tốt lành của lý trí và khoa học chỉ đem lại một xã hội tuân thủ, áp chế và bất công. Khoa học và lý trí không thật sự am hiểu thế giới và con người, và những nhà Lãng mạn thay vì tìm kiếm sự chinh phục thiên nhiên thì tìm kiếm sự đối thoại với thiên nhiên và coi con người như những cá nhân thuần nhất chứ không phải là chủ thể của những luật tắc khoa học. Sau chủ nghĩa lãng mạn là chủ nghĩa hiện thực, và sau chủ nghĩa hậu hiện đại, những bộ môn văn học nghệ thuật quay về với chủ nghĩa tân hiện thực.

Nhưng tại sao quan tâm tới chủ nghĩa hậu hiện đại, trong khi thơ, gần như đối nghịch hẳn với triết học. Triết học vướng vào thơ (Nietzsche), triết học rơi vào hư vô, thơ vướng vào triết học, thơ chết (trừơng hợp thơ Ngôn ngữ Mỹ). Triết học theo đuổi sự thông thái (wisdom), thơ theo đuổi cái đẹp (beauty), triết học thuộc phạm trù lý trí trong khi thơ cần cảm xúc. Triết học và thơ từ khởi đầu đã không ưa nhau, Plato đòi trục xuất nhà thơ ra khỏi nền cộng hòa. Goethe từ chối đọc Hegel, Blake không ưa Bacon, Lock và Newton … Tuy nhiên, trong thời đại mà mọi thứ không thể tách rời và liên hệ với nhau, những chủ thuyết triết học cận đại có thể giúp chúng ta nhận diện đời sống thực tại một cách sâu sắc và rõ nét hơn. Chủ nghĩa hậu hiện đại đặt lại vấn đề về kiến thức, bản ngã, thực tại từ thời Ánh sáng, đề cao chính bản thân ngôn ngữ. Vì thế chúng ta phải quay lại từ đầu thời kỳ hiện đại để tìm hiểu xem, con người là sản phẩm của hư cấu hay chỉ là trò đùa bỡn của tâm trí? Và làm sao không bị vướng vào cái mạng nhện tiêu cực của chủ thuyết văn hóa hấp dẫn nhưng đầy những ảo ảnh này?

Khởi đầu là triết gia Francis Bacon, cuối thời Phục hưng, cùng với Newton, được coi như triết gia và nhà khoa học khởi đầu của thời kỳ Ánh sáng. Descartes là cha đẻ của triết học hiện đại, và Kant là triết gia mở đầu cho thời kỳ hiện đại. Tư tưởng hiện đại bắt đầu với hai khuynh hướng chính: chủ nghĩa duy nghiệm (empiricism) đại diện là David Hume (với John Lock, George Berkeley) cho rằng kiến thức về thế giới đến với chúng ta trực tiếp (immediate). Trí óc như một phiến đá trắng và thực tại tự in vào qua những dữ kiện của năm giác quan. Còn những nhà duy lý (rationists), đại diện là  Réné Descartes (với Immanual Kant, Spinoza, Leibniz) thì cho rằng kiến thức về thế giới là gián tiếp (mediate) vì bởi những ý tưởng hoặc những cấu trúc nội tại có sẵn từ lúc sinh ra. Vì thế chúng ta có thể thu nhỏ cấu trúc phổ quát của thực tại, và sự thực (truth) không biến đổi. Từ đó, phân ra làm hai, trường phái thực nghiệm Bacon (Bacinianism) và trường phái duy lý Decartes (Cartesianism). Từ thế kỷ thứ 17, những nhà tư tưởng Anh, Mỹ thiên về duy nghiệm, đưa tới cuộc cách mạng kỹ nghệ Anh vào giữa thế kỷ 18, và những phát minh khám phá về khoa học của những nhà khoa học Mỹ, cho tới bây giờ. Còn những nhà tư tưởng Âu châu thiên về Lý trí, cho chúng ta những triết gia nổi tiếng như Kant, Nietzsche. Ngay vào những thập niên 1960-80, lý thuyết hậu cấu trúc và hậu hiện đại đều do những triết gia Pháp đề xướng, còn sự thực hành chủ nghĩa hậu hiện đại, xảy ra tại Mỹ.

Immanuel Kant tổng hợp hai khuynh hướng, ông cho rằng giác quan cung cấp nội dung kiến thức của chúng ta còn tâm trí tạo ra hình thể của nó. Tâm trí nếu không có giác quan thì trống rỗng, còn giác quan không có tâm trí thì mù lòa. Chúng ta không thể biết được thực tại, sự vật-trong-chính nó (thing-in-itself), chỉ khi sau đó, qua trung gian của giác quan và hình thành thể loại (category) trong tâm trí. Điều này có nghĩa là, sự vật chúng ta quan sát bằng giác quan chỉ là những hiện tượng bề ngoài, muốn hiểu rõ chúng ta phải dùng tâm trí để diễn đạt hoặc phân loại. Nhưng có những chủ thể không có những hiện tượng bề ngoài như khái niệm về Chúa, linh hồn … không thể hiểu bằng lý trí. Do đó, siêu hình học – biết thực tại trong chính nó – thì bất khả.

Từ thuyết bất khả tri (agnosticism) của Kant, rẽ ra hai nhánh, Kierkegaard hữu thần và Nietzche vô thần. Nhận ra cái hố sâu giữa hiện tượng bề ngoài và thực thể sự vật, Kierkegaard đề nghị “nhảy vào niềm tin” (leap of faith) tôn giáo, không qua trung gian của lý trí. Nietzsche, ở mặt khác, thay vì nhảy vào một Chúa không biết, thì lại tuyên bố Chúa đã chết. Kierkegaard trở thành tiền thân của chủ nghĩa hiện sinh (existentialism), và Nietzsche, tiền thân của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chúa đã chết đưa tới hàng loạt cái chết khác với chủ nghĩa hậu hiên đại, trong điều kiện mà “mọi thứ đều có thể và không có gì chắc chắn.” Thuật ngữ hậu hiện đại đã có từ trước những năm 1930, nhưng tới thập niên 1970 mới trở nên thông dụng, khởi đi từ kiến trúc, sau đó lan truyền qua giới học thuật và trở thành một hiện tượng văn hóa rộng lớn.

Các sử gia, gần như nhất trí rằng thời hiện đại bao gồm thời tiền hiện đại, hay gọi là thời kỳ Ánh sáng. Như vậy thời kỳ hiện đại bắt đầu sau thời kỳ Phục hưng và cuộc chiến tranh tôn giáo kéo dài 30 năm ở Âu châu (1618-1640). Cuộc chiến tranh đó xảy ra, trên danh nghĩa là cuộc chiến tôn giáo giữa Tin lành và Thiên chúa giáo, đã tàn phá nặng nề châu Âu, gây ra nạn đói và dịch bệnh, đồng thời khiến nhiều quốc gia châu Âu suy sụp. Tuy nhiên, thời Phục hưng, cắt đứt ý thức hệ Thiên chúa giáo Trung cổ, thay thế bằng tinh thần nhân bản, làm nền tảng cho những tiến bộ về khoa học và tư tưởng thời hiện đại, tuy rằng nó không dựng nên kiến trúc thượng tầng hiện đại. Nó nâng con người thành trung tâm nhưng không thiết lập bản ngã cá nhân như một trung tâm tự xác định của thế giới. Những nhà lý thuyết Phục hưng đi tiên phong trong phương pháp khoa học nhưng không tái tạo sự theo đuổi kiến thức phù hợp với tầm nhìn khoa học. Tinh thần Phục hưng cắt xén quyền năng của Giáo hội Thiên chúa giáo nhưng không tấn phong thẩm quyền của lý trí.

Trở lại với thời kỳ Ánh sáng, sự tiến bộ, chủ nghĩa lạc quan, lý trí, kiến thực tuyệt đối và cái thực ngã là những giá trị được gọi chung là những lý tưởng Ánh sáng (Enlightnment ideals). Những lý tưởng đó liên quan tới lý trí như nguyên tắc hướng dẫn sự tìm kiếm mọi kiến thức với niềm tin, sự tiến bộ trong phương pháp khoa học, không chỉ kiểm soát và chinh phục thiên nhiên mà còn mang lại trật tự, an toàn, sự hiểu biết về bản ngã và thế giới, thậm chí cả hạnh phúc của con người. Xây dựng trên cái nền Phục hưng, Ánh sáng đề cao cái ngã cá nhân như là trung tâm thế giới. Descartes đặt nền tảng triết học hiện đại qua chủ thuyết hoài nghi, và ông cho rằng cái ngã suy tư (thinking self) là sự thật đầu tiên mà phương pháp hoài nghi không thể phủ nhận. Newton hình dung thế giới vật lý trong đó những qui luật có thể phân biệt bởi tâm trí con người. Triết học Descartes gặp thế giới cơ học Newton mở đường cho sự bùng nổ kiến thức dưới ngọn cờ “Dự án Ánh sáng”.

Dự án Ánh sáng (Enlightenment Project) giả định rằng kiến thức thì nhất định, khách quan và tốt lành. Là nhất định, các nhà Ánh sáng đi tìm phương pháp chứng minh tính đúng đắn, thiết yếu của những học thuyết triết học, khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, và đặt nhiều khía cạnh thực tại dưới sự giám sát của lý trí. Là khách quan, họ khẳng định thế giới có thể quan sát và khảo sát từ vị trí thuận lợi bên ngoài thông lượng (dòng thay đổi) lịch sử. Là tốt lành, đưa tới chủ nghĩa lạc quan rằng tiến bộ là không thể tránh khỏi, có thể chế ngự thiên nhiên, và nâng cao quyền con người.  Phần tích cực trong cách nhìn này là sự đầu tư vào những quyền phổ quát, dẫn tới cuộc cách mạng Pháp và bản tuyên ngôn nhân quyền Mỹ. Nhưng phần tiêu cực là nhưng nhà tư tưởng Ánh sáng coi Âu châu như là phần tiến bộ và văn minh hơn hẳn những phần còn lại của thế giới, đưa đến quan điểm nguy hiểm, những quốc gia và giống dân khác có thể bị chiếm thành thuộc địa.

Đời sống nhân loại là chuỗi dài những đổi thay, và không có bất cứ định kiến nào có thể tồn tại. Những lý tưởng của thời Ánh sáng cũng phải lui vào bóng tối, và những nhà tư tưởng hậu hiện đại đưa ra những quan điểm nghịch lại: cạn kiệt (exhaustion) thay vì tiến bộ (progress), bi quan (pessimism) thay vì lạc quan (optimism), phi lý tính (irrationality) thay vì lý tính (rarionality), và phủ nhận kiến thức tuyệt đối (absolute knowledge).  Điều này ngụ ý, theo Nietzsche, thế giới được tạo thành từ những mảnh vỡ hoàn toàn khác nhau, và như thế, đời sống con người phản ảnh từ lý thuyết và sáng tạo nghệ thuật cũng phần mảnh và đứt đoạn? Những phát minh khoa học là những tìm tòi liên tục, những công trình trước là nền tảng cho những bước khám phá tiếp theo. Và sự thăng trầm của nền văn minh tùy thuộc vào những thành quả khoa học, bị chi phối bởi chính trị, kinh tế, và cách hành sử của con người đối với thiên nhiên. Vả chăng, trong thời đại phân tán thông tin đến cùng cực, ảnh hưởng của những triết thuyết đã mờ nhạt đến mức độ không còn ảnh hưởng gì nữa. Nhưng để cân bằng với một thực tại bị “giằng co giữa sự tinh xảo của phương tiện do công nghệ học mang lại, với sự nhạt nhẽo hoặc ngu dốt của nội dung mà phương tiện đó chuyển tải”, theo Alan Kirby, thì sự tìm hiểu từ căn bản những triết thuyết văn hóa lại là một điều cấp thiết.


Tham khảo

“A Primer on Postmodernism”, Paperback, William B. Eerdmans, 1996, by Stanley J. Grenz.
“Postmodernism”, Paperback, hodder headline, 1997, by Glenn Ward.
“The Death of Postmodernism And Beyond”, 2006, của Dr. Alan Kirby, Phạm Kiều Tùng dịch, tạp chí Sông Hương.


Cover Page: The reliefs are Botong’s masterpieces brought to stone and cement by local sculptors led by Charlie Anorico.
Carlito “Charlie” Bautista Anorico (sinh năm 1952) là một họa sĩ và nhà điêu khắc, đến từ thị trấn nghệ sĩ Angono, thuộc tỉnh Rizal. Là người con thứ 8 trong số 9 người con, ông Anorico là người anh chị em duy nhất chọn cuộc sống nghệ thuật, vì ông được truyền cảm hứng từ người anh hùng của quê hương mình, Nghệ sĩ hội họa quốc gia, Carlos “Botong” Francisco. Ông Anorico không theo học bất kỳ trường đào tạo chính quy nào về nghệ thuật, mà học hỏi từ nhiều bậc thầy sống trong thị trấn. Vẽ tranh từ khi còn nhỏ, ông đã trở thành thành viên của Ateliers vào năm 1975, một hiệp hội nghệ sĩ ở Angono. Ông cũng là thành viên của HIMAS (Hiệp hội nghệ sĩ và nhà điêu khắc Higante ở Angono). Mặc dù không được đào tạo chính quy, ông Anrico đã đi khắp cả nước và nước ngoài, triển lãm ở nhiều địa điểm khác nhau. Năm 2012, anh được vinh danh là GAWAD LIGAYA (Likas na Galing tại Yaman ng Angono) bởi LIGAYA, Inc và Trường Nghệ thuật Thí điểm Khu vực vào năm 2012. Anh cũng được Sangguniang Bayan của Angono khen thưởng là Công dân Xuất sắc trong lĩnh vực Nghệ thuật Thị giác trong cùng năm.

Thơ Hường Thanh 1

0

THƠ HƯỜNG THANH
__________________

 
LỬA
tiếng bước chân về của
cậu con trai hay là
tiếng trở về của ngọn
lửa “không – lửa làm gì
có âm thanh – không thể
động đậy được” ngoài tiếng
bước chân về nhà của
cậu con trai hay là
tiếng bập bùng trở về
“không, lửa không thể có
bàn chân để trở về”
sự trở về là bước
chân trở về nhà của
cậu con trai sau khi
qua bóng đêm để trở
về ngôi nhà của gia
đình cậu “không, cậu không
bao giờ đánh thức ngọn
lửa” nhưng ngọn lửa đã
đánh thức gia đình cậu
và tiếng la hét dội
ra sự hoảng loạn trở
về ngọn lửa cháy bập
bùng “không, mẹ ơi mẹ
ơi” để cuối cùng sự
trở về là những âm
thanh tỉnh thức người khi
lửa đã trở về tro.
31.7.2016
 
NHỮNG BÓ HOA
những bó hoa đặt xuống
mặt đường nơi những con
người bị đặt xuống cái
chết kìa những bó hoa
một màu sắc như nước
mắt trên Promenade
đặt xuống những tấm vải
những chiếc hộp nhỏ đặt
vào những ngọn nến cháy
nhìn kìa mấy đôi cánh
tay ai đang bế những
con người sau đó đặt
xuống giường bệnh viện trong
một ảo giác của con
búp bê bị đặt xuống
Promenade nhìn kìa
ngọn nến và rất nhiều
ngọn nến phản chiếu qua
vũng nước của một màu
sắc như những bó hoa
đặt xuống sự chia rẽ
những bó hoa “không thể
làm gì hơn” đặt xuống
những nỗi đau mất ngủ.
28.7.2016
 
CHIẾC GIỎ BÁNH TÉT
lớp nhăn nheo trên
da ông lão đội
chiếc mũ xanh nhăn
nheo vầng trán nhăn
nhầy ông ngồi thọp
xuống lề đường ông
nghĩ về đứa con
tật nguyền nằm đảo
lộn và đang khát
nước ông nghĩ phải
có chút tiền để
cứu chữa cho đứa
con tật nguyền bên
trong chiếc giỏ nhăn
nheo mà là hai
chiếc giỏ đấy những
cái bánh tét bánh
ú ngày trở đi
và ngày trở về
trở lại lui dưới
chiếc mũ nhăn nheo
và chiếc dép nhăn
nheo đứng đậy trở
nên nặng nề cho
ông lão ông nghĩ
đứa con mình phải
sống trước sự mưu
sinh của đời mình.
27.7.2016
 
DEBORAH
khi deborah – sinh
viên thực tập chứng kiến
trong căn phòng nhiều cửa
sổ là tâm hồn chính
deborah tâm hồn đã
chứng kiến lần thứ nhất
ở Brussels trước
khi về Paris hàng
ngày deborah vẫn
thường đi qua ga tàu
điện ngầm Maelbeek để
đến cơ quan hôm đó
đáng lẽ là ngày rất
vui đối với debo-
rah khi hay tin được
vào đại học Oxford
thế nhưng đó thực sự
là gáo nước lạnh de-
borah chứng kiến lần thứ
hai tâm hồn chính de-
borah trong căn phòng nhiều
cửa sổ đã bị đánh
mất cảm xúc sự ngây
thơ của deborah
chứng kiến những vô ích
đập nát buổi tối buổi
hòa nhạc chứng kiến nốt
nhạc bị ngưng ngừng lại
“Kể từ đêm định mệnh
đó” deborah đã
cảm thấy mình có nhiều
thay đổi sau khi nhìn
ra từ căn phòng nhiều
cửa sổ là những tâm
hồn khác đi vào nhiều
chiếc cửa sổ mờ sương.
25.7.2016
 
BỨC HỌA BIẾM
một người đàn ông đã có
tuổi chiêm ngưỡng một trong những
bức họa vẽ một người đàn
bà đang nằm vẽ một bức
họa có những cậu bé đang
ngồi vẽ bên trong bức họa
những cậu bé đang vẽ những
tiếng cười cho những đứa trẻ
ở ngoài charlie hebdo
những khuôn mặt của những cậu
bé hồn nhiên và tự do
trong một căn phòng giấy vẽ
lộn xộn và nghịch ngợm nhưng
khuôn mặt người đàn bà vẽ
ra những cậu bé vẽ tiếng
cười cho những đứa trẻ ở
ngoài charlie hebdo lại
khác hẳn với những khuôn mặt
cậu bé người họa sĩ vẽ
ra người đàn bà nằm vẽ
những cậu bé đang ngồi vẽ
tiếng cười đã gây ra tiếng
khóc cho người đàn ông đứng
nhìn đứng nhìn bức họa buồn.
 
PƠ MU ƠI !
người hát rong ấy gầy
gò nằm gay go bên
cạnh một con đường chính
dẫn đi về những rừng
người đang ru nhau nhau
ngủ pơ mu tên người
hát rong người nằm bên
bìa rừng bên cạnh con
người những con người đứng
mộng du mộng du làm
sao biết nghe tiếng thực
sự gay go ôi gầy
gò pơ mu người hát
rong nằm gay go cạnh
một con đường nơi dẫn
đi về những con người
mộng du mang đi nhiều
vành tai thực sự đã
bị cắt đứt đến im
lặng rồi pơ mu người
hát rong ấy cũng bị
rơi vào im lặng và
lãng quên và vì pơ
mu cuối cùng đã hát
23.7.2016
 
CÁCH CHỨC
cách chức cách chức
tồn tại lơ là
khi nguyên sinh Sơn
Trà nơi đã cách
chức nhiều niềm vui
nhìn con người các
em dân tộc kéo
nhau nhìn việc cách
chức những lơ là
người giữ niềm vui
các em dân tộc
việc cách chức cần
thiết khi nguyên sinh
Sơn Trà đã bị
mất đi mất đi
niềm vui niềm vui
của các em dân
tộc cũng là của
sự công tâm người
giữ gìn khi một
ha nguyên sinh Sơn
Trà đã tự cách
chức niềm vui để
đón nhận nhiều cơn
đau từ các vết
đứt lơ là “cách
chức, cách chức, cách
chức đi đi a”
20.7.2016
 
ĐÊM
những người thiếu ngủ người
không còn tập trung vào
đêm nữa mà tập trung
vào ngày hôm sau ý
nghĩ hoặc hành động hôm
kia những người buồn ngủ
không còn tập trung vào
suy nghĩ nữa mà lăn
đùng ra cho sự mệt
mỏi (bệnh tật) ru ngủ
những người thiếu ngủ không
còn khỏe mạnh nữa họ
gầy trơ xương xương trơ
trọi và hốc mắt ăn
đêm các cô gái không
còn tập trung vào giấc
ngủ mặc cho ngày hôm
sau và ngày hôm kia
trở thành bài ru ca
của loài cú kêu đêm …
 
NGƯỜI VÀO RỪNG
chân đi vào rừng ngày
mưa mới dứt chân bước
vào dấu vết xe qua
dấu vết xe đi trước
cũng là dấu vết những
nỗi đau bị lôi ra
có khi nỗi đau bị
bầm dập nơi nào gần
dấu vết xe qua tạo
thành con đường cho bàn
chân đi không phải là
muộn màng cho bàn chân
đi vào rừng một hình
chân chân thật đi theo
dấu vết xe đi trước
cũng là nơi nỗi đau
bị lôi ra từ đêm
tối có thể là bàn
chân mù đi qua một
bàn chân đã bị què.
18.7.2016
 
THỨC DẬY
buổi sớm N mở cửa
N để không khí ngoài
tràn vào N N hít
một hơi buổi sớm nay
N bắt đầu dậy đánh
răng mái tóc dài N
mỗi buổi sớm trước N
đều để xõa ra còn
buổi sớm này N buột
lại gọn gàng khi thức
dậy trước khi tiếng chim
kịp hót trước khi ánh
ánh bình minh đi vào
mái tóc N N bắt
đầu ngày hôm nay là
cách xóa (bỏ) những hình
dán (vẽ) trên tường phòng
N bức tường phòng N
những hôm qua đã để
xõa ra bừa bộn đến
mức không khí bị đuổi
ra khỏi những hình dán
(vẽ) các ký ức xấu
mà N nghĩ nó tốt.
17.7.2016
Cover Page: Paul Cézanne

TUẦN THƠ 34: VÒNG HOA TRÊN MỘ

Thơ Nguyễn Văn Vũ

 VÒNG HOA TRÊN MỘ

đôi mắt buồn như cánh
perle noir* khép lại những
mùa màng rực rỡ chen
chúc những hoa và lá
chen chúc những lời hát
mừng dưới bầu trời không
còn chút sắc màu trong
mắt buồn như cánh perle
noir mang linh hồn và
hòn máu tươi tươm lên
từ những cơn ác mộng
chưa tan nằm duỗi dài
dưới chân tấm bia mộ
trong nghĩa trang lay động
một ngày ớn lạnh những
con thỏ hoang nín lặng
nhướng mắt về phía những
vòng perle noir lấp lánh
ánh ngọc đen tuyền lấp
lánh ánh buồn hiu hắt
hiu hắt những giây phút
cuối cùng biết ai sẽ
hứng nơi đây những giọt
nước mắt khóc thầm ngọn
gió chiều đi qua để
lại tiếng thở dài trong
rỗng không rỗng không những
mùa perle noir xưa cũ…

*Perle noir : Tên một giống hoa hồng Pháp

THƠ GÌ THƠ TÔI

thơ gì thơ gì tôi thộn mặt
như con đười ươi thiếu bạn trong
vườn bách thú cái cằm chảy dài
cái mũi chảy dài và cái tai
thì như tai sim tai mua chảy
dài cũng vô ích cũng là tướng
ngắn ngày thôi thơ gì thơ gì
tôi chuyện lòng sướt mướt câu vần
yêu thương mọc rễ bên bến đình
cây cổ thụ trăng lên lúa vàng
rợn cả tóc thề tóc bối thơm
cả mối tình ngắn ngủi thơ gì
thơ gì tôi giấu kỹ chữ nghĩa
trong lá bùa bí hiểm lồng ngực
riêng cất giấu trái tim riêng đừng
hòng gõ cửa gọi tôi thơ gì
thơ gì tôi lắt leo ánh sáng
dọi vào đâu cũng không tới không
ra khỏi cổng thiền lá bồ đề
rơi sạch trụi còn lại chiếc cành
non tội nghiệp chơ vơ cuối mùa
chay thơ gì thơ gì tôi mở
cánh cửa ra và gặp ngày đang
lên em vừa tới xin cho tôi
được nói lời yêu thương lời uất
nghẹn lời ước mơ bằng giọng nói
dưới làng dưới quê về cuộc đời
có em đang yêu đang khát khao
về trái đất đang quay đang tan
chảy đang rạn nứt đang ca hát
đang khóc đang lăn lóc vào vòng
hổn mang thơ gì thơ gì tôi
có cái gì mới đây thơ gì
thơ gì tôi


NHỮNG TÍCH TẮC

đó là lúc hơi men
tràn ứ vào cơn ác
mộng dìm chết niềm vui
trong tích tắc và chỉ
trong tích tắc cơn ác
mộng va đập vào trái
tim xô em tựa vào
tôi mà bước cho đến
khi không thể bước thêm
được bước nào nữa mà
bước vào cú va đập
hiện hình trong tấm phim
câm nín phơi ra cái
đầu xương nứt đôi như
hai nửa xa nhau lâu
ngày gặp lại nhau như
tôi áp vào em dắt
em đi cõng em đi
đến ngày sau tuần sau
hay lâu hơn nữa để
hai nửa xa nhau lâu
ngày gặp lại nhau áp
vào nhau và nhận ra
rằng bên cạnh nỗi đau
muốn chết bao giờ cũng
có một tích tắc hồn nhiên
làm nên điều kỳ diệu
một tích tắc hồn nhiên
làm cho ai muốn chết
cũng không muốn chết nữa …

Tháng 4.2016

BIỂN CHẾT

những con cá mình trần thân trụi
nằm ngửa bụng lên trời bên những
đứa bé nằm úp mặt xuống cát
kêu la kêu la mẹ ơi cha
ơi mà mẹ cha cũng ngồi vác
mặt nhìn biển kêu la hỏi còn
ai trả lời cho những đứa trẻ
nằm úp mặt kêu la có chăng
tiếng gầm của sóng biển đập vào
cơn đau thắt ruột đám người tuôn
ra như những đàn kiến ngập ngụa
kín lối đi giữa làng quê kéo
những đứa trẻ ra khỏi mùa cá
chạy ngược vào phố xá cũng đang
kêu la về những đoàn thuyền chết
trên cạn những xác cá thối rữa
dưới đáy sâu những lưỡi sóng nặng
mùi kim loại liếm mòn hơi thở
thoi thóp của bầy còng gió trốn
vào hang tìm bóng tối để che
dấu nỗi sợ hãi về cuộc sống
mong manh về những chuyến xe cát
sặc mùi hóa chất những bóng ma
thả tai ương vào trang sử đen
ngòm xóa sổ những sớm mai thuyền
về đầy cá bóng mẹ bóng cha
hòa vào bọt sóng lao xao tiếng
cười trẻ thơ bay về phía biển …

Tháng 5.2016

NHỮNG ÔNG GIÀ TUYẾT TỘI NGHIỆP

Nô en đến cùng nắng
như bắt đầu hè hay
như tối nay bắt đầu
một đêm lửa trại giữa
đêm rằm trung thu không
thể nào nghĩ đến chuyện
phải vắt chiếc áo ấm
trên tay thế mà phải
vắt chiếc áo ấm trên
tay vừa đi vừa rịn
mồ hôi trán bên những
cây thông tuyết khô rang
phủ tuyết khô rang không
biết ở đâu ngập bụi
khói ở đâu cháy rừng
ở đâu tầng ô dôn
thủng lỗ mà nơi đây
mùa Nô en về như
lộn chỗ thật tội nghiệp
cho những Ông già tuyết
sắp chín trong những bộ
đồ đỏ như lửa và
kín như cái nồi hấp…

Huế, 25.12.2015

DẤU LẶNG

hững nỗi đau ta
nhốt trong lòng như
cơm sôi như biển
sóng như ngồi đó
trồng hoa ngồi đó
viết tình ca hoa
không nở ra anh
hùng tình ca không
dành cho chiến thắng
người lính trận mồ
hôi ước hoa hồng
mơ tình ca rỉ
máu những nỗi đau
làm sao thách đố
làm sao réo kêu
tiếng reo không làm
đông buổi chợ thách
đố không làm vơi
nỗi đau… nỗi đau
đặt vào… dấu lặng


LY CÀ PHÊ VỈA HÈ

dưới mỗi ly cà phê
phơi đáy một tờ năm
ngàn thẳng thớm như tờ
lịch ngày rút ra từ
mớ ký ức cũ kỹ
cất dấu những câu chuyện
đời thường câu chuyện có
một đầu dây cột vào
những cánh diều hài hước
gặp cơn hào hứng trào
lên theo ngụm cà phê
đắng nổ ra nổ ra
những tràng cười phập phồng
cánh mũi con chim nhỏ
buổi sáng tập hót trên
cành long não gõ nhịp
gõ nhịp như mùa đến
mùa đi dọc con đường
xe máy tràn lan nuốt
chững lòng đường người đi
bộ mắt tròn xoe muốn
hỏi cớ gì những người
đàn ông trộn bụi trộn
đường trộn tiếng còi xe
trộn mùi bánh mì nướng
và trộn câu chuyện tiếu
lâm vào ly cà phê
buổi sáng cớ gì vậy…

Sáng 18.6.2016

CẢM NHẬN

sương mai trốn mặt trời sau
những tán lá ngái ngủ rồi sà xuống
cùng mặt trời đặt môi lên
những ngạc nhiên nở tung tóe ước mơ
ước mơ có em lúc này
để nhắc lại tên những bông hoa hồng
phảng phất âm hưởng của tình
yêu của máu của hạnh phúc mà tôi
đã vô tình quên đi hoặc
lẫn lộn tên này qua tên khác (giữa
cả chục tên gọi bằng tiếng
nước ngoài) thật ngạc nhiên như chuyện ngày
xửa ngày xưa những bông hoa
hồng của thần tình yêu từ những mơi
nào xa xôi về chen chúc
bên góc vườn thơm như vạt nắng cốm
nở tung tóe hạt sương trong
ngần có em ước mơ sà xuống cùng
mặt trời lắng nghe hạnh phúc
đang nở ra từ những bông hoa hồng
để biết ơn em biết ơn
mẹ của niềm hạnh phúc đang nở ra
những mùa màng mưa nắng phải
thì xanh mầm mống từng ngày ngạc nhiên

Đầu thu 2016​

 ĐÀN BÒ

đàn bò lô nhô như sóng mà
sóng thì có lúc lặng lúc xô
còn đàn bò thì cứ lô nhô
tràn đường không ô tô nào qua
được còi hơi nổi điên ré liên
miên xe máy phát khùng tuôn lùng
nhùng rú ga vọt qua hố ga
rất gần khu đại học thành phố
mà như về đồng quê của năm
tháng nào xa lắm hết hồn vì
bị dồn đằng sau chúi đầu đằng
trước rồi cũng may đã đến lúc
đàn bò quặt quày quặt quày rẽ
vào đường xóm về chuồng đám ô
tô xe máy xe đạp có chỗ
chen nhau vượt lên vượt lên rồi
tranh nhau đằn qua những bãi phân
bò ướt nhẻm mà chạy như bị
ma đuổi như sợ hồn vía nhập
vào bãi tha ma cạnh bên đường …

Hương Thủy, 20.01.2016

Ocean Pollution by SPPARKIE
 

 

 
 

Thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc

0
http://www.hongkiat.com/blog/absolutely-stunning-3d-street-art-paintings/
http://www.hongkiat.com/blog/absolutely-stunning-3d-street-art-paintings/
Hồ Đăng Thanh Ngọc

CÓ NHỮNG NGÀY

Có những ngày những cái tai rớt
ra trên mặt bàn vì chứa quá
nhiều thông tin đến nỗi những thông
tin quá nặng và khiến những cái
tai bị xé tách khỏi cái đầu
và rớt xuống mặt bàn người đàn
ông lấy tờ báo lùa những cái
tai rớt ngổn ngang xuống đất có
những ngày những con mắt rớt ra
rơi xuống mặt bàn vì đã nhìn
quá no nê những cô gái khỏa
thân uốn éo trên màn hình computer
người đàn bà lấy cái chổi lông
gà suốt một cách không thương tiếc
những con mắt xuống đất vừa suốt
chổi lông gà vừa lầm bầm chửi
rủa đồ khốn đồ đĩ thõa đồ
mất nết có những ngày những quả
tim rớt ra khỏi lồng ngực lăn
lông lốc xuống vệ đường sau khi
đã quá no nê những bữa tiệc
vô cảm những quả tim chứa quá
nặng những đồng bạc đến nỗi lồng
ngực rách toang không chứa nổi quả
tim người tu hành vừa đi qua
đường vừa gõ mõ tụng niệm giữa
những đồng bạc loảng xoảng văng tung
tóe trên đường có những ngày những
ngón tay rụng xuống khắp mặt đất
vì đã cầm nắm quá nhiều chúng
nói chúng tôi cần nghỉ ngơi chúng
rụng xuống và mọc lên những tai
nấm chúng hy vọng những tai nấm
có thể nghe mưa một cách hồn
nhiên có những ngày như thế thật
đấy không tin à nhìn kỹ lại
đi


BÀ GIÀ ĐI TẮM

Bà già đi tắm sông buổi chiều trên
bến hoang trên bến hoang buổi chiều bà
già đi tắm như đi lau dọn những
ngày qua lau dọn những cuộc tình lau
dọn những niềm vui lau dọn những đớn
đau lau dọn những khát khao ái ân
xưa cũ lau dọn những nụ cười lau
dọn những nước mắt trên bến hoang buổi
chiều bà già đi tắm như thêm một lần
kỳ cọ tuổi xuân kỳ cọ nụ hôn
đầu kỳ cọ cho sáng bóng những hẹn
hò kỳ cọ cho vết sẹo cuộc đời
được liền da kỳ cọ cho vết thương
tâm hồn được tẩy rửa trên bến hoang
buổi chiều bà già đi tắm bà tắm
hứng khởi tắm say sưa và làn môi
già nua mím lại như nhớ làn môi
ai năm mươi năm trước bây giờ đôi
má hồng đôi môi hồng của bà đã
nhăn nheo hé mở nụ cười cổ thụ
trên bến hoang buổi chiều bà già đi
tắm ký ức bà trôi từ thân thể
bà ra đầy mặt sông đến mức lũ
rong rêu phải chui lên bờ gọi bà
ơi bà ơi trên bến hoang buổi chiều
bà già đi tắm


CHIỀU NGHE TIẾNG ĐÀN TRANH

Chiều ngớ ngẩn đi qua hàng dâm
bụt chợt nghe tiếng đàn tranh vọng
ra từ cửa sổ ngôi nhà bên
đường vọng ra từ vòm lá xanh
vọng ra từ mái ngói vọng ra
từ không gian thấp thoáng bóng người
con gái vọng ra từ đôi bàn
tay mười sáu ngón bàn tay mười
sáu ngón đang múa trên mười sáu
sợi dây hay mười sáu sợi dây
đang biến thành dòng sông âm vang
dưới mười sáu ngón tay người con
gái cứ tưởng như mười sáu sợi
dây là mười sáu sợi tóc của
nàng mười sáu sợi dây đang rung
lên mười sáu sợi mưa bàn tay
nàng mười sáu ngón chẻ mười sáu
sợi dây đàn thành mười sáu sợi
chiều trong chiều ngớ ngẩn đưa bước
chân tôi thành mười sáu bước chân
phiêu diêu mười sáu sợi dây mười
sáu ngón tay đang quấn chặt như
bện chặt lại buổi chiều ngớ ngẩn
tôi đi qua hàng dâm bụt nhà nàng


MẮT

Tôi nhìn người bốn mắt nhìn
nhau bốn mắt đen để nhìn
màu mắt đen bốn mắt xanh
để nhìn màu mắt xanh bốn
mắt nâu để nhìn nhau bồ
câu bốn mắt đỏ để nhìn
nhau đỏ mắt bốn mắt xám
để nhìn nhau chó sói bốn
mắt vàng để nhìn nhau kim
cương bốn mắt huyền để nhìn
nhau bóng tối tôi nhìn người
bốn mắt nhìn nhau bốn mắt
trăng thu để nhìn dịu êm
bốn mắt mặt trời để nhìn
lửa thêu bốn mắt qua cầu
để nhìn dòng sông cuộc đời
chảy xiết tôi nhìn người thành
ánh sáng thành bóng tối tôi
rơi xuống vực sâu tôi ơi
mù lòa


MỘT HOÀNG HÔN

có một hoàng hôn như chiêm
bao như ai đó đốt câu thơ cũ
thả vào cánh cò như ai
đó kêu lên có con chim gãy chân
lạc vào rừng ngón mưa như
ai đó kêu lên bắt lấy giấc mơ
bỏ vào chai rượu như ai
đó kêu lên bắt lấy hoàng hôn thả
vào bóng đêm như ai đó
kêu lên bắt lấy con tim chơi trò
trốn tìm như ai đó kêu
lên về nhà bắt khói kẻo khói bay
mất chỉ còn một dấu hỏi
như ai đó kêu lên hãy bắt lấy
khói kẻo khói bay mất sẽ
chỉ còn một dấu lạnh có một hoàng
hôn như thế có ai kêu
lên


 MÙA HÈ 2016

Tôi đi ra phố mùa hè lỡ cầm
trên tay mặt trời nên tay tôi
cháy mắt tôi cháy người tôi cháy
áo quần tôi cháy tôi cháy đen
như hòn than tôi đi ra phố
mùa hè lỡ cầm trên tay mười
tám tầng địa ngục nên đành cứ
thế bước đi như đi trên lửa
than hồng trên bếp cồn cháy đỏ
thân tôi như bị ném trong vạc
dầu tôi đi ra phố mùa hè lỡ
cầm trên tay cái nhìn giận dữ
của em nên óc tôi nhão ra
não tôi bốc khói mắt tôi đui
mù tôi đi ra phố mùa hè
lỡ cầm trên tay chảo dầu chiên
đang sôi nên miệng tôi sưng phồng
lưỡi tôi rốp đỏ họng tôi rách
toác tôi như khạc ra lửa tôi
đi ra phố mùa hè lỡ cầm
trên tay mặt trời lỡ cầm trên
tay địa ngục lỡ cầm trên tay
cái nhìn giận dữ lỡ cầm trên
tay chảo dầu chiên nên tôi đang
bốc khói đang bốc khói đang bốc
khói

viết trong cái nóng 41 độ những ngày tháng 7/2016

 
NHỮNG HỐC MẮT CÁ THO LÓ

từ đâu trong sóng biển tấp vào hốc
mắt tôi một đống xương cá những cái
đầu cá đầy hốc mắt tho ló xoáy
vào tôi những luồng tối đen những hốc
mắt đầy những luồng tối đen tho ló
trào ra những lớp sóng đen như mực
ồ những con cá có hốc mắt tho
ló đầy những luồng tối đen biển đã
bỏ rơi chúng mày rồi sao? những con
cá đầy hốc mắt tối đen tho ló
chúng mày đã sống từ bao giờ và
chết từ bao giờ vậy? giữa muôn màu
sắc biển màu tối của những hốc mắt
tho ló chúng mày có từ đâu mà
tối vậy? những luồng tối chúng mày tho
ló mang theo để làm gì vậy? mà
hà cớ gì chúng mày tấp vào đáy
mắt tao một đống xương cá để làm
gì? đáy mắt tao không thể chôn đống
xương cá với những cái đầu đầy hốc
mắt tho ló của chúng mày không thể
chôn không thể chôn không thể chôn chúng
mày hiểu không

tháng 4- tháng10/2016

 
NUỐT

Như con ếch tôi ngồi nuốt hết bóng
tối như bóng tối tôi ngồi nuốt hết
mặt trăng trong đêm khuya tôi thấy con
ếch bị chết và mặt trăng bị thương
rồi mặt trăng chui vào tóc tôi trú
ẩn con ếch lại cố nuốt hết những
mảnh mặt trăng trú ẩn trong tóc tôi
rồi cố nuốt hết bóng tối và khi
cảm thấy không còn gì để nuốt nó
nuốt luôn tiếng kêu uềnh oang của nó
trên bờ ao nhưng dù nó cố sức cũng
không thể nuốt hết tất cả được hình
như vẫn còn sót lại mảnh trăng vỡ
sáng trắng trong mái tóc tôi và cả
tiếng uềnh oang của nó đang khắc khoải
bên bờ ao


Cover page: by Peteris Kelle, in Artwork
http://www.hongkiat.com/blog/absolutely-stunning-3d-street-art-paintings/

thơ Xuân Thủy

thơ Xuân Thủy

TẬN CÙNG

Phận người y như những vần thơ
cũ chứa những nỗi cũ đau đau
mà đau tới tận cùng nếu như
tôi là một người đang ở tận
cùng mà mỗi người sinh ra cũng
đều có ít nhất một cái tận
cùng để rồi muốn thoát ra mà
không thể nào thoát ra được như
một nền thơ cũ cứ loay hoay
không thể nào thoát ra như cái
nghèo có làm người ta có đi
ăn cướp không tận cùng cái đói
người ta có đi xin ăn không
nếu tôi cũng có cái tận cùng
mà không ngôn từ nào nói ra
cái tận cùng không ai hiểu một
phận người y như những vần thơ
cũ chứa những nỗi cũ đau đau
mà đau tới tận cùng không hiểu
tại sao con người ta sinh ra
mà khổ đau đến thế còn tôi
thoát thai mà vẫn khổ đau khổ
đau không vì không thoát thai được
mà vì thoát thai rồi không làm
gì được trong một thế giới chưa
ai thoát thai hay đã thoát thai
như ai ai cũng đều có cái
tận cùng của riêng mình


 MẤT CHÌA KHÓA

chiếc chìa khóa
số phận nó
phải chia lìa
như nàng … hay
hay … nỗi nhớ
có thể không
thể nào … bất
lực … hay vì
tôi quên chiếc
chìa khóa ví
như quên nàng
vì chiếc chìa
khóa nên phải
chia lìa còn
lại chỉ là nỗi
nhớ như mẩu
giấy nháp có
thể vứt hoặc
cất đâu đó
chiếc chìa khóa
mất đâu có
mở được cửa
chỉ còn lại
câu chuyện kể
mất chìa khóa
như nỗi nhớ
mất nàng … như
mẩu giấy nháp
có thể vứt
hoặc cất chứ
biết làm gì…
một câu chuyện …

31/01/2015

 GIẤC MỘNG CON

dọn cái bàn lấy
cái giường đang nằm
làm cái bàn làm
việc cho những dự
định lớn hơn cái
bàn chật chật hẹp
làm chật chật hẹp
tay vì chuẩn bị
rước thêm em i7 (*)
7 triệu đồng nữa
về cho những dự
tính lớn hơn nhưng
sợ lại bị trộm …

26/01/2015
(*) 15 - 25 triệu /máy tính mới

 BÀI THƠ CHÀO BUỔI SÁNG

Buổi sáng em giận anh rồi
Em biết không anh vừa ăn
Sáng nghĩ đến em anh chào
Em buổi sáng em không chào
Lại lặng im thôi cứ tưởng
Đêm rồi những cái ác bủa
Vây trên đôi môi màu tím
Đỏ như trái mọng trên cành
Của em chúng không làm em
Đau đấy chứ những đôi môi
Chín đỏ mọng trên cành cao
Cao cao mãi như ngôi sao
Màu lửa như ngôi nhà anh
Vừa mới cất xong ngày xưa
Nhưng đã xưa xưa rồi đã
Cũ cũ giờ tường vôi vữa
Không thơm mùi mới áo em
Bay tung trời lộng gió bên
Hồ Gươm xanh rêu rêu đá
Rêu rêu xanh cụ rùa già
Đã mệt với loài người dị
Dạng đôi chân ưỡn đôi vai
thời gian già cỗi tình yêu
xói mòn trong nhau cái ác
Bủa vây tình yêu cũ không
Sao mới được không không cái
Thiện ngày xưa đây mà nhưng
Cái thiện bất lực bỏ đi
Như anh bỏ em đi khác
Nào cái ác bủa vây cái
Thiện bỏ đi màu vôi vữa
Cũ để xây ngôi nhà mới
Khu vườn mới đôi môi mới
Ngôi sao mới nhưng không
Có em vì em hoài niệm
Vì em vì em không bay
Theo làn gió thổi …

04/6/2015

ÔI TRỜI ÔI

trời lại làm mưa mưa
đi đâu đây trong gió
chiều lồng lộng một mình
một mình … lặng nghe gió
đi về tiếng chuông ngân
ngân mõ cóc cóc chùa
nghiêng nước đổ xe hơi
đỗ lại một người đi
đi cánh cò bay trên
tháp rùa kêu gõ nắng
bạc đầu keng keng kinh
kinh nhang trầm thắp khói
lan mờ mờ người mờ
mờ âm thanh lặng tiếng
mõ gõ đều đều đều
người người người này người
nọ người kia đi vào
chùa … người ăn xin ở
cổng xe hơi lăn bánh
lăn bánh trong mưa trong
gió bụi nhòa nhòa …

04/6/2015

 ĐỨA TRẺ KHÔNG NHÀ

Đứa trẻ không nhà đi tìm
ngôi nhà không nhà làm
sao tìm được ngôi nhà
nơi nó cất tiếng hát
về ngôi nhà không nhà
làm sao trở về về
đâu trong nỗi khát khao
tan vỡ những ước mơ
tan vỡ trở về về
đâu trong mối tơ tình
rối tinh của đời của
người đang nhìn nó hát
về ngôi nhà không nhà
không ai trả lời không
ai không ai người đang
nhìn nó hát hát về
ngôi nhà không nhà.

29/4/2015

NHỮNG ĐỨA TRẺ GIÀ BÉ

Những đứa trẻ già và
bé bé những con chữ
bé bé trên văn bản
trên tường những dòng thơ
nguệch ngoạc xô lệch là
dòng đời kiếp phận nổi
trôi bao ngàn năm bao
ngàn mây đợi chờ đất
nước đứng đứng lên nào
hỡi lời ca vang vang
nào hát lên nghe hay
hay nghe mùi mùi ai
ai cũng hiểu những gì
đã trôi qua trôi qua
những khổ đau kiếp phận
con con đeo mang gánh
gồng từ sớm mai đến đêm
khuya nằm nghe những lời
ca như giọt nước mắt
rơi giọt mồ hôi đổ
rồi thiếp đi lúc nào
lúc nào cũng thế như
đã tự bao giờ bao
đời vẫn thế ngày ngày
trôi trên đôi vai trên
kiếp người làm và làm
những vì sao xa xăm
không thấy không mơ một
ngày sẽ đến đã và
đã đến nhưng không phải
ai cũng đã và đã
đến khi kể lại ngày
mai người lính từ vùng
chiếm đóng trở về những
dòng thơ nguệch ngoạc.

20/4/2015

NGÀY HÔM NAY

thức dậy anh và em
hay ai đó đánh thức
theo nhịp tách cà phê
ai uống những gánh gồng
tờ mờ sáng gánh gồng
trên đôi vai trĩu nặng
người đàn bà lo cho
lũ con nhốn nháo gánh
gồng cả buổi chiều và
tối gánh hủ tiếu đến
tận ba giờ sáng bán
cho đám công nhân tan
ca đến ba giờ sáng
dọn dẹp dọn dẹp đám
người ăn đêm và hằng
hà sa số những mảnh
đời không ai kể trong
bài thơ trong hơi thở
lờ mờ nghe như vẫn
đang thở than hôm qua
đến hôm nay đến ngày
mai không chán chiếc đồng
hồ vô tri biến con
người thành nô lệ ngày
hôm nay là ngày hôm
qua thức dậy là ngày
hôm nay là ngày mai
huyễn hoặc con người đến
rồi đi đến lời nói
cũng chẳng san sẻ được
cho nhau rồi chết đi
chết đi để lại những
lời vô căn vô cớ …

16/4/2015

 CÓ NHỮNG ƯỚC MUỐN BÌNH THƯỜNG

Tôi không muốn đi làm
nhưng đi làm để mẹ
vui đôi khi đi chẳng
giải quyết được gì thế
rồi mong ở nhà về
nhà đi con đường vòng
xa nhưng vắng hơn có
những ước muốn bình thường
không nói ra cơn gió
nhẹ thổi qua không ồn
ào nhưng chợt buồn vì
trên con đường xa hơn
đó không còn em ở
bên kia con sông chỉ
còn ngôi nhà với kỷ
niệm đã cũ rồi giờ
em đi xa đi xa
như con đường cứ kéo
xa ra ngôi nhà tôi
ở phía bên này sông
rồi vòng lại mới tới
con đường xa hơn không
kẹt xe không khói bụi
không ồn ào có cơn
gió mong về nhà nhưng
không nói ra không nói
ra vì có nói ra
cũng vậy thôi chỉ thấy
con đường đầy gió buổi
sáng trong lành và chiều
về lại đầy những giấc
mơ hạnh phúc thấy mẹ
đang loay hoay lục đục
làm gì đánh vài bản
đàn nho nhỏ nhâm nhi
ly cà phê lẩm bẩm
ca còn tôi quanh tôi đầy
những việc chưa làm xong
loay hoay loay hoay mãi

02/4/2015

 GẶP LẠI EM

Gặp lại em trên con
phố nhỏ lắm người qua
người đi qua nhau tất
nhiên đó không phải như
những lần anh đã gặp
em đến với nhau trong
bình an trong dòng đời
dòng người trôi hôm nay
không biết có phải em
không vì em đâu xấu
thế đằng sau cái khẩu
trang không quen không quen
màu xam xám của thành
phố những con đường anh
đang qua đang nhìn ngắm
tưởng như khi anh nghĩ
đến em nên em mới
hiện ra nhưng đôi bàn
chân nhỏ nhắn ừ gần
giống không đi tất đôi
giày vải tự may như
thường lệ đôi mắt anh
vẫn vậy vẫn khẽ nhìn
như em vẫn khẽ nhìn
có thể đã nhận ra
anh và đang nói về
anh như anh nhận ra
em nhưng vờ không nhận
ra không ai biết anh
đang buồn bực nhiều khi
giận em nhiều khi vui
được thấy em cười mà
chỉ giữ trong lòng nơi
đáy mắt vẫn là thành
phố màu xam xám đang
nói lời thì thầm hay
như em đang nghĩ về anh
không biết giờ này em
đã có gia đình chưa
anh chúc mừng em thôi
đó là điều cần làm
luôn luôn và lúc nào
cuộc đời này có gì
đâu là bất ngờ hãy
mời anh ngày cưới để
anh thấy em cười em
vui để anh cảm thấy
hạnh phúc trong lòng không
nói ra đâu không cho
ai hay biết đâu cơn
gió thổi đi mất tình
yêu em của anh nhưng
dù thế nào dù thế
nào đi nữa thì anh
cũng sẽ lại gặp lại
em vì đó là tình
yêu chúng ta.

6/12/2014

Paper Cover: “Silhouettes” by Tom Sierak
 Limited Edition Print • Size: 24 X 18"
http://www.tomsierak.com/

NGHĨ VỀ CÁCH LÀM THƠ (III)

Khế Iêm

Tân hình thức Việt

Thơ Tân hình thức Việt là quá trình rút tỉa kinh nghiệm từng giai đọan của thơ tự do Mỹ và thể luật thơ Anh, kết hợp với khái niệm từ chủ nghĩa hậu cấu trúc và hậu hiện đại, đặc biệt là tinh thần tân chiết trung của kiến trúc hậu hiện đại Mỹ. Thơ Tân hình thức Việt đưa ngôn ngữ và nhịp điệu nói đời thường vào thơ, dùng kỹ thuật vắt dòng, chuyển những thể thơ (5 chữ, 7 chữ, 8 chữ,lục bát) có vần thành không vần, với những yếu tố tính truyện, và lập lại những đơn vị âm thanh bằng trắc, xóa đi dấu vết văn xuôi và tạo nhịp điệu, chẳng khác nào nhịp nhảy (sprung rhythm) của thơ tiếng Anh. Và như thế, thơ Tân hình thức Việt hoàn toàn là một thể thơ mới, không liên hệ gì thơ Tân hình thức Mỹ, bởi vì khác biệt về ngôn ngữ và luật tắc. Thơ Tân hình thức thật sự đã giúp cho thơ Việt tiếp cận với nền văn minh mới, nhưng tại sao so với thời kỳ Thơ Mới, vẫn chưa có sự tham gia mạnh mẽ của người đọc và người làm thơ? Có sự khác biệt, Thơ Mới nặng về cảm xúc, và tình yêu nam nữ thời mới lớn, trong hoàn cảnh xã hội nông nghiệp đơn thuần, còn thơ Tân hình thức ở một thời đại, con người  bị tràn ngập thông tin, với một xã hội còn giao động trong cơn lốc đổi mới. Nhưng chưa kể sáng tác, chỉ riêng phần lý thuyết thôi, cũng đã bao quát mọi thể loại thơ, cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh, là nhu cầu tham khảo không thể thiếu trong thơ Việt.


Những yếu tố cấu thành bài thơ Tân hình thức Việt

1/ Vắt dòng:

là một kỹ thuật của thơ truyền thống lâu đời, có từ thời cổ đại Hy lạp với Homer, tác giả hai tập hùng ca the Iliadthe Odyssey. Những ngôn ngữ ở các nước Âu châu, đa âm, nên một câu thơ thường rất dài, vì vậy khi đủ số âm tiết trong một dòng thơ, phải vắt qua dòng khác. Trong thơ thể luật tiếng Anh, kỹ thuật vắt dòng rất thông dụng, vừa giữ cho bài thơ đúng hình thức các thể thơ, vừa có tác dụng vắt ý tưởng, từ dòng này qua dòng khác. Trong khi thơ vần điệu Việt, vì là ngôn ngữ đơn âm (monosyllable), không thể đưa những câu nói đời thường vào thơ, vì vướng vào luật vần, nên phải dùng kỹ thuật vắt dòng, thay thế vần ở cuối dòng thơ, trong những thể thơ 5 chữ, 7 chữ, lục bát ….  tiếp nhận thể thơ không vần của thơ Tiếng Anh, tiếp tục thay đổi, cả về hình thức lẫn nội dung. Sau này trong thơ tự do, khi đưa văn xuôi vào thơ, họ dàn dựng trên trang giấy, rải chữ xuống dòng, và họ gọi là dòng gãy (line break). Họ không xuống dòng như thơ thể luật, cứ đúng số âm tiết mỗi dòng thì vắt dòng, mà cứ vài ba chữ lại xuống dòng, tùy theo cách ngừng nghỉ khi đọc. Kỹ thuật vắt dòng trong thơ Tân hình thức Việt, cũng chỉ là một kỹ thuật theo nghĩa truyền thống, có nghĩa là vắt dòng để cho bài thơ có hình dạng của một bài thơ thể luật, 5 chữ, 7 chữ, hoặc lục bát, chứ không phải là một thủ thuật nghệ thuật gì.

2/ Ngôn ngữ đời thường:

là thứ ngôn ngữ cụ thể trong giao tiếp, không nhất thiết phải theo đúng qui luật của văn xuôi, có khi làm người đọc ngỡ ngàng, khó chịu, lập đi lập lại, trúc trắc, không lúc nào giống lúc nào, thông dụng trong văn nói, phân biệt với loại ngôn ngữ trừu tượng, tượng trưng trong thơ trước kia. Ngôn ngữ đời thường, được hiểu như, đưa cách nói đời thường và dùng ngôn ngữ thông thường, để diễn đạt cuộc sống. Người làm thơ thay vì phải bận tậm tới những chữ bí hiểm, khó hiểu, có thể chú tâm tới việc tìm kiếm ý tưởngnhịp điệu mới. Ngôn ngữ thông thường tuôn vào thơ, xóa đi nhạc tính hay tiết tấu của thơ vần điệu, giúp người làm thơ tìm ra nhịp điệu hay nhạc tính mới. Những nhà thơ nổi tiếng của thơ thể luật tiếng Anh, cũng như những nhà thơ tự do, từ đầu thế kỷ 20, đều viết bằng ngôn ngữ thông thường, dưới dạng văn xuôi. Những nhà thơ thể luật dùng luật tắc của thơ để hóa giải nhịp điệu văn xuôi, còn Tân hình thức Việt, khi sử dụng cách nói thông thường, cũng có nghĩa là đưa nhịp điệu văn xuôi vào thơ. Kỹ thuật lập lại những chữ kép, chính là phương pháp làm biến mất dấu vết văn xuôi, thành thơ. Trong khi ca dao lục bát tuy dùng ngôn ngữ đơn giản nhưng vẫn là những câu ru điệu hát, ngôn ngữ thông thường hay ngôn ngữ thường ngày không nói như ru hay hát. Thơ Tân hình thức là một hình thức thơ đọc. Một thí dụ được trích dẫn:

“Nhà thơ Timothy Steele, khi ăn trưa tại một quán ăn bình dân, ông tình cờ nghe được sự cãi vã của một cặp tình nhân, sau cùng cô gái đứng dậy, trước khi bỏ đi, nói lớn:

   x      /    x     /          x     /       x     /    x    /

You haven’t kissed me since we got engaged.

Anh chưa hề hôn tôi từ lúc đính hôn.

Câu nói đúng với iambic (không nhấn, nhấn) và lập lại 5 (penta –) lần, thành iambic pentameter. Ông nhận ra, thể luật căn cứ và rút ra từ dạng nói bình thường, và Tân hình thức đưa ngược những câu nói đời thường vào thể luật.”

3/ Tính truyện:

là yếu tố thông dụng trong thơ truyền thống ở mọi nền thơ để kể một câu truyện. Trong thơ không vần Việt, tính truyện còn có ý nghĩa, nối những ý tưởng liên tục và thuần nhất, không đứt đoạn như thơ tự do, để tạo tư tưởng trong thơ, người đọc biết bài thơ muốn nói gì, chứ không lan man như thơ tự do, người đọc không biết bài thơ muốn nói gì.

4/ Kỹ thuật lập lại:

Trong luật thơ, ở bất cứ thể loại thơ nào, kỹ thuật lập lại đều được sử dụng để tạo nhạc tính hay nhịp điệu thơ. Chúng ta thấy thơ Đường luật, lập lại những âm thanh bằng bằng, trắc trắc, và trong thơ tiếng Anh, là những âm không nhấn, nhấn, lập đi lập lại 5 lần trong 1 dòng thơ. Những cách trên của thơ truyền thống là lập lại những âm nhấn. Thơ Tân hình thức Việt thay cách lập lại âm nhấn bằng cách lập lại các “chữ kép” (bằng trắc), rải ra khắp bài thơ.

Nhịp điệu, hay tiết tấu (theo thơ Đường và thơ Việt), là vô cùng khó đối với người làm thơ, bởi nó khẳng định tài năng nhà thơ. Chẳng thế mà từ xa xưa, Đông cũng như Tây, con người đã rút tỉa kinh nghiệm để tạo ra những thể thơ, giúp người làm thơ thăng hoa tài năng của họ. Cũng như âm nhạc, nếu không có năng khiếu về ký âm pháp học, không thể có những thiên tài âm nhạc. Thơ Đường, bằng bằng, trắc trắc, và thơ tiếng Anh, không nhấn, nhấn, tạo nhịp điệu bằng cách lập lại, xen kẽ những âm thanh mạnh nhẹ trong một dòng thơ. Nếu so sánh với luật tắc để tạo nhịp điệu trong thơ, thì tuy văn xuôi cũng có nhịp điệu, nhưng không phải là nhịp điệu thơ. Những tùy bút đầy truyền cảm, tập truyện ngắn của Nguyễn Tuân, Vang Bóng Một Thời, viết như thơ, hay thơ văn xuôi, không có nhịp điệu thơ vì khi đọc lên, chúng ta đọc theo nhịp đọc văn xuôi.

Thơ Tân hình thức Việt dùng kỹ thuật lập lại để tạo nhịp điệu thơ, và kỹ thuật đó được tái định nghĩa như sau, ”lập lại những chữ kép (bằng trắc), phân phối vừa đủ trong bài thơ” để tạo nhịp điệu. Trong một số bài thơ Tân hình thức Việt có nhịp điệu mạnh, thường lập lại những đơn vị âm thanh (bằng trắc), hình thành từ những chữ kép, luân phiên thay đổi lẫn nhau. Tài năng của nhà thơ là điều tiết kỹ thuật lập lại, để làm sao cho nhịp điệu không dư thừa, hay lỏng lẻo. Đó là chưa kể sự lập lại 1 chữ, được tính như là sự điệp âm, cùng với sự lập lại nguyên âm (lũ, cũ; thông, không), và phụ âm đầu. Trong một bài thơ Tân hình thức Việt, sự lập lại 1 chữ hay 2 chữ, đặt kế nhau, sẽ tạo nên những nhịp gấp. Sự vắt dòng tạo nên những nhịp ngoặt. Và có lẽ, chúng ta cần nhắc lại, kỹ thuật lập lại của thơ Tân hình thức Việt, chính là sự phản hồilập lại, hay là những yếu tố trật tự trong hệ thống hỗn mang là bài thơ, của “Hiệu ứng cánh bướm.”

Tiếng Việt, vì không biến âm được như những tiếng đa âm (Anh, Pháp …), đã hình thành những từ kép (cặp đôi), bằng cách ghép những chữ đơn với nhau. Từ kép là đặc điểm, và là yếu tố làm phong phú tiếng Việt, vì có khả năng tạo thêm từ mới, đáp ứng nhu cầu trong đời sống và học thuật. Từ kép có thể do: 2 từ đơn (sạch sẽ, bạn bè, cha mẹ …), 3 từ đơn (giản dị hóa, thi vị hóa …), 4 từ đơn (lôi thôi lếch thếch, đầu đường xó chợ …). Chữ kép bằng trắc, trong thơ, có tác dụng như đơn vị âm thanh không nhấn, nhấn trong luật thơ tiếng Anh. Nhưng trong luật thơ tiếng Anh, sự lập lại những âm thanh không nhấn, nhấn chỉ hạn chế trong một dòng thơ, còn với thơ Tân hình thức Việt những chữ kép được rải ra khắp bài thơ, làm cho nhịp điệu thơ phong phú và uyển chuyển hơn rất nhiều.

Chữ kép lập lại, có tác dụng nối kết những ý tưởng và làm cho ý tưởng chuyển động, tạo ra nhịp điệu. Tất cả những bài thơ, trừ thơ tự do, đều có nhịp điệu. Nếu bài thơ không có nhịp điệu, những ý tưởng sẽ rời rạc, lủng củng và bất động, làm cho thơ trở nên khó hiểu, hoặc nhạt nhẽo như đang đọc một đoạn văn xuôi. Đôi khi, vì áp dụng kỹ thuật lập lại quá thô thiển, gượng ép cũng làm hỏng mất bài thơ, dù rằng ý tưởng có mới lạ. Nhịp điệu cũng như chữ trong thơ, không thể rườm rà. Ngay cả khi có quá nhiều vần trong phần của bài thơ, cũng nên tránh kỹ thuật lập lại. Có lẽ, chúng ta cần nhiều câu chuyện của những nhà thơ Tân hình thức Việt, đã từng trải qua thực hành, để chia sẻ với nhau, chẳng phải chỉ riêng kỹ thuật lập lại, mà còn phát hiện thêm những kỹ thuật khác.

Nhìn lại những diễn biến trên, chúng ta thấy ngạc nhiên, thơ tiếng Anh và thơ tiếng Việt có những thời điểm tương đồng rất đáng chú ý. Thập niên 1930s, những nhà thơ thời W. H. Auden hoàn tất tiến trình thay đổi về ngôn ngữ và luật tắc của thơ thể luật (ngay cả ngôn ngữ, tiếng Anh cổ, cũng là tiếng đơn âm, sau này ảnh hưởng của thơ tiếng Pháp và tiếng La tinh mới có thêm ngôn ngữ đa âm), thì ở thời điểm này, Thơ Mới cũng xuất hiện. Thập niên 1990s, Tân hình thức Mỹ nổi lên thì cuối thập niên này, Tân hình thức Việt bắt đầu cho cuộc chuyển đổi thế kỷ, trong thơ.


Cách làm một bài thơ Tân hình thức

Một câu hỏi đặt ra, tại sao thơ Tân hình thức Việt ít có những bài thơ nổi bật, gây ấn tượng nơi người đọc? Đâu là những tiêu chuẩn đánh giá một bài thơ Tân hình thức là hay? Hai yếu tố chính trong thơ Tân hình thức Việt, nhịp điệuý tưởng, tiêu biểu cho hình thức và nội dung, còn các yếu tố khác như cách dụng chữ, dụng lời thì loại thơ nào cũng giống nhau. Và trong quá trình đủ dài của dòng thơ này, chúng ta có rút ra được những kinh nghiệm đáng giá nào, mang tính nền tảng, áp dụng kỹ thuật lập lại cho có hiệu quả?

Trường hợp, do thói quen tình cờ, một người làm thơ thường sáng tác vào những lúc nửa thức nửa ngủ, chuyện gì sẽ xảy ra? Trong khoảng thời gian đó, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Mỗi thể loại thơ có cách làm thơ khác nhau, thơ vần điệu dựa vào cảm xúc, thơ tự do dùng tâm trí, còn thơ Tân hình thức kết hợp giữa cảm xúc và tâm trí. Khi làm thơ, trong trạng thái lơ mơ giữa thức ngủ đó, chúng ta phải tìm cách nhớ lại những câu chữ vừa mới sáng tác, bằng cách đọc lên (đọc thầm trong đầu), và đọc đi đọc lại nhiều lần, vì không có sẵn giấy bút để ghi lại. Hành động đọc lại để nhớ, gây những phản xạ tự nhiên, làm chúng ta phải chọn chữ, chọn lời chính xác để nhận ra những chỗ trầm bổng, lên xuống của nhịp điệu – điều chỉnh, thêm hay bớt vài chữ trong dòng thơ, cho đến khi bài thơ hoàn chỉnh, đánh thức chúng ta, tìm giấy bút ghi lại.

Nhưng có nhất thiết cứ phải đọc lên khi làm thơ Tân hình thức? Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắcvần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, nếu không đọc lên thì làm sao phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ để tạo thành nhịp điệu? Những chữ kép lập lại đóng vai trò như vần trong thơ vần điệu, nhưng rải ra khắp bài thơ, nên không rơi vào sự đều đặn, hạn chế như vần ở cuối dòng của thơ vần điệu. Điều này làm cho nhịp điệu trong thơ Tân hình thức Việt phong phú và khác biệt, nơi từng bài thơ và từng người làm thơ, đẩy tới nhiều mức độ khác nhau, từ trầm lắng đến sôi nổi. Nhưng dù ở mức độ nào, người đọc cũng phải nhận ra được nhịp điệu thơ.

Câu chuyện trên rút ra kết luận: Không có gì bắt buộc chúng ta phải sáng tác trong lúc ngủ, mà có thể sáng tác bất cứ lúc nào cảm thấy có hứng khởi, ban ngày cũng như ban đêm, lúc thức cũng như lúc ngủ. Trong trường hợp này, hành động đọc đi đọc lại nhiều lần, không phải để nhớ, mà để hình dung ra nhịp điệu của thơ. Và việc ghi lại trên giấy mới có tác dụng để nhớ.  Bởi đa số chúng ta vẫn quen sáng tác có giấy bút, hay trên smartphone … nên động thái chính trong công việc sáng tác một bài thơ Tân hình thức là tập trung vào việc đọc đi đọc lại nhiều lần, và chỉ liếc nhìn vào giấy khi muốn nhớ lại, để tiếp tục công việc sáng tác. Khi đọc, và đọc đi đọc lại, sẽ hạn chế sự nghĩ của tâm trí, và bài thơ tiến hành theo những cảm nhận tự nhiên, chứ không phải từ những sắp xếp của lý trí. Trong thơ truyền thống, người đọc có thể nhớ từng lời từng chữ, nhưng như vậy dễ gây nhàm chán, trong khi thơ Tân hình thức, việc nhớ qua nhịp điệu, khơi dậy những hình ảnh, thúc đẩy người đọc, đi tìm bài thơ để đọc lại, và lúc nào cũng thấy mới lạ.

Từ bao lâu nay, khi đọc những bài thơ Tân hình thức, chúng ta vẫn loay hoay tự hỏi, tại sao những bài thơ khi đọc lên nghe sao cứ như văn xuôi, còn thua cả thơ tự do, vì thơ tự do tuy không có nhịp điệu nhưng nhờ sự ngắt dòng, câu ngắn câu dài, nên dù sao cũng không nghe rõ tính văn xuôi như những bài thơ Tân hình thức thiếu nhịp điệu. Sự thất bại đó đưa tới việc, một số người ghé qua thử vài lần rồi bỏ ngang, còn những nhà thơ có được một số bài thơ tương đối đạt tiêu chuẩn lại không thể đi xa hơn, mau chóng rơi vào bế tắc. Mỗi thể loại thơ có cách làm khác nhau như tiền định, một tiêu chuẩn mà người làm thơ cần tuân theo, nếu muốn có thơ hay. Cách làm thơ qua việc đọc lênnhớ  lại, như sự trở lại của thơ truyền khẩu xa xưa, thời chưa có chữ in, quả là một điều thú vị. Sự ghi lại trên giấy khi bài thơ hoàn tất, chẳng khác nào quay trở lại một truyền thống mới là chữ in trong thời đại mà chữ in đang dần dần bị lãng quên, có lẽ là điều mà nhà thơ Frederick Turner gọi là “Truyền thống mới cái đẹp xưa” chăng? Thơ tự do làm khó người đọc, thơ Tân hình thức Việt, ngược lại, làm khó người làm thơ. Đó là cách làm cho thơ có nghệ thuật, để lôi cuốn người đọc.


Cách đọc một bài thơ Tân hình thức Việt

Đa số những bài thơ Tân hình thức Việt, làm theo cách, viết với những dấu chấm phẩy rõ ràng, phân biệt các ý tưởng liền lạc từng câu. Sau đó bỏ tất cả các dấu chấm phẩy đi, tiến trình giải trừ. Ý tưởng bài thơ bây giờ không còn rõ ràng, bị phủ lấp bởi tốc độ đọc. Nếu bây giờ muốn hồi phục lại ý tưởng của thơ, chúng ta phải hồi phục lại những dấu chấm phẩy. Tiến trình hồi phục này cũng là tiến trình tìm lại ý nghĩa bài thơ. Đây cũng  chính là điều, “Nhìn bài thơ, hình thức giống như một bài thơ, nhưng khi đọc, lại thấy giống văn xuôi, đọc xong thì lại thấy đó là thơ chứ không phải văn xuôi.”

Đọc (hay trình diễn) một bài thơ Tân hình thức Việt phải theo một số điều kiện.

1/ Khi chọn bài thơ để đọc, phải quan tâm tới người nghe. Người nghe hiểu và cảm nhận bài thơ một cách sống động, qua thính giác chứ không qua hình thức trên trang giấy. Cần tìm hiểu kỹ nội dung, ai là người phát ngôn chính, nhà thơ hay ai khác, từ đó, tìm ra giọng điệu và tính cách của nhân vật, để diễn đạt bài thơ chính xác.

2/ Đọc trên trang giấy, chúng ta thường đọc bằng mắt và đọc thầm trong đầu, người đọc và người nghe là một. Nhưng khi bài thơ bước ra khỏi trang giấy, đọc trước công chúng, vị trí người đọc và người nghe tách rời nhau. Người đọc bây giờ là tác nhân làm bài thơ sống dậy, và bài thơ có đạt hiệu quả nơi người nghe hay không, tùy thuộc khả năng biểu đạt của người đọc. Người nghe bây giờ là người thưởng ngoạn và phán đoán. Người nghe cảm nhận bài thơ, trực tiếp qua người đọc, không thấy và cũng không quan tâm tới những thể thơ, tự do hay vần điệu (5, 7, 8 chữ hay lục bát), tốc độ nhanh hay chậm, cùng những yếu tố thơ, có vần hay không vần, vắt dòng hay ngừng lại ở cuối dòng. Những yếu tố thị giác trên trang giấy không còn tác dụng, và người nghe tiếp nhận thơ, duy nhất qua nhịp điệu âm thanh của ngôn ngữ. Người đọc chỉ còn cách bám vứu vào các dấu chấm phẩy trong bài thơ, hay nói khác, trên cú pháp văn phạm, để truyền tải hình ảnh, ý tưởng và cảm xúc tới người nghe. Một bài thơ Tân hình thức Việt, khi đăng trên trang giấy, chúng ta bỏ các dấu chấm phẩy, khi đọc lên, phải hồi phục lại, để tìm ra chỗ ngừng nghỉ, lâu hay mau, trong bài thơ. Dấu chấm, ngừng lâu hơn, các dấu phẩy, ngừng ít hơn, để bảo đảm ý nghĩa của bài thơ được liên tục. Đọc, giống như đọc văn xuôi, nhưng chậm hơn.

3/ Đọc rõ chữ, mục đích để người nghe dễ theo dõi tình tiết, ý tưởng, và hiểu rõ bài thơ. Đọc chậm cũng có công dụng nhấn mạnh tới các chữ và nhóm chữ lập lại, làm nổi bật nhịp điệu bài thơ. Nhưng đọc chậm, đọc rõ, không có nghĩa là đọc với một giọng đều đều, mà phải ăn nhịp với sự diễn đạt bằng cử chỉ và nét mặt. Hãy tưởng tượng khi hát, chúng ta không hát cùng một âm vực, mà cần phải tìm ra chữ nào hay câu nói nào phải đọc mạnh hay nhẹ, để chuyên chở cảm xúc, và cuốn hút được người nghe.

4/ Đọc thoải mái theo giọng điệu thông thường. Bài thơ được viết theo phong cách tự nhiên và cách nói thông thường, thì nên đọc theo cách như vậy. Hãy để cho những chữ hay cách nói trong bài thơ làm việc. Đọc một bài thơ Tân hình thức, như là đang trò chuyện, và người nghe cảm thấy thân mật như đang nghe và xem một đoạn phim sống. Vì vậy, đọc một bài thơ Tân hình thức không dễ chút nào. Trước khi đọc, phải tập luyện thuần thục, nhiều lần, cũng giống như tập một bài hát, hay tập một vai kịch, sao cho sống động và tự nhiên. Đọc một bài thơ Tân hình thức là một nghệ thuật đặc biệt khó, đòi hỏi sự kết hợp toàn bộ thể xác, tâm trí và trái tim. Những nguyên tắc đọc thì không nhiều, nhưng kinh nghiệm đọc thì lại vô cùng, đòi hỏi phải luyện tập lâu dài.


Phong cách thơ Tân hình thức Việt

Thơ Tân hình thức Mỹ, đơn giản, là phong trào của những nhà thơ trẻ, vào cuối thập niên 1980s phản ứng lại thơ Ngôn ngữ, trở về với thơ thể luật. “Tân hình thức” là một thuật ngữ mỉa mai do những người chống đối gán cho phong trào, ngụ ý, chẳng có gì mới cả, toàn những thể thơ cũ. Thật ra, những nhà thơ Tân hình thức Mỹ mang ngôn ngữ đời thường áp dụng vào thơ, làm sống lại nhu cầu sáng tác theo các thể thơ truyền thống, sau một thế kỷ ưu thế của thơ tự do, vừa khó hiểu vừa làm mất đọc giả ngoài giới hàn lâm. Những nhà thơ sáng tác theo thể luật sau đó, không ai sử dụng lại thuật ngữ này, và chỉ dùng để nhắc tới một khúc quanh chuyển đổi của thơ Mỹ. Trong khi, thơ Tân hình thức Việt lại hoàn toàn khác. Thơ Tân hình thức Việt cóp nhặt (pastiche) những yếu tố thơ, làm thành một thể lai (hybridity), nối kết quá khứ và hiện tại, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, theo quan điểm tân triết trung của kiến trúc hậu hiện đại thập niên 1990s. Cần ghi nhận, kiến trúc là ngọn cờ đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại Mỹ, vào những thập niên 1980s, nối kết quá khứ và hiện tại theo quan điểm diễu nhại (parody) truyền thống, nhưng sau thập niên 1990s, đã thay đổi, không còn diễu nhại nữa, mà theo Charles Jencks, “cái đẹp trở lại”, với những thiết kế tân cổ điển, hài hòa giữa cái đẹp truyền thống và tiện nghi của đời sống hiện đại. Như vậy, thơ Tân hình thức Việt, tham khảo (reference) rất nhiều nguồn khác nhau, để tạo nên một thể thơ ổn định, khởi đầu từ mùa Xuân năm 2000, cũng như kiến trúc, thoát thai, nhưng sau đó, vượt khỏi những vướng mắc nội dung của chủ nghĩa hậu hiện đại thập niên 1980s. Và trải qua 15 năm thực hành, thơ Tân hình thức Việt đã có được những tác phẩm giá trị, song hành với thơ vần điệu và tự do. Bây giờ, khi nhắc tới thơ Tân hình thức Việt, chúng ta chỉ cần biết, đó là một thể thơ là đủ. Một yếu tố quan trọng nữa, với kết cấu một thể thơ, mà khi chuyển dịch qua một ngôn ngữ khác, vẫn giữ được nhịp điệu, để đọc như một bài thơ sáng tác, thơ Tân hình thức Việt, dự phóng cho một thể thơ trong thời đại toàn cầu hóa. Và những tập thơ Tân hình thức Việt dịch qua tiếng Anh Việt, đã được những nhà thơ và người đọc Mỹ đọc như là thơ sáng tác của họ. (Theo thống kê năm 2015, tiếng Anh càng ngày càng thông dụng, với sự phát triển của phim ảnh, TV và internet, ước lượng có khoảng trên 1 tỷ 500 triệu người sử dụng.)

Quay về thơ hậu hiện đại Mỹ, ký hiệu ngôn ngữ và hủy cấu trúc đập vỡ lâu đài thơ (và văn học) hiện đại ra từng mảnh vụn. Lý thuyết nuốt chửng tất cả: thơ chìm ngập trong phân tích và ngữ nghĩa, chữ với chữ. Hoặc là thơ chủ đề với tự truyện cá nhân, tình dục, tâm lý sâu thẳm, chỉ đưa tới sự bất an và căng thẳng cho người đọc. Sau một thế kỷ, thơ tự do Mỹ đi vào ngõ cụt, vì không có người đọc, những nhà phê bình và nhà thơ đặt ra câu hỏi, liệu thơ có ích gì? Nhà thơ W. H. Auden, “Thơ không làm điều gì xảy ra.” vì thơ là những niềm vui (hay điều gì đó), chỉ xảy ra trong tâm trí. Nhà vật lý và toán học Ái Nhĩ Lan, Sir William Rowan Hamilton (1805 –1865) khám phá ra hệ thống con số bộ tứ (quaternion), mở rộng tới những con số phức tạp, cho rằng: “Bộ tứ được sinh ra từ bộ tứ mẹ: hình học, số học, siêu hình học và thơ.” [Quaternion là khái niện toán học để định vị trí, thay vì dùng 3 tọa độ (định nghĩa bởi Leonhard Euler để định hướng một đối tượng trong không gian Euclide ba chiều), thì người ta dùng một vector và một góc quay quanh chính vector đó.] Như vậy, thơ là một phần quan yếu trong đời sống văn minh nhân loại, cần thiết để cân bằng với những tiến bộ khoa học. Chẳng thế mà những quốc gia có nhiều phát minh về công nghệ tiên tiến như Anh Mỹ, cũng đồng thời phát triển mạnh về thơ. Trong khoa học, người ta nói điều gì mà chưa ai biết, qua chữ. Nhưng trong thơ người ta nói điều gì mọi người đều biết, nhưng chưa ai hiểu thấu. Nhiều nhà thơ quan tâm tới sự thực (truth) trong thơ, vì những gì chúng ta thấy tận mắt, không chứa đựng sự thật. Theo Nietzsche, sự thực hay thực tại, tất cả đều là viễn cảnh bề ngoài, nguồn gốc nằm ở bên trong chúng ta. Ông đưa ra hình ảnh, thế giới được tạo thành từ những mảnh vỡ, cái này hoàn toàn khác cái kia. Như mỗi chiếc lá khác với tất cả chiếc lá khác, nhưng khái niệm “lá” thì chiếc nào cũng giống nhau. Khái niệm “lá” là thực tại giả mạo của những chiếc lá. Thực tại mỗi chiếc lá nằm bên trong chính nó. Mark Sharlow, triết gia và nhà khoa học, giải thích rõ hơn, “khi chúng ta bắt gặp một cây táo nở hoa vào mùa Xuân, cây táo cụ thể là một sự kiện khách quan (objective fact). Nhưng khi chúng ta nhìn ngắm lá và hoa, nghe tiếng gió xào xạc trong cành cây, cảm xúc và ý tưởng hiện ra trong tâm trí – tất cả những thứ đó, là sự kiện chủ quan (subjective fact). Sự kiện chủ quan là kinh nghiệm ý thức về một sự việc, một biến cố của một người quan sát đặc biệt, trong một khoảnh khắc đặc biệt. Ấn tượng khơi gợi khi nhìn ngắm cây táo nở hoa, qua sự kiện chủ quan, cũng được gọi là sự kiện khách quan. Sự kiện chủ quan trở thành khách quan, có nghĩa là sự kiện chủ quan cũng thuộc về thế giới hiện thực.” Thơ giúp tâm trí nắm bắt bản chất đích thực của sự vật, và kinh nghiệm thơ giúp chúng ta tiếp xúc sâu xa với thực tại.

[Một gợi ý, trước kia, trường phái Ấn tượng, mở đầu hội họa hiện đại, thay cách vẽ ba chiều của hiện thực, bằng cách vẽ trên mặt phẳng hai chiều (dài và rộng), nhưng bây giờ, trong thời đại internet, cùng một lúc, chúng ta sống cả trong thế giới phẳng, và thế giới ba chiều của thực tại. Những khái niệm về truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại, áng chừng đã đi vào quá khứ, và thơ tự nó đang định nghĩa lại, không ai có thể tiên đoán. Khi internet, website, blogs cá nhân, mạng xã hội như facebook, twitter … xuất hiện và thông dụng, số nhà thơ tăng lên theo cấp số nhân, điều này có ý nghĩa gì? Vai trò của nhà thơ và người đọc luân phiên nhau thay đổi, khi là nhà thơ, khi là người đọc, và một yếu tố mới xuất hiện, có tác dụng định giá thơ: những người đọc không phải là nhà thơ. Tính đa dạng được chấp nhận, không có sự phân biệt giữa thiểu số và đa số, nghiệp dư và chuyên nghiệp, trong luồng và ngoài luồng, và mỗi dòng thơ đều có giá trị riêng. Bởi lẽ, chính chúng ta cũng vừa ảo vừa thực, trong một thế giới mà, mọi thứ vẫn y nguyên như cũ.]

Có thể giải thích thêm, toán học thuộc về nhận thức (cognition), còn thơ thuộc khu vực cảm giác (sensorium) trong não bộ. Theo nhà thơ Meena Alexander, thơ ràng buộc với ký ức, lấy năng lượng từ cảm xúc mạnh qua giác quan, nó cũng ràng buộc với nơi chốn, xác định vị trí chính mình, đánh dấu trong mối quan hệ với những người khác; nó ở nơi chúng ta tồn tại. Nhà thơ Lãng mạn Anh, Percy Shelley (1792 –1822), trong cuốn A Defence of Poetry (1821), cho rằng, “Thơ tạo ra sự hiện hữu bên trong sự hiện hữu của chúng ta. Nó làm cho chúng ta là cư dân của một thế giới khác với thế giới quen thuộc hỗn loạn chúng ta đang sống. Nó tái tạo vũ trụ phổ biến trong đó chúng ta là những phần và những người cảm nhận, nó thanh lọc những bộ phim quen thuộc khỏi tầm mắt bên trong, che lấp sự hiện hữu kỳ diệu của chúng ta.” Cái thế giới trái ngược, sự hiện hữu bên trong sự hiện hữu, thơ gợi lên là gì? Chắc chắn có một sự thật tuyệt vời nào đó được chôn dấu ở đây, một sự hiện hữu ngây ngất làm chúng ta cảm giác rằng sự hợp lý đơn thuần không thể làm cho cuộc đời có ý nghĩa. Biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 thay đổi nhận thức chúng ta về mối giao tiếp giữa con người với nhau, một chủ nghĩa bao trùm các chủ nghĩa trong văn học, chủ nghĩa khủng bố nổi lên, đưa nhân loại đối mặt với cái ác kinh hoàng. Ở New York, sau ngày khủng bố, người ta tổ chức những buổi đọc thơ và hòa nhạc, trên radio, ở công viên Union square, và các nơi công cộng khác. Điều này cho thấy thơ và âm nhạc, cần thiết để làm dịu tâm hồn, vượt qua nỗi sợ hãi, giúp chúng ta hòa giải, đo lường sự nhạy cảm và lòng khoan dung với thế giới chung quanh. Nếu thơ hiện đại và hậu hiện đại tạo sân chơi cho chính nhà thơ, thì thơ Tân hình thức Việt, ở vào một thực tại khác, một thế kỷ khác, quay một bước ngoặt, chia sẻ với cái đau của đồng loại, mang lại niềm vui và sự cảm thông với mọi con người, và với người đọc.


Thơ Tân hình thức Việt, một nguồn thơ mở (Open Source Poetry): Những chức năng chưa hiện thực

Từ khởi đầu, thơ Tân hình thức Việt đã là một thể lai, vì vậy nó có khả năng nối kết ngôn ngữ (qua dịch thuật) và xa hơn, mở ra và tiếp nhận cách làm thơ của tất cả những phong trào thơ khác nhau, trong quá khứ cũng như tương lai. Nhà thơ Dana Gioia, trong bài tiểu luận, “Disappearing Ink: Poetry at the End of Print Culture” (Sự biến mất của mực in: Thơ ở giai đoạn cuối cùng của văn hóa in ấn), cho rằng, theo thống kê năm 2003, một người Mỹ trung bình dành mỗi ngày 24 phút để đọc sách báo, tạp chí … (năm 2015 chỉ còn 19 phút), 4 giờ coi TV (năm 2015 là 5 giờ) và hơn 3 giờ nghe radio. Trẻ em dành 5 giờ 48 phút mỗi ngày cho các phương tiện truyền thông điện tử (electronic media), trong khi chỉ có 44 phút cho sách in, bao gồm việc làm bài tập ở nhà. Mặc dù sách báo chưa biến mất nhưng văn hóa in ấn đang dần dần chuyển qua văn hóa nghe nhìn (audio-visual culture). Vậy thì, vị trí thơ sẽ ở đâu trong một xã hội ít còn quan tâm tới sách báo, văn hóa nghiêm túc, kiến thức quá khứ, và niềm tin vào thơ? Những phong trào thơ Mỹ trong vòng hơn 20 năm qua, phần lớn hạn chế trong nhóm văn hóa hàn lâm, được sáng tác trong thời đại không có mạng xã hội, website, intenet, vì thế không còn hiện hữu như những phương tiện chính yếu của thơ. Theo Dana Gioia, thơ đại chúng mới (new popular poetry) bao gồm: thơ Lời nói, Thơ Slam, thơ Tân hình thức, thơ Cao bồi, thơ Rap, hợp thành một loại thơ trình diễn đang nổi lên như những phong trào tiền phong trong thế kỷ 21. Chừng như, thơ đang trở về thời đại chưa có chữ viết, và có thể nào những người kể chuyện chuyên nghiệp bằng thơ thời cổ đại, vĩ đại như Homer, cũng sẽ tái xuất hiện. Hay như những người hát rong thời trung cổ ở Âu châu, vào những thế kỷ 11 – 12, trình diễn những bài hát trữ tình kể một câu chuyện xảy ra ở một nơi chốn xa xôi, hoặc những biến cố lịch sử tưởng tượng, do chính họ sáng tác. Tiểu thuyết, không có người đọc, không còn cách nào khác, đành trả lại yếu tố truyện kể cho thơ, và nhà văn quay sang viết kịch bản, phục vụ cho phim ảnh truyền hình.

Thơ trình diễn là một loại thơ kết hợp cách đọc thơ với sự diễn đạt bằng cử chỉ và nét mặt. Như vậy, bài thơ không những phải có nội dung lôi cuốn mà nhà thơ cần luyện tập khả năng diễn xuất sao cho sống động và hấp dẫn khán thính giả. Trong khi trình diễn, chỉ chú trọng tới thơ, nên tuyệt đối không có sự phụ trợ của nhạc cụ âm nhạc, phông cảnh sân khấu, để tránh sự phân tâm.

“Thơ Lời nói (Spoken word poetry), viết chỉ để trình diễn qua phương tiện của máy ghi âm và video, chứ không có mục đích in. Cách sáng tác hoàn toàn khác hẳn với những loại thơ vần điệu hay tự do xuất bản thành sách. Như vậy, không phải loại thơ nào cũng có thể trình diễn. Một bài thơ trình diễn phải kể một câu truyện (hay tính truyện), bằng ngôn ngữ cụ thể đời thường, với kỹ thuật lập lại chữ hoặc nhóm chữ để tạo nhịp điệu, sau đó, trình diễn trước đám đông, qua microphone (còn được gọi là Open Mic Readings). Thơ Lời nói là cây cầu bác giữa truyện kể và thơ. So sánh với cách làm một bài thơ Tân hình thức Việt – ngôn ngữ đời thường, tính truyện, vắt dòng và kỹ thuật lập lại – chúng ta thấy giữa thơ Lời nói và thơ Tân hình thức Việt có cách sáng tác giống hệt như nhau. Vắt dòng là kỹ thuật của thơ in ấn, trong thơ trình diễn, là cách đọc liên tục từ dòng này qua dòng khác. Thơ Slam cũng là một loại thơ Lời nói, chỉ khác, thơ Slam là loại thơ tranh giải (có những luật lệ tranh giải rõ ràng), đã lan ra khắp các nước châu Âu và cả Úc châu, chủ yếu gây ấn tượng với những câu truyện thiên về bạo lực, và nhiều kịch tính, chủ đề thường là tự tử, cần sa ma túy, lạm dụng trẻ em, tính dục … Còn thơ Lời nói, chủ đề là những vấn đề thông thường trong đời sống, cũng giống như thơ Tân hình thức Việt.” – Đọc (Hay Trình Diễn ) Một Bài Thơ Tân Hình Thức Việt, Khế Iêm.

Thơ Rap là một thể thơ vần điệu, làm theo thể ballard (hát), để kể một câu truyện. Mỗi đoạn thơ thường dùng 4 âm nhấn ở dòng 1 và 2, và 3 âm nhấn ở dòng 2 và 4; và dòng thơ càng nhiều âm không nhấn, tốc độ đọc càng nhanh. Trong Rap, cũng như Jazz, diễn giả thường nuốt bớt âm giữa của từ, linh hoạt nhịp điệu để tránh sự đơn điệu, và khi trình diễn, nhấn mạnh vào nhịp đập (beat). Nói chung, trong một bản nhạc Rap, nếu bỏ phần nhạc, chỉ trình diễn phần lời, đó là thơ Rap. Thơ Cao bồi (cowboy poetry) cũng là loại thơ vần điệu, theo thể ballard, được viết bởi những nhà thơ thừa hưởng văn hóa chăn nuôi ở miền viễn Tây, Bắc Mỹ. Còn thơ Tân hình thức Mỹ là loại thơ thể luật, in ấn, với ngôn ngữ đời thường và tính truyện, dễ kết hợp với trình diễn.

Khác với thơ Lời nói, hai loại thơ Rap và thơ Cao bồi được viết xuống, in thành tuyển tập (kèm theo video), nhưng chủ yếu vẫn là để trình diễn. Sự liên hệ giữa thơ Tân hình thức Việt và thơ trình diễn như thế nào, xin tham khảo một số bài viết:

– Spoken Word / Slam Poems (Ngôn Từ Nói / Những Bài Thơ Slam) của Lisa Martinovis

– Đọc (Hay Trình Diễn ) Một Bài Thơ Tân Hình Thức Việt, Khế Iêm

– Đọc / Diễn Thơ Tân Hình thức, Biển Bắc

Nếu đặt cạnh những phong trào tiền phong thơ Mỹ, nửa sau của thế kỷ 20 và bây giờ, thơ Tân hình thức Việt độc đáo không kém, và trong nhiều khía cạnh, uyển chuyển và dễ thích hợp với mọi biến chuyển của thời đại hơn cả. Bởi vì thơ Tân hình thức Việt có khả năng thu nạp các yếu tố và cách làm thơ của các trường phái thơ và thể loại thơ khác, để cập nhật và thay đổi. Thơ thật sự phản ánh hai mặt của nền văn minh kỹ thuật số, vừa trở về đời sống thô nhám của hiện thực (thơ trình diễn), vừa bồng bềnh trên mạng lưới ảo (thơ internet). Nhưng tại sao một thể loại thơ, có nền tảng căn bản, đi sát được với thời đại mới, suốt từ năm đầu thiên niên kỷ cho tới nay, mà hai dự án lớn của thơ Tân hình thức Việt, thơ trình diễn và nhóm sáng tác, vẫn chỉ dừng lại ở phần lý thuyết? Có lẽ, thơ Tân hình thức Việt thiếu nguồn tài trợ, nhân lực và môi trường hoạt động chăng?


Kết luận

Chúng ta đã đi qua một chặng đường rất dài, vì đó là những chặng đường liên quan tới việc hình thành thể thơ Tân hình thức Việt. Và để kết luận, chúng tôi xin trích lại từ một bài viết, “… Chúng ta trôi nổi trên bề mặt, và không còn quan tâm tới những thể loại nghệ thuật nào không thể hiện được phong cách thời đại của chính nó. Internet thay đổi nếp sinh hoạt và đẩy chúng ta vào một thế giới phẳng:  mỗi cá nhân vừa hiện diện, vừa không hiện diện, mập mờ giữa ảo và thực. Mạng xã hội nối kết và hoà tan con người thành những hiện thân (avatar) vô danh. Vì thế, sáng tác đơn lẻ của một cá nhân cần kết hợp với những sáng tác tập thể để đáp ứng với tầm vóc của thời đại. Mỗi nhà thơ đều bình đẳng, và khi sáng tác tập thể, tài năng cá nhân được nâng cao, chúng ta sẽ có những tác phẩm vượt trội, thay thế những tên tuổi vượt trội của những thế kỷ trước.” Hướng tới tác phẩm của nhóm sáng tác, nhà bình luận thơ Mỹ, Angela Saunders, phát biểu, “Hiện thời, thế giới đang chín muồi cho một kỉ nguyên mới về thi pháp. Đây là thời gian duy nhất trong lịch sử khi có sự tiếp cận tức khắc với những nguồn năng và những tâm trí ở mãi tận phía bên kia của hành tinh trái đất, khi các nhà thơ ở mỗi châu lục có thể gặp gỡ trong thế giới ảo để so sánh, thăm dò, và khuếch trương nhau. Các nhà thơ có sự tiếp cận với những văn bản cổ đại xưa cũ, thơ từ những kỉ nguyên lâu dài trong quá khứ và với những hình thức không quen thuộc từ những nền văn hoá khác trên mạng trời vi tính (internet). Với những nguồn năng kì ảo đến thế, sẵn sàng, tự nhiên sẽ nảy sinh các nhà thơ thế giới từ ngày mai để tìm kiếm ra những ai nhìn thế giới qua những trường phái tư tưởng tương tự. Chính là qua phương tiện này đã có một sự kết nối phương Đông với phương Tây để mang lại một phong trào đang mọc lên được biết là thơ Tân hình thức Việt.”

Giao thừa Tết  Bính Thân 2016

Tham khảo

– A Primer on Postmodernism by Stanley J. Grenz, Wm. B. Eerdmans Publishing Co.

– The Poet’s Hand Book by Judson Jerome, Writer’s Digest Books.

– Missing Measures by Timothy Steele, The University of Arkansa Press.

– Handbook of Poetic Forms, The Teachers & Writers, Edited by Ron Padgett, Teachers & Writers Collaborative, New York.

– Poetry’s Secret Truth by Dr. Mark F. Sharlow.

– Vũ Điệu Không Vần, Khế Iêm, NXB Văn Học.

– Hướng Tới Tác Phẩm Của Nhóm Sáng Tác, Khế Iêm.

– Đọc (Hay Trình Diễn) Một Bài Thơ Tân Hình Thức Việt.

– Đọc / Diễn Thơ Tân Hình Thức, Biển Bắc.

– Ngôn Từ Nói / Thơ Slam, Lisa Martinovic, Khế Iêm giới thiệu.

– Phụ Bản Báo Giấy số tháng 10-2015.



NGHĨ VỀ CÁCH LÀM THƠ (II)

HỌA SĨ VĨNH PHỐI - (3.8.1937 - 17.7 2017)
HỌA SĨ VĨNH PHỐI - (3.8.1937 - 17.7 2017)
Khế Iêm

Thơ tự do, khởi đầu, có mục đích chuyển tải tư tưởng, nhưng nửa thế kỷ sau, T. S. Eliot và những nhà thơ trong phái Hình tượng (Imagist), đẩy thơ tới mức độ khó, thơ trở nên rời rạc và đứt đoạn. Dòng thơ dài thời Whitman, được thu ngắn lại. Eliot biện hộ, “Thơ phải phức tạp như nền văn minh nó mô tả, và nhà thơ hiện đại phải trở nên toàn diện hơn, bóng gió hơn, gián tiếp hơn.” Một số nhà phê bình cho rằng, “sự khó đọc thách đố và truyền cảm hứng cho người đọc phải vượt qua, bởi đó là phần thưởng cho họ, bỏ công sức ra đọc và hiểu thơ” (“Who Killed Poetry?” By Joseph Epstein). Nhưng vì người đọc bình thường thưởng ngoạn thơ không bằng tâm trí, nên nhà thơ chỉ có thể lôi cuốn họ bằng cách, mang lại những lạc thú mỹ học (esthetic pleasures) và phát hiện điều gì đó về đời sống thực đang xảy ra chung quanh. Tới thập niên 1950s, thơ còn khó hơn. Bài thơ của Gary Snyder, hoàn toàn không quan tâm tới nhạc tính và cảm xúc, chỉ có thể thưởng ngoạn qua sự phân tích của lý trí. Gary Snyder là một nhà thơ Mỹ nổi tiếng thập niên 1960s, ảnh hưởng Zen, được giải thưởng Pulitzer về thơ. Ý tưởng và hình ảnh của mỗi dòng thơ, hầu như rất ít liên hệ với nhau, là những ốc đảo, từ đó gợi cho người đọc trầm tư và nối kết lại trong tâm trí.

Nếu bài thơ của Gary Snyder và nhóm Black Mountain, quan tâm tới ngôn ngữ, thì những phong trào tiền phong khác như Thế hệ Beat (Beat Generation), và những nhà thơ Tự thú (Confessionalist) gây sự chú tâm của người đọc qua chủ đề thơ. Nhóm Thế hệ Beat, tìm kiếm chủ đề tác động tới người đọc, như Allen Ginsberg mang đời sống nguyên ròng vào thơ, đề cao nhạc Jazz và văn hóa Mỹ da đen, bứt khỏi lề luật với cần sa, thời sự chiến tranh Việt Nam, và theo phong cách “cú pháp song song” của Whitman. Dòng thơ này dẫn đến thơ trình diễn vào thập niên 1970s. Phong trào thơ Tự thú, với những nhà thơ như Robert Lowell, Sylvia Plath, Anne Sexton, và W. D. Snodgrass, ảnh hưởng mạnh trong thơ Mỹ, cho tới bây giờ, nói về những kinh nghiệm cá nhân, đề tài riêng tư, sự bất lực và lạm dụng dục tính, đổ vỡ hôn nhân, nghiện ngập, bệnh tâm thần, loạn thần kinh. Họ là những nhà thơ tài năng, cả bốn đều được giải thưởng Pulitzer về thơ, hai nhà thơ nữ Sylvia Plath, Anne Sexton tự tử. Thơ chủ về nội dung, nhưng quan tâm tới kỹ năng và nghệ thuật thơ. Dòng thơ này dẫn đến thơ Tân hình thức thập niên 1990s.

Từ Ferdinand de Saussure đưa tới chủ nghĩa hậu cấu trúc, từ Friedrich Niezsche tới chủ nghĩa hậu hiện đại, thơ Ngôn ngữ (L=A=N=G=U=A=G=E Poetry), vào thập niên 1980s, kết hợp hai chủ nghĩa trên với trò chơi ngôn ngữ (Language Game) của Ludgwig Wittgenstein. Wittgenstein cho rằng, mỗi lần sử dụng, ngôn ngữ xảy ra trong một hệ thống khép kín riêng biệt, và hoàn chỉnh với qui tắc của chính nó, được xác nhận không khác gì với những qui luật xã hội. Ngôn ngữ thực chất là một hiện tượng xã hội. Từ quan điểm trên, thơ Ngôn ngữ mang ẩn ý phê phán cấu trúc xã hội và chính trị, phá vỡ ngữ pháp, trong đó chức năng phương tiện của ngôn ngữ bị biến mất và tính cách khách quan của chữ được đề cao. – 1. Xáo trộn ngôn ngữ một cách có hệ thống, thí dụ, viết bài thơ với chỉ những nhóm giới từ (prepositional phrases), hoặc, thêm một danh động từ vào mỗi dòng đã có trước của đoạn thơ hay văn xuôi. – 2. Lấy một nhóm chữ (lập danh sách hoặc chọn ngẫu nhiên); xếp những chữ này (chỉ) trong một đọan văn – bằng bất cứ cách nào có thể. Để cho chữ hình thành bằng chính hình thức của nó, và/hoặc: dùng cùng một chữ trong mỗi dòng, hoặc cùng một chữ ở vị trí cố định trong mỗi nhóm chữ (paragraph)… Giống như cách thiết kế chữ. – 3. Viết những gì không thể viết, thí dụ, một mục lục (đọc mục lục như một bài thơ). – 4. Cố gắng viết trong tình trạng tâm trí ít thoải mái nhất (congenial). – 5. Coi chữ và mẫu tự như một hình thể – văn vẹo tính cụ thể của bản văn, thí dụ, có quá nhiều chữ “o” hoặc vô số mẫu tự mảnh (illftiii…) – 6. Cố gắng xóa bỏ mọi nghĩa chữ trong bản văn.

Đó không phải là nguyên tắc chung để làm thơ, mà chỉ là những ghi nhận từ sáng tác của những nhà thơ trong phong trào. Nếu phong trào Black Mountain tìm kiếm thi pháp mới cho thơ tự do, xóa bỏ nhịp điệu âm thanh, chuyển thành nhịp điệu trên trang giấy, thì phong trào thơ Ngôn ngữ xóa bỏ hoàn toàn những phong trào tiền phong trước đó, từ Black Mountain, Thế hệ Beat đến thơ Tự thú. Họ làm loãng đi cách đọc truyền thống và thói quen giải thích, nhà thơ làm người đọc quan tâm tới ngôn ngữ, không phải chỉ là cái xe chở ý đã có sẵn, mà như một hệ thống với chính luật tắc, chất lượng, và sự chuyển động của nó. Chức năng ngôn ngữ giống như một mạng lưới những ký hiệu. Ký hiệu ngôn ngữ (chữ) nối kết, hay làm trung gian giữa hình ảnh hay vỏ bề ngoài của chữ  (signifier) và ý tưởng (signified). Vậy thì, chữ có hai loại ý nghĩa, ý nghĩa của chính chữ và ý nghĩa do sự khác biệt và liên hệ giữa các chữ khác. Sự liên hệ giữa hình ảnh (signifier) và ý tưởng (signified) của chữ và giữa các chữ với nhau trong bản văn, Saussure gọi là hình thức thuần khiết (pure form).

Những nguyên tắc cơ bản trên, giúp chúng ta nhận ra, bề ngoài vô nghĩa chỉ là bước khởi đầu để từ đó người đọc tìm kiếm ý nghĩa bài thơ, nương theo lý thuyết của tác giả. Họ coi lý thuyết có giá trị ngang với thơ, như hai mặt một đồng tiền. Đa số những nhà thơ Ngôn ngữ đều là những nhà lý thuyết, lý luận trên quan điểm thi pháp của họ, phức tạp và khó hiểu, như Charles Bernstein, Bruce Andrews, Ron Silliman, Steve Benson, Lyn Hejinian, Susan Howe, Bob Perelman, Michael Palmer … Những nhà phê bình ghi nhận, “Susan Howe dùng lịch sử văn học và bản văn, sáng tác những bài thơ, khi đọc lên, như sự nối kết ám ảnh và bị ám ảnh, giữa những sách có chú giải và bản viết cổ trên giấy da, đã bị xóa đi một phần hay toàn phần (palimpsest); Bruce Andrew viết những bài thơ trữ tình ghê tởm, sủi bọt với tiếng lóng, sự dâm ô, mê sướng trong giao tiếp hiện đại; Ron Silliman tiếp diễn bài thơ dài “Alphabet” (bảng mẫu tự), trộn lẫn nhận xét hàng ngày, phản ảnh ngôn ngữ triết học và những phê phán xã hội tầm mức đường phố …” Thơ Ngôn ngữ là đỉnh cao của thơ hậu hiện đại Mỹ, đưa trò chơi ngôn ngữ đến mức  tinh vi, cũng như hội họa Trừu tượng Biểu hiện Mỹ, thập niên 1950s, là đỉnh cao của hội họa hiện đại. Những họa sĩ và nhà thơ tham gia phong trào đều là những nhà học thuật và lý thuyết bao quát, từ văn học đến triết học. Người đọc và thưởng ngoạn, ngoài giới hàn lâm, không phải đối tượng cùa phong trào này.

Tóm lại, những đối nghịch nhị phân (binary oppositions), theo quan điểm hậu cấu trúc, trò chơi của sự khác biệt, như thể, theo sự giải thích của Blanchot, “chữ là con quỉ hai mặt, một là thực tại, sự có mặt vật lý (Physical presence), một là sự vắng mặt lý tưởng (ideal absence). Bernstein nói về, “sự kiện của sự chữ (wordness)”. Hoặc Bruce Andrews viết trong “Những chữ mã số” (Code words), “Tác giả chết, sự viết bắt đầu … chủ đề bị hủy cấu trúc, thất lạc …” Chữ không được chỉ định như một đối tượng, mà thay thế cho sự thất lạc của chính nó; ngôn ngữ báo hiệu không phải sự ám chỉ hay hiện diện, mà đứt đoạn và vắng mặt. Hủy cấu trúc là phương cách đọc, trước hết, làm chúng ta nhận biết cái trung tâm, rồi sau đó lật đổ, biến trung tâm thành ngoại biên, và cái ngoại biên cũng chỉ là trung tâm tạm thời trong hệ thống.

Bài thơ haiku sau đây, theo cái đọc cổ điển, thường đọc chữ “pines” (mòn mỏi) là động từ, nhưng nếu chúng ta đọc chữ “pines” (những cây thông) như danh từ, sẽ biến cái đọc truyền thống thành ngoại biên, cái đọc mới là trung tâm, và dĩ nhiên, nghĩa chữ thay đổi, làm thay đổi ý nghĩa của cả bài thơ. Ở đây, không phải bản văn nghĩa là gì, mà bằng cách nào, bản văn có nghĩa. Chữ “pines” có nhiều nghĩa, vì thế nghĩa của bản văn không bao giờ ổn định, luôn luôn mở ra, thành trò chơi bản văn (play of textuality), trò chơi của chữ “pines”. Nhưng khi cái ngoại biên trở thành trung tâm, cũng không ổn định, chúng lại có thể bị hủy cấu trúc, đẩy xuống thành ngoại biên. Trò chơi cứ thế tiếp diễn, không ngừng nghỉ. Cả hai cách đọc, và những cách đọc khác, đều bình đẳng và có thể chấp nhận. Từ khái niêm đó, hậu cấu trúc áp dụng vào nhiều chủ đề, bao gồm cái trung tâm và ngoại biên, như văn nói / văn viết (speech / writing), có mặt / vắng mặt (present / absence), có nghĩa / vô nghĩa (sense / nonsense), thiên nhiên / văn hóa (nature / culture) …  nhấn mạnh đến cuộc khiêu vũ của tư tưởng trên cái nền kiến thức.

How mournfully the wind of
Autumn pines
Upon the mountainside as day
Declines

(Gió mùa thu mòn mỏi [một cách] thê lương làm sao
Trên sườn núi như ngày
Đang tàn)

(Gió mùa thu [một cách] thê lương làm sao
Những cây thông trên sườn núi như ngày
Đang tàn)

Trong khi đó, thơ Ngôn ngữ phức tạp hơn, tác phẩm “Words nd Ends from Ez”, MacLow mã hóa bài thơ “The Cantos” của Ezra Pound, hủy cấu trúc bản văn nguồn (The Cantos), rút những mẫu tự từ những chữ, dòng đầu tiên, những chữ hoa hợp thành EZRA, và dòng sau chữ POUND, rồi lại tiếp tục như thế … Bài thơ mang tính cách liên văn bản, có hình thức vô nghĩa trên trang giấy, và tác giả tạo ra lý thuyết, giúp người đọc đi tìm ý nghĩa.

En nZe eaRing ory Arms,
Pallor pOn laUghtered laiN oureD Ent
aZure teR,
un-
tAwny Pping cOme d oUt r wiNg-
joints,
preaD Et aZzle.
spRing-
water,
ool A P

Nhưng nếu thơ Ngôn ngữ phủ nhận cách đọc truyền thống của thơ trữ tình, hủy trung tâm là ngôn ngữ nói, biến ngôn ngữ viết thành trung tâm, thì tiếp theo cái trung tâm ấy (ngôn ngữ viết) lại bị thơ Tân hình thức đẩy xuống thành ngoại biên. Thơ Tân hình thức phản ứng lại thơ Ngôn ngữ, quay mặt với hàn lâm, và đồng thời cũng chấm dứt trò chơi trung tâm và ngoại biên của hủy cấu trúc. Bởi vì sau đó, thơ Tân hình thức cùng tất cả các thể loại thơ, từ tự do tới thể luật, đều song hành với nhau, không có loại thơ nào ưu thế.


Thơ Anh: chuyển đổi thi pháp

Trong khi thơ Mỹ khai thác thơ tự do, coi như một đặc tính Mỹ, thì ở Anh, những nhà thơ vẫn tiếp tục với thơ thể luật. Khi người Norman (nói tiếng Pháp) xâm chiếm nước Anh vào năm 1066, họ mang ngôn ngữ và văn hóa Pháp vào. Ngôn ngữ tiếng Anh cổ, thường là ngôn ngữ đơn âm và trọng âm, hòa nhập và biến ngôn ngữ đa âm của tiếng Pháp và La tinh thành ngôn ngữ đa âm và trọng âm, khiến thể thơ cổ trở nên lộn xộn. Cho đến thế kỷ 14 nhà thơ Chauser tiếp nhận hoàn toàn những thể thơ Hy lạp (dựa vào độ dài của âm tiết), chuyển thành luật thơ tiếng Anh, dùng âm tiết nhấn, đưa thơ tiếng Anh từ từ đạt tới sự phát triển rực rỡ của nó. Sở dĩ ngôn ngữ Anh dễ dàng tiếp nhận luật thơ Hy lạp vì  tiếng Anh và các ngôn ngữ Âu châu cùng một ngữ tộc. Tiếng Hy lạp là ngôn ngữ đa âm nhưng không phải trọng âm, nên luật thơ được tính theo sự phát âm ngắn hay dài của các âm tiết. Âm tiết ngắn qua tiếng Anh thành âm tiết nhấn, và âm tiết dài thành âm tiết không nhấn. Tiếng Anh là một ngôn ngữ trọng âm và đa âm, luật thơ tùy theo số đơn vị âm tiết trong một dòng thơ. Thí dụ, dòng thơ thông dụng nhất, iambic pentameter, mỗi dòng 5 đơn vị âm tiết iambic, tổng cộng10 âm tiết, (không nhấn, nhấn lập lại 5 lần), cứ thế hết dòng này qua dòng khác, có vần ở cuối dòng. Nếu cuối dòng không có vần, gọi là thơ không vần. Chúng ta có thứ tự hai cặp đơn vị âm thanh đối nghịch nhau:

Iambic (không nhân, nhấn)
Trochee (nhấn, không nhấn)

Anaspest (không nhân, không nhân, nhấn)
Dactyl (nhấn, không nhấn,không nhấn)

và spondee gồm 2 âm tiết (không nhấn, không nhấn) dùng thay thế đơn vị âm thanh iambic để dòng thơ đỡ đơn điệu.

Một dòng thơ cứ lập đi lập lại một đơn vị âm thanh, suốt toàn bài thơ, sẽ gây nhàm chán, và cho đến cuối thế kỷ 19 thì bế tắc, vì những nhà thơ, ngoài luật tắc khô cứng, còn dùng ngôn ngữ trừu tượng, bóng bảy, giả tạo. Hơn nữa, kéo dài qua nhiều thế kỷ, nhịp điệu thơ truyền thống không còn hấp dẫn người đọc, vì sự thay đổi đời sống xã hội, từ nông nghiệp, qua công nghiệp. Cho đến cuối thế kỷ 19, xã hội Tây phương đã thành những xã hội kỹ nghệ. Một phần khác, tiểu thuyết đạt tới thời kỳ rực rỡ, với những tên tuổi như Fyodor Dostoesvski, Leon Tolstoy, Henrik Ibsen, Anton Chekhov … và thơ nếu muốn lấy lại địa vị, phải hồi phục yếu tố tính truyện và các yếu tố khác của thơ, đã bị tiểu thuyết lấy mất. Có nghĩa là, phải có khả năng truyền đạt tư tưởng giống như tiểu thuyết, dùng văn phạm cú pháp văn xuôi, chứ không thể chọn chữ, chọn lời như trước kia. Sau đó, dùng thể luật để xóa đi dấu vết văn xuôi.

Cuối thế kỷ thứ 18, nhà thơ Gerard Manley Hopkins, vào năm 1875, qua tác phẩm “The Wreck of the Deutschhland” (Vụ đắm tàu Deutschhland), kể câu chuyện về chiếc tàu Deutschhland bị bão đánh chìm, làm chết 157 người, trong đó có 5 sơ của dòng tu Francisco. Tập thơ giới thiệu nhịp điệu mới “sprung rhythm”, không giới hạn các âm tiết không nhấn trong dòng thơ (luật thơ cũ dùng xen kẽ nhưng âm tiết không nhân, nhấn). Trước đó, nhà thơ William Worsdworth, năm 1798, xuất bản tác phẩm “Lyrical Ballads”, dùng ngôn ngữ nói thường ngày (the language really used by men), thay vì ngôn ngữ ẩn dụ, trừu tượng. Theo Miles Mathis, Gerard Manley Hopkins (1844 –1889), mới chính là nhà cách mạng thơ, vì khi ông dùng “sprung rhythm” (nhịp nhảy), “đưa nhiều âm tiết không nhấn vào dòng thơ, kết hợp phức tạp những nhịp đập, giúp cho những nhà thơ uyển chuyển trong cách tạo nhạc tính, chẳng khác nào âm nhạc.” Hopkins là một giáo sĩ Dòng tên, giỏi âm nhạc, ông kết hợp với âm nhạc, đưa nhịp điệu nói vào thơ. Sprung rhythm gồm 4 âm tiết, âm tiết đầu nhấn, và theo sau là 3 âm tiết không nhấn, cho phép nhà thơ có thể kết hợp các đơn vị âm thanh như Iambic (không nhân, nhấn), Trochee (nhấn, không nhấn); Anaspest (không nhân, không nhân, nhấn) và Dactyl (nhấn, không nhấn,không nhấn) với nhau, chỉ cần tính mỗi dòng từ 4 tới 5 âm nhấn, còn âm không nhấn thì không nhất định. Làm như vậy ông đưa nhịp điệu thơ gần với nhịp điệu nói và văn xuôi nhưng vẫn căn cứ trên luật tắc của thơ. Timothy Steele cho rằng, phép làm thơ là dùng thể luật chắt lọc và cô đọng nhịp điệu văn xuôi; nhịp điệu văn xuôi, cùng lúc, làm lơi lỏng luật tắc của thể luật. Sự cải biến thể luật, về ngôn ngữ và nhịp điệu, đã tạo thành những nhà thơ tài danh, tầm vóc thế kỷ như W. B. Yeats, W. H. Auden, Robert Frost …

Thế thì, sprung rhythm bắt nguồn từ đâu? Những nhà hùng biện (và nhà văn) thời cổ Hy lạp, thường bắt chước nhịp điệu thơ, nhưng từ từ, qua kinh nghiệm, họ tin rằng nhịp điệu tự nhiên thích hợp với văn xuôi hơn. Và họ chỉ còn dùng nhịp điệu thơ để tham khảo, và dàn dựng câu văn bằng mệnh đề và câu. Qua thực hành, giữa văn xuôi và hùng biện, họ cho rằng, đơn vị âm thanh gồm 4 âm tiết, 3 dài 1 ngắn hay 3 ngắn 1 dài là đơn vị âm tiết căn bản, và sau đó kết hợp với các đơn vị âm tiết khác, như Iambic, Trochee; AnaspestDactyl. Như vậy, nhà hùng biện vẫn giữ được nhịp điệu gần với thơ, vì nếu viết hay diễn thuyết đúng như nhịp điệu thơ, sẽ không tự nhiên và không thuyết phục được người nghe. Nhịp nhảy (sprung rhythm), được Hopkins rút ra từ đó.


Thơ không vần

Thơ tiếng Anh, còn có một thể thơ ưu thế và mạnh mẽ khác, thơ không vần. Thơ không vần (Blank Verse) – gọi là thể thơ, thật ra chỉ là luật một dòng thơ, điển hình là dòng iambic pentameter, 10 âm tiết (không nhấn, nhấn lập lại 5 lần), đều đặn hết dòng này qua dòng khác – là thể thơ nổi bật nhất trong thơ tiếng Anh, có lẽ, vì dễ đáp ứng với nhiều mức độ khác nhau của ngôn ngữ – chuyên chở nhiều giọng điệu, từ người hầu tới nhà vua trong kịch thơ William Shakespeare. Thơ không vần xuất hiện ở Ý trong thời Phục hưng, tuy thông dụng và quan trọng nhưng không phải là thể thơ chính trong thơ Ý, được nhà thơ Anh, Earl of Surrey (1517–47), một nhà thơ cung đình, cùng với người bạn thân, Thomas Wyatt, giới thiệu thể sonnet và các thể thơ khác của Ý qua thơ Anh, vào giữa thế kỷ thứ 16 (khoảng 1539 và 1546). Earl of Surrey dùng thể thơ không vần (nhà xuất bản gọi là “thể lạ”) để dịch cuốn thứ 2 và 4 tập “Aeneid” (viết bằng Latin không vần) của Virgil, như một thứ thơ tự do, theo cách dịch Ý. Tuy nhiên, không thể hiểu theo thơ tự do Anh – thiếu hẳn vần và luật tắc dạng thức điển hình – vì thơ không vần có dạng thức luật tắc đặc biệt. Khi dịch “Aeneid”, thay vì theo đúng dactylic hexameter (18 âm tiết) trong nguyên tác, Surrey rút ngắn lại, dùng 10 âm tiết iambic, là dòng tự nhiên trong Anh ngữ mà hơn một thế kỷ trước, Chaucer đã dùng, nhưng nhịp điệu iambic của Chaucer đã không còn hợp tai nghe ở thời Surrey vì cách phát âm đã thay đổi.

Cũng vào khoảng thời gian này, ảnh hưởng lớn lao của William Shakespeare và John Milton lan khắp Âu châu, thơ không vần được các nhà thơ Đức tiếp nhận, thành công lớn với các nhà thơ như Johann W. Goethe, Friedrich Schiller (1759-1805), và cho tới thế kỷ 19, vẫn là thể thơ tiêu chuẩn của Đức, với nhà thơ Rainer Maria Rilke (1875-1926). Đan mạch tiếp nhận thơ không vần Ý, Anh và Đức, điển hình với sự ảnh hưởng của Goethe và Schiller. Thụy sĩ, Phần Lan, Norway, Nga với Alexander Pushkin. Riêng Pháp, những nhà thơ và phê bình ghi nhận kinh nghiệm qua những tác phẩm Ý, nhưng không thể tiếp nhận thể thơ này vì không phải là ngôn ngữ trọng âm. Tới thế kỷ thứ 19, thơ không vần trở thành mấu chốt cách mạng của phong trào Lãng mạn, William Wordsworth với “The Prelude” và Samuel Taylor Coleridge (1772-1834) với “Frost at Midnight” đều dùng thể thơ không vần nhưng nhịp điệu hùng hồn và tu từ nở rộ trong thơ John Milton được thay thế bởi phong cách cá nhân và thông tục.


Thơ Việt nhập cuộc

Trong mọi loại nghệ thuật, hình thức (hay thể thơ) và nội dung không thể phân chia. Theo Miles Mathis, thể thơ phục vụ nội dung, mà nội dung của thơ là cảm xúc. Như vậy, khi mang cảm xúc lãng mạn và ngôn ngữ tượng trưng (nội dung) ảnh hưởng từ thơ Pháp, áp dụng vào thơ, những nhà thơ thời Thơ Mới đã hóa giải luật lệ khắt khe của thơ Đường, chuyển những thể thơ 5 chữ, 7 chữ thành những thể thơ hoàn toàn Việt. Nhưng Thơ Mới không kéo dài lâu, vì ngôn ngữ tượng trưng tuy mới mẻ, nhưng đã thuộc vào thế kỷ 19, ở Pháp. Vả lại, khi thay đổi luật tắc thơ Đường, vẫn còn vần ở cuối dòng, theo cách chọn chữ, chọn lời, nên không thể thay đổi được nhạc tính và chuyển tải tư tưởng như thơ thể luật tiếng Anh, đáp ứng nhu cầu trí tuệ của thời đại. Bài thơ mở đầu Thơ Mới, theo dạng thơ tự do của nhà thơ Phan Khôi, Tình Già, có nhịp điệu văn xuôi. Nhưng chính thức, vào năm 1948, xuất hiện thơ tự do của nhà thơ Nguyễn Đình Thi, và ở giai đoạn này, thơ tự do, có lẽ, được tiếp nhận sơ khởi từ những nhà thơ siêu thực Pháp. Thơ tự do Việt khởi đầu cũng như thơ tự do Mỹ, dùng nhịp điệu văn xuôi, ngắt câu xuống dòng, chủ vào chủ đề và ngôn ngữ thông thường, thoát ra khỏi ngôn ngữ Thơ Mới. Chẳng bao lâu, đất nước phân chia, ở miền Bắc, cắt đứt với nguồn sách vở Pháp, những nhà thơ tiếp nhận thêm nguồn thơ tự do Nga, từ  Mayakovski. Mà thơ tự do Nga thì, ảnh hưởng trực tiếp từ bản dịch tập thơ Leaves of Grass của Whitman, và sau đó là thơ tự do Pháp và Đức. Thơ tự do ở Nga không phát triển, có lẽ vì lý do chính trị, và vẫn ở những giai đoạn đầu của thơ tự do phương Tây.

Tại miền Nam, tiếp tục nhận được nguồn sách vở từ Pháp, theo vào với chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh. Người mang thơ siêu thực vào Việt nam đậm nét nhất là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, khởi xướng thơ tự do, xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo trong khoảng thời gian, từ những năm 1956-1961. Thơ tự do, sau Thơ Mới, cực đoan hơn, phủ nhận toàn bộ các thể thơ vần điệu, chẳng khác nào thơ tự do Mỹ, phủ nhận toàn bộ thơ truyền thống tiếng Anh. Nếu thơ tiếng Anh, từ cuối thế kỷ 19, không ngừng biến chuyển về ngôn ngữ và thi pháp, thì thơ tiếng Pháp, từ tượng trưng, dada, siêu thực, chỉ có sự thay đổi về ngôn ngữ, chứ không thay đổi về thi pháp. Ba mươi năm sau, thập niên 1990s, xuất hiện những tập thơ “Bến lạ” của Đặng Đình Hưng, “Cổng Tỉnh” của Trần Dần, và “Bóng Chữ” của Lê Đạt. Những tập thơ  bị ếm lại suốt 30 năm, đã là một sự kỳ lạ, và nhà thơ Lê Đạt, trong đường hướng cách tân, tạo ra một loại thơ chữ, tự coi mình là phu chữ. Tập “Bóng Chữ” khi xuất hiện, không giống như những tập thơ của Đặng Đình Hưng hay Trần Dần, lập tức gây tranh cãi. Một số người ủng hộ, đọc tập thơ theo cách đọc cổ điển, suy diễn trên nghĩa chữ, còn những người chống đối coi đó là loại thơ ghép chữ. Loại thơ chữ này ảnh hưởng tới một số tác giả trẻ trong luồng, nhưng khác với loại thơ chú tâm tới chữ của phong trào thơ Ngôn ngữ Mỹ, thập niên 1980s – nhà thơ tạo ra lý thuyết để hướng dẫn người đọc, cách đọc. Nói cách khác, bài thơ vốn vô nghĩa, và ý nghĩa bài thơ nằm trong lý thuyết, hay tiến trình đi tìm ý nghĩa. Vậy thì, từ đâu đã dẫn tới loại thơ lý thuyết này? Tại  Pháp, vào thập niên 1960s, ra đời chủ nghĩa cấu trúc (phản ứng lại chủ nghĩa hiện sinh trước đó) và hậu cấu trúc, dựa vào ký hiệu ngữ của Ferdinand de Saussure, nhưng nếu Saussure và chủ nghĩa cấu trúc coi trọng văn nói thì hậu cấu trúc, ngược lại, coi văn viết quan trọng hơn văn nói. Ký hiệu (sign) chia làm 2 phần, hình ảnh (signifier), và ý tưởng (signified), như đã đề cập đến, chẳng khác nào, nước được hợp thành bởi hydro và oxy. Hệ thống ký hiệu, hay cú pháp văn phạm trong bản văn, giống như cuộc cờ, bao gồm những con cờ (chữ), xe, tướng, sĩ, khi ở tình trạng hiện tại, trong cùng thời gian  (synchronic), nó liên hệ tới những con cờ (chữ) khác nhau. Và khi chuyển động, ở tình trạng, qua thời gian (diachronic), nó làm thay đổi giá trị của cả bàn cờ.

Roland Barthes có một phân tích lý thú, hình ảnh (signifier) những bông hồng (roses) có ý nghĩa (signified) là sự nhiệt thành (passion), hợp thành ký hiệu (sign) là những bông hồng nhiệt thành (passionified roses). Nhưng khi “những bông hồng nhiệt thành” (passionified roses) chuyển thành hình ảnh (signifier) thì ý nghĩa của nó (signified) là ngày Valentine (valentine’s day), cấu tạo thành ký hiệu (sign) là sự tiêu thụ sản phẩm và tiêu dùng tiền bạc, như một nghĩa vụ lãng mạn. Hình ảnh (signifier) nguyên thủy (roses) trở thành trống rỗng, ý nghĩa bị cướp đoạt. Điều này cho thấy ý nghĩa không lúc nào ổn định, luôn luôn thay đổi, từ có nghĩa thành vô nghĩa, và ngược lại.

Quan điểm ngữ học của Saussure, dẫn tới chủ nghĩa cấu trúc, quan tâm tới phân tích hơn là nguyên nhân và hậu quả. Chủ nghĩa cấu trúc tùy thuộc cấu trúc, mà cấu trúc tùy thuộc vào trung tâm. Chủ nghĩa hậu cấu trúc, tiếp theo, hủy cấu trúc, hủy trung tâm … coi tất cả kiến thức – lịch sử, văn học, phân tâm … như những bản văn, không phải được cấu tạo bằng ý tưởng, mà bằng chữ. Nó bao gồm hành động viết như một kinh nghiệm, cố gắng xác định làm sao thực tại được đúc khuôn bởi ngôn ngữ, hủy cấu trúc và phần mảnh trong hành động của bài thơ. Chủ nghĩa cấu trúc, chữ có ý nghĩa rõ ràng trong bản văn, hủy cấu trúc phản ứng lại, cho rằng chữ không chỉ có một nghĩa, mà đa nghĩa và đối nghĩa. Và rằng, hủy cấu trúc tước đi ý nghĩa của bản văn, làm nó thành vô nghĩa, và nhà thơ phải tạo ra cách đọc, để tìm ra ý nghĩa ở bên dưới bản văn (subtext). Khi viết, chúng ta hoàn toàn vắng mặt, và người đọc chỉ biết người viết qua bản văn. Văn nói không hoàn toàn có mặt, nó phải chứa sự vắng mặt.

Bước vào thế kỷ mới, thế giới thu nhỏ như một ngôi làng, với internet và mạng xã hội, facebook, twitter, nói về thơ như đi lùi lại quá khứ, nhưng không thể không nói. Thơ hậu hiện đại Mỹ là một thuật ngữ ám chỉ thơ Mỹ thời hậu chiến, với những phong trào tiền phong, bắt đầu từ thập niên 1950s và chấm dứt vào thập niên 1980s, với thơ Ngôn ngữ, một phong trào mang tính học thuật. – (Từ khi kiến trúc được coi như khởi đầu chủ nghĩa hậu hiện đại vào đầu thập niên 1980s, thuật ngữ “hậu hiện đại” trở thành thời thượng, không còn giới hạn trong phạm vi văn học và triết học, mà xâm nhập vào mọi ngành nghề trong đời sống xã hội, cho đến khi mờ nhạt vào thập niên 1990s.) Thơ tự do Việt, sau thời mở cửa, vào cuối thập niên 1990s, tiếp nhận thuật ngữ này, tạo nên dòng thơ chủ đề (tương tự như phong trào thơ Beat Generation hoặc thơ Tự thú Mỹ), gợi ý từ những khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại, được coi như dòng thơ hậu hiện đại Việt. Đa số sáng tác theo dòng thơ này đều từ những nhà thơ ngoài luồng ở miền Nam. Tuy nhiên, thơ tự do hậu hiện đại cũng không khác thơ hiện đại, với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền thập niên 1960s, chỉ thay đổi chủ đề và ngôn ngữ, từ ngôn ngữ siêu thực khó hiểu, chủ đề tình yêu vô thức (với ý thức chính trị thời thượng ở thập niên 1960s), và bây giờ là hậu hiện đại – với ngôn ngữ trần trụi thông tục, và chủ đề tính dục chính trị, đôi khi gây sốc nơi người đọc. Và như thế, thơ tự do, với ảnh hưởng thơ Pháp, chỉ thay đổi ngôn ngữ và chủ đề, chứ không thay đổi cách làm thơ. Trở lại với ngôn ngữ, thơ tự do Mỹ và thơ thể luật Anh, đi theo hai con đường ngược chiều. Thơ tự do từ ngôn ngữ thông thường tới ngôn ngữ hàn lâm khó hiểu, còn thơ thể luật Anh, từ bỏ ngôn ngữ trừu tượng bóng bảy, mang nhịp điệu nói và văn xuôi vào thơ. Thơ Việt, với thơ cổ điển là ngôn ngữ điển tích, Thơ Mới là ngôn ngữ tượng trưng, thơ tự do là ngôn ngữ siêu thực, và với thơ tự do chủ đề là ngôn ngữ chính luận. Còn thơ Tân hình thức là ngôn ngữ đời thường.

Tới đây chúng ta để ý cái mốc thời gian, từ thập niên 1900s, ở phương Tây, xã hội tư bản kết hợp với sự đổi mới về công nghệ, mở ra giai đoạn văn minh hiện đại, với những phương tiện chuyên chở, hàng không, xe hơi, xây dựng, sản sinh ra xã hội kỹ nghệ – tương đương với văn học (thơ) hiện đại. Đến thập niên 1940s, sau thế chiến II, xã hội tiến tới xã hội hậu kỹ nghệ – tương đương với văn học (thơ) hậu hiện đại, và từ thập niên 1990s, là xã hội tiêu thụ với nền văn minh kỹ thuật số, chấm dứt văn học (thơ) hiện đại và hậu hiện đại, để bước tới tòan cầu hóa, cũng có nghĩa, mọi dòng thơ đều bình đẳng, và phát triển đồng đều. Điều này cho thấy, sự khác biệt giữa tiến trình thơ phương Tây và thơ Việt. Thơ phương Tây, đặc biệt là thơ Mỹ, chuyển động theo những thay đổi về xã hội, tạo ra những phong trào tiền phong và những bước phát triển thơ. Còn thơ Việt, xã hội chưa trải qua sự phát triển về công nghệ, cho tới cuối thập niên 1990s, vì vậy thơ không có tiến trình nào. Sự thay đổi của thơ Việt, từ Thơ Mới, thơ tự do thập niên 1960s do tác động từ văn hóa Pháp, và cuối cùng, thơ Tân hình thức và thơ hậu hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp văn hóa Anh Mỹ. Nhờ thế chúng ta bỏ qua được nhiểu giai đoạn thơ. Nhìn lại toàn cảnh thơ Mỹ, không còn những phong trào tiền phong, những nhà thơ tiếp tục sáng tác theo những gì những đã được khai phá, còn thơ thể luật (do phong trào Tân hình thức khởi xướng) tiếp tục sáng tác theo những gì đã được hoàn chỉnh. Tất cả, nếu có thêm sự thay đổi thì, hoặc quan tâm tới ngôn ngữ, hoặc chủ đề. Thơ Việt cũng vậy, riêng thơ Tân hình thức Việt sẽ tiếp tục tìm kiếm sáng tác, trên những gì mà lý thuyết của dòng thơ này đã đặt ra.

(Còn tiếp)

NGHĨ VỀ CÁCH LÀM THƠ (I)

NGHĨ VỀ CÁCH LÀM THƠ
(I)
____________________

Khế Iêm

 

Lời tựa: Bài viết tóm tắt những yếu tố và tiến trình tạo thành thơ Tân hình thức Việt, qua sự đối chiếu giữa các thang giá trị, thơ Việt và thơ Anh Mỹ. Vì vậy, tuy không thể tránh những từ chuyên môn về luật tắc thơ, nhưng chúng tôi cố gắng viết rõ ràng từng chi tiết, để người đọc dễ nắm bắt. Thơ Tân hình thức Việt đơn giản, dễ hiểu, nhờ sự tham khảo những nguồn thơ khó, điều này cũng tự nhiên, như Pop Art (bình dân) phản ứng lại hội họa Trừu tượng Biểu hiện (cao cấp). “Nghĩ về cách làm thơ”, cần đọc chậm rãi, trầm tư, và nhiều lần, nếu người đọc thật sự muốn tìm hiểu dòng thơ này.

Tác động văn hóa

Thơ từ xa xưa, những cuộc chiến tranh, kẻ chiến thắng thường mang theo dấu ấn văn hóa của họ, ảnh hưởng hay áp đặt trên các nước bại trận. Như Alexander Đại đế (356TCN – 323 TCN), sau khi thống nhất các thành bang Hy Lạp cổ đại, chinh phục Đế chế Ba tư, bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenicia, Gaza, Ai Cập, Bactria và Lưỡng Hà, mở rộng biên cương đế chế của ông xa đến Punjab thuộc Ấn Độ ngày nay, mang theo ngôn ngữ và văn hóa Hy lạp truyền bá từ miền Lưỡng Hà cho tới tận châu Á. Tương tự, tiếng La tinh đối với các nước Âu châu, tiếng Hán đối với Việt Nam. Trước kia, ông cha chúng ta dùng chữ Hán trong các công văn giấy tờ, trong thi cử và thơ văn. Sau này, luật thơ Đường được dùng làm luật thơ Việt. Tiếng Hán xâm nhập khá nhiều thành những tiếng Hán Việt. Tiếng La tinh cũng vậy, xâm nhập vào các ngôn ngữ khác, và sau đó, luật thơ cổ điển La Hy trở thành luật thơ của các nước khác. Nền văn minh La Hy và Trung Hoa là hai nền văn minh lớn thời đó.

Thơ Việt, qua một ngàn năm lệ thuộc Trung Hoa, tiếng Việt tiếp nhận chữ Hán và luật thơ Đường 5 chữ, 7 chữ để sáng tác và thi cử, vì cả hai cùng một ngữ tộc đơn âm. Người Pháp xâm chiếm Việt Nam (1861–1945), mang theo ngôn ngữ, tôn giáo, văn học, thơ, âm nhạc cũng như văn hóa, hệ thống giáo dục, pháp luật, cơ cấu chánh quyền áp đặt vào Việt Nam. Trường Đại học Hà nội thành lập vào năm 1902 trở thành trung tâm học tập của cả nước. Học sinh được giảng dạy cùng một chương trình về lịch sự và văn học, giống như các trường tại Pháp. Tuy nhiên, ngôn ngữ Pháp không được Việt hóa nhiều, và luật thơ cũng không xâm nhập vào được thơ Việt, vì sự khác biệt ngôn ngữ, đơn và đa âm. Tuy thế, những thế hệ trưởng thành trong nền văn hóa Pháp đã dùng ảnh hưởng thơ Pháp, phá bỏ luật thơ gò bó và khô cứng của thơ Đường, tạo nên thời kỳ Thơ Mới. Từ đó, ảnh hưởng văn hóa Pháp mạnh mẽ, lấn át văn hóa Trung Hoa, một phần nhờ tiếng Quốc ngữ, phần khác, do chính quyền thuộc địa ra sức đẩy mạnh việc đào tạo nhân viên phục vụ, mở trường, đưa du học sinh qua Pháp, nhập sách báo Pháp … Nền văn minh Trung Hoa bất động cả ngàn năm, trong lúc, từ thời kỳ Phục hưng (thế kỷ 14–17), văn minh phương Tây không ngừng thay đổi, kéo theo sự thay đổi văn hóa xã hội, các loại hình nghệ thuật, đặc biệt là thơ.

Thi pháp chỉ có thể thay đổi khi giao tiếp với một nền văn hóa khác, qua thời gian. Điều rõ ràng, thơ Việt, trừ ca dao lục bát, lớn mạnh và phát triển đều từ cái nôi văn hóa Trung Hoa và Pháp. Bây giờ, ở thời thông tin điện toán, văn hóa đại chúng Mỹ ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn cầu, nhưng với thơ, cần phải có sự cọ sát và học hỏi trực tiếp với nguồn thơ của họ. Thơ Việt chỉ có thể thay đổi, có bài bản, nếu chúng ta am hiểu tường tận tiến trình thơ từ nền văn hóa chúng ta tiếp cận, ở đây là thơ tiếng Anh. Thơ tiếng Anh ảnh hưởng đến hầu hết thơ của các nước khác, như Nga, Đức, và ngay cả Pháp với thơ tự do, có truyền thống học thuật lâu đời, bắt nguồn từ nền văn minh La Hy, phát triển đồng đều từ ngôn ngữ tới thi pháp suốt từ thế kỷ 16 tới nay.

Tiến trình thơ

Trước thập niên 1990s, chúng ta nhìn thế giới qua ảnh hưởng văn hóa Pháp, nhưng bây giờ, có thể nhìn được toàn cảnh nền văn minh phương Tây, từ thời kỳ Phục hưng Ý, cuộc cách mạng kỹ nghệ Anh, và những cá tính của từng dân tộc, tổng hợp những đặc điểm khác nhau, đóng góp nhiều mặt vào nền văn minh này. Ảnh hưởng trực tiếp từ văn minh La Hy, những đất nước và con người trên phần đất Âu châu, nghiêng về thế giới trừu tượng, còn nước Anh, tách lìa khỏi lục địa qua một eo biển, con người mang tính thực tiễn, tạo ra hai khía cạnh tương phản và bổ túc cho nhau. Anh Mỹ nghiêng về những phát minh công nghệ, còn Đức Pháp nghiêng về triết học. Từ hai hướng này, văn học nghệ thuật cũng có những phát triển khác nhau, Anh Mỹ thiên về thơ, vì ngôn ngữ thơ cụ thể, phát sinh từ đời sống và gắn bó với sự chuyển đổi của nền văn minh, còn các nước Âu châu như Đức, Pháp thiên về hội họa và âm nhạc, theo Jorie Graham.

Thơ tiếng Anh may mắn gắn kết với những phát minh công nghệ mới, khởi đầu là cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Anh từ thế kỷ 18, sau đó lan rộng qua những nước Âu châu, và đạt tới cao điểm tại Mỹ, vào thế kỷ 19, cùng hàng loạt những phát minh, cho tới cuối thế kỷ 20, với nền văn minh điện toán. Theo Christopher Caudwell, nhà thơ và phê bình Mác xít, trong tác phẩm viết về thơ, Illusion and Reality” (Ảo tưởng và Thực tại), 1937, cho rằng, “Pháp, sau cuộc cách mạng 1789, đối với các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật nói chung, trong giai đoạn ngắn có giá trị hơn; nhưng về thơ nói riêng, ở Anh – nơi diễn ra cuộc cách mạng kỹ nghệ, bản thân tự nó mở rộng và chi tiết hơn rất nhiều – là môi trường tốt hơn … Thực tế, nước Anh đã có ba thế kỷ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển chủ nghĩa tư bản, trong cùng thời kỳ, nó dẫn đầu thế giới trong việc phát triển thơ, không phải sự trùng hợp không liên quan nhưng là một phần chuyển động của lịch sử.” Không những thế, theo nhà thơ Mỹ, Jorie Graham, “tiếng Anh có khả năng hấp thu vô cùng tận đủ mọi ngôn ngữ từ các quốc gia khác, và là một ngôn ngữ phong phú lạ thường nếu dùng để làm thơ.”  Vào năm 2012, nhà phê bình Miles Mathis, trong “The Future of Poetry”, cho rằng thể thơ, từ nguyên thủy, có mục đích tạo nhạc tính, tương tự như âm nhạc. Nhưng trong lúc âm nhạc tiến hóa, kết hợp phức tạp những nhịp đập (beat) thì thơ thể luật tiếng Anh, tiếp nhận từ Hy lạp vào thế kỷ 14 cho đến thời Victoria (1837–1901) đã khô cứng vì luật tắc không thay đổi. Còn thơ tự do không có phương tiện tạo nhạc tính, và không có cả cảm xúc, là cuộc cách mạng đã thất bại.” Từ nhận xét trên, thơ tiếng Anh rẽ làm hai ngả, thơ tự do phát triển ở Mỹ (đẩy thơ thể luật ra ngoài lề), còn ở Anh, thơ thể luật là chính, và tiếp tục chuyển đổi.

Thơ Mỹ: giã từ truyền thống

Cuối thế kỷ 19, thơ tiếng Anh chia làm hai dòng chủ lưu. Những người Thanh giáo bỏ trốn nước Anh, trên chuyến tàu Mayflower, đi tìm đất hứa (năm 1620), thành lập quốc gia mới, nay là nước Mỹ. Hậu duệ của họ, tiếp nối tinh thần phiêu lưu, mạo hiểm, khai phá thơ tự do (free verse), ly khai khỏi những giá trị thơ truyền thống. Tập thơ tự do đầu tiên, Lá Cỏ (Leaves of Grass) của nhà thơ Walt Whitman, ra mắt vào năm 1855, kết hợp giữa văn xuôi (ông có viết một cuốn tiểu thuyết tựa là “The Inebriate”, nhưng bỏ đi vì thiếu chất lượng) và cách viết theo cú pháp song song (parallelism) trong bản dịch kinh thánh thời King James. Ngôn ngữ trong kinh thánh là ngôn ngữ nói thông thường để truyền tải niềm tin và tư tưởng tôn giáo. Nhưng thơ tự do không phải Walt Withman là người đầu tiên viết. Bài thơ tự do đầu tiên là bài Jubilate Agno (Rejoyce in the Lamb) của nhà thơ Anh Christopher Smart (1722 –1771), một bài thơ về tôn giáo, viết khoảng giữa năm 1759 và 1763, tới năm 1939 mới được xuất bản.

Nhà thơ Mỹ, Carl Sandburg (1878 –1967) cho rằng, “thơ tự do đã khai sinh – từ khi những người nguyên thủy và tiền sử cất tiếng nói với ngữ điệu hoặc sắc thái, tạo ra (hoặc ý nghĩa của âm nhạc hoặc vô nghĩa của giai điệu), lưu giữ và lập lại những giá trị rõ ràng và nội tại của nó – trước cả thời đại  của sonnet, ballad, những thể thơ trong đó nhà văn phải ý thức một cách sắc sảo, ngay cả nhận thức một cách tinh tế, tổng cộng bao nhiêu âm tiết phải có trong mỗi dòng thơ.” Thơ tự do phủ nhận truyền thống, dựa vào nhịp điệu nói từ bản dịch kinh thánh King James, khi chuyển lên trang giấy biến thành nhịp điệu văn xuôi. Chúng ta thử so sánh, giữa một đoạn Kinh Thánh (Psalm 98) với thơ Walt Whitman (Song of Myself 6) và Allen Ginsberg (Howl), sử dụng cú pháp song song (parallelism), mỗi câu thơ chia làm hai, âm vang hoặc kéo dài ý tưởng diễn tả ở nửa câu đầu, qua nửa câu sau:

Song of Myself, 6

A child said What is the grass? fetching it to me with full hands;
How could I answer the child? I do not know what it is any more than he.
I guess it must be the flag of my disposition, out of hopeful green
stuff woven.
Or I guess it is the handkerchief of the Lord,
A scented gift and remembrancer designedly dropped.

Đứa trẻ nói Cỏ là gì? Đưa tới tôi đầy hai bàn tay;
Làm sao tôi có thể trả lời? Tôi cũng như đứa trẻ không biết nó là gì.
Tôi đoán phải là biểu tượng tính khí tôi, từ thứ đan dệt của
hy vọng tự nhiên.
Hoặc chiếc khăn tay của Chúa,
Mòn quà tỏa hương và kẻ nhắc nhớ đã bỏ vào chỗ dành sẵn.

 

Psalm 98

O sing the Lord a new song; for he hath done marvelous things:
his right hand, and his holy arm, hath gotten him victory
The Lord hath made known his salvation: his righteousness hath he
openly shown in the sight of heathen …
Make a joyful noise unto Lord, all the earth: make a loud noise,
and rejoice, and sing praise

O hát mừng Chúa bài ca mới; vì Chúa đã làm những điều kỳ diệu:
bàn tay phải, và cánh tay linh thiêng, đã dành chiến thắng
Chúa được biết đến từ sự cứu rỗi: sự công chính của Chúa phô trương
công khai trước tầm nhìn của kẻ ngoại đạo …
Cất tiếng mừng vui tới Chúa, mọi nơi trên mặt đất: lớn tiếng, hân hoan,
và hát ngợi ca Chúa

Howl

I saw the best minds of my generation destroyed by madness,
starving hysterical naked,
Dragging themselves through the negro streets at dawn looking for
angry fix,
Angelheaded hipsters burning for the ancient heavenly connection to
the starry dynamo in the machinery of night,
Who poverty and tatters and hollow-eyed and high sat up smoking in
the supernatural darkness of cold-water flats floating across the top
of cities contemplating jazz
Who bared their brains to Heaven under the El and saw
Mohammedan angels staggering on tenement  roofs illuminated.”

Tôi đã thấy những tâm hồn hoàn hảo nhất của thế hệ tôi bị tàn phá bởi
sự điên rồ, bị bỏ đói cuồng loạn trần trụi,
Tự lê bước qua những con đường đen tối lúc bình minh tìm kiếm giải
pháp giận dữ,
Những kẻ hippie với hào quang trên đầu đang cháy cho sự nối kết với
thiên đường cổ xưa hướng tới năng lượng ánh sao trong guồng máy
về đêm,
Ai nghèo đói và quần áo rách rưới và tâm hồn bải hoải và hút cần sa
trong bóng tối siêu nhiên nơi những căn chung cư lơ lửng trên đỉnh
đầu những phố thị thưởng ngoạn nhạc jazz
Ai mở đầu mình hướng tới Thiên đường trong chuyến xe điện và nhìn
những thiên thần hồi giáo lảo đảo trên mái nhà chung được thắp sáng.

Tuy nhiên, những nhà thơ hiện đại đầu tiên sau Whitman, như T. S. Eliot, Erza Pound … thay vì dùng ngữ pháp song song, họ dùng kỹ thuật lập lại chữ câu chữ để tạo nhịp điệu, điều họ gọi là một chuỗi nhạc tính, với mục đích thay thế nhịp điệu thơ thể luật. Nhưng tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm (polysyllable), nên sự lập lại một chuỗi những âm tiết, quá dài, và không đủ mạnh, so với sự lập lại chỉ một đơn vị âm tiết không nhấn, nhấn của thơ thể luật. Kết quả, những nhà thơ vào nửa thế kỷ 20, gần như không còn quan tâm tới nhịp điệu, hoặc cứ viết những câu văn xuôi, ngắt đoạn xuống dòng, dài ngắn khác nhau, hoặc với kỹ thuật phần mảnh, rải chữ, cắt chữ xuống dòng, một lần nữa biến nhịp điệu văn xuôi thành nhịp điệu hình ảnh, nhịp điệu ý tưởng, trên trang giấy. Bắt đầu với nhà thơ Charles Olson, vào năm 1950, xuất bản tiểu luận “Projective Vrese” (Thơ Xạ Ảnh), trong đó bài thơ là một hình thức mở, tuôn ra và mô phỏng tinh thần nhà thơ. Bài thơ xuất hiện trên trang giấy, trọn vẹn ý nghĩa, hình thức kéo dài và phản ảnh nội dung. Bài thơ trông giống như một đồ thị chỉ cách làm và đọc, chú tâm tới vài ý tưởng tự phát và ngay lập tức. Cấu trúc, cú pháp văn phạm và chiều dài của dòng thơ, quyết định nhịp điệu cá nhân, chỗ ngừng nghỉ, và hơi thở của nhà thơ. Ý tưởng không hề có trước, hoặc nhà thơ muốn nói gì, mà chỉ là “một ý tưởng lập tức và trực tiếp dẫn đến một ý tưởng xa hơn” (One perception must immediately and directly lead to a further perception), theo Olson. Nhà thơ dùng hành động viết để tìm ra bài thơ muốn nói gì, trong cách này, bài thơ có một chất lượng sống hữu cơ. Như thể sự viết, quyết định sự lớn lên, mở mang, sự đòi hỏi của chính nó, vì nhà thơ và người đọc. Quan điểm của Charles Olson, ảnh hưởng tới một số nhà thơ, hình thành phong trào Núi Đen (Black Mountain). Bài thơ sau đây của Gary Snyder là một điển hình.

Gary Snyder
Burning the Small Dead

Burning the small dead
branches
broke from beneath
thick spreading
whitebark pine.

                 a hundred summers
snowmelt     rock     and air

hiss in a twisted bough.

            sierra granite;
Mt. Ritter-
black rock twice as old.

Deneb, Altair

windy fire

Đốt những cành cây nhỏ chết

Đốt những cành cây nhỏ
chết
gẫy dưới
cội thông vỏ trắng
vươn dài rậm rạp.

         những mùa hè trăm năm
tuyết tan        đá         và không khí

xào xạc trong cành cây to cong.

            dốc đá granite
núi Mt. Ritter –
đá đen lâu đời hơn núi.

những vì sao Deneb, Altair

lửa lộng gió

Khoảng cách của dòngchữ cho ta tiếng lách tách, năng lượng im lặng, những âm thanh không đều và hình ảnh lửa cháy. Khoảng cách giữa 2 dòng “whitebark pine” và “a hundred summers” là thời gian ngừng nghỉ, để chúng ta trầm tư về thế giới đang viết, và nhìn ngắm những cành (branch) và cây thông (pine). “Những mủa hè trăm năm” (a hundred summers) cho ta ý nghĩa của sự thay đổi, hết mùa này qua mùa khác. Khoảng rộng giữa những chữ “snowmelt     rock     and air” làm liên tưởng tới sự tuần hoàn hệ sinh thái và môi trường: tuyết tan thấm vào rễ, đá nuôi dưỡng đất kết vào cây và không khí, tiến hành qua sự quang hợp tạo ra năng lượng. Lửa là tiến trình cuối cùng làm cho những yếu tố trên thành tro khoáng và đem chúng trở lại, bắt đầu cuộc tuần hoàn sinh thái mới. “Xào xạc trong cành cây to cong” (hiss in a twisted bough) đứng lưng chưng ở giữa, nhấn mạnh vào hình ảnh và ý tưởng bài thơ. Mount Ritter là ngọn núi cao nhất ở Sierra Nevada, California. Chòm sao “Tam giác mùa hè” (Summer Triangle) là chòm sao sáng nhất vào mùa hè, các mùa khác ít sáng hơn, gồm có sao Deneb, Altair (Ngưu lang) và Vega (Chức nữ) ở ba đỉnh tam giác. Thông vỏ trắng (whitebark) là loài thông sống ở vùng núi cao như Sierra Nevada. Núi đá, những vì sao, mùa hè, thông vỏ trắng, đều là những hình ảnh tráng lệ, gợi ý để chúng ta trầm tư về con người và thiên nhiên.  Khi viết, chúng ta không quan tâm tới dòng thơ hay hình thức bài thơ, mà chỉ chú tâm tới những chữ rơi xuống trang giấy, như chúng xuất hiện bên trong chúng ta. Chúng hiện thành chùm, hay rời ra, cứ giữ nguyên như thế. Cố gắng để bài thơ quyết định hướng đi, để những hình ảnh và ý tưởng dẫn chúng ta tới những hình ảnh và ý tưởng khác.

(Còn tiếp)

XÂU CHUỖI THƠ: CHUYỆN KỂ TRƯỚC CỔNG TRƯỜNG

Nguyễn Văn Vũ


CHUYỆN MỞ ĐẦU

cô muốn nở nụ cười
và nói lời yêu mến
với lũ trẻ đang xúm
xít như những chiếc nấm
sắp dài những dãy chồng
chất sắp dài từng lớp
chờ đợi nhưng thật lòng
cái vẻ mặt dàu dàu
xơ mướp đang dính vào
góc bàn cuối lớp làm
cô hụt hẫng thật lòng
cô ước gì nó không
có mặt trong buổi học
đầu năm này ước gì
nó không có thật trong
tập giấy quăn queo trên
tay này ôi thôi đọc
nó cuối cùng may ra
còn dễ thở từng tờ
từng tờ rồi cũng đến
tờ cuối cùng nó đây
nó đây qua từng năm
đứa trẻ hiền ngoan có
nụ cười tỏa nắng bạn
mến thầy yêu lớn lên
theo những tháng ngày sa
sút tháng ngày mẹ mất
cha biệt tăm phương xa
nỗi ám ảnh kéo dài
tuổi thơ sa sút nó
đây năm học mới dàu
dàu xơ mướp dính vào
góc bàn cuối lớp cô
lặng lẽ vài giây và
thêm vài giây tự trách
sao không đọc tập giấy
quăn queo này sớm hơn
một chút chỉ một chút
thôi để cô có thể kịp
nhận ra cái chồi non
tội nghiệp đang oằn mình
dưới lớp cỏ vàng úa
không đủ sức ngoi lên
tìm lại chút hơi ấm
đã lụi tàn và lúc
này đây cô biết chắc
cô có thể nói thật
lòng những lời yêu mến


MÓN QUÀ

những đứa trẻ phập phồng như
đàn chim dấu trong cánh những
món quà chất chồng niềm vui
xoáy xoay chiếc nơ buộc vào
niềm vui buộc vào những xoáy
xoay xanh vàng đỏ tím lặng
lẽ món quà trong lặng lẽ
chẳng dám đưa ra nó rụt
rè chẳng dám đưa ra chiếc
vòng cẩm thạch sứt sẹo và
chai nước hoa lửng lưng một
nửa cô kêu lên món quà
đẹp quá chiếc vòng đẹp quá
rồi dừng lại vài giây và
xức một chút nước hoa lên
cổ tay vài giây cô hỏi thầm có ai
không có ai nhìn thấu nỗi
xót xa trong lòng cô không
không không có ai ngoài nó
ngoài nó nấn ná bên cô
lóng ngóng hụt hơi cô ơi
cô ơi cô có mùi hương
giống mẹ em rồi bỏ chạy
bỏ cô ngồi lại một mình
khóc một mình thấm đẫm ý
nghĩa của món quà vô giá
về lòng tốt và sự cảm
thông món quà ấp ủ trong
lòng cô thành bài học thấm
đẫm tình người bài học dìu
dắt nó về với cuôc đời
thường với nụ cười tỏa nắng


DÒNG NHẬT KÝ

tôi đã đứng lên tháng ngày
đen tối thoát khỏi bủa vây tôi trái
tim nhỏ bé của đứa trẻ
mồ côi đứng lên từ trái tim bài
học về lòng tốt và sự
cảm thông không có bài học trong những
giáo trình mài mòn tuổi thơ
theo mùa chong chóng không báo
trước đổi chiều không cho lũ
trẻ kịp  nhận ra những trôi nhanh mùa
hoa trước cổng trường không cho
tôi kịp ghi chia lìa vào cảm xúc
trang nhật ký nhưng tôi biết
bao giờ quên không bao giờ quên bài
học dẫn dắt tôi đi vào
cuộc sống để cuộc sống vui vẻ trao
cho tôi món quà đẹp đẽ
hình bóng cô trong tôi hình bóng cô
trong buổi tiệc cưới của chàng
trai thấm đẫm nước mắt thành đạt đứng
bên tôi cô như người mẹ
thân yêu đứng bên đứa con trai bé
bỏng trong ngày cưới với chiếc
vòng cẩm thạch sứt sẹo trên cổ tay
với mùi không bao giờ phai
nước hoa của mẹ tôi nghẹn ngào rất
lâu cám ơn cô cám ơn
cô bài học lòng tốt và sự cảm
thông cô nước mắt em à
em mới là người dạy cô biết điều
đó và cô và tôi và
chúng tôi im lặng rất lâu cùng thấm
đẫm bài học làm nên một
cô giáo tuyệt vời và một chàng trai
thành đạt đứng bên nhau nhớ
về cái xơ mướp dính vào góc bàn

Tháng 7.2016

Artist Darren Reid: Rural scenes: A lone man with a backpack strolls down a country lane.