
EM VÀ CHIẾC LÁ
EM VÀ CHIẾC LÁ
Hà Bạch Quyên
Lá về cội không ?? ơi !!
chiếc lá lìa cành tiễn
đưa anh anh là chim
thiên di loài chim gẫycánh nắng rực nắng nơi
phi trường sao lòng em
lạnh buốt dù nắm chặt
tay nhau lệ em vẫnchảy ngập lòng dù đôi
mắt rưng rưng anh ơi
ngỡ như hôm nào ngỡ
là chiêm bao thoáng chốchơn hai mươi năm rồi
còn gì trong ta hỡi
đời bể dâu trầm thống
chấn động một đời khôngnguôi cảm như ngày tận
thế Chúa không gọi ta
về Phật không cho vào
siêu thoát vì luôn tróichặt hình bóng anh em
như trong tù ngục bao
quanh đời con gái rụng
dần cánh thanh xuân tànphai đà réo gọi nghe
đồng vọng thấu canh trường
Nguồn: https://tapchivanhocmoi.com/
NGHE THÊM NHỮNG BÀI HÁT THƠ TÂN HÌNH THỨC KHÁC TRONG ALBUM
CHÙM THƠ ĐẠT GIẢI THƠ TÂN HÌNH THỨC 2007
THƯ NGỎ – GIẢI THƠ THƯỜNG NIÊN
Giải thơ Tân hình thức là hành trình đi tìm kiếm thơ, thay thế cái hay cũ bằng cái hay mới. Điều này cũng có nghĩa là đi tìm kiếm một thế hệ mới. Bởi một nền thơ không có thế hệ kế thừa thì chỉ là nền thơ đang thời suy tàn. Nhưng nếu lập lại và nằm mãi trong bóng rợp của cái hay cũ thì thế hệ đó vẫn chưa hiện hình. Giải thơ làm hiện hình một thế hệ mới, và phát hiện thế giới mới trong một thế giới đã rất cũ trong mỗi ngừơi chúng ta. Game điện tử hấp dẫn thế hệ trẻ hơn trò chơi ngôn ngữ và lý luận của thời quá khứ, vì vậy thơ cần những nhà thơ có tài năng và những bài thơ hay, bắt ngừơi đọc phải đọc. Giải thơ nhằm hồi phục nghệ thuật đã mất và tinh thần nhân bản của thơ trong một thế giới đầy tính cực đoan và bạo lực, hậu quả của những trào lưu tiền phong và ý thức hệ của thời hiện đại.
Giải thơ Tân hình thức dự trù xét trao cho một bài thơ hay trong mỗi chu kỳ hai tháng, với hiện kim tượng trưng là US 100.00 mỗi kỳ (kèm theo tuyển tập Thơ Không Vần). Tuy nhiên, tùy theo số lượng và chất lượng những bài thơ nhận đựoc, nếu không có bài thơ đủ tiêu chuẩn, sẽ không có giải thơ. Bài thơ dự thi không phải là những bài gửi đăng trên diễn đàn Câu lạc bộ Thơ Tân hình thức.
Giải thơ Tân hình thức không phân biệt giới tính, tuổi tác, trong ngoài. Mọi ngừơi đều có quyền gửi bài dự thi. Bắt đầu nhận bài cho kỳ 1 là ngày 15 tháng 10 năm 2006 cho tới ngày 1 tháng 1 năm 2007. Sau đó cứ tính 2 tháng một lần.
Thơ Tân hình thức có những tiêu chuẩn (*) đánh giá rõ ràng, đó là những bài thơ có nhịp điệu (rhythm) độc đáo và lôi cuốn, cùng những ý tửơng trẻ trung, mới lạ, thể hiện đựơc những sinh động trong đời sống chung quanh, hoặc với chủ đề “Thơ Tình và Các Chủ Đề Khác”. Như thế thơ của ngừơi này không thế giống thơ của ngừơi khác, và mỗi ngừơi có thể dự thi nhiều lần, nhưng mỗi bài thơ phải khác nhau về mọi mặt. Đó là một thách đố cho những nhà thơ Tân hình thức
Mỗi bài thơ phải qua phần bán kết, do ban biên tập xét duyệt, sau đó chuyển tới ban tuyển chọn, gồm 5 thành viên.
Tác phẩm gửi về email: baogiaytanhinhthuc@gmail.com; info@tintho.net | đăng lên Diễn đàn trong mục GỬI BÀI
Tác phẩm dự thi cũng đựơc tuyển chọn, đăng trên website của diễn đàn và in thành tuyển tập sau đó.
(*) Xin tham khảo thêm: “Tân hình thức, Tứ khúc và những tiểu luận khác” trong mục Tác Phẩm của website: www.thotanhinhthuc.org | https://tintho.net/giai-tho/
Danh Sách Bảo Trợ
Cư sĩ Nguyên Giác
Danh Sách Tuyển Chọn
Hải Vân, Linh Vũ, Nguyễn Thị Khánh Minh, Phạm An Nhiên, Trầm Phục Khắc
CÔNG BỐ
Thay mặt ban tuyển chọn Giải thơ Tân hình thức, kỳ 1 – Năm 2007, chúng tôi xin trân trọng công bố kết quả như sau:
Ban tuyển chọn chính thức công nhận: Nhà thơ Nguyễn Tất Độ đã có những bài thơ đạt tiêu chuẩn về chất lượng để được trao giải thơ tân hình thức kỳ 1 – Năm 2007.
Chúng tôi xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Tất Độ và chân thành cảm ơn ban tuyển chọn Giải thơ kỳ 1 – Năm 2007.
Thủ tục trao giải và đăng bài trên website thơ Tân hình thức sẽ được hoàn tất trong tuần lễ đầu tiên của tháng 2 – 2007.
Trân trọng,
Khế Iêm
TIỂU SỬ
Nguyễn Tất Độ
Tên thật Nguyễn Tất Độ
Sinh ngày 05-06-1983
Sống tại Việt Nam
Hiện là sinh viên năm cuối trường Đại Học Mở Bán Công TP HCM, khoa Công Nghệ Sinh Học…
Quan niệm về thơ: ” Với tôi thơ là không khí để thở, là phương tiện ðể giải bày bức xúc. Thơ Tân Hình Thức đã cho tôi một lối đi.”
NHẬN ĐỊNH CỦA BAN TUYỂN CHỌN
GIẢI THƠ TÂN HÌNH THỨC
Giải thơ tân hình thức trao cho bài thơ hay nhất trong mỗi định kỳ là 2 tháng. Nhà thơ Nguyễn Tất Độ gửi tất cả 12 bài thơ để dự thi. Như vậy ban tuyển chọn phải tuyển ra một bài hay nhất. Nhưng 5 người tuyển chọn lại chọn 5 bài khác nhau, như vậy trong 12 bài bài nào cũng có thể chọn được. Đây cũng là quan điểm của nhà thơ Phạm An Nhiên. Hoặc như nhà thơ Hải Vân, cũng là nhà trình tấu nhạc cổ điển phương Tây, nên thích bài thơ Tan Vỡ vì có chủ đề âm nhạc. Vì vậy chúng tôi đưa tất cả 12 bài thơ để bạn đọc chọn lựa tùy ý.
Nhà thơ Khánh Minh, nghiêng về cảm xúc thơ, phát biểu:
“Cách đây không lâu anh nói hy vọng với giải thơ THT, chúng ta sẽ có đựoc sự tham gia đông đảo của lớp trẻ, thì với NTĐ, đã là một tín hiệu vui, cảm giác đầu tiên của KM khi đọc thơ NTĐ là rất đều tay qua 12 bài thơ. Riêng KM chọn 2 bài: Một Ngàn Lời Nói Dối và Cà Phê Sáng. Trước hết là do cái cảm xúc tức thì mà 2 bài thơ đã gây ra cho mình (theo KM đó là yếu tố quyết định gần như một nửa để mình thích một bài thơ hay không). NTĐ đã bộc bạch “Thơ là phương tiện để giải bày bức xúc” thì với 2 bài thơ đã khiến cho người đọc cảm nhận đựơc những điều mà một lớp trẻ đang nhìn thấy nỗi bất lực trong bức phá đổi mới không khí họ đang hít thở. Những câu lập đi lập lại trong cả hai bài tạo nên một âm thanh ray rứt và đầy tính kêu gọi khiến người đọc phải tự hỏi chúng ta sẽ làm gì. Đánh động được tâm can người đọc như thế là một thành công của bài thơ Một Ngàn Lời Nói Dối.”
Nhà thơ Linh Vũ quan tâm tới vấn đề tâm linh:
Anh cho rằng: “Trong 12 bài thơ mỗi bài đều có một góc cạnh triết lý về cuộc đời rất hay còn về hình thức để tác tạo một bài thơ Tân Hình Thức thì chưa đạt được mức độ đỉnh cao. Với cá nhân tôi, đọc để yêu thơ, để cảm nhận và nắm bắt thì bài Tôi Đã Làm Như Thế xem như vừa ý nhất. Bài thơ nói lên được ba góc cạnh của đời sống: Thân phận con người, hiện hữu của dòng đời và sự tĩnh mặc trong nội tâm. Con người bước ra từ bẩm sinh hẳn là khó thay đổi, con sông của dòng đời là cuồng phong bão táp nên sự chống đỡ của con người rất ư là khó, dù có ngồi lại soi những ánh đuốc bình an không vọng niệm vào tâm. Tâm vẫn động và hạnh phúc rất mong manh. Bài thơ chấm dứt bằng Thiền để tĩnh mặc.Nhưng Hạnh phúc con người là hành trình chứ không phải là điểm đến, hiện tại là có thật và cũng là chân giá trị. Dù mỗi người có riêng mình một hướng đi của cuộc đời, một cột mốc để đánh đu, nhưng với Nguyễn Tất Độ cột mốc trong bài thơ Tôi Đã Làm Như Thế cuộc sống là cát bụi, tâm tĩnh là hạnh phúc và Thiền là phương tiện dẫn đến chân như.”
Nhà thơ Trầm Phục Khắc lại để ý tới vấn đề ngôn ngữ thơ:
Anh cho rằng bài thơ Những Tòa Nhà gần với ngôn ngữ thơ tân hình thức hơn cả, còn các bài khác vẫn còn là ngôn ngữ trừu tượng (có thể là cả nội dung nữa) của thơ tự do. Nhưng thế nào là ngôn ngữ thơ tân hình thức? Ngay nhà phê bình Đặng Tiến cũng từng đặt câu hỏi: “Cao đẹp thay dụng tâm đưa lời thường và đời thường vào thơ. Khốn nỗi, đời thường, ai biết là đời nào?” Ngôn ngữ đời thường chính là phóng chiếu từ những câu nói và sinh hoạt đời sống thường ngày.
Trong khi thơ vần điệu và tự do, chủ vào chữ để tạo cảm xúc và gây sự chú tâm của người đọc. Chữ có thể là khó hiểu, tục, hay bóng bảy. Trong khi thơ tân hình thức đọc lên không thấy chữ, vì thơ dựa vào, và lôi cuốn bởi nghệ thuật kể, cách kể, cách diễn đạt tư tưởng và tính truyện. Thực ra, những nhà thơ tân hình thức Việt trước đó đều là những nhà thơ tự do hoặc vần điệu, nên họ vẫn làm thơ tân hình thức bằng ngôn ngữ và nhịp điệu của thơ tự do hay vần điệu. Ngay cả người đọc cũng đọc theo cách đọc cũ vì thơ tân hình thức chưa làm nổi bật lên đựơc đặc tính của nó. Có lẽ vì thế mà đa số chỉ làm một thời gian ngắn rồi ngưng, không đi tiếp được. Họ ghé qua chơi cho vui một lát rồi thôi, không có ý ở mãi với dòng thơ này. Tuy nhiên, cũng có một số nhà thơ như Nguyễn Thị Khánh Minh, Lưu Hy Lạc, Nguyễn Hoài Phương, Gỷang Anh Iên… đang nhìn ra đựơc dáng dấp của loại ngôn ngữ này. Thơ tân hình thức vì thế cần thời gian và thực hành để hoàn chỉnh cho đúng hướng.
Trích dẫn một số ý kiến của những nhà thơ trong ban tuyển chọn, tiêu biểu cho sự đa dạng của người đọc, chúng ta thấy, để đáp ứng với số đông người đọc, người làm thơ phải có tài năng và tu luyện. Vả lại, bây giờ, thơ đi tìm người đọc chứ không phải người đọc đi tìm thơ như thời kỳ hiện đại. Vì vậy thơ tân hình thức có ước vọng hướng tới một nghệ thuật lớn (nhưng làm được hay không lại là chuyện khác). Những ý kiến trên cũng là một thông điệp ban tuyển chọn gửi tới nhà thơ Nguyễn Tất Độ như một lời chúc may mắn. Giải thơ tân hình thức không phải xác nhận giá trị của thơ (vì anh vẫn còn đang đi tới) mà xác nhận mức khởi hành của nhà thơ trong dòng thơ mới. Nguyễn Tất Độ và những nhà thơ thuộc thế hệ anh mới chính là những người khởi đầu khai phá thơ tân hình thức vì họ đang có rất nhiều thời gian trước mặt.
1
NGỤ NGÔN
Con sâu nhỏ
sau ngày giông
bão, trên lá
non nằm chết
im lìm. Chim
hót tiếng của
người khóc dạo.
Khúc tiễn đưa
hót rồi quên.
*
2
TAN VỠ
Có lẽ nào âm thanh
này sẽ chìm vào im
lặng khi bản nhạc chấm
dứt. Bản nhạc không lời,
nốt nhạc nằm im trong
day dứt. Bản nhạc không
lời đã vang lên khi
đôi ánh mắt nhìn nhau
nhói đau. Nốt nhạc chẳng
là gì khi đây đàn
thôi run. Anh và em
lặng im nghe nốt nhạc
cựa mình như nuốn nói:…
Bản nhạc không lời nằm
trên trang giấy nhói đau
*
3
TÔI ĐÃ LÀM NHƯ THẾ
Tôi úp đôi tay trên mặt bàn
Trái đất vẫn đang quay, gió vẫn
đang thổi, sông vẫn đang chảy và
mặt trời vẫn gởi những tia nắng
ấm áp vào ô cửa chật hẹp
của phòng tôi. Tôi úp đôi tay
trên mặt bàn,cố giữ cho tay
mình không lật ngửa, kẹp chặt những
âm thanh, định vị những náo động
Tôi úp đôi tay trên mặt bàn
mỗi ngày một đôi phút để không
bị cuốn trôi theo những dòng sông
để không bị nghiêng ngả theo những
cơn gió. Tôi úp đôi tay trên
mặt bàn, tập độ lượng với người
tập khoang dung với mình, tập nhìn
sự vật như thực thể mầu nhiệm
(thực thể với bản tánh chơn-như
không thể nào thay đổi). Tôi vẫn
úp đôi tay trên mặt bàn, tâm
không vọng niệm và an trú trong
từng hơi thở để cảm nhận niềm
hạnh phúc trong sự tĩnh mặc của
cái bây giờ…
*
4
CÀ PHÊ SÁNG
Hãy uống cạn ly cà phê sáng nay
của anh đi! Trong ly cà phê của
tôi có giọt nước mắt. Trong ly của
anh có giọt máu hồng và cho tôi
nói nhỏ điều này. Hãy cho tôi đi
bằng đôi chân của anh vì chân tôi
không còn nữa. Cho tôi sờ cuộc đời
bằng đôi tay của anh vì tay tôi
không còn nữa. Cho tôi nhìn cuộc đời
bằng đôi mắt của anh vì mắt tôi
không còn nữa. Cho tôi nói tiếng người
bằng thanh quản anh vì cổ họng tôi
không còn nữa… Hãy uống nốt những giọt
cà phê còn lại của anh, những giọt
cà phê vui sướng, những giọt cà phê
muộn phiền, những giọt cà phê trung tính,
tôi nói nhỏ điều này: Hãy cho tôi…
*
5
CHỦ NHẬT BUỒN
Cảm tác trong một đêm nghe đi nghe lại bài Gloomy Sunday
Hỡi những linh hồn đã ra đi
trong cơn tuyệt vọng hãy về bên
ta chiều nay, hãy ngồi lại cùng
trái tim buồn bã này, rồi cùng
nhau chết thêm lần nữa. Ta đã
không còn đôi tay, đôi tay dìu
em ngày ấy, giờ đang bấu víu
vào hư không. Ta đã không còn
đôi chân, đôi chân hứa sẽ cùng
em đi hết quãng đường giờ đang
thất thểu miền tịch lặng. Ta đã
không còn đôi môi, cũng không còn
con tim. Em có nghe hơi thở
ta hoà trong gió bụi, có nghe
lời yêu trong giông bão tơi bời.
Ta đã không còn là ta, bởi
ta chỉ còn là niềm cô đơn
bất tận là một nỗi đam mê
tuyệt vọng trong đời. Hỡi những tình
nhân đã đành lòng lìa bỏ nhau
Hỡi em, ta và những linh hồn
đã ra đi trong cơn tuyệt vọng
hãy về đây chiều nay, hãy ngồi
lại trong cơn buồn bã này, rồi
cùng nhau chết thêm lần nữa…
*
6
MỘT NGÀN LỜI NÓI DỐI
Một ngàn lời nói dối sẽ thành
chân lý, điều bạn đang tin là
gì?! Tôi đã sống và đang đi
trên con đường của loài người. Cỏ
đã mọc xanh um hai bờ lịch
sử cùng những đoá hoa không hương.
Một ngàn lời nói dối sẽ thành
chân lý, điều tôi đang tin là
gì?! Tôi đã nghe nói tới từ
tự do, nhưng đâu đó trên đường
này tôi vẫn thấy con người bị
áp bức. Tôi đã nghe nói tới
hạnh phúc, nhưng đâu đó trong những
đền đài, tôi vẫn thấy con người
khổ đau. Tôi đã nghe nói tới
giàu sang, nhưng đâu đó dưới những
mái hiên nhà vẫn có người trốn
mưa nắng. Tôi đã nghe nói tới
công bằng, nhưng đâu đó trong những
phiên toà vẫn có bóng dáng của
sự thiên vị. Chân lý mà bạn
và tôi đang tin mang đậm màu
lý tưởng, mà lý tưởng có là
gì?! Khi một ngàn lời nói dối
đã thành chân lý…
*
7
QUÁN CÀ PHÊ
Tôi vẫn thường đến đó
mỗi buổi chiều… để nghe
thời gian bước đi từng
bước chậm rải, để nhìn
những vạt nắng cuối ngày
chưa nở tắt… Không gian
ở đây thật yên tĩnh.
Và chiều nay, tôi chợt
nhận ra mùa thu đã
về… Bây giờ đã là
mùa thu, em đã không
còn là em của ngày
xưa, dù đất trời vẫn
vậy, dù tôi vẫn là
tôi của một thời yêu
em tha thiết. Sợi dây
tình mong manh không đủ
sức buộc chặt hai người.
Nỗi đau đã nguôi ngoai
nhưng niềm tiếc nhớ vẫn
không phai… Con đường tôi
về xào xạc lá vàng
rơi… Tôi lại hình dung
dáng em của một thời…
*
8
BỨC TRANH TĨNH VẬT
Em nghe không sự lặng im trong
bức tranh tĩnh vật, sự lặng im
của vết nứt mơ hồ. Từng nét
cọ hoài nghi, chân thành là giấy
vẽ, sắc màu mỗi ngày phủ lên
đến khi em không còn nhận ra
nó nữa. Em chỉ thấy những mảng
màu, những mảng màu trong bức tranh
tĩnh vật, ca hoài bài hát của
lặng im. Sự lặng im của vết
nứt mơ hồ. Trên chiếc lọ nửa
bên là ánh sáng, nửa kia chìm
khuất trong đêm, phía nào cũng nghe
điều tan vỡ …
*
9
BẤT CHỢT
Bất chợt tôi bắt gặp đôi mắt em
trên gương mặt của người con gái khác.
Giọt nước mắt lăn dài ngổn ngang miền
kí ức. (Ngày xưa khi lặng đứng nhìn
em xa khuất, tôi linh cảm không may
cho cuộc tình)… Không ngờ, đôi mắt tôi
mong mỏi tìm tháng năm dài biền biệt
lại hiện lên trên gương mặt của người
con gái khác. Tôi mông lung theo giọt
nước mắt buồn. Bất chợt tôi bắt gặp
tôi quá khứ đang cồn cào trong tôi
bây giờ. Đâu hiện thực đâu nỗi nhớ ?!
Bất chợt tôi bắt gặp hình bóng mình
trong ánh mắt như của em ngày đó.
Bất chợt lặng thinh …
*
10
MỘT LẦN
Một lần ta ngồi lắng nghe, tiếng
trăng rơi đều trên ngói. Thời gian
qua quá vội, quí báu phút giây
này… Một lần nhìn vào đêm sâu
bỗng nghe yêu ma trò chuyện, than
vãn những khổ đau của kiếp người…
Một lần ta hoá thành giọt mưa
lang thang khắp cùng thế giới. Ta
hoá trăm thân, phiêu du luân hồi…
Một lần ta tưởng mình kiếp sau
lặng ngồi nhớ mình kiếp trước. Những
ký ức buồn vui ẩn vào đất cát…
*
11
NHỮNG TÒA NHÀ
Những toà nhà mọc lên
trong thành phố cũng như
nấm mốc mọc lên từ
thanh củi mục.. Những toà
nhà cao tầng mọc lên
như những chiếc hộp vuông
chôn người sống. Mọc lên
ngay cả trên mộ phần
của người chết. Những toà
nhà thi nhau mọc lên
chen chúc nên không đủ
chỗ nằm cho một người
lang thang, vô gia cư.
Người đàn ông ra công
viên nằm ngủ, ngước nhìn
những toà nhà cao tầng
đã mọc lên, trên nơi
mà ngày xưa từng là
căn hộ nhỏ của ông
…
*
12
NHẬN DIỆN
Giấc mơ nào từng đêm lấp lánh
ánh hào quang của đồng tiền. Ôi!
giấc mơ chật hẹp. Ôi! giấc mơ
ngục tù. Ánh đèn nào rực rỡ
sắc màu, gieo giả dối vào mắt,
không ai nhận ra nhau. Âm thanh
nào vội vã, ồn ào… Không ai
nghe được nhau. Sự lặng im chỉ
còn trong cống rãnh. Sự lặng im
kinh dị, sự lặng im đề phòng.
Những gương mặt nào cười xong là
trống rỗng, cười xong là lạnh lùng.
Những gương mặt khóc cười như kịch
diễn ra hàng ngày. Những tình nhân
nào môi thốt lên lời tha thiết
mà lòng thì toan tính thiệt hơn?
Nguồn: http://thotanhinhthuc.org/
<
p class=”bodytext” style=”text-align: center;” align=”left”>Tranh: Paul Brown | Onion Series Yellow | Hội họa Tân hiện thực | www.gandygallery.com |
POETRY
THƠ (phần 1)
Alan Burns
Căn bản so sánh của Robinson cho thơ hiện đại là những thành đạt vĩ đại của Whitman, càng trở nên rõ ràng hơn nếu chúng ta để bài thơ “Oh for a poet – for a beacon bright” cạnh bài thơ “Walt Whitman,” của ông, bắt đầu với câu “Bài-hát-(của)-bậc-thầy đã chấm dứt” (The master-songs are ended) – chấm dứt với cái chết của Whitman. Edgar Lee Masters hình như cũng chia sẻ cảm tưởng tương tự, vì trong bài thơ “Petit, the Poet”, ông đối chiếu bài thơ “Faint iambics”, các chữ “tick, tick, tick” cùng với câu thơ của các nhà thơ đồng thời với mình, so với tác phẩm của những nhà thơ lớn thật sự, như Homer và Whitman (tuy nhiên, hãy bỏ qua việc Homer làm thơ đactin sáu âm tiết đi). Bài thơ khai mở đối chiếu chủ nghĩa hình thức đã suy giảm, hợp thời trang Gallic, và hoàn toàn suy đồi vào thời đó (“Triolets, villanelles, rondels, roundeaus, / Ballades by the score with the same old thought”) với loại thơ toàn bộ, nguyên thủy, bao quát toàn thể mọi kinh nghiệm con người cũng như chứa đủ mọi thể loại của thế giới tự nhiên. Giống như bài thơ của Robinson, thơ của Masters chấm dứt một cách do dự với câu hỏi thay vì quyết đoán: “what little iambics / While Homer and Whitman roared in the pines?” Robinson đổ thừa tại đặc tính của thời đại, trong khi Masters đổ thừa chính tại nhà thơ, vì sự quyến rũ tài tử vô ích với thể thơ mà bỏ qua nội dung, nhưng điều mà cả hai nhà thơ đưa ra đều là chẩn đoán hơn là giải quyết.
Một “Giải quyết” rồi sẽ đến với sự tái sinh hiện đại của truyền thống thơ vào thập niên 1920, thời mà Mỹ châu chứng kiến sự gia tăng bất ngờ về tài năng và cách tân thơ. Lỗi lạc nhất giữa các nhà thơ của phong trào mới là Ezra Pound, mà bài thơ “A Pact” (1916), cũng nhìn lại Whitman nhưng với nhãn quan phê phán hơn cả Robinson hay Masters. Rõ ràng Whitman đã biến thành một chân dung dữ dội và truyền kỳ trong thơ Mỹ vào cuối thế kỷ. Ông đại diện cho tất cả mọi thứ thật sự sôi nổi và khác biệt về thơ Mỹ – năng khiếu bao quát và dân chủ, tự do, thoát khỏi uy quyền của hình thức và truyền thống, và quan hệ sống còn với thế giới thiên nhiên. Nhưng, đối với Pound, Whitman là cả hai phúc lành và nguyền rủa. Như trong tiểu luận “What I Feel about Walt Whitman” đã nói rõ hơn, Pound nhìn thấy Whitman như một thiên tài, nhưng lại là một thiên tài thô thiển. Một cách sắc sảo và không chút ích kỷ nào cả, ông viết: “Tôi vinh danh ông vì ông đã tiên tri tôi.” Tiểu luận “A Pact” của Pound kể lại những cố gắng đồng ý với tinh thần tiền nhân của mình. Pound công nhận Whitman “đã dọn đường” (broke the new wood) cho truyền thống thi ca Mỹ, cũng như các nhà tiên phong đã dọn đường trong khu rừng thế giới mới, nhưng ông khẳng định rằng “Đây là lúc chạm trổ gỗ” – nói một cách khác, đây là lúc nghệ thuật thích ứng dạng thức với tác phẩm tiên phong tương đối vô dạng thức mãnh liệt của Whitman. Không như Robinson và Masters, Pound không nản lòng bởi những thí dụ của Whitman; thay vào đấy, ông thấy mình như là người có thể xây dựng trên đó và ngay cả có thể cải tiến nó – chính xác đó là điều ông gắng làm trong tác phẩm bí ẩn của mình, Cantos, một thi án dài cả đời, trong thế kỷ hai mươi tương đương với Leaves of Grass của Whitman.
Đối nghịch với những tán tụng về thơ đã được công thức hóa bởi hầu hết các nhà thơ được quan tâm đến trong phần này, bài thơ “Thơ” của Marianne Moore (1921) đưa ra cái nhìn ngờ vực về chủ đề. Câu đầu trong bài thơ nổi tiếng của bà như sau: “I, too, dislike it”. Trong phiên bản cuối vào năm 1967, Moore gia giảm bài “Thơ” xuống còn ba dòng đầu (từ nguyên bản). Tuy nhiên, các nhà soạn tuyển tập thường chuộng nguyên bản, dài hai-mươi-chín dòng. Phiên bản ngắn bù đắp cho thơ bằng cách tìm ra một “chỗ cho xác thật”. Phiên bản dài thêm rõ chi tiết về thứ mà Marianne muốn cho là “xác thật”. Một bản kê khai không giống ai gồm các loại thú, con người, và các đối tượng (dòng 15-25) cho thấy Moore, tựa như Emerson và Whitman trước đó, rằng tất cả mọi hiện thực đều là đề tài thích hợp cho diễn tả thơ – ngay cả “văn kiện buôn bán hay sách vở học đường” mà Tolstoy chống lại, như trong ghi chú cuối bài thơ bà ngụ ý. Thơ phải mang lại kết quả từ việc làm tích cực của tưởng tượng, tác dụng trên bất cứ vật thể hay bề mặt nào mà hiện thực đưa ra. Những “nhà-thơ-nửa-mùa” là người mà tác phẩm của họ bắt nguồn từ đó nhưng không mang lại kết quả từ một ấn tượng trực tiếp và nguyên thủy về đời sống. Công thức nổi tiếng để làm thơ thành công của Moore – “những khu vườn tưởng tượng với những con ếch có thật trong đó” – minh họa sự hợp nhất của tưởng tượng nghệ thuật với “nguyên liệu” hiện thực. Bảo vệ cho “xác thật” của Moore là một loại biện giải cho bề mặt thơ cứng ngắc của chính bà, và là một luận chiến chống lại thơ thông thường “dễ thông cảm”; nhưng đó cũng làm sống mãi dòng chính của tư tưởng Mỹ về thơ kể từ bài “Merlin” của Emerson cho đến thời đại của bà. Một lần nữa, Thơ phải nguyên bản và có sự liên kết sống chết với thế giới thiên nhiên, ngay cả khi thiên nhiên đã bị thay đổi bởi bàn tay con người thành ra một lý tưởng đồng quê thu nhỏ– vườn nhà.
Cùng với thơ tự do của Whitman, các ành hưởng lớn trên nền thơ mới là chủ nghĩa tượng trưng, có khuynh hướng dùng vers libre (thơ tự do) và haiku của Nhật, nhấn mạnh đặc biệt đến sự trình bày khách quan của hình tượng. Một trong những phong trào có ảnh hưởng hầu hết trên thơ hiện đại Mỹ, chủ nghĩa hình tượng – kết hợp với thơ thuở đầu của Pound và các nhà thơ cùng nhóm như Richard Aldington, Hilda Doolittle, F.S. Flint, và T.E. Hulme, về sau có Amy Lowell và William Carlos Williams – lấy hứng từ haiku và khẳng định tính ưu việt của hình tượng thi ca. Bài “Ars Poetica” (1926) của Archibald MacLeish, một bản tuyên ngôn của thơ hiện đại, nhấn mạnh cùng loại hình tượng “khách quan” và khả năng tóm tắt giáo lý căn bản của chủ nghĩa hình tượng. Qua một loạt so sánh, MacLeish gián tiếp biểu lộ loại thơ mà ông muốn thấy – thứ thơ nghịch lý, “câm nín / như trái cây ngoài bọc quả cầu” và “không lời / Như đàn chim bay” (ta nên để ý, những hình ảnh khẳng định lý thuyết hữu cơ cũ kỹ về thơ). Nói một cách khác, MacLeish, không muốn thơ bình luận về các sự vật; thay vào đó, ông muốn thơ trình bày chúng một cách trực tiếp và cụ thể. Sự phân biệt tương tự tiểu thuyết; như trong một truyện ngắn hiện đại hay, như những truyện viết bởi Chekhov và Hemingway, thơ nên quan tâm với phô diễn hơn là kể ra. Nếu thơ làm được việc ấy tốt đẹp, nó sẽ “ngang bằng / Không đúng.” Nói cách khác, nó biểu hiện sự bí ẩn của thế giới hơn là cố gắng giải thích thế giới. Rồi MacLeish đưa ra những thí dụ làm sao các hình ảnh có thể tượng trưng cho trừu tượng: “Một khung cửa trống vắng và một lá phong” cho thương tiếc, “đám cỏ nghiêng rạp và hai ngọn đèn trên biển” cho tình yêu. Kết luận chứa đựng những câu nổi tiếng nhất của bài thơ và thường được nhắc đến – “Một bài thơ không nên có nghĩa / Nhưng là” – đã kết tinh nghị trình hình tượng.
Điểm Thọ dịch
Nguyên tác: Poetry
(Còn nữa)
Trích Báo Giấy • Tháng 06 năm 2019 • Năm thứ 4 • Số 55
Email: baogiaytanhinhthuc@gmail.com • www.thotanhinhthucviet.vn
VIRUS VŨ HÁN VÀ BI KỊCH KHỔ ĐAU
Virus Vũ Hán Và Bi Kịch Khổ Đau March 25, 2020 Khế Iêm Nhà thơ Khế Iêm tên thật Lê Văn Đức sinh năm 1946 tại Lê Xá, Vụ Bản, Nam Định. Chủ trương Tạp chí Thơ tại Hoa Kỳ và phong trào thơ Tân hình thức Việt. Chủ biên Blank Verse (Thơ Không Vần, 2006) và Thơ Kể (Poetry Narrates (2010), cả hai là thơ Tân Tân hình thức Việt, ấn bản song ngữ. Saigon Nhỏ hân hạnh giới thiệu cùng độc giả những suy nghĩ của nhà thơ Khế Iêm về cuộc sống trong đại dịch corona, và trân trọng cảm ơn ông đã gởi tới chúng tôi tản văn này. oOo Mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây. Quay trở lại lịch sử phương Tây, văn minh Ai cập có từ khoảng 3200 năm, trước công nguyên. Sau đó truyền lại cho Hy Lạp, La Mã, và Âu Mỹ hiện nay. Còn văn minh phương Đông, tiêu biểu là Trung Hoa, thời Tam hoàng Ngũ đế, cũng khởi đầu vào khoảng 2850, trước Công nguyên. Đến thời kỳ Phục hưng, sau Công nguyên, phương Tây bắt đầu có những khám phá về khoa học kỹ thuật, đồng thời mở đầu cho những thể chế dân chủ. Thế kỷ 20 đánh dấu thời kỳ những tiến bộ vượt bực của phương Tây, tiêu biểu là Mỹ, về mọi bộ môn, mang tính sáng tạo. Còn Trung Hoa, thay vì tiếp nhận những giá trị nhân bản của văn minh phương Tây, thì lại tiếp thu chủ thuyết Karl Marx, với tuyên ngôn Cộng sản của Marx và Engels, lập nên chế độ độc đoán. Sự khác biệt giữa hai thể chế, đưa tới cuộc đối đầu không khoan nhượng. Muốn thắng Mỹ, chỉ còn nước hủy hoại nền văn minh Mỹ? Thuyết âm mưu với vũ khí sinh học, virus Vũ Hán, có phải là sự thật? Dĩ nhiên, không có bằng chứng nào cả, nhưng thực tế thì ai cũng biết, vì không có tự do ngôn luận nên thông tin bị bưng bít, vừa đủ để con virus lan rộng đến không ngờ. Virus bệnh dịch thì vô hình, nhưng nỗi hoang mang lo sợ thì đã hữu hình trong ánh mắt và trên khuôn mặt mỗi người. Virus Vũ Hán nói với người dân Trung quốc, muốn tránh những tai họa, phải sống trong một thể chế dân chủ. Người dân chỉ giao chức quyền cho những ai phục vụ quyến lợi của người dân, qua những cuộc bầu cử công bằng, liêm chính. Để tránh Virus Vũ Hán, chúng ta phải sống cách ly, hạn chế gặp gỡ. Con người là sinh vật đáng sợ, so với bất cứ sinh vật nào. Chiến tranh chẳng phải là những bệnh dịch khác, vốn đã tiềm tàng trong lương tâm và nhân cách con người? Con người có tốt có xấu, nhưng thường thì cái xấu nhiều hơn. Có những người đầy lòng nhân ái, nhưng cũng có những kẻ chuyên cướp bóc, bức hại lẫn nhau. Điều này cũng bình thường và chúng ta phải chấp nhận, vì đã là con người thì có sự khác biệt về tâm tính và hiểu biết. Sống chung đụng với nhau, càng chênh lệch về kiến thức và bản chất, càng dễ gây ra đổ vỡ. Văn hóa phương Tây giải quyết bằng cách ly dị, tránh gặp mặt nhau. Còn văn hóa phương Đông giải quyết bằng cách để mặc khổ đau. Virus Vũ Hán là điềm báo, văn minh nhân loại lúc nào cũng có thể bị hủy diệt, buộc con người phải quay về thời hồng hoang (primitive age). Chẳng có giai tầng nào là thượng đẳng, và cuộc sống chỉ như một sợi chỉ mong manh. Cái chết bình thường là tự nhiên, không đáng sợ, nhưng cái chết vì virus Vũ Hán là bất thường, gây lan nhiễm tới những người xung quanh. Mỗi người phải bảo về sức khỏe của mình, không phải vì mình mà vì người khác. Những sự kiện trên là mảng thông tin mang tính thời sự, ở tầm mức xã hội, có thể đúng hay sai, tùy thuộc nhận xét của từng người. Nếu thấy không đúng, xin cứ bỏ qua. Nếu thấy đúng, chúng ta thử đi sâu vào chi tiết để tìm rõ ngọn nguồn. oOo Trong đời sống bình thường, đa số chúng ta đều có một gia đình tương đối hạnh phúc và ổn định, tuy có đôi lúc bất đồng. Nhưng với một số nhân vật nổi tiếng, hạnh phúc thật sự của họ lại ở đằng sau cánh cửa khổ đau, triết gia Hy Lạp Socrates là một ví dụ. Công trình triết học của ông đóng góp cho nhân loại, hình thành nền văn minh phương Tây, phát triển về mọi mặt từ triết học, khoa học, văn hóa là những chứng cứ. Nhìn về khía cạnh tôn giáo, Phật giáo cho rằng, “sự sống tự nó không bất ổn, chính thể dạng tâm thức của chúng ta phát sinh ra hạnh phúc hay khổ đau.” Như vậy, tìm hiểu về khổ đau chẳng phải là những quan niệm chủ quan sao? Mà chủ quan là sai. Cái sai được viết ra, trở thành cái đúng, giúp chúng ta thấy được niềm vui khổ đau. Hạnh phúc chỉ xảy ra trong thoảng chốc, còn khổ đau thì triền miên. Thơ, thiền, tình, tiền, có lẽ đó là những phạm trù bao gồm tất cả của đời sống. Nếu tình, tiền gây ra khổ đau thì thơ và thiền là phương tiện giải thoát khổ đau. Nhưng nếu thiền là nơi ẩn náu cho những người bình thường, thì thơ dành cho những người không bình thường. Càng khổ đau, con người càng mau chóng tìm được sự an bình trong thiền định, và người làm thơ trở thành nhà thơ. Nếu muốn tránh khổ đau thì đừng nghĩ tới khổ đau. Cái ngã làm ra cái nghĩ, cái nghĩ làm ta khổ đau. Của cải vật chất có thể làm cái ngã lớn lên, nhưng hiểu biết và kiến thức làm cho cái ngã nhỏ lại. Mỗi người đều có cái nghĩ, không hẳn là đúng, nhưng nếu quá khác biệt sẽ gây va chạm, phản ứng, nghịch cảnh, kịch bản khổ đau. Triết gia cổ đại Hy Lạp, Socrates có một bà vợ dữ dằn, và cũng nhờ thế mà ông trở thành triết gia. Con người sinh ra để sống, mục đích là sống còn, mà sống còn thì phải trả giá. Sinh, lão, bệnh, tử; có sinh phải có diệt, muốn có hạnh phúc phải nếm mùi khổ đau. Hạnh phúc làm cho cuộc đời vui sướng, còn khổ đau giúp con người trưởng thành, lớn lên, học hỏi, tạo thành sự nghiệp. Một câu chuyện đâu đó, người chủ nhà, một hôm, bỗng thấy một đống phân ai đổ trước sân, không biết làm thế nào, đành xúc từng sẻng rải ra sau vườn, chẳng bao lâu, bỗng thấy cây cối um tùm, hoa thơm trái ngọt. Đống phân tiêu biểu cho sự khổ đau, và hoa trái là hạnh phúc của đời người. Có hạnh phúc phải có khổ đau. Muốn tránh khỏi cái nghĩ, chỉ có cách thiền định và tụng niệm, sống cuộc đời tu hành, vượt qua cái ngã, cái nghĩ là cái ngã. Còn thơ thuộc về đời sống, mà đời sống là cội nguồn thách thức khổ đau. Đối với những người không biết đến thơ và thiền, thì chỉ có cách giải quyết bằng chiến tranh. Trong lịch sử nhân loại đã xảy ra biết bao nhiêu cuộc chiến, như thế chiến thứ nhất và hai. Nếu trải nghiệm qua khổ đau, sẽ không còn khổ đau. Thơ và thiền giúp con người nhận biết khổ đau. Tránh khổ đau, đưa tới cô độc. Cô độc là niềm vui sướng vô biên. Những thiền sư đều là những người cô độc. Nhà thơ cũng vậy. Nhưng bi kịch là những khổ đau tột cùng, chỉ xảy ra đối với một số người tột cùng. Nếu chúng ta giúp người khác của cải vật chất, chúng ta mất của cải vật chất. Nếu chúng ta giúp đỡ người khác về tinh thần, chúng ta rước lấy khổ đau. Chẳng phải những nhà tranh đấu cho nền độc lập dân tộc đã phải hy sinh cả mạng sống, đó sao? Hạnh phúc hay khổ đau không phải do những gì ta làm từ kiếp trước, luân hồi sinh tử, mà do chúng ta tự chọn, từ ngay cuộc đời này. Đừng trách cứ một ai. Được cái này, mất cái kia. Cái nào cũng phải có cái giá của nó. Giá trị càng lớn, khổ đau phải trả càng nhiều. Ngẫm lại, con người sinh ra đã là may mắn, hạnh phúc hay khổ đau cũng chỉ là vô thường, hoại diệt, đến rồi đi. Nhưng nếu không nhờ có vô thường thì làm sao chúng ta buông bỏ được cái ngã, để nhận ra, “cuộc sống là đất đai, sáng tạo là hạt mầm, và khổ đau là màu mỡ cho nghệ thuật sinh ra.” Nghiệm về khổ đau giúp chúng ta nhận thức được vị trí chính mình và mọi thứ chung quanh, không thể tách lìa, dù là bi kịch, cũng cứ coi như không có. Thế thôi. (Friday, March 13 – 2020) | The Wuhan Virus And the Tragedy of Suffering March 25, 2020 Khế Iêm The poet Khế Iêm was born Lê Văn Đức in 1946 at Lê Xá, Vụ Bản, Nam Định Province, Việt Nam. He has long been an advocate of Poetry Magazine in the United States and the Vietnamese New Formalist movement. He is is the editor of Blank Verse (Thơ Không Vần, 2006) and Poetry Narrates (Thơ Kể, 2010), both bilingual editions of Vietnamese New Formalist Poetry. Little Saigon is pleased to the thoughts of poet Khế Iêm on the Corona virus pandemic, and we would like to thank him for delivering this essay to us. oOo The sun rises in the East and sets in the West. Going back in Western History, Egyptian civilization dates from around 3200 B.C. The mantle was then passed on to Greece, Rome and then Europe. As for Eastern civilization, we typically date it to the period of the Three Emperors, meaning it also began around 2850 B.C. By the time of Renaissance, the West began to make scientific advances and technical discoveries while at the also developing democratic institutions. The 20th century marked a period of outstanding progress in the West, especially in the United States, where creativity was notable in all subjects. China, instead of embracing the humanist values of Western Civilization, absorbed the doctrines of Karl Marx, with the Communist Manifesto of Marx and Engels, establishing a form of authoritarianism. The difference between the two forms of institutions resulted in an uncompromising confrontation. To beat the U.S. is to ruin only the fundamentals of American civilization? Is the conspiracy theories of the Wuhan virus as a biological weapon to be treated as truth? Of course, there is no evidence for the conspiracy theories. But everyone knows that there is no freedom of speech in China and that information is controlled very tightly, and this created part of the preconditions for the virus to spread unexpectedly. The pandemic virus is invisible, but bewilderment and fear are visible in the eyes and faces of all people. The Wuhan virus, according to the people of the PRC, who want to avoid disasters, must have a democratic society. The people only authorize those who serve the interests of the people through fair and honest elections. To avoid the Wuhan virus, we must live in isolation and limit our encounters. Humans are terrifying creatures, more so than any other creatures. Wars might be similar to diseases, inherent in the consciences and human character? Humans are good and bad, but more often bad. There are those people who are full of kindness, and also those who specialize in plundering and persecuting one another. This is normal and we have to accept that as human beings, there is a distinction between thoughts, feelings and understanding. Living together causes us to collide with each other. The more there is a difference in knowledge and nature, the more this is likely to cause a breakdown. Western culture deals with separation with avoid meeting one another, and Eastern culture deals with the acceptance of suffering. The Wuhan virus is an omen, as civilization can always be destroyed, forcing people to return to a primitive state of existence, where class structure is less vivid, and life hangs on a fragile thread. Predictable death is natural, unfrightening. But the Wuhan virus death is unpredictable, causing infectious crowd. Each person must protect their health not only for themselves but also for others. The above events are quite topical on a societal level depending on the individual’s understanding. If you do think this is correct, please simply ignore it. If you do think this is right, we may try to drill down into the details to find the source of the information. oOo In normal life, most of us have a relatively happy and stable family, although there may be disagreements sometimes. But for some celebrities, their true happiness is hidden behind the door of suffering; for example, the Greek philosopher Socrates. His philosophical work contributed to humanity, formed Western civilization, and developed all aspects of philosophy, science and culture. From a religious perspective, Buddhism says that “life itself is not unstable; the form of our minds produces happiness or suffering.” Thus, is the study of suffering not a subjective concept? That subjective nature is simply wrong. The error is written and then becomes right, which helps us to see joy or suffering. Happiness happens only for a while, while suffering is constant. Poetry, meditation, love, money – perhaps these are all-encompassing concepts in life. If love and money cause suffering, then poetry and meditation are the means to relieve suffering. But, if meditation is a refuge for ordinary people, then poetry is for extraordinary people. The more people suffer, the more quickly they find peace in meditation, and an author of poetry becomes a poet. If you want to avoid suffering, don’t think about suffering. The self makes the thought; the thought makes us suffer. Material wealth can make the self grow, but knowledge and understanding make the self smaller. Everyone has thoughts which are not really the truth, but confusion will also cause collisions, reactions, adversity and scenarios of suffering. Ancient Greek philosopher Socrates had a fierce wife, so he became a philosopher. Man is born to live, the purpose is alive, but to live is to pay the price. Birth, age, sickness, death; there must be birth to death, and there must be the desire for happiness to have suffering. Happiness makes life happy, and suffering helps people grow, mature, learn and have a career. A story somewhere, somebody, one day, suddenly saw a pile of manure pouring in his yard, and he does not know what to do. He had scooped it into the back of each garden, and soon saw luxuriant trees and sweet – scented flowers. The pile of manure represents suffering, and the fruit represents the happiness of life. To have happiness, there must be suffering. To avoid thinking, there is only the way of meditation and chanting, living the spiritual life, overcoming the self and the thoughts which are the self. Poetry belongs to life, but life is the source of the challenge of suffering. For those who do not know poetry and meditation, there is only war as a solution. In human history, we have had so many wars, such as the First and Second World Wars. If you have passed the experience of suffering, there will be no more suffering. Poetry and meditation help people recognize suffering. Avoiding suffering leads to loneliness. Loneliness is a boundless joy. Zen masters are solitary people. So too is the poet. But tragedy is the ultimate misery. It happens only in extreme circumstances. If we help others’ material wealth, we lose material wealth. If we help others’ mental health, we receive suffering. Have not the fighters for national independence sacrificed their lives? Happiness or suffering is not due to what we do from a previous life, samsara, but from our own choices right from this life. Do not blame anyone. Get this, lose that. Everything has its price. The bigger the value, the more suffering you have to pay. In retrospect, humans are born lucky, as happiness or suffering is also impermanent, perishing, coming and going. But, if it were not for impermanence, how can we let go of the self to realize that “Life is soil, creativity is a seed, and suffering is fertilizer for the art of being born.” The experience of suffering helps us to be aware of ourselves and everything around us, inseparable, even tragedy, just as if it is not. That is all. (Friday, March 13 – 2020) Translated by Dr. William B. Noseworthy |
Báo giấy số 59
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi về Diễn đàn hoặc Email về Ban Biên Tập
Chân thành cảm ơn!
SÁCH NHẬN ĐƯỢC

1/ Đi Tìm Ẩn Ngữ Văn Chương, tiểu luận phê bình Trần Hoài Anh, nxb Hội Nhà Văn, 465 trang
2/ Văn Hóa Văn Chương & Hành Trình Sáng Tạo, tiểu luận phê bình Trần Hoài Anh, nxb Thanh Niên, 265 trang.
3/ Văn Học Nhìn Từ Văn Hóa, tiểu luận phê bình Trần Hoài Anh, nxb Thanh Niên, 335 trang.
4/ Mỗi Ngày ta Sống, tản văn, tùy bút của nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, nxb Tổng Hợp, 350 trang. Tổng số 21 tác phẩm của tác giả bao gồm tản văn, tùy bút, truyện ngắn và những nghiên cứu về khảo cổ. Mỗi Ngày ta Sống là một tác phẩm lôi cuốn người đọc như một hành trình thăm viếng khắp 3 miền đất nước, đẩy tới đỉnh điểm, trở thành những câu chuyện hiện thực, hướng dẫn du lịch.
5/ Ngọn Gió Qua Vườn, tuyển tập thơ, truyện ngắn của Ý Nhi, nxb Phụ Nữ, bìa Minh Thái, 830 trang.

6/ Kỷ Niệm Không Có Mưa của nhà thơ Ý Nhi, nxb Domino Books, 315 trang, khổ 15×23 cm, kỷ niệm với những nhà văn, nhà thơ, họa sỹ Việt: Nguyễn Minh Châu, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Minh Khuê, Tế Hanh, Xuân Quỳnh, Hoàng Trung Thông, Nguyên Hồng, Thái Tuấn, Trang Thế Hy, Dương Bích Liên, Phan Thị Thanh Nhàn, Tô Thùy Yên, Ngô Thị Kim Cúc, Chế Lan Viên, Xuân Sách, Bùi Giáng, Khương Hữu Dụng, Trinh Đường, Chim Trắng, Xuân Diệu, Vũ Quần Phương.

7/ Phế Tích Của Ảo Ảnh, thơ Trịnh Y Thư, nxb Văn Học Press, 2017, bìa Nguyễn Đình Thuần, phụ bản Thái Tuấn, Đinh Cường, Nguyên Khai, Hoàng Xuân Sơn, 145 trang.

8/ Chỉ Là Đồ Chơi, tạp bút Trịnh Y Thư, nxb Văn Học Ptress, 2017, bìa & thiết kế bìa Đinh Trường Chinh, 270 trang.
9/ Tuyển tập truyện ngắn Trần Trường Khánh, nhóm dịch Lê Quang Trường, Phan Thu Vân, Nguyễn Hoàng Yến, Hồ Ngọc Minh, Hoàng Thị Thu Thủy, Nguyễn Đông Triều, nxb Văn Hóa – Văn Nghệ, 255 trang, với 7 truyện ngắn của nhà văn nổi tiếng của Đài Loan, Trần Trường Khánh, sinh năm 1946.

10/ Gã Tình Nhân Và Vở Kịch Không Dành Cho Sân Khấu, thơ Trầm Phục Khắc, nxb Văn Học Pree, 2020, bìa Duy Thanh, phụ bản Nguyễn Đại Giang, Đinh Trường Chinh, 150 trang.

11/ Pha Thơ Vào Biển Gió, thơ Lê Giang Trần, nxb Sống, 2019, bìa và phụ bản Đinh Trường Chinh, Trịnh Cung, 255 trang, Thơ Haiku Việt, sáng tác.
12/ Thơ Haiku Việt, sáng tác, bình luận, nghiên cứu, trao đổi, nhiều tác giả, lưu hành nội bộ, 105 trang.
13/ Tuyển tập thơ Haiku Việt, nhiều tác giả , nxb Hội Nhà Văn, 110 trang.
14/ Đã Là Một Phiền Toái, ng. anh anh, thơ song ngữ, nxb Domino Books, 85 trang.
15/ Dấu Mốc, thơ Tân hình thức Nguyễn Lương Ba, nxb Văn Học Mới, 2019.
16/ Có Những Ngày, thơ Tân hình thức Hồ Đăng Thanh Ngọc, nxb Thuận Hóa, 150 trang.
17/ Ký Ức Của Bóng, thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, nxb Sống, 175 trang.
18/ Những Lầm Lỗi Định Mệnh Trong Cuộc Chiến Việt Nam, quyển 1, nxb Văn Học Press, 800 trang.
NHỮNG DÒNG THƠ CŨ
Thanh Tâm Tuyền
DẠ KHÚC
Mai Thảo
NGHE ĐẤT
Thành Tôn
KẺ ĐÀO NGŨ
Trịnh Y Thư
GIÓ TÊ LÒNG VIỄN XỨ
Khế Iêm
EM ĐÃ BAY ĐI
Ý Nhi
CHÙA TRONG PHỐ
THƠ TÂN HÌNH THỨC
Nguyễn Đặng Thùy Trang
NHỮNG CÁI TÊN
Hường Thanh
ÔM MẶT
Thạch Tốt
ĐÊM KHÔNG CÙNG
Vương Ngọc Minh
THƠ TÂN HÌNH THỨC
Nguyễn Hải Thảo
BAN MAI
Xuân Thủy
VẾT THƯƠNG
Nguyễn Ngọc Trừu
ĐÁNH ĐÒN ĐAU NỖI NHỚ
Phạm Quyên Chi
BÀN TAY
Nguyễn Văn Bút
CHIỀU THÁNG BA
Nguyễn Thanh Sơn
NHAN SẮC VÀ ĐỒNG TIÊN
VÀ DANH VỌNG
NGHỆ THUẬT VÀ CÁI ĐẸP
Allan Burns
“Nghệ thuật đã làm ra đời sống, làm ra thích thú,
làm ra quan trọng … và tôi không hề biết đến
bất cứ thay thế nào khác cho sức mạnh và cái
đẹp của tiến trình nghệ thuật.”
Henry James, thư gởi H.G.Wells
GIỚI THIỆU TUYỂN TẬP THƠ TÂN HÌNH THỨC 2016
LỜI MỞ SÁCH Văn Giá
Thơ Tân hình thức như những người chủ trương nó muốn thiết lập một thi pháp riêng, khác so với cả truyền thống lẫn đương thời.
Thi pháp này dựa trên một “thiết chế” gồm bốn nguyên tắc: vắt dòng, lập lại, tính truyện và ngôn ngữ đời thường trong sự hòa phối tế vi giữa chúng.
Về lý thuyết thể loại, tôi cho rằng thơ Tân hình thức đã đủ mạnh để tạo dựng một khuynh hướng.
Về thực hành, thơ Tân hình thức cũng đã có một thế hệ nhà thơ với những thành tựu thơ đủ tầm vóc để được xác quyết.
Về tiếp nhận, tuy chưa có một điều tra xã hội học cụ thể, song bằng trực quan, tôi thấy có lẽ thơ Tân hình thức chưa có nhiều độc giả; và số những độc giả đang có thường là những người trong nghề. Điều này có nghĩa là, thơ Tân hình thức chưa có một “thi phần” xứng đáng.
Trong sáng tạo nghệ thuật, ở lĩnh vực nào cũng vậy, đều có quy luật này: sự thay thế của các mô hình. Một mô hình nghệ thuật ra đời, tồn tại và phát triển, đến một lúc nào đó, nó tự rắn lại trong các nguyên tắc mà chính nó đề ra. Đến lúc này, nó buộc phải được tiếp sức bởi nhiều cách thức khác nhau để sao cho vừa làm mới chính mình vừa không bị đánh mất mình.
Tôi nghĩ, thơ Tân hình thức đã không còn sớm nữa khi đặt ra vấn đề này.
Dường như tinh thần sáng tạo của thơ Tân hình thức lâu nay vẫn đi theo hướng bị nghiêm trang hóa, thiếu một tinh thần “trò chơi” cần thiết. Tôi nghĩ, nghệ thuật nào cũng có ít nhiều tính trò chơi. Bản thân thơ Tân hình thức cũng bao hàm tính trò chơi rất đậm. Cách vắt dòng chính là chơi. Ngôn ngữ đời thường là chơi. Tính lập lại là chơi. Riêng việc thơ Tân hình thức có vẻ như chú trọng vào tính biểu nghĩa, chủ về nghĩa quá mức xem chừng đã tự làm hạn chế tinh thần khai phóng vốn đã chất chứa khá mạnh trong tính khởi nguyên của nó. Trong khi đó, thơ hay lại rất cần “mơ hồ”, “mờ” nghĩa để đạt được sự gợi nghĩa, đa nghĩa.
Ngay cả một số nhà thơ Tân hình thức, theo tôi nghĩ, cũng lại bị lệ thuộc quá vào tính truyện và ngôn ngữ đời thường, thành ra có trường hợp đã biến thơ thành một bài văn xuôi, nặng về kể chuyện, thiếu cảm xúc, thiếu tính nhịp điệu. Như thế là người làm thơ chẳng những chưa thành thục thơ Tân hình thức mà lại còn chưa đạt đến độ “chơi” cần thiết.
Tính trò chơi trong nghệ thuật không nên hiểu là sự tùy tiện, mà là sự khai phóng của tâm hồn, tư tưởng, tài năng; là sự chống lại những cái đông cứng, trì đọng, vụ lợi. Tính trò chơi trong thơ Tân hình thức cũng vậy. Nó phiêu lưu chứ không bất chấp. Nó chủ trương đời thường chứ không tầm thường. Nó lập lại có tính nghệ thuật chứ không cơ giới. Nó chỉ tựa vào một/vài chi tiết cuộc sống làm nguyên cớ để khai triển cảm xúc và ý tưởng chứ nó không kể chuyện dông dài. Nó chống lại cái thô vụng phi nghệ thuật để trở thành cái tinh vi nghệ thuật.
Những bài thơ Tân hình thức nào vừa “chấp pháp” bốn nguyên tắc trên lại vừa có tính “trò chơi” một cách linh diệu đều là những bài thơ hay.
Trong tập thơ này, đã có không ít bài như vậy.
Tôi rất vui vì đã được viết mấy lời mở sách thay cho lời giới thiệu này.
Thơ Tân hình thức đã tham dự sâu vào công cuộc sáng tạo thơ Việt và là thành viên chính thức của nền thơ Việt đương đại.
Hà Nội, hè 2016
Bạn đọc có thể đọc trực tiếp hoặc in ra giấy để đọc, đặt mua sách
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi Email về Ban Biên Tập – Chân thành cảm ơn!
LỜI CẢM TẠ
Tuyển tập thể hiện tinh thần thơ Tân hình thức qua sự nối kết giữa truyền thống (họa sĩ Thái Tuấn) và hiện đại (các họa sĩ khác), giữa các họa sĩ hiện đang sinh hoạt nghệ thuật (Lê Thánh Thư, tranh bìa), họa sĩ thuộc thế hệ đã qua (Thái Tuấn & Bửu Chỉ, phụ bản), và họa sĩ đương thời thuộc về nền văn hóa khác (Alden Marin, phụ bản). Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm tạ nhà văn & phê bình Văn Giá, các họa sĩ Lê Thánh Thư, Alden Marin, và tất cả những nhà thơ tham gia trong tuyển tập. Sự sai sót trong biên tập, chắc chắn, không tránh khỏi, xin bạn đọc lượng thứ.
Poems
MỤC LỤC
Lời Mở Sách
Văn Giá
Biển Bắc: Bất Chợt – Ký Ức Của Tương Lai – Gió Mưa Và Tác Dụng Cản Trở – Dọc Ngang – Đất Nước Dầu – Chứng Bệnh Của Những Thần Hỏa Tinh – Bên Bờ Vực Thẳm – Lục Bát Nát – Bóng Mây – Phông Chắn Gió – T/Rừng Người – Vi – Ai … Dừa Tươi … Hôn (!?) – Con Dế
Đinh Thị Như Thúy: Mùa Lau Trắng – Cây Trong Sương
Hà Nguyên Du: Ám Ảnh – Tôi Là Ai – Chuyện Xảy Ra
Hạnh Ngộ: Tâm Biến Đổi – Cảm Ơn Em – Dặn Anh – Có Tiếc Không? – Cố Hữu Bỏ Đói Nỗi Nhớ – Vô Đề
Phụ bản Nguyễn Đại Giang
Hồ Đăng Thanh Ngọc: Cà Phê Chiều – Một Ý Nghĩ – Mưa Biến Sắc – Nghe Nhạc Paul Mauriat – Thức Dậy Giờ Đó – Chơi Bàn Tay – Trong Mưa Xuân – Những Con Đường – Hoàng Hôn Trên Sông An Cựu – Hoa Hồng Mưa Xuân – Trên Bờ Biển – Đường Về
Hoàng Huy Hùng: Tíc tắc – Cánh Cửa – Con Đường – Câu Chuyện kể Lại – Chuyện Tình – Một Góc Trời – Kết Thúc Có Hậu – Mơ Mộng – Niềm Vui Trẻ Thơ
Phụ bản Bửu Chỉ
Hường Thanh: Ngày Quay Đầu Ra Ban Công – Cúp Điện – Di Vết – Lớp Kính – Khi – Cô Gái Bên Chiếc Cửa Kế Tiếp – Chờ Ngày Mưa – Hai Người Gặp Nhau – Tưởng Hình – Cái Vòi Nước – Cô Gáo Lên Rừng – Tủ Lạnh – Trống Rỗng
Khế Iêm: Tết Ở New York – Héo Tàn – Khuya Khoắt – Hỏi Cây – Nắng Vàng – Hỏi Nắng – Kẻ Viết – Lại Nỗi Buồn – Những Cái Tôi Buồn – Mây Viết – Khóc Vang – Nàng – Chiếc Xe Đạp – Lập Thể Người
Lê Hưng Tiến: Bức Tranh Ảo – Cái Tôi Có Thể – Chữ Ký – Chuyện Của Mấy Người – Lu Lu – Má Tôi – Ngụ Ngôn Của Dế – Hãy Là Giấc Mơ Hoang – Huế Khôi Nguyên – Sầu Lên Khơi – Thời Vụ – Thơ Nhìn Nghiêng
Nguyên Quân: Đơn Phương – Ở Trạm Xe Bus
Nguyễn Thánh Ngã: Hồ Thiên Nga – Nhuận Giây – Bài Thơ Rác – Đám Giỗ Mèo – Đám Tang Kiến – Đàn Vịt Trời – Trong Đôi Mắt Dế – Cho – Bài Thơ Về Bềnh Bồng
Phụ bản Alden Marin
Nguyễn Thói Đời: Đêm Loay Hoay – Đám Giỗ – Cột Chống Trời – Dọn Nhà – Vũng Nước Khác – Nhật Ký Cho Một Ngày – Chúng Mình Ơi Chúng Mình
Nguyễn Văn Vũ: Thật Mà – Những Người Phụ Nữ Và Cái Lò Gạch – Quán Cà Phê Khẩu Đường Trương Định – Những Chiếc Đèn Lồng Biến Mất – Thơ Gì Thơ Tôi – Hết Mắc Kẹt Rồi – Đoạn Cuối Cái Tổ Tò Vò – Mắt Khuya – Những Ông Già Tuyết Tội Nghiệp – Những Tích Tắc
Thạch Tốt: Bài Thơ Cho Thiếu Lập
Thiền Đăng: Bài Tình Thơ Ca – Thị Phần, Văn Bản – Bước – Đoạn Kịch Trên Hai Mặt Phẳng – Một Đoạn Kịch Khác – Gia-Lai Kon-Tum, Hay Về Một Chỗ Đã Sống – Phố Chết – Trừ Tôi Ra
Trầm Phục Khắc: Bên Lề – Một Người – Tôi Sống – Rodeo Drive
Trần Vũ Liên Tâm: Trò Chơi Giả Vờ
Phụ bản Đinh Cường
Xuân Thủy: Tận Cùng – Mất Chìa Khóa – Giấc Mộng Con – Bài Thơ Chào Buổi Sáng – Ôi! Trời Ôi! – Đứa Trẻ Không Nhà – Những Đứa Trẻ Già Bé – Ngày Hôm Nay – Có Những Ước Muốn Bình Thường – Gặp Lại Em
Tuyển Tập, Một Thời Điểm
Tiểu Sử
Bìa Tranh Lê Thánh Thư
Nhà xuất bản Thuận Hóa
4 TẬP THƠ TÂN HÌNH THỨC 2019: PHẦN 3 – TÂM Ý TRONG THƠ
PHẦN 3
TÂM Ý TRONG THƠ
Tâm ý là tập thơ của hai tác giả Phạm Quyên Chi (hội viên Hội VHNT Bình Định) và Hường Thanh do NXB Thuận Hóa vừa ấn hành. Đây là tuyển tập thơ đầu tiên in chung của các tác giả này. Tập thơ theo hướng đi của thơ Tân hình thức, nghiêng về phát triển tính truyện trong thơ.
Trong lời tựa, Khế Iêm đã viết: “Nếu tâm tư Phạm Quyên Chi như những nhánh sông tuôn chảy thì thơ Hường Thanh lại là câu chuyện kể như những con suối róc rách, làm thành hai sắc thái thơ Tân hình thức Việt”. Thơ Phạm Quyên Chi sử dụng ngôn ngữ thông thường, dễ hiểu, diễn đạt những ý tưởng liền lạc: Không hiểu hay hiểu/Sao mà tôi buồn/Nhiều đến vậy nỗi/Buồn hứa hẹn mông/Lung mùa hè nóng/Xanh xao mặt đất/Mặt đất nhuộm vàng/Mùa thu không hiểu (Hiểu). Ngôn ngữ ấy truyền tải tâm tư của người trẻ: sự cô đơn, nỗi hoang tưởng và hoàn cảnh thực tại, đôi khi là những vấn nạn cuộc đời: Giữa vô vàn ký ức/Ta lại chỉ nhớ đến/Một ký ức lạ lùng/Một ký ức được nhớ/Lại có gợi đủ hết/Ký ức mà ta dường/Như có thể sống được/Chỉ vì ký ức đó (Một ký ức).
Với tác giả Hường Thanh, những bài thơ chứa một câu chuyện kể theo cách của thơ, kết hợp giữa phi thực tại và thực tại: Cô gái có đôi/mắt mở to ra/giữa trời mưa to/nhìn mưa to hơn/cặp mắt mở to/của nàng không phải/nàng trố mắt và/kinh ngạc trời mưa/… nàng chỉ là vô/tuyến giữa mưa to/hơn cặp mắt nàng/nhòa nhạt nàng nhớ/lại thời xưa khi/còn bé nàng là/một cơn mưa nho/nhỏ đẹp trong vườn (Mở to mắt tròn).
Hai dòng thơ, hai sắc thái, thể hiện tính sáng tạo, muôn hình dạng của một thể thơ mới. Đây cũng là gợi ý cho người đọc và những người viết – một ý tưởng cho việc lựa chọn cách thể hiện và một cách đọc – nghe kể bằng thơ hoàn toàn khác.
Mẫu Đơn
NHẬN XÉT VỀ BLANK VERSE
Bạn đọc Nguyễn Vũ Văn gửi đến bài nhận xét về thơ Tân hình thức ở giai đoạn phong trào thơ tân hình thức vừa được khởi xướng, được độc giả đón nhận nồng nhiệt, các tác giả thơ đã đóng góp nhiệt thành qua đó thơ tân hình thức đã có những bước phát triển cả về lý thuyết lẫn thực hành. Cũng như mọi dòng thơ khác ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ vẫn luôn đem lại những trải nghiệm thú vị cho độc giả mà ở đó cảm xúc của nhà thơ là suối nguồn tươi trẻ trên những tiêu chí của THƠ:
– Một bài thơ được cho là hay đồng nghĩa là một bài thơ có tính mới, bởi công việc của nhà thơ là sáng tạo tinh thần, đồng thời là một trò chơi với chữ nghĩa với các luật tắc từ đó phái sinh ra. Ở mỗi dòng thơ đều có những đặc điểm riêng mà không thể nào so sánh được. Những nhược điểm hay ưu điểm chỉ là tương đối nếu dòng thơ đó nhận ra để chấp nhận sự đổi mới thì nó được gọi là phát triển nghĩa là khác. Khác không hẳn phải thay đổi khác như thơ Tân hình thức mà là tìm được cảm thức mới trong vô vàn những gì muôn năm cũ. Để chấp nhận sự thay đổi như thơ Tân hình thức thì các nhà thơ cũ khởi đầu cần không lặp lại những gì họ đang làm trong từng bài thơ thay vào đó là sự lặp lại biến ảo nhạy cảm trong cảm thức từng ngôn từ mà ở đó ngôn ngữ chỉ là thứ yếu / phương tiện cho cảm thức, phản ánh thực tại một cách sâu sắc hơn bên trong mỗi chúng ta thay vì bên ngoài của thực tại.
– Mỗi nhà thơ, mỗi con người có cảm thức khác nhau, cuộc sống ở mỗi nơi cũng khác nhau và làm sao để gắn kết lại với nhau đó cũng là một trong những sứ mệnh của thơ với lòng mong muốn và khát khao trong từng câu thơ truy tìm hạnh phúc cho cá nhân mình, cho nhân loại giữa sự khác biệt màu da, văn hóa, niềm tin, quan điểm…
– Với cá nhân tôi đọc thơ Tân hình thức không phải để thuộc, làm thơ Tân hình thức không phải để lại những câu thơ được dịch ra hàng trăm thứ tiếng hay hàng triệu người học thuộc, lặp lại mà chỉ đơn giản để có thể cảm thông và thấu hiểu nỗi đau của những con người chúng ta gặp gỡ dù không phải là bạn bè, người thân và ngay cả là người dưng, mà ở đó luôn là mới mẻ vì người làm thơ tân hình thức luôn là người phản ánh thực tại, đối diện với việc học hỏi những điều mới mẻ và nhận ra những giới hạn của chính mình.
– Và đã không phải không có những bài thơ hay hoàn toàn mới về thi pháp được nở hoa trong thế giới luôn biến đổi một cách nhạy cảm này.
Có một số người đã không chấp nhận thơ Tân hình thức coi đó là thơ đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc, cũng có thể có những thí dụ cho thấy điều đó trong THƠ nói chung tuy nhiên một vài ví dụ không thể đại diện cho một dòng thơ được nhất là khi nó mang tính tiêu cực, cũng có nhiều bài thơ truyền thống hay mới mẻ lại hoàn toàn không phải là THƠ dù về mặt hình thức nó giống như những câu thơ vậy.
Nhận xét của bạn đọc Xuân Thủy – 2021
Nguyễn Vũ Văn
. Có một địa chỉ của Tạp Chí Thơ (TCT) trên Internet, do Khế Iêm chủ trương, cho đến nay vẫn còn mang cái bià của số Mùa Thu 2000 mở ra cho một mục lục xoay quanh lối thơ Tân Hình Thức. Tạp Chí Thơ khởi xướng việc thử nghiệm lối thơ mới theo phong trào New Formalism trong thơ Mỹ. Tôi không biết Tạp Chí Thơ đã khởi đầu việc này như thế nào, đường lối ra sao, nhưng đã tập hợp được một số tác giả hưởng ứng.
Trong bài “Tân Hình Thức: Cuộc Chuyển Ðổi Thế Kỷ”, TCT xác nhận rằng “Sau một khởi đầu đầy hào hứng, mang ý nghĩa bước vào tân thế kỷ, người làm thơ cảm thấy, có điều gì vừa mới mẻ, vừa ngỡ ngàng, chừng như chưa bắt được những gì muốn bắt. Sự tham gia vì thế vẫn chưa nhiều, sự đáp ứng vẫn chưa đủ, dù rằng cánh cửa vẫn mở. Ðiều này có thể giải thích, sự thay đổi của thơ, chẳng phải chỉ đơn giản là thay đổi cách sống, cách nghĩ, đẩy quá khứ vào quá khứ, mà còn là làm trống không tâm hồn mình, xóa bỏ mọi giá trị đã lạc điệu và đón nhận những quan điểm mới. Sự chuyển hóa, tiếp nhận và thực hành thơ là quá trình vỡ đất, gieo trồng mầm hạt. Tân Hình Thức như một ý niệm về thân xác, phả linh hồn vào, tạo ra sự sống, và như vậy, nhà thơ phải dùng trực giác, liên kết những yếu tố, như những phần trong cơ thể, từ đó chở cái hồn thơ, và làm bài thơ thành hiện thực. Một lý do nữa là TCT chưa cung cấp đủ thông tin để chúng ta có thể hình dung ra được những ý niệm toàn thể“.
Ngoài bài nói trên, TCT chỉ đăng tải hai bài dịch nói về quan điểm của các tác giả Mỹ. Ðó là bài Những Thiên Thần Nổi Loạn (Rebel Angels: 25 Poets of The New Formalism) của M. Jarma và D. Mason và bài phỏng vấn Timothy Steele của Kevin Walzer.
- Sự thiếu vắng các số báo cũ và không cập nhật hóa kích thích tôi tìm đọc Tạp Chí Thơ bằng ấn bản.
Tạp Chí Thơ manh nha nói đến một lối thơ mới ở số 13, mùa thu 1998, trong bài phỏng vấn của Thụy Khê với nhóm chủ trương gồm có Khế Iêm, Phan Tấn Hải, Chân Phương và Ðỗ Khiêm. Và sau một số bài tiểu luận, TCT đã có được một số bài thơ Tân Hình Thức kể từ số 18 là số ta thấy trên website của TCT. Các bài thơ theo đường lối mới được xếp riêng trong phần mục lục.








