Trang chủ Blog Trang 30

NGÔN NGỮ ĐƠN ÂM VÀ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT – VÀI DẪN GIẢI CỤ THỂ

Claudia Ricci Photography
Claudia Ricci Photography
Khế Iêm

Thơ Tân hình thức Việt tiếp nhận, học hỏi và hình thành từ hai nguồn thơ ảnh hưởng nhất tại phương Tây, thơ thể luật tiếng Anh và thơ tự do Mỹ, bổ sung thêm những công trình nghiên cứu chức năng sáng tạo của não bộ trong thơ. Thơ thể luật tiếng Anh với những nhà thơ thiên tài William Shakerspeare (1564 – 1616), John Milton (1608 – 1674), William Wordsworth (1770 – 1850), William Butler Yeats (1865 – 1939), W. H. Auden (1907 – 1973), Robert Frost (1874 – 1963) … Thơ tự do Mỹ với những nhà thơ Walt Whitman (1819 – 1892), William Carlos Williams (1883 – 1963), và những phong trào thơ hậu hiên đại.

Câu hỏi đặt ra, tại sao thơ tiếng Anh lại có thể sản sinh ra nhiều tài năng lớn như vậy? Có thể là do ngôn ngữ, theo nhà thơ Jorie Graham, “Tiếng Anh có khả năng hấp thu vô cùng tận đủ mọi loại ngôn ngữ từ các quốc gia khác, và là một ngôn ngữ lạ thường nếu dùng để làm thơ.” Và Chtistopher Cawdwell cho rằng “Thực tế, nước Anh đã có ba thế kỷ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển chủ nghĩa tư bản, trong cùng thời kỳ, nó dẫn đầu thế giới trong việc phát triển thơ, không phải những sự trùng hợp ngẫu nhiên không liên quan, nhưng là một phần chuyển động của lịch sử.”

1/ Tiếp nhận từ thơ thể luật tiếng Anh:

Theo những khám phá về chức năng sáng tạo trong não bộ, sáng tác thơ phải kết hợp được cả hai bán cầu não trái và phải. Và đó là lý do để thơ tiếng Anh có được những nhà thơ lớn và sức ảnh hưởng mang tầm thế giới, qua nhiều thế kỷ. Được như vậy, luật tắc của thể luật thơ đã đóng góp một phần quan trọng.

Theo những nhà nghiên cứu, sáng tạo bao gồm toàn thể não bộ, với bán cầu não phải và trái. Giữa hai bán cầu não có một mạng kết nối gọi là Corpus callosum. Trong bất cứ thể thơ nào cũng có luật tắc để tạo ra nhịp điệu. Thể thơ và nhịp điệu có khả năng lôi kéo theo những yếu tố khác như cảm xúc, trực giác, tưởng tượng, nhạc tính, vần … thuộc bán cầu não phải. Nhưng muốn kết nối được với ngôn ngữ, kiến thức và các yếu tố khác thuộc bán cầu não trái để tạo thành nội dung, còn phải tùy thuộc vào thể loại ngôn ngữ, đa hoặc đơn âm, và yếu tố kỹ thuật của thơ. Thơ thể luật tiếng Anh đã đáp ứng được với những điều kiện nêu trên.

Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm, nên thơ thể luật, dù vần hay không vần ở cuối dòng thơ, vẫn có thể dùng kỹ thuật vắt dòng (enbjament) vắt ý tưởng từ dòng này qua dòng khác, làm cho liền lạc với nhau, hình thành tứ thơ hay tư tưởng trong thơ. Với kỹ thuật này, một câu dài hơn một dòng thơ, vẫn có thể tiếp tục qua một dòng khác, làm cho ý nghĩa được hoàn tất. Kỹ thuật vắt dòng đã có từ thời cổ đại, với Homer, và là một kỹ thuật chủ yếu và phổ biến trong thơ thể luật tiếng Anh thời Phục hưng. Chính kỹ thuật này đã giúp cho những nhà thơ thể luật tiếng Anh (và những ngôn ngữ đa âm khác) nối kết hai bán cầu trái và phải, phát huy tư tưởng, làm thành những tác phẩm lớn, lôi cuốn người đọc. Thơ Tân hình thức Việt tiếp nhận kỹ thuật và quan điểm này của thơ thể luật tiếng Anh. Nhưng vì tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm nên phải thay thế vần ở cuối dòng bằng kỹ thuật vắt dòng, để dễ dàng chuyển tải tư tưởng.

Trong khi thơ tự do Mỹ, phủ nhận thể luật của thơ truyền thống, đã đi một con đường ngược lại, bằng cách dùng kỹ thuật dòng gãy (line break) và phần mảnh (fragment), làm rời rạc và đứt đoạn ý tưởng trong thơ. Thơ trở nên khó hiểu, mang tính hàn lâm, hạn hẹp trong việc tìm kiếm phong cách (làm mới), sôi nổi với những phong trào tiền phong, đồng thời thu nhỏ người đọc trong giới những nhà thơ.

2/ Tiếp nhận từ thơ tự do Mỹ:

Thật ra, thơ tự do khởi đầu cũng muốn thay thế nhịp điệu tạo bởi luật tắc của thơ thể luật, bằng cách lập lại những câu chữ, và nhà thơ T. S. Eliot cho rằng, những nhà thơ hiện đại nên sử dụng vần ở bất cứ đâu hiệu quả nhất. Nhưng tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm, khi lập lại những câu chữ với quá nhiều âm tiết, không tạo được nhịp điệu mạnh so với thơ thể luật – dùng những đơn vị hai âm tiết, tiêu biểu là iambic, không nhấn, nhấn tương đương với đơn vị âm thanh bằng trắc trong tiếng Việt. Kỹ thuật lập lại những câu chữ không có tác dụng trong ngôn ngữ đa âm, nhưng lại đắc dụng trong ngôn ngữ đơn âm, là tiếng Việt. Nếu thơ thể luật tiếng Anh, tiêu biểu là dòng thơ iambic pentameter, tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh (không nhấn, nhấn), 5 lần trong một dòng thơ, thì thơ Tân hình thức Việt tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh bằng trắc (chữ kép) ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ. Vì thế nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt luôn luôn thay đổi và sinh động, không bị nhàm chán.

Thơ Tân hình thức Việt tiếp nhận kỹ thuật lập lại và quan điểm về vần của T. S. Eliot.

Trở lại với thơ tự do Mỹ, nhà thơ William Carlos Williams sau đó, không còn quan tâm tới nhịp điệu thơ nữa. Ông cho rằng, “thơ tự do tạm thời vô thể, nhưng nó không dừng lại ở đó, mà hướng tới một luật tắc mới.” Điều đó có nghĩa, thơ tự do cần tìm những hình thức (thể thơ) mới. Một trong những hình thức thơ, trông giống như thơ thể luật, nhưng với số âm tiết mỗi dòng thơ ít hơn (từ 5 tới 7 âm tiết thay vì 10 âm tiết của thơ thể luật), những ý tưởng liền lạc giống như thơ truyền thống, và dùng kỹ thuật vắt dòng thay vì dòng gãy. Ảnh hưởng của William Carlos Williams tới những nhà thơ ở những thế hệ sau, hình thức thơ này như một thể thơ phi chính thống. Điển hình là những bài thơ Peasant Wedding (Đám Cưới Quê) của William Carlos Williams và Morning (Buổi Sáng) của Frank O’ Hara. Bây giờ, khá nhiều những nhà thơ tự do Mỹ sáng tác theo, nhà thơ Tom Riordan chẳng hạn. Những hình thức loại thơ này trông giống những thể thơ 5 chữ, 7 chữ của thơ Tân hình thức Việt. Khuyết điểm là không quan tâm tới nhịp điệu, nên cách sáng tác vẫn nghiêng về bán cầu não trái như cách làm của thơ tự do.

3/ Nối kết giữa tự do và thể luật:

Trên Facebook, một câu hỏi được đặt ra: “Một nhà thơ đã khẳng định: thơ Tân hình thức là thứ thơ bắt người khác phải viết theo khuôn khổ – không được tự do, theo bạn nghĩ thì sao?” Nhà thơ Robert Frost, khi được hỏi về thơ tự do, nói: “Tôi vừa mới chơi quần vợt với lưới bị gỡ xuống” (I’d just as soon play tennis with the net down). Và nhà thơ T S Eliot nhấn mạnh “không có thơ nào là tự do đối với một nhà thơ muốn làm tốt việc làm thơ” (no vers is libre for the man who wants to do a good job) – Dù có lưới hay không, những nhà thơ (thể luật và tự do) đều chơi theo các qui tắc khác nhau. Theo John Ashbery, hiệu quả của thơ tự do dựa trên nhịp điệu và sự lặp đi lặp lại.

Nhưng như đã đề cập, thơ tự do khởi đầu, với T. S. Eliot, đã thất bại trong việc tạo nhịp điệu và những nhà thơ sau đó, với William Carlos Williams, chuyển qua việc tìm kiếm những hình thức (hay thể thơ) mới. Như vậy, thơ tự do, dù thóat ra khỏi truyền thống nhưng vẫn cố gắng nối kết với truyền thống. Nhưng cả hai cách đều có khiếm khuyết. Thơ Tân hình thứ Việt kết hợp được cả hai cố gắng của thơ Tự do Mỹ. Và vì chỉ dùng thể thơ ở khâu cuối cùng, để chỉnh lại nhịp điệu, sau khi bài thơ đã làm xong, nên không bị vướng vào khuôn khổ nào cả. Ngẫm lại, tái sử dụng những thể thơ truyền thống quả là yếu tố căn bản và tuyệt vời của thơ Tân hình thức Việt. Nó như chiếc neo giữ lại một con tàu. Đơn giản thế thôi, thơ Tân hình thức Việt trở thành thể loại thơ nối kết hoàn chỉnh giữa thể luật và tự do, giữa bán cầu não trái và phải.

Sự xuất hiện thơ tự do, nguyên nhân cũng vì sự xơ cứng về nhịp điệu và ngôn ngữ của thơ thể luật. Thơ thể luật tiếng Anh vì vậy cũng phải trải qua nhiều lần lơi lỏng luật tắc và thay đổi ngôn ngữ mới tồn tại được cho tới ngày nay. Gần đây nhất là dùng ngôn ngữ đời thường với thơ Tân hình thức Mỹ.

Rút tỉa ưu và khuyết điểm của hai dòng thơ lớn đó, với bề dày học thuật hàng thế kỷ, để tạo ra một thể loại thơ mới trong thơ Việt, với ước vọng sản sinh ra những nhà thơ Việt có tầm vóc trong tương lai, không phải dễ dàng. Và đã phải trải qua gần 18 năm, thơ Tân hình thức Việt mới hoàn tất được cách làm thơ. Nhưng còn sáng tác thì sao? “Những Nụ Hồng Của Máu” của Nguyễn Đăng Thường, “Bà Quản Gia” của Đỗ Kh., “Tình Xa” của Dã Thảo, “Bún Riêu” của Gyảng Anh Iên, “Biển Cạn Cợt” của Vương Ngọc Minh,  “Mùa Lau Trắng” của Đinh Thị Như Thúy, “Thật Mà” của Nguyễn Văn Vũ … Thơ Biển Bắc, Hường Thanh, Hồ Đăng Thanh Ngọc … và hàng trăm bài thơ khác, hình thành những sáng tác mang tình nền tảng của thơ Tân hình thức Việt.

Nhưng 18 năm qua, hết đợt này tới đợt khác, đến rồi đi, sáng tác thơ Tân hình thức vẫn rất chậm lụt, thậm chí còn bị hiểu sai, sáng tác không đúng cách, đưa tới tình trạng nhịp điệu đọc lên nghe như văn xuôi hoặc bài nào cũng giống bài nào. Tại sao?

– Mặc dù lý thuyết thơ Tân hình thức đã đi hết một con đường khá dài, nhưng cũng chỉ hoàn tất những tiểu luận quan trọng gần đây: “Nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt trong tiến trình sáng tác” (2015), “Cách làm thơ” (2016), và “Thơ và không thơ” (2017), về những chức năng sáng tạo trong não bộ.

– Đa số những nhà thơ đến với Tân hình thức quen với cách làm thơ vần điệu và tự do, đọc những sáng tác của những nhà thơ khác, rồi biến hóa theo cách của mình, ít quan tâm tới nhu cầu lý thuyết hay học thuật. Và dù có quan tâm chăng nữa thì cũng khó nhập tâm, vì không phải ai cũng có đủ niềm tin và đam mê để thay đổi những thói quen cũ. Vì vậy, thơ Tân hình thức Việt cần phải định hướng lại, cung cấp những hướng dẫn cụ thể bước đầu, để người làm thơ sáng tác đúng theo tiêu chuẩn thơ Tân hình thức, dù họ có quan tâm tới lý thuyết hay không. Sau khi có tác phẩm, chắc chắn họ quay lại tìm hiểu lý thuyết, tiến xa hơn, thể hiện tinh thần sáng tạo trong thơ.


Ngôn ngữ thơ đơn giản, dễ hiểu nhưng cái hay của thơ Tân hình thức Việt là cái hay của ý tưởngnhịp điệu. Điều này cũng có nghĩa, một bài thơ thiếu một trong hai yếu tố trên, không thể là một bài thơ Tân hình thức Việt. Như vậy, trước hết chúng ta phải suy ngẫm và tìm kiếm những hiểu biết về chủ đề bài thơ. Sau đó phát triển những ý tưởng liền lạc để tạo thành nội dung. Theo Jesper, “sáng tạo là khả năng kết nối giữa kiến ​​thức và kinh nghiệm trong tiềm thức, trải qua rất nhiều quá trình khác nhau: khả năng ứng biến, suy nghĩ khác biệt, có ánh chớp lóe ra trong nội tâm (flashes of insight) …” Ánh chớp lóe ra trong nội tâm (flashes of insight) là những khoảnh khắc khi tâm trí được thư giãn, và không suy nghĩ theo phương pháp hay luận lý. Điều này có thể giải thích, khi thư giãn và để cho tâm trí đi lang thang, Thùy trán (Frontal lobe) rơi vào tình trạng ngủ tạm thời, giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc đưa ý tưởng từ tiềm thức vào ý thức và các ý tưởng sáng tạo sẽ xuất hiện. Như vậy, ý tưởng (cái nhìn mới) trong tiến trình làm thơ chính là ánh chớp lóe trong nội tâm khi kiến thức và trực giác của nhà thơ tiếp cận với thực tại.

Nhưng thơ Tân hình thức Việt là một dòng thơ mới, chưa phát triển đầy đủ, làm sao có được những bài thơ tiêu biểu, để chúng ta có thể biết cách tạo thành những ý tưởng liền lạc trong thơ? Nhà thơ Frederick Feirstein cho rằng “sự liền lạc của ý tưởng và cảm xúc là cách diễn đạt mà thơ Tân hình thức Mỹ coi là yếu tố quan trọng.” Như vậy, đó cũng là yếu tố quan trọng của thơ thể luật tiếng Anh, và là yếu tố khó nhất trong thơ.

Như trên chúng ta vừa đề cập, một số nhà thơ tự do Mỹ cũng có đang có khuynh hướng sáng tác những bài thơ có ý tưởng liền lạc, giống như thơ thể luật tuy không quan tâm tới luật tắc và nhịp điệu như thơ thể luật. Trong mục “Thơ dịch, đọc như Tân hình thức Việt” bao gồm cả những nhà thơ tự do như Williams Carlos Williams, Frank O’ Hara cho đến những nhà thơ đương thời như Tom Riordan, Phillip A. Ellis, cùng những nhà thơ thể luật như Dana Gioia, Frederick Feirstein, Sydney Lea … cho chúng ta thấy thế nào là những bài thơ có ý tưởng liền lạc. Nhưng khi chuyển dịch, dù là thơ tự do không có nhịp điệu hay thơ thơ thể luật có nhịp điệu, chúng ta không thể chuyển dịch nhịp điệu âm thanh ngôn ngữ, và chỉ có thể chuyển dịch ý tưởng mà thôi. Sở dĩ chúng ta đọc có cảm tưởng như đọc thơ Việt vì, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, dễ có những chữ đơn hoặc kép (bằng trắc) trùng hợp nên nghe thuận tai.

Nếu một bài thơ Tân hình thức Việt chỉ làm với những ý tưởng liền lạc như những bài thơ dịch nêu trên thì mới đi được nửa đoạn đường, tạo nội dung thơ với bán cẩu não trái. Chúng ta còn phải tạo nhịp điệu, với bán cầu não phải, thì mới nối kết được hai bán cầu não với nhau như thơ thể luật tiếng Anh. Trong bài viết “Những đặc điểm của thơ Tân hình thức Việt” nhấn mạnh, “Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắcvần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa đi sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, đọc thầm trong đầu, và đọc đi đọc lại nhiều lần để phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ để tạo thành nhịp điệu.”

Khi đọc đi đọc lại nhiều lần, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Như vậy, bài thơ chỉ được ghi xuống trên giấy, sau khi đã hoàn tất. Và “đếm chữ xuống dòng” là khâu cuối cùng, dùng để chỉnh sửa, sau khi bài thơ đã làm xong. Lúc đó, chúng ta mới quyết định xem phải dùng thể thơ nào cho phù hợp với nhịp điệu bài thơ. Thể thơ 5 chữ cho nhịp điệu nhanh, 7 chữ cho nhịp điệu vừa, và lục bát cho thơ kể chuyện.

Nhưng tại sao phải đọc đi đọc lại, và tránh làm theo cách ghi xuống trên giấy rồi đếm chữ xuống dòng? Bởi như thế, chúng ta chỉ tạo được nhịp điệu văn xuôi, chứ không phải nhịp điệu thơ. Hành động đọc đi đọc lại nhiều lần, không những để hình dung ra nhịp điệu thơ, hạn chế sự nghĩ của tâm trí, mà chúng ta có thể phát huy khả năng sáng tạo, tưởng tượng, phối hợp giữa nội dung bài thơ (bán cầu não trái) với cảm xúc, trực giác (bán cầu não phải). Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể ghi xuống trên giấy để nhớ từng đoạn thơ đã làm, rồi tiếp tục theo cách đọc thầm trong đầu, cho đến hết bài thơ. Cuối cùng, nghe nhạc cổ điển và những bản nhạc hay Jazz, Hip hop … thường xuyên cũng có thể góp phần hiệu quả trong việc làm phong phú và biến đổi nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt.

Nếu về phần nội dung, chúng ta tham khảo những ý tưởng và cảm xúc liền lạc từ những bài dịch thơ Mỹ, vậy còn nhịp điệu thì sao? Chắc chắn, phải là những bài thơ Tân hình thức Việt. Điều này, tôi có thể nói qua về những trải nghiệm của mình. Tôi có thói quen làm thơ đọc thầm trong đầu, bây giờ nhìn lại, với cách làm thơ này, lọc ra được một số bài thơ Tân hình thức với những nhịp điệu mạnh không khác gì thơ thể luật tiếng Anh: “Tết Ở New York”; và đa dạng: “Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể”, “Con Mèo Đen”, “Chuyện Đời Anh”, “Mẹ Khổ”, “Chiếc Xe Đạp” … Như vậy, khi làm quen với cách làm thơ đọc thầm trong đầu, chúng ta sẽ có được những bài thơ với những nhịp điệu khác nhau, và khi tạo được sự đa dạng nhịp điệu, người làm thơ sẽ hứng khởi hơn trong sáng tác và hấp dẫn người đọc.

Theo Christopher và Seth Abramson, người đọc thơ giảm xuống mức tối thiểu, trong khi nhà thơ tăng tới mức lạm phát. Thơ Tân hình thức Việt đi theo chiều nghịch, là loại thơ khó làm, ít người tham gia, nhưng lại được nhiều người tìm đọc. Thơ đơn giản, dễ hiểu (ngôn ngữ), mới mẻ (ý tưởng) và hay (nhịp điệu), dĩ nhiên, lôi cuốn người đọc và không dễ làm. Iain McGilchrist, “Thơ giản dị cần nhiều kỹ năng hơn thơ khó hiểu. Nó phân biệt cơ bản giữa tính mới (newness) và tính lạ thường (novelty): thơ không cần tìm kiếm sự lạ thường, bởi vì thơ thật sự làm cho điều gì có vẻ quen thuộc trở nên mới mẻ.” Những tiêu chuẩn trên, thơ Tân hình thức Việt nhờ rút tỉa ưu khuyết điểm, từ thơ thể luật tiếng Anh, thơ tự do Mỹ đến những khám phá chức năng sáng tạo trong não bộ, và vì vậy, không còn hạn chế ở bất cứ chủ đề nào nữa. Vấn đề ít người tham gia, có thể giải thích, qua nghiên cứu về não bộ, thay đổi thói quen cũ và tập thói quen mới trong sáng tác là vô cùng khó, cần có thời gian. Hơn nữa, thơ Tân hình thức Việt chỉ đề nghị cách làm thơ từ một thể thơ mới, còn tham gia sáng tác lại tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tế và nhu cầu của những người làm thơ. Điều đó, ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta.

Ý tưởng liền lạc tạo ra nội dung, nội dung tạo ra tư tưởng, và nhạc tính (hay nhịp điệu) là vấn đề chung của thơ Việt, không phải chỉ với thơ Tân hình thức. Vượt qua những đỉnh núi đó, tùy thuộc vào đam mê và độ bền của từng nhà thơ. “Vài dẫn giải cụ thể” chỉ là sự gợi ý, mong giúp những nhà thơ tự tìm ra cách giải quyết những “độ khó” trong sáng tác của mình, không phải những mẫu mực. Trên hết, vẫn là tinh thần sáng tạo của người làm thơ. Chúng tôi sẽ đưa lên các website thơ Tân hình thức hai đề mục: “Thơ dịch, đọc như thơ Tân hình thức Việt”, và “Chùm thơ với nhịp điệu đa dạng” của từng tác giả hay nhiều tác giả. Xin đọc thêm bài viết, “Những đặc điểm của thơ Tân hình thức Việt”.


Tái bút

Nhà thơ Nguyễn Văn Vũ viết: “Tính liền lạc trong một bài thơ Tân hình thức Việt là một đòi hỏi hàng đầu, nếu không thực hiện được sự liền lạc thì việc bỏ dấu chấm câu và việc vắt dòng sẽ làm cho bài thơ đáng lẽ phải đời thường, dễ hiểu lại trở thành lạ lẫm và khó hiểu. Cho nên, một bài thơ Tân hình thức Việt muốn tạo được hiệu ứng, trước hết phải tạo được sự liền lạc – liền lạc về ý tưởng và liền lạc về câu  chữ; trong đó liền lạc về ý tưởng tạo ra tính truyện (nội dung), liền lạc về câu chữ tạo ra nhịp điệu. Nghĩa là với một ý tưởng liền lạc, người đọc sẽ  dễ dàng cảm nhận được nhà thơ muốn nói điều gì trong bài thơ, còn liền lạc trong câu chữ, cộng với kỷ thuật lặp lại các ngữ âm bằng trắc… sẽ cho người đọc cảm nhận được nhịp điệu của bài thơ (nhanh, chậm, vui, buồn…) mà bài thơ muốn diễn đạt.

“Có thể nhận thấy một điều nữa, về hình thức, việc thể hiện một bài thơ Tân hình thức Việt cũng giống như trình bày lời của một bản nhạc, chưa hết câu hết ý mà xuống dòng (vắt dòng) là việc bình thường, tùy thuộc vào cách bố trí phách nhịp trên mỗi dòng kẻ, nhằm tạo được một hình dạng dễ nhìn, đẹp mắt cho tổng thể chứ không ảnh hưởng gì đến chất lượng, nội đung của tác phẩm. Một điều nữa, chúng ta dùng hình thức của thơ truyền thống để trình bày một bài thơ Tân hình thức Việt thì cũng giống như kết nối hiện tại sinh động với quá khứ mẫu mực hay như cắm một bó hoa thời đại vào một chiếc bình cỗ xưa… vẫn tạo được sự hài hòa thú vị, sự hài hòa thú vị đó ẩn sâu trong hơi thở của thơ Tân hình thức Việt.”

Đổi mới thơ phải thay đổi ngôn ngữcách làm thơ. Đó là trường hợp thơ tự do Mỹ, khởi đầu với Walt Whitman, sau đó trường phái Hình tượng (Imagism), 1910, chủ trương, “dùng ngôn ngữ nói thông thường với chữ chính xác, hạn chế tĩnh từ … ” và cách làm thơ là không theo khuôn khổ và luật tắc của thơ thể luật. Nhưng ở thời hiện tại điều đó không đủ, cần phải có những tiêu chuẩn đánh giá có tính phổ quát. Thơ tự do Mỹ không có tiêu chuẩn nào để đánh giá, và là loại thơ khó hiểu đối với người đọc thông thường, vì thế thơ cần tới phê bình và giải thưởng thơ. Phê bình và giải thưởng là nhu cầu chủ yếu tạo ra sinh hoạt thơ Mỹ.

Thơ Tân hình thức Việt, trên lý thuyết, đã hoàn tất được cả hai giai đoạn. Giai đoạn 1 với ngôn ngữ đời thường cách làm thơ. Giai đoạn 2 với hai tiêu chuẩn xác định một bài thơ Tân hình thức hay bao gồm ý tưởngnhịp điệu. Từ đó, nhà thơ và người đọc tự mình có thể nhận ra mức độ hay của một bài thơ. Thơ Tân hình thức Việt quan tâm tới lớp người đọc thông thường mà thơ tự do đã bỏ rơi họ. Vì vậy, giá trị của thơ phải được đánh giá trực tiếp từ người đọc chứ không phụ thuộc vào phê bình hay giải thưởng thơ. Hay nói khác, phê bình và giải thưởng, nếu có, chỉ có mục đích ghi nhận cái hay của thơ, theo tiêu chuẩn đánh giá một bài thơ hay. Điều này giúp người làm thơ tự tin vào khả năng sáng tạo của họ, và vào tương lai của dòng thơ. Nhưng từ lý thuyết đến thực hành là cả một con đường xa vạn dặm, cần thời gian và kinh nghiệm, vì mỗi người làm thơ đều bị hạn chế bởi tài năng. Ý tưởngnhịp điệu phải kết hợp ăn ý với nhau. Nếu không có nhịp điệu (cái hay), và chỉ có ý tưởng liền lạc (cái mới), thơ sẽ dễ nhàm chán, không lôi cuốn được người đọc. Vả lại, nhịp điệu cũng luôn luôn phải thay đổi cho từng mỗi bài thơ, vì nếu một tập thơ được in ra, nhịp điệu bài nào cũng giống bài nào, sẽ rất khó đọc. Hơn thế nữa, thơ cần cô đọng ngôn ngữý tưởng, nhịp điệu có thể giúp loại bỏ những chữ thừa, ý tưởng rườm rà, không cần thiết và làm cho tư tưởng bài thơ rõ ràng và xuyên suốt. Như vậy, ý tưởngnhịp điệu phải là những quan tâm không thể tách rời của người làm thơ Tân hình thức Việt.


  • Theo nhà thơ Phill Provance, thơ Mỹ có hàng ngàn giải thưởng thơ hàng năm.

* Theo Christopher, “Poetry is going extinct, government data show”, thơ chỉ còn 6,7 % người đọc. – Nhà thơ Mỹ Seth Abramson cho rằng, “Nếu bạn xem xét số lượng tạp chí thơ in và Online đang hoạt động, hơn 1.000, và mỗi tạp chí có tới vài chục (hoặc nhiều hơn) nhà thơ mỗi năm, số lượng các nhà thơ có sách xuất bản là khoảng 50.000 nhà thơ.”


Tranh bài: Red Bird Alert By Claudia Ricci

CHÙM THƠ ĐA NHỊP ĐIỆU: Nguyễn Văn Vũ

0
Farm Near Duivendrecht, 1907
Farm Near Duivendrecht, 1907
Nguyễn Văn Vũ

 Tính liền lạc trong một bài thơ Tân hình thức Việt là một đòi hỏi hàng đầu, nếu không thực hiện được sự liền lạc thì việc bỏ dấu chấm câu và việc vắt dòng sẽ làm cho bài thơ đáng lẻ phải đời thường, dễ hiểu lại trở thành lạ lẫm và khó hiểu. Cho nên, một bài thơ Tân hình thức Việt muốn tạo được hiệu ứng, trước hết phải tạo được sự liền lạc – liền lạc về ý tưởng và liền lạc về câu  chữ; Trong đó liền lạc về ý tưởng tạo ra tính truyện (nội dung), liền lạc về câu chữ tạo ra nhịp điệu. Nghĩa là với một ý tưởng liền lạc, người đọc sẽ  dễ dàng cảm nhận được nhà thơ muốn nói điều gì trong bài thơ, còn liền lạc trong câu chữ, cọng với kỷ thuật lặp lại các ngữ âm bằng trắc… sẽ cho người đọc cảm nhận được nhịp điệu của bài thơ (nhanh, chậm, vui, buồn…) mà bài thơ muốn diễn đạt.

Có thể nhận thấy một điều nữa, về hình thức, việc thể hiện một bài thơ Tân hình thức Việt cũng giống như trình bày lời của một bản nhạc, chưa hết câu hết ý mà xuống dòng ( vắt dòng ) là việc bình thường, tùy thuộc vào cách bố trí phách nhịp trên mỗi dòng kẽ, nhằm tạo được một hình dạng dễ nhìn, đẹp mắt cho tổng thể chứ không ảnh hưởng gì đến chất lượng, nội đung của tác phẩm. Một điều nữa, chúng ta dùng hình thức của thơ truyền thống để trình bày một bài thơ Tân hình thức Việt thì cũng giống như kết nối hiện tại sinh động với quá khứ mẫu mực hay như cắm một bó hoa thời đại vào một chiếc bình cỗ xưa… vẫn tạo được sự hài hòa thú vị, sự hài hòa thú vị đó ẩn sâu trong hơi thở của thơ Tân hình thức Việt.


THẬT MÀ

Đọc xong bản tin tân hình
Thức rồi bỗng nhiên thấy như
Có điều gì mới chạy vào
Con mắt chạy vào trong đầu
Bỗng nhiên muốn nói ra một
Điều gì dễ dàng như thở
Như hát một bài thơ tình
Nho nhỏ hay hát một bài
Dân ca nhẹ nhàng mà mẹ
Đã từng hát ru con ngủ
Khi con nằm khóc trong chiếc
Nôi mây chỉ to bằng một
Cái sàng sàng lúa của bà
Để quên lâu ngày phía sau
Tấm phên mục sau chuồng heo
Và thấy đang viết thật dễ
Dàng như thổi con tu huýt
Thổi cái bóng bay ngày thơ
Hay như đang thở hay như
Đang uống một ngụm nước dừa…


 NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ CÁI LÒ GẠCH

những người phụ nữ no bùn
đến từ đồng lúa còn trơ gốc rạ
còng lưng kéo những chiếc xe
cọc cà cọc cạch như trâu cày và
những người phụ nữ no lửa
bấm ngón chân trên tháp gạch chông chênh
cong lưng tựa vào cửa lò
than ngàn độ C rừng rực lửa và
những người phụ nữ no nắng
mặt đỏ như vỏ cua chuyền nhau viên
gạch đỏ như vỏ cua lên
chiếc xe cà tàng cà tàng chạy và
những người phụ nữ no hơi
đứng hỏng chân như không trọng lực vì
cả ngày no bùn no lửa
no nắng hết mẹ ca lo ri rồi
cứ như thế ngày nọ qua
ngày kia những người phụ nữ no nê
những nỗi nhục nhằn chồng chất
lên cuộc đời chai cứng như viên gạch
chai cứng dưới chân lò nung
một ngàn độ C không sợ mưa không
sợ nắng như nụ cười sau
tấm khăn che mặt ló ra lạ lùng
lấp lánh giọt mồ hôi câu
chuyện đời ngặt nghẻo cơn gió chiều vô
tư thổi qua lò lửa hun
hút câu chuyện đời vùi trong ánh lửa…


NHỮNG TÍCH TẮC

đó là lúc hơi men
tràn ứ vào cơn ác
mộng dìm chết niềm vui
trong tích tắc và chỉ
trong tích tắc cơn ác
mộng va đập vào trái
tim xô em tựa vào
tôi mà bước cho đến
khi không thể bước thêm
được bước nào nữa mà
bước vào cú va đập
hiện hình trong âm bản
câm nín phơi ra cái
đầu xương nứt đôi như
hai nửa xa nhau lâu
ngày gặp lại nhau như
tôi áp vào em dắt
em đi cõng em đi
đến ngày sau tuần sau
hay lâu hơn nữa để
hai nửa xa nhau lâu
ngày gặp lại nhau áp
vào nhau và nhận ra
bên cạnh nỗi đau muốn
chết bao giờ cũng có
một tích tắc hồn nhiên
làm nên điều kỳ diệu
một tích tắc hồn nhiên
làm cho ai muốn chết
cũng không muốn chết nữa…


CƠN MƯA

tôi đi về phía cơn mưa
va vào cơn mưa cơn mưa
không thấy tôi tôi thấy cơn
mưa xối xả tóc tai tôi
đầm đìa mớ đời khổ tôi
sủng nước thế là tôi đói
thế là em tôi đói em
ơi hỏng hỏng hỏng em ơi
nhịn nhịn nhịn mà thôi dễ
gì trông mưa là có mưa
trông lụt là có lụt này
em ơi ruộng đồng khô cạn
phù sa sông đen lợm mùi
cá chết thì thôi mưa cứ
mưa lụt cứ lụt chôn hết
xuống mồ mầm mống thối tha
cho phù sa thấm vào đồng
lúa cho anh còn ôm mớ
đời khổ chơi trò cút bắt
với những cơn mưa em à …


GHÉT GƠ*

được ghét gơ sẽ rất
thú vị bị ghét gơ
cũng rất thú vị như
cái bóng treo lơ lững
những tiếng ì xèo reo
réo chung quanh nghe có
khi như tiếng nhạc nỉ
non có khi như tiếng
ve ong óng chứ không
êm êm như nhạc thính
phòng hay nhè nhẹ như
tiếng ru à ơi nên
chi hết được ghét gơ
thì sẽ nhớ tiếng ve
ong óng tiếng nhạc nỉ
non nhớ nhớ như nhớ
vị ớt cay cay trong
món cơm hến xứ quê
chảy nước mắt nhưng
rất thú vị nên thật
lòng mong ai nấy đều
được ghét gơ một lần
điên điên như vậy cho
biết ghét gơ là gì

*”Ghét gơ” là từ láy của “Ghét”, làm nhẹ đi cái nghĩa ban đầu của “Ghét”, thường được nghe khi nói chuyện thông thường. Ví dụ như nói “… Thôi bỏ qua đi. Ghét gơ làm chi cho nặng lòng em ơi!… “


ĐỜI BỤI

lếch thếch trên những con đường
đầy xe đầy người đầy bụi,
người bán vé số thoát ra
từ cuộc chiến cuối thế kỷ
hai mươi đi dép bằng bàn
tay trái, lắc qua lắc về
như con lắc mất trọng tâm,
chân cẳng để lại đâu rồi
giữa rừng sâu, giữa khe suối
ai nào biết được, sáng ra
lết đi lết đi, chiều tối
lết về lết về, người bán
vé số đi dép bằng bàn
tay trái loay xoay như trái
bóng xì hơi lăn vào ngõ
cụt, nương tựa vào bóng đêm
nghe bầy muổi hát ca, rồi
lăn đi lăn đi vào ngày
qua ngày, đêm qua đêm, lăn
đi lăn đi vào những tháng,
những năm tăm tối trên chiếc
dép mang bằng bàn tay trái,
và bàn tay còn lại thì
cong queo, cong queo những tờ
vé số ế ẩm ngày mưa…


TẾT RỒI ĐÓ EM

buông tay ra cho bóng vía
bay khỏi đêm ba mươi, xóa đường chân
trời đi cho mặt trời đừng
ngại ngùng đạp đất sáng mồng một, và
mở toang cánh cửa ra cho
em không ngại ngùng bước vào năm mới,
không nhớ lại những tháng ngày
đen đủi, sẽ không nơi nào làm em
rơi nước mắt, không nơi nào
làm em tủi hờn, hãy bay lên, sợi
dây neo đã buông, chân trời
đã xóa, và cánh cửa tự kỷ đã
mở toang, hãy bay lên nhớ
làm gì những dấu chân lấm bùn sau
cơn lũ quét, những viên đá
cuội đã lăn mất tăm, hãy bay lên,
bay lên đi, đừng quay lại
và đừng khóc, hãy bay lên bay lên
đi, đừng quay lại và đừng
khóc, tết rồi đó em, năm mới thì
phải hơn năm cũ em à!


LY CÀ PHÊ VỈA HÈ

dưới mỗi ly cà phê
phơi đáy một tờ năm
ngàn thẳng thớm như tờ
lịch ngày rút ra từ
mớ ký ức cũ kỹ
cất dấu những câu chuyện
đời thường câu chuyện có
một đầu dây cột vào
những cánh diều hài hước
gặp cơn hào hứng trào
lên theo ngụm cà phê
đắng nổ ra nổ ra
những tràng cười phập phồng
cánh mũi con chim nhỏ
buổi sáng tập hót trên
cành long não gõ nhịp
gõ nhịp như mùa đến
mùa đi dọc con đường
xe máy tràn lan nuốt
chững lòng đường người đi
bộ mắt tròn xoe muốn
hỏi cớ gì những người
đàn ông trộn bụi trộn
đường trộn tiếng còi xe
trộn mùi bánh mì nướng
và trộn câu chuyện tiếu
lâm vào ly cà phê
buổi sáng cớ gì vậy…


Tranh bài: PIET MONDRIAN (1872-1944)
Farm Near Duivendrecht, 1907 (oil on canvas)

TUẦN THƠ 45: CHÙM THƠ ĐA NHỊP ĐIỆU

Khế Iêm

Sáng tác thơ Tân hình thức Việt bằng cách đọc thầm trong đầu, và đọc đi đọc lại nhiều lần, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Hơn thế nữa, chúng ta cũng tránh được những bế tắc thường xảy ra, với những bài thơ có nhịp điệu khác nhau, và khi tạo được sự đa dạng nhịp điệu, người làm thơ sẽ hứng khởi trong sáng tạo và hấp dẫn người đọc hơn. Mục “Chùm thơ đa nhịp điệu” mong đón nhận sáng tác của những bạn thơ để làm phong phú và sinh động thơ Tân hình thức Việt. Xin tham khảo: “Những đặc điểm của thơ Tân hình thức Việt” và “Sáng tác thơ Tân hình thức Việt, vài dẫn giải cụ thể”.


CHUYỆN ĐỜI ANH

            Gửi một nhà thơ

Những cái chết chưa bao
giờ có thật những cái
chết chưa bao giờ xảy
ra như chúng ta sinh
ra không căn không cội
và đến đây từ nơi
hỗn mang dừng lại giây
lâu … bởi sống chết lâu
nay chỉ là câu chuyện
được kể lại kể lại
kể lại tình cờ và
chẳng qua mọi câu chuyện
chỉ mới trong vài giây
lâu mọi câu chuyện đã
cũ sau vài giây lâu
mọi chuyện kể kể xong
là xong mọi chuyện kể
kể xong trở về nơi
đã kể để những chuyện
kể khác kể lại những
chuyện chưa kể như cuộc
sống lặp lại lặp lại
mà chưa một lần có
thật vì chúng ta chỉ
vật vờ trong đời có
vài giây lâu rồi trở
về nơi nào từ đó
chúng ta đến đây những
cái chết chưa bao giờ
có thật và anh chỉ
mới dừng lại trong vài
giây lâu. Cám ơn anh
đã đến với đời và
kể xong câu chuyện đời
anh.


TÂN HÌNH THỨC
VÀ CÂU CHUYỆN KỂ

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đã được
kể lại, từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng
giống lời nào, về người đàn bà và
đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được
gọi là chỗ chết, nơi góc phố được
gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ
bằng than đen; gãy góc, xấu xí như
cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ
nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như
thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng
nhưng người đàn bà và đàn con nheo
nhóc, vẫn kể lại câu chuyện đã được
kể lại, như người khác đã từng kể
lại, dù chẳng để lại gì ngoài câu
chuyện đã kể, bởi câu chuyện đang tự
kể lại, và không ai, ngay cả người
đàn bà và đàn con nheo nhóc, bước
ra ngoài câu chuyện đã được kể lại.


TẾT Ở NEW YORK

Năm cũ không bước qua
năm mới vì năm mới
vốn thông thương với năm
cũ trong lúc lũ tết
và lũ tuyết ập xuống
mái nhà ôm lấy nhau
không chịu tan ra chẳng
khác nào năm cũ nằm
ôm lấy năm mới nhì
nhằng không thể bước qua
nhau mãi cho đến lúc
giật mình thức giấc bởi
tiếng động của cái lạnh
làm se da thay cho
tiếng pháo nhắc tới tết.

20/2/2015

CON MÈO ĐEN

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;
con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo
linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong
cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẩu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn
của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo
đen có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.


BÀI THƠ XE ĐẠP

Người đàn ông dựa xe đạp
vào vách tường vừa kịp
cơn giông ập xuống mang
theo mưa và mưa và
mưa xoá nhoà biên cương
giữa sáng tối và sự
vật và bụi mờ đẩy
người đàn ông dần dần
lùi lại khoảng cách giữa
tiếng rơi mái hiên và
gió lạnh và chiếc xe
lấn tới lấn tới cho
đến khi những đường cong
vòng tròn những nan hoa
những góc cạnh khảm  sâu
vào bức tường đã ố
màu thành bức tranh hiện
thực và người đàn ông
là chiếc bóng phai mờ
và cơn giông và mưa
và biên độ giữa hai
chiều thực tại còn đọng
lại nhiều năm sau đó
trong ký ức người đàn
ông những phút giây lạ
lùng  tưởng chừng như câu
chuyện chỉ xảy ra trong
tâm trí.


MẸ KHỔ

Mẹ già đã già ngồi
còng lưng bên gánh hàng
rong nơi góc phố bụi
mờ những bước chân qua
mẹ chờ gì và mẹ
chờ ai không mẹ không
chờ gì và mẹ không
chờ ai ngòai nỗi buồn
canh cánh từ thuở khai
sinh mẹ còn gì và
mẹ còn ai không mẹ
không còn gì mẹ không
còn ai ngòai lũ con
đứa lang bạt kỳ hồ
đầu đường xó chợ đứa
vợ bỏ đi hoang lặn
lội tìm trầm nơi rừng
sâu núi thẳm một sớm
tin về xảy chân đã
thành thiên cổ không ai
nuôi mẹ vậy mẹ nuôi
ai mẹ nuôi lũ cháu
còn thơ mồ côi mồ
cút bữa đói bữa no
trong vòng tay mẹ bà
ơi bà ơi mẹ như
chiếc lá đổi màu năm
cùng tháng tận ngồi đây
kẻ qua người lại không
ai thấy mẹ mẹ không
thấy ai rồi một hôm
mẹ nghe lũ chim non
quang quác đầu nhà kêu
trong hoang sơ mẹ
không kịp về cơn đau
ập đến mang xác mẹ
đi đi đâu về đâu
bà ơi bà ơi ngày
đi vào đêm mẹ không
kịp về mẹ ngồi bên
đường mẹ ngồi chết khô
bên gánh hàng rong người
đi kẻ ở phố vẫn
như xưa chỉ không còn
cuộc đời mẹ khổ bà
ơi bà ơi bà ơi
bà ơi đi đâu về đi.


Tranh bài: Paul Klee 

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

Jeffrey Ripple, Figs, 1999 Courtesy Hackett-Freedman Gallery, San Francisco
Jeffrey Ripple, Figs, 1999 Courtesy Hackett-Freedman Gallery, San Francisco

Khế Iêm

Từ trước tới nay người đọc thường hiểu sai lệch thơ Tân hình thức Việt, vì đọc và phán đoán qua những sáng tác. Có lẽ vì phần lý thuyết chưa hoàn tất để có được những tiêu chuẩn hay, mặt khác, ngay cả những người làm thơ cũng không chịu tìm hiểu tới nơi tới chốn, quan điểm và cách làm thơ, nên đa số sáng tác chưa đúng thơ Tân hình thức Việt. Bây giờ, phần lý thuyết đã hoàn tất, gồm hai tập tiểu luận “Vũ điệu không vần” (2011), “Tân hình thức, nghĩ về cách làm thơ” (2016) và một tiểu luận về những chức năng sáng tạo trong não bộ, “Thơ và không thơ” (2017), giúp bổ túc cách sáng tác và tìm kiếm nội dung thơ. Tiêu chuẩn một bài thơ hay cũng đã có. Cái hay của thơ Tân hình thức Việt là cái hay của ý tưởngnhịp điệu. Ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, nhưng nhịp điệu và ý tưởng phải mới mẻ và sâu sắc. Cũng cần nhắc lại, thơ Tân hình thức Việt nối kết giữa quá khứ và hiện tại – quá khứ như một nửa giấc mơ được nhớ lại – giữa truyền thống và hiện đại, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, theo quan điểm Tân chiết trung.

Bốn đặc điểm nổi bật của thơ Tân hình thức Việt: dùng lại các thể thơ truyền thống, cách tạo nhịp điệu, cách làm thơ, và sáng tác với tòan thể não bộ.

Thơ Tân hình thức Việt dùng lại các thể thơ Việt, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ lục bát, thêm những yếu tố như vắt dòng, lập lại, tính truyện ngôn ngữ đời thường. Vắt dòng vừa giữ cho bài thơ đúng hình thức của các thể thơ, vừa có tác dụng vắt ý tưởng từ dòng này qua dòng khác, làm cho liền lạc với nhau, hình thành tứ thơ hay tư tưởng trong thơ. Tính truyện có nghĩa là nối kết những ý tưởng với nhau, không rời rạc hay đứt đoạn như trong thơ tự do, và cũng có nghĩa là kể truyện. Ngôn ngữ đời thường được hiểu như dùng ngôn ngữ thông thường, để diễn đạt cuộc sống. Ba yếu tố trên cùng với kỹ thuật lập lại, phối hợp thành nghệ thuật thơ Tân hình thức Việt. Tuy nhiên, kỹ thuật lập lại, là yếu tố chủ chốt, hình thành nhịp điệu thơ, được tái định nghĩa như sau, ”lập lại những chữ kép (bằng trắc) phân phối vừa đủ trong bài thơ” để tạo nhịp điệu. Cả ngàn năm trước, từ Đông sang Tây, con người đã rút tỉa kinh nghiệm để tạo ra những thể thơ, giúp người làm thơ phát huy tài năng của họ. Thơ Đường, bằng bằng, trắc trắc, và thơ tiếng Anh, không nhấn, nhấn, tạo nhịp điệu bằng cách lập lại, xen kẽ những âm thanh mạnh nhẹ trong một dòng thơ. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, chữ kép (hai chữ) có âm thanh bằngtrắc, tương đương với đơn vị âm thanh iambic (không nhấn, nhấn) của thơ thể luật tiếng Anh. Nếu thơ thể luật tiếng Anh, tiêu biểu là dòng thơ iambic pentameter, tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh (không nhấn, nhấn), 5 lần trong một dòng thơ, thì thơ Tân hình thức Việt tạo nhịp điệu bằng cách lập lại những đơn vị âm thanh bằng trắc (chữ cặp đôi) ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ. Vì thế nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt luôn luôn thay đổi và sinh động, không bị nhàm chán.

“Trường hợp, do thói quen tình cờ, một người làm thơ thường sáng tác vào những lúc nửa thức nửa ngủ, chuyện gì sẽ xảy ra? Trong khoảng thời gian đó, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Mỗi thể loại thơ có cách làm thơ khác nhau, thơ vần điệu dựa vào cảm xúc, thơ tự do dùng tâm trí, còn thơ Tân hình thức kết hợp giữa cảm xúc và tâm trí. Khi làm thơ, trong trạng thái lơ mơ giữa thức ngủ đó, chúng ta phải tìm cách nhớ lại những câu chữ vừa mới sáng tác, bằng cách đọc lên (đọc thầm trong đầu), và đọc đi đọc lại nhiều lần, vì không có sẵn giấy bút để ghi lại. Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắcvần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa đi sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, nếu không đọc lên thì làm sao phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ để tạo thành nhịp điệu? Những chữ kép lập lại đóng vai trò như vần trong thơ vần điệu, nhưng rải ra khắp bài thơ, nên không rơi vào sự đều đặn, hạn chế như vần ở cuối giòng của thơ vần điệu. Điều này làm cho nhịp điệu trong thơ Tân hình thức Việt phong phú và khác biệt, nơi từng bài thơ và từng người làm thơ, đẩy tới nhiều mức độ khác nhau, từ trầm lắng đến sôi nổi. Nhưng dù ở mức độ nào, người đọc cũng phải nhận ra được nhịp điệu thơ.

“Câu chuyện trên rút ra kết luận: Không có gì bắt buộc chúng ta phải sáng tác trong lúc ngủ, mà có thể sáng tác bất cứ lúc nào cảm thấy có hứng khởi, ban ngày cũng như ban đêm, lúc thức cũng như lúc ngủ. Trong trường hợp này, hành động đọc đi đọc lại nhiều lần, không phải để nhớ, mà để hình dung ra nhịp điệu của thơ. Và việc ghi lại trên giấy mới có tác dụng để nhớ.  Khi đọc, và đọc đi đọc lại, sẽ hạn chế sự nghĩ của tâm trí, và bài thơ tiến hành theo những cảm nhận tự nhiên, chứ không phải từ những sắp xếp của lý trí. Sự ghi lại trên giấy khi bài thơ hoàn tất, chẳng khác nào quay trở lại một truyền thống mới là chữ in trong thời đại mà chữ in đang dần dần bị lãng quên, có lẽ là điều mà nhà thơ Frederick Turner gọi là ‘Truyền thống mới cái đẹp xưa’ chăng?” Trích, “Nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt trong tiến trình sáng tác”.

Mục đích luật tắc của Tân hình thức là tạo nhịp điệu thơ. Nếu bài thơ đọc lên, nghe âm hưởng của văn xuôi, là bởi người làm thơ theo cách viết trên giấy của thơ tự do, rồi đếm chữ xuống dòng. Nhịp điệu bài nào cũng hao hao giống nhau, vì đó là nhịp điệu văn xuôi. Còn nếu làm theo cách của thơ Tân hinh thức, sẽ tạo được nhịp điệu thật sự cho thơ, không bài nào giống bài nào. Đến đây, có ba điểm cần ghi nhận: 1/ ngôn ngữ thông thường trong thơ Tân hình thức còn có tác dụng dễ nhớ; 2/ bài thơ chỉ được ghi lại trên trang giấy, sau khi hoàn tất; 3/ “đếm chữ xuống dòng” là khâu cuối cùng, dùng để chỉnh sửa, sau khi bài thơ đã làm xong. Lúc đó, chúng ta mới quyết định xem phải dùng thể thơ nào cho phù hợp với nhịp điệu bài thơ. Thể thơ 5 chữ cho nhịp điệu nhanh, 7 chữ cho nhịp điệu vừa, và lục bát cho thơ kể chuyện.

Nhưng cách làm thơ Tân hình thức có khó không? Dễ không dễ, khó không khó, chẳng qua là do thói quen. Cách làm đó không đơn thuần là lý thuyết xuông, mà do kinh nghiệm của người viết. Tôi làm thơ vần điệu, thơ tự do, và Tân hình thức, tất cả đều làm theo cách đọc thầm trong đầu. Nhưng ngay cả thơ tự do, với những bài thơ ngắn, cũng có nhịp điệu rất mạnh. Và sau này, Tân hình thức là dòng thơ quan tâm tới nhịp điệu, nên tôi thấy đó là cách làm thơ thích hợp nhất. Vấn đề bây giờ là sự khao khát đổi mới của những nhà thơ tham gia sáng tác thơ Tân hình thức, có đủ mạnh để thay đổi thói quen đã được lập trình trong tiềm thức hay không. Và nếu thật sự muốn, phải làm sao để cách làm và lý thuyết thơ Tân hình thức nằm được và thay thói quen cũ trong tiềm thức (người làm thơ không còn bị ám ảnh và bận tâm tới những cái khung và kỹ thuật thơ), lúc đó khả năng sáng tạo mới có thể bộc phát và thành thơ. Để được như thế, phải nghiền ngẫm và ngấm dần qua năm tháng (ở thời đại internet, thói quen đọc lướt, thoáng qua rồi quên, ít ai chịu tìm hiểu kỹ điều gì). Vì trong tiềm thức chúng ta là cả một dãy trường thành những thói quen, thói quen nghĩ và làm thơ cũ, khó có thể vượt qua?

Người làm thơ trước khi làm thơ Tân hình thức có thể họ đã là những nhà thơ vần điệu hay tự do. Khi tham gia thơ Tân hình thức, nếu thấy không hợp, họ có thể trở về với vần điệu hay tự do. Thực tế, đâu có ai vừa làm thơ vần điệu vừa làm thơ tự do, vì như thế sẽ chẳng đi đến đâu, mỗi dòng thơ có cách làm khác nhau. Nhưng khi đã dấn thân vào con đường thơ Tân hình thức, họ phải thôi làm thơ vần điệu hay tự do. Lý do, thơ Tân hình thức sẽ bị vướng vào vần điệu của thơ vần, hoặc làm thơ theo cách nghĩ của thơ tự do. Như vậy sẽ làm hỏng thơ Tân hình thức, và sớm hay muộn gì cũng rơi vào bế tắc. Dĩ nhiên, chúng ta không thể bỏ ngay cách làm thơ cũ, nhưng thay đổi từ từ cho tới khi quen dần. Chẳng hạn, ghi xuống trên giấy từng đoạn thơ, rồi tiếp tục làm theo cách đọc thầm trong đầu, cho đến khi bài thơ hoàn tất. Tuy nhiên, dù biết cách tạo nhịp điệu, nhưng nếu ý tưởng yếu kém cũng khó thành công. Chúng ta cần phải nuôi dưỡng ý tưởng trong đầu, và tìm kiếm nội dung cho thơ.

“Theo khám phá những chức năng của não bộ, sáng tạo trong thơ là sự kết hợp giữa bán cầu não trái và phải, liên quan đến hoạt động của toàn thể não bộ. Trong suốt quá trình, cả khía cạnh lý trí và cảm xúc phải làm việc toàn diện với nhau. Thơ vần điệu sáng tác nghiêng về bán cầu não phải, với nhạc tính, nhịp điệu, cảm xúc, trong khi thơ tự do nghiêng về bán cầu não trái với ngôn ngữkiến thức. Trong thơ thể luật tiếng Anh, dù có vần hay không vần, vì là ngôn ngữ đa âm, với kỹ thuật vắt dòng, người làm thơ có tài năng vẫn có thể kết hợp hai bán cầu não với nhau. Trong khi thơ vần điệu Việt, không thể vắt dòng, vần ở cuối dòng giống như bức tường ngăn cản hai bán cầu não thông thương với nhau, thơ hoàn toàn sáng tác với bán cầu não phải. Thơ tự do, vì là dòng thơ trí tuệ, dĩ nhiên phải sáng tác theo bán cầu não trái. Thơ Tân hình thức Việt sáng tác với cả hai bán cầu não, nên khó cũng là điều đương nhiên.

“Nhưng chúng ta chỉ mới biết những chức năng của não bộ mới đây, nên những nhà thơ Tân hình thức Việt chưa vận dụng được khả năng sáng tạo  và phối hợp những yếu tố thơ trong bán cầu não phải  như tưởng tượng, cảm xúc, trực giác, nhịp điệu, vần ... Đồng thời cũng chưa ý thức được tầm quan trọng của kiến thứctư duy nghệ thuật trong việc phát triển nội dung thơ. Bây giờ, nếu kết hợp giữa cách làm thơ Tân hình thức và những chức năng não bộ trong sáng tạo, giữa nghệ thuật thơ và đời sống thực tại, giữa “kiến thức và kinh nghiệm trong tiềm thức”, như ý kiến của Jesper, chúng ta hy vọng sẽ có được những nhà thơ Tân hình thức thực sự. Cụ thể hơn, thơ khẩn thiết cần một nội dung mới.

“Thơ không thể đổi mới, nếu không thay đổi cả hình thức lẫn nội dung. Vì nội dung là xương sống của bài thơ, ở đây là kiến thức. Theo Kant, kiến thức là cái gì đó được tạo ra bởi tâm trí, bằng cách lọc cảm giác thông qua các công cụ hiểu biết. Thiếu kiến thức, người làm thơ không thể phát hiện những ý tưởng mới trong những biến cố và sự việc thường ngày. Kiến thức và trực giác là sức mạnh trong tâm thức, tiếp cận với thực tại, tạo nên ánh sáng lóe trong nội tâm.” Trích, Thơ và không thơ.

Thời hiện đại, bắt đầu với thơ tự do Mỹ và trường phái Tượng trưng Pháp, văn học và hội họa quan tâm tới những thay đổi về phong cách (làm mới) hơn là nội dung, như các trường phái hội họa Ấn tượng, Lập thể, Trừu tượng … các trường phái thơ hậu hiện đại Mỹ Black Mountain, thơ Ngôn ngữ … tiểu thuyết mới Pháp … Nhưng thơ Tân hình thức Việt nối kết truyền thống (cảm xúc và nhịp điệu thuộc bán cầu não phải) và thơ tự do (kiến thức, trí tuệ thuộc bán cầu não trái), quan tâm tới cả hình thức lẫn nội dung. Kiến thứctư duy nghệ thuật là những yếu tố cơ bản giúp nhà thơ tìm kiếm nội dung thơ. Và như vậy, cách làm thơ và khám phá những chức năng não bộ trong sáng tạo (tiểu luận Thơ và không thơ) đã kết hợp với nhau và làm thành lý thuyết thơ Tân hình thức Việt, đáp ứng nhu cầu người làm và đọc thơ, từ dễ đến khó, từ đơn giản tới phức tạp.

Sự khám phá những chức năng sáng tạo trong não bộ, kết hợp hai bán cầu não trong sáng tác, lại phù hợp với cách làm và lý thuyết thơ Tân hình thức. Thơ thể luật (hay vần điệu) đã có cả ngàn năm, thơ tự do cũng có lịch sử hơn trăm năm, mỗi loại thơ đều có cái hay của nó, ai thích thì làm, vì mục đích của thơ là mang lại niềm vui cho người làm và đọc thơ. Thơ Tân hình thức chỉ cung cấp thông tin, đáp ứng nhu cầu cho những ai thật sự muốn thay đổi thơ.  Nhưng nếu muốn thay đổi, phải hiểu rõ tường tận từng thể loại thơ. Đặc biệt, thơ tự do xuất phát từ Mỹ với hàng loạt những phong trào tiền phong, và thơ thể luật tiếng Anh, với từng bước cải đổi có bài bản và học thuật. Thơ Tân hình thức Việt nối kết và trầm tư nhiều thể loại thơ, rút tỉa một số nguyên tắc căn bản để làm thơ, từ đó, trong tiến trình của sáng tạo, sẽ còn vô số những phát kiến không ngừng, làm phong phú cho thể loại thơ này.

Tái bút

Một đặc điểm khác cũng cần nhấn mạnh để tránh gây ngộ nhận: Tiếng Việt, đơn âm và tiếng Anh, đa âm, là hai hệ thống ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau. Vì thế những thể thơ và luật tắc thơ cũng khác nhau. Những ngôn ngữ cùng một hệ thống, có thể có chung những thể thơ và luật tắc thơ. Thí dụ, thơ Việt có thể tiếp nhận những thể thơ và luật bằng trắc trong thơ Đường của Trung hoa. Trong khi các nước như Ý, Pháp, Anh lại có chung những thể thơ sonnet, ballad … và luật thơ, chỉ khác, tiếng Anh là tiếng trọng âm nên trong luật thơ âm ngắn (thơ Pháp và Ý) được thay bằng âm nhấn (thơ Anh) và âm dài được thay bằng âm không nhấn.

Nhưng kỹ thuật thơ như vần, lập lại các âm tiết để tạo nhịp điệu, hay vắt dòng của thơ ở ngôn ngữ  đơn hay đa âm đều giống nhau.

Ảnh hưởng văn hóa Pháp, những nhà thơ thời Thơ Mới không thể mang ngôn ngữ và những thể thơ Pháp du nhập vào thơ Việt, mà chỉ dùng những cảm xúc lãng mạn và ngôn ngữ tượng trưng tiếp nhận từ thơ Pháp, hóa giải luật lệ khe khắc của thơ Đường, chuyển những thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn thành những thể thơ 5 chữ, 7 chữ thuần Việt.

Bây giờ, Thơ Tân hình thức Việt cũng không thể mang nguyên si những thể sonnet, ballad hay luật iambic pentameter (không nhấn, nhấn lập lại 5 lần trong một dòng thơ 10 âm tiết) của thơ tiếng Anh vào thơ Việt. Nhưng những nhà thơ Tân hình thức đã dùng kỹ thuật vắt dòng (của thơ thể luật tiếng Anh), bỏ vần ở cuối dòng thơ của những thể Thơ Mới truyền thống như 5 chữ, 7 chữ, lục bát, biến những thể thơ này thành những thể thơ không vần.

Như vậy, nếu Thơ Mới dùng ảnh hưởng thơ Pháp để thay đổi những luật tắc của thơ Đường cho phù hợp với ngôn ngữ và thơ Việt, thì một lần nữa, thơ Tân hình thức tiếp nhận những yếu tố của thơ thể luật tiếng Anh và thơ tự do Mỹ, thay đổi những thể thơ có vần của Thơ Mới thành những thể thơ không vần, đáp ứng nhu cầu diễn đạt của thời đại.

Tháng 9, 2017

 

Tranh bài: Jeffrey Ripple, Figs, 1999 Courtesy Hackett-Freedman Gallery, San Francisco

TUẦN THƠ 29: BÀI THƠ CHỦ NHẬT

https://www.palestinechronicle.com/my-sisters-and-brothers-dont-you-cant-you-wont-you-see-a-poem/
https://www.palestinechronicle.com/my-sisters-and-brothers-dont-you-cant-you-wont-you-see-a-poem/

BÀI THƠ CHỦ NHẬT


Sáng tác xin gửi về Diễn đàn hoặc email: 
baogiaytanhinhthuc@yahoo.com | info@thotanhinhthucviet.vn

Nguyễn Phan Thịnh

KẺ LẠ

anh ngây thơ và anh sống như
thằng khờ đung đưa chân trên cầu

gục đầu nhìn dòng sông trôi và
ngẩng đầu nhìn làn mây trôi và

người thấy anh lơ mơ nghe gió
u u trong tai u u u

trong đầu u u u đêm ngày
ray rứt u u liên miên hòai

anh lù mù ngồi anh lờ mờ
bay và anh lơ ngơ khóc thầm

trước mọi nỗi đau thương tăm tối
co cóng bi thảm biết bao đời

tất cả điên rồ tất cả điêu
linh tất cả bốc mùi anh bay

dưới những vì sao và anh bay
một mình nát lòng không ai hay

anh ngồi đung đưa chân không trên
cầu người hằng ngược xuôi tất bật

ngày ngày là bầy ong thợ trong
một tổ ong nhân tạo cam đời

anh bay theo mây trôi theo sông
trôi ra biển trời một mình và

anh đau đớn không ai chia sẻ
một tình yêu cùng một niềm tin

anh cô đơn lặng im bay qua
nỗi chết trừu tượng và siêu hình

khờ khạo hay khật khùng mãi như
tên lạ mặt ở chính quê mình

làm sao anh có thể sống dửng
dưng giữa đời với người vô nghĩa

vô tình đến cây cũng mọc ngược
và sâu bọ cũng hóa thần linh


Nguyễn Cảnh Nguyên

BÀI THƠ CHỦ NHẬT

Trước mặt tôi là những người đàn
ông và những người đàn bà bên
phải và bên trái tôi là những
người đàn bà và những người đàn

ông xung quanh tôi những người đàn
ông và những người đàn bà đang
giành nhau nói như tự bao giờ
họ vẫn giành nhau nói về những

điều rất nhỏ nhặt mà tôi không
thể biết những điều rất đơn giản
mà tôi không thể hiểu thú thật
tôi không thể biết tại sao mà

tôi lại tỏ ra chán đến vậy
tôi không thể hiểu tại sao mà
tôi lại to ra buồn ngủ đến
thế tôi ngáp ngắn ngáp dài ngáp

đến sái quai hàm nhưng không thể
đứng dậy không thể bỏ đi đâu
không thể làm gì khác khi những
người đàn ông và những người đàn

bà xung quanh tôi vẫn còn tiếp
tục nói những người đàn bà và
những người đàn ông bên phải bên
trái tôi vẫn tiếp tục diễn thuyết

những người đàn ông và những người
đàn bà trước mặt tôi vẫn tiếp
tục la lối về những điều rất
đơn giản mà tôi không thể biết

về những điều nhỏ nhặt mà tôi
không thể hiểu tôi không thể hiểu
tại sao tôi lại buồn ngủ đến
vậy tôi xin lỗi các ông tôi

xin lỗi các bà xin cho tôi
ngủ một tí một chốc một tẹo
một lát đi tôi xin chống mắt
mà ngủ tôi nói thật tôi cũng

yêu kính và sợ chúa lắm chứ
bộ.


Nguyễn Đạt

MỘT LẦN GIỮA NHIỀU LẦN

Một lần giữa nhiều lần đi ngang
chiếc cầu nhìn xuống dòng sông thấy
đời đen màu trên hè đường dưới
chiếc cầu mưa xối xả cứ đợi

Mãi một người chẳng tới suốt đêm
thâu một lần ôi một lần quá
nhiều lần cứ đứng suốt đêm thâu
tự nhủ mình không thể trở về

Bất cứ đâu bất kể tự nhủ
mình lần này đây chắc là lần
mình tự tử một lần giữa nhiều
lần là lần này đây trên một

Bệ cửa sổ trên cao trên nhà
phố một bông hoa đỏ thắm mưa
tự nhủ một lần ngó thấy một
lần thôi cũng đủ xong về nơi

Cư ngụ tức nhiên nhà mình mở
vòi nước xối xã thay áo quần
châm điếu thuốc bắt đầu một giấc
mộng hết sức nên thơ.


Nguyễn Hoài Phương

GỌI ĐÒ

Đò ơi … đằng nào thì đò cũng
đầy rồi thôi thì đò cứ thế
yên tâm mà sang sông đi nấn
ná ở lại thì đò cũng có

làm gì đò có chờ có đợi
có chở thêm được ai đâu thôi
thì đằng nào cũng phải rời bến
đò cứ sang sông nhường bến lại

cho những con đò khác … để những
con đò khác chở những con người
khác đầy rồi cũng phải sang sông
nhường bến lại cho những con đò

khác nữa … để đò sang sông rồi
đò lại quay về bến đò lại
chờ lại chở những đợt khách mới …
đò ơi … khách chưa đến rồi khách

sẽ đến kệ khách không đi đò
này thì đi đò khác kệ hết
đợt khách này lại có đợt khách
khác … đò ơi … đò đầy rồi thì

đò cứ sang sông … đò ơi … ơ i…

23 - 8 – 08

Hạc Thành Hoa

NHỮNG VIÊN KIM CƯƠNG CỦA BẦU TRỞI

bất ngờ rớt xuống từ
những đám mây màu chì
tích tụ khói đèn bao
nhiêu năm như sao rơi

sao rơi in trên cát
những đóa quỳnh không thực
tôi bàng hoàng khi chạm
vào những hạt mưa chạm

vào sức nóng đôi môi
chạm vào cái lạnh bầu
trời ôi những viên kim
cương bảy sắc cầu vồng

vừa chạm vào tay đã
vội tan thành nước chỉ
còn một bàn tay một
bàn tay đang khóc.


Tranh bài: http://www.palestinechronicle.com/my-sisters-and-brothers-dont-you-cant-you-wont-you-see-a-poem/

My Sisters and Brothers, Don’t You, Can’t You, Won’t You, See?

By Stephen Brackens Brinkley

We are all interconnected
We are all interdependent
We are all part of the One

My Sisters and Brothers,
Don’t you see?

Every microcosm is reflective of the macrocosm
As above so it is below
We are all each other’s keepers in the Human Family

My Sisters and Brothers,
Can’t You See?

Every ripple in the Supreme Lord’s pond
Makes its way to the largest lake where
It is eventually felt even in the farthest Ocean

My Sisters and Brothers,
Won’t You See?


– Stephen Brackens-Brinkley is a Christian minister, teacher, counselor and Human Rights Activist. He has been a strong supporter of the Palestinian cause for many years. He currently resides in San Diego, CA, USA. He contributed this poem to PalestineChronicle.com.

Anh chị em tôi ơi, các bạn có thấy không, các bạn có thể không, các bạn sẽ không thấy không?

Chúng ta đều có sự kết nối với nhau
Chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau
Chúng ta đều là một phần của Một

Các chị em và anh em của tôi ơi,
các bạn không thấy sao?

Mỗi vi mô đều phản ánh vĩ mô
Trên thì như vậy dưới thì như vậy
Chúng ta đều là người bảo vệ lẫn nhau trong Gia đình Nhân loại

Các chị em và anh em của tôi ơi,
các chị không thấy sao?

Mỗi gợn sóng trong ao của Chúa Tối Cao Đều
hướng đến hồ lớn nhất Nơi
Cuối cùng Nó được cảm nhận ngay cả ở Đại dương xa nhất

Các chị em và anh em của tôi ơi,
các chị em có thấy không?


– Stephen Brackens-Brinkley là một mục sư Cơ đốc, giáo viên, cố vấn và Nhà hoạt động nhân quyền. Ông là người ủng hộ mạnh mẽ cho sự nghiệp của người Palestine trong nhiều năm. Hiện ông đang sống tại San Diego, CA, Hoa Kỳ. Ông đã đóng góp bài thơ này cho PalestineChronicle.com.

THƠ SONG NGỮ 3: ĐỌC NHƯ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

"Sunrise" by Claude Monet
"Sunrise" by Claude Monet
THƠ DỊCH (ĐỌC NHƯ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT)

Dana Gioia

UNSAID

So much of what we live goes on inside –
The diaries of grief, the tongue-tied aches
Of unacknowledged love are no less real
For having passed unsaid. What we conceal
Is always more than what we dare confide.
Think of the letters that we write our dead.


CHƯA NÓI

Quá nhiều điều chúng ta sống xảy ra
như thực ở bên trong – những nhật ký
của mối sầu khổ, nỗi đớn đau không
nói được của cuộc tình không hồi đáp
vì có điều chưa nói đã trôi đi.
Điều che dấu luôn luôn nhiều hơn điều
chúng ta dám giải bày. Hãy nghĩ về
những con chữ chúng ta diễn đạt cái chết.


Tom Riordan

STAR APPLE

the star apple
cupped in her scaly
gray-nailed hand is
yours for the taking
no strings attached

you burst into tears
and then wake up
to the resumption
of indelible pain


VÚ SỮA

trái vú sữa nằm trong
lòng bàn tay tróc vẩy
với móng tay màu xám
của cô ta tặng không
cho bạn vô điều kiện

bạn bật khóc và rồi
thức giấc để bắt đầu
trở lại cơn đau không
thể nào quên được


TWO SMALL FANS

With two small fans
our room sounds like
a 727 Whisper-Jet
and we are halfway
to the Virgin Islands
for our honeymoon.
A movie star’s boat
is anchored offshore
and his plate piled
with napoleons and
creampuffs directs
us to check out his
gut. What we adore
most are breakfast
and the newspaper
quietly delivered to
our surfside cabana
and trying to keep
up with eagle rays
in the lagoons. Oh,
we are not ready to
go home! All that
awaits us two floors
up from the bakery
is a sweltry studio
apartment whose
single saving grace
is its two small fans.


HAI QUẠT MÁY NHỎ

Với hai quạt máy nhỏ căn
phòng của chúng tôi kêu vang
như chiếc phản lực 727-
Whisper và chúng tôi đang
trên nửa đường tới Virgin
Islands hưởng tuần trăng mật.
Con tàu của một ngôi sao
điện ảnh được neo ở ngoài
bãi biển và cái đĩa đầy
bánh ngọt napoleons
và creampuffs làm chúng tôi
nhận ra cái bụng phệ của
hắn. Điều chúng tôi thích nhất
là bữa điểm tâm và tờ
nhật báo được lặng lẽ giao
tới tận lều ở bãi biển
và cố gắng theo kịp những
con cá đuối ở hồ nước
mặn. À, chúng tôi chưa sẵn
sàng về nhà. Tất cả đang
chờ đợi chúng tôi là cái
studio nóng và ẩm
trong một chung cư ở trên
lò bánh mì hai tầng lầu
mà sự đoái công chuộc tội
độc nhất của nó là hai cái
quạt máy nhỏ.


Frank O’ Hara

MORNING

I’ve got to tell you
how I love you always
I think of it on grey
mornings with death

in my mouth the tea
is never hot enough
then and the cigarette
dry the maroon robe

chills me I need you
and look out the window
at the noiseless snow

At night on the dock
the buses glow like
clouds and I am lonely
thinking of flutes

I miss you always
when I go to the beach
the sand is wet with
tears that seem mine

although I never weep
and hold you in my
heart with a very real
humor you’d be proud of

the parking lot is
crowded and I stand
rattling my keys the car
is empty as a bicycle

what are you doing now
where did you eat your
lunch and were there
lots of anchovies it

is difficult to think
of you without me in
the sentence you depress
me when you are alone

Last night the stars
were numerous and today
snow is their calling
card I’ll not be cordial

there is nothing that
distracts me music is
only a crossword puzzle
do you know how it is

when you are the only
passenger if there is a
place further from me
I beg you do not go


BUỔI SÁNG

Tôi phải nói với em
làm sao tôi luôn yêu
em tôi nghĩ về điều
đó vào những buổi sáng

xám với nỗi chết trong
miệng rồi trà chưa bao
giờ đủ nóng và thuốc
lá khô chiếc áo khoác

màu hạt dẻ làm tôi
lạnh tôi cần em và
nhìn tuyết im ắng ngoài
cửa sổ trong đêm nơi

vũng tàu đậu những chiếc
xe buýt rực rỡ như
đám mây và tôi lẻ
loi nghĩ về những ống

sáo tôi luôn mất em
khi tôi ra bãi biển
cát ướt với nước mắt
dường như của tôi mặc

dù tôi chưa bao giờ
khóc và giữ em trong
trái tim tôi với niềm
vui thích em có vẻ

tự hào bãi đậu đông
xe và tôi đứng lúc
lắc chùm chìa khóa chiếc
xe hơi trống trơn như

xe đạp bây giờ em
đang làm gì em ăn
trưa ở đâu và có
nhiều cá trồng không thật

khó nghĩ về em với
không có tôi trong ý
tưởng em làm tôi buồn
phiền khi em ở một

mình đêm qua những vì
sao dầy đặc và hôm
nay tuyết là danh thiếp
của chúng tôi không thân

thiết không có gì làm
tôi sao lãng âm nhạc
chỉ là trò đố chữ
em có biết thế nào

khi em là người hành
khách duy nhất nếu đó
là nơi xa hơn nơi
tôi xin em đừng đi.

Tiểu sử: Frank O’ Hara (1926- 1966), là nhà thơ và nhà phê bình nghệ thuật, thuộc trường phái New York. Ông chịu ảnh hưởng của nhà thơ WilliamCarlos Williams, viết bằng ngôn ngữ thường ngày. Năm 1964, ông xuất bản tập thơ "Lunch Poems" (Những Bài Thơ Trong Bữa Ăn Trưa), mỏng, với 37 bài thơ, 70 trang, nhưng là tập thơ được tái bản mỗi năm, và được những nhà phê bình coi như là tập thơ của thế kỷ 21. Thơ ông thường ghi chep những chuyện vụn vặt thường ngày

Frederick Feirstein

JEU D’ESPRIT

I wrote a lyric that you said was pure,
Full of voiceless plosives, liquids, sibilants,
And, as a young girl licks an ice cream cone,
showed me how you rolled it on your tongue
And sweetly said, It’s written to be sung
By lovers in the shower as they moan
Or on a carpet in a kissing trance
Or in their twenties making up a tour
Of quiet rooms from Paris down toVence
Or in their early sixties left alone
As we are, still romantic, in our dance
That’s sexy, never clumsy, not mature,
Just loosening young vowels on our tongues,
Which in each other’s mouths are always sung


TRÒ CHƠI TINH THẦN

Tôi viết một bản tình ca mà em
Nói là tinh khiết, đầy những âm hơi
Âm nước âm xụyt không thành tiếng, và,
Như một cô gái trẻ nhấm nháp cây
Cà rem, cho tôi biết làm sao em
Cuộn nó trên đầu lưỡi và ngọt ngào
Nói, nó  được viết để hát lên bởi
Những cặp tình nhân trong phòng tắm như
Rên rỉ hoặc trên tấm thảm trong lúc
Hôn nhau mê đắm hoặc ở tuổi hai
Mươi trong những chuyến du hành nơi những
Căn phòng yên lặng từ Paris xuống
Vernice hoặc họ rời khỏi một mình
Vào đầu những năm sáu mươi như chúng
Ta, vẫn lãng mạn, trong điệu nhảy gợi
Cảm, không bao giờ vụng về, không chấm
Dứt, ngay lúc thả lỏng những nguyên âm
Non nớt trên đầu lưỡi những nguyên âm
Luôn được hát lên trong miệng nhau.


Sydney Lea


THE WRONG WAY WILL HAUNT YOU

(Shouting a hound)

Spittle beads as ice along
her jaw on this last winter day.
And when I lift her, all her bones
are loose and light as sprigs of hay.

For years her wail has cut the woods
in parts, familiar. Host of hares
have glanced behind as she ploughed on
and pushed them to me unawares.

Now her muzzle skims the earth
as if she breathed a far dim scent,
and yet she holds her tracks to suit
my final, difficult intent.

For years with gun in hand I sensed
her circle shrinking to my point.
How odd that ever I should be
the center to that whirling hunt.

Here a yip and there a chop
meant some prime buck still blessed with breath,
and in the silences I feared
she’d run him to her own cold death.

The snow that clouds my sights could be
a trailing snow, just wet and new
enough to keep a scent alive,
but not so deep that she’d fall through.



TÌNH THẾ KHÔNG HAY THƯỜNG ĐẾN

(Tiếng kêu một con chó săn)

Những hạt nước dãi như băng giá dọc
quai hàm con chó săn vào ngày cuối
đông. Và khi nhấc lên xương cốt nó
lỏng lẻo và nhẹ như một cọng cỏ

khô. Nhiều năm tiếng kêu quen thuộc của
nó đã cắt khu rừng thành từng phần.
Đám thỏ liếc nhìn phía sau không biết
nó đã rẽ và đẩy chúng tới tôi.

Bây giờ mõm nó là đà dưới mặt
đất như thể sự thính mũi của nó
đã lờ mờ xa, và lúc này ý
định giữ vòng săn đáp ứng mục tiêu

với nó là khó. Nhiều năm với cây
súng trong tay tôi có cảm giác nó
đã bắt đầu già. Tôi chưa bao giờ
trông chờ là trung tâm cuộc săn

cuồng quay đó. Đây là tiếng sủa và
kia là con mồi, có nghĩa là vài
con nai tơ vẫn sống, và trong yên
lặng tôi sợ việc săn đuổi đã mang

tới cái chết lạnh cho chính nó. Tuyết
phủ tầm nhìn của tôi có thể là
tuyết vẽ thành vệt, ướt và mới đủ
để giữ sự thính mũi tồn tại, nhưng

không quá sâu rằng nó đã thất bại.

 Khế Iêm chuyển dịch

Tiểu sử: Sydney Lea (1942 –), sáng lập và cựu chủ biên tờ “The New England Review”, tác giả thơ, truyện, tiểu luận. Tuyển tập thơ của ông bao gồm Searching the Drowned Man, The Floating Candles, No Sign, Prayer for Little City The Blainville Testament. Ông sống ở Newbury, Vermont, Hoa Kỳ.
Bài thơ trích trong tuyển tập thơ “Rebel Angels, 25 Poets of the New Formalism” (Những Thiên Thần Nổi Loạn, 25 Nhà Thơ Tân Hình Thức), do Mark Jarman và Davis Mason chủ biên, Story Line Press xuất bản, 1998.

Tranh bài: “Sunrise” by Claude Monet

CÁCH LÀM THƠ CHO NHÀ THƠ THẾ KỶ 21

ssue 17 Winter 2015, The Marvellous Real, Past Gazing, Future Glimpses. 
ssue 17 Winter 2015, The Marvellous Real, Past Gazing, Future Glimpses. 

Timothy Steele

Năm 1930, một nhà báo hỏi Mahatma Gandhi rằng ông nghĩ gì về văn minh cận đại, nhà lãnh đạo tinh thần, triết gia chính trị vĩ đại này trả lời, “Đấy là một ý kiến hay.” Nói về cách làm thơ cho các nhà thơ-thế kỷ 21, có lẽ ta nên nói, đầu tiên và trước hết rằng, đấy là một ý kiến hay. Trong những thế hệ gần đây, thơ đã chứng kiến những phát triển lý thú trong hình tượng, tu từ, và chủ đề. Nhưng cách làm thơ – “khoa học về luật thơ (science of versification – chữ khoa học dùng ở đây với cái nghĩa thoáng nhất – chú thích của người dịch); phần nghiên cứu về ngôn ngữ liên quan tới sự sáng tác những thể luật,” nhắc theo định nghĩa của OED (Oxford English Dictionary) – phần lớn đã biến mất khỏi thơ tiếng Anh.

Hôm nay, tôi muốn nói về sự biến mất này và gợi ý rằng tất cả các nhà thơ-thế kỷ 21, bất kể họ ưa chuộng và sáng tác dưới phương cách nào, cũng đều có lợi trong việc phục hồi khoa về luật thơ và các thể thức sáng tác luật tắc.

Trên phương diện lịch sử, khoa về luật thơ dính dáng tới sự pha trộn giữa luật tắc (meter) và nhịp điệu (rhythm). Luật tắc nói đến quy tắc cố định trừu tượng của dòng thơ; nhịp điệu dính dáng tới biến điệu trôi chảy của ngôn ngữ. Luật tắc thì khách quan và cố định; nhịp điệu thì chủ quan và biến đổi. Cho đến thế kỷ 20, giáo dục của các nhà thơ thường dẫn đến việc học cách dung hòa những nhịp điệu cá biệt của họ với những thể luật bình thường. Để chắc ăn, một vài nhà thơ – thí dụ như John Milton và Robert Frost – vui sướng trong việc sắp xếp luật tắc và nhịp điệu vào trong một thứ mà Frost gọi là “quan hệ căng thẳng.” Nhưng ngay cả trong những trường hợp như thế, cái mẹo vặt vẫn là điều chỉnh và tập hợp cả hai yếu tố lại như thế nào đó, để luật tắc mang lại cho nhịp điệu cái dạng đáng nhớ và cố định trong khi, cùng lúc, nhịp điệu mang sinh khí vào luật tắc, có hồn và đa dạng.

Trong thơ thế kỷ 20, luật tắc và nhịp điệu không chỉ kinh qua “quan hệ căng thẳng,” mà còn trải qua một cuộc ly dị hủy diệt; và theo tòa hòa giải, nhịp điệu được giữ nhà, xe, và căn condo ở Aspen, trong khi luật tắc chỉ còn cái máy nướng bánh nhỏ và lũ con. Thơ tự do, một loại thơ có nhịp điệu không luật tắc,  ló dạng và được chấp nhận rộng rãi và nhanh chóng đến độ vào  năm 1977, Stanley Kunitz nhận xét trong một cuộc phỏng vấn với Antaeus: “Thơ không-luật tắc đã càn quét lãnh vực, đến nỗi không còn bất cứ đối thủ thật sự nào từ phía những nhà luật tắc. Yếu tố định đoạt của thơ không còn là luật tắc hay phi luật tắc nữa… [T]hơ được định nghĩa bởi một chuyển điệu chắc chắn nào đó của giọng nói hơn là trong điều kiện làm thơ theo sự thực hành riêng biệt.”

Nếu sự thực hành thơ thế kỷ 20 ưa chuộng nhịp điệu hơn luật tắc, thì lý thuyết thơ của thời kỳ đó cũng vậy. Những bàn luận phê bình thường mô tả đặc điểm thơ tự do là phiêu lưu và liều mạng, trong khi thơ luật tắc bị miêu tả là hạn hẹp và kềm chế. Thật vậy, trong cuốn The Oxford Companion to English Literature (ấn bản thứ 5, 1985), ở phần nói về “Luật tắc,” đã so sánh phương cách ấy như bộ quần áo dùng để trói giữ và kềm hãm những người mắc bệnh lạc thần hay nhiễu loạn tâm trí trầm trọng. Thơ ở thế kỷ 20, cuốn Companion, tuyên bố trong đoạn-kết luận-một câu duy nhất cho phần đó, “phần lớn đã thoát khỏi cái áo luật tắc trói buộc truyền thống.”

Nhiều yếu tố góp phần trong việc nâng đỡ nhịp điệu và giảm giá trị luật tắc. Tôi có thăm dò một số vấn đề này trong cuốn Missing Measures. Trong dịp này, tôi chỉ đưa ra hai điểm.

Thứ nhất, đến lúc mà các nhà thơ thế kỷ 20 không còn dùng luật tắc, họ cũng thôi không còn hiểu nó nữa. Nói một cách rõ ràng hơn, nhiều nhà thơ đã lẫn lộn thực hành luật tắc với phân tích luật tắc. Chúng ta thấy ngay tuyên ngôn có ảnh hưởng về việc lẫn lộn này trong những phát biểu của Ezra Pound, “Về nhịp điệu thì… soạn theo một chuỗi tiết nhạc, không phải theo thứ tự của máy đánh nhịp” và “Không nên cắt thơ của bạn ra từng mảng iambs riêng rẽ,” và miêu tả của ông về thơ năm đơn vị âm tiết (iambic pentameter) như là “ti tum ti tum ti tum ti tum ti tum mà mỗi khởi xuất từ đó, được xem là ngoại lệ.”

Nếu chúng ta xem năm đơn vị âm tiết (gồm 2 âm tiết không nhấn, nhấn) như một hệ biến hóa – một mẫu trừu tượng của mười âm tiết thay nhau một cách dung hòa giữa nhẹ và nặng – miêu tả của Pound chính xác; và chúng ta, những nhà thơ, nên biết ơn những nhắc nhở của ông để tránh những nhịp điệu loảng xoảng. Tuy nhiên, những bình luận của ông lầm lẫn đến mức mà cách thực hành iambic thật sự phải quan tâm. Anh ngữ không phải chỉ gồm có những âm tiết Yếu Như Nhau hoặc là Mạnh Như Nhau. Những chuyển tiếp dấu nhấn trong tiếng nói Anh ngữ thì hầu như vô tận, và cái nhấn chúng ta mang lại cho một âm tiết có thể thay đổi từ dịp này qua dịp khác, tùy theo khung cảnh âm ngữ và môi trường nói và tùy theo bối cảnh ngữ pháp hay tu từ. Hơn thế nữa, các nhà thơ theo luật tắc không viết câu thơ từng đơn vị âm tiết một. Thay vào đó, họ viết ra những cụm từ dài hay các đoạn vừa trong luật tắc hay trong từng đoạn của nó; và vì bất cứ sự kết nối hoàn tất nào cũng có một và chỉ một cái nhấn chính yếu mà thôi, như ngôn ngữ học đã cho chúng ta biết, hầu hết những cụm từ hay các câu dài đều mang đặc tính âm tiết với những mực độ nhấn khác nhau, hạng thứ hai, thứ ba hay nhẹ.

Hậu quả là, trong dòng thơ iambic thực thụ, sự dao động giữa các âm tiết yếu hơn hay mạnh hơn không phải tuyệt đối, mà là tương đối. Đôi khi, nó có thể được đọc ra khá rõ ràng. Lúc khác, nó có thể yên lặng hơn và tinh tế hơn. Chúng ta có thể nắm được điểm này bằng cách khảo sát những câu thơ sau đây của Richard Wilbur, Edgar Bowers, Jean Toomer, và Wendy Cope, tất cả đều có luật tắc giống nhau (trong cái nghĩa thơ năm đơn vị âm tiết thông thường), nhưng mỗi nhà thơ lại khác nhau trong nhịp điệu so với cả ba người kia (trong cái nghĩa là những thay đổi đặc biệt trong diễn biến lời nói):

Veranda, turret, balustraded stair The rhetorician classifies my pain And there, a field rat, startled, squealing bleeds Who needs a bridge or dam? Who needs a ditch?

(Hiên nhà, tháp nhỏ, bao lơn thang lầu chấn song Nhà tu từ học phân loại nỗi đau của tôi Và đấy, con chuột đồng, giật mình, ré lên tươm máu Ai cần cây cầu hay đập nước? Ai cần rãnh?)

Những thí dụ này cũng cho thấy, đa dạng nhịp điệu nằm trong thứ tự luật tắc được bổ sung bởi con số và vị trí những mối nối bên trong các câu. Và những yếu tố khác, như vắt dòng – ý nghĩa của câu này chảy qua câu sau, với rất ít hoặc không có chỗ dừng ngữ pháp nào ở cuối dòng –cung cấp bài thơ theo luật tắc có thêm nhịp điệu đủ loại.

Mặc dù Pound xứng đáng được kính trọng về khả năng phê bình và quan tâm đến cách làm thơ, ông lại làm mập mờ sự phân biệt và quan hệ giữa nhịp điệu và luật tắc. Cũng được đi, khi thôi thúc rằng nhịp điệu của những bài thơ nên chuyển động “theo chuỗi của tiết nhạc, không phải theo thứ tự của máy đếm nhịp,” nhưng nhịp điệu thơ luôn luôn là vấn đề và kết quả của những tiết nhạc (hay lời nói). Đó là luật tắc trong trừu tượng mang tính đếm nhịp. Cũng giống vậy, chuỗi liên tục ti tum của Pound miêu tả trạng thái lý thuyết tiêu chuẩn của dòng thơ năm đơn vị âm tiết (iambic pentameter) hơn là điều gì xảy trong cấu trúc bài thơ thực sự có sinh khí. Không có chút nào là “ngoại lệ”, những dòng thơ được biến chuyển liên tục và linh động đã đặc tính hóa dòng thơ iambic Anh ngữ kể từ thời của Philip Sidney và Edmund Spenser. Thật ra, nói có nhịp điệu, ngoại trừ dòng ti tumming – dòng thơ đã tái sản xuất hệ biến hóa luật tắc thơ. Những dòng thơ như thế rất hiếm xảy ra, và để có được chúng, nhà thơ buộc phải chọn cách, không phải để cắt bỏ sự lặp lại nhịp nhàng, mà còn kềm chế sự tái diễn ngữ pháp, như “The room, the rug, the desk, the lamp, the pen” (Cái phòng, tấm thảm, cái bàn, cái đèn, cây viết – tạm dịch) hoặc là “He laughs and skips and whoops and runs and hops.” (Hắn cười và nhảy  cách quãng và reo hò và chạy và nhảy dựng lên. – tạm dịch)

Tuy vậy, nhiều nhà phê bình và tác giả viết sách giáo khoa đã  lặp lại gợi ý của Pound rằng nhịp điệu của dòng thơ iambic tự nó là đơn điệu. Và nhiều nhà thơ đã đi đến chỗ tin rằng, làm thơ luật tắc là tự ủy thác mình vào biểu đồ từ ngữ cứng ngắc. Họ tưởng tượng rằng làm thơ theo luật tắc là bó mình vào một phân tích trừu tượng đơn lẻ thay vì được củng cố bởi một mô hình chung cho phép và khuyến khích vô số nhận thức cá biệt về nó.

Điểm thứ hai của tôi là, sự nhấn mạnh hiện đại trên nhịp điệu cá nhân bằng cái giá phải trả của luật tắc khách quan, phản ánh sự nối dài của thẩm mỹ Lãng mạn trong luật thơ.

Điểm này cần đến định phẩm bởi vì các nhà thơ Lãng mạn và các nhà thơ tiên phong của thơ tự do chống lại, theo cái nghĩa đen, câu hỏi luật tắc. Lời mở đầu của William Wordsworth trong ấn bản thứ nhì của Lyrical Ballads có một giải thích hùng hồn về tác năng luật tắc và sự bảo vệ ghi nhớ về sáng tác luật tắc; và như những nhà nghiên cứu phép làm thơ, các nhà thơ Lãng mạn dùng luật tắc truyền thống bằng những cách từ sự tinh luyện tự nhiên (thí dụ như Wordsworth và Keats) cho đến kỹ thuật cao (thí dụ như Coleridge và Byron). Ngược lại, những nhà thơ tự do bậc thầy trước đó như Ford Maddox Ford, T.E. Hulme, William Carlos Williams, Pound, D.H.Lawrence, H.D., và T.S. Eliot, đến một mức độ nào đó, tất cả đều rời bỏ luật tắc truyền thống và, trong vài trường hợp, đi xa hơn nữa như để tranh cãi rằng đấy là lỗi thời hay không hợp thời nữa đối với những chủ đề cận đại. Như Hulme đã viết trong bài của ông “Lecture on Modern Poetry,” thơ cận đại “sau rốt đã trở nên hướng nội một cách hiển nhiên… Luật tắc thông thường đối với lối thơ ấn tượng này, là sự tù túng, chói tai, vô nghĩa, và không đúng chỗ.”

Thêm vào đấy, nhiều nhà cận đại chỉ trích thực hành thơ thời Lãng mạn và Victorian nói chung, được xem là thiên về lạm phát và đa cảm kinh niên. Ở điểm này, rõ nhất là Ford, trong hồi ký Thus to Revisit, đã đặt sự nhạt nhẽo của phần lớn thơ thế kỷ mười chín cận kề với tính mát mẻ hình tượng của thơ tự do (vers libre). “Tác phẩm thì tự do, “ Ford nói về các nhà thơ Hình tượng, “đa âm tiết, mật nhỏ giọt, và tính từ hạn chế, để phân biệt với tác phẩm của các nhà thơ cùng thời với họ, làm cho thơ thế kỷ mười chín nói chung, dường như béo ngậy và ‘khép kín’, như không khí trong một căn phòng.”

Tuy vậy, nếu chúng ta khảo sát kỹ lưỡng các quan điểm lãng mạn và cận đại, các tính liên tục cũng như tính phân cách xuất hiện. Những nỗi đau mà Wordsworth có, trong bài viết mở đầu, để giải thích rằng sự tấn công của ông trên cách diễn tả tân cổ điển (neo-classical) không có ý chỉ trích về luật tắc truyền thống, cho thấy, sự ủng hộ tích cực của ông về sự diễn tả thi vị tự nhiên có thể bị cho là chống lại luật tắc. Cũng vậy, khi các nhà thơ cận đại công kích lại các nhà thơ tiền bối, phần lớn, họ không chú trọng vào những nền tảng thông thái về sự thực hành trước đó. Họ phản đối chủ yếu, như lời bình của Ford đã cho thấy, là lối diễn tả ngữ pháp nhạt thếch hay cách đối xử dễ dãi với những chủ đề dễ đoán. Ở chỗ này, chúng ta có thể nhắc đến nhận xét cảm thụ của William Butler Yeats rằng Eliot là “nhà thơ cách mạng nhất trong thời đại của tôi, mặc dù cách mạng của ông đơn thuần là về phong cách (style).”

Ngay cả khi các nhà thơ cận đại lật đổ phong cách thế kỷ mười chín, họ lại chấp nhận những yếu tố căn bản của tư tưởng lãng mạn, và những yếu tố này mang lại sự nâng đỡ cốt yếu trong việc phát triển thơ tự do. Thí dụ, chúng ta gặp, trong nhiều nhà thơ cận đại, theo học thuyết lãng mạn, dạng thức “hữu cơ” (organic) cao cấp hơn dạng thức “máy móc” (mechanical); và học thuyết này phục vụ những xung động thử nghiệm cận đại đến độ chẳng khác nào nhịp điệu ngày càng giao kết với thuyết hữu cơ và luật tắc với tính máy móc. Cho nên, cũng vậy, niềm tin lãng mạn cho rằng âm nhạc là nghệ thuật nguyên thủy nhất xuất hiện trong những nhà thơ-phê bình gia cận đại như Pound và Eliot, những người nhiều lần lặp lại (nếu không muốn nói là mơ hồ) cho rằng cấu trúc âm nhạc có thể và nên thay thế cấu trúc luật tắc, trong thơ. Thơ cận đại cũng được cung cấp bởi ý tưởng của Kant rằng nghệ thuật thì độc lập vì lý do thuần khiết và thực hành, và như vậy, những tiêu chuẩn bên ngoài không thích hợp mấy với việc sáng tác một bài thơ hơn sự thúc giục nội tại và trực giác của nhà thơ. Như đã dẫn giải trong Critique of Judgment của Kant, ý tưởng này không cần thiết là độc hại đối với luật tắc hay những quy ước nghệ thuật khác, nhưng nó phản ánh và củng cố hướng xoay nói chung về chủ nghĩa chủ quan trong nghệ thuật xảy ra ở cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19, và trong thơ của thế kỷ 20, trong lối diễn tả của phong trào thơ tự do.

Ta có thể nói được vài điều tương tự về mối bận tâm của nhóm Lãng mạn với những vấn đề như tự-diễn-tả, tính lạ thường, và tự phát. Cho dù họ có thể đồng-hiện-hữu khởi đầu với những tiếp cận truyền thống đến kỹ năng thơ, dần dà họ có khuynh hướng chêm vào giữa nhịp điệu và luật tắc, và kéo các nhà thơ về với nhịp điệu và xa cách luật tắc. Cũng vậy, thoạt đầu không có gì chống-luật tắc trong nỗi băn khoăn (bằng chứng sớm nhất vào thế kỷ 17, nhưng càng lúc càng tăng suốt thời kỳ Lãng mạn và thế kỷ 19) rằng thơ và nghệ thuật ngày càng bị che phủ bởi các ngành khoa học. Tuy nhiên, rồi thì cái ước muốn giữ cho thơ cập nhật hóa một cách văn hóa tự nó đã biểu lộ qua sự tìm kiếm một phương tiện đổi mới trong mô hình khoa học và trong sự phát triển của những phương cách phi-luật tắc của thơ đã được đặc tính hóa là “thử nghiệm” và quảng bá là có tiềm năng giúp các nhà thơ đạt được xuyên thấu gần-như-khoa-học và khám phá.

Không chối cãi tính hiện đại hay hậu hiện đại của mình, chúng ta vẫn sống, trong các phương diện then chốt, trong thời đại Lãng mạn. Chúng ta vẫn tìm cách đồng hóa và tự vệ những đức tính chủ yếu của nó, như sự tôn trọng đối với cá nhân đàn ông hay đàn bà và ước muốn cộng đồng con người không bị gò bó bởi chia rẽ giai cấp và chuyên chế chính trị. Chúng ta cũng tìm cách vùng vẫy ra khỏi những luồng đen tối, như chủ nghĩa dân tộc tàn bạo và đôi khi, sự giáo hóa không thận trọng những khía cạnh phi lý và xúc cảm về thiên nhiên và văn hóa của mình. Và sức khỏe tương lai của thơ có lẽ sẽ dựa trên, đến một mức độ nào đó, khả năng của chúng ta có được một hiểu biết rõ ràng và cân bằng về di sản và tính bền bỉ của thuyết Lãng mạn hơn là những gì chúng ta đã có thể đạt được cho đến nay.

Bây giờ, ở bước đầu của thế kỷ 21, các nhà thơ có những lý do tốt đẹp để hồi phục lại cách làm thơ. Cho dù các bài thơ thật hay đã được viết ra và tiếp tục được viết theo thể tự do, luật giảm thiểu kết quả đã bắt đầu. Nếu tất cả mọi người trong thơ đương đại chỉ trau giồi nhịp điệu mà thôi, thơ lâm vào cảnh xuống dốc từ một nghệ thuật biến thành chỉ là một hoạt động – một theo đuổi bất-kể-thứ-gì, với các nhà thơ cô lập trong những trường phái hướng-nội nhỏ bé và làm thơ ngày càng hạn hẹp dựa trên căn bản thừa nhận tự-biểu-lộ. Trong thứ khí hậu như thế, chính thơ tự do sẽ héo và chết đi. Thơ tự do chỉ có thể thật sự tự do nếu nó có cái gì để thoát ra tìm tự do.

Nếu chúng ta, những nhà thơ có thế hồi phục được sự biết ơn cách làm thơ, có thể chúng ta hồi phục được cả cái nghĩa rằng nhịp diệu và luật tắc không cần thiết phải chỏi nhau, và có thể là bạn cùng phe bổ sung cho nhau trong cơ chế thơ. Chúng ta có thể khám phá rằng luật tắc, không phải gò bó chúng ta, mà có thể khuyến khích mình khảo sát những ý tưởng và hình ảnh, và những cách diễn tả chúng, từ những góc cạnh và phương diện khác nhau, và như thế, có thể giúp chúng ta thám hiểm chủ đề của mình một cách sâu xa và đầy đủ hơn chúng ta đã từng làm. Chúng ta có thể cũng tìm thấy rằng luật tắc có lúc lưu ý chúng ta một cách có giá trị, trong lối cư xử của một người bạn hay bạn đời, chống lại một cách thành thật, đối với bài viết vội vã, thiếu-suy-tính, hay độc đoán. Và chúng ta có thể nhận thức được rằng luật tắc thường có một sức mạnh mê hoặc, nam châm hấp dẫn những chữ, tư tưởng trong bài thơ của mình, càng thật hơn và hay hơn những thứ thường đến trong tâm trí mình.

Cách làm thơ hưởng lợi từ cả hai nhịp điệu và luật tắc. Không có nhịp điệu, thơ không sống. Không có luật tắc, thơ lâm cảnh hy sinh tính đáng ghi nhớ, tinh tế, sức mạnh và chú tâm. Nếu thử nghiệm của thế kỷ 20 là  ngăn cách nhịp điệu với luật tắc, thì sự thách đố của thế kỷ 21 có thể là kết-nối-chúng-lại trong một cách linh hoạt và nảy nở, để các nhà thơ có thể, như Thom Gunn viết trong “To Yvor Winters, 1955,”

… giữ cả hai Luật Lệ và Sinh Lực trong tầm nhìn, Nhiều sức mạnh trong từng mỗi thứ, nhiều hơn hết thảy trong cân  bằng cả hai.

(… keep both Rule and Energy in view, Much power in each, most in the balanced two.)     

Điểm Thọ dịch
Nguyên tác: Prosody for 21st-Century Poets của Timothy Steele
Hình bìa: ssue 17 Winter 2015, The Marvellous Real, Past Gazing, Future Glimpses. 

TUẦN THƠ 31: ĐỌC NHƯ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

THƠ DỊCH
(ĐỌC NHƯ TÂN HÌNH THỨC VIỆT)
______________________________

Thơ không thể dịch vì không thể dịch âm thanh và nhạc tính ngôn ngữ, trừ khi thay đổi cách làm thơ như thơ Tân hình thức Việt. Từ Đông sang Tây, ai cũng biết như vậy. Đã có bao nhiêu bài thơ Đường luật dịch ra tiếng Việt, đạt như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu do Tản Đà dịch? Có bài thơ tiếng Anh, tiếng Pháp nào dịch ra tiếng Việt đúng theo tiêu chuẩn thơ Việt như Hoàng Hạc Lâu? Chắc là không. Vì vậy mà người đọc Việt bình thường, từ trước tới nay, ít ai đọc thơ dịch, vì khô khan và không thấy gì lôi cuốn. Đó là lý do, qua phương tiện dịch thuật, mục đích của chúng tôi là đi tìm một tiêu chuẩn chuyển dịch để dịch một số bài thơ tiếng Anh, cả thể luật lẫn tự do, thành thơ Tân hình thức Việt, cho người Việt đọc. Trong hàng trăm bài thơ song ngữ Anh Việt, trên website www.thotanhinhthuc.org, chúng tôi cũng chỉ chọn được khoảng hơn 10/100 (cho đến nay gồm 30 bài), là những bài dịch, đọc theo tiêu chuẩn thơ Tân hình thức Việt. Nói là tiêu chuẩn thơ Tân hình thức Việt, vì hiện nay loại thơ này có hàng ngàn người đọc, và trên tờ Poetry Journal In Print  và những tuyển tập thơ song ngữ Việt-Anh, qua phản hồi, đang được chú ý của cộng đồng thơ Mỹ, với những bài thơ có ý tưởng liền lạc, dễ hiểu, và mới lạ đối với họ. Đó cũng là tiêu chuẩn chuyển dịch, để lọc một số bài thơ tiếng Anh, khi dịch ra, có thể đọc tương đương như đọc một bài thơ Tân hình thức Việt – dịch thành thơ, góp phần thay đổi định kiến từ trước tới nay, dịch là diệt. Dịch, như vậy, cũng nằm trong tiến trình của sáng tạo.

Điều ngạc nhiên, trong những bài thơ tiếng Anh được chuyển dịch dưới đây có cả thơ thể luật và thơ tự do. Thơ thể luật tiếng Anh theo luật tắc của dòng thơ. Luật tắc thông dụng nhất là dòng thơ 10 âm tiết (mỗi âm tiết tương đương với một chữ trong tiếng Việt), iambic parameter (không nhấn, nhấn, lập lại 5 lần như vậy thành 10 âm tiết). Những nhà thơ thể luật gồm: Dana Gioia, Frederick Feirstein, Sydney Lea. Số còn lại là những nhà thơ tự do: William Carlos Williams, Frank O’ Hara, Tom Riordan, Phillip A. Ellis.

Đối với thơ thể luật tiếng Anh, dòng 10 âm tiết, chúng ta dùng thể thơ 8 chữ để dịch. Còn những bài thơ của những nhà thơ tự do, chúng ta thấy có dáng dấp của những thể thơ Tân hình thức Việt. Nhưng thật ra, đó là thơ do những nhà thơ tự do sáng tác. Họ tạo ra hình thức thơ giống như những thể thơ nhưng không theo luật tắc như thơ thể luật. Số âm tiết mỗi dòng thơ không đồng đều, từ 5 tới 7 âm tiết. Sự tương đồng giữa những bài thơ thể luật và tự do nguyên tác tiếng Anh là cách diễn đạt với những ý tưởng và cảm xúc liền lạc. Điều ngẫu nhiên, cách diễn đạt này cũng trùng hợp với thơ Tân hình thức Việt. Mỗi ngôn ngữ, đơn âm hoặc đa âm, có văn phạm khác nhau, luật tắc và cách làm thơ khác nhau, vì vậy khi dịch thơ, tự do hay thể luật không phải là mối bận tâm của người dịch. Vấn đề quan trọng là tìm trong bài thơ nguyên tác có yếu tố chung nào với thơ Việt hay không, ở đây là cách diễn đạt. Đối với tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, có rất nhiều chữ đơn hoặc chữ kép (bằng trắc) được lặp lại một cách tự nhiên, tạo thành nhịp điệu, nếu cách diễn đạt có những ý tưởng và cảm xúc liên tục. Đó là lý do tại sao những bài thơ dịch khi dùng những thể thơ Tân hình thức Việt lại có thể đọc như một bài thơ sáng tác. Thơ Tân hình thức Việt chủ trương nối kết giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống và tự do, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, quan trọng hơn giữa bán cầu não trái và phải trong sáng tác. Chủ trương như vậy không hề có trong thơ Tân hình thức Mỹ. Nhưng không ngờ, trong thơ dịch, Tân hình thức Việt cũng có khả năng nối kết cả hai thể loại thể luật và tự do của thơ tiếng Anh.

Nhưng loại thơ này trong thơ Mỹ không phải dễ làm. Từ những nhà thơ đã quá cố như Williams Carlos Williams, Frank O’ Hara cho đến những nhà thơ đương thời như Tom Riordan, Phillip A. Ellis lâu lâu mới có một bài, còn đa phần là những bài thơ tự do thông thường. Vì thế, tuy không được coi là cách làm thơ chính thức, nhưng đang được phổ biến. Điều ghi nhận, một số nhà thơ trẻ hiện nay, cũng có khuynh hướng làm loại thơ dòng ngắn này nhưng bằng luật tắc thơ thể luật chứ không phải thơ tự do.

Trở lại thơ Tân hình thức Việt, với những khám phá về não bộ, những sáng tác trước đây cần có sự chuyển hướng mới. Sáng tạo đòi hỏi sự kết hợp cả hai bán cầu não phải và trái. Thơ không thể chỉ sáng tác với một bán cầu não phải hay trái. Dù thơ Tân hình thức Việt chủ trương phối hợp giữa thơ truyền thống (bán cầu não phải) và thơ hiện đại (bán cầu não trái), nhưng thực tế những bài thơ vẫn thiếu sức tưởng tượng, cảm xúc và nhịp điệu, đồng thời nội dung chưa thoát khỏi nội dung của những dòng thơ cũ. Thơ Tân hình thức Việt chắc chắn sẽ còn thay đổi nhiều, khi những nhà thơ tài năng thuộc thế hệ sau, có khả năng tổng hợp giữa cách làm thơ Tân hình thức và những chức năng sáng tạo trong não bộ.

Dana Gioia

PITY THE BEAUTIFUL

Pity the beautiful,
the dolls, and the dishes,
the babes with big daddies
granting their wishes.
Pity the pretty boys,
the hunks, and Apollos,
the golden lads whom
success always follows.
The hotties, the knock-outs,
the tens out of ten,
the drop-dead gorgeous,
the great leading men.
Pity the faded,
the bloated, the blowsy,
the paunchy Adonis
whose luck’s gone lousy.
Pity the gods,
no longer divine.
Pity the night
the stars lose their shine.

TỘI NGHIỆP NGƯỜI ĐẸP

Tội nghiệp người đẹp, những người đàn
bà hấp dẫn, những người đàn bà
thon gọn, những người đàn bà trẻ
với những nhân tình ra vẻ, đang
Ban phát cho họ những ước muốn.
Tội nghiệp những chàng đẹp trai, những
chàng trai lực lưỡng, và những chàng
trai nam tính, những chàng trai vàng
Mà sự thành công luôn luôn bám theo.
Những người lôi cuốn sự thèm muốn,
những người cám dỗ không cưỡng được,
những người ở hạng thóp, những người
Ngọai hạng, những người đàn ông hàng
đầu hết sẩy. Tội nghiệp kẻ tàn
lụi, kẻ béo phị, kẻ nhếch nhác,
chàng đẹp trai nay đã bụng phệ
Sự may mắn đến nước tồi tệ.
Tội nghiệp những vị thánh không còn
thiêng, tội nghiệp đêm, những vì
sao đánh mất sự chói sáng.

Ghi chú
Apollos và Adonis là những vị thần thời cổ đại La Hy, chỉ những chàng đẹp trai. Bài nguyên tác thì kiệm lời, nhưng bản dịch thì nhiều lời để làm rõ ý, một phần vì bài thơ dùng nhiều tiếng lóng.

Tiểu sử: Dana Gioia là một tác giả đa dạng, là nhà thơ, nhà phê bình, nhà giảng dạy. Ông sinh năm 1950, đã xuất bản hai tập thơ Daily HoroscopeThe Gods of Winter. Ông cũng đã xuất bản tập tiểu luận nổi tiếng, Can Poetry Matter? (tiểu luận Can Poetry Matter đã được dịch và đăng trên Tạp chí Thơ số 20, mùa Xuân 2001). Tập thơ dịch Motteti: Poem of Love của Eugenio Montale. Cùng với William Jay Smith biên tập Poems from Italy, và với Michael Palma, New Italian Poets. Ông biên tập cuốn The Ceremony and Other Stories của Weldon Kees. Tác phẩm mới nhất của ông, 99 Poems: New & Selected, xuất bản năm 2016. Tác phẩm của ông xuất hiện trên The New Yorker, The Hudson Review, và nhiều tạp chí khác.

Ông soạn nhiều tuyển tập như Twentieth-Century American Poetry (Thơ Mỹ thế kỷ 20), 100 Great Poets of the English Language (100 nhà thơ nổi tiếng ngôn ngữ Anh), The Longman Anthology of Short Fiction, Literature: An Introduction to Fiction, Poetry, Drama, and Writing (Sách văn học soạn cùng với W. J. Kennedy, 2000 trang, tái bản lần thứ 7 vào năm 1999).

Ông được tổng thống George Bush bổ nhiệm là chủ tịch Quĩ Ủy ban Yểm trợ Nghệ thuật, NEA (National Endowment for the Arts), với sự chuẩn thuận của Thương viện, nhiệm kỳ 2005-2009. Ông cũng được thống đốc Edmund G. Brown bổ nhiệm là Nhà thơ Danh dự Tiểu bang California (Poet Laureate of California), với sự chuẩn thuận của thượng viện tiểu bang, nhiệm kỳ 2015-2017. Ông hiện giảng dạy về thơ và văn học đại chúng (Poetry and Public Culture) tại University of Southern California, Los Angeles.  Xin đọc thêm trên website của ông www.danagioia.com

Ông cũng cộng tác với Báo Giấy, Poetry Journal In Print, cùng với các nhà thơ Frederick Turner, Frederick Feirstein, William B Noseworthy, Alexander Kotowske, Angela Saunders tham gia cuộc hội thảo “Thơ Tân Hình Thức Việt: Tiếp Nhận và Sáng Tạo”, do Sông Hương tổ chức năm 2014, tại Huế. Những tiểu luận và thơ dịch của ông xuất hiện trên Tạp chí Thơ, Báo Giấy, Sông Hương, Poetry Journal In Print, các website www.thotanhinhthucviet.vn, www.thotanhinhthuc.org, www.vanviet.info … với các dịch giả như Điểm Thọ, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phạm Kiều Tùng … Ông cũng là người tổ chức buổi đọc thơ song ngữ Anh Việt, tại quận Cam, California ngày 20 tháng 11, 2016, trong chương trình đọc thơ khắp 58 quận thuộc tiểu bang California của nhà thơ danh dự tiểu bang, với sự tham gia của Khế Iêm và nhà nghiên cứu âm nhạc trẻ Tina Hùynh.

Williams Carlos Williams

COMPLETE DESTRUCTION

It was an icy day.
We buried the cat,
then took her box
and set fire to it
in the back yard.
Those fleas that escaped
earth and fire
died by the cold.

SỰ HỦY DIỆT HOÀN TOÀN

Đó là một ngày giá
lạnh. Chúng tôi chôn cất
con mèo, rồi mang cái
hộp dùng để đại tiện
của nó đốt ngoài sân
sau. Những con bọ chét
thóat khỏi đất và lửa
chết vì lạnh.

Tiểu sử: Williams Carlos Williams (1883-1963), sau Ezra Pound, ông là một nhà thơ quan trọng của phong trào Hình tượng (Imagist). Nhưng quan niệm sáng tác, đơn giản, dễ hiểu và ý tưởng sâu sắc, lại hoàn toàn khác hẳn những nhà thơ như T. S. Eliot và Ezra Pound. Ảnh hưởng của ông bao trùm suốt thế kỷ 20, đặc biệt là những nhà thơ trẻ Mỹ thập niên 1950s, 1960s.

Tom Riordan

THE CAR WINDOW

shattered into empty
sunflower husks
on the macadam
and inside the bar
a woman spit glass
into a tin ashtray
and told her lover
that neither of them
was ever going to
hit the other again.

KÍNH CỬA XE

bị đập bể trông giống những
vỏ rỗng hạt của hoa hướng
dương trên đường trải nhựa và
bên trong quán rượu một người
đàn bà nhổ chiếc răng gẫy
vào cái gạt tàn bằng thiếc
và bảo người bồ rằng không
một ai trong bọn chúng vào
bất cứ lúc nào được đi
đánh kẻ khác lần nữa.

  • Glass: ám chỉ chiếc răng gẫy.

 

Tom Riordan

IMAGE THE SCAVENGER’S ECSTASY

as he lowers himself into the bin
and opens up the first big bag—
this, after a week of mostly slugs
and chewing over last year’s pretty
much worked-over hickory nuts.

Each night he tries the Italian deli’s
door and tonight it was unlocked—
each night he propositions every
girl in the shot-&-beer joint and
tonight every one of them said yes.

He doesn’t need an eternity of bliss.
One single glorious night like this,
and then each night recalling it,
and hoping that it happens again,
is paradise enough for a raccoon.

 

TƯỞNG TƯỢNG SỰ NGÂY NGẤT CỦA KẺ
VIẾT VĂN DÂM Ô

Như hắn tự thả mình trong thùng rác
Và mở cái bao lớn đầu tiên – điều
này, sau một tuần ăn hầu hết những
con ốc sên và nhai hết những hạt
mại châu héo khô hơi nhiều năm ngóai

Mỗi đêm hắn thử một cửa hàng Ý
và đêm nay cửa hàng mở cửa – mỗi
đêm hắn gạ gẫm một cô gái ở
quán rượu rẻ tiền và đêm nay mỗi
cô đều đồng ý. Hắn không cần niềm

vui sướng vĩnh cửu. Một tối lẻ loi
huy hòang như vầy, và để rồi mỗi
đêm nhớ lại, và hy vọng trở lại
đó là vườn địa đàng đủ cho một
con gấu trúc.

Tiểu sử: Tom Riordan hiện cư ngụ tại tiểu bang New Jersey. Ông từng là nhà biên tập (editor) một website về thơ nổi tiếng www.poetrycircle.com. Ông cộng tác với webtesite thotanhinhthuc.org, mục “Tiếng Thơ Khác” (Other Poetry Voices). Ông viết bài điểm sách cho tuyển tập Thơ Kể (Poetry Narrates), và bài giới thiệu cho tập thơ “Dấu Quê” (Traces of my Homeland). Nhiều bài thơ của ông khá gần với thơ Tân hình thức Việt.

Frederick Feirstein

SHAKESPEARE

If I could live a Muslim cabbie’s day
Driving in traffic, parking at noon to pray
In 96th Street’s Mosque, I’d stop to chat
With vendors hawking fruit, pashminas, books
Even about my centuries of fame;
If I could be a New York City hack
I’d give up every sonnet, every play,
Not in disgrace with men’s eyes, not in shame
For just one sandwich stuffed with sizzling fat
Plump Falstaff in a greasy apron cooks,
I’d take blank time, not scripted Fortune, back.

SHAKESPEARE

Nếu tôi có thể sống một ngày của
Người tài xế taxi Hồi giáo lái
Trong lúc đông xe, ngừng lại buổi trưa
Cầu nguyện tại Thánh đường Hồi giáo đường
96, tán gẫu với những người bán
Trái cây, khăn trùm đầu, sách, ngay cả
Hàng thế kỷ tăm tiếng của tôi; nếu
Tôi có thể là người tài xế taxi
Ở thành phố New York, tôi  sẽ từ
Bỏ mỗi bài thơ, mỗi vở kịch, không
Được trọng vọng dưới mắt mọi người, không
Xấu hổ với chỉ chiếc bánh sandwich
Nhét đầy mỡ nóng do Falstaff béo
Tròn mặc tạp dề dính dầu mỡ làm,
Tôi chọn một tương lai mở, không
Phải thứ tương lai tiền định, ngược đời.

Ghi chú
Sir John Falstaff là nhận vật trong kịch William Shakerspeare.

Tiểu sử: Frederick Feirstein là một nhà thơ quan trọng trong phong trào Thơ Tân hình thức Mỹ (New Formalism Poetry). Ông cũng là kịch tác gia (đã có cả mươi mười hai vở được diễn ở New York), nhà viết kịch bản phim và truyền hình. Frederick Feirstein đã cho xuất bản tám tập thơ. Ông đã đoạt được những giải thưởng văn học sau đây: Giải thưởng Thơ của Guggenheim Fellowship, Giải thưởng Thơ của Society of America’s John Masefield, Giải thưởng Thơ của England’s Arvon, và Giải dành cho Kịch nghệ của Rockefeller Foundation’s OADR.

Ông là người đồng sáng lập phong trào Expansive Poetry và là người tạo ra chương trình đọc sách của nhà Barnes & Noble. Tiểu sử của ông được ghi trong Dictionary of Literary Biography và tiểu sử tự thuật của ông được ghi trong Contemporary Authors Autobiography Series.

Ông công tác với webtesite thotanhinhthuc.org, mục “Tiếng Thơ Khác” (Other Poetry Voices). Ông viết bài giới thiệu cho tập Thơ Khác (Other Poetry). Ông cũng cộng tác với Báo Giấy, Poetry Journal In Print, cùng với các nhà thơ Frederick Turner, Dana Gioia, William B Noseworthy, Alexander Kotowske, Angela Saunders tham gia cuộc hội thảo “Thơ Tân Hình Thức Việt: Tiếp Nhận và Sáng Tạo”, do Sông Hương tổ chức năm 2014, tại Huế. Những tiểu luận và thơ dịch của ông xuất hiện trên Tạp chí Thơ, Báo Giấy, Sông Hương, Poetry Journal In Print, các website www.thotanhinhthucviet.vn, www.thotanhinhthuc.org,

Phillip A. Ellis

DEAD, WHITE WOOD

Out of the futile grasp
of ghost-white ghost gums,
a cold moon rising,
coloured the hue
of cold smoke furling in flat,
florescent shapes
that were formed beneath
an overarching lamp
falling asleep in the declining
hours of sinking mercury,
and sleepiness settling
like emptied dreams
lazily turbulent
as from cigarettes,
ash-grey as moons
in ghost gums’ ringbarked grasps,
I dream of the trees
marching towards me,
an orchard of dead, white
wood.

KẺ CHẾT, RỪNG TRẮNG

Thoát ra khỏi sự nắm bắt
vô vọng của những cây bạch
đàn ma – ma trắng một mặt
trăng lạnh nhô lên tô điểm
sắc thái một làn khói lạnh
gợn theo bề mặt tạo thành
những hình dạng huỳnh quang bên
dưới ngọn đèn trăng bao quát
như ai đó thiếp ngủ lúc
nửa đêm về sáng khi hàn
thử biểu xuống thấp thấm lạnh
và sự ngái ngủ làm thư
dãn như những giấc mơ trống
rỗng lộn xộn một cách uể
oải được nhả từ khói của
những điếu thuốc lá đầu ngày
và màu xám tro không khác
gì những mặt trăng phản ánh
từ những khoanh nhẫn của vỏ
những cây bạch đàn ma, tôi
mơ những cây bạch đàn ấy
bước đều về phía tôi, vườn
cây của kẻ chết, rừng trắng.

* ghost gums: một loài cây có vỏ trắng. Ringbarked: vòng vỏ cây bị gỡ bỏ, nguyên nhân làm cho cây chết; bị coi là bất hợp pháp ở Úc.

Tiểu sử: Phillip A. Ellis, nhà thơ Úc, sinh năm 1968, một học giả và nhà phê bình. Tuyển tập thơ, The Flayed Man, đã được xuất bản bởi Gothic Press (http://www.gothicpress.com/) và đang hoàn tất một tuyển tập khác cho nhà xuất bản Diminuendo Press. Nhà xuất bản Hippocampus. Ông công tác với webtesite thotanhinhthuc.org, mục “Tiếng Thơ Khác” (Other Poetry Voices).

Khế Iêm chuyển dịch
Tranh: Onteniente by Clark Hulings
http://www.huffingtonpost.com/brandon-kralik/the-enduring-legacy-of-clarl-hulings_b_5431803.html
 

TUẦN THƠ 38: CHUYỆN GIẤC NGỦ KỂ

https://www.vangoghmuseum.nl/en/collection/s0424M1991
https://www.vangoghmuseum.nl/en/collection/s0424M1991

CHUYỆN GIẤC NGỦ KỂ


Sáng tác xin gửi về Diễn đàn hoặc email:
baogiay2015@gmail.com | tapchitho2022@gmail.com

Biển Bắc

CHUYỆN GIẤC NGỦ KỂ

Em đến với anh mỗi đêm để
kể anh nghe chuyện một ngàn lẻ
một đêm mà anh chẳng buồn nghe
lại đi đọc mấy trang sách nhàm
nhạp khác đến nỗi anh phải ngáp
dài mấy hơi liền sau đó em
đè lên anh nhõng nhẽo bíu ríu
bờ vai đu nặng mí mắt kéo
anh vào vòng tay em để đưa
mình đến im lặng với những tiếng
thở lò bò càng lúc càng lơi
lạc trong tiềm thức giấc mơ đan
chéo nhau bao thứ chẳng có nghĩa
lý do đó anh hoang mang đến
nỗi anh sợ hãi hùng hổ thẹn
thùng thình lình anh vùng vẫy tay
xua đuổi em đi mặc dù (em
biết) anh thích em thậm chí nhiều
khi rất cần em lắm lúc ban
ngày em cũng đến với anh bất
cứ lúc nào chỗ nào anh muốn
em bởi vì (em biết) anh vẫn
thích em thậm chí rất cần có
em và sẽ một lần nào đó
đón em đến với anh mãi mãi …

https://open.spotify.com

(giữa 2, không 8)

Bùi Đức Nguyên Vũ

VIẾT CHO NHỮNG NỖI BUỒN VIỄN CŨ

(tặng Tú Trinh)

ly cà fê cũng bắt đầu học
cách thơm ngậy hơn giữa một mưa
sài gòn để kéo chân nỗi buồn
ngồi lỳ nơi quán vắng có cỏ
và có cả gió máy lạnh thổi
buốt thay mùa đông câu chuyện mỗi
ngày đi vòng quanh nỗi buồn viễn
cũ và bất tận khói thuốc bất
tận ngả đầu nơi góc riêng, có
cọng tóc nào triết lý về sự
bạc màu của gốc đầu nơi sinh
ra những nơ-ron bạc nhược để
thay em thay ta nhắn tin cho
nỗi buồn ngày hôm qua và hẹn
nỗi buồn ngày mai ở một quán
vắng khác có cỏ và có cả
gió máy lạnh thổi buốt thay mùa
đông. Câu chuyện cứ thế mỗi ngày
đi vòng quanh nỗi buồn viễn cũ
và bất tận như sự học của
ly cà fê về cách thơm
ngậy hơn giữa một mưa sài gòn.


Cao Quảng Văn

BƯỚC MÙA TÔI

Nhịp đập của đời dội vào
thơ dội vào tim vào mắt
từng nhịp từng nhịp dội ngân
vang vang trong tôi tiềm thức
có gì đâu những giọt nắng
vàng nhảy nhót tung tăng cùng
lá cùng hoa cùng góc vườn
thong dong từng bước chân chim
sẻ chim sẻ ngước quanh nhìn
những đốm nắng vàng hoe ngẩn
ngơ ngơ ngác nghe nhịp đời
vang vang dội vào góc tim
ủ gió vàng hoe vàng hoa
mới nở tôi nghe nhịp rung
hối hả từng nhịp từng nhịp
dội vang tôi ơi tôi ơi
mùa đông qua rồi mùa xuân
đang đến lặng thầm từng bước
từng bước chân chim chân chim
dội khẽ vách đời hoe nắng …

1.4.2014, phú nhuận – sài gòn.

 Chu Thụy Nguyên

BÓNG MÂY DƯỚI HIÊN

Những vụn nhỏ bánh mì từng ngày
từng ngày rơi xuống khúc trường ca
xao động lũ chim chóc xao động
tiếng cháo chát giục gọi bầy đàn
và ta đậu lại thật lâu trên
mùi hoàng lan ngày cũ ngày
em chưa ra đi mà mùi hoàng
lan khúc ca quan họ gợi nhớ
bóng người tình khi chim chóc vẫn
bay những đường bay tuổi thơ ôi
ta không sống chỉ để thở ta
vẫn thở chỉ để sống nhưng ta
cũng chưa từng thở chỉ để sống
mà không yêu bởi ta sống để
được uống từng ngụm thơ nữa chứ
như trẻ nít cần ngụm sữa từ
bầu sữa mẹ mênh mang là tình
để khi lớn lên hồn mênh mang
là thơ thơ như những giọt lạnh
lung linh trên lưng đá rỏ từng
tiếng kêu chảy xuống những bầu sữa
nẩy căng giọt thơ như những phím
guitar rảy vào mảnh xương hàm
cách điệu trữ tình và hãy uống
những nốt guitar huyền nhiệm từng
ngụm nhỏ trước khi bay bổng khúc
trường ca nơi phía vách núi đá
dựng những mảng rêu hàm hồ tự
thú và mùa thu bám chặt đợi người
tình khi bóng mây lạc đường vẫn
cúi vây vẫy tay chào ta đâu
ngờ những vụn nhỏ bánh mì của
chàng Petit Poucet lại
hóa thành những chiếc lông ngỗng Mị
Châu …


Dã Thảo

NỖI NHỚ

Nỗi nhớ theo em
vào ra nơi cửa
quẩn quanh phố xá
như vệt nắng nghiêng
nghiêng đầu hè như
con ong vò vẽ như
con ruồi nhẫn nha
giữa trưa tháng năm
như xe cút kít
vòng quanh siêu thị.
Nơi nhớ anh dịu
dàng da-ua ngọt
ngào sinh tố (xoài
dâu mãng cầu) nồng
nàn dấm đỏ (trộn
cá sardine) mặn
mà cá long tong
kho mặn quen thuộc
đến nỗi em đặt
tên “lẩn thẩn”. Nỗi
nhớ theo lên núi
qua dốc đồi bình
minh dốc đồi chưa
đủ nắng Aqua
Dulce xanh biếc
một màu phẳng lặng
nỗi nhớ nép mình …
xa xăm. Những hôm
trời gió nỗi nhớ
lăn vào tóc bối
rối pha chút hằn
học cùng lũ cuồng
phong vướng chân em
lao đao những lần
bão cát nỗi nhớ
chun vào mắt mắt
đỏ màu … Phượng xưa
và em khóc … rất
khẽ. Những ngày ngập
nắng nỗi nhớ nhẹ
và trong như thời
trang mùa hè lênh
đênh như sóng trắng
một màu Ngọc Anh
… trưa nào. Nỗi nhớ
theo vào sở on
off screensaver
lóc cóc keyboard
em không thể ngờ
anh không thể tưởng
có một nỗi nhớ
lâu lắc đợi em
từ ba mươi năm.
Nỗi nhớ không đầu
không đuôi (mà rất
thật). Em có nên
gọi nó là “chiêm
bao”?


Đinh Thị Như Thúy

SÁNG NAY

tôi đã nghĩ về một điều gì đó
rất quan trọng kiểu như tôi sẵn sàng
nuốt chửng cỏ cây hoặc tôi tự nguyện
để cỏ cây nuốt chửng tôi cũng tự
nguyện ngưng thở mỗi lúc nhìn những nụ
hoa ngơ ngác nứt ra từ nách lá
ồ lũ hoa hơn ai hết chúng biết
về những nỗi buồn cả nỗi buồn sinh
sôi cả nỗi buồn tàn lụi có lúc
tôi mơ hồ không rõ chúng cả lá
cả hoa cả cỏ dại cả gai xương
rồng cả xưa cũ cả tinh khôi mới
chúng biết gì về sự rơi của tôi
khi tôi tự buông tay cả sự rơi
của tôi  khi tôi bị xô đẩy điều
này tôi nghĩ có khi là quá sức
đối với chúng nên tôi đã lảng tránh
không chuyện trò gì mặc dù tôi vẫn
tự nguyện ngưng thở và để cỏ cây
nuốt chửng tôi khi tôi ngồi với tôi
và tách cà phê mỗi sáng và tôi
vẫn tin lũ hoa  chúng biết rõ những
nỗi buồn sáng nay tôi ngồi nhìn đóa
hồng màu vàng chanh lóe lên một đốm
sáng giữa bộn bề lá xanh lá úa
tôi nghĩ về tình yêu kiểu như tôi
sẵn sàng nuốt chửng tình yêu hoặc tự
nguyện để tình yêu nuốt chửng tôi cũng
tự nguyện ngưng thở chỉ với ý nghĩ
anh giá như anh có mặt bên tôi
lúc này …

9.10.2014

Du Nhiên

ẤN TƯỢNG PAKSE

Chuyến xe mệt rã đưa chúng tôi qua
biên giới phía nam gió hiu hiu mùa
lạnh Pakse đón chúng tôi bằng lời
chào: “Tuk-tuk tu-ten”* chàng tuk-tuk
băng băng lao tới tôi ngỡ mình gặp
cao bồi viễn đông nụ cười hân hoan
gió thổi nét hoang sơ anh hùng bản
địa chàng trai tỉnh lẻ man dại xé
gió xuyên đêm đưa chúng tôi đến miền
đất lạ phố đêm tỉnh lẻ êm đềm
tuk-tuk vang vang nụ cười Pakse
mùa đông lưu tiếng chào nồng nàn cao
bồi tuk-tuk …


Đỗ Thư

GIẤC MƠ LÒNG ĐÁ

Khi em chạm phải lòng anh trong
giấc mơ hình đá giấc mơ lạnh
lòng đá trong nỗi buồn em vành
vạch niềm tin của con chiên hiền
lành có đủ không anh trái tim
em lành sao lòng đá lạnh đôi
mắt em xanh sao mắt anh ngoảnh
đi thờ ơ đến thế em đâu
có kể, tội tình gì đâu chỉ
là có một chút sầu đá lạnh
lòng em đau nhưng không máu giấc
mơ về nhau nhưng lòng thì lẻ
kẻ đến người về sao ngả vẫn
chia đôi giấc mơ lòng đá thế
thôi mà?

Ái Châu, hè 2009

Đài Sử

CHỈ LÀ 8 TIẾNG LÀM VIỆC CHO 1 NGÀY

Đi đều đều vào khu
nghĩa trang tám tiếng một
ngày mộ bia nhang khói
không chỉ những tiếng động
vô hồn tám tiếng một
ngày những câu thơ bị
chôn vùi tận đâu đâu
lấp lững bay về khi
thân thể đang vữa nát
cắn nửa con chữ trên
đỉnh dốc thở bằng mang
tai tám tiếng một ngày.
Cơn ác mộng đời sống
hằng ngày nói những âm
thanh vô vị lạc vào
tiền kiếp tám tiếng một
ngày đêm hóa thạch câu
thơ đen làm đường viền
đôi mắt thấp thỏm trong
đêm ký ức sục tìm
tiếng đồng hồ báothức
tám tiếng một ngày những
gìa nua về khi công
việc trở thành thân quen
một nửa thân thể lưu
vong còn một nửa phản
bội một nửa kia bằng
một đất nước khác tám
tiếng một ngày những hồn
ma trở về thành phố
cằn cỗi và chờ ngày
ra đi thật sự tám
tiếng một ngày.


Đặng Xuân Hường

BỖNG DƯNG BUỒN

Khi không bỗng dưng buồn giận một
cái gì như mơ hồ như ghen
tuông như chán chường như chẳng là
gì cả bỗng dưng buồn bỗng dưng
giận rồi cũng bỗng dưng buồn chán
như cái thế giới này hầu như
cái gì cũng buồn cũng chán thế
rồi bỗng dưng muốn trút cơn buồn
giận lên một cái gì một ai
đó mà cũng chẳng biết cái gì
hay ai đó ở đâu thế rồi
khi không bỗng dưng cắp nón vác
ô đi vội vàng mà cũng chẳng
biết đi đâu!


tranh Vincent van Gogh

SINH KHÍ THƠ CỦA TAM KHOA

Frederick Turner

 

Dĩ nhiên, khi để chữ “Tam Khoa” trong tựa đề, tôi muốn nói đến những thứ liên quan tới chương trình giáo dục cổ điển – “ba phương pháp” – văn phạm, lý luận và tu từ. Và tranh luận tôi muốn đưa ra ở đây là chúng ta cần xem xét lại những môn học này như là nền tảng thiết yếu cho thơ (là thứ thơ) mà người ta có thể thực sự đọc được và nhận thấy có giá trị.

Qua vài năm gần đây, ngày càng có nhiều chú ý đến sự thất thoát của thể và luật trong nghệ thuật thơ. Bàn luận về hình thức thơ thì quan trọng, nhưng có lẽ cốt yếu hơn nữa là bàn luận về nội dung, thực chất, và những chủ đề của thơ. Chiếc cầu nối giữa cái này với cái kia theo truyền thống là Tam Khoa – thế nào để tập hợp tư tưởng và cảm xúc vào trong chữ, thế nào để đạt được sinh khí mạch lạc, một sinh lực nói ra điều gì đó quan trọng và lý thú với một tác động thích hợp và đáng nhớ. Văn phạm đặt người nói và người nghe vào cùng một đẳng cấp ngôn ngữ học, tự nó thiết lập ra mã luật, qua đó, thông điệp được gởi đi và nhận lại: những thứ nào được kể ra. Lý luận biểu lộ tính cần thiết của quan hệ giữa tiên đề và bằng chứng viện dẫn trong thông điệp và kết luận rút ra từ đấy: thế nào mà những thứ ấy được biết đến. Tu từ thêm da thêm thịt hay tạo ra thể hình cho lý luận trong điều kiện cảm xúc và đam mê, kêu gọi ký ức kết hợp có chung của chúng ta như là minh họa của thông điệp: thế nào mà các thứ ấy truyền thông với nhau. Tu từ dùng những nguồn đặc ngữ phong phú của ngôn ngữ để vạch ra sắc thái tinh tế của châm biếm, mâu thuẫn, ngờ vực, tiếc nuối, nhạo báng, v.v…, thích hợp với đàm luận; và lôi cuốn chúng ta tiếp tục lắng nghe bởi sự khôn ngoan, hồi hộp, và mê hoặc của nó.

Cả ba yếu tố của Tam Khoa đều nằm dưới sự tấn công ý thức qua nhiều thập niên. Văn phạm cũng bị nghi ngờ là một thứ áo trói chuyên quyền, buộc tâm trí người sử dụng ngôn ngữ phù hợp với tiêu chuẩn văn hóa xã hội của ông hay bà ấy, (bằng cách) khéo léo cài đặt trong những luật tắc văn phạm. Những nhà ký hiệu học như Saussure, những triết gia như Derrida, những nhà xã hội ngôn ngữ học như McLuhan, các nhà khảo cổ học như Lévi-Strauss, và ngôn ngữ đối chiếu học như Sapir và Whorf đã thử (với những lý do cao nhã nhất) để xoáy mòn lòng tin của chúng ta vào chính những mã hiệu mà ta dùng để giao tiếp với nhau.

Lý luận cũng vậy, cũng bị tấn công. Đối với lối tiếp cận Lãng mạn cũ rằng lý luận biểu hiện tính hiện thực của lý trí, không phải của con tim, bị buộc thêm những tội xa hơn nữa, rằng lý luận là một phát minh phương Tây, một công cụ thuộc địa, một phương tiện dương tính của thống trị, một bào chữa cho sự khai thác khuyến mãi, một phương pháp giảm thiểu sự xa lạ hóa. Foucault còn đi xa đến độ đặt ra định đề vô ước tính cấp tiến của những hệ thống chú giải bản văn cổ điển khác nhau, những “chính thể sức mạnh và kiến thức” khác nhau, làm cho bất cứ khái niệm nào về trao đổi giữa ngôn ngữ và “thế giới thật” huyền thoại, thành ảo tưởng. Feyerabend và Latour còn đi xa hơn thế, nghi ngờ ngay cả tính hợp lệ của các ngành khoa học, kẹt trong một hệ thống hợp lý mà tự nó không thể cải thiện.

Sự tấn công vào Tu từ có từ xưa hơn nữa, kể từ những nghi vấn thời Ánh sáng, về chỗ đứng của nó trong  diễn tả các sự thực nguyên thủy, và sự ngờ vực của Puritan hay Jansenist về vị trí của nó trong tôn giáo xác thực. Chính tự chữ “tu từ”, trừ khi được định giá bởi vài ba thành ngữ như “ngành tu từ,”  có nghĩa, trong lối nói bình thường, là “kể chuyện huyên thuyên,” (spin), “dài dòng” (verbiage), hay “tào lao” (flim-flam). Eliot phàn nàn về tu từ của Milton, Williams đòi hỏi “No ideas but in things,” (Mọi tư tưởng, ý nghĩa tự chúng đã nằm sẵn trong vật thể mà tác giả nhắc đến), MacLeish thì tuyên bố “một bài thơ không nên có nghĩa mà chỉ nên là bài thơ.”

Trong những năm gần đây, bắt đầu có một thứ gọi là phản công  trong thế giới ngôn ngữ học và khoa học thần kinh chống lại kiểu vứt bỏ những cách cổ điển này để nối lại sinh khí mạch lạc (articulate energy). Gây ấn tượng hơn nữa, Chomsky cho thấy rằng trong tất cả mọi ngữ pháp của thế giới con người có một cú pháp cơ bản nằm sâu bên dưới, và Steven Pinker và những người khác nối kết cú pháp này với sự tiến hóa có chung của chúng ta. Như vậy, chỉ một cú đánh, hình như vậy, hai học thuyết hậu hiện đại lỗi thời này bị hủy diệt. Nếu ngữ pháp là một luật tắc giả tạo, ít ra nó cũng được chia sẻ bởi tất cả con người, và đã chứng tỏ tính áp dụng có lợi của nó trong thế giới thật bởi sự kiện rằng chúng ta đã sống sót và thịnh vượng nhờ vào cách sử dụng nó. Và nếu nhân loại bởi đặc tính tự nhiên là những con vật dùng-ngữ-pháp, thì tiền đề cốt yếu nổi lên từ mồ mả ông cha một cách ớn lạnh rằng – chúng ta có một đặc tính tự nhiên, và rằng đặc tính ấy có phần trừu tượng và cú pháp.

Giống như vậy, lý luận cũng tìm được những cách đẩy lui kẻ thù, như vạch ra theo toán học rằng nhiều lý luận khác nhau có thể cùng hiện hữu một cách hòa đồng (lý luận cổ điển, Boolean lý luận, fuzzy logic, lý luận lượng tử, ngoại lý luận và nội lý luận, v.v…) mà không hề thôi không còn là lý luận và không có chướng ngại chuyển dịch ở những biên giới hổ tương của chúng. Vài ba nơi nào khác trong vũ trụ (dường như đã lấy lại được đặc quyền thật sự hiện hữu ngoài kia) hoạt động tùy theo những lý luận khác nhau: nhưng những lý luận này có thể hòa thuận với nhau trong cùng một vũ trụ đàm luận, giống như chúng đã từng làm thế trong cùng một vũ trụ của các thứ.

Và tu từ, cũng vậy, dường như đang trở lại như là một thứ không cần thiết phải là xấu xa. Dưới cụm từ “tu từ của,” ít ra nó đã biến thành một từ trung tính, bao hàm các thứ như “nghệ thuật của”, “văn hóa của”, hay ngay cả “vở kịch lý thú của” như trong câu “tu từ của thời trang y phục/tiểu thuyết/nấu ăn kiểu Pháp/kiểu tóc người da đen/thiết kế xe theo ý riêng/tôn giáo/rap/dân chủ,” v.v… Như quảng cáo (Mad Men), kỹ thuật cao (Jobs, The Social Network) và kinh doanh (Mr. Selfridge) đã biến thành đáng nể, chúng ta bắt đầu nhận ra những cú đẩy tương đối vô hại cho kinh tế mà trình bày mang tính thuyết phục có thể mang lại. Những thầy cô dạy viết văn cấp tiến còn thúc giục học trò của họ “bán” khái niệm trong truyện hay nhân vật hay quan điểm của mình cho độc giả – và bán ở đây theo cái  nghĩa là không có gì nhiều hơn hay ít hơn là tu từ cả.

Cho nên, nếu chúng ta mang Tam Khoa trở lại trong thơ, điều gì chúng ta mong mỏi sẽ xảy ra? Tôi muốn bắt đầu bằng cách minh họa thế nào mà thơ có lẽ đã chịu đựng sâu xa từ những khái-niệm-có-ý-tốt của “làm cho  mới,” bằng cách lấy đi xương và gân là những thứ giúp nó đứng vững, cử động, và có một vai trò tích cực trong thế giới. Một phần bị thôi thúc bởi sự hiểu lầm về những lời khen của Ezra Pound về ngôn ngữ hình tượng của thơ Trung hoa, các nhà thẩm quyền về thơ – thầy cô dạy sáng tác, các lớp thực tập, biên tập viên – cho rằng các nhà thơ nên lấy ra tất cả mọi ngữ pháp không thi vị, và chú trọng ý nghĩa vào một chuỗi hình ảnh. Thành công của Pound trong việc biên tập “The Waste Land” biến thành viên thuốc độc cho thơ nói chung. Thử khảo sát bài thơ sau đây:

cái chết
kêu gọi
lật đổ
chết cái chết giết tôi
nghỉ ngơi giấc ngủ hình ảnh
lạc thú tuôn trào
người ta đi
nghỉ ngơi xương linh hồn giao
nô lệ số phận may mắn các vua bọn đàn ông liều mạng
thuốc độc chiến tranh bệnh hoạn trú ngụ
giấc ngủ thức giấc
cái chết cái chết chết.

death
called
overthow
die death kill me
rest sleep pictures
pleasure flow
men go
rest bones soul delivery
slave fate chance kings desperate me
poison war sickness dwell
sleep wake
death death die.

Không tệ lắm một bài thơ trung học đệ nhị cấp, tự nhiên đầy những sáo ngữ, diễn tả nỗi lo lắng tuổi trẻ và mảnh vụn cảm xúc tôn giáo. Dĩ nhiên đó là phiên bản thực tập bài thơ “Death be not proud:” của John Donne; kịch tính đầy kinh ngạc của nhà thơ, tháo lui trước sự tiến tới lặng lẽ của kẻ thù, ném ra những tranh luận mâu thuẫn bất lực và hỗ tương, như ném đồ sành sứ, trong gọng kềm báo oán của ông. Donne đã làm hết mọi thứ bằng ngữ pháp:

Cái chết, chớ nên kiêu hãnh, cho dù vài người đã cầu ngươi đến|
Mạnh mẽ và kinh khiếp, bởi vì ngươi không là thế,
Đối với những người ngươi nghĩ rằng ngươi lật đổ
Chết không, Cái Chết tội nghiệp, ngươi cũng chưa thể giết tôi.
An nghỉ và ngủ chỉ là những hình ảnh cái chết của ngươi,
Nhiều lạc thú; từ anh phải tuôn trào nhiều hơn,
Và sớm nhất những người tốt nhất của chúng ta sẽ đi với ngươi,
Thân xác an nghỉ, và linh hồn được giao phó.
Ngươi là nô lệ của số mệnh, may rủi, các vua và bọn liều mạng,
Và với độc dược, chiến tranh, và bệnh hoạn cư ngụ,
Và thuốc phiện hay bùa mê cũng làm ta ngủ vậy
Và tốt hơn cả cú đánh của ngươi, thế thì tại sao ngươi vênh váo?
Một giấc ngủ ngắn đã qua, chúng ta thức mãi mãi
Và không còn cái chết nào nữa. Cái chết, ngươi sẽ chết.

Death, be not proud, though some have called thee
Mighty and dreadful, for thou art not so;
For those whom thou think’st thou dost overthrow
Die not, poor Death, nor yet canst thou kill me.
From rest and sleep, which but thy pictures be,
Much pleasure; then from thee much more must flow,
And soonest our best men with thee do go,
Rest of their bones, and soul’s delivery.
Thou art slave to fate, chance, kings, and deperate men,
And dost with poison, war, and sickness dwell,
And poppy and charms can make us sleep as well
And better than thy stroke, why swell’st thou then?
Out short sleep past, we wake eternally
And death shall be no more, Death, thou shalt die.

Chuỗi tiếp nối của bài thơ, của mệnh lệnh, những mệnh đề lệ thuộc, điều kiện, đại từ quan hệ, lối cầu khẩn, và những dấu mốc thời gian, kết thúc bằng một câu hỏi và một mệnh lệnh khác, tóm lược toàn thể thân bài của một phấn đấu tâm linh đã đặt chồng lên, suốt cả lịch sử dài của suy đoán thần học, và rồi xếp chồng lên với nhiều lớp châm biếm, tùy theo trường hợp của độc giả, người kể chuyện, nhà thơ, và Thượng Đế mà nhà thơ cố gắng phục vụ. Thứ tự hoàn thành của tam khoa có mặt: ngữ pháp, mà chúng ta đã khảo sát; lý luận, như đã được  minh họa bởi những mâu thuẫn đáng thương ở giữa bài thơ (ông chứng minh cái chết là tốt đẹp, rồi kinh tởm, rồi tốt đẹp, rồi lại kinh tởm), và tu từ trong nhiều trớ trêu và tác động cảm xúc đi từ sợ hãi, hợp lý hóa, hy vọng, và bất chấp. Và ngay cả khi chúng ta cho phép ngữ pháp có mặt, bài thơ chỉ là một chuỗi sáo ngữ của ‘các nhà truyền giáo’ mà không có hàm ẩn bi kịch và hàm ẩn chiều sâu tâm lý trong vở kịch lý luận và tu từ. Tôi đã mượn kỹ thuật của Donne trong bài trả lời của riêng tôi cho ông:

Gởi Donne trong Quan Tài

Cái chết không tự hào, mà kiên nhẫn. Hắn có thể đợi,
Vì thời gian, và xử trí, luôn luôn về phe hắn.
Sự khiêm tốn của cái chết nổi tiếng trong tranh luận,
Kẻ chiến thắng bởi số mệnh không cần đến kiêu hãnh.

Hãy để người thua cân nhắc cái gì họ có trong tay,
Cái gì còn lại của thời gian và sinh lực:
Không cần nhắc đến họ đứng nơi nào!—
Rồi họ sẽ nghiêng chào điều tất yếu.

Thật vậy, tại sao lại mếch lòng trước khốn cùng của họ?
Cái chết sẽ vỗ vai khi họ đến nơi.
Có thể tệ hơn thế – tệ hơn đấy là không có trí khôn –
Ít ra họ biết không thể còn chống cự.

Cái chết cho phép chúng ta giữ kiếm của mình và để ý đến thái độ của hắn,
Ngã mũ đen của hắn trong lúc chúng ta hạ cờ.

Death is not proud, but patient. He can wait,
For time, and tact, are always on his side.
Death’s humbleness is famous in debate,
The fated winner has no need for pride.

Let losers ponder what they have in hand,
What still remains of time and energy:
No need of a reminder where they stand!—
They will soon bow to the necessity.

Indeed, why take offence at their distress?
Death pats them on the back when they come around.
It could be worse – worse would be witlessness—|
At least they knew they could not hold the ground.

Death let us keep our swords and mind his manners,
Doffing his black hat as we strike our banners.

(Light: A Quarterly of Light Verse 56-57 (Spring-Summer 2007) p.61)

Theo Donne, tôi trông cậy một cách đích xác vào những đặc ngữ và khẩu hiệu thường bị chỉ trích trong các lớp thực tập: “time is on his side,” “famous in debate,” “no need of a reminder,” “have in hand,” “why take offence,” “pat on the back,” “come round,” “it could be worse,” “hold the ground,” “keep your sword,” “mind your manners,” “doffing his hat,” “strike his banners.” Tôi nghĩ rằng cả bài thơ sẽ biến mất trong một thứ lớp thực tập như thế. Chính là ngữ pháp, lý luận và tu từ của bài thơ đã mang lại thứ đời sống nó có.

Có thể, hay hơn nữa, là cách dùng tài giỏi những clichés của Dana Gioia lấy từ văn hóa quảng cáo và phổ thông trong bài thơ “At the Waterfront Café”, trong cuốn Interrogations at Noon (Graywolf Press, p. 37). Sau đây là vài câu:

Cập bến bờ sông êm ả, những chiếc thuyền đong đưa dưới nắng
Trong khi thuyền trưởng ghé uống rượu pha và kể lại cuộc đua họ đã tham dự.
Binh lính trong quân phục ka-ki, chiếm đóng quán cà phê thời thượng.
Smirnoff (vodka) leng keng trong ly của họ. Không ai uống nước suối Perrier.

Trong bãi, người giúp đậu xe
Phơi nắng bên chiếc Mercedes bóng loáng
Cho đến khi có khách thúc dậy
Hỏi đường đến nhà vệ sinh nữ.

Trong khi đó ở bàn cạnh bến tàu, trinh khiết trong giày tennis trắng,
Suy tính cách nào ít ca lô ri nhất để cầm lòng thèm ăn của họ,
Hai hội viên Thanh Niên đẫm mồ côi, mệt rã sau trận đấu một chọi một.
Kiên cường họ chọn chén trái cây và một ly Haut-Brion.

Trong khi đó, tựa những nhà ngoại giao lớn
Với thanh lịch và nghệ thuật quản lý,
Từ những tàn tích của một bữa ăn trưa
Bồi bàn bới lấy tiền buộc boa của mình…

Docked beside the quiet river, yachts are rocking in the sun
While their skippers stop for cocktails to replay the race they’re run.
Military in their khakis, they invade the chic café.
Smirnoff tinkles in their tumblers. No one’s drinking Perier.

In the partking lot a valet
Sunbathes by a sleek Mercedes
Till he’s prodded by a matron
For directions to the Ladies’.

Meanwhile at a dockside table, virginal in tennis whites,
Figuring the least caloric way to staunch their appetites,
Sit two sweaty Junior Leaguers, wilting from their one-on-one.
Stoically they choose the fruitcup and a glass of Haut-Brion.

Meanwhile like great diplomats
With elegance and statesmanship,
From the ruins of a luncheon
Waiters excavate their tip…

Sự pha chế âm tiết nhấn không nhấn (trochaic) tinh tế này sẽ vô khả thi nếu không có đầy đủ các phương kế Tam Khoa. Gioia biết các thứ gọi là gì, sắp xếp chúng lại với độ chính xác hợp lý một cách đâu ra đó, và phân phối cho chúng sự dồi dào cảm xúc và thái độ tinh tế phức tạp một cách tu từ. Sẵn đây, kết cuộc bài thơ hoàn toàn ngược lại bất cứ mong mỏi nào cho rằng bài thơ này chỉ trích bọn nhà giàu theo đúng tiêu chuẩn chính trị phải đạo (politically-correct):

Nhưng đêm nay tôi hy vọng họ sẽ phồn vinh,
Họ có nông cạn không? Mặc kệ.
Ghen tuông thì quá sức bình thường,
Phong cách và nét đẹp quá sức hiếm hoi.

But tonight I hope they prosper,
Are they shallow? I don’t care.
Jealousy is all too common,
Style and beauty much too rare.

Ta thử lấy vài thí dụ ngẫu nhiên viết bởi các nhà thơ đương đại có để ý đến các phương kế Tam Khoa:

Giờ thì tôi sẽ định nghĩa tình yêu chân thật.
Đừng lo – tôi sẽ không nhu nhược hay mềm yếu, đấy sẽ không
Là một đống tào lao ủy mị. Tôi không
Miêu tả nó bằng biểu tượng an bình. [turtle-dove: symbol of peace]
Cho tôi một cơ hội. Nó sôi bọt lên
Loại dung nham đó, quá nóng để sờ hay biết,
Bởi vì nó vừa đốt vừa tạo ra. Chỉ nên nhìn nó đi
Qua những con đường nhỏ của điều chúng ta nói
Chúng ta nghĩ rằng mình biết mình là đấy.

(trích từ bài thơ “What Love Is” của David Rothman trong The New Formalist, tháng 4, 2011)

Cụm từ “the little roads of what we say/We think we know we are” dùng nguyên cả nghĩa rộng của tính đệ quy đối với Chomsky chỉ định tính đặc thù của ngữ pháp nhân loại, để nói đến một thứ gì đó không thể nói được. Chúng ta thứ gì đó; có lẽ chúng ta biết mình là cái gì; ít ra chúng ta nghĩ rằng mình biết; hay có thể chúng ta chỉ nói rằng chúng ta nghĩ vậy, nhưng không thể chắc được rằng mình thật sự có niềm tin đó. Và rồi ông dẫn dung nham chảy qua suốt cả cơ cấu (bài thơ).

Hay thử lấy những câu này trong “The Stone Mason” của Jan Schreiber:
Và từ từ thứ ấy thành hình,
nhận lấy thể hình mà ông nói ông đã làm để dựng ra
mặc dù chi tiết ẩn chứa vài ngạc nhiên nào đó
và có những chỗ ông nói rằng ông đã thất bại.

And gradually the thing materializes,
assumes the shape he’d say he worked to build
although the details harbor some surprises
and there are places where he’d say he failed.

(trong The Poem Tree: An Online Poetry Anthology http://www.poemtree.com/poems/StoneMason.htm)

Giống như Rothman, ông đùa với sự khác biệt giữa “worked to build that shape” và “say he worked to build that shape,” và thêm vào đấy sự mơ hồ của “would” trong những cụm từ lập lại “he’d say.” Có phải ông luôn luôn có thói quen nói rằng (“would say”) đấy là cố tình, hay dĩ nhiên đấy là ông “would say”, hay phải nhìn nhận rằng toàn thể thứ đó ít nhiều được thành hình bởi ngẫu nhiên và hoàn cảnh – hay đấy là trong lúc xây dựng ông quyết định rằng bản tường trình tương lai của mình về công việc mà ông sẽ giải thích (“would say”) nó bằng cách này và cách này?

Mù mờ thường được khen ngợi bởi những thầy dạy sáng tác văn chương thích hủy cấu trúc hơn. Nhưng những mù mờ này hoàn toàn khác với những mù mờ của bản văn mà tác giả hay độc giả hoặc cả hai, không hiểu được vì nó không có hình dạng ngữ pháp, lý luận hay tu từ. Đó là sự khác biệt giữa một hình ảnh đích thực của đám mây, một mù mờ thật sự, và ảnh mây phủ và không phân biệt được của thứ gì đó – và như vậy là giả mạo – với hình dạng rõ ràng của chính nó. Sự nhầm lẫn này dẫn đến vô số đối tượng ngôn ngữ khó khăn một cách khổ sở tuôn ra đầy trong báo chí thi ca của chúng ta.

Cách sử dụng toàn thể nghệ thuật ngôn ngữ truyền thống có thể được cập nhật hóa một cách năng nổ, như bài thơ mười bốn câu hơi bầm dập như Frederick Feirstein cho thấy, nắm bắt một hồi tưởng chắc chắn là sau-9/11:

As Time Goes By

Đấy là thời đại vàng son chúng ta sống.
Mỗi ngày là mùa hè, tình yêu khắp nơi,
Trong từng mỗi phân tử của khí trời New York
Khi chúng ta trẻ và chỉ tin chính mình.
Đó là thời đại hào quang chúng ta sống.
Mùa hè cuối thế kỷ hai mươi, tình yêu khắp nơi.
Tôi sẽ dừng cạnh em giữa lúc tản bộ để sững nhìn
Em, mua một trái đào, trèo lên bậc thang xe buýt.
Và có những chữ nhưng, nhưng luôn luôn và & và
Ngồi ở công viên Central, viết nguệc ngoạc lên tay nhau,
Và tôi đọc những bài thơ, thứ tiểu thuyết giản dị của mình
Trong vận, vần và lối phát âm của thành phố New York.
Khi chiều dần tàn chúng ta sẽ giữ nụ hôn sậm màu.
Khi buồn, em phải nhớ đến đây.

That was a golden age in which we lived.
Each day was summer, love was everywhere,
In every molecule of New York air
When we were young and just believe in us.
That was a haloed age in which we lived,
Late twentieth-century summer, love was everywhere.
I’d stop beside you on our walks to stare
At you, buying a peach, climbing a bus’s stair.
And there were buts, but always and & and
Sitting in Central, doodling each other’s hand,
And I recited poems, my simple fiction
In meter, rhyme and New York City diction.
As dusk drew near we’d hold a darkening kiss.
When you’re distressed, you must remember this.

(Dark Energy, Grolier Established Poets 2013, p.70)

Lý lẽ của bài thơ này nằm trong sự hồi nhớ thập niên 80, lúc Feirstein nhớ lại, tự chính nó là lúc hồi tưởng, nhớ lại thập niên 60; và thời sùng bái việc hồi tưởng thập niên 40 bắt đầu, mỉa mai thay đã được cất giữ thiêng liêng trong phim Casablanca. Đây là hồi tưởng cho một hồi tưởng cho một hồi tưởng, và tự giễu cợt mình đã làm thế. Dĩ nhiên cả bài thơ đẫm trong âm nhạc của bài hát tựa đề; như vậy Fred và Linda, trong khi đóng vai Bogart và Bergman ở Paris, cũng hoàn toàn xác thực với nhau cùng lúc đó. Lý luận của bài thơ rằng tu từ – tu từ của ám chỉ so sánh – là cách con người sống trong đời sống thật của họ. Chỉ có bên trong cái ma trận mạnh mẽ này của tham khảo văn hóa và thái độ đa cảm gượng gạo mà một câu ngữ pháp tuyệt diệu lạ lùng như thế này mới có thể bất thần chú trọng vào ý nghĩa sâu thẳm nhất:

Và có những chữ nhưng, nhưng luôn luôn và & và.

Thật vậy, không có ý tưởng gì hết nhưng có các thứ!

Trong “Mr. Entropy Meets the Weak Anthropic Principle” của Jack Butler (Broken Halleluhah, Texas Review Press, 2013, p. 58), Butler xoay sở để cô đọng trong mười bốn câu Petrarchan toàn thể lịch sử của vũ trụ; và khảo sát cặn kẽ cho thấy cách nào ông làm được như thế, bằng một xâu thay đổi ngữ pháp và tu từ về véc tơ dòng hay nhấn lệch (syncopation).

Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
như những con nòng nọc trong một hồ cạn nước mưa,
như những con chuột túi trên cánh đồng lóe lửa.
Không có gì biến thành tốt hơn mà không trở nên xấu hơn,
Chính lục địa này, đã giảm rút, sẽ buộc
Khối lượng kinh khiếp của nó thành đá nhão một lần nữa,
Những dãy ngân hà này sập đổ vào lỗ cống đen.
Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
Và nếu nó không chết, chúng ta cũng không tồn tại:
Đời sống hiện hữu trong bao bọc nhỏ nhất,
Từ năng lực tăng nhanh đến khả năng vỡ vụn.
Chất thải của những gì rục rã dựng chúng ta lên.
Tàn rụi của các sao tạo ra trái đất nặng nề này.
Chúng ta chết, và một thứ mới lạ nào đó sinh ra.

We’re born into a dying universe,
like tadpoles in a drying pool of rain,
like pocket gophers on a flaring plain.

Nothing is getting better that won’t be worse.
This very continent, subducted, will force
Its shuddering mass to magma once again,
These galaxies collapse in a black drain.

We’re born into a dying universe,
And if it weren’t dying, we wouldn’t be:
Life catches in the smallest envelope,
Quickens to broken possibility.
The waste of what runs down propels us up.
The ruin of novae made this heavy earth.
We die, and something novel comes to birth.

Bằng cách chia cấu trúc tự nhiên 4-4-3-3 của mười bốn câu Petrarchan ra 3-4-7 ông đã bẻ gãy tính cân xứng của hình thức, giống như thiên nhiên trong thơ của ông bẻ gãy những cân xứng của chính nó để tạo ra những cấu trúc mới. Trong hai đoạn đầu, chúng ta có thể đọc được ý nghĩa qua hai cách – cách ông phân chia ngữ pháp, hay tùy theo phối hợp của vần, như vầy:

Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
như những con nòng nọc trong một hồ cạn nước mưa,
như những con chuột túi trên cánh đồng lóe lửa:
Không có gì biến thành tốt hơn mà không trở nên xấu hơn.
Chính lục địa này, đã co rút, sẽ buộc
Khối lượng kinh khiếp của nó thành đá nhão một lần nữa,
Những dãy ngân hà này sập đổ vào lỗ cống đen:
Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết.

 Nhưng nếu chúng ta đọc kiểu này, khi đến chỗ ngoặt (volta) truyền thống, hay đổi hướng của bài thơ, chúng ta nhận ra mình đã phá vỡ một mảng cốt yếu của ngữ pháp và lý luận, mà với chúng, câu ấy phải được đọc như sau:

Chúng ta được sinh ra trong một vũ trụ đang chết,
Và nếu nó không chết, chúng ta cũng không tồn tại:

Ở đấy Butler đối mặt chúng ta với một mù mờ và phân độ ngữ pháp chính xác: câu này có nghĩa “và nếu vũ trụ không chết, chúng ta cũng không chết” hay “và nếu vũ trụ không chết, chúng ta hoàn toàn không hiện hữu, vì chúng ta sẽ không thể có mặt”? Nhưng đến đây thì điều này không còn là nghịch lý nữa: như Neils Borh đã nói, đối nghịch với một sự thật sâu xa là một sự thật sâu xa khác.

Một cách tự nhiên hai câu kế tiếp giới thiệu chúng ta vào nguồn gốc của đời sống và sự sinh ra của nó trong “khả năng vỡ vụn”. Đến đây, ba câu cuối đóng màn nhào lộn của riêng chúng, đổi từ một kết cuộc Petrarchan qua cặp đôi kiểu Shakespeare (couplet), và tổng kết bằng một cái nện mạnh vào ý nghĩa của toàn thể bài thơ: từ điêu tàn của “các ngôi sao” hiện ra thứ “mới lạ.”

Nói một cách khác, một trong những ích lợi của cách dùng rất chính xác ngữ pháp, lý luận và tu từ là cách ngắt tinh tế trong chúng, những bùng nổ khổng lồ của ý nghĩa có thể được tạo ra. Và tôi không chắc rằng những bùng nổ như thế có thể xảy ra bằng cách nào khác hơn.

Lối sử dụng chính xác cấu trúc ngữ pháp, lý luận và tu từ không phải chỉ là một bài tập thông thái của trí tuệ hay cách hay nhất để đề xuất nghịch lý siêu hình học hay điều bí ẩn: nó cũng có thể là một vũ khí tiềm tàng của diễn tả cảm xúc. Hãy xem xét bài thơ mười bốn câu của Shakespeare (57):

(chúng tôi tạm dịch theo nghĩa đen. Bài thơ này được biết đến là Will – Shakespeare – viết cho một người bạn trai trẻ. Độc giả có thể tìm hiểu nhiều hơn về các bài sonnets của Shakespeare trên mạng).

Là nô lệ của anh, tôi nên làm gì ngoại trừ chờ đợi
bất cứ giờ nào khi anh muốn bất cứ gì?
Tôi không có gì để làm với thì giờ quý báu của mình,
Cũng không có dịch vụ nào khác, cho đến khi anh cần.
Tôi cũng không dám trách móc giờ giấc chậm chạp
Khi tôi trông đồng hồ đợi anh.
Cũng không cay đắng nghĩ đến sự vắng mặt của anh
Khi anh bỏ đầy tớ của anh (là tôi);
Cũng không dám hỏi với ý nghĩ ghen tuông của mình
Nơi nào anh có thể đến, hay đang làm gì,
Nhưng y như một nô lệ buồn bã, tôi chờ đợi và không nghĩ đến gì cả,
Những người chung quanh anh vui sướng ra sao.
Tình yêu đúng là một thằng khờ, trong bất cứ hành động nào anh muốn
Bất cứ gì anh làm, hắn vẫn không nghĩ xấu về anh.

Being your slave, what should I do but tend
Upon the hours and times of your desire?
I have no precious time at all to spend,
Nor services to do, till you require.
Nor date I chide the world-without-end hour
Whilst I, my sovereign, watch the clock for you.
Nor think the bitterness of absence sour
When you have bid your servant once adieu;
Nor dare I question with my jealous thought,
Save, where you are how happy you make those.
So true a fool is love that in your will
Though you do anything, he thinks no ill.  

Cái tài hoa của bài thơ này là thông điệp xúc cảm đích xác đối nghịch với ý nghĩa công khai của nó. Lập đi lập lại chữ “cũng không,” (nor) lên đến nơi cao nhất mà trong đó Will chơi chữ với chính tên ông và tự gọi mình là một thằng khờ, biến những câu từ “Tôi không có gì để làm với thì giờ quý báu của mình” đến “Những người chung quanh anh vui sướng ra sao.” trong một câu đơn lẻ. Đấy hẳn hòi rõ ràng là bảng ghi chép những việc làm xấu hổ mà bà vợ đưa cho ông chồng lầm lỗi xem, bảng kể tội cách  nào mà bà không phiền hà chi hết khi ông đối xử với bà như thảm chùi chân. Nhưng trong trường hợp này thì còn có con dao xúc cảm đổi chiều xa hơn nữa: Shakespear biết rất rõ rằng khi dùng đến đòn tống tiền rẻ tiền loại này ông đang tự làm giảm giá trị của mình và rằng người yêu mến, khi đặt ông vào một vị trí như thế đó, đã chấn thương ông thêm một lần nữa.

Để tôi lấy một thí dụ khác, cho thấy ích lợi của Tam Khoa – thí dụ này lấy từ thơ thông dụng rất hay trong thời đại chúng ta.

Để tôi đưa anh đến
Vì tôi cũng đang tới
Strawberry Fields
Không có gì là thật cả
Và không có gì để lo lắng cả
Strawberry Fields mãi mãi.

Let me take you down
Cause I’m going to
Strawberry Fields
Nothing is real
And nothing to get hung about
Strawberry Fields forever.

(http://www.azlyrics.com/lyrics/beatles/strawberryfieldsforever.html)

Tiếng Anh, cũng như tiếng Trung hoa, là ngôn ngữ có sắc điệu, đấy là, sắc điệu của một âm, xác định rõ ràng hay thay đổi ý nghĩa của  một câu. Không giống tiếng Trung hoa, nơi mà âm giọng xác định nghĩa từ vựng của một chữ, trong tiếng Anh, âm giọng có thể xác định lý luận và ngay cả ám chỉ ngữ pháp của nó. Và trong lúc làm như thế nó có thể ảnh hưởng sâu xa đến ngụ ý tu từ của câu. Một thí dụ đơn giản có thể làm điều này rõ ràng hơn: thử lấy câu “Con chó cắn anh ta.” Ở đây “con chó cắn anh ta” (nhấn mạnh và lên giọng) trả lời những câu hỏi như “Phải con mèo cắn anh ta không?” và bằng với “Đấy là con chó cắn anh ta.” “Con chó cắn anh ta” (nhấn mạnh và lên giọng” trả lời cho, thí dụ, câu hỏi “Nó cắn hay nó cào?” và ngang bằng với “Cắn là nó cắn.” Tương tự, “con chó cắn anh ta” trả lời câu hỏi về ai là nạn nhân. Rồi  nếu âm giọng hạ thấp hơn với nhấn mạnh, ta có thể ám chỉ rằng dĩ nhiên đó là con chó cắn anh ta, hay dĩ nhiên đó là cắn, hay thứ gì khác như “dĩ nhiên chó không bao giờ cắn đàn bà.” Rồi nếu cả câu được phát âm với giọng cao, nhưng âm cuối  cao hơn một chút, nó liền biến thành một câu hỏi.

Điều mà vận luật – và nhạc trong một bài hát – có thể làm được là giúp phân định rõ âm sắc nào được dùng, hoặc ngay cả như trong “Strawberry Fields,” gợi ý và kiểm soát những mơ hồ mạnh mẽ đầy ý nghĩa. “Để tôi đưa anh đến/đi” là một đặc ngữ trả lời một yêu cầu, như “Làm cách nào để tôi đến Strawberry Fields,” và trong chuyện trò bình thường, chỗ  nhấn sẽ trên chữ “take” (đưa) – người nói không phải chỉ đường cho người hỏi, mà đưa hắn đến đó. Lennon dừng lại ở chỗ này trước khi tiếp tục, ám chỉ rằng câu kế tiếp không là “bởi vì tôi đang đi đến Strawberry Fields,” sẽ là trùng lặp, vì người kia đã hỏi đường đến đó. Cho nên câu kế tiếp thực sự là “bởi vì tôi cũng đến đó,” và nhạc nhấn mạnh nơi “cũng,” thích hợp với lối đọc đó. Tôi đưa anh đi bởi vì tôi cũng đến đó, hoặc là ít ra, tôi mới vừa quyết định rằng đấy là nơi, sau cùng mà nói, thì tôi thật sự muốn đến. Giờ, còn lại chữ “Strawberry Fields” như dấu chấm than ngờ vực, “Strawberry Fields??”, tách rời khỏi câu trước theo ngữ pháp. Đấy là, như khung nhạc cố tình nhấn vào, một tiếng thở dài! – một tiếng thở dài ám chỉ một thứ gì như “tại sao quá lâu rồi tôi không nghĩ đến chỗ đáng yêu đó?” Và giờ thì nó dẫn đến một lẩm bẩm trầm ngâm bên trong về thực tại của nơi đó, hay thực tại của bất cứ nơi nào, và không lo lắng vì đến đó hay lo lắng về nó. Đoạn thơ, lấy hết can đảm, có thể nói như vậy, kết thúc bằng một cổ vũ luyến tiếc nửa-như-châm-biếm nhưng chua chát, thể như lời khuyến khích ta nói với đội thua trận mà mình ủng hộ: Strawberry Fields mãi mãi!” Giờ thì chỗ nhấn lại khác đi: “fields” giờ là hai âm, nguyên âm đôi biến thành một kiểu như nức nở, toàn thể thành ngữ là một tuyên bố ngang ngạnh trả lời câu hỏi nguyên thủy, “Strawberry Fields?”

Sự pha trộn to lớn đậm đặc chữ nghĩa và cảm xúc đầy kịch tính, bất kể Lennon có gọi như thế không, đã được làm ra bởi cách sử dụng nghệ thuật Tam Khoa. Như vậy, chúng ta chớ nên tìm cách ngăn cấm chúng trong thơ của mình.

Translate by Điểm Thọ | Nguyên tác: The Poetic Energy of the Trivium
  1. Đặt theo tên nhà toán học thế kỷ mười chín George Boole, Boolean logic là một thể thức toán đại số, trong đó mọi giá trị đều được giảm xuống chỉ còn là Đúng hay Sai. Boolean logic rất quan trọng trong ngành tin học bởi vì nó thích hợp với hệ thống nhị phân, mà trong đó mỗi bit chứa số 1 hoặc số 0. Nói một cách khác, mỗi bit có giá trị Đúng hoặc Sai mà thôi. Bit là đơn vị thông tin trong hệ thống nhị phân.
  2. Fuzzy logic là một cách tiếp cận khác trong tính toán dựa trên “mức độ sự thật” thay vì bình thường “Đúng hay Sai” (1 hoặc 0) của Boolean logic, mà máy tính hiện đại dựa vào. Ý tưởng fuzzy logic đã đượ đề xuất bởi Dr. Lotfi Zadeh, đại học Universersity of Berkeley trong thập niên 1960.
  3. Trong bài Sonnet số 135 của Shakerspeare, No Fear, người kể tên là Will, nhưng người đàn bà ông ta nói tới cũng có người yêu khác tên là Will. Trong bài thơ này chữ “will” được dùng tới 13 lần, ám chỉ”William”, “sự ham muốn tình dục”, “dương vật”, “âm vật”, tùy theo ngữ cảnh, và thường thì, có nhiều ý nghĩa hơn cả những điều đã được đề cập tới. Đó là cách chơi chữ của chữ “will”.

 

Tranh: Piet Mondriaan, Rij bomen langs het Gein (Row of Trees Along the Gein), 1905