Trang chủ Blog Trang 24

VIRUS VŨ HÁN VÀ CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU

WHO says no need—yet—to declare spread of novel virus is an ...

VIRUS VŨ HÁN VÀ CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU / WUHAN VIRUS AND LOVE STORIES
Khế Iêm


Boris Leonidovich Pasternak (1890 – 1960) là một nhà thơ, nhà văn Nga, đoạt Giải Nobel Văn học năm 1958. Ông nổi tiếng thế giới với tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, tuy nhiên người Nga lại coi trọng nhất là thơ ca của ông. Olga Ivinskaya là biên tập viên ban thơ của tạp chí “Thế giới mới” là người tình của Boris Pasternak. Ông nói với bà, “Cuộc đời của anh, thiên thần của anh, anh yêu em”. Olga Ivinskaya đã trở thành nguyên mẫu của nữ nhân vật Lara trong tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago”. Lúc hai người gặp nhau, cô 34 tuổi, ông 56. Đối với Pasternak, điều quan trọng hơn hết là cô yêu ông không chỉ như một nhà thơ nổi tiếng, mà còn vì có ông hiện diện trên cuộc đời này.

Câu chuyện về mối tình của Pasternak đặt cho chúng ta một câu hỏi, “Thế nào là tình yêu?” Bài thơ có thể là một hình thái nghệ thuật, nhưng thơ ở trong tâm hồn, cũng như tình yêu, mang tinh thần lãng mạn, không hề liên quan tới tuổi tác, địa vị hay những giai tầng xã hội. Thế kỷ 20, thơ tự do Mỹ là thời đại của lý trí, nhưng bước qua thế kỷ 21, thơ trở về với thể luật, lập lại thời kỳ lãng mạn mới. Văn hóa làm nên con người, con người tạo ra nền văn minh nhân loại. Thơ tiêu biểu cho văn hóa vì vậy nền văn hóa càng cao, thơ càng sâu lắng, mang giá trị phổ biến. Còn tình yêu thì sao? Tình yêu cũng vậy, phải có sự hiểu biết mới có sự cảm thông. Pasternnak là nhà thơ, còn Olga là nhà biên tập thơ.

Trước hết, chúng ta nên tìm hiểu về con người. Con người hình thành bởi ý thức và vô thức, ý nghĩ và cảm xúc. Và khi ý nghĩ, được lọc qua bộ lọc tâm trí, căn cứ trên niềm tin tồn trữ trong tiềm thức, hòa trộn với cảm xúc, làm thành thực tại riêng biệt của chúng ta. Những bộ lọc tâm trí, mỗi người hoàn toàn khác nhau, vì những hóa chất dẫn truyền thần kinh, xung động điện năng và DNA tạo nên cá tính mỗi người mỗi khác. Thí dụ, khi nhìn vào những bức tranh của Vincent Van Gogh miêu tả méo mó thực tại, hoặc khi đối diện với một biến cố xảy ra, có người cảm thấy thương tâm, sợ hãi, bất lực … không ai giống ai. Những nhà tư tưởng, qua thời gian, đều cho rằng thực tại (thế giới) chúng ta biết, chỉ là ảo tưởng. Đúng ra, thực tại không phải là ảo tưởng, mà phiên bản thực tại của chúng ta mới là ảo tưởng. Chúng ta nhận biết thực tại không phải tự chính nó hiện hữu, mà qua những gì chúng ta muốn nó hiện hữu.

Trước thế kỷ 19, con người sống bằng tình cảm, thơ thể luật là dòng thơ của cảm xúc. Đến thế kỷ 20, khoa học kỹ thuật phát triển, con người nghiêng về lý trí, với thơ tự do, tập Lá Cỏ (Leaves of Grass) của Walt Whitman, 1856, chẳng hạn. Nhưng bước qua thế kỷ 21, con người lại trở về với thơ thể luật, bằng cách thay đổi cho phù hợp, không còn giống như thế kỷ 19. Như vậy, tình cảm con người cũng thay đổi theo từng thời đại, và theo thời gian.

Một biến cố bất ngờ, con Covid-19 xảy ra tại Vũ Hán, thủ đô tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Ở đây, chúng ta không đề cập tới vần đề chính trị, mà là những biến động mang tính xã hội. Kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng cao, con người phải đối mặt những khó khăn ngoài khả năng của họ. Không những thế, virus Vũ Hán cách ly mọi người, không ai được gần ai, ngay cả thân bằng quyến thuộc. Nhưng trong cái bất thường, chừng như vẫn có cái hơn cả bình thường. Virus Vũ Hán nói cho chúng ta biết một điều, tất cả mọi sự trên đời đều phù vân, chẳng mang một ý nghĩa nào cả. Vũ trụ có âm có dương, con người có tốt có xấu, virus Vũ Hán cho chúng ta biết mình là ai, giữa cuộc đời bất trắc. Mỗi người chúng ta cảm thấy cô đơn, nhưng vì thế mà luôn luôn khao khát tình người.

Sự đời nước mắt soi gương
Càng yêu nhau lắm càng thương nhớ nhiều

Câu ca dao dành cho những người đang yêu say đắm, thể hiện tình yêu qua sự thương nhớ nhau. Điều này đưa chúng ta tới một câu chuyện tình, khác với thời của Boris Pasternak.

Nếu cuộc tình giữa Boris Pasternak và Olga Vinskaya xảy ra vào tháng 10, 1046, thì cuộc tình mới xảy ra vào tháng 7, 2020. Nàng là bác sĩ chỉnh hình, còn chàng là một nghệ sĩ. Con Virus Vũ Hán thúc đẩy nàng tìm kiếm bạn bè trên Facebook, và nàng đã gặp chàng, cả hai trao đổi thông tin để tìm hiểu lẫn nhau. Bất ngờ tình yêu bộc phát. Theo Jesper, ánh sáng lóe ra trong nội tâm (flashes of insight) là những khoảnh khắc khi tâm trí được thư giãn, và không suy nghĩ theo phương pháp hay luận lý. Điều này có thể giải thích, khi thư giãn và để cho tâm trí đi lang thang, Thùy trán (Frontal lobe) rơi vào tình trạng ngủ tạm thời, giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc đưa ý tưởng từ tiềm thức vào ý thức và các ý tưởng mới sẽ xuất hiện. Đó là bước đến của tình yêu. Nhưng không phải ai cũng có được. Ôi, thần kỳ làm sao.

Nàng kể rằng, nàng đã ly dị chồng cũ, và đã tìm thấy người chồng mới là chàng. Nàng có cảm giác phấn khích, và tự hỏi tại sao một người phụ nữ như nàng lại hạnh phúc như vậy qua online. Nàng chợt nhận ra rằng khi yêu một người đàn ông, nàng yêu một cách mù quáng, không ai có thể làm thay đổi hoặc biến đổi tình yêu của nàng dành cho chàng. Trước khi gặp chàng, nàng luôn nhủ lòng, hãy bảo vệ bản thân khỏi sa vào tình yêu, tránh xa mọi hình thức quan hệ. Cuối cùng, bản tính lãng mạn đã làm nàng và chàng yêu nhau.

Nhiều người đàn ông trong mối quan hệ với phụ nữ thường nói lời đầu tiên, “Anh yêu em”. Phụ nữ lãng mạn hơn, nhưng khi đã thiết lập được cảm xúc về nhau, hay nói “Em yêu anh” thường xuyên hơn, và “người đàn ông [bị hấp dẫn bởi phụ nữ] có thể dễ dàng yêu từ xa”, theo Jonathan và David Bennett. Trong lịch sử văn học, âm nhạc và điện ảnh, chủ đề đa số là tình yêu. Những tác phẩm nổi trội, thời Phục hưng, với vở bi kịch “Romeo and Juliet” của William Shakespeare, và tiểu thuyết tình yêu của nhà văn thời hiện đại người Colombia, “Love in the Time of Cholera” (Tình yêu thời thổ Tả), tiểu thuyết của nhà văn Gabriel García Márquez.

Để kết luận, xin trích đoạn kết trong lá thư của nàng, “Lần đầu tiên em nghe anh nói câu: Anh yêu em; nó giống như một gánh nặng đã được trút khỏi vai em. Em nghe nhưng sợ hãi. Em muốn nghe nhiều lần cho đến hết đời từ anh. Anh đã mở ra cánh cửa mới và thú vị cho chúng ta, mà em không thể chờ đợi để khám phá cùng anh. Khi em cảm nhận được sự đụng chạm của anh, trái tim em tan chảy, và tâm hồn em rực cháy, với mong muốn được ôm anh và hôn anh. Anh đã trở thành người bạn tốt nhất của em, và là người yêu của em.”

Nếu như thế thì mọi chuyện kể như ổn thỏa. Nhưng nàng lại muốn người yêu trở thành chồng của mình. Còn chàng, với tâm tư của một nghệ sĩ, chàng chỉ muốn có một tình yêu trong cảm xúc. Mà tình yêu đúng nghĩa phải là tình yêu dang dở. Vì vậy, chàng muốn yêu nàng, và không muốn nàng yêu chàng. Chàng tỏ tình với nàng, chỉ để giúp nàng vượt qua nỗi cô độc sau cuộc ly hôn, bằng cơn sóng tình trong thoáng chốc, rồi tìm người tái hôn. Điều chàng muốn có đúng không, hay lại làm tổn thương nàng thêm một lần nữa? Chừng như chẳng một ai đúng, vì thế mà đầy rẫy khổ đau trong cuộc đời này.

Cuối cùng, đó là câu chuyện về một cuộc tình tan vỡ. Nàng là ai? Chàng không biết. Tất cả chi tiết về cuộc đời nàng, mà nàng nói với chàng, chàng không sao kiểm nghiệm. Nhưng chàng vẫn tin nàng là người yêu trong trí tưởng tượng của chàng. Diễn biến câu chuyện quả có tình có lý. Tất nhiên, đó chỉ là một trong những sự cố lạ lùng, giúp tôi viết nên câu chuyện có thật này, để giải khuây trong chốc lát. Virus Vũ Hán kinh khủng quá, nó làm biến dạng con người, và cảnh báo chúng ta, không nên tin tưởng vào tình yêu chân thành, của bất kỳ ai.

Thursday, 7/23/2020

Boris Leonidovich Pasternak (1890 – 1960) was a Russian poet and writer who won the Nobel Prize for Literature in 1958. He is world famous for his novel Doctor Zhivago, but Russians place most of his importance on poetry. Olga Ivinskaya, the poetry editor of “The New World” magazine, was Boris Pasterak’s lover. He told her, “My life, my angel, I love you.” Olga Vsevolodovna Ivinskaya became the prototype of the female character lead in the novel Doctor Zhivago. By the time they met, she was 34 years old, and he was 56. For Pasternak, the most important thing was that she loved him not only as a famous poet but also because he was present in her life.

Pasternak’s love story asks us a question, “What is love?” The poem may be an art form, but the poem is also in the soul, along with Love, which has a romantic spirit, not related to age, status, or social strata. In the 20th century, American Free Verse poetry was made in an era of reason, but, in the 21st century, poetry has returned to regulation, re-establishing a new romantic period. Culture, of course, makes people, while people create civilizations. Poetry is a typical product of culture, so the higher the culture, the deeper the poetry is, and the more popular it is as well. But what about Love? Love, too, must produce an understanding to establish sympathy. Yet, Pasternak was a poet, and Olga was a poetry editor.

First of all, we should learn about people. People are formed by consciousness and unconsciousness, thoughts and emotions. And, then opinion filtered through the filter of the mind, is based upon beliefs stored in the subconscious, blended with emotions, making our separate reality. The mind filters are different for everyone because neurotransmitters, electrical impulses and DNA create different personalities. For example, if we examine Vincent Van Gogh’s paintings as distorted reality, or if faced with a difficult incident, a person will feel pitiful, scared or helpless … as nobody resembles anyone else. Still, the thinkers, over time, think that the reality (the world) we know is just an illusion. Reality is not an illusion, but our original version is an illusion. We perceive reality not as being itself but through what we want it to exist.

Before the 19th century, people lived according to emotions, with poetic lines of formal poetry written according to feelings. By the 20th century, science and technology had so developed that people leaned increasingly toward reason, including Free Verse poetry, such as the collection Leaves of Grass (Lá Cỏ) by Walt Whitman (1856). But, in the 21st century, people have begun to return to more poetic forms by changing accordingly, although these forms are no longer like the 19th century forms. Thus, human emotions have also been amended from time to time and over time as well.

An unexpected incident, COVID-19 emerged (apparently) in Wuhan, capital of Hubei Province, People’s Republic of China. Here, we are not talking about political issues but about social changes. People are facing difficulties – economic recession, rising unemployment – beyond their capabilities. Not only that, but the Wuhan virus also isolates people; no one can be near anyone, even relatives. But, in the usual way, it seems that this is more than reasonable. The Wuhan virus tells us one thing: everything in the world is frivolous and has no meaning. The universe is composed of yin and yang. People are good and evil. The Wuhan virus tells us who we are amid this life, full of uncertainty and suffering. Each of us feels lonely, but, because of that, we are always yearning for human Love.

Life’s tears mirror
The more you love each other, the more you miss them

This folk verse is for those who love passionately, expressing their Love through the Love of each other. This brings us to a love story, different from that of Boris Pasternak.

If the love affair between Boris Pasternak and Olga Vinskaya happened in October 1946, a new affair has emerged in July 2020. She is an orthopedist, and he is an artist. The Wuhan Virus pushed her to find friends on Facebook, and she met him, both exchanging information to get to know one another Unexpectedly, Love broke out. According to Jesper, “flashes of insight are moments when the mind is relaxed and does not think methodically or logically. This may explain why, when relaxing and letting the mind wander, the frontal lobe falls into the state of temporary sleep, making it easier for us to bring ideas from the subconscious into the conscious. New ideas will appear.” That is the step of Love. But not everyone has taken this step. Oh, how miraculous it is.

She said that she divorced her ex-husband and found her new husband. She felt excited and wondered why a woman like her could be so happy online. She suddenly realized that, when she loved a man, she loved blindly; no one could change, or alter her Love for him. Before meeting him, she always told herself to protect herself from falling in Love, away from all forms of relationships. In the end, the romantic nature made them fall in Love.

Women are more romantic, and, when they have established their feelings for another, they say, “I love you” more often, and “men [attracted to women] can easily fall in love from afar,” according to Jonathan Bennett and David Bennett. In the history of literature, music and cinema, the themes are mostly about love. Outstanding of the Renaissance, such as the tragedy Romeo and Juliet by William Shakespeare, and the love novels of the modern colonial era, such as Love in the Time of Cholera by Gabriel García Márquez.

To conclude, please consider the quote at the end of the letter: “The first time I heard you say: I love you, it was like a burden that had been taken off my shoulder. I heard but was scared. I want to hear it many times until the end of my life with you. You have opened a new and exciting door for us, which you cannot wait to explore with me. When I felt your touch, my heart melted, and my soul burned, wishing you would hold me and kiss me. You have become my best friend and my lover.”

If so, then everything is okay. But she wanted her lover to be her husband. And he, with the mind of an artist, just wanted to have a love filled with emotions. But true Love must be unfinished Love. So he tried to love her and didn’t want her to love him. He confessed to her, only to help her overcome loneliness after her divorce, with a brief wave of Love, to find someone else so she could remarry. Was what he wanted was right, or did he hurt her one more time? It is as if no one was right, so full of suffering this life is.

Finally, that is a story about a broken Love. Who is she? He did not know. All the details of her life, which she told him, he could not test. But he still believed that she was a lover in his imagination. The evolution of a story makes sense. Of course, it was just one of those strange incidents which helped me write this true story, for a moment of solace. The Wuhan virus is so horrible. It deforms humans and warns us not to trust anyone, even the most sincere Love.

Thursday, 7/23/2020

 

 


Translated  from Vietnamese to English by Dr. William B. Noseworthy.
Dr. William B. Noseworthy, phó giáo sư tiến sĩ sử học, đại học Wisconsin, Madison, Hoa kỳ.

 

CHỦ NGHĨA TOÀN THỂ HÌNH THỨC MỘT TUYÊN NGÔN – ANNIE FINCH

Sau đây là những mong muốn của chúng tôi:

1. Tính vật thể (Physicality) 

Chúng tôi mê điên những bài thơ dồn tuôn máu, chuyển động vào ba chiều kích bằng những thiết yếu nội tại của hình thức chúng, vốn biết những dạng thức và tiết điệu dai dẳng mà thế giới bảo lưu.

2. Tính thẩm thấu (Permeability) 

Chúng tôi đói ham thứ thi ca chuyển động tự do giữa các trường phái, những văn hóa, những truyền thống, và những kỉ nguyên của thi pháp và được nuôi dưỡng bằng những ảnh hưởng tranh chấp.

3. Cấu trúc (Structure) 

Chúng tôi thèm thuồng những bài thơ phản ánh hoặc khúc xạ những dạng thức trong tay nghề của chúng, chúng xây dựng những hình dạng riêng hoặc lạ lẫm hoặc dễ dãi, chúng thách thức và thăm dò dạng thức không thân quen và đồng thời cũng tán thưởng và bảo trì cái thân quen.

4. Thân thuộc (Kinship) 

Chúng tôi muốn những bài thơ vươn ra ngoài cũng như rướn vào trong. Chúng tôi ham thứ thi ca đánh dấu và lưu dấu trên những sự kiện thời vụ của con người. Chúng tôi mong muốn những bài thơ chuyên chở và kết nối với dục vọng.

5. Tính liên tục (Continuity) 

Bất đồng không phải là hạ sát, và những chọn lựa khác nhau có thể mang nghĩa bất đồng. Chúng tôi đề kháng khuôn mẫu mang tính phức cảm Oedipius của truyền thống và đói ham thứ thi pháp bền vững, cũng như khám phá.

6. Huyền nhiệm (Nystery) 

Chúng tôi hân hoan là những tuyên ngôn sẽ chẳng bao giờ chứa giữ thi ca. Chúng tôi có một mong muốn cuồng dại đối với thi ca gìn giữ một điều gì mà chúng tôi không thể hiểu nổi.

Tại buổi kết thúc dự án trong tám năm đồng biên tập cuốn: Tán dương hình thức: Những nhà thơ đương đại ăn mừng sự đa dạng của nghệ thuật (An Exaltation of Forms: Contemporary Poets Celebrate the Diversity of Their Art) – Ấn quán Đại học Michigan, 2002, Katherine Varnes và tôi vẫn còn bất mãn do một số của cùng những tình huống đã khởi đầu dẫn tới cuốn sách ấy: những cuộc chiến giành đất giữa các nhà thơ, sự phân cách của những chiến lược về hình thức và những tương quan khuôn sáo giữa những thủ thuật hình thức của bài thơ và những cam kết chính trị và triết học của nó. Gặp nhau để ăn mừng việc xuất bản tuyển tập trên, chúng tôi hai đứa nguệch ngoạc bản sơ thảo của tuyên ngôn này trên một tờ giấy ăn trong một quán lau ở tiểu bang New Orleans, Hoa Kỳ.   

THÂN THỂ CỦA THƠ (THE BODY OF POETRY) 
(Luận văn về phụ nữ, hình thức, và tự thân thi ca)  

Kể từ chủ nghĩa Lãng mạn, vận động thống ngự của thơ đã bao gồm một sự thúc đẩy liên tục để vượt thoát khỏi sự giới hạn thể hình minh định của nghệ thuật, từ sự tháo gỡ của Wordsworth về ngôn từ ‘thi ca’ để ưa chuộng một ngôn ngữ của ‘một người nói với các người’ qua sự vượt thoát khỏi vận luật trong cuộc cách mạng của thể thơ tự do (free-verse revolution) và của dòng trong thể thơ phóng chiếu (projective verse) [tức là vắt dòng – enjambment]. Những ai chạm gần đáy nhất của tiến trình này đã là hiển nhiên trong sự vượt thoát khỏi tiếng nói trong thi pháp cắt dán (collage poetics) và khỏi cú pháp trong thi pháp phần mảnh hoặc dán cách (fractal or disjunctive poetics), nó hiện gồm không gian riêng của nó để vượt thoát thêm nữa: những phá vỡ được lặp lại ngay bên trong bình diện của ngôn ngữ.

Trong suốt cũng hai thế kỉ đó thơ trữ tình (lyric poetry), giống như những nghệ thuật khác, phải tới phần nào làm tròn vai trò của tông giáo trong đời sống tâm linh của nhiều nhà nhân văn thế tục có học. Khi tự thân cá thể hóa đã ngày càng mang lấy sự tạo nghĩa gần như tông giáo qua những vận động của chủ nghĩa Lãng mạn và chủ nghĩa Hiện đại (hãy so sánh thi ca cổ đại hoặc thậm chí trung cổ tự lấy tâm điểm trong quy ước xã hội và những ám thị/ điển cố – allu- sions – hơn là viễn kiến cá thể hóa của tự thân), những nền tảng cấu trúc của thi ca đã được tái tổ chức để phản ánh một sự nhấn mạnh mới về sự trải nghiệm của linh hồn cá nhân, và trên một mĩ học của vượt thoát như là đối lập với sự nội tại. Vậy nên, trớ trêu thay, thi ca trữ tình tự thân đã mang lấy những đặc trưng tâm linh và siêu hình chủ chốt của truyền thống tông giáo thống ngự. Những sự tự đảm đương không được nói ra này đã đến thống trị cả thi pháp đương đại chủ lưu và ‘tiền – vệ’, một tình huống với những hàm nghĩa không chỉ cho nội dung của thi ca có định hướng tâm linh, mà còn cả cho thi pháp trên một bình diện sâu hơn cả bình diện về nội dung tông giáo.

Trong thi ca kể việc thể tự do đương đại (contemporary free – verse anecdotal poetry), cái kiểu thức mà Ron Silliman, nói gót Edgar Allan Poe, đã gọi là “trường phái thanh tịnh” (the school of quietude), sự thành thật bề ngoài của tự thân cá nhân, hoặc linh hồn, trở nên tiêu chuẩn trung tâm của thi ca vượt thoát, một địa điểm của sự vật luyến tâm linh (spiritual fetishization). Mọi nhân tố khác – hình thức, ngữ cách, hình tượng, chủ đề, thanh điệu – đều bị gộp trong sự phục vụ cho hiệu quả này. Mặt khác, trong trường hợp của nhiều thi ca tiền vệ, gồm những nhà thơ tâm linh – thử nghiệm như Fanny Howe và Ann Lauterbach, những hình dạng tự phát của một thi ca ngày càng gián cách được gọi lên như một phương tiện để chiêu cầu cái không thể biểu hiện vượt thoát, một ân sủng thách đố và tràn lướt ngôn ngữ.

Cả hai loại thi ca này chiếm được sự chân chính trong mắt người đọc đến mức độ chúng dường như bỏ lại sau hoặc vượt thoát, ‘bài thơ’ như một nhân tạo, một mảnh gia công của ngôn ngữ với những quy ước của nó về ngữ cách và nhịp điệu và những đặc trưng về cấu trúc có thể nhận ra, tách biệt. Việc tự thân tâm linh này hoặc đối tượng vượt thoát của nó có là trung tâm của một bài thơ đương đại hay không, dù ở trường hợp nào trong cả hai thứ này thì cái thân thể xúc cảm của bài thơ, và cái ngôn ngữ xây dựng nó, đều là bên ngoài chủ điểm, đối với luôn cả những nhà phê bình chủ lưu và tiền vệ. Cho dù được thanh tẩy bằng nhiệt tâm Thanh giáo về bất cứ gì phá rối dòng chảy ngôn ngữ trần tục với hơi hướm của chất ‘thi ca’ về một mặt, hoặc là ‘gẫy vụn’, ‘mảnh mún,’ ‘ngắt ngang’ với sự bạo động không mỏi mệt về mặt khác, thân thể của bài thơ đã đến chỗ bị khinh miệt bởi văn hóa văn học (literary culture).

Trong cái mà tôi đã đến việc định danh là một nền tâm linh hướng về Nữ thần (a Goddess – oriented spirituality) thái độ đối với thân thể thì đối nghịch với cái trong truyền thống Do thái – Kitô chủ lưu. Đất bụi, máu, tính dục, linh hồn, trái đất, cái chết, con vật không được phó cho việc phải vượt thoát; như là những thể hiện của cái thiêng liêng nội tại, bằng sự mở rộng chúng cũng là thiêng liêng. Những truyền thống của Kitô giáo, Phật giáo, và những tông giáo khác có thể bảo chúng ta một cách huyền bí rằng Thượng đế hiện diện trong vạn vật (“Tôi kín nước, tôi chẻ củi; đó là sự cầu nguyện của tôi,” đó là lời của nhà tu trong một trong những truyện ngắn tôi ưa thích nhất thuở đầu đời) nhưng khái niệm về Nữ thần thực sự cấu thành một sự hiện diện vật thể. Không chỉ là Nữ thần của thế giới, thế giới chính là sự hiển thị của bà. Mặc dù nam thần siêu việt và nữ thần nội tại là những mặt bổ túc của cùng một đồng tiền tâm linh con người, những ngân vang của họ khác nhau một cách nền tảng.

Trong thi pháp của nữ thần học (thealogy) đối lập với nam thần học (theology), những kết nối về hình dạng và căn cước bên trong và giữa các bài thơ không phải là những bối rối ngẫu nhiên, mà là những mối thân thuộc then chốt. Một điều là, giàn xương cốt dạng thức tạo ra sự mạch lạc ban cho tự thân cái công năng buông xả một căn cước đơn độc hướng về cái tôi (a single, ego-oriented identity) bên trong cái căn cước lớn hơn của một hình dạng có dạng thức. Vượt thoát không phải là cung cách duy nhất ra khỏi tự thân; còn có vài cung cách để lột da một linh hồn. Và sự kết nối cùng sự khác biệt giữa những hình thức và hình dạng của những bài thơ đa dạng, giống như sự đa dạng của các chủng loại, làm hiển lộ bản tính đa giá trị của cái thiêng liêng. Trong ngữ cảnh này, viết một bài thơ như một bài thơ cá thể được hình thành một cách riêng biệt, chỉ hợp nhất với những bài thơ khác trong tương quan với một sự vô thể trừu tượng đơn độc (a single abstract formlessness), hẳn là hi sinh sự kết thức của tính chuyên biệt và sự đa phức của những cấu trúc có dạng thức và hình thức cho cái lên thành một thứ chủ nghĩa độc thần trong thể thơ tự do (free – verse monotheism).

Trong văn hóa văn học đương đại, một truyền thống mạnh mẽ thi ca hình thức có dạng thức (a powerful patterned formal poetic tradition) vẫn còn được kết hợp mạnh mẽ với cái thế giới văn học bị nam giới thống ngự, tiền nữ quyền (the pre – feminist, male – dominated literary world) của thập niên 1950. Không chỉ là nhiều người theo chủ nghĩa nữ quyền ngần ngại viết những bài thơ hình thức (mặc dù điều này đã bắt đầu thay đổi với sự chuyển thiên niên kỉ); thường khi, những động cơ vặn vẹo hoặc phản động vẫn còn bị gán cho những người làm như vậy. Động cơ của riêng tôi khi viết theo hình thức là một sản phẩm của động cơ sáng tạo. Một hấp lực không thể kháng cự hướng về cái thân quen không thể tránh kéo tôi bằng sự nhất tâm không lời hướng về một cái gì xưa hơn là thi pháp phụ quyền (patriarchal poetics). Đây là điều tôi coi là “Tay Nghề” (the Craft), để dùng một từ ngữ xưa cho một sự hiến mình thể hiện đam mê tới nỗi nó đạt tới tầm vóc của một tông giáo trong sự phục vụ Nữ thần. Khi tôi đặt ra một khổ thơ, hiệp một vần, đặt thông một tiết điệu về câu chữ, tôi cảm thấy về mặt tâm linh được kết nối với những truyền thống vượt thời gian của những tay nghề khắp thế giới như là nghề thêu, nghề dệt, và nghề gốm. Tôi cảm thấy được kết nối không chỉ với những nghệ nhân Tiền – Raphael [nhóm hoạ sĩ nước Anh ở thế kỉ 19 đề xướng việc bắt chước nghệ thuật đơn sơ và chân thành, màu sáng, nét mạnh, chú ý chi tiết của các hoạ sĩ Italia trước thời hoạ sĩ Raphael để chống sự bóng bẩy và sướt mướt của nghệ thuật thời Nữ hoàng Victoria] hoặc những người chép sách thời trung cổ, mà còn với những người đan một tấm thảm Turki hoặc hoa tai Celt, bộc lộ niềm vui trung tâm của việc thờ phụng bằng trổ tay nghề làm một vật thể xứng đáng.

Những thi pháp của tâm linh nội tại quan tâm nhiều hơn tới tính bền vững (vốn bằng bản tính – trong cái nghĩa hữu cơ, nghĩa đen theo nghĩa của từ ngữ này – gợi ra sự kiên trì) hơn là với những khái niệm đương đại về tiến bộ. Như tôi sẽ định nghĩa nó “thi pháp nữ thần” (goddess poetics) cử hành và được tạo bằng cái chơi vui và cái vật thể. Tôi bị đưa dẫn đến lưu luyến trong vần thơ và điệp cách, tới vẻ huy hoàng trong những nghệ pháp gây ngạc nhiên của thân thể thi ca. Những nghệ pháp của hình thức này cung ứng một nguồn mạch cho sức mạnh tâm linh trong và bằng tự thân chúng. Điều lệnh tâm linh của lạc thú tự tại của hình thức, như tôi đã hiểu được nó, từ lâu đã kéo tôi về một thi pháp đối lập tự đặt cơ sở trong những đặc thù nội tại của cấu trúc thi ca: dạng thức, điệp cách, bùa mê, hấp lực, tụng ca:

LỄ TỤNG  

Từ nhạc tôi mang
mấy cái vây vàng đá
nhưng chúng chìm đi
qua những chỗ cạn ba hoa.

Từ tự nhiên tôi lượm
chút hi vọng hạt lúa
nhưng nó ven nghỉm đi
trong những chén đá chìm.

Vậy rồi tôi hỏi
xin chén và vây
xin một bàn tay
có thể lay chúng về
thành vây vượt cạn,
lượn, quanh;
tôi đoán một bàn tay,
có thể gom những chén mở ngỏ.

Khi tôi đã xin
người tôi đã đoán,
nàng đã gửi lời xin của tôi đi;
và rồi và nữa

nay nàng gửi nó về.
Rồi và nữa nó đáp lời tôi;
rồi và nữa nó đáp lời, như nàng ban nó,
trong tiếng vây và trong tiếng chén.

Xuất bản gốc nơi tạp chí Văn học Đại học Yale (Yale Lit), số Mùa hè năm 1978.
Nguyễn Tiến Văn dịch 
Từ nguồn: http://libgen.info  
(Nguồn: SH290/04-13)

 

THƠ VIỆT TRÊN ĐƯỜNG BIẾN ĐỔI – Khế Iêm

Đây là bài viết tham dự hội nghị hàng năm lần thứ 56 của Hiệp hội Nghiên cứu Á châu (Association For Asian Studies), qui tụ giới học giả và nghiên cứu từ các nơi trên thế giới và toàn quốc Hoa kỳ. Website của Hiệp hội Nghiên cứu Á châu (AAS): https://www.asianstudies.org/

Trong hội nghị này, hợp tác cùng Hội đồng Giáo chức Giảng dạy và Nghiên cứu Ngôn ngữ Vùng Đông Nam Á (Council of Teachers of Southern Asian Languages), thơ chỉ là một trong 219 cuộc hội thảo, bao gồm khoảng 800 diễn giả về đủ mọi vấn đề từ lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, ngôn ngữ, văn học… của các nước Á châu từ Trung hoa, Nhật bản, Đại hàn, Ấn độ cho tới Mã lai, Indonisia… Chủ đề của cuộc hội thảo (panel) thơ: “Poetry as a Window on History and Change in Southeast Asia” (Thơ, cửa sổ qua lịch sử và biến đổi tại Đông Nam Á), với ba nước Thái Lan, Phi Luật Tân và Việt nam. Bốn diễn giả gồm:

1/ Ruth Mabanglo, University of Hawaii, Manoa: “Filipinas in the Margin: Metaphorizing Women in Diaspora.

2/ Chiranan Pitpreecha, Cornell of University: “Recording Motion and Emotion: Poetry as History”

3/ Khe Iem: “Contemporary Vietnamese Poetry: On the Path of Transformation”

4/ John C. Schafer, Humboldt State University: “Trinh Cong Son: A Songwriter and a Poet”

Chủ tọa: Carol J. Compton, University of Wisconsin, Madison. Thảo Luận: Thomas John Hudak, Arizona State University.

Tùy theo vị trí, các nhà sử học, xã hội học hay văn học có thể nhìn và đánh giá những sự kiện lịch sử theo những chiều hướng khác nhau. Ngay cả trong phạm vi văn học, chúng tôi cũng chỉ lược qua những điểm chính yếu để nhìn ra chiều hướng thay đổi  chứ không đi sâu vào toàn bộ những dòng văn học khác nhau của từng thời kỳ. Vì vậy, khuyết điểm chắc chắc không thể trách khỏi, mong được sự góp ý và bổ sung thêm của thân hữu và bạn đọc. Chúng tôi xin gửi lời cảm tạ tới các thân hữu: Nhà phê bình Đặng Tiến, nhà văn Nguyễn Tiến Văn và Phạm Thị Hoài, nhà thơ Đỗ Kh. và Nguyễn Thị Ngọc Nhung đã góp ý và hiệu đính một số sai sót để bài viết tương đối được hoàn chỉnh. Bài này mới là bài chính thức và mới nhất. 

Quí vị nào cần bản tiếng Anh để tham khảo, xin gửi email về TC Thơ.


THƠ VIỆT TRÊN ĐƯỜNG BIẾN ĐỔI

(Hay Bức Tranh Văn Học)

Khế Iêm

 

Trong hội nghị hàng năm lần thứ 56 của Hiệp hội Nghiên cứu Á châu (Association For Asian Studies) hợp tác cùng Hội đồng Giáo chức Giảng dạy và Nghiên cứu Ngôn ngữ Vùng Đông Nam Á (Council of Teachers of Southern Asian Languages), thơ là một phần của chương trình. Chủ đề của cuộc hội thảo (Panel Description): Thơ, cửa sổ qua lịch sử và biến đổi ở vùng Đông nam Á (Poetry as a Window on History and Change in Southeast Asia). Hiểu một cách nào đó, thơ gắn liền với lịch sử và biến đổi. Lịch sử ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những biến đổi về ngôn ngữ, văn học và chính trị, vì đó là những yếu tố không thể nào tách rời của khu vực văn hóa. Đề cập tới thơ, có nghĩa là đề cập tới toàn cảnh văn học vì trước thời kỳ chữ Quốc ngữ, Việt nam hầu như không có văn xuôi. Cho đến khi chữ Quốc ngữ được dùng để dịch những tác phẩm của Trung quốc và Pháp, và vào lúc Đông dương Tạp chí (1913) ra đời, mới bắt đầu xuất hiện truyện ngắn. Như vậy tiểu thuyết chỉ mới có từ khoảng đó trở về sau, tiêu biểu là tác phẩm Tố Tâm (1925) 1, một tiểu thuyết lãng mạn của Hoàng Ngọc Phách. Những tiểu thuyết sau đó dù lãng mạn hay hiện thực đều sáng tác nương theo cách kết cấu và diễn đạt qua những tác phẩm dịch ngoại quốc, hòa nhập cùng phong cách của nghệ thuật tu từ của thơ. Những biến động văn học, chủ yếu  do thơ, vì thơ mới chính là linh hồn của mọi biến động trong văn học. Nhưng thơ, xuyên suốt hơn 1000 năm, luôn luôn bị chi phối bởi quyền lực chính trị, cùng với sự thay đổi chữ viết, vì thế chúng ta phải nhìn qua nhiều khía cạnh, nhiều lăng kính từ ngôn ngữ, những biến cố lịch sử cùng ảnh hưởng văn hóa từ Trung hoa và phương Tây để có thể hiểu rõ những khúc quanh chuyển đổi của thơ nói riêng và văn học Việt nam nói chung.

Những thời điểm văn học                            

Trong lịch sử, Việt nam đã có khoảng 1000 năm lệ thuộc Trung quốc2 (từ năm 111 trước  Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên) và 80 năm bị Pháp đô hộ (1883-1945). Những năm tháng mất chủ quyền đã hằn lên dân tộc Việt những dấu ấn văn hóa, và ảnh hưởng sâu đậm tới tâp tục, đời sống và văn học. Người Hán khi cai trị đã mang tới tập tục, đồng thời dạy chữ viết để dùng trong công việc hành chính thông thường, bởi vì trước đó, người Việt có tiếng nói riêng nhưng không có chữ viết. Sau khi Ngô Quyền (939-965) giành được độc lập, đến đời nhà Đinh3 (968-980) mới tổ chức theo chế độ chuyên che của Trung quốc, và tiếp tục dùng chữ Hán trong các công văn giấy tờ và sự giao tiếp giữa hai nước. Thơ chữ Hán có lẽ đã bắt đầu từ đời nhà Lý, do những nhà sư làm ra, thường là các bài kệ3, vì trước đó, việc học chỉ có ở trong các chùa chiền. Phật giáo vào Việt nam qua hai đường Ấn độ và Trung hoa, phần nhiều kinh điển dịch ra chữ Hán nên các nhà sư giỏi chữ Hán, và Hán học nhờ Phật học mà truyền bá trong dân gian.

Đến thế kỷ thứ 10, hầu như mọi nghi lễ, học thuật, văn tự, nghệ thuật, tôn giáo cho tới chế độ gia tộc, chính trị, xã hội đều rập khuôn theo Trung quốc. Năm 1075, vua Lý Nhân Tôn mở khoa thi đầu tiên, để tuyển chọn nhân tài ra làm quan. Do đó, tuy thoát ra khỏi sự lệ thuộc về chính trị, nhưng vẫn lệ thuộc vào chữ viết và văn hóa, cho đến đời vua Trần Nhân Tôn (1279-1298), Hàn Thuyên5 lấy chữ Nôm làm bài “Văn Tế Cá Sấu”, một loại chiết tự theo chữ Hán, nay đã thất truyền. Chữ Nôm, chuyển âm nói của tiếng Việt, cách viết cũng khó như chữ Hán, chỉ giới quan lại và sĩ tử mới hiểu, nên không thông dụng trong dân chúng. Chữ Nôm có từ bao giờ, không ai biết, nhưng có lẽ phát sinh từ nhu cầu của đời sống xã hội, có những tên người, tên xứ, tên đồ vật… không dùng chữ Hán để viết trong các công văn, giấy tờ, phải ghép những chữ Hán, một phần hay toàn thể, để thành chữ mới, viết tiếng Việt. Chữ Nôm có một số qui luật nhưng chưa được điển chế đúng mức, mỗi người dựa theo ý riêng mà đặt thành nên khi đọc phải đoán ý mà hiểu.

Vào thế kỷ 16, trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, những nhà buôn và nhà truyền giáo phương Tây bắt đầu đặt chân tới Việt nam. Vì chữ Nôm khó học, các giáo sĩ bèn dùng mẫu tự Latinh, ghi âm tiếng Việt để dễ dàng truyền đạo, và dịch kinh Thánh. Chữ Quốc ngữ là công sức của nhiều người, gồm các giáo sĩ Ý, Pháp, Bồ Đài Nha… Đến năm 1651, Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660) soạn ra cuốn tự điển Việt-Bồ-La và in tại Roma thì chữ Quốc ngữ được dùng từ đó. Khi người Pháp chiếm Nam kỳ6 vào năm 1863, chiếm toàn Việt nam 1884, đặt Nam kỳ làm thuộc địa (áp đặt dùng chữ Quốc ngữ), Bắc và Trung kỳ thuộc chế độ bảo hộ (chữ Quốc ngữ được dùng sau đó). Vào thời kỳ đầu, phải lo bình định những phong trào Cần Vương7, đến năm 1915 mới bãi bỏ chế độ khoa cử ở miền Bắc, và Huế vào năm 1919, mở trường đào tạo một thế hệ mới, để làm việc cho Pháp. Song song, năm 1906 Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông du8, đưa sinh viên Việt nam sang Nhật du học, vì thấy Nhật Âu hóa mà trở nên hùng mạnh, nâng cao tinh thần yêu nước của thanh niên. Đầu năm 1907, một số nhà Nho yêu nước như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc… mở trường Đông kinh Nghĩa thục9, chủ trương bỏ chữ Nôm, dùng ngay chữ Quốc ngữ, đưa vào tinh thần dân tộc, tiếp thu tư tưởng mới, nâng cao dân trí, chống lại sự đồng hóa văn hóa.

Đến cuối năm 1907, Pháp đóng cửa Đông kinh Nghĩa thục, ký kết với Nhật cấm du học sinh. Công cuộc tranh đấu của phong trào Đông du và Đông kinh Nghĩa thục thất bại, một số học giả quay về thỏa hiệp với Pháp, làm công việc nghiên cứu, khảo luận, dung hòa văn hóa Đông Tây. Nằm trong chiến dịch tuyên truyền văn hóa, chính phủ thuộc địa Pháp tài trợ cho Đông Dương tạp chí10 (1913-1915) của Nguyễn Văn Vĩnh, chuyên dịch thuật những tác phẩm từ Hán văn và Pháp văn ra Quốc ngữ, đặc biệt là Nam Phong tạp chí11 (1917-1932) của Phạm Quỳnh, bằng ba thứ tiếng, Việt (Quốc ngữ), Pháp và Hán, lựa chọn những tác phẩm có giá trị tư tưởng, biên khảo công phu, mang tính học thuật, phát hành rộng rãi để lôi kéo mọi thành phần người đọc, từ cựu đến tân học, truyền đạt học thuật cổ kim và du nhập tư tưởng Đông Tây. Cuốn “Tục ngữ Phong dao” (1928) của Nguyễn Văn Ngọc (1880-1942), sưu tầm 8000 câu ca dao tục ngữ12, nằm trong chiều hướng đó, bắc cầu cho sự hòa điệu sau này giữa thơ cũ và mới. Ở đây chúng ta thấy sự quan trọng của chữ viết, mẫu tự La tinh dễ học, dễ viết, gần gũi với chữ viết của Anh, Pháp, đã chuyển ảnh hưởng văn hóa từ Trung quốc qua phương Tây.

Từ 1932, một thế hệ mới trưởng thành, không còn theo khuynh hướng dung hòa văn hóa Đông Tây của thế hệ Đông dương và Nam phong tạp chí, đả kích cái cũ, ca ngợi cái mới. Khởi đầu là nhà văn Nhất Linh, xuất bản tờ Phong Hóa13, và thành lập Tự Lực Văn Đoàn vào năm 1933, gồm Nhất Linh, Khái Hưng (1896-1947), Thạch Lam (1910-1942), Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Nguyễn Gia Trí (1908-1993) và Thế Lữ (1907-1989), dùng chữ quốc ngữ để sáng tác thơ văn. Sau đó thêm Xuân Diệu (1916-1985). Nhiều nhà thơ khác, Huy Cận (1919-), Vũ Hoàng Chương (1916-1976), Đinh Hùng (1920-1967)… xuất thân từ dòng dõi Nho học, có Tây học, kết hợp giữa thơ Đường với ca dao, là một dòng thơ dân gian, và văn thơ Pháp, để làm thành loại thơ vần điệu đặc biệt Việt nam, gọi là Thơ Mới14. Cho tới thời điểm này, mọi sinh hoạt chữ nghĩa, văn thơ bằng chữ viết, đều hạn chế trong những thành phần có học ở thành phố, vì đa số người dân  vẫn còn mù chữ. Đến đây, văn học Việt nam chính thức bước hẳn qua một thời kỳ khác, chấm dứt một thời gian dài ảnh hưởng văn hóa Trung hoa.

Trước đó, Việt nam theo chế độ quân chủ chuyên chế của Trung quốc, dựa vào cách tổ chức xã hội của Nho giáo để cai trị dân. Nho giáo trở thành một học thuyết chính trị và nhà Nho khi làm quan, trở thành những nhà chính trị, thi hành lý tưởng trị nước an dân. Nho giáo chủ trương quân quyền và phụ quyền, vua là con trời, bắt bầy tôi chết, bầy tôi phải chết. Cũng như trong chế độ gia trưởng, quyền của người cha là tuyệt đối. Vua chúa dựa vào giai cấp Nho sĩ để trị nước an dân, Nho sĩ dựa vào vua chúa để hưởng đặc quyền đặc lợi. Để thi hành quan điểm chính trị, nhà Nho nắm lấy chính quyền, ra làm quan, qua con đường khoa cử.  Trong các kỳ thi15, sĩ tử phải làm thơ văn bằng chữ Hán, đúng vần và luật, rất phức tạp và khó khăn, và nếu phạm những điều cấm kỵ, có thể bị tù tội. Nho học biến thành lối học khoa cử, kết quả là từ vua tới quan đều là những nhà thơ lành nghề trong các lối từ chương, tiểu xảo, đẽo gọt câu chữ sao cho cầu kỳ bóng bảy. Vì vậy trải qua gần hai ngàn năm ảnh hưởng Trung hoa, thơ chữ Hán chỉ là loại thơ quan trường, ít có giá trị, nếu so sánh với những nhà thơ đời Đường của Trung hoa. Thơ từ khởi đầu là một phương tiện tìm kiếm quyền lực, rồi sau đó trở thành quyền lực. Khi nhà Nho biến thành ông quan, những nhà cai trị, thơ mang ý nghĩa linh thiêng, tôn kính, không còn là một nghệ thuật thông thường. Chữ Hán được coi như chữ của Thánh hiền, không thể đem ra để đùa cợt, giải khuây. Nhưng từ khi Hàn Thuyên dùng chữ Nôm, là chữ nôm na của bọn dân quê chất phác, làm bài văn tế, thì càng lúc càng có nhiều người làm thơ chữ Nôm để làm dịu bớt những lễ nghi phép tắc căng thẳng trong chốn quan trường. Thơ Nôm mượn những thể thơ của Trung hoa, dần dần chuyển hẳn, dùng ngay thể thơ dân gian là lục bát hay song thất lục bát. Như vậy, lúc đầu những nhà thơ chỉ dùng chữ Nôm làm thơ để mua vui, sau đó một số nhà thơ có tài, lại gặp được thứ chữ có thể tự do giải bày tâm sự, đã đẩy thơ Nôm lên hàng nghệ thuật hơn cả thơ Đường, làm thành dòng thơ cổ điển, tiêu biểu là Nguyễn Trãi. Con người quan cách lấn lướt con người mua vui, thơ Nôm trở thành loại thơ cao cấp, đầy điển tích khó hiểu, thay thế thơ chữ Hán.

Nếu trước kia thơ chữ Hán và quyền lực chính trị nhập làm một thì bây giờ, thơ chữ Nôm tách ra, đối kháng với quyền lực chính trị. Trong con người nhà thơ, ẩn chứa hai thứ quyền lực, vừa ảo tưởng vừa chính trị, vừa là nhà thơ vừa là ông quan, như Nguyễn Du tuy làm quan với triều đình nhà Nguyễn nhưng luôn luôn bất mãn, đành dùng thơ để gửi gấm tâm sự. Thơ chữ Nôm cũng như chữ Hán là sản phẩm của nền văn hóa phong kiến, thấm đẫm tính chất quan quyền, độc đoán, mất hẳn sự cảm thông với đại chúng, chỉ dành riêng cho tầng lớp sĩ phu, tự mệnh danh là “đại nhân, quân tử”. Người đọc và nhà phê bình, dĩ nhiên, không có vị trí nào trong dòng thơ đó. Khi người Pháp vào đô hộ, chấm dứt khoa cử, đào tạo một thế hệ mới, vì chỉ lo trị an, ít quan tâm và can thiệp vào việc sáng tác, nên thơ văn mới rũ bỏ được những ám ảnh quyền lực ảo tưởng và chính trị.

Người bình dân không biết chữ Hán, chữ Nôm, còn chữ Quốc ngữ chưa phát triển, đứng ngoài thế giới văn học, có đời sống tinh thần và tình cảm riêng biệt, gần gũi với thiên nhiên, bộc lộ qua những câu hò giọng hát, từ hàng ngàn năm trước. Ca dao là câu hát phổ thông trong dân gian, thường là theo thể lục bát hay song thất lục bát, diễn tả những lề thói, phong tục, tính tình của bình dân đại chúng. Vì trong sinh hoạt thường ngày, như đi cấy, tát nước, giã gạo, ngay cả ru con, không có công việc nào mà người bình dân không kèm theo những câu hát, để làm vơi đi những sự khó nhọc. Thật ra, ca dao cũng do những người có học làm ra, để răn dạy đời, hay phản ảnh tâm tư tình cảm, và là một nhu cầu trong sinh hoạt của xã hội nông nghiệp. Ca dao vì vậy rất ngắn gọn, 2 hay 4 câu, là một ngôn ngữ có vần điệu, một ngữ điệu hát hò, là một loại văn chương truyền khẩu hay văn chương bình dân.

Trong khi thơ Đường là một thơ thể luật, rất khắt khe và gò bó, niêm luật từng câu dòng, như ngũ ngôn tứ tuyệt (một dòng 5 chữ, 4 câu) hay thất ngôn bát cú (mỗi dòng 7 chữ, 8 câu). Thơ Mới mượn vần, các thể 5, 7 chữ của Đường thi, thêm vào thể 8 chữ và lục bát, nương theo ngữ điệu của ngôn ngữ. Nhưng ca dao cũng chỉ dừng lại ở những câu hò hát, theo bản năng tự nhiên, không thể tạo thành luật tắc và quan điểm mỹ học riêng. Những nhà thơ cổ điển và Tiền chiến theo tiếng gọi của tiềm thức, qua ca dao, tìm về bản sắc dân tộc, để hình thành dòng thơ Việt, nhưng đơn thuần chỉ nói lên tâm tình của một thiểu số có địa vị trong xã hội. Nếu thơ cổ điển đầy những điển tích và hình ảnh của một đất nước Trung hoa xa lạ thì thơ Tiền chiến là những tình tự trai gái, lãng mạn và cá nhân chủ nghĩa, lạc lõng trong đời sống xã hội truyền thống. Trong dòng thơ Việt, cho tới bây giờ chưa bao giờ có hình bóng của đám đông. Đám đông dân chúng, thật ra là mọi thành phần ở ngoài giai cấp văn học, luôn luôn bị nhìn như những kẻ thất học.

Điều đáng nói là từ năm 1932 đến 1945, đất nước tương đối thanh bình, nhưng  đến năm 1945, thế chiến II chấm dứt, Việt nam rơi vào cuộc chiến 9 năm chống Pháp, và kết quả là hiệp định Genève16, 20-7-1954, chia đôi đất nước: Miền Bắc theo chế độ cộng sản, miền Nam theo chế độ tư bản. Chẳng bao lâu sau, khoảng cuối năm 1960, một cuộc chiến khác bùng nổ, và lần này là cuộc chiến giữa hai miền. Và cũng ở vào thập niên này, miền Bắc có phong trào Nhân văn Giai phẩm17, và miền Nam với phong trào thơ tự do, cả hai đều gồm những nhà thơ có khuynh hướng thoát ra khỏi dòng thơ Tiền chiến, sáng tác theo thể tự do hay gần với thể thơ tự do. Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, thơ Việt rơi vào hai thập niên bất động, và tới đầu năm 2000 mới nổi lên phong trào thơ tân hình thức. Trong bài viết, chủ yếu chúng tôi dùng phương pháp so sánh, và nương theo những biến cố lịch sử quan trọng để làm bật lên đặc tính và sự chuyển hóa của thơ Việt, từ thập niên 1960 tới nay.

Con đường chuyển hóa

Trong thời gian đô hộ Việt nam, Trung hoa có thời đại nhà Đường (618-906), một thời kỳ cực thịnh về văn học, đặc biệt là thơ với thơ Đường. Cách làm thơ Việt, dù có thay đổi qua nhiều thời đại, nhiều thời kỳ thơ, và cả khi thay đổi chữ viết, vẫn theo tinh thần và phong cách Đường thi. Để hiểu rõ hơn tính cách này, chúng ta có thể dựa vào điển tích như sau:

Nhà thơ Trung hoa, Giả Đảo (779-843), khi còn thanh niên, lên kinh đô thi, có làm 2 câu thơ:

Mã túc trì trung thụ
Tăng thôi (xao) nguyệt hạ môn

Ngựa ngủ ở khóm cây bờ ao
Sư đẩy (gõ) cánh cổng dưới ánh trăng

Ông chưa ưng ý chữ “thôi” (đẩy), đang đi đường suy nghĩ, không hay có quan Lệnh doãn (quan coi về kinh sư) là Hàn Dũ (768-824) đi qua. Lính dẹp đường bắt, ông trình bày lý do, Hàn Dũ khuyên ông dùng chữ “xao” (gõ) thay vì chữ “thôi” (đẩy), đắc địa hơn, và tha cho. Ý của hai câu thơ vừa sâu sắc vừa đòi hỏi người đọc phải có một sở học uyên thâm. Giả Đảo mượn quan điểm của Phật giáo, coi trần tục là cõi “tâm viên ý mã”, có nghĩa là tâm con người nhảy nhót như vượn, ý lồng lộn như ngựa, không lúc nào yên. Nhà sư kiềm chế được cái tâm của mình, như hình ảnh con ngựa ngủ bên khóm cây, bóng soi dưới bờ nước, tượng trưng cho cõi đời hư ảo. Nhưng khi an được cái tâm rồi, nhà sư đẩy( gõ) cửa, để tìm ra chân lý, vì phật pháp, kinh kệ chỉ là một phương tiện, là ngón tay chỉ, và mặt trăng mới là chân lý. Nhà sư đang trên hành trình đi tìm giải thoát, tìm niết bàn. Hình ảnh con ngựa, cánh cửa, và ánh trăng tượng trưng cho cái tâm con người, phật pháp và chân lý. Hàn Dũ khuyên dùng chữ “xao” có nghĩa là “gõ”, không những xảy ra trong tức khắc, mà còn như ám chỉ, chân lý không ở đâu xa, chỉ trong gang tấc.

Với hai câu thơ thôi, mà đã mở ra cả một nhân sinh quan. Đây là cách làm thơ “ý tại ngôn ngoại”, có nghĩa là ý ở ngoài lời. Sau này, Giả Đảo làm quan, khi cáo lão điền viên, trở thành nhà sư, vẫn tiếp tục làm thơ, từng than:

Lưỡng cú tam niên đắc
Thi thành song lệ thùy

Ba năm làm được hai câu
Thơ xong, hai dòng lệ ứa

Sự tích “Thôi Xao” (đẩy, gõ), và phương cách thể hiện ý ở ngoài lời ảnh hưởng xuyên suốt đời sống văn học Việt, từ chữ Hán qua Quốc ngữ, từ thơ Đường qua Tiền chiến, và tự do. Thi pháp Đường thi là một nghệ thuật cấp cao, đòi hỏi người làm thơ và đọc thơ phải tinh tường ba nguồn tư tưởng Phật, Lão và Nho giáo, không chủ trương phản ảnh, mà là vượt thoát khỏi thế giới thực tại. Thơ cổ điển và Tiền chiến là một nghệ thuật tu từ, dùng chữ, chọn chữ, theo như quan niệm của Giả Đảo, chỉ khác là thơ cổ điển lạm dụng điển cố, rút ra từ văn học Trung quốc, còn thơ Tiền chiến chủ vào ngôn ngữ óng chuốt để diễn đạt tình tự lãng mạn. Thơ Việt cho đến 1945, sinh hoạt trong một xã hội bình thường, nên cách làm thơ theo đúng nghệ thuật tu từ, nhưng sau thập niên 1960, ở cả hai miền Nam Bắc, hoàn cảnh xã hội thay đổi, phong cách cũ đã không còn phù hợp, những nhà thơ tìm cách thay đổi phương pháp biểu hiện.

Ở miền Bắc, nhà nước cấm đoán mọi sự thay đổi, nên những nhà thơ trở lại với con chữ, dù rằng những sáng tác không thể phổ biến, chỉ giữ lại cho riêng mình. Chữ được dùng một cách khác thường, dù chỉ là những chữ thông thường, không quan tâm tới vấn đề cú pháp, biện minh bằng phương pháp ý ở ngoài lời, đa tầng đa nghĩa, nhưng không có nghĩa nào là đúng thực. Trong khi ở miền Nam, những nhà thơ chủ trương đổi mới, đa số di cư từ miền Bắc 1954, còn xa lạ với môi trường sống, vài năm sau lại bị cô lập trong thành phố vì chiến tranh, quay về nội tâm và sách vở, chú tâm vào chữ, mục đích để tạo cảm xúc chứ không phải truyền đạt tư tưởng. Như vậy, cả hai miền Nam Bắc, và thơ tự do ngoài luồng sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, quan điểm tu từ là tìm những chữ hiếm, chữ lạ, làm bật lên một số chữ để tạo nên những hình ảnh bất ngờ, không có gì là thực.

Ảnh hưởng phương Tây, manh nha từ thập niên 1920 cho tới lúc này, từ tư tưởng chính trị đến văn học, vốn dĩ đã chứa đầy tinh thần cực đoan, trong lúc trình độ dân trí chưa đủ sức phân biệt và chọn lọc cái hay cái dở, nên chỉ tiếp nhận được cái phần tiêu cực của những chủ thuyết, Cộng sản và Siêu thực chẳng hạn, mà không biết rằng ở phương Tây, người ta đã sàng lọc và đào thải. Sự hăng say quá đáng, đả phá truyền thống của những nhà văn thời Tự lực Văn đoàn là một điển hình, khởi đầu cho những nhiễu loạn trong văn học. Hoàng Đạo, với “Mười Điều Tâm Niệm”, đổi mới hoàn toàn đổi mới. Nhất Linh trong tiểu thuyết “Đoạn Tuyệt”, người vợ tên Loan, tiêu biểu cho thành phần Tây học, vô tình can tội giết chồng là Thân, tiêu biểu cho những giá trị cổ truyền. Hình ảnh châm biếm Lý Toét, Xã Xệ17, coi xã hội cũ chỉ toàn những kẻ mù loà, ngu dốt nơi làng thôn. Như vậy khi chỉ tiếp thu được phần tiêu cực của phương Tây thì cũng đánh giá và nhìn truyền thống qua phần tiêu cực mà không phân biệt và rút ra phần tích cực để bổ khuyết và phát huy truyền thống.

Vụ án ngộ sát trong Đoạn Tuyệt, mang tính bạo động đã là mầm mống cho hàng loạt những cuộc bạo động và quá khích sau này. Bởi vì chỉ tiếp thu thành phẩm, đọc những tác phẩm của những tác giả lớn phương Tây, rồi suy diễn và phán đoán, mà không nắm được cốt lõi về ngôn ngữ và văn hóa cùng tiến trình chuyển biến về văn học và xã hội đã đưa tới tình trạng văn học luẩn quẩn trong thuật ngữ và tu từ, suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhưng thế hệ sau tiếp tục đi theo bước chân của thế hệ trước, và cho đến bây giờ vẫn coi phương Tây là tuyệt đối văn minh, tạo nên tinh thần độc tôn, bảo thủ, coi người dân bình thường vẫn chỉ là những Lý Toét Xã Xệ của thời Tự lực Văn đoàn, và thơ Việt toàn chữ nghĩa và sách vở, vắng bóng đời sống của mọi thành phần trong xã hội.

Nhưng thơ Việt thập niên 1960 và sau 1975 không chỉ có thơ tự do, mà song song đó vẫn còn thể loại thơ vần điệu, chỉ khác là thơ chính luồng ở miền Bắc nội dung sáng tác chủ vào giai cấp đấu tranh, tính đảng và tính chiến đấu, còn ở miền Nam là làm mới nội dung về tình yêu. Tuy nhiên, dòng thơ vần điệu chỉ thể hiện được cái hay cái đẹp của thơ, chứ không phải là động lực để đẩy thơ chuyển động. Như vậy từ sau thời kỳ Tiền chiến, thơ văn Việt chia làm hai ngả, một đàng vẫn tiếp tục lối diễn đạt theo kiểu tình tự trong sáng, nối tiếp Tự Lực Văn Đoàn, không còn mấy tác dụng, một đàng đổi mới văn học cũng có nghĩa là đổi mới ngôn ngữ, biến thành một dòng văn học chỉ vụ vào chữ, cả thơ lẫn văn. Sự bế tắc kéo dài tới bây giờ, có lẽ vì thiếu hẳn một căn bản mỹ học mới, dẫn tới sự nghèo nàn cả phần tư tưởng học thuật, và đó là vấn đề chúng ta phải giải quyết.

Tu từ học (rhetoric) cổ Hy lạp có từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, là một nghệ thuật hùng biện trước công chúng, trong đó bao gồm cả cách dùng chữ, dù văn nói hay văn viết, một nghệ thuật lý luận và giải thích, chuyên chở tư tưởng để thuyết phục người nghe, đặt căn bản trên cú pháp. Lý luận vì thế phải mạch lạc rõ ràng, một vấn đề đặt ra phải dẫn dắt người đọc am hiểu tới nơi tới chốn. Lý luận cũng như tinh thần tự do dân chủ, là một tập tục, một truyền thống lâu đời, có khả năng làm bật ra sự thật, và người nói hay viết phải có tài năng và kiến thức để giải quyết vấn đề một cách rốt ráo, có đầu có đuôi, như một câu truyện kể. Trong thơ, tu từ (rhetorical figure) không làm thay đổi nghĩa chữ mà chỉ là cách lập lại, tạo hiệu quả nhấn mạnh. Nói rõ thêm, tu từ là sự tìm kiếm và dàn dựng ý tưởng qua phong cách diễn đạt, đào tạo khả năng diễn giảng cho giới tu sĩ, luật sư và những nhà chính trị. Ngay từ thời Trung cổ, sinh viên đại học được học về tam khoa (trivium) — văn pháp, tu từ pháp và biện chứng pháp (grammar, rhetoric, and dialectic) — nhấn mạnh vào phong cách và lý luận.

Đến thời Phục hưng, khi máy in được phát minh, chữ viết càng ngày càng trở nên quan trọng, qua nhiều thời kỳ của từng thế kỷ, tu từ chuyển từ thực hành văn nói sang văn viết, và cho đến bây giờ là lý thuyết dạy về văn chương và ngôn ngữ tiếng Anh. Phương pháp giảng dạy đã đạt tới sự hoàn hảo song hành với nền giáo dục, và sau này, Tân tu từ (New rhetoric) lại đưa ra một quan điểm mới, không những chỉ liên quan đến nội dung, cấu trúc hay phong cách bản văn trình bày, mà còn bao gồm thêm vấn đề chính trị xã hội, gắn liền với đời sống, để sự giao tiếp được trung thực, bởi sự hòa trộn nhiều sắc dân sống chung với nhau, có những đặc tính văn hóa riêng, nên thường xảy ra  trường hợp, dù chỉ là những câu chữ đơn giản, cũng đưa tới sự hiểu lầm ý định của người nói hay viết. Tân tu từ vì thế, tách ra khỏi quan điểm cũ, thay vì nghiên cứu bản văn qua nội dung hay cái đẹp, thì bây giờ trở thành phương tiện giải mã thông tin về văn hóa xã hội, tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa mọi con người. Dĩ nhiên, tu từ cũng có khi rơi vào nghĩa tiêu cực (negative terms), dùng chữ khoa trương không cần thiết (unnecessary amplification), giả dối (sham words), rỗng không (empty)… Nói chung, tu từ theo quan niệm phương Tây chỉ là một phương pháp, giúp con người mở ra với thế giới, thì trong khi theo cách hiểu của người Việt lại là cánh cửa đóng lại với thế giới bên ngoài, diễn biến theo đúng với hoàn cảnh lịch sử.

So sánh hai quan niệm về tu từ, chúng ta có thể nhìn ra lý do tại sao thơ Việt phải chuyển hóa. Quan niệm một câu thơ có một chữ hay là một câu thơ hay, một bài thơ có một câu thơ hay là một bài thơ hay. Theo tiến trình, chữ tồn trữ trong đầu người đọc qua học hỏi và kinh nghiệm (từ Hán Việt chẳng hạn), là một ký hiệu gồm âm thanh hình ảnh (signifier) và khái niệm (signified) tự nó có sẵn, và khi tác phẩm văn học chỉ dùng chữ hay câu chữ để gây ấn tượng và cảm xúc, đưa người đọc nhập vào thế giới siêu hình, siêu thực (thật ra, không có gì trong đó, ngoài chữ), tạo ra những ảo giác từ chữ, cắt lìa với đời sống hiện thực. Cái phù phiếm của văn chương, nếu quá độ sẽ biến thành độc hại, và ngôn ngữ sẽ là thuốc độc, mê hoặc con người, nếu không còn là phương tiện chuyển tải tư tưởng từ người này sang ngưới khác. Chữ trở thành đặc quyền đặc lợi cho một thiểu số văn hóa, một thứ quyền lực, nội bất xuất, ngoại bất nhập, và nhà thơ cảm thấy an toàn khi thoát khỏi thực tại. Cái hay của tác phẩm là cái hay của cảm xúc và hình ảnh toát ra từ chữ, cái dở là từ đó đã kéo theo cả một nền văn học không phát huy được trong bình diện tư tưởng. Như vậy sự khác biệt giữa hai hệ thống, một đàng biến đổi quan điểm tu từ của Đường thi, từ cách dùng chữ tự nhiên thành bí hiểm, khó hiểu, một đàng dựa vào văn phong và nghị luận, không ngừng tìm kiếm tư tưởng, thay đổi cho phù hợp với thời đại xã hội, vì thế hai bên không thể nào hiểu nhau, dù có chuyển ngữ qua lại những tác phẩm văn học.

Thơ Việt, trong dòng chảy tự nhiên, đã có những thời điểm đáng ghi nhớ. Sau Thế chiến, ngay trong thập niên 1940, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thơ vần điệu đã không còn đủ sức chuyên chở những biến động của thời thế, và thơ tự do, thật ra chỉ dừng lại ở loại thơ phá thể,  bắt đầu với những nhà thơ như Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Hoàng Cầm… Rồi chiến tranh chấm dứt, đất nước chia đôi, miền Bắc tự cô lập với thế giới phương Tây trong cơ chế xã hội chính trị, mọi sáng tác văn nghệ đều phải dưới quyền chỉ đạo của Đảng và nhà nước. Một biến cố lớn trong giai đoạn này là vụ án Nhân văn Giai phẩm. Sau đại hội đảng cộng sản Liên xô lần thứ 20, vào tháng 2-1955, Nikita Khruschev (1894-1971) lên án đường lối sùng bái lãnh tụ của Joseph Stalin (1879-1953), đồng thời được tiếp nhận thêm phong trào Trăm hoa Đua nở19 của Trung quốc 1956, tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam là Trường Chinh, bật đèn xanh cho một số văn nghệ sĩ trí thức, xuất bản Nhân văn Giai phẩm, số mùa Xuân vào tháng 1-1956, gồm Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt… đòi hỏi tự do sáng tác và tách rời văn nghệ khỏi chính trị.

Nhưng cùng năm đó lại xảy ra cuộc cách mạng Poznan20 ở Ba Lan và Budapest21 ở Hungary, do những thành phần công nhân và sinh viên nổi dậy, nương theo tinh thần xét lại của Khruschev đề ra, nhưng vì Liên xô sợ sẽ làm thay đổi chủ nghĩa cộng sản ở những xứ này nên ra tay can thiệp, và dập tắt. Đảng cộng sản Việt nam cũng sợ sẽ có biến động, liền lập tức đàn áp, khủng bố tinh thần những thành viên phong trào. Đặc biệt những nhà thơ của phong trào phần nhiều làm thơ tự do, một thể loại bị lên án và cấm đoán từ thời kháng chiến, có lẽ vì cái tên gọi của nó: tự do, dù rằng đây chỉ là loại thơ phá thể không vần, chứ không phải là thơ tự do theo quan niệm của phương Tây. Phần lớn những nhà thơ sau đó, đành phải tìm lối thoát cho riêng mình, lui vào bóng tối, tránh né đời sống, đi sâu vào phong cách tu từ.

Trong lúc, thập niên 1960 ở miền Nam, những nhà thơ tiếp nhận thơ tự do phương Tây, trong bối cảnh, người Pháp cuối cùng rời khỏi Việt nam, chấm dứt một thời kỳ dài đô hộ, để rồi, một cuộc chiến khác bắt đầu bùng nổ. Những nhà thơ này, ảnh hưởng văn hóa Pháp, quay lưng lại với vần điệu Tiền chiến, cổ súy phong trào thơ tự do. Khác biệt về hoàn cảnh xã hội, hệ thống ngôn ngữ và văn hóa, phương pháp biểu hiện, lại ở cách xa một nửa địa cầu, nên khi tiếp nhận thơ tự do phương Tây trên trang giấy, thơ tự do Việt biến thành loại thơ tu từ khó hiểu. Thơ tự do là đặc điểm của ngôn ngữ đa âm, hình thức gắn liền với cách đọc, có khả năng tạo nhạc tính, không có công dụng với ngôn ngữ đơn âm, nếu chỉ đơn giản phân bố chữ trên trang giấy. Căn bản của thơ dựa vào nghệ thuật diễn đạt, cú pháp tạo ra cách đọc (âm pháp), cách đọc tạo ra ý tưởng, và ý tưởng liên kết với nhau qua cấu trúc (đối với thơ Tân hình thức thì qua thể thơ) của toàn bài tạo ra tư tưởng. Sự thất bại của thơ tự do thập niên 1960 ở miền Nam đưa tới phản ứng ngay trong thời kỳ đó, là thơ vần điệu bắt đầu trở lại, cùng tư tưởng Thiền học phương Đông, cuốn theo phong trào Phật giáo sau cuộc đảo chánh vào năm 1963, với những nhà thơ như Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Phạm Thiên Thư… cũng là tu từ. Như vậy, cả hai miền Nam Bắc, dù ở hai hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt, thơ vẫn đi theo một hướng chung, nằm trong khuôn mẫu tu từ, bởi sáng tác bằng tu từ dẫn tới phương pháp phê bình bằng tu từ, thưởng thức bằng tu từ, và thậm chí suy nghĩ cũng bằng tu từ.

Sau biến cố 30 tháng 4 – 1975 22 Việt nam mất liên hệ với với thế giới phương Tây. Một phần người Việt di tản ra khỏi nước, trong khởi đầu vì những đau thương mất mát, một phần bận rộn, và thích ứng với đời sống mới nơi xứ người, cùng lúc trong nước, những nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kỳ đóng cửa, không có gì để tiếp nhận đành phải trở về với phần dịch thuật và sáng tác của miền Nam thời thập niên 1960. Nhưng thật ra, những nhà thơ trẻ chẳng phải chỉ tiếp nhận văn học miền Nam, mà họ còn sống trong không khí gần gũi với giai đoạn Nhân văn Giai phẩm, tiếp nhận luôn phong cách tu từ của những nhà thơ thập niên 1960 ở miền Bắc, vô tình làm trung gian hòa giải giữa hai dòng thơ, lạ lùng thay đều là hai dòng thơ ngoài luồng trong thời đại của họ. Thơ trẻ nằm trong hệ quả đó, tu từ là chính, quay mặt với đời sống, mang tâm thức nổi loạn, chẳng khác nào thế hệ thời thập niên 1960, dù tiêu cực hay tích cực, của cả hai miền. Và khi vai trò của họ xong thì cũng chấm dứt luôn phong trào thơ Trẻ, vì làm sao đi xa được khi đã mắc vào cái bẫy của hai dòng thơ Nam Bắc, và có lẽ định mệnh đã phục sẵn trong tên gọi: thơ Trẻ.

Thật ra, những nhà thơ thời Nhân văn Giai phẩm, miền Nam thập niên 1960, và thơ Trẻ đều là những người muốn đổi mới văn học. Nhưng những nghệ sĩ phương Tây, khi phản ứng với xã hội và thời đại, họ đều lồng vào những thay đổi mang tầm mỹ học.  Thơ tự do phương Tây đầu thế kỷ 20 là một cuộc cách mạng mỹ học lớn, thay đổi phương pháp biểu hiện, phản kháng lại xã hội kỹ nghệ, và những phong trào tiền phong nửa sau thế kỷ, khai phá thêm những khía cạnh mỹ học và quan điểm mới cho thơ tự do. Điển hình là suốt thế kỷ 20, khi chủ nghĩa đế quốc (dù tư bản hay cộng sản), và chiêu bài quốc gia được giương cao, kết hợp nhiều sắc dân lập thành những khối liên kết, thì những nghệ sĩ phần mảnh tác phẩm của họ, như tập thơ “The Waste Land” của T.S. Eliot, tranh lập thể của Picasso, và mới nhất là phong trào Tiền phong thơ Ngôn ngữ Hoa kỳ, thập niên 1980, khi coi ngôn ngữ là biểu tượng cho quyền lực chính trị, họ phần mảnh cú pháp, đưa ra quan điểm mỹ học của họ.

Nhưng sau khi chiến tranh lạnh23  chấm dứt, những sắc dân tách lìa,  xung đột tạo nên những thảm cảnh chiến tranh cục bộ, thì thơ Tân hình thức lại quay về với sự liền lạc của cú pháp, những lý tưởng tự nhiên, toàn bích tiêu biểu qua các thể thơ, thể hiện mong ước được sống cuộc đời bình thường, như một cố gắng xóa bỏ dị biệt, kêu gọi sự cảm thông chia sẻ với nỗi khốn khó của mọi kiếp người. Sỡ dĩ các nghệ sĩ phương Tây gây được những phong trào tiền phong lớn như vậy, vì xã hội tự do cho phép họ tìm được sự đồng thuận về quan điểm xã hội, đồng thời thừa kế một bề dày mỹ học, hai yếu tố gần như lúc nào cũng kết hợp với nhau. Trong khi tại Việt nam, xã hội miền Bắc khép kín, cô lập cá nhân với nhau, còn miền Nam, tuy tương đối tự do nhưng lại không có truyền thống nào ngoài Đường thi, Tiền chiến, nên cả hai đơn thuần chỉ là những phản ứng cá nhân trước thời thế, một đằng là hoàn cảnh xã hội chính trị, một đằng là hoàn cảnh chiến tranh. Nếu thất bại trong việc thay đổi mỹ học, thì những nhà thơ ở thời này lại thành công, đưa thơ Việt lên tới đỉnh cao của tu từ, bởi khó ai hơn được họ, đẩy những thế hệ sau ở vào vị thế bắt buộc phải làm công cuộc thay đổi. Điều này rõ nhất, khi nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (1936–) cuối đời quay về vần điệu với tập thơ “Thơ ở đâu xa”, thơ Trẻ quay về thập niên 1960, và nhà thơ Lê Đạt chơi một mình với “Bóng chữ”. Mỗi nhà thơ như một tinh cầu cô lẻ, mở ra một lối riêng chỉ vừa một người đi trong cái dù che của từ pháp, chỉ vài năm là bí lối. Trong khi thơ, đáng ra không thể là tiểu lộ, phải là đại lộ, hàng ngàn người cùng đi mà vẫn rộng thênh, không thấy đường cùng.

Trong phong trào văn học đổi mới nửa cuối thập niên 1980, nhân thời mở cửa, một số nhà văn tưởng như tìm được sự đồng thuận xã hội nào đó, và thơ Trẻ bây giờ, ở vào thời điểm văn học không còn ảnh hưởng nhiều về mặt xã hội, tuy chưa được chính thức công nhận, nhưng họ cũng đã được tự do sáng tác, muốn viết gì thì viết, nhưng cả hai phong trào vẫn dừng lại, một đằng là phản ứng với cơ chế xã hội chính trị và liền bị dập tắt ngay, một đằng là phản ứng với kinh tế thị trường. Bởi vì muốn chuyển đổi, phải chuyển đổi phương thức biểu hiện, thay thế nghệ thuật tu từ bằng nghệ thuật cú pháp, bước đầu căn bản để hình thành một phương pháp luận, xây dựng những tác phẩm mang tầm vóc tư tưởng, hầu sánh được với những nền văn học khác.

Dĩ nhiên, nền văn học Việt từ hàng thế kỷ nay đã có được những tác phẩm xứng đáng, những nhà thơ tài năng, cùng với một lớp độc giả thưởng thức cái hay của thơ văn xuyên qua hình thức tu từ — chỉ tiếc rằng những thế hệ sau không có thêm được gì mới, ngoài lập lại những sáng tác và bài viết toàn lời hay ý đẹp, đọc nửa chừng phải bỏ ngang, vì thiếu hẳn phân tích lý luận để nối kết ý tưởng, qui vào một mối, lôi cuốn người đọc. Lớp độc giả đó càng ngày càng ít, vì thế hệ có nhiều chữ (như Hán Việt) để thưởng thức được cái hay của nghệ thuật tu từ dần dần mai một. Khi sự cân bằng giữa sáng tác và người đọc không còn, nền văn học rơi vào bế tắc, và người viết cũng chính là người đọc. Thơ trẻ có lẽ là thế hệ sau cùng còn tiếp nối được, và cũng là thế hệ chấm dứt luôn nền văn học tu từ, bởi một thế hệ trẻ hơn sau này, trưởng thành trong thời mở cửa, sẽ không còn khả năng thưởng thức những cái hay mang tính tu từ của những tác phẩm hiện nay. Và họ cần những tác phẩm có cách diễn đạt trong sáng, chuyên chở được tư tưởng và đời sống thực tại của chính họ đang sống. Cũng như những nhà thơ Tân hình thức Việt hiện nay, họ có nhiều cơ may và khả năng tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cởi mở hơn và dễ tiếp nhận phương cách biểu hiện mới trong văn học, giúp họ tiếp thu được kiến thức và hiểu biết có ngọn ngành. Từ điểm đó, nhìn lại những biến chuyển của văn học Việt, những dòng văn học đóng góp cho sự chuyển động mạnh mẽ lại là những dòng ở ngoài luồng chính, bị trấn áp và ngăn cấm như Nhân văn Giai phẩm, Văn học miền Nam 1960, Văn học Đổi mới thập niên 1980, và bây giờ là thơ Trẻ và thơ Tân hình thức. Đó là đặc điểm của văn học Việt trong hơn nửa thế kỷ qua, và cũng nói lên một sự thực, không ai có thể phủ nhận giá trị của một dòng văn học. Có lẽ vì thế mà văn học Việt tiến chậm hơn các nền văn học của những nước khác chăng? Có lẽ vì thế mà tình trạng dân trí càng ngày càng thụt lùi, và khoảng cách giữa lớp người đọc và sáng tác  càng ngày càng lớn, tưởng như khó vượt qua?

Thêm nữa, thơ tự do phương Tây là một dòng thơ đã lạc điệu, bị hạn chế bởi phương cách tự diễn đạt, nhà thơ nhân danh cái tôi, chỉ nói đến suy nghĩ, cảm xúc qua nhãn quan của chính cá nhân họ, không có khả năng phát hiện sự mới lạ nơi những câu chuyện tầm thường giản dị xảy ra chung quanh. Kết quả là người đọc sợ thơ, nhà văn không đọc thơ, ngay nhà thơ cũng không đọc thơ của những nhà thơ khác, chỉ đọc thơ của mình và bạn bè mình, và người đọc mất đi sinh thú thưởng thức cái hay của thơ. Nếu cơ chế tu từ là một hàng rào cản, ngăn cấm bất cứ sự giao tiếp nào với thế giới bên ngoài, thì thơ tự do là sản phẩm của thế kỷ 20, mang tất cả những đặc tính của thế kỷ này, cả về xã hội và chính trị, không còn phù hợp với xu thế thời đại, cần hàn gắn những bất đồng, để mọi người có thể chung sống trong an bình hạnh phúc. Đối với Việt nam lại còn khẩn thiết hơn vì hậu quả của cuộc chiến tương tàn, lòng người phân tán, cần có phương thuốc chữa lành, sau những tang thương đổ nát.

Tác động của thời thế và vai trò nhà thơ

Việt nam, trong nửa thế kỷ qua, vừa thoát khỏi sự đô hộ của Pháp, thì lại rơi vào cuộc chiến 20 năm, khốc liệt nhất từ trước đến nay. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ba nước bị phân chia là Đức, Triều tiên và Việt nam. Năm 1975, Việt nam thống nhất nhưng lại rơi vào cơ chế xã hội chủ nghĩa, và cho đến khi các nước Đông âu tan rã vào năm 1989, Đông Đức và Tây Đức hợp nhất, chủ nghĩa tư bản thắng thế, hệ thống chính trị và kinh tế nước Đức theo chế độ tư bản; trong khi đó, Triều tiên vẫn còn ở tình trạng phân chia. Sau khi Đông âu và Liên Xô tan rã, hàng loạt những cuộc chiến tranh chủng tộc và tôn giáo xảy ra như  tại Yugoslavia (1991), Rwanda (1994), Sri Lanka, Đông và Tây Timor… Tiếp theo đó là chủ nghĩa khủng bố, thể hiện sự bất đồng giữa thế giới Hồi giáo và phương Tây, với cao điểm, hai tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới bị phá sập thành tro bụi ngày 11-9-2001 tại New York.

Nhu cầu hòa giải giữa những sắc dân, khác biệt về chính trị, tôn giáo, văn hóa cần phải đặt ra để mọi người có thể sống chung trong hòa bình, và những bộ môn văn học gắn liền với đời sống và tâm tư con người cũng cần thay đổi cách biểu hiện, để phù hợp với những biến chuyển của thời đại. Như vậy Việt nam, Đức và Triều tiên là ba mô hình hiện nay để chúng ta có thể rút ra những bài học và kinh nghiệm về tinh thần hòa giải: Đức, tư bản; Việt nam, nửa kinh tế thị trường, nửa cộng sản; Triều tiên, Bắc cộng sản, Nam tư bản.  Nhìn lại lịch sử Việt, sau khi Ngô Quyền giành được độc lập vào năm 938, để tránh sự xâm lược, những triều đại sau này, hàng năm vẫn phải mang phẩm vật triều cống Trung hoa. Điều này chứng tỏ dân Việt là một dân tộc hiếu hòa, dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, lịch sử Việt nam lại có rất nhiều cuộc phân hóa. Lần đầu tiên là hai họ Trịnh Nguyễn phân tranh, hay Nam Bắc triều từ 1543-1788, và khi Người Pháp đô hộ Việt nam, dùng chính sách chia để trị, và với địa thế hình cong chữ S, và hệ thống giao thông khó khăn, chỉ thuần đường bộ và đường thủy, với ngựa và ghe thuyền, đã làm cho tinh thần kỳ thị Nam Bắc trầm trọng thêm. Cuối cùng là cuộc chia cắt đất nước vào năm 1954. Như vậy, vai trò của văn học phải là sự tiếp nhận có phương pháp những yếu tố văn hóa, hòa giải những dị biệt giữa người dân với nhau, để có được những phát triển đúng hướng.

Sau thế chiến II, những biến động lịch sử trên thế giới ảnh hưởng rõ nét đến tình hình Việt nam. Mùa Xuân 1940, Đức thắng Pháp, dựng nên chính phủ bù nhìn Marshal Henri-Phillipe Pétain (1856-1951), và cũng năm này Nhật liên minh với Đức làm thành phe trục Đức Ý Nhật. Trước đó Nhật đã tấn công Trung hoa năm 1937, và tháng 9-1940 tràn vào Việt nam, lợi dụng thỏa ước giữa Pháp và Đức (tháng 6-1940) khiến Pháp không thể tiếp viện cho Đông dương, yêu sách theo đó Nhật và Pháp chung sức bảo vệ Đông dương, thật ra Nhật kiểm soát hết và Pháp chỉ giữ cơ chế cai trị. Hoa kỳ vẫn đứng ngoài cuộc chiến cho đến khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7 tháng 12-1941, trước khi tiến chiếm Đông Nam Á và quần đảo Mã lai để tìm nguồn dầu hỏa, cao su và thực phẩm (extensive food). Ngày hôm sau, Quốc hội Hoa kỳ tuyên chiến với Nhật, và 4 ngày sau, phe Trục tuyên chiến với Hoa kỳ. Vào ngày (D-Day) 6 tháng 6-1944, quân đội Đồng minh băng qua eo biển Anh, đổ bộ thành công lên miền bắc nước Pháp, giải phóng Paris vào ngày 25 tháng 8-1944. Chiến tranh chấm dứt ở Âu châu với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức vào 8 tháng 5-1945, Anh Pháp Trung Hoa kêu gọi chính phủ Nhật đầu hàng nhưng không được trả lời.

Khi Pháp được quân đồng minh giải phóng 24, Nhật lật đổ Pháp 25 ở Việt nam vì sợ Pháp lật ngược tình thế. Nhưng cũng chỉ được vài tháng,26 đến ngày 14-8-1945 Nhật đầu hàng vô điều kiện vì bị hai quả bom nguyên tử của Hoa kỳ bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki. Lúc này, Việt nam rơi vào khoảng trống quyền lực vì Pháp đã bị Nhật lật đổ và Nhật lại đầu hàng, nên Việt Minh, với danh nghĩa của đảng cộng sản Việt nam, lợi dụng cơ hội, giành chính quyền, tuyên bố độc lập vào ngày 19-8-1945. Vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại thoái vị 27. Sau khi Nhật đầu hàng, quân Đồng minh giao cho Tưởng Giới Thạch của Trung hoa, do hai tướng Lư  Hán và Tiêu Văn cầm đầu, giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, và quân Anh Pháp từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam. Chỉ 21 ngày sau ngày Việt Minh tuyên bố độc lập, Pháp vào thay thế quân Anh ở Sài gòn, thành lập chính quyền tạm thời từ Nam ra Bắc 28. Lúc này, Việt Minh hãy còn yếu thế, bèn ký kết Hiệp định Sơ bộ29, làm hòa với Pháp, liên hiệp với các đảng phái quốc gia, để cũng cố lực lượng và thâu tóm quyền lực, cho đến ngày 19-12-1946 mới phát động toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1947 đến 1949, chính quyền hoàn toàn nằm trong tay Pháp, cho đến Hiệp ước Élysée ngày 8-3-1949, Pháp trao trả độc lập cho Việt nam, nhưng không phải cho Việt Minh mà thành lập Quốc gia Việt nam, đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng. Cuộc chiến Quốc Cộng từ đó bắt đầu.

Đó là giai đoạn vô cùng hỗn loạn, lòng người phân tán, thời thế đổi thay, nhà thơ cũng chẳng khác nào người dân thường, không còn tâm trí đâu để nghĩ đến sự thay đổi cách làm thơ, những sáng tác vì thế hoặc là vần điệu Tiền chiến, hoặc là tiếp tục loại thơ phá thể từ thời Phan Khôi, chỉ có nội dung là khác, nói lên tinh thần yêu nước, tâm trạng của người chiến binh xa nhà, và những ước mong hòa bình, dứt bỏ lãng mạn cá nhân, đề cao tình tự dân tộc. Thơ bước qua một bước khác, đề cập tới đời sống bình thường, bởi nhà thơ, trong lúc hòa nhập với mọi người, tham gia cuộc chiến lý tưởng, chia sẻ tình tự và những khốn khó của mọi tầng lớp xã hội. Và một đặc điểm khác là ngay cả những nhà thơ với nhau, cũng không còn phân chia khuynh hướng lãng mạn hay hiện thực, mà dường như gộp chung thành lãng mạn hiện thực, dù là vần điệu hay thơ tự do phá thể, chỉ thuần nói lên tâm tình của con người, trong sáng và chân thật. Và cũng trong bối cảnh đó, chính sách chia để trị của thực dân Pháp dần dần bị hóa giải.  Nhưng phải đợi tới cuộc di cư năm 1954 của khoảng 700 ngàn người dân miền Bắc, tại miền Nam, người dân hai miền mới có được những va chạm thực tế, hoàn tất qui trình hòa giải.

Cả hai miền Nam Bắc, người dân chỉ được sống trong hòa bình vài năm, đến 20-12- 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập, bắt đầu cuộc chiến giữa hai miền. Sự chia rẽ lại trở thành một vết thương trí mạng vì sự nhúng tay của những thế lực bên ngoài, một đằng là lý tưởng cộng sản đại đồng, một đằng là lý tưởng tự do của chủ nghĩa tư bản. Năm 1976, đất nước thống nhất, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Việt nam chỉ còn quan hệ với Liên xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, và người dân ở cả hai miền Nam Bắc, trong khó khăn cùng cực, đầy ngộ nhận và hiềm khích qua những thể chế khác biệt về ý thức hệ, phải tự hòa giải với nhau để sống còn, và hàn gắn lại những vết thương tâm lý.

Hơn một thập niên sau, năm 1978, tại Trung hoa, Đặng Tiểu Bình (1904-1998) lên nắm quyền lực, tiếp tục chủ trương Tứ Hiện Đại Hóa của Chu Ân Lai (1898-1976), canh tân kỹ nghệ, canh nông, quốc phòng và khoa học. Tại Nga, Mikhail Gorbachev (1931–) chủ trương đổi mới (Perestroika) vào năm 1986, và cũng năm này, Việt nam nương theo ảnh hưởng của Nga, chủ trương đổi mới và cởi trói văn nghệ, xuất hiện văn nghệ đổi mới. Nhưng đến năm 1989, bức tường Bá linh sụp đổ, kéo theo sự tan rã của những chế độ cộng sản Đông âu, thì Việt nam chấm dứt sự cởi trói văn nghệ vì sợ rằng sẽ kéo theo sự sụp đổ chế độ. Đến năm 1991, Boris Yeltsin (1931–) lên nắm quyền tại Nga, giải tán đảng Cộng sản, Việt nam mất đi nguồn viện trợ chủ yếu từ Nga (3 tỷ mỹ kim từ 1976-80), hướng về Trung hoa thì lại vướng vào cuộc xung đột biên giới30 vào năm 1979, nên đến năm 1992, phải quay qua kinh tế thị trường, tìm kiếm nguồn đầu tư từ thế giới tự do, cứu vãn nền kinh tế, nhưng vẫn giữ định chế chính trị, với quan niệm, kinh tế thị trường định hướng bởi xã hội chủ nghĩa. Với một quan điểm, bảo vệ sự ổn định chính trị để phát triển kinh tế, một phần vì nền văn học in ấn đã không còn sức mạnh như cách đây nửa thế kỷ, một phần khác, sự chuyển qua kinh tế thị trường, làm cho người dân, mong muốn có một đời sống tốt đẹp hơn nên những quan tâm của họ hoàn toàn hướng về đời sống kinh tế.

Nhà nước Việt nam đã gần như chỉ chú tâm tới những tác phẩm mang tính chống đối và có màu sắc chính trị, nên những sáng tác thuần văn học như trường hợp thơ Trẻ mới có cơ hội xuất hiện. Thực ra, chấp nhận sự đổi mới văn học, không ảnh hưởng nhiều đến chế độ chính trị, mà còn làm cho chế độ có được bộ mặt cởi mở, đối với cộng đồng thế giới. Những phát hiện về lý thuyết hỗn mang (chaos theory) cho chúng ta thấy, một sự xáo trộn nhỏ trong trạng thái đầu tiên của hệ thống, có thể thay đổi triệt để trạng thái sau cùng, và tùy thuộc mẫn cảm vào những điều kiện ban đầu (Sensitive dependence on initial conditions). Và như thế sự thay đổi qua kinh tế thị trường, sẽ dần dần dẫn đến những sự thay đổi khác, một cách tự nhiên và không ai có thể đoán trước.

Một năm sau khi đổi mới, vào năm 1987, William Joiner Center bắt đầu qua văn học, đặc biệt là thơ như một chất xúc tác (catalyst) để mang kẻ thù trở thành bạn, với mong ước, dùng thơ để phá tan sự phân chia tạo ra bởi những định kiến chính trị. Dĩ nhiên những cựu chiến binh Hoa kỳ, không hề quan tâm tới giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm, mà chỉ xem qua những tác phẩm đó, kẻ cựu thù nói gì về mình, và mục đích của họ, bước đầu là hòa giải với nhà nước Việt nam, dọn đường cho sự hòa giải về chính trị và giao thương buôn bán. Quan niệm như thế dĩ nhiên là đúng, bởi vì thơ là một hình thức mỹ học mạnh nhất có khả năng tạo sự cảm thông và hòa giải.  Cynthia Cohen 31 viện dẫn  triết gia người Pháp Gaston Bachelard, cho rằng:

“để hiểu một bài thơ, chẳng những chúng ta cần chú tâm đến chữ và âm thanh của bài thơ, mà còn phải chú tâm đến cách nào những chữ và âm thanh đó vang dội trong ta. Ông nói, sự chú tâm của chúng ta “rọi sáng”, giữa hình ảnh thi vị và đáp ứng của chính mình. Như vậy, bài thơ mời gọi chúng ta kinh nghiệm vài điều mà trước đó tự mình không biết về mình; và ngược lại, chỉ bằng cách chú tâm đến thứ được khơi dậy bên trong chúng ta, mới có thể “hiểu” được bài thơ. Bachelard nhắc đến loại cảm thông này – sự cảm thông sâu xa xảy ra cùng lúc của bản ngã và kẻ khác qua nhau – như một xuyên-chủ-thể.”

Cynthia Cohen nhấn mạnh tới “sự cảm nhận tỉnh thức” (feelingful awareness), tương đương như quan điểm “bi và trí” (compassion and wisdom) một tư tưởng của Phật giáo đã hòa nhập vào nền văn hóa Việt, vả lại, những bài thơ đầu tiên xuất hiện từ đời nhà Lý, đầu thế kỷ 11, lại là những bài kệ do những thiền sư Phật giáo làm ra. Bi là sự đồng cảm, cùng chia sẻ với nỗi đau của kẻ khác, trong khi trí là nhìn rõ được thật tướng của thế gian, của con người. Dĩ nhiên, khi lý giải để áp dụng vào trong đời sống, nó không còn mang ý nghĩa của tôn giáo, mà có thể hiểu như Cynthia Cohen, qua bài thơ, người đọc dễ nảy sinh sự cảm thông, với chính mình, và với kẻ khác, nhìn ra được sự thật, thấy được cả những ưu và khuyết điểm để vượt qua những hố sâu ngăn cách.

Từ thập niên 1990 trở về trước, văn học Việt đều nằm trong hệ tu từ, nên khi cuốn theo tác động của kinh tế thị trường, sau năm 1992, hàng loạt tác phẩm được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp nhưng không tạo nên được bất cứ ảnh hưởng nào trong giới văn học phương Tây, và hầu như đi vào quên lãng. Bởi một điều, sự khác biệt giữa hai hệ thống văn học phương Tây và Việt nam lại thuộc về hai phương pháp sáng tác khác hẳn, một đằng theo phương pháp tu từ, một đằng dựa vào phương pháp luận và cú pháp văn phạm để chuyển tải tư tưởng, nên khi chuyển dịch ra tiếng Anh, người đọc phương Tây, hoặc không tìm thấy gì trong đó, hoặc là rất khó hiểu. Nhất là thơ lại càng khó hơn, vì khi dịch ra văn xuôi, thơ chỉ còn là những đoạn văn tầm thường, nhạt nhẽo, hoặc lủng củng cú pháp. Chẳng những thế, tác phẩm được chuyển dịch, thường thuộc về chính luồng, do sự kiềm chế của nhà nước, chỉ muốn duy trì thơ ở nguyên trạng cũ từ nửa thế kỷ trước, nên không những không nói lên được thực trạng đời sống xã hội, mà phương pháp biểu hiện cũng đã lỗi thời, không đúng thực với tình trạng thơ Việt. Ở đây, chúng ta có thể nhận ra, nếu phương Tây, bắt đầu từ thời Phục hưng, với cuộc cách mạng kỹ nghệ, xã hội luôn luôn thay đổi và vì thế hết trào lưu này qua trào lưu khác, văn học nghệ thuật là những khám phá không ngừng, nhưng xã hội Việt nam là một xã hội nông nghiệp, nên không có nhu cầu thay đổi về mọi phương diện. Giống như thơ văn từ Tiền chiến đến tự do, dù có thay đổi cách biểu hiện vì tác động của thời thế, nhưng cũng như xã hội, vẫn đặt căn bản trên nghệ thuật tu từ. Mặt khác, vì nhà nước luôn luôn tìm cách can thiệp vào quyền tự do sáng tác, nên mọi cố gắng đổi mới, hoặc bị bóp nghẹt hoặc rất khó xảy ra.

Nếu văn học phản ảnh đời sống xã hội và chính trị, thì ngược lại, qua đời sống xã hội và chính trị, chúng ta có thể hiểu được nền văn học đó. Việt nam từ trước đến nay đều coi trọng nghề nông, sĩ nông công thương, nghề nông chỉ đứng sau tầng lớp thống trị, nên bản chất người dân ưa chuộng hòa bình, cốt an cư lạc nghiệp chứ không muốn cạnh tranh, tiến thủ. Những cuộc chiến tranh gây ra, cũng chỉ vì bất đắc dĩ để bảo tồn cuộc sống, phát xuất từ tinh thần bảo thủ cố cựu. Về tinh thần người dân, giàu cảm xúc hơn khoa học, giàu trực giác hơn lý luận, thích văn chương phù phiếm hơn thực chất tư tưởng. Với thơ cổ điển, nếu Truyện Kiều 32 của Nguyễn Du dùng thể thơ lục bát của dân gian kết hợp với nghệ thuật cao cấp và tinh hoa của nền văn hóa Trung quốc, giữa nghệ thuật tu từ điển tích và tu từ đời thường, thì Cung Oán Ngâm Khúc 33 của Ôn Như Hầu, và bản dịch Chinh Phụ Ngâm34 (nguyên tác bằng chữ Hán, của Đặng Trần Côn, làm theo thể Trường Đoản Cú, câu dài câu ngắn, loại thơ phá thể) ra chữ Nôm của Phan Huy Ích, theo thể song thất lục bát. Sau khi chữ Quốc ngữ được phổ biến rộng rãi, thơ Tiền chiến tiếp tục tinh thần đó, dùng lại vần và các thể của Đường thi.

Sự chuyển giao giữa hai dòng thơ cũng là sự chuyển giao giữa nền cựu học và Tây học, giữa chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, giữa thế hệ này và thế hệ khác. Như đã đề cập, thơ cổ điển (hay thơ chữ Nôm) tách ra được với cơ chế quyền lực chính trị (chữ Hán), và thơ chữ Quốc ngữ cũng không bị quyền lực chi phối nên khi chuyển giao, sự mâu thuẫn hầu như không có. Bởi một lý do, nền tảng quyền bính nằm trong tay Pháp, đã không cho phép tiếp tục duy trì thơ cũ, một lý do nữa là người khởi đầu thơ mới lại là một nhà khoa cử cựu học là Phan Khôi (1887-1959) với bài thơ “Tình Già” xuất hiện năm 1932, và một nhà thơ Tây học như Vũ Đình Liên (1913-1996) với bài thơ “Ông Đồ” vào năm 1936, lại nuối tiếc một thời đã suy tàn.  Những nhà thơ vẫn gắn bó với Đường thi và chuyên làm theo thể loại này như Đông Hồ (1906-1969), Quách Tấn (1910-1992), Ngân Giang… có nhà thơ làm cả hai thể loại như Vũ Hoàng Chương. Thơ Việt từ 1945 trở về trước, phát triển bình thường, dưới chế độ phong kiến và thuộc địa, vì dù có thay đổi chữ viết, đời sống xã hội thuần phác, căn cỗi thơ Việt vẫn nằm trong ảnh hưởng và tâm thức Đường thi. Những tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo thấm nhuần trong đời sống dân gian, hai dòng thơ cổ điển và Tiền chiến cũng chỉ thể hiện đúng tinh thần của nền văn hóa đó. Những nhà thơ có được quyền tự do và độc lập với cơ chế chính trị, nên đã có được những tác phẩm giá trị, một cách nào đó đã làm đúng chức năng của thơ, hòa giải giữa hai nền văn hóa, giữa giai cấp thống trị và dân gian.

Thơ Tiền chiến dựa vào các thể thơ của Đường thi và ca dao để đưa vào cảm xúc và nội dung mới, kết hợp ngọn gió cuối mùa của phong trào Lãng mạn Pháp với không khí suy tàn của Đường thi còn sót lại, trên nền tảng nghệ thuật tu từ đã có sẵn từ thơ cổ điển. Trong khi thơ tự do phương Tây là một bước ngoặt, thoát ra khỏi thơ truyền thống, hoàn tất một nền tảng mỹ học khác. Vì vậy vào thập niên 1960, những nhà thơ miền Nam phát động phong trào thơ tự do, cách tiếp nhận ảnh hưởng phương Tây cũng không khác nào thơ Tiền chiến trước đó, không quan tâm tới học thuật như thời Đông dương và Nam phong Tạp chí, chỉ tiếp nhận những khái niệm mà không tiếp nhận được phương pháp, nên không thể vượt qua được bề dày tư tưởng học thuật phương Tây. Thơ tự do vướng vào thuật ngữ, hòa trộn tu từ thời Đường thi Tiền chiến với tư tưởng Siêu thực Pháp ở thập niên 1930, dựa theo loại thơ phá thể đã có từ thơ cổ điển. Cũng giống như thơ Tiền chiến, thập niên 1960 ở miền Nam, không bị quyền lực chính trị chi phối, bởi một điều, chính quyền và giới văn nghệ sĩ có chung một lý tưởng bảo vệ tự do, nên sự kiểm soát văn học không cần thiết, chỉ có sự kiểm duyệt báo chí vì nhu cầu chiến tranh, nhưng khác thơ Tiền chiến và giống với thơ chữ Nôm trước đó, nhà thơ rơi vào ảo tưởng quyền lực của chữ.

Trong khi thơ luồng chính ở miền Bắc, tuy không qua con đường khoa cử nhưng các lãnh tụ đều coi thơ như một phương tiện qua đó kiểm soát toàn bộ văn học. Nếu trong chế độ phong kiến, vua quan đều làm thơ, thì dưới chế độ cọng sản, các lãnh tụ đều làm thơ như Hồ Chí Minh (1890-1969), Lê Đức Thọ (1911-1990), Trường Chinh (1907-1988), Tố Hữu (1920-2002)… Thơ phải đơn giản dễ hiểu để quyền lực qua thơ được mở rộng và ảnh hưởng đến mọi tầng lớp dân chúng. Một số nhà thơ bị o ép bởi cơ chế quyền lực chính trị, tránh né những biểu hiện có tính nội dung, qua chữ, tìm kiếm một quyền lực ảo tưởng khác để phản ứng lại. Như vậy, thơ ngoài luồng miền Bắc và thơ miền Nam, dù không có liên hệ gì với nhau, vì sự đối đầu chính trị giữa hai miền, nhưng lại có cùng một khuynh hướng, thể hiện tính đối kháng, bế tắc về chính trị và học thuật, tạo nên cực đoan về văn học, đẩy phương pháp tu từ tới chân tường, không còn mang ý nghĩa thông thường, tự nhiên như thơ cổ điển và Tiền chiến. Quan niệm ý ở ngoài lời biến thành thói quen suy diễn và phán xét, cũng biểu lộ khía cạnh của quyền lực.

Sau 1975, quyền lực văn học chính luồng nằm trong tay thế hệ chống Mỹ, theo đúng đường lối và chỉ thị của đảng và nhà nước, và thế hệ trẻ trưởng thành sau chiến tranh bị đẩy ra ngoài luồng, không có bất cứ phương tiện nào ngoài cách in ấn bằng computer, chuyền tay trong bạn bè. Nếu những nhà thơ thời Nhân văn Giai phẩm thừa hưởng nền giáo dục Pháp, có khả năng ngôn ngữ và ảnh hưởng văn hóa Pháp, thuộc về thế hệ chống Pháp, thì những nhà thơ chống Mỹ, gần như không có khái niệm gì về phương Tây, chỉ ảnh hưởng một chiều văn học cộng sản thời Liên xô cũ. Sự phản ứng trong văn học thấy rõ, những nhà thơ ở ngoài luồng chính, thuộc thế hệ sau chiến tranh, quay về với dòng văn học bị lên án là phản động và đồi trụy thập niên 1960 ở miền Nam. Nhưng khi chỉ liên hệ với con chữ, ma lực của chữ làm cho người làm thơ rơi vào ảo tưởng, sống trong một thế giới huyền hoặc, càng lúc càng xa rời nghệ thuật thơ, xa rời đời sống thực.

Như vậy, hai dòng thơ chính luồng và ngoài luồng đều không có khả năng thay đổi, và những nhà thơ cũng không muốn thay đổi, vì thay đổi có nghĩa là mất hết, không còn gì. Thơ không có người đọc, vì thơ chính luồng chỉ tiếp nối loại thơ vần điệu và phá thể từ thời Tiền chiến, với nội dung lập lại những khuôn mẫu chính trị có sẵn, còn thơ ngoài luồng thì người đọc lại không ai hiểu, và nhà nước cũng muốn như thế vì đỡ đi một mối bận tâm. Thơ đánh mất chức năng tạo sự cảm thông, đứng ngoài trước sự thay đổi của thời thế, trong khi đáng lý ra, phải nói lên được khao khát của mọi tầng lớp xã hội, chia sẻ và hòa giải những bất đồng và làm dịu vết thương chiến tranh. Sự can thiệp của cơ chế chính trị vào văn học đã tạo nên một nền văn học không bình thường, phản ảnh một xã hội không bình thường. Dĩ nhiên, nhà thơ cũng như thơ chỉ là nạn nhân của những thế lực áp đặt từ bên ngoài, bất lực trước những vấn nạn của lịch sử. Nhìn vào những xã hội tự do dân chủ, nền văn hóa văn học độc lập với cơ chế quyền lực chính trị, nên phát triển và lớn mạnh, lúc nào cũng theo sát những biến chuyển của đời sống và kịp bước với nền văn minh.

Nếu cứ như thế, thì dù thời gian có trôi đi, nền văn học sẽ mãi đứng nguyên một chỗ. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, cuộc di cư tái diễn, hàng triệu người bỏ nước ra đi, nhưng lần này bi thảm hơn, phải trả giá bằng sự chết, giữa đại dương mênh mông. Một số nhà thơ trẻ ở thời điểm đó, nắm chắc ngôn ngữ Việt, đến được đất nước tự do, phải đối mặt với sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa, và sau hơn hai thập niên vượt qua mọi khó khăn, nhận ra khuyết điểm và bế tắc của thơ Việt gần nửa thế kỷ. Đầu năm 2000, xuất hiện phong trào thơ Tân hình thức, nhưng không giống như cuộc chuyển đổi êm đềm giữa Đường thi và Tiền chiến, chỉ 3 năm sau, gây nên cuộc tranh luận gay gắt, bởi một điều dễ hiểu, Tân hình thức cố gắng đưa nền văn học thoát ra khỏi cơ chế tu từ. Nhưng thói quen sáng tác và thưởng thức tác phẩm văn học qua tu từ, vẫn hoàn toàn bao trùm trên nền văn học từ trong ra ngoài nước, nên tinh thần bảo thủ, sợ thơ Tân hình thức sẽ làm lu mờ những dòng thơ khác như vần điệu và tự do. Điều này hoàn toàn không đúng nếu chúng ta tìm hiểu lý thuyết và đường hướng thơ tân hình thức Việt.

Tân hình thức là một thuật ngữ mà những nhà thơ Việt mượn từ phong trào thơ Tân hình thức Hoa kỳ, nhưng nếu thơ Hoa kỳ quay trở về với thể luật truyền thống, rót ngôn ngữ thông thường vào thơ, làm thành thi pháp đời thường, tiếp nối cuộc cách mạng đã khởi đi từ một thế kỷ trước với phong trào Lãng mạn và giai đoạn đầu của thơ tự do, nhưng đã bị gián đoạn bởi những phong trào tiền phong ở nửa sau thế kỷ, thì thơ Việt ở vào một trường hợp khác hẳn. Không thể đưa ngôn ngữ thường ngày vào thơ vì bị vướng vào luật vần của thơ Tiền chiến, và cũng không thể rút tỉa được gì nơi loại thơ tự do tu từ của thời thập niên 1960, những nhà thơ Tân hình thức Việt phải so sánh sự khác biệt giữa ngôn ngữ đa và đơn âm, chọn lọc những yếu tố phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa Việt để tạo thành luật tắc mới cho thơ. Và từ thành quả trong sự thực hành, những nhà thơ Tân hình thức Việt tình cờ tiếp nhận được thể thơ “không vần” của phương Tây. Dùng lại các thể thơ 5, 7, 8 chữ và lục bát, thay thế luật vần của thơ Tiền chiến bằng kỹ thuật lập lại và vắt dòng, nhưng kỹ thuật lập lại chẳng phải chỉ rút tỉa nơi luật tắc Iambic và kỹ thuật của thơ tự do tiếng Anh, mà còn phối hợp với Hiệu ứng cánh bướm, phản hồi và trùng lặp, nương theo biến đổi từ những biến cố tự nhiên.

Như vậy Tân hình thức cũng không khác gì thơ cổ điển, Tiền chiến, và ca dao lục bát, đều là những dòng thơ mang tinh thần Việt, có khả năng hòa giải và tiếp nhận rất cao, không hề có sự phân biệt giữa dòng này và dòng khác, chỉ là cuộc chuyển đổi, và biến thể để thành một dòng thơ mới, chẳng khác nào những trào lưu văn học, một trào lưu này cũng chỉ là sự biến thể của một trào lưu trước đó mà thôi. Một điều đáng ghi nhận, nếu thơ Tiền chiến giữ vần và của Đường thi, thì Tân hình thức bỏ luôn vần, tiếp tục hòa giải với nền văn hóa phương Tây. Và cũng trong tinh thần hòa giải, giữa truyền thống và tự do, thơ tân hình thức Việt là một dòng chảy mới, học hỏi cả ở tự do và vần điệu để tìm kiếm một nền thơ mới, như tiếng nói của mọi người Việt, tha thiết với sự chuyển đổi, để có thể đập chung một nhịp với cộng đồng thế giới rộng lớn. Và bởi tính cách bình dân của nó, thơ Tân hình thức có khả năng chuyên chở tình tự của mọi con người, phá vỡ tính cao cấp, khó hiểu, thể hiện tinh thần bình đẳng, dân chủ, có khả năng lấp đi khoảng cách giữa người đọc và sáng tác, và cũng là bước đầu kéo theo sự biến chuyển của những bộ môn khác như tiểu thuyết, hội họa, kịch nghệ…

Kết luận

Khi chấp nhận kinh tế thị trường, Việt nam bước qua một trang sử mới, và dù có định hướng bởi xã hội chủ nghĩa thì đó cũng chỉ là giải pháp tạm thời, từ từ hình thành vị trí của mình trong cộng đồng thế giới. Thơ và các loại hình văn học, là tầm nhìn của một dân tộc, phải thích ứng để thế giới nghe được tiếng nói của mình, và mình nghe được tiếng nói từ thế giới bên ngoài. Nhìn suốt qua tiến trình chuyển hóa, văn học Việt luôn luôn bị chi phối và ám ảnh bởi quyền lực, dù chính trị hay ảo tưởng. Quyền lực ảo tưởng làm cho nền văn học trở thành bất động, bảo thủ, xa cách đời sống. Nhưng văn học vì phải sống tầm gửi vào quyền lực quá lâu, có tâm lý sợ quyền lực và nhu cầu lệ thuộc quyền lực. Những cuộc tranh luận, dù trước kia hay bây giờ, chỉ thể hiện quan điểm giành lấy một quyền lực ảo tưởng nào đó chứ không hề đưa ra được phương cách đóng góp vào sự chuyển biến văn học, hay tiếp cận sự thật. Đám đông bị đẩy ra ngoài đời sống văn học, và nếu không thì cũng chỉ là con rối. Một nền văn học không hề có một lý thuyết mỹ học và phương pháp luận làm kim chỉ nam, thì biết đường nào mà phát triển. Vì thế, dẫn đến điều vô lý, hoặc dùng học thuyết chính trị Marx-Lenin để giải thích văn học, hoặc dựa vào những khái niệm triết học và văn học của xã hội kỹ nghệ hay tiêu thụ phương Tây áp đặt lên những tác phẩm được hình thành từ một xã hội nửa nông nghiệp nửa cộng sản. Sự kiện này chứng tỏ những người làm văn học đã không nhận ra chân tướng của nền văn học. Trong khi đất nước sau nửa thế kỷ chiến tranh và phân hóa, đang cần sự cảm thông hòa giải giữa con người với nhau, và giữa mọi tầng lớp xã hội, thì thơ và văn học gần như không có tác dụng gì với đời sống văn hóa. Nhà thơ Frederick Turner trong bài nói chuyện ngày 21 tháng 9 năm 2002 tại The Philadelphia Society Cleveland Regional Meeting, với tựa đề “The New Classicism and Culture” 35 cho rằng:

“… nhưng với mạng lưới quốc tế internet, một thành tố mới có ý nghĩa đã nhập cuộc, và trong khi thời Phục hưng có lẽ phải mất 300 năm để phổ biến khắp Âu châu và phong trào Lãng mạn cả trăm năm mới phổ biến khắp phương Tây, bây giờ chỉ cần một hai thập niên là toàn thế giới bừng tỉnh trước sự thay đổi đang xảy ra ở khí hậu văn hóa.”

Văn học chân chính không phải là một động lực để phục vụ hay lật đổ chính quyền, mà là thể hiện và phản ảnh đời sống xã hội. Trong tình trạng đó, nhà nước không thể kiểm soát được dòng thơ ngoài luồng, vả lại cũng vô hại, nên thơ Việt hiện nay đang có cơ hội để tìm kiếm một quan điểm mỹ học mới. Nhà thơ tương đối vẫn có tự do sáng tác, chỉ tiếc rằng khi có tự do lại không biết phải làm gì với tự do. Sự vướng mắc là do chính những nhà thơ, nhà văn không dám cởi trói chính mình, rũ bỏ quá khứ, để thơ và văn học có được những sinh hoạt lành mạnh.

Hiện nay, hơn năm mươi phần trăm dân số Việt nam sinh ra và trưởng thành sau chiến tranh, không còn thích ứng với những thành kiến và óc bảo thủ lỗi thời của thế hệ trưởng thành trong chiến tranh. Trong khi đó, Việt nam đang có một hoàn cảnh thuận lợi, với gần 3 triệu người Việt sống rải rác ở khắp nơi trên thế giới, thủ đắc được hầu hết kiến thức về khoa học, tiếp cận trực tiếp với nền văn hóa mới, và có khả năng tiếp thu tư tưởng và học thuật từ những nền văn hóa khác tới nơi tới chốn, như một nhịp cầu giao lưu văn hóa từ cả ngàn năm nay chưa bao giờ có được. Mỗi thời kỳ văn học có giá trị lịch sử của nó, và không ai có thể phủ nhận. Học hỏi ở quá khứ, không có nghĩa là lập lại quá khứ, biến quá khứ thành bóng ma bao trùm hiện tại. Và khi nhìn ra khuyết điểm của quá khứ cũng có nghĩa là chúng ta nhìn thấy được tương lai. Bài viết này chắc chắn sẽ tạo nên sự bất bình trong giới văn học, người viết xin nhận lấy tất cả trách nhiệm vì một lý do, chỉ muốn cho nền thơ đó có sức sống và biến đổi để kịp bước với những nền thơ khác. Lược qua một số biến chuyển của thời cuộc và đặc tính của từng thời kỳ thơ, chúng ta thấy, thơ Việt có phong thái của một nền thơ có tầm vóc, nếu những nhà thơ dám chấp nhận sự thật, thấy những thất bại của mình, tiếp nhận những yếu tố mới, phù hợp với thời đại. Cơ may thay đổi, nếu chúng ta không tiếp nhận, lẽ đương nhiên sẽ rơi vào thế hệ sau, vì thơ tự nó đã chứa mầm mống của sự thay đổi.

Bài đã đăng trên Talawas ngày 22 tháng 7 – 2004


Tham khảo

Đào Duy Anh. Việt Nam Văn Hóa Sử Cương. Hội Nhà Văn 2000

Nguyễn Thế Anh. Việt Nam Dưới Thời Pháp Đô Hộ. Lửa Thiêng, 1970.

Nghiêm Toản. Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu. Sống Mới, 1949.

Trần Văn Giáp. Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam. Văn Học, 1972.

Thế kỷ 21 số 122, 1999.

Thế Kỷ 21 số 159, 2003.

Khế Iêm. Tân Hình Thức, Tứ Khúc và Các Tiểu Luận Khác. Văn Mới, 2003.

Edward Mc Nall Burns, Robert E. Lerner, Standish Meacham. Văn Minh Phương Tây. Cuốn 2, in lần thứ 9, W. W. Norton & Company, New York, Lodon.


Ghi chú

  1. Theo Trần văn Giáp, những tiểu thuyết đầu tiên là Cành Lê Tuyết Điểm (1921), Cuộc Tang Thương (1922) của Đặng Trần Phất và Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách.
  2. Thật ra, trong khoảng 1000 năm lệ thuộc Trung hoa, có hai thời kỳ ngắn ngủi với Hai Bà Trưng (năm 40-43 sau Công nguyên) và Lý Nam Đế (544-602) nổi dậy và xưng vương.
  3. Sau nhà Ngô, xảy ra nạn Thập nhị sứ quân (945-967). Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan được loạn sứ quân lên ngôi lấy miếu hiệu là Đinh Tiên Hoàng lập nên triều đại nhà Đinh (968-980). Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, bộ tướng của ông tên Lê Hoàn lên ngôi lấy miếu hiệu làLê Đại Hành, gọi là nhà Tiền Lê. Tiếp theo đó, Lý Công Uẩn lên ngôi, miếu hiệu là Lý Thái Tổ, định đô ở Thăng Long, mở đầu cho một triều đại kéo dài rất lâu từ năm 1010 đến 1225. Nhà Trần (1225-1400) tiếm ngôi nhà Lý cho đến 1400 thì bị Hồ Quí Ly cướp ngôi, nhưng cũng chỉ được vài năm, đến năm 1414 quân Minh (Trung hoa) xâm chiếm. Đến 1427, Lê Lợi nổi lên đánh đuổi quân Minh, lập nên triều đại nhà Lê (1428-1788). Cuối đời nhà Lê, Mặc Đăng Dung cướp ngôi (1527-1592), Trịnh Kiểm giúp vua Lê khôi phục ngai vàng, nhưng nắm giữ quyền hành, xưng là chúa Trịnh. Con cháu dòng họ Nguyễn Kim, một tướng lãnh của vua Lê, chạy về phương Nam, lập nên chúa Nguyễn, tạo nên cuộc phân chia Nam Bắc lần thứ nhất từ 1600 đến 1788. Đến năm 1792, ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi loạn và đánh bại nhà Nguyễn ở miền Nam, diệt nhà Trịnh ở miền Bắc, thống nhất đất nước sau hơn 200 năm chia cắt. Trong khi đó hậu duệ cuối cùng của nhà Nguyễn chạy ra Phú Quốc, nhờ giám mục Pignau de Behaine cầu cứu nước Pháp giúp đánh bại Tây Sơn, thâu tóm quyền hành từ Nam ra Bắc, lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Triều đại nhà Nguyễn kéo dài từ 1802 đến 1945.
  4. Kệ là một bài văn vần ngắn, dễ nhớ, dễ hiểu, tóm lược những điều giảng dạy về đạo. Trong khi kinh là một bài giảng về đạo.
  5. Hàn Thuyên tên thật là Nguyễn Thuyên, không rõ năm sinh và năm mất, đời vua Trần Thái Tông. Năm 1282 tục truyền có cá sấu vào sông Lô, vua sai ông làm bài “Văn tế Cá sấu”, ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Việc đuổi cá sấu giống việc làm của Hàn Dũ đời Đường nên vua khen thưởng và cho ông theo họ Hàn. Ông có tài làm thơ Nôm và là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm, nên đời sau gọi thơ Nôm theo Đường luật là Hàn luật. Sau đây là bài thơ của Hàn Thuyên:

 

Văn tế cá sấu

Ngặc ngư kia hỡi mày có hay

Biển Đông rộng rãi là nơi này

Phú Lương đây thuộc về thánh vực

Lạc lối đâu mà lại đến đây

Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa

Dân quen chài lưới chẳng tay vừa

Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy

Xuống nước giao long cũng phaœi chừa

Thánh thần nối dõi baœn triều nay

Dấy từ Haœi ấp ngôi trời thay

Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh

Biển lặng sông trong mới có rày

Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy

Nhân vật đều yên đâu ơœ đấy

Ta vâng đế mạng baœo cho mày

Hãy vào biển Đông mà vùng vẫy

(trích từ  “Les chefs-d’oeuvres de la littérature vietnamiennes”, Dương Đình Khuê, Kim Lai Ấn Quán, Sài Gòn, 1966?)

* Phù Lương:

Dương Đình Khuê chú thích Phù Lương là sông Hồng Hà (Fleuve Rouge).

Dương Quảng Hàm nói là sông Nhị Hà (Hồng Hà).

Từ điển Nguyễn Quốc Trụ ghi là: “… văn tế cá sấu và đưa chúng ra khoœi sông Phù lương (có sách nói sông Lư giang)…” tức là sông Lô.

Bài “Văn Tế Cá sấu” vì đã thất lạc nên cũng chỉ được biết đến như một huyền thoại. Chúng tôi ghi lại như một tham khảo mà thôi.

  1. Lấy cớ triều đình nhà Nguyễn cấm đạo, quân Pháp mang quân xâm chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ là Biên Hòa, Bà Rịa, Vĩnh Long, đưa tới hòa ước Sàigon 5-6-1862. Sau đó tiến chiếm Bắc kỳ với mục đích dùng sông Hồng hà làm con đường thông thương với miền Nam Trung hoa. Và cuối cùng, dùng vũ lực buộc triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ở miền Trung và Bắc Việt nam, với hòa ước Patenôte ngày 6-6-1884.
  2. Cuối tháng 7-1884, vua Kiến Phúc mất, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lên ngôi, mưu đồ chống lại hòa ước Patenôte, tấn công quân Pháp nhưng thất bại, phải đưa vua chạy trốn, truyền hịch kêu gọi thần dân nổi dậy chống Pháp. Các sĩ phu và quan lại hưởng ứng và lan rộng khắp ba miền Nam Trung Bắc. Điển hình là Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889), Phan Đình Phùng (1847-1895).
  3. Phan Bội Châu (1867-1940) và các đồng chí muốn khôi phục chế độ quân chủ độc lập với sự trợ giúp của Trung hoa và Nhật bản, chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, hậu duệ vua Gia Long làm lãnh tụ phong trào quốc gia. Năm 1905, Phan Bội Châu cùng các đồng chí đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để sang Nhật, đồng thời kêu gọi thanh niên Việt nam xuất ngoại qua Đông kinh để huấn luyện về quân sự và chính trị để sau này về lãnh đạo các phong trào chống Pháp.
  4. Nghi ngờ thiện chí giúp đỡ của Nhật, vì Nhật cũng chỉ nhắm vào sự đô hộ cả Đông á, nên Phan Chu Trinh (1827-1926) và các đồng chí chủ trương phong trào Duy tân, nâng cao dân trí rồi mới giành lại sự độc lập bằng phương pháp bất bạo động. Đông kinh Nghĩa thục thành lập tại Hà nội vào đầu năm 1907, mở lớp học miễn phí, gồm cả Việt văn, Hán văn và Pháp văn, tổ chức diễn thuyết, đề cao sự cần thiết của giáo dục và thương nghiệp. Cũng năm này xảy ra cuộc khủng khoảng chính trị, vua Thành Thái buộc phải thoái vị và bị đày qua đảo Réunion, phong trào chuyển sang việc chống nộp thuế. Nhà cầm quyền Pháp phản ứng, đóng cửa Đông kinh Nghĩa thục, bắt giam và đày ra Côn đảo những nhân sĩ nổi tiếng như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Ngô Đức Kế (1878-1929).
  5. Ngày 15-5-1913, Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) được sự tài trợ của Pháp, ra tờ tuần báo Đông Dương Tạp chí gồm Phạm Quỳnh (1892-1945), Phạm Duy Tốn (1883-1924), Nguyễn Văn Tố (1889-1947), Phan Kế Bính (1875-1921), Nguyễn Đỗ Mục, Dương Bá Trạc (1884-1944). Sau này, một vài người tách ra, chỉ còn lại Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục và Phan Kế Bính. Đông dương Tạp chí chuyên về mặt học thuật văn chương. Các nhà Nho giới thiệu nền văn hóa cổ, còn các nhà tân học thì phiên dịch và giới thiệu văn chương Pháp.
  6. Nam phong Tạp chí ra hàng tháng, số đầu tiên vào tháng 7-1917, lúc đầu do Phạm Quỳnh làm chủ bút phần Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác (– 1945) làm chủ bút phần chữ Hán, với những trợ bút như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1874-1944), Sở Cuồng Lê Dư, Nguyễn Đôn Phục (– 1945), Trần Trọng Kim (1887-1953), Nguyễn Triệu Luật (– 1946)… Nam Phong Tạp chí nhân danh là cơ quan của hội Khai Trí Tiến Đức. Phạm Quỳnh là người sáng lập và tổng thư ký hội này.
  7. Ca dao là những câu hát ngắn, lưu truyền trong dân gian, thường là câu 4 chữ, lục bát hay song thất lục bát. Tục ngữ là những câu nói có từ lâu đời, nhiều người nói thành quen.
  8. Báo Phong Hóa do Nhất Linh (1905-1963) mua lại của Phạm Hữu Ninh, ra ngày 22-9-1933, là tờ báo của nhóm Tự lực Văn đoàn, bị đình bản vào năm 1936 vì Hoàng Đạo (1906-1948) viết bài châm biếm Hoàng Trọng Phu.
  9. Thơ Mới gọi chung thời kỳ từ 1932 tới 1945, còn gọi là Tiền chiến, vì là thời kỳ tương đối thanh bình vì sau 1945 mới bắt đầu thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp. Thơ văn thời này có nhiều khuynh hướng từ Lãng mạn tới hiện thực, ảnh hưởng văn hóa Pháp, và cũng là thời kỳ phát triển chữ Quốc ngữ.
  10. Có hai kỳ thi. Thi Hương là thi từng vùng để lấy cử nhân và tú tài. Sau đó các cử nhân trong cả nước lên kinh đô để thi Hội, lấy tiến sĩ và phó bảng. Trong các kỳ thi Hương và Hội đều thi Kinh nghĩa, văn sách, thơ phú và tứ lục. Kinh nghĩa là bài văn xuôi bình giảng một câu trích trong kinh, truyện. Văn sách là bài vấn đáp về việc đương thời hay đời cổ. Thơ phú vừa có vần vừa có đối, còn tứ lục không có vần nhưng phải có đối. Ngoài ra còn có thi Đình tại triều đình.
  11. Sau khi Pháp thất trận Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng 5-1954, đưa tới hiệp định Genève ngày 20 tháng 7-1954 chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17. Khoảng 700 ngàn người miền Bắc di cư vào Nam.
  12. Nhân văn và Giai phẩm: Giai Phẩm số mùa Xuân tháng 1-1956, tiếp theo là các số mùa Thu, mùa Đông, và sau đó là báo Nhân Văn tháng 11-1956 do một số nhà thơ nhà văn có tinh thần đổi mới văn học như Phan Khôi, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán, Văn Cao chủ trương. Sau đó những nhà văn nhà thơ này bị đàn áp và cấm sinh hoạt văn học suốt 30 năm.
  13. Lý Toét, Xã Xệ là tên hai nhân vật hí họa trong tuần báo Phong Hóa do Nhất Linh và nhóm Tự lực Văn đoàn chủ trương ”cười cợt để sửa đổi phong hóa”. Lý Toét làm chức Lý trưởng, bị bệnh toét mắt. Xã Xệ, béo xệ ở thôn xã nên gọi là Xã Xệ. Ghi chú thêm: hai nhân vật này xuất hiện trước Phong Hóa, và sau đó có mặt trên nhiều báo, kể cả Nam Phong (PTH).
  14. Vào năm 1956, vì muốn cải cách đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông phát động phong trào “Trăm Hoa Đua nở”, thúc đẩy mọi người bày tỏ ý kiến của mình, đưa tới sự mở rộng bàn thảo khắp nước. Chiến dịch lấy từ một câu nói truyền thống ”hãy để trăm hoa đua nở, hãy để mọi tư tưởng cạnh tranh”. Tuy nhiên ngay sau đó bị dẹp tan, và những người tham gia bị kết án là “Bọn quí tộc cánh hữu”, “kẻ thù của nhân dân”. Mục đích của chiến dịch chỉ là cớ để thanh lọc hàng ngũ lãnh đạo, tiến tới “Bước nhảy vọt” (1958-1961).
  15. Hưởng ứng tinh thần xét lại qua bản diễn văn bí mật của Khrushchev (1894-1971), ở Pozan, Ba lan, 15000 công nhân nổi loạn vào ngày 15 tháng 6-1956, tạo lý do cho Hồng quân Nga tới biên giới, vào Ba lan. Trong cố gắng dẹp tan cuộc nổi loạn, đảng Cộng sản Ba lan tái chỉ định Wladislaw Gomulka là Tổng bí thư đảng, một người bị Stalin bỏ tù, và được nhìn như là cấp tiến đối với dân chúng. Hồng quân sau đó rút lui, và chính quyền Xô viết cũng nới lỏng sự kiểm soát Ba lan.
  16. Ở Hungary vào năm 1956, dân chúng hy vọng bản diễn văn bí mật của Khrushchev sẽ chấm dứt sự cai trị khắc nghiệt của Maytyas Rakosi, một tay thân tín của Xô viết. Tinh thần chống Xô viết của dân chúng tập trung vào Rakosi, và nhân một đám tang của một đảng viên ôn hòa, khoảng 300 ngàn sinh viên, công nhân biểu tình vào ngày 6-10-1956. Đảng Cộng sản Hungary đưa Imre Nagy lên làm Tổng bí thư, cũng là một nhân vật ôn hòa để càn quét đám đông và kêu gọi sự trợ giúp của Liên xô. Đám đông đòi Nagy giải tán chính quyền Cộng sản và Hồng quân Nga phải rút lui. Ngày 4 tháng 11-1956, quân Liên xô tấn công Hungary. Nagy trốn vào tòa Đại sứ Nam tư, Liên xô đưa Janos Kadar lên nắm quyền. Khoảng 20 ngàn người Hungary chết, 200 ngàn người chạy trốn qua nước ngoài. Cuộc nổi loạn bị dẹp tan.
  17. Sau hiệp định Paris, quân đội Mỹ rút ra khỏi miền Nam Việt nam, đến 30 tháng 4-1975, cộng sản miền Bắc chiếm trọn miền Nam, thống nhất đất nước sau 20 năm chia cắt.
  18. Chiến tranh lạnh được coi như bắt đầu từ Hội nghị Yalta giữa 3 cường quốc Anh Mỹ Nga (Franklin Roosevelt, Winston Churchill, và Josef Stalin), tìm cách chấm dứt thế chiến II. Hiệp ước Yalta được ký kết ngày 11 tháng 2-1945. Mục đích của Hội nghị là tái lập lại những quốc gia bị Đức xâm chiếm, đồng thời chia nước Đức cho 3 nước chiến thắng. Nga kiểm soát Đông Đức và Đông Bá Linh, và ảnh huỏng chủ nghĩa cộng sản trên các nước Đông âu như Ba lan, Tiệp khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Ma Ni để đổi lại Nga sẽ giúp Đồng minh đánh Nhật. Các nước Đông âu theo hiệp ước, sẽ được độc lập và tổ chức tổng tuyển cử, thành lập một chính phủ độc lập. Nhưng Nga đã ngăn cản cuộc tuyển cử, duy trì chính quyền cộng sản ở các quốc gia đó, và Hoa kỳ vì bận cuộc chiến với Nhật nên đã không can thiệp. Như vậy chiến tranh lạnh bắt đầu từ 1945 và chấm dứt vào 1991, năm Liên Xô sụp đổ.
  19. Tháng 8-1944.
  20. Tháng 3-1945.
  21. Từ tháng 3-1945.
  22. Bảo Đại (1913-1997), vị vua cuối cùng triều Nguyễn thoái vị vào ngày 25-8-1945.
  23. Và đến tháng 1-1947.
  24. Ngày 6-3-1946.
  25. Cuộc xung đột biên giới giữa Trung hoa và Việt nam xảy ra trong 29 ngày từ 17 tháng 2-1979 đến 5 thàng 3-1979. Nguyên nhân Trung hoa cho rằng Việt nam đã quá liên hệ với Liên xô, đối xử bất công và trục xuất người Hoa sống tại Việt nam về Trung hoa, và giấc mơ bá quyền ở Đông Nam Á.
  26. Cynthia Cohen, “Hòa bình và Kinh nghiệm Mỹ học: Sự Chung sống, Hòa giải và Nghệ thuật”, Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch.
  27. Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820) kể về 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều, bị lừa bán mình vào Lầu xanh, lỡ dở tình duyên với người yêu là Kim Trọng, phải làm vợ Mã Giám Sinh, Từ Hải, sau đó tự tử, được cứu thoát, đi tu. Nguyễn Du là người có văn tài, học rộng, trước đã làm quan cho triều Lê, sau lại làm quan cho triều Nguyễn.
  28. Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), tả nỗi oán hận của một thiếu nữ tài sắc hơn người, được tuyển vào cung, lúc trước được vua yêu sau bị chán bỏ, than thở, thương cho số kiếp “má đào phận bạc”.
  29. Chinh Phụ Ngâm là một khúc ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, viết theo thể tự do, câu dài câu ngắn, sau đó Phan Huy Ích và nhiều nhà nho dịch ra chữ Nôm. Đặng Trần Côn không rõ năm sinh và năm mất, tính tình phóng khoáng, thích rượu, hay thơ. Đời vua Lê chúa Trịnh có lệ cấm lửa ban đêm, ông đào hầm đốt lửa để đọc sách. Thời đại của ông, chúa Trịnh cầm quyền, tin dùng bọn hoạn quan, người dân bị đè nén áp bức, giặc giã nổi lên khắp nơi, quan quân phải di đánh dẹp. Người lính phải lìa cửa nhà, xa vợ con, bỏ mình nơi chiến trường. Do đó Đặng Trần Côn đã làm ra khúc Chinh Phụ Ngâm nổi tiếng và được truyền tụng cho đến ngày nay. Bản dịch thông dụng là của Phan Huy Ích.
  30. Frederick Turner, “Chủ nghĩa Kinh điển Mới và Văn hóa”, Nguyễn Tiến Văn dịch.

TUẦN THƠ 30: NHỮNG THIÊN SỨ NỔI DẬY

Khế Iêm dịch

Bruce Bawer

ON LEAVING THE ARTISTS’ COLONY

The way love rests upon coincidence,
the way a sense of family and home
can flow now, like a stream, through several hearts
transplanted from their diverse native climes
by strangers’ choices, violates all sense.

If we had all been here at different time
I know we’d have formed other loyalties,
drawn other eyes and written other poems,
and I know there are friendship I’d have made
with people whom I now may never meet.

But so be it. Heard melodies are sweet,
and unheard melodies are never played
except on the harmonium of art.
This place we love reminds us how immense
the world is, and how small our cherished part,

and why we feel drawn on toward mysteries,
compelled to paint and sculpt, compose and write.
To think of those who’ll be here three months hence,
who’ll fell just as we do, and find it hard
believing that emotions so intense

can be so commonplace, is to regard
those mysteries as if with second sight.
It is to sense an elemental rhyme
of  soul and soul, to feed a river flow
between our hearts and those we’ll never know.


RỜI KHỎI HỘI NGHỆ SĨ

Đường tình dựa vào sự ngẫu nhiên và đường nhận
biết về gia đình và nhà ở có thể tuôn
chảy như một dòng suối qua vài tấm lòng di
chuyển từ những nơi chốn sinh quán đa dạng bởi
những chọn lựa của người xa lạ, vi phạm mọi

nhận biết trí tuệ. Nếu tất cả chúng ta đã
ở đây vào những thời điểm khác nhau chúng ta
tạo thành những cam kết khác nhau vẽ những đôi
mắt khác và viết những bài thơ khác và tôi
biết những tình bạn tôi đã có với những người

tôi chưa một lần gặp mặt. Chấp nhận như thế.
Nghe những giai điệu ngột ngào, và không nghe những
giai điệu chưa một lần hát lên trừ ra nơi
trí tưởng chúng ta. Nơi yêu mến này nhắc chúng
ta thế giới bao la làm sao, và nhỏ bé

làm sao phần thương mến của chúng ta, và tại
sao những bí mật lôi cuốn thúc đẩy chúng ta
vẽ tranh, tạc tượng, sáng tác và viết. Để nghĩ
về những người sẽ ở đây ba tháng từ lúc
này, ai sẽ cảm thấy như chúng ta, và thấy

khó tin rằng những tình cảm cuồng nhiệt có thể
quá bình thường, để nghĩ là quan tâm tới những
bí mật đó như thế nào với tầm nhìn lần
thứ hai. Để nghĩ là cảm nhận một vần cơ
bản của linh hồn này tới linh hồn khác, nuôi

dưỡng một dòng sông trôi giữa trái tim của chúng
ta và những thứ chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết.


Bruce Bawer

THE VIEW FROM AN AIRPLANE AT NIGHT, OVER CALIFORNIA

This is a sight that Wordsworth never knew,
whether looking down from mountain, bridge, or hill:
An endless field of lights, white, orange, and blue,
as small and bright as stars, and nearly still,
but moving slowly, many miles below,
in blackness, as stars crawl across the skies,
and ranked in rows that stars will never know,
like beads strung on a thousand latticed ties.
Would even Wordsworth, seeing what I see,
know that these lights are not well-ordered stars
that have been here a near-eternity,
but houses, streetlamps, factories, and cars?
Or has this slim craft made too high a leap
above it all, and is the dark too deep?


NHÌN TỪ PHI CƠ ĐÊM, TRÊN CALIFORNIA

Đây là cảnh tượng mà Wordsworth chưa hề biết,
dù nhìn xuống từ trên cầu hay núi đồi: một
cánh đồng ánh sáng vô tận, trắng, cam, xanh, nhỏ
và sáng như những vì sao, và gần như phẳng
lặng, chuyển động chậm chạp, nhiều dặm phía dưới, trong
tối đen, như những vì sao ngang qua bầu trời,
và kết thành hàng, mà  những vì sao sẽ không
bao giờ nhận biết, giống như những chuỗi hạt xâu
trên cả ngàn dây mắt cáo. Ngay cà Wordsworth,
đang nhìn những gì tôi nhìn, đâu biết rằng những  
ánh sáng này không phải những vì sao được sắp
đặt ngăn nắp, đã hiện diện ở đây từ lâu,
mà chỉ là những ngôi nhà, đèn đường, xưởng máy,
và xe cộ? Hoặc có phải chiếc máy bay này
đã vọt lên quá cao bên trên, và bóng tối
thì quá sâu (bên dưới)?


Dana Gioia

GUIDE TO THE OTHER GALLERY 

This is the hall of broken limbs
Where splintered marble athletes lie
Beside the arms of cherubim.
Nothing is ever thrown away.

These butterflies are set in rows.
So small and gray inside their case
They look alike now. I suppose
Death makes most creatures commonplace.

These portraits here of unknown
Are hung three high, frame piled on frame.
Each potent soul who craved renown,
Immortalized without a name.

Here are the shelves of unread books,
Millions of pages turning brown.
Visitors wander through the stacks,
But no one ever takes one down.

I wish I were a better guide.
There’s no much more that you should see.
Rows of bottles with nothing inside.
Displays of locks which have no key.

You’d like to go? I wish you could.
This room has such a peaceful view.
Look at that case of antique wood
Without a label. It’s for you.


HƯỚNG DẪN TỚI PHÒNG TRIỂN LÃM KHÁC 

Đây là phòng tứ chi gẫy, nơi những mảnh
vỡ bằng sứ những lực sĩ nằm bên cạnh
cánh tay của những thiên sứ. Không có gì

bị vứt đi. Những con bướm được xếp thành
dãy. Rất nhỏ, màu xám bên trong cái hộp
Chúng trông giống như bây giờ. Tôi cho là
Cái chết làm cho mọi sinh vật trở nên

bình thường. Những bức chân dung này của người
vô danh được treo thứ tự từ thấp lên
cao, khung này trên khung kia. Mỗi linh hồn
có năng lượng khao khát danh vọng, bất tử

hóa cái không tên tuổi. Đây là kệ những
cuốn sách chưa đọc, hàng triệu trang sách ngả
màu nâu. Người thăm viếng lang thang qua những
giá sách, nhưng chưa ai từng lấy xuống một

cuốn. Tôi mong ước tôi là người hướng dẫn
tốt. Không còn gì nữa để bạn nên thấy.
Dẫy những chiếc chai không có gì bên trong
Trưng bày những chiếc khóa không có chìa khóa.

Bạn thích đi. Tôi cầu chúc bạn có thể.
Căn phòng này có một tầm nhìn an bình như
Thế. Nhìn những cái hộp bằng gỗ cổ xưa
Không nhãn hiệu. Đó là cho bạn.


Elizabeth Alexander

LETTER: BLUES

          “Those Great Lake Winds
          Blow all around:
          I’m a light-coat man
          In a heavy-cost town.”
                              Waring Cuney

Yellow freesia arc like twining arms;
I’m buying shower curtains, smoke alarms,
And Washington, and you, Love – states away.
The clouds are flat. The sky is going grey.

I’m fiddling with the juice jug, honey pot,
White chrysanthemums that I just bought.
At home, there is a violet, 3-D moon
And pachysandra vines for me to prune,

And old men with checkered shirts, suspenders,
Paper bags and Cutty bottles, menders
Of frayed things and balding summer lawns,
Watching TV baseball, shelling prawns.

The women that we love! Their slit-eyed ways
Of telling us to mind, pop-eyed dismays.
We need these folks, each one of them. We do.
The insides of my wrists still ache with you.

Does the South watch over wandering ones
Under different moons and different suns?
I have my mother’s copper ramekin,
A cigar box to keep your letters in.

At least the swirl ceiling are very high,
And the Super’s rummy, sort of sly.
I saw a slate-branched tree sway from the roots –
I’ve got to buy some proper, winter boots.

So many boxes! Crates and crates of books.
I must get oil soap, bleach, and picture hooks.
A sidewalk crack in Washington, D. C.
Will feed my city dirt roots. Wait for me.


LÁ THƯ: ĐIỆU BLUE

          “Gió Ở Hồ Lớn Này
          Thổi khắp nơi:
          Em là người mặc áo mỏng
          Trong một thị xã mặc áo dầy.”
                                        Waring Cuney

Cây dây leo hoa vàng như những cánh tay xoắn lại;
Em mua những tấm màn che bồn tắm, máy báo khói,
Và Washington, và anh, Tình yêu – ở xa đây.
Những đám mây phẳng lặng, Bầu trời ngả xám.

Em đùa nghịch với bình nước trái cây, hũ mật ong,
Hoa cúc trắng em mới mua.
Ở nhà trăng tròn màu tím
Và có những cây nho cho em tỉa tót,

Và có những ông già mặc áo ca rô, đeo dây quần,
mang túi giấy và những Chai rượu Cutty, những người thợ sửa
Những thứ sờn cũ và có những bãi cỏ mùa hè trơ đất,
Họ đang coi trận đấu bóng chày trên TV, bóc vỏ những con tôm thẻ.

Những người đàn bà chúng ta yêu! Những cách nhìn híp mắt
Tuân phục và trố mắt nói lên sự thất vọng ngạc nhiên.
Chúng ta cần tất cả, mỗi người họ. Chúng ta cần.
Tôi đau tay vì viết thư cho anh.

Có phải ở miền Nam trông chừng những kẻ lang thang
Dưới mặt trăng khác nhau và mặt trời khác nhau?
Tôi có cái khay bằng đồng,
Hộp thuốc lá xì gà đề đựng những lá thư của anh.

Ít nhất là những cái trần nhà quay mòng mòng ở trên cao,
Và người Giám thị là một tay say rượu ranh mãnh.
Em thấy một cái cây cành xám lung lay từ gốc.
Em phải mua vài đôi giày ống hợp với mùa đông.

Rất nhiều hộp! từng thùng sách.
Em phải mua xà bông lỏng, thuốc tẩy quần áo, và những cái móc treo tranh.
Một khe nứt trên vỉa hè ở Washington, D. C.
Đủ cho nhu cầu hạn chế sự tiếp cận thiên nhiên của em. Hãy đợi em.


Edward Lytton Wheeler

DEADWOOD DICK

         “Come on and slant  your eyes again, O
          Buffalo Bill.”
                                                       Carl Sandburg

Colored cowboy named Nat Love,
They called him Deadwood Dick.
A black thatch of snakes for hair,
Closed-mouthed. Bullet-hipped.

One knee bent like his rifle butt,
Just so. Rope. Saddle. Fringe.
Knock this white boy off my shoulder.
Stone-jawed, cheekboned man.

Mama, there are black cowboys.
A fistful of black crotch.
Deadwood Dick: Don’t fuck with me.
Black cowboy. Leather hat.


          “Cố lên và liếc mắt lần nữa,   
          Ôi Buffalo Bill”
                                   Carl Sandburg

Cao bồi đen tên Nat Love,
Chúng gọi hắn là Deadwood Dick.
Tóc quắn đen như rắn,
Miệng mím chặt. Còm nhom

Một đầu gối cong như báng súng,
Đúng thế. Dây thừng. Yên ngựa. Viền tua.
Chơi chết gã trắng này đi
Hàm trơ. Gò má cao.

Má, có những cao bồi đen.
Một nhúm người đen.
Deadwood Dick: Đừng kiếm chuyện với tao.
Cao bồi đen. Mũ da.

Deadwood Dick, một nhân vật tiểu thuyết của Edward Lytton Wheeler (1854/5-1885). Nat Love (1854 – 1921), một cao bồi da đen Mỹ.

Dịch toàn văn bài tựa cho tuyển tập Rebel Angels: 25 Poets of the New Formalism, chủ biên: Mark Jarman và David Mason, (1996), 280 trang, Nxb Story Line Press, Ashland, Oregon. tr. xv – xx.
Dịch toàn văn bài tựa cho tuyển tập Rebel Angels: 25 Poets of the New Formalism, chủ biên: Mark Jarman và David Mason, (1996), 280 trang, Nxb Story Line Press, Ashland, Oregon. tr. xv – xx.

http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p75/c114/n10451/Nhung-thien-su-noi-day-25-nha-tho-tan-hinh-thuc.html

https://archive.org/details/rebelangels25poe00jarm/page/n7/mode/2up

“BÀI HỌC ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA THANH TÂM TUYỀN

THÔNG LUẬN - Displaying items by tag: Thanh Tâm Tuyền
Phạm Kiều Tùng

  1. Tôi thực sự bất ngờ khi đọc bài Kinh Nghiệm Sáng Tác Trong Tù của anh Tâm do Khế Iêm gửi hai tháng trước đây, khoảng giữa tháng giêng 2007. Bài được viết tháng hai năm 1993, nhưng mười bốn năm sau tôi mới được đọc. Tôi đọc đi đọc lại đoạn cuối [“Trong quyển sổ tay mang thoát từ trại cải tạo về, có một câu tự nhủ khác: Viết như thể không có gì xảy ra. Không có gì đáng kể.

Nay thì tôi hỏi mình: Chừng nào tôi đạt nổi điều ấy? Để viết”] và quyết định đã tới lúc để kể một điều đã xảy ra.

Như sau: Trước khi rời bỏ quê hương, khoảng cuối năm 1989 anh Tâm trao tôi một xấp bản thảo, nói “Cậu xem có dùng được gì thì dùng, không dùng được thì hủy đi, tôi để cậu toàn quyền quyết định” (“cậu”, vì anh coi tôi như em). Tôi còn nhớ anh cười nói thêm “Hủy đi, như Gogol, Kafka, như Kleist”. Đó là xấp bản thảo anh viết trong khoảng thời gian từ sau ngày anh được thả khỏi trại cải tạo tới trước ngày anh rời bỏ quê hương.

Tôi giữ xấp bản thảo của anh tới nay đã gần hai chục năm, và không biết phải làm gì. Nay, được đọc bài Kinh Nghiệm Sáng Tác Trong Tù, nhớ lại lời anh, “… không dùng được thì hủy đi”, và kể từ ngày ấy cho tới ngày anh mất, dù vẫn thăm hỏi nhau thường xuyên, không một lần anh đề cập tới xấp bản thảo ấy, giờ thêm lời tự nhủ của anh, tôi nghĩ rằng đã có một điều trở nên rõ ràng: anh không màng tới những gì anh đã kể về những gì đã xảy ra. Tôi hiểu được là tôi sẽ phải làm gì với xấp bản thảo ấy. Anh đã bước vào giai đoạn mà tôi tạm gọi là giai đoạn “không còn muốn kể nữa”, vì “không có gì đáng kể”.

Tôi đã kể xong.


  1. Đoạn cuối (đã dẫn trên) trong bài Kinh Nghiệm Sáng Tác Trong Tù có liên quan tới một “bài học” trong xấp bản thảo, thế nên tôi trích dẫn ra đây, một “bài học” ngắn gọn chỉ vài dòng. Toàn văn “bài học” như sau:

Bài học Đạo Đức Kinh:

Như thể không có sự gì xảy ra, đáng kể; ngoài các câu được viết.
Lời không của ai, không nói với ai.
Cùng một lúc mở và đóng, ở ngoài và ở trong.

Bản scan đoạn viết trên của anh, và vài đoạn khác, tôi đính kèm bài viết này riêng gửi những người thân cận anh là những người dễ dàng nhận ra tự dạng của anh và gửi những ai yêu mến anh, mong được cùng chia xẻ mối bồi hồi tưởng nhớ anh nhân ngày giỗ đầu 22.3.2007.


  1. Ông Đặng Tiến rất nghiêm túc khi viết rằng “Thanh Tâm Tuyền là người sâu sắc, uyên bác, tài hoa, nghiêm túc, tư cách và tiết tháo. Ông là gương mẫu của trí thức giữa một thời đại nghiệt ngã, đầy những biến động tàn nhẫn” (1). Một người như vậy, sau sáu năm sáu tháng hai mươi bảy ngày trong nhiều trại cải tạo (số liệu tôi tìm thấy trong xấp bản thảo), tự nhủ rằng sẽ “viết như thể không có gì xảy ra. Không có gì đáng kể.”, không thể không khiến ta tự hỏi: Đã có chuyển biến đáng kể nào trong tâm tư anh?

Tôi nghĩ đơn giản: Anh đã “thoát”. Thanh thoát. Anh đã tìm về – và tìm được, tìm về được – cái minh triết của cổ nhân. “[G]iữa một thời đại nghiệt ngã, đầy những biến động tàn nhẫn” (mượn lại lời ông Đặng Tiến), trước những sức mạnh khống chế vô phương đối kháng, để duy trì những lí tưởng, bảo toàn những khát vọng của anh (trong đó có khát vọng viết), anh chỉ còn sức mạnh duy nhất là sức mạnh của tinh thần của tư duy để tự tạo cho mình một “vương quốc”, nói theo Bertrand Russell, cái “vương quốc an nhiên tự tại, không bị khuấy động, của lí trí”, nơi “cái đẹp sáng rực”, nơi “xa rời tay với của khổ đau” (2). Nơi đó, anh hoàn toàn tự do, để sáng tạo trong tưởng tượng. Nơi đó, ngay giữa lòng một vũ trụ hiềm thù, anh được giải thoát, được “giải phóng”. Minh triết của cổ nhân dạy rằng thấu hiểu bản chất của những sức mạnh bất khả kháng, thấu hiểu quyền uy của bóng tối chính là chinh phục chúng, là trở nên lớn lao hơn chúng – cọng “rác rưởi bị cuốn trong giòng lũ của lịch sử” (3) hóa thân thành cây sậy biết tư duy của Pascal, trở nên cao quí hơn những sức mạnh phi nhân hủy diệt nó (4).


  1. Viết như thể không có gì xảy ra. Không có gì đáng kể. Như thể không có gì xảy ra, nghĩa là đã có gì xảy ra. Và có nhiều, và anh đã kể, ta hãy nghe:

Bị xua đuổi khỏi nơi trú ngụ
Hắn làm tên du thủ vong tình
Cùng xứ sở mắc vòng khốn đọa
Cất bước đi lãnh đạm thản nhiên

Như cánh chim bay liệng hừng đông
Trên hoang phế sau đêm thảm họa
Như con nước trụy băng mùa lũ
Trôi giạt trong mù mịt nguồn giông



Suy trầm một trái tim trơ khô
Mơ màng nhảy đập nhịp thực hư
Nhìn qua ánh chớp lòa khoảnh khắc
Thấy mình trong bóng dáng tội đồ
Lầm lũi giữa thóa mạ hiểm độc
Giữa quê hương ngoảnh mặt làm ngơ
Không còn nơi chốn nào thân thiết
Không còn nỗi niềm nào mong chờ
Dửng dưng những bước dồn mê mệt
Triền miên tiếng rớt động lu mờ
Dưới gầm trời cạn tuyệt thiên thu
Lững thững qua lại bao mùa tiết
Hun hút mùa đông dài ác nghiệt
Cháy rực mông lung ngọn nắng mù
Hắn theo gót mùa gió hoang vu
Đến vùng đồng lầy phơi tanh ngắt
Núi non trùng điệp ngăn đất trích
Rừng già quạnh quẽ bóng ưu du.

Dằng dặc chuyến lưu đầy biệt xứ
Thật sâu trong nội địa man trá
Mở đóng những cửa ngục âm ti
Lặn mọc những vầng dương tráo trở
Chiếu tầng không lẩn lút ám dụ
Giăng mắc cung mây trên lối qua
Bước chân đưa dẫm đạp hững hờ
Dưới thung lũng sương khói phong tỏa
Chập chùng hố huyệt khoét dòm ngó
Tròng mắt ma quỉ soi thờ ơ
Chiếc bóng đi cắm cúi bơ vơ
Như câu hỏi xuyên ngang địa phủ
Xuyên lòng vực cuồn cuộn buốt giá
Đáy gió khuya trốt xoáy đẩy xô
Vần vũ tuôn vô vàn ảo hóa
Tụ ngưng ánh nhập nhoạng nguyên sơ



Đi suốt cuộc khổ sai nghiệt ngã
Ngược xuôi trong cõi chết hàm hồ.
Thi sĩ, giòng giống bị bức triệt
Nương náu miền đầy ải thâm u
Không ngớt tay cuốc xẻng đào huyệt
Tự vùi chôn gương mặt phai nhòa.

(trích trong Phần I: Khúc Dẫn Nhập – Hắn Rũ Bỏ Ký Ức Và Đi) 

Như thể không có gì xảy ra, nghĩa là đã có gì xảy ra. Và có nhiều, và còn nhiều nữa. Nhưng thôi, chừng đó đủ rồi.


  1. Ngay từ năm 1962, trong bài đề tựa tập thơ Tiếng Nói Một Người của Trần Lê Nguyễn, anh đã viết: “Thi sĩ! Thi sĩ! … Tên của chàng bị cướp bị bôi nhọ. Ngày nay còn toàn một bọn nhái giọng người chết. Mấy tên thư lại luồn cúi nịnh hót cũng là thi sĩ. Mấy tên cán bộ làm thơ như những bản thỉnh nguyện xin tha mạng sống, xin thêm quyền lợi.”

Hơn hai chục năm sau, trong xấp bản thảo, với bản chất ngay thẳng trung thực, anh bày tỏ sự phẫn nộ trước sự sa đọa của đám “thi sĩ cung đình” (xin xem bản scan), nhưng sau đó anh tự trách mình đã “gây gổ không đáng”:

“Sự sa đọa của đám thi sĩ cung đình.

Sự sa đọa của thơ làm sa đọa tâm hồn người đọc. Bằng chứng: sự gây gổ không xứng đáng này.” Bằng chứng của anh là bằng chứng của tôi rằng anh đã bước vào giai đoạn “không còn muốn kể nữa”, vì không có gì đáng kể, tỉ như sự gây gổ không đáng dẫn trên.


  1. Anh đã tự nhủ: Viết như thể không có gì xảy ra. Không có gì đáng kể.
    Và anh tự hỏi (từ năm 1993): Chừng nào tôi đạt nổi điều ấy? Để viết.
    Còn tôi tự hỏi: Có chăng, giai đoạn sáng tác cuối đời của anh, một giai đoạn tạm gọi là giai đoạn “không còn muốn kể nữa”, vì “không có gì đáng kể”?

Không thể có được sự phân biệt rạch ròi những giai đoạn của một người cầm bút, bởi ta dễ dàng nhận ra sự xuất hiện những mầm mống của một giai đoạn nào đó ở những thời điểm trước đó, có thể là rất xa giai đoạn đó. Tôi không nhớ được chính xác, có lẽ khoảng 1972, nghĩa là khoảng ba mươi lăm năm trước, tôi đã đọc thấy câu này trong một bài thơ “Mừng Năm Tuổi” của anh trên báo Văn:

Ngậm lời
Ngậm thấm vị bàng hoàng hư huyễn.

Vị hư huyễn của lời tố giác sự hư huyễn của sự thể mà lời chỉ ra? Hư huyễn: như thể không có, như thể chưa từng xảy ra.


  1. Trước khi chia tay để sang định cư tại Mĩ, tháng ba năm 1990 anh chép tặng tôi bài Chia Tay (tôi ghi được thời điểm, đơn giản vì anh ghi năm tháng ở cuối bài thơ – tôi gửi bản scan đính kèm bài viết này). Trong bài, anh nhắc tới ngọn Rưởu-Cô-Dịch, nhắc tới làng-quê Không-có-đâu của Trang Tử. Toàn bài như sau:

Chia Tay

Đi Xa lánh Như người xưa
lặng lẽ điềm nhiên rảo gót về [bản khác (bk): dạo]
bên triền lũng khuất nắng quái hoặc
Đạm bạc chiếc bóng đìu hiu [bk: hiu hắt] 

lững thững chiều xế rọi vách núi [bk: rực]
Rừng cây lối cỏ úa rực lửa [bk: dốc lửa úa / úa lửa mỏi]
Đi giữa đám cháy lòa thinh không
Có nghe lòng đá héo tiêu trầm [bk: mòn] 

Về. Phải đó ngọn Rưởu-Cô-Dịch
Ẩn ngụ trong đài hoa huyền tích
Người về hang lạnh trên cồn mây
Trông vũng trời thẳm ngút hão [bk: hão ngút] 

nghe gió hỗn lộng rợ trí [bk: Trong]
đắm giạt Làng-quê Không-có-đâu
Nào chốn đón riêng mình Nào nhớ [bk: Đâu chốn đợi – Nhớ / Nhớ đến / Có nghĩ]
đốm sáng rơi kiệt cùng thiên thâu [bk: giọt – sao – kc phiếm du / kc cõi hư / mải miết phù hư]

Đi Băng đi Xa xăm về gần
Biền biệt mảnh vỡ rớt vô vọng [bk: vô tung / thoáng vô tung]
Người là mộng huyễn ai khác gửi [bk: kia]
Dư hưởng sinh sôi tiếng dội không 3/90

(Anh thường sửa đi sửa lại, thời gian qua đi, riết rồi tôi chẳng còn nhớ version nào là cuối cùng, chung quyết.)

Không còn là giọng kể. Không tiếng động không cuồng nộ vang vọng từ những sự cố được kể lại, như trong bài Hắn Rũ Bỏ Ký Ức Và Đi.

Chia Tay phải chăng là bài thơ đầu tiên mở ra giai đoạn cuối cùng trong thi nghiệp của anh?


  1. Cho đến bây giờ, sau nhiều năm, tôi vẫn coi Đạo Đức Kinh là đại văn chương. Trong số những điều viết về tác phẩm này mà tôi đọc được, điều duy nhất đọng lại dai dẳng trong tâm trí tôi, mỗi khi nghĩ về Đạo Đức Kinh, lại là một nhận xét nhỏ của Holmes Welch, rằng Đạo Đức Kinh “không nói đến bất kì ngày tháng, nơi chốn, nhân vật, sự kiện nào” (5). Borges luận về ý tưởng cốt lõi trong nhạc luận của Schopenhauer như sau: “Schopenhauer (Welt als Wille und Vorstellung, I, 52) đã viết rằng nhạc không kém phần trực tiếp như bản thân thế giới; không có thế giới, không có kho kí ức chung mà ngôn ngữ gợi ra, hẳn là sẽ không có văn chương, nhưng nhạc có thể không cần tới thế giới; có thể có nhạc mà không có thế giới. Nhạc là ý lực, là ham mê” (6). Không có “kho kí ức” nói trên, không biết tới kho tàng điển cố điển tích, hẳn không thể đọc các “kinh sử tử tập”, không thể hiểu được sở thích của Khổng Tử muốn “cuối xuân rủ nhau đi tắm sông Nghi, hóng gió nền Vũ-vu, rồi hát mà về” – nhưng có thể đọc Đạo Đức Kinh vì, như đã dẫn trên, “Đạo Đức Kinh không nói đến bất kì ngày tháng, nơi chốn, nhân vật, sự kiện nào”. Solzhenitsyn có viết ở đâu đó rằng nhược điểm của con người là phải viện dẫn tới kinh điển. Tác giả Đạo Đức Kinh không viện dẫn điều gì, không viện dẫn lời ai. Tác phẩm tự nó đứng vững.

Tôi nghĩ rằng qua một số bài thơ cuối đời của anh Tâm, tôi đã đọc ra một Lời Khác, “Lời không của ai, không nói với ai. Cùng một lúc mở và đóng, ở ngoài và ở trong”, lời đồng vọng từ một suối nguồn xa thẳm và sâu thẳm: lời của Đạo Đức Kinh.


  1. Bài này viết để tưởng nhớ anh,
    Thanh Tâm Tuyền,

Người thi sĩ không ngớt niềm tin ở thơ – dù có lúc anh từng “ngậm lời / ngậm thấm vị bàng hoàng hư huyễn”, từng thốt tiếng kêu “Enfin j’écris, enfin je crie” (7), ví mình như “con chim thất lạc giữa mùa đông băng giá, cất tiếng kêu thảm thiết gọi nắng gọi hoa và đợi chết” (8) – đã kết thúc bài viết nhằm trả lời câu hỏi cũng là lời tự hỏi đau đớn của Hölderlin “Tại sao lại hiện diện những thi sĩ giữa thời buổi khốn cùng?” như sau: “Hừng Đông vẫn rì rào trong thơ, ngay cả trong thơ không hiện ánh Vầng Dương. Bởi trong đêm, Thơ đã là Hừng Đông, những Hừng Đông riêng lẻ” (9).


  1. Tưởng nhớ anh,
    Thanh Tâm Tuyền,

Người thi sĩ luôn nặng tình với quê hương (Andalousie đói quên khiêu vũ / Việtnam ốm yếu quên ca dao (10) … mà tổ quốc ngàn đời nín thở vì trời thì xanh mà khổ đau nói sao cho hết (11) … Tôi là tiếng thơ là tiếng cười / mai Việt Nam hỡi mai Việt Nam (12), nhưng mất quê hương (Trong hộp đêm vừa đủ gió lùa giả tháng mười ở quê hương đã mất, có tiếng hát sâu dầy như quá khứ… (13), anh tự hỏi “Quê hương ta đâu?”, cuối cùng anh hiểu, anh không có quê hương nào khác ngoài lời thơ anh: “Lời của chàng hiển lộng một Quê Hương” (14).


  1. Hoàn thành bao nhiêu tác phẩm
    Chỉ để sau rốt kết luận một lời
    Anh hãy từ biệt mọi người cho đẹp bằng tác phẩm của anh (15)
    “Máu càng đỏ cho biển càng xanh” (16), sự sa đọa của đám thi sĩ cung đình càng khiến hình ảnh anh trở nên rạng ngời thanh khiết.

Đêm ấy được Khế Iêm thông báo anh từ biệt ra đi, bất giác tôi cảm thấy cõi thơ văn tiếng Việt bỗng trở nên tiêu điều, hoang vắng. Và ảm đạm.

Tôi không được nghe, chỉ được biết qua kể lại: một người làm văn nghệ ở đây nói anh như “con chim đầu đàn”, anh mất đi, đàn chim (văn nghệ) Việt “hoang mang không biết bay về đâu”.


  1. [Đức (tức Khế Iêm – người biên tập thêm vào) ơi, đêm ấy tôi thầm đọc lời anh Tâm khóc Quách Thoại, để khóc anh ấy:

Còn gì chăng?
Tôi bưng mặt khóc bên thềm cửa
Trời đất rưng rưng



Còn gì chăng?
Tôi ngồi khóc bên bờ sông trôi mãi



Giữa xứ sở đau thương tôi chịu đọa đầy
Khi người thi sĩ ấy đã gặp
Người tình ngàn đời là vô cùng
Trong hồn đất (17)

… là vô cùng. Ai đó đã nói rằng cái phần mà một người viết viết ra được chỉ là phần nhỏ, phần nổi của tảng băng trôi, so với những điều mà người đó ấp ủ, cưu mang. Anh từng tự hỏi: “Cõi Lòng. Cõi lòng ta. Anh đã đi khắp cõi trong anh chưa?” (trích trong xấp bản thảo).

Những người đã chết đều có thực. (18)
Những người chết đi là chết đi. (19)

Từ lâu rồi, chúng ta giả bộ tin vào ông già Noël. Từ lâu rồi, chúng ta biết rất rõ: chúng ta và cả hành tinh này mong manh biết chừng nào (cả một thành phố, cả một sắc tộc, mai đây sẽ dễ dàng trong một thoáng tan biến đi như chưa từng có). Từ lâu rồi, chúng ta không còn tin bất kì kinh sử tử tập nào không tích hợp cái thời tính và tính phù du vào mọi vấn đề của con người, liên quan tới con người. Từ đó, là sự trầm trọng của mọi chọn lựa của chúng ta, ngay cả trong một chọn lựa rất nhỏ. Đức ơi, lúc này tôi uống một mình, không còn anh Tâm để thỉnh thoảng đối ẩm, chẳng nhớ được anh ấy viết ở đâu, say, dấy cơn say hờ hững, tôi nghĩ lẩn thẩn rồi, tỉ như tôi nghĩ rằng tôi lưu một file với cái giá phải trả là delete một file khác, ta là hữu hạn mà, ta như cái hard disk này, tôi sẵn sàng tin rằng cái hard disk của Thượng Đế, nếu có, chính là cái hard disk chứa nhiều rác rưởi nhất, bởi nó có vô hạn không gian, memory đó, và vô hạn thời gian để tích chứa đủ thứ. Thượng đế không phải làm cái việc delete các files như chúng ta. Nhưng Thượng Đế đã làm cái việc này: After God created Thanh Tâm Tuyền, He broke the mould. Đức ơi, nếu chỉ được nói về anh Tâm trong một câu, tôi nói ngay một câu ngắn gọn này: Trong đời này, nhờ hạnh ngộ được giao du với anh ấy, tôi tự biết tôi trở thành người tốt hơn. Cho tôi trích thêm vài câu, trích ngang, ngang xương, phải rồi, thích thì trích, hà tất phải vì mục đích, lí do gì, thế mới là cái trích “thuần túy, thuần khiết”, phải không?

Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau (20)

…..

Trưa một màu Minh Châu
Trời hẹp hòi khôn kể

…..

Chút hương trong miệng đắng
Như Minh Châu còn đây. (21)]


  1. Rồi anh sẽ ném trả
    Hết nước mắt hết giọng cười
    Hết phách hồn trí tuệ
    Cho rừng sâu lịch sử loài người (22)

Tôi rất tin rằng mai sau những người sẽ tới sẽ “bắt gặp thứ ánh sáng lạ lùng của thời gian tích đọng trong thơ” anh, “đúng như ý kiến của Borges: Thời gian hủy hoại cung điện đền đài nhưng lại bồi đắp cho những câu thơ” (23) của anh.


  1. Tôi nhớ rằng Hemingway có nói một tác phẩm càng lớn bao nhiêu thì việc nhại lại nó càng dễ dàng bấy nhiêu (24). Tôi thậm ghét nhại lời người. Nhại lời còn là dại dột: cũng theo Hemingway, việc đó tố giác người viết nhại như một người viết thất bại. Nhưng sức thôi thúc nơi tôi, của niềm nhớ tưởng, mạnh hơn lòng ghét và khiến chẳng màng chuyện dại khôn. Để kết thúc bài này, tôi nhại lời anh, thật dễ dàng biết bao, chỉ cần thay đổi một từ. Cũng để xác nhận lời Hemingway là đúng: nhại văn là nơi ẩn náu cuối cùng của người viết thất bại (25). Bằng chứng: ý dẫn đạo của bài viết này là ngợi ca lối lập ngôn chẳng màng viện dẫn của đại văn chương – nhưng bài viết đã viện dẫn quá nhiều.

Tôi gọi tên anh cho đỡ nhớ
Thanh Tâm Tuyền (26).

Phạm Kiều Tùng
18.3.2007

Chú thích

1. trích Diễn Đàn, số 161, tháng 4 năm 2006.

2. the untroubled kingdom of reason … where beauty shines and glows, remote from the touch of sorrow – trích trong A Free Man’s Worship.

3. trích trong bài Kinh Nghiệm Sáng Tác Trong Tù.

4. … roseau pensant… plus noble que ce qui le tue… Pensées, fragment 200.

5. “… it [Tao Te Ching] mentions no dates, no places, no persons, no events.” Holmes Welch, Taoism, The Parting of the Way, Beacon Press, Fifth printing, Boston, 1971, p. 3.

6. Schopenhauer (Welt als Wille und Vorstellung, I, 52) has written that music is no less immediate than the world itself is; without the world, without the common stock of memories that language evokes, there would be, certainly, no literature, but music is detached from the world; there could be music and not world. Theo bản dịch tiếng Anh của Andrew Hurley, in lại trong Borges A Reader, A selection from the writings of Jorge Luis Borges, edited by Emir Rodriguez Monegal and Alastair Reid, E.P. Dutton, New York, 1981, p. 262 – riêng mệnh đề “but music is detached from the world”, người viết bài này dịch theo bản tiếng Pháp của Françoise Rosset, khẳng định dứt khoát hơn: “mais la musique peut se passer du monde” (Jorge Luis Borges, Evaristo Carriego, Éditions du Seuil, 1969, p. 138).

7. & 8. trích trong bài Óng Ánh Hư Ngụy, báo Thời Tập, không nhớ số, trước 1975.

9. trích trong bài Giấc Điên Thuần Hậu, báo Thời Tập, không nhớ số, trước 1975.

10. Tôi Không Còn Cô Độc, Người Việt xuất bản, Saigon, 1956 – bài Ôi Anh Em Cộng Hòa, trang 16.

11. Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, Sáng Tạo xuất bản, Ssigon, 1964 – bài Nói Về Dĩ Vãng, trang 23.

12. Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, bài Bài Ngợi Ca Tình Yêu (câu cuối cùng), trang 107.

13. Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, bài Chiều Trên Phi Trường, trang 25.

14. trích trong bài Giấc Điên Thuần Hậu, báo Thời Tập, không nhớ số, trước 1975.

15. Tôi Không Còn Cô Độc, bài Định Nghĩa Một Bài Thơ Hay, trang 14.

16. Người viết rất tiếc không nhớ đã được đọc câu này của tác giả nào, ở đâu.

17. Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, bài Về Quách Thoại, trang 84-85.

18. tựa bài, Sáng Tạo số 24, tháng 9.1958, Saigon (sau trở thành phần đầu truyện dài viết dở dang: Ung Thư).

19. Sáng Tạo số 16, tháng 1.1958, Saigon, trong bài viết tưởng nhớ Quách Thoại: Thoại ơi! Thoại ơi! Không biết khóc.

20. Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, bài Dạ Khúc, trang 34.

21. Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, bài Sầu Khúc, trang 47.

22. Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, bài Sầu Khúc, trang 49.

23. trích trong bài Kinh Nghiệm Sáng Tác Trong Tù.

24. & 25. the greater the work, the easier the parody… Parody is the last refuge of the frustrated writer… dẫn theo trí nhớ, trong cuốn Papa Hemingway, không nhớ tên tác giả.

26. tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

thanh tâm tuyền – Tôi Không Còn Cô Độc, bài Phục Sinh, trang 11.

VIRUS VŨ HÁN VÀ ĐỘ KHÔNG TÂM THỨC

WUHAN VIRUS AND ZERO DEGREES OF CONSCIOUSNESS

Khế Iêm

Mọi hành động có ý thức bắt đầu với một ý nghĩ, mà ý nghĩ lại đến từ thế giới bên ngoài, thông qua năm giác quan. Nhưng ý thức chỉ dừng lại ở chỗ nhận biết, còn tiến trình tiếp theo và cuối cùng lại là chức năng của tiềm thức. Tiềm thức mạnh hơn một triệu lần ý thức, và 95 đến 99 % hành động của chúng ta đã được quyết định bởi tiềm thức. Và chỉ có dưới 5% những gì chúng ta làm, được điều khiển bởi những hành động có ý thức. Như vậy, tỉ lệ phần trăm rất nhỏ những suy nghĩ có ý thức được lặp đi lặp lại và tái hiện trong tiềm thức, theo thời gian, trở thành thái độ hay niềm tin, kiểm soát hành động của chúng ta.

Neocortex, não tư duy chiếm 2/3 bộ não là trung tâm kiểm soát và hành sử bộ não, chia làm bán cầu não phải và trái. Vấn đề của Neocortex là luôn luôn muốn chế ngự những não bên dưới, đặc biệt là cảm xúc, nhưng ít khi thành công. Limic system (tiềm thức) hay não cảm xúc là cái đệm giữa ý nghĩ (neocortex) và hành động bản năng (não bò sát), trong đó, có phần nhận thông tin cảm giác bên trong cơ thể (đói khát, nóng lạnh, đau đớn …), và phần nhận thông tin từ môi trường chung quanh, ngoài cơ thể (nguy hiểm, thực phẩm, vui thú …)

Mỗi người sản sinh trung bình khoảng 50.000 ý nghĩ mỗi ngày, và 95% là cùng những ý nghĩ được lặp đi lặp lại nhiều lần. Những ý nghĩ được lọc qua Bộ lọc Tâm trí, trung bình 80% những ý nghĩ này không quan trọng, và bị loại bỏ. Tâm trí căn cứ vào niềm tin của bản ngã, niềm tin về giá trị, niềm tin về kinh nghiệm, niềm tin về khả năng sống còn. Nói tóm lại là vào chính kinh nghiệm, và những gì mà chúng ta tin là đúng thực. Khi chúng ta sinh ra, mang theo gene di truyền của cha mẹ, lớn lên được sự giáo dục của gia đình, xã hội, ảnh hưởng môi trường văn hóa, tôn giáo và chính trị của thời đại. Tất cả tạo thành những niềm tin vững chắc được lập trình trong tiềm thức, những nhà nghiên cứu về não bộ gọi là những thói quen cũ, và những nhà tôn giáo gọi là định kiến.

Đối với người bình thường, mỗi người đều có cái nghĩ khác nhau, họ nhìn thế giới qua cái nhìn của họ. Như vậy, không có thế giới nào thực, chỉ toàn ảo. Theo kiến trúc hậu hiện đại, Charles Jencks, “Không có sự thực: tất cả sự thật chỉ là nửa sự thật.” Một nửa sự thật, dĩ nhiên, không phải là sự thật. Không phải thật thì giả. Đó là lý do con người phải sống trong cô độc, ngoại trừ với cha mẹ, vì chỉ có cha mẹ mới biết thương yêu và hy sinh mọi thứ cho con. Lời Phật dạy: “Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu” (kinh Nhẫn Nhục). Cha mẹ sinh con trời sinh tính, có đứa bất hiếu, để bù lại, có đứa có hiếu. Nhưng dù sao thì cũng chẳng ai có thể báo đáp được ơn nghĩa sinh thành.

John Assaraf, trong một cuốn sách, ông viết, “Tất cả mọi thứ trong thế giới vật chất được làm từ các nguyên tử. Các nguyên tử được tạo ra từ năng lượng. Năng lượng được tạo ra từ ý thức.” Điều này có nghĩa, vật chất được làm từ các phân tử, các phân tử lại được làm bằng các nguyên tử, các nguyên tử được làm bằng các hạt proton, notron và electron, tất cả được làm bằng sự rung động. Như vậy, mọi thứ chung quanh, ngay cả ý nghĩ, chỉ là những tần số rung, và khi phân tích tới mức hạ nguyên tử, chúng ta không thấy vật chất, mà chỉ thuần năng lượng. Mọi thứ trong vũ trụ di chuyển và rung động, không lúc nào yên.

Độ không tâm thức là độ không của cái nghĩ. Tu tập theo Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada Buddhism) thường là tụng niệm bằng tiếng Pàḷi, có nghĩa là làm mất đi cái nghĩ, giải thoát khỏi mê muội khổ đau, để tâm thái bình an. Vũ trụ có âm có dương, có sáng có tối.  Cái nghĩ, nếu sinh ra khổ đau thì cũng tạo nên đời sống và nền văn minh nhân loại. Bản tính con người có hiền lương, có hiểm ác, và không ai có thể tự thay đổi. Đó là số phận. Bộ óc con người chia ra não trái (lý trí), não phải (cảm xúc), được kết nối bởi bộ dây thần kinh Corpus callosum. Corpus callosum lớn có thể dễ dàng chuyển các dữ liệu giữa bên phải và trái, vì vậy giữa hai bên có thể cân bằng hơn. Nếu Corpus callosum nhỏ, con người có tính quyết đoán hơn. Như vậy làm sao bỏ được cái nghĩ đi dù phải mất cả đời tu tập?    

Cái nghĩ không bỏ được, và cũng không nên bỏ, vì đó là đặc tính của con người. Cái tốt, cái xấu, hạnh phúc hay khổ đau, phát sinh từ cảm giác, qua dây thần kinh, chuyển thành cảm xúc, đưa tới cái nghĩ, cái nghĩ đưa tới hành động. Trừ sinh lão bệnh tử, khổ đau luôn luôn gây ra từ hành động của kẻ khác. Cái ngã, tùy theo bản tính mỗi người, chỉ biết mình không biết người, hành động theo cái tính, chứ không có tình, ngay cả với cha mẹ, anh em. Thật ra, cảm giác hay cái nghĩ không thuộc về mình. Mỗi người có cái nghĩ khác nhau, nếu giao tiếp hay sống cùng nhau, dễ gây va chạm, đổ vỡ, khổ đau. Khổ đau không hẳn chỉ là khổ đau, mà còn đưa tới hạnh phúc. Vì nếu không có khổ đau thì làm sao chúng ta nhận biết được tình người, và người nghệ sĩ làm sao sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật, làm cho nền văn hóa mỗi dân tộc trở thành phong phú? Hạnh phúc hay khổ đau đều là những nguyên tố tạo nên đời sống. Dù cái nghĩ có thuộc về mình hay không, không thành vấn đề. Vấn đề là chúng ta có chấp nhận hay không? Nếu không, chẳng lẽ chúng ta không phải là người?

Cuối cùng, đừng trách cứ một ai, mà hãy coi người khác cũng như chính mình, vì không ai làm chủ được cái nghĩ. Mỗi người đều sống trong môi trường và hoàn cảnh khác nhau, với cái giá phải trả. Không ai hiểu họ ngoài chính họ. Nếu nhận biết được khổ đau, họ sẽ không còn khổ đau, và không gây khổ đau cho người khác, nhưng mấy ai có được tầm hiểu biết như vậy. Chúng ta không trốn tránh khổ đau, nhưng chấp nhận như sự hiện hữu của con người. Đời người ngắn ngủi, hãy sống với từng giây phút hiện tại, và coi mọi thứ chỉ như một thoáng mây bay. Rồi chia tay, giã từ.

Thứ ba,  9 tháng 6, 2020

 

Every conscious action begins with one thought. But the thought comes from the outside world, through the five senses. Consciousness stops at awareness, and the next and final process is the function of the subconscious. The subconscious is over a million times more powerful than the conscious. 95 to 99% of our actions are determined by the subconscious. Less than 5% of what we do is driven by conscious thought. Thus, a very small percentage of conscious thoughts are repeated and subconsciously expressed over time, becoming attitudes or beliefs controlling our actions.

The neocortex, the thinking brain, which accounts for two thirds of the brain, is the control center for the utilization of the brain, divided into the right and left hemispheres. The problem with the neocortex is that it always wants to tame the underlying aspects of the brain, especially the emotions (the limic brain), although it rarely succeeds. The system (the subconscious mind), or the emotional brain, is the buffer between thought (in the neocortex) and instinctive action (the reptilian brain), in which there is the part which receives sensory information from inside the body (hunger, cold, pain, etc.) and the part which receives information from the surrounding environment outside the body (danger, food, pleasure, etc.)

Each person produces an average of 50,000 thoughts per day and 95% of these are the same ideas over and over again. Thoughts pass through mental filters, and an average of 80% of these are unimportant, and thus are discarded. The mind is based on the beliefs of the ego, beliefs about values, beliefs about experience, beliefs about ability to survive. In short, it is about experience and what we believe is true. When we were born, we were carrying the genetics of our parents, growing up, educated by our families and societies, and affecting the cultural, religious and political environment of our times. All of these elements constitute strong beliefs which are programmed subconsciously, which researchers of the brain have called “old habits” and religious people have occasionally termed “prejudices.”

The ordinary person each has a different mindset, and each sees the world through each one’s gaze. Thus, there is no real world, only the virtual world. In the field of postmodern architecture, Charles Jencks has said, “There are no whole truths: all truths are half-truths.” Half of the truth, of course, is not the truth. It means falseness. That is why people must live alone, except with parents, because only parents can love and sacrifice everything for their children. The Buddha’s Teaching, “The ultimate good is nothing more than filial piety, the extreme of evil is nothing more than filial impiety” (the forbearance prayer) is true here. Parents give birth to a child naturally; some have not piety, and in return, they receive some piety. At any rate, no one can repay the gift of birth.

John Assaraf has written in one of his books, “Everything in the physical world is made of atoms. Atoms are created from energy. Energy is created from consciousness.” This means that matter is made of molecules, molecules are made of atoms, atoms are made of protons, neutrons and electrons, all of which are made from vibrations. Thus, everything around us, even our thoughts, is just an expression of a vibrational frequency, and, when analyzed to the sub-atomic level, we don’t see matter, only pure amounts of energy. Everything in the universe moves and vibrates, never ceasing.

The zero degree of consciousness is the zero degree of thought. Practicing according to Theravada Buddhism is usually prayed in Pàḷi, which means losing the thought, liberation from the misery of suffering, and peace of mind. The universe has yin and yang, light and dark. The thought, if born of suffering, also creates human life and civilization. Human nature is gentle, evil, and no one can change it on its own. It is fate. The human brain is divided into the left brain (the mind), and the right brain (the emotion), but connected by the corpus callosum. A big corpus callosum can easily transfer data between the right and left, thus, each side can equilibrium the other more. If a corpus callosum is small, a person is more assertive. So how to get rid of thoughts even if it takes a lifetime of practice?

Thoughts cannot be dropped, nor should they be, because they are a human characteristic. Good, evil, happiness, suffering arise from feelings, through nerves, turning into emotions, leading to thought, thought leading to actions. Except for birth and death, suffering is always caused by the actions of others. The self, depending on the nature of each person, knows only that it does not know the person, acting according to their nature, not having love, even with their parents and siblings. Actually, this feeling or thought does not belong to us. Each person has a different mindset; if communicating or living together, it is easy to cause collisions, crashes, and suffering. Suffering is not just suffering, however, it also leads to happiness. Because, if there is no suffering, how can we recognize human love and how can an artist create literary and artistic works which enrich each culture? Happiness and suffering are both elements of life. Whether or not the thought belongs to us does not matter. The problem is whether or not we accept thoughts? If not, are we not human?

Finally, we must not blame anyone but must consider others as ourselves, because no one can control other’s minds. Everyone lives in different environments and situations at a cost. No one understand themseft but themselves. If they are aware of suffering, they will no longer suffer and will cause no suffering to others, but few people have such knowledge. We do not avoid suffering, but we accept it as human existence. Human life is short. Live it with the present moment and consider everything as fleeting as the clouds. As there is separation, farewell.

Tuesday, June 9, 2020

Translated  from Vietnamese to English by Dr. William B. Noseworthy - phó giáo sư tiến sĩ sử học, đại học Wisconsin, Madison, Hoa kỳ.

Đọc thêm, “Virus Vũ Hán và Vấn Vương Tình Người

 

DẤU QUÊ / TRACES OF MY HOMELAND

Dấu Quê - Khế Iêm by Mbanza-ngungu - issuu

GIỚI THIỆU DẤU QUÊ
INTRODUCTION TO TRACES OF MY HOMELAND

Tom Riordan


Tập “Dấu Quê” của Khế Iêm có tính đổi mới, nét hấp dẫn, lại dễ hiểu, tất cả cùng một lúc – là điều hiếm có trong thơ! Bài thơ đầu tiên cung cấp một dẫn nhập tốt về thi pháp của ông, cũng như về sự phát hiện của tập thơ rằng chúng ta làm gì với những hồi ức đầy tiềm lực [để bùng phát] về những nơi chốn chúng ta đã mất đi:

trút hơi         thở
                và ngồi duỗi ra
vào một nơi tưởng là đã tay trắng
          khom
          lưng      bất động như thế cho đến khi giọt
          chuông chiều kia làm tan đi người và    vật
          kiến tạo im ắng mà lâu nay                    bị
         che lấp bởi cánh liếp của                 lời kinh

Chúng ta thảy đều từng bị đuổi khỏi nhiều nơi chốn, khởi đầu là khỏi tử cung người mẹ, và rồi vào một thời điểm nào đó, khỏi tuổi thơ. Chúng ta đã từng lìa khỏi – hoặc là, trái với ý nguyện của chúng ta, từng bị buộc phải lìa khỏi – những người, những ngôi nhà, những thành phố, những quốc gia. Những gì chúng ta còn lại là những hồi ức của một bản ngã xưa cũ mà nó cùng đi theo tới nơi ở mới của chúng ta, nơi mà tại đó chúng ta cần phải xây đắp một bản ngã mới. Chúng ta xử trí thế nào với những hồi ức đó?

Trong bài thơ có tựa đề “Dấu Quê”, Khế Iêm tự hỏi liệu là đủ chăng khi

          phà vào lũ mục
         tử bằng đất nung
         vói tay nhón cái phôi

         pha với khói


         vẽ lại hình dạng đã thành quen
         thói

Trong bài “Với Gió”, ông suy tính xem liệu có thể

         ngồi lênh đênh trên đồi tranh      cởi nắng
         buộc vào cành non.

Xuyên suốt những bài thơ đó, là nét thuần nhất rõ rệt. Hầu như bất kì bài thơ nào cũng có thể biểu trưng cho toàn tập thơ, tuy thế lại không là sự lặp lại. Hết thảy chúng ta, hoặc là

                 phố lai lai (cáu)
          đấm như trời giáng vào
          mênh
hoặc
          há
          miệng cho chim chóc nhặt những
          cọng mây giắt răng

hoặc

          duỗi một chân
          đồng thời ném mẫu thuốc ra ngoài không
         gian
hoặc

         câm như thóc
Khế Iêm có quan điểm thực dụng và đầy niềm thương cảm,

          túm lấy hồn nhiên
          hỏi cho ra chỗ vô lý

Cố gắng neo chặt vào những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, nhưng ông nhìn ra nét hài hước trong chúng –

          mai nhớ ra ga trở về nơi chôn nhau
          nhé

Như vậy, đâu là sự dự đoán của ông, và của chúng ta? Có những

          tình câm
          nén lại ngoài cửa ngoài

Chúng ta có được những cơ hội. Như trong bài “Ấm Ớ”, nếu chúng ta đủ mạnh để

          trói chặt
          những khoảng khắc, và ngã
          hôn tang thương
          cùng mộng
thì chúng ta có cơ may để
          chộp lấy hoang vu trên mắt biếc
          hôn nhanh nhanh

Nếu chúng ta có thể gom đủ niềm can đảm để giữ được một khoảng cách nào đó giữa bản thân chúng ta với quá khứ, thì chúng ta có thể thành công trong cuộc di cư tị nạn. Trong bài thơ cuối cùng, “Gửi Người Đồng hành”, những người nhập cư thành tựu đó rời bỏ nguồn gốc của họ – dù đó là nơi trước-khi-ra-đời, là tuổi thơ, hoặc quê hương –

          đang run lên vì mưa sa
                                     ngoài dặm
          một cõi thinh không nằm trong sương

Đối với tôi, đó dường như là khoảnh khắc mà nhà thơ đã tới được một nơi nào khác, đã nói lời chào tạm biệt cái xưa cũ, và cuối cùng dường như sẵn sàng để bước vào và ngụ cư tại nơi nào đó mới mẻ.

Vậy nên vào lúc này tôi đã trông đợi tập thơ kế tiếp của Khế Iêm rồi. Ông ta đã tới được nơi đâu? Ông đã tìm kiếm được những gì? Cái tôi mới của ông sẽ nói lên những gì, khi giờ đây ông không còn là một di dân, mà là một lãng tử?

Phạm Kiều Tùng dịch

“Traces of My Homeland” by Khe Iem is innovative, fascinating and clear, all at once – rare, in poetry! The first poem gives a good introduction to his poetics, as well as to the book’s exploration of what we do with potent memories of places we’ve lost:

pour out        breaths
                and sit stretched
into a place empty-handed
          bend
          back                   motionless as such until a drop
          of afternoon bell dissolves the self and     objects
          that are created lie silent as in the past       being
          covered up by the lattice wings of            prayers

We’ve all been kicked out of places, starting with the womb and then, at some point, childhood. We have moved away from – or been removed against our will from – people, houses, cities, nations. What we are left with are powerful memories of an old self that comes along to our new location, where we need to construct a new self. How do we deal with those memories?

In his title poem “Vestiges,” Khe Iem wonders if it is enough to

          breathe life into
          clay figurines of herders
          reach out to pinch the
          vanishing smoke
and
          redrawing the images that have become
          habitual
In “With the Wind,” he contemplates the possibility of
          sitting atop a grassy hill       untying sunlight
          tying it to a young branch.

All through these poems, there is a fine unity. Almost any of them could represent the whole collection, yet there is no repetition. Whether we are all

                     A town of half-breeds (angered)
           punching the air, lost to
          the world
or an
          open
          mouth for the birds to
          gather cloud,

or

          stretching one leg out
          while simultaneously flicking a cigarette butt into
          space
or
          mute as paddy

Khe Iem’s viewpoint is pragmatic and compassionate,

          grasping for the natural
          requesting the unreasonable
that was it for me

Trying to stay anchored in life’s practicalities, he sees the humor in them –

          tomorrow remember to leave for the station to return
          to one’s birthplace
          okay

So then, what is his, and our, prognosis? There are

          feelings of falling in love
          suppressed from beyond the front door

We have opportunities. If, as in “Stammering,” we are strong enough to

          bind
          the moments, and cast
          a mournful kiss
          to dreams
we have a chance of
          catching the wildness in azure eyes
          kissing quickly

If we can gather up enough courage to put some distance between ourselves and the past, we can successfully emigrate. In the last poem, “To Those Who Made the Journey,” these successful immigrant leave their origins – whether prebirth, childhood or homeland–

           shuddering in a heavy rainfall
                                                miles away
          a silent empty region lying in the mist

To me, this feels like the moment where the poet has arrived somewhere else, has said goodbye to the old, and finally feels ready to enter and inhabit something new.
So, I look forward to Khe Iem’s next book now too. Where has he come to? What has he found? What will his new self say, now that he is no longer an emigrant, but an adventurer?

Bạn đọc có thể đọc trực tiếp hoặc đặt mua sách, báo
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi về Diễn đàn hoặc Email về Ban Biên Tập 
Chân thành cảm ơn!


GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ
 AUTHOR’S NOTES


Tập thơ “Dấu Quê” được sáng tác trong khỏang 1994 – 1996, xuất bản lần thứ nhất tháng 12 – 1996. Đây là tập thơ tự do, sau tập thơ vần điệu được sáng tác tại Việt nam, tập “Thanh Xuân”, theo phong cách truyền thống thơ Việt, ý ở ngòai lời. Thơ tự do “Dấu Quê” chủ vào việc tìm kiếm cấu trúc thơ trong quan điểm hình thức và nội dung là một, khác hẳn với những dòng thơ tự do Việt nam trước đó, đặc biệt là vào thập niên 1960 ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, chủ vào cái hay của ngôn từ. Có thể nói, do sự khác biệt khí hậu văn hóa đã tạo ra hai cách làm thơ khác hẳn.

Nhà thơ Tom Riordan cho rằng,

“Những gì chúng ta còn lại là những hồi ức của một bản ngã xưa cũ mà nó cùng đi theo tới nơi ở mới của chúng ta, nơi mà tại đó chúng ta cần phải xây đắp một bản ngã mới. Chúng ta xử trí thế nào với những hồi ức đó?”

Điều đó có thể đúng với đời sống hiện thực, nhưng trong thơ thì sao? Tôi cho rằng khi hòa nhập vào khí hậu văn hóa khác, chúng ta không hề rời bỏ cái ngã cũ hay tạo ra cái ngã mới, mà thật ra chúng ta hòa nhập vào cái không–ngã. Nếu không thì chúng ta chẳng bao giờ tạo ra được một dòng thơ khác.

Sau “Dấu Quê”, tôi không còn làm thơ vần điệu hay thơ tự do nữa, mà chuyển qua thơ Tân hình thức Việt, một thể loại nối kết được rất nhiều yếu tố thơ từ truyền thống tới hiện đại, từ thơ tiếng Anh tới thơ tiếng Việt. Đưa tới khả năng, báo hiệu những sáng tác mang tính tập thể. Bởi trong thời đại của mạng xã hội, mỗi cá nhân vừa hiện diện, vừa không hiện diện, mập mờ giữa ảo và thực. Mạng xã hội nối kết và hoà tan con người thành những hiện thân (avatar) vô danh. Vì thế, sáng tác đơn lẻ của một cá nhân cần kết hợp với những sáng tác tập thể để đáp ứng với tầm vóc của thời đại.

“Mỗi nhà thơ như một tinh cầu cô lẻ, mở ra một lối riêng chỉ vừa một người đi trong cái dù che của từ pháp, chỉ vài năm là bí lối. Trong khi thơ, đáng ra không thể là tiểu lộ, phải là đại lộ, hàng ngàn người cùng đi mà vẫn rộng thênh, không thấy đường cùng.” (Bước Ra, Khế Iêm, Tan Hinh Thuc  Publishing Club)

Tập thơ song ngữ Tân hình thức “Thơ Khác”, xuất bản năm 2011, cùng với “Dấu Quê” là hai tập thơ sáng tác ở Mỹ, như được sinh ra trong sự tình cờ của lịch sử, bởi nếu không có ngày 30 tháng 4 – 1975 thì tôi không có mặt trên đất nứơc này.

Tôi chân thành cám ơn nhà biên tập Carol J. Compton, dịch giả Do Vinh và nhà thơ Tom Riordan đã dành cho tôi rất nhiều cảm tình trong cuộc hành trình đầy thi vị này, của thơ.

This collection of poetry, “Traces of My Homeland”, was composed by Vietnamese language between 1994 and 1996 and was published as “Dấu Quê” in December of 1996. It is structural poetry which form is only an extension of content.  Another formal poetry collection (including some free verse), “Thanh Xuân” (Youth), which I composed a long time ago in Viet Nam (1970s and 1980s) depended on excellent words and an idea-beyond-words. “Thanh Xuân” was composed in Viet Nam; “Traces of My Homeland” was composed in the United States.  So we can say that the cultural climate creates different ways of composing poetry.

Poet Tom Riordan wrote, in the introduction to “Traces of My Homeland”,

“What we are left with are powerful memories of an old self that comes along to our new location, where we need to construct a new self. How do we deal with those memories?”

This would be true in real life, but how about in poetry?  I think that when we integrate ourselves into different cultural climates, we never leave the old self or create a new self but instead integrate into the no–self. If we do not integrate into the no-self, we cannot fly into a new space to make a differ- ent kind of poetry.

After writing “Dấu Quê”, I discovered a movement of American New Formalists that already existed and joined with them; then I founded Vietnamese New Formalism. Vietnamese  New  Formalism  is  a  kind  of  poetry  which links many principles together, from traditional to modern, from English language to Vietnamese language poetry, and predicts composition by the masses.  Maybe in the age of Facebook, “each individual has a presence, without being present, creating ambiguity between the virtual and the real. Social networks and personal connections dissolve into the anonymous incarnations of avatars. So, the compositions of the individual ought to be combined with collective compo- sitions as a response to the magnitude of the era.

“Each poet who travels under the umbrella of rheto- ric forges a narrow path like a lonely planet. That path will lead to a dead-end in a few years. Poetry cannot be a narrow path for one; it should be a large thoroughfare for thousands and thousands of travel- ers, and it should even have room for more. It should lead to infinity, not to a dead-end. (Khế Iêm, Stepping Out, Tan Hinh Thuc Publishing Club, 2012)

The bilingual poetry and the new formalism in “Other Po- etry” (published in 2011) and free verse in “Traces of My Homeland” were both written in the United States and were created by a chance of history. If there had been no April 30, 1975, I would never have been in this country.

I express my sincere gratitude to English language editor Carol J. Compton, translator DoVinh, and poet Tom Rior- dan, who are in sympathy with me in this poetic journey.

ĐỌC TRÊN ISSUU


TRACES OF MY HOMELAND


Khế Iêm
Poems

Translator: Do Vinh
Editor: Carol J. Compton

Tan Hinh Thuc Publishing Club
2013

P. O. Box 1745
Garden Grove, CA 92842

World Wide Web Site
http://www.thotanhinhthuc.org

©2014 by Khế Iêm
All rights reserved

Printed in The United States of America

Library of Congress Control Number:
2013947386
ISBN 978-0-9885096-3-4


CONTENTS

Introduction To Traces Of My Homeland 15
Tom Riordan 21
Author’s Notes 22


Part 1: Structure

Níu lại | Lingering 25
Nhau qua | Crossing 26
Cà phê | Coffee 27
Chợ trời | Open-Air Market 28
Ngẫm ra | Reflecting 29
Đêm | Night 30
Dấu quê | Vestiges Of My Homeland 31
Giận | Anger 32
Hoa thị | The Persimmon Flower 33
Lộng ngôn | Exaggeration 34
Biển xanh | The Blue Ocean 35
Ngày | A Day 36
Trầm mình | Immersing Self 38
Với gió | Against The Wind 39
Co duỗi | Shrink And Stretch 40
Khẽ gọi | Calling Softly 41
Ngọn nguồn | The Source 42
Dấu vết | Traces 43
Rơi ra | Falling Apart     44
Bình minh | Dawn   45
Quay gót | Turn On One’s Heel     46
Nheo | Squinting         47
Hí kịch | Comedy           48
Muôn thú | Wild Animals     49
Phiền Muộn | Sadness           50
Lời | Words  51
Buông quanh | Pacing  52
Cánh sầu | Wings Of Sorrow          53
Cấm | Forbidden        54
Cỏ ngàn | Fields Of Grass            55
Quay | Turn     56
Chống gậy | Leaning On A Cane      57
Câm | Mute    58
Chấm phá | A Sketch          59
Quát tháo | Shouting          60
Máng rơm | Manger 61
Tìm kiếm | Search On       62
Phiêu lãng | Wandering       63
Han rỉ | Rusty   64
Vô lý |Unreasonable  65
Ngàn chim | Thousands Of Birds     66
Mai kia | Someday          67
Bến lữ | Traveler’s Port 68
Kịch một giây | A Play In One Second  69
Thiếu phụ | Young Woman  70
Chiều | Evening           71
Nghẹn | Choke  72
Đá | Glancing          73
Cội nguồn | Origin   74
Trong cõi | On The Horizon           75
Dặn | Direction          76
Hỏi | Ask      77
Kiếm sống | Making A Living            78


Part 2: Traces Of My Homeland

Bến sương | Misty Port         81
Nghi hoặc | Doubt   82
Chốn khác | Another Place  83
Khoảng khắc | A Moment        84
Giả tảng | Pretend            85
Ấm ớ | Stammering      86
Gửi người đồng hành | To Those Who Made The Journey       87


Part 3: Ngục Biếc | The Bluish-Green Prison       91


Biography        99


Front cover: Painting by Nguyễn Đại Giang
Bìa: Tranh Nguyễn Đại Giang


<

p style=”text-align: center;”> 

VIRUS VŨ HÁN VÀ VƯƠNG VẤN TÌNH NGƯỜI

VIRUS VŨ HÁN VÀ VƯƠNG VẤN TÌNH NGƯỜI /
WUHAN VIRUS AND CONSULTING HUMANITY
Khế Iêm


Con người với cái tên Homo erectus (erect man) xuất hiện từ Phi châu, và bắt đầu có mặt trên trái đất vào khoảng 1 triệu 6 tới 300 ngàn năm trước đây. Trí thông minh giúp họ di cư tới Âu châu và Đông Á châu, và đặc biệt, phát minh ra ngôn ngữ trong mối giao tiếp. Họ hợp tác với nhau săn mồi, phân phối thực phẩm, và cuối cùng, phát minh ra lửa vào 400 ngàn năm trước. Sự khác biệt giữa Homo erectus và Homo sapiens là chiều cao – hơn nhau một cái đầu – trán nhô ra như khỉ, còn trí óc chỉ bằng 70 % trí óc của chúng ta bây giờ. Giữa Homo erectus và con người hiện đại chuyển từ hai giai đoạn của Homo sapiens: Homo sapiens cổ xưa  khoảng 300 tới 125 ngàn năm trước, và Neanderthal Man khoảng 40 ngàn năm trước. Neanderthal Man tạo ra dụng cụ bằng đá như dao, dựng nên chỗ ở bằng cành cây, hang hốc … săn thú rừng như hươu, nai … Họ biết thiêu xác và cúng thức ăn cho người chết. Những người Neanderthal Man mất dấu vào khoảng 40 hoặc 30 ngàn năm trước. Và lịch sử chỉ bắt đầu được viết vào khoảng 3200 B.C ở Summer, vùng Mesopotamia cổ, nay thuộc iraq, Syria, Phi châu. 

Văn minh nhân loại xuất phát từ Ai Cập, từ trước năm 3100 B.C. Ai cập mở mang hệ thống chữ viết Hieroglyphic. Hieroglyphic căn cứ trên 3 đặc tính: pictograph (lối chữ hình vẽ), Syllable (âm tiết), alphabet (bảng chữ cái). Hai đặc tính trước hợp thành chữ cuneiform (hình nêm), riêng đặc tính 3 hình thành hệ thống Alphabet vào khoảng 1400 B.C. Sau đó, người Phoenicians, thuộc người Semitic ở phía Đông bờ biển Mediterranean, chuyển thành Alphabet cho những người Hebrews, Arabs, Greeks, và Romans.

Văn minh Hy Lạp xuất hiện từ nhiều trăm năm, trước khi thành Athens được thành lập. Tác phẩm Iliad của Homer, “Troy War” (Cuộc Chiến Thành Troy), được viết vào khoảng 8 thế kỷ trước B. C. Như vậy, lịch sử Hy lạp đã bắt đầu trên một ngàn năm trước Socrates (470 – 399 B. C.) Đơn vị hành chính là các thành bang, bao gồm Athens và Sparta. Thời kỳ đầu, các thành bang theo chế độ quân chủ. Nhưng về sau, nền dân chủ đặc biệt được thành lập tại Athens. Tuy nhiên chế độ dân chủ ở Hy Lạp cổ khác xa so với ngày nay, chỉ những công dân nam giới mới được quyền bầu cử. Hai đặc tính chính của văn minh Hy Lạp, ngoài thể chế dân chủ, còn có phương pháp giáo dục cổ điển, phát huy trí tuệ và sức sáng tạo của con người. Đó cũng là hai đặc tính châu Âu tiếp thu từ Hy Lạp, sau đó phát triển thành hai yếu tố nền tảng của văn minh phương Tây bây giờ,

Thời Trung cổ, kết thúc vào thế kỷ 15, văn minh châu Âu tiếp nối văn minh Hy Lạp, với phong trào Phục hưng, bắt đầu từ thế kỷ 15 tới 18, tại Florence, Ý. Vào cuối thế kỷ 18, Anh phát minh ra động cơ hơi nước, đến khoảng thập kỷ 1860s, tiếp theo là điện tín, điện thoại, đường sắt, áp dụng dây chuyền sản xuất hàng loạt, kinh tế, nhờ thế kỹ thuật bắt đầu phát triển. Từ giữa thế kỷ thứ 16, các nước châu Âu hình thành chủ nghĩa tư bản, đi tìm kiếm tài nguyên, thuộc địa, xâm chiếm các nước châu Á, châu Phi. Đến đầu thế kỷ XX,  Đức vượt qua Anh, Pháp, trở thành cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu, và là nước hiếu chiến nhất, đề cao chủng tộc Đức, tích cực chạy đua vũ trang. Nước Đức cùng Áo – Hung, Ý thành lập “phe Liên Minh” vào năm 1882, chuẩn bị chiến tranh.

Năm 1914 – 1918, thế chiến thứ I xảy ra, giữa phe Hiệp Ước (Anh, Pháp, Nga, và sau đó là Hoa Kỳ, Brasil) và phe Liên Minh (Áo-Hung, BulgariaOttoman). Sau thế chiến thứ nhất, khủng khoảng kinh tế xảy ra vào năm 1929, tiếp theo thế chiến thứ II (1939–1945) giữa các nước Anh, Pháp, Nga và sau đó Mỹ, với liên minh các nước Đức Ý Nhật. Kết thúc thế chiến II, Đức Ý Nhật bại trận, và tình trạng kinh tế châu Âu kiệt quệ, chấm dứt nền văn minh sau hơn 400 năm. Thế giới rơi vào cuộc chiến tranh lạnh, giữa Mỹ và Nga, cho đến năm 1989, khi Liên bang Xô Viết tan rã, và vị tổng thống đầu tiên của Nga là Yelsin đắc cử vào năm 1991, Mỹ và Nga hợp tác trở lại. Thế giới bước vào thời đại toàn cầu hóa.

Trước thế chiến thứ I, châu Âu đã có cơn đại dịch gọi là Cái chết đen, bùng phát tại Ý, bắt nguồn từ Trung quốc hoặc Trung Á (vùng này có Con đường Tơ lụa và có những người dân du mục, từng là điểm trung chuyển hàng hóa giữa Đông Á, Nam Á, Trung Đôngchâu Âu.) Trong khoảng cuối thập niên 1320s hoặc  1330s, các thương gia và binh lính đã mang căn bệnh này tới bán đảo Krym (Phía Nam Ukraina) theo con đường tơ lụa. Một số nhà khoa học đưa ra giả thuyết cho rằng đại dịch bùng nổ ở chính khu vực này. Trong cả 2 trường hợp, bệnh dịch đều đã từ Krym lan đi khắp Bắc Âu, Tây ÂuBắc Phi trong thập niên 1340s. Tổng cộng có khoảng 75 triệu người chết, trong đó 25 – 50 triệu là dân số châu Âu. Như vậy Cái Chết Đen là thủ phạm gây ra cái chết của khoảng 30 – 60% dân số châu Âu.

Nhưng dịch bệnh Vũ Hán, cũng bắt nguồn từ Trung quốc rồi phát tại Ý, sau đó lan qua các nước Âu châu. Nhưng ngoài châu Âu, còn lan qua Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới, vì các phương tiện di chuyển hàng không trở thành phổ biến. Số người chết chưa thể so sánh với đại dịch Cái chết đen – tuy số ca lây nhiễm cũng đã lên tới hàng triệu – vì cơn dịch bệnh chỉ mới bùng phát, nhưng khó trở thành đại dịch, vì dụng cụ y tế và thuốc men là kỹ nghệ đã phát triển tột cùng. Sau thế chiến II, nước Anh trả lại độc lập cho các nước họ đô hộ, không cần chiến tranh dành độc lập gì cả. Nước Pháp cũng trả lại độc lập cho các nước Phi châu. Văn minh châu Âu chuyển sang Hoa Kỳ về mọi mặt, từ văn hóa, chính trị, khoa học kỹ thuật, Hoa Kỳ trở thành cường quốc trên thế giới.

Văn minh phương Tây, quay về với con người, với niềm tin tôn giáo, sau khi trải qua hai cuộc thế chiến. Ngẫm lại, nước Mỹ vĩ đại không phải do sức mạnh quân sự hay khoa học kỹ thuật, mà do lòng vị tha, giúp đỡ mọi đất nước khốn khó vì tai ương, bão táp, hay bị các nước khác xâm chiếm, tiếp nhận các đợt sóng di cư từ khắp nơi trên thế giới … Những hội từ thiện Hoa Kỳ giúp đỡ trẻ em nghèo, mồ côi, tất cả đều thể hiện bằng hành động cụ thể, không phải chỉ qua lời nói.

Tại sao nước Mỹ như thế, lại trở thành cơn dịch bệnh hàng đầu thế giới? Có phải vì đó là cái giá phải trả cho nền văn minh? Như văn minh châu Âu phải trả bằng đại dịch Cái chết đen? Tại sao có người đầy lòng nhân ái, giúp đỡ người khác, nhưng lại nhận được cái giá khổ đau? Khổ đau không có không? Cái nghĩ và cái tình, hai cái khác nhau. Hạnh phúc nằm ở nơi cái tình (bên não phải), còn cái nghĩ (bên não trái) làm ra khổ đau. Có người nghiêng về não phải, có người nghiêng về não trái. Thế kỷ 20, khi kỹ thuật tiến nhanh, con người đa số nghiêng về não trái. Chúng ta cần dung hòa giữa tình và lý. Nếu không vượt qua được cái lý, thì không đến được cái tình.

Trường hợp giúp đỡ người khác, thay vì trả ơn, họ lại coi chúng ta là kẻ thù. Nhưng hãy cám ơn họ, vì nhờ họ mà chúng ta biết rõ bản chất mỗi con người. Virus Vũ Hán giúp chúng ta nhận rõ cái tốt, xấu, vượt lên cả hai, để còn giữ lại tình người. Nhờ vậy, cái tình mới nảy sinh. Mong thay.

Source Materials

  1. Western Civilization, Robert Lerner, Standish Meacham and Edward McNall Burns
  2. Source: National Geographic Almanac of World History, 3rd Edition, 2014.

Humans with the name Homo erectus (upright human) appeared in Africa and began to inhabit the rest of the world from 1.6 million to 300,000 years ago. Their intelligence helped them migrate to Europe and East Asia.  They collaborated on hunting and distributing food and eventually adopted the use of fire 400,000 years ago. The difference between Homo erectus and Homo sapiens is the height – more than a head – and the protrusion of the forehead, which sticks out like a monkey, although they had only 70% of our brain capacity. Between Homo erectus and modern humans we have two stages of Homo sapiens: the ancient Homo sapiens of about 300 to 125 thousand years ago and Homo sapiens neanderthalensis, which lived appeared about 40,000 years after that. Neanderthals created stone tools, like knives, built houses with branches, burrows…and they can hunted wild animals – such as deer. They burned the bodies of their dead and offered food to them. Neanderthals disappeared around 30 to 40 thousand years ago, yet history began to be written only around 3200 BCE in Sumer, in ancient Mesopotamia, which is now Iraq. 

Human civilization comes from Egypt before 3100 BCE. Egypt expanded the Hieroglyphic writing system. Hieroglyphics are based on three characteristics: pictographs, syllables and a system of individual letters. The first two properties also constitute cuneiform, and the third became the Alphabet around 1400 BCE.  The Phoenicians, a Semitic people on the eastern coast of the Mediterranean, transformed the Alphabet into a writing system which was further developed by the later Hebrew, Greek and Roman civilizations. 

Greek civilization dates back hundreds of years before the founding of Athens. Homer’s Iliad, about the “Trojan War,” was written about eight centuries before the common era. Thus, Greek history began over a thousand years before Socrates (470 – 399 BCE). Ancient Greek administrative units were separate city-states, including Athens and Sparta. In the early days of Greek civilization, the Greek city-states followed a monarchic model. But a special form of democracy was later established in Athens. However, the democracy of ancient Greece was very different from the democracy of today  The two main characteristics of Greek civilization are democratic institutions as well as classical educational methods, which promote human intelligence and creativity.

With the end of the Medieval period in the 15th century, European civilization rediscovered Greek civilization, giving birth to the Renaissance movement from the 15th through the 18th centuries, starting in Florence, Italy. At the end of the 18th century, the steam engine was invented in England, and, thanks to such later inventions as the telegraph, the telephone, the railroad and mass production, economies and technologies began to develop more rapidly. From the middle of the 16th century onward, European countries formed capitalist economies, seeking ever more resources and invading and colonizing Africa, Asia and the Americas. By the beginning of the 20th century, Germany had surpassed England and France economically, becoming a leading industrial power and the most belligerent nation in Europe, promoting notions of “German supremacy” and starting another arms race. Germany, the Austro-Hungarian Empire and Italy established the “Triple Alliance” in 1882, preparing for war.

From 1914 through 1918, World War I took place between the Allies (England, France, Russia, and later the United States and Brazil) and the Central Powers (the Austro-Hungarian Empire, Germany, Bulgaria and the Ottoman Empire). After World War I, an economic crisis occurred in 1929, and World War II (1939 – 1945) followed between Britain, France, the Soviet Union, China and the United States, and the alliance of Germany, Italy and Japan. At the end of World War II, Germany and Japan were defeated, and the economic situation in Europe was exhausted, leading to a collapse after 400 years of civilizational growth. The world then became involved in the Cold War between the United States and the Soviet Union until 1989, when the Soviet Union disintegrated.  The first Russian president, Boris Yeltsin, was elected in 1991, which led to the United States cooperating with Russia again. Thus, the world entered the new era.

Europe has experienced several pandemics, such as the Black Death, in the past. In the mid-1340s, merchants and soldiers brought the Black Death from Central Asia to the Krym Peninsula (southern Ukraine) along the Silk Road. The disease spread from Krym through the Black Sea region, the Aegean Sea region, the entire Mediterranean Sea region, southern Europe, northern Europe and finally northeastern Europe (Moscow) by 1352. In total, about 75 million people died, including about 25 million Europeans. Thus, the Black Death was the cause of death for about one-third of the European population.

The Wuhan Virus (Wuhan is the capital of Wubei province) arose in China.  It then spread rapidly to Europe and North America because global air travel has become easy. The number of deaths caused by the Wuhan Virus is not comparable to the number of deaths caused by the Black Death pandemic, perhaps because the Wuhan disease has only recently broken out. The Wuhan Virus might not have originally seemed likely to transform into a pandemic because of medical equipment and medicines and the continuing development of the medical industry. After World War II, Britain returned independence to the countries which it had once dominated, and these countries thus had no need for war to regain independence. France also returned independence to several African countries which it had once dominated. European civilization seemed to yield to the United States in all aspects of culture, politics, science and technology as the United States became  the dominant world power. 

Western civilization, recently returned to the people with religious beliefs. In this retrospective vision, America was not great due to military power or scientific technology but by altruism, by helping every country which was made miserable by disasters, storms or invasion by other countries. American charities help the poor and orphaned children, as expressed by specific actions, not just through words. Why did America become the world leader in the number of infections in the Wuhan Virus pandemic? (Total cases: 1,7000,000 – Deaths: 100,500). Is it because the infections are the price to pay for civilization? Why are there people who are full of kindness, helping others but receiving the cost of suffering? Is there suffering?  Thought and love are two different things. Happiness lies within love (in the right hemisphere), and thought (in the left hemisphere) causes suffering. Some people rely on the right brain, while other people rely on the left brain.  In the 20th century, when technology advanced, most people became inclined toward the left brain. We need to reconcile ourselves between love and reason. If we cannot overcome reason, we cannot obtain love.

When we try to help others, they consider us enemies. But we can thank them because, through them, we can know the nature of each person. The Wuhan Virus helps us to recognize the good and the bad, to rise above both to retain our human affection. Thanks to that, new love arises. Hopefully.

Monday, May 04 2020

Translated by Dr. William B. Noseworthy


 

 

 

POETRY (phần 2)

https://ncte.org/resources/poetry/
https://ncte.org/resources/poetry/
Alan Burns

William Carlos Williams cũng như bất cứ người nào, đến rất gần với việc nhận thức ra lý tưởng mới của chủ nghĩa hình tượng, nhất là trong những bài thơ như “The Great Figure” và “The Red Wheelbarrow”. Trong những bài thơ khác, đáng chú ý là “The Wind Increases” (1934) và “A Sort of a Song” (1944), Williams bình luận về loại thơ ông muốn làm. “The Wind Increases” là một hình thức thơ trên trang giấy (spatial poem); nói một cách khác, bài thơ dùng cách sắp đặt chữ trên trang giấy như một cách diễn tả. Bài thơ nói về gió, và những chỗ thụt đầu dòng không bình thường khiến cho các chữ có vẻ như “gió cuốn đi”. Bài thơ còn nói về bản chất của nhà thơ (“nếu có bất cứ bản chất nào”). Bám vào sự tương tự hữu cơ được chuộng bởi các nhà lãng mạn, Williams so sánh chữ của nhà thơ với cây cối bị gió thổi. Thơ phải được neo lại, nhưng nó cũng phải ghi vào sổ “hình thức / của chuyển động”, cách mà một cây đang chịu gió thổi ra sao. Thứ hình dạng như thế rõ ràng vừa phức tạp vừa tương đối tự do, nhưng nó sẽ không dễ tàn nếu gió không thể thổi nó đi mất. Thơ thực sự, nói một cách khác, vừa ngẫu nghiên vửa lâu dài: nó giảng hòa những mâu thuẫn này. Ý của Williams, dù là mới lạ trong dạng thức, cũng trở lại “Nghệ thuật” (đã bàn luận dưới “Art & Beauty”) của Emerson và Melville; về mặt tinh thần bài thơ cũng có vẻ rất gần với trích dẫn chơi chữ bởi Thoreau đã dùng làm đề từ cho đoạn này. Trong “A Sort of a Song”, Williams đưa ra lối đặt trong ngoặc “No idea / but in things” đã tái công thức lại đề mục chính trong “Ars Poetica” của MacLeish. Williams thúc đẩy nhà thơ làm thơ và phát minh, và cũng xem tự chính thơ vừa là một con rắn sẵn sàng cắn vừa là một đóa hoa chẻ đá (để nở). Như trong “The Wind Increases”, ông đặt chỗ nhấn vào tính nguyên thủy sửng sốt và tính ngoan cố không ngờ của chữ của nhà thơ thật, cũng như nhấn mạnh vào mối kết nối giữa thi ca và thiên nhiên.

J.V. Cunningham trình bày rõ ràng một phản-bác chua chát chống lại dòng chính thơ Mỹ với “For My Contemporaries” (1942). Đặc trưng thì Cunningham bất đồng quan điểm với việc bám vào một khái niệm hữu cơ thơ tự-do của số đông. Thay vào đấy, ông tự đồng tình với phát biểu (đang) nổi tiếng của Robert Frost, rằng làm thơ tự do giống như đánh tennis không có lưới ngăn giữa. Cunningham loại bỏ truyền thống lãng mạn tự biểu hiện và thế vào đấy là các nhà thơ Latin và Phục Hưng nghiêm khắc hơn như kiểu mẫu, chuộng nói đến tác phẩm của mình là “thơ vần” (verse), để phân biệt nghịch lại “thơ” (tự do). Thơ vần, mà ông nhắc đến là những sáng tác vận luật và vần nhịp chặt chẽ, ông cho rằng, thuộc về công chúng với những căn bản khách quan ưu tú, trong khi thơ, ý ông muốn nói là thơ tự do, đã biến thành riêng tư hay thuộc nhóm văn học, với những phẩm chất căn bản chủ quan và phần lớn là độc đoán, gần-như-tôn-giáo. Không nghi ngờ gì nữa, nhiều nhà thơ và nhà phê bình Mỹ, bắt đầu với Emerson và Whitman, đã cố sức tìm trong thơ tự do vài ý nghĩa tư tưởng cũng như phẩm chất “Mỹ” riêng biệt không rõ nghĩa, trong khi đó, lại quên mất rằng các nhà thơ người Anh như Christopher Smart, William Blake, và Martin Farquhar Tupper đã dùng nó trước cả Whitman, rằng Vers libre của Pháp đã gây hứng cho phong trào hiện đại, và rất nhiều nhà thơ Mỹ hay nhất và đặc sắc nhất – từ Bryant và Longfellow cho đến Melville và Dickinson cho đến Robinson và Frost – từng làm thơ theo vận luật.

“For My Contemporaries” kể ra cách Cunningham, với lương tâm, từ bỏ “thơ” để theo “vận luật”. Những câu ngắn trong bài thơ tương phản với câu dài, sưng phồng lên, như Cunningham đã nói, với “tiếng động tinh thần” – mà ngay lập tức, kết hợp với Whitman và các nhà thơ hiện đại hậu duệ. Bài thơ nhấn mạnh vào khó khăn và tính nguyên thủy của sự khéo léo tài giỏi và chiều theo những người có ý đánh giá thấp hoặc ngay cả bất chấp đạo lý truyền thống của vận luật. Đoạn thơ cuối nhức nhối sắp đặt cảm giác và khéo léo với vận luật, dường như cũng sắp đặt thơ (tự do) với điên khùng. (Những tình cảm tương tự có thể tìm thấy trong vài bài thơ ngắn về nghèo khổ viết bởi đồng nghiệp thông cảm quen biết với Cunningham, Yvor Winters, gồm có “To a Young Writer”, “On Teaching the Young”, và “Time and the Garden”). Văn phong gay gắt biểu thị của Cunningham mở đầu hình ảnh tự nhiên và dạng thức hữu cơ bị chỉ trích hoàn toàn. “For My Contemporaries” hơi khó chịu nhưng là một phát biểu cá nhân không chối cãi về việc kháng cự lại những phương thức có ưu thế của thơ Mỹ. Nó trêu chọc một cách nào đó rằng tất cả mọi phát biểu thông minh rõ ràng không đồng quan điểm, và không có gì đáng nghi ngờ, đã được dùng đề tạo hứng cho phong trào “tân hình thức” qua vài thập niên qua, liên kết với tác phầm của những nhà thơ-kiêm-phê-bình xuất sắc như Timothy Steele và Dana Gioia.

Mặt khác, “American Poetry” (1963) của Louis Simpson, tương tự như “Poetry” của Moore trong cách nó kêu gọi những bài thơ tạp nhạp có thể “tiêu hóa” bất cứ gì hiện hữu trên thế giới, kể cả “uranium”. Simpson, giống Moore và không giống Cunningham, đứng ở dòng chính tư tưởng Mỹ về thơ, nối dài từ thời Emerson và Whitman. Không có lý thuyết gia chủ yếu nào về thơ Mỹ lại muốn giới hạn chủ đề của thơ đối với đề tài “thi ca” bình thường. Tất cả mọi thứ trên thế giới, như Emerson ám chỉ trong bài tiểu luận “The Poet”, phải được xem là nguyên liệu thích hợp cho tưởng tượng thơ sử dụng. Simpson thể hiện cụ thể thơ Mỹ qua hình ảnh một con cá mập, khi bị mổ bụng có thể tìm thấy đủ thứ kinh ngạc (Simpson đưa ra thí dụ chiếc giày, tượng trưng cho bất cứ điều gì “không thơ lắm” mà ta có thể tìm thấy trong một bài thơ Mỹ xác thực). Ông phát triển hình ảnh này xa hơn nữa gồm trong hai câu: con “cá mập” phải bơi không biết mệt qua “sa mạc” của văn hóa Mỹ, và nó phải, trong những điều kiện vô nhân đạo như thế, xoay sở để tìm hay giữ được tiếng nói “hầu như người”. Nối kết với thiên nhiên trong bài thơ ở mức độ tinh tế nhất – “những mặt trăng” và “sa mạc” không hẳn gợi lên được một đồng quê lý tưởng – nhưng đây cũng là một phần của quan điểm. Những vệt cắt vô cùng lớn của Mỹ châu hiện đại lồ lộ thiếu vắng bất cứ di tích nào của thiên nhiên, nhưng thơ, vẫn thích nghi và hỗn tạp như Emerson đã tiên đoán, phải xông tới và tìm những nguồn hứng mới; nó phải, một cách đối nghịch, làm thơ không có nét thơ.

Không có bài thơ nào nói đến bây giờ đã nắm được câu hỏi căn bản và khó nhất trên tất cả: Thơ là gì? “Because You Asked about the Line between Poetry and Prose” (1980) của Howard Nemerov bắt đầu làm việc đó, cho dù hơi gián tiếp một chút. Trong bài thơ súc tích hình tượng này, Nemerov chỉ ra một cách duyên dáng những bóng màu xám tách biệt thơ với văn xuôi. Ông làm như thế với minh họa ẩn dụ: khoảng khắc hạt mưa lạnh cóng biến thành tuyết. Khoảnh khắc đích xác của sự thay đổi này thì tránh né cái nhìn chăm chú nhưng chính sự thay đổi thì không thể hoài nghi được. Nói một cách khác, Nemerov từ chối phân biệt hẳn hòi giữa thơ và văn xuôi. Phân ranh mập mờ nhưng khác biệt – thứ mà A.R. Ammons trong “Corsons Inlet” gọi là “đường cắt căng ra” (sharpeness spread out). Nemerov chứng tỏ, qua thí dụ sáng lòa của mình, rằng đường ranh chính xác giữa các thứ liên quan với nhau rất khó để vẽ chính xác. Khi nào thì “trung niên” chấm dứt và “cao niên” bắt đầu? Chúng ta có thể khó nói ra mặc dù vẫn tin rằng mình có thể nhận biết trung niên hay người già khi gặp mặt. Trong vài trường hợp nào đó một thí dụ cụ thể, có thể nhiều tranh luận trừu tượng đáng giá. Phần lớn thơ được dự đoán theo khái niệm này, và ở đây, Nemerov chưa viết về thơ mà chỉ mới đưa ra một thí dụ hay, thơ là gì.

Dana Gioia thăm dò một khía cạnh khác của thơ trong “The Next Poem” (1991), một trình bày nổi bật về hy vọng mà tất cả mọi nhà thơ thực hành sẽ đồng tình. Gioia diễn tả ý tưởng Platonic của một bài thơ mà trong đó ông (và nhiều nhà thơ thể luật) khao khát mỗi lần đặt viết lên giấy (hoặc là, gõ gõ mấy cái lên phím). Bài thơ mà ông nghĩ đến sẽ có câu mở đầu khó quên, sẽ làm ra cách sử dụng thể thơ một cách chuyên môn và hữu cơ, sẽ dùng vần tinh vi, phối hợp các ngôn ngữ thông thường với âm nhạc sinh động, kinh ngạc, tránh phần mảnh và khó hiểu, và và với sự ẩn tàng chắc chắn đầy ý nghĩa. “Giờ thì có vẻ tốt hơn trước,” ông than vãn, khi nó thật sự được làm xong. Gioia kềm giữ giấc mơ hoàn hảo bằng những thỏa hiệp cứng ngắc và bất mãn của sự trình diễn hiện thời. Nhiều nhà thơ cố làm “bài thơ hoàn hảo”, trong khi biết rằng điều đó rất khó. Tuy vậy, Gioia ám chỉ, chính tự giấc mơ, là thứ tạo ra hứng cho vài bài thơ hay, vì nếu không có một hoàn hảo lý tưởng sẽ không có căng thẳng theo đuổi cái tuyệt hay. Bài thơ, minh họa qua nhiều quan tâm, những tư cách đáng ganh tị mà nó kể ra từng chi tiết, kết thúc bằng một suy diễn sâu sắc: nhà thơ như người câu cá, chờ đợi con cá kế tiếp cắn câu và hy vọng sau rốt, đó sẽ là “con cá lớn”.

Điểm Thọ dịch | Nguyên tác: Poetry

Trích Báo Giấy • Tháng 08 năm 2019 • Năm thứ 4 • Số 56
Email: tapchitho2022@gmail.com • www.thotanhinhthucviet.vn



TUẦN THƠ 37: TIẾNG THƠ GIỮA ĐẠI DỊCH

Vũ Kim Hạnh: ôi cần làm quen tác giả bức tranh này. Mục đích là xin sử dụng bức tranh này cho một ấn phẩm. Do thấy bức tranh này trên mạng và tìm kiếm nguồn nhiều lần vẫn chưa xác định được tác giả (qua chữ ký trên tranh, tôi biết tác giả là LÂM vẽ năm 2021). Vậy nay tôi đăng bức tranh để nếu tác giả đọc thấy stt này, hay bạn bè, hay ai biết tác giả bức tranh, xin cho tôi biết, xin giúp tôi để tôi có thể liên hệ với tác giả bức tranh. Rất cám ơn và hi vọng sẽ có may mắn trong cuộc tìm kiếm này.
Vũ Kim Hạnh: ôi cần làm quen tác giả bức tranh này. Mục đích là xin sử dụng bức tranh này cho một ấn phẩm. Do thấy bức tranh này trên mạng và tìm kiếm nguồn nhiều lần vẫn chưa xác định được tác giả (qua chữ ký trên tranh, tôi biết tác giả là LÂM vẽ năm 2021). Vậy nay tôi đăng bức tranh để nếu tác giả đọc thấy stt này, hay bạn bè, hay ai biết tác giả bức tranh, xin cho tôi biết, xin giúp tôi để tôi có thể liên hệ với tác giả bức tranh. Rất cám ơn và hi vọng sẽ có may mắn trong cuộc tìm kiếm này.

Trích từ Báo Giấy số 66 – Tháng 6/2021 – Năm thứ 5 &
Báo Thơ số 1 – Số ra mắt – 9/2021 – Năm thứ 1

Sáng tác xin gửi về Diễn đàn hoặc email:
baogiay2015@yahoo.com | info@thotanhinhthucviet.vn
Nguyễn Lương Ba

 

NHỮNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO TƯỞNG TƯỢNG ĐƯỢC

 

Tôi mở trang thánh kinh và làm dấu thánh giá
Bây giờ sự im lặng mở ra trong niềm thông cảm
Trang giấy đầu tiên được viết lên bằng âm thanh cỏ lá
Bằng tiếng khóc dỗi hờn của giống dân du mục
Khi ngang qua sa mạc
Bổng nhìn dưới chân dấu cát sâu khắc khổ
Ý thức làm người đốt lên những lần kiêu hãnh
Các bộ lạc phân chia và cuộc chiến bắt đầu
Tôi không còn nhìn những bông hoa mới nở
Ánh sáng tưởng tuợng được thắp lên trong lần cầu nguyện
Khi tiếng khóc đầu tiên còn nguyên trinh sự sống
Cho tôi tình thương bao la của sông của biển
Cho tôi ý tưởng phiêu lưu của gió rừng
Và nhiều khắc khoải của lũng thấp đồi cao
Cho tôi run run hơi thở
Trong nhiều lần dừng chân
Tự hỏi về những ngày mưa cuối mùa
Kỷ niệm nói với tôi rất gần gủi
Con tàu lắc lư chở mối u sầu ở mỗi sân ga
Suốt chuyến hành trình
Thôi hãy dấn thân mình
Để dựng nên những tháng ngày còn lại
Khi bước chân đi bom đạn gần xa
Tôi âm thầm vuốt ve mảnh đất
Mười ngón tay làm mười con suối nhỏ
Mạch nước hiền hòa tưới mát những cành khô
Tôi âm thầm cúi xuống cúi xuống thật sâu
Nói với lòng đất
Sự chết nhẹ nhàng như một cuộc dong chơi
Nói với từng người con gái
Chúng ta chỉ còn vầng trán đôi môi
Kỷ niệm được ngủ yên trên đó
Xin người đừng tấu nhạc phong cầm
Để một mình tôi la hét với thinh không.
22/4/2020

CÕI LÒNG TUYỆT ĐỐI

Nhìn ra thấy ngọn đèn
xanh đỏ cứ xanh rồi
đỏ có thấy bóng dáng
ai đâu ngài thị trưởng
 
nói chuyện những ngày dịch
bệnh trước mắt là con
phố vẫn còn ngưyên con
phố mà hình như xa
 
dần vắng dần hay tịch
lặng ở trong lòng tôi
đi trên lề đường cuộc
đời Thượng Đế cô đơn
 
qua phố không người qua
qua nhà nhà đóng cửa
khung cửa nhìn lên bầu
trời trắng như áo em
 
những ngày nắng hạ là
không ai còn đi không
ai nắm tay để bàn
tay dặn dò bàn tay
 
dặn dò lời chú Đại
Bi dặn dò bàn tay
sạch bàn tay đầy hình
hài vô tận này nhà là
 
này xe là không có
không có gì để nhớ
nữa không còn gì để
nhớ nữa mùa dịch bệnh
 
coronavirus covid-19
người người cách xa người
người khẩu trang người người
ở nhà ở nhà ở
 
“stay-at-home.”
Nam mô a rị da
Bồ đề tát đóa bà da.
(những ngày nằm nhà tránh đại dịch Covid-19/tháng 3-2020)

Thạch Tốt

CÁNH CỬA

Cánh cửa như cánh hoa
mười giờ trước cửa luôn
mở em ạ ! giờ yên
vui hớn hở có thấy
gì căn nhà hình như
vừa sáng nay hoa mười
giờ trong trái tim anh
em dưới hiên nhà chùm
cúc vàng là em đó
em đi xa có thấy gì
cánh cửa vẫn mở những
sớm mai trầm lặng tôi
nói yêu em yêu em
một ngày nào đó (vầng
trăng làm chứng) ? để bây
giờ … vẫn rơi vẫn rơi
đi qua ngõ chung cư
nhà nàng còn nhớ không
gã đàn ông lang thang
huýt sáo nói lời xưa
tưởng rằng tưởng đã quên
còn nhớ không nơi đó
khẽ quay về cánh cửa
như cánh hoa mười giờ
nhớ em bên góc cà
phê thơm hoàng hôn đã
mù tan.

Phạm Quyên Chi

HÌNH ẢNH NỖI ĐƠN ĐỘC

 
Tôi đi tìm người phụ
nữ đã từng ghé đến
hỏi ngôi nhà của bố
tôi thuở còn nhỏ tôi
ít để ý chi những
người đàn bà đến ngó
tìm một điều gì đó
trong chính ngôi nhà của
bố nên ở trước cửa
hay sau cửa tôi không
để ý chi họ chắc
có thấy đứa con của
bố ngồi ngay giữa ngôi
nhà rồi bỗng nhiên đứng
dậy ngồi xuống phát hiện
người phụ nữ đó đến
hỏi ngôi nhà của bố
nhưng không muốn gặp bố
bà ấy sau lần tìm
được ngôi nhà là bỏ
đi không hỏi thêm điều
gì rồi bỗng nhiên trước
cửa bố treo bảng bán
đi ngôi nhà của bố
với cái giá rất rẻ
lạ thay dù mùa xuân
hay thu đông những chiếc
lá thay nhau rụng rơi
lộp độp tôi bỗng thấy
một điều chi đó giống
hình dáng người phụ nữ
ngang qua một điều chi
có liên quan đến cảm
giác bùng vỡ trong trái
tim lâu ngày chợt thấy
nỗi nhớ nhung vồ vập
ngôi nhà của bố hình
như tôi bỗng muốn bỏ
đi giống như người phụ
nữ đã từng không trở lại…
 

DỊCH, THẬT ĐÁNG SỢ PHẢI KHÔNG?

mẹ ơi mẹ mới buổi tinh
sương trời đất còn đọng lại
chút ướt át của đêm hơi
con nghe tiếng khóc bà năm
bà bảy hàng xóm ồ ề
“thâu con về đây, về đây”
Dịch bệnh là gì? Trên nhà
bố đóng kín cửa rồi nằm
im thin thít con cuồng chân
cuồng tay muốn đi bắn bi
thả diều chạy vun vút theo
ngọn diều bay cao trách thằng
Đông thằng Mẫn nó chẳng dám
mò chân ra khỏi vườn hay
Dịch làm ám ảnh cả kí
ức người gần người sống để
yêu thương nhau mà giờ đây
cũng không còn thấy được nét
mặt buồn bố còn nói thí
dụ không còn đến trường lớp
ôi tương lai con chẳng là
đen như mực nay ngồi đây
trong ô cửa một chút nhìn
trông bầy chim non ríu rít
mà vấn vương vấn vương Dịch
chưa qua hay qua đi rồi
sao giống những bí mật trần
gian quá vậy? Ngần ngại hết
sức trước sự hoang hoải nắng
hắt bóng lên phên cửa nắng
lùa giờ lung lay chiếc lá
bay và cả bông hoa nở
rực rỡ ngọt ngào à chút
nữa là đã ào ra sân
nhưng không được nhưng không được
vì sao thế nhỉ? Ai chưa
về, còn ai chưa về?

NẾU


nếu cát bụi bay lên
nếu cát bụi trở về
bằng cách bay lên bà
tôi không trở về
cậu tôi không trở về
họ đã nói chết thì
trở về với cát bụi
cát bụi có bay lên
thì dẫu bây giờ bà
trở về cậu trở về
cũng như đang xem rạp
xiếc một mình không bóng
dáng con người nếu vậy
ai vui vẻ hài lòng
đứng lại chờ cát bụi
nếu cát bụi trở về
bay lên chiếc đài thì
bà không bấm nút cậu
không bấm nút người chết
không thể tự đưa về
quá khứ vậy thì ai
đưa về quá khứ chiếc
đài chẳng có bánh xe
chẳng một lần có con
trâu mập cũng không lắc
lư nhão giống nước hay
bốc cháy rực lửa và
chẳng thể mọc chân chạy
chạy vội vàng với bọn
nhỏ mơ hồ mơ hồ
nếu mọi mơ hồ biến
mất đi như cát bụi
biến mất kí ức về
một giây lát cả nước
lửa cùng trôi qua thẫn
thờ mặc kệ đi người
đàn ông qua đường người
đàn bà qua đường hai
người cùng nắm tay băng
qua cát bụi bay đầy
trời cát bụi trở nghiêng
lời chào hỏi nắng nâng
mặt đất lên bánh xe
quay quay cô gái tắt
âm thanh không có gì
không có gì người gặp
người không vội qua mau …

Michael Lee Johnson

VIRUS IN AIR, SPASMS IN BACK

 
Ảnh sưu tầm
There’s a virus in the air, but I can’t see it.
People are dying around me, but I can’t save them.
There are spikes pierced in my back,
spasms, but I can’t touch them.
Heartbeats, hell pulsating, my back muscles,
I covet in my prayers.
I turn right to the left, in my bed, then hang still.
Nails impaled, I bleed hourly,
Jesus on that cross.
Now 73 years of age, my half-sister 92,
told me, “getting old isn’t for sissies.”
I didn’t believe her –
until the first mimic words
out of “Kipper” my new parakeet’s mouth,
sitting in his cage alone were
“Daddy, it’s not easy being green.”
 

VIRUS TRONG KHÔNG KHÍ, CO THẮT LƯNG

Có một loại vi-rút trong không khí, nhưng tôi
không thể nhìn thấy nó.
Mọi người đang chết xung quanh,
nhưng tôi không thể cứu họ.
Có những chiếc gai đâm vào lưng tôi,
co thắt, nhưng tôi không thể chạm vào chúng.
Nhịp tim, nhịp đập địa ngục, cơ bắp lưng,
Tôi thèm muốn trong lời cầu nguyện.
Tôi quay phải sang trái, trên giường,
rồi cứ thế nằm nghiêng.
Móng tay bị đâm, chảy máu hàng giờ,
Chúa Giêsu trên thập tự giá.
Bây giờ 73 tuổi, em gái cùng cha khác mẹ 92,
đã nói với tôi rằng, “già đi không phải vì
ẻo lả yếu đuối.”
Tôi không tin cô ấy –
cho đến khi những từ nhai lại đầu tiên
“Kipper” thoát ra từ miệng con vẹt đuôi dài,
đậu trong lồng một mình
“Cha ơi, không dễ gì cả tin đâu.”

 


Nguyễn Ngọc Trìu

ĐI TRONG MÙA HÓA TRANG LỜI

Đi mãi đi mãi đến bao
giờ bao giờ mới qua mùa
hóa trang lời nói mỗi khi
ra khỏi môi người có người
bảo tôi rằng chả còn lâu
rồi có một ngày có một
ngày tan hội hóa trang sẽ
không còn thấy sẽ không còn
gặp dòng âm thanh lộn trái
mình lộn trái mình chen lên
làm chủ cuộc chơi sẽ không
còn thấy sẽ không còn gặp
những dòng âm thanh vội vã
đổ phứa lên mình xanh đỏ
trắng đen sẽ không còn thấy
sẽ không còn gặp những dòng
âm thanh hóa trang vụng về
dáng như ngái ngủ vật vờ
vào hội sợ một ngày tan
hội còn có ai nhận ra
đâu là lời hóa trang đâu
lời chửa hóa trang ?


Buizu

BÀ NỘI TRỢ

(Tên tạm đặt do tác giả chưa đặt tên để phân biệt với bài BÀ QUẢN GIA)

khi tôi còn mải loay
hoay bên bếp đứng chiên
miếng thịt cho bữa tối
trong khi đang đọc tin

người đàn bà ấn-độ
làm nghề giúp việc nhà
bị từ chối trước cửa
căn nhà mà bà ta
 
mới hơn một tháng trước
đó còn đang mải loay
hoay lau chùi dọn dẹp
từ bên trong và vẫn
 
không quên sẽ phải chiên
miếng thịt cho bữa tối
mà ông bà chủ nhà
đã căn dặn từ lúc
 
sáng sớm khi họ thức
dậy với bản tin con
vi-rút trung-quốc đang
lan rộng tận bốn bể
 
năm châu cướp đi vài
trăm ngàn mạng người nhưng
thứ mà con vi-rút
trung-quốc cướp đi là
 
hàng triệu triệu miếng thịt
mà bà giúp việc sẽ
phải chiên cho chủ đến
khi bà bị cho thôi
 
việc hay miếng thịt mà
người ta cho đi nhưng
sẽ quay lại clip và
tung lên face-book hay
 
you-tube để hòng kiếm
thêm vài miếng thịt trong
thời buổi rối ren giãn
cách xã hội như một
 
thứ trò chơi mà bên
thắng cuộc sẽ chẳng còn
một miếng thịt nào hoặc
sẽ cháy khét như miếng
 
thịt mà tôi đang mải
loay hoay trong bếp đứng
chiên và mải nghĩ về
người đàn bà ở xứ
ấn-độ hay xứ an-
-nam mà giờ đây chắc
chắn không còn một miếng
thịt nào…
4/2020

 Hoàng Xuân Sơn

B Ê N T R O N G M ỘT S Ự T H Ể

Trở về trong sự trở về là
nhân đôi niềm mất mát ê chề
Năm nào cũng ngần ấy thức ngần
ấy thứ những cái máy nóng chạy
túi xụi suốt mùa đông những cái
máy lạnh phun ra rả suốt mùa
hè những quạt bàn quạt trần quạt
đứng lau chùi phủi bụi lắp vào
tháo ra lắp vào vù vù quay
hay ù lì đứng một chỗ nằm
một góc chui một xó như cuộc
đời À cuộc đời có khi xanh
mướt như bóng mây trên trời có
khi hoang tàn như đám cỏ hôi
chết tiệt bên hông đàng sau nhà
(chẳng phải là cái-nhà-của-ta)
*
Trở về trong sự trở về là
bội thu niềm vui sướng cuộc tình
mãi rồi cũng có hai bề phải
trái thăm thú cả hai mặt gặt
hái tất niềm hoan lạc thế gian
hay quét sạch niềm tự kỷ sau
cùng mấy chục năm chăm chỉ làm
công việc quét nhà quét hoài không
hết rác mà đời mình rác rưởi
cứ dày thêm vạch áo xem nào:
sống lưng tôi bầm dập mắt trời
không cong mà gió trời hung bạo 
*
Trở về trong sự trở về những
kẻ hoàn toàn đứng ở bên lề
Cứ nói dối một lần là quen
tật nói dối mãi còn ấp ủ
cật lực trong lòng để lâu e
sanh bịnh sự dối trá nào không
bắt đầu bằng một điều chân thật
Ví dụ như khi tôi bắt đầu
nói yêu em tôi nói yêu em
yêu em yêu em biết dường nào!
mai - 2001

Hoài Phương Nguyễn

KHÔNG ĐỀ

(Tặng anh Minh Nvuong)
Anh đứng bên bức tường
Sắt – phải hay không nhỉ?
Hay là bên bức tường
bê tông bọc sắt? – Mà
thôi đi! Chẳng sao. Đằng
nào thì những bức tường
sắt cũng chỉ là khái
niệm, như những bức màn
tre cũng chỉ là khái
niệm. Sự thật là những
bức tường sắt ấy – ở
đâu ra nhỉ? đã bị
người ta giật đổ lâu
rồi, nhưng đâu đó, những
bức tường sắt trong tâm
tưởng thì vẫn còn và
vững chắc và khó lay
chuyển hơn xưa rất và
rất nhiều lần, như những
ranh giới tưởng đã được
xóa lâu rồi thì vẫn
tồn tại trong lòng người,
như tồn tại mãi mãi
những vĩ tuyến (17 –
ngày và đêm), lan man,
lan man… như những lũy
tre làng đã từ lâu,
từ bao giờ anh tưởng
đã ra khỏi dù có
ít nhiều khó khăn thì
lại vẫn âm thầm đeo
bám chạy theo anh thân
thiết nơi những phương trời.
Nhưng mà thôi, kệ đi,
kệ những bức tường sắt,
tường bê tông, kệ những
rào tre, những lũy tre,
những khái niệm mới cũ
những tân hình thức và
với những truyền thống, những
 

KHẾ IÊM

Tranh Nguyễn Đại Giang
và những Nguyễn
Du, Nguyễn Bính, Nguyễn
Khuyến… đang ngày đêm âm
thầm bủa vây, anh cứ
đứng đây dựa lưng vào
bức tường, sắt, bê tông
gì kệ xác, ngửa mặt
ngắm mây trôi và hít
căng lồng ngực bầu không
khí ban mai trong trẻo.
 
26 03 20

James Daniel Spears
 

WHER WE BREAK


You find me, a cigarette
and fear
my only company,
long hair scattered
while you sleep.
I do not love you.
I leave what I was buried
in smoke,
throat dry as tear ducts.
Built from driftwood dried
in the desert. Fire engulfs
what we did not build
Praying for a miracle
or rain. Water
drips from a crucifix’s toes.
You do not love me,
comfortable in quiet
and confused gooseflesh
James Daniel Spears’ poetry has been featured in Jump, The Annual Tejano, and The Eunoia Review. Despite being promised untold riches awaited him in pursuit of poetics, he lives a humble life in his hometown of El Paso, Texas with his nephew, two dogs, and one angry cat
 

LÀM SAO MỒI LIÊN HỆ CỦA CHÚNG
TA BỊ CẮT ĐỨT

Em tìm tôi, ngoài thuốc lá
và nỗi sợ
tôi chỉ là tôi,
mái tóc lòa xòa
trong lúc em ngủ.
Tôi không yêu em.
Tôi che phủ quá khứ
trong khói thuốc,
cuống họng khô như ống dẫn nước mắt.
Mối liên hệ từ khúc gỗ trôi trên sông khô
trong sa mạc. Lửa chìm sâu
trong những gì chẳng liên hệ tới chúng ta.
Cầu xin nhờ phép mầu
hoặc mưa. Nước
rơi dưới chân thập tự giá.
Em không yêu tôi,
thoải mái trong im lặng
và ngượng ngùng khi làn da bị cọ sát
Bài thơ đã được đăng trên Jump, The Year Tejano, và trên The Eunoia Review. Mặc dù được hứa hẹn về sự giàu có không thể kể xiết đang chờ đợi khi theo đuổi thi pháp, anh ta sống một cuộc sống khiêm tốn ở quê hương El Paso, Texas với cháu trai của mình, hai con chó và một con mèo hung dữ

Gregg Dotoli

AL, NEWTON AND MAX
(THEORY DECAY)

Al, Newton and Max’s bologna …er truth
is fast decaying
In da new now world
Physics laws spawn for mankind
ONLY in uninterrupted observance of Blackholeness
Yes, our relativity is going down da tubes
Newton’s chatter on gravity was just wrong
Physics laws spawn for mankind
ONLY in uninterrupted observance of Blackholeness
 
nothing is what it seems
nothing is what it seems
Max And Al
2 old Apples hanging on a branch
physical Truth lives in the seeds of reflected
dreams
 

AL, NEWTON AND MAX
(LÝ THUYẾT SUY TÀN)

 
Ơ sự thật vô nghĩa của Al, Newton và Max
suy tàn nhanh chóng
Trong cái thế giới mới hiện nay
Luật vật lý tái sản sinh cho con người
CHỈ trong sự quan sát không ngừng nghỉ của Lỗ đen
Phải, mối liên hệ của chúng ta đang bị hủy diệt
Tiếng nói huyên thuyên của Newton về trọng lực
đã sai
Luật vật lý tái sản sinh cho con người
CHỈ trong sự quan sát không ngừng nghỉ của Lỗ đen
không có là những gì hình như là
không có là những gì hình như là
Max và Al
2 trái táo già treo trên cành cây
Sự thật vật lý sống trong hạt những giấc mơ
phản chiếu

Trần Văn Quyết

HÁT VỀ BỤI

 
Hạt bụi lang thang giữa thinh
không vô định hình ào ào
bay dạt vần xoay lăn lóc
vô tình tôi trốn vào hạt
bụi rồi hạt bụi hóa thành
tôi ngẫu nhiên nhưng đó là
nhân duyên từ hằng hà sa
số kiếp như sự hội tụ
của đoàn thạch nhũ triệu triệu
năm cơn thiên di ngủ quên
bên đời bộn bề luân chuyển
nên hạt bụi – tôi chập chờn
trong tiềm thức mê-tỉnh-mộng
liên hồi hoan ca rộn ràng
điệu bi ai thê lương dằn
xé trong nỗi xập xình pop
rock tôi đi từ hạt bụi
rồi thành hạt bụi muôn nỗi
đời vẫn cứ khao khát ước
mơ là một hạt bụi trong
đậu trên cánh hồng nhung tỏa
hương dịu dàng trong khu vườn
yên tĩnh.
07.8.2013

Trần Thị Bạch Diệp

 BÊN NGOÀI CỬA SỔ

Nếu nàng trèo qua cửa
Sổ để vào rừng bằng
Một đôi chân không bít
Tất cùng mái tóc thả.
Bay như gió qua rèm
Cửa đó là buổi sáng
Mùa xuân không phải mùa
Hạ hay ngày đông tuyết.
Không có ở đây chỉ
Có gió và tóc nàng
Bay qua rèm cùng đôi
Chân không vớ vào cánh.
Rừng mùa xuân hoa nở
Hoa rất nhiều hương thơm
Rất lạ bầu trời hồn
Nhiên như màu mắt em.
Ảnh Phạm Quyên Chi


Bé no sữa vừa no
Giấc ngủ êm giấc không
Mộng mi đứa bé cũng
Thích đùa chơi trong mảnh.
Vườn mùa xuân để nghe
Giọng bầy chim như gió
Qua rèm thời gian vô
Ưu nàng như đứa bé.
No sữa no gió đầy
Cỏ đầy hoa chỉ cần
Nàng trèo qua cửa bằng
Đôi chân trần ôm lấy
Trời trong như ôm lấy
Người nàng yêu trong giấc
Chập chờn giấc mãi mê
Tự do và cỏ như cách
Mỗi ngày nàng thở bên
Ô cửa nhỏ và tuyệt nhất
Là trèo qua cửa sổ
Mở về phía cánh rừng
Tự do.
BD 6. 2019

TRỞ VỀ

 
Em đã cố nghĩ một
Cách gì nhanh nhất để
Có thể đến nơi mình
Muốn như một cơn gió
Vụt ngang qua ngôi làng
Nhỏ có cỏ xanh ướt
Mềm những cơn mưa dông
Đầu mùa và tiếng sấm
Gọi lũ trẻ mau mau
Bò ra khỏi gầm giường
Hứng mưa chơi đuổi bắt
Kiểu đuổi bắt này phải
Chạy đủ nhanh như những
Lần bay cả hai chân
Trong mơ qua ngôi làng
Có em má lem bé
Xíu chúng ta đâu rồi
Anh trong ngôi làng xưa
Cũ trong những bài ca
Dao của ngoại ru bờ
Qua bãi ru ruộng bắp
Xanh mùa trĩu trái ru
Con chuồn chuồn cắn rốn
Bơi hết dòng kênh đến
Mùa mưa dông chạy qua
Cánh đồng trở về góc
Bếp thơm mùi gạo mới
Nấu thơm mùi trăng hiên
Nhà anh cầm tay võng
Lắc lư mùa xuân qua
Hạ tới chúng ta đuổi
Bắt bằng cách nhanh nhất
Vui nhât là cho ý
Nghĩ thoát ra đôi mắt
Nhắm lập tức thành phố
Lùi lại sau lưng anh
Cõng tuổi thơ em chạy
Trên cánh đồng cuộc rượt
Đuổi số phận không bao
Giờ ngưng lại …

Xuân Thủy

GỬI ĐẾN NGƯỜI CHA BẠN VỪA MẤT

Đêm qua con đã khóc đủ nhiều chưa
Đủ hết những câu chuyện của khổ đau
Những ngày cha còn sống trên thế gian
Để giờ đây con có thể sống với
Những người đàn bà đã làm cha đau
Những vết thương còn lại đã ngủ yên
Những người đàn bà không còn khóc lóc
Nhưng họ vẫn yếu mềm và nông cạn
Vì vết thương còn lại đã ngủ yên
Dưới những bông hoa được ném xuống huyệt
Mộ kia không có chút màu ánh sáng
Thì làm sao bông hoa ý nghĩa gì
Bảy ngày sau linh hồn cha đi khuất
Tha thứ cho hết thảy thế gian những
Người đàn bà yếu mềm và nông cạn
Đã làm cha đau đớn và không thể
Như đoá hoa kia dưới ánh sáng này
Thêm một lần nữa những khổ đau cha
Đã cất đi đã cất đi để con
Nhẹ bước những ngày còn lại bên những
Người đàn bà yếu mềm và nông cạn …
Những bông hoa có thể sống nơi thẳm
Sâu tăm tối hay khi con thiếp đi
Đã là một thế giới khác nơi chỉ
Còn có tình yêu …
9.5.2021