Trang chủ Blog Trang 31

TUYÊN NGÔN BIẾN CẢI THƠ

G.M. Palmer

Các nhà thơ thân mến,

Thơ đương đại đang bệnh. Nó đang giẫy chết trên giường viện dưỡng lão và chúng ta nên rời khỏi cái thây khó chịu của nó trước khi mùi hôi thối của hậu môn giả (colostomy) và thuốc xoa bóp bắp thịt khiến mình đần ra. Dù sao thì chúng ta cũng không có tên trong chúc thư.

Từ hình ảnh cái thây của nó tôi giả định một đường hướng mới cho thơ. Bởi vì từ thế kỷ vừa rồi chúng ta đã bị trói buộc trong một phương cách nghẹt thở của sáng tạo, sản xuất và đề bạt thơ. Thí dụ điển hình: Các nhà thơ nghệ thuật giả tạo (artsy) viết toàn là loại vất đi không hiểu được; những tạp chí nghệ thuật giả tạo với số xuất bản bé tí teo in thơ (Thơ có mức phát hành khoảng 30,000 – tại sao chúng ta lại muốn thơ mình trong đó? Không phải vì chúng ta cần độc giả), không ai đọc những xuất bản hay những bài thơ, và đường dây xuất bản, dựa trên sơ yếu lý lịch (curriculum vitae), chấp nhận việc làm của những nhà thơ nghệ thuật giả tạo, nơi họ dạy những người khác một cách không ấn tượng rằng thơ đọc được thì tai hại và phân của những nhà thơ đó là loại hoa hồng duy nhất đáng để ngửi.

Thay vào đó, tôi giả định, những cách giải quyết sau đây:

Để thay đổi cách làm, đọc, và nghĩ đến thơ. Điều này có nghĩa rằng thay đổi sản phẩm, phân phối và cách chấp nhận thơ đương đại. Tôi sẽ giải quyết từng vấn đề một.


  1. Sản phẩm

Để thay đổi sản phẩm, chúng ta cần phải quay về phía thơ kể truyện. Đây là một việc làm dễ dàng, vì gần như hầu hết thơ ngày nay đều là thơ trữ tình. Gần như không ai làm thơ hay xuất bản thơ kể truyện nữa. Riêng điều này có thể giải thích được trạng thái bên lề của thơ đương đại vì người ta yêu thích truyện kể. Họ cần có chúng. Họ trả cả tỉ đô la mỗi năm cho điện ảnh, cáp truyền hình, tiểu thuyết, và trò chơi điện toán chỉ để được kinh qua truyện kể. Nhưng họ lại không nhìn đến thơ. Tại sao? Thơ có thể kể truyện với một sức mạnh làm thay đổi sinh lý hóa học của độc giả hay làm người nghe vừa vặn theo với nhịp điệu của câu thơ. Không có thứ gì khác có thể làm được thế. Nhưng người ta không nghĩ đến thơ vì thơ không còn kể truyện nữa; nó thôi không còn làm việc giải trí; nó đã biến thành nghệ thuật vị nghệ thuật chết cho chính nó. Khi chúng ta làm ngơ với thơ kể truyện để chuộng thơ trữ tình, chúng ta đã tước đi lớp khán thính giả tự nhiên của thơ.

Một phần lý do là sự bất cân bằng ngày nay giữa thơ trữ tình và thơ kể truyện. Thơ trữ tình là thơ miêu tả đối tượng, cảm xúc, và những ý niệm trừu tượng. Thí dụ từ “Sonnet CXXX’ của Shakespeare cho đến “Ode on a Grecian Urn” của Keats, đến “Ash Wednesday” của Eliot, “Just Walking Around” của Ashbery. Thơ kể truyện là thơ kể một câu chuyện – từ “Annabel Lee” của Poe đến “The Death of the Ball Turret Gunner” của Jarrell, “The Colonel” của Forche đến “Odyssey” của Homer.

Theo truyền thống, thơ có sự quyến rũ lớn nhất và rộng rãi nhất khi có sự cân bằng giữa trữ tình và kể chuyện. Ngày nay không còn thứ cân bằng ấy nữa. Trên những trang các tạp chí thơ quan trọng, bạn sẽ thấy có nhiều chữ đẹp đẽ và gần như không có câu chuyện nào hết. Tháng qua tháng, tam cá nguyệt qua tam cá nguyệt, các nhà xuất bản đưa ra nhiều biến thiên khác nhau của cùng ý tưởng và tự hỏi tại sao con số phát hành vẫn kém. Độc giả được lôi kéo tới những câu chuyện bằng một cách mà những sự miêu tả và tự suy diễn không bao giờ sánh được. Sức mạnh của thơ kể truyện khiến họ đọc và dạy họ cách đọc thơ như thế nào đó để họ có thể tận hưởng cả hai, thơ kể truyện và trữ tình. Khi không có một lượng dồi dào của thơ kể truyện để lôi cuốn độc giả, sự quan tâm đến thơ sụt giảm.

Trong khi sự chú ý quá đáng vào thơ trữ tình không phải là vấn đề duy nhất của thơ đương đại, nó còn để cho các nhà thơ bỏ qua, không phải chỉ riêng có cấu trúc của kể truyện mà còn là bất cứ cấu trúc nào khác. Trong khi làm thơ kể truyện, chúng ta không nên rơi vào bẫy bố trí bởi bọn hiện đại và giăng ra bởi bọn thơ ngôn ngữ– rằng làm sao bài thơ nói về điều gì lại quan trọng hơn điều bài thơ nói ra. Chính lối chú ý vào hình thức và tính vô hình thức này được trả bằng cái giá nội dung, đã đẩy lùi độc giả đọc thơ. Chúng ta có thể tránh cái bẫy này bằng cách ủy thác thơ kể truyện của mình vào năm điểm:

Thơ của mình phải:

rõ ràng
theo thứ tự thời gian
dễ nhớ
bằng ngôn ngữ bình thường
đem chúng ta lại gần nhau.

Để cho thơ của mình rõ ràng, nó phải dò được ngay lần đọc đầu tiên. Điều này không có nghĩa là thơ của chúng ta không thể phức tạp. Đúng vậy, nó phải là như thế trừ khi chúng ta muốn là thứ nhà thơ không hồn nào đó. Nhưng sự phức tạp chỉ là một phần của toàn thể bức tranh. Nếu không có người  nào có thể hiểu được thơ của chúng ta mà không có cái nhẫn giải mã (decoder ring), chúng ta đã làm sai. Hầu hết độc giả đều không thích giải mã thơ – họ chỉ muốn một câu truyện hay. Nếu có một truyện hay, họ sẽ đọc. Nếu nó có thể bị lột và lột, phơi ra những lớp như hồng-nhiều-cánh-mỏng (multifoliate rose) của Eliot, thì chúng ta đã làm việc tốt.

Để cho thơ của mình có thứ tự thời gian, nó phải dính dáng tới những người đang làm việc và trang trải và sống và chết ngay bây giờ. Nó không nên dựa vào ám chỉ huyền thoại hay kinh nghiệm cá nhân mà củng cố nơi hiện tại. Những ma quái và thần thánh cá nhân có thể quan trọng và dính dáng tới bài thơ-đang-làm nhưng không có ý nghĩa thì không thể làm cho chúng dính líu tới độc giả.

Để cho thơ mình dễ nhớ, nó phải đẹp, cả trong âm thanh lẫn hình ảnh. Nếu chúng ta không làm thơ với một cái tai dành cho âm thanh ra sao khi đọc lớn, không phải là chúng ta làm thơ. Hơn nữa, nếu hòa âm, chữ đẹp đẽ của  mình không có ý nghĩa gì cả, chúng ta đang viết nhạc, không phải làm thơ. Thơ là sự sắp thành đường thẳng (syzygy: ngày mà mặt trời mặt trăng trái đất sắp gần như một đường thẳng tạo nên hiện tượng nhật thực hoặc nguyệt thực, gọi là ngày sóc vọng) của hình ảnh, âm thanh và thể thơ – cả ba phải cân bằng để có được một bài thơ. Chúng ta cũng phải phấn đấu để làm sao cho bài thơ vang trong tai độc giả của mình. Chúng ta nên tự hỏi mình và hỏi những độc giả đầu tiên “Câu nào trong bài thơ này dễ nhớ?” Rồi chúng nên làm việc với con chữ của mình cho đến khi những câu thơ dính chặt trong đầu độc giả như móc ngoặc trong một bài hát phổ thông.

Để bài thơ của mình vào ngôn ngữ bình thường, nó phải được viết theo cách chúng ta nói. Tại sao chúng ta lại tránh những tiêm nhiễm trong thơ? Tại sao chúng ta đi theo nghịch đảo cổ hủ hay ngôn ngữ văn chương trên giấy? Không có người nào nói như vậy cả – và vì thơ qua nhiều cách là một tuyệt mỹ của lời nói, chúng ta phải phản ánh và làm toàn mỹ mẫu mã ngôn từ. Thính giả nên nghe thơ của chúng ta và tự  nói “đây là cách tôi nói chuyện.”

Để thơ đem chúng ta lại gần với nhau, nó phải thăng hoa. Đây không phải nói rằng chúng ta không thể giải quyết được những chủ đề khó hay sâu sắc hay phiền muộn, hoàn toàn ngược lại. Điều mà thơ nên làm là trình bày những chủ đề khó khăn bằng cách nào đó mà hy vọng được đưa ra cho thế giới. Nên nhớ rằng “The Waste Land,” với tất cả những ảm đạm âm ỉ của nó, kết thúc bằng sự cầu  nguyện tất cả rồi sẽ tốt đẹp. Thơ không thể thăng hoa nếu nó chỉ biết tự ngắm nhìn cái rốn của mình (self-referential navel-gazing). Những bài thơ duy ngã, giả dối, và bí hiểm chỉ làm độc giả nhầm lẫn, lúng túng, và đẩy họ ra xa.

https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html
https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html

  1. Phân phối

In ấn không chết. Tuy nhiên, nó đã bị tẩy não. Năm ngoái có ít hơn ba triệu tập thơ đã bán được (blog  này được viết năm 2008 – chú thích của người dịch). Những nhà xuất bản dòng chính có lý khi bỏ qua nó. Hơn nữa, các nhà in nhỏ được trợ cấp hoàn toàn bởi các trường đại học, niên bổng chánh phủ, và/hoặc là các giải thi. Điều này có nghĩa, họ chịu ơn tổ chức và xuất bản những bài thơ huyền bí hàn lâm. Họ không để ý gì đến việc tiếp cận, công chúng, hay đề bạt những gì họ xuất bản vì sự sống còn của họ không tùy thuộc vào những điều này.

May mắn thay, chúng ta còn mạng toàn cầu, một phân đoạn độc hại của xuất bản đối với giới hàn lâm – nhưng chúng ta không cố gắng để được nhiệm kỳ (giáo sư đại học), chúng ta cố gẳng thay đổi thơ. Mạng toàn cầu mang lại cho chúng ta một cách phân phối thơ dễ hơn trong thể thức tự nhiên của nó – như phát thanh. Chúng ta có thể làm ra những video với bản viết kèm theo để đọc, kẹp bản mp3 đọc trong những trang mạng – gần như có nhiều cách vô tận trên mạng để mang thơ trở lại là thứ mà nó nên là – một thứ gì đó vừa nghe hay vừa có nghĩa hay.

Nếu bạn lo lắng rằng xuất bản trên mạng có nghĩa là chúng ta sẽ không được trả tiền cho thơ của mình hay có thể kiểm soát quyền sở hữu, thì bạn chỉ cần nhìn đến các trang homestarrunner.com, xkcd.com hay giantitp.com. Những nơi này hoàn toàn ủng hộ các nhà sáng tạo qua cách phân phối nội dung sáng tác. Người ta sẽ trả tiền cho nội dung hay. Giống như In Rainbows của Radiohead, phân phối nội dung không lấy tiền có nghĩa là càng có nhiều ngưởi biết đến tác phẩm của bạn. Nếu tác phẩm của bạn hay, họ sẽ tìm cách để thưởng công – mua áo t-shirts, bấm nút cho tiền biếu tặng qua Paypal, v.v… Bất cứ hình thức trả tiền không theo truyền thống nào cũng đều (nhiều) hơn tiền tác quyền trả bởi các nhà xuất bản thơ. Strong Verse có lẽ là một nhà xuất bản trên mạng duy nhất trả tác giả ($10 một bài) và tạp chí The New Yorker, nhà xuất bản thơ trả tác quyền thơ cao nhất, $150 cho mỗi bài thơ. Cho phép độc giả trả tiền trực tiếp tác phẩm của chúng ta sẽ, ngay cả khi ta chỉ có vài độc giả đếm được trên tay, dễ dàng vượt xa những món tiền trả trước. Nhưng đừng lo lắng về tiền bạc, hãy lo lắng về tác phẩm và độc giả của bạn.

Có năm chỗ phát hành lớn trên mạng cho thơ:

Emails – Điện thư
YouTube
Blogs – Tự Biên
Forums – Diễn Đàn
Websites – Trang mạng

Điện thư là cách giản dị và có hiệu năng để đem thơ của chúng ta đến với mọi người. Biết bao nhiêu chuyển đi-đến (forwards) ta nhận được trong một ngày? Mặc dù chúng ta không đọc hầu hết thư chuyển đến, điều gì xảy ra nếu một trong thư chuyển ấy là những câu mở đầu của bài “The Charge of the Light Brigade”? Chúng ta sẽ tiếp tục đọc? Chúng ta sẽ bỏ qua? Một bài thơ hay chắc chắn là hay hơn một chuyện về việc làm thế nào Barack Obama không nói lời tuyên thệ trung thành với tổ quốc (pledge) hay làm thế nào anh em họ của ai đó làm ra tiền bằng cách chuyển đi “cũng cái điện thư này!” Nếu chúng ta làm một bản liệt kê những người liên lạc với mình và gởi họ bài thơ, họ có thể giữ nó hay vất đi, nhưng mà chúng ta có thể làm vui bạn bè và thân quyến với những con chữ của mình. Chúng ta không nên ngăn chặn họ cái cơ hội yêu mến điều chúng ta nói ra.

YouTube rất quý giá cho thơ vì chúng ta có thể khai thác sức mạnh vô song của YouTube để phân phối thơ trong dạng thức nguyên thủy tinh hoa. Thị ảnh kèm theo có thể bất cứ gì – chúng ta đang đọc, một phông với chữ, một “video thơ” – không có vấn đề gì. Điều quan trọng là YouTube cho phép chúng ta mang những bài thơ lớn đến với tâm trí công chúng. Nếu người ta xem một người cha đang hát cho lũ trẻ theo nhịp điệu của “Canon in D” thì họ sẽ nghe một bài thơ viết hay, rung động – và chuyển đến bạn bè.

Chúng ta mỗi người nên có một blog-tự biên (tôi có hai). Chúng ta nên bình luận và để lên blogs của mình và chuyển đến người khác, đánh dấu trang mạng (digg – Social bookmarking websites) v.v… Chúng ta cũng nên tìm những blog thơ khác và bình luận, liên lạc với tác giả, và trình bày ý kiến của mình. Nếu chúng ta không liên lạc với thế giới những nhà thơ, chúng ta không thể  nào thay đổi được thơ – và nếu chúng ta không liên lạc với công chúng độc giả, chúng ta sẽ không bao giờ thuyết phục được họ rằng thơ đã đổi thay.

Chúng ta nên đề xướng thơ kể truyện gần gũi trên các diễn đàn thơ. Nhưng chúng ta phải cẩn thận trong một thế giới đầy chiến tranh khói lửa để không phải lâm trận hay tự vệ chống lại bọn thui chột ngu dốt. Chúng ta không thể để bị kẹt trong những bàn cãi vô ích – nếu rõ ràng rằng những người trong diễn đàn không để ý gì đến điều ta nói, đấy là lúc nên từ giã không buồn ngó lại.

“Trang mạng” bao hàm rất nhiều chỗ. Thể loại này có thể được chia ra thành những trang mạng liên kết (networking websites) – như myspace.com, meetup.org, và facebook.com; những trang mạng xuất bản (publishing websites) – bất cứ trang nào như strongverse.org cho đến nytimes.com; trang mạng chọn lọc (filterwebsites) như digg.comreddit.com; và trang mạng cá nhân.

Với trang mạng liên kết như myspace.com, chúng ta có thể tìm được những tác giả hay, cùng ý tưởng với mình và cho họ thấy rằng thế giới không hoàn toàn chống lại họ. Chúng ta cũng có thể phân phối thơ của mình tới bạn bè, đặc biệt với sự khuyến khích, chuyển đến bạn bè của họ. Nếu chúng ta có thể làm cho thơ lý thú giống như một bản thống kê, chúng ta đào trúng vàng rồi đấy.

Trang mạng xuất bản là một thể loại, hay hơn hết, là chia ra trang mới và trang đã thiết lập từ lâu. Chúng ta nên tự làm ra trang mạng xuất bản của  mình để kiểm soát trực tiếp phần phân phối và đề xướng tác phẩm của mình. Những trang đã thiết lập từ lâu, như Strong VerseLoch Haven Review có thể đáp ứng với tác phẩm và phê bình. Những trang truyền thông lớn như nytimes.comNational Review Online sẽ lưu ý đến bất cứ nội dung nào mang lại người sử dụng mới đến cho người đăng quảng cáo trên mạng của họ.

Digg.com, reddit.com, và del.icio.us là những trang mạng cho phép người sử dụng phổ biến nội dung bằng cách chia sẻ và bình chọn những trạm thú vị. Những trang mạng chọn lọc này là dụng cụ rất tốt trong việc quảng bá. Nếu bạn có một trang mạng cá nhân hay làm việc biên tập cho một trang mạng xuất bản, thêm vào nút nhấn trên trang mang cho diggreddit sẽ giúp tăng phần hiển thị cho bạn. Một cố gắng tập trung bởi ngay cả vài chục độc giả cũng liên kết được thơ của chúng ta trên những trang này – và đôi khi có người nào đó kích vào đường nối và tìm thấy một bài thơ đẹp, rõ ràng, kể chuyện, chúng ta sẽ có thêm một độc giả.

Dĩ nhiên, những trang mạng cá nhân, trang của bạn với tên của bạn – gmpalmer.com (không hẳn là tôi đã làm gì với trang của mình…). Những trang này nên có tiểu sử với đường nối và những bài thơ mà chúng ta đã xuất bản (chúng ta nên phân phối nội dung mới theo những đường lối kể trên). Những trang này thích hợp nhất để truyền bá thông tin và triết lý – kiểm soát được những gì chúng ta nói và tin tưởng trước khi người khác làm (mà chúng ta không kiểm soát được).


https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html
https://bureauofartsandculturelosangeles.blogspot.com/2016_04_01_archive.html
  1. Nhìn nhận

Một khi tác phẩm của chúng ta đã bắt đầu có chỗ đứng trong thế giới độc giả và tác giả, chúng ta có thể bắt đầu đưa vào kinh điển, đấy là, chính thức nhìn nhận thơ kể truyện rõ ràng. Đây sẽ là một tiến trình khó khăn, như một phần rất lớn của đặc tính Hiện Đại là giảm giá nền thơ kể truyện dễ gần mọi người.

Kinh điển hóa đạt được bằng hai cách khác nhau. Đầu tiên là bằng bản văn – bài phê bình, bài viết hàn lâm, v.v… Thứ hai là bằng vị trí – đăng trên học phẩm, dẫn đầu thực tập, v.v…

Việc kinh điển hóa bắt đẩu với những khen ngợi giản dị về tác phẩm của chúng ta và phân phối nó đến số lượng người đọc càng rộng càng tốt. Sau những bắt đầu này, chúng ta có thể viết và gợi ra những phê bình về tác phẩm của mình. Phê bình nên được xem qua bằng hai cách. Thứ nhất, chúng ta nên cố gắng phê bình tác phẩm lẫn nhau trên mạng và trên tạp chí in. Đây là một chiến thuật cốt lõi của tất cả mọi phong trào văn chương. Chúng ta cũng nên tìm cách để tác phẩm được phê bình bởi những nhà phê bình có tiếng. Điều này sẽ gia tăng cả hai, tính chính thống và hiện diện của tác phẩm. Sau phê bình sẽ là văn bản hàn lâm. Những bản văn này đi từ tiểu luận đại học không chính thức cho đến luận án, nghị luận, và những sách của lý thuyết phê bình. Mặc dù chúng ta không có kiểm soát nào hết ở điểm chót nêu trên, chúng ta có thể ảnh hưởng được bạn bè đang còn học hướng về mình kiếm tài liệu nghiên cứu.

Song song với những hình thức bản viết để đưa vào kinh điển này là việc liên hệ bao gồm trong hội nghị và thực tập, những vị trí trong các khoa giảng dạy đại học và hội đồng chọn lựa sách giáo khoa, và liên hệ bao gồm trong sách giáo khoa và hội đồng hình thành hợp tuyển. Ở đây, chúng ta có thể trực tiếp ảnh hưởng đến cả hai, tác già và độc giả qua một cách trực tiếp hơn. Kinh điển hóa là một mục đích rất xa, hẳn nhiên, nhưng bất cứ bước nào ta có thể bước – từ viết phê bình cho đến dạy những người khác để bước vào những hội đồng sách giáo khoa sẽ là vô giá.

Tôi biết, tất cả điều này sẽ là rất nhiều việc. Nhưng nếu bạn không hài lòng với những bài thơ vô hồn được tán tụng là mới mẻ – nếu bạn muốn làm việc để thơ còn dính dáng với hai trăm triệu người Hoa Kỳ đang đọc, gởi điện thư cho tôi, và hãy bắt đầu bàn luận với nhau xem cách nào để làm cho được việc này.


Điểm Thọ dịch | Nguyên tác: A Declaration on the Revision of Poetry.

Ghi chú: Nhà thơ G. M. Palmer hiện sống với vợ và con gái tại North Florida, Hoa kỳ. Bạn đọc có thể đọc những tác phẩm của ông tại www.gmpalmer.com.

Tranh bài: Nathan WALSH   PAINTING  GROUND ZERO   BUREAU Guest Artist SPRING LITERARY

SIÊU THỰC & PHƯƠNG ĐÔNG

Jean Clair

Nguyễn Đăng Thường dịch Trong cuốn “Du surréalisme considéré dans ses rapports au totalitarisme et aux tables tournantes“, Mille et une nuits. 2003.


Thế giới vào thời chủ nghĩa siêu thực
trong tạp san Variétés, số đặc biệt “Chủ nghĩa
siêu thực năm 1922″, Bruxelles, tháng sáu 1929.
trang 26-27.


Đôi Lời

Chủ nghĩa siêu thực sẽ không được đề cập ở đây in totumin partem. Chúng tôi không quan tâm đến những tác phẩm xuất phát từ chủ nghĩa siêu thực, những họa phẩm người ta có thể ngưỡng mộ trong nhà bảo tàng, những bài thơ, bài viết người ta có thể tìm đọc trong thư viện, mà chỉ thảo luận, vì khó truy cập và ít được quần chúng biết đến, về căn bản lý thuyết của một trào lưu tư tưởng cũng tự xưng là một phong trào chính trị. Cái mà chúng tôi muốn đề cập và tìm hiểu, sine ira et studio, không phải thẩm mỹ của chủ nghĩa siêu thực, mà địa vị khác thường của nó giữa những ý thức hệ đương thời. Những xích gần giữa nó với các chủ thuyết khác mà chúng tôi buộc phải làm trên bình diện đó có thể gây kinh ngạc.

Vụ án này không mới. Chúng tôi có ghi nơi đầu mỗi chương những trích dẫn của Carl Einstein ngược về tận những năm 30. Einstein là một trong các lý thuyết gia lớn về nghệ thuật của nửa phần đầu thế kỷ (1). Ấy là những luận thuyết về nghệ thuật tiền phong ở Paris, Braque, Picassso, Léger, Masson, mà ông đã có những trang viết thấu triệt. Từ năm 1913, tiểu luận Negerplastik của ông là cuốn sách lý luận đầu tiên về nghệ thuật châu Phi. Năm 1928, ông sang định cư tại Paris và, trong khoảng thời gian xa xứ này, cùng với Georges Bataille, Georges-Henri Rivière và Georges Wildenstein ông sáng lập tạp chí Documents. Ông là người đầu tiên đặt cái nhìn của nhà nhân chủng học lên các sản phẩm của nghệ thuật hiện đại, dẫn tới phê bình. Là người bênh vực những phong cách tiền vệ trong thập kỷ 20, nhưng ông đã xa lánh chúng trong thập kỷ 30 để dấn thân vào một cuộc phân tích triệt để các phong trào trí thức và nghệ thuật Tây Âu. Và chủ nghĩa siêu thực bị ông nhắm một cách gắt gao nhất. Ông sẽ định nghĩa, trong một luận văn mãnh liệt và châm biếm, viết năm 1935 và 1937, nhưng chỉ xuất bản năm 1973 ở Đức (2), cái mà ông cho là sự phản bội của giới trí thức. Tác phẩm này, có thể phạm thánh đối với ý niệm cứng nhắc của chúng ta ở Pháp về tính hiện đại, vẫn chưa được chuyển ngữ.

Tuy nhiên, dẫu có tình nguyện đứng dưới quyền lực của Carl Einstein, chúng ta cũng có thể sẽ không né tránh được sự phê phán. Sự sửa sai đã tăng. Sự mê muội cũng thế.

Gần một thế kỷ đã chia cách chúng ta với những bước đầu của chủ nghĩa siêu thực. Điều ấy đã đủ để chúng ta vươn tới sự bình tĩnh. Nếu xưa kia nó từng là mối đam mê thì hôm nay nó phải là đầu đề để nghiên cứu. Chúng tôi không mang chủ nghĩa siêu thực ra để xử kiện: chúng tôi đã gia tăng các câu hỏi, nhưng tránh việc trả lời dứt khoát. Cuộc vận hành rất đau đớn nhưng cuối cùng không được thỏa mãn bao nhiêu.

Tuy nhiên có thể bản tính của sự kích bác là vượt quá giới hạn, và ở chỗ này hay chỗ kia chúng tôi đã bị cuốn hút bỏi sự tha thiết đối với đề tài. Breton đã chẳng từng viết: “Một chân lý sẽ luôn luôn đáng chấp nhận hơn nếu được phát biểu bằng giọng điệu nhục mạ” hay sao? (3)


Chủ nghĩa Siêu thực và phương Đông

 Carl Einstein. Briefwechsel 1904–1940
Carl Einstein. Briefwechsel 1904–1940

Các nghệ sĩ trong thời điểm quanh 1910 thuộc về một thế hệ đã lớn lên trong ảo giác của một vòm trời tiến bộ. Cái thế hệ này đã nghĩ rằng nó có thể tạo dựng những thiên đường, như có phép mầu, bằng những công thức của trí tuệ […]. Mặt khác, họ cũng tưởng tượng rằng họ có thể bác bỏ những sự kiện bằng những họa phẩm. Đây chính là giới hạn của nghệ thuật.

Carl Einstein

Chúng ta cần nhìn lại tấm bản đồ thế giới kỳ dị do các đệ tử của André Breton ấn hành năm 1929 (4). Phương cách chiếu rọi không tuân theo thông số địa dư hay tình trạng kinh tế mà dựa trên văn hóa. Mỗi xứ được thể hiện tùy vào mức quan trọng của di sản dưới cái nhìn của chủ nghĩa siêu thực. Pháp đã teo lại thành một dấu chấm, và châu Âu, cứu vớt bởi chủ nghĩa lãng mạn và Freud, thấy diện tích của nó được giới hạn giữa Đức và Áo-Hung. Alaska và Labrador lớn rộng hơn Trung Quốc, và Nouvelle-Guinée to gấp ba lần Úc châu. Mối đam mê của các nhà thơ siêu thực dành cho các nền văn hóa “đầu tiên”, sự ngất ngây của họ đối với nghệ thuật châu Phi và nghệ thuật Ơxêani đã bừng lên ở đây, đối chọi tinh thần quốc gia hẹp hòi đang ngự trị bên Ý, nhân danh tính Italianità (tính Ý Đại Lợi), và bên Đức thì dưới dạng chủng tộc chính trị được thực thi nhân danh cái Volk (tính dân tộc) của Đức.

Tuy thế đã có hai “sửa sai” khá bất ngờ đáng được lưu ý: Hoa Kỳ không còn hiện hữu, bị chìm dưới một lằn ranh nối liền Mễ Tây Cơ với Gia Nã Đại. Và một nước bé nhỏ bỗng nhiên chiếm một không gian quá mênh mông, bao la hơn cả Ấn Độ: A Phú Hãn.

Ngẫu nhiên? Không. Chủ nghĩa siêu thực đã luôn luôn mong ước cái chết của một nước Mỹ duy vật và bất thụ dưới mắt họ, và nó vẫn mong muốn sự đắc thắng của một phương Đông là nơi tích lũy các giá trị tinh thần.

Giữa những năm 1924 và 1930, nhiều văn bản theo nhau ra đời nhấn mạnh sự tưởng tượng mang tính cách tận diệt đó. Aragon, năm 1925:

“Chúng tôi sẽ thắng lý đối với tất cả. Nhưng trước hết, chúng tôi sẽ hủy diệt nền văn minh yêu dấu này của các bạn, nơi mà các bạn đang bị đúc khuôn như súc vật hóa thạch trong nham phiến. Thế giới phương Tây ơi, mi tới số rồi. Chúng tôi là bọn chủ bại của châu Âu … Hỡi phương Đông, hỡi mối khủng khiếp của chúng tôi, hãy mau đáp lời gọi. Chúng tôi sẽ đánh thức mọi nơi những mầm mống hỗn loạn và bất an. Mọi hàng rào ngăn chặn đều tốt đẹp, mọi chướng ngại vật đối với hạnh phúc các bạn đều bị nguyền rủa …” (5)

Cũng không thiếu chiều kích tiên tri khi tổng kết:

“Và bọn buôn lậu ma túy hãy ùa vào các xứ sở trong khiếp sợ của chúng tôi. Và nước Mỹ nơi xa hãy mau sụp đổ dưới những tòa cao ốc …” (6)

Ngày 11 tháng 9, 2001, giấc mơ của Aragon đã bỏ siêu thực để trở thành thực tế. Các tòa “bin đinh trắng” của Twin Towers sụp đổ trong biển lửa khi phương Tây ngơ ngác phát hiện trên tấm bản đồ thế giới một đất nước gần như bị lãng quên: A Phú Hãn.

Sự cực đoan của các nhà thơ siêu thực đã không chỉ là ngôn từ. Nếu hành vi siêu thực giản dị nhất là ra đường rút súng bắn vào người khách qua đường đầu tiên, thì ấy là mang án mạng đặt trong tầm tay của kẻ tới trước, như chủ nghĩa siêu thực nằm trong tầm với của mọi kẻ vô ý thức. Ngay từ năm 1925 cũng đã có sự nhờ vả các “chiếc búa vật liệu” (marteaux matériels) để đập phá những chướng ngại vật đè nén tâm trí. Bạo lực tương tự, nếu được chính trị ủng hộ, sẽ thừa cơ để tấn công một tây Phương bị nguyền rủa. Chính anh chàng Robert Desnos dễ thương đã nhìn châu Á như là “thành trì của mọi hy vọng”, đã vẫy gọi thỉnh cầu bọn dã man, những kẻ duy nhất còn có thể nối gót các “siêu thiên thần của Attila” (7). Sát cánh với những người cộng sản, các nhà thơ siêu thực đã tố cáo “giai cấp tư sản đế quốc háo chiến” của phương Tây, tố cáo “những giáo điều ngột ngạt về Nhà Nước và Tổ Quốc”. Cuộc đương đầu sẽ kết thúc với sự đắc thắng vẻ vang của phương Đông được các nhà thơ siêu thực coi như là “cái kho lớn tồn trữ sức mạnh hoang dã”, như đất nước vĩnh hằng của những kẻ tàn phá lớn, những kẻ thù muôn đời của nghệ thuật và văn hóa là “những trò lố lăng cỏn con của bọn người ở phương Tây”. Thư cho các trường Bụt do Antonin Artaud viết, cũng là lời kêu gọi cuồng điên về một “chủ nghĩa thần bí kiểu mới” có thể cứu vãn phương Tây ra khỏi mối hiểm nguy của chủ nghĩa duy vật: “Châu Âu duy luận lý học không ngớt nghiền nát trí tuệ […]. Như các bạn, chúng tôi đẩy lùi sự tiến bộ: các bạn hãy đến, hãy giật sập cửa nhà chúng tôi .” Và vẫn thế, trong một văn bản tập thể do cả nhóm đồng ký tên: “Ấy là sự chúng tôi vất bỏ mọi qui luật được chấp thuận, ấy là sự mong đợi những lực lượng mới, những sức mạnh ngầm, có thể làm rung chuyển Lịch Sử, khiến chúng tôi quay nhìn về châu Á … Đã đến lúc người Mông Cổ tới dựng lều nơi công trường của chúng ta”, vân … vân. (8)

Nhà phê bình Hannah Arendt đã viết từ năm 1949:

“Trước khi một trí thức nazi tuyên bố, Khi nghe nói đến từ văn hóa, tôi lập tức rút súng ra, các nhà thơ cũng phát biểu sự ghê tởm của họ đối với cái văn hóa bẩn thỉu và họ đã làm thơ mời mọc Hỡi hết thảy bọn người dã man, người Scythe, người Da Đen, người Ấn Độ, hãy cùng nhau tới chà đạp nó. “

Và bà viết thêm:

“Người ta có thể an tâm coi sự bất mãn dữ dội đối với thời tiền chiến và những cố gắng phục hưng sau đó […] như một “cơn hư vô chủ nghĩa”. Nhưng làm vậy là quên rằng sự ghê tởm đó có thể được biện minh trong một xã hội đã đặc sệt ý thức hệ và luân lý tư sản […] Sự phá phách thẳng tay, sự hỗn mang và điêu tàn tự chúng thôi cũng có thể đảm nhận phẩm cách những giá trị tối cao.”

Thật ra, mối đam mê mà các nhà thơ siêu thực dành riêng cho phương Đông và nâng lên hàng hủy diệt cuồng điên, nhất là với Artaud, chỉ là sự tiếp tục một cách đương nhiên, giữa thập kỷ 20, làn sóng đông Phương của Thông thiên học (théosophie) xuất hiện 15 năm trước. Một phụ nữ gốc Nga, bà Helena Blavatski, sáng lập phong trào này năm 1875. Thế nhưng địa vị bà dành riêng cho Phật giáo, theo thời gian, đã biến thành một thái độ đấu tranh mãnh liệt chống đối phương Tây. Trong thập kỷ đầu, tựa vào các tôn giáo phương Đông, Thông thiên học đã trở thành, nhất là dưới ảnh hưởng Annie Besant và de Leadbeater, một màn vũ khí đấu tranh để “kháng cự lại sự tuyên truyền gây hấn của giáo hội Tây phương”, đặc biệt là của Thiên chúa giáo. Đằng sau cái “hiền triết” (sagesse) mà họ tuyên bố phục vụ, đã có ngụ ý chinh phục phương Tây trên bình diện tinh thần lẫn chính trị, nơi các đệ tử của Blavatski.

Nhân danh một “thuyết thần bí kiểu mới”, ấy là sự cương quyết tấn công tinh thần lô-gích, lý lẽ, Khai Sáng, cùng với sự thanh tóan di sản tinh thần của Do thái giáo và Thiên chúa giáo, cũng là tiêu chí để chống phá mà Hitler và Staline đã thao túng kịch liệt. Và những kẻ kế thừa cuối cùng của Thông thiên học cuối-thế-kỷ hướng về phương Đông là các nhà thơ siêu thực trẻ tuổi dấn thân trong thập kỷ 20.

Thúc giục giết người là điểm hội tụ của các phong trào tiền vệ. Marinetti là khuôn mẫu tu từ đã gợi hứng cho Mussolini, và chủ nghĩa vị lai (Futurisme) khi sử dụng khéo léo các dụng cụ tuyên truyền đại chúng, như điện ảnh, dàn dựng, lễ nghi, biểu tình trên đường phố, đã cung cấp những chìa khóa cho sự thẩm mỹ hóa chính trị, như Walter Benjamin đã phân tích, khiến đám đông bị thôi miên, mà chủ nghĩa phát xít về sau đã biết triển khai. Trotski, rất tinh đời, trong cuốn Văn chương và Cách mạng, là người đầu tiên đã nhận thức, trong năm 1924, rằng chủ nghĩa vị lai được dân chúng Ý hâm mộ, đã dọn đường cho chủ nghĩa phát xít.

Bên kia sông, người ta cũng bắt đầu nhận thấy, dù với tiếc nuối, rằng những người đại diện cho phái tiền vệ Xô Viết, những kẻ mà người ta, theo một thứ novlange (ngôn ngữ mới) kiểu Orwell, đã gọi họ là nhóm “Kom-Fut”, hay Futuristes-Communistes, gồm nhà văn và nhà thơ, trong những năm ngay sau nội chiến, đã mở một cuộc vận động chống lại tất cả các thứ đã cũ, đã lỗi thời và tư sản. Người nổi danh nhất bọn, nhà thơ Maiakovski, trong bài thơ “150 000 000” của ông, viết năm 1919-1920, đúng lúc Breton cho ra đời chủ nghĩa siêu thực, đã ngợi ca sự trả thù bằng “lưỡi lê (của) súng browning và (của) bom” của các đám quần chúng đang chuyển mình:

Marc Chagall, Homage to Maiakovski, 1963 - Vintage Lithograph poster
Marc Chagall, Homage to Maiakovski, 1963 – Vintage Lithograph poster

Hãy quên
bọn thi sĩ
tận tụy nhìn bầu trời để tỉ tê
Mi lão rồi ư? Xử tử!
Và sọ người làm gạt tàn
Khi tuổi già đã được sự cuồng điên
quét tan
chúng ta sẽ hát ca cho thế giới
một huyền thoại mới

Malévitch, nhà sáng lập chủ nghĩa Suprématisme, cũng sẽ viết:

“Triết lý của tôi: cứ mỗi 50 năm là ta phải hủy diệt thành phố cũ và làng mạc cũ, bài trừ việc giới hạn nghệ thuật, gạt bỏ tình yêu và sự chân thành trong nghệ thuật. Tuy thế, ta không nên vin vào bất cứ trường hợp nào để làm khô cạn cái nguồn sống của con người là chiến tranh” (9).

Những lời lẽ cuồng nộ ấy, xướng bởi các nhà thơ và các nhà họa sĩ, cũng đã chuẩn bị các não trạng để chúng chấp nhận những cuộc tàn sát tập thể sắp tới của Tchéka và l’OGPU (10).

Hannah Arendt, từ năm 1949, vậy là chỉ sau chiến tranh một đỗi rất ngắn, đã phân tích hiện tượng trên như khi nó xuất hiện từ năm 1914: “Đã lộ diện rất sớm sự kiện rất đặc biệt là những kẻ có học thức cao thường hay bị lôi cuốn bởi những phong trào quần chúng, và, đại loại, một chủ nghĩa cá nhân tinh xảo không thể ngăn cản, mà đôi khi thực ra lại khiến cho sự quên mình để hòa nhập vào quần chúng càng thêm dễ. Sự kiện hiển nhiên này quá bất ngờ khiến người ta đã qui trách nhiệm cho đặc tính bệnh hoạn hay tâm trạng hư vô chủ nghĩa của giới trí thức hiện đại, một loại “tự khổ hình” (masochisme) tiêu biểu của các nhà trí thức, hoặc hơn nữa, sự đối nghịch giữa tinh thần và đà sống, mối “hiềm thù của tinh thần đối với cuộc đời”. Tuy nhiên, các thức giả bị nhiều tai tiếng kia chỉ là thí dụ dễ trông thấy nhất và là phát ngôn viên minh bạch nhất của một hiện tượng tổng quát. Sự nguyên tử hòa (atomisation) xã hội và chủ nghĩa cá nhân tột cùng thường đi trước những phong trào đại chúng, những phong trào này lôi cuốn những kẻ hoàn toàn vô tổ chức. Những kẻ tôn thờ chủ nghĩa cá nhân trọn vẹn đã luôn luôn chối từ việc chấp nhận những ràng buộc và những trách vụ đối với xã hội …”

Hãy giở lại các trang viết siêu thực: giọng điệu rác rưởi cùng những lời chửi bới (“thơ tục”, “bồi”, “chó má”, “đồ thối tha”, “trí thức cứt”, “da tanh”) dành cho kẻ thù, bọn phản nghịch, lũ bội giáo là các nhà văn “tiểu tư sản”, như đã tìm thấy trong Luận về bút pháp của Aragon, hay trong các tờ thư ngỏ. Chúng chẳng khác những chữ tìm thấy trong các mồi hỏa của những liên minh phát xít là bao, hay ở mép bên kia của quang phổ chính trị, mà người ta sẽ thấy ném về phía bọn “chó dại” trong các cuộc xử án ở Mác-cơ-va. Chúng là chữ ký của một thời kỳ.

Những người trẻ tuổi này, vừa may mắn thoát khỏi những cuộc tàn sát trong năm 1914, hẳn phải được “một quyền điêu tàn” (“un droit à la ruine”). Chí ít thì đó là những gì mà André Gide đã vui vẻ viết gởi cho họ: “Làng mạc, giáo đường đã không được dung tha thì cớ chi Ngôn ngữ lại được dung thứ”? (11)

Thế nhưng ở đây không phải cái tính “khả tổn thương” (vulnéré) của ngôn ngữ – văn phạm bị làm trật khớp của phái Zaoum vị lai và những chữ “thả lỏng” của các nhà thơ Nga và nhóm Dada – mà chính cái tính “gây thương tích” (vulnérant) của ngôn ngữ, của câu văn sát hại, của cái chữ sát sinh. Lời lẽ cực đoan và biệt tài mạ lị này, mà Gide sẽ là một trong những nạn nhân đầu tiên, năm 1928, qua vài trang viết cộc cằn và cuồng nộ trong Luận về bút pháp của Aragon, chúng có thể tự bào chữa cho vài sự quá mức chăng?

Điều bất ngờ hơn là khi người ta bắt gặp đó đây sự kỳ thị Do Thái ngấm ngầm nơi các nhà cách mạng trẻ ấỵ Ta phải nghĩ thế nào, về những lời lẽ sau đây, trong Thư cho các trường Bụt đăng trong Tuyên ngôn số 3 của Cách mạng Siêu thực, được rỉ tai là do Artaud viết, những lời lẽ công kích chung chung không phân biệt rõ ràng:

“[…] của ta bọn ký lục còn viết lách thêm một thời gian nữa, bọn ký giả còn tán gẫu, bọn phê bình gia còn lắp bắp, bọn Do Thái còn nhảy vào các khuôn thức bóc lột, bọn chính trị chính em còn khoa môi múa mép và bọn thẩm phán sát nhân còn che đậy các tội đại ác của chúng […]. Hãy đến. Hãy cứu chúng tôi ra khỏi lũ ấu trùng này…”? (12)

Có thể đấy chỉ là bút pháp của một thời kỳ, là loại văn hùng biện cực đoan mà người ta đã thấy gần như khắp nơi, từ những liên minh phát xít tới những nhóm người chủ trương vô chính phủ. Dù sao đi nữa thì lời kêu gọi giết người không che đậy, sự say sưa triệt hạ, sự trái lý lẽ và lãng mạn đen được xiễn dương, sự say mê những cuồng nhiệt ban sơ của những chủng tộc còn “tinh khiết” ở phương Đông, sự nương vào những huyền thoại mơ hồ và khát máu, những cơn mê kỳ thị Do Thái của Artaud, như người ta đã tìm thấy trong các tuyên ngôn, diễn từ, tuyên cáo, xỉ vả và truyền đơn siêu thực chẳng mấy khác biệt nhau. Nếu ta chịu khó và bình tĩnh đọc kỹ lại hết thì chúng đều là những lời lẽ hung hãn sử dụng bởi những kẻ thích xúi giục giết người của một thời điểm.

Người ta có thể bảo đó chỉ là những lời bồng bột, vô hại của các chính trị gia còn non tuổi đời. Họ đều đã biết sự ghê rợn của chiến trường, và họ lại sắp phải chứng kiến cuộc chiến tranh Rip và cuộc đảo chính của Franco. Có thể là họ được trọn quyền phát biểu không kiềm chế nỗi tuyệt vọng và sự cuồng nộ của họ, có thể lắm: “Giới trí thức ưu tú, Hannah Arendt viết, không coi sự hủy diệt văn minh là một cái giá quá đắt phải trả cho niềm hân hoan được thấy sự hội nhập bằng vũ lực bởi những kẻ đã bị hất ra ngoài một cách quá bất công trong quá khứ”.

Nếu nghĩ vậy thì ta quên rằng André Breton đã quyết tâm kết nạp Cộng Đảng vào tháng Giêng năm 1927 khi một số đông trí thức, sáng suốt hơn, đã bắt đầu rút lui. Cuối năm 1923, Boris Souvarine, trong tập Kỷ yếu Cộng sản đã tường trình về lập trường của Trotski, người đang tố cáo chế độ thư lại ngày càng gia tăng của Liên Xô. Tháng Hai 1924, Trotski đã nhiệt liệt cảnh cáo chế độ tập quyền và kỷ cương hà khắc của Đảng cộng sản (13). Ngoài Souvarine ra, còn có một cuộc chống Đảng được tổ chức quanh các nhà xã hội và các nhà duy Nga là Mayoux, Monatte, Pierre Pascal, Brice Parain, mặc dù rất gắn bó với nước Nga và xã hội chủ nghĩa, họ vẫn không bị lừa bởi tính cách đặc thù của chế độ mới. Thế mà đúng vào lúc giai cấp tiểu nông bị giải tán gây nạn đói lên tới hàng triệu người, lại chính là cái lúc mà các nhà thơ siêu thực quyết định dâng hiến Đảng cộng sản Nga sự “phục vụ” của họ, khi việc cộng sản hóa đang bước vào con đường sẽ đưa đến những cuộc thảm sát và thanh trừng.

Thực ra sự liên lụy của nhóm trí thức sành sỏi này có thể được giải thích bởi ước vọng mang tính đối chọi của Breton. Ước vọng mình vừa là nhà thơ lớn của thời đại vừa là kẻ ngự trị trên nền Cộng hòa Văn chương bằng quyền năng của trí tuệ. Nó có thể trở thành sự thực nếu Breton và đệ tử của ông được Đảng cộng sản công nhận là người đại diện độc nhất cho văn chương cách mạng.

“Ở thời điểm đó không ai có thể ngờ rằng nạn nhân thực sự của sự trớ trêu này không phải là giai cấp tư sản mà là giới trí thức ưu tú.”


Ghi chú

  1. Carl Einstein (1885-1940), nhà văn, nhà thơ và nhà viết sử nghệ thuật gốc Berlin, bạn thân của nhà buôn bán tranh Daniel-Henri Kahnweiler vì họ chia sẻ mối đam mê chung là hội họa lập thể. Như Walter Benjamin người bạn đồng hương của ông, ông đã quyên sinh vào ngày 5 tháng Bảy 1940, để tránh trước lính Gestapo .
  2. Die Fabrikation der Fiktionen, Carl Einstein, Sibylle Penkert biên tập, Rohwolt, Reinbeck bei Hamburg, 1973.
  3. Buổi diễn thuyết tại Ateneo ở Barcelone, 17 tháng 11, 1922.
  4. Trong tạp chí Variétés, Bruxelles.
  5. Từ một bài diễn văn của Louis Aragon đọc tại một ký túc xá sinh viên ở Madrid ngày 18 tháng Tư 1925, do Maurice Nadeau trích dẫn trong cuốn Histoire du surréalisme, Paris, Le Seuil 1945, tr. 115.
  6. La Révolution surréaliste (Cách mạng siêu thực), số 4.
  7. Trong “Mô tả một cuộc cách mạng sắp tới”.
  8. La Révolution surréaliste, số 5.
  9. Trích dẫn từ cuốn Malévitch, Ecrits, Andrée Robel-Chicourel chuyễn ngữ, nxb Champ Libre, Paris 1975, tr. 171.
  10. Tchéka và OGPU là tiền thân của KGB.
  11. Do Francois Nourrissier trích dẫn trong cuốn Un Siècle NRF (Một thế kỷ NRF), Gallimard, Paris 2000, tr. 113.
  12. “Lettre aux écoles du Bouđha” (Thư cho các trường Bu .t) trong La Révolution surréaliste, số 3.
  13. Léon Trotski (hay Leon Trotsky viết theo tiếng Anh, gốc Do Thái, sinh ngày 26 tháng Mười 1879 tại miền Nam Ukraine, bị ám sát năm 1940 ở Mexico, tên thật Lev Davidovich Bronstein). Tuy chống Staline, nhưng Trotski cũng là một tên khát máu chẳng thua. Trong cuộc nội chiến Nga (1919-1922), Trotski đã ra lệnh cho Hồng Quân tàn sát (vợ con họ bị bắt làm con tin để làm áp lực cho họ tuân lệnh) ít nhất là 20.000 lính thủy (lúc đầu ủng hộ cuộc cách mạng vơ sản) tại căn cứ hải quân Kronstadt khi họ biểu tình đòi hỏi một chính quyền dân chủ. Năm 1938 Breton có gặp Trotski tại nhà của cặp vợ chồng họa sĩ Rivera Diego – Frida Kahlo ở Mexicọ

Độc giả tiếng Pháp có thể đọc thêm Le terrorisme intellectuel de 1945 à nos jours (Trí thức khủng bố từ năm 1945 đến nay) Jean Sévillia, Éditions Perrin 2000; Les maitres censeurs (Các bậc thầy kiểm duyệt) Élizabeth Lévy, nxb Jean-Claude Lattès 2002; La grande parade (Cuộc diễn hành lớn [của phái tả]), Jean-Francois Revel, Plon 2000; L’obsession anti-américaine (Nỗi ám ảnh chống Mỹ) Jean-Francois Revel, Plon 2002; L’enneni américain (Mỹ keỵ thù của chúng ta) Philippe Roger, Éditions du Seuil 2002, v.v…


Tựa đề bản dịch này là của người dịch, các tiểu đề thì do chính tác giả. “Đôi lời” là phần dẫn nhập cho cuốn tiểu luận (tr. 7-9), “Chủ nghĩa Siêu thực và phương Đông” (tr. 117-128) trích từ chương 5 có cái tựa đề chung là “Thẩm phán và Nạn Nhân” (tr.111-140).


Tranh bài: Roswitha Klotz, Einsam – Lonely, Poetry, Emotions: Depression, Post-Surrealism

<

p style=”text-align: justify;”>

THƠ HỒ ĐĂNG THANH NGỌC 1

Ly cà phê đu dây (Bửu Chỉ)
Ly cà phê đu dây (Bửu Chỉ)

BÀI THƠ CỦA MỘT NHÀ THƠ


hôm qua nhà thơ làm bài thơ
trong lửa rồi đem chôn dưới vực
sâu/ bài thơ về màu của đóa
hoa làm trái tim nhà thơ rướm
máu/ bài thơ về những chiếc lông
ngỗng màu tối trong những ngày xa
nhau, những chiếc lông sáng màu trở
lại khi người đàn ông trở về,
song con ngỗng đã chết/ bài thơ
về sợi tóc của cây dương liễu
được bàn tay tình yêu ve vuốt/
bài thơ về một cặp tình nhân
ôm nhau trong lúc nhẩm tính về
hóa đơn bữa tối trên bàn ăn
nơi một quán vắng/ bài thơ về
người phụ nữ đội ô đi trong
nắng chiều của ngày tận thế/ bài
thơ về vẻ đẹp của trái đất
này sẽ là niềm cay đắng/ bài
thơ của những đớn đau về những
mất mát đất đai/ bài thơ về
những linh hồn không còn hát nữa
dù đêm trăng rất sáng … Những bài
thơ là sự bất lực của ngữ
pháp. Tuy nhiên những bài thơ ngày
một bị rẻ rúng, trong khi nụ
hôn chân thật ngày một hiếm hoi


BAY

bay vào tia sét để ý nghĩ ai
đó lóe lên/ bay vào cơn mưa để
ngôn từ ai đó ẩm ướt/ bay vào
nỗi đau để nước mắt trào dâng/ bay
vào biển cả để chết như bầy cá
phơi trắng bụng vì nhiễm độc Formosa/
bay theo viên đạn và thấy nhân loại
vẫn đang bắn nhau/ bay theo con kên
kên thấy có người đang chết đói/ bay
dọc biển miền Trung cá chết để thấy
mình đầy vô cảm/ … bay qua những trang
sách để thấy đang nghe diễn thuyết về
sự không hoài nghi sáo rỗng/ bay vào
những ảo tưởng tốt đẹp và thấy thân
mình đầy máu


BÊN SÔNG

Cây lau bên sông phất phơ chiếc quạt lông
trắng như phất phơ cái đuôi con vịt bầu
đang ngoe nguẩy giữa mùa hè/ con đường dưới
đáy sông gần như dừng lại bởi dòng nước
không chảy nữa trên con đường dưới đáy sông
từ xa xưa/ bởi trên đỉnh nguồn bức tường
thủy điện đã chặn lại thành một barie con
đường dưới đáy sông và rừng đại ngàn giờ
đã bị cạo trọc lóc như cái đầu của
cầu thủ Ronando/ những đàn cá biến mất sau
những cú dí điện hay ngộp thở chết hàng
loạt chúng chả thiết sinh sôi nữa dẫu bao
mùa lũ qua và những bến nước đã vắng
bóng người tắm giặt/ cụm từ “vẫy vùng trên
sông” đã không còn được lũ trẻ con nhắc
tới bởi chúng đâu còn tắm sông để vẫy
vùng trên sông/ trên con đường dưới đáy sông
gần như dừng lại bởi dòng nước không chảy
nữa tôi nhìn thấy ánh mắt em dừng lại
trên cụm hoa lau trắng/ đừng đưa ánh mắt
đi nơi khác em nhé bởi nếu thế thì
những bông hoa lau cũng sẽ biến mất/ ôi
làm sao để em có thể không đưa ánh
mắt đi nơi khác


BUỔI TỐI

Mặt trời đã rụng trên những chiếc
lá trong vườn những ngôi sao đã
mọc lên từ những chiếc lá hàng
triệu năm/ những chiếc lá đã hứng
mặt trời và đón những vì sao
và cũng hàng ngàn năm những chiếc
lá đón nhận những câu hỏi chúng
ta sinh ra trên trái đất này
từ đâu những bước chân muôn ngàn
kiếp trước đã đi qua những đâu
những bước chân từ vô lượng kiếp
đã về đến đâu/ chúng ta đã
nói gì trên những bước chân chúng
ta đã đi qua bao nhiêu cái
chết để rồi chúng ta bây giờ
đang trên đường đi đến cái chết/
thật sự chúng ta đang sống hay
đang thỏa hiệp sống hay chúng ta
vừa chết vừa thỏa hiệp trước một
cái chết đang đến từ từ hay
đang giả vờ quên đi đang giả
vờ không biết về một cái chết
đang đến/ Oh chúng ta đang diễn
trò trong khi mặt trời rụng và
những ngôi sao mọc lên từ những
chiếc lá không nghĩ rằng gương mặt
chúng ta đang già đi nhăn nheo
một cách thảm hại/ này phía trước
là cái chết đấy


CÓ NHỮNG NGÀY

Có những ngày những cái tai rớt
ra trên mặt bàn vì chứa quá
nhiều thông tin đến nỗi những thông
tin quá nặng và khiến những cái
tai bị xé tách khỏi cái đầu
và rớt xuống mặt bàn người đàn
ông lấy tờ báo lùa những cái
tai rớt ngổn ngang xuống đất có
những ngày những con mắt rớt ra
rơi xuống mặt bàn vì đã nhìn
quá no nê những cô gái khỏa
thân uốn éo trên màn hình computer
người đàn bà lấy cái chổi lông
gà suốt một cách không thương tiếc
những con mắt xuống đất vừa suốt
chổi lông gà vừa lầm bầm chửi
rủa đồ khốn đồ đĩ thõa đồ
mất nết có những ngày những quả
tim rớt ra khỏi lồng ngực lăn
lông lốc xuống vệ đường sau khi
đã quá no nê những bữa tiệc
vô cảm những quả tim chứa quá
nặng những đồng bạc đến nỗi lồng
ngực rách toang không chứa nổi quả
tim người tu hành vừa đi qua
đường vừa gõ mõ tụng niệm giữa
những đồng bạc loảng xoảng văng tung
tóe trên đường có những ngày những
ngón tay rụng xuống khắp mặt đất
vì đã cầm nắm quá nhiều chúng
nói chúng tôi cần nghỉ ngơi chúng
rụng xuống và mọc lên những tai
nấm chúng hy vọng những tai nấm
có thể nghe mưa một cách hồn
nhiên có những ngày như thế thật
đấy không tin à nhìn kỹ lại
đi


DA THỊT CỦA THỜI GIAN

Da thịt thời gian có màu gì? da
thịt của thời gian có mùi gì? da
thịt của thời gian có những vết sẹo
gì? tôi đang cắm mặt vào smarphone cắm
mặt vào television rồi nhìn chuồng bò để
hoang nhìn những bếp lửa đun củi để
hoang phải chăng chúng không gợi nhắc gì
về da thịt ươm màu khói cũ của
thời gian? tôi đi dọc thời gian ôm
ấp lấy da thịt nàng tôi đi dọc thời
gian và cười nhạo ánh sáng và bóng
tối tôi đi dọc thời gian và trò
chuyện với người xa lạ/ một ngày nào
đó hay đang là ngày đó tôi đi
dọc thời gian và sẽ bỏ quên dòng
máu của ánh ngày mang da thịt mùi
quê hương tôi đi dọc thời gian và
sẽ ngoại tình với dòng máu mang bóng
đêm/ làm sao có thể như thế khi
tôi sẽ chối bỏ thời gian và muốn
trở về với cái cái chết với mùi
da thịt ngây thơ?


ĐANG NHẢY NHỮNG NHỊP ĐIỆU

Những nhịp điệu của ánh sáng màu
của tiếng nhạc và trống những nhịp
điệu của bàn chân rách nát những
nhịp điệu của máu rơi thấm cát
những nhịp điệu của loài sên chậm
chạp và cả nhịp điệu của loài
rêu nhầy nhụa/ tôi đang nhảy những
nhịp điệu của tôi bằng đôi chân
khẳng khiu bằng đôi tay chàng hiu
bằng đôi tai con chim chíp mìu
bằng đôi mắt của loài ễnh ương/
những nhịp điệu tôi nhảy theo tiếng
trống những nhịp điệu lay lá cọ
múa bên suối những nhịp điệu lẫn
lộn vỗ bằng những ngón tóc tím
bầm trên những tấm da trâu già
nua nhẵn bóng đã tám mươi tuổi
căng trên tang trống/ tôi đang nhảy
những nhịp điệu gì giữa những đóa
hoa bị giẫm nát/ hình như tôi
đang nhảy nhịp điệu của con lợn
rừng sau khi bị găm viên đạn
của gã thợ săn máu đang nhảy
nhịp điệu rạn vỡ trong ánh sáng
vầng trăng đêm/ những điệu nhảy của
nước mắt


ĐỪNG ĐỂ MẤT PHÚT GIÂY NÀY

Nếu còn băn khoăn về cuộc đời bạn
đừng đánh mất phút giây này để mặc
những sai lầm diễn ra đừng cố trở
nên hoàn hảo bởi ngay cuộc sống ta
đang sống đây có hoàn hảo đâu đừng
đánh mất phút giây này hãy bơi trên
nhiều dòng sông khác nhau đến những nơi
ít người đến đi trên những con đường
ít dấu chân người/ đi lại với thật
ít đồ đạc/ đừng đánh mất phút giây
này hãy cứ đến một dòng sông nào
đó dẫu ở đó chỉ toàn là nỗi
đau đầy máu có vị chua như giấm/
đừng đánh mất phút giây này hãy đến
một cây cầu dẫu nó sắp gãy/ hãy
đi qua sa mạc dẫu biết mình có
thể sẽ chết khát/hãy cứ để mình
mắc kẹt trên một đỉnh núi đầy mưa
trong lúc mình không biết cách nào để
xuống núi/ đừng để mất phút giây này
nếu muốn hãy cứ buột miệng lời thô
thiển bởi chúng ta không có lá gan
của chủ nghĩa anh hùng được tô vẽ
bởi mưu toan của nhân gian/ đừng để
mất phút giây này hãy cứ trần trụi
là ta run rẩy sợ hãi/ hãy cứ là
con chim sẻ bị ướt đang run rẩy
trước hiên nhà người con gái/ đừng để
mất phút giây này chui đầu vào tổ
ong để nếm vị ngọt dẫu sẽ bị
ong đốt sưng vù và đắm mình trong
tai họa/ đừng để mất phút giây này
hãy biết sợ khi ai đó nói họ
tin và không hề hoài nghi/ đừng để
mất phút giây này cho đến khi biết
mình sắp chết.


LỜI MỘT CÔ GÁI

Anh nói anh yêu em nhưng
|sao em bảo buông tay em
ra anh đã buông lúc đó
anh viết tên em lên cát
để làm gì, vô ích/ anh
nói anh yêu em nhưng sao
khi đi qua em rất gần
anh đã không ôm em, anh
không phả vào môi em hơi
thở/ anh nói anh yêu em
nhưng sao khi đất đai em
cằn khô anh không cho em
cơn mưa, cho hạt em đâm
chồi xanh giữa đất trời/ anh
nói anh yêu em nhưng sao
lại nghĩ em là bong bóng
bay mà không thả em bay
lên trời, anh giữ em lại
trong tay làm chi/ anh nói
anh yêu em nhưng sao khi
em là bụi cây khô, anh
đã không châm lửa cho chúng
ta cháy bùng lên/ anh nói
anh yêu em nhưng sao khi
mặt trời đã tắt, anh không
ban cho nó nụ cười … anh
nói yêu em, nhưng sao lại
thuê con lạc đà chở trái
tim anh qua sa mạc đưa
tới hiên nhà em/ sao chính
anh không đến/ em không chỉ
cần trái tim, em còn cần
một vòng tay ôm/ một cái
ôm choàng nhanh hơn cả ánh
sáng/ anh nói anh yêu em
nhưng sao …


MỘT BỨC TRANH

Vầng trăng người đàn bà ngồi
đang bị mặt trời gậm nhấm/
vầng trăng hao khuyết trên đầu
gối nàng và ngày đang đi
qua lơ đễnh/ mái tóc của
người đàn bà bị vầng trăng
hao khuyết nuốt chửng/ mái tóc
chỉ còn đuôi tóc thò ra
dưới ngọn đèn đường sáng rỡ
dưới vầng trăng hao khuyết/ nước
mắt người đàn bà rớt trên
mặt đường dưới ánh trăng mờ
khuyết và trái tim nàng bốc
lửa dưới vầng trăng hao khuyết/
trong khi đôi chân nàng cố
nhảy ra khỏi đám cháy dữ
dội dưới ánh trăng mờ khuyết/
cứ nhảy ra vùng vẩy nhảy
ra/ đi đâu về đâu không
ai biết dưới vầng trăng hao

khuyết.
 

Tranh Bửu Chỉ

THƠ KHẾ IÊM

Trăng Thiên Cổ - Thái Tuấn

NGƯỜI BẠN

Tôi đi tìm câu chuyện
cho bài thơ sắp kể
một câu chuyện thật không
hư cấu không tưởng tượng
nhưng chỉ có tôi đứng
đây giữa ngã ba xe
cộ qua lại đám mây
xám trên bầu trời và
người đàn ông từ lề
bên này băng qua lề
đường bên kia vội vã
biến vào khu chung cư
im lìm không xảy ra
gì nữa và trong tôi
một người bạn vừa mất
hôm qua Vũ Huy Quang
anh đi đi thanh thản
con đường trước mặt thoáng
chốc vắng xe và tôi
nếu chỉ có tôi là
nhân vật và người kể
chuyện thì đúng rồi câu
chuyện chẳng có tình tiết
hay kết cấu gì đám
mây xám không nói gì
và tôi cũng mặc không
nói gì.

Chú thích: Bài thơ đơn giản chỉ là những hình ảnh: về một bóng ma (đám mây xám), về cái sống đi vào cái chết (người đàn ông), và về ký ức một người bạn (trong tôi).

VÔ ĐỀ

Tôi đứng ở góc phòng lờ
mờ giữa sự vật và hiện
thực trong phút chốc lắng nghe
và chừng như hoang phế lan
dần và cơn sốt lan dần
như hòn than nóng lên trong
tôi tôi đang mất tôi từ
từ từ từ bừng bừng tôi
là hòn than cơn sốt giải
phóng tôi khỏi tâm trí và
cảm xúc tù ngục của con
người từ trong ra ngoài toàn
thân tôi là chất đen giống
loài tôi là than ngôn ngữ
tôi là lửa linh hồn tôi
là tàn tro thế giới tôi
là đêm tối và lửa hồng
chào bạn người nhé tôi là
hòn than tôi là tôi dị
kỳ không sai.


BÀI THƠ XE ĐẠP

Người đàn ông dựa xe đạp
vào vách tường vừa kịp cơn
giông ập xuống mang theo mưa
và mưa và mưa xoá nhoà
biên cương giữa sáng tối và
sự vật và bụi mờ đẩy
người đàn ông dần dần lùi
lại khoảng cách giữa tiếng
rơi mái hiên và gió lạnh
và chiếc xe lấn tới lấn
tới cho đến khi những đường
cong vòng tròn những nan hoa
những góc cạnh khảm  sâu vào
bức tường đã ố màu thành
bức tranh hiện thực và người
đàn ông là chiếc bóng phai
mờ và cơn giông và mưa
và biên độ giữa hai chiều
thực tại còn đọng lại nhiều
năm sau đó trong ký ức
người đàn ông những phút giây
lạ lùng  tưởng chừng như câu
chuyện chỉ xảy ra trong tâm
trí.


HÉO TÀN

Hắn bước vào quá khứ
hắn là quá khứ nơi
căn gác dưới lớp tôn
mái tôn những trưa hè
nắng nóng hắn là nắng
nóng ngồi đó hẳn là
ngồi đó quay lại một
thời niên thiếu chậm trôi
bây giờ đã chìm trong
ký ức như chiếc bóng
đậm đặc quạnh hiu kéo
dài cho đến khi hắn
như hạt bụi bị cuốn
vào cơn bão thời đại
mịt mù sương khói bỏ
lại đằng sau những người
sống trong ngôi nhà nửa
xây tường nửa gác gỗ
bây giờ không còn ai
và ngôi nhà cũng không
còn họ đã đi xa xa
rồi mang theo thời niên
thiếu đơn độc lặng câm
của hắn hắn nhớ họ
nhiều họ và hắn như
giọt mưa tung tóe trên
hè phố và mỗi tia
nước là một ngả đường
đời trần trụi bây giờ
họ ở đâu những người
anh em của hắn hắn
khóc những giọt nước mắt
khô bên cạnh mối sầu
thương và quá khứ hắn
bước ra phút giây như
chiếc lá đã héo tàn.


KHUYA KHOẮT

Gửi HĐTN 

Tôi bước lên những bậc thang
ngoằn ngoèo ngoằn ngoèo trong khu
chung cư rồi bước xuống bước
xuống hai cánh tay thẳng đuột hai

bàn chân nhấc lên đặt xuống
không cân đối nhau như bước
chân không khớp với bậc thang
những bậc thang khập khễnh so

với con đường những bước chân
lên lên xuống xuống hàng giờ
hàng giờ những bậc thang bất
động bất động những bước chân

nhảy nhót lê lê lết lết những
bước chân tình nhân những mối
tình tỏ tình những đêm đêm
ngày ngày sáng sáng tối tối
đợi chờ những bước chân vang
tôi ngồi xuống ngồi xuống hai bàn
chân tách lìa ống chân không
động đậy động đậy những bậc

thang ngoằn ngoèo từng bậc từng
bậc và những bước chân vờ
như không thấy nhau tôi vờ
như không thấy tôi lỏng lẻo

giữa nửa khuya khoắt.


HỎI CÂY

Tôi hỏi cây cây nghĩ
gì khi người ta chặt
khúc những bạn cây bỏ
lăn lóc trên lề đường
cây bảo cây đang hỏi
mây trắng nhưng mây trắng
bận bay nên chưa thể
trả lời tôi hỏi nếu
người ta chặt khúc cây
thì cây sẽ làm gì
cây bảo cây đang hỏi
bóng mát nhưng bóng mát
bận che khuất mặt trời
nên cũng chưa thể trả
lời tôi nói vậy cây
hãy chạy đi chạy nhanh
đi tới một nơi nào
không có bọn chặt cây
cây bảo cây đang hỏi
rễ nhưng rễ bận cắm
dưới lòng đất sâu chưa
lên được tôi tức quá
hét lên vậy cây hãy
đợi đó để chết đi
chết theo các bạn cây
của cây đi cây bảo
cây đang bận tiếp gió
gió đã tới rồi có
câu hỏi gì thêm cứ
dán dưới gốc cây sẽ
trả lời sớm khi nào
xong việc.


NẮNG VÀNG

Tôi đứng ở bãi đậu xe nhìn
bâng khuâng một vùng nắng vàng
(và trong lúc này) tôi không biết

tôi là nắng hay nắng là tôi
con đường phía trước một hướng
ra biển còn hướng kia lên đồi
cả hai nơi đều có những ngôi
nhà đắt tiền nhưng những ngôi
nhà đắt tiền thì có liên hệ
gì tới tôi có lẽ là do
sự liên tưởng từ con đường con
đường dẫn tới những ngôi nhà đắt
tiền bây giờ nắng đã xóa đi
ký ức và cái nghĩ của tôi
cũng đã rời xa tôi lờ mờ
tôi không còn biết tôi đang
ở đâu và đi đâu bởi tôi
là nắng chỉ khi nào nắng rời
xa tôi lúc đó ký ức và
cái nghĩ trở lại thì may ra
tôi mới trở lại tôi nhận ra
nơi tôi đến và đi (chẳng mấy
chốc) bóng tối tiễn đưa ánh sáng
và bãi đậu xe sẽ lấp lánh
lấp lánh đủ sắc màu nên tôi
không muốn lãng phí giây phút nào
ở với nắng lúc này tôi không
làm gì ngoài ngó quanh lác đác
bóng người len lỏi qua những
hàng xe.


HỎI NẮNG

Nơi góc đường một đám
đông rất nhiều người nhiều
người và cờ dọc theo
lề rải rác những bóng
người di chuyển về phía
đám đông làm cho đám
đông thêm đông nơi một
góc đường khác người đàn
ông đi ngược lại phía
đám đông trên con đường
ngoài hai luồng xe nghịch
chiều càng lúc càng vắng
xuyên suốt chỉ tòan là
nắng và nắng cho đến
lúc hoa mắt tấp vào
một tàn cây hỏi nắng
về đám đông rất nhiều
người nhiều người và cờ
kia có còn hay đã
biến thành nắng và nắng
này người đàn ông đang
nấp dưới tàn cây thì
đến bao giờ cũng sẽ
biến thành nắng?


TẾT Ở NEW YORK

Năm cũ không bước qua
năm mới vì năm mới
vốn thông thương với năm
cũ trong lúc lũ tết
và lũ tuyết ập xuống
mái nhà ôm lấy nhau
không chịu tan ra chẳng
khác nào năm cũ nằm
ôm lấy năm mới nhì
nhằng không thể bước qua
nhau mãi cho đến lúc
giật mình thức giấc bởi
tiếng động của cái lạnh
làm se da thay cho
tiếng pháo nhắc tới tết.

20/2/2015

KẺ VIẾT

Những kẻ viết – như tôi – sống
với những nhân vật của họ
mà nhân vật của họ thì
vốn dĩ là những mẫu người

thật đủ mọi dạng hình được
bỏ vào những tình huống do
họ tạo ra theo kiểu cách
của họ những nhân vật của

họ trở thành những con rối
dần dần những con rối lại
biến chính kẻ viết thành những
con rối con rối trong những

con rối ô hay thế giới
của những con rối cứ  thế
và cứ thế phiêu bạt phiêu
bạt những con rối chữ nghĩa

lộn xộn với những con rối
cuộc đời và trong cái mớ
bong bong của hoài nghi kẻ
viết đi đâu về đâu cuối

cùng rồi cũng chỉ là kẻ
viết có khác gì những con
người khác luẩn quẩn trong những
thế giới khác nhiễu nhương và

nhiễu nhương nhưng nhiễu nhương thì
nhiễu nhương những kẻ viết – như
tôi – làm sao có thể thóat
ra khỏi cái viết và chỉ

có thể mãi mãi là kẻ
viết vất vưởng trong cái viết.


LẠI NỖI BUỒN

Nỗi buồn lan man gối
đầu trên con sóng xanh
lao xao lao xao theo
gió nơi bãi sông và
nỗi buồn không còn như
thời quá khứ đứng bên
đường vẫy tay chào ai
đó mà đang pha vào
màu phai nắng làm thành
buổi chiều trên đôi mắt
của cô gái và cô
gái thì đang bâng khuâng
về mối tình đã chớp
mắt xa xa đã xa
nỗi buồn như mây bay
bay và cô gái dĩ
nhiên cũng bay bay theo
nỗi buồn vì nỗi buồn
chẳng phải là mối tình
khác mang tên nỗi buồn
sao và hỡi những cặp
tình nhân yêu nhau hạnh
phúc hay tơ sầu chỉ
là những dấu sương đời
mang tên khác nhau đó
thôi và cô gái và
nỗi buồn và những cặp
tình nhân yêu nhau ơi!


NHỮNG CÁI TÔI BUỒN

Nếu sự thực chỉ là ảo tưởng
và thực tại trùng trùng lớp sóng
phế hưng trong tình huống như vậy
tôi bị đẩy ra ngoài lề tôi
là con chữ những bản văn không
thể khác và không thể khác và
thế là tôi có thể cắt dán
tôi tải lên lấy xuống nén lại
gửi đi tách lìa giữa tôi và
tôi những cái tôi được tạo ra
từ tâm trí tôi những cái tôi
ký hiệu những cái tôi viết lời
tuyên ngôn những cái tôi viết lời
cổ động những cổ động rỗng không
những cái tôi dị dạng méo mó
những cái tôi nổi trôi trên mạng
lưới trời những cái tôi phẳng những
cái tôi bị tâm trí dày xéo
những cái tôi bị tâm trí xâm
lăng dựng thành kịch bản kịch bản
ở ngoài mọi kịch bản tôi là
tù nhân của tâm trí tôi và
những người khác là tù nhân của
tâm trí khác y như tôi vậy
đẩy con người tới bờ vực lãng
quên và bây giờ tôi đang ngồi
bên song cửa ngó ra ngoài thấy
le lói ánh trăng soi và ngẫm
lại nếu con người chỉ là hư
cấu những bản văn thì tôi cũng
chỉ là bản sao của vô số
những bản sao tôi những chiếc bóng
nói nói và nói chi nhiều (vì
sự thật chẳng bao nhiêu.)


MÂY VIẾT

mây vẫn cứ bay và
mây không nói và người
ta bảo rằng mây chỉ
nói khi sấm gặp chớp
và cũng không chắc gì
đó đúng là tiếng nói
của mây mây vẫn im
lìm và mây cứ bay
nhưng cũng có tin đồn
mây đang bay có nghĩa
là mây đang viết và
tất cả các thứ sách
báo chúng ta đọc đều
là do mây viết bởi
vì chỉ có mây viết
ngày đêm mới nhiều như
thế nhiều đến độ ô
nhiễm môi trường và chọc
thủng cả mây nhưng nói
gì thì nói đâu là
bằng chứng của mây viết
ôi chẳng phải là bấy
lâu nay người ta vẫn
lưu truyền rằng tác giả
đã chết rồi sao tác
giả đã chết chúa đã
chết thực tại đã chết
vậy thì còn ai sống
để viết và viết về
cái gì đây nếu chưa
tin thì hãy đọc bất
cứ loại sách báo nào
cũng thấy chẳng có điều
gì liên quan đến con
người đến chúng ta mà
toàn là những lời trên
mây lời trên mây thì
mây viết chứ còn ai
ở đây nữa phải không
đúng đấy mây đang bay
là mây đang viết nếu
chưa tin nữa thì đi
hỏi mây xem và nếu
mây không nói thì đúng
là mây đang viết đó.


KHÓC VANG

tôi nhìn ra ngoài thấy
nắng đi loanh quanh dưới
hàng cây tôi nhìn nắng
nắng nhìn tôi nói nắng
nán lại đây giây lâu
sắp đi đi đâu đi
tới nơi mưa sắp đi
nói rồi nắng khóc vang
tôi không biết gì cũng
khóc vang đồng thời lũ
cây khóc vang a bây
giờ tôi mới hiểu khóc
vang là lời chào từ
biệt của bọn nắng và
thế là từ đó mỗi
khi tôi gặp nắng hay
nắng gặp tôi đều có
tiếng khóc vang khóc vang
lây lan đến cả gió
khi gặp mưa cũng khóc
vang khóc vang còn có
nghĩa là cười vang nghe
lũ cây giải thích vậy
tôi biết vậy thì ra
đó là ngôn ngữ của
đám mây.


NÀNG

mỗi buổi tối giấc mơ
tuôn vào nàng và rạng
sáng ngật ngưỡng bước ra
làm nàng mệt nhoài mệt
nhoài đến độ nàng không
còn thiết tha gì ngay
cả đến chính nàng và
nàng nghĩ cách phải làm
sao giữ lại hay thoát
ra khỏi giấc mơ nhưng
trong lúc nàng nghĩ cách
nghĩ cách thì giấc mơ
vẫn tuôn vào mỗi tối
và bước ra lúc rạng
sáng không biết bao lần
và không biết bao lâu
cho tới khi nàng biến
mất và nàng biến mất
như thế nào và tại
sao là điều không ai
có thể đoán biết ngoài
giấc mơ còn bây giờ
thì giấc mơ đang dáo
dác tìm nàng nàng ở
đâu ở đâu và nàng
là ai là ai hay
nàng … cũng chỉ là một
giấc mơ viễn vông.

Tranh Thái Tuấn

PHỎNG VẤN TIMOTHY STEELE

Painting Energy: The Alex Katz Foundation Collection at the Portland Museum of Art
Painting Energy: The Alex Katz Foundation Collection at the Portland Museum of Art
Kevin Walzer

Timothy Steele là tác giả của ba tập thơ: Uncertainties and Rest (LSU, 1979); Sapphics Against Anger and Other Poems (Random House, 1986); và The Color Wheel (Johns Hopkins, 1994). Hai tập thơ đầu vừa được in lại gồm chung trong một ấn bản, Sapphics and Uncertainties: Poems 1970-1986 (Arkansas, 1995). Steele còn là tác giả của một nghiên cứu phê bình có nhiều ản hưởng, Missing Measures: Modern Poetry and the Revolt Against Meter (Arkansas, 1990). Ông hiện là giáo sư Văn chương tại California State University, Los Angeles.

Thơ của Steele nổi tiếng bởi cách dùng cẩn thận và trôi chảy hình thức truyền thống, và ông đã xuất hiện như một trong những thành viên chủ chốt của hội Expansive Poets, tận tâm với việc hồi sinh hình thức truyền thống và ký thuật trong thơ đương thời. Missing Measures là một nghiên cứu quanh những giả định về thơ thể luật đã kích thích cuộc cách mạng thể thơ tự do hiện đại, và những hậu quả vô tiền định của chúng.

Cuộc nói chuyện này xảy ra ngày 2 tháng 6, 1995 tại một buổi họp về thơ hình thức ở Đại Học West Chester, Pennsylvania.

KW: Tôi xin được bắt đầu với câu hỏi về những kinh nghiệm thưở đầu làm thơ của ông. Những ai đã ảnh hưởng đến ông, và tại sao ông quyết định nghiêng về bút pháp thể luật – nhất là vào thập niên 1970, khi mà nó đã không còn hợp thời nữa?

TS: Tôi có dăm câu trả lời cho câu hỏi đó. Trước hết, tôi sanh ra và lớn ở Burlington, Vermont. Ở tuổi lớn, tôi đọc thơ của Robert Frost, người được xem như nhà thơ địa phương của chúng tôi, cho dù đúng là vậy, dĩ nhiên, ông còn hơn thế nữa. Lúc đó, ông vẫn còn sống một khoảng thời gian mỗi năm tại Ripton, và năm tôi lớp bảy hay tám gì đó, ông được bổ nhiệm chức vụ nhà thơ danh dự của tiểu bang. Frost viết một cách say đắm về Vermont, phong cảnh, mùa, và con người. Khi tôi bắt đầu làm thơ, kiểu của ông rất quan trọng. Chính ông là người đã sánh thể thơ tự do như đánh tennis không lưới. Nếu không có lý do nào khác hơn mẫu thí dụ đến từ Frost, có thể tôi đã ngần ngừ khi làm thơ mà đã không học về các điều luật của nó trước.

Điều thứ hai là tôi luôn yêu mến phần nhạc tính của thơ. Những bài thơ đầu tiên tôi nghe mẹ đọc là “The Owl and the Pussy-Cat” của Lear, Mother Goose, vài bài thơ trong Child’s Garden of Verses của Stevenson, và “Locksley Hall” của Tennyson. Tôi chóang váng bởi những âm thanh của chữ, sự lặp đi lặp lại và vần điệu. Về sau tôi đọc hoặc nghe những bài thơ như Hamlet hoặc lời nhạc của Dickinson hay Wilbur và có cùng một cảm giác vui sướng. Một nhà thần kinh học hay ngữ học có thể nói rằng thơ đã giúp tôi kinh qua ngôn ngữ không phải chỉ với hoạt động của bên trái não dính liếu với sự hợp tán nội dung, mà còn là một đáp ứng của bên phải não với sắc điệu âm thanh và khuôn mẫu vần điệu. Dầu vậy, khi tôi bắt đầu làm thơ, phần nào cũng nằm trong hy vọng rồi tôi sẽ tạo được thứ ma thuật mà những bài thơ tôi đã đọc và rất yêu mến đã tạo nên. Nỗi hy vọng này buộc tôi phải thám hiểm và làm việc với những dụng cụ đã giúp việc tạo ra ma thuật ấy.

KW: Ông có gặp bất cứ khó khăn hay chống đối nào để được mọi người đọc tác phẩm mình khi ông mới khởi sự làm thơ vì thể cách của văn thể dòng chính vào thập niên 1970, hay ông thản nhiên làm việc của mình và không gặp mấy khó khăn?

TS: Tôi cứ làm việc của mình và phấn khởi khi các bài thơ xuất hiện đâu đó trên tạp chí. Có lúc, khi tôi nộp bài, chủ bút đặt câu hỏi về mối quan tâm của tôi về kỹ thuật. Và có một lần một người quen có lòng tốt đã khuyên tôi rằng vế và vần đã qua, và mặc dầu hình như tôi cũng có chút tài, tôi sẽ không đi đến đâu cả nếu tôi cứ làm thơ theo thể luật. Tuy nhiên, lúc đó tôi đang làm nhiều việc khác – dạy học và viết nghị luận về truyện trinh thám. Và tôi cũng hiểu rằng nhà thơ thường gặp khó khăn trong việc được độc giả biết đến tác phẩm của mình, và thành công hay thất bại trong những vấn đề thường có ít liên hệ với có hay thiếu phẩm chất của tác phẩm. Thành thử cái trường hợp lúc đó cũng không đến nỗi rụng rời cho lắm.

Cũng nên thêm rằng, vài chủ bút đã đi ngược triều nước và đón nhận những thi phẩm có thi vế. Don Standford của tạp chí The Southern Review là một. Tom Kirby-Smith của Greensboro Review là hai. Và tạp chí Counter/Measures của X.J. Kennedy, mặc dù không thơ mấy, cũng đã đem lại một diễn đàn sống động mà trong đó các nhà thơ theo thi luật và có vần chia sẻ tác phẩm và ý tưởng với nhau, giống như bản in của Robert L. Barth và loạt bài về metrical chapbooks.

KW: Ông có nhận ra ở một thời điểm riêng biệt nào đó, hoặc trước hoặc sau ấn bản của tập thơ Uncertainties and Rest, rằng ông không phải là người duy nhất đang phát triển một loại thơ qua hình thức truyền thống hay không? Chủ nghĩa tân hình thức bắt đầu ló dạng như một hiện tượng khoảng 1980; mọi người bắt đầu tụ họp và phát triển ý thức về một táo bạo tập thể. Ở thời điểm nào, ông biến thành một phần tử trong đó?

TS: Thoạt đầu, tôi có cảm tưởng mình là Nhà Thơ đến từ Hành tinh khác, ít ra là so với các nhà thơ đương thời với tôi. Nhưng các nhà thơ xuất sắc của thế hệ trước chúng ta vẫn tiếp tục làm thơ theo thể luật. Và ngay cả khi họ không được vòng hoa nguyệt quế trước công chúng và sự chú ý đáng được hưởng, tác phẩm của họ vẫn còn nhiều kích thích và bổ dưỡng cho một độc giả và nhà thơ trẻ giống như tôi. Và vào khoảng thời điểm của tập Uncertainties and Rest, đã bắt đầu xuất hiện những tập thơ của các nhà thơ trẻ quan tâm đến thể luật. Tuy nhiên, lúc ấy, tôi chưa ý thức mấy về bất cứ phong trào nào sốt sắng với thơ thể luật. Nếu có một thay đổi nào đó phảng phất, thay vì là thế, nó lại dính dáng với một tình cảm đang nở rộng, thứ tình cảm mà ngay cả vers-libristes hình như cũng chia sẻ, rằng những mạch riêng biệt nào đó của thể thơ tự do – nhất là mạch tín điều – đã được khai thác đến cạn.

Về danh từ “Neo-formalism” hay “Chủ nghĩa Tân Hình Thức,” tôi đã không nghe đến cho mãi đến khoảng 1986 hay 1987. Tôi cũng tin rằng từ “neo-formalism” được đặt ra bởi một người nào đó muốn báo động khi thấy các nhà thơ trẻ càng lúc càng tò mò hơn về thể luật. Chủ nghĩa Tân Hình Thức chưa bao giờ được tổ chức và thông tri, thí dụ như, cách F.S. Flint và Ezra Pound tổ chức và thông tri về chủ nghĩa Ảnh tượng (Imagism). Sự phân biệt này đáng được nói đến vì hiện nay, rất dễ hiểu, là có nhiều người nghi ngờ cách hoạt mãi-phong trào và đã buộc tội các nhà thơ hình thức đã tán tụng quá đáng. Nhưng nguyên cả việc này lại ép lên nhà thơ từ ở bên ngoài. Và hầu hết những người có dính dáng với chủ nghĩa Tân Hình Thức đều cảm thấy khó chịu với nhãn hiệu đó. Riêng chính “Chủ nghĩa Hình Thức” đã gợi ý là thường thì nó ít chú ý đến nội dung, và điều này không đúng với các nhà thơ được gọi là nhà thơ Tân Hình Thức. Nếu có một ý thức về một táo bạo tập thể, như ông đã nói, thì rõ là nó phát triển quá chậm và thả lỏng. Và nó thường gồm những người có nhiều quan tâm khác nhau và họ có lẽ chỉ có một điểm giống nhau là nỗi ao ước viết hay và tách rời khỏi những phương thức có lẽ đã khô cằn.

KW: Ông có nhìn thấy chủ nghĩa Tân Hình Thức, như một phong trào, có bất cứ một ý nghĩa hay ảnh hưởng lâu dài nào trên thi ca Hoa kỳ hay không, hay là quá sớm để nói thế?

TS: Quá sớm để nói như vậy. Và dầu vậy vẫn có thể sai khi coi thời điểm hiện đại như một hiện tượng nghệ thuật khảo cứu mà ý nghĩa của nó chúng ta có thể định nghĩa được. Định giá những vấn đề này phải đợi cả trăm năm sau. Tôi nghĩ rằng làm mới nỗi quan tâm đến những dụng cụ hình thức truyền thống của thi luật có ích – có ích trong việc nới rộng những văn thể và ngữ căn khả thi của thơ. Hiện nay có nhiều loại thơ được viết và xuất bản hơn là 25 năm về trước. Nhưng, quá tầm điều nói trên thì tôi không biết.

KW: Một điều mà người ta hay phê bình kể từ khi có trường phái Mở rộng (Expansive poetry school), lại có nhiều phái nhà thơ khác nhau trong đó. Có nhà thơ chủ yếu chỉ quan tâm về kỹ thuật, có nhà thơ chủ yếu dời qua đổi lại giữa vế luật, vần và thể thơ tự do, và có nhà thơ có quan điểm nghiêm khắc về hình thức truyền thống và vế câu. Họ không viết gì nhiều theo thể tự do, và phần lớn thơ của họ có vế câu đều đặn. Họ theo sát vế câu đều và không phóng khoáng với vần xiên, hay với một số thay thế thi vế. Vài nhà phê bình đã nhận xét rằng thơ của ông thuộc về loại sau. Đối với ông, sự miêu tả này có vẻ chính xác lắm không về tác phẩm của mình?

TS: Tôi giả chừng là thế, mặc dù tôi không có vấn đề gì hết với nhịp xiên, và bất kể những gì thỉnh thoảng vẫn nói về Missing Measures, tôi không dựa vào vị trí nào để nói, hoặc để tin, rằng thể tự do không là, hay không thể là, thơ.

Về cách thực hành của riêng tôi, tôi thường bối rối khi người ta nói đến cách dùng “vế đều”. Vế câu, theo định nghĩa, là đều. Thể thơ iambic của chúng ta có nhiều thỏa hiệp biến hóa, thí dụ như, đảo ngược vận cước đầu và kết cuộc nữ? (feminine ending). Nhưng ngay cả thứ Frost gọi là “thể thơ iambic thả lỏng” rõ ràng là nó vẫn có nhịp đếm. Đó chỉ là thể iambic với những thay thế ba chữ – câu thơ tứ bộ, như, “The Need of Being Versed in Country Things” đối lập với những câu trong bài “Stopping by Woods.” Ta có thể phân biệt được giữa một cách dùng vế cứng ngắc, của George Gascoigne hay Sam Johnson, với cách dùng sống động và trôi chảy hơn của những người như Philip Sidney hay John Keats. Nhưng đây không phải là câu hỏi về làm thơ với vế không đều hay đều. Người viết theo vế, hoặc không viết theo vế.

KW: Vài nhà phê bình đã nhận thấy trong tác phẩm của ông không phải chỉ có thi pháp tương tự với các nhà thơ trước đó của thế kỷ, mà cũng có những quan tâm ngữ căn. Tôi nghĩ đến J.V. Cunningham, và trước ông ấy, Yvor Winters. Thơ của họ đồng nhất có vế luật, viết bằng một văn cách thẳng và đơn giản của thơ Anh, và họ cũng rất quan tâm với việc nhấn mạnh giá trị của vế luật trong thơ, như là một chủ thể cho thơ. Bài thơ của ông, “Sapphics Against Anger” đã được đọc như một chủ thích ám dụ không phải chỉ riêng về phẫn nộ và kềm chế xúc cảm, mà còn là kềm chế ý tưởng trong nghệ thuật, chính cũng là điều lo lắng của Winters. Ông có nghĩ rằng, có quan hệ gia tộc nào đó giữa tác phẩm của ông, của Cunningham và Winters, hay ông không đồng ý với việc chân tướng hóa này?

TS: Trả lời cho lối đọc diễn dịch bài thơ “Sapphics Against Anger” đó, là tôi đã không viết bài thơ đó với bất cứ chương trình thẩm mỹ nào trong đầu. Tôi quan tâm về việc cần đến sự kềm chế trong quan hệ con người. Tôi không bao giờ nghĩ đến việc một bài thơ có thể được đọc như một tuyên ngôn. Tôi không có ý chỉ trích các nhà phê bình, nhưng điều đó hoàn toàn không phải là điều tôi nghĩ đến.

Tôi cũng nghi ngờ về việc tương quan âm cách với tính đạo đức của nhà thơ. Có người tốt làm thơ theo vế luật và khéo léo, có người tốt làm thơ theo thể tự do. Vả lại, cũng có người làm cả hai thứ và mang lại cho bạn sự sợ sệt. Và rất khó để tưởng tượng được rằng viết theo thể thức hay không viết theo thể thức sẽ cứu được một người khỏi qua đường bậy chỗ hay khỏi nói phỉnh. Tôi học với Cunningham, và ông không bao giờ đặt ra những thứ tương quan như thế. Và tôi cũng không tin Winters đặt ra chúng. Theo như tôi hiểu về Winters, ông thích âm cách căn bản vì ông tin rằng đấy là phương thức có nhiều cách nhất và nhậy cảm để ghi lại cam giác và nhận thức.

Về chuyện âm cách như một chủ từ của thơ, điều đó chưa bao giờ được tôi nghĩ đến. Là một nhà thơ, bạn tất phải có một quang cảnh đời sống dị thường trước mặt mình. Hình như không bình thường mấy khi một nhà thơ viết về âm cách như một họa sĩ sắp đặt giá vẽ trước một phong cảnh tuyệt đẹp rồi vẽ một trong những cây cọ của hắn. Cái lý do để một nhà thơ viết theo âm cách không phải để chống đỡ cho nó hay để giải nghĩa nó, mà là làm những gì nhà thơ đó nói ra vừa được nhớ đến và được chú trọng, hết mực hắn có thể làm được. Nhà thơ không dùng âm cách vì nó, mà vì thơ và vấn đề chủ thể.

KW: Điều này đưa đến điểm chính của Missing Measures. Tôi đồng ý rằng đấy không phải là một tranh luận với thể thơ tự do; tôi nhìn nó như một cuộc điều tra trí thức có suy nghĩ và đầy đủ về các giả định về thể thơ tự do và các hậu quả vô tiền định của nó. Ở điểm nào ông trở nên quan tâm với những câu hỏi đã được ra trong sách?

TS: Tôi bắt đầu nghĩ về chúng một cách nghiêm túc hơn vào khoảng cuối thập niên 1970. Trước đó, tôi có phần nào tránh né vì chúng đụng chạm quá gần với cách làm thơ. Tuy nhiên, rốt cuộc rồi tôi nghĩ mình phải gắng tìm hiểu tại sao thơ lại rơi vào trạng thái này – và nhất là tại sao vế, là tâm điểm nghệ thuật cả thiên niên kỷ, lại lâm vào tình trạng mất danh giá như thế này. Thoạt đầu, tôi không nghĩ đến việc viết một cuốn sách. Chương đầu tiên được tôi viết ra là chương thứ năm mà tôi đã viết như một tiểu luận hè 1980. Rồi tôi thảo thêm một tiểu luận nữa, thành chương hai. Mãi đến cuối thu 1984 tôi mới viết chương một – nguyên thủy nó cũng là tiểu luận, viết cho Willard Spiegelman của The SouthWest Review – lúc đó tôi mới nghĩ là mình có thể có một tập sách.

KW: Ông nghĩ sao về các phản ứng đối với cuốn đó? Nó đã bị phỉ báng một cách không công bằng hay nó có đủ mọi phản ứng khác nhau?

TS: Đủ mọi phản ứng khác nhau. Có nhiều bài điểm sách khen và chê. Nhưng tôi lại rất hài lòng khi nhận ra ngay cả những nhà phê bình không thích nó cho lắm cũng công nhận phần phân tích lịch sử căn bản của sách. Đúng ra là, có khi họ tóm tắt phần phân tích ấy như thể họ đã viết ra hoặc đã từng biết đến những sự kiện mà đây là cuốn đầu tiên, theo như tôi biết, đã trưng bày ra. Phần lớn những nhận xét phủ nhận đều nhắm vào phần kết luận trong sách. Họ nói rằng tôi đã sai khi kết luận rằng ngay cả thể thơ tự do rồi cũng biến thành vô nghĩa nếu chúng ta không còn có thể nghe được và làm thơ theo vế – nếu chúng ta không còn ưa thích những vần nhịp mà từ đó thể thơ tự do đã từ giã hoặc biến đổi. Đúng ra là, những nhà phê bình cuốn này hẳn hòi nghĩ rằng thể thơ tự do đã biến thành một môi giới toàn vẹn, và mọi thực thi thơ đều có thể tồn tại được chỉ nhờ vào nó. Chỗ đứng này, theo tôi, rất lầm lẫn. Tôi tin rằng thơ không đủ sức chịu đựng thêm một thế kỷ nữa việc vế câu bị hiểu lầm và lạm dụng như ở thế kỷ này. Nhưng có nhiều người nghĩ khác, và tôi không muốn tha thứ cho những quan điểm ấy của họ.

KW: Một lời phê bình mà tôi nghĩ rằng ông có thể trả lời được, của Vernon Shetley trong After the Death of Poetry. Ông ấy nói rằng Missing Measures có một cái nhìn lịch sử về vế câu, qua đó, ông đã đem toàn thể lịch sử thi luật ra sánh với 70 năm của thể thơ tự do. Theo Shetley, ông không cân nhắc đến sự việc vế câu có thể thay đổi theo thổ ngữ qua thời gian: “Như thế, quan điểm của Steele là một cái nhìn lịch sử về âm cách, trong đó một câu ngũ ngôn cũng hay như (và giống như) bất cứ câu ngũ ngôn nào khác. Tuy nhiên, rất rõ ràng, tại sao đấy chính là trường hợp đang được nói đến; để Steele có thể thú nhận rằng âm luật học tiến hóa sẽ phục hồi thơ trong lịch sử phát triển nói chung của vận luật tiếng Anh, trong đó ta có thể thấy được những tự do thân mật đã được dùng bởi Browning, cách hủy bỏ âm tiết trong thơ Tennyson, và chuyển động của Hardy hướng về thứ ngay cả Steele cũng nhắc đến như là ‘thơ nhấn giọng hợp vần’, như là những giai đoạn hướng về những thứ thi học “tự do” cấp tiến hơn.” Ông trả lời ra sao cho điều vừa nói trên?

TS: Tôi nhận ra là có nhiều biến đổi qua thời gian trong cách làm thơ theo vế. Đó cũng là trường hợp xảy ra khi ngôn ngữ biến dạng, hệ âm cách dựa trên nó cũng thay đổi theo. Thí du như, những người nói tiếng Hy lạp và La Tinh đã mất đi ý thức về lượng âm tiết hay thời hạn, thi học cổ điển đổi từ nhịp ra nhấn giọng. Khi hệ biến hóa ngữ vĩ của tiếng Anh cổ suy đồi – và khi bọn Normans mang lại những ảnh hưởng ngôn ngữ thi vị của ngôn ngữ La mã vào tiếng Anh – thi học của chúng ta đổi từ giọng-điệu-vần, thường là với nhịp giáng, ra một phối hợp đếm chữ với nhịp thăng. Tuy nhiên, khái niệm về âm cách, về vận luật, vẫn giữ nguyên. Ngay cả vận luật thả lỏng nhất của thơ La tinh truyền thống, cũng vẫn có sắp xếp hơn so với những thứ mà ông đã thấy ở thế kỷ 20 này. Hơn nữa, dường như những phê bình mà ông nói đến, đều lầm lẫn âm cách với vần nhịp. Trên cơ cấu thì một câu ngũ ngôn y hệt như bất cứ một câu ngũ ngôn nào – mặc dù có thể nó không hay bằng, không mang tích cách nghệ thuật, so với những câu khác. Dù là viết bởi Shakespeare, Pope, Wordsworth hay Browning, căn bản ngũ ngôn vẫn có chung một hình thức cơ bản. Sự khác biệt giữa những nhà thơ này – và đây là cả một thế giới khác biệt – nằm trong cách chuyển nhịp điệu theo khuôn mẫu ẩn tàng ở dưới. Một vài nhà thơ thích chọn lựa những câu có nhịp đối xứng, trong khi người khác lại thích tạm ngừng nhiều lần trong câu. Có người thích liên cú các câu thơ nhiều lần. Có người lại thích những phần tử ngôn ngữ Đức trong tiếng Anh và dùng nhiều chữ đơn âm, trong khi người khác lại thích phần tử La Tinh và nghiêng về cách dùng chữ đa âm. Những điều này và nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến vần nhịp, và cách lựa chọn vần thay đổi không phải chỉ riêng với từng nhà thơ, mà còn theo từng thời đại nữa. Nhưng cái sự kiện, thơ Browning thì nhiệt huyết và thân mật, đây chỉ nói về vế câu, không nằm trong trường hợp nào hết. Những câu thơ năm chữ trong “My Last Duchess” và “The Bishop Orders his Tomb” vẫn đọc được theo tập quán. Chúng vẫn giữ nguyên nền-giọng nam trầm, liên thể của nhịp và vế câu. Theo quan điểm của tôi, việc cho rằng thể thơ tự do gạt bỏ cái khuôn mẫu ẩn tàng ở dưới, tách rời khỏi âm cách truyền thống, không phải là một bước đi trong tiến hóa của nó.

KW: Một vài nhà thơ đã viết một cách mê đắm về một số chủ từ cốt lõi; nhiều sách chồng chất; họ mở một cuộc điều tra kỹ lưỡng về một chủ từ riêng biệt nào đó. Một số nhà thơ khác có khuynh hướng làm thơ từng bài một; họ gộp chúng lại, và thi tập của họ là những tập hợp nhiều bài thơ khéo léo tác thành riêng biệt. Đối với tôi, hình như tác phẩm của ông thuộc về loại thứ hai. Những thi tập của ông thám hiểm một số chủ từ khác nhau; theo lời của Donald Hall, ông làm thơ, không phải làm thi ca. Đây có là một miêu tả đúng về tiến trình làm thơ của ông không?

TS: Rất đúng. Tôi viết từng bài một. Tôi thích nhất những tập thơ có nhiều chủ từ khác nhau và điều này cho thấy nhà thơ thật sự có cố gắng nắm lấy từng chủ từ và nhìn nó qua nhiều góc cạnh khác nhau, và trực đoán được vài khía cạnh khác nhau có thể của nó. Thành thử điều này cũng rất tự nhiên khi tôi đi theo con đường từng-bài-thơ-trong-từng-lúc.

KW: Ông có thấy, những ý tưởng hay chủ đề thống nhất nào giữa nhiều chủ từ khác nhau, từ giặt giũ cho đến những vấn đề gia đình với nhiều xúc cảm, đến thằng bé chơi bóng rỗ, hay không?

TS: Có lần được hỏi một câu tương tự, tôi đã trả lời rằng, thơ của tôi nói về thiên nhiên hay đặc tính tự nhiên của con người. Câu đó cũng có thể được dùng lại ở đây. Tôi thường bị lôi cuốn vào trong chủ từ của bài thơ khi viết. Tôi không nhìn xa hay đắn đo xem bài thơ sẽ vừa vặn ở chỗ nào trong vài đề mục đời sống lớn lao nào đó. Và tôi nghĩ rằng chúng ta cũng không nên ý thức quá mức về tác phẩm và về tiến trình nhà thơ của mình. Nhà thơ nào tự thấy mình nghiêm trọng đến chừng nào, càng ít nghiêm trọng với thơ chùng nấy.

KW: Như thế nào thì những chủ từ ấy đến với ông, và thường thì ông mất bao lâu để đọc lại?

TS: Tôi viết về những chủ từ làm bận tâm trí hoặc gợi được sự chú ý của mình. Một bài thơ có thể, như bài thơ về thằng bé thực tập bóng rỗ, có khởi nguyên từ một cảnh hay hình ảnh đáng được giữ lại và chia sẻ. Hay một bài thơ có thể, như bài “Pacific Rim”, khởi từ một kinh nghiệm cá nhân và ước muốn được hiểu nó rõ ràng hơn. Một bài thơ có thể gắng tìm hiểu và tạo hình cho một trường hợp tương đối phức tạp hay cho một chùm nhiều ý tưởng. Thí dụ như bài “Her Memory of the Picnic” trong The Color Wheel, đã cố chú trọng vào một số trong nhiều vấn đề trong kinh nghiệm gia đình. Bài “The Library” cũng thế, dù là trong bài thơ này mọi vấn đề liên quan nhiều hơn với kinh nghiệm văn hóa trí thức. Việc đọc sửa lại thì tùy. Với một vài bài thơ riêng biệt nào đó, tôi suy nghĩ khá lâu về chủ từ, nhưng sẽ viết bài thơ rất nhanh. Bài “Profils Perdus” trong Uncertainties and Rest, là như thế. Tôi đã suy nghĩ rất lâu về làm thế nào để khai khẩn tính đa cảm, dù điều này có giá trị ở vài khía cạnh nào đó, nhưng có thể biến thành tàn tật tâm lý nếu đi quá xa. Và bài thơ thật thụ được viết ra trong vòng 20 phút một đêm thu 1972. Tuy nhiên, với những bài thơ khác, tôi có thể có nhiều bản nháp trước khi có được một bản vừa ý hoặc đành bỏ hẳn bài thơ. Có khi, vấn đề lại là hình thức tôi chọn lúc khởi đầu là sai. Thí dụ như lúc tôi bắt đầu viết “Jane”, một bài thơ trong Sapphics against Anger, bằng một câu dài. Tôi vùng vẩy và vùng vẩy, thử nghiệm với nhiều nhịp điệu và khuôn mẫu thi tiết khác nhau. Không có thứ nào được cả. Cuối cùng, tôi có ý nghĩ biết đâu bài thơ khá hơn nếu đặt trong những cung nhịp ngắn, nhất là vì bài thơ dính dáng đến chuyển động quanh co với một nhận thức sắc bén riêng biệt. Tôi bèn thử dùng vế ba chữ – đối với tôi thể này luôn gây một cảm tưởng kích thích, đến trước – và bỗng nhiên bài thơ thành hình.

KW: The Color Wheel là một cái tựa hay. Điều gì đã đưa ông đến tựa này?

TS: Tựa này đến từ một trong nhiều bài thơ, “Portrait of the Artist as a Young Child.” Nó tả một đứa trẻ chơi với những cây sáp màu và nói đến cối màu bằng nối kết việc trẻ thám hiểm nhiều cách phối hợp màu sắc khác nhau. Lúc đặt tựa cho tập thơ, tôi nghĩ rằng The Color Wheel có thể gợi được độc giả. Cũng như, cụm từ ấy và hình ảnh gợi lại phương cách mà thơ và nghệ thuật đã giúp chúng ta kinh qua một quang phổ dồi dào nhiều ý tưởng và cảm xúc, và cho chúng ta một ý niệm rằng, cho dù đời sống của chúng ta có ngắn ngủi và khó khăn đến đâu, chúng ta vẫn mãi mãi vinh quang là một phần của hiện thực. Cho nên tôi thấy rất thích hợp khi đặt tên cho tập thơ vì “the wheel/Of contrasts and of complements,/Where every shade divides and blends,/Where you find those that you prefer,/Where being is not linear,/But bright and deep and never ends.”

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

Image: Richard Estes (United States, born 1932) “Beaver Dam Pond, Acadia National Park,” 2009, oil on board, 12 1/2 x 30 inches. Portland Museum of Art, Maine. Anonymous gift, 2014.2 © Richard Estes, courtesy Marlborough Gallery, New York.

TUẦN THƠ 54: NÀNG CÒN NON TRẺ QUÁ

Tranh Paul Klee: Ocean Lanscape, 1929
Tranh Paul Klee: Ocean Lanscape, 1929
Trầm Phục Khắc

NÀNG CÒN NON TRẺ QUÁ

Nữ thần dân chủ đáp xuống trên
quê hương nghèo khó tiếng hoan hô
như sóng vỡ rồi tắt ngúm nàng
vẫy đôi tay nhỏ bé chào dân
tộc nhiều anh hùng hơn công dân
gương mẫu nàng còn non trẻ quá
giữa rừng súng gươm sáng loáng nhưng
chẳng sao súng gươm rồi sẽ lỗi
thời mà nàng thì đâu có tuổi
chính phủ mời nàng đọc diễn văn
giữa quảng trường hoành tráng nhưng đêm
về nữ thần dân chủ la cà
cùng đám thần dân rách rưới trong
những quán hàng rác rưởi nàng trở
thành nữ thần thơ ngây truyền bá
lộ trình ước mơ của một dân
tộc đi tìm những công dân gương
mẫu mà chẳng cần tìm kiếm những
anh hùng ôi nữ thần non trẻ
làm bỏng cháy trang mạng của đám
thần dân đang chết khát thông tin
về một nữ thần thơ ngây nữ
thần siêu sao mê mẩn trên hè
phố nàng có khả năng làm tắt
ngúm những niềm tin những ước mơ
để rồi nàng lại hiện ra hiện
ra trẻ măng giữa đám thần dân
chập chùng chập chùng như sóng vỡ


HỢP ĐỒNG XANH

Đây là bản cuối cùng xin anh
giữ lấy chỉ còn anh ở lại
với cuộc đời này nếu còn có
một cuộc đời được gọi tên là
quê hương thì xin anh giữ lấy
đây là bản cuối cùng tuy rách
nát nhưng chưa hề thay đổi bản
hợp đồng mang tên gọi việt nam
không cần ai phải kí bởi vì
máu của ba dòng sông đã chảy
trong dòng chữ hay là vẫn chảy
trong từng dây thần kinh chưa hề
điên loạn của chúng ta vâng có
ai ngờ hồi chuông điểm gấp như
hồi chuông báo tử đã đến lúc
phải chia tay anh ở lại thì
xin anh giữ lấy đây là bản
cuối cùng tuy rách nát nhưng chưa
hề thay đổi không thể mất vì
chưa hề được viết chỉ là những
giọt máu vẫn còn tươm ra tươm
ra trên bản hợp đồng không cần
ai trong chúng ta phải kí bản
hợp đồng mang tên gọi việt nam


HỒN CÂY MỚM CÁ

Người đàn bà dắt tay
đứa bé trên con đường
đi về hướng nam nên
phía bên trái là những
con cá chết và phía
bên phải là những hàng
cây xanh máu máu xanh
buốt như mầu da mà
những con cá chết không
thể nào cứu nổi chết
cấp tốc chết ngấm sâu
vào rễ cái rễ con
chết còn nắm tay nhau
để còn nhắn hồi sinh
hồi sinh lại con đường
đi về hướng nam hướng
đã đi từ khi biết
thở biết khóc cười biết
dắt tay nhau như người
đàn bà dắt tay đứa
bé đi về hướng nam
cho đến khi gục xuống
cùng những con cá chết
chết cấp tốc chết ngấm
sâu vào rễ cái rễ
con để cho đứa bé
lớn lên đi thật nhanh
cùng hàng cây xanh máu.


ẢNH MÙ

Những con đường không có lối ra
tìm ra lối mới những con đường
mới hàng cây mới mới hơn hàng
cây mới đốn đốn hết lối ra
những con đường ra phố không phố
chỉ có lũ ma và cô gái
điếm sống mà không tin cứ việc
lắng nghe những gì không biết nói
của tiếng rao hấp hối bật ra
đây con đường mới hàng cây mới
mà không một trái tim nào mới
trong đoàn người lúc nha lúc nhúc
những con người không biết lối ra
choán hết lối ra vẫn cứ ra
tìm ra lối mới sống mà nào
đứng hết vào đây chụp ảnh nào


CHẮC HẲN LÀ QUỈ XÔ MA ĐUỔI

Một hôm tôi bước ra khỏi tuổi
đối diện tuổi hỏi tuổi rằng tại
sao tuổi cứ bám vào tôi đẩy
tôi vào sự già nua thôi thì
hãy tránh mặt nhau để cho tôi
đi đường tôi tuổi đi đường tuổi
để cho tôi sống nốt cuộc vui
này một cuộc đời không tháng năm
không xuân hạ thu đông không tuổi
mà nên không có gì thay đổi
buồn thiu tuổi đành quay trở về
với thời gian nhưng thời gian đã
đóng băng với cuộc đời đóng cửa
không trăm lần không cuộc đời không
thể nào đóng cửa hãy gọi năm
tháng trở về đây mở tung mọi
cánh cửa cho thời gian ấm lại
cho tuổi trở về tuổi gặp lại
tôi thấy tôi gặp lại chính tôi
một hôm nào chìm theo chìm theo
xuân hạ thu đông thấy tôi một
hôm nào vẫn bước ra khỏi cuộc
vui này bước ra khỏi tuổi đối
diện tuổi hỏi tuổi rằng tại sao
tuổi cứ bám vào tôi đẩy tôi
vào sự già nua sao không cùng
tôi đi về một nơi chắc hẳn
vẫn là một cuộc đời không tuổi


VẾT SẸO

Như dân tộc đến với
dân tộc đồng bào đến
với đồng bào vết sẹo
đến với ngón tay và
trái tim đến với cuộc
đời đơn giản người đàn
bà nghe tiếng gọi của
người đàn ông ngoài thửa
ruộng cái gai cắm vào
gan mật làm sao để
gỡ như người đàn ông
nghe tiếng thở buổi chiều
tiếng thở người đàn bà
buổi chiều vết sẹo buổi
chiều nghe buổi chiều trong
tiếng thở mình của mình
của chúng mình tắt chưa
tắt của buổi chiều tắt
chưa tắt như ước mơ
của ai không của ai
của trái tim không ngoài
cuộc đời cho dân tộc
còn nhớ dân tộc đồng
bào còn nhớ đồng bào
và người đàn ông còn
nhớ vết sẹo trên thân
thể người đàn bà chưa
tắt buổi chiều chưa tắt


MỘT HÔM KHÔNG LÀ HÔM NÀO NỮA

Một hôm ánh sáng không
trở lại trần gian nữa
không thấy nữa tiếng hát
không trở lại trần gian
nữa không nghe nữa những
bài thơ không viết ở
trần gian nữa không còn
thao thức nữa tôi lại
gặp em một hôm phán
xét không trở lại trần
gian nữa không thờ phượng
nữa những con đường không
khác nhau không đi không
đến nữa những tiếng đập
không trở về tim không
thăm không hỏi nữa tôi
lại gặp em một hôm
những dòng sông không trở
lại tuổi thơ không cần
mơ ước nữa những đại
dương dìm chết mọi lòng
tham và mọi điều kỳ
diệu không cần ai khám
phá bởi vì một hôm
không là hôm nào nữa
lúc đó trần gian đi
bài thơ lại bắt đầu
và tôi lại gặp em


MỘNG GIANG HỒ

Kẻ lạ mặt nằm giữa anh và
em đêm qua trong giấc mơ gã
giang hồ bí ẩn nụ cười nửa
miệng cắn ngập hàm răng độc dược
vào phần thân thể kín đau đớn
như lũ ma đội lốt anh hùng
kéo sợi dây thòng lọng treo ngược
môn lịch sử kẻ lạ mặt gã
giang hồ chuyên nghiệp chiếc áo thầy
tu với liều thuốc ngủ bịt miệng
em ta kéo qua biên giới ai
giỡn mặt mặc ai giỡn mặt kẻ
lạ mặt bước vào nhà tổ thong
thả ngồi vào chiếc ghế tổ tiên
gã giang hồ đẳng cấp thong thả
điểm hồi chuông chuông gọi hồn ư
gọi người ư có phải giấc mơ
không không đâu phải giấc mơ chỉ
là kẻ lạ mặt đẹp trai gã
giang hồ điểm hồi chuông báo mộng


VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG

Người đàn ông đi giữa hoàng hôn
và những căn nhà xiêu đổ đi
giữa cuộc tình tay ba với người
đàn bà và với một con đường
dang dở con đường chẳng bao giờ
đến được người đàn bà chẳng bao
giờ đến được và đi như lũ
cuốn đi những bọt đời đời bọt
những con đường đâu đến đến đâu
ai chọn ai ai chọn gì ai
mà đi mà bấy lâu như mọi
người đi mọi người đàn ông đi
giữa chiến tranh giữa hoàng hôn và
con đường khói lửa… về đâu… khói
lửa về đâu mà cháy đỏ ngoại
ô cháy đỏ đô thành cháy rụi
giấc mơ chỉ còn lại đoàn người
di tản người đàn bà di tản
cả đô thành cả cuộc đời cuộc
tình di tản trong biển điên biển
cuồng điên của đàn con mất mẹ
và người đàn ông đi giữa hoàng
hôn đi tìm nơi chôn cất hay
chẳng nơi nào chôn cất bởi vì
dang dở vì bức ảnh ba chiều
vẫn còn dang dở vẫn còn thiếu
một chiều cho hơi thở… của người
đàn ông với viên đạn cuối cùng


BỨC ẢNH BA CHIỀU

Người đàn bà đánh mất
thời gian đánh rớt tuổi
mơ đánh tháo tự do
cho cuộc đời điên đảo
kể cho cô cháu bé
bỏng nghe về một nơi
gọi là đô thành… là
giấc mơ… mùa cỏ hoa
biêng biếc… giọng bà kể
mơ hồ như cố vẽ
lại bức ảnh ba chiều
lên tâm trí tuổi thơ
bức ảnh đẹp buồn như
trái tim đánh tháo cho
cuộc tình dang dở với
người đàn ông đã mất
người đàn bà bỏ đi
và tất cả biến đi
biến đi từ thành phố
mất tên và mùa cỏ
hoa mất tuổi cô cháu
bé bỏng nghe bà kể
và thiếp đi thiếp đi
như cuộc đời chưa là
cuộc đời chưa thành cuộc
đời chỉ là câu chuyện
kể và cô bé bước
đi mơ hồ theo… bức
ảnh theo hơi thở phập
phồng như bức ảnh đã
hồi sinh với cuộc đời
chưa bao giờ có thật
với bà tiên bước ra
từ tâm trí trẻ thơ
lời kể người đàn bà
và… giấc mơ có thật


LẶNG LẼ

con đường đẹp quá
đúng với giấc mơ
nhưng con đường rồi
phải hết mà giấc
mơ có cánh nên
giấc mơ còn nên
giấc mơ bay một
mình một mình lặng
lẽ lặng lẽ có
thấy ai đang ngóng
cổ nhìn không chắc
là không có muốn
ghé lại đây không
chắc là không giấc
mơ đâu biết nghe
đâu biết nhìn giấc
mơ buồn quá thật
là buồn mà chẳng
thể là của riêng
ai giấc mơ có
cánh thật là nhẹ
mà chẳng để bay
đến được nơi đâu
thôi thì cứ bay
một mình lặng lẽ
cho đến khi đuối
sức đuối sức đuối
sức may ra lại
rơi xuống một con
đường mà lại là
một con đường đẹp
đúng với giấc mơ
một mình lặng lẽ

Tranh Paul Klee: Ocean Lanscape, 1929

KỊCH THƠ: HÒN THAN

0

KỊCH THƠ: HÒN THAN
___________________

Trầm Phục Khắc

 
Kịch dựng trên nền 3
bài thơ Mất Dạy của
Xuân Thủy Vô Đề của
Khế Iêm và À Ơi
của Trầm Phục Khắc kịch
1 màn 1 cảnh thời gian vào
khoảng 1 chấm sáng đậm đặc càng
vẽ càng mê ảo chuyển từ sáng
ngọt sang sáng rực rồi cuối cùng
bập bùng như lửa cảnh là góc
căn phòng 1 diễn viên đóng 2
vai lúc hòn than lúc tôi khi
ẩn khi hiện … màn từ từ mở …
có tiếng vọng ra từ hậu trường:
“ Tôi đứng ở góc phòng lờ
mờ giữa sự vật và hiện
thực trong phút chốc tôi lắng
nghe và chừng như hoang phế
lan dần và cơn sốt lan
dần như hòn than nóng lên
trong tôi tôi đang mất tôi
từ từ từ từ bừng bừng
tôi là hòn than cơn sốt
giải phóng tôi khỏi tâm trí
và cảm xúc tù ngục của
con người từ trong ra ngoài … ”
Hòn than có vẻ lấn sân trong
khi tôi xem ra lép vế vẫn
có tiếng vọng ra từ hậu trường:
“ … toàn thân tôi là chất đen
giống loài tôi là than ngôn
ngữ tôi là lửa linh hồn
tôi là tàn tro thế giới … “
Thời gian bỗng chảy ra
réo rắt theo tiếng trẻ
con văng vẳng 4 bề:
“ Thơ như kịch
kịch như đời
vô đề và
vô danh như
lời trăn trối
những gì chỉ
nói một lần
trong một đời
văng vẳng và
văng vẳng như
bài đồng dao
thơ như kịch
kịch như đời
khế iêm à
chúng ta ơi “
Rồi thời gian đặc lại
tiếng trẻ con đặc lại
và sừn sựt như tiếng
rao đứa trẻ tật nguyền:
“ Dừng như con người chưa đủ sự mất dạy … ”
Như lời nguyền bám theo
thế giới của con người:
” … để mất dạy với những ai mất dạy như
tôi một đứa trẻ mất dạy chưa được dạy
dỗ dù có cha có mẹ dù có gia
đình một gia đình bị bom rơi trúng phải
làm tan nát cái gia đình thành một gia
đình mất dạy để rồi dường như con người
chưa đủ sự mất dạy để mất dạy với
những ai mất dạy vì bom rơi đạn lạc … “
Thời gian quánh đặc và
mê ảo như ánh lửa
bập bùng bao phủ góc
căn phòng vẫn lại tiếng
vọng ra từ hậu trường:
“ … tôi là than ngôn
ngữ tôi là lửa linh hồn
tôi là tàn tro thế giới
tôi là đêm tối và lửa
hồng chào bạn người nhé tôi
là hòn than tôi là tôi
dị kỳ không sai. “
Hòn than vẫn lấn sân trong khi
tôi vẫn xem ra lép vế nhưng
cả 2 đều giấu mặt và đều
không xuất hiện kể cả phút chót
vai phụ bạn người cũng là một
vai diễn vô danh và vắng mặt
Vậy thì cần gì màn với cảnh
Bởi vì tất cả vở kịch cuối
cùng chỉ xảy ra trong tâm trí:
“ Thơ như kịch
kịch như đời
…văng vẳng và
văng vẳng như
bài đồng dao
thơ như kịch
kịch như đời … “
Màn hạ xuống từ từ
 
Hình: Hang Fingal
————
Xem thêm: Dao thien duong tren Dai Tay Duong – Diem den thu vi, http://vietbao.vn/vi/Du-lich/Dao-thien-duong-tren-Dai-Tay-Duong/1735075965/256/
Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn
 

THƠ NHƯ NIỀM MÊ HOẶC

Magic Realism Fantasy Art of Michael Parkes
Magic Realism Fantasy Art of Michael Parkes
Dana Gioia

Làm cho thực tại tầm thường trở thành mê hoặc.

–  [Guillaume Apollinaire]

Vào thời điểm này đã có một khối lượng văn bản thật đồ sộ về phê bình thơ và lí thuyết thơ, khiến  không thể có vấn đề một chủ đề quan trọng nào lại bị sao lãng. Tuy nhiên vẫn không thể tránh việc vẫn có những điểm mù. Khi những học giả và những nhà phê bình theo đuổi những chủ đề thời thượng, thì những đề tài khác lại bị bỏ qua. Một số chủ đề đã bị sao lãng quá lâu khiến giờ đây xem chừng chúng không chỉ lỗi thời mà còn là kì cục, lệch chuẩn, thậm chí là tai tiếng. Bài tiểu luận này nghiên cứu một trong những chủ đề tai tiếng ấy, một chủ đề mà tôi hẳn sẽ bị coi là rất kì cục khi xem nó là quan trọng, có lẽ là chủ yếu của nghệ thuật thơ. Nó là một chủ đề rất đỗi xa rời những nghiên cứu văn học đương đại khiến không thể có thuật ngữ phê bình trang trọng nào để chỉ thị nó. Vì thiếu một tên gọi hợp phong cách hơn, nên tôi phải mượn một thuật ngữ cổ kính, enchantment, niềm mê hoặc. Nội cái từ này thôi hẳn cũng đủ khiến những độc giả có tinh thần trách nhiệm phải co rúm người lại. Tiếp theo nó sẽ là gì? Một trinh nữ với cây đàn ximbalum? Những chiếc tù và nơi xứ Yêu tinh mà thanh âm đang mờ dần?

Dường như thường có điều gì đó thô thiển hoặc ngây thơ nơi những quan điểm chủ trương rằng thơ phải có bản chất nào đó. Bất kì ai có trình độ trong ngành nghiên cứu văn học đều biết rằng không có tương lai trong ngành đó khi cố gắng kết nối nghệ thuật thơ với những gì được cho là chủ đích của con người.  Về điều này thì có quá ít sự kiện rõ ràng và quá nhiều phán đóan giá trị chủ quan, khiến không thể biến nó thành lãnh vực nghiên cứu học thuật an tòan. Có thể đây chính là lí do khiến những nhà thơ vừa là nhà phê bình từng đưa ra những khẳng định thuyết phục hơn cả về những khía cạnh chủ yếu của văn vần phần lớn lại là những người bên ngòai giới học thuật, tỉ như Ezra Pound, Robert Graves, Edwin Muir, Kathleen Raine, William Everson, Robert Bly, Les Murray, Wendell Berry, và, — nêu tên một người không phải là nhà thơ – Camille Paglia. Nói một cách dè dặt, những nhà thơ này đã không viết bằng ngôn ngữ của luận văn học thuật. Chủ yếu là họ dựa vào luận cứ thực nghiệm, vào ám chỉ thuộc huyền thọai, tương đồng lịch sử,  và tự sự cá nhân, thường là tô vẽ thêm bằng những thứ thuộc phần nhân chủng học hoặc tâm lí học nghiệp dư.  Tệ hại hơn cả, như trong The White Goddess của Graves hoặc Iron John của Bly, họ viện tới cái thẩm quyền của người có viễn kiến, thấu thị. Cảm hứng riêng tư có thể là chất liệu của thơ, nhưng nó có hại cho phê bình. Tuy nhiên có điều gì đó thú vị nơi công trình suy đóan của những người ngọai cuộc đó, ngòai cái ảo tưởng là người tiên tri hoặc lòng đố kị của thi nhân. Họ cùng chia sẻ niềm xác tín rằng thơ – cả sự sáng tạo lẫn sự tiếp nhận – có tầm quan trọng lớn đối với con người thế nên nó không chỉ cần được hiểu mà còn cần phải được làm mới theo định kì xét như một khả năng tinh thần. Họ cũng xem thơ như một yếu tố nền tảng của giáo dục. Vì thường là thiếu thận trọng xét theo những chuẩn mực về học thuật, nên những phê bình của họ lại mở ra những cuộc hội thọai mới về thơ hơn là chú giải và thương thảo về những hội thọai xưa cũ. Một chút thiếu thận trọng thì có thành tựu đáng kể, nhưng đôi khi sự trau dồi về văn học cũng cần phải thực hiện được thành tựu đáng kể.

Bài tiểu luận này khảo sát điều mà với tôi dường như là sự hiểu sai đang diễn ra về bản chất của thơ. Xa hơn nữa, bài này gợi ý rằng sự hiểu sai này đã tạo ra những vấn đề là nghệ thuật nói chung đã được giảng dạy nhưthế nào trong những nhà trường ở mọi cấp của nền giáo dục. Đề cập chủ đề này cho thỏa đáng thì cần cả một giá sách bàn về khỏang nửa tá lãnh vực. Thay vào đó, tôi chỉ thể cống hiến vài nhận xét sơ bộ, hi vọng gợi được sự quan tâm thay vì làm mệt óc người đọc.


I.

Đừng sợ. Đảo này tràn ngập những tiếng ồn.

– Caliban, The Tempest [Shakespeare]

Cho phép tôi khởi đầu bằng ba nhận xét chủ yếu về nghệ thuật thơ. Thứ nhất, thơ là dạng văn học cổ xưa nhất. Thực vậy, nó là dạng nguyên sơ của mọi nền văn học. Thơ thậm chí còn có trước lịch sử bởi lẽ nó không chỉ hiện hữu mà còn triển nở trước khi con người phát minh ra chữ viết. Là một nghệ thuật truyền miệng, nó đã không đòi hỏi phải có bảng chữ cái hoặc bất kì dạng ghi chép nào cho mắt nhìn mà vẫn triển khai và hoàn thiện được hàng loạt rất đa dạng những vận luật [nhịp thơ với số âm tiết được qui định], dạng thức, và thể loại. Trước khi có chữ viết, thì thơ – hoặc có lẽ ta nên gọi là văn vần – đứng ở vị trí trung tâm của nền văn hóa xét như cách thế nhiều khả năng hơn hết để ghi nhớ, bảo tồn, và truyền đạt cái diện mạo của một bộ tộc, một nền văn hóa, một quốc gia. Văn vần từng là công nghệ đầu tiên của nhân loại để lưu trữ kí ức và truyền đạt thông tin – một công nghệ chuyển tải độc đáo chỉ nhờ vào cơ thể con người. Theo cách phát biểu sắc sảo của Robert Frost, thơ từng là “cách ghi nhớ những gì nếu bị lãng quên thì điều đó sẽ bần cùng hóa chúng ta.”

Định nghĩa súc tích của Frost thật hữu ích để ta suy gẫm. Ông gọi thơ là “một cách để ghi nhớ”, để nói rằng thơ là một công nghệ nhằm giúp trí nhớ để bảo tồn những trải nghiệm của con người. Ông khẳng định rằng sự mất mát những gì mà thơ bảo tồn “sẽ bần cùng hóa chúng ta”, cũng là nói rằng thơ làm giàu cho ý thức của con người hoặc ít nhất thì cũng bảo tồn được những gì có giá trị chung khỏi bị tàn phá. Cuối cùng ông khẳng định rằng thơ duy trì những đức tính tốt đẹp đó chống lại nguy cơ dành cho con người khi “lãng quên” chúng. Ở điểm này, Frost thừa nhận là nghệ thuật đó [thơ] chống đối lại những lực tự nhiên của thời gian, của tử vong, và của sự lãng quên, là những gì nhân loại phải đối mặt để phát hiện và bảo tồn cái ý nghĩa của giống người.  Frost từng nói đâu đó rằng một trong những nhiệm vụ chủ yếu của thơ là giúp chúng ta “làm sáng tỏ cuộc sống … ban cho ta nơi nương tựa nhất thời chống lại sự hỗn loạn.”

Nhận xét thứ hai: thơ là một nghệ thuật của con người có tính phổ quát. Bất chấp những lí thuyết hậu hiện đại của chủ nghĩa tương đối về văn hóa vốn khẳng định rằng không có những nguyên lí phổ quát dành cho loài người, rõ ràng là có cả một khối lượng dữ liệu thực nghiệm vừa rất lớn vừa có tính thuyết phục, được sưu tập và minh chứng bằng tài liệu bởi các nhà nhân chủng học, ngôn ngữ học, và khảo cổ học, là những dữ liệu minh chứng rằng không có một tập thể gồm những con người nào, dẫu là biệt lập, lại không triển khai và sử dụng thơ như một sự rèn luyện về văn hóa. Phần lớn thơ đó, dĩ nhiên, là thơ truyền miệng. Rất nhiều nền văn hóa đó chưa từng triển khai dạng chữ viết. Nhưng vẫn còn đó một sự kiện – và là một sự kiện chứng minh được, không chỉ là ý kiến chủ quan – đó là mỗi xã hội đều đã triển khai một cách nói đặc biệt, định hình bởi những mô hình âm thanh lí giải được, cách nói đó chính là thơ. Khoa nhận thức học giờ đây gợi ý rằng não bộ con người thực sự là được kiểm soát bằng mạch điện tử để đáp ứng cách nói mô hình hóa mà văn vần là biểu trưng của cách nói này. Giống như tiếng hót của loài chim hoặc điệu múa của loài ong –nhưng ở mức cao hơn về tính phức tạp – thơ phản ánh khả năng nhận thức đặc biệt của trí óc và cơ thể của con người. Tại sao nhân loại, một cách phổ quát,  lại cần tới cách nói đặc biệt này, đó là một vấn đề hoàn toàn khác, sẽ được xem xét trong ít trang tới.

Nhận xét thứ ba và cuối cùng: thơ có nguồn gốc là một dạng của thanh nhạc. Nó khởi đầu như một phương tiện truyền đạt mang tính biểu diễn và liên quan đến thính giác, kết nối với nhạc và múa, và phối hợp với nghi lễ dân gian, nghi thức tôn giáo, và ma thuật. (Thơ buổi sơ khai hầu như chắc chắn có chức năng phục vụ cho pháp sư.) Hầu hết những nền văn hóa của các thổ dân đều không tách biệt thơ với bài hát bởi lẽ hai ngành nghệ thuật này gắn bó với nhau rất mật thiết tới mức thẩm thấu vào nhau. Hai hoặc ba thiên niên kỉ trước, những nền văn hóa cổ Hi Lạp hoặc Trung quốc cũng đã không phân biệt thơ với bài hát. Văn vần đã không được xướng lên theo kiểu nói năng thường đàm, kiểu này chỉ được triển khai mới đây hồi đầu thế kỉ 20. Lời thơ đã từng luôn được cách điệu hóa – thường là được xướng lên theo nhịp điệu hoặc được hát lên, đôi khi thậm chí được hát lên kèm điệu múa bởi dàn hợp xướng.

Trong nền văn hóa truyền miệng không có sự chia tách giữa nhà thơ và bài thơ. Tác giả là người trình diễn, là người xướng âm các từ của bài thơ. Sự sáng tạo và sự trình diễn nối kết với nhau, không chia tách. Vì không có chữ viết, nên một “văn bản” [text] nếu không được trình diễn cho mọi người nghe được, thì kể như nó không hiện hữu. Điều quan trọng không phải là sự trung thành với một văn bản vô hình có tính pla-tô-ních [hoặc thay “có tính pla-tô-ních” bằng “được lí tưởng hóa”], mà là sự hữu hiệu của cuộc trình diễn nhằm mê hoặc thính giả khiến họ luôn chăm chú lắng nghe – một cử tọa gồm những người mà nhà thơ hoặc người trình diễn có thể thực sự nhìn thấy được.Những dạng thơ chỉ thuần túy là lời lẽ [không được hát lên hoặc có điệu múa kèm theo] dần dà xuất hiện, có lẽ là sau sự phát minh ra chữ viết, nhưng những nguồn gốc nhạc tính của nghệ thuật thơ vẫn được bảo tồn và mã hoá trong vần luật và trong những yếu tố hình thức khác. Sự triển khai của những hệ thống ghi lại ngữ âm và dấu tốc kí khiến ta có thể bảo tồn văn bản của một bài thơ lên trên trang giấy, và công nghệ ghi chép văn bản dần dà giúp vào việc viết những bài thơ lên trên trang giấy. Nhưng ngay cả vào thời điểm đó [thơ được viết ra], thì những tác giả vẫn thờ ơ với việc cắt đứt quan hệ giữa nhà thơ và người hát xướng. Cho tới rất gần đây, các nhà thơ vẫn cho rằng văn bản in ấn nên được người đọc xướng âm theo cách thái nào đó.

Diện mạo của nhà thơ như người xướng ca hoặc là linh thiêng hoặc chỉ là người của bộ lạc vẫn tiếp tục được viện dẫn xuyên suốt nền văn học phương Tây kể từ lời thơ “Arma virumque cano” (Tôi hát về những vũ khí và về một con người …) của Virgil cho tới lời thơ “Sing Heav’nly Muse”(Hát lên đi Nàng thơ Thần thánh)của John Milton và sau này trong lời thơ “Irish poets, learn your trade, / Sing whatever is well made” (Hỡi những nhà thơ xứ Ái Nhĩ Lan, hãy trau dồi nghề thơ của các người / Hãy hát lên bất kì lời thơ nào hay, đẹp) của W. B. Yeats. Mặc dù nhà thơ không còn ca ngâm hoặc trực tiếp đối diện với cử tọa nữa, nhưng cái hình tượng cụ thể của buổi trình diễn xướng âm sinh động tại chỗ vẫn gắn bó không rời với những ẩn dụ mà các nhà thơ dùng để mô tả nghệ thuật của họ. Khi Walt Whitman cho ấn hành một bài thơ tự do trong một tập sách được in bằng máy, ông đã không đặt tựa đề là “Book of Myself” [Sách của chính tôi]  mà là “Song of Myself” [Bài hát của chính tôi]. Whitman đã muốn gợi lại sự tiếp cận kề cận nhautrong không gian,  giữaca nhân và cử tọa: “I sing the body electric,/ The armies of those I love engirth me and I engirth them.” (Tôi ngợi ca cái cơ thể sôi động,/ Đám đông những người tôi yêu mến bao bọc tôi và tôi bao bọc họ.) Tương tự, sau này Ezra Pound đặt tựa cho thiên sử thi Hiện đại chủ nghĩa của ông là The Cantos. Về mặt hình thức, nó chủ yếu dành cho thị giác và cho kiểu in ấn. Rất nhiều đoạn thơ trong thiên sử thi này của Pound không thể được xướng âm cao giọng một cách thỏa đáng, tuy vậy tác giả vẫn giới thiệu tác phẩm của mình như những cantos, là từ tiếng Ý có nghĩa là song hoặc chant (đều có nghĩa là bài hát).Cái tựa của tác phẩm thơ này không nhằm mô tả nó cho bằng bày tỏ cái dòng dõi của nó [thơ bắt nguồn từ bài hát] và tính xác thực của bằng chứng đó.

Khái niệm thơ được nhìn nhận như bài hát còn được mở rộng sang lãnh vực siêu hình, như Rainer Maria Rilke đã thực hiện trong tập Sonnets to Orpheus của ông. “Gesang ist Dasein,” Rilke khẳng định, “Singing is being.” (Hát nghĩa là Hiện thể) Trong quan điểm của Rilke, động thái hát, mà ông hiểu là sự sáng tạo thơ đích thực theo nghĩa nguyên sơ thần bí [primal Orphic sense], biểu trưng cho một cách thức hiện hữu khác với cách thức dùng lời hoặc cách thức im lặng. (Điều có ý nghĩa đặc biệt là ông đã sử dụng hình tượng Orphus, nhà thơ đầu tiên trong thần thoại, mà những ca khúc của nhà thơ này có thể làm thay đổi thực tại.) Một chủ đích của việc làm thơ, Rilke gợi ý, là nhằm nâng cao hoặc biến đổi cái ý thức của tác giả về cuộc hiện hữu của chính họ. Nói rộng ra, việc lắng nghe một bài hát hoặc bài thơ cũng tạo một tác động tương tự nơi người nghe, tuy không mạnh mẽ bằng. Một số người đọc có thể nhận ra cụm từ nêu trên của Rilke nơi một ngữ cảnh khác – Lady Gaga đã xăm nó trên cánh tay của cô. Những nhà thơ và những ngôi sao nhạc popđều nhận thức được sức mạnh của bài hát – sức mạnh thực sự lẫn ẩn dụ – và mối nối kết về mặt vật chất và cảm xúc giữa bài hát và người nghe. Tiếng nói của thơ hữu hiệu và bao trùm hơn hết (dù là thơ tự do hoặc thơ có thể thức) khi nó thừa nhận – không cần biện giải – mối nối kết giữa nó với những nguồn gốc có tính nhạc và tính nghi thức của nó. Không một ai theo dõi một cuộc biểu diễn nhạc rock lại có thể khẳng định rằng thơ khi được xướng ngâm cũng chẳng khiến xảy ra bất kì chuyện gì, dẫu rằng chính xác thì những gì xảy ra trong đám đông phấn khích mê cuồng đó vẫn là điều bí ẩn và khác xa những gì vẫn thường được giả định.

Nhạc pop cung cấp một viễn cảnh hữu ích về sự phối hợp theo quan điểm của Plato giữa thơ và sự điên cuồng. Trong thơ có điều gì đó bất lí có thể gây nguy hiểm khiến triết gia đó phải lo ngại. Không phải bởi nội dung ngữ nghĩa, mà bởi sức thúc đẩy từ phủ tạng, từ bản năng do âm thanh và nhịp điệu gây ra. Một cách thuyết phục, thơtruyền đạt những cảm nghĩ vượt lên trên hoặc ở bên dưới diễn ngôn đặt cơ sở trên nền tảng lí trí. Vì mang tính chất gắn liền với thể chất con người nên lời thơ tách biệt khỏi thứ ngôn ngữ khái niệm của triết lí. Chứng kiến sự xung đột giữa văn hóa viết và văn hóa truyền miệng trong nền văn minh Hi Lạp ở thời điểm đó, Plato ngờ vực tính chất dựa trên cảm xúc và trực giác của thơ xướng ngâm. (Thơ viết ra chữ hầu như chưa xuất hiện.) Ông lo ngại rằng người nghe sẽ rơi vào trạng thái say sưa phi lí trí, điều mà sau này Friedrich Nietzsche gọi là cơn say của Tửu thần Dionysus. Còn Robert Burton thì tuyên bố thẳng thừng trong The Anatomy of Melancholy, “All poets are mad.” (Mọi nhà thơ đều điên). Plato đã đáp trả những mối nguy hại của thơ bằng cách gợi ý – chẳng có chút thành quả nào – rằng những kẻ hành xử nghệ thuật đó phải bị trục xuất khỏi nhà nước lí tưởng. (Những nhà tư tưởng đương đại đượchưởng nhiều thành quả hơn khi trấn áp thơ bằng cách cô lập nó trong lớp học.) Plato thừa nhận khả năng chuyển tải ý nghĩa của thơ bằng những cách thức không cổ vũ cho những đáp ứng có ý thức và hợp lí trí. Nói cách khác, điều Plato lưu ý, là thơ là một loại ca khúc. Điều ông lo ngại, là sự mê hoặc của Tửu thần Dionysus.


II.

Thơ bị tàn diệt và tận diệt khi nó xa lìa nhạc, hoặc ít nhất là lìa nhạc tưởng tượng.

– Ezra Pound

Nhạc tính làm nền cho thơ chính là nguyên nhân chủ yếu khiến T. S. Eliot nhận xét về Dante rằng “Thơ thực sự là thơ có thể truyền đạt, thông tri trước khi được hiểu.” Ngôn ngữ thơ tự biểu thị như một tổng thể, không như một phương tiện chuyển tải trong suốt chuyên chở một nội dung có tính khái niệm – hệt như nhạc và múa biểu thị ý nghĩa theo những cách liên hệ tới cơ thể con người và tới cảm quan hơn là theo cách phân tích. Hãy lắng nghe những giòng thơ mở đầu cho bài thơ được đưa vào nhiều tuyển tập thơ tiếng Anh hơn cả, bài “The Tyger” của William Blake:

Tyger! Tyger! burning bright
In the forests of the night,
What immortal hand or eye
Could frame thy fearful symmetry?

In what distant deeps or skies
Burnt the fire of thine eyes?
On what wings dare he aspire?
What the hand, dare seize the fire?

Chúa sơn lâm! Chúa sơn lâm! Ngời rực sáng
Giữa đêm rừng,
Đôi tay hay đôi mắt vĩnh hằng nào
Đủ quyền năng đưa nét cân đối kinh hoàng của mi vào khuôn phép?
Trong cõi biển hoặc cõi trời xa xăm nào
Mà lửa được thổi truyền rực cháy trong đôi mắt mi?
Trên đôi cánh nào Kẻ đó dám đảm đương tham vọng đó?
Đôi tay nào, dám cầm giữ lửa?*

Nhiều học giả lớn đã cố gắng minh giải những điều được coi là có ý nghĩa thần thoại và ý hệ phức tạp trong những giòng thơ này, mà theo như người ta nói, Black đã ngâm ngợi bài thơ này phỏng theo một giai điệu đã thất truyền, thế nhưng chính bài thơ đã được hàng triệu người đọc yêu thích và trìu mến, dẫu rằng họ chẳng bận tâm về ý nghĩa của bài thơ dưới dạng ngôn từ của khái niệm. Người đọc (hoặc có lẽ tốt hơn nên gọi là người nghe) nhận ra rằng bài “The Tyger” là một “Ca khúc của Trải nghiệm”, không phải một triết lí hoặc lí thuyết của trải nghiệm. Những người nghe yêu mến bài thơ coi nó như một giai điệu có lời kèm theo hoặc một thứ thần chú đầy ma lực đủ khiến giúp gợi ra những hình ảnh có sức tác động mạnh mẽ hoặc giúp làm thức tỉnh những cảm xúc sâu lắng. Họ đáp ứng với niềm vui thích và phấn chấn cái trải nghiệm mà bài thơ cung cấp. Họ cũng cảm nhận bằng trực giác rằng bài thơ toát ra cả một loạt những ý nghĩa mà bản thân họ không thể lĩnh hội hết. Khía cạnh có ma lực của thơ không giảm thiểu giá trị của việc phê bình cẩn thận và tỉ mỉ. Giới học giả đã làm sáng tỏ ý nghĩa của thơ Blake. Điều quan trọng là có một phần chủ yếu của sức hấp dẫn mạnh mẽ của thơ lại ít liên hệ tới việc hiểu thơ bằng ngôn ngữ khái niệm. Thơ cống hiến một số điều bí ẩn vượt ra ngoài lời diễn giải. Điều rất có ý nghĩa là từ La-tinh để chỉ thơ, carmen, cũng là từ mà người La Mã xưa dùng để chỉ một bài hát, một bùa chú có ma lực, một thần chú tôn giáo, hoặc một lời tiên tri – những cấu trúc từ vựng mà quyền lực tác động vào thính giác của chúng có thể tạo ra một tác động có ma lực vào người nghe. Những nền văn hóa cổ xưa đều tin vào quyền lực của lời nói. Nguyền rủa hoặc chúc phúc ai là điều có ý nghĩa sâu xa. Một lời thề được nói ra là một ràng buộc. Một bùa chú hoặc lời tiên tri đều có tác dụng mạnh. Từ carmen vẫn còn tồn tại trong tiếng Anh hiện đại (thông qua tiếng Pháp vùng Normandie) [người vùng này đã chinh phục nước Anh vào thế kỉ 11: sử: The Normand Conquest – người dịch] cũng như từ charm (sức mê hoặc), và nó vẫn còn chuyên chở nhiều nghĩa: một bùa chú có ma lực, một bài thơ được xướng ngâm, và một sức mạnh làm mê hoặc. Thậm chí những sức mê hoặc [charms] hiện vẫn còn tồn tại trong nền văn hoá truyền miệng. Nhìn lên một bầu trời gió bão, hẳn vẫn còn một vài em nhỏ đọc thuộc lòng câu bùa chú sau đây:

Mưa, hỡi mưa
hãy đi khỏi.
Hãy trở lại
một ngày khác.

Hoặc khi ngắm nhìn bầu trời đêm, các em nhỏ đó sẽ thì thầm với ngôi sao hôm [Venus]:

Ánh sao, sáng sao,
Ngôi sao đầu tiên em ngó thấy đêm nay,
Em ước em có được, em ước phải chi em có được
Điều em ước đêm nay.

Một người đã trưởng thành, có lí trí, hẳn hiểu rằng ngôi sao cũng như câu bùa chú chẳng hề có sức mạnh vật lí nào để có thể biến đổi thực tại sao cho phù hợp với ước nguyện của các em nhỏ. Nhưng nhà thơ biết rằng khi phát biểu một ước nguyện, khi ban cho ước nguyện một dạng hữu hình, xác thực, thì em nhỏ đó có thể làm thức tỉnh những sức mạnh của tưởng tượng và của ước muốn để làm sinh động tương lai. Như André Breton đã đề xuất: “Điều tưởng tượng có khuynh hướng trở thành cái thực.”

Thơ nhận ra tương quan kì bí giữa mơ mộng và thực tại. Trong những xã hội bộ lạc, pháp sư đi xuyên qua những lối đi giữa thế giới thiếp ngủ và thế giới tỉnh thức, và thơ hiện đại vẫn còn khẳng định rằng có một sức mạnh nào đó khi nối kết hai tâm trí ý thức và vô thức. Mục đích chủ yếu của chủ nghĩa Siêu thực là vừa nối kết vừa hòa giảimơ mộng với thực tại – một viễn kiến từng ám ảnh nhiều nhà thơ thế kỉ 20. Thách thức là làm sao nối kết thế giới mơ mộng với thế giới tỉnh thức. Sự kiện chủ nghĩa Siêu thực dựa vào hình tượng để tạo được sự thu hút là một điều đổi mới. Về mặt truyền thống, thơ chủ yếu dựa vào những mô hình lặp lại thanh âm. Edith Sitwell khẳng định rằng “Nhịp điệu là một trong những người phiên dịch chính yếu giữa mơ mộng và thực tại” – nhận xét này giờ đây được khoa nhận thức học chứng thực khi xét về tác động của lời tụng có nhịp điệu đều đều của pháp sư [hay thầy mo] lên tâm trí và cơ thể con người. Như Arthur Koestler đã viết, “Pháp sư [thầy mo] thôi miên cử tọa của ông bằng nhịp điệu đều đều của trống; còn nhà thơ chỉ cung cấp phương tiện cho cử tọa thôi miênchính họ.” Đem những giấc mộng vào ý thức tỉnh thức không phải là đào thoát khỏi thực tại, mà là soi sáng và thám hiểm thực tại. “Trong những giấc mộng,”  W. B. Yeats đã nhận xét, “là sự khởi đầu của những trách nhiệm.”


III.

Sự kiện vào thời điểm này thơ không được quần chúng hưởng ứng …  ở một mức độ nào đó, lại là điều thuận lợi cho thơ và cho xã hội xét như một tổng thể.

– David Perkins

Những nhà phê bình đặt nặng vấn đề học thuật thường bác bỏ những hưởng ứng của người đọc trung bình đối với thơ vì xem chúng là ngây thơ và mơ hồ, và giả định này cũng phần nào được chứng thực.Những phản ứng của đa số người đọc thường là vô tổ chức, lộn xộn, không nhất quán, và chủ quan một cách vô phương cứu chữa. Tệ hại hơn nữa, những người đọc không chuyên thường chỉ đọc một phần của bài thơ vì lẽ có khi chỉ một từ hoặc một hình ảnh đủ khiến họ quay ngược trở lại về hồi ức nào đó, hoặc ném họ vào một sự tưởng tượng phía trước. Nhưng người đọc không chuyên đọc thơ vì lòng yêu thơ hoặc do hiếu kì lại có được ít nhất một lợi thế so với người đọc chuyên nghiệp do nghĩa vụ nghề nghiệp. Đó là người đọc không chuyên không tự giới hạn ý thức của họ để chỉ khu trú sự quan tâm của họ vào những yếu tố thích hợp của một văn bản văn học. Trước những bài thơ họ đáp ứng bằng tất cả sự tràn đầy của bản tính con người cho dù sự tràn đầy đó là luộm thuộm, sướt mướt [sloppy fullness]. Những cảm xúc cùng những hồi ức của họ trỗi dậy đan xen với những ý nghĩ thoáng hiện cùng những cảm giác của cơ thể. Người nào có chút suy nghĩ cũng thấy được rằng một chủ quan tính như vậy là mớ hỗn độn tri thức cực kì. Nhưng đó chẳng phải là những người đọc trung bình chỉ đơn giản là tiếp cận thơ hầu như theo cách mà chính những con người vẫn trải nghiệm về thế giới?

Cuộc sống được con người trải nghiệm bằng tất cả bản thân họ như một chỉnh thể [experienced holistically] với những cảm giác tuôn tràn vào thông qua mọi cơ quan nhận thức của con người, cả cơ quan vật chất lẫn tinh thần. Nghệ thuật, một khi hiện hữu, nó bao gồm những yếu tố vật lí – đặc biệt là những khía cạnh thị và thính giác được định cỡ một cách tỉ mỉ [meticulously calibrated] –chính vì vậy mà sự giải thích về mặt học thuật có thể soi sáng những khía cạnh đó, nhưng chẳng bao giờ thay thế hoàn toàn được. Về mặt khái niệm, tuy là không nhất quán và mang tính cảm xúc hoàn toàn chủ quan, nhưng đáp ứng của người đọc không chuyên đối với thơ lại gần gũi với những mục đích của nghệ thuật nhằm đáp ứng những đòi hỏi rộng lớn hơn của con người – đó là làm thức tỉnh, khuyếch đại, và tinh luyện cái cảm thức về sự sinh động của cuộc hiện hữu – hơn là sự bình luận mang tính phê bình. Đáp ứng nặng tính học thuật có thể chính xác và sâu sắc. Nền văn hóa  trở nên phong phú nhờ loại nghị luận  chuyên ngành về những văn bản và những truyền thống văn học. Nhưng sự phê bình mang tính phân tíchvẫn thận trọng đứng ngoài trải nghiệm tràn đầy sức sống của bài thơ, là trải nghiệm mang tính vật lí, cảm xúc, chủ quan, và trực giác cũng như là tri thức.

Tác phẩm văn học có nhiều công dụng, không phải tất cả đều diễn ra trong phòng học. Thơ sẽ không phải là sự rèn luyện của con người diễn ra ở mọi nơi mọi thời nếu nó không phục vụ những mục đích rộng lớn và đa dạng. Con người đã hát xướng  hoặc ngâm ngợi những bài thơ khi họ gieo và gặt, khi tán tỉnh người tình còn thờ ơ, khi xung trận, khi ru trẻ ngủ, và gọi người ngoan đạo tới khóa lễ. Thơ ban cho nhân loại những từ ngữ để giúp con người thoải mái trong cuộc sống. Hầu hết những gì đã từng là cơ hội thông thường để thơ lộ diện thì nay xem ra là lỗi thời, và giờ đây loại nhạc thu sẵn được phát thanh liên tục cùng những thiết bị cầm tay đã cung cấp nhạc nền cho cuộc hành trình là cuộc đời con người. Nhưng ngay cả trong trạng thái bị giảm thiểu, thơ vẫn phải cung ứng được điều gì đó có giá trị cho những cuộc đời bình thường, vì nếu không thế, nó sẽ phải biến mất hoàn toàn. Những bài thơ có thể được phân tích, nhưng loại hiểu biết đó chỉ là một hoạt động thứ yếu. Có nhiều nguyên nhân cơ bản hơn giải thích lí do tồn tại của nghệ thuật này, và tại sao nó đã hội nhập vào quá nhiều nơi chốn và tình huống của con người. Từng sống sót kể từ buổi đầu của loài người, nghệ thuật này ắt vẫn phải là hữu dụng theo một cách cơ bản nào đó. Điều này nói lên mọi điều về những nghiên cứu văn học đương đại rằng chẳng có sự nhất trí thậm chí chẳng có đủ mối quan tâm về vấn đề này, là vấn đề từng được xem là nền tảng trong những thời xa xưa.



IV.

Với tôi, dường như mục đích của nhịp điệu luôn là giúp kéo dài khoảnh khắc trầm tư, là khoảnh khắc chúng ta vừa thiếp ngủ vừa tỉnh thức.

– William Butler Yeats

Trong truyền thống phương Tây, nói chung là có giả định rằng mục đích của thơ là làm vui thích, chỉ dạy, vỗ về an ủi, và tưởng niệm. Nhưng có lẽ sẽ xác thực hơn nếu nói rằng những bài thơ chỉ dạy, an ủi, và tưởng niệm thông qua những niềm vui của sự mê hoặc. Quyền năng của thơ ở chỗ tác động đến những cảm xúc, đụng chạm tới hồi ức, và kích động trí tưởng tượng với sức mạnh khác thường. Chủ yếu là thông qua sự phấn chấn đặc biệt và cảm quan được tăng độ bén nhạy nhờ vào tác động xuất thần của nhịp điệu mà thơ có thể thâm nhập đủ sâu vào tâm linh con người để có được tác động vừa nêu trên. (Những dạng thị giác của thi pháp đã nỗ lực như thế nào để đạt được trạng thái tinh thần này, là vấn đề đòi hỏi một công cuộc nghiên cứu riêng biệt.) Khi thơ mất đi khả năng mê hoặc của nó, thì nó co cụm lại để chỉ còn là một dạng biện luận trau chuốt. Khi văn vần đạt tới mức độ đặc biệt của nó là gây mê hoặc thì nó trở thành dạng ngôn ngữ có khả năng khơi gợi hơn cả.Greg Orr đã viết rằng “Thơ là trạng thái mê say của ngôn ngữ có nhịp điệu.”

Thơ là một phạm trù riêng biệt của ngôn ngữ – là một cách nói đặc biệt để mời gọi và tưởng thưởng một cách nghe cũng đặc biệt. Thơ thường là tinh tế và đôi khi ý nghĩa của nó thậm chí là tối tăm, nhưng hiếm khi nó rụt rè trong việc thông báo về địa vị của nó như một loại ngôn ngữ riêng biệt. Trong nền văn hóa truyền miệng, thơ cần được xướng âm khác với lời nói thường ngày trong chính hình thức của điều nó nói ra, để đạt được mối quan tâm và sự đáp ứng đặc biệt. Mục đích của những đặc trưng về mặt âm thanh, tỉ như vận luật [nhịp thơ có số âm tiết qui định], nhịp điệu, điệp phụ âm đầu, phần nào nhằm làm cho văn vần khi xướng lên được nhận ra ngay rằng nó khác với lời nói hoặc văn xuôi. Donald Hall từng nói rằng “Tôi đến với thơ vì âm thanh mà nó tạo ra.” Thơ không chỉ khác về mức độ so với ngôn ngữ thông thường – nhiều hình ảnh, nhiều ẩn dụ, nhiều nhịp điệu hơn – mà cơ bản là khác về cách mà nó truyền đạt, thông tri. Mọi kĩ thuật thơ, sở dĩ có, là để mê hoặc – để tạo ra một trạng thái xuất thần êm dịu nơi người nghe hoặc người đọc, nhằm tăng thêm sự chú tâm, buông lơi sự phòng vệ về mặt cảm xúc, và làm tỉnh thức toàn bộ tâm linh của chúng ta, sao cho chúng ta lắng nghe và đáp ứng ngôn ngữ đó một cách sâu xa và mãnh liệt hơn. Camille Paglia suy đoán rằng “thơ vận dụng cơ thể con người ở dưới ngưỡng ý thức và kích hoạt những xung động thần kinh, những rung động của cơ bắp do cảm giác và lời nói.” Mượn một ẩn dụ dữ dội hơn của Kafka về văn học nói chung, thì thơ là “chiếc rìu để phá vỡ cái đại dương đóng băng bên trong chúng ta.”

Mục đích của thơ – theo nghĩa nguyên sơ và cơ bản là sự mê hoặc – là làm thức tỉnh nơi chúng ta cái ý thức đầy đủ hơn về phận người, cả trong những khía cạnh xã hội lẫn cá nhân. Thơ cung cấp một cách hiểu và biểu đạt cuộc hiện hữu, khác một cách nền tảng so với tư duy khái niệm. Như Jacques Maritain đã nhận xét, “thơ không phải là triết lí dành cho người đần độn.”Nó là một cách thức khácđể hiểu biết và thông tri về thế giới. Có nhiều sự thực về cuộc hiện hữu khiến ta chỉ có thể biểu đạt một cách xác thực rằng nó như một bài hát hoặc một câu chuyện. Ngôn ngữ khái niệm, vốn là phương tiện truyền thông thiết yếu của giới phê bình và học thuật, chủ yếu là gửi thông tin đến trí năng của con người. Bản chất của ngôn ngữ này là tính phân tích, nghĩa là nó tách rời những sự thể, như ngữ nguyên của từ Hi Lạp analyein (to unloosen, nới lỏng, cởi) đề xuất.Diễn ngôn khái niệm tách chiết ngôn ngữ từ cái đặc thù để rút lấy cái tổng quát. Còn ngôn ngữ thơ, dù thế nào chăng nữa, mang tính chỉnh thể và dựa trên kinh nghiệm. Cùng một lúc, thơ trò chuyện với trí năng và những giác quan của chúng ta, với những cảm xúc, trí tưởng tượng, trực giác, và kí ức của cchúng ta, mà không đòi hỏi ta phải chia biệt chúng. Một văn bản có thể bị đóng băng trên trang giấy để dễ dàng cho việc kiểm tra và phân tích bằng mắt nhìn, nhưng bản thân trải nghiệm thơ thì lệ thuộc vào thời gian, có tính cá nhân, và chủ yếu là không nhìn thấy được. Như Wallace Stevens đã viết, “Thơ là con chim trĩ biến mình trong bụi cây.”


V.

Xem chừng thơ trong nhà trường lại nhiều hơn ở ngoài thế giới, trẻ em không được bảo cho biết tại sao lại như vậy. Hẳn các em phải ngạc nhiên.

– Robert Frost

Nhận xét này về bản chất chính thức của thơ và những mục đích của con người trình ra một nghịch lí. Nếu thơ là nghệ thuật cổ xưa nhất và cơ bản nhất, nếu nó là một hoạt động phổ quát của con người, nếu nó dùng sức tác động của nhịp điệu của nhạc để nói với chúng ta theo những cách sâu xa và bí ẩn, nếu nghệ thuật này là một loại ma thuật thế tục giúp gia tăng cảm thức về bản chất con người của chúng ta, vậy tại sao thơ lại không được quần chúng hưởng ứng đến thế? Tại sao việc dạy về thơ lại quá khó khăn, như rất nhiều người dạy đã than phiền? Tại sao thơ biến mất khỏi giáo trình ở mọi cấp của nền giáo dục? Tại sao thơ dần dà biến mất khỏi những buổi nói chuyện trước công chúng và những phương tiện truyền thông đại chúng? Và, cuối cùng, tại sao đã xảy ra tất cả những chuyện đó – ít nhất là trong nhiều quốc gia Tây Âu và Bắc Mĩ – bất chấp những khoản đầu tư khổng lồ vẫn đang tiếp tục được đổ vào từ những cơ quan chính quyền, những học viện, và những tổ chức từ thiện, để hỗ trợ việc sáng tác, dạy dỗ, ấn hành, thảo luận, khuyến khích, và bảo tồn thơ?

Tất nhiên là có nhiều nguyên nhân khiến thơ bị rút ra khỏi sinh hoạt văn hóa, nhất là do sự tăng nhanh của những công nghệ thông tin và giải trí mới, bao gồm những phương tiện thông tin đại chúng đã tiếm đoạt những phương thức cơ bản của bài hát và truyện kể, vốn dĩ là nhiệm vụ truyền thống của văn học. Nhưng cũng có những xu hướng tri thức và giáo dục đã làm còi cọc sức hấp dẫn và tính đại chúng của thơ. Thơ từng giữ một vai trò đầy ý nghĩa trong giáo dục. Nó từng được dùng trong hàng thiên niên kỉ ở mọi cấp của việc truyền bá kiến thức. Trong những nền văn hóa khác biệt như ở Trung quốc, đế chế La Mã, thời đại nữ hoàng Elizabeth nước Anh, thơ được dùng như chủ đề trung tâm của giáo trình. Những nhà trường nơi Đỗ Phủ, Thánh Augustine, và William Shakespeare theo học chẳng hạn, đã sử dụng những văn bản bằng văn vần và thậm chí những luận văn có vận luật để bàn về nhiều chủ đề.

Cho tới rất gần đây thơ đã phải chịu sự giảng dạy tồi tệ – ít nhất là theo những chuẩn mực học thuật hiện đương. Thơ đã được dùng để dạy ngữ pháp, nghệ thuật diễn thuyết, và tu từ học. Nó đã được sử dụng để chuyển tải những nội dung lịch sử, cả thế tục lẫn thiêng liêng, thường là để người học thấm nhuần dần những tình tự yêu nước hoặc đức lí tôn giáo.  Thơ từng được đồng thanh xướng lên trong những học viện dành cho nữ giới. Nó đã được sao chép để dạy viết chữ thảo và thư pháp. Những học sinh bướng bỉnh ngang ngạnh đã buộc phải học thuộc lòng những bài thơ, như một hình phạt. Thơ còn được các em nhỏ đọc thuộc lòng trong những sự kiện diễn ra nơi công cộng và trong những buổi gặp mặt của gia đình. Sáng tác được văn vần được đánh giá là có tài khéo, tài xã giao, cả trong đời sống trong nhà lẫn ngoài công cộng. Ở nhà trường thì có tài đó được coi là người học giỏi.

Trong hàng ngàn năm thơ đã phải chịu sự giảng dạy tồi tệ, và hậu quả là nó đã được quần chúng yêu thích vô cùng. Những người đọc thơ yêu thích phương tiện truyền đạt rộng rãi và có thể thay đổi đó. Nó không phải là một phạm trù gớm guốc, không thân thiện của thứ nghệ thuật văn học cao cấp; nó là cách thích thú hơn cả để sắp xếp các từ sát cạnh nhau. Thơ đã được sử dụng trong nhà trường ít nhất một phần do nó được xem là lôi cuốn hơn đối với trẻ em. Thậm chí tới cuối thế kỉ 19 những nhà thơ như Longfellow, Byron, Tennyson, và Kipling còn là những nhân vật có tầm vóc quốc tế, có tác phẩm bán chạy hơn những đối thủ viết bằng văn xuôi. Nhưng sự hiện hữu của thơ trên những trang sách, thậm chí là những sách bán chạy nhất, chỉ biểu thị một phần nhỏ sự hiện diện của nó về mặt văn hóa. Thơ nảy nở ở những vùng biên giữa văn hóa in ấn và văn hóa truyền miệng – những nơi mà những bài thơ riêng lẻ được đọc và sau đó được ai đó cao giọng ngâm để mọi người cùng nhau chia sẻ. Thơ được đọc rộng rãi hơn cả trong những tờ báo, tạp chí, niên lịch, và những tuyển tập dành cho đại chúng. Một nhà thơ có thể nổi tiếng ở tầm vóc quốc tế với chỉ một bài thơ duy nhất được phổ biến, như trường hợp Edgar Allan Poe với bài thơ The Raven [Con Quạ]. Bài thơ The Man with the Hoe [Người với cái Cuốc] của Edwin Markham,  kịch hóa sự đàn áp tầng lớp lao động, đã mau chóng được in lại trên 10,000 tờ báo và tạp chí. Bài thơ For the Fallen [Cho Người Nằm Xuống – Tưởng niệm Những Người Thiệt mạng vì Chiến Tranh]của Laurence Binyon đã an ủi hàng triệu người than khóc cho những người thiệt mạng trong Thế Chiến Thứ Nhất. Những nhà phê bình có thể chê bai những bài thơ này, nhưng độ lớn về số lượng người tiếp nhận chúng là điều không thể chối cãi. Thơ thẩm thấu vào nền văn hóa ở mọi mức độ. Nó được đọc và đọc thuộc lòng bởi những người thuộc mọi giai cấp khác nhau. Những người đọc đó có thể không thán phục những văn bản mà Ezra Pound thán phục, và họ không bàn luận về văn vần theo kiểu của T. S. Eliot, nhưng thơ đã đóng một vai trò trong sự hình thành con người cá nhân của họ và thơ tiếp tục định hình sự tưởng tượng của họ.

Vậy điều gì đã xảy ra? Tôi ngờ rằng một điều đã làm tổn thương thơ chính là do thơ đã được giảng dạy quá tốt. Khẳng định này thoạt nghe có vẻ phi lí, nhưng xin hãy dành chút thời gian cho một luận cứ có vẻ hợp lí sau đây. Cùng với sự tiến triển của thế kỉ 20, một số trí tuệ xuất sắc nhất trong lịch sử văn học dùng tiếng Anh bắt đầu vật lộn với những tác phẩm xuất sắc [sẽ thành kinh điển] của chủ nghĩa Hiện đại buổi đầu [to wrestle with the early Modernist classics]. (Có sự song hành của những nhà phê bình tiên phong ở Nga, Đức, Pháp, và những quốc gia khác.) Giới am hiểu văn học đã lưu ý tới một số cách vận hành của ngôn ngữ thơ đó, đặc biệt là trong những văn bản cô đọng, có tính ám chỉ, và thách đố người đọc hơn cả – những tác phẩm tỉ như The Waste Land của Eliot hoặc Cantos của Pound. Dần dà họ triển khai những phương pháp diễn giải cũng tinh tế như những văn bản mà họ phân tích. Họ cũng không thích một số khía cạnh của việc giảng dạy về thơ mà họ từng thụ nhận, đặc biệt là tính đa cảm ủy mị và thói lên mặt răn dạy của những người giảng dạy thời nữ hoàng Victoria. Những nhà phê bình này phấn đấu để tạo một cách hiểu và dạy về thơ có tính khách quan, hợp lí, và mạch lạc hơn.

Ở Mĩ, những trí thức tiên phong này gồm những nhà phê bình như R. P. Blackmur, Allen Tate, Kenneth Burke, Cleanth Brooks, John Crowe Ransom, và Yvor Winters. Những tác giả này triển khai những phương pháp nổi bật để phân tích thơ thực sự là thơ, phù hợp với bản chất bên trong của chính nghệ thuật thơ, tước bỏ mọi nhân tố bên ngoài. Sự phê bình nghiêm ngặt, sự sắp xếp có tính lí thuyết, và sự độc lập có tính triết lí, đó là những gì họ mang tới cho một lãnh vực trước đó chủ yếu là không nhất quán và tùy tiện – quả thực là tài tử, không chuyên. Những kĩ thuật của họ khác biệt một cách triệt để so với khoa sư phạm truyền thống, nên ở Mĩ họ được gọi là “Những Nhà Phê Bình Mới”.

Công trình của những nhà phê bình này biểu thị cho một thời điểm quan trọng trong lịch sử Mĩ về mặt tri thức. Tuy nhiên thành tựu rất lớn của họ lại cũng tạo một tác động tiêu cực lâu dài tới lòng yêu mến của quần chúng dành cho thơ. Tác động này chủ yếu được cảm nhận theo hai cách. Thứ nhất, Những Nhà Phê Bình Mới và những người kế tục họ đã làm thay đổi cách giảng dạy thơ – đầu tiên là trong các trường đại học, sau đó là tại các cấp thấp hơn trong ngành giáo dục. Cuộc cách mạng tri thức đó của một thế hệ đã bị xơ cứng thành giáo điều sư phạm của một thế hệ khác [đúng ra là “của thế hệ kế tiếp”]. Việc giảng dạy thơ trong lớp học dần dà thu hẹp lại trong vài kiểu phân tích văn bản ít ỏi, dạy sinh viên ngày càng ít trải nghiệm có tính thực nghiệm về thơ. Những bài tập của giáo trình tập trung vào việc mổ xẻ văn bản để phê bình với lối diễn giải bằng ngôn ngữ khái niệm. Thành tựu về mặt học thuật tùy thuộc vào khả năng của sinh viên khi mô phỏng những dạng phân tích được dạy trong bài viết của họ. Khỏi phải nói, tiến trình này biểu thị một sự chệch hướng triệt để khỏi khoa sư phạm của nửa thế kỉ trước đó, vốn là việc dạy về thơ có tính chiết trung, biểu hiện, và liên quan đến thính giác nhiều hơn. Những phương pháp mới có thể đào tạo ra nhiều người dạy sành sỏi hơn về thơ, nhưng chúng làm giảm sức hấp dẫn của thơ đối với nhiều sinh viên. Thật mỉa mai, việc nhấn mạnh vào phê bình văn bản và lí thuyết phê bình lại có tính chất thiển cận. Khi nỗ lực rèn luyện mọi người bằng những kĩ thuật chuyên biệt của nghiên cứu học thuật chuyên nghiệp, nó, việc huấn luyện nói trên, đã lầm lẫn về mục tiêu cơ bản của những giáo trình về văn học trong chương trình giảng dạy nói chung. Mục đích của việc dạy văn học không phải là đào tạo nhiều giáo sư hơn; mục tiêu của nó là giúp trẻ phát triển thành những con người có nănglực, và hoàn chỉnh, toàn diện.

Thứ hai, là sự tác động lên chính cái nghề làm phê bình.Thành tựu của Những Nhà Phê Bình Mới, những người thảy đều vừa là nhà thơ vừa là giáo sư, đã truyền cảm hứng cho ba thế hệ học giả Mĩ kế tiếp để họ tập trung vào việc tán thành, hoặc ít nhất là sử dụng có ý thức, những phương pháp phê bình xem như phương tiện của việc thăng tiến nghề nghiệp. Mỗi thập kỉ lại đem tới một làn sóng mới các trường phái và kĩ thuật phê bình, dẫn đến kết quả cuối cùng là những cách tiếp cận văn học chủ yếu là chỉ có tính lí thuyết. Mỗi phương pháp mới, cho dù nổi bật – và những phương pháp này thường quả là nổi bật – thường trở nên ngày càng xa rời trải nghiệm thực sự về thơ, vốn là trải nghiệm có tính chỉnh thể, dựa vào trực giác. Khi chủ nghĩa phê bình này và lí thuyết của nó trở thành một phần bắt buộc của chương trình giảng dạy, thì sự hiện diện của chúng khiến giảm thiểu số lớp học trong đó sinh viên chọn môn văn học vốn giàu tưởng tượng. (Trong lớp, việc học thuộc lòng đã biến mất hẳn.) Được rèn luyện trong hệ thống này, các sinh viên đã thành thạo về những chiến lược phức tạp để phân tích một nghệ thuật mà họ có ít trải nghiệm trực tiếp và ít khao khát. Sự lưu loát về mặt lí thuyết đã thay thế cho việc đọc rộng về những nguồn chủ yếu. Những bài thơ trở thành những văn bản để giải cấu trúc thành những chiến lược và những biểu đạt được phóng lớn.

Xin hiểu cho rằng tôi không nêu ra luận cứ để chống lại Chủ nghĩa Phê bình Mới, chống lại những phương pháp phê bình, hoặc lí thuyết văn học xét như những phương pháp rèn luyện về mặt tri thức. Bản thân tôi là một nhà phê bình và tôi rất cẩn trọng ở khía cạnh này của việc viết lách của tôi. Luận cứ của tôi liên quan tới những gì đã xảy ra cho vài thế hệ sinh viên, đặc biệt là những sinh viên không chọn văn học là chuyên ngành, khi trải nghiệm trong lớp của họ về thơ chủ yếu là sự phân tích về mặt kĩ thuật chứ không được bổ sung bằng những cách tiếp cận khác với loại hình nghệ thuật này. Với nhiều sinh viên, việc viết một luận văn phê bình không truyền được thứ cảm hứng của niềm yêu mến thơ trải dài suốt một đời người, vốn được khích lệ bằng việc học thuộc lòng và đọc thuộc lòng. Khi việc giảng dạy bằng phân tích thay thế sự trình diễn mang tính thể chất, chủ quan, và cảm xúc, thì nhiều sinh viên không thể tạo được một mối nối kết đầy ý nghĩa với thơ. Quá đỗi trừu tượng hóa và tri thức hóa, thơ tách rời khỏi cái cụ thể để nhập vào thi pháp – một chủ đề cao quí nhưng chẳng bao giờ có tính đại chúng. Khi số người nghe đọc hoặc ngâm thơ bắt đầu co cụm lại, sẽ tới một đỉnh điểm không thể vãn hồi – có thể nó đã tới rồi chăng – đó là khi đa số những người đọc, là người đã trưởng thành, lại là những nhà học thuật chuyên nghiệp hoặc những sinh viên đã tốt nghiệp được rèn luyện về nghề nghiệp đó. Đâu là tương lai của một nghệ thuật khi đa số cử tọa của nó phải trả tiền để được tham dự?

Không ai có ý định giảm thiểu lượng người nghe đọc hoặc ngâm thơ, hoặc là muốn ghét bỏ người đọc bình thường. Cũng giống như hầu hết những tình trạng rối ren bừa bộn về môi trường, những điều nói trên đã xảy ra như tác dụng phụ bất ngờ của một đề án tích cực về mặt khác. Sự nổi lên của chủ nghĩa phê bình phân tích thoạt đầu xem chừng là một sự phát triển hoàn toàn hợp lí và có lợi ích. Dường như đã quá hạn để đánh giá tác động rộng hơn của nó vào nghệ thuật này. Chúng là những ý tưởng không được quần chúng ưa thích, nhằm cống hiến một nền văn hóa về văn học giờ đây chủ yếu tạo dựng bởi những thày giáo và những giáo sư. Nhưng nếu sự trung thành sâu xa hơn của chúng ta là dành cho chính bản thân văn học, hơn là những rèn luyện có tính chuyên nghiệp của chúng ta, thì chúng ta cần xem xét cẩn thận những xu hướng gây nhiễu loạn này. Như Oscar Wilde từng nhận xét, “Có hai cách không thích nghệ thuật. Một là không thích nó. Cách kia, là thích nó một cách thuần lí.”


VI.

Khi một người rơi vào thói kể chuyện lan man rời rạc thì đó chính là dấu hiệu rằng ông ta nên thoái lui khỏi thế gian.

– Benjamin Disraeli

Nói chung tôi không tin vào những chuyện kể cá nhân trong phê bình văn học. Những chuyện kể đó xem chừng rất đỗi chủ quan, hạn chế, quả thật rất đỗi là giai thoại. Nhưng đôi khi những chuyện kể lại chuyên chở được những thông tin phức tạp dễ dàng hơn nhiều so với luận cứ trừu tượng. Cho phép tôi minh họa luận điểm của tôi bằng bốn chuyện kể ngắn liên quan đến cá nhân tôi. Chuyện thứ nhất, cho phép tôi kể lại tuổi thơ của tôi ở Los Angeles. Tôi được nuôi dạy giữa đám người thuộc giai cấp lao động, không ai trong số họ có trình độ giáo dục đại học và nhiều người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Ý. Tuy nhiên họ hầu hết đều thích thơ – không phải là sở thích duy nhất hoặc thái quá, tất nhiên là thế – nhưng họ đều coi thơ là một trong nhiều thú vui của cuộc sống. Họ thuộc lòng nhiều bài thơ và thường trích dẫn thơ một cách không tự ý thức. Họ cũng thích nghe người khác đọc thuộc lòng thơ. Về mặt khác, nói chung họ là những người ngờ vực những gì là trí thức. Nhưng họ trích dẫn những bài thơ, hầu hết là những bài họ đã học trong nhà trường, với niềm vui và lòng tự hào hiển nhiên.Nền giáo dục của họ, cho dù giới hạn, đã khiến họ được thấm nhuần dần lòng khao khát và biết thưởng thức thơ.

Chuyện kể thứ hai là từ nền giáo dục văn học mà bản thân tôi thụ nhận. Vào thời điểm tôi lên trung học năm 1965, thanh thiếu niên California được dạy về thơ chủ yếu là theo cách đọc kĩ một văn bản được nhìn rõ trên trang sách in. Không khi nào chúng tôi bị buộc phải học thuộc lòng một bài thơ nào. Thật vậy, thậm chí chúng tôi hiếm khi đọc thơ lớn tiếng và toàn bài trong lớp học. Thay vào đó, chúng tôi đọc và phân tích thơ, từng giòng một, từng chữ một, như thể chúng là những chùm ý nghĩa trên trang sách. Động thái “đọc một bài thơ”, ít ra là trong lớp, là diễn giải nó và rồi bình giải về những chùm ý nghĩa đó.

Vài năm sau ở Stanford, tôi thấy là việc đọc kĩ và những phương pháp phê bình khác đã được áp dụng với nhiệt tình của người coi chúng là phương pháp chính thống. Nếu một sinh viên dám đưa ra một nhận xét cá nhân hoặc chủ quan nào đó về một bài thơ, anh ta hoặc cô ta sẽ bị chỉnh sửa tức khắc. Những bình luận như vậy bị coi là những sai lầm ngớ ngẩn kiểu tài tử gây rối.  Cách đọc thơ duy nhất đúng, là “khách quan”, nghĩa là trừu tượng, phân tích, và cân nhắc vô tư về văn bản in trên giấy. Cách tiếp cận này thường có tính phát hiện, nhưng hiếm khi gây phấn khích. Thật thú vị để lưu ý rằng cách dùng học thuật của thuật ngữ “đọc” bao gồm cả việc trải nghiệm lẫn phân tích bài thơ thành một động thái duy nhất (cũng như khái niệm ban đầu của động thái “hát” đã kết hợp sự sáng tác nhạc và lời thành một động thái duy nhất).

Nhận xét thứ ba mang tính chuyện kể của tôi là vào thời điểm hai mươi năm trước, khi tôi nhận lãnh phần việc đầu tiên của một giáo chức. Tôi hướng dẫn một khóa thảo luận chuyên đề của các sinh viên cao học về chủ đề hình thái của thơ tại Sarah Lawrence College, một viện tinh tuyển tư, ở ngay sát New York City. Khóa học gồm khoảng 15 sinh viên cao học, đều đến từ những trường cao đẳng có tiếng tốt, đều theo chuyên ngành học thuật về văn học. (Họ hầu hết đều muốn trở thành người dạy viết sáng tạo.) Sau vài tuần lễ, chúng tôi tới tuần thảo luận về hình thái thơ sonnet [bài thơ 14 câu, mỗi câu 10 âm tiết], và tôi đòi hỏi mỗi sinh viên phải học thuộc lòng một trong những bài sonnets của Shakespeare. Nhiệm vụ được giao này lúc đầu vấp phải sự chống đối cùng khá nhiều lo lắng của sinh viên. Tôi mới nhận ra rằng trong suốt quá trình học tập của họ, không một ai bị buộc phải học thuộc lấy một bài thơ. Họ cũng không thể hiểu tại sao một sinh viên, thậm chí một sinh viên cao học ngành văn, lại phải học thuộc lòng một bài thơ, điều đó thì nào có nghĩa gì. Không thương xót, tôi khăng khăng đòi họ phải chu toàn nhiệm vụ được giao.

Tuần lễ tiếp theo, khi họ đọc thuộc lòng bài sonnet mà họ chọn lưa, nói chung thì tôi vui mừng vì họđọc không sai chữ nào. Nhưng điều làm tôi đau buồn là cách họ đọc. Nhiều từ bị họ phát âm vụng về khiến khó có thể bảo đó là thứ tiếng Anh vẫn dùng để nói năng. Hiển nhiên là họ đã học thuộc lòng bài thơ bằng phía sai của não bộ – bằng kí ức thị giác không phải kí ức thính giác. Khi họ đọc thuộc lòng, dường như họ đang đọc lớn tiếng một văn bản dành cho thị giác ở bên trong não bộ. Sau này một nữ sinh viên có nói một điều khiến tôi ngạc nhiên. Cô khẳng định rằng chưa bao giờ cô nghĩ về thơ như thứ gì để xướng lớn giọng, mà chỉ như thứ để đọc thầm trên trang giấy.

Gộp chung lại, ba chuyện vừa kể trên gợi ra sự thay đổi đã xảy ra qua ba thế hệ – từ thời cha mẹ tôi tới thời các sinh viên của tôi. Ít ra là ở Mĩ, chương trình giảng dạy về văn học đã đi từ một hệ thống trong đó sinh viên học thuộc lòng và đọc thuộc lòng thơ tới hệ thống đặt nặng việc chỉ nhìn văn bản in rồi  phân tích, khiến nó loại trừ việc học thuộc lòng và trình diễn.

Chyện kể thứ tư và là cuối cùng của tôi có tính tích cực hơn nhiều, và nó gợi ra rằng nền văn hóa về văn học lại đang thay đổi. Năm 2003, khi tôi trở thành Chủ tịch của Quĩ Yểm trợ Nghệ thuật Toàn quốc (NEA), tôi đã hi vọng làm cho công cuộc giáo dục các ngành nghệ thuật trở thành mục tiêu chủ yếu của chính sách văn hóa liên bang. Học sinh Mĩ cần được trải nghiệm về các ngành nghệ thuật như một phần tự nhiên của việc học tại nhà trường. Đây là một mục tiêu vô cùng phức tạp và tốn kém, đầy những thách thức đến từ ngành lập pháp, thách thức do thói quan liêu, bộ máy vận hành, và tài chính. Chúng tôi đã quyết định khởi cuộc bằng một chương trình có thể được thực thi nhanh chóng trên qui mô rộng mà không cần tới một khoản tiền đầu tư khổng lồ. Điều chúng tôi nghĩ tới là một cuộc tranh tài đọc thuộc lòng thơ ở phạm vi toàn quốc dành cho học sinh trung học, bắt đầu bằng việc tranh tài trong lớp, rồi lên dần tới qui mô toàn trường, tới địa phương, rồi tới bang, cuối cùng là cuộc tranh tài ở qui mô toàn quốc. Chúng tôi đã thử nghiệm thành công ý tưởng này tại Chicago và Washington D. C., nhưng khi cơ quan chúng tôi thử mở rộng nó, thì những viên chức về giáo dục nghệ thuật của 50 bang thoạt đầu không chấp nhận thử nghiệm.

Những chuyên viên ngành giáo dục nghệ thuật của bang nêu ra bốn lí do chính để phản đối chương trình. Thứ nhất, họ tin rằng học sinh ghét thơ. (Tôi có lầm chăng, khi ngờ rằng giả định này gợi ra rằng chính những chuyên viên đó ghét thơ?) Thứ hai, họ duy trì quan điểm rằng việc buộc học thuộc lòng là khắc nghiệt và bóp nghẹt năng lực sáng tạo. Một vài người trong số họ nói thêm rằng việc buộc học thuộc lòng biến các học sinh thuộc nhóm dân thiểu số trở thành nạn nhân, vì tiếng Anh chuẩn không được dùng làm ngôn ngữ nói trong nhà họ. Thứ ba, họ nhất trí với nhau rằng họ cảm thấy việc tranh đua không có chỗ đứng trong các ngành nghệ thuật. Rằng trong nghệ thuật không có kẻ thắng người bại. Trong giáo dục nghệ thuật, mọi người đều phải thắng. Cuối cùng, có một cảm thức chung nơi những nhà sư phạm rằng thơ quá trí thức đối với học sinh trung bình. Nó không phải là một nghệ thuật dễ hiểu để có thể đạt được. Năm 2003 chẩn đoán u ám này là những gì mà các chuyên viên về giáo dục nghệ thuật đã nghĩ về thơ. Liệu có chút ngạc nhiên nào chăng khi họ đã không muốn chương trình này được thực thi?

Đã có nhiều vận động chính trị, nhưng cuối cùng thì NEA có được đủ 50 bang đồng ý cho tổ chức tranh tài trong một năm. Chúng tôi đã đặt tên chương trình là Poetry Out Loud, và Quĩ Tài trợ Thơ Chicago đồng ý đứng ra tài trợ. Có sự nhất trí giữa những chuyên viên nghệ thuật của bang rằng chương trình sẽ thất bại. Chúng tôi thỏa thuận rằng nếu nó không đáp ứng những điều mong đợi, thì NEA sẽ chỉ ban cho những cơ quan phụ trách về nghệ thuật của bang một ngân quĩ khiêm tốn cho chương trình để thực hiện những công cuộc khác trong năm tới.

Tuy nhiên điều đã xảy ra lại là chương trình Poetry Out Loud đã thành công vang dội và tức khắc. Mặc dù chương trình chỉ được tài trợ kém cỏi và không được thực hiện ở nhiều bang, Poetry Out Loud đã sớm được hàng trăm ngàn thanh thiếu niên Mĩ học thuộc lòng và đọc thuộc lòng những bài thơ trong hàng ngàn cuộc tranh tài ở các mức địa phương, bang, và quốc gia. Học sinh thực sự thích thơ khi họ tách lìa nó khỏi trang giấy.  Trưởng thành trong một nền văn hóa giải trí thống trị bởi văn hóa hip hop [nhạc rap, tranh vẽ tường graffiti, và khiêu vũ cuồng nhiệt break-dancing], những thanh thiếu niên này cảm thấy thoải mái hơn khi nghe và nghe đọc thuộc lòng thơ hơn là đọc và phân tích thơ. Âm thanh và trình diễn là địa điểm đúng để đi vào nghệ thuật này. Kế hoạch tranh tài cũng đưa thêm vào một nguồn năng lượng đặc biệt cho những buổi ngâm thơ. Tại những cuộc tranh tài này, những học sinh không chỉ trình diễn những bài thơ của họ, họ còn nghe được những bài thơ đọc thuộc lòng bởi những học sinh khác. Đôi khi những người trình diễn và cử tọa chìm đắm trong thơ trong nhiều giờ liền. Nhữngnhân viên quản lí chương trình và những chuyên viên tham vấn về nghệ thuật công khai tỏ ra kinh ngạc về sự kiện chương trình được đa số học sinh yêu thích. Trong khi đó những người dạy lại ngạc nhiên rằng những học sinh trình diễn hay nhất thường không phải là những học sinh giỏi nhất về việc học. Những người thắng cuộc thường là những em có vấn đề – học sinh hay làm trò hề trong lớp, vận động viên ủ rũ, học sinh trước đó thường lặng lẽ như đứng ngoài lề. Ngoài ra những người dạy lưu ý rằng nguồn năng lượng từ các cuộc tranh tài tràn được vào lớp học, khi học sinh cảm thấy thoải mái hơn và sử dụng ngôn ngữ văn học khá hơn lên.

Tại những cuộc tranh tài vòng chung kết cấp quốc gia tôi nhận ra một điều khác nữa gây kinh ngạc. Năm này sang năm khác, khoảng nửa số học sinh thắng giải là những học sinh Mĩ thuộc thế hệ thứ nhất, là những trẻ trong những gia đình nhập cư, nói một ngôn ngữ không phải tiếng Anh cho tới khi bắt đầu đặt chân vào nhà trường – là tiếng Trung quốc, A Rập, Tây Ban Nha, Ấn, Ba Tư, Creole, Nga. Với những em học sinh đó, môn văn học quả là môn khó nhất. Nhưng việc học thuộc lòng và đọc thuộc lòng thơ đã cung cấp cho các em những phương tiện rất hữu hiệu để hấp thụ và thành thạo tiếng Anh. Thơ đã tỏ ra có hiệu lực về mặt giáo dục, hệt như hàng ngàn năm trước khi nó được dùng để dạy ngữ pháp, thuật diễn thuyết, và tu từ học. Trải nghiệm này chứng thực niềm xác tín của tôi rằng thực sự có khuynh hướng yêu thích thơ được thể hiện rộng khắp – nếu nghệ thuật này được làm cho dễ tiếp cận và lôi cuốn. Nó cũng minh chứng cho sức mạnh của loại kiến thức trình diễn trong nền giáo dục ngành khoa học nhân văn. Chương trình Poetry Out Loud vừa làm lễ kỉ niệm 10 năm thành lập. Hai triệu rưỡi học sinh đã tham dự những cuộc tranh tài.


VII.

Những nhà thơ dường như không còn trò vui nữa.

– Blaise Cendrars

Không ai hoàn thiện được một phương pháp để phục hồi địa vị của thơ trong nền văn hóa đại chúng. Không chắc rằng nghệ thuật này có bao giờ trở lại được vị trí trung tâm mà nó từng đảm nhiệm. Nhưng phải chăng là không hợp lí khi hi vọng rằng thơ có thể có thêm được chút sức sống nào đó hoặc rằng đám cử tọa của thơ có thể đông thêm? Không ngớ ngẩn chăng, khi giả định rằng những phương pháp rèn luyện hiện đương biểu thị cách tốt nhất để duy trì nghệ thuật này trong tương lai? Chắc chắn rằng có những cơ hội để cách tân, tu sửa và cải thiện. Nền văn hóa về văn học cần những ý tưởng mới. Cho phép tôi được đưa ra chỉ hai đề xuất thôi, cả hai đều tập trung vào vai trò của thơ trong việc giáo dục, khiến có thể làm cho nhiều người đến với nghệ thuật này hơn. Mục đích của tôi không phải là bác bỏ việc phê bình văn bản, bác bỏ phương pháp luận về phê bình, hoặc lí thuyết văn học, vốn là những yếu tố cần thiết của một nền giáo dục về văn học. Chúng là những phương cách đầy hiệu lực và chính thống để hiểu rõ văn học. Điểm chính yếu trong đề xuất của tôi chỉ đơn giản là chúng sẽ thực hiện phần việc của chúng tốt hơn nữa nếu chúng được phối hợp với những phương pháp khác.

Đề xuất thứ nhất của tôi là cần thừa nhận sức mạnh của niềm mê hoặc trong việc giảng dạy về thơ. Cách tốt nhất để khơi dạy trí tưởng tượng của học sinh là đưa thêm vào việc phân tích nặng về phê bình những dạng kiến thức có tính thực nghiệm, trình diễn, và sáng tạo. Đem lại cho học sinh niềm vui và sự phấn chấn do thơ gây ra là cần thiết trước khi phân tích thơ, cũng là điều thích hợp với các em. Hẳn cũng còn có những dạng sáng tạo khác để khơi dạy trí tưởng tượng, tỉ như viết những bài mô phỏng, hưởng ứng, và bài nhại, hoặc phổ nhạc các bài thơ. Học sinh cần nhiều trải nghiệm hơn về việc nghe thơ được xướng lớn tiếng, cho dù việc này mất thời gian vốn là có hạn trong lớp. Đọc thầm thơ trên trang sách (hoặc chỉ đọc lớn tiếng từng đoạn) như một phần của việc giải thích văn bản là cách dẫn nhập không trọn vẹn vào nghệ thuật này. Nó thì buồn tẻ và thiếu máu, giống như thưởng thức những kiệt tác của Cézanne và Van Gogh qua những bản sao in trắng đen. Ta nhìn thấy được vài thứ gì đó tuyệt vời nhưng mất đi cái chính yếu. Giống như bài hát và điệu múa, thơ cần được trải nghiệm qua việc trình diễn trước khi nó được hiểu trọn vẹn.

Thứ hai, các nhà phê bình, học giả, và giáo chức cần thừa nhận và tôn trọng những dạng không-phải-khái-niệm của tri thức, vốn là nền tảngcủa toàn thể văn học, đặc biệt là thơ. Có những phương thức có tính thể chất và cảm giác của ý nghĩa được nhấn sâu trong những nhịp điệu, hình ảnh, và kết cấu của từ ngữ của văn vần, cũng như những chuyển động mang tính cảm xúc và trực giác trong cấu trúc của thơ. Những điều vừa nói thường là yếu tố thật khó để tóm gọn trong những thuật ngữ trừu tượng, nhưng việc chúng cưỡng chống sự diễn giải bằng ngôn ngữ khái niệm phản ánh những giới hạn của chủ nghĩa phê bình, không phải những giới hạn của nghệ thuật. Nếu chúng ta bỏ qua hoặc cho là thứ yếu cái sức mạnh có tính thể chất và cảm giác của văn vần, thì thật đúng là chúng ta bỏ mất cái ma lực đã nối kết thơ với rất nhiều người và bằng cách đó hạn chế sức hấp dẫn của thơ.

Những nhà giáo và những nhà văncùng chia sẻ trách nhiệmđào tạo những người đọc của thế hệ kế tiếp. Chúng tacần sáng tạo và trau dồi trong các lớp học của chúng ta một phương pháp biện chứng của trí năng và trực giác, của sự chú tâm của trí tuệ và sự dấn mình vào cuộc của các giác quan. Trong thơ, tính tri thức mà không có tính thể chất hỗ trợ thì sẽ trở nên buồn tẻ và cằn cỗi; cũng vậy, trực giác mà không có trí năng kiềm chế sẽ mau chóng trở nên luộm thuộm và chủ quan. Chúng ta cần tăng cường phương pháp luận bằng ma lực. Blake đã hỏi, “Đôi tay nào, dám cầm giữ lửa?” Câu trả lời, dĩ nhiên, là đôi tay chúng ta – những đôi tay khéo léo của những nhà giáo và những nhà văn. Chúng ta đã chạm tay vào ngọn lửa của trí tưởng tượng, nghệ thuật, và ngôn ngữ. Chúng ta cần trao truyền ngọn lửa đó vào tương lai. Tại sao chúng ta đành lòng chấp nhận một viễn kiến về giáo dục văn học chỉ đạt tới một tầm nhìn hạn hẹp hơn?

Phạm Kiều Tùng dịch

Ghi chú

[enchanter: soumettre à une action surnaturelle par l’effet d’une opération magique (từ điển Petit Robert) – buộc phải phục tùng một họat động siêu tự nhiên gây ra bởi một vận hành có tính ma thuật. Động từ enchanter thường được dịch là yểm phép. Danh từ enchanteur thường được dịch là người phù phép (từ đồng nghĩa: magicien, thuật sĩ; hoặc sorcier, phù thủy).

Năm 1895 ở Paris anh em nhà Lumière làm ra và cho chiếu cuốn phim đầu tiên. Năm 1902 cũng tại Paris, Georges Mélies, đạo diễn kiêm người viết kịch bản, cho chiếu phim Voyage dans la lune. Trong niềm phấn khích chung của mọi người trước sự khai sinh của một nền nghệ thuật mới mẻ, G. Apollinaire có phát biểu rằng ông nhìn thấy nơi điện ảnh một phương tiện “để làm cho thực tại tầm thường trở thành mê hoặc”. Năm 1895 được coi là năm sinh của điện ảnh, là nghệ thuật thứ bảy (sau sáu ngành nghệ thuật trước nó: kiến trúc, điêu khắc, họa, nhạc, thơ, múa) – người dịch chú thích].

* [Xin tạm dịch (tạm, bởi thơ-thực-sự-là-thơ thì không thể dịch, và dịch thơ-thực-sự-là-thơ là ngu xuẩn. Khiến người khác hiểu thiếu, hiểu sai điều hay, đẹp; hoặc xuyên tạc điều đó, hẳn là hành vi phạm pháp: dịch thơ có thể là một tội nặng):

Xin có đôi lời nói thêm:
Tyger! Tyger!

Việc tác giả tiểu luận chọn bài thơ này hẳn do dụng ý hậu thuẫn cho một luận điểm theo tác giả là rất quan trọng: thơ có nguồn gốc là thanh nhạc. Khi đọc lên, Tyger! Tyger! (Chúa sơn lâm! Chúa sơn lâm!) người đọc hẳn thấy cấu trúc này giống như refrain, điệp khúc, của một bài hát;

Burning bright: có lẽ muốn nói tới màu da vàng óng của hổ;
What immortal hand or eye: nói về tác nhân đã tạo ra con hổ;
Could frame thy fearful symmetry: nói chung, fearful symmetry được nhiều người đồng thuận hiểu là sự đối xứng giữa vẻ đẹp và sức mạnh hủy diệt tàn bạo của con hổ. Từ “fearful” còn được hiểu xa hơn: đáng sợ do nghịch lí của sự sáng tạo của Thượng đế, tạo ra cả cái đẹp, cái thiện và cái ác, cái xấu; frame, đóng khung, là giới hạn vào một khuôn khổ;
In what distant deeps or skies: câu hỏi về nơi chốn mà con hổ được tạo ra; deeps or skies: không ít người đọc muốn hiểu là “không biết con hổ được tạo ra ở địa ngục (deeps) hay thiên đường (skies)”;
On what wings dare he aspire: he, hẳn là chỉ Đấng sáng tạo ra tất cả.]

Page Cover: Magic Realism Fantasy Art of Michael Parkes

Sự kiện Đọc thơ và Âm nhạc Đặc biệt

Dana Gioia | California Poet Laureate

Sự kiện Đọc thơ và Âm nhạc Đặc biệt dành cho Nhà thơ California đoạt Giải thưởng Kỷ niệm Cộng đồng Người Việt tại Quận Cam: Chủ nhật, ngày 20 tháng 11 tại Irvine



Chi tiết sự kiện

Sự kiện: Dana Gioia Thơ Reading bằng tiếng Anh và tiếng Việt với âm nhạc
Thời gian: Chủ Nhật tháng 11 20 ngày tại 02:30
Địa điểm: Irvine Katie Thư viện Wheeler, 13.109 Old MyFord Road, Irvine, CA 92.602
Thông tin bổ sung: Đây là một sự kiện miễn phí. Truy cập www.capoetlaureate.net để biết thêm thông tin về California Nhà thơ Laureate, Dana Gioia.

Được trình bày với sự hợp tác của Hội đồng Nghệ thuật California, Trung tâm Sách California và Thư viện Bang California. Được tổ chức bởi Thư viện Irvine Katie Wheeler.


Giới thiệu về các nghệ sĩ

Dana Gioia là Nhà thơ đoạt Giải Danh dự tiểu bang California. Được Thống đốc Jerry Brown bổ nhiệm vào tháng 12 năm 2015, Gioia đóng vai trò là người ủng hộ tiểu bang cho thơ và văn trong các thư viện, lớp học và phòng họp trên khắp California. Một nhà thơ từng đoạt giải thưởng, Gioia là tác giả của Có Thể Thơ Có Vấn đề ?, được ghi nhận đã giúp làm sống lại vai trò của thơ ca trong đời sống công chúng Hoa Kỳ. Ông cũng là cựu Chủ tịch Quỹ Quốc gia về Nghệ thuật, nơi ông vô địch về giáo dục nghệ thuật. Với tư cách là người đoạt giải tiểu bang, Gioia sẽ làm việc để truyền cảm hứng cho thế hệ nhà văn mới và tôn vinh di sản văn học vĩ đại của California. Để biết thêm thông tin, hãy truy cập www.capoetlaureate.net.

Tina Huỳnh là một nhà giáo dục âm nhạc với 15 năm kinh nghiệm trong việc giảng dạy hợp xướng và nhạc cụ ở các cơ sở công, tư và phòng thu. Là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Trường Âm nhạc USC’s Thornton, Huỳnh đã hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình bằng cách biên soạn cuốn sách Bài hát cho trẻ em Việt Nam, dựa trên các bài hát thiếu nhi và dân ca mà cô sưu tầm được từ cộng đồng người Việt ở Quận Cam. Cô là một nghệ sĩ hòa tấu cấp độ buổi hòa nhạc. Cô vừa giới thiệu sự kiện vừa thổi sáo để kèm theo bài đọc.

Đức Lê bút danh Khế Iêm, sinh năm 1947 tại Việt Nam và di cư sang Mỹ năm 1990. Ông là người sáng lập và chủ bút Tạp chí Thơ Việt Nam. Duc Le đã là người đổi mới thơ Việt ở cả Hoa Kỳ và quê hương của ông. Ông là người chủ trương Chủ nghĩa Tân hình thức Việt Nam đã đưa thể thơ Không vần tiếng Anh vào tiếng Việt. Ông cũng là người tích cực dịch thơ Mỹ sang tiếng Việt và là người thúc đẩy giao lưu văn học giữa hai quốc gia.


Nhiệm vụ của Hội đồng Nghệ thuật California, một cơ quan của tiểu bang, là thúc đẩy California thông qua nghệ thuật và sự sáng tạo. Hội đồng cam kết xây dựng ý chí và nguồn lực của công chúng cho nghệ thuật; khuyến khích các sáng kiến nghệ thuật có thể tiếp cận phản ánh sự đóng góp từ tất cả các nhóm dân cư đa dạng của California; phục vụ như một nhà lãnh đạo tư tưởng và nhà vô địch cho nghệ thuật; và cung cấp các chương trình và dịch vụ hiệu quả và phù hợp.
Các thành viên của Hội đồng Nghệ thuật California bao gồm: Chủ tịch Donn K. Harris, Phó Chủ tịch Nashormeh Lindo, Larry Baza, Phoebe Beasley, Christopher Coppola, Juan Devis, Kathleen Gallegos, Jaime Galli, Louise McGuinness, Steven Oliver, và Rosalind Wyman. Tìm hiểu thêm tại www.arts.ca.gov.
916-324-6617
caitlin.fitzwater@arts.ca.gov

Thơ Tân hình thức Việt và bạn thơ trên thế giới – Tạp chí Sông Hương (tapchisonghuong.com.vn)


 

TUẦN THƠ 59: LỖI HẸN DÃ QUỲ

van-gogh-vase-with-twelve-flowers-detail-1889-by-vincent-van-gogh_1_orig
van-gogh-vase-with-twelve-flowers-detail-1889-by-vincent-van-gogh_1_orig
Nguyễn Thánh Ngã

LỖI HẸN DÃ QUỲ

người ta bảo đó là
hoa báo nắng thế mà
mưa vẫn té tát khi
những ngọn đồi nở vàng
hoa dã quỳ em ngơ
ngác bảo miền Trung lũ
lụt tơi bời sao hoa
có thể nở mà không
nức nở trong lòng người
mẹ một mình sinh con
trong đêm bão bùng người
cha bị lũ cuốn khi
liều chết chống chèo qua
dòng xiết mẹ già lom
khom bò trên nóc nhà
em bé thương con chó
con cho vào thau đội
trên đầu mà lội nước
ngập tới mang tai hai
con gà con không hiểu
vì sao đứng trên chiếc
dép lật ngược trôi lềnh
bềnh tiếng kêu chim chíp
đói meo không có mẹ
tìm mồi em bé chẳng
hiểu vì sao con chó
vì sao chẳng hiểu con
gà cũng không hiểu nốt
chỉ có anh lỗi hẹn
với em mùa dã quỳ
chẳng thể cùng nhau về
hái hoa thắp mộ chị …


KOGI

buổi sáng thức dậy thấy
người Kogi bình thản
không nỗi lo không hoài
nghi không chán chường họ
sống như đã sống trong
rừng hàng ngàn năm ăn
trái cây và rau cỏ
không hề giết hại bất
kỳ sinh vật nào thế
mà sống thọ không bệnh
tật thuốc men kể cả
không chiếm hữu kể cả
không tôn giáo không giáo
điều họ sống tự nhiên
như nhiên mà hiểu hết
cái đau của nhân loại
và những điều xảy ra
trong vũ trụ tối tăm
có phải ai giết chóc
sẽ bị giết chóc có
phải không tranh giành kẻ
thù tự tiêu tan có
phải không tôn giáo sẽ
không có ma quỷ có
phải “không có phải” người
Kogi không phải người
Kogi vậy họ là
ai chúng ta là ai …


HỒN NHIÊN

Sủa là âm thanh phát ra từ
cái mõm loài chó và như thế
chó vẫn sủa và người ta vẫn
Đi để thế giới được sinh ra
những lãnh thổ có tiếng sủa canh
giữ những ảo tưởng an lành những
Giấc mơ dai dẳng về đời sống
tạm bợ gọi là cuộc sống con
người thật ra cuộc sống cứ thế
Mà mọc lông những ngôn từ cứ
thế mà đi bằng bốn chân không
ngại từ đó tiếng chó cứ hồn
Nhiên sủa lên tiếng người tiếng chó
lẫn lộn không phân biệt được như
một phản xạ có điều kiện dần
Dà người ta không kiêng cữ sủa
không kiêng cữ nói như sủa vào
mặt nhân gian cắn vào mặt những
Công dân hạng bét của hành tinh
đau khổ và bất lực này dù
đau khổ chẳng ảnh hưởng gì đến
Hòa bình thế giới và bất lực
cũng vậy cứ thế mà thành tiếng
sủa biểu cảm nghìn cung bậc đời
Sống …


VIẾT TRONG NHÀ HÀNG CUA MỘT CÀNG

Người ta đến thế giới này bằng
nhiều cách anh bạn tôi đến thế
giới này bằng một cuộc nhậu tơi
Bời hoa lá lên bờ xuống ruộng
anh là cua không gãy một càng
mới là chuyện lạ nhưng còn
Một càng cũng là chuyện lạ rồi
nên vô tình hay hữu ý không
biết anh rủ tôi ngồi trong quán
Cua một càng Sài Gòn mà thật
ra Sài Gòn làm gì có cua
hai càng bởi càng dài càng ngắn
Càng nhiều càng ít càng có càng
không càng giàu càng nghèo càng to
càng nhỏ càng uống càng say càng
Say càng tỉnh và ngược lại càng
mê càng đắm mà không ai biết
mình mê đắm như cua một càng
giữa cuộc đời bá đạo và vô
đối này ư …


NĂNG LƯỢNG

Tôi bắt đầu lấy năng lượng từ
em để viết để dịu dàng trở
nên quyết liệt để ngây thơ trở
nên tàn nhẫn để dị thường trở
Thành nhiệt hạch phản ứng lời hạt
nhân của ý phiêu bồng câu chữ
của tứ thành cơn lũ ống cuồn
cuộn trào năng lượng cuốn phăng dãy
Lâu đài hoang phế đổ nát những
thành trì tuyệt đỉnh cổ điển truyền
thống quan niệm ngự trị lâu đời
trong không gian thời gian ước lệ
Của ngày hôm qua ngày nay và
ngày mai ôi cơn mưa lượng tử
và gió vật lý thổi bay qua
vùng ảo giác của trục thời gian
Ngang tàng bám vào mê lầm keo
kiệt bám vào thế giới qui chiếu
để trăm năm rõ một chỗ ngồi
khi tôi bắt đầu chết điếng khi …


O CHUỘT

ngày xưa Tô Hoài viết O chuột đọc
hoài vẫn không thấy O chuột nào giống
O chuột mình đã đọc thì nay có
O chuột nhắt trong tủ sách gặm vài
từ xé vài tờ rồi lót ổ nằm
trên đống chữ rách nát lâu ngày bỗng
nhiên O thông minh dữ dội O bèn
nghĩ ra cách đối phó với lão mèo
đen luôn kêu “meo meo” hù dọa cháu
con nhà họ chuột một hôm O chuột
âm thầm tự chui vào cái bẫy lão
mèo đen hí hửng thò tay vào định
chộp O chuột bỗng cái bẫy sập dính
chặt móng sắt vào tay mèo đen lão
giãy giụa trong tiếng cười nhạo của O
chuột càng giãy giụa tay lão mèo càng
đau đớn tợn lão nhận ra cái kế
dụ khị thâm độc của O chuột nên
lão xuống giọng xin xỏ hãy thả ta
ra ta sẽ tha cho con cháu nhà
chuột nhưng O chuột chỉ kêu “chít chít”
nhờ ăn cái chữ đã thành tinh khôn …


ĐÀN VỊT TRỜI

mưa xuân như cơn mộng giăng
giăng ngoài bờ rào đàn vịt
trời bay qua bờ rào “rào
rào” như vỡ mộng mưa giăng
lão K’De mang nỏ vào rừng
gặp đàn vịt trời tìm nơi
đẻ trứng những quả trứng tròn
trĩnh đẹp như những viên ngọc
lấp lánh dưới mặt trời lão
K’De bốc trứng bỏ vào túi
chẳng phải túi ba gang chẳng
phải túi “dạng vừa đâu” mà
đó là chiếc túi đựng mũi
tên bịt đồng khi chiếc túi
trứng vừa đầy một con rắn
to cũng vừa xuất hiện nó
há mồm le lưỡi định mổ
vào tay K’De … ôi lão già
một đời đi săn nhưng chưa
bao giờ chưa bao giờ lão
trở tay không kịp như thế
này vì như thế này là
không kịp trở tay nếu lão
rút mũi tên bịt đồng bắn
con rắn to thì những quả
trứng sẽ vỡ tan còn nếu
không lão sẽ bị rắn độc
cắn may thay đàn vịt trời
đã về vịt trống vịt mái
sà cánh xuống chiếc tổ con
rắn vội chuồn đi lão thợ
săn K’De cũng bỏ đi nhưng
vợ chồng vịt trời cứ bay
theo kêu “quắp quắp quắp” tự
nhiên lão thợ săn thấy mình
là “kẻ cắp” nên lão quay
lại bỏ những quả trứng tròn
trĩnh như những viên ngọc vào
chiếc tổ xinh xắn rồi quay
đi lão đâu biết con rắn
độc đang chờ lão ven đường
để dành lại những quả trứng
và con rắn cũng đâu biết
lão già đã lắp sẵn mũi
tên vào chiếc nỏ cầm tay …


TẶC LƯỠI

tặc lưỡi một cô gái xa
lạ là cái tặc lưỡi tôn
vinh hay cái tặc lưỡi thèm
muốn cũng đều là cái tặc
lưỡi quấy rối tình dục nơi
công sở cũng đều là sai
với qui tắc ứng xử của
một người nghiêm chỉnh hay một
người đàng hoàng khi một cô
gái có vẻ “ngon hẳn” thì
anh không nên tặc lưỡi mà
anh chỉ nên nói một câu
“rất tuyệt rất tuyệt em rất
tuyệt!” hẳn nhiên đôi mắt xa
lạ sẽ nhìn anh và anh
nhìn đôi mắt xa lạ nhìn
anh …


NHUẬN GIÂY

có thể chỉ là một giây
mà chúng ta xa nhau mãi
mãi có thể chỉ là một
giây mà chúng ta ngoảnh mặt
làm ngơ từ chối thấy nhau
bởi tình yêu man trá dại
khờ đã đến hồi kết thúc
nhưng thời gian thì được bù
đắp bằng cách nhuận giây vào
[… 30/6/15]
thời gian được ngưng lại một
giây thị trường tài chính thế
giới tìm cách tránh né tê
liệt vì giây nhuận “khủng khiếp”
ấy, còn em tìm cách tránh
né anh cũng chỉ trong một
giây “khủng khiếp” đó thôi! thị
trường tài chính hay thị trường
tình yêu anh chẳng biết chỉ
biết em chính là một giây
“khủng khiếp” hơn mọi “khủng khiếp”
“giây nhuận” kia trái đất có
thêm một giây để chậm lại
còn anh có thêm một giây
để “lại chậm” một nỗi đau
đời trong khi trái đất được
bù đắp còn anh lại bị
“tước đoạt” chỉ trong một giây …


BÀI THƠ RÁC

những người giàu xả rác những người
nghèo ném rác những chiếc xe chở
rác những hố rác bốc mùi giữa
lòng thành phố những đứa trẻ bới
rác đã là cuộc sống ai cũng
có rác vì rác và rác đã
làm nên cuộc sống và cuộc sống
phế thải rác đó là điều dĩ
nhiên hẳn nhiên và tự nhiên mà
ai cũng biết giống như tôi vò
một tờ giấy nháp vứt vào sọt
rác tôi biết trong đó một bài
thơ rác vừa ra đời vừa bị
vứt đi trong cái sọt đầy rác
một bài thơ rác không hề biết
mình là rác nó cứ ngang nhiên
không coi mình là rác trong cái
sọt chật chội đầy rác mà tự
xưng mình là vua (các loài rác)
cho đến khi ngọn lửa bén hơi
thì tất cả cùng thét lên bản
hài ca “là tro bụi hãy trở
về tro bụi” và cứ thế bản
hài ca cứ lặp đi lặp lại
trong khi bài thơ rác của tôi
cứ làm vua xứ sở rác vì
những người giàu xả rác và những
đứa trẻ lang thang vẫn còn bới
rác …


Page Cover: Small Bottle with Peonies and Blue Delphiniums (detail) by Vincent van Gogh

<

p style=”text-align: left;”>