Trang chủ Blog Trang 26

4 TẬP THƠ TÂN HÌNH THỨC 2019: PHẦN 2- NÀNG HOA của CÁT

PHẦN 2

NÀNG HOA của CÁT

Apsara Kiều Maily – Bàn tay nâng chữ vào thơ Tri thức ngôn ngữ thơ Kiều Maily gợi lên dấu ấn văn hóa Chăm. Tiếng thơ ấy, là một hệ thống tín hiệu biểu cảm tuân theo quy luật tự nhiên khách quan, không gian thời gian dẫn dắt xác lập một quan hệ liên tưởng tạo ra dãy liên tưởng, liên hệ đồng loạt các yếu tố ẩn sau yếu tố hiện diện, giữa bên trong và ngoài con chữ. Tạo nên mạch tính không thay đổi trong lựa chọn của chị: “Những căn nhà chật chội chồng chéo nhau Đời chật chội với những dấu chân chật chội Đan xen lên những con đường chật chội” (Phác họa chân dung chiều phố hội) Những âm vị, hình vị trong ngôn ngữ đơn lập có tính độc lập rất cao, đứng biệt lập và không thay đổi hình thái, từ “chật chội” bổ nghĩa biểu hiện tượng hình bức chân dung chiều phố hội mà khi dịch chuyển xuống đoạn kế tiếp như dội ngược cảm xúc: “Lòng phố nghẹt thở thứ cấp, trung cấp lên khẩn cấp Lớp sơn hiện đại đổi màu tường theo từng mùa chật chội” tạo ra tính bao hàm ổn định. Lớp ngôn từ còn mang ý nghĩa biểu vật kéo theo phần nghĩa liên quan trực tiếp đến phạm vi sự vật trong thế giới quan Kiều Maily đã chụp, chép lại và gợi tả trong 10 bài thơ THT thời sự, không phải ngẫu nhiên, suốt chiều dài thời gian, tự thân chị đã cảm nhận được dòng thơ thiết yếu, gắn bó với sự chuyển đổi ngôn ngữ tạo ra bài thơ tự nhiên, kết nối được nhịp cầu truyền thống và hiện đại. Tạo ra mạch cường điệu đẩy tưởng tượng đi vào lãng mạn và nhẹ nhàng, sâu lắng trong đời sống thường ngày. ” Tôi đã cố bơi thật xa nhưng Không thể nữa rồi bạn bè tôi anh Chị em tôi dù tôi đã cố bơi Xa thật xa nhưng tôi đã bơi trở” (Lời kể của con cá) Kích thích vào giác quan, tri giác tác giả đã lí giải một vấn đề ngoài sự vật giữa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện là quan hệ không lí do. Trong học thuyết Engel ngôn ngữ thơ luôn gắn với con người, và dòng thơ THT chị, “tôi” trở nên ám ảnh luôn cất tiếng nói, thông tin biểu đạt trong câu chuyện kể như cố “nói với nhau mọi điều về cuộc sống” phản ánh những thuộc tính bản chất cuộc sống. Ý nghĩa biểu niệm ấy, bộc lộ nét tinh thần văn hóa, hàng loạt con vật tâm linh xuất hiện: Cá, trâu, lũ bò và bầy cừu. Những con vật thuộc phạm trù tinh thần, ngữ hình nó tự thân nói lên chân lí trong một mặt. Kiều Maily đã gán lên lớp vỏ ngôn từ những mẩu nghĩa biểu thị trong 5 câu chuyện về người chăn cừu: “Và người chăn cừu tháo tung cổng chuồng Cho lũ cừu ùa ra cho lũ cừu chạy đi Đi đâu không biết Đi vào mảng đất không còn màu xanh Đi xuống dòng sông vừa chết Đi vào miền chết Đi” (Cơn giận của người chăn cừu) Cách miêu tả sự việc diễn ra trong “cơn giận” – người chăn cừu đã thể hiện dòng tâm lí đặc biệt tác động đến lí trí và hành động bằng cách lập luận mô tả tinh thần con người khi người chăn cừu từng có một ước mơ. Những yếu tố kèm lời trong bài thơ ( ngữ điệu, trọng âm, đỉnh giọng) và phi lời (cử chỉ, hành động) đã tác động mô phỏng đến người đọc một thông điệp đời sống. Họ cần tự do. Và đạt đến tự do. Kiều Maily, một Apsara nâng chữ vào thơ đến tận cùng của sự hấp dẫn với những thủ pháp nghệ thuật: Điệp ngữ, ẩn dụ, so sánh, liệt kê nhịp điệu luôn hài hòa ở dòng THT và tự do. Điều đạt được hiếm hoi trong thơ chị là đã sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện biểu thị đặc trưng tinh thần văn hóa dân tộc Chăm. Các loại vị tố hành động, trạng thái, hay quá trình, tính chất tham dự trong thơ chị đều dùng với lớp nghĩa mới mẻ tạo nên những giá trị ngữ nghĩa không nhỏ đến loại hình ngôn ngữ Chăm. Theo de Maupassant từng đề xuất ” Cần phải đưa ra được một ảo tưởng trọn vẹn của hiện thực”, ở Kiều Maily một nghệ sĩ đã tạo ra niềm tin về độ xác thực cao trong câu chuyện thơ của mình. Từ đó, đã phản ánh được diễn biến quy luật phát triển đời sống này làm cho tác phẩm sống lại một cuộc đời. Đi trọn 40 bài thơ trong tập “Nàng, hoa của cát” tôi có cảm giác cuộc phiêu lưu chưa dừng lại, giới hạn chân lí trong nét đẹp từ bàn tay hoa của cát ấy đã nâng độc giả bước vào cuộc hành trình trở về với “Vương quốc Palei” đầy cát, đầy bí ẩn.

Phạm Quyên Chi giới thiệu

THỜI TRANG VÀ HIỆN ĐẠI

https://www.elle.vn/the-gioi-thoi-trang/khat-vong-thoi-trang-xanh-khaar/
https://www.elle.vn/the-gioi-thoi-trang/khat-vong-thoi-trang-xanh-khaar/
Michel Butor
Cho Marie-Jo

Tóm tắt
Bài viết của Butor, một cách có phương pháp, đầu tiên được phát hành bằng tiếng Pháp vào năm 1969, liên quan đến những áp dụng cấu trúc đầu tiên trong thời trang bởi Roland Barthes trong các thập niên 1950 và 1960, bao gồm trong cuốn Système de la Mode của ông. Tiểu luận của Butor được chia ra thành nhiều đoạn có chủ đề: quần áo như ngôn ngữ; trang sức và nơi chốn; phát động thời trang, theo đuổi thời trang; từ xưởng thương hiệu may đến xưởng may gia đình; ai tạo ra thởi trang?; ngôn ngữ quanh thời trang; ngôn ngữ như quần áo; avant-garde; thanh lọc các thứ cổ điển; và ai tạo ra văn chương?


1. Quần áo như Ngôn ngữ

Trang phục cho chúng ta thông tin về người mặc. Suy diễn vô cùng phức tạp là điều mà thời trang quan tâm đến. Bên ngoài thời trang, dấu hiệu vô cùng đơn giản. Chúng ta thử vẽ một bức tranh về đó xem sao.
Trước tiên, quần áo là một biểu lộ cho nguồn gốc địa lý: sari của Hindu, boubou của Phi Châu. Y phục bình thường, không có giá trị như là dấu hiệu bên trong vùng mà nó được mặc, lại khoác lấy một giá trị như thế khi ta du hành. Điều này rất tiện vì trong mọi dịp, ngoại trừ những lúc tiệc tùng, ta mặc quần áo khác nhau để không thu hút sự chú ý về mình. Điểm này cũng đúng y vậy với cổ trang tỉnh lẻ.
Vài ba nghề nào đó có quần áo làm việc của nó: tạp dề của thợ sửa giày; quần yếm của thợ máy. Đây là những dấu hiệu thường được mặc, dấu hiệu “cửa tiệm” có thể được hệ thống hóa một cách nghiêm khắc bởi cái thân xác đã chấp nhận chúng: chức năng đồng phục hay ngược lại – những thứ được mặc bởi y tá; những thứ được mặc bởi tiếp viên hàng không của các hãng máy bay khác nhau.
Những đánh dấu mà mục đích của chúng là cho phép người mặc được nhận ra từ ngoài, chúng còn có thể dùng để mang lại thông tin về tổ chức này: đồng phục quân đội hay nhà thờ.
Khi xã hội là một tập thể có tôn ti mạnh mẽ, các đẳng cấp khác nhau có thể lộ ra của nó giúp ích cho tất cả mọi người: khác biệt về giai cấp hay đẳng cấp (tài sản) như đã biết trong các thể chế cổ điển, khác biệt giữa vai vế trong giới quý tộc.
Quần áo cũng biểu lộ sự khác nhau trong trạng thái: đàn ông và đàn bà, trẻ em, người lớn, ông bà lão. Ở vài nơi, không xưa lắm, có một ghi dấu riêng biệt dành cho đàn bà có chồng hay góa phụ. Ở thời đại bây giờ của chúng ta, áo trắng dài với mạng che mặt là vết tích cuối cùng của thăng cấp qua y phục, đi từ tình trang này qua tình trạng khác (độc thân thành người vợ – chú thích nd). Tang chế cũng vậy.
Sau cùng, trong mỗi xã hội mà thời gian được chia ra rõ ràng, trần tục và thiêng liêng, ngày trong tuần và ngày lễ, sự phân chia này được tuyên bố bằng quần áo. Khi còn bé, tôi có một bộ đồ dành cho Chủ nhật và bộ kia cho “ngày thường”.
Sự rõ ràng của ý nghĩa quần áo này, mà tôi sẽ gọi là “cấp tiến”, được đảm bảo bởi những phê chuẩn mạnh mẽ. Nếu thường dân mặc đồng phục mà họ không được phép mặc, không những chỉ trông họ buồn cười, mà còn bị trừng phạt nữa. Mặc thử một bộ đồng phục dành riêng cho số người nào đó chỉ có thể được làm trong trường hợp đặc biệt, suốt buổi lễ hội kiểu riêng biệt nào đó biểu trưng cho việc thử nghiệm những dấu hiệu này. Những tình huống này có thể được chỉ định bằng từ chung chung “lễ hội,” mà trong lúc đó, quần áo được mặc như một loạ i trang phục cầu kỳ. Chỉ trong những trường hợp như thế mà vi phạm luật cấm biến thành giải trí; nó có thể vẫn được như thế ở lúc khác bằng cách nhắc đến những dịp này (những buổi khiêu vũ với trang phục cầu kỳ) với điều kiện là sự vi phạm không quá mức nghiêm trọng. Thí dụ như, một đứa trẻ có thể tự cải trang như là một người cảnh sát ngày thứ Năm thứ ba của Lent (mùa chay); nhưng nếu nó làm thế trong những trường hợp khác, đấy sẽ được xem là góp mặt trong vài lễ hội nhỏ nào đó với bạn bè. Ở vài quốc gia nào đó, một người lớn có thể mượn đồng phục của cảnh sát cho lễ Mardi Gras (nhân đấy hắn có thể được khuyên rõ rằng nên có một phiên bản cố tình khác đi một chút để chắc chắn rằng mục tiêu của mình không bị hiểu lầm) nhưng nếu hắn mặc đồng phục ấy ở bất cứ ngày nào khác, hắn sẽ bị bắt ngay lập tức. Sân khấu kịch nghệ hay gánh xiếc là chỗ ẩn náu tuyệt diệu, nơi mà sức chịu đựng loại quần áo lễ-hội này có ưu thế trên căn bản bình thường; đó là lý do tại sao sự phân chia rõ rệt giữa nó và thính đường vẫn giữ được hiệu nghiệm như thế.


2. Trang sức và Nơi chốn

Nghiên cứu về những hình thức cấp tiến này hình thành căn bản cho bất cứ ký hiệu nào của quần áo. Chúng thường được định nghĩa bằng những giới hạn nhỏ hẹp mà trong đó, luôn vẫn có khả thi biến đổi. Khác hẳn với lối phân biệt quần áo/vải thô đồng phục, quân phục cho phép rộng rãi ở vài nơi rõ rệt nhất, nơi mà yếu tố “cầu kỳ” có chỗ đứng. Những người cá biệt dùng điều này khi họ muốn lôi kéo sự chú ý đến khuôn mặt, cơ bắp, đến bất cứ gì không còn là một phần của y phục biến căn của mình . Biến tố này (hay trang sức) có thể luôn luôn được diễn dịch ra như một lời mời, kèm theo với một số điều kiện lớn hay nhỏ nào đó; nó thường có cái gốc tình dục giấu kín.
Trang phục nam giới của trung lưu Anh giờ đang lan rộng ở phương Tây đến độ nó biến thành trung tính quan hệ với tất cả những thứ biến căn khác tán tụng; đó là hình thức y phục được chấp nhận bởi những người mặc đồng phục làm việc khi họ không còn ở nơi làm việc nữa. Như thế nó có giá trị ngụy trang cơ bản; nó giấu đi cái thứ mà những biến căn khác trưng bày. Để có thể làm được vai trò này, nó phải tuân theo luật lệ chính xác như đồng phục binh lính, và những chỗ dành cho đồ trang sức cũng nhỏ lại: cà vạt, khuy măng sét, vài ba biến đổi nhỏ trong lối cắt và hàng vải. Nó gồm có ba mảnh truyền thống (cộng thêm vải lót, giày và tất cả mọi phụ tùng không mấy thực dụng cũng như chỉnh sửa): quần dài, áo vét và áo gi-lê. Áo gi-lê đã trở nên phụ trội, đây là chỗ (có thể che giấu được) mà trong một thời gian dài sự tưởng tượng đã chủ ý đến.
Ngược lại, trang phục nữ giới, chỗ dành cho phụ tùng trang trí lại rộng hơn nhiều, hẳn nhiên phải có ở một xã hội nam giới chiếm ưu thế, vì đàn bà chỉ có được vài vị trí đáng chú ý trong xã hội đó, và vì họ có một nhu cầu hấp dẫn giới đối nghịch lớn hơn, giới mà họ dựa vào đấy. Sự phát triển nghiêng về trung tính đã đổi dạng toàn thể bề mặt thành một khu vực phụ tùng trang trí mà trong các giới hạn này tạo ra y phục nữ giới “cấp tiến”.
Một phụ nữ nhà quê có thể thêm vào phần quần áo truyền thống của mình, một cái lược cài, một mẩu nữ trang, một cành hoa nhỏ. Giá trị của vật thể sẽ thu hút sự chú ý đưa đến giàu có, cho gia đình và lịch sử dài của gia đình, hơn là giá trị của chính người phụ nữ ấy. Nó có giá trị hôn nhân, nhưng chỉ đến chừng mực là nó có ý nghĩa vô cùng chính xác cùng loại với chúng. Ngược lại, bông hoa, bởi vì tính mau héo tàn của nó, có thể được xem là một sở hữu vì nó nhắc đến tính không tránh khỏi của nó đối với người đã chọn, sắp đặt, và trưng bày nó ra với những lợi thế nhất. Như vậy, sự vô cùng quan trọng, cho đến ngày nay, về đề mục bông hoa trong trang phục nữ giới.
Thời trang chơi đùa trong quần áo chuyển điệu, cả hai trường hợp phụ nữ và quân nhân, nhưng ở nơi phụ nữ, nó bao trùm hết mọi thứ còn lại.
Bởi vì quần áo trung tính của giới trung lưu Anh – cho đến ngày nay, đồng phục của người làm việc văn phòng khắp vùng Channel – đã biến thành thứ quần áo mà người có nghề nghiệp mặc vào sau khi cởi bộ quần áo làm việc ra, có một giá trị lễ hội hay thư giãn, nhưng lại là một giá trị không tương xứng, trong khi nó vẫn bị liên kết với một nghề nghiệp bị cho là tỉ mỉ. Đây là lý do tại sao xã hội phương Tây đã triển khai những loại quần áo khác nhau cho những theo đuổi giải trí khác nhau, và nhất là tùy nơi lễ hội: bộ đồ thể thao, đồ đi săn, đồ trượt tuyết, đồ mặc ở bãi biển.
Ở một nơi chơi tuyết, điều làm đúng là cho thấy mình không xa lạ với mọi thứ vây quanh, rằng mình biết loại hoạt động nào đang được theo đuổi ở đây. Thứ nào là trung tính ở thành phố sẽ không thích hợp ở đây; loại y phục trang nhã này có thể (thích hợp) ở chỗ khác, nơi đây thì chắc chắn nó làm người ta giật mình. Mặc một hoặc vài món quần áo trượt tuyết khi trở lại văn phòng cho thấy người mặc vừa mới trở về từ miền núi, và thổi luồng hơi trong sạch vào bầu không khí ảm đạm của chỗ làm hàng ngày. Nó nói ra điều gì đó về đời sống riêng tư và óc thưởng thức của một người, nhiều hơn thế nữa thể như đấy là những nghề tự do và không có tác năng chủ yếu, cho nên không có câu hỏi nào hết về thứ quần áo họ mặc phải chịu theo quy định của chính phủ: ta có thể dễ dàng mặc quần trượt tuyết đi làm, ngay cả khi không hề đi trượt tuyết lúc nào hết cả năm, hay là chưa bao giờ làm việc ấy. Làm như vậy cho phép ta không phải chỉ nói rằng mình đã làm thế, mà còn là điều mà ta muốn làm.
Ở nơi nghỉ mát, quần áo trượt tuyết là trung tính theo địa phương, ai cũng mặc nó; làm khác đi, ngoại trừ trong vài trường hợp riêng biệt nào đó (thí dụ như tiệc tùng) sẽ cho thấy là có người đang rời cuộc chơi. Chỉ đến khi người đó trở lại mới gây ra chú ý. Nói một cách khác, biên giới của y phục trượt tuyết cho phép người mặc có một phạm vi rộng rãi nào đó, bằng cách lựa chọn khéo léo vài ba kiểu khác nhau bên trong những ranh giới này, một người có thể tự phân biệt mình với những người khác, tự khoe mình ra.
Tương tự, dây nịt mua trong một chuyến đi Tây Ban Nha, giầy dép hẳn hòi từ Ý, áo choàng Nga, sẽ mang lại cho bạn một thoảng hương kỳ lạ, tách rời bạn với những người không thể đi đến những nơi như thế. Bất cứ gì làm ra một phần quần áo biến căn đều có thể được dùng như một biến tố bởi thời trang.
Y phục thời trang thủ vai của nó khi thu hút được sự chú ý đến đời sống của một cá biệt (thưởng thức, mơ ước và theo đuổi lạc thú) thay vì việc làm, quốc gia, hay đẳng cấp; vì điều này mà một cá biệt cần phải đóng một vai trong việc thiết lập nơi chốn: nơi du ngoạn trượt tuyết, bãi biển, tiệc khiêu vũ (sắp đặt thời trang có thể thay đổi bởi phụ trội tạm thời); một người đàn bà không thể nào thanh lịch ở Paris mà không phải thoạt đầu tự trưng bày mình ra như là một người ở Paris (giấu đi bất cứ nguồn gốc nào của bà, ngay lúc ấy), và mấy món quần áo tân kỳ sẽ không có giá trị thời trang nào hết trừ khi chúng được biểu lộ tương phản với bối cảnh trung tính của Paris; nếu vượt quá những ranh giới trung tính Paris, ta sẽ thu hút được sự chú ý, nhưng là một người ngoại quốc, ta phải tự loại mình ra; như thế, rất quan trọng khi món phụ trang không thu hút sự chú ý về chính nó (là điều mà món đồ biến căn luôn luôn có, bởi vì ý nghĩa của nó luôn luôn quan trọng hơn những đặc trưng cá biệt mà nó che kín), rằng nó đang tạo dáng toàn thể với một người. Một cái áo không bao giờ có thời trang, người đàn bà mới có thời trang, và đây là tại sao, bất kể việc đóng vai trò quyết định trong khái niệm này, trang phục luôn luôn bị áp đảo bởi người đàn bà. Không có gì inh ỏi hơn khi một bộ đồ được chọn vì giá trị thời trang của nó mà nó thì hoàn toàn không thích hợp với người mặc; không chối cãi được ý nghĩa của nó là một (trong những) thất bại; ngay lập tức nó biến thành lỗi thời.


3. Phát Động Thời trang, Theo Đuổi Thời trang

Thời trang là một hiện tượng cơ bản lịch tính. Chắc chắn tạp chí thời trang là cách hay nhất để nghiên cứu về nó, nhưng trong khi tạp chí đưa ra những ý kiến thời trang đúng lúc, mà không phải nhắc nhớ độc giả đến những phông nền trang phục mà chúng phải dựa vào để nổi lên trên (điều này hoàn toàn vô nghĩa đối với độc giả tạp chí khi lúc nào cũng có ngay trước mắt và luôn luôn tiếp tục dùng nó, lại không phải là trường hợp của phần lớn các nhà triệu chứng học), có một nguy cơ là nó đánh lừa các nhà nghiên cứu ở điểm này, và dẫn họ vào những ngõ hẻm tối mù.
Cho dù dàn cảnh thời trang là nơi trượt tuyết hay đời sống Paris, nằm trong áp dụng trung tính, một người đàn bà khám phá ra sự biến thể, hay đúng hơn là một tập hợp biến thể, mang lại thu hút tối đa về mình. Hẳn nhiên những người khác cũng gắng làm cho có được cùng một kết quả, hay nói khác đi là bằng cách bắt chước cô ta – hoặc là phỏng theo lối canh tân và thành công, hoặc bắt chước quá đáng và thường là thất bại. Ngay cả khi tất cả đều thành công, họ không còn là tất cả, vì cái lý do đơn lẻ rằng, chúng ta nói về nguyên cả nhóm, có khả năng chú ý về chính họ mà thôi; cho nên rất cần thiết nên nhìn đi chỗ khác ngay lúc này. Nhưng, vì một số người nào đó thất bại hẳn hoi, tập hợp biến thể quá rõ ràng và thu hút sự chú ý đến chúng hơn là đến người mặc; cho nên chúng có hiệu quả ngược, khiến người quan sát thận trọng và đưa ra tín hiệu cái nào đã lỗi thời.
Lỗi thời là một biến thể vạch ra hai thứ, chủ ý thời trang và tính không thỏa đáng của nó; rằng cái gì dè dặt sẽ có ít tác động hơn, và sẽ khó biến thành lỗi thời hơn, và có thể, không lỗi thời. Quần áo thời thượng nằm trên cả thời trang, chúng không trở thành lỗi thời, khi có thay đổi, những mẫu trước chỉ giản dị biến thành quá thời, có thể bị hất hủi, nhưng chúng không hề là lố lăng. Một bộ đồ cũ vừa đủ vượt quá những ranh giới cấp tiến, loại có trước thập niên 1900, không lố lăng, nó khác, và giờ thì chỉ có thể dùng như một thứ quần áo lạ mắt. Nói một cách khác, kiểu quần áo tiệc tùng của cha mẹ, của ông bà chúng ta, giờ khiến mình cười đau cả bụng.
Hợp thời trang có nghĩa là đi trước thời trang, để đề xướng nó. Làm thế nào mà sự kiện hẳn nhiên này điều hợp được, không những chỉ với sự có mặt của những tạp chí thời trang, mà còn với toàn thể bộ máy hưởng lợi độc quyền từ cái hiện thực đơn giản rằng con người theo đuổi thời trang? Đấy là vì tính lịch đại của thời trang vô cùng chóng mặt: ta theo đuổi thời trang để phát động nó ở những nơi mà nó chưa có dịp xâm nhập; một khi nó thành công ở đó, ta theo đuổi nó để được thuộc về nơi mà nó đã thành một đặc tính.
Một thời trang thành công chỉ biến mất khi một thời trang khác xuất hiện trở nên phổ biến rộng rãi giống như vậy. Nó sẽ bị mất đi giá trị thời trang tích cực và sẽ không còn lôi cuốn sự chú ý ở nơi đó; nó sẽ biến thành một phần của nơi đó; Cùng lúc, thời trang mới hơn có thể thành công, đóng vai trò của nó tuyệt hảo mà không phải lan rộng đến cùng một mức độ, và rồi đến phiên biến thành lỗi thời.


4. Từ Xưởng Thương hiệu may đến Xưởng May Gia Đình

Trong khi rất khó để khám phá ra cái gì là giá trị thời trang, và rất đắt để tự mình tạo ra nhiều thực nghiệm, ta buộc phải đặt niềm tin vào các chuyên gia thời trang, tin cậy vào kiến thức mà họ theo đuổi.
Tạp chí thời trang chỉ là một khoảnh khắc, quan trọng nhưng hạng thứ, trong một tiến trình dài. Cuối hè, nó sẽ loan báo tập hợp mùa đông được giới thiệu bởi những thương hiệu may đã làm việc với những tập hợp ấy kể từ mùa đông năm ngoái, nếu không muốn nói là trước đó nữa. Vào ngay lúc này các nhà sản xuất quần áo hoàn tất những thiết kế mà họ sẽ cho tràn ngập thị trường trong vòng vài tháng. Những quần áo này sẽ không được thấy trên đường phố cho đến mùa đông. Xưởng thương hiệu may giờ sẽ bắt đầu sửa soạn cho mùa đông kế. Chu kỳ kéo dài ít nhất là một năm, thường là lâu hơn. Trong lúc đó là tập hợp thời trang mùa hè với cùng khoảng cách thời gian.
Đây là vài nét sơ sài về việc phổ biến khám phá thời trang:
a) Dựa trên phông nền một trường hợp thời trang nào đó, nhà thiết kế tìm những ý tưởng sẽ dung hợp với thời trang không giống với cái gì đương thời, nhưng như họ tưởng tượng, nó sẽ biến thành như thế một năm sau đó, họ phải đủ khả năng để cảm nhận được vài thiết kế nào đó sẽ không lạc hướng, và thành công và dai dẳng, trong khi những thiết kế khác đã không còn dùng được nữa.
b) Dựa trên những đề xuất này, các thương hiệu may sẽ phát triển một tập họp được cho là bản mẫu của thứ được xem là có giá trị thời trang; không phải chỉ riêng các thương hiệu may thử các thứ mới mẻ, họ còn cố gắng đưa ra thứ theo đúng hướng. Sửa soạn cho biến cố này luôn luôn được bao trùm bởi màn bí mật lớn lao. Cái quan trọng nhất không phải chỉ tự chính món hàng mà là thứ nó ám chỉ; trong khi đó vô cùng khó để đoán cái gì có giá trị thời trang, lại tương đối hợp lý để đánh giá một khi ta nhìn thấy nó. Đến lúc đó, rất quan trọng để sự khám phá ra khuynh hướng này hay khuynh hướng kia có thể được quy cho này hay thương hiệu may kia, để nó được rửa tội, ký nhận; đây là thứ cho phép thương hiệu may biểu dương sự bạo gan của mình về sau nữa, rút từ uy tín nào đó.
c) Trình bày tập hợp là một thử thách then chốt. Không phải chỉ ở lúc này mà sự bí mật được tiết lộ với nhà báo, là người sẽ có phản ứng, lưu ý cái này và loại bỏ cái kia. Tuy nhiên, quan trọng hầu hết là ở thời điểm này món đồ được đưa ra sẽ tiếp xúc với phái nữ là người mặc chúng. Do vậy, sự lựa chọn những người này vô cùng quan trọng. Một thời trang riêng rẽ nào đó sẽ thích hợp với kiểu người này nhưng lại không hợp với kiểu người khác. Hẳn nhiên là các thương hiệu may muốn đưa ra cái ấn tượng rằng quần áo của họ trông rất đẹp cho người mặc, và như vậy khoe ra những gì thuận lợi nhất cho người mặc; vóc người mẫu là kết quả của biến đổi, và đấy là quan trọng để khoe khoang một cách thuận lợi nhất bởi những gì đang xảy ra trong thời trang. Tuy vậy, sự dàn dựng này rất nhập nhằng vì thứ thật sự được bán, đặt tên, mang lại sự chú ý của mọi người ở buổi trình diễn không phải là người mặc mà là trang phục. Trong khi sự hiện diện của người mẫu thời trang nhấn mạnh vào sự kiện, vóc người riêng rẽ nào đó trong thời trang, cho dù bà hay cô ấy cố gắng đến đâu chăng nữa, người mua không cần thiết phải dung hòa theo dạng ấy,. Chính là ngay trên người bà hay cô ấy, trang phục đó mới phóng đi nghề nghiệp thật sự của nó.
d) Giữa những ý tưởng được đưa ra bởi các thương hiệu may, thứ sau cùng rồi được mặc là thứ xác định cái gì thật sự nằm trong thời trang. Vô cùng quan trọng đối với các nhà báo đến dự những buổi trình diễn thời trang có được lựa chọn đúng, nếu không, tạp chí của họ sẽ bị mất độc giả. Đàn bà nhìn những hình chụp và để ý xem quần áo cùng loại ấy có người mặc ngoài phố không. Những nhà sản xuất đồ-may-sẵn cũng cần phải chọn cho kỹ, nếu không, vài thương hàng của họ có thể sẽ không bán được.
e) Giờ thì càng lúc càng có nhiều quần áo may sẵn được mua, nhưng cái thử thách sau cùng của thời trang đàn bà, và là cái quan trọng bậc nhất, vẫn là may riêng hay may ở nhà. Ở đây, đàn bà hiểu rõ giá trị của óc sáng tạo của thương hiệu may từ bên trong, cho dù họ có được sự trợ giúp của thợ may chuyên nghiệp hay không, nhưng cái sự kiện rằng họ may hay được người khác may cho mình ở nhà – phải nhìn nhận là vì tiết kiệm (danh hiệu lớn thường rất đắt) nhưng cơ bản là lý do hiệu quả thời trang (đồ may sẵn thường là rẻ hơn, nhưng phẩm chất và mực độ trang nhã kém hơn nhiều) – khiến họ tìm những thiết kế không lỗi thời mau quá, mà vẫn giữ được giá trị tích cực của nó trong một thời gian dài.
Hơn thế nữa, để thật sự là đúng mốt thời trang, người mua quần áo từ một thương hiệu may cần phải có một mức độ tự chủ nào đó, để dùng món hàng cô ta được mời mua, để biến đổi nó bằng cách thay đổi cả hai thứ phụ tùng và phối hợp. Người mặc theo quyết định của một thương hiệu may mà không có khả năng thay đổi bất cứ khía cạnh nào của món đồ luôn luôn mang hơi hướm một người đần độn chạy theo thời trang.
Khi một thương hiệu may thành công nhiều lần là nhà thiết kế chính yếu của thời trang, hắn được xem là có sáng kiến đáng kinh ngạc trong địa hạt này; như một người chơi cờ hay chơi bài bridge giỏi, chắc chắn rằng hắn sẽ thắng lần nữa, ngay cả với một con cờ hay lá bài xấu. Kểt quả là, sự chú ý lớn hơn sẽ dành cho bộ tuyển chọn của hắn; ta không thể bỏ qua dễ dàng, và liều lĩnh hơn với chiều hướng hắn đang sắp đặt. Tuy nhiên, quan trọng hơn hết, thương hiệu may nào mà ý tưởng của họ tồn tại sẽ thu được nhiều uy tín hơn. Điều này quan trọng bởi vì những ý tưởng này không dựa một cách thái quá vào vóc dáng thời trang hiện thời, mà cũng còn vì họ không thể được phổ biến quá dễ dàng, rằng họ cho thấy có một phản kháng nào đó đối với việc tái sản xuất và phân tích. Ở đây, tính khéo léo kỹ thuật, những bí mật của cách làm ra trang phục, kỹ xảo, là then chốt, mà cũng cần thiết rằng những biến dạng của nó, tôi dám nói rằng, vừa đủ cao cấp để thích nghi với cá biệt đàn bà, rằng chúng gần như mất đi tính cá biệt của chúng và hầu như biến thành vô hình khi chúng thôi không còn dùng được nữa.
Lịch tính của đồ thời trang ít ra là gấp đôi. Tính đầu tiên và khoe khoang nhất là về bộ tuyển chọn, phải kế tiếp nhau ít nhất là bán niên. Các báo chí tường thuật về chúng, và công bố theo sau đó, đưa ra ấn tượng rằng tuyển tập năm 1969 sẽ triệt gốc tuyển tập năm 1968, rằng tấm bảng đã được lau sạch và chúng ta bắt đầu lại từ con số không. Trên thực tế, vài ba thiết kế trước đó vẫn giữ nguyên giá trị của chúng trong khi vài ba thiết kế gần hơn lại không bao giờ có được giá trị nào hết. Có những năm xấu, và nếu các thương hiệu may Paris thiếu tinh thông, bỗng dưng thời trang có thể sống lại ở Luân đôn.


5. Ai Tạo Ra Thời Trang?

Công bố thường mang lại ấn tượng rằng chính thương hiệu may quyết định thời trang, nhưng rõ ràng là điều này không đúng. Thời trang đáp lời thời trang và thông tin mà cuộc đối thoại này dựa vào vô cùng phức tạp vì con số những tham khảo được dùng đến, đã tiến hóa cùng lúc với tự chính thời trang tiến hóa.
Kỳ tài của thương hiệu may nằm trong khám phá thời trang. Thời trang không dựa trên tính khí hay ước muốn của hắn. Thật ra thì kỳ tài của hắn là kỳ tài của một nhà phê bình. Thế thì một nhà thiết kế có thể không ảnh hưởng gì đến thời trang hay sao? Hãy thử tưởng tượng ra một trong những nhà chuyên môn cảm thấy một tuyển tập có thể dùng được, rằng nó đưa ra một ấn tượng hợp lý không phải về loại quần áo thông thường, mà về thời trang mùa đông, nhưng lại nhận ra điều phi lý: quá đắt và khó mặc. Hắn không có khả năng nào để thay đổi nó sao?
Nếu vài ba ý tưởng của hắn cũng được khám phá bởi đồng nghiệp, họ sẽ làm việc, và nếu hắn bỏ ý tưởng ấy đi, mọi phúc lợi sẽ đến với đồng nghiệp. Nếu hắn thật sự là người duy nhất nhận ra khuynh hướng này, hẳn nhiên là rất hiếm, hắn có thể đủ sức giấu diếm nó trong một thời gian ngắn bằng cách giữ im lặng, nhưng nó có thể lộ ra trong vài cảm nhận ngẫu nhiên nào đó vào mùa đông sau.
Thời trang không cần thiết phải nhận thức hết tất cả mọi khả thi của nó, và thương hiệu may chắc chắn đủ sức để tuyển tập của mình có một thiên vị đặc trưng nào đó. Nếu hắn không thích một thiết kế tuy vẫn chắc chắn là dùng được, hắn có thể nhắc đến nó làm như trong lúc vui miệng (có một mỉa mai trong thời trang gồm có, trên tất cả mọi thứ, lấy cái lỗi thời và nhấn mạnh và hạn chế nó), và chú trọng mọi sức vào những thiết kế khác mà hắn kỳ vọng sẽ dùng được. Hắn sẽ có nhiều phạm vi rộng rãi hơn trong khía cạnh này một khi hắn đạt được nhiều uy thế hơn.
Tuy nhiên, nếu hắn thành công bằng cách thiên vị một khuynh hướng nào đó không có lợi cho ai hết trên một thời gian khoàng vài năm, có phải tác động tự động của thời trang là sẽ bỏ nó mãnh liệt hơn về sau? Những khám phá thời trang có thể triệt tiêu lẫn nhau trong thời gian dài hay không?
Thế thì, đâu là quan hệ giữa thời trang và phát triển nói chung về quần áo? Vài ba người có khuynh hướng cho rằng cả hai địa hạt này độc lập, nhìn ra những thứ cấp tiến, và với chúng, sự trung lập như đang biến dạng từ từ mà không có thành công hay những phát minh của các nhà y phục đóng vai trò nào hết – khác với trong phát triển của các tiến bộ kỹ thuật đủ loại, tuy những vai trò này hoàn toàn bị giới hạn so với những thứ đã được kỹ nghệ may-sẵn nhìn nhận – tin rằng như vậy thì vô khả thi cho một hay thương hiệu may nào khác nhận lãnh bất cứ công việc kết hợp thật thụ nào để hướng về cải thiện quần áo hay biến thành một nghệ sĩ avant-garde, rằng họ chỉ là đầy tớ của thời trang; rằng công cụ thời trang và tính công khai mà nó nhận được, ủng hộ việc tiêu dùng quần áo quá mức, nhưng đó chỉ có lợi cho nhà sản xuất, và có hiểm nguy làm chậm lại sự phát triển của nó về hình thức ít ngu đần hơn những thứ mà chúng ta phải chịu đựng ngày nay (dù sao thì vẫn không làm giảm giá trị thơ mộng của hiện tượng, không thể cãi được đấy là thứ tô điểm và làm sôi động đời sống của chúng ta).
Tuy nhiên, xen vào đấy vẫn có một khả thi, và những nhà nghệ sĩ trang phục có thể có một ảnh hưởng quyết định trên việc phát triển quần áo đến mức độ mà họ dùng thời trang và uy tín có được để biến đổi bọn cấp tiến và nhất là giới trung hòa. Những ranh giới của họ, bị hạn chế tối đa, nói chung là không đồng đều, và chỉ nhờ vào môi giới thời trang chúng mới được thăm dò một cách có hệ thống. Một dạng thức phát triển được chỉ định bởi những đẳng cấp cao nhất hẳn nhiên là sẽ không đi xa mấy vì nó vẫn còn bị giới hạn trong vòng ta-bu phiền hà, những thứ chưa được đánh thức (chứng cớ là những quốc gia miền Viễn Đông đã chấp nhận cái trung hòa phương Tây, là thứ không thực dụng riêng đối với họ, ngay cả cấm đoán những chỗ mà sự tưởng tưởng có thể được dùng đến, thí dụ như ngăn cấm cà-vạt và chuộng áo cài nút kín cổ); thời trang hứa hẹn chúng ta nhiều thứ tốt đẹp hơn bởi vì không phải nó chỉ được việc mà còn là giấc mơ về những gì y phục
có thể làm được.


6. Ngôn Ngữ Quanh Thời Trang

Quần áo là ngôn ngữ, và thời trang làm việc và mơ mộng trong cái ngôn ngữ này. Tuy nhiên, chính thời trang cũng tạo ra ngôn ngữ quần áo. Không phải một tuyển chọn chỉ trình bày với chúng ta những kiểu mới, nó cũng còn đưa ra những dụng từ mới. Cùng một món đồ có thể được chỉ định bởi tên khác nhau (một dụng từ, một chữ ngoại quốc, một chữ cũ được ưa chuộng trở lại) hay một từ (cardigan, bavolet, blue-jeans) được quảng bá để tạm thời gồm nguyên cả gia đình. Tự chính món đồ không thay đổi gì mấy, nhưng nó sẽ được nói đến một cách khác biệt và nó cũng có thể được dùng để nói về vài thứ khác.
Sự đổi mới từ vựng này đặc biệt đáng chú ý ở nơi nào liên quan đến màu sắc. Chúng ta biết rằng, hiếm khi một sắc màu riêng biệt nào đó là hợp thời trang mà thường là một dãy màu, và trong dãy màu này hầu hết những sắc màu cá biệt không thể phân biệt được với những màu cũ qua mắt nhìn. Tuy thế chúng vẫn có vẻ khác bởi vì các vị trí mới nằm trong toàn thể và những liên quan mới mang chúng ra phía trước bởi những tính từ được đặt ra.
Thời trang là chủ đề của đối thoại. Phụ nữ thường đặt mình vào trong đó, không chỉ qua quần áo họ mặc mà thôi, mà còn qua cách nói về quần áo, và cách nói về quần áo của người khác. Các chi tiết, những vay mượn (từ tất cả những thứ biến gốc có thể nhận diện được), không nhất quán (quần áo trượt tuyết mặc ở Paris) là những điểm trò chuyện bắt đầu. Thông tin mà họ mang lại, không phải chỉ về một chức năng, mà còn về phong cách sống, có thật hay tưởng tượng, tiếp theo qua lời nói. Ở vào vài thời điểm nào đó, mặc một hiệu Ý là hợp thời trang vì là đang hợp thời để nói về nước Ý.


7. Ngôn Ngữ Như Quần Áo

Ngôn ngữ có nguyên một chuỗi tác năng có thể tả được là mang tính quần áo (vestimentary), hiển nhiên là trên tất cả mọi cuộc nói chuyện tự do nào mà ta gọi là đối thoại:
a) nó là phòng vệ: đỡ gạt một cuộc tấn công qua lời nói; nấp trốn sau một đám mây chữ nghĩa.

b) đó là một bảng thông tin: cách mà một người nào đó nói chuyện, cho thấy nguồn gốc của họ, môi trường, nghề nghiệp; trong vài ngôn ngữ nào đó phép tắc thay đổi tùy theo tình trạng của người nói, chỗ đứng của anh hay chị ấy theo đẳng cấp. Ở đây, nó không giản dị chỉ là câu hỏi về nghĩa rộng (một nhóm nào đó dùng một từ khác để nói về cùng một thứ), nhưng cũng còn là câu hỏi chứng tỏ (một nhóm nào đó nói đến vài ba thứ hiển nhiên và không hề hoặc rất hiếm, nói đến vài ba thứ khác);

c) nó tạo ra quỹ tích; bằng cách không chấp nhận vài ba cách nói nào đó mà người ta tự loại mình ra; đối với phụ nữ, ngôn ngữ thời trang là thành phần then chốt của quỹ tích: đời sống Paris;
d) sau cùng, bên trong quỹ tích ngôn ngữ nào đó, một số phạm vi rõ ràng cho các hiện tượng thời trang nảy nở: diễn giả thu hút sự chú ý đến mình với từ vựng, ngữ pháp của họ, và quan trọng nhất là với những đối tượng họ nói đến và những tranh luận họ chống đỡ. Một số người nào đó, như các thương hiệu may, có một nhạy cảm đáng kể ở khía cạnh này; họ có thể trình bày thứ rồi sẽ có ích, để nói đến từ quan điểm thời trang. Như vậy họ phát động chủ đề, tác giả, chữ nghĩa, và là người đầu tiên phát hiện khi nó thành lỗi thời, đến lúc đó, họ sẽ thay thế chúng bằng những thứ khác.


8.Avant-Garde

Những người phát hiện ra thời trang đương nhiên là phải tìm cái mới, nhưng cái mới này chỉ được định nghĩa bằng những tham khảo trong quỹ tích thời trang đương thời, trong vòng các biến tố, và vì lý do này mà đến phút chót sau một thời gian dài nào đó, bất cứ gì “cũ” dường như cũng đủ khác để đóng vai trò của mình trong tiến trình mê hoặc.
Nhà nghệ sĩ avant-garde là một nghệ sĩ đã từ chối biến thành đầy tớ của thời trang và từ chối không để sự lựa chọn của mình hôm nay bị triệt tiêu bởi những lựa chọn hắn sẽ có ở ngày mai, như thế, là người muốn tạo ảnh hưởng, bằng một thái độ nhất quán, sự phát triển ngôn ngữ và “cái thật” cùng lúc.
Trong phạm vi, bày ra một cách khác, avant-garde luôn luôn tượng trưng cho một khả thi thời trang, nhưng nó không là một khả thi duy nhất, với kết quả mà thỉnh thoảng thời trang rút được từ “kho dự trữ” của avant-garde, bằng cách làm như thế, chiếu sáng thứ mà vài ba nghệ sĩ nào đó đã tích lũy mấy mươi năm trong khi có lúc khác lại quay lưng với họ.
So với đồng nghiệp của họ trong thế giới quần áo, nhà thiết kế văn chương và thương hiệu văn chương có một cái lợi lớn: họ làm việc trong một cái khung thời gian mềm dẻo hơn. Một cái áo với nhạy cảm avant-garde chỉ có thể đưa trưng bày qua khung cửa sổ hàng năm của tuyển chọn. Nếu nó không thành công trong việc giữ được sự chú ý của thời trang vào lúc ấy, tốt hơn là vất nó vào đống phế thải. Trong lĩnh vực này rất khó để làm việc trên những khám phá mà có lẽ chỉ kích thích được đáp ứng trong khoảng thời gian ba hay bốn năm. Mặt khác, trong văn chương hay hội họa, người ta có cái xa xì là có thể đợi được.
Thời trang dùng avant-garde vì sự khác biệt của nó, chứ không phải vì đặc tính cấu tạo của nó; không phải việc nó làm là đáng chú ý, mà chỉ giản dị là nó đứng riêng rẽ từ cái gì, và đó là lý do tại sao, qua cách sử dụng này, nó luôn luôn nhấn mạnh vào khía cạnh tiêu cực mà trong đầu óc của chính các nhà nghệ sĩ, khía cạnh tiêu cực chỉ là hậu quả của đặc tính dài-hạn của nó. Avant-garde, khi biến thành hợp thời trang, thường mang vẻ quyến rũ hư vô. Đối với thời trang, sự khẳng định trên tiêu cực này thật sự là một cách tước bỏ tính nghiêm trọng của nó, một cách biến dạng nó thành một loại trang trí giản dị không có khả năng gây nguy hiểm cho bọn cấp tiến khó hiểu, vì nó không đưa ra gì hết ở vị trí của mình. Cho nên một thanh niên trẻ hợp thời trang nói với chúng ta rằng: “Bởi vì chính cái lý do nó vô cùng tiêu cực, anh biết tôi không thể bám lấy cái ngôn ngữ này lâu dài, nhưng khâm phục, nếu anh đồng ý, cái dáng táo bạo và sinh khí nó cho tôi.”
Một khi cái quyến rũ này đã được khai thác đủ, thời trang sẽ rút lui và trở về chỗ cũ trước đó, thường là một thời gian rất dài.

9. Thanh Lọc Các Thứ Cổ Điển.

Trong cách này avant-garde được dùng đến rồi bỏ đi nhiều lần càng lâu càng tốt miễn là nó không biến thành cổ điển, đấy có ý nói biến thành phần kết hợp của một nơi. Ngay cả trong suốt thời gian này, người nghệ sĩ thường trải qua thứ mà ta có thể gọi là thanh lọc, như Hugo và Zola đã làm; vẫn đọc sách một cách đam mê nhưng biến thành vô dụng cho thời trang. Hắn đang cản đường.
Sự giáng cấp này hoàn toàn khác với việc hầu như không có tiếng tăm gì hết qua vài giai đoạn nào đó trong lịch sử nghệ thuật, vài vùng văn chương nào đó, theo sau những nổi dậy lịch sử quan trọng. Có vẻ phức tạp như đã thấy, chúng ta chỉ cần khảo sát hiện tượng thời trang qua một trong những chiều của nó, chiều ngang chân trời, thể như tất cả mọi cá biệt mà những lớp sóng của nó phủ lên, có cùng một tuổi và cùng một chỉ số khúc xạ. Rõ ràng là ta phải thêm chiều đứng ngay từ khi có người không cố gắng mấy để mê hoặc, không phải vì sự quan trọng của tiến trình dần giảm theo tuối tác mà vì đấy là câu hỏi, không phải chỉ giản dị nổi bật lên khỏi đám người cùng thời, mà còn đạt được sự độc lập, cùng lúc với họ, từ một trong những bậc tiền bối, để thiết lập ra, như đã từng có, một chỗ tranh tài. Giới trẻ thường gắng ăn mặc khác với những người lớn tuổi hơn họ, đọc những thứ gì khác, và nói về những chuyện khác. Trong khi bọn trẻ là một yếu tố bản thể trong mê hoặc, các bà mẹ sẽ cố gắng bắt chước ý kiến của con gái và các ông bố với con trai, có nghĩa rằng vấn đề chỉ bị trì hoãn; giới trẻ cần phải khám phá ra thứ gì đó mà cha mẹ họ không còn có khả năng bắt chước được, sau rốt buộc cha mẹ phải để chúng được khác biệt.
Tương tự, một tác giả đã thành tựu đến mức để lại dấu ấn trong một thế hệ nào đó, hắn sẽ không tránh khỏi bị giáng cấp bởi thế hệ kế tiếp bởi vì bất cứ tham khảo nào nhắc đến hắn đều có ngụ ý dung hợp. Trước khi có thể tiến cử tác giả đó, cần phải tỏ cho thấy rằng ta cũng biết đến một loạt tác giả chưa từng đọc từ tủ sách gia đình.
nói đến ước muốn và nhu cầu; để thẩm thấu toàn thể bản văn trong lối nói số nhiều này, có hiệu quả đến độ nó sẽ là vô khả thi cho người mặc sử dụng nó mà không cần nó vừa với họ, mà không chấp nhận hay không thích nghi với nó. Proust đã nói rằng tác phẩm của ông nên được cấu tạo không phải chỉ giống như thánh đường mà thôi, mà còn phải giống như một cái áo (đầm).
Điểm Thọ dịch

RA MẮT SÁCH – SINH HOẠT THƠ – CON MÈO ĐEN

https://immagine-poesia.over-blog.it/2021/06/the-black-cat-poem-by-khe-iem-vietnam.html

 

 

RA MẮT SÁCH

Khế Iêm

Nhân dịp về thăm gia đình, nhà xuất bản Domino đã tổ chức một buổi ra mắt cuốn “Vũ Điệu Không Vần”, sáng 15/12/2019 tại Cà phê thứ Bảy, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Buổi ra mắt thành công với sự tham dự góp ý của một số người tham dự, trong đó có nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc, nhà thơ Hạnh Ngộ… Nhưng bất ngờ có một sự cố nhỏ, một tiếng la to, “Không có cái gọi là thơ Tân hình thức Việt”.

Sau đó ông ta post bài viết trên facebook, cho rằng: – “Chỉ có thơ Tân hình thức (New Formlism Poetry) Mỹ hoặc Anh là bởi trong ngôn ngữ này có đa âm và trọng âm (dấu nhấn), còn tân hình thức Việt không làm được điều này, nên những người khởi xướng thay dấu nhấn bằng sự “lập lại”, lập lại không thể thay dấu nhấn được. – Vắt dòng theo 5, 7, 8 chữ lục bát coi rất ngô nghê. – Và cái quan trọng hơn tất cả Đường Thi Thơ tiền chiến Thơ mới Thơ tự do là để lại nhiều bài thơ giá trị, còn tân hình thức Việt có để lại bài nào hay không? Và ngay cả Lý Đợi người có mặt tại buổi tọa đàm là mình đã từ bỏ thể thơ tân hình thức Việt.”


Trả lời

Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âmtrọng âm, không liên quan gì tới thơ Tân hình thức Việt. Không ai nói kỹ thuật lập lại để thay dấu nhấn cả. Kỹ thuật lập lại là để tạo nhịp điệu, theo cách của thơ Tân hình thức Việt sao cho tự nhiên. Điều này chỉ những người thực hành thơ Tân hình thức mới biết, vì có trong phần lý thuyết. Muốn phản bác phải tìm hiểu cho kỹ, và am hiểu tường tận kiến thức về thơ.

Vắt dòng là một kỹ thuật của dòng thơ mới. Lấy cái cũ để đánh giá cái mới là sai từ đầu.

Thơ Tân hình thức Việt đã có nhiều bài thơ hay. Những người tham gia từ đầu, nhiều người phải bỏ ngang vì lúc đó chưa hoàn thành lý thuyết. Họ viết một đoạn văn xuôi rồi đếm chữ ngắt xuống dòng, không có thơ, nên họ phải bỏ cuộc, cả trăm người chứ không phải một mình Lý Đợi.

Khi hoàn thành lý thuyết, bài thơ Tân hình thức Việt thật sự phải có ý tưởngnhịp điệu, mang tính sáng tạo, mớihay, vì vậy đòi hỏi người làm thơ phải có tài năng. Tài thơ là do sự thực hành và kinh nghiệm, vì vậy thơ Tân hình thức chỉ thích hợp với thế hệ trẻ.

Những người lớn tuổi đã quen với những thể thơ cũ nên khó đổi mới, và ác cảm với thơ Tân hình thức, là lẽ tự nhiên. Thật ra họ không hiểu thơ là gì. Thơ là một hình thái sáng tạo. Mà sáng tạo là phải đổi mới. Đổi mới ở đây là thể thơ chứ không phải đổi mới chữ như thời thơ Mới. Nếu cứ suốt thế kỷ này qua thế kỷ khác chỉ nhai lại những thể thơ cũ, thì đó là một nền thơ chết. Và chỉ có những người làm thơ, chứ không thể có nhà thơ.

Thơ tự do Mỹ ngự trị suốt thế kỷ 20, đẩy thơ thể luật truyền thống ra ngoài lề. Sau một thế kỷ phát triển rực rỡ với các phong trào tiền phong, cuối cùng đứng lại và chuyển trở về với thơ thể luật. Nhưng thơ thể luật truyền thống những thế kỷ trước chú tâm vào chữ (giống như thơ Mới của Việt nam), còn thơ thể luật sau thập niên 1990, sử dụng ngôn ngữ đời thường để chuyên chở ý tưởng. Thơ tiêng Anh dù có vần hay không, vẫn có thể chuyên chở tư tưởng, trong khi thơ tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, nên thơ có vần không thể chuyên chở ý tưởng.

Vì thế thơ Tân hình thức Việt chuyển những thể thơ truyền thống 5, 7, 8 chữ và lục bát có vần thành không vần để đưa thơ Việt ra ngoài thế giới. Những thể thơ mới này gọi là thể thơ không vần, sử dụng kỹ thuật vắt dòng để chuyên chở ý tưởng liền lạc, và kỹ thuật lập lại bằng trắc để tạo nhịp điệu. Kết quả giới đọc giả Mỹ đã quan tâm tới thơ Việt qua tờ báo song ngữ Anh Việt, Journal Poetry. Điển hình là bài thơ Con Mèo Đen (bản dịch tiếng Anh) được coi là 1 trong 3 bài thơ hay nhất, tháng 12 năm 2007 của diễn đàn thơ Mỹ, .

Thơ Tân hình thức có lý thuyết và thực hành. Thơ đã có nhiều bài hay. Còn những yếu tố thơ như tính truyện, vắt dòng, lập lại, ngôn ngữ đời thường thì đều đã có từ trước, Tân hình thức chỉ gom tất cả lại để hình thành một thể thơ mới. Có thực hành mới thấy làm một bài thơ Tân hình thức không dễ, với ý tưởng và kỹ thuật lập lại, sao cho tự nhiên và mới. Muốn phê phán phải tìm hiểu kỹ, có lý luận và dẫn chứng, theo đúng tiêu chuẩn học thuật.


Ngày hôm sau, tôi có buổi tọa đàm tại Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn Thành phố, với giới khoa bảng của trường. Suốt hơn 3 tiếng đồng hồ với sự chủ tọa của GS. Võ Văn Nhơn, họ chỉ đặt câu hỏi để tìm hiểu thể loại thơ này chứ không hề phản bác. Tôi thật sự kính trọng cách ứng xử của họ. Sau này ở Huế cũng vậy, với giới khoa bảng tại hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa thiên Huế.


Con người, ai cũng vậy, cái ngã quá lớn, nên không thấy cái dốt của mình. Vì không thấy cái dốt, không quan tâm tới việc học hỏi, nên họ không có khả năng sáng tạo, cứ chết dí một chỗ, theo quan điểm “kiến thức + tưởng tượng = sáng tạo“. Kiến thức kích thích sự tưởng tượng để làm nên tác phẩm. Kiến thức không phải đọc nhiều là được, mà phải hiểu sự việc tới nơi tới chốn. Triết gia cổ đại Hy lạp, Socrates, tự coi như mình dốt nên tìm mọi cách giao tiếp với mọi người để bù đắp vào sự khiếm khuyết kiến thức của ông. Khi vượt qua cái ngã thì người làm thơ mới biết khiêm tốn để trở thành nhà thơ, vì vậy, người làm thơ thì nhiều mà nhà thơ thật sự rất hiếm.

Những nhà thơ nổi tiếng Mỹ, họ đều là giới khoa bảng hay những học giả, nên kiến thức của họ về văn học rất rộng, vì vậy mà thơ Mỹ là dòng thơ mạnh về tư tưởng. Còn người làm thơ Việt, chúng ta cần phải quan tâm tới kiến thức mới có khả năng đưa thơ Việt ra ngoài thế giới, ngang bằng với các nền thơ khác.


SINH HOẠT THƠ Ở MỸ

https://vietbao.com/p113a100312/2052/ban-tin-ve-mot-bai-tho-tan-hinh-thuc
08/12/2007
CON MÈO ĐEN

Cho các cháu Brielle & Riley

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;
con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo
linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong
cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẩu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn
của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo
đen có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.


Ghi chú
“Con Mèo Đen” là một trong ba bài thơ hay nhất trong tháng 12 năm 2007 của Diễn đàn thơ Mỹ
 
THE BLACK CAT

For my children Brielle & Riley

The black cat with my soul and a piece of
my rib, wakes up every morning not
washing its face, every morning not
brushing its teeth; the black cat with clay-like
eyes, opening and closing, or open-
ing and never closing, as it climbs up
and down the stairs, dragging with it my soul
and a piece of my rib, forgetting that
i had lived much darker days, since when and
why it was i had buried them in my
pocket full of notes gathered from
many different tales, strung together
to make up this story about the black
cat with my soul and a piece of my rib;
of course, that is the black cat with clay-like
eyes, not any other kind of eyes; even
as the black cat climbs up and down the stairs.


Note
From Other Poetry, translated by DoVinh

“The Black Cat” is one of three very fine poems in the December 2007 edition 

Sinh hoạt thơ Mỹ bây giờ tập trung hầu hết trên Net, sinh động và chuyên nghiệp (cũng công bằng và lành mạnh) với đủ mọi đề mục, từ thảo luận, phê bình, góp ý… Người đọc thơ đa số là sinh viên học sinh của thời hiện đại, được thay bằng lớp người đọc cao cấp và tinh lọc hơn, đó là những nhà thơ nhà văn và những người thật sự quan tâm tới thơ. Người làm thơ vì vậy phải có tay nghề đủ để thử thách trong môi trường đòi hỏi một nhu cầu thẩm mỹ cao. Bản dịch bài thơ “Con Mèo Đen” (The Black Cat, do Do Vinh dịch) đã được đưa lên một số diễn đàn thơ Mỹ, chỉ với mục đích thăm dò ý kiến của những người đọc Mỹ. Ngày 15 tháng 11, 2007, nhà thơ (kiêm họa sĩ) Blissbuhda đã đề cử “The Black Cat” là 1 trong 3 bài thơ hay, đại diện diễn đàn www.poetry.about.com (nay không còn hoạt động), dự tranh cùng 23 diễn đàn khác tại InterBoard Poetry Competition để đạt danh hiệu là 3 bài thơ hay trong tháng 12/2007. Ngày 5 tháng 12, 2007 diễn đàn www.poetry.about.com chính thức chấp nhận, chọn 3 bài thơ dự tranh với nhận xét ngắn gọn, theo thứ tự như sau:

Black Cat” by Khe Iem, in a translation by J. Do Vinh which neatly captures its “wonderful, image rich, quirky” qualities. / Con mèo đen” của Khe Iem, trong bản dịch của J. Đỗ Vinh, đã gói gọn những phẩm chất “tuyệt vời, giàu hình ảnh, kỳ quặc” của nó.

 “The Loneliest Smoke” by Bill Brando, a vividly imagined Christmas blues / Khói thuốc cô đơn nhất” của Bill Brando, một bản nhạc blues Giáng sinh được tưởng tượng một cách sống động.

 Les Miserables” by Julie Mazza (TornScorpio), a “deeply engaging” daughters song of longing / Les Miserables” của Julie Mazza (TornScorpio), một bài hát khao khát “sâu sắc” của những người con gái.

Sự tranh đua sẽ rất gay gắt vì với tổng số những bài thơ hay của 24 diễn đàn, chỉ còn chọn lại 3 bài. Nhưng điều ngạc nhiên là, làm sao “The Black Cat” lại thoát khỏi thân phận một bài thơ dịch để được đọc như bài thơ sáng tác” Ngoài tài năng của người dịch, bản dịch có lẽ đã chuyển được nhịp điệu réo rắt của nguyên tác nhờ kỹ thuật lập lại của thể thơ không vần (tân hình thức Việt). Như vậy thể thơ không vần đạt hiệu quả về dịch thuật, thơ thành thơ, dù chỉ dịch chính xác theo nghĩa chữ. Bởi một bài thơ không có nhạc tính hay nhịp điệu, không thể là một bài thơ hay. Với bài thơ “Con Mèo Đen” như vậy đã đủ vì chứng tỏ được giá trị ở cả hai ngôn ngữ. Chúng tôi xin ghi lại đây một số góp ý của những người đọc Mỹ (cũng là những nhà thơ) về bài “The Black Cat”.


BÌNH LUẬN TRONG DIỄN ĐÀN

1- I would like to nominate “The Black Cat” by Khe Iem which is even more impressive with its sparse, innovative imagery and plays of metaphors, as I understand the writer’s first language is not English / Tôi muốn đề cử “Con Mèo Đen” của Khế Iêm, một bài thơ gây ấn tượng với cách tạo hình ảnh mới mẻ, chọn lọc và đầy ẩn dụ, như tôi biết thì ngôn ngữ chính của anh không phải là tiếng Anh. Khe Iem please post the appropriate permissions / Khe Iem anh vui lòng cho ý kiến chấp thuận của anh. Thank you for posting this. Cheers – Blissbuddha

2- Khe lem… I enjoyed this tale of the black cat…/ Tôi thích thú về câu chuyện con mèo đen… – RDB – Roniece Dawson-Bruce

3- Don’t know when you popped into pip, but welcome! / Khong biết bạn xuất hiện trong diễn đàn khi nào –  I enjoyed this in a totally dark way / Tôi tận hưởng điều này bằng cách không nhìn thấy gì – Susan Caldwell

4- Hi, Khe Iem! – and a “hello” to your translator DoVinh! This rather eerie – highly imaginative – poem fits in perfectly with up – coming Halloween! / Đây là bài thơ kỳ bí, giàu tưởng tượng thích hợp với Halloween sắp tới. – That’s the spirit! Lol,. Giving you a warm, welcoming pip hug / Đó là tinh thần Halloween, Gửi cho bạn một cái ôm ấm áp và thân thiện – Earth Angel

5- Its poetry / Đó là thơ – Kalle

6- This is such a wonderful, image rich, quirky poem! I’m not sure who Khe.Im is, eg. a well known poet” or if the translation is accurate, but it doesn’t matter, it’s one of those poems I can get excited about. om beautiful god, hallelujah! www.chanlily.deviantart.com (không còn hoạt động – được thay bằng https://poets.org/poem/black-cat) for art and visual poems / Đây là bài thơ tuyệt vời, giàu hình ảnh, quanh co. Tôi không biết Khế Iêm là ai, chẳng hạn như một nhà thơ nổi tiếng (Rainer Maria Rilke – 1875-1926)? hoặc sự chuyển dịch có chính xác không, nhưng không thành vần đề, đó là bài thơ làm tôi kích thích. – Blissbuhda (poetry.about.com)

7- This is a very strange poem. I like it a lot, it has something mysterious. Perfect for this Halloween day / Đây là bài thơ lạ. Tôi rất thích, nó chứa đựng điều gì bí ẩn. Toàn bích cho ngày Halloween.– Sweets America

8- I agree… this is a very strange poem. I really don’t know how I feel about it actually. I do think the strangeness of it makes it appropriate with Halloween now here but it’s a weird one / Tôi đồng ý … đây là bài thơ lạ. Tôi thực sự không biết cảm giác của mình ra sao. Tôi nghĩ sự kỳ lạ đó rất đúng với Halloween bây giờ, nhưng nó rất kỳ quặc. – Xillus Xavier

9- A bit more dark but real / Một chút tối hơn nhưng thực – It is visual and interesting / Nó trực quan và thú vị – Stephen

10- Hi! Khe Iem… welcome… this one was intriguing to read… I liked it but was confused in a few parts…I would say it might read better to fiddle with the line breaks some… I’ll show you what I might do if it were mine… / Đây là bài thơ hấp dẫn để đọc. Tôi thích nó nhưng cũng có phần bối rối. Tôi muốn nói sẽ tốt hơn nếu sửa lại vài vài dòng … Nếu là tôi thì tôi sẽ thay đổi như sau:

THE BLACK CAT

by Khe Iem - translated by J. Do Vinh

The black cat with my soul and a piece of my rib,
wakes up every morning not washing its face,
every morning not brushing its teeth;
the black cat with clay-like eyes, opening

and closing, or opening and never closing,
as it climbs up and down the stairs, dragging
with it my soul and a piece of my rib, forgetting
that i had lived much darker days,

since when and why it was i had buried
them in my pocket full of allusions, gathered
from many different tales, strung together
to make up this story about the black cat

with my soul and a piece of my rib;
of course, that is the black cat with clay-like
eyes, not any other kind of eyes;
even as, the black cat climbs up

and down the stairs.[/quote]

good luck with it… – Carollynn

11- i thought this poem was different but very unique i liked it / Tôi nghĩ bài thơ rất khác nhưng lạ thường. Tôi thích nó. – Lyricalo29

12- Wow!  Striking read, KI / Đọc hấp dẫn – Thanks for posting it – Maggie

13- Hey, Khe.Iem,
I’ve decided that I’m definitely a fan. You’ve got an interesting take on things and obviously know your craft. Love this. / Tôi quyết định là người hâm mộ bạn. Bạn gây được sự chú ý và rõ ràng biết được kỹ năng của mình.
I do have a suggestion… when you post your work, please put your name in the subject title. It allows readers like me, who have limited time to visit this site, to find your work more easily. I never have time to read them all, let alone comment, as much as I’d like to / Tôi đề nghị, khi nào post thơ lên xin ghi tên ở đầu bài. Nó cho phép người đọc như tôi ít có thời gian thăm website này, để tìm bài thơ của bạn dễ dàng hơn. Tôi không có thì giờ nhiều để đọc hết – Deb

14- Thanks for this, a fine poem. Always hard to make a critique of a translation, but did just wonder if you could find something more concrete for ‘allusions’ to go in the pocket. Wondered if  ‘keys’ would work, with their metaphorical significance. Just a thought. (I change to “notes” – KI). / Cám ơn về một bài thơ hay. rất khó để phê bình một bài dịch, nhưng nếu bạn tìm từ nào cụ thể hơn thay cho ‘allusions’ (ảo tưởng) để bỏ vào túi. Nếu chữ đó có ý nghĩa ẩn dụ. Chỉ là một suy nghĩ (Tôi đổi là ‘notes” những chú thích) – Milner

15- I like it very much, it has a great rhythm and repetition, even for what I understand is a translation. I can’t make any suggestions for improvements, I like it just as it is. Thank you for sharing. / Tôi thích lắm, nó có nhiều nhịp điệu và lập lại dù tôi biết đó là bài thơ dịch. Tôi không có gì đề nghị sửa đổi. Tôi thích nó như vậy. Cám ơn đã chia sẻ. – Star_Anise, President of AFFOPM

16- I daresay you have poetic talent. I like this poem quite a bit, and expect it is much better sans translation / Tôi dám nói bạn có tài thơ. Tôi khá thích bài thơ này, và hy vọng nó là bản dịch tốt hơn nhiều. – AwayAloneAlastAloved

Kim Kiều tái hợp
Tranh Mai Trung Thứ
“Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên”

Đoạn kết cuộc, Thúy Kiều đoàn tụ với gia đình, đánh đàn cho Kim Trọng nghe.


Rainer Maria Rilke - 1875-1926

A ghost, though invisible, still is like a place
your sight can knock on, echoing; but here
within this thick black pelt, your strongest gaze
will be absorbed and utterly disappear:

just as a raving madman, when nothing else
can ease him, charges into his dark night
howling, pounds on the padded wall, and feels
the rage being taken in and pacified.

She seems to hide all looks that have ever fallen
into her, so that, like an audience,
she can look them over, menacing and sullen,
and curl to sleep with them. But all at once

as if awakened, she turns her face to yours;
and with a shock, you see yourself, tiny,
inside the golden amber of her eyeballs
suspended, like a prehistoric fly.


Hường Thanh 

MÈO ĐEN

buổi tối hay là lúc rạng
sáng tôi chợt nhìn thấy con
mèo đen nó đi qua tôi
từ phía sau như đi qua
tâm hồn tôi đi qua từ
những điểm tối tôi mà đến
với hành lang trước mặt nó

6.2014 (Trích Báo giấy số 5)


Pubblicato da immagine.poesia.over-blog.it – “THE BLACK CAT” poem by KHE IEM, Viet Nam


ĐỌC TRUYỆN CON MÈO ĐEN CỦA 

Edgar Allan Poe


ĐỌC EBOOK TRÊN ISSUU


MUA SÁCH 
https://tiki.vn/vu-dieu-khong-van-p36501264.html


 

 

4 TẬP THƠ TÂN HÌNH THỨC 2019: PHẦN 1 – DẤU MỐC

PHẦN 1:

DẤU MỐC bản Bìa cứng ( Hard cover ).

Một vài nhận định về thơ Tân Hình Thức của các tác giả Khế Iêm, Hà Nguyên Du và Phạm Quyên Chi viết thay lời tựa cho tập Dấu Mốc của Nguyễn Lương Ba.

 

VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

KHẾ IÊM :

Triết gia Hy lạp, Aristotle (384-322 BC) cho rằng ngôn ngữ nói có trước ngôn ngữ viết, ý tưởng trực tiếp đến với người nghe nên ngôn ngữ nói là ký hiệu của ý tưởng, và ngôn ngữ viết là ký hiệu của ký hiệu. Nhưng theo triết gia Pháp, Jacques Derrida, chủ xướng chủ nghĩa hậu cấu trúc (Poststructuaralism), mỗi ký hiệu sẽ không hoàn tất nếu không nằm trong tất cả những ký hiệu khác. Điều này cho thấy, một nền thơ nếu cứ bất động và đứng lại với vần điệu và tự do, sẽ không còn là thơ đúng nghĩa. Cuối thập niên 1980s, thơ tự do Mỹ bị cáo buộc, không còn người đọc và đã chết; và thơ thể luật hồi sinh trở lại. Nhưng đến đầu thập niên 2000s, thơ thể luật cũng phải chuyển sang cách diễn đọc, giống như thơ cao bồi và thơ slam. Cần nhắc lại, “bản chất thơ là sáng tạo, mà sáng tạo thì phải thay đổi.” Thay đổi ở đây có nghĩa là thay đổi cách làm thơ, tạo thêm một thể thơ mới. Thay đổi hình thức sẽ làm thay đổi nội dung. Thơ Tân hình thức Việt là một thể thơ, với hai đặc tính: ý tưởng và nhịp điệu. Ghi nhớ, ý tưởng đến từ thực tại qua năm giác quan, chứ không phải từ những viễn tưởng.

Cũng cần nhắc lại, thơ tự do khởi đầu với tập thơ Lá Cỏ (Leaves of Grass) của nhà thơ Mỹ Walt Whitman, 1855, kết hợp giữa văn xuôi và cú pháp song song theo bản dịch kinh thánh thời King James, với những câu thơ dài. Nửa thế kỷ sau, chủ nghĩa Hình tượng (Imagism), T. S. Eliot phần mảnh (frag¬ment) ý tưởng,vặn vẹo cú pháp, tạo thành một dòng thơ khó hiểu. Đến thập niên 1950s, với phong trào Black Mountain, tạo thành một cấu trúc thơ với những nhóm chữ biệt lập, phải phân tích mới hiểu. Cuối cùng, phong trào thơ Ngôn ngữ, ảnh hưởng chủ nghĩa Hậu cấu trúc thập niên 1960s, tách lìa chữ và nghĩa, bài thơ vô nghĩa, và ý nghĩa nằm trong lý luận của người làm thơ. Tóm lại, thơ tự do là một dòng thơ lý trí, chủ vào chữ, thiếu nhịp điệu và ý tưởng liền lạc, hoặc đơn giản chỉ là dòng dài dòng ngắn, ghi xuống những suy nghĩ rời rạc của người viết, bắt đầu thời hiện đại và chấm dứt vào thời hậu hiện đại, cuối thập niên 1980s. Hay nói khác, thơ tự do là một dòng thơ đã qua, thuộc về thế kỷ 20. Và một điều ghi nhận nữa, nếu thơ tự do chủ vào ngôn ngữ, và là một loại thơ khó, cần tới phê bình, thì thơ Tân hình thức Việt trực tiếp với người đọc, qua ngôn ngữ đời thường, không cần bất cứ sự đánh giá nào của bất cứ ai.

Về thơ Thạch Tốt ( bút hiệu của Nguyễn Lương Ba) nội dung bao gồm: miêu tả cảnh tượng mùa đông Bắc Mỹ (Cư Xá Mùa Đông); tâm sự (Con Đường Có Ngọn Đèn Đỏ, Con Đường Không Giới Hạn); sinh hoạt thường ngày (Bốn Giờ Sáng, Hội Đồng Hương, Tiệm Giắt Ủi); hồi tưởng (Trong Thành Phố Này, Đêm Không Cùng, Đi Qua Dòng Sông) … Nói chung là những câu truyện kể với những ý tưởng liền lạc theo tiêu chuẩn thơ Tân hình thức Việt. Ngoài ý tưởng, nhịp điệu là yếu tố chính của thơ Tân hình thức Việt, vì nếu không có nhịp điệu thì không thể lôi cuốn người đọc. Điều này tùy thuộc tài năng của người làm thơ. Nhịp điệu thơ tạo thành từ sự lập lại câu chữ hay những thanh âm bằng trắc ở khắp bài thơ. Chúng ta có thể nhận ra nhịp điệu qua sự lập lại chữ:

như lá

Vàng rơi trên lối đi mùa thu
mùa thu đã tới, lá đã rơi
lá rơi rồi lá sẽ khô. Lá
sẽ lạnh lẽo.

bốn giờ sáng đề máy
xe nổ rẹt rẹt rồi
chiếc xe đổ rác lại
đến đổ rác…

Nói tóm lại, thơ Tân hình thức nối kết giữa tự do và vần điệu, làm thành một thể thơ mới. Là một dòng thơ mới, số người tham gia không nhiều, nên chưa thể hiện được hết những khả năng diễn đạt của thơ. Chúng ta trân trọng những nhà thơ đã đến với Tân hình thức, vì nếu không có họ, đã không có phong trào thơ Tân hình thức như hiện nay. Và nhà thơ Thạch Tốt là một trong những nhà thơ khởi đầu của dòng thơ này. Xin giới thiệu đến bạn đọc.

HÀ NGUYÊN DU :

Xuyên qua cách viết các thể loại truyện hay thơ, đều ghi nhận lại và viết ra từ nguồn ý tưởng, ký ức hay hoài niệm đời sống của tác giả.
Ở đây tôi chỉ nói về Thơ. Dù thể loại thơ nào, cũng mang tính rất căn bản và tất yếu là ít nhiều mang tính chuyện kể, như đời sống thường nhật trong giao tiếp của mỗi người với nhau, từ địa hạt nhỏ của mỗi cá nhân, gia đình đến xã hội rộng lớn. Tính truyện kể là một tín hiệu đương nhiên của con người. Tín hiệu phát ra từ lời nói, từ ngôn ngữ hay bài viết hoặc qua các loại hình nghệ thuật như ca, kịch ,diễn ngâm…
Riêng về tín hiệu mới mẻ phát ra từ phong trào cũng rất mới mẻ chưa từng có xưa nay, bắt đầu mở ra từ năm 2000 của thế kỷ trước do nhà thơ Khế Iêm chủ xướng…( sự phản ứng như một đương nhiên của tiền lệ xưa nay qua các phong trào, hoặc dị ứng hay không ủng hộ). Điều thú vị là các sự thể ấy ngày một ít đi, nhường lại phần nhiều giới trẻ ở trong nước. Sự tham dự vào phong trào thơ THT này có thể so sánh như một đóa hoa nho nhỏ, ngày một nở rộ nở chúm chím… Nở với tính rộ, tính rộ mới phát như một khiêm nhường.
Tôi thích bài thơ Tân Hình Thức của nhà thơ Nguyễn Lương Ba, như bài “Cánh Cửa” có thể so sánh như mang những hình tượng vừa siêu thực vừa hiện thực trong thi ca. Xin trích dẫn:

Cánh cửa như cánh hoa
mười giờ trước cửa luôn
mở em ạ ! giờ yên
vui hớn hở có thấy

gì căn nhà hình như
vừa sáng nay hoa mười
giờ trong trái tim anh
em dưới hiên nhà chùm

cúc vàng là em đó
em đi xa có thấy gì
cánh cửa vẫn mở những
sớm mai trầm lặng tôi

nói yêu em yêu em
một ngày nào đó( vầng
trăng làm chứng)? Để bây
giờ…vẫn rơi vẫn rơi…

Bài thơ vui vui, chắc cảm xúc của tác giả khi nói “Sớm mai trầm lặng tôi NÓI YÊU EM” Nhất là vui vui mà lại buồn buồn, khi bài thơ THT mang tính liên văn bản với nhạc:” tôi nói yêu em yêu/ em một ngày nào đó/ vầng trăng làm chứng…) (lời nhạc của nhạc sĩ Đức Huy)

Có thể lấy câu thơ THT liên văn bản để chúng ta nói rằng: Một ngày nào đó, thơ THT do thi sĩ Khế Iêm chủ xướng cũng có thể nói rằng: CÓ VẦNG TRĂNG LÀM CHỨNG… nhằm chứng minh sự sáng tỏ như vầng trăng… Với hy vọng ngày càng có nhiều người tham gia hơn.

04/22/2019.

PHẠM QUYÊN CHI :

Nhà thơ Mỹ Robert White Creeley đã từng viết : “Hòa bình đến từ những cuộc trò chuyện. Những bài thơ là hơi thở đầu tiên của cuộc trò chuyện đó”. Hay trong cả cái mà Ezra Pound đã nói rất thiết tha “Những gì yêu dấu đều còn lại, mọi thứ khác đều tan biến thành cặn bã”. Đúng quan trọng nhất là khi chúng phát âm rõ lại câu chuyện thường nhật của đời sống, vắt dòng một cách nhịp nhàng tạo ra ý tưởng mới mẻ bằng cảm xúc. Tôi đã tìm thấy tất cả trong dòng thơ THT Việt. Như bắt gặp được người bạn thành thực và để làm tốt người bạn ấy phải cởi mở thơ ra với mọi khả năng. Lúc đó chúng ta mới tìm gặp được thực chất đời sống của chúng ta.
_____________________________________

‘VŨ ĐIỆU KHÔNG VẦN’ VÀ NHỮNG SUY NIỆM VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC

‘VŨ ĐIỆU KHÔNG VẦN’ VÀ NHỮNG SUY NIỆM VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC
Trần Hoài Anh


Chưa bao giờ, đọc một tiểu luận về thơ mà sự ám ảnh của nó đối với tôi mạnh mẽ đến thế!? Ý tưởng réo gọi ý tưởng, tập tiểu luận là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm cẩn và sâu sắc về thơ, trong đó có thơ Tân hình thức đã cuốn hút, dẫn dụ tôi đi vào “ma trận” của những suy niệm về thơ mà ở đó, tưởng đâu gặp những diễn ngôn tắt tị, rối rắm, mơ hồ, nhiều khi đến khó hiểu như vẫn thường gặp ở một số bài nghiên cứu, lý luận, phê bình về thơ. Nhưng không, khi đọc tập tiểu luận Vũ điệu không vần của nhà thơ Khế Iêm, tôi luôn bắt gặp ở đó những suy tưởng chứa đầy sắc hương và ánh sáng. Đó là thứ hương sắc của tâm hồn, của cảm xúc và ánh sáng của trí tuệ với những luận giải về thơ đầy chất triết luận và một tình yêu thơ ca mãnh liệt, thể hiện một khao khát cháy bỏng về hành trình đổi mới thơ Việt mà thi nhân xem đây như một sứ mệnh được lịch sử thi ca dân tộc giao lại cho thế hệ mình.


Trong suy luận của Khế Iêm, thơ Tân hình thức không chỉ là thơ của một thế giới khác lạ, dị thường như người ta vẫn nghĩ một cách thiển cận, mà đó là thơ của cuộc sống đời thường, của thế giới tâm tưởng, của hoài niệm và ước mơ. Bạn hãy cầm và đọc tập tiểu luận đầy sức ám gợi có tên “Vũ điệu không vần” sẽ thấy những điều tôi cảm nhận và chia sẻ với bạn không phải là vu vơ, là không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Bởi, nói như nhà thơ Khế Iêm “Những ngành khác có thể đưa chúng ta đến vinh quang nhưng thơ ngược lại, đưa chúng ta trở lại đời thường, mà đời thường thì có cả những dị thường”. (1) Cái “dị thường” ở đây, phải chăng là sự thể hiện một hệ giá trị của “cái khác”, của “sự khác”, là sự làm mới cái bình thường này bằng nột cái bình thường khác. Và đây chính là một trong những yếu tính trong sáng tạo thơ ca. Mệnh đề có tính triết luận này nghe rất lạ nhưng lại rất gần gũi. Bởi, cuộc đời vốn là nơi trú ngụ của những cái bình thường và chính những cái bình thường này là thước đo để kiểm chứng mọi giá trị, trong đó có giá trị thơ ca. Thơ Tân hình thức là thơ của đời thường nên nó không thể không hiện hữu giữa đời thường. Bởi, nói như nhà thơ Khế Iêm: “Thơ không còn tùy thuộc vào nỗ lực từ cá nhân mà là những vận động rộng lớn của cả một thế hệ, như một trào lưu, xác định tiếng nói và bản chất của một nền văn hóa ở một thời điểm đặc biệt của lịch sử thi ca. Nhưng nhà thơ khi chọn một ngôn ngữ bởi sự quyến rũ và lòng yêu mến, và là ngôn ngữ họ có khả năng nhất để biểu hiện thơ, ở đây là tiếng Việt, cớ gì không hợp quần, nhiều phong cách làm một phong cách, nhiều tiếng nói làm một tiếng nói, thành một phong trào đầy tự tin và hào hứng. Điều này đòi hỏi chúng ta phải xóa bỏ những định kiến và tự mãn cá nhân, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trong tinh thần giống như thi pháp đời thường, có gì là quan trọng và ghê gớm đâu”. (2)

Trên cuộc đời, mọi cái đều diễn ra bình thường, thậm chi vô thường, mà nhà thơ Khế Iêm gọi là “thi pháp đời thường” nên thi pháp thơ, trong đó có thơ Tân hình thức cũng không nằm ngoài tâm thức ấy. Đến với thơ là trở về với “thi pháp đời thường”, để người ta có thể chia sẻ những vấn đề “bình thường” trong cuộc sống, nhằm tìm lại cho mình những giây phút an nhiên. Đây là một nhu cầu không chỉ của người đọc thơ mà cũng là của người làm thơ. Khi chia sẻ những điều ấy, mỗi nhà thơ có thể chọn cho mình một phong cách, một thi pháp, một kiểu ngữ ngôn riêng theo mỹ cảm của mình mà thơ Tân hình thức là một trong những kiểu thi pháp ấy. Và sự phủ định lẫn nhau giữa các kiểu thi pháp, các trường phái, trong sự vận động và phát triển của thơ và hành trình sáng tạo của mỗi nhà thơ là điều tất yếu của qui luật sáng tạo. Thế nên, việc chúng ta mở lòng và chuẩn bị tâm thế đón nhận những thi pháp mới, trong đó có thi pháp thơ Tân hình thức cũng là một ứng xử văn hóa của việc tiếp nhận và sáng tạo thi ca. Ta hãy nghe nhà thơ Khế Iêm chia sẻ để thấu hiểu hơn về sự chọn lựa thơ Tân hình thức của mình: “Đề cập tới thơ cổ điển, tiền chiến hay thơ tự do Việt không phải là để phán đoán. Mà rút ra từ kinh nghiệm của chính tôi. Ở thời kỳ đầu, tôi làm đủ thể loại từ thơ vần đến thơ tự do, chủ ý làm mới cảm xúc và ngôn ngữ và thấy rằng cũng chỉ làm mới Tiền Chiến, và nếu có một chút giá trị thì đó là giá trị của một chặng đường đã qua (tập thơ Thanh Xuân). Tới thời kỳ thư hai, tôi thoát hẳn ra bằng cách sử dụng dòng động lực và sự chuyển động của ngôn ngữ, đi tìm một cấu trúc mới (tập thơ Dấu Quê). Tiếp tục theo đó là những kết hợp giữa thơ và nhiều nguồn khác nhau như thơ và kịch, kể cả bằng graphic… và tưởng rằng đã đi khá xa so với thời kỳ đầu”. (3) Nhưng rồi, thi nhân đã không thể vượt qua chính mình trong hành tình sáng tạo, bởi sáng tạo nào cũng không chấp nhận sự đứng lại, sự đóng băng, sự trì trệ, bảo thủ khi mãi giam mình trong một “thành trì” tưởng chừng vững chắc, nhưng đó là sự vững chắc nhằm che chắn cho những giới hạn và thất bại của mình, điều này hoàn toàn đi ngược với qui luật của sự sáng tạo, trong đó có sáng tạo thi ca. Và, theo nhà thơ Khế Iêm: “Vấn đề không phải đi xa hay đi gần mà tôi nhận ra thơ có quyền năng và chỉ có thơ mà thôi, cho chúng ta biết giới hạn và thất bại của mình. Nhà thơ đều là những kẻ thất bại và nếu không nhận ra điều đó, có lẽ chẳng bao giờ họ trở thành nhà thơ.” (4) Vì thế, cũng theo nhà thơ Khế Iêm: “Thất bại làm cho nhà thơ nhận ra được chính mình và mọi người, thúc giục họ phải đi tới mãi, cho đến bao giờ không còn đi được nữa. Phủ nhận chẳng qua là phủ nhận những thất bại để làm một thất bại khác. Vấn đề là thất bại lớn hay nhỏ, và chúng ta có dám đối mặt với nó hay không”. (5) Có thể nói, hành trình đến với thơ Tân hình thức của Khế Iêm, theo chúng tôi, cũng là một thể nghiệm và đúng hơn là một thực nghiệm cần thiết trong quá trình sáng tạo để tìm ra một hướng đi mới cho thơ anh cũng như thơ Việt. Và, sự thể nghiệm này, mặc dù còn nhiều gian nan, trở ngại nhưng đó là những gian nan, trở ngại cần thiết để cứu rỗi thơ. Nếu thi sĩ, những người có thiên chức sinh dưỡng thơ vì sợ thất bại, để rồi, không chịu sáng tạo cái mới, cứ ẩn mình trong bầu khí quyển quen thuộc, hít thở không khí quen thuộc, không dám dấn thân đi tìm chân trời mới cho thơ thì khác nào từng bước tiễn thơ đến “nghĩa địa văn chương”. Vì thế, để cứu sống thơ không có con đường nào khác, phải luôn đổi mới thơ. Và thơ Tân hình thức trong suy niệm của nhà thơ Khế Iêm là một trong những phương cách làm mới thơ. Nhưng cách làm mới trong thơ Tân hình thức theo nhà thơ Khế Iêm “chẳng dừng ở quan niệm làm mới, vì đó là phương cách của thời hiện đại, mà dùng thể truyền thống hòa trộn với chất hiện đại (bao gồm thơ tự do) giống như kiến trúc hậu hiện đại, tạo thành một thể lai, hoàn toàn khác, không những hóa giải và làm tan biến truyền thống, mà cả hiện đại”. (6)

Như vậy, trong suy niệm của nhà thơ Khế Iêm, thơ Tân hình thức không phải là cái gì hoàn toàn mới lạ và xa lạ mà nó là một sự làm mới lạ những cái vốn đã cũ, thậm chí quá quen thuộc, để phù hợp với khí quyển của thời đại lịch sử và văn hóa mới, hầu tạo ra sân chơi mới, diễn đàn mới, một lực hấp dẫn mới cho thi nhân cũng như người đọc. Vì thế, chúng ta không nên thờ ơ, xa lạ, thậm chí phản kháng thơ Tân hình thức mà hãy đến với nó bằng tất cả sự đam mê hiểu biết, khám phá và sáng tạo, chúng ta sẽ nhận ra chân giá trị trong sự đổi mới của thi pháp thơ Tân hình thức vốn cũng không có gì xa lạ với cảm quan mỹ học trong thi pháp thơ Việt truyền thống. Bởi, “Đổi mới thơ, chính là đổi mới phương cách tạo nhạc, luật tắc và phương pháp biểu hiện. Thơ cổ điển và Tiền Chiến phải ngâm, thơ Tân hình thức chỉ để đọc, nhưng khác với thơ tự do trước đó, thơ Tân hình thức có những luật tắc căn bản để tạo thành nhịp điệu, và người làm thơ theo đó phát huy được nhạc tính cho thơ. Khi đọc chúng ta, cảm thấy thanh thoát tự nhiên, như đang hít thở không khí, gặp gỡ ngoài đường phố, giao tiếp với bạn bè và với mọi người. Đó là thứ âm nhạc trò chuyện (music of conversation), phong phú và hàm súc, mỗi lúc mỗi khác và những khoảng khắc có thực của thực tại. Thơ được chắt lọc và bước ra từ thực tại, mà thực tại thì không nằm ở trong mù sương, thuộc về quặng mỏ chứa đầy chất đời”. (7) Và, cũng như các thể loại văn học khác, thơ Tân hình thức, một trong những thể loại thơ bắt nguồn từ cuộc sống và trở lại phục vụ cuộc sống, thắp sáng ước mơ của con người, giúp con người đi về phía ánh sáng chứ không phải “ở trong mù sương”. Và để làm được sứ mệnh cao cả ấy, thơ nói chung, trong đó có thơ Tân hình thức rất cần sự dũng cảm vượt thoát chính mình của các nhà thơ. Bởi, hơn ai hết, nhà thơ là người có đủ quyền lực và năng lực đập tan cái vỏ kén, để cho con tằm “thơ” nhả ra chất tơ óng mượt, lung linh của thơ. Nhưng trong suy nghĩ của nhà thơ Khế Iêm “bây giờ có lẽ còn quá sớm để tiên đoán, thơ có ra khỏi và làm một bước ngoặt mới, tùy thuộc vào những nhà thơ có dám dứt khoát với những giấc mộng đêm qua”. (8) “Giấc mộng đêm qua”. Đó là những ám ảnh của quá khứ, của thói quen, của sự bảo thủ nên thi nhân phải tạo cho mình một quán tính mới, biết “chất vấn thói quen”, phải tự mình phân tích, luận giải trước những ám ảnh của quá khứ, của thói quen để luôn đổi mới mình, đổi mới thơ và tự tìm cho mình những con đường mới, chân trời mới mà thơ Tân hình thức là một trong những chân trời để thi nhân chọn lựa!?

Song, trong văn chương để cho một thể loại được tồn sinh không chỉ lệ thuộc vào người sáng tạo ra nó là nhà văn hay nhà thơ mà còn lệ thuộc ở người tiếp nhận. Đó chính là người đọc. Bởi, một văn bản chỉ trở thành tác phẩm văn học khi văn bản đó được người đọc tiếp nhận. Vì thế, thể thơ Tân hình thức muốn tồn tại, không những cần có sự đổi mới trong tư duy sáng tạo của nhà thơ mà còn cần có sự đổi mới trong tư duy tiếp nhận của người đọc. Nghĩa là, người đọc cũng phải làm quen với việc tiếp nhận thi pháp thơ Tân hình thức như làm quen với một món ăn mới và đưa nó vào thực đơn thơ một cách tự nhiên, để làm phong phú mỹ cảm tiếp nhận thơ của mình. Có như thế, thơ Tân hình thức mới hiện hữu trong đời sống văn chương như tác giả Vũ điệu không vần đã xác quyết: “Cuối cùng cần nhấn mạnh một lần nữa, thơ Tân hình thức gồm ngữ điệu tự nhiên của những câu nói thông thường, vắt dòng và kỹ thuật lập lại. Vấn đề là sử dụng kỹ thuật lập lại làm sao để chuyển nhịp điệu từ những biến cố tự nhiên thành nhịp điệu thơ, không bài thơ nào giống bài thơ nào, điều đó tùy thuộc tài năng và kinh nghiệm của từng nhà thơ, vừa đơn giản vừa phức tạp, là một ẩn số khó ai nói trước. Những nguyên tắc đó và yếu tố thơ đóng vai trò, là giao ước ngầm giữa người đọc và tác phẩm, giúp người đọc nhập vào với những biến chuyển và tình tiết của bài thơ.” (9)

Trong những suy niệm của nhà thơ Khế Iêm, vai trò của người đọc trong thơ Tân hình thức có vị thế vô cùng quan trọng. Người đọc đã trở thành một thành tố đồng sáng tạo với nhà thơ, quyết định giá trị và sự tồn sinh của tác phẩm thơ. Bởi, “Một bài thơ luôn luôn hàm chứa hai yếu tố, vừa quen (thể luật, nguyên tắc) để lôi cuốn và dẫn dụ người đọc, vừa lạ (nhịp điệu, tư tưởng) để hướng người đọc vào thế giới sáng tạo. Như vậy,“khi mang những câu nói thông thường vào trong thơ, nói lên tâm tình của nhiều tầng lớp xã hội, nếu chỉ lọc ra những yếu tố thơ thì chưa đủ. Hiệu ứng cánh bướm sự phản hồi và lập lại và những vận hành tự nhiên của thiên nhiên, như một đàn chim bay, một dòng sông, sự tuần hoàn của máu trong cơ thể, một cơn lốc xoáy một đám cháy rừng… sẽ cho chúng ta những ý niệm vô cùng tận để tạo nên nhạc tính phong phú và biến đổi không ngừng cho thơ Tân hình thức. Có nghĩa là mọi chuyện đã sẵn sàng, chỉ còn chờ ánh lửa tài năng của nhà thơ bừng sáng, như trong thí nghiệm về sự đối lưu chất lỏng của Lorenz”. (10)

Không chỉ quan tâm đến hành trình sáng tạo của nhà thơ cũng như sự tiếp nhận của người đọc, trong suy niệm về thơ Tân hình thức, nhà thơ Khế Iêm còn quan tâm luận bàn đến một số phương diện nghệ thuật mà theo cảm nhận của ông, trong một bài thơ Tân hình thức: “Chử nghĩa, hình ảnh bóng bẩy và cầu kỳ không còn, chỉ còn sự đơn giản tự nhiên như một dòng đời sống. Vần và chỗ ngắt không bất di bất dịch chỉ ở cuối dòng, mà cũng giống như thơ tự do xuất hiện ở những chỗ không thể đoán trước”. (11) Đồng thời, để định hướng cho sự sáng tạo và cảm nhận thơ, Khế Iêm cũng bàn đến tiêu chuẩn một bài thơ hay mà theo quan điểm của ông: “Cái hay của thơ Tân hình thức Việt là cái hay của ý tưởng và nhịp điệu. Ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu, nhưng nhịp điệu và ý tưởng phải mới mẻ và sâu sắc.” (12)

Và để cho thơ Tân hình thức hiện hữu trong cuộc sống con người cũng như trong đời sống văn chương rất cần không chỉ tài năng của nhà thơ, sự tiếp nhận của người đọc mà còn cần sự đồng thuận trước cái mới, cái lạ của cộng đồng, của xã hội. Bởi, lâu nay trong cõi nhân sinh đầy nhiêu khê này, cái mới bao giờ cũng đem đến sự ngờ vực, thậm chí sự phản kháng. Chẳng thế mà Galieo, một nhà thiên văn học, vật lý học, toán học, triết học lỗi lạc của nước Ý đã bị tòa án Giáo hội ở Roma cho là dị giáo, bị quản thúc cho đến lúc qua đời khi ông luôn khẳng định và tuyên truyền cho “thuyết nhật tâm” của mình!? Thơ tân Hình thức mà nhà thơ Khế Iêm đang dấn thân, đang cổ xúy với tất cả sự nhiệt tâm của mình cũng không nằm ngoài qui luật ấy. Nhưng tôi tin cái mới rồi sẽ chiến thắng, sẽ có vị thế xứng đáng giữa cuộc đời, vì cái mới bao giờ cũng là tín hiệu của tương lai, của phía trước nên nó rất cần cho cuộc sống và con người.


Bàn về thơ Tân hình thức, có lẽ với tập tiểu luận Vũ Điệu Không Vần cũng chỉ là những khởi đầu của nhà thơ Khế Iêm, người đã tận hiến biết bao sức lực của đời mình cho sự tồn sinh của thơ, trong đó có thơ Tân hình thức. Nhưng dẫu sao với hơn ba mươi bài viết đầy chất triết luận về thơ trong đó có những bài tác giả đã bàn đến nhiều phương diện về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của thơ Tân hình thức như: “Chú Giải về Thơ Tân Hình Thức”; “Thơ và Hiệu Ứng Cánh Bướm”; “Thể Thơ Không Vần”; “Giải Hình Thức”; “Vũ Điệu Không Vần”; “Bài Thơ Tân Hình Thức Đầu Tiên”; “Thơ Tân Hình Thức Đọc”; “Thơ Tình – Từ Tiền Chiến Đến Tân Hình Thức”; “Tân Hình Thức –Nhắc Lại 10 Năm”; “Thơ Tự Do, Một Tiếng Gọi Khác”; “Thơ Bùi Giáng, Một Thử Nghiệm đọc”… Có thể khẳng định nhà thơ Khế Iêm đã trở thành một trong những “chủ tướng” của trường phái thơ Tân hình thức Việt, một thể loại thơ mà anh rất trân quí và muốn nó trở thành một sự tiếp nối tự nhiên trong dòng chảy thơ Việt từ truyền thống đến hiện đại. Và Khế Iêm xem vấn đề đem đến một sức sống mới để hiện đại thơ Việt là nhiệm vụ lịch sử của thế hệ hôm nay đối với con cháu mai sau, cho nên nhà thơ mong ước: “Chúng ta hãy cùng bước trên một con đường, dẫn dắt nhau, chẳng phải vì một cá nhân mình, mà cho sự hưng thịnh của thơ. Sự thất bại hay thành công không phải là điều quan trọng, mà là một dấu mốc cho những thế hệ mai sau, đỡ đi những vấp ngã.”(13) Bởi, theo nhà thơ: “Nhìn lại trong suốt một chiều dài lịch sử văn học, từ thơ cổ điển, Tiền Chiến đến tự do đã có những tác phẩm định hình cho nền thơ Việt”. (14) Vì thế, “chúng ta chỉ xứng đáng, và tiếp nối với công sức lớn lao của những thế hệ trước, nếu tìm ra được phương cách biểu hiện, tạo thành một chuyển tiếp, và chứng tỏ, thơ Việt vẫn là một nền thơ tràn đầy sức sống”. (15) Và con đường đến với thơ Tân hình thức là hướng mở cho thơ Việt đến với một hành trình mới, ở đó chúng ta sẽ tìm thấy những lối đi cho thơ Việt trên con đường hướng đến sự hội nhập và phát triển của thời kỳ toàn cầu hóa. Bởi, trong suy niệm của nhà thơ Khế Iêm thơ Tân Hình thức Việt là sự: “nối kết giữa quá khứ và hiện tại – quá khứ như một nửa giấc mơ được nhớ lại – giữa truyền thống và hiện đại, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, theo quan điểm Tân chiết trung.” (16) Và từ dòng chảy giữa quá khứ và hiện tại đó, thơ Việt sẽ vươn mình, cất cánh, tiến vào thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại của thơ ca thế giới…

Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp, 21/9/2019


Chú thích:
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13), (14) (15) (16) Khế Iêm (2019) Vũ điệu không vần, tr.18, tr.16, tr.17, tr.17, tr.18, 19, tr.18, tr.17, tr.17, tr.71, tr.72, tr.19, tr.525, tr.23, tr.23, tr.23, tr.525

ĐẶT MUA SÁCH TẠI ĐÂY

TUẦN THƠ 20: THƠ VƯƠNG NGỌC MINH

36,219 Magic Ball Stock Photos, Pictures & Royalty-Free Images ...

THƠ VƯƠNG NGỌC MINH


Vương Ngọc Minh – Mở Chữ, tập thơ tân hình thức (2016) | Tạp chí …

Độc giả biết đến Vương Ngọc Minh qua bút danh Lưu Hy Lạc, xuất hiện vào khoảng đầu những năm 90’s thế kỷ trước trên các tạp chí văn học tại California và là nhà thơ theo khuynh hướng Tân Hình Thức từ những ngày đầu khi trào lưu này được các nhà thơ Việt Nam, nhất là các nhà thơ trẻ đón nhận. Đã gắn bó với Tạp Chí Thơ – California từ những ngày đầu năm khoảng năm 2000. Ngôn ngữ trong thơ Vương Ngọc Minh trần trụi và phản ánh trực tiếp từ đời thường. Loại bỏ niêm luật, loại bỏ những từ hoa mỹ, óng mượt hay tô vẽ chải chuốt…nhìn trực diện đời sống không qua một lăng kính đa giác nào.

Tác phẩm đã xuất bản : Yên Đi, 1999, Tạp chí Thơ, 26 Bài thơ Tân Hình Thức, Giọt sương Hoa. Mở Chữ 2016, Tân Hình Thức Publishing Club


Ở NGÃ BA ÔNG TẠ 

vậy là tôi ngồi
đong đưa thân mình
sáu mươi mấy năm
ròng rã trên hàng

chén miệng mẻ cả
được sắp đặt hòng
hứng vàng tôi ngồi
đong đưa thân mình

như thế cũng chỉ
cốt sao cho tới
khải hoàn thì về
về dẫu chuyến chót

chuyến có vào canh
tư rạng mồng bảy
âm lịch hạ nêu
cũng về mày mặt

sạch hương sáng nước
cản bưng từng chén
miệng mẻ cả lên
đậy tuyền vàng ròng

đật ngang bàn thờ
Ông Tạ chừng đấy
thân mình mới chịu
thôi đong đưa thì

liền đầu đường (tiền
phương!) bỗng dậy vang
tiếng gọi nghe véo
von nửa thực nửa

ảo ngay đây và
ối giọng thơ trời
đất xởi lởi “anh
bảy về chơi!” chỉ

vậy nhưng cũng suýt
tôi lại để thân
mình lần này vừa
đong đưa vừa huơ

múa.

THỨ HAI Ở VỊNH CỰU KIM SƠN 

mới sáng sớm
làm bài thơ này
ngoài vịnh chắc chắn
còn đầy sương mù

nói như thằng tàu
(ngồi bàn kế tôi
hôm qua dưới chi
natown) thì – theo

phong thủy lòng vịnh
cựu kim sơn là
miệng rồng sương mù
phủ – ngập quanh năm

cho thấy đất này
vượng khí khá thuộc
đất thiêng ngậm câm
khi đấy ngày nay

mới sáng sớm tôi
mặc gió trộn lẫn
hơi nước biển thổi
thốc cho tái tê

lòng tôi làm bài
thơ này chưa xong
thì phóng khỏi giường
đến đứng giữa cửa

ngó táng lá phong
vừa úa vàng dưới
hàng hiên bầu trời
nguyên một màu đục

nhờ nhờ muốn gõ
xuống mặt màn hình
laptop diễn tả
cảm xúc nghe thu

đang đi qua dạt
dào và ngoài lòng
vịnh cựu kim sơn
là miệng rồng sương

mù phủ – ngập quanh
năm tiện tay bứt
tóc/ bưng đầu gãi
nom – chả khác khỉ

thực chẳng biết làm
gì chuyện mù sương
miệng rồng nghe từ
thằng tàu chỉ chừng

đó cực đột ngột
hai chân cứ phát
đưa – đẩy bước tới
lui lòng vòng quanh

buồng – trời ạ! sương
mù từ đầu tràn
lớp lớp khí chất
tình cảnh không vợ

con cái còn biết
phải nói sao (!) loay
hoay cố nhớ cảm
xúc khi nghe thu

đang đi qua khi
nãy hòng diễn tả
mới phát giác tôi
hiện chết mê chết

mệt – một ả mặc
dù khởi đi – trước
đó bản năng phòng
vệ tâm lí mách

bảo – có gì đấy (!)
không ổn khi đi
chết mê chết mệt
cái ả đĩ đấy!

 

LỜI NHÀ THƠ 

            gửi hư vô!

ngoài biển tự chì
chiết mình phải đến
mờ mịt mới thôi
mới trở lui trong

lúc từ biển đi
ngược về chúng cư
cứ cách 2 3
phút phát tự chì

chiết mình cùng với
những cái hắt hơi
(tôi chả hơi đâu
quan tâm!) bởi cùng

với những cái hắt
hơi thì cứ phát
tự chi chiết mình
trong tai cứ trỗi

văng vẳng một điệu
kèn nghe ra đúng
điệu kèn đưa ma (!)
rồi cũng về tới

chung cư khi đã
ở hẳn trong buồng
thì lại (loay hoay
tự chì chiết mình!)

sự chì chiết như
thế khiến hết đứng
ngây ngất thì ngồi
xuống tư thế xăm

xăm (tợ đạo tùy
đang đào/ bới!) chừng
chồm lên mở lap
top mới hay chữ

chì chiết dày dặc
màn hình ngỡ có
người nhớ tới mình
liền có cảm tưởng

vừa sống lại đâu
khoảng 15 phút

sững người tích tắc
phát phóng khỏi chung
cư (như sóc không
hề tự chì chiết

nữa!) đi trở ra biển
đang mới đầu tháng
mười còn hai tháng
hết năm nghĩ làm

sao sống sót trong
hai tháng đấy khiến
vừa tính cứ vừa
chì chiết!

10/ 2019.

SAN FRANCISCO 

“tim tôi ở san 
franciso” đấy 
là nhại lời một 
ca khúc nổi tiếng

của tony benn
ett tôi cho ban 
đêm chỉ là ban 
đêm nằm trong đêm

đếm tới ba chú 
ý tôi lớn ra 
nhiều và khi đếm
đến mười tôi càng

lớn đáng kể tất 
nhiên ban ngày cũng 
chỉ là ban ngày
ở ban ngày để

sống còn tôi ăn 
nhờ vào chữ (các 
chữ quốc ngữ!) như 
một thứ được nuôi

báo cô đêm hoặc
ngày tôi thường trực 
trú dưới trướng quỉ 
thần lắm lúc ủy

mị nói rằng “mọi 
người ơi tôi đang 
trú dưới cánh tiên 
nữ và hãy tin

tôi nhé!” trường hợp 
người khác ban đêm
bạn có đếm đến 
một tỉ đêm vẫn

là đêm đếm đến 
hai tỉ ngày vẫn
là ngày (chết tiệt!)
và bạn bắt chước

tôi ăn nhờ vào 
chữ (các chữ quốc
ngữ!) như một thứ 
được nuôi báo cô

cuộc đời vẫn là 
cuộc đời cũ (mốc) 
khốn khổ riêng với 
trường hợp tôi tồn

tại nổi chẳng qua 
đêm/ ngày ăn nằm 
cùng thơ do cùng 
quẩn người đời liệt

vào diện “chả phải
dạng vừa” na ná 
kiểu một trường hợp
cá biệt trái tim

đã buộc phải để 
hẳn ở san fran
cisco nhé! 

THỨ HAI

dưới mắt khu phố đang chìm 
sâu vào màu trời thảm đạm 
sương xám và heo may tím
phủ. tiếng đàn bà rú thảm

đỏng đảnh chỉ chực mê đắm 
và rồi bay tư thế câm 
đầu đông, chữ – nắm hổ lốn 
rải xuống không đầy sáu tấm

ngày đéo gì ngày đến lạ
vụt ngang tôi tuyền người cũ
ánh nhìn họ ngang mắt cá 
giờ lổ chổ khắp giấc ủ

dây tôi cầm dây xích chó 
trong đầu không cả một chữ
sống đây tợ sống lấy có
vậy mà hở chút “bỉ thử*”

con mèo bộ lông nâu sòng 
nó lấm lét trước chiếc bóng 
như thể chờ tôi chực ngáp 
thì cắp linh hồn tôi phóng

vào cuộc lữ cuộc nghi ngại
những má hồng giờ xa ngái
tôi xua con mèo “mày đi
đi để tiếng gà xưa gáy!”. 

LẠC NGOÀI ĐÊM

(thơ Tân Hình Thức.)

thoạt đầu khắp người ngứa ngáy
bật dậy rời khỏi giường (chiếc
giường chỗ ngụ cư lạc loài
về đêm!) rón rén tôi ra

mở hé cửa tuyệt đối chịu
trận đứng nép bên trong ngưỡng
cửa dỏng tai tôi nghe rõ
ràng có tiếng hai người đối

đáp hễ người này hỏi “nào..
đói chưa nào.. chơi chưa nào?”
lập tức người kia hô lớn
“ối.. cứt.. cứt hết!” cứ thế

hễ người này hỏi người kia
hô lớn tò mò tôi liều
chường hẳn mặt khỏi khung cửa
đảo mắt dáo dác ngó ngoài

hành lang ngó chung quanh tôi
(tuyệt đối!) chả có ai cả
còn đương hoang mang bất thần
tai nghe chuỗi tiếng ho (ho

sao như giựt giọng!) cố lắng
nghe thì chuỗi tiếng ho nhỏ
dần … nhỏ dần ngoái lui ngó
trở vô buồng a có người (!)

ai đấy hiện đang nằm trên
giường (chiếc giường chỗ an trú
hời hợt của tôi!) vội xoay
phắt 189 độ

tôi sẽ sàng đến bên giường
ghé mặt sát xuống cốt nhận
chân kẻ hiện đang nằm trên
chính chiếc giường mình (chiếc giường

chỗ ngụ cư chắc chắn của
hương) là ai cũng may do
gã ngửa mặt hai mắt mở
thao láo thoạt vào tôi nhận

thấy đấy một gã đàn ông
hoàn toàn xa lạ (chẳng rõ
tông tích và từ đâu lạc
tới mà trần truồng!) hết sức

kinh ngạc mồm tôi bật lảm
nhảm “không thể thế được … không
thể thế được!” ô kia toàn
thân gã đàn ông phát liên

tục giật nẩy sự giật nẩy
nhìn lúc thì cong vòng người
lúc thì tưởng chừng gẫy gập
chiếc giường run lên bần bật

như thể gã đương lạnh lòng (!)
mồm gã ngoác rộng rên rĩ
tiếng rên rĩ hệt tiếng con
cuốc nghe cực u uất “nhớ

nước đau lòng con quốc quốc*”
cứ thế tiếng rên rĩ kéo
dài bất tận hai mắt tôi
trố luôn ba bốn phút tợ

đứng tròng gã đàn ông bất
đồ trở người xấp mặt xuống
giường (chiếc giường chỗ ngụ cư
chắc chắn của tôi!) hai mắt

lại trố hết cỡ gần xây
xẩm mặt mày khi tôi tận
mắt thấy nguyên lằn dao chém
sâu hoắm hằn ngang lưng kẻ

hiện đang nằm trên chính chiếc
giường mình (chỗ ngụ cư chắc
chắn về đêm!) nom máu hãy
còn rươm rướm đỏ tươi ngạc

nhiên lẫn sợ hãi tôi bưng
mặt cào bỗng một tràng cười
đầy vẻ sảng khoái từ đỉnh
đầu tôi chụp xuống vang vang

dội vô tai nghe lanh lảnh
càng tá hỏa hơn nữa bởi
tôi phát giác ra người hiện
đang nằm trên chiếc giường mình

(chiếc giường chỗ ngụ cư chắc
chắn về đêm!) hóa chẳng ai
xa lạ mồm há hốc tôi
kêu lên “ê! Minh” và xởi

lởi “ôi mình tưởng cậu đã
chết mất xác ở xó xỉnh
nào rồi chứ … mà này … giờ …
cậu có thực không? hử … Minh …”

một gợi ý: tôi viết cái
này một mạch lên tường face
book khi đọc giữa các dòng
chữ đừng quá đa nghi cũng

như hời hợt hoặc hi vọng
bất kì điều gì!

LỜI NHÀ THƠ

… một mình âm ỉ đêm chầy
đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh *

mỗi người một số phận
tôi nhả vào hư vô
một miếng lớn sân – hận
mong lòng lắng như hồ

suốt đêm mưa rả rích
cứ vẽ lúc tim ngừng
đập – lũ gián diện bích
giữa khói ám một lưng

hễ tim đập – thảng thốt
đếm tiếng chân quỉ bước
bưng hủ đựng cốt tôi
chốc chốc nhẩy dựng – hí

đất nghe trời đãi bôi
mỗi người một phận số
hễ tim ngừng đập lại
vẽ ở mỗi mảng tối

giọng đàn bà the thé
hỏi “gì?” quả buồn hơn
khi đêm con cú chẳng
lên lời xoải cánh chả

cất nổi tợ bị ếm
đường bay chao đảo – ôi
người cầm giữ hơi thở
tôi (có phải nàng thơ!)

dưới giọng nói rả rích
hay giọng gió ở đầu
bãi tôi moi lồng ngực
lôi quả tim bầm giập

gieo người nằm sấp ngoài
mộng nhiễu hương sáng tỏ
hơi đàn bà tràn ngập
trở mình mẩy đặng ngã

giá mùi xác chết phân
hủy nghe nói kèn đưa
ma (rền!) vang liền ba
ngày khói nhang dậy khắp

mỗi người một số phận
chắc cú!

VÀO ĐẦU CỮ ĐÊM

hốt ném một số chữ
vào trời đất (hết sức
chung chung nhưng xin lỗi
bời chính tôi còn không

biết các chữ ấy chữ
gì (!) vừa lọt khỏi mồm
chúng lớn như thổi mạnh
mẽ vây quanh chỗ tôi

ngồi chả khác đám vệ
sĩ canh lăng tẩm đền
đài!) trong lúc ném số
chữ sống vào trời đất

bất thần tôi bị trượt
lăn hết sức chung chung
tuy nhiên lại kéo theo
vô số các chữ chết

(khác!) hiện tại tôi cùng
hết thảy các chữ đã
chết có còn sống nhăn
có chúng tôi nằm dưới

đáy hố thẳm những tưởng
chả cách gì gượng dậy
thì từ bốn bề tôi
nom thấy hết thảy các

chữ sống dậy (một cách
cực mới mẽ!) chúng vực
tôi lên đồng loạt chúng
tôi đi đi lại lại

hết sức chung chung khiến
cá nhân tôi phát chóng
mặt (hoa mắt!) mặc dù
giữa bóng tối dày (đặc

dưới hố thẳm!) tôi vẫn
có cảm giác mình với
bổn phận phải tiếp tục
ném cho hết số chữ

hễ vừa lọt khỏi mồm
lập tức chúng lớn như
thổi (cực mạnh mẽ!) vào
trời đất để chi (!) thực

ra một khi đã xem
cái chết nhẹ tợ cọng
lông chân thì có ném
đi hết các cái mới

hòng có lại được các
cái (khác dù rất chung
chung đi chăng nữa!)

BÀY CHỮ TRƯỚC HOLLOWEEN 

kẻ đồng hành với tôi, cũ càng
cho đến nay chưa hề than vãng
gã tiền thân – tiên sư bố anh
đeo đẳng chi (!) sao chả bổ báng

chốc chốc thì giật mình ngó mông
số phận hai bên phải / trái
trên lưng trước mắt miệng lỗ cống
ngay đỉnh đầu lỗ thủng tê tái

tâm trống hoác tức mới giở chứng
má đỏ mỏ xanh vào u tối
còng lưng chịu làm kẻ gánh trứng
đổ sông mãi không dợn bức bối

như tôi ấy – những chữ cơ nhỡ
đặt khẳm mũi tàu vô căn cớ
đợi tận vong đốt tiễn tống gió
đêm còn nghe trốt lật, trở. mớ

về sau xảy sự cố trân trối
chữ nghĩa choáng đã đành, còn tôi
vuốt mặt xem chừng chỗ ảo vọng
bệt máu vẫn tươi hay đã ối

hóa chuyện gì (!) thời gian liếm sạch
– loáng, sau trước tôi một kiếp mộng
mai đầu thai trở lại tách bạch
đâu, giữa em – biển cả – trời rộng

tôi gỡ tôi ra thế bị động.

EM (CO TINH CACH TAN HINH THUC!)

nghe nói về em
nào kim tiền/ con
chồng mấy lượt trở
về lại buồng tôi

vẽ chân dung em
biết là chống lại
sự lo (nghĩ!) chỉ
tổ càng thêm lo

(nghĩ!) vẽ vừa xong
tôi co chân tống
vào câu chuyện bao
đồng về em nào

kim tiền con chồng
mấy lượt một đạp
thực chẳng may lúc
co chân tống gấu

quần xách lên tất
lòng rơi ra nom
tất lòng một màu
trắng (bạc!) thay vì

lo (nghĩ!) viển vông
tôi cảm thấy yêu
tất lòng mình hơn
bao giờ lúc đấy

ngoài vịnh san fran
cisco bầy hải âu
bị thi sĩ pab
lo neruda
vặt trụi lông chúng

nhốn nháo căng thẳng
thấy thương quá một
phần câu chuyện về
em nào kim tiền

con – chồng mấy lượt
tôi nhắm không khéo
chuyện (tình cảm!) cá
nhân bao lâu nay

chôn chặt sẽ sống
lại sẽ lan nhanh
nơi nhân gian tương
truyền như điên như

khùng phát cứ hỏi
tới hỏi lui “lấy
chồng sớm làm gì..
ngày/ giờ em nào

kim tiền con … chồng
mấy lượt …” bất thần
ngó sang bên kia
(bờ thái bình dương!)

một thế giới khác
tôi thấy trên khắp
bức chân dung em
các con bồ câu

đang yêu nhau. đấy!

MỘT SỐ NHẬN XÉT TÁC PHẨM: “VŨ ĐIỆU KHÔNG VẦN”

 

“VŨ ĐIỆU KHÔNG VẦN” TẬP TIỂU LUẬN GIỚI THIỆU VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

“Sau 20 năm ra đời và phát triển của thơ Tân hình thức Việt từ ngoài lan tỏa vào trong nước, Vũ điệu không vần là thành quả tự nhiên về lý thuyết và thực hành, một khuynh hướng nghệ thuật, một loại hình thơ mới, trên nền tảng truyền thống và hiện đại của thơ Việt cũng như thơ tiếng Anh.”

 

                                                                                                 Nhà thơ Đỗ Quyên

 

“Trong Thuở Trời Đất Nổi Cơn Gió Bụi Đọc Chinh Phụ Ngâm, tôi đặc biệt thích thú và bị chinh phục sâu sắc với những kiến giải: Phản ánh thực tại Che giấu và làm sai lạc thực tại Sự vắng mặt của thực tại Hoàn toàn cắt đứt liên hệ với thực tại; dường như có sự khế hợp với bản nguyên tinh thần “Sắc sắc Không không” của nhà Phật.”

 

                                     PGS. TS Nguyễn Hữu Sơn, Tạp chí Văn học – Viện Văn học

 

“Thơ Tân hình thức là một thực hành khác của thơ Việt thuộc về thơ Việt, một thể thơ mới, lạ, độc đáo, mở rộng khả năng biểu đạt kỳ diệu của tiếng mẹ đẻ.”

 

 Nhà Nghiên cứu Phê bình Văn học Văn Giá

 

“Nếu thơ là phương tiện phát triển ngôn ngữ và văn học, đọc và viết, khơi dậy tưởng tượng, cảm xúc, khả năng ghi nhớ, cùng mối liên hệ giữa con người và thế giới chung quanh, thì Vũ Điệu Không Vần, cung cấp thông tin và kiến thức về thơ cho những người làm thơ, thúc đẩy khả năng sáng tác của họ, trên nguyên tắc: kiến thức + tưởng tượng = sáng tạo.

 

Một người bạn thơ, không làm Tân hình thức, cho rằng, ” Đọc thơ Tân hình thức tự nhiên không muốn đọc loại thơ khác nữa.” Và PGSTS Trần Hoài Anh, khoa Văn Hóa, Đại học Văn Hóa, gợi ý, “thơ Tân hình thức không chỉ là thơ của một thế giới khác lạ, dị thường như người ta vẫn nghĩ, mà đó là thơ của cuộc sống đời thường, của thế giới tâm tưởng, của hoài niệm và ước mơ.”

Cuối cùng là nhận xét của nhà thơ Mỹ, Dana Gioia, về phần tiểu luận dịch, “Những bài luận về kỹ thuật, như của bạn, rất quan trọng đối với các nhà thơ khác. Nó giúp họ làm rõ công việc của chính họ và làm sắc nét quá trình sáng tạo của họ.” (Essays on technique, such as yours, are very important to other poets. It helps them clarify their own work and sharpen their creative process.)

ĐỌC TRÊN ISSUU 

MUA SÁCH TẠI ĐÂY 

TUẦN THƠ 19: THƠ VƯƠNG NGỌC MINH 2

 

THƠ VƯƠNG NGỌC MINH
_____________________

 

VÀ GIỜ

Và giờ các bạn
hãy tập đọc cho
quen dần với thể
thơ tân hình thức

việc tôi đến ở
đời này quả sự
cố lớn và không
ngờ nơi sự cố

lớn ấy vô vàn
sự cố nhỏ (không
tin hỏi thượng đế
nhá!) và chưa bao

giờ ngay đây vô
vàn các sự cố
nhỏ đấy lại tức
thời cùng hiển hiện

khi tôi vào buồng
tắm đứng trước gương
(soi!) rất đời thường
vô vàn các sự

cố nhỏ tự bao
giờ đã bám kín
mặt gương tất nhiên
chả tài nào nhìn

thấy hình (vong!) tôi
phản chiếu lại hay
nói đúng hơn tôi
chẳng còn hiện hữu

trong gương nữa nên
nhớ tôi không cần
tới bất kì sự
giúp đỡ nào (dẫu

rằng đang rất buồn!)
hòng tháo gỡ vô
vàn các sự cố
nhỏ khỏi mặt gương

xem đây tôi vẫn
hết sức bình thường
mặc dù hình (vong!)
đã hết còn phản

chiếu lại hay nói
đúng hơn chả còn
hiện hữu trong gương
nữa một bằng chứng

hiển nhiên là tôi
vừa buộc mồm bảo
“đây đếch cần tới
bất kì sự giúp

đỡ nào- nhá!” tuy
nhiên hiện thời tôi
có cảm tưởng
thực quái lạ rằng

khuôn mặt mình đã
hoàn toàn thay đổi
từ tím tái trên
gương mặt bao lâu

nay hiện đã chuyển
sang hồng hào (hết
sức tích cực!) mồm
hoàn toàn hết lải

nhải cả chuỗi tiếng
gừ gừ/ máu hết
từ cổ tuôn xuống
trụ ngang mắc cá

chân (đòi giữ nước!)
hễ mở mồm chào
bất kì ai lời
trở nên cực từ

tốn liên tục ngó
trước ngó sau hóng
nghe (xem!) vô vàn
các sự cố nhỏ

từ mặt gương đồng
phát lên tiếng “a!”
thì liền kê mặt
sát gương nhìn sâu

vào quả là việc
tôi đến đời này
một sự cố lớn!

 

cũng đưa miếng miếng bánh mì
trét bơ đậu phộng thậm chí
cả nắm chữ đủ màu “sắc
sắc!” đủ nghĩa “không không!” khẩn
khoản tôi nói “vì cần một

mộng tưởng mới cho bài thơ
tân hình thức xin quí ông
quí bà nhận dùm vừa bánh
mì lát trét bơ đậu phộng
vừa chữ đủ màu “sắc sắc!”

đủ nghĩa “không không!” giả như
quí ông quí bà không cầm
lấy tất thảy chúng sẽ lập
tức ăn tôi mất dù có
cẩn thận nhét chúng vào lại

bao bì cột chặt vắt vai..”
đã nói thế nhưng chẳng ai
cầm lấy và cứ thế tôi
đứng ven đường cái trét bơ
đậu phộng lên bánh mì lát

đợi miết (do thiên đàng còn
đợi được nữa là!) tôi đợi
tới biệt dạng bóng người cho
tới hư vô gặm nát từng
miếng bánh mì trét bơ đậu

phộng còn lại mỗi mình cô
liêu tôi gỡ đồng hồ đeo
tay thay “pin” cục “pin” cũ
tất nhiên sẽ bị nuốt trộng
xuống dạ dày (!) đúng vào lúc

đấy luôn có cảm giác gần
như mình chỉ mới đến đời
này trước mắt “sắc sắc không
không” hết còn là chuyện đồn
đại (mà dường như tôi ở

trên đời chưa được bao lâu
bóng chiều từ bao giờ đã
rợp ngang mày!) nghiêng vai hất
cái bao đựng đủ các chữ
đủ màu “sắc sắc” đủ nghĩa

“không không” mới hay các chữ
đều bị hư vô gặm nát
hết/ tuy nhiên ý nghĩ cần
một mộng tưởng mới cho bài
thơ tân hình thức vẫn còn

nguyên tôi dùng lưỡi liếm sạch
trơn cái ý nghĩ ấy!

 

cũng đưa miếng miếng bánh mì
trét bơ đậu phộng thậm chí
cả nắm chữ đủ màu “sắc
sắc!” đủ nghĩa “không không!” khẩn
khoản tôi nói “vì cần một

mộng tưởng mới cho bài thơ
tân hình thức xin quí ông
quí bà nhận dùm vừa bánh
mì lát trét bơ đậu phộng
vừa chữ đủ màu “sắc sắc!”

đủ nghĩa “không không!” giả như
quí ông quí bà không cầm
lấy tất thảy chúng sẽ lập
tức ăn tôi mất dù có
cẩn thận nhét chúng vào lại

bao bì cột chặt vắt vai..”
đã nói thế nhưng chẳng ai
cầm lấy và cứ thế tôi
đứng ven đường cái trét bơ
đậu phộng lên bánh mì lát

đợi miết (do thiên đàng còn
đợi được nữa là!) tôi đợi
tới biệt dạng bóng người cho
tới hư vô gặm nát từng
miếng bánh mì trét bơ đậu

phộng còn lại mỗi mình cô
liêu tôi gỡ đồng hồ đeo
tay thay “pin” cục “pin” cũ
tất nhiên sẽ bị nuốt trộng
xuống dạ dày (!) đúng vào lúc

đấy luôn có cảm giác gần
như mình chỉ mới đến đời
này trước mắt “sắc sắc không
không” hết còn là chuyện đồn
đại (mà dường như tôi ở

trên đời chưa được bao lâu
bóng chiều từ bao giờ đã
rợp ngang mày!) nghiêng vai hất
cái bao đựng đủ các chữ
đủ màu “sắc sắc” đủ nghĩa

“không không” mới hay các chữ
đều bị hư vô gặm nát
hết/ tuy nhiên ý nghĩ cần
một mộng tưởng mới cho bài
thơ tân hình thức vẫn còn

nguyên tôi dùng lưỡi liếm sạch
trơn cái ý nghĩ ấy!

 

MÙI NHÀ

.. tặng khế iêm.

nói tới nhân ngãi
có thể ví tình
tôi đối với thơ
đúng như thế lúc

ngắm cô ngồi lặng
yên chăm chú nhìn
một điểm nào đấy
trong khoảng không trước

mặt tôi hỏi “cô
cô có đói không!”
với giọng ráo hoảnh
cô đáp “không!” tôi

ngắm cái cách cô
ngồi lặng yên chăm
chú nhìn một điểm
nào đấy trong khoảng

không trước mặt tôi
tự hỏi “giả như
trong cái khoảng không
ấy cô thấy có

chiếc miệng ngoác rộng
hết cỡ chốc chốc
chiếc miệng thay đổi
tư thế ngoác rộng

cốt cho cô nhìn
thấy rỗ đường lưỡi
bò/ một thực thể
hiện hữu trên biển

đông và chẳng thể
dời đổi thì liệu
cô có vẫn còn
ngồi lặng yên chăm

chú nhìn một điểm
nào đấy trong khoảng
không trước mặt mà
với chả chút ảo

giác tỉ như: cô đang
nhìn vô một vùng
biển sâu (tối!) đầy
những sự huyền bí.

LOM KHOM

ờ thì riết mùa đông
cốt chật tay ẳm bồng
ôm thân giường dỗ nhé
đừng dồn đụng khoảng trống

cứ kể đang trong mộng
mấp mé đụn bồ hóng
thoảng nghe tiếng gà gáy
giật mình thấy sút móng

lom khom với một bóng
đổ dài tới ven sông
con sông mùa rắn nước
kịp ngăn em theo chồng

bây giờ thì nói trông
cho qua đi mùa đông
trước sau gì cũng chết
lại đây- ừ! cùng sống

lọm khọm nghe riết rống
lửa trên bếp chả hồng
người qua nhau nườm nượp
tôi, nỗi chết vu khống ..

DO THỜI GIAN
.. gửi biển bắc.

tôi đã sinh sống ở
sài gòn nay không còn
ở đó nữa nhưng đừng
có tưởng bở vẫn còn

nhiều thứ về sài gòn
trong con người của tôi
tôi vẫn nhớ nó tôi
vẫn dính líu nhiều chuyện

với nó đừng có mà
tưởng bở bạn bè cũ
cùng đồ ăn thức uống
tiếng nói của người sài

gòn vẫn còn i nguyên
trong con người tôi nên
với người bản xứ tôi
phải nói “i have lived

in saigon” mặc dù tôi
không còn sinh sống ở
đó nữa nhưng vì vậy
cũng đừng có mà tưởng

bở. nhá!

 

VÔ ĐỀ

… tương cà mắm muối cải dưa
ở với nhau ở sao vừa trước sau.

mỗi lần bị tôi cấu
mông i rằng thực thần
sầu thị kêu tôi “đồ
già dịch!” quả tình tôi

không hiểu trong ba chữ
“đồ già dịch!” có hàm
chứa thêm nghĩa gì (!) tuy
nhiên nom thị cứ đứng

im thở từng hơi thở
thơm tất nhiên sau lưng
thị không tài nào tôi
có thể đứng im như

thế cho đến khi trong
đầu tôi lóe lên một
ý tưởng “nâng như nâng
trứng” và trong lòng thị

lóe lên niềm thương cảm
vâng một niềm thương cảm
vô bờ bến (đối với
người nữ!) chúng tôi nằm

xuống phần tôi từ đó
cứ kể thực thần sầu
mặc kệ cho thị liền
miệng kêu “đồ già dịch

đồ già dịch!” tôi chỉ
việc dùng ý tưởng “nâng
như nâng trứng” dò sao
cho đúng mạch câu chuyện

có (bài bản) là được!

 

Ở ĐÂY. THƠ KHÔNG LÀ VẤN ĐỀ

… gửi phan quỳnh trâm.

hễ trước bất kể vấn đề lớn
nhỏ thường tâm (sinh) lí tôi trở
nên khá phức tạp sự phức tạp
đến độ tôi ưa đánh đồng vấn

đề lớn qua vấn đề nhỏ và
ngược lại tỉ như: đọc xong “trò
chuyện với nhà thơ.” phan quỳnh trâm
dịch từ Miroslav Holub

tôi cho (không hề mơ hồ) đấy
vấn đề lớn và thực không hề
vô thưởng vô phạt dợm đánh đồng
sang vấn đề nhỏ tôi đi liền

ra đứng trước biển nhìn mặt trời
đã lặn đằng đông buổi chiều ở
việt nam với tôi lại vấn đề
lớn dợm đánh đồng sang vấn đề

nhỏ và ngược lại thì cực vô
thưởng vô phạt tôi phát giác thấy
vẫn một nỗi muộn phiền nặng trĩu
cứ đeo đẳng bên lòng không sao

dứt rời vừa tháo lui tôi vừa
muốn đánh đồng nỗi muộn phiền nặng
trĩu còn đeo đẳng bên lòng sang
vấn đề lớn và ngược lại thì

hóa nơi tôi không còn thành vấn
đề gì hết (bởi thực tế cuộc
đời với tôi có vấn đề gì
đâu nà!) còn sống trên đời ngày

ngày thản nhiên sống thản nhiên đợi
ngày chết đi biết thơ là gì (!)
tôi đã ngưng làm thơ lâu rồi
còn chuyện tôi có là nhà thơ

đấy vấn đề lớn mỗi sáng ở
đây hứng ra đứng trước biển nhìn
mặt trời mọc đằng tây thực vô
thưởng vô phạt hễ lui lại trăm

bận như một tôi đều phát giác
thấy vẫn nỗi muộn phiền nặng trĩu
cứ đeo đẳng bên lòng như thể
đấy mới vấn đề thực sự lớn.

 

CUỐI NGÀY MÙNG BA

tôi trở lui trời đã
chạng vạng giá lạnh bắt
đầu phủ khắp các nóc
chung cư thành phố bây

giờ thời gian đã quá
nửa mùa đông valen
tine cận kề tôi đứng
cạnh cửa sổ nhìn những

đám mây đen vẩn màu
vàng đục trôi tư lự
ngang bầu trời chiếc bóng
sau lưng hóa một khối

đặc quánh tợ hắc ín
nom chiếc bóng toát ra
đau đớn khủng khiếp phải
mãi hồi lâu ngoái nhìn

phía sau căn buồng (va
lentine như thật!) trống
trơn mọi vật dụng bàn
ghế tủ chiếc giường đôi

đồng loạt biến mất mọi
ý nghĩ chựng lại tôi
tá hỏa cứ như đang
thấp thỏm lo sợ chuyện

gì (!) sẽ xảy đến đối
đế quá cho tay moi
nhấc chiếc bóng đặt lên
linh hồn của buổi chạng

vạng thời gian đã qua
nửa mùa đông gác cái
thây ma tôi ngang thành
cửa nhẩn nhịn đợi va

lentine. tối!

 

BIỂN, NIỀM TƠ TƯỞNG!

tặng hư vô.

tôi cố đi ra sát
mép nước vì tin tưởng
dưới kia mặt biển đang
lấp loáng một miếng khảm

bạc từ mặt trống đồng
ngọc lũ (rơi ra!) nhưng
sự thật đấy là do
tôi mơ chả có miếng

khảm bạc nào từ mặt
trống đồng ngọc lũ (rơi
ra!) nhưng tôi cứ tiếp
tục cố đi ra sát

mép nước (thấy như thế
trong mơ!) tôi cứ cố
đi nhưng quái! tôi vẫn
không chắc mình sẽ tới

được sát mép nước (phải
đến một lát sau tôi
không biết nên nghĩ gì
đây? ờ thì hãy ngồi

xuống (nhủ thế!) tôi cúi
túm lấy ống quần và
buộc chặt lại mồ hôi
tươm nhươm nhớp chỉ thử

túm lấy ống quần buộc
chặt lại cũng hết sức
khó nhọc (như vậy miếng
khảm bạc từ mặt trống

đồng ngọc lũ (rơi ra!)
mà tôi đã thấy lấp loáng
dưới kia trên mặt biển
là không có thật (tôi

chỉ mơ!) hiện giờ tôi
đã tiến gần sát mép
nước dưới kia biển và
vì phải cố đi ra

gần sát mép nước phải
đến một lát sau thì
tôi nghiệm không biết có
bao nhiêu người đang mơ

vui sướng bao nhiêu người
tỉnh thức và cảm thấy
đang rất sầu khổ (nhưng
tại sao biết là mơ.

tôi vẫn cứ cố đi
ra sát mép nước? ở
dưới kia mặt biển lấp
loáng một miếng khảm bạc

từ mặt trống đồng ngọc
lũ (rơi ra!) là hoàn
toàn không có thật có
phi lí (phi lí quá!)

tôi đã thốt kêu như
thế (do đang mơ!) hiện
giờ tôi vẫn cứ cố
đi ra sát mép nước

(yah mặt trăng lặn tất
mặt trời mọc!) quái sao
tôi luôn không chắc mình
sẽ tới được sát mép

nước? phải đợi cho đến
khi cúi xuống túm ống
quần buộc chặt lại tôi
ngồi hẳn lên miếng khảm

bạc từ mặt trống đồng
ngọc lũ (rơi ra!) thì
phải đến một lát sau
(nữa!) sau nữa tôi mới

biết ra cách chắc chắn
rằng thời gian trôi rất
nhanh mà đời người ngắn
lắm (còn mơ biển còn

logic theo kịp lí luận
của thể thơ này tôi
nghĩ!

 

BIẾT

chừng mấy bữa thôi
mà giờ suốt ngày
phát ưa cười nói
nói cợt nhả nom

chả khác đàn bà
hư hỏng ai nhìn
cũng cho đó lãng
nhách – mẹ kiếp! rất

lãng nhách chiều nay
phát cứ viết viết
nhiều giờ liền viết
tuyền linh tinh nội

chuyện cả ngày ưa
cười nói nói cợt
nhả cũng được viết
ra thực dông dài

chữ nối chữ kể
cũng hàng chục trang
giấy – mẹ kiếp! trưa
nay tính thì biết

chừng mấy bữa thôi
nổi hứng ngồi đọc
tiểu thuyết quỳnh dao
chốc chốc cứ muốn

nói nói cợt nhã
nom chả khác đàn
bà hư hỏng nhìn
ai cũng cho đó

lãng nhách – mẹ kiếp
rất lãng nhách thực
may mình chả giàu
có như bà quỳnh

để rồi lật sang
trang mà rằng ối
ấy cũng chỉ loại
tiểu thuyết diễm tình

vì tình yêu phó
thác trong tay thượng
đế (!) thời nay có
mấy ai còn đọc

và lại cười “ha
ha..” hát linh tinh
mẹ kiếp!

 

TÔI NHẬN

Thấy ngay trên chính chiếc
giường tôi nằm đấy một
gã đàn ông mập phệ
hoàn toàn xa lạ (chẳng

rõ tông tích và từ
đâu lạc tới mà trần
truồng!) hết sức kinh ngạc
tôi buộc mồm “không thể

thế được … không thể thế!”
và trong khi như thế
kia toàn thân gã đàn
ông phát liên tục giật

nẩy sự giật nẩy nom
lúc thì cong vòng người
lúc thì tưởng chừng gẫy
gập chiếc giường tôi gã

nằm run bần bật như
thể gã đương lạnh lòng
(lắm!) ngoác rộng họng gã
rên rĩ tiếng rên rĩ

hệt tiếng cuốc kêu nghe
cực u uất “nhớ nước
đau lòng con quốc quốc*”
cứ thế tiếng rên rỉ

kéo dài ̣(dường!) bất tận
hai mắt tôi trố trân
trân ba bốn phút tợ
đứng tròng gã đàn ông

hoàn toàn xa lạ (chẳng
rõ tông tích và từ
đâu lạc tới mà trần
truồng!) bất đồ trở người

xấp mặt xuống giường/ chiếc
giường tôi gã nằm hai
mắt lại trố hết cỡ
gần xây xẩm mặt mày

khi tôi tận mắt thấy
nguyên lằn dao chém sâu
hoắm hằn ngang lưng kẻ
hiện đang nằm trên chính

chiếc giường tôi nằm từ
đâu tới mà hoàn toàn
xa lạ lằn dao chém
nom máu hãy còn rươm

rướm đỏ tươi ngạc nhiên
lẫn sợ hãi tôi bưng
mặt cào một tràng cười
đầy ắp sảng khoái từ

đỉnh đầu tôi chụp xuống
dội vô tai nghe lanh
lảnh càng tá hỏa hơn
nữa bởi tôi phát giác

ra người hiện đang nằm
trên chiếc giường tôi nằm
hóa chẳng ai xa lạ
mồm há hốc tôi kêu

lên “ê! Minh” và xởi
lởi “ôi mình tưởng cậu
đã chết mất xác ở
xó xỉnh nào rồi chứ …

mà này … giờ … cậu có
thực không? hử … Minh …” một
gợi ý: tôi viết cái
này một mạch lên tường

facebook khi đọc giữa
các dòng chữ đừng quá
đa nghi cũng như hời
hợt hoặc hi vọng bất

kì điều gì!

 

KHÔNG CÓ GÌ

không có gì hòng che
đậy giấc ngủ phải nói
tôi đang khứng một trận
cúm ra trò chỉ còn

nước vuốt ve giấc ngủ
tôi không được làm bất
kì gì kinh động lên
̣đi đái cũng phài đi

cực rón rén nhẹ nhàng
(tưởng tượng đấy như một
cách đi tìm chữ giao
lưu cùng trận cúm!) tuyệt

đối không bật đèn lên
để cái cảm giác đang
bị từ “nghi ngại” giập
mạnh vô mặt hết cú

này đến cú khác trong
lúc đó từ “phàm phu”
thì đá giò lái ngang
lưng tới tấp tôi ngồi

xuống kê nồi cơm nguội
chính giữa hai bàn chân
dùng bút lông viết lên
nắp nồi toàn bộ câu

chuyện ở đây chỉ muốn
nói về việc không có
gì che đậy giấc ngủ
do đang khứng một trận

cúm cực ra trò hòng
vuốt ve giấc ngủ tôi
không thể làm kinh động
bất kì gì mang tính

cách quá muộn giai đoạn
sống động nhất bây giờ
là lúc từng cơn ho
làm gẫy gập người (đi

đái cũng phải thực hết
sức rón rén nhẹ nhàng
như thể đấy một cách
đi tìm chữ hòng giao

lưu cùng trận cúm bảo
ban nó hãy thôi ngừng
sống động!) vẫn biết nghệ
thuật thì không nên đòi

giải thích tuy nhiên chính
tôi đi đặt câu hỏi
“tại sao cúm!” đoạn hỏi
đi hỏi lại “tại sao

cúm!” hai trăm sáu mươi
tư bận dù biết khá
rõ sẽ chẳng có lời
giải đáp “cúm là do

thòi tiết giao mùa!” có
lẽ nên nghe theo thằng
nhỏ tôi thì hơn (nó
luôn luôn nhạy cảm!) nhủ

thế liền tập hợp các
chi tiết từ những cơn
ho khiến gẫy gập người
luồng hơi nóng toả hâm

hấp ngay trán mồ hôi
từng dòng tươm ướt để
cổ ngứa (phơi cuống họng
khô khốc) nom tôi một

tên bạc nhược kinh niên
nước mũi chảy ròng ròng
đầu nằm hướng đằng tây
(loài linh trưởng đích thị

tôi!) tống hết thảy xuống
hư vô giả vì trận
cúm như này bị sụt
mất hai mươi lăm cân

anh mai sau trở lại
thay vì chạy tôi sẽ
đi hết sức thong dong
dù có phải luồn dưới

vòm họng đêm mới ra
tới núi.

 

 CON NHỆN NƯỚC Ở HỒ TÂY

tôi thấy do khi đấy
đang tưởng tượng cho đến
giờ hãy còn tưởng tượng
là chả biết con nhện

nước ở hồ tây giờ
đây ra sao sống chết
như nào có nghe thấy
tiếng tôi ngáy nơi mỗi

giấc ngủ trưa nó ra
làm sao và tiếng các
nhà thơ hà nội gọi
tên tôi bằng những chữ

tắt nó có thấy trái
khoáy quả thực cho đến
giờ chả hiểu sao các
nhà thơ ở hà nội

kêu tên tôi bằng chữ
tắt có phải do tôi
ưa tưởng tượng là chả
biết con nhện nước ở

hồ tây giờ đây ra
sao sống chết như nào
quá lãng nhách nên mỗi
bận nghe gọi tôi đều

ngẩng mặt về phía hồ
tây nhìn thấy thì chẳng
có gì cũng chẳng có
ai tôi ghét bỏ và

cũng vì phải ngẩng mặt
về phía hồ tây điều
đấy khiến đánh mất một
số thời gian mà tên

tôi khó gọi cho cam
“minh … minh …” khi gọi thế
dù chẳng gợi lên bất
cứ điều gì có ý

nghĩa danh vọng chẳng hạn
hay một bữa ăn rách
nát một chỗ cư trú
chả tìm ra trên bất

kì tấm bản đồ nào
vâng để khỏi phải chết
dở mất thời gian bởi
sự ghét bỏ tôi buộc

từ (biệt!) thói ngủ trưa
một cách cực nhanh chóng
đánh bạn với lũ thời
gian thừa thãi vào mỗi

ban trưa trong khi tôi
tưởng tượng con nhện nước
ở hồ tây thỉnh thoảng
nấc cục mỗi khi nghe

các nhà thơ hà nội
kêu “m … m …” giả như
đấy vào những buổi trưa
cô quạnh chẳng nói làm

gì đằng này vào các
canh trường u tịch nỗi
tuyệt vọng cứ dợn qua
lại trên cặp mắt nhìn

con nhện nước hồ tây
tôi chẳng còn đâu hào
hứng đánh bạn cùng lũ
thời gian thừa thãi vào

ban trưa đành buông xuôi
ý nghĩ về con nhện
nước hồ tây nhìn thời
gian chậm trôi tôi phát

gọi lớn tên tục “minh …
minh …” gọi lần nữa … lần
nữa … lần nữa chứ không
tôi hoá con nhện nước

ở hồ tây!!

 

 

VỚI TÌNH CẢM. CHUYỆN NHỎ

mở quyển sách mỗi bận
đi ngang bất kì khu
nghĩa địa tôi hết còn
nặng người vì dù gì

má tôi cũng đã chết
lâu rồi khi xưa mỗi
“chiều nào khi về tới
ngang căn nhà màu tím*”

thì i như đi ngang
khu nghĩa địa người bỗng
nặng tợ bị vong đè
bây giờ khi chiều tà

hễ run rủi đưa chân
ngang khu nghĩa địa mở
quyển sách thì quả thực
vậy tôi hết còn nặng

người nhất là hết còn
nhìn qua trái sang phải
sau lưng hết còn nươm
nướp lo có kẻ rình

rập theo dõi ám toán
vì dù gì má tôi
cũng đã chết từ lâu
còn con đường vòng vèo

hiện đang sa chân (sa
đà) nom lại hệt con
đường thẳng trong quyển “con
đường ngã ba” của bùi

giáng hóa ra giữa chỗ
đông người hoặc chốn không
một bóng người khu nghĩa
địa chẳng khác căn nhà

màu tím ấy là tôi
tưởng tượng hiện mình đang
đi băng băng dọc hai
bên con đường vòng vèo

tuyền thông bạt ngàn rợp
một màu xanh thẳm và
tôi lại nghĩ “nếu như
dọc hai bên con đường

vòng vèo tuyền thông dù
bạt ngàn rợp một màu
xanh thẳm thì quả thực
xoàng quá … phải có đầu

lâu xương ống chân tay
chồng chất dân oan vì
dù gì thì má tôi
cũng chết đã từ lâu!”

tôi lại thấy mình không
nên nghĩ này/ nọ nữa
kể từ giờ mỗi bận
run rủi có sa chân

ngang nghĩa địa hãy mở
quyển sách và cứ xem
đi ngang căn nhà màu
tím bằng con đường thẳng

trong “con đường ngã ba”
của bùi giáng thì sẽ
có cảm giác khá là
nhẹ nhõm thế rồi tôi

quyết đếch tưởng tượng đếch
nhìn sang phải qua trái
sau lưng đếch sợ có
kẻ rình rập theo dõi

ám toán vì dù gì
thì má tôi chết cũng
đã lâu rồi đúng không!

 

TUẦN THƠ 18: THƠ THẠCH TỐT – NGUYỄN ĐẠT

CÁNH CỬA

Thạch Tốt

Cánh cửa như cánh hoa
mười giờ trước cửa luôn
mở em ạ ! giờ yên
vui hớn hở có thấy
gì căn nhà hình như
vừa sáng nay hoa mười
giờ trong trái tim anh
em dưới hiên nhà chùm
cúc vàng là em đó
em đi xa có thấy gì
cánh cửa vẫn mở những
sớm mai trầm lặng tôi
nói em yêu em
một ngày nào đó ( vầng
trăng làm chứng) ? để bây
giờ … vẫn rơi vẫn rơi
đi qua ngõ chung cư
nhà nàng  còn nhớ không
gã đàn ông lang thang
huýt sáo nói lời xưa
tưởng rằng tưởng đã quên
còn nhớ không nơi đó
khẻ quay về cánh cửa
như cánh hoa mười giờ
nhớ em bên góc cà
phê thơm hoàng hôn đã
mù tan.

07/30/2018


CON ĐƯỜNG TỚI ĐÓ

Nguyễn Đạt

Con đường tới đó con đường tới
Đó sông sâu ở tận nơi đâu
Chẳng thấy mà lòng xiết đau mãi
Hoài nỗi đau không thể nên lời.

Đi tới đó đi tới đó cũng 
Không xa chẳng gần một ngã ba
Một ngã tư xin chào phố xá
Con đường đã qua để tới đó.

Cũng không gì ngoài tách cà-phê
Quán xưa có thể vẫn ở đó
Hắn bây giờ quần jeans rất cũ
Từ khuya lâu bạc phếch sắc màu.

Ngôi quán ngày xưa bây giờ đã
Thay cửa kính trong suốt không thấy
Chiếc bàn nhỏ một góc quán hắn
Ngồi bên tách cà-phê mỗi ngày.

Hắn cũng không buồn gì cũng không
Buồn gì hết thảy đều như vậy
Thắp điếu thuốc kẹp giữa hai ngón
Tay gầy xanh khói giữa kính trong.

Uống cà-phê xong ắt hắn sẽ 
Về căn phần mái tôn hay ngói
Cũng vậy thôi không luận cứ gì
Dẫu bi đát chẳng buồn để nói. 

Sài Gòn, VII-2018

hình minh họa nguồn internet

NGHĨ VỀ CÁCH LÀM THƠ

3 TIỂU LUẬN CHÍNH VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC


Tan Hinh Thuc Publishing Club
Email: baogiaytanhinhthuc@yahoo.com
Santa Ana, CA 92706
World Wide Web Site
http://www.thotanhinhthuc.org
© 2016 by Tan Hinh Thuc
All rights reserved
Cover art by Ngọc Dũng
Cover design: Lê Giang Trần
Printed in The United States of America
Nghĩ Về Cách làm Thơ
Khế Iêm
Library of Congress Control Number:
2016915372
ISBN-13: 978-0-9885096-9-6

Mục Lục
________
Phong Cách Tân Chiết Trung
Nhịp Điệu Thơ Tân Hình Thức Việt Trong
Tiến Trình Sáng Tác
Truyện Thơ Tân Hình Thức
Đọc (Hay Trình Diễn) Một Bài Thơ Tân
Hình Thức Việt
Tân Hình Thức Việt
Một Dòng Thơ Được Báo Trước
Thấp Thoáng Những Nẻo Đường Thơ
Tân Hình Thức Hành Trình Và Tổng Kết
Những Chủ Thuyết Văn Hóa
Vài Ghi Chú Về Bài Viết Của Alan Kirby
Nghĩ Về Cách Làm Thơ
Hướng Tới Tác Phẩm Của Nhóm Sáng Tác

Phụ Lục
________
Tưởng nhớ W. B. Yeats, W. H. Aiden
Towards Works of A Group of Creators