Trang chủ Blog Trang 23

Như thế…Tôi đã đến với Tân hình thức.

Bài dự thi “ Giải thơ Tân hình thức”

Nguyễn Ngọc Trìu 

Cái mới của thơ Tân hình thức Việt thật lạ ! Cái mới không xuất phát từ hình thức mà từ đòi hỏi của nội dung. Điều đó khiến tôi tò mò, khám phá và trải nghiệm. Ban đầu tôi lay hoay với vắt dòng, hì hục với lặp lại, mơ hồ với tính truyện,  ngỡ ngàng với ngôn ngữ đời thường (nhất là từ bỏ tu từ ). Quả là khác, khác rất xa  so với cách làm thơ gieo vần. Cứ viết, cứ viết rồi tôi cũng nhận rathêm : Cần phải bỏ thói quen biểu hiện cảm xúc trực tiếp; cần giấu cảm xúc của người viết đi, giấu kín sau câu chuyện và các chi tiết cấu thành câu chuyện.

Cứ viết, rồi dần dà tôi cũng nhận ra tính truyện khiến cho Tân hình thức xích lại gần đời sống , đời thực (dẫu vẫn có sự tham gia của yếu tố ảo giác ). Tân hình thức không trở thành đánh đố người đọc như một số xu hướng làm mới thơ ca trong vài thập kỉ qua. Câu chuyện mà mỗi bài Tân hình thức mang  đến dễ nhớ và dễ bám sâu vào trí nhớ của người đọc.Tôi nghĩ, sức hấp dẫn của thơ Tân hình thức một phần lớn là đây, trong khi đó cái hay của thơ vần điệu thường ở từ, ở hình ảnh, ở nhịp điệu… đọng lại trong một cặp câu hoặc một khổ thơ. Tính truyện cũng là yếu tố góp một phần lớn làm nên khả năng hội nhập dễ dàng của Tân hình thức. Thơ vần điệu ít có khả năng này.

Gần đây các nhà thơ lớn của thơ Tân hình thức cho rằng  một bài Tân hình thức có giá trị phải có ý tưởng mới lạ và nhạc tính. Con đường tắt… đã được chỉ ra. Rõ ràng, có thước đo khoa học hẳn hoi (ở một chừng mực nào đó) , không mơ màng  như xác định cái hay của một bài thơ  theo lối gieo vần. Ý tưởng mới lạ phải nhờ vào tài năng . Khó rồi…Ý tưởng mới lạ đến từ tính truyệnhay còn từ đâu nữa ? Thật không dễ trả lời. Nhà thơ  Inrasara dư thừa sức viết là vậy, thế mà, sau 18 bài tân hình thức, đành tạm chia tay với dòng thơ này, vì “ không đủ  ý tưởng mới ”.  Có nhạc tính, mà tính nhạc ở mỗi bài cần có nét riêng… Càng khó, càng khó để trở thành “ dân ca của thời hiện đại ” nói như nhà thơ Mai Văn Phấn.

Cái khó của thơ Tân hình thức còn ở phía người đọc. Độc giả chưa quen với cách đọc một mạch từ đầu đến chữ cuối cùng, rồi mới đọc lại và tự ngắt theo ý của người đọc, từ đó sẽ  nhận ra đoạn giàu nhạc tính nhất trong bài. Từ lối ngưng nghỉ theo từng dòng thơ của thơ gieo vần đến cách đọc liền mạch vắt dòng liên tục của thơ Tân hình thức là sự chuyển đổi không phải một sớm một chiều.

Thôi thì cứ viết và chờ, bài thơ hay vẫn đang ở phía trước kia mà!

Có một điều rất cần chia sẻ, không hiểu sao từ khi đến với thơ THT,vài năm nay, tôi gần như không còn cảm hứng viết thơ gieo vần. Có lẽ nó là 2 hệ hình tư duy thơ khá xa nhau chăng …

tháng 11/ 2020

 

BÁO GIẤY SỐ 63: PHẢN HỒI VỀ BÁO SONG NGỮ

Tho Tuyen Duc PHO: Hard Cover (Hardcover) | Sparta Books

Bạn đọc có thể đọc trực tiếp hoặc in ra giấy để đọc, đặt mua sách, báo
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi về Diễn đàn hoặc Email về Ban Biên Tập
Chân thành cảm ơn!



Báo Giấy • Tháng 12 năm 2020 • Năm thứ 4 • Số 63
Email: baogiaytanhinhthuc@gmail.com • www.thotanhinhthucviet.vn • www.thotanhinhthuc.com

POETRY JOURNAL IN PRINT • BÁO GIẤY
Print it out yourself
Vietnamese & English Poetry • Two-Monthly
December 2020 • Number 63
Publisher: Tan Hinh Thuc Publishing Club
USA
www.thotanhinhthucviet.vn
ISSN: 2475-2274
Contact: Khe Iem, email: baogiaytanhinhthuc@gmail.com
Editorial Staff: Richard Sindt, Khế Iêm, Trần Vũ Liên Tâm, Điểm Thọ


Tờ báo được gửi khoảng 300 email tới những tạp chí văn học, tạp chí thơ của Mỹ, Anh, Canada, Úc, và khoảng 2500 nhà thơ Mỹ.

Những phản hồi

Nhà thơ Robert Okaji: “Tôi có dịp đọc tờ báo của bạn và phát hiện nó vô cùng thích thú. Thơ xuất sắc, và đặc biệt nhờ thế mà tôi được thưởng thức những bài thơ Việt dịch ra. / I’ve had an opportunity to read your journal, and found it quite enjoyable. The poetry was excellent, and I particularly enjoyed seeing Vietnamese poems in translation, as otherwise I would not know them.

Nhà thơ Susan A. Katz: “Những khoảnh khắc đẹp đẽ trong những bài thơ tôi đã đọc. Đặc biệt tôi bị hấp dẫn bởi hình ảnh. Chúc may mắn cho tờ báo của bạn. / Some beautiful moments in the poems I read.  I was particularly drawn to the imagery.  Wishing you much good luck with your new Poetry Journal.

Nhà thơ Camille Norton, Ph.D., giáo sư Anh ngữ, phân khoa Anh ngữ, Đại học Pacific: “Cám ơn nhiều đã gửi báo tới tôi. Thật thú vị. Tôi sẽ chuyển cho bạn tôi, Vinh, và tới đồng nghiệp của tôi, Zhou Xiaojing. / Thank you so much for sending the to me. It’s just lovely. I am passing it on to my friend, Vinh, and to my colleague Zhou Xiaojing. (Camille Norton, Ph.D., Professor of English, Department of English, University of the Pacific.)

Nhà thơ Mark Osaki: “Rất ấn tượng. Chào mừng sứ mệnh của bạn. Tôi đã từng ở Việt Nam nhiều năm, phục vụ như một viên chức trẻ. Tôi rất kính trọng văn hóa và con người Việt.” / Very impressive. I salute your mission. I’ve been to Vietnam many years ago as a young foreign service officer. I very much respect Vietnamese culture and its people.

Dịch giả và nhà nghiên cứu John Balaban: “Tôi mới đọc thóang qua và rất tò mò về ý tưởng của bạn về Tân hình thức. Tôi sẽ đọc kỹ sau, bây giờ tôi download xuống. Tôi bị mê hoặc bởi những bài thơ 6 chữ, 5 chữ, và đã nhắc tôi nhớ tới ca dao.” / I read through it quickly, curious about your ideas on a new formalism. I will read it more carefully later, now that I have it downloaded. I was fascinated by the rigor of the Vietnamese poems and their frequent resort to 6-syllable or 5-syllable lines and was reminded of ca dao.

Tân hình thức Việt lôi cuốn người đọc ngoại quốc

Trong thời đại thơ ít người đọc, ngay cả thơ sáng tác, tại sao thơ Tân hình thức Việt lại được quan tâm đặc biệt như vậy? Có lẽ, đây là thời điểm của những giá trị đa văn hóa, và với những xung đột về chủng tộc, tôn giáo xảy ra khắp nơi trên thế giới, văn học đang là một phương tiện hàng đầu để tìm hiểu văn hóa của mọi sắc dân, trong đó thơ là một bộ môn tiên phong. Nhưng thơ dịch lại rất ít có cơ hội thành công, vì phụ thuộc quá nhiều vào ngôn ngữ. Thơ Tân hình thức Việt rút tỉa và giải quyết tình trạng đó bằng cách, thay đổi cách sáng tác để khi dịch ra, người đọc đọc như một bài thơ sáng tác. Vì thế tác động của thơ Tân hình thức Việt mạnh và vượt trội.

1/ Thơ Tân hình thức Việt có hình thức là những thể thơ Việt và có nhịp điệu.

2/ Có ý tưởng liền lạc và đặc sắc bởi những khác biệt văn hóa.

3/ Văn chương cần văn phong tự nhiên của ngôn ngữ nó dịch ra. Nguyên tắc dịch thuật và ngữ học, đòi hỏi người dịch từ tiếng Việt qua tiếng Anh, phải là người mà ngôn ngữ tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, người được chọn dịch thơ Tân hình thức Việt ra tiếng Anh, phải sinh ra ở Mỹ và biết tiếng Việt, hoặc tới Mỹ ở độ dưới 10 tuổi và là một nhà thơ sáng tác bằng tiếng Anh. Bởi một lý do dễ hiểu: người đọc tiếng Anh sẽ không đọc, nếu bản dịch không có văn phong là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ.

4/ Báo Song Ngữ (Poetry Journal in Print) có một ban biên tập Việt Mỹ chuyên nghiệp, bảo đảm giá trị biên tập của một tờ báo.

Dịch thuật là một yếu tố then chốt của thơ Tân hình thức Việt, vì thế trong tương lai, người dịch phải đáp ứng điều kiện nêu trên. Và để bảo đảm giá trị trước khi đưa ra trước công chúng, cũng cần tới những nhà biên tập chuyên nghiệp Việt và Mỹ.

Sinh hoạt mới

1/ Báo Song Ngữ nhận được email từ Hội nghị Văn học (Literature Conference) của trường đại học Bridgewater, Virginia, Hoa kỳ, mời tham gia Đại hội Thơ Quốc tế (International Poetry Festival) vào những ngày 12-15 tháng Giêng 2017. Trong cuộc đọc thơ này, nhà thơ có thể đọc thơ sáng tác hay thơ dịch bằng tiếng Anh. Đây là một sinh hoạt được tổ chức hàng năm, chẳng phải chỉ ở đại học Bridgewater, mà còn ở các đại học khác như Austin, Texas, Hoa Kỳ, và khắp nơi trên thế giới.

2/ Nhà xuất bản Cross-Cultural Communications (Truyền thông Giao lưu Văn hóa) nhờ báo Song Ngữ chuyển dịch bài thơ của nhà thơ Mỹ Stanley Kunitz, “The Layers”, từ tiếng Anh qua tiếng Việt, trong dự án dịch ra 100 ngôn ngữ khác nhau. Anh Phạm Kiều Tùng đã dịch bài thơ.

Cũng qua trung gian của nhà xuất bản này, với những liên hệ toàn cầu về thơ, báo Song Ngữ trong những số tới không những chỉ giới thiệu thơ Mỹ, Anh hay Úc, mà còn mở rộng liên hệ tới những nhà thơ Đại Hàn, Bangali, xứ Welsh … và các nước khác nữa.

Những sự kiện mang tính tòan cầu

1/ Hoa kỳ có 50 tiểu bang, những tạp chí dịch thuật văn học lại có tới khoảng 60 tờ báo, đa số từ những trường đại học. Người dịch đòi hỏi phải có bằng cao học (Master degree) về dịch thuật, ngoài việc thông thạo 2 ngôn ngữ, còn phải tốt nghiệp một lớp sáng tác. Thơ dịch thường chỉ đăng phần tiếng Anh, mục đích để nghiên cứu những nền văn học khác. Cũng như Cơ quan Nghiên cứu Á châu (Association for Asian Studies), nghiên cứu về mọi đề tài từ văn hóa, chính trị, kinh tế các nước ở Á châu từ Đại hàn, Nhật, Trung quốc xuống đến các nước phía Nam.

Văn học Hải ngoại từng có tờ báo giấy tiếng Anh, Wordbridge (Câu Chữ), tạp chí văn học và văn học dịch thuật, và trên online, The Writer Post (www.thewriterpost.net), cả hai được thành lập từ năm 1999, do nhà văn N. Sao Mai sáng lập và chủ biên.

2/ Hiện nay có 18 nước chấp nhận những sáng tác được dịch ra tiếng Anh, gửi đến từ mọi nơi trên thế giới: Argentina, Papua New Guinea, Canada, South Africa, Tây Ban Nha (Spain), Trung Quốc, Singapore, Tân Tây Lan (New Zealand), Nigeria, Thái Lan, Úc, Hòa lan (Netherlands), St Vincent and the Grenadines, Pakistan, Nhật Bản, Botswana, Ái Nhĩ Lan (Ireland), Hoa Kỳ.

3/ Những tạp chí song ngữ, thơ và văn học, tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, có thể kể: Đại hàn, Nhật, Trung Quốc, Đức, Pháp, Phần Lan … các ngôn ngữ Anh-Latino, Anh-Bengali …

Tho Tuyen Duc PHO: Hard Cover (Hardcover) | Sparta Books

4/ Nhà thơ Ý Lidia Chiarelli, chủ trương Blog Immagine.Poesia, sau khi đăng những bài tiểu luận ngắn về con Virus Vũ Hán, đã giới thiệu nhà biên tập Maria Vnuck, tạp chí văn học quốc tế International Writers’ Journal sáng lập từ January, 2020, tại Mỹ, đăng bài thơ và tiểu luận sau đây:
– IWJ 1/2021 (January-March) – Lingering (Níu Lại)
– IWJ 2/2021 (April-June) – New Eclectic Style (Phong Cách Tân Triết Trung)

5/ Sách Mới Nhận: Tuyển Tập Thơ Đức Phổ, Văn Học Mới xuất bản, 355 trang, giá 20.00 US.

Hy vọng báo Song Ngữ sẽ nhập vào được với sinh hoạt mới lạ và phong phú này, đưa một phần thơ Việt làm quen với những dòng văn học mang tầm quốc tế khác.


Thư tòa soạn


Khe Iem
THE BICYLE POEM / BÀI THƠ XE ĐẠP
For Dr. Carol J. Compton

THE MYTH OF INNOCENCE
THẦN THOẠI VỀ NÀNG NGÂY THƠ
Khế Iêm chuyển dịch thơ 
Louise Glück

THƠ LIDIA CHIARELLI
Khế Iêm chuyển dịch
Niagara
Boston


KỊCH THƠ
THƠ VẦN ĐIỆU & TỰ DO


Trầm Phục Khắc
HÒN THAN

Đức Phổ
THÁNG TƯ ĐẠI DỊCH

Lý Thừa Nghiệp
SƯ VỀ NÚI

Phan Tấn Hải
MỜI EM VỀ NGỒI

Phạm Quốc Bảo
ĐIÊN

Linh Vũ
AN TRÚ TÂM

Lê Giang Trần
MỘT NGÀY CÔ ĐỘC

Mục Tú
ĐÊM CHỜ BÃO


THƠ TÂN HÌNH THỨC


Phạm Quyên Chi
ẢO TƯỞNG VỀ TUỔI THƠ ĐÃ QUA

Xuân Thủy
ĐỌC VÀO ĐÊM

Hường Thanh
MELBOURNE

Nguyễn Đặng Thùy Trang
THÀNH PHỐ KHÔNG ROMANTIC

Nguyễn Hải Thảo
ĐỀ KHÁNG

Nguyễn Ngọc Trìu
SOI GƯƠNG

Nguyễn Văn Bút
ANH

Thạch Tốt
CON ĐƯỜNG CÓ NGỌN ĐÈN ĐỎ

Trần Văn Quyết
ĐƯỜNG QUÊ

Vĩnh Phúc
SINH NHẬT EM


TIỂU LUẬN


THƠ THÀNH TÔN: THÂN XÁC NHƯ MỘT ÁM ẢNH HIỆN SINH
Trần Doãn Nho


 

VIRUS VŨ HÁN VÀ TÂM TƯ SẦU MUỘN

Ngộ Đạt Quốc sư thời Đường qua 10 kiếp vẫn bị báo ứng

VIRUS VŨ HÁN VÀ TÂM TƯ SẦU MUỘN


Khế Iêm

Con người sinh ra đã khổ đau, sinh lão bệnh tử. Cái chết không phải khổ đau mà là chấm dứt khổ đau. Đó là chuyện tự nhiên của muôn loài. Riêng con người, với tâm trí siêu đẳng, tạo ra những nền văn minh, cũng tạo ra những cuộc chiến tranh khốc liệt, hủy hoại nền văn minh do họ tạo ra, và tàn sát những người vô tội. Nhưng ở thời cổ đại thì sao?

Câu chuyện thần kì (miraculous story) về một nhà sư tên Ngộ Đạt vẫn còn lưu truyền cho tới ngày nay. Ngộ Đạt là người rất thông minh, có tài văn chương. Thời vua Đường Tuyên Tông (810 – 859), ông được triệu vào kinh để thuyết pháp (to preach), và ban cho danh hiệu Đại đức Ngộ Đạt Pháp sư. Ngày nọ, nhà sư gặp một vị tì-khưu (Bhikkhu), là tôn giả Ca-nặc-ca-bạt-phạt-tha, hóa thân đến nhân gian để cứu độ chúng sinh, bị ghẻ lở (scabies), nằm thoi thóp bên đường, không ai dám lại gần. Nhưng nhà sư vì lòng thương cảm đã mang đồ ăn đến cúng dường. Không lâu sau, vị tì-khưu chia tay, và nói, “… Tôi là người ở Tứ Xuyên, như sau này ngài có bệnh hoạn gì, thì mời đến núi Cửu Lũng ở Bành châu thuộc Tây Thục mà tìm tôi, phía trước có hai cây tùng rất cao tán tròn xoe”.
 
Vài năm sau, Ngộ Đạt Quốc sư được hàng vua quan kính trọng, sống đời hưởng lạc, tự cao tự đại. Đến một hôm, bất chợt trên đầu gối nổi lên cái mụn như mặt người, có mắt mũi miệng, khiến nhà sư vô cùng đau nhức, thầy thuốc giỏi khắp thiên hạ không ai chữa được. Rồi bất chợt, nhà sư nhớ đến câu nói của vị tì-khưu, bèn tìm tới núi Cửu Lũng, gặp vị tì-khưu, “Ngài không phải lo buồn, ở đây có một ngọn núi, dưới núi có dòng suối, bất cứ ai mắc bệnh gì, chỉ cần dùng nước suối này rửa một lần, bệnh lập tức khỏi. Nay đã tối, ngài nghỉ ngơi, sáng mai tôi sẽ dẫn ngài ra suối rửa”.
 
Sáng sớm hôm sau, lúc sắp rửa thì cái mụn la lên: “Không cần rửa, ta có chuyện quan trọng muốn nói cho ngươi biết”, “Người đọc nhiều sách, nhưng đã đọc truyện Viên Áng giết Triệu Thố trong Tây Hán Thư chưa?”. Sư đáp: “Trước đó, có đọc”. (Viên Áng và Triệu Thố đều là quan thần triều Hán Cảnh đế, vốn đã bất hòa với nhau. Năm Hán Cảnh đế thứ 2, trước năm 155, Viên Áng dùng thủ đoạn giết Triệu Thố ở Đông thị.)

Cái mụn nói: “Ngươi vốn là Viên Áng, còn ta là Triệu Thố; ngày nọ ta vì một câu nói mà bị ngươi chém ngang lưng ở Đông thị. Việc này hoàn toàn oan uổng. Từ đó ta nghĩ đến việc báo thù, nhưng rất tiếc ta không có cơ hội, vì ngươi mười đời là cao tăng. Đến đời nay, ngươi được hưởng bổng lộc vua ban, khởi tâm tham lam, khiến đức của ngươi giảm, từ đó ta mới có cơ hội làm cho ngươi bị bệnh. Bây giờ, ta mong rằng tôn giả Ca-nặc-ca-bạt-phạt-tha dùng nước pháp Tam muội rửa cho ngươi, khiến ngươi thoát khỏi, và cũng cứu giúp ta siêu thăng, từ nay về sau, ta và ngươi không còn oán thù nữa”.

Nhà sư nghe xong, lông tóc dựng đứng, múc nước rửa mụn, cảm thấy đau tận xương tủy, nằm mê man rất lâu sau mới tỉnh dậy. Lúc đó cái mụn tiêu mất, cũng không thấy dấu tích vị tì-khưu, nhà sư bèn quỳ xuống đảnh lễ tạ ơn. Nhà sư trở về kinh thành rồi soạn viết Tam Muội Thủy Sám gồm 3 quyển, để làm phương tiện cho tăng tín đồ sám hối nghiệp chướng.
 
Câu chuyện thời tiền sử Trung Hoa cho chúng ta biết, con người ai cũng có tội, không nặng thì nhẹ. Kinh nói:”Kẻ phàm phu mỗi khi động chân cất bước là đã có tội”. Thân, khẩu, ý. Đời người, tội lỗi không ngoài ba điều: phiền não, nghiệp chướng (Karma), quả báo. Vì phiền não mới sinh ác nghiệp, vì ác nghiệp phải chịu khổ đau. Phiền não đều do ý (thought) đụng chạm với nhau gây ra. Hàng tỷ người thì hàng tỷ ý khác nhau, không ý nào là đúng. Và khi ý nghiệp phát khởi, thì thân nghiệp, khẩu nghiệp, theo đó phát động. Hoặc say đắm dục lạc, sanh ra “phiền não ham muốn”, hoặc giận dữ bực tức, sanh ra “phiền não hãm hại”, hoặc ngã mạn tự cao, sanh ra “phiền não ngạo nghễ”… Chúng sanh bị chìm đắm mãi trong bể khổ cũng do thói quen che giấu tội lỗi. Nếu biết tội, ăn năn sám hối thì không còn tội.
Nhưng con virus Covid-19 ở thời hiện tại cho chúng ta biết, với hàng triệu người bị lây nhiễm, và gần cả triệu người đã chết, tất cả đều vô tội. Nếu vô tội mà khổ đau thì con người thật đáng thương. Chúng ta sinh ra làm người đã là may mắn, vậy thì hạnh phúc hay khổ đau là cần thiết, giúp nhận biết mình là ai trong cuộc đời này. Con người đều có cái ngã, lớn hay nhỏ đều tùy thuộc vào hạnh phúc hay khổ đau. Khổ đau cho chúng ta cảm nhận rằng chúng ta có tội. Có tội phải ăn năn sám hối. Sám hối sẽ không gây ra đố kỵ ghen ghét. Không đố kỵ ghen ghét thì tâm tính bình an. Tâm tính bình an thì sẽ quan tâm tới khổ đau của người khác, phát hiện tấm lòng vị tha, giúp đỡ mọi người. Thấy không ai còn khổ đau, thì mình sẽ cảm thấy hạnh phúc. Vì vậy, theo văn hào Pháp, Alexandre Dumas (1802-1870), “Chỉ có ai đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng mới có khả năng cảm nhận được hạnh phúc tột cùng.” (Only a man who has felt ultimate despair is capable of feeling ultimate bliss.). Nếu đói, chúng ta ăn sẽ ngon, dù thức ăn có ngon hay dở. Trường hợp, chúng ta tự nhịn đói để chữa bệnh hay kích thích trí tuệ, đó là chuyện bình thường. Nhưng với những người đói vì hoàn cảnh bên ngoài như đói kém, mất mùa, khổ đau của họ là tột cùng. Và nếu có người cứu giúp, sẽ mang tới cho họ hạnh phúc tột cùng.
 
Hoặc, “khổ đau là bạn, hoạn nạn là thầy.” Như vậy, trong đời cần có khổ đau ư? Bán cầu não phải: diễn đạt cảm xúc, trực giác, vô thức, nảy sinh ý tưởng mới, tổng hợp, hiện tại và tương lai. Bán cầu não trái: thuộc lý trí, với ý thức, kiến thức, sự quen thuộc, sự kiện, giải thích, nhận biết, hiện tại và quá khứ. Trong cuộc sống bình thường, người thiên về bán cầu não trái cực đoan hơn, có khả năng ăn nói lưu loát, còn người thiên về bán cầu não phải, chịu đựng hơn, ít có tinh thần tranh đua. Đối với các nhà khoa học, họ thường kết hợp cả hai. Nhưng với những nhà văn nghệ sĩ đích thực, sáng tạo thường thiên về bán cầu não phải, và vướng vào cảm xúc nhiều hơn. Và đó chính là nguồn gốc dẫn đến khổ đau. Nếu không có khổ đau thì làm sao có cảm xúc để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật? Cái gì cũng phải có giá. Tiếng tăm càng nổi trội, càng bị đánh phá, càng chịu đựng khổ đau, thậm chí thù trong giặc ngoài.
 
https://phatgiao.org.vn/ngo-dat-quoc-su-thoi-duong-qua-10-kiep-van-bi-bao-ung-d35592.html

Nói chung, con người sinh ra, ai cũng mong cầu hạnh phúc, sống một cuộc đời có ý nghĩa. Khổ đau, hay bất hạnh, ngược lại, làm cho cuộc đời vô nghĩa, và con người có xu hướng kích thích nhu cầu đi tìm ý nghĩa. Các nhà sử học ghi lại các cuộc chiến tranh vĩ đại, tội ác và thảm họa của lịch sử nhiều hơn so với các thời đại của hòa bình, thịnh vượng. Các nhà tâm lý học nhấn mạnh đến bệnh trạng, thất bại và bất hạnh, hơn là thành công và niềm vui. Tiểu thuyết trình bày chi tiết về cuộc đời và các sự kiện cá nhân mà mọi người muốn đọc, mặc dù kết thúc có hậu, nhưng rất ít tiểu thuyết dành không gian cho hạnh phúc. Thay vào đó, tiểu thuyết đề cập đến tội phạm, gia đình xung đột, đẩy con người vào khổ đau. Để hồi phục, người ta có thể tìm ra ý nghĩa nào đó để giải quyết vấn đề, chẳng hạn, bước vào thế giới sáng tạo của nghệ thuật, hoặc sống cuộc đời tu hành.


Rồi đóng lại cánh cửa Tâm Tư Sầu Muộn.
Wednesday, ngày 2 tháng 9, 2020

.

THƠ VIỆT TRÊN ĐƯỜNG BIẾN ĐỔI

A-meal-in-harvest-time-–-Nguyen-Phan-Chanh
A-meal-in-harvest-time-–-Nguyen-Phan-Chanh

Trong hội nghị này, hợp tác cùng Hội đồng Giáo chức Giảng dạy và Nghiên cứu Ngôn ngữ Vùng Đông Nam Á (Council of Teachers of Southern Asian Languages), thơ chỉ là một trong 219 cuộc hội thảo, bao gồm khoảng 800 diễn giả về đủ mọi vấn đề từ lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, ngôn ngữ, văn học… của các nước Á châu từ Trung hoa, Nhật bản, Đại hàn, Ấn độ cho tới Mã lai, Indonisia… Chủ đề của cuộc hội thảo (panel) thơ: “Poetry as a Window on History and Change in Southeast Asia” (Thơ như cánh cửa sổ qua lịch sử và biến đổi tại Đông Nam Á), với ba nước Thái Lan, Phi Luật Tân và Việt nam. Bốn diễn giả gồm:

1/ Ruth Mabanglo, University of Hawaii, Manoa: “Filipinas in the Margin: Metaphorizing Women in Diaspora.

2/ Chiranan Pitpreecha, Cornell of University: “Recording Motion and Emotion: Poetry as History”

3/ Khe Iem: “Contemporary Vietnamese Poetry: On the Path of Transformation”

4/ John C. Schafer, Humboldt State University: “Trinh Cong Son: A Songwriter and a Poet”

Chủ tọa: Carol J. Compton, University of Wisconsin, Madison. Thảo Luận: Thomas John Hudak, Arizona State University.

Trong bài này, tùy theo vị trí, những nhà sử học, xã hội học hay văn học có thể nhìn và đánh giá những sự kiện lịch sử theo những chiều hướng khác nhau. Ngay cả trong phạm vi văn học, chúng tôi cũng chỉ lược qua những điểm chính yếu để nhìn ra chiều hướng thay đổi  chứ không đi sâu vào toàn bộ những dòng văn học khác nhau của từng thời kỳ. Vì vậy, những khuyết điểm chắc chắc không thể trách khỏi, mong được sự góp ý và bổ sung thêm của thân hữu và bạn đọc, những điều chúng tôi chưa biết hoặc còn thiếu sót.


THƠ VIỆT TRÊN ĐƯỜNG BIẾN ĐỔI
(Hay Bức Tranh Văn Học) 

Khế Iêm

Trong hội nghị hàng năm lần thứ 56 của Hiệp hội Nghiên cứu Á châu (Association For Asian Studies) hợp tác cùng Hội đồng Giáo chức Giảng dạy và Nghiên cứu Ngôn ngữ Vùng Đông Nam Á (Council of Teachers of Southern Asian Languages), thơ là một phần của hội nghị này. Chủ đề của cuộc hội thảo (Panel Description): Thơ như cánh cửa sổ qua lịch sử và biến đổi ở vùng Đông nam Á (Poetry as a Window on History and Change in Southeast Asia). Hiểu một cách nào đó, thơ gắn liền với lịch sử và biến đổi. Lịch sử ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm luôn những biến đổi về ngôn ngữ, văn học và chính trị, vì đó là những yếu tố không thể nào tách rời của khu vực văn hóa. Đề cập tới thơ, có nghĩa là đề cập tới toàn cảnh văn học vì trước thời kỳ chữ Quốc ngữ, Việt nam hầu như không có tiểu thuyết viết bằng văn xuôi. Cho đến khi chữ Quốc ngữ được dùng để dịch những tác phẩm của Trung hoa và Pháp, và vào lúc Nam phong Tạp chí ra đời, mới bắt đầu xuất hiện truyện ngắn. Như vậy tiểu thuyết chỉ mới có từ khoảng 19211 trở về sau, tiêu biểu là tác phẩm Tố Tâm, một tiểu thuyết lãng mạn của Hoàng Ngọc Phách. Những tiểu thuyết sau đó dù lãng mạn hay hiện thực đều sáng tác nương theo cách kết cấu và diễn đạt qua những tác phẩm dịch ngoại quốc, hòa nhập cùng phong cách của nghệ thuật tu từ của thơ. Những biến động văn học, chủ yếu  do thơ, vì thơ mới chính là linh hồn của mọi biến động trong văn học. Nhưng qua thơ, xuyên suốt hơn 1000 năm, luôn luôn bị chi phối bởi quyền lực chính trị, cùng với sự thay đổi chữ viết, vì thế chúng ta phải nhìn qua nhiều khía cạnh, nhiều lăng kính từ ngôn ngữ, những biến cố lịch sử cùng ảnh hưởng văn hóa từ Trung hoa và phương Tây để có thể hiểu rõ những khúc quanh chuyển đổi của thơ nói riêng và văn học Việt nam nói chung.

Những thời điểm văn học        

Trong lịch sử, Việt nam đã có khoảng 1000 năm lệ thuộc Trung hoa2 (từ năm 111 trước  Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên) và 80 năm bị Pháp đô hộ (từ năm 1883-1945). Những năm tháng mất chủ quyền, đã hằn lên dân tộc Việt những dấu ấn văn hóa, và ảnh hưởng sâu đậm tới tâp tục, đời sống và văn học. Người Trung hoa khi cai trị đã mang tới tập tục như hôn nhân, lễ giáo, dạy dân cày cấy để sinh sống, mong đồng hóa dân Việt, đồng thời dạy chữ viết để dùng trong công việc hành chính thông thường, bởi vì trước đó, người Việt có tiếng nói riêng nhưng không có chữ viết. Sau khi Ngô Quyền (939-965) giành được độc lập, đến đời nhà Đinh3 (968-980) mới tổ chức theo chế độ chuyên chế của Trung hoa, và tiếp tục dùng chữ Hán trong các công văn giấy tờ, và sự giao tiếp giữa hai nước. Thơ chữ Hán có lẽ đã bắt đầu từ đời nhà Lý, do những thiền sư làm ra, thường là các bài kệ3, vì trước đó, việc học chỉ có ở trong các chùa chiền. Phật giáo vào Việt nam qua hai đường Ấn độ và Trung hoa, phần nhiều kinh điển viết bằng chữ Hán nên các thiền sư giỏi chữ Hán, và Hán học nhờ Phật học mà truyền bá trong dân gian.

Đến thế kỷ thứ 10, hầu như mọi nghi lễ, học thuật, văn tự, nghệ thuật, tôn giáo cho tới chế độ gia tộc, chính trị, xã hội đều rập khuôn theo Trung hoa. Năm 1075, vua Lý Nhân Tôn mở khoa thi đầu tiên, để tuyển chọn nhân tài ra làm quan. Do đó, tuy thoát ra khỏi sự lệ thuộc về chính trị, nhưng vẫn lệ thuộc vào chữ viết và văn hóa, cho đến đời vua Trần Nhân Tôn (1279-1298), Hàn Thuyên5 lấy chữ Nôm làm bài “Văn Tế Cá Sấu”, một loại chữ chiết tự theo chữ Hán. Chữ Nôm, chuyển âm nói của tiếng Việt, cách viết cũng khó như chữ Hán, chỉ giới quan lại và sĩ tử mới hiểu, nên không thông dụng trong dân chúng. Chữ Nôm có từ bao giờ, không ai biết, nhưng có lẽ phát sinh từ nhu cầu của đời sống xã hội, có những tên người, tên xứ, tên đồ vật… không dùng chữ Hán để viết trong các công văn, giấy tờ, phải ghép những chữ Hán, một phần hay toàn thể, để thành chữ mới, viết tiếng Việt. Chữ Nôm không có qui luật nhất định, mỗi người dựa theo ý riêng mà đặt thành nên khi đọc phải đoán ý mà hiểu.

Vào thế kỷ 16, trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, những nhà buôn và giáo sĩ truyền giáo người phương Tây bắt đầu đặt chân tới Việt nam. Vì chữ Nôm khó học, các giáo sĩ bèn dùng chữ alphabet, ghi âm tiếng Việt để dễ dàng truyền đạo, và dịch kinh Thánh. Chữ quốc ngữ là công sức của nhiều người, gồm các giáo sĩ Ý, Pháp, Bồ Đài Nha… Đến năm 1651, Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660) soạn ra cuốn tự điển Việt nam-Bồ Đào Nha-La tinh và in tại La Mã thì chữ Quốc ngữ được dùng từ đó. Khi người Pháp chiếm Nam kỳ6 vào năm 1863, chiếm toàn Việt nam 1884, đặt Nam kỳ làm thuộc địa, Bắc và Trung kỳ thuộc chế độ bảo hộ, nhưng vào thời kỳ đầu, phải lo bình định những phong trào Cần Vương7, do đó, đến năm 1915 mới bãi bỏ chế độ khoa cử ở miền Bắc, và Huế vào năm 1919, mở trường đào tạo một thế hệ mới, để làm việc cho Pháp, đồng thời thành lập hội Khai trí Tiến đức, dùng chữ Quốc ngữ để quảng bá nền văn hóa Pháp. Song song đó, năm 1906 Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông du8, đưa sinh viên Việt nam sang Nhật du học, vì thấy Nhật Âu hóa mà trở nên hùng mạnh, nâng cao tinh thần yêu nước của thanh niên. Đầu năm 1907, một số nhà Nho yêu nước như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc… mở trường Đông kinh Nghĩa thục9, chủ trương bỏ chữ Nôm, dùng ngay chữ Quốc ngữ, đưa vào tinh thần dân tộc, tiếp thu tư tưởng mới, nâng cao dân trí, chống lại sự đồng hóa văn hóa.

Đến cuối năm 1907, Pháp đóng cửa Đông kinh Nghĩa thục, ký kết với Nhật cấm du học sinh. Công cuộc tranh đấu của phong trào Đông du và Đông kinh Nghĩa thục thất bại, một số học giả quay về thỏa hiệp với Pháp, làm công việc nghiên cứu, khảo luận, dung hòa văn hóa Đông Tây. Nằm trong chiến dịch tuyên truyền văn hóa, chính phủ thuộc địa Pháp tài trợ cho Đông Dương tạp chí10 (1913-1915) của Nguyễn Văn Vĩnh, chuyên dịch thuật những tác phẩm từ Hán văn và Pháp văn ra Quốc ngữ, đặc biệt là Nam Phong tạp chí11 (1917-1932) của Phạm Quỳnh, viết bằng ba thứ tiếng, Quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán, lựa chọn những tác phẩm có giá trị tư tưởng, biên khảo công phu, mang tính học thuật, phát hành rộng rãi để lôi kéo mọi thành phần người đọc, từ cựu đến tân học, truyền đạt học thuật cổ kim và du nhập tư tưởng Đông Tây. Cuốn “Tục ngữ Phong dao” (1928) của Nguyễn Văn Ngọc (1880-1942), sưu tầm 8000 câu ca dao tục ngữ12, nằm trong chiều hướng đó, bác cầu cho sự hòa điệu sau này giữa thơ cũ và mới. Ở đây chúng ta thấy sự quan trọng của chữ viết, chữ alphabet dễ học, dễ viết, gần gũi với chữ viết của Anh, Pháp, đã chuyển ảnh hưởng văn hóa từ Trung quốc qua phương Tây.

Năm 1932, một thế hệ mới trưởng thành, không còn theo khuynh hướng dung hòa văn hóa Đông Tây của thế hệ Đông dương và Nam phong tạp chí, đả kích cái cũ, ca ngợi cái mới. Khởi đầu là nhà văn Nhất Linh, xuất bản tờ Phong Hóa13, và thành lập Tự Lực Văn Đoàn vào năm 1933, gồm Nhất Linh, Khái Hưng (1896-1947), Thạch Lam (1910-1942), Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Nguyễn Gia Trí (1908-1993) và Thế Lữ (1907-1989), dùng chữ quốc ngữ để sáng tác thơ văn. Sau đó thêm rất nhiều người khác như Xuân Diệu (1916-1985), Huy Cận (1919-), Vũ Hoàng Chương (1916-1976), Đinh Hùng (1920-1967)… xuất thân từ dòng dõi Nho học, có Tây học, kết hợp giữa thơ Đường với ca dao lục bát, là một dòng thơ dân gian, và văn thơ Pháp, để làm thành loại thơ vần điệu đặc biệt Việt nam, gọi là thơ văn Tiền chiến14. Cho tới thời điểm này, mọi sinh hoạt chữ nghĩa, văn thơ bằng chữ viết, đều hạn chế trong những thành phần có học ở thành phố, vì đa số người dân  vẫn còn mù chữ. Đến đây, văn học Việt nam chính thức bước hẳn qua một thời kỳ khác, chấm dứt một thời gian dài ảnh hưởng văn hóa Trung hoa.

Trước đó, Việt nam theo chế độ quân chủ chuyên chế của Trung hoa, dựa vào cách tổ chức xã hội của Nho giáo để cai trị dân. Nho giáo trở thành một lý thuyết chính trị và nhà Nho trở thành những nhà chính trị. Nho giáo chủ trương quân quyền và phụ quyền, vua là con trời, bắt bầy tôi chết, bầy tôi phải chết. Cũng như trong chế độ gia trưởng, quyền của người cha là tuyệt đối. Vua chúa dựa vào giai cấp Nho sĩ để trị nước an dân, Nho sĩ dựa vào vua chúa để hưởng đặc quyền đặc lợi. Để thi hành quan điểm chính trị, nhà Nho nắm lấy chính quyền, ra làm quan, qua con đường khoa cử.  Trong các kỳ thi15, sĩ tử phải làm thơ văn bằng chữ Hán, đúng vần và luật, rất phức tạp và khó khăn, và nếu phạm những điều cấm kỵ, có thể bị tù tội. Nho học biến thành lối học khoa cử, kết quả là từ vua tới quan đều là những nhà thơ lành nghề trong các lối từ chương, tiểu xảo, đẽo gọt câu chữ sao cho cầu kỳ bóng bảy. Vì vậy trải qua gần hai ngàn năm ảnh hưởng Trung hoa, thơ chữ Hán chỉ là loại thơ quan trường, ít có giá trị, nếu so sánh với những nhà thơ đời Đường của Trung hoa. Thơ từ khởi đầu là một phương tiện tìm kiếm quyền lực, rồi sau đó trở thành quyền lực. Khi nhà Nho biến thành ông quan, những nhà cai trị, thơ mang ý nghĩa linh thiêng, tôn kính, không còn là một nghệ thuật thông thường. Chữ Hán được coi như chữ của Thánh hiền, không thể đem ra để đùa cợt, giải khuây. Nhưng từ khi Hàn Thuyên dùng chữ Nôm, là chữ nôm na của bọn dân quê chất phác, làm bài văn tế, thì càng lúc càng có nhiều người làm thơ chữ Nôm để làm dịu bớt những lễ nghi phép tắc căng thẳng trong chốn quan trường. Thơ Nôm mượn những thể thơ của Trung hoa, dần dần chuyển hẳn, dùng ngay thể thơ dân gian là lục bát hay song thất lục bát. Như vậy, lúc đầu những nhà thơ chỉ dùng chữ Nôm làm thơ để mua vui, sau đó một số nhà thơ có tài, lại gặp được thứ chữ có thể tự do giải bày tâm sự, đã đẩy thơ Nôm lên hàng nghệ thuật hơn cả thơ Đường, làm thành dòng thơ cổ điển. Con người quan cách lấn lướt con người mua vui, thơ Nôm trở thành loại thơ cao cấp, đầy điển tích khó hiểu, thay thế thơ chữ Hán.

Nếu trước kia thơ chữ Hán và quyền lực chính trị nhập làm một thì bây giờ, thơ chữ Nôm tách ra, đối kháng với quyền lực chính trị. Trong con người nhà thơ, ẩn chứa hai thứ quyền lực, vừa ảo tưởng vừa chính trị, vừa là nhà thơ vừa là ông quan, như Nguyễn Du tuy làm quan với triều đình nhà Nguyễn nhưng luôn luôn bất mãn, đành dùng thơ để gửi gấm tâm sự. Thơ chữ Nôm cũng như chữ Hán là sản phẩm của nền văn hóa phong kiến, thấm đẫm tính chất quan quyền, độc đoán, mất hẳn sự cảm thông với đại chúng, chỉ dành riêng cho tầng lớp sĩ phu, tự mệnh danh là “đại nhân, quân tử”. Người đọc và nhà phê bình, dĩ nhiên, không có vị trí nào trong dòng thơ đó. Khi người Pháp vào đô hộ, chấm dứt khoa cử, đào tạo một thế hệ mới, vì chỉ lo trị an, không quan tâm và can thiệp vào việc sáng tác, nên thơ văn mới rũ bỏ được những ám ảnh quyền lực ảo tưởng và chính trị.

Người bình dân không biết chữ Hán, chữ Nôm, còn chữ Quốc ngữ chưa phát triển, đứng ngoài thế giới văn học, có đời sống tinh thần và tình cảm riêng biệt, gần gũi với thiên nhiên, bộc lộ qua những câu hò giọng hát, từ hàng ngàn năm trước. Ca dao là câu hát phổ thông trong dân gian, thường là theo thể lục bát hay song thất lục bát, diễn tả những lề thói, phong tục, tính tình của bình dân đại chúng. Vì trong sinh hoạt thường ngày, như đi cấy, tát nước, giã gạo, ngay cả ru con, không có công việc nào mà người bình dân không kèm theo những câu hát, để làm vơi đi những sự khó nhọc. Thật ra, ca dao lục bát cũng do những người có học làm ra, để răn dạy đời, hay phản ảnh tâm tư tình cảm, và là một nhu cầu trong sinh hoạt của xã hội nông nghiệp. Ca dao lục bát vì vậy rất ngắn gọn, 2 hay 4 câu, là một ngôn ngữ có vần điệu, một ngữ điệu hát hò, là một loại văn chương truyền khẩu hay văn chương bình dân.

Trong khi thơ Đường là một thơ thể luật, rất khắt khe và gò bó, luật từng câu dòng, như ngũ ngôn tứ tuyệt (một dòng 5 chữ, 4 câu) hay thất ngôn bát cú (mỗi dòng 7 chữ, 8 câu). Thơ  Tiền chiến mượn vần, các thể 5, 7 chữ của Đường thi, thêm vào thể 8 chữ và lục bát, nương theo ngữ điệu của ngôn ngữ. Nhưng ca dao cũng chỉ dừng lại ở những câu hò hát, theo bản năng tự nhiên, không thể tạo thành luật tắc và quan điểm mỹ học riêng. Những nhà thơ cổ điển và Tiền chiến theo tiếng gọi của tiềm thức, qua ca dao, tìm về bản sắc dân tộc, để hình thành dòng thơ Việt, nhưng đơn thuần chỉ nói lên tâm tình của một thiểu số có địa vị trong xã hội. Nếu thơ cổ điển đầy những điển tích và hình ảnh của một đất nước Trung hoa xa lạ thì thơ Tiền chiến là những tình tự trai gái, lãng mạn và cá nhân chủ nghĩa, lạc lõng trong đời sống xã hội truyền thống. Trong dòng thơ Việt, cho tới bây giờ chưa bao giờ có hình bóng của đám đông. Đám đông dân chúng, thật ra là mọi thành phần ở ngoài giai cấp văn học, luôn luôn bị nhìn như những kẻ thất học.

Điều đáng nói là từ năm 1932 đến 1945, đất nước tương đối thanh bình, nhưng  đến năm 1945, thế chiến II chấm dứt, Việt nam rơi vào cuộc chiến 9 năm chống Pháp, và kết quả là hiệp định Genève16, 20-7-1954, chia đôi đất nước: Miền Bắc theo chế độ cộng sản, miền Nam theo chế độ tư bản. Chẳng bao lâu sau, khoảng cuối năm 1960, một cuộc chiến khác bùng nổ, và lần này là cuộc chiến giữa hai miền. Và cũng ở vào thập niên này, miền Bắc có phong trào Nhân văn Giai phẩm17, và miền Nam với phong trào thơ tự do, cả hai đều gồm những nhà thơ có khuynh hướng thoát ra khỏi dòng thơ Tiền chiến, sáng tác theo thể tự do hay gần với thể thơ tự do. Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, thơ Việt rơi vào hai thập niên bất động, và tới đầu năm 2000 mới nổi lên phong trào thơ tân hình thức. Trong bài viết, chủ yếu chúng tôi dùng phương pháp so sánh, và nương theo những biến cố lịch sử quan trọng để làm bật lên đặc tính và sự chuyển hóa của thơ Việt, từ thập niên 1960 tới nay.

Con đường chuyển hóa

Trong thời gian đô hộ Việt nam, Trung hoa có thời đại nhà Đường (618-906), một thời kỳ cực thịnh về văn học, đặc biệt là thơ với thơ Đường. Cách làm thơ Việt, dù có thay đổi qua nhiều thời đại, nhiều thời kỳ thơ, và cả khi thay đổi chữ viết, vẫn theo tinh thần và phong cách Đường thi. Để hiểu rõ hơn tính cách này, chúng ta có thể dựa vào điển tích như sau:

Nhà thơ Trung hoa, Giả Đảo (779-843), khi còn thanh niên, lên kinh đô thi, có làm 2 câu thơ:

Mã túc trì trung thụ
Tăng thôi (xao) nguyệt hạ môn

Ngựa ngủ ở khóm cây bờ ao
gõ (đẩy) cánh cổng dưới ánh trăng

Ông chưa ưng ý chữ “thôi” (gõ), đang đi đường suy nghĩ, không hay có quan Lệnh doãn (quan coi về kinh sư) là Hàn Dũ (768-824) đi qua. Lính dẹp đường bắt, ông trình bày lý do, Hàn Dũ khuyên ông dùng chữ “xao” (đẩy) thay vì chữ “thôi” (gõ), đắc địa hơn, và tha cho. Ý của hai câu thơ vừa sâu sắc vừa đòi hỏi người đọc phải có một sở học uyên thâm. Giả Đảo mượn quan điểm của Phật giáo, coi trần tục là cõi “tâm viên ý mã”, có nghĩa là tâm con người nhảy nhót như vượn, ý lồng lộn như ngựa, không lúc nào yên. Nhà sư kiềm chế được cái tâm của mình, như hình ảnh con ngựa ngủ bên khóm cây, bóng soi dưới bờ nước, tượng trưng cho cõi đời hư ảo. Nhưng khi an được cái tâm rồi, nhà sư gõ (đẩy) cửa, để tìm ra chân lý, vì phật pháp, kinh kệ chỉ là một phương tiện, là ngón tay chỉ, và mặt trăng mới là chân lý. Nhà sư đang trên hành trình đi tìm giải thoát, tìm niết bàn. Hình ảnh con ngựa, cánh cửa, và ánh trăng tượng trưng cho cái tâm con người, phật pháp và chân lý. Hàn Dũ khuyên dùng chữ “xao” có nghĩa là đẩy, không những nhẹ nhàng, mà còn như ám chỉ, chân lý không ở đâu xa, chỉ trong gang tấc.

Với hai câu thơ thôi, mà đã mở ra cả một nhân sinh quan. Đây là cách làm thơ “ý tại ngôn ngoại”, có nghĩa là ý ở ngoài lời. Sau này, Giả Đảo làm quan, khi cáo lão điền viên, trở thành nhà sư, vẫn tiếp tục làm thơ, từng than:

Lưỡng cú tam niên đắc
Thi thành song lệ thùy

Ba năm làm được hai câu
Thơ xong, hai dòng lệ ứa

Sự tích “Thôi Xao” (gõ, đẩy), và phương cách thể hiện ý ở ngoài lời ảnh hưởng xuyên suốt đời sống văn học Việt, từ chữ Hán qua Quốc ngữ, từ thơ Đường qua Tiền chiến, và tự do. Thi pháp Đường thi là một nghệ thuật cấp cao, đòi hỏi người làm thơ và đọc thơ phải tinh tường ba nguồn tư tưởng Phật, Lão và Nho giáo, không chủ trương phản ảnh, mà là vượt thoát khỏi thế giới thực tại. Thơ cổ điển và Tiền chiến là một nghệ thuật tu từ, dùng chữ, chọn chữ, theo như quan niệm của Giả Đảo, chỉ khác là thơ cổ điển lạm dụng điển cố, rút ra từ văn học Trung quốc, còn thơ Tiền chiến chủ vào ngôn ngữ óng chuốt để diễn đạt tình tự lãng mạn. Thơ Việt cho đến 1945, sinh hoạt trong một xã hội bình thường, nên cách làm thơ theo đúng nghệ thuật tu từ, nhưng sau thập niên 1960, ở cả hai miền Nam Bắc, hoàn cảnh xã hội thay đổi, phong cách cũ đã không còn phù hợp, những nhà thơ tìm cách thay đổi phương pháp biểu hiện.

Ở miền Bắc, nhà nước cấm đoán mọi sự thay đổi, nên những nhà thơ trở lại với con chữ, dù rằng những sáng tác không thể phổ biến, chỉ giữ lại cho riêng mình. Chữ được dùng một cách khác thường, dù chỉ là những chữ thông thường, không quan tâm tới vấn đề cú pháp, biện minh bằng phương pháp ý ở ngoài lời, đa tầng đa nghĩa, nhưng không có nghĩa nào là đúng thực. Trong khi ở miền Nam, những nhà thơ chủ trương đổi mới, đa số di cư từ miền Bắc 1954, còn xa lạ với môi trường sống, vài năm sau lại bị cô lập trong thành phố vì chiến tranh, quay về nội tâm và sách vở, chú tâm vào chữ, mục đích để tạo cảm xúc chứ không phải truyền đạt tư tưởng. Như vậy, cả hai miền Nam Bắc, và thơ tự do ngoài luồng sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, quan điểm tu từ là tìm những chữ hiếm, chữ lạ, làm bật lên một số chữ để tạo nên những hình ảnh bất ngờ, không có gì là thực.

Ảnh hưởng phương Tây, manh nha từ thập niên 1920 cho tới lúc này, từ tư tưởng chính trị đến văn học, vốn dĩ đã chứa đầy tinh thần cực đoan, trong lúc trình độ dân trí chưa đủ sức phân biệt và chọn lọc cái hay cái dở, nên chỉ tiếp nhận được cái phần tiêu cực của những chủ thuyết, Cộng sản và Siêu thực chẳng hạn, mà không biết rằng ở phương Tây, họ đã sàng lọc và đào thải. Sự hăng say quá đáng, đả phá truyền thống của những nhà văn thời Tự lực Văn đoàn là một điển hình, khởi đầu cho những nhiễu loạn trong văn học. Hoàng Đạo, với “Mười Điều Tâm Niệm”, đổi mới hoàn toàn đổi mới. Nhất Linh trong tiểu thuyết “Đoạn Tuyệt”, người vợ tên Loan, tiêu biểu cho thành phần Tây học, đã cầm dao toan giết chồng là Thân, tiêu biểu cho những giá trị cổ truyền. Hình ảnh châm biếm Lý Toét, Xã Xệ17, coi xã hội cũ chỉ toàn những kẻ mù loà, ngu dốt nơi làng thôn. Như vậy khi chỉ tiếp thu được phần tiêu cực của phương Tây thì cũng đánh giá và nhìn truyền thống qua phần tiêu cực mà không phân biệt và rút ra phần tích cực để bổ khuyết và phát huy truyền thống.

Hành động cầm dao, mang tính bạo động đã là mầm mống cho hàng loạt những cuộc bạo động và quá khích sau này. Bởi vì chỉ tiếp thu thành phẩm, đọc những tác phẩm của những tác giả lớn phương Tây, rồi suy diễn và phán đoán, mà không nắm được cốt lõi về ngôn ngữ và văn hóa cùng tiến trình chuyển biến về văn học và xã hội đã đưa tới tình trạng văn học luẩn quẩn trong thuật ngữ và tu từ, suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhưng thế hệ sau tiếp tục đi theo bước chân của thế hệ trước, và cho đến bây giờ vẫn coi phương tây là tuyệt đối văn minh, tạo nên tinh thần độc tôn, bảo thủ, coi người dân bình thường vẫn chỉ là những Lý Toét Xã Xệ của thời Tự lực Văn đoàn, và thơ Việt toàn chữ nghĩa và sách vở, vắng bóng đời sống của mọi thành phần trong xã hội.

Nhưng thơ Việt thập niên 1960 và sau 1975 không chỉ có thơ tự do, mà song song đó vẫn còn thể loại thơ vần điệu, chỉ khác là thơ chính luồng ở miền Bắc nội dung sáng tác chủ vào giai cấp đấu tranh, tính đảng và tính chiến đấu, còn ở miền Nam là làm mới nội dung về tình yêu. Tuy nhiên, dòng thơ vần điệu chỉ thể hiện được cái hay cái đẹp của thơ, chứ không phải là động lực để đẩy thơ chuyển động. Như vậy từ sau thời kỳ Tiền chiến, thơ văn Việt chia làm hai ngả, một đàng vẫn tiếp tục lối diễn đạt theo kiểu tình tự trong sáng, nối tiếp Tự Lực Văn Đoàn, không còn mấy tác dụng, một đàng đổi mới văn học cũng có nghĩa là đổi mới ngôn ngữ, biến thành một dòng văn học chỉ vụ vào chữ, cả thơ lẫn văn. Sự bế tắc kéo dài tới bây giờ, có lẽ vì thiếu hẳn một căn bản mỹ học mới, dẫn tới sự nghèo nàn cả phần tư tưởng học thuật, và đó là vấn đề chúng ta phải giải quyết.

Tu từ (rhetoric) cổ Hy lạp có từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, là một nghệ thuật hùng biện trước công chúng, trong đó bao gồm cả cách dùng chữ chính xác, dù văn nói hay văn viết, một nghệ thuật lý luận và giải thích, chuyên chở tư tưởng để thuyết phục người nghe, đặt căn bản trên cú pháp văn phạm. Lý luận vì thế phải mạch lạc rõ ràng, một vấn đề đặt ra phải dẫn dắt người đọc am hiểu tới nơi tới chốn. Lý luận cũng như tinh thần tự do dân chủ, là một tập tục, một truyền thống lâu đời, có khả năng làm bật ra sự thật, và người nói hay viết phải có tài năng và kiến thức để giải quyết vấn đề một cách rốt ráo, có đầu có đuôi, như một câu truyện kể. Trong thơ, tu từ (rhetorical figure) không làm thay đổi nghĩa chữ mà chỉ là cách lập lại, tạo hiệu quả nhấn mạnh. Nói rõ thêm, tu từ là sự tìm kiếm và dàn dựng ý tưởng qua phong cách diễn đạt, đào tạo khả năng diễn giảng cho giới tu sĩ, luật sư và những nhà chính trị. Ngay từ thời Trung cổ, sinh viên đại học được học về tam khoa (trivium) — văn pháp, tu từ pháp và biện chứng pháp (grammar, rhetoric, and dialectic) — nhấn mạnh vào phong cách và lý luận.

Đến thời Phục hưng, khi máy in được khám phá, chữ viết càng ngày càng trở nên quan trọng, qua nhiều thời kỳ của từng thế kỷ, tu từ chuyển từ thực hành văn nói sang văn viết, và cho đến bây giờ là lý thuyết dạy về văn chương và ngôn ngữ tiếng Anh. Phương pháp giảng dạy đã đạt tới sự hoàn hảo song hành với nền giáo dục, và sau này, Tân tu từ (New rhetoric) lại đưa ra một quan điểm mới, không những chỉ liên quan đến nội dung, cấu trúc hay phong cách bản văn trình bày, mà còn bao gồm thêm vấn đề chính trị xã hội, gắn liền với đời sống, để sự giao tiếp được trung thực, bởi sự hòa trộn nhiều sắc dân sống chung với nhau, có những đặc tính văn hóa riêng, nên thường xảy ra  trường hợp, dù chỉ là những câu chữ đơn giản, cũng đưa tới sự hiểu lầm ý định của người nói hay viết. Tân tu từ vì thế, tách ra khỏi quan điểm cũ, thay vì nghiên cứu bản văn qua nội dung hay cái đẹp, thì bây giờ trở thành phương tiện giải mã thông tin về văn hóa xã hội, tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa mọi con người. Dĩ nhiên, tu từ cũng có khi rơi vào nghĩa tiêu cực (negative terms), dùng chữ khoa trương không cần thiết (unnecessary amplification), giả dối (sham words), rỗng không (empty)… Nói chung, tu từ theo quan niệm phương Tây chỉ là một phương pháp, giúp con người mở ra với thế giới, thì trong khi theo cách hiểu của người Việt lại là cánh cửa đóng lại với thế giới bên ngoài, diễn biến theo đúng với hoàn cảnh lịch sử.

So sánh hai quan niệm về tu từ, chúng ta có thể nhìn ra lý do tại sao thơ Việt phải chuyển hóa. Quan niệm một câu thơ có một chữ hay là một câu thơ hay, một bài thơ có một câu thơ hay là một bài thơ hay. Theo tiến trình, chữ tồn trữ trong đầu người đọc qua học hỏi và kinh nghiệm (từ Hán Việt chẳng hạn), là một ký hiệu gồm âm thanh hình ảnh (signifier) và khái niệm (signified) tự nó có sẵn, và khi tác phẩm văn học chỉ dùng chữ hay câu chữ để gây ấn tượng và cảm xúc, đưa người đọc nhập vào thế giới siêu hình, siêu thực (thật ra, không có gì trong đó, ngoài chữ), tạo ra những ảo giác từ chữ, cắt lìa với đời sống hiện thực. Cái phù phiếm của văn chương, nếu quá độ sẽ biến thành độc hại, và ngôn ngữ sẽ là thuốc độc, mê hoặc con người, nếu không còn là phương tiện chuyển tải tư tưởng từ người này sang ngưới khác. Chữ trở thành đặc quyền đặc lợi cho một thiểu số văn hóa, một thứ quyền lực, nội bất xuất, ngoại bất nhập, và nhà thơ cảm thấy an toàn, chạy trốn thực tại. Cái hay của tác phẩm là cái hay của cảm xúc và hình ảnh toát ra từ chữ, cái dở là từ đó đã kéo theo cả một nền văn học không phát huy được trong phạm vi tư tưởng. Như vậy sự khác biệt giữa hai hệ thống, một đàng biến đổi quan điểm tu từ của Đường thi, từ cách dùng chữ tự nhiên thành bí hiểm, khó hiểu, một đàng dựa vào văn phong và nghị luận, không ngừng tìm kiếm tư tưởng, thay đổi cho phù hợp với thời đại xã hội, vì thế hai bên không thể nào hiểu nhau, dù có chuyển ngữ qua lại những tác phẩm văn học.

Thơ Việt, trong dòng chảy tự nhiên, đã có những thời điểm đáng ghi nhớ. Sau Tiền chiến, ngay trong thập niên 1940, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thơ vần điệu đã không còn đủ sức chuyên chở những biến động của thời thế, và thơ tự do, thật ra chỉ dừng lại ở loại thơ phá thể,  bắt đầu với những nhà thơ như Nguyễn Đình Thi, Hữu Loan, Hoàng Cầm… Rồi chiến tranh chấp dứt, đất nước chia đôi, miền Bắc, tự cô lập với thế giới phương Tây, trong cơ chế xã hội chính trị, mọi sáng tác văn nghệ đều phải dưới quyền chỉ đạo của nhà nước. Một biến cố lớn trong giai đoạn này, xảy ra vụ án Nhân văn Giai phẩm. Sau đại hội đảng cộng sản Liên xô lần thứ 20, vào tháng 2-1955, Nikita Khruschev (1894-1971) lên án đường lối sùng bái lãnh tụ của Joseph Stalin (1879-1953), đồng thời được tiếp nhận thêm phong trào Trăm hoa Đua nở19 của Trung Hoa 1956, tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam là Trường Chinh, bật đèn xanh cho một số văn nghệ sĩ trí thức, xuất bản Nhân văn Giai phẩm, số mùa Xuân vào tháng 1-1956, gồm Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt… đòi hỏi tự do sáng tác và tách rời văn nghệ khỏi chính trị.

Nhưng cùng năm đó lại xảy ra cuộc cách mạng Poznan20 ở Ba Lan và Budapest21 ở Hungary, do những thành phần đảng viên cộng sản hưởng ứng tinh thần xét lại của Khruschev đề ra, nhưng vì Liên xô sợ sẽ làm thay đổi chủ nghĩa cộng sản ở những xứ này nên ra tay can thiệp, và dập tắt. Đảng cộng sản Việt nam cũng sợ sẽ có biến động, liền lập tức đàn áp, khủng bố tinh thần những thành viên phong trào. Đặc biệt những nhà thơ của phong trào đều làm thơ tự do, một thể loại bị lên án và cấm đoán từ thời kháng chiến, có lẽ vì cái tên gọi của nó: tự do, dù rằng đây chỉ là loại thơ phá thể không vần, chứ không phải là thơ tự do theo quan niệm của phương Tây. Những nhà thơ sau đó, đành phải tìm lối thoát cho riêng mình, lui vào bóng tối, tránh né đời sống, đi sâu vào phong cách tu từ.

Trong lúc, thập niên 1960 ở miền Nam, những nhà thơ tiếp nhận thơ tự do phương Tây, trong bối cảnh, người Pháp cuối cùng rời khỏi Việt nam, chấm dứt một thời kỳ dài đô hộ, để rồi, một cuộc chiến khác bắt đầu bùng nổ. Những nhà thơ này, ảnh hưởng văn hóa Pháp, quay mặt lại với vần điệu Tiền chiến, cổ súy phong trào thơ tự do. Khác biệt về hoàn cảnh xã hội, hệ thống ngôn ngữ và văn hóa, phương pháp biểu hiện, lại ở cách xa một nửa địa cầu, nên khi tiếp nhận thơ tự do phương Tây trên trang giấy, thơ tự do Việt biến thành loại thơ tu từ khó hiểu. Thơ tự do là đặc điểm của ngôn ngữ đa âm, hình thức gắn liền với cách đọc, có khả năng tạo nhạc tính, không có công dụng với ngôn ngữ đơn âm, nếu chỉ đơn giản phân bố chữ trên trang giấy. Căn bản của thơ dựa vào nghệ thuật diễn đạt, cú pháp tạo ra cách đọc (âm pháp), cách đọc tạo ra ý tưởng, và ý tưởng liên kết với nhau qua cấu trúc (đối với thơ Tân hình thức thì qua thể thơ) của toàn bài tạo ra tư tưởng. Sự thất bại của thơ tự do thập niên 1960 ở miền Nam đưa tới phản ứng ngay trong thời kỳ đó, là thơ vần điệu bắt đầu trở lại, cùng tư tưởng Thiền học phương Đông, cuốn theo phong trào Phật giáo sau cuộc đảo chánh vào năm 1963, với những nhà thơ như Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Phạm Thiên Thư… cũng là tu từ. Như vậy, cả hai miền Nam Bắc, dù ở hai hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt, thơ vẫn đi theo một hướng chung, nằm trong khuôn mẫu tu từ, bởi khi sáng tác bằng tu từ, dẫn tới phương pháp phê bình bằng tu từ, thưởng thức bằng tu từ, và thậm chí suy nghĩ cũng bằng tu từ.

Biến cố 30 tháng 4 – 1975 22 làm đứt quãng với thế giới bên ngoài, một phần người Việt di tản ra khỏi nước, trong khởi đầu vì những đau thương mất mát, một phần bận rộn, và thích ứng với đời sống mới nơi xứ người, cùng lúc trong nước, những nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kỳ đóng cửa, không có gì để tiếp nhận đành phải trở về với phần dịch thuật và sáng tác của miền Nam thời thập niên 1960. Nhưng thật ra, những nhà thơ trẻ chẳng phải chỉ tiếp nhận văn học miền Nam, mà họ còn sống trong không khí gần gũi với giai đoạn Nhân văn Giai phẩm, tiếp nhận luôn phong cách tu từ của những nhà thơ thập niên 1960 ở miền Bắc, vô tình làm trung gian hòa giải giữa hai dòng thơ, lạ lùng thay đều là hai dòng thơ ngoài luồng trong thời đại của họ. Thơ trẻ nằm trong hệ quả đó, tu từ là chính, quay mặt với đời sống, mang tâm thức nổi loạn, chẳng khác nào thế hệ thời thập niên 1960, dù tiêu cực hay tích cực, của cả hai miền. Và khi vai trò của họ xong thì cũng chấm dứt luôn phong trào thơ Trẻ, vì làm sao đi xa được khi đã mắc vào cái bẫy của hai dòng thơ Nam Bắc, và có lẽ định mệnh đã phục sẵn trong tên gọi: thơ Trẻ.

Thật ra, những nhà thơ thời Nhân văn Giai phẩm, miền Nam thập niên 1960, và thơ Trẻ đều là những người muốn đổi mới văn học. Nhưng những nghệ sĩ phương Tây, khi phản ứng với xã hội và thời đại, họ đều lồng vào những thay đổi mang tầm mỹ học.  Thơ tự do phương Tây đầu thế kỷ 20 là một cuộc cách mạng mỹ học lớn, thay đổi phương pháp biểu hiện, phản kháng lại xã hội kỹ nghệ, và những phong trào tiền phong nửa sau thế kỷ, khai phá thêm những khía cạnh mỹ học và quan điểm mới cho thơ tự do. Điển hình là suốt thế kỷ 20, khi chủ nghĩa đế quốc (dù tư bản hay cộng sản), và chiêu bài quốc gia được giương cao, kết hợp nhiều sắc dân lập thành những khối liên kết, thì những nghệ sĩ phần mảnh tác phẩm của họ, như tập thơ “The Waste Land” của T.S. Eliot, tranh lập thể của Picasso, và mới nhất là phong trào Tiền phong thơ Ngôn ngữ Hoa kỳ, thập niên 1980, khi coi ngôn ngữ là biểu tượng cho quyền lực chính trị, họ phần mảnh cú pháp đi, đưa ra quan điểm mỹ học của họ.

Nhưng sau khi chiến tranh lạnh23  chấm dứt, những sắc dân tách lìa,  xung đột tạo nên những thảm cảnh chiến tranh cục bộ, thì thơ Tân hình thức lại quay về với sự liền lạc của cú pháp, những lý tưởng tự nhiên, toàn bích tiêu biểu qua các thể thơ, thể hiện mong ước được sống cuộc đời bình thường, như một cố gắng xóa bỏ dị biệt, kêu gọi sự cảm thông chia sẻ với nỗi khốn khó của mọi kiếp người. Sỡ dĩ những nghệ sĩ phương Tây gây được những phong trào tiền phong lớn như vậy, vì xã hội tự do cho phép họ tìm được sự đồng thuận về quan điểm xã hội, đồng thời thừa kế một bề dày mỹ học, hai yếu tố gần như lúc nào cũng kết hợp với nhau. Trong khi tại Việt nam, xã hội miền Bắc khép kín, cô lập cá nhân với nhau, còn miền Nam, tuy tương đối tự do nhưng lại không có truyền thống nào ngoài Đường thi, Tiền chiến, nên cả hai đơn thuần chỉ là những phản ứng cá nhân trước thời thế, một đằng là hoàn cảnh xã hội chính trị, một đằng là hoàn cảnh chiến tranh. Nếu thất bại trong việc thay đổi mỹ học, thì những nhà thơ ở thời này lại thành công, đưa thơ Việt lên tới đỉnh cao của tu từ, bởi khó ai hơn được họ, đẩy những thế hệ sau ở vào vị thế, bắt buộc phải làm công cuộc thay đổi. Điều này rõ nhất, khi nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (1936–) cuối đời quay về vần điệu với tập thơ “Thơ ở đâu xa”, thơ Trẻ quay về thập niên 1960, và nhà thơ Lê Đạt chơi một mình với “Bóng chữ”. Mỗi nhà thơ như một tinh cầu cô lẻ, mở ra một lối riêng chỉ vừa một người đi trong cái dù che của từ pháp, chỉ vài năm là bí lối. Trong khi thơ, đáng ra không thể là tiểu lộ, phải là đại lộ, hàng ngàn người cùng đi mà vẫn rộng thênh, không thấy đường cùng.

Đối với phong trào văn học đổi mới thập niên 1980, nhân thời mở cửa, một số nhà văn tưởng như tìm được sự đồng thuận xã hội nào đó, và thơ Trẻ bây giờ, ở vào thời điểm văn học không còn ảnh hưởng nhiều về mặt xã hội, tuy chưa được chính thức công nhận, nhưng họ cũng đã được tự do sáng tác, muốn viết gì thì viết, nhưng cả hai phong trào vẫn dừng lại, một đằng là phản ứng với cơ chế xã hội chính trị và liền bị dập tắt ngay, một đằng là phản ứng với kinh tế thị trường. Bởi vì muốn chuyển đổi, phải chuyển đổi phương thức biểu hiện, thay thế nghệ thuật tu từ bằng nghệ thuật cú pháp, bước đầu căn bản để hình thành một phương pháp luận, xây dựng những tác phẩm mang tầm vóc tư tưởng, hầu sánh được với những nền văn học khác.

Dĩ nhiên, nền văn học Việt từ hàng thế kỷ nay đã có được những tác phẩm xứng đáng, những nhà thơ tài năng, cùng với một lớp độc giả thưởng thức cái hay của thơ văn xuyên qua hình thức tu từ — chỉ tiếc rằng những thế hệ sau không có thêm được gì mới, ngoài lập lại những sáng tác và bài viết toàn lời hay ý đẹp, đọc nửa chừng phải bỏ ngang, vì thiếu hẳn phân tích lý luận để nối kết ý tưởng, qui vào một mối, lôi cuốn người đọc. Lớp độc giả đó càng ngày càng ít, vì thế hệ có nhiều chữ (như Hán Việt) để thưởng thức được cái hay của nghệ thuật tu từ dần dần mai một. Khi sự cân bằng giữa sáng tác và người đọc không còn, nền văn học rơi vào bế tắc, và người viết cũng chính là người đọc. Thơ trẻ có lẽ là thế hệ sau cùng còn tiếp nối được, và cũng là thế hệ chấm dứt luôn nền văn học tu từ, bởi một thế hệ trẻ hơn sau này, trưởng thành trong thời mở cửa, sẽ không còn khả năng thưởng thức những cái hay mang tính tu từ của những tác phẩm hiện nay. Và họ cần những tác phẩm có cách diễn đạt trong sáng, chuyên chở được tư tưởng và đời sống thực tại của chính họ đang sống. Cũng như những nhà thơ Tân hình thức Việt hiện nay, họ có nhiều cơ may và khả năng tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cởi mở hơn và dễ tiếp nhận phương cách biểu hiện mới trong văn học, giúp họ tiếp thu được kiến thức và hiểu biết có ngọn ngành. Từ điểm đó, nhìn lại những biến chuyển của văn học Việt, những dòng văn học đóng góp cho sự chuyển động mạnh mẽ lại là những dòng ở ngoài luồng chính, bị trấn áp và ngăn cấm như Nhân văn Giai phẩm, Văn học miền Nam 1960, Văn học Đổi mới thập niên 1980, và bây giờ là thơ Trẻ và thơ Tân hình thức. Đó là đặc điểm của văn học Việt trong hơn nửa thế kỷ qua, và cũng nói lên một sự thực, không ai có thể phủ nhận giá trị của một dòng văn học. Có lẽ vì thế mà văn học Việt tiến chậm hơn các nền văn học của những nước khác chăng? Có lẽ vì thế mà tình trạng dân trí càng ngày càng thụt lùi, và khoảng cách giữa lớp người đọc và sáng tác  càng ngày càng lớn, tưởng như khó vượt qua?

Thêm nữa, thơ tự do phương Tây là một dòng thơ đã lạc điệu, bị hạn chế bởi phương cách tự diễn đạt, nhà thơ nhân danh cái tôi, chỉ nói đến suy nghĩ, cảm xúc qua nhãn quan của chính cá nhân họ, không có khả năng phát hiện sự mới lạ nơi những câu chuyện tầm thường giản dị xảy ra chung quanh. Kết quả là người đọc sợ thơ, nhà văn không đọc thơ, ngay nhà thơ cũng không đọc thơ của những nhà thơ khác, chỉ đọc thơ của mình và bạn bè mình, và người đọc mất đi sinh thú thưởng thức cái hay của thơ. Nếu cơ chế tu từ là một hàng rào cản, ngăn cấm bất cứ sự giao tiếp nào với thế giới bên ngoài, thì thơ tự do là sản phẩm của thế kỷ 20, mang tất cả những đặc tính của thế kỷ này, cả về xã hội và chính trị, không còn phù hợp với xu thế thời đại, cần hàn gắn những bất đồng, để mọi người có thể chung sống trong an bình hạnh phúc. Đối với Việt nam lại còn khẩn thiết hơn vì hậu quả của cuộc chiến tương tàn, lòng người phân tán, cần có phương thuốc chữa lành, sau những tang thương đổ nát.

Tác động của thời thế và vai trò nhà thơ

Việt nam, trong nửa thế kỷ qua, vừa thoát khỏi sự đô hộ của Pháp, thì lại rơi vào cuộc chiến 20 năm, khốc liệt nhất từ trước đến nay. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ba nước bị phân chia là Đức, Triều tiên và Việt nam. Năm 1975, Việt nam thống nhất nhưng lại rơi vào cơ chế xã hội chủ nghĩa, và cho đến khi các nước Đông âu tan rã vào năm 1989, Đông Đức và Tây Đức hợp nhất, chủ nghĩa tư bản thắng thế, hệ thống chính trị và kinh tế nước Đức theo chế độ tư bản; trong khi đó, Triều tiên vẫn còn ở tình trạng phân chia. Sau khi Đông âu và Liên Xô tan rã, hàng loạt những cuộc chiến tranh chủng tộc và tôn giáo xảy ra như  tại Yugoslavia (1991), Rwanda (1994), Sri Lanka, Đông và Tây Timo… Tiếp theo đó là chủ nghĩa khủng bố, thể hiện sự bất đồng giữa thế giới Hồi giáo và phương Tây, với cao điểm, hai tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới bị phá sập thành tro bụi ngày 11-9-2001 tại New York.

Nhu cầu hòa giải giữa những sắc dân, khác biệt về chính trị, tôn giáo, văn hóa cần phải đặt ra để mọi người có thể sống chung trong hòa bình, và những bộ môn văn học gắn liền với đời sống và tâm tư con người cũng cần thay đổi cách biểu hiện, để phù hợp với những biến chuyển của thời đại. Như vậy Việt nam, Đức và Triều tiên là ba mô hình hiện nay để chúng ta có thể rút ra những bài học và kinh nghiệm về tinh thần hòa giải: Đức, tư bản; Việt nam, nửa tư bản (kinh tế thị trường), nửa cộng sản; Triều tiên, Bắc cộng sản, Nam tư bản.  Nhìn lại lịch sử Việt, sau khi Ngô Quyền dành được độc lập vào năm 938, để tránh sự xâm lược, những triều đại sau này, hàng năm vẫn phải mang phẩm vật triều cống Trung hoa. Điều này chứng tỏ dân Việt là một dân tộc hiếu hòa, dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, lịch sử Việt nam lại có rất nhiều cuộc phân hóa. Lần đầu tiên là hai họ Trịnh Nguyễn phân tranh, hay Nam Bắc triều từ 1543-1788, và khi Người Pháp đô hộ Việt nam, lợi dụng địa thế hình cong chữ S, và hệ thống giao thông khó khăn, chỉ thuần đường bộ và đường thủy, với ngựa và ghe thuyền, nên đã dùng chính sách chia để trị, tạo nên tinh thần kỳ thị Nam Bắc. Cuối cùng là cuộc chia cắt đất nước vào năm 1954. Như vậy, vai trò của văn học phải là sự tiếp nhận có phương pháp những yếu tố văn hóa, hòa giải những dị biệt giữa người dân với nhau, để có được những phát triển đúng hướng.

Sau thế chiến II, những biến động lịch sử trên thế giới ảnh hưởng rõ nét đến tình hình Việt nam. Mùa Xuân 1940, Đức thắng Pháp, dựng nên chính phủ bù nhìn Marshal Henri-Phillipe Pétain (1856-1951), và cũng năm này Nhật liên minh với Đức làm thành phe trục Đức Ý Nhật. Trước đó Nhật đã tấn công Trung hoa năm 1937, và tháng 9-1940 tràn vào Việt nam, lợi dụng thỏa ước giữa Pháp và Đức (tháng 6-1940) khiến Pháp không thể tiếp viện cho Đông dương, yêu sách theo đó Nhật và Pháp chung sức bảo vệ Đông dương, thật ra Nhật kiểm soát hết và Pháp chỉ giữ cơ chế cai trị. Hoa kỳ vẫn đứng ngoài cuộc chiến cho đến khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7 tháng 12-1941, trước khi tiến chiếm Đông Nam Á và quần đảo Mã lai để tìm nguồn dầu hỏa, cao xu và thực phẩm (extensive food). Ngày hôm sau, Quốc hội Hoa kỳ tuyên chiến với Nhật, và 4 ngày sau, phe Trục tuyên chiến với Hoa kỳ. Vào ngày (D-Day) 6 tháng 6-1944, quân đội Đồng minh băng qua eo biển Anh, đổ bộ thành công lên miền bắc nước Pháp, giải phóng Paris vào ngày 25 tháng 8-1944. Chiến tranh chấm dứt với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức vào 8 tháng 5-1945, Anh Pháp Trung Hoa kêu gọi chính phủ Nhật đầu hàng nhưng không được trả lời.

Khi Pháp được quân đồng minh giải phóng 24, Nhật lật đổ Pháp 25 ở Việt nam vì sợ Pháp lật ngược tình thế. Nhưng cũng chỉ được vài tháng,26 đến ngày 14-8-1945 Nhật đầu hàng vô điều kiện vì bị hai quả bom nguyên tử của Hoa kỳ bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki. Lúc này, Việt nam rơi vào khoảng trống quyền lực vì Pháp đã bị Nhật lật đổ và Nhật lại đầu hàng, nên Việt Minh, với danh nghĩa của đảng cộng sản Việt nam, lợi dụng cơ hội, giành chính quyền, tuyên bố độc lập vào ngày 19-8-1945. Vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại thoái vị 27. Sau khi Nhật đầu hàng, quân Đồng minh giao cho Tưởng Giới Thạch của Trung hoa, do hai tướng Lư  Hán và Tiêu Văn cầm đầu, giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, và quân Anh Pháp từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam. Chỉ 21 ngày sau ngày Việt Minh tuyên bố độc lập, Pháp vào thay thế quân Anh ở Sài gòn, thành lập chính quyền tạm thời từ Nam ra Bắc 28. Lúc này, Việt Minh hãy còn yếu thế, bèn ký kết Hiệp định Sơ bộ29, làm hòa với Pháp, liên hiệp với các đảng phái quốc gia, để cũng cố lực lượng và thâu tóm quyền lực, cho đến ngày 19-12-1946 mới phát động toàn quốc kháng chiến chống pháp. Từ năm 1947 đến 1949, chính quyền hoàn toàn nằm trong tay Pháp, cho đến Hiệp ước Élysée ngày 8-3-1949, Pháp trao trả độc lập cho Việt nam, nhưng không phải cho Việt Minh mà thành lập Quốc gia Việt nam, đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng. Cuộc chiến Quốc Cộng từ đó bắt đầu.

Đó là giai đoạn vô cùng hỗn loạn, lòng người phân tán, thời thế đổi thay, nhà thơ cũng chẳng khác nào người dân thường, không còn tâm trí đâu để nghĩ đến sự thay đổi cách làm thơ, những sáng tác vì thế hoặc là vần điệu Tiền chiến, hoặc là tiếp tục loại thơ phá thể từ thời Phan Khôi, chỉ có nội dung là khác, nói lên tinh thần yêu nước, tâm trạng của người chiến binh xa nhà, và những ước mong hòa bình, dứt bỏ lãng mạn cá nhân, đề cao tình tự dân tộc. Thơ bước qua một bước khác, đề cập tới đời sống bình thường, bởi nhà thơ, trong lúc hòa nhập với mọi người, tham gia cuộc chiến lý tưởng, chia sẻ tình tự và những khốn khó của mọi tầng lớp xã hội. Và một đặc điểm khác là ngay cả những nhà thơ với nhau, cũng không còn phân chia khuynh hướng lãng mạn hay hiện thực, mà dường như gộp chung thành lãng mạn hiện thực, dù là vần điệu hay thơ tự do phá thể, chỉ thuần nói lên tâm tình của con người, trong sáng và chân thật. Và cũng trong bối cảnh đó, chính sách chia để trị của thực dân Pháp dần dần bị hóa giải.  Nhưng phải đợi tới cuộc di cư của hơn một triệu người dân miền Bắc vào Nam năm 1954, người dân hai miền Nam Bắc mới có được những va chạm thực tế, hoàn tất qui trình hòa giải.

Cả hai miền Nam Bắc, người dân chỉ được sống trong hòa bình vài năm, đến 20-12- 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập, bắt đầu cuộc chiến giữa hai miền. Sự chia rẽ lại trở thành một vết thương trí mạng vì sự nhúng tay của những thế lực bên ngoài, một đằng là lý tưởng cộng sản đại đồng, một đằng là lý tưởng tự do của chủ nghĩa tư bản. Năm 1976, đất nước thống nhất, dưới cơ chế xã hội chủ nghĩa, Việt nam chỉ còn quan hệ với Liên xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, và người dân ở cả hai miền Nam Bắc, trong khó khăn cùng cực, đầy ngộ nhận và hiềm khích qua những thể chế khác biệt về ý thức hệ, phải tự hòa giải với nhau để sống còn, và hàn gắn lại những vết thương tâm lý.

Hơn một thập niên sau, năm 1978, tại Trung hoa, Đặng Tiểu Bình (1904-1998) lên nắm quyền lực, tiếp tục chủ trương Tứ Hiện Đại Hóa của Chu Ân Lai (1898-1976), canh tân kỹ nghệ, canh nông, quốc phòng và khoa học. Tại Nga, Mikhail Gorbachev (1931–) chủ trương đổi mới (Perestroika) vào năm 1986, và cũng năm này, Việt nam nương theo ảnh hưởng của Nga, chủ trương đổi mới và cởi trói văn nghệ, xuất hiện văn nghệ đổi mới. Nhưng đến năm 1989, bức tường Bá linh sụp đổ, kéo theo sự tan rã của những chế độ cộng sản Đông âu, thì Việt nam chấm dứt sự cởi trói văn nghệ vì sợ rằng sẽ kéo theo sự sụp đổ chế độ. Đến năm 1991, Boris Yeltsin (1931–) lên nắm quyền tại Nga, giải tán đảng Cộng sản, Việt nam mất đi nguồn viện trợ chủ yếu từ Nga (3 tỷ mỹ kim từ 1976-80), hướng về Trung hoa thì lại vướng vào cuộc xung đột biên giới30 vào năm 1979, nên đến năm 1992, phải quay qua kinh tế thị trường, tìm kiếm nguồn đầu tư từ thế giới tự do, cứu vãn nền kinh tế, nhưng vẫn giữ định chế chính trị, với quan niệm, kinh tế thị trường định hướng bởi xã hội chủ nghĩa. Với một quan điểm, bảo vệ sự ổn định chính trị để phát triển kinh tế, một phần vì nền văn học in ấn đã không còn sức mạnh như cách đây nửa thế kỷ, một phần khác, sự chuyển qua kinh tế thị trường, làm cho người dân, mong muốn có một đời sống tốt đẹp hơn nên những quan tâm của họ hoàn toàn hướng về đời sống kinh tế.

Nhà nước Việt nam đã gần như chỉ chú tâm tới những tác phẩm mang tính chống đối và có màu sắc chính trị, nên những sáng tác thuần văn học như trường hợp thơ Trẻ mới có cơ hội xuất hiện. Thực ra, chấp nhận sự đổi mới văn học, không ảnh hưởng nhiều đến chế độ chính trị, mà còn làm cho chế độ có được bộ mặt cởi mở, đối với cộng đồng thế giới. Những phát hiện về lý thuyết hỗn mang (chaos theory) cho chúng ta thấy, một sự xáo trộn nhỏ trong trạng thái đầu tiên của hệ thống, có thể thay đổi triệt để trạng thái sau cùng, và tùy thuộc mẫn cảm vào những điều kiện ban đầu (Sensitive dependence on initial conditions). Và như thế sự thay đổi sự thay đổi qua kinh tế thị trường, sẽ dần dần dẫn đến những sự thay đổi khác, một cách tự nhiên và không ai có thể đoán trước.

Một năm sau khi đổi mới, vào năm 1987, William Joiner Center bắt đầu qua văn học, đặc biệt là thơ như một chất xúc tác (catalyst) để mang kẻ thù trở thành bạn, với mong ước, dùng thơ để phá tan sự phân chia tạo ra bởi những định kiến chính trị. Dĩ nhiên những cựu chiến binh Hoa kỳ, không hề quan tâm tới giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm, mà chỉ xem qua những tác phẩm đó, kẻ cựu thù nói gì về mình, và mục đích của họ, bước đầu là hòa giải với nhà nước Việt nam, dọn đường cho sự hòa giải về chính trị và giao thương buôn bán. Quan niệm như thế dĩ nhiên là đúng, bởi vì thơ là một hình thức mỹ học mạnh nhất có khả năng tạo sự cảm thông và hòa giải.  Cynthia Cohen 31 viện dẫn  triết gia người Pháp Gaston Bachelard, cho rằng:

“để hiểu một bài thơ, chẳng những chúng ta cần chú tâm đến chữ và âm thanh của bài thơ, mà còn phải chú tâm đến cách nào những chữ và âm thanh đó vang dội trong ta. Ông nói, sự chú tâm của chúng ta “rọi sáng”, giữa hình ảnh thi vị và đáp ứng của chính mình. Như vậy, bài thơ mời gọi chúng ta kinh nghiệm vài điều mà trước đó tự mình không biết về mình; và ngược lại, chỉ bằng cách chú tâm đến thứ được khơi dậy bên trong chúng ta, mới có thể “hiểu” được bài thơ. Bachelard nhắc đến loại cảm thông này – sự cảm thông sâu xa xảy ra cùng lúc của bản ngã và kẻ khác qua nhau – như một xuyên-chủ-thể.”

Cynthia Cohen nhấn mạnh tới “sự cảm nhận tỉnh thức” (feelingful awareness), tương đương như quan điểm “bi và trí” (compassion and wisdom) một tư tưởng của Phật giáo đã hòa nhập vào nền văn hóa Việt, vả lại, những bài thơ đầu tiên xuất hiện từ đời nhà Lý, đầu thế kỷ 11, lại là những bài kệ do những thiền sư Phật giáo làm ra. Bi là sự đồng cảm, cùng chia sẻ với nỗi đau của kẻ khác, trong khi trí là nhìn rõ được thật tướng của thế gian, của con người. Dĩ nhiên, khi lý giải để áp dụng vào trong đời sống, nó không còn mang ý nghĩa của tôn giáo, mà có thể hiểu như Cynthia Cohen, qua bài thơ, người đọc dễ nảy sinh sự cảm thông, với chính mình, và với kẻ khác, nhìn ra được sự thật, thấy được cả những ưu và khuyết điểm để vượt qua những hố sâu ngăn cách.

Từ thập niên 1990 trở về trước, văn học Việt đều nằm trong hệ tu từ, nên khi cuốn theo tác động của kinh tế thị trường, sau năm 1992, hàng loạt tác phẩm được dịch hàng loạt ra tiếng Anh, tiếng Pháp nhưng không tạo nên được bất cứ ảnh hưởng nào trong giới văn học phương Tây, và hầu như đi vào quên lãng. Bởi một điều, sự khác biệt giữa hai hệ thống văn học phương Tây và Việt nam lại thuộc về hai phương pháp sáng tác khác hẳn, một đằng theo phương pháp tu từ, một đằng dựa vào phương pháp luận và cú pháp văn phạm để chuyển tải tư tưởng, nên khi chuyển dịch ra tiếng Anh, người đọc phương Tây, hoặc không tìm thấy gì trong đó, hoặc là rất khó hiểu. Nhất là thơ lại càng khó hơn, vì khi dịch ra văn xuôi, thơ chỉ còn là những đoạn văn tầm thường, nhạt nhẽo, hoặc lủng củng cú pháp. Chẳng những thế, tác phẩm được chuyển dịch, thường thuộc về chính luồng, do sự kiềm chế của nhà nước, chỉ muốn duy trì thơ ở nguyên trạng cũ từ nửa thế kỷ trước, nên không những không nói lên được thực trạng đời sống xã hội, mà phương pháp biểu hiện cũng đã lỗi thời, không đúng thực với tình trạng thơ Việt. Ở đây, chúng ta có thể nhận ra, nếu phương Tây, bắt đầu từ thời Phục hưng, với cuộc cách mạng kỹ nghệ, xã hội luôn luôn thay đổi và vì thế hết trào lưu này qua trào lưu khác, văn học nghệ thuật là những khám phá không ngừng, nhưng xã hội Việt nam là một xã hội nông nghiệp, nên không có nhu cầu thay đổi về mọi phương diện. Giống như thơ văn từ Tiền chiến đến tự do, dù có thay đổi cách biểu hiện vì tác động của thời thế, nhưng cũng như xã hội, vẫn đặt căn bản trên nghệ thuật tu từ. Mặt khác, vì nhà nước luôn luôn tìm cách can thiệp vào quyền tự do sáng tác, nên mọi cố gắng đổi mới, hoặc bị bóp nghẹt hoặc rất khó xảy ra.

Nếu văn học phản ảnh đời sống xã hội và chính trị, thì ngược lại, qua đời sống xã hội và chính trị, chúng ta có thể hiểu được nền văn học đó. Việt nam từ trước đến nay đều coi trọng nghề nông, sĩ nông công thương, nghề nông chỉ đứng sau tầng lớp thống trị, nên bản chất người dân ưa chuộng hòa bình, cốt an cư lạc nghiệp chứ không muốn cạnh tranh, tiến thủ. Những cuộc chiến tranh gây ra, cũng chỉ vì bất đắc dĩ để bảo tồn cuộc sống, phát xuất từ tinh thần bảo thủ cố cựu. Về tinh thần người dân, giàu cảm xúc hơn khoa học, giàu trực giác hơn lý luận, thích văn chương phù phiếm hơn thực chất tư tưởng. Với thơ cổ điển, nếu Truyện Kiều 32 của Nguyễn Du dùng thể thơ lục bát của dân gian kết hợp với nghệ thuật cao cấp và tinh hoa của nền văn hóa Trung quốc, giữa nghệ thuật tu từ điển tích và tu từ đời thường, thì Cung Oán Ngâm Khúc 33 của Ôn Như Hầu, và bản dịch Chinh Phụ Ngâm34 (nguyên tác bằng chữ Hán, của Đặng Trần Côn, làm theo thể Trường Đoản Cú, câu dài câu ngắn, loại thơ phá thể) ra chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm, theo thể song thất lục bát. Sau khi chữ Quốc ngữ được phổ biến rộng rãi, thơ Tiền chiến tiếp tục tinh thần đó, dùng lại vần và các thể của Đường thi.

Sự chuyển giao giữa hai dòng thơ cũng là sự chuyển giao giữa nền cựu học và Tây học, giữa chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, giữa thế hệ này và thế hệ khác. Như đã đề cập, thơ cổ điển (hay thơ chữ Nôm) tách ra được với cơ chế quyền lực chính trị (chữ Hán), và thơ chữ Quốc ngữ cũng không bị quyền lực chi phối nên khi chuyển giao, sự mâu thuẫn hầu như không có. Bởi một lý do, nền tảng quyền bính nằm trong tay Pháp, đã không cho phép tiếp tục duy trì thơ cũ, một lý do nữa là người khởi đầu thơ mới lại là một nhà khoa cử cựu học là Phan Khôi (1887-1959) với bài thơ “Tình Già” xuất hiện năm 1932, và một nhà thơ Tây học như Vũ Đình Liên (1913-1996) với bài thơ “Ông Đồ” vào năm 1936, lại nuối tiếc một thời đã suy tàn.  Những nhà thơ vẫn gắn bó với Đường thi và chuyên làm theo thể loại này như Đông Hồ (1906-1969), Quách Tấn (1910-1992), Ngân Giang… có nhà thơ làm cả hai thể loại như Vũ Hoàng Chương. Thơ Việt từ 1945 trở về trước, phát triển bình thường, dưới chế độ phong kiến và thuộc địa, vì dù có thay đổi chữ viết, đời sống xã hội thuần phác, căn cỗi thơ Việt vẫn nằm trong ảnh hưởng và tâm thức Đường thi. Những tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo thấm nhuần trong đời sống dân gian, hai dòng thơ cổ điển và Tiền chiến cũng chỉ thể hiện đúng tinh thần của nền văn hóa đó. Những nhà thơ có được quyền tự do và độc lập với cơ chế chính trị, nên đã có được những tác phẩm giá trị, một cách nào đó đã làm đúng chức năng của thơ, hòa giải giữa hai nền văn hóa, giữa giai cấp thống trị và dân gian.

Thơ Tiền chiến dựa vào các thể thơ của Đường thi và ca dao để đưa vào cảm xúc và nội dung mới, kết hợp ngọn gió cuối mùa của phong trào Lãng mạn Pháp với không khí suy tàn của Đường thi còn sót lại, trên nền tảng nghệ thuật tu từ đã có sẵn từ thơ cổ điển. Trong khi thơ tự do phương Tây là một bước ngoặt, thoát ra khỏi thơ truyền thống, hoàn tất một nền tảng mỹ học khác. Vì vậy vào thập niên 1960, những nhà thơ miền Nam phát động phong trào thơ tự do, cách tiếp nhận ảnh hưởng phương Tây cũng không khác nào thơ Tiền chiến trước đó, không quan tâm tới học thuật như thời Đông dương và Nam phong Tạp chí, chỉ tiếp nhận những khái niệm mà không tiếp nhận được phương pháp, nên không thể vượt qua được bề dày tư tưởng học thuật phương Tây. Thơ tự do vướng vào thuật ngữ, hòa trộn tu từ thời Đường thi Tiền chiến với tư tưởng Siêu thực Pháp ở thập niên 1930, dựa theo loại thơ phá thể đã có từ thơ cổ điển. Cũng giống như thơ Tiền chiến, thập niên 1960 ở miền Nam, không bị quyền lực chính trị chi phối, bởi một điều, chính quyền và giới văn nghệ sĩ có chung một lý tưởng bảo vệ tự do, nên sự kiểm soát văn học không cần thiết, chỉ có sự kiểm duyệt báo chí vì nhu cầu chiến tranh, nhưng khác thơ Tiền chiến và giống với thơ chữ Nôm trước đó, nhà thơ rơi vào ảo tưởng quyền lực của chữ.

Trong khi thơ luồng chính ở miền Bắc, tuy không qua con đường khoa cử nhưng các lãnh tụ đều coi thơ như một phương tiện qua đó kiểm soát toàn bộ văn học. Nếu trong chế độ phong kiến, vua quan đều làm thơ, thì dưới chế độ cọng sản, các lãnh tụ đều làm thơ như Hồ Chí Minh (1890-1969), Lê Đức Thọ (1911-1990), Trường Chinh (1907-1988), Tố Hữu (1920-2002)… Thơ phải đơn giản dễ hiểu để quyền lực qua thơ được mở rộng và ảnh hưởng đến mọi tầng lớp dân chúng. Một số nhà thơ bị o ép bởi cơ chế quyền lực chính trị, tránh né những biểu hiện có tính nội dung, qua chữ, tìm kiếm một quyền lực ảo tưởng khác để phản ứng lại. Như vậy, thơ ngoài luồng miền Bắc và thơ miền Nam, dù không có liên hệ gì với nhau, vì sự đối đầu chính trị giữa hai miền, nhưng lại có cùng một khuynh hướng, thể hiện tính đối kháng, bế tắc về chính trị và học thuật, tạo nên cực đoan về văn học, đẩy phương pháp tu từ tới chân tường, không còn mang ý nghĩa thông thường, tự nhiên như thơ cổ điển và Tiền chiến. Quan niệm ý ở ngoài lời biến thành thói quen suy diễn và phán xét, cũng biểu lộ khía cạnh của quyền lực.

Sau 1975, quyền lực văn học chính luồng nằm trong tay thế hệ chống Mỹ, theo đúng đường lối và chỉ thị của đảng và nhà nước, và thế hệ trẻ trưởng thành sau chiến tranh bị đẩy ra ngoài luồng, không có bất cứ phương tiện nào ngoài cách in ấn bằng computer, chuyền tay trong bạn bè. Nếu những nhà thơ thời Nhân văn Giai phẩm thừa hưởng nền giáo dục Pháp, có khả năng ngôn ngữ và ảnh hưởng văn hóa Pháp, thuộc về thế hệ chống Pháp, thì những nhà thơ chống Mỹ, gần như không có khái niệm gì về phương Tây, chỉ ảnh hưởng một chiều văn học cộng sản thời Liên xô cũ. Sự phản ứng trong văn học thấy rõ, những nhà thơ ở ngoài luồng chính, thuộc thế hệ sau chiến tranh, quay về với dòng văn học bị lên án là phản động và đồi trụy thập niên 1960 ở miền Nam. Nhưng khi chỉ liên hệ với con chữ, ma lực của chữ làm cho người làm thơ rơi vào ảo tưởng, sống trong một thế giới huyền hoặc, càng lúc càng xa rời nghệ thuật thơ, xa rời đời sống thực.

Như vậy, hai dòng thơ chính luồng và ngoài luồng đều không có khả năng thay đổi, và những nhà thơ cũng không muốn thay đổi, vì thay đổi có nghĩa là mất hết, không còn gì. Thơ không có người đọc, vì thơ chính luồng chỉ tiếp nối loại thơ vần điệu và phá thể từ thời Tiền chiến, với nội dung lập lại những khuôn mẫu chính trị có sẵn, còn thơ ngoài luồng thì người đọc lại không ai hiểu, và nhà nước cũng muốn như thế vì đỡ đi một mối bận tâm. Thơ đánh mất chức năng tạo sự cảm thông, đứng ngoài trước sự thay đổi của thời thế, trong khi đáng lý ra, phải nói lên được khao khát của mọi tầng lớp xã hội, chia sẻ và hòa giải những bất đồng và làm dịu vết thương chiến tranh. Sự can thiệp của cơ chế chính trị vào văn học đã tạo nên một nền văn học không bình thường, phản ảnh một xã hội không bình thường. Dĩ nhiên, nhà thơ cũng như thơ chỉ là nạn nhân của những thế lực áp đặt từ bên ngoài, bất lực trước những vấn nạn của lịch sử. Nhìn vào những xã hội tự do dân chủ, nền văn hóa văn học độc lập với cơ chế quyền lực chính trị, nên phát triển và lớn mạnh, lúc nào cũng theo sát những biến chuyển của đời sống và kịp bước với nền văn minh.

Nếu cứ như thế, thì dù thời gian có trôi đi, nền văn học sẽ mãi đứng nguyên một chỗ. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, cuộc di cư tái diễn, hàng triệu người bỏ nước ra đi, nhưng lần này bi thảm hơn, phải trả giá bằng sự chết, giữa đại dương mênh mông. Một số nhà thơ trẻ ở thời điểm đó, nắm chắc ngôn ngữ Việt, đến được đất nước tự do, phải đối mặt với sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa, và sau hơn hai thập niên vượt qua mọi khó khăn, nhận ra khuyết điểm và bế tắc của thơ Việt gần nửa thế kỷ. Đầu năm 2000, xuất hiện phong trào thơ Tân hình thức, nhưng không giống như cuộc chuyển đổi êm đềm giữa Đường thi và Tiền chiến, chỉ 3 năm sau, gây nên cuộc tranh luận gay gắt, bởi một điều dễ hiểu, Tân hình thức cố gắng đưa nền văn học thoát ra khỏi cơ chế tu từ. Nhưng thói quen sáng tác và thưởng thức tác phẩm văn học qua tu từ, vẫn hoàn toàn bao trùm trên nền văn học từ trong ra ngoài nước, nên tinh thần bảo thủ, sợ thơ Tân hình thức sẽ làm lu mờ những dòng thơ khác như vần điệu và tự do. Điều này hoàn toàn không đúng nếu chúng ta tìm hiểu lý thuyết và đường hướng thơ tân hình thức Việt.

Tân hình thức là một thuật ngữ mà những nhà thơ Việt mượn từ phong trào thơ Tân hình thức Hoa kỳ, nhưng nếu thơ Hoa kỳ quay trở về với thể luật truyền thống, rót ngôn ngữ thông thường vào thơ, làm thành thi pháp đời thường, tiếp nối cuộc cách mạng đã khởi đi từ một thế kỷ trước với phong trào Lãng mạn và giai đoạn đầu của thơ tự do, nhưng đã bị gián đoạn bởi những phong trào tiền phong ở nửa sau thế kỷ, thì thơ Việt ở vào một trường hợp khác hẳn. Không thể đưa ngôn ngữ thường ngày vào thơ vì bị vướng vào luật vần của thơ Tiền chiến, và cũng không thể rút tỉa được gì nơi loại thơ tự do tu từ của thời thập niên 1960, những nhà thơ Tân hình thức Việt phải so sánh sự khác biệt giữa ngôn ngữ đa và đơn âm, chọn lọc những yếu tố phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa Việt để tạo thành luật tắc mới cho thơ. Và từ thành quả trong sự thực hành, những nhà thơ Tân hình thức Việt tình cờ tiếp nhận được thể thơ “không vần” của phương Tây. Dùng lại các thể thơ 5, 7, 8 chữ và lục bát, thay thế luật vần của thơ Tiền chiến bằng kỹ thuật lập lại và vắt dòng, nhưng kỹ thuật lập lại chẳng phải chỉ rút tỉa nơi luật tắc Iambic và kỹ thuật của thơ tự do tiếng Anh, mà còn phối hợp với Hiệu ứng cánh bướm, phản hồi và trùng lặp, nương theo biến đổi từ những biến cố tự nhiên.

Như vậy Tân hình thức cũng không khác gì thơ cổ điển, Tiền chiến, và ca dao lục bát, đều là những dòng thơ mang tinh thần Việt, có khả năng hòa giải và tiếp nhận rất cao, không hề có sự phân biệt giữa dòng này và dòng khác, chỉ là cuộc chuyển đổi, và biến thể để thành một dòng thơ mới, chẳng khác nào những trào lưu văn học, một trào lưu này cũng chỉ là sự biến thể của một trào lưu trước đó mà thôi. Một điều đáng ghi nhận, nếu thơ Tiền chiến giữ vần và của Đường thi, thì Tân hình thức bỏ luôn vần, tiếp tục hòa giải với nền văn hóa phương Tây. Và cũng trong tinh thần hòa giải, giữa truyền thống và tự do, thơ tân hình thức Việt là một dòng chảy mới, học hỏi cả ở tự do và vần điệu để tìm kiếm một nền thơ mới, như tiếng nói của mọi người Việt, tha thiết với sự chuyển đổi, để có thể đập chung một nhịp với cộng đồng thế giới rộng lớn. Và bởi tính cách bình dân của nó, thơ Tân hình thức có khả năng chuyên chở tình tự của mọi con người, phá vỡ tính cao cấp, khó hiểu, thể hiện tinh thần bình đẳng, dân chủ, có khả năng lấp đi khoảng cách giữa người đọc và sáng tác, và cũng là bước đầu kéo theo sự biến chuyển của những bộ môn khác như tiểu thuyết, hội họa, kịch nghệ…

Kết luận

Khi chấp nhận kinh tế thị trường, Việt nam bước qua một trang sử mới, và dù có định hướng bởi xã hội chủ nghĩa thì đó cũng chỉ là giải pháp tạm thời, từ từ hình thành vị trí của mình trong cộng đồng thế giới. Thơ và các loại hình văn học, là tầm nhìn của một dân tộc, phải thích ứng để thế giới nghe được tiếng nói của mình, và mình nghe được tiếng nói từ thế giới bên ngoài. Nhìn suốt qua tiến trình chuyển hóa, văn học Việt luôn luôn bị chi phối và ám ảnh bởi quyền lực, dù chính trị hay ảo tưởng. Quyền lực chính trị tạo nên một giai cấp quan lại hay đội ngũ cán bộ văn hóa, thỏa hiệp với chế độ để được hưởng bổng lộc. Quyền lực ảo tưởng làm cho nền văn học trở thành bất động, bảo thủ, xa cách đời sống. Nhưng văn học vì phải sống tầm gửi vào quyền lực quá lâu, có tâm lý sợ quyền lực và nhu cầu lệ thuộc quyền lực. Những cuộc tranh luận, dù trước kia hay bây giờ, chỉ thể hiện quan điểm giành lấy một quyền lực ảo tưởng nào đó chứ không hề đưa ra được phương cách đóng góp vào sự chuyển biến văn học, hay tiếp cận sự thật. Đám đông bị đẩy ra ngoài đời sống văn học, và nếu không thì cũng chỉ là con rối, dùng để củng cố quyền lực thống trị. Một nền văn học không hề có một lý thuyết mỹ học và phương pháp luận làm kim chỉ nam, thì biết đường nào mà phát triển. Vì thế, dẫn đến điều vô lý, hoặc dùng học thuyết chính trị Marx-Lenin để giải thích văn học, hoặc dựa vào những khái niệm triết học và văn học của xã hội kỹ nghệ hay tiêu thụ phương Tây áp đặt lên những tác phẩm được hình thành từ một xã hội nửa nông nghiệp nửa cộng sản. Sự kiện này chứng tỏ những người làm văn học đã không nhận ra chân tướng của nền văn học. Trong khi đất nước sau nửa thế kỷ chiến tranh và phân hóa, đang cần sự cảm thông hòa giải giữa con người với nhau, và giữa mọi tầng lớp xã hội, thì thơ và văn học gần như không có tác dụng gì với đời sống văn hóa. Nhà thơ Frederick Turner trong bài nói chuyện ngày 21 tháng 9 năm 2002 tại The Philadelphia Society Cleveland Regional Meeting, với tựa đề “The New Classicism and Culture” 35 cho rằng:

“… nhưng với mạng lưới quốc tế internet, một thành tố mới có ý nghĩa đã nhập cuộc, và trong khi thời Phục hưng có lẽ phải mất 300 năm để phổ biến khắp Âu châu và phong trào Lãng mạn cả trăm năm mới phổ biến khắp phương Tây, bây giờ chỉ cần một hai thập niên là toàn thế giới bừng tỉnh trước sự thay đổi đang xảy ra ở khí hậu văn hóa.”

Những điều trên, thật ra không đúng với Việt nam, vì nhà nước vẫn kiểm soát mọi sáng tác và ngăn cấm mọi nguồn sách báo văn học từ bên ngoài. Những thông tin rò rỉ từ mạng lưới internet không đủ bù đắp sự thiếu sót về căn bản học thuật và tư tưởng, và chỉ làm cho nền văn học thêm rối loạn. Nhưng không thể chỉ qui trách nhiệm cho chế độ chính trị, vì không ai có thể phủ nhận những hiện trạng đã và đang hiện hữu trên đất nước này. Văn học chân chính không phải là một động lực để phục vụ hay lật đổ chính quyền, mà là thể hiện và phản ảnh đời sống xã hội. Dù nhà nước Việt nam có dùng văn nghệ chính luồng và cả phương tiện truyền thông báo chí để giữ sự ổn định chính trị, thì cũng đang phải đối phó với những áp lực quốc tế về nhân quyền và những đòi hỏi tự do dân chủ và cải tổ chính trị của một số trí thức và lãnh tụ tôn giáo. Trong tình trạng đó, nhà nước không thể kiểm soát được dòng thơ ngoài luồng, vả lại cũng vô hại, nên thơ Việt hiện nay đang có cơ hội để tìm kiếm một quan điểm mỹ học mới. Nhà thơ tương đối vẫn có tự do sáng tác, chỉ tiếc rằng khi có tự do lại không biết phải làm gì với tự do. Sự vướng mắc là do chính những nhà thơ, nhà văn không dám cởi trói chính mình, rũ bỏ quá khứ, tách rời khỏi sự ám ảnh quyền lực, để thơ và văn học có được những sinh hoạt lành mạnh.

Hiện nay, hơn năm mươi phần trăm dân số Việt nam sinh ra và trưởng thành sau chiến tranh, không còn thích ứng với những thành kiến và óc bảo thủ lỗi thời của thế hệ trưởng thành trong chiến tranh. Trong khi đó, Việt nam đang có một hoàn cảnh thuận lợi, với gần 3 triệu người Việt sống rải rác ở khắp nơi trên thế giới, thủ đắc được hầu hết kiến thức về khoa học, tiếp cận trực tiếp với nền văn hóa mới, và có khả năng tiếp thu tư tưởng và học thuật từ những nền văn hóa khác tới nơi tới chốn, như một nhịp cầu giao lưu văn hóa từ cả ngàn năm nay chưa bao giờ có được. Mỗi thời kỳ văn học có giá trị lịch sử của nó, và không ai có thể phủ nhận. Học hỏi ở quá khứ, không có nghĩa là lập lại quá khứ, biến quá khứ thành bóng ma bao trùm hiện tại. Và khi nhìn ra khuyết điểm của quá khứ cũng có nghĩa là chúng ta nhìn thấy được tương lai. Bài viết này chắc chắn sẽ tạo nên sự bất bình trong giới văn học, người viết xin nhận lấy tất cả trách nhiệm vì một lý do, chỉ muốn cho nền thơ đó có sức sống và biến đổi để kịp bước với những nền thơ khác. Lược qua một số biến chuyển của thời cuộc và đặc tính của từng thời kỳ thơ, chúng ta thấy, thơ Việt có phong thái của một nền thơ có tầm vóc, nếu những nhà thơ dám chấp nhận sự thật, thấy những thất bại của mình, tiếp nhận những yếu tố mới, phù hợp với thời đại. Cơ may thay đổi, nếu chúng ta không tiếp nhận, lẽ đương nhiên sẽ rơi vào thế hệ sau, vì thơ tự nó đã chứa mầm mống của sự thay đổi.


Tham khảo

Đào Duy Anh. Việt Nam Văn Hóa Sử Cương. Hội Nhà Văn 2000

Nguyễn Thế Anh. Việt Nam Dưới Thời Pháp Đô Hộ. Lửa Thiêng, 1970.

Nghiêm Toản. Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu. Sống Mới, 1949.

Trần Văn Giáp. Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam. Văn Học, 1972.

Thế kỷ 21 số 122, 1999.

Thế Kỷ 21 số 159, 2003.

Khế Iêm. Tân Hình Thức, Tứ Khúc và Các Tiểu Luận Khác. Văn Mới, 2003.

Edward Mc Nall Burns, Robert E. Lerner, Standish Meacham. Văn Minh Phương Tây. Cuốn 2, in lần thứ 9, W. W. Norton & Company, New York, Lodon.


Ghi chú

  1. Theo Trần văn Giáp, những tiểu thuyết đầu tiên là Cành Lê Tuyết Điểm (1921), Cuộc Tang Thương (1922) của Đặng Trần Phất và Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngoc Phách.
  2. Thật ra, trong khoảng 1000 năm lệ thuộc Trung hoa, có hai thời kỳ ngắn ngủi với Hai bà Trưng (năm 40-43 sau Công nguyên) và Lý Nam Đế (544-602) nổi dậy và xưng vương.
  3. Sau nhà Ngô, xảy ra nạn Thập nhị sứ quân (945-967). Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan được loạn sứ quân lên ngôi lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng lập nên triều đại nhà Đinh (968-980). Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, bộ tướng của ông tên Lê Hoàn lên ngôi lấy hiệu làLê Đại Hành, gọi là nhà Tiền Lê. Tiếp theo đó, Lý Công Uẩn lên ngôi, hiệu là Lý Thái Tổ, mở đầu cho một triều đại kéo dài rất lâu từ năm 1010 đến 1225. Nhà Trần (1225-1400) tiếm ngôi nhà Lý cho đến 1400 thì bị Hồ Quí Ly cướp ngôi, nhưng cũng chỉ được vài năm, đến năm 1414 quân Minh (Trung hoa) xâm chiếm. Đến 1427, Lê Lợi nổi lên đánh đuổi quân minh, lập nên triều đại nhà Lê (1428-1788). Cuối đời nhà Lê, Mặc Đăng Dung cướp ngôi (1527-1592), Trịnh Tùng giúp vua Lê khôi phục ngai vàng, nhưng nắm giữ quyền hành, xưng là chúa Trịnh. Con cháu dòng họ Nguyễn Kim, một tướng lãnh của vua Lê, chạy về phương Nam, lập nên chúa Nguyễn, tạo nên cuộc phân chia Nam Bắc lần thứ nhất từ 1543 đến 1788. Đến năm 1792, ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi loạn và đánh bại nhà Nguyễn ở miền Nam, diệt nhà Trịnh ở miền Bắc, thống nhất đất nước sau hơn 200 năm chia cắt. Trong khi đó hậu duệ cuối cùng của nhà Nguyễn chạy ra Phú Quốc, nhờ giám mục Pignau de Behaine cầu cứu nước Pháp giúp đánh bại Tây Sơn, thâu tóm quyền hành từ Nam ra Bắc, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long. Triều đại nhà Nguyễn kéo dài từ 1802 đến 1945.
  4. Kệ là một bài văn vần ngắn, dễ nhớ, dễ hiểu, tóm lược những điều giảng dạy về đạo. Trong khi kinh là một bài giảng về đạo.
  5. Hàn Thuyên tên thật là Nguyễn Thuyên, không rõ năm sinh và năm mất, đời vua Trần Thái Tông. Năm 1282 tục truyền có cá sấu vào sông Lô, vua sai ông làm bài “Văn tế Cá sấu”, ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Việc đuổi cá sấu giống việc làm của Hàn Dũ đời Đường nên vua khen thưởng và cho ông theo họ Hàn. Ông có tài làm thơ Nôm và là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm, nên đời sau gọi thơ Nôm theo Đường luật là Hàn luật. Sau đây là bài thơ của Hàn Thuyên:

Văn tế cá sấu

Ngặc ngư kia hỡi mày có hay
Biển Đông rộng rãi là nơi này
Phú Lương đây thuộc về thánh vực
Lạc lối đâu mà lại đến đây

Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa
Dân quen chài lưới chẳng tay vừa
Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy
Xuống nước giao long cũng phải chừa

Thánh thần nối dõi bản triều nay
Dấy từ Hải ấp ngôi trời thay
Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh
Biển lặng sông trong mới có rày

Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy
Nhân vật đều yên đâu ở đấy
Ta vâng đế mạng bảo cho mày
Hãy vào biển Đông mà vùng vẫy

(trích từ  “Les chefs-d’oeuvres de la littérature vietnamiennes”, Dương Đình Khuê, Kim Lai Ấn Quán, Sài Gòn, 1966?)

* Phù Lương:
Dương Đình Khuê chú thích Phù Lương là sông Hồng Hà (Fleuve Rouge).
Dương Quảng Hàm nói là sông Nhị Hà (Hồng Hà).
Từ điển Nguyễn Quốc Trụ ghi là: “… văn tế cá sấu và đưa chúng ra khoœi sông Phù lương (có sách nói sông Lư giang)…” tức là sông Lô.

  1. Lấy cớ triều đình nhà Nguyễn cấm đạo, quân Pháp mang quân xâm chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ là Biên Hòa, Bà Rịa, Vĩnh Long, đưa tới hòa ước Sàigon 5-6-1862. Sau đó tiến chiếm Bắc kỳ với mục đích dùng sông Hồng hà làm con đường thông thương với miền Nam Trung hoa. Và cuối cùng, dùng vũ lực buộc triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ở miền Trung và Bắc Việt nam, với hòa ước Patenôte ngày 6-6-1884.
  2. Cuối tháng 7-1884, vua Kiến Phúc mất, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lên ngôi, mưu đồ chống lại hòa ước Patenôte, tấn công quân Pháp nhưng thất bại, phải đưa vua chạy trốn, truyền hịch kêu gọi thần dân nổi dậy chống Pháp. Các sĩ phu và quan lại hưởng ứng và lan rộng khắp ba miền Nam Trung Bắc. Điển hình là Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889), Phan Đình Phùng (1847-1895).
  3. Phan Bội Châu (1867-1940) và các đồng chí muốn khôi phục chế độ quân chủ độc lập với sự trợ giúp của Trung hoa và Nhật bản, chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, hậu duệ vua Gia Long làm lãnh tụ phong trào quốc gia. Năm 1905, Phan Bội Châu cùng các đồng chí đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để sang Nhật, đồng thời kêu gọi thanh niên Việt nam xuất ngoại qua Đông kinh để huấn luyện về quân sự và chính trị để sau này về lãnh đạo các phong trào chống Pháp.
  4. Nghi ngờ thiện chí giúp đỡ của Nhật, vì Nhật cũng chỉ nhắm vào sự đô hộ cả Đông á, nên Phan Chu Trinh (1827-1926) và các đồng chí chủ trương phong trào Duy tân, nâng cao dân trí rồi mới dành lại sự độc lập bằng phương pháp bất bạo động. Đông kinh Nghĩa thục thành lập tại Hà nội vào đầu năm 1907, mở lớp học miễn phí, gồm cả Việt văn, Hán văn và Pháp văn, tổ chức diễn thuyết, đề cao sự cần thiết của giáo dục và thương nghiệp. Cũng năm này xảy ra cuộc khủng khoảng chính trị, vua Thành Thái buộc phải thoái vị và bị đày qua đảo Réunion, phong trào chuyển sang việc chống nộp thuế. Nhà cầm quyền Pháp phản ứng, đóng cửa Đông kinh Nghĩa thục, bắt giam và đày ra Côn đảo những nhân sĩ nổi tiếng như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Ngô Đức Kế (1878-1929).
  5. Ngày 15-5-1913, Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) được sự tài trợ của Pháp, ra tờ tuần báo Đông Dương Tạp chí gồm Phạm Quỳnh (1892-1945), Phạm Duy Tốn (1883-1924), Nguyễn Văn Tố (1889-1947), Phan Kế Bính (1875-1921), Nguyễn Đỗ Mục, Dương Bá Trạc (1884-1944). Sau này, một vài người tách ra, chỉ còn lại Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục và Phan Kế Bính. Đông dương Tạp chí chuyên về mặt học thuật văn chương. Các nhà Nho giới thiệu nền văn hóa cổ, còn các nhà tân học thì phiên dịch và giới thiệu văn chương Pháp.
  6. Nam phong Tạp chí ra hàng tháng, số đầu tiên vào tháng 7-1917, lúc đầu do Phạm Quỳnh làm chủ bút phần Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác (– 1945) làm chủ bút phần chữ Hán, với những trợ bút như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1874-1944), Sở Cuồng Lê Dư, Nguyễn Đôn Phục (– 1945), Trần Trọng Kim (1887-1953), Nguyễn Triệu Luật (– 1946)… Nam Phong Tạp chí nhân danh là cơ quan của hội Khai Trí Tiến Đức. Phạm Quỳnh là người sáng lập và tổng thư ký hội này.
  7. Ca dao là những câu hát ngắn, lưu truyền trong dân gian, thường là câu 4 chữ, lục bát hay song thất lục bát. Tục ngữ là những câu nói có từ lâu đời, nhiều người nói thành quen.
  8. Báo Phong Hóa do Nhất Linh (1905-1963) mua lại của Phạm Hữu Ninh, ra ngày 22-9-1933, là tờ báo của nhóm Tự lực Văn đoàn, bị đình bản vào năm 1936 vì Hoàng Đạo (1906-1948) viết bài châm biếm Hoàng Trọng Phu.
  9. Thơ văn Tiền chiến gọi chung thời kỳ từ 1932 tới 1945 vì là thời kỳ tương đối thanh bình vì sau 1945 mới bắt đầu thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp. Thơ văn thời này có nhiều khuynh hướng từ Lãng mạn tới hiện thực, ảnh hưởng văn hóa Pháp, và cũng là thời kỳ phát triển chữ Quốc ngữ.
  10. Có hai kỳ thi. Thi Hương là thi từng vùng để lấy cử nhân và tú tài. Sau đó các cử nhân trong cả nước lên kinh đô để thi Hội, lấy tiến sĩ và phó bảng. Trong các kỳ thi Hương và Hội đều thi Kinh nghĩa, văn sách, thơ phú và tứ lục. Kinh nghĩa là bài văn xuôi bình giảng một câu trích trong kinh, truyện. Văn sách là bài vấn đáp về việc đương thời hay đời cổ. Thơ phú vừa có vần vừa có đối, còn tứ lục không có vần nhưng phải có đối.
  11. Sau khi thất trận Điện Biên Phủ, Pháp đầu hàng Việt Minh ngày 7 tháng 5-1954, đưa tới hiệp định Genève ngày 20 tháng 7-1954 chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17. Khoảng 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam.
  12. Nhân văn Giai phẩm số mùa Xuân tháng 1-1956, sau đó là các số mùa Thu, mùa Đông do một số nhà thơ nhà văn có tinh thần đổi mới văn học như Phan Khôi, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán, Văn Cao chủ trương. Sau đó bị đàn áp và cấm sinh hoạt văn học suốt 30 năm.
  13. Lý Toét, Xã Xệ là tên hai nhân vật hí họa trong tuần báo Phong Hóa do Nhất Linh và nhóm Tự lực Văn đoàn chủ trương,”cười cợt để sửa đổi phong hóa”. Lý Toét làm chức Lý trưởng, bị bệnh toét mắt. Xã Xệ, béo xệ ở thôn xã nên gọi là Xã Xệ.
  14. Vào năm 1956, vì muốn cải cách đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông phát động phong trào “Trăm Hoa Đua nở”, thúc đẩy mọi người bày tỏ ý kiến của mình, đưa tới sự mở rộng bàn thảo khắp nước. Chiến dịch lấy từ một câu nói truyền thống ”hãy để trăm hoa đua nở, hãy để mọi tư tưởng cạnh tranh”. Tuy nhiên ngay sau đó bị dẹp tan, và những người tham gia bị kết án là “Bọn quí tộc cánh hữu”, “kẻ thù của nhân dân”. Mục đích của chiến dịch chỉ là cớ để thanh lọc hàng ngũ lãnh đạo, tiến tới “Bước nhảy vọt” (1958-1961).
  15. Hưởng ứng tinh thần xét lại qua bản diễn văn bí mật của Khrushchev (1894-1971), ở Pozan, Ba lan, 15000 công nhân nổi loạn vào ngày 15 tháng 6-1956, tạo lý do cho Hồng quân Nga tới biên giới, vào Ba lan. Trong cố gắng dẹp tan cuộc nổi loạn, đảng Cộng sản Ba lan tái chỉ định Wladislaw Gomulka là Tổng bí thư đảng, một người bị Stalin bỏ tù, và được nhìn như là cấp tiến đối với dân chúng. Hồng quân sau đó rút lui, và chính quyền Xô viết cũng nới lỏng sự kiểm soát Ba lan.
  16. Ở Hungary vào năm 1956, dân chúng hy vọng bản diễn văn bí mật của Khrushchev sẽ chấm dứt sự cai trị khắc nghiệt của Maytyas Rakosi, một tay thân tín của Xô viết. Tinh thần chống Xô viết của dân chúng tập trung vào Rakosi, và nhân một đám tang của một đảng viên ôn hòa, khoảng 300 ngàn sinh viên, công nhân biểu tình vào ngày 6-10-1956. Đảng Cộng sản Hungary đưa Imre Nagy lên làm Tổng bí thư, cũng là một nhân vật ôn hòa để càn quét đám đông và kêu gọi sự trợ giúp của Liên xô. Đám đông đòi Nagy giải tán chính quyền Cộng sản và Hồng quân Nga phải rút lui. Ngày 4 tháng 11-1956, quân Liên xô tấn công Hungary. Nagy trốn vào tòa Đại sứ Nam tư, Liên xô đưa Janos Kadar lên nắm quyền. Khoảng 20 ngàn người Hungary chết, 200 ngàn người chạy trốn qua nước ngoài. Cuộc nổi loạn bị dẹp tan.
  17. Sau hiệp định Paris, quân đội Mỹ rút ra khỏi miền Nam Việt nam, đến 30 tháng 4-1975, cộng sản miền Bắc chiếm trọn miền Nam, thống nhất đất nước sau 20 năm chia cắt.
  18. Chiến tranh lạnh được coi như bắt đầu từ Hội nghị Yalta giữa 3 cường quốc Anh Mỹ Nga (Franklin Roosevelt, Winston Churchill, và Josef Stalin), tìm cách chấm dứt thế chiến II. Hiệp ước Yalta được ký kết ngày 11 tháng 2-1945. Mục đích của Hội nghị là tái lập lại những quốc gia bị Đức xâm chiếm, đồng thời chia nước Đức cho 3 nước chiến thắng. Nga kiểm soát Đông Đức và Đông Bá Linh, và ảnh huỏng chủ nghĩa cộng sản trên các nước Đông âu như Ba lan, Tiệp khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Ma Ni để đổi lại Nga sẽ giúp Đồng minh đánh Nhật. Các nước Đông âu theo hiệp ước, sẽ được độc lập và tổ chức tổng tuyển cử, thành lập một chính phủ độc lập. Nhưng Nga đã ngăn cản cuộc tuyển cử, duy trì chính quyền cộng sản ở các quốc gia đó, và Hoa kỳ vì bận cuộc chiến với Nhật nên đã không can thiệp. Như vậy chiến tranh lạnh bắt đầu từ 1945 và chấm dứt vào 1991, năm Liên Xô sụp đổ.
  19. Tháng 8-1944.
  20. Tháng 3-1945.
  21. Từ tháng 3-1945.
  22. Bảo Đại (1913-1997), vị vua cuối cùng triều Nguyễn thoái vị vào ngày 25-8-1945.
  23. Và đến tháng 1-1947.
  24. Ngày 6-3-1946.
  25. Cuộc xung đột biên giới giữa Trung hoa và Việt nam xảy ra trong 29 ngày từ 17 tháng 2-1979 đến 5 thàng 3-1979. Nguyên nhân Trung hoa cho rằng Việt nam đã quá liên hệ với Liên xô, đối xử bất công và trục xuất người Hoa sống tại Việt nam về Trung hoa, và giấc mơ bá quyền ở Đông Nam Á.
  26. Cynthia Cohen, “Hòa bình và Kinh nghiệm Mỹ học: Sự Chung sống, Hòa giải và Nghệ thuật”, Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch.
  27. Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820) kể về 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều, bị lừa bán mình vào Lầu xanh, lở dở tình duyên với người yêu là Kim Trọng, phải làm vợ Mã Giám Sinh, Từ Hải, sau đó tự tử, được cứu thoát, đi tu. Nguyễn Du là người có văn tài, học rộng, trước đã làm quan cho triều Lê, sau lại làm quan cho triều Nguyễn.
  28. Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), tả nỗi oán hận của một thiếu nữ tài sắc hơn người, được tuyển vào cung, lúc trước được vua yêu sau bị chán bỏ, than thở, thương cho số kiếp “má đào phận bạc”.
  29. Chinh Phụ Ngâm là một khúc ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, viết theo thể tự do, câu dài câu ngắn, sau đó Bà Đoàn Thị Điểm (1705-1748) dịch ra chữ Nôm. Đặng Trần Côn không rõ năm sinh và năm mất, tính tình phóng khoáng, thích rượu, hay thơ. Đời vua Lê chúa Trịnh có lệ cấm lửa ban đêm, ông đào hầm đốt lửa để đọc sách. Thời đại của ông, chúa Trịnh cầm quyền, tin dùng bọn hoạn quan, người dân bị đè nén áp bức, giặc giã nổi lên khắp nơi, quan quân phải di đánh dẹp. Người lính phải lìa cửa nhà, xa vợ con, bỏ mình nơi chiến trường. Do đó Đặng Trần Côn đã làm ra khúc Chinh Phụ Ngâm nổi tiếng và được truyền tụng cho đến ngày nay.
  30. Frederick Turner, “Chủ nghĩa Kinh điển Mới và Văn hóa”, Nguyễn Tiến Văn dịch

CONTEMPORARY VIETNAMESE POETRY:  ON THE PATH OF TRANSFORMATION

(A PORTRAIT OF VIETNAMESE LITERATURE)

By Khe Iem

(Translated by Joseph Do Vinh)

“Poetry as a Window on History and Change in Southeast Asia” is the main topic of a Panel at the 56th Conference of the Association for Asian Studies – Sponsored by Council of Teachers of Southeast Asian Languages, to be held in San Diego on March 4, 2004.  In many respects, poetry is indeed linked to history and change.  History here must be understood in the broader context of linguistic, literary and political developments.  These are the primary elements that make up culture.  When we speak of Vietnamese poetry, we are speaking of the larger category of Vietnamese literature as well, since up until the invention of the Quoc Ngu (Romanized National Script), Vietnamese literature was primarily poetic, absent of novels and essays.  Short stories only began to emerge with the popular use of Quoc Ngu.  The earliest were translations of Chinese and French stories that began to appear in the magazine Nam Phong Tap Chi. Thus, the novel only came into existence after 19211; an example of such work was To Tam, a romantic novel written by Hoang Ngoc Phach.  Novels written after that period followed the structure and expressions of plot and character development of foreign literature, merged with the rhetoric techniques of classical poetry.  Changes in Vietnamese literature always begin with changes to poetry, since poetry is at the heart of Vietnamese literature.  But poetry as a mechanism for change historically has been subjected to the whims of political power, tracing back a thousand years.  Changes in government, the written script and other historical changes have also affected the evolution of Vietnamese poetry.  As such, we must study Vietnamese poetry from many different angles:  the linguistic, historical and cultural influences of foreign civilizations such as China and the West, in order to understand the change and continuity in Vietnamese poetry typical of Vietnamese literature in general.

The Background 

As to Vietnamese history, China2 dominated Vietnam for nearly one thousand years (from 111 B.C.E. to 938 C.E.).  In modern times, Vietnam endured eighty years of French Colonialism (from 1863 to 1949).  Those years of foreign domination instilled upon Vietnamese people foreign cultures that deeply affected their customs, daily lives and literary traditions.  The Chinese rulers brought to Vietnam their distinctive traditions such as marriage reforms, education, agriculture, and many other aspects of civilization aimed at assimilating the Vietnamese.  For instance, they taught Chinese script for use in daily administrative offices because at that time, although the Vietnamese people had their own verbal language, no writing system existed.  After the great Ngo Quyen gained Vietnam’s independence from China (939 – 965), the Dinh Dynasty3 (968-960) took over and started to emulate the monarchist system from the Chinese Dynasties and continued to use Chinese script in administrative offices and diplomatic exchanges with China. Vietnamese poetry in Han Chinese script emerged under the Ly Dynasty (1009-1225), written mostly by Zen Buddhist monks because only Buddhist monks had the privilege of the formal education provided by the monasteries;  such writings were usually in the form of Sayings (katha).4   Buddhism arrived in Vietnam via two routes: by way of China and from India.  Many of the Buddhist texts were written in Han Script.  Therefore, Vietnamese monks were quite fluent in Han Script, and Sinology became popular with the spread of Buddhism.

As of the tenth century, most Vietnamese social, political, cultural, religious, artistic, and literary traditions reflected Chinese influence. In the year 1075, the Vietnamese emperor Ly Nhan Ton established the first mandarinate exams in Vietnam.  The purpose of the exams was to recruit able civil servants into the emperor’s courts.  Despite its political independence, Vietnam still relied on Chinese script and general culture until the reign of Tran Nhan Ton (1279 – 1298).  Han Thuyen5 used Nom script, which was the unofficial Vietnamese script graphotype using Chinese characters, to write his famous poem ‘Van Te Ca Sau’ (Ode to the Crocodile).  Nom script was transcribed phonetically from Vietnamese pronunciations.  Like Han script, it proved very difficult to write.  Only civil servants, scholars and students could write in Nom, since it was not popular with the common people.  Nobody knew exactly how the Nom script originated.  Nom script may have developed from the need to describe daily activities and objects more clearly than in Han script.  This Nom script was not conventionalized.  Every user adapted it according to the needs at hand.  The reader had to rely on guesswork to comprehend the text.

In the sixteenth century, during the Trinh-Nguyen Lords’ demarcation period, foreign merchants and missionaries began to arrive in Vietnam.  Since Nom script was difficult to learn, the missionaries devised an alphabet writing system based on Vietnamese pronunciation to facilitate the teaching of the Bible and to spread the Christian religion.  This was called Quoc Ngu (national script), and it combined the work of many Italian, French and Portuguese priests.  In 1651, a Jesuit Priest named Alexandre de Rhodes (1591-1660) published the first Quoc Ngu-Portuguese-Latin dictionary in Rome, marking the beginning of modern day use of the Vietnamese National Script, Quoc Ngu.  In 1863, the French invaded Southern Vietnam6 and by 1884 had conquered the entire country, making the South its colony and the North and Central areas its protectorates.  During the early years of French colonialism, the French had to quell many rebellions, including the Can Vuong7 (King Restoration) Movement.  The French were not able to abolish the entire mandarinate exam system in the North until 1915 and in Hue (in the Central area) around 1919.  Afterwards the French opened their own schools to train a new generation of colonists to work for them.  They also established the Khai Tri Tien Duc Association (Progressively Open-Minded Association) to advance French culture and Quoc Ngu script.

Around the same time, in 1906, the Vietnamese revolutionary Phan Boi Chau organized the Phong Trao Dong Du8 (Go East Movement) to send Vietnamese students to Japan to acquire advanced education.  He recognized how strong and prosperous Japan had become by modernizing itself.  In early 1907, a number of young patriotic Vietnamese scholars with mixed Confucian and Western backgrounds, including Luong Van Can, Nguyen Quyen, Hoang Tang Bi, and Duong Ba Trac, opened the Dong Kinh Nghia Thuc (Free School of the Eastern Capital).9 These scholars favored the use of Quoc Ngu over the archaic Nom and advocated Vietnamese nationalism, modernization, and mass education while resisting foreign cultural assimilation.  At the end of 1907, the French closed down the Dong Kinh Nghia Thuc by negotiating a treaty with Japan discontinuing the harboring of Vietnamese students.  With the failure of the Phong Trao Dong Du and the Dong Kinh Nghia Thuc, many Vietnamese scholars were disappointed and disheartened.  They returned to working under French administrators, serving as researchers and analysts to reconcile differences between the French and the Vietnamese.

As part of its propaganda, the French authority assisted Nguyen Van Vinh in publishing Dong Duong Tap Chi 10 (Indochinese Review, 1913-1915) which specialized in the translation of Chinese and French literature into Quoc Ngu.  Another publication, Nam Phong Tap Chi11 (Southern Wind Review, 1917-1932) edited by Pham Quynh, appeared in 1917 in three languages:  Vietnamese (written in Quoc Ngu), French and Chinese.  Articles chosen for publication were on revolutionary thoughts and academic research and were educational in nature.  Nam Phong Tap Chi published widely in order to attract a large audience, from the Confucian educated to the western educated, in order to spread both ancient and modern studies.  In 1928, Nguyen Van Ngoc published his modern collection of Vietnamese “folk and custom” verses12 of some eight thousand verses following such ideals.  This collection laid the basis for harmony between Tho cu (old poetry) with Tho moi (new poetry).  Here we can recognize the importance of the written word.  Alphabet writing was easier to learn and write, similar to English or French. It helped to change the influence on Vietnamese culture from the Chinese to the West.

By 1932, a new generation of writers had emerged.  Those new writers no longer subscribed to the East-West reconciliation views of the Nam Phong Tap Chi and Dong Duong Tap Chi generation.  They revolted against the old, and promoted the new.  The first of this new generation was author Nhat Linh, who published Phong Hoa magazine12 (Customs and Morals) and founded Tu Luc Van Doan (the Self-Reliant Literary Group) in 1933 that included Khai Hung (1896-1947), Thach Lam (1910-1942), Hoang Dao (1907), Tu Mo, Nguyen Gia Tri (1908-1993) and The Lu (1907-1989).  These writers used Quoc Ngu to compose poems and novels.  Many other writers later joined them, including Xuan Dieu (1916-1985), Huy Can, Vu Hoang Chuong(1916-1975), and Dinh Hung (1920-1967).  Together they started an enlightening literary epoch called Tho van Tien Chien14 (pre-war literature).  These writers shared a Confucian scholar background, with a penchant for Western education.  Combining traditional Tang poetry with popular oral traditions, they composed a particular Vietnamese-style poetry.  Up until this time, all literature was reserved for city-dwellers who were educated since the majority of the common population was still illiterate.  It was this period that marked the departure of Vietnamese literature from its heavily Chinese-influenced traditions.

Prior to this, Vietnamese traditions were ingrained in an authoritarian monarchist system modeled after China’s.  This system, based on Confucianism as its basic social-political-cultural philosophy, aimed only at controlling the populace.  Confucianism became prevalent under the rule of the Confucian mandarins.  Confucianism dictated loyalty above all else.  The King had complete authority over his subjects just as a father has complete authority over his household.  This authority over life and death matters was total and was not to be questioned.  The King relied on his mandarins to control his subjects, while the mandarins were bestowed power and privileges in return.  In order to attain the status of a mandarin, candidates were qualified through mandarinate exams.15  During these exams, candidates composed poetry and written texts in accordance with set rules of composition based on difficult formal and complicated Chinese literature.  Should candidates fail to comply with these strict regulations or corrupt the process in any way due to their ineptitude, they would face imprisonment.

Thus, Confucianism became a competition-examination system.  From the King to the mandarins, all were career poets who specialized in the flowery style. After some 2000 years of Chinese influence, most Han poets were mandarins (in nature); however, they had weaker poetic standards than the poets of the Tang period.  From the beginning, poetry was a means to gain power, and then it became power itself.  Once a Confucian poet became a mandarin, he became a ruler; his poetry became sacred, respected, no longer an artistic creation.  Han Chinese writing was considered the language of the Sages, not to be used lightly or for entertainment.  Once Han Thuyen used Nom script to write his poem (Ode to the Crocodile), more people composed poetry using Nom script to avoid the (said) rules and customs of the mandarin courts.  Poetry written in Nom borrowed the Chinese forms initially, but gradually changed to using the traditional forms of Vietnamese folk poetry, which have the six-eight or double-seven and six-eight patterns (A Vietnamese word usually has a single syllable. Six-Eight refers to the count of a line of poetry:  first a line of six words; then a line of eight words).  At first, poets entertained themselves by using Nom as a new medium for writing poetry, but later some talented poets found that using Nom could relieve them from the usual constructs, enabling free expression, surpassing the eloquence of Tang poetry.  Over time, the elite mandarin self inside the poets slowly took over the artist self, making Nom poetry more difficult to comprehend with many historical references.  It had taken over the position of Han poetry and became Vietnamese classical poetry.

If Han poetry were an amalgamation of political power and literature, Nom poetry was now a separate literary movement that counter-balanced political power.  This new kind of poet was obsessed with the power of opposites, that of illusion and politics, that of mandarin and artist.  The great poet Nguyen Du, for example, was a high-ranking mandarin of the Nguyen Dynasty who was disillusioned with the royal court.  He could only pour his feelings out into poetry in order to escape reality.  Yet Nom poetry like Han poetry had its roots in a monarchist court culture that was heavily influenced by mandarin overtones of dictatorship and arrogance and lost appeal because it was reserved exclusively for elites who proclaimed themselves as venerable sages, “noble gentlemen.”  Naturally, the common people had no role in that kind of poetry.  And because the French government was busy quelling the masses, they ignored writing groups.  Vietnamese literature began to shed political obsessions.

Before the development of Quoc Ngu, common people knew neither Han Script nor Nom Script.  Although considered outsiders of the literary groups, the common people, whose spirituality was closely knitted with nature, had learned to express their emotions through traditional folk songs developed over thousands of years.  Ca dao (folk songs) were sporadic creations of the rural masses that developed into metered poems of the six-eight (words per line) form or sometimes two lines of seven words each followed by a line of six words and a line of eight words.  One can find a trove of anecdotes and tales in poetry and song that passed culture and customs down through the generations.  These folk songs were filled with images of daily hardships such as farming, irrigation, or rice pounding.  These people relieved the pressures of a life of hard labor by singing or reciting oral poems composed by unknown authors.  Ca dao was very short and simple.  It had only two or four verses, with rhyme and rhythm that were easily sung or recited.

While Tang poetry’s structure was rigid with its set rules such as ngu ngon tu tuyet (5-4 form: 5 words per line, 4 lines) or that ngon bat cu (7-8 form: 7 words per line, 8 lines).  Pre-War poetry borrowed from these forms and from the structure of Tang poetry with its 5 or 7 syllable (word) verse form, adding the eight-word verse form and the six-eight-syllable verse form.  The 5-4 and 7-8 forms mixed with the Ca dao form reflected the natural sounds of Vietnamese spoken language.  Lacking structure and eloquence, Ca dao never developed into a formal aesthetic trend.  Classical poetry and pre-war poetry stemmed from Ca dao.  If classical poetry reflected a strange and faraway China, the pre-war poetry reflected the common love and romance found in individualism, estranged from traditional daily life.  The general population never found a comfortable place in Vietnamese poetry because the literates excluded them in one way or another.

It is worthy to note that Vietnam remained relatively peaceful from 1932 to 1945.  In 1945, at the end of World War II, the Nine-Year War with France began, ending with the Geneva Treaty 16 on July 20, 1954, that divided Vietnam in half.  The northern half rallied to communism.  The southern half rallied to capitalism.  Soon after, another war broke out at the end of 1960, involving both halves of the country.  It was during the 1960’s that the Nhan Van Giai Pham 17 (Humanism Quarterly Magazine) was established in the North, and the Free Verse Poetry Movement developed in the South.  In both the North and the South, poets were trying to deviate from the stagnant pre-World War II. poetry.  They experimented with more liberal forms of expression.  By the end of the latest war in 1975, Vietnamese poetry had undergone two decades of near paralysis.  It was not until 2000 that a new and more vibrant movement would emerge – New Formalism.  In this essay, we have used comparative studies to juxtapose poetry with historical events within which these works came into being, taking into account the unique characteristics of each of the periods, from the 1960s until the present day.

The continuity

During Chinese domination over Vietnam, poetry flourished, most notably in the Tang Dynasty (618 to 906).  Vietnamese poetry, although evolving linguistically and conceptually over time, continued to echo Tang influence into the future.  The following example is cited below to demonstrate this point.

The Chinese poet Jia Dao (779-843), as a youth on his way to take the national examination in the Capital, happened to compose the following two verses:

Ma tuc tri trung thu
Tang thoi (xao) nguyet ha mon

The horse sleeps under a tree by the lake
The monk knocks (pushes) the temple gate under the moonlight.

Since he was not quite satisfied with the word ‘knocks’, he was deep in thought and did not even notice a company of officials traveling by.  The guards brought him to the State Minister Han Yu (768-824).  (In the old days, common people had to stop and yield until the officials passed by; otherwise the people would be arrested for slighting the officials.). Upon discovering his endeavor, the State Minister suggested the word ‘pushes’ instead of ‘knocks’, which is more subtle, and pardoned his impropriety.  The hidden meaning in these two versions is profound, demanding its readers to have a repertoire of classical poetry and historical reference.  Jia Dao used the Buddhist perspective that human beings are tam vien y ma, meaning human beings’ hearts constantly change like a hyperactive monkey while their minds are like a moving horse, never calm.  The monk is in control of his mind, as the horse sleeps under a tree.  The moonlight reflects upon the lake, signifying life was illusive.  Once the monk’s mind calms, he knocks (pushes) the gate.  His action was a willful act of seeking the inner meaning of Buddhism, of the sutras as a means to an end, like the finger that points to the moon that is the truth.  The monk is on his way to discover the ultimate truth, nirvana.  The images of the horse, the gate, and the moonlight represented the human mind, Buddhist teachings and sutras.  Han Yu suggested the word xao ‘pushes’, which was both gentle and implied that the ultimate truth was not far, but within reach.  In these two short verses, one finds idealism.  This style of poetry utilizes an “idea-beyond-words” technique.  Later on, Jia Dao retired from his mandarin position. He became a monk and continued to write poetry.  Once he lamented:

Luong cu tam nien dac
Thi thanh song le thuy

(I) composed two verses in three years
Once written, both eyes filled with tears

This historical reference of Thoi Xao (Knock-Push) and the technique, idea-beyond-words, influenced Vietnamese literature from Han script to Quoc Ngu, from Tang influenced-poetry through pre-War and Free Verse poetry.  As Tang poetry demonstrated, it was a high form of Art.  It required the poet and his readers to possess knowledge of the three great doctrines of Buddhism, Taoism and Confucianism, not reflecting in reality but taking refuge from it.  Vietnamese classical poetry and pre-War poetry were rhetorical arts, carefully choosing words, like Jia Dao.  The only difference between them is that classical poetry heavily used literary references from (ancient) Chinese literature while pre-War poetry relied on words to convey romantic feelings.  During Vietnam’s relatively peaceful period prior to 1945, both classical and pre-War poetry used the right rhetorical techniques.  After the 1960s, both the North and South experienced social changes.  Rhetorical usage was no longer suitable for such situations.  Poets found new ways to express their thoughts and feelings appropriate to their rapidly changing circumstances.  However, the communist government in the North forbade all forms of change (no free expression was allowed).  Poets had to indulge once again in rhetorical usage although they were not allowed to have their compositions published; they had to keep their works to themselves.  Their rhetorical technique took on ambiguous usage for even the most ordinary words.  Their methods disregarded the rules of grammar, eliminating the “idea-beyond-word” approach in which no meaning is real.

Meanwhile in the South, most of the literary elites were those who had immigrated from the North in 1954.  As strangers to this new environment who were withdrawing from the war around them, these writers tended to go into self-imposed isolation within the city walls.  Alienated from the masses, they turned to their own minds and books, concentrating on words in order to reflect feelings instead of ideology.  Thus, both the North and the South prior to the unification in 1975, and out-of-mainstream free verse poetry after the unification, were absorbed in the quest to find interesting words and imageries to paint surprising portraits that were quite removed from any realities.

Western influence on both the political and the literary culture began in earnest in the 1920’s and was filled with biases; however, the masses ability to grapple with the new concepts remained elementary.  Many western ideologies, such as Communism or Surrealism, were only beginning to be digested in Vietnam, even as some of these same ideologies had been abandoned in the West.  Over-enthusiasm for Western ideas had eclipsed the early advances made by such writers as those in the Self-Reliant Literary Group.  Thus began a period of literary confusion.  Hoang Dao with his Ten Meditations began something entirely new.  Nhat Linh’s character Loan in Doan Tuyet took a knife to her husband, intent on his murder.  She was symbolic of fundamentalist tendencies.  The satires of Ly Toet, Xa Xe 18, portrayed a backward society filled with the dumb and the blind.  These views were slanted toward the negative bias of Western perspectives.  Unable to critically analyze and evaluate the impact of this negative trend, these latest writers could not improve or expand upon the national traditions.  This confusion gave rise to violent tendencies that inspired a host of extremist activities to follow.  This wholesale adaptation of western ideas, undigested and unprocessed, fostered misconceptions and gave birth to a syntactically ill-developed body of work that is typical of Vietnamese literature of the last half of the twentieth century.  For several consecutive generations until now, Vietnamese literature looked to the West as a perfect model.  In such literature, the common people were viewed as just as backward and stupid as Ly Toet and Xa Xe, the satirical characters of Tu Luc Van Doan fame.  Vietnamese poetry during this period was nothing more than word play and wordsmithery, devoid of any positive social implications.

From 1960 to 1975, and even after 1975, Vietnamese free verse existed side by side with more structured and metered poetry.  In the North, themes of revolution, of struggle, and of propaganda consistent with the party line dominated, while in the South themes of love and romance dominated.  In both cases, poetry was a means to achieve an end, not an end in itself.  Poetic traditions remained static.  Thus, following the pre-World War II poetry, Vietnamese literature diverged into two main paths.  One continued along the lines of Tu Luc Van Doan (the Self-Reliant Literary Group) with its emphasis on romantic portrayals, and the other was based on new usages of ambiguous rhetoric that pretended to accommodate change.  These tendencies have been locked in place to the present day.  Since no new aesthetics has emerged, and absent any new thoughts and techniques, Vietnamese literature has remained stagnant.  We find ourselves today in that dilemma.

Ancient Greek rhetoric was established during the fifth century B.C.E.  It is the art or study of using speech or written language effectively and persuasively, including techniques for the use of logic or argument aimed at persuading the audience about certain ideals or concepts, and it makes use of grammatical principles.  Thus, logic has to be lucidly coherent, leading the audience to complete comprehension of an issue once it is presented.  As a custom and habit from old tradition, it must shed light on the truth, and the speaker or writer must be capable of resolving difficult problems through clear and concise reasoning, with the logic flowing as in a story-telling.  In poetry, rhetorical figures do not change the meaning of words, but only add to their emphasis through repetition.  In short, rhetoric was the invention or discovery of ideas, the arrangement or organizing of ideas, and the style or way of putting ideas into words, which offered practice in oral argumentation for the philosophers, lawyers and politicians.

In the Middle Ages, the study of the trivium – grammar, rhetoric and dialectic – emphasized style and logic.  During the Renaissance, with the invention of the printing press, the written word became increasingly important.  Over the course of many centuries, rhetoric went from a focus on the use of the spoken word to a focus on the written word.  And until now, it is a course of study within the English language and literature departments in universities.  Later, along came the New Rhetoric with its new viewpoint, one not only related to the content, structure or written representational style, but also one that included many social and political issues concerning maintaining harmonious relationships with each other.  Because of our cultural diversity, in everyday conversation many situations occur as a result of only a few misunderstood simple words.  New Rhetoric broke away from studying texts for their beauty or content, and began to use rhetoric as a tool to analyze information about society, becoming a vehicle for mutual understanding among humans.  Of course, sometimes the rhetoric could fall victim to negative terms, using unnecessary amplification, sham or empty words.  In general, according to Western belief, rhetoric was merely a method for helping people open up to the world, while the Vietnamese interpretations kept the door closed to the outside, and were adapted particularly to the country and its own historical situation at that time.

When these two notions about rhetoric are compared, it becomes clear as to why Vietnamese poetry had to change.  The idea was, if one line has one excellent word, it is an excellent line; if a poem has an excellent line, it is an excellent poem.  Written words remain in the readers’ mind throughout their education and experience (for example, Sino-Vietnamese words).  Words are signs with a signifier and an attached signified meaning. When a literary work uses only words or lines to create impressions and feelings, it leads readers into a supernatural or surreal world (in reality, a world that is nothing but words) containing only illusions unreflective of the real world.  The overuse of impractical literature is a bad influence, and language becomes poison, which deceives readers.  The language is no longer a means to transfer thoughts and information from one to another.  The written word becomes a privilege of a minor academic group.  It is a private power that allows neither a way in, nor a way out of that secluded domain, and the poet finds escape from reality.  A text is good because of the feelings and illusions it creates with words.  However, it brings no ideological development to that kind of literature. Thus, we have two distinctively different systems.  On the one hand, we have a system based on Tang poetic traditions with its difficult word play.  On the other hand, we have a system aimed at exploring thoughts and concepts based on style and logic, ever evolving to reflect social changes.  These two systems are irreconcilable.  Regardless of the superb translation work done between languages, true understanding has not been attained.

Vietnamese poetry, in its natural course of development, did have some notable epochs.  In the 1940’s, during the anti-French resistance, rhymed and rhythmic poetry was no longer able to reflect the changes of the times.  Free verse only started to diverge from it with poets such as Nguyen Dinh Thi, Huu Loan, and Hoang Cam.  Then, the war ended, leaving the country divided.  Because of its socialist ideologies, the North became isolated from the Western world.  All intellectual productions came under the direct control of the state.  An important event that happened during this time was the publication of Nhan Van Giai Pham (Humanism Quarterly Magazine).  After a 20th Soviet Party Plenum, on February 1955, Nikita Khrushchev (1894-1971) denounced the cult of personality constructed around Joseph Stalin (1879-1953) in a “secret speech”. Also in June 1956, the Hundred Flowers campaign 19 began in China.  Mirroring this, in January 1956 Vietnamese Communist Party Chairman Truong Chinh gave the green light to a number of artists and intellectuals, such as Tran Duc Thao, Phan Khoi, Tran Dan, Phung Quan and Le Dat, to publish the spring issue of Nhan Van Giai Pham.  In that magazine, they demanded greater artistic freedom and a separation between the realms of art and politics.

Unfortunately, in the same year, the revolts in Poznan, Poland20 and Budapest, Hungary21 led by revisionist communist cadres along the lines suggested by Khrushchev broke out.  Fearing fragmentation of the communist bloc, the Soviet Union ordered a massive crackdown.  The Vietnamese Communist Party was also afraid of a spreading revolt; they started to crack down and silence any outspoken artists and authors.  In Nhan Van Giai Pham, all the participating poets had produced only free verse poems, which had been banned since the anti-French resistance period, mainly because of its name “free” verse (although it was not a true free verse according to Western definitions).  After the crackdown, most of the poets featured in Nhan Van Giai Pham went underground, withdrew from normal life and the literary scene, or resigned themselves to rhetorical writing.

Meanwhile, during the 1960’s in the South of the country, Vietnamese poets came under the influence of Western-style free verse poetry in a different context.  The French had departed, ending a long period of colonialism, but a new war had also begun.  The Southern poets, influenced by French culture, turned away from the pre-war poetry traditions, and advocated free verse poetry.  Because of social, cultural and linguistic differences, and because it only absorbed free verse on the surface, Vietnamese free verse poetry did not resemble the Western free verse, but mutated into rhetoric and word play that was difficult to understand.  Free verse poetry was developed in polysyllabic languages (such as French or English).  Its form is associated closely with reading.  It has the ability to create musical sounds, while a monosyllabic language may not have the same effects if it just simply arranges words.  Mainly, poetry is based on the art of communication with patterns of form and sound.  According to New Formalism, it is the form of the poem which gives rise to ideology.  The failure of the 1960s free verse poetry in the South of Vietnam brought forward the reaction that resulted in the comeback of the rhymed and rhythmic poetry advocated by the Eastern Meditation in relation to the Buddhist movement active after the 1963 coup d’etat that brought down President Ngo Dinh Diem.  Those poets, Bui Giang, Nguyen Duc Son, and Pham Thien Thu, all wrote in the rhetorical poetry style.  Thus, both North (NhanVan Giai Pham) and South Viet Nam, though they had different circumstances and political contexts, somehow fell under the same spell of rhetorically-structured poetry.

The historical events of April 30, 1975 22 (The Fall of Saigon) further isolated Vietnam from the rest of the world.  At the beginning, most Vietnamese refugees were preoccupied with loss and suffering, with restarting their lives and resettling in foreign lands.  Young poets, who had grown up during the closed-door policy of the communist government, could not receive anything new so they looked back at the translated works and novels that were produced in the South in the 1960s.  Not only did young poets read this literature from the South, they also lived in political atmospheres that were very similar to the Nhan Van Giai Pham period.  Incidentally, they also inherited the rhetorical style from the Nhan Van Giai Pham poets and other poets in the same era from the North, as well as creativity from the South.  They came to reconcile both poetry movements and revived them.  The poetry of those young poets embraced rhetoric, rebelliousness and escaping from reality, much like the writings of the 1960s in both the North and the South.  Regardless, their poetry had neither negative nor positive effects.  However, when those young poets’ reconciliation role was over, their so-called Young Poets movement was also finished.  When they used the same poetic methods that the older generation did, they could not go beyond the confines of their predecessors.  They came to be known as the Young Poets, and their poetry was stunted, never to grow beyond this stage or to see that its fate was short lived.

In reality, the poets of Nhan Van Giai Pham and of the South in the 1960s, and the Young Poets all wanted literary change.  But they were unlike the artists in the West who, in reaction to the new dynamics of their time and place, attempted to change the very essence of aesthetics. Free verse poetry in the west was a major revolution in aesthetics that began at the start of the twentieth century, attempting to change the nature of expression, as a reaction to the industrial revolution and the major ideological movement of the later parts of the century.  It explored new angles of aesthetics and created new perspectives on free verse poetry.  In the second half of the twentieth century, free verse poetry saw more pioneering movements, which came with new aesthetic concepts and perspectives. Throughout the twentieth century, when imperialism (regardless of whether it was capitalist or communist) and nationalism were promoted to unite the different races and form alliances, the artists fragmented their own works.  For example, “The Waste Land” of T.S. Eliot, Cubic works of Picasso, and the latest pioneering movement of L=A=N=G=U=A=G=E Poetry in the United States in the 1980s, which considered language to be a symbol of political power.  Those artists fragmented the syntax in favor of their own theory of aesthetics.

However, when the Cold War 23 was over, while races in the same country were back to separation and their conflicts sparked several miserable civil wars, New Formalism returned to the whole syntax, natural and perfect ideals which were represented by the poetic forms.  They called for many things, a wish for a normal life, an attempt to abolish differences between races, and compassion and greater understanding of common human sufferings.  The avant-garde artists in the West were able to break through due to the liberties that their societies afforded them.  Free to explore many different perspectives, they were able to find common ground and forge a new aesthetic movement based on the great inheritance of historical aesthetics, which had been established much earlier.  These were the conditions that gave rise to their success.  Whereas the out-of-the mainstream poetry of the Northern part of Vietnam was self-contained with isolated individuals and the Southern part was somewhat freer, neither inherited any traditions other than those of Tang poetry and Pre-War poetry.  Thus, in both the North and South, poetry reflected individual reactions to the circumstances – socialism and politics on the one hand, and perpetual war on the other.  Although the poets failed to change the fundamental theories of aesthetics, they were successful in placing Vietnamese rhetorical poetry at the top of its class; no one could surpass them.  However, that forced younger generations of poets into the inevitable position of having to find changes that they could make.  This is obviously why the poet Thanh Tam Tuyen (1936 – ) returned to rhymed and rhythmic methods in the collection Tho O Dau Xa (Poetry is Not Far Away), which he produced much later in his life.  The Young Poets (after 1975) turned to the poetry of the 1960s, and poet Le Dat played a lonely poetic game with Bong Chu (The Shadow of Words).  Each poet who travels under the umbrella of rhetoric forges a narrow path like a lonely planet.  That path will lead to a dead-end in a few years.  Poetry cannot be a narrow path for one; it should be a large thoroughfare for thousands and thousands of travelers, and it should even have room for more.  It should lead to infinity, not to a dead-end.

For the Doi Moi (Reformed Literature) movement in the 1980s, which took advantage of the open-door policy of that time, some writers thought they were able to find some social consensus.  The Young Poets at that time could write what they wanted to, rather freely, to their heart’s content, even though literature was not much under social influences and officially freedom of speech was not allowed.  Eventually both the Doi Moi and the Young Poets movements stopped in their tracks.  One was a reaction to the social and political circumstances and had to be quelled.  The other was a reaction to the market economy.  To change, one has to begin with methods of representation, replacing the art of rhetoric with the art of syntax; it is the first fundamental step toward creating a new methodology and developing literary works with deep ideology if one aspires to create works worthy of being considered world literature.

Of course, talented Vietnamese poets have produced numerous quality works spanning several centuries, with readers who know how to enjoy those works in its rhetorical system.  Regrettably, the ensuing generations have added nothing new besides repeating the same pattern of flowery words empty of meaning.  Those recent works lack analytical methods connecting ideas that would capture the reader’s attention.  Half way through the work, the reader becomes bored with the poem and never finishes reading it.  For lack of knowledge of such aspects of the poetry as the Sino-Vietnamese terms, for instance, readership continues to shrink.  When there is no longer a proper balance between readers and writers, literature reaches an impasse, and the writers themselves become the readers.  Maybe the Young Poets were the last generation that could continue with some of the traditions, but it was also with their generation that the dominance of the rhetoric system ended.

The younger generations, who are or will become mature during the time of the open-door policy, will no longer be able to enjoy many rhetorical works.  In addition, these younger generations need some works that are comprehensive, reflecting their own time and reality.  As with many New Formalist poets now living abroad, the new generations have more opportunities and abilities to see the world, to become more open-minded and to accept many new methods of literary representation, which helps them to absorb knowledge that is more fundamental and to understand more.  From this, one can look back at many literary movements in Vietnamese literature.  Most of the strong movements that contributed to literature were outside of the political mainstream and always were suppressed and/or prohibited; such movements include Nhan Van Giai Pham in the North, literature in the South part of Vietnam in the 1960s, Doi Moi literature in the 1980s, and now the Young Poets and Vietnamese New Formalism.  Such movements have been characteristic of Vietnamese literature for more than half a century.  They are also clear evidence that no one can deny the value of Vietnamese literature (whether mainstream or not).  Maybe that is why Vietnamese literature is progressing more slowly than the literature of many countries.   Maybe that is why Vietnamese cultural standards have increasingly regressed, and the gap between readers and writers has increasingly widened.  At times, it may seem that these obstacles are difficult to overcome.

But Western poetry has had its setbacks also.  Free verse in the West, especially that of the avant-garde movements in the United States before the 1980s, has become out of touch with the times, pigeon-holed into individualized self-expression, esoteric and fragmented to the point of having no relevance to the general audience.  Lacking the ability to create new developments from ordinary stories surrounding daily lives, poets became self-serving, presenting their own emotions and feelings to satisfy their own egos.  The result was that common readers were intimidated by poetry.  Writers did not read poems. Even poets did not read other poets’ works; they only read their own and their friends’ works.  Ordinary readers lost the enjoyment that poetry had brought them in the past.  The rhetorical system was an obstacle that blocked any contact with the outside world, while free verse was a product of the twentieth century, with all of that century’s characteristics including social and political characteristics.; it was not coincident with general trends now that attempt to reconcile the many differences so that everybody can create a peaceful and happy life.  There is a need for a reconciliation of all differences so people can live in peace with each other.  For Vietnam, that need is even more urgent because of the consequences of the civil war, which divided her people further; Vietnam is in need of a healing remedy after so much misery.

The Effects of the Era and the Poet’s Role

In the second half of the last century, Vietnam, after emerging from colonialism, was plunged into a twenty- year-long war, her most devastating war.  During the cold war period, there were three countries suffering from partition:  Germany, Korea and Vietnam.  In 1975, Vietnam was unified under socialism.  In 1989, the Soviet bloc in Eastern Europe fell apart, and East and West Germany were unified.  Capitalism became dominant, the two German political and economic systems merged under Capitalism, while the Koreas remain separate states.  After the collapse of Eastern Europe and the Soviet Union, numerous  ethnic and religious conflicts broke out in Yugoslavia (1991), Rwanda (1994), Sri Lanka, East and West Timor.  Following that was terrorism, fanned, in part, by the differences between the Muslim world and the West.  This terrorism reached a high point when the World Trade Center was destroyed on 9-11-2001 in New York City.

The need for reconciliation between different peoples who have their own political ideologies, religion and cultures has to be addressed so everyone can live together in peace. All humanist cultural arts that relate closely to human life and the mind must be changed in means of representations, to conform to the current trends of the era. Thus, Vietnam, Germany and Korea are three models from which we can learn more about reconciliation: Germany – capitalist; Vietnam – part capitalist (with a market economy) part communist; Korea – the North is communist, the South is capitalist. Looking back upon Vietnamese history, it shows that after Ngo Quyen gained independence for Vietnam from the Chinese in 938, to avoid future invasions, Vietnam continued to pay tribute to China yearly.  This proves that the Vietnamese are pacifists in nature and are adaptive to new conditions.  Yet, Vietnamese history is also filled with several demarcations.  The first was the Trinh – Nguyen Lords (or the North–South reigns from 1543 to 1788).  The second was when the French colonized Vietnam; France took advantage of Vietnam’s geographical coastal S-shape (along the Pacific Ocean), backward and difficult transportation (either by land or by sea, with horses and boats) to use a partitioning policy to control Vietnam.  In effect, it also created a lasting North – South bias among Vietnamese people.  The last partition was in 1954.  Thus, the role of literature must be a methodical reception of cultural elements, a reconciliation of people’s differences in order to develop itself further in the right direction.

After World War II, world events had a significant impact on Vietnam.  In the spring of 1940, Germany was victorious over France and established the puppet government of Marshal Henri-Phillipe Petain (1856-1951).  In the same year, Japan allied itself with Italy and Germany to form an “axis of power.”  Prior to that, Japan had attacked China in 1937, and invaded Vietnam in September of 1940, taking advantage of a treaty between Germany and France.  France could not reinforce French Indochina.  Japan also suggested that they both co-govern Vietnam. In reality, Japan controlled Vietnam totally, while France was allowed to hold only an administrative role.  The United States stayed out of this world event until Japan attacked Pearl Harbor on December 7, 1941.  Japan continued to expand its military reach into the Pacific, Southeast Asia and the Malaysian islands in search of oil, rubber and extensive food.  On the day after the Pearl Harbor attack, the United States declared war on Japan.  Four days later, the “axis of power” declared war on the United States.  On D-Day, June 6 1944, the Allied Forces crossed the English Channel to Northern France and successfully liberated Paris on August 25, 1944.  World War II ended with the unconditional surrender of Germany on May 8, 1945.

England, France and China called on Japan to surrender, but received no response.  At the same time that France was liberated 24 by the Allied Forces, Japan subverted 25 the French administration in Vietnam because Japan feared that France would counter attack to take control of Vietnam.  However, only a few months26 later, on August 14, 1945, Japan surrendered unconditionally after the United States dropped two nuclear bombs on Hiroshima and Nagasaki.  There was a power vacuum in Vietnam at this time.  The Viet Minh, under the name of the Vietnamese Communist Party, took advantage of the situation, seized power, and declared Vietnam’s independence on August 19, 1945.  Bao Dai (1913-1997), the last emperor of Vietnam, abdicated.27  The allied forces assigned Chiang Kai Shek of China with his two generals Lu Han and Xiao Wan, the responsibility for disarming the Japanese troops from the 16th parallel of latitude up through the North of Vietnam . The British and French were to disarm the Japanese troops from 16th parallel of latitude down through the South of Vietnam.  Only 21 days after Viet Minh had declared Vietnam’s independence, the French replaced the British in Saigon and established a provisional government28 for all of Vietnam (the North, South and Central regions).  At this time, the Viet Minh were militarily deficient so it signed a compromise Convention29 with France, temporarily making peace with her in order to regroup and ally with other nationalist parties.  On December 19, 1946, the Viet Minh mobilized its force for a national resistance to French Occupation.  From 1947 to 1949, the governing of Vietnam remained in French hands until the Treaty of Elysee on March 8, 1949; France restored independence to a so-called Vietnam nation, not to the Viet Minh but to Emperor Bao Dai as Head of State.  The war between the Communists and the Nationalists started at this point.

It was a most chaotic time for Vietnam.  People were divided.  Society was changing rapidly.  Poets were no different than the common people; their minds were occupied with the surrounding chaotic social problems.  Poets did not have the frame of mind to think of developing new methods of writing poems.  Therefore, most poems during this time used either pre-war methods or the “break-through” method from poet Phan Khoi’s time.  In those creative works, only the contents were different; there was more about patriotism, soldiers’ missing home, and hopes for peace, and there was no place for romantic love.  Vietnamese poetry took another step in the direction of daily life because poets had to keep pace with the common people by engaging in their ideal war, sharing their dreams and hardships.  A particular trait of that time was that poets no longer differentiated themselves – either from the romantic or the realist school.  It seemed that they grouped themselves under a romantic realist banner and concentrated on true human feelings.  In this societal context, the French partitioning policy eventually became neutralized.  However, it was not until the 1954 treaty dividing Vietnam into the communist North and the democratic South and the mass migration of one million northerners to the South of Vietnam that people of Vietnam (in the South) had the opportunity to face its differentiated friction head on and finally completed their reconciliation.

However, both North and South Vietnamese enjoyed relative peace for a short period, from 1954 to 1960.  On December 20, 1960, the National Liberation Front was formed in the South, and this event helped to jump start the civil war between the North and the South.  Once again, the demarcation became a bloody wound because of the involvement of world powers.  One was the communist ideology of the Socialists; the other was the free ideology of the Capitalists.  In 1976, the country was unified under Socialism, and Vietnam established diplomatic relations only with the Soviet Union and other communist countries.  The Vietnamese people, who had suffered hardships, confusion and hatred under several different policies over the course of decades, now had to conquer their own biases amongst themselves in order to survive and to heal their psychological wounds.

More than a decade later, in 1978, Deng Xiao Ping (1904-1998) came to power in China.  Deng continued the Four Modernizations begun by Chou En Lai (1898-1976):  to modernize industry, agriculture, national security and science.  In the Soviet Union, Mikhail Gorbachev (1931- ) initiated Perestroika in 1986.  In that same year, Vietnam followed the Soviet Union’s lead and implemented reforms, lifting restrictions on artists. The Doi Moi (Reformed Literature) movement emerged.  However, in 1989, the collapse of the Berlin wall initiated a series of Eastern Europe Communist Bloc collapses, and Vietnam clamped down on artistic freedom for fear of a similar collapse.  In 1991, Boris Yeltsin (1931-) came to power in Russia, dismantling its Communist Party.  Vietnam lost its main aid, which was from Russia and totaled three billion U.S. dollars from 1976-1980.  Vietnam could not turn to China for aid because of the border conflict that flared up between the two countries in 1979.30

In 1992, Vietnam had no choice and turned to foreign investment resources from the free world to solve its economic problems, but it was determined to hold onto its political institutions, socialist viewpoints and economic direction.  This change from the Vietnamese communist government also pushed a majority of its people, after many war- created hardships, to want more than ever to have a comfortable life.  The Vietnamese government focused solely on anti-government or hidden political messages in creative works so that a pure literary movement such as the Young Poets had an opportunity to emerge.  In fact, the acceptance of new literary movements from the communist government only added more to its credibility as an open society in the eyes of the international community.  We have learned from chaos theory that a small change in the input can cause a huge change in the output, exhibiting sensitive dependence on initial conditions.  Thus, a small change toward a free market economy will naturally lead to other major changes, and no one can predict the outcome.

One year after Doi Moi, in 1987, the William Joiner Center in Boston began exchanges in literary studies with Vietnam.  Poetry served as a catalyst for reconciliation between former enemies, with the hope that poetry could bridge ideological and political differences.  Of course, many of the American veterans may be unconcerned about the literary value of Vietnamese creative works.  For some, their primary motivation may be to study what is being written about them.  Another purpose may be to reconcile with Vietnam and to prepare for normalization of political and economic relations.  That direction is correct, because poetry is the most powerful art form for creating understanding and reconciliation among different people.  Cynthia Cohen,31 quoting the French philosopher Gaston Bachelard, believes that:

“… to understand a poem we must attend not only to the words and sounds of the poem, but how those words and sounds reverberate within us.  Our attention shimmers he says, between the poetic image and our own response.  The poem, therefore, invites us to experience something previously unknown about ourselves; and conversely, it is only by attending to that which is evoked within us that we are able to understand the poem.  Bachelard refers to this kind of understand — the simultaneously deepening understanding of self and others through each other — as trans-subjectivity.”  (2000, p. 2)

Cynthia Cohen refers to a “feelingful awareness”, equivalent of the notion of compassion and wisdom prevalent in Buddhism.  Recall that Vietnamese culture was immersed in Buddhist philosophy from at least the beginning of the eleventh century with the Ly Dynasty, which produced poetry with Buddhist themes, by monks.  Compassion is sympathy with others and sharing other people’s sufferings, while wisdom is recognizing the truth of life and human beings.  Of course, in real life application, these notions no longer carried purely religious implications, but took on a different meaning as described by Cynthia Cohen.  Through poetry, people can relate to each other, to themselves, and see the truth that allows them to recognize both positive and negative aspects in life.

Because Vietnamese literature remained confined within the realm of a rhetorical system prior to 1990, and because of economic changes, many creative works were translated into English and French by 1992.  These works did not make a significant impression in the West, and they have since been forgotten. The main difference between the two literary traditions of the West and Vietnam was in their different creative methods.  On the one hand, the Vietnamese have a rhetorical tradition, whereas the Western approach is to use methodology and syntax to convey thoughts.  Thus, translations of Vietnamese works into French or English were either difficult to understand or appeared to be lacking in ideas.

As for poetry, it was even more difficult to translate.  In translation, verses became banal prose, tasteless or with dissenting syntax.  Further complicating the matter is the control exerted by the state upon the selection of particular works, which mostly are from the mainstream.  The state’s main purpose is to keep as the status quo the Vietnamese poetry that came into existence half a century ago.  As a result, those selected translations, with their out-of-date representations, do not reflect present-day Vietnamese society.  Here, we can see that, in the West, from the Renaissance onward, with its industrial revolutions, its societies are always changing, and its literature and arts are constantly undergoing change as well making many discoveries or establishing new trends.  Unlike the West, Vietnamese society is an agricultural one.  It has little demand for change in most aspects of life.  As its agricultural society, Vietnamese literature, from pre-war to free verse poetry, has undergone some change in representative methods, but its essential elements are still based on rhetorical art.  On top of everything else is the state control, which always interferes with the right to create.  All attempts at renewal are either suppressed or occur only with extreme difficulty.

If literature reflects social and political realities, then, through the study of social and political realities, one should be able to gain understanding of that literature.  Throughout its history, Vietnam has held agriculture in high regard.  The social hierarchy ranks agriculture just behind the ruling class, above the industrial and economic sectors of society.  Vietnamese nature is peaceful; its people prefer to live in peace without conflict and competition.  Wars only arise out of uncontrollable circumstances, out of conservatism.  Characteristically, the people are more passionate than science oriented, more emotive than rational, in favor of an unpractical literature rather than a thought-dominated one.  In classical poetry, Nguyen Du combined Six-Eight meter with Chinese quintessential culture inspired literary traditions in the Truyen Kieu 32 (Tale of Kieu), a combination of historical reference and the folk art of oral tradition.  Then verses in the Double-Seven-Six-Eight pattern were used by On Nhu Hau to write Cung Oan Ngam Khuc 33 (Sorrows of An Abandoned Queen).  Doan Thi Diem also used the Double-Seven-Six-Eight form to translate into Nom Chinh Phu Ngam 34 (The Song of A Warrior’s wife), which originally had been written by Dang Tran Con in Han script, in broken form with long-short verses.  Even after the invention of the Quoc Ngu (Romanized script), these classical styles were emulated by the pre-war poets, who returned to using rhyme and forms of Tang poetry.

The transfer from classical poetry to pre-war poetry represented the transfer from mandarin education to western education, from Nom to Quoc Ngu, from one generation to another generation.  The aforementioned, classical poetry (or Nom poetry) detached itself from the system of political power; Quoc Ngu poetry also was not influenced by such a system, so their transfer had almost no contradictions.  Because power was in the hands of French colonialists, it made it more difficult to follow the classical traditions.  Another reason is that the poet, Phan Khoi (1887-1959), who started the new poetry with his poem “Tinh Gia” (Old Love) which appeared in 1932, was a mandarin-educated scholar.  However, Vu Dinh Lien (1913-1996), a Western-educated scholar, in his poem “Ong Do” (The Old Calligrapher) in 1936, expressed nostalgic feelings for the loss of the tradition.  Contemporaries, such as Dong Ho (1906-1969), Quach Tan (1910-1992), and Ngan Giang, adhered to classical poetry and continued to write poems in Tang traditions.  Some poets, such as Vu Hoang Chuong, used both classical and modern styles.

In general, prior to 1945 Vietnamese poetry developed naturally under the monarchist and colonialist administrations.  Although the writing system changed (from Nom to Quoc Ngu script) and society was somewhat pure and simple-minded, Vietnamese poetry remained deeply rooted in Tang poetry traditions.  Buddhism, Taoism and Confucianism are the dominant philosophies at the core of the Vietnamese psyche and culture.  Both classical and pre-war poetry reflect this spirit of Tang poetry.  Poets who have freedom and detach themselves from systems of political power are able to produce works of great worth.  Somehow, these poets execute the role of poetry correctly as reconciliation between the old and modern cultures, between the ruling class and the common people.

Pre-war poetry relied on Tang poetry and Ca Dao forms to create new feelings and content.  It associated the last draught at the end of a season of French romanticism with the dying embers of Tang poetry traditions, relying on the foundation of existing classical poetry.  Meanwhile free verse poetry in the West had departed from tradition and had begun building a new aesthetic foundation.  Thus, by the 1960s, the young poets in the South of Vietnam had begun a new free verse movement that attempted to mirror developments in the West.  Not much different from the pre-war poets before them, they were not concerned with the literary studies and ideology that existed at the time of the magazines Dong Duong and Nam Phong.  They only received concepts not methods, and thus were unable to surpass Western literary thought.  The free verse movement, stuck with the use of technical terms, became a hybrid, born of the rhetoric of Tang poetry and pre-war poetry, mixed with French surrealism of the 1930s, and outfitted by the unstructured format of classical traditions.  Like pre-war poetry, the poetry of the 1960s in the South of Vietnam was not subjected to the whims of political power because both the government and the artists had the same interest in promoting freedom.  Controls were kept to a minimum, mostly just the censorship of newspapers to manipulate coverage of the war.  However, unlike the pre-war poets’ generation, these young poets were more like the poets who used Nom.  They fell under the spell of their own illusions about the power of words.

As for mainstream poetry in the North, although the leaders did not follow examination paths to gain power, they viewed poetry as a means to control the entire body of literature.  If in the past, under a monarchist system, the king and his mandarins all wrote poems, then in a communist system all political leaders wrote poems too.  For example, Ho Chi Minh (1890-1969), Le Duc Tho (1911-1990), Truong Chinh (1907-1988), and To Huu (1920-2002) all wrote poetry.  Poems had to be simple and comprehensive so that political power could be spread widely by them; the influence of poetic power must be accepted by all classes.  A few of the poets were repressed and found expression not in content but in words, another form of self-delusion.  Although the North and the South were isolated from each other and opposed politically, the Northern out-of-mainstream poetry and Southern poetry had the same trends: it represented antagonism, obstructed politics and obstructed studies that created extreme literature and pushed the rhetorical system to the point that it no longer made sense, that it no longer developed along set lines as had pre-war poetry.  The notion of idea-beyond-word became a habit, guiding all literary critique as well as political thought.

After 1975, the literary power of mainstream poetry was in the hands of the generation that fought against America during the war. This is the official party line.  The Young Poets, who grew up after 1975, have been marginalized.  Poets of this generation have no means to mass produce their work other than utilizing the global internet or handing out poems to friends and acquaintances.  While most of the Nhan Van Giai Pham writers who opposed French colonialism were educated in French culture, the generation that fought the Americans was not that lucky.  Most of them had no knowledge about western culture. Their education was limited to literary studies of the former Soviet Union.  The reaction of the Young Poets to this trend was clear.  The Young Poets turned to the styles used by writers of the 1960s in the South.  These styles were considered corrupt and reactionary by the communist government.  Since these writers only connected with words on the surface, the hypnotic power of these words made them fall victim to its illusions. These poets lived in a delusional world, increasingly detached from the art of poetry and from daily life.

Thus, both the poets of the mainstream and the marginalized poets lacked the ability to change.  In fact, they did not desire change because that would mean giving up everything that they had; all would be lost.  Poetry was left without a readership.  Mainstream poetry continued with the trend of the pre-war time of using rhymed structure or broken forms, and it followed the politically-correct themes closely.  Nobody could understand the marginalized poetry either. That fact pleased the communist government well because it did not want to have any problems.  Vietnamese poetry lost its function of creating better understanding for people.  It stayed away from social changes when it should have reflected people’s craving for a better life, an ability to reconcile conflicts and the easing of all of the wounds of war. The interference of politics in literature had created a dysfunctional literature, reflecting a dysfunctional society. Of course, both poets and poetry were victims of outside pressures. They were powerless in the fate of historical tragedies, whereas the cultural and literary spheres of free societies were independent of the political sphere and could grow and prosper, evolving with life, in-step with the advance of civilization.

Absent such conditions, regardless of time, literature would remain the same. However, at the end of the war, another mass migration happened.  Millions fled the homeland. This time, it was more tragic than any earlier migrations in Vietnam history. This migration resulted in many deaths in the high seas.  At that time, some young poets well-versed in the Vietnamese language came to free countries.  They faced culture shock.  Two decades later after many difficulties, they recognized the weaknesses and the dead-end situation of Vietnamese poetry over more than half a century.  The Vietnamese New Formalism movement emerged at the beginning of the year 2000.  Three years later, unlike the transformation from Tang poetry to pre-war poetry, this movement brought on many intense debates.  It was because Vietnamese New Formalism attempted to liberate Vietnamese poetry from the shackles of the rhetorical system.  However, traditional writing methods and reading habits still embraced Vietnamese literature regardless of whether the writers and readers lived in Vietnam or overseas.  Conservative writers and readers feared that New Formalist poetry would eclipse other traditional styles such as the rhymed or free verse styles.  This fear is unfounded if one spends more time studying Vietnamese New Formalist theory and discourse closely.

Vietnamese New Formalism is a technical term that was borrowed from American New Formalism, but the two approaches are not entirely similar.  In American New Formalism, the poet returns to traditional metered verses and rhyme-schemes, introduces normal everyday language into poetry to create everyday poetics, and continues the revolution that had begun a century before with the first phase of Romanticism and free-verse poetry, but which was mitigated by avant-garde movements of the first half of the century.  First of all, Vietnamese New Formalism had to contend with the difficulties of introducing normal everyday language into poetry because of the molds that had formed around the rhetoric of pre-war poetry and 1960s free-verse poetry.  Secondly, it had to adapt New Formalism techniques from a polysyllabic language (English) to a monosyllabic language (Vietnamese) with all the entailing structural differences. Incidental to the process, Vietnamese New Formalism poets received Blank Verse from Western Poetry, and discovered unrhymed meters in their poetry.  They created verses of five, seven, eight or six-eight syllables/words, and replaced the rhyme and meter of pre-war poetry with repetitions and enjambment.  Not only did they adapt the principles of Iambic meter from English traditional poetry, they also incorporated new effects such as the Butterfly Effect, feedback and iteration, which is based upon naturally evolving sequences.

However, New Formalism does share some characteristics of classical, pre-war and folk poetry.  That is, it is endowed with the Vietnamese spirit and the ability to adapt and absorb.  It is the natural transformation of past traditions into something new and more vibrant.  If the pre-war poetry keeps the rhyme of Tang poetry, Vietnamese New Formalism abandons the rhyme, continuing to conciliate with Western culture.  It could be said that Vietnamese New Formalism is a new trend, which learns from both the pre-war and free verse to seek a new poetry, like the voice of all Vietnamese people who endeavor earnestly as they change to beat the same rhythm with the larger world communities.  Through the use of the vernacular, New Formalism has the ability to relate to everyone regardless of status, power, education, or background.  It is a more democratic art form, better disposed to connect writers and readers, leading the way for other fine arts to follow, that of the novel, the plastic arts, and the performance arts.

Conclusion

Once the Vietnamese accepted a market economy, they turned a new page in their history.  For now, their economy is still guided by socialist theories, but with time, Vietnam will change further to find its rightful place in the world.  Poetry and literature are the sight of and for an entire people.  The Vietnamese must learn and adapt new techniques that will allow their voices to be heard.  But for communication to take place, they must also become attuned to what is being said by others around the globe.  Throughout its history, Vietnamese literature has been repressed by political power or by illusive power.  Political power creates a literate elite class or literary cadre that compromises with the state in return for privileges.  Illusive power causes literature to become impotent, conservative, out-of-touch with reality.  Literature has been parasitic on power for too long, having been subservient to political power and psychologically dependent upon its whims.  The debates of the past and the present have been obsessed with the competition to get the influence of illusive power, not with engagement to change literature or how to bring literature more in-line with real-life.  The masses are marginalized, pushed out of the literary sphere.  If they are involved as a necessary evil, they are manipulated like puppets for the benefit of the powers-that-be.

Without a firm foundation in aesthetic theories and methodology as a guide, how can it even be possible to develop literature?  Thus, we are left in an enigmatic state of limbo.  Either the political theory of Marxist-Leninism or a consumer-oriented industrial approach is applied to interpret the literary productions of this half agrarian and half communist society.  This is proof that those engaged in literature lack the basic understanding of the foundations of literature.  Vietnamese literature had no role to play in the reconciliation and reconstruction of Vietnam after a most destructive and divisive war, not even in the limited realms of art and culture.  The poet Frederick Turner35 in his speech delivered September 21, 2002 at The Philadelphia Society Cleveland Regional Meeting, under the subject-title “The New Classicism and Culture” says:

“… but with the internet a significant new element has been introduced, and whereas it took the Renaissance perhaps three hundred years to diffuse throughout Europe, and the Romantic movement a hundred years to diffuse through the West, it need take only a decade or two for the whole world to wake up to the change that is happening in the culture climate.”

But the above notions are not true with respect to Vietnam because the state maintains direct control over every intellectual production and censors literature from abroad, presenting distribution within Vietnam.  The miniscule drip-drop of information that makes it past internet fire-walls simply cannot substitute for the deficiencies of basic ideology and study.  Such tidbits evoke more confusion than literary inspiration.  But not everything can be blamed on the state and the political regime.  True literature should not be engaged in the building-up or deconstruction of a government, but should be expressive of and reflective about the social life.  The government of Vietnam is utilizing the mainstream literature and mass media under its control to build-up the regime and to stabilize its political structures; it is also coming under tremendous pressures from the international community, from intellectuals and religious leaders calling for greater freedom, democracy and human rights.  Furthermore, the state has neither the will nor the way to control all the developments of marginalized literature or literature on the fringes of society.  Thus, Vietnam has a unique opportunity at this time to develop new aesthetic perspectives.  The poet is relatively free to create.  Unfortunately, sometimes poets do not know what to do with this freedom.  They are keeping themselves in shackles, haunted by the specter of political control, and unwilling to break free from their chains, detach themselves from the past and rise up to create a more vibrant literature.

Today, more than 50% of the Vietnamese population has come into existence since the end of the war in 1975.  They have no particular attachment to biases and backwardness of the generation that participated in the war.  Meanwhile, Vietnam is further benefited by the three million overseas ex-patriots who have acquired tremendous scientific knowledge combined with broad cultural and intellectual knowledge of the many different societies of which they are now a part.  They have become acculturated and well educated in their newfound countries, and they can help Vietnam reconcile with the international community in many ways undreamt of just a generation ago.  This is a unique opportunity that comes around only once every thousand years!  Each of the periods of literature has its own historical place, no one contests that.  But being knowledgeable in the ways of the past does not mean we are condemned to repeat it, forever haunted by its ghosts.  Once we have identified the problems of the past, we have also discovered the path to the future.

The author is certain that this essay will be received with debate and engulfed in controversy once it is published.  But he is willing to accept this risk and responsibility.  His only intention is to breathe new life into Vietnamese poetry so that it may gain strength and momentum to catch up with the rest of the world of poetry.  Having reviewed the evolution of Vietnamese poetry through historical developments, the changes and continuity that it has undergone, we can conclude that Vietnamese poetry has much potential and aspires to the level of world-class literature.  If only the Vietnamese poets would have the courage to accept the truth about Vietnamese literature, with all its failures and shortcomings and accept new concepts and ideas in-step with the times.  Given the many opportunities afforded to us right now, we can make fundamental changes to Vietnamese literature in this generation.  Otherwise, the task will fall onto the following generation.  Sooner or later, change will happen because poetry will reach inside itself, seeking change.


I would like to thank Dr. Carol Compton, Do Vinh, Nguyen Thi Ngoc Nhung for helping me to translate and edit this paper. My thanks also go to Nguyen Tien Van and Do Kh. for their comments.


References

Dao Duy Anh . Vietnam Van Hoa Su Cuong (Brief history of Vietnamese Culture). Hoi Nha Van, 2000.

Nguyen The Anh. Vietnam Duoi Thoi Phap Do Ho (Vietnam under the French colony). Lua Thieng, 1970.

Nghiem Toan. Vietnam Van Hoc Su Trich Yeu (Brief history of Vietnamese Literature). Song Moi, 1949.

Tran Van Giap. Luoc Truyen Cac Tac Gia Vietnam (Brief Story of Vietnamese Authors). Van Hoc, 1972.

The Ky 21 Magazine # 122, June 1999.

The Ky 21 Magazine # 159, July 2002.

Khe Iem. Tan Hinh Thuc, Tu Khuc va Cac Tieu Luan Khac (New Formalism, Four Quartets, and The Other Essays). Van Moi, 2003.

Edward Mc Nall Burns, Robert E. Lerner, Standish Meacham. Western Civilzations. Volume II. W. W. Norton & Company, New York London., 9th Edition.


Notes

  1. According to Tran Van Giap, the first Vietnamese novels were Canh Le Tuyet Diem (1921), Cuoc Tang Thuong (1922) by Dang Tran Phat and To Tam (1925) by Hoang Ngoc Phach.
  2. For over one thousand years, (from 111 B.C.E. to 936 C.E.), Vietnam was dominated by Han China Dynasties. During this period, there were two revolts led by Hai Ba Trung (40-43 C.E) and Ly Bi who declared themselves Queen and Emperor.
  3. The dynasty established by Ngo Quyen lasted fewer than thirty years and was overthrown in 968 by twelve local rival chiefs. After that, the chiefs were defeated by Dinh Bo Linh who reigned under the name Dinh Tien Hoang. That was the Dinh Dynasty (968-980). After Dinh Tien Hoang died, Le Hoan, the commander-in-chief of Dinh Bo Linh’s army, seized the throne, and called himself Le Dai Hanh. Ly Cong Uan, a former temple orphan who had risen to commander of the palace guard, succeeded Le Hoan in 1009, thereby founding the great Ly Dynasty that lasted from 1010 until 1225. The Tran family, which had effectively controlled the Vietnamese throne for many years, replaced the Ly Dynasty. In 1400 General Ho Quy-Ly seized the throne and proclaimed himself founder of the short-lived Ho Dynasty (1400-07). In 1414, China’s Ming Dynasty intervened and took control. Le Loi, one of Vietnam’s most celebrated heroes, was credited with rescuing the country from Ming Chinese domination in 1428. Le Loi then ascended the throne, taking the reign name Le Thai To and establishing the Le Dynasty (1428-1788). At the end of Le Dynasty, Mac Dang Dung, a scholar-official, seized the throne (1527-1592). Trinh Tung helped the Le king to restore the throne but took the power under the title of Chua (Lord). A descendant of the Nguyen family and former Le Dynasty general seized control of the southern part of the country, establishing himself as Chua Nguyen (Lord Nguyen), like the Trinh. The country was divided into two parts, North and South, the first time from 1543 to 1788. In 1792, The Tay Son Rebellion (1771-1802), which ended the Trinh and Nguyen Lords’ Dynasties, was led by three brothers from the village of Tay Son in Binh Dinh Province. Under the Tay Son, Vietnam was united after more than 200 years of civil strife and divisions under the Trinh and Nguyen Lords. Meanwhile, Nguyen Anh, a descendant of the Nguyen family, fled mainland Vietnam and took refuge on Phu Quoc Island. Soon thereafter, he met French missionary bishop Pigneau de Behaine and asked him to be his emissary in obtaining French support to defeat the Tay Son. Nguyen Anh’s forces took Phu Xuan in June 1801 and Thang Long a year later. He came to rule under the reign name Gia Long. The Nguyen Dynasty lasted from 1802 to 1945.
  4. “Katha” (Sayings) are short verses, easy to understand and remember, summarizing religious teachings. “Kinh” (Prayers) are essays to explain the teachings.
  5. The date of the birth and death of Han Thuyen, whose true name was Nguyen Thuyen, is unclear. Under the reign of Tran Thai Tong, in 1282, there was a crocodile in the Lo River. The emperor asked Han Thuyen to make a funeral oration and throw it into the river to drive away the crocodile. The crocodile went away, and the emperor rewarded and renamed him Han Thuyen because his meritorious deeds were the same as Han Yu before him. Han Thuyen was a talented poet who wrote Nom poetry and was the first person to apply the techniques of Tang’s prosody to Nom which also came to be known as Han prosody. This is the poem of Han Thuyen:

ODE TO THE CROCODILE

O, Crocodile don’t you know,
The Eastern bountiful sea is here.
Phu Luong is sacred land,
Wherefore you wander lost there?

Have you forgotten the Viet of old?
Our seafarers most heroic,
Taught to tattoo by the Hung kings,
They frighten even the sea dragons.

Descendants of royals and saints,
From Hai Ap, took the place of the celestial throne.
Resounding in martial ars,
They pacify the rivers and the seas.

Tigers and lions know to stay away,
Our peasants and people live in peace.
In the name of our emperor do I speak,
Go forth to the Eastern Sea and roam free.

Phu Luong: Lo River.
Quoted from “Les chefs-d’oeuvres de la litterature vietnamiennes”, Duong Dinh Khue, Kim Lai An Quan, Saigon, 1966).

  1. Because of a series of edicts forbidding the practice of Christianity, the French government intervened militarily and demanded the cession of three provinces: Bien Hoa, Ba Ria, and Vinh Long. On June 5, 1862, Emperor Tu Duc signed the Treaty of Saigon. After that, the French controlled North Vietnam with the intention of opening the Red River to commerce to Southern China. Finally, the Nguyen Dynasty had to accept the French protectorate over Central and Northern Vietnam under the terms of the Patenote Treaty, which was established on June 6, 1884.
  2. At the end of July 1884, the emperor Phuc Kien died; Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet, two high-ranking mandarins, endorsed Ham Nghi for the throne, resisted the Patenote Treaty and engaged the French militarily, but failed. They escaped with the Emperor Ham Nghi and issued orders to rebel against the French, which came to be known as the Can Vuong (Loyalty to the King — King Restoration) movement, attracting support from both scholars and peasants from throughout the country. Two famous leaders from this period are Nguyen Xuan On (1825-1889) and Phan Dinh Phung (1847-1895).
  3. Phan Boi Chau (1867-1940) and his comrades, favored retaining the independent monarchy with the financial support of China and Japan. They endorsed Ky Ngoi Hau Cuong De, a direct descendant of Gia Long to fill this role as a leader of a nationalist movement. In 1905, they brought Cuong De to Japan and called upon Vietnamese Youth going to Tokyo for military and political training to drive out the French through armed resistance in order to restore Vietnamese independence.
  4. Doubtful of assistance from Japan, (because Japan also wanted to dominate Southeast Asia), Phan Chu Trinh (1827-1926) and his comrades built up the Reformism movement, educating people and winning independence through non-violent means. Dong Kinh Nghia Thuc (Free School of the Eastern Capital) was founded in Ha Noi in 1907. Free classes were opened that taught the Vietnamese, Chinese and French languages, as well as basic educational and trade disciplines. Also during this time of political crisis, the French deposed and exiled Emperor Thanh Thai to Re-union Island. The movement then changed to instigating anti-tax demonstrations. The French reacted harshly, arresting and deporting to Con Dao famous scholars such as Phan Chu Trinh, Huynh Thuc Khang (1876-1947), and Ngo Duc Ke (1878-1929).
  5. On May 15, 1913, Nguyen Van Vinh, with the financial support of the French, succeeded in publishing Dong Duong Tap Chi (Indochinese Review), in collaboration with Pham Quynh (1892-1945), Pham Duy Ton (1883-1924), Nguyen Van To (1889-1947), Phan Ke Binh (1875-1921), Nguyen Do Muc, and Duong Ba Trac (1884-1944). Later, some writers separated; Nguyen Van Vinh, Nguyen Do Muc, and Phan Ke Binh remained. Dong Duong Tap Chi was a weekly journal that specialized in literature and literary studies. Chinese scholars introduced Vietnamese and Chinese cultural classics and reformist French literature and academic writings.
  6. Nam Phong Tap Chi (Southern Wind Review) was a monthly journal. The first issue appeared in July of 1917. Pham Quynh was the editor-in-chief of the Quoc Ngu section and Nguyen Ba Trac (—1945) of the Chinese character section, with the editorial assistance of Dong Chau Nguyen Huu Tien (1874-1944), So Cuong Le Du, Nguyen Don Phuc (—1945), Tran Trong Kim (1887-1953), and Nguyen Trieu Luat (—1946). Nam Phong was published on behalf of the Khai Tri Tien Duc association. (Progressively Open-minded Association). Pham Quynh was the general secretary overseeing operations.
  7. Ca Dao (folk songs) are also called Phong Dao (customs songs) because they usually describe the habits and customs of the people through short songs, passing down as tradition of the masses. Often there are four words in a sentence; six-eight or double seven six-eight form is usually used. Proverbs are short and well known, supposedly wise sayings, usually in simple language.
  8. Phong Hoa (Customs and morals) was a journal of Nhat Linh (1905-1963), who brought it from Pham Huu Ninh; the first issue was dated September 22, 1933. It was the voice of Tu Luc Van Doan (Self-help Literary Group). Phong Hoa was suspended in 1936 because Hoang Dao (1906-1948) wrote a satire of Hoang Trong Phu.
  9. Pre-War literature from 1932 to 1945 was a peaceful period before 1945, preceding the Nine-Year War to drive out the French. This period had some trends, such as Romanticism and Realism, influenced by French literature. Also it was a period of development for Nom literature.
  10. There were two examinations. “Huong” was the local examination for the baccalaureate held throughout the country. Those who passed the baccalaureate went to the Capital to take the “Hoi” examination for the doctoral and junior doctoral degrees. The Huong and Hoi examinations had a similar structure: the candidates were tested on “Kinh Nghia” (the meaning of classic works), “Van Sach” (dissertation), “Tho Phu” (poetics) and “Tu Luc” (coupled sentences). Kinh Nghia was in prose, declaiming a sentence that usually was comprised of excerpts from classical Chinese literary works. Van Sach was a dissertation, questioning and responding to something related to the present or ancient time. Poetry was both rhymed and symmetric; Tu Luc was parallel constructed sentences, without rhyme but with symmetry.
  11. After being defeated at Dien Bien Phu, the French surrendered to Viet Minh forces on May 7, 1954. This defeat led to the Geneva Agreements on July 20, 1954. Vietnam became demarcated at the 17th About one million refugees escaped from the North to the South of Vietnam.
  12. “Nhan Van Giai Pham” (Humanism Quarterly Magazine) first appeared in January of 1956 with the Spring issue, followed by the Fall and Winter issues, and contained the writings of the writers and poets who wanted to reform the literature such as Phan Khoi, Hoang Cam, Le Dat, Phung Quan, and Van Cao. Only a year later, their writings were suppressed and the writers forbidden to publish for the next 30 years.
  13. Ly Toet and Xa Xe were the name of two cartoon characters appearing in Phong Hoa, a journal “to joke and change the customs and morals of the time”. Ly Toet, a village headman, had red and teary eyes. Xa Xe was an obese villager.
  14. In 1956, in an attempt at reforming the Chinese Communist Party, Mao Zedong launched the “Hundred Flowers Movement,” which encouraged intellectuals and cultural leaders to speak their minds and to push the country forward through open debate. The campaign quoted from classical poetry, “Let one hundred flowers bloom and one hundred schools of thought contend….” Later, Mao turned on the critics, denouncing them as “bourgeois rightists” and “enemies of the people.” The purpose of the campaign was to purge opposition within the leadership. The “Great Leap Forward” (1958-1961) followed.
  15. In response to Khrushchev’s “secret speech”, in Poznan, Poland, 15,000 workers revolted on June 15, 1956, giving reason for the Red Army to move into Polish cities. In an effort to subdue the riots, The Polish Communist Party reinstated Wladislaw Gomulka as Party Secretary, a man imprisoned by Stalin and seen as liberal to the people. The Red Army later withdrew, and the Soviet government loosened their control over Poland.
  16. In 1956, the people of Hungary hoped that Khrushchev’s “secret speech” would bring an end to the cruel reign of Matyas Rakosi, a close and reliable cadre of the Soviet Union. The anti-Soviet sentiment among the population focused on Rakosi, culminating with the funeral of a moderate party member. Approximately 300,000 students and workers demonstrated on October 6,1956. The next day the Hungarian Politburo made Imre Nagy, a moderate, Party Secretary in order to quell the crowds, and the Hungarian Politburo also called for Soviet assistance. The Protests forced Nagy to bring non-Communists into the government and to order the Red Army away. On November 4, 1956, Soviet forces attacked Hungary. Nagy himself would seek asylum at the Yugoslav Embassy. Janos Kadar took power with Moscow’s backing. Over 20,000 Hungarians were killed and another 200,000 fled to the West. The short-lived revolution was completely crushed.
  17. After the Paris Treaty, the United States withdrew its Army from South Vietnam. On April 30, 1975, Communist North Vietnam won the War and unified the country after twenty years of division.
  18. The Cold War started with the Yalta Treaty, which was signed on February 11, 1945, between the United States of America, Great Britain and the Soviet Union, headed by Franklin Roosevelt, Winston Churchill, and Josef Stalin, respectively. They met in Lavidia Palace to determine how the war should be finished. The purpose of Yalta was the re-establishment of the nations conquered and destroyed by Germany, with an agreement to divide Germany into zones controlled by each of the three nations. Russia would take Berlin and the eastern half of Germany. Russia also let communism influence Eastern Europe, including Poland, Czechoslovakia, Hungary, Romania, and Bulgaria. In exchange, Russia agreed to join the war against Japan. Eventually, Eastern Europe was to regain its independence and hold its own national elections to create independent governments. But Russia prevented popular elections by assigning permanent Communist governments while the United States, busy in its war against Japan, did nothing. The Cold War started in 1945 and ended in 1991, the year Russian’s communist government failed.
  19. August 1944
  20. March 1945.
  21. From March 1945 onward.
  22. On August 25, 1945.
  23. Until January 1947.
  24. On March 6, 1946.
  25. The conflict between China and Vietnam lasted from February 17, 1979, to March 5, 1979, about 29 days. The incursion was a response to what China considered was Vietnam’s increasingly intimate relations with the Soviet Union and mistreatment of ethnic Chinese living in Vietnam. China also thought that Vietnam attempted to repatriate its ethnic Chinese residents, and pursued hegemony and “imperial dreams” in Southeast Asia.
  26. Cynthia Cohen, “Peace and Aesthetic Experience: Coexistence, Reconciliation and the Arts”, translated by Nguyen Thi Ngoc Nhung.
  27. The Tale of Kieu by Nguyen Du (1766-1820) is a story about Thuy Kieu and her fifteen years of hardship. She drifted from one tragic circumstance to another. Despondent in love, she was tricked by an unscrupulous womanizer, So Khanh, and sold to a brothel. Her true love was Kim Trong; tragedy struck, and she became married from Ma Giam Sinh to Tu Hai. She attempted to commit suicide to get out of this relationship, but survived and was rescued by Giac Duyen, a nun. She ended up in a nunnery. The author of this work, Nguyen Du, was a talented and erudite scholar, a high-ranking mandarin of both the Le and Nguyen Dynasties.
  28. Cung Oan Ngam Khuc (Sorrows of an Abandoned Queen) of On Nhu Nguyen Gia Thieu (1744-1789) describes the trials and tragedy of a young girl who was chosen to go into the royal harem for her beauty and talent, which surpassed that of many other girls of her teen years. At first, she was dearly loved by the King, only to be abandoned later when her beauty and talent faded. She lived out the rest of her life moaning with grief and self-pity for a “woman’s unappreciated lot”.
  29. Chinh Phu Ngam (The Song of a Warrior’s Wife) is a lamentation written by Dang Tran Con in Han characters and free verse, with long and short sentences, translated into Nom by Doan Thi Diem. Dang Tran Con, exact dates of birth and death unknown, was reputed to be liberal minded, to like wine, and to be a good poet. During his period, the Le emperor and Trinh Lord enforced strict rules regulating such things as no fire at night. To avoid punishment for breaking this regulation, Dang Tran Con dug a shelter in the ground and lit lamps to read books under cover of earth. When the Trinh Lords took power, they entrusted much power in eunuchs who abused their privilege and oppressed the people. Hostilities broke out throughout the country. The mandarins sent in soldiers to crush these rebellions. These soldiers had to renounce their homes, wives and children, and were often killed in battle. Dang Tran Con wrote these famous Chinh Phu Ngam epic poems, which have been handed down through many generations.
  30. Frederick Turner, “The New Classicism and Culture”, translated by Nguyen Tien Van.

HÒA BÌNH VÀ KINH NGHIỆM MỸ HỌC

Sự Chung Sống, Hòa Giải và Nghệ Thuật


Cynthia Cohen

Ghi chú: Bản trước của tiểu luận này, đã đăng lần đầu trên PSA News, Newsletter of Peace Studies Association, v.6.n Summer 2000.

Có nhiều câu hỏi cổ động cho giao điểm giữa ‘hòa bình’ và ‘nghệ thuật.’ Chiến tranh đã được biểu trưng trong văn chương và điện ảnh, và những thứ biểu trưng như thế có thể được dùng để thấm nhuần những hứa hẹn cho hòa bình? Sự đính ước với nghệ thuật có thể  giúp chúng ta tưởng tượng ra một tương lai an bình? Sự hài hòa tạo nên, thí dụ, trong trình diễn âm nhạc, có dẫn đến sự hài hòa lớn hơn trong đời sống hàng ngày hay không?

Chúng ta biết rằng âm nhạc có thể dùng để khích động đoàn quân cũng như làm tâm hồn lắng xuống. Những hình ảnh rất linh động và tuyệt đẹp có thể được dùng như dụng cụ tuyên truyền cho những thể chế độc đoán, chắc chắn như việc chúng có thể khơi động những phản ánh từ thiện và tìm tòi phóng khoáng. Thế thì, có thể tổng quát hóa một cách có ý nghĩa, về mối liên quan của nghệ thuật đối với hòa bình hay không?

Trong bài tiểu luận ngắn này, tôi sẽ xét kỹ khía cạnh riêng biệt của sự tương quan giữa nghệ thuật và hòa bình — tức là phạm vi đính ước với các hình thái và tiến trình mỹ học có thể nuôi dưỡng những năng lực cần thiết cho sự chung sống và hòa giải. Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi đính ước với ‘nghệ thuật’ đều có tính mỹ học; thỉnh thoảng chúng ta liên hệ với nghệ thuật một cách thực tế hoặc theo dụng từ kinh tế, không hề lưu ý đến việc đặc tính hóa một kinh nghiệm mỹ học. Và – không phải tất cả ‘kinh nghiệm mỹ học’ xảy ra đều liên quan hệ tới nghệ thuật; những cảnh thiên nhiên có thể kích thích một đáp ứng mỹ học, và bằng cách mang lại một kiểu chú ý riêng biệt nào đó đến kinh nghiệm về khoái lạc trần tục, chúng ta thường tìm thấy nét đẹp nơi các đối tượng và biến cố trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên, tôi chú tâm tới ‘mỹ học’ hơn là ‘nghệ thuật’, vì tự chính tiềm năng đính ước mỹ học của nó với chúng ta mà tôi tin rằng nghệ thuật tìm thấy quan hệ vô cùng mạnh mẽ và kích thích cho hòa bình.

Vậy thì, cái gì đích xác tạo nên ‘mỹhọc’? Đây là khái niệm có vẻ thách đố sự định nghĩa. Chúng ta có thể xem đấy là điểm khởi đầu, rằng những kinh nghiệm mỹ cảm, ít ra không phải là ‘VÔ CẢM’ (ghi chú: người viết chơi chữ ở đây, aesthetic = thẩm mỹ; anaesthetic = tê mê, làm tê như trong giải phẫu. Tạm dùng chữ ‘mỹ cảm’ để đối với chữ ‘vô cảm’). Chúng được cảm nhận, không phải tê cóng. Chúng đính ước với chúng ta một cách say đắm. Nhưng một kinh nghiệm mỹ học không hoàn toàn là cảm giác hay cảm xúc: để hợp đủ điều kiện mỹ học, một kinh nghiệm phải đính ước với chúng ta một cách hợp lý hay nhận thức được, cả với cảm giác hay cảm xúc. Thế thì một đính ước mỹ học cần đến “sự cảm nhận tỉnh thức.” Loại đính ước này quan trọng cho hòa bình, vì đấy là thứ quan tâm mà hòa bình cần chúng ta làm tỉnh lại nỗi đau của kẻ khác, kể cả kẻ thù của mình.

Thêm vào sự liên kết giữa khoái cảm và lý tính, phạm vi thẩm mỹ thường được phân ranh trong triết học phương Tây, dính líu tới hình thái phán đoán, lưu ý đến những phẩm chất chính thức của vật thể hay biến cố đang được quan sát (ngược lại với việc chỉ chú ý đến nội dung). Qua cách này, mối đính ước của chúng ta với vật thể nhấn mạnh vào một đáp ứng có đặc tính không-thực-dụng. Thế thì, chúng ta dùng chữ ‘mỹ cảm’ để nói đến sự nhận biết rõ về một cái gì đó bởi ích lợi của nó, phân biệt (ít ra cũng tạm thời) sự hình thành mục đích của riêng ta. Về mặt này, nhận thức thẩm mỹ liên quan tới ‘sự tôn trọng,’ khuyên chúng ta không nên coi việc nhận thức người khác (kể cả người đã từng được coi là cừu địch hay kẻ thù) duy nhất là phương tiện cho cứu cánh, hoặc là trong mục tiêu của nhu cầu chính mình. Loại nhận thức tôn trọng này cần cho hòa bình.

Tìm đến thơ, có lẽ là kiểu mẫu nằm trong địa hạt  đính ước mỹ học loại này. Theo triết gia người Pháp Gaston Bachelard, để hiểu một bài thơ, chẳng những chúng ta cần chú tâm đến chữ và âm thanh của bài thơ, mà còn phải chú tâm đến cách nào những chữ và âm thanh đó vang dội trong ta. Ông nói, sự chú tâm của chúng ta “rọi sáng”, giữa hình ảnh thi vị và đáp ứng của chính mình. Như vậy, bài thơ mời gọi chúng ta kinh nghiệm vài điều mà trước đó tự mình không biết về mình; và ngược lại, chỉ bằng cách chú tâm đến thứ được khơi dậy bên trong chúng ta, mới có thể “hiểu” được bài thơ. Bachelard nhắc đến loại cảm thông này – sự cảm thông sâu xa xảy ra cùng lúc của bản ngã và kẻ khác qua nhau – như một xuyên-chủ-thể.

Sự tương thuộc nhận thức và luân lý với kẻ thù và cừu địch, giống như đặc tính xuyên chủ thể của việc chúng ta hiểu về bài thơ. Càng thấy tính nhân bản của ‘cái khác’ bị ghét bỏ trước kia, chúng ta càng bị thách đố nhiều hơn để phát triển thêm sự hiểu biết về chính mình và những hành động đã xảy ra. Và càng xem xét lại một cách sâu xa hơn những ý niệm chúng ta đã có trước về chính mình, chúng ta càng có thể trở nên thật sự biết ơn người khác.

Đính ước mỹ học với nghệ thuật, tôi tin rằng, có tiềm năng thấm nhiễm những thói quen của tấm lòng và tâm trí trong chúng ta – cảm nhận tỉnh thức, kính trọng người khác, và thực hành sự tương thuộc nhận thức – rất cần thiết cho hòa bình. Cũng có thể, khi tìm hiểu về kẻ thù hay cừu địch của mình thông qua các hình thái nghệ thuật, những phẩm chất tiếp nhận mời gọi bởi tác phẩm nghệ thuật cũng mở rộng chúng ta ra với người khác.

Những năm gần đây, khái niệm ‘mỹ học’ xuất hiện từ triết phương Tây đã bị thách đố từ vài phương hướng. Thí dụ như những học giả Nữ quyền và châu Phi dùng chữ ‘mỹ học’ để diễn tả những nghi thức tập thể, đam mê (hơn là cá thể và tách rời) và những tạo tác, giống như tấm chăn (quilts) và bộ bàn ăn là những thứ có trong  đời sống hàng ngày. Những thách đố này giúp điều chỉnh những định kiến văn hóa và ưu tú đã được đóng ấn trong phương hướng triết lý về ‘mỹ học.’

Khảo sát những phê phán này, rõ ràng đính ước mỹ học liên hệ đến tầm rộng của sự hỗ tương lạc thú giữa tổ chức của nhiều yếu tố trong cấu trúc chính thức, khả năng nhận thức và phán đoán của người cảm nhận. Lạc thú chiết từ cách mà qua đó những hình thái hòa giải áp lực giữa cá nhân và tập thể, giữa canh tân và truyền thống, và giữa hỗn mang với nghiêm khắc. Mực độ canh tân và trật tự thay đổi tùy theo văn hóa và bối cảnh.

Theo khái niệm rộng hơn, nghi thức là một hình thái đính ước mỹ học. Nghi thức cung hiến cho các cộng đồng nhân bản những phương cách cưỡng bức nội tại (không bạo động) để tưởng tượng ra những hình trạng xã hội mới và để minh chứng cho viễn ảnh của họ. Vì lý do này, nghi thức có thể trở nên vô cùng quan trọng cho việc tạo ra hòa bình. Qua nghi thức chúng ta có thể kinh nghiệm – dù chỉ trong khoảnh khắc cuồng nhiệt – những khía cạnh khác của một tương lai an bình mà chúng ta tìm cách tạo nên.

Những diễn tả có nghệ thuật và nghi thức đạt được tính năng động vì chúng đóng khung  xung đột và áp lực giữa các yếu tố bên trong những hình thức có giới hạn. Bởi vì xung đột và áp lực là những khía cạnh không tránh khỏi của đời sống, sống chung với những người khác buộc chúng ta phải cấu tạo nên những hình thức xã hội, giữ lại các áp lực và xung đột để chúng có thể được dùng trong những phương cách hữu ích. Trong nghĩa này, sống hòa bình buộc chúng ta sống nghệ thuật, và tận dụng khả năng đã nuôi dưỡng mình qua sự đính ước với những hình thái và tiến trình mỹ học.

Thế thì, bằng một vài cách nào đó, những hình thái và tiến trình mỹ học là căn nguyên cho sự chung sống, hòa giải và hòa bình. Đính ước với mỹ học có thể nuôi dưỡng khả năng và xu hướng về cảm nhận tỉnh thức, sự kính trọng và có thể đào sâu sự tỉnh thức của chúng ta về mối liên quan nhận thức đối với người khác (kể cả kẻ thù của mình). Nghi thức và nghệ thuật có thể cho   những kinh nghiệm mãnh liệt về một tương lai an bình hơn là thứ tương lai chúng ta tìm cách để tạo nên. Trong khả năng mang những yếu tố xung đột vào trong một quan hệ đầy năng động và linh hoạt, các hình thái nghệ thuật chính là biểu tượng của những cộng đồng nhân bản lành mạnh. 

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

 

TUẦN THƠ 23: CƠN SÓNG ÐẦU TIÊN NĂM MỚI ÐẾN

Bùi Chát
GHI CHÉP

Trước trung tâm trưng bày của hãng
Daewoo ở ngã tư Ðinh Tiên
Hoàng là những cây rất to tỏa
nhiều bóng mát, và những cây rất
nhỏ dưới bóng mát đó. Rồi từ
đâu đến một bà lão lặng lẽ
ngồi dưới gốc cây, bà cứ lùa
đôi mắt và chiếc nón về phía
mọi người mà im lặng. Không ai
hiểu gì hết, chắc chắn là không
ai hiểu gì hết. Nếu nghi ngờ
thì cứ xem; từ chiều đến giờ
chiếc nón có gì, ngoài dăm chiếc
lá rơi từ những cây kia. Tôi
nghĩ, chỉ cây cối là hiểu. (Vì
chính tôi cũng chẳng có đồng nào).

Ðặng Thân
CƠN SÓNG ÐẦU TIÊN NĂM MỚI ÐẾN

tôi thấy giọt sương đầu tiên trên mái
lá mắt em nhạt nhòa khóc than cho
những nạn nhân sóng thần mà tạo hóa
đã gây ra trong một giờ bất cẩn

tôi nghe bài hát đầu tiên từ sâu
thẳm trái tim tận cùng ngọn lưỡi em
đang vang lên đuổi xua thế lực của
bóng tối ngay trước giao thừa năm mới

tôi cảm nhận trận cuồng ba trong từng
tế bào tôi dội vang tun hút trong
chuyến bay đầu tiên mà tôi lựa chọn
đang hướng về sự chân thực sống động

1.1.2005

Ðinh Cường
CÓ KHUÔN MẶT AI NHƯ

Tôi vẽ tảng đá rồi mỗi ngày
cứ ngồi nhìn trên những đường nứt
có đường nào là lời sám hối
không phải bên tảng đá năm xưa

Ðức Giáo Hoàng đã đến sám hối
tôi bỏ quên lớp rong rêu ngoài
thành nội có con chim mùa hè
cứ kêu hoài bắt cô trói cột

như tiếng quê hương ngày lửa đạn
tràn về thành phố chúng tôi chạy
theo đoàn người trên quốc lộ một
có mây bay trên đèo Hải vân

đưa tôi đến phương nào khỏi Huế
để bây giờ mùa thu trở lại
mùa thu Virginia người ta
đi xem lá vàng trên skyline

mà sao tôi vẽ tảng đá như
đứng sững có khuôn mặt ai như
em nhìn xuống ký ức chìm lỉm
vực sâu tôi hú tiếng vang dài…

Virginia, 5. 2000

Ðình Nguyên
GỌI LÀ SỐNG

Những cái chết không được
báo trước. Có ai biết
trước sẽ chết lúc nào.
Chuyến bay định mệnh là

chuyến mà lần kề cận
với tử thần đầu tiên
và cũng là cuối cùng.
Chẳng đi đâu cả chỉ

làm đúng nghĩa tầm mức
dịch chuyển cần thiết, mà
chết đột ngột vì cả
tòa nhà sụp đổ, thì

gọi là ngày định mệnh
chăng? Có phải hai chữ
định mệnh hay được áp
đặt cho những cái chết

không được báo trước. Như
vậy chưa từng đi đâu
chưa từng làm gì, mà
đã biết mình chết ngay

từ lúc bắt đầu, gọi
là gì cho chính xác!
Chết lần mòn chết từ
từ gọi là sống nhé.

30082004

Ðỗ Kh.
BÀ QUẢN GIA

Chào Khiêm đã nhận được hình và
điện thư thấy rất đẹp và buồn

Thật ra không có buồn nhưng rất
riêng tư thành thử chỉ có thể
là đọc giả nhưng người đọc bao
giờ cũng riêng có ý xem một

Truyện về confetti bị đánh
mất trên một con tàu biển tự
hỏi ( không biết Cameron có
đánh cắp để dùng cho Tita

Nic) hôm nay mất một bức tường
tự hỏi (trong nhà có chăng thừa
nhiều vách ) tự hỏi ở cửa hàng
bánh mì ( sao bà hàng lại trông

Giống như một cái bánh ngọt vẽ
vời ) tự hỏi mọi người đều có
thấy mọi thứ như là một loài
thông điệp mặc dù rất khó biết

Nó muốn nói gì tiến trình của
những kết luận hay: ai cũng có
thể nghĩ này nghĩ kia và nghĩ
thế nào cũng chẳng có gì đáng

Ðể ý “ nhưng suy tư này không
trong tầm của bà quản gia và
do thế không được khai triển với
những thành quả gặt hái có thể ”

Tôi tự hỏi là ( nếu đời anh
là một tiểu thuyết thì đã đến
lúc bắt đầu nên viết ) Bích Nga

(10/12/00)

Ðoàn Minh Hải
PHÓNG SINH LUÂN HỒI

Người đàn bà mù bán vé số trên
đường Tự Do, con đường một chiều, bây
giờ đổi tên là Ðồng Khởi cũng một
chiều. Lâu lâu tôi mới đi xuống phố

một lần, cũng vẫn thấy người đàn bà
mù đứng trên lề đường bán vé sốà
Người đàn bà mù bán vé số trên
đường Tự Do – Ðồng Khởi, sao chị không

bán ở một con đuờng khác hoặc ở
một đoạn đường nào khác trong thành phố
mang tên bác? Chị bán sự may rủi
này cho ai, cho những ai trong cái

thành phố này? Có sự may rủi cho
từng số phận con người không hay chính
ai ban sự may rủi cho cả một
dân tộcà Ngưới đàn bà mù bán vé

số trên đường Tự Do – Ðồng Khởi. Chị
cứ bán, suốt đời mãn kiếp chị vẫn
mù, chị không thể nhìn thấy tôi, không
thể nhìn thấy mọi người mà tôi thì

cứ phải trông thấy chị đứng trên lề
đường Tự Do – Ðồng Khởi, tay đưa ra
những tấm vé số mời ông đi qua
mời bà đi lại… Người đàn bà mù

bán vé số trên đường Tự Do – Ðồng
Khởi, chị bán được bao nhiêu vé, chị
bán được cái gì trên con đường một
chiều này, mà đôi mắt chị nhấp nháy

trắng đục đầy nước mắt, nước mắt cũng
chảy xuống một chiều. Người đàn bà mù
bán vé số trên đường Tự Do – Ðồng
Khởi, chị có thấy được bao nhiêu người

trong cái thành phố mang tên bác này,
bán vé số như chị; và bao nhiêu
người mù như chị, kể cả nam phụ
lão ấu, hữu danh vô vị, hữu vị

vô danh bán vé số như chị. Làm
sao chị thấy được vì chị là người
đàn bà mù bán vé số trên lề
đường Catinat – Tự Do – Ðồng khởià

Ðức Phổ
HOẠT CẢNH…

Tôi đã gặp những chiếc hũ
chìm lăn trên đường phố sài
gòn, những chiếc hũ chìm lăn
cùng với những chiếc xe dream
nhật bổn trung quốc hàn quốc
xe đạp xích lô đạp xích
lô máy… có chiếc tự lăn…

Những chiếc hũ chìm lăn cùng
với bụi với rác với mánh
mung chôm chỉa với nhân tình
với bè bạn với niềm vui
với nỗi buồn với sự thoải
mái cởi bỏ lột xác sau
một ngày lao động trí não
lao động tay chân sau một
ngày tầm phào bằng an vô
sự không có việc chi làm…

Dường như mỗi chiếc hũ chìm
đều mang theo mình một tâm
sự đôi khi giống nhau đôi
khi khác nhau có những tâm
sự vui cũng có những tâm
sự buồn có những tâm sự
vui buồn lẫn lộn lại có
những tâm sự không vui không
buồn chi… nên chi mỗi chiếc
hũ chìm đều lăn mỗi kiểu
đôi khi giống nhau đôi khi
khác nhau có chiếc lăn bên
này lạng bên kia có chiếc
lăn chậm rùa bò có chiếc
lăn bạt mạng bất kể sống
chết què tay gãy chân thôi
thì sống chết mặc bây mặc
ta… nhằm nhò chi ba chuyện
lẻ tẻ cứ lai rai ba
sợi xả láng sáng lại lăn…

Gyảng Anh Iên
HỎI

Hai người đàn bà vẫn
còn mãi ngồi đan lưới
hỏi nhau về cái gọi
là định mệnh. “Có chăng

cái chết là do trời
định?” Người đàn bà thứ
nhất nhìn ra biển, nơi
con sóng thần đang di

chuyển với vận tốc của
chiếc máy bay ban nãy
chẳng biết bay về đâu
ngang qua bầu trời phía

dưới có hai người đàn
bà vẫn còn mãi ngồi
đan lưới hỏi nhau về
cái gọi là định mệnh.

“Không có đâu, ví dụ
nếu như hàng ngàn người
cùng chết do động đất,
lũ lụt hay hỏa hoạn

thì chẳng lẽ số kiếp
họ lại giống nhau hay
sao?” Người đàn bà thứ
hai cười và nhìn ra

biển nơi con sóng thần
đang di chuyển âm thầm
dưới vùng nước sâu yên
ả với vận tốc nhanh

hơn suy nghĩ của hai
người đàn bà vẫn đang
mãi ngồi đan lưới hỏi
nhau về cái gọi là

định mệnh.

Hà Nguyên Du
EVERY POEM IS AN EPITAPH *

bước tiến tôi sẽ là bước đếm đến
mộ chí khi Thượng đế không cho
con người làm phép cộng mà trừ theo
số ba vạn sáu ngàn ngày mọi sinh

vật chỉ như một cây nến tự nhiên
thắp sáng hữu hạn để được tàn lụi
và về lại chất nến biến hóa với bản sắc
tiền định khóc với thẳm vực cười với

chóp đỉnh … bi lạc lạc bi … vũ trụ
là chiếc giá để cắm cây nến vậy
là em nến tôi nến tình yêu mình
nến gia quyến ta nến bằng hữu ta

nến thế sự nến bài thơ tôi nến
tập văn anh nến như Eliot
nói every poem là nến
hay hơn mỗi bài thơ là văn mộ

chí mỗi tình yêu là mộ chí mỗi
hơi thở là mộ chí mỗi làm tình
là mộ chí thế giới mộ chí nhân
tài mộ chí may mắn về mộ chí

em đừng thất chí nên cố lấy chí
mà lập chí để mình như mỗi bài
thơ là mộ chí mộ chí mộ chí …
hoa mộ chí lá mộ chí cây mộ

chí tư tưởng mộ chí văn học mộ
chí nghệ thuật mộ chí dân tộc mộ
chí nhân duyên mộ chí hệ quả mộ
chí thái cực mô chí đạo mộ chí …

* ( Lời nói nổi tiếng của thi sĩ T.S Eliot
người được tạp chí Time chọn là thi sĩ của thế kỷ )

Hải Vân
BIỂN KHUYA

Tôi ngồi trên bãi biển một đêm
không trăng sao, nghe sóng vỗ rì
rào, và nghe như mình mất biệt
Không còn gì tha thiết. Kể cả

ánh đèn xa. Con tàu nào đi
qua, thấy làm chi bàn tay vẫy…
Bây giờ ai bật nhỉ: Một que
diêm, chắc vui. Tôi muốn được mỉm

cười dẫu với người rất lạ. Bởi
vì anh, tất cả trong màn đêm
Biển Khuya. Bởi vì anh lối về
Mà tôi còn hạt cát… Hạt cát

rồi sẽ nát. Sóng giạt tôi đi
đâu? Ơi anh một trái sầu, chín
trong tôi vườn mộng. Tôi hỏi thầm:
Cuộc sống còn nghĩa gì nữa không?

Biển chứa biết bao sông, tại sao
mà biển mặn? Ước chi anh là
nắng ấm, soi những tia sáng lóng
lánh cho vỡ tung lòng Biển Khuya!

Hồ Quỳnh Như
ÐÊM SÂU BỌ

Khi những búa đập xuống
đời nhau, từ phiá căn
nhà gỗ. Ở đó, hai
cái bóng chụm đầu về

một hành trình mang thai
vượt ra ngoài trí nhớ.
Ở đó, mọi toan tính
nẩy mầm từ hốc mắt,

nhầy nhụa máu. Ðêm
sâu bọ hỗn độn. Sự
sống yếu dần rồi tắt
lịm.

Sep.01.04

Huỳnh Hữu Ủy
NGÔI SAO CHỔI CỦA THẾ KỶ MỚI

Buổi chiều ngồi bên bờ biển, nhìn
những đám mây trôi qua, trôi qua,
và hắn thấy mọi chuyện dường như
chẳng có nghĩa lý gì. Mồi lửa

chiến tranh đang muốn nổ bùng khắp
nơi khắp nước khắp địa cầu. Những
đám mây xám cũng đang biến dạng
thành mây lửa vần vũ tàn khốc.

Mưa gió bầm dập đã mấy ngày
đường ngập lụt và những sấm sét
cùng mây lửa không biết sẽ bùng
nổ lúc nào. Và ngôi sao chổi

ấy, ngôi sao chẳng ai trông đợi
thì đang quét qua hắc ám trên
đàn chiến hạm đổ về vùng biển
nhắm tới. Hắn trốn chạy một nơi

hung bạo để đến an toàn khu,
thì hóa ra trung tâm thanh bình
đã trở nên chính là trung tâm
của lửa. Chẳng nghĩa lý gì, mẹ

kiếp, chẳng nghĩa lý gì. Con chim
hòa bình ngậm trái đất và cành
nguyệt quế bay đi, chỉ còn ngôi
sao lửa đang cháy đỏ khốc liệt

tàn bạo chính giữa trái tim từ
bi của thời đại mới.

Feb 13, 03

Huỳnh Lê Nhật Tấn
NHỮNG MẮT XÍCH

Tôi thấy mình muốn Nhảy bằng cánh
chim Ưng đập trên thân của vị
thần sự sống, bay cao lên vũ
trụ nơi hành tinh sáng rạng hoàng

hôn chưa có dấu chân con người.
Nhảy từ thằng đạp xích lô xe
thồ lên ông Chủ giàu có. Nhảy
theo kiểu nịnh bợ, nhân viên quét “[N]hảy

chữ nghĩa” lên chức Giám đốc, Nhảy
từ mái nhà lợp lá rơm lèn
xèn lên nhà lầu cao chót vót
đến xe hơi bằng mọi hành vi

thủ đoạn. Kẻ hầu cũng bắt chước
Nhảy theo kiểu Nhảy bằng tất cả
các điệu Nhảy. Nhảy tự do từ
tháp Chàm thập tự Nhà thờ đến

đỉnh [N]úi Ngự Chùa chiền… Nhảy theo
kiểu Ô Dù che khuất bóng đen…
Ðêm khuya vắng, gió hát bên lá
& trăng thanh. Tôi mơ về mọi

thứ trên đời này để được Nhảy
vào vòng ma lực “danh vọng &
tiền tài” bớt đi danh phận nghèo
hèn… Tôi Nhảy chỉ một chỗ duy

nhất là buộc dây khắp người lại.
Tôi cởi truồng la hét, ôi tôi
Nhảy xuống một dòng sông trở về
quá khứ. Tôi được cởi trói trước

khi Nhảy cỡn lên khi thiếu em.
Mỗi sáng, tôi tập Nhảy dây. Ðêm
sầu tới tôi Nhảy Ðầm. Và tôi
nghĩ cần tập những điệu Nhảy chính

mình vừa chợt nghĩ ra.

Nhảy đầm : Từ nghĩa từ Pháp hóa *chuyển nghĩa hóa lại từ điển tiếng việt là Khiêu-vũ.

Inrasara
CHUYỆN 40 NĂM SAU MỚI KỂ

Chuyện 1. Chạy dịch

Mẹ dắt anh chị em tôi đi trốn
năm sáu ba. Không đâu xa, mẹ dắtỳ
qua nhà bà cô cách ba ngõ. Mẹ
nói: ngủ lại bà cô côi cút, tôi

biết mẹ dắt anh em tôi chạy dịch.
Cha kể: ngày xưa ông ngoại cõng cha
chạy xa rất xa. Thời buổi này ấp
chiến lược không đi đâu cả. Tôi nhớ

chị một tay ôm cứng chiếc áo dhai
cũ nát, Ngô tổng thống cấm Cham mặc,
một tay bế thằng út đứng khóc nước
mắt hai hàng. Hôm nay thằng út con

lớp sáu, áo dhai chả ai cấm, chị
vứt đi lâu rồi, chiến tranh chiến lược
dịch không còn. Chuyện 40 năm sau
mới kể.

Chuyện2. Ăn chữ

Tôi có thằng bạn mắc bệnh ăn
chữ. Không thứ gì khác, hắn ăn
sáng trưa chiều, hắn nhai ngấu nghiến.
Vợ hắn khóc hai năm nay thôi.

Hắn ăn đủ các thứ nặng nhẹ
Nietzsche Khổng đến Sagan hắn
ăn tất tần tật. Hắn ăn từ
tốn chậm rãi. Thuở còn xà lỏn

tôi đã thấy ông lão làng tôi
ăn trăng với nước lã trừ bữa.
Trước nữa, cha kể, ông cố ngoại
tôi chạy càn Minh Mệnh đã đọc

kinh lễ, đốt thi phẩm Glang Anak
pha nước đái trẻ uống thay vì
ăn chữ. Ông sống trên trăm tuổi,
cha nói, giòng ăn lạ chỉ sinh

một trong thế hệ bất kì đâu.
Cham không bao giờ tiệt nòi ăn
chữ. Vợ hắn khóc sao trúng ngay
chồng em.

Chuyện 3. Chờ tàu

Có lẽ đã một trăm, hai trăm
năm, và hơn thế nữa, ông đã
chờ. Chờ những con tàu. Ðến vào
buổi chiều, như guru đã hứa.

Như bảy mươi năm trước, con ông
đã chờ. Những con tàu. Chắc chắn
sẽ đến, người cha nói. Người cha
thì không thể nào dối con được.

Như bốn mươi năm qua, cháu ông
chờ. Con tàu. Buổi chiều, sau giấc
đóng chuồng. Họ chờ như thế, vẫn
dáng đứng ấy trên mô đất ấy ố

về phía biển. Những con tàu chắc
chắn sẽ đến. Tổ tiên họ đã
hứa thế, sách chép như thế. Họ
không thể không chờ. Những con tàu

đến từ phía biển. Nỗi cha truyền
con nối. Mãi khi có ấp chiến
lược, họ mới hết chờ, hết còn
cơ hội chờ. Những con tàu đã

đến và bỏ đi, từ lâu rồi,
có lẽ.

Khánh Hà
ÐIỆU NHẠC NĂM GÌỜ

Ðêm thức trắng nghe tuyết tan, nhỏ
giọt tong tong từ mái xuống thềm,
nhớ những đêm nằm ở Sài gòn
nghe mưa nhỏ tong tong từ máng
xối căn nhà thuê trong con ngõ
hẹp, vách ván mái tôn ngày nóng
hừng hực, đêm có thể trèo lên
mái nằm ngắm sao trời, cửa sổ
lúc nào cũng mở, lồng lộng gió.
Mới năm giờ sáng có người dậy
đi lễ, tiếng guốc lộc cộc, tiếng
chuông beng beng, điệu nhạc lúc năm
giờ bây giờ, ba chục năm sau
Sài gòn có còn con ngõ hẹp,
còn căn nhà vách ván mái tôn,
còn tiếng mưa nhỏ tong tong, tiếng
guốc lộờc cộc, tiếng chuông beng beng.
Ðiệu nhạc lúc năm giờ có còn
ai, nghe thấy ai, nghe thấy ai

Khế Iêm
CÁI CHẾT TRÊN TRUYỀN HÌNH

– BÀ ROSA GONZALEZ THẤY XÁC CON XUẤT HIỆN TRÊN TRUYỀN HÌNH Ả RẬP AL JAZEERA VÀO SÁNG CHỦ NHẬT, VÀ HÔM SAU NHẬN ÐƯỢC GIẤY BÁO CON BÀ TỬ TRẬN. HẠ SĨ JORGE A. GONZALEZ, 20 TUỔI, TIỂU ÐOÀN 1 TRUNG ÐOÀN 2 PHÁO BINH, LỮ ÐOÀN THỦY QUÂN LỤC CHIẾN VIỄN CHINH HOA KỲ, CAMP LEJEUNE, NORTH CAROLINA, CÓ VỢ JUZTY, 25 TUỔI, VÀ ÐỨA CON TRAI ALONSO, CHÀO ÐỜI NGÀY 4 THÁNG 3 NĂM 2003, VÀI TUẦN TRƯỚC KHI ANH LÊN ÐƯỜNG SANG CHIẾN TRƯỜNG TRUNG ÐÔNG. BẢN TIN CHẤM DỨT. CHẤM DỨT. IM LẶNG. KHÔNG THỂ IM LẶNG. VÀ BÀI THƠ, ÐỌC ÐỀU ÐỀU NHƯ MỘT BÀI KINH CẦU.

Người đàn bà nhận ra cái chết của
con mình trên màn hình nhưng không tin
con mình đã chết, và dù rằng một
tin báo tiếp theo như cơn bão tiếp

theo về cái chết của đứa con, bà
vẫn không tin điều mình đã thấy; không
ai nhận được tin báo và nhìn ra
cái chết của con bà và cũng không

ai thấu được nỗi đau ngay cả chính
bà vì đó chỉ là cái chết dở
dang trên màn hình và trong tin báo,
và nỗi đau chỉ là nỗi đau dở

dang; như vậy câu chuyện hư thực về
đứa con của thời chinh chiến cứ tiếp
tục được kể đi kể lại không bao
giờ chấm dứt như nỗi đau không bao

giờ chấm dứt trong lòng bà; con của
bà đã chết hay chưa chết, không ai
có thể biết được gì đằng sau cái
chết của người lính trẻ có người vợ

và đứa con sơ sinh, khi lớn lên
không thấy cha đâu ngoại trừ lá thư
còn lưu lại “Và nếu con có thể
chờ, chỉ ít lâu thôi, cha sẽ trở

vềà”; “cha sẽ trở vềà” không ai hiểu
được gì ngoài người đàn bà đang ngậm
nỗi đau chờ đợi một cái chết khác,
của chính mình, để mong gặp lại đứa

con đã quên mất con đường trở về,
và bà cũng dần dần quên mất, đã
hơn một lần bà không tin điều mình
đã thấy về cái chết của đứa con.

Ngày 27 tháng 3 – 2000

Khế Iêm
BÀI THƠ KHÔNG VẦN

Ðể tưởng nhớ nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (1947-2005)

Anh đến với tôi mỗi ngày thứ sáu,
như mỗi ngày đều là ngày thứ sáu,
còn những ngày khác anh đến với các
bạn khác, như mỗi bạn khác mỗi ngày

là mỗi ngày khác, cho đến một ngày
bất ngờ tôi biến mất, như mỗi ngày
thứ sáu biến mất vào mỗi ngày khác,
như mỗi đời người biến mất vào chỗ

đời khác, tôi biến mất khỏi anh, anh
biến mất khỏi tôi, vì tôi bị cuốn
theo cuộc đời lưu lạc, còn anh mãi
mãi đơn độc, mãi mãi không nhà, mãi

mãi ở lại, và tôi không biết nơi
nào anh trú ngụ vào mỗi ngày thứ
sáu, cho đến hôm nay bất ngờ anh
biến mất, anh biến mất khỏi anh, anh

biến mất khỏi tôi như mỗi chúng ta
là một tình cờ, như mỗi con đường
là một ngõ qua, tạm thời là thế,
có gì hay ho, có gì đáng nói

nơi cái chỗ ở là trần gian này,
chỉ có điều đáng nói là những gì
anh còn để lại, “Cô bé treo mùng”,
“Hình như là tình yêu”, “Thư về đường

Sơn cúc”… giống như những bài thơ không
vần, vì ngay cuộc đời anh cũng là
cuộc đời không vần, không vần gì cả
với những cuộc đời chung quanh, nên anh

cứ mãi lãng du, cuộc lãng du bất
tận kéo dài về nơi gió cát, còn
tôi thì cũng cứ mãi lãng du, nhưng
là cuộc lãng du giữa cuộc đời bình

thường và rất đỗi tầm thường, chưa biết
đến bao giờ mới xong, chưa biết đến
bao giờ mới hết. Nhưng bây giờ chúng
ta có thể nói câu giã từ thứ

sáu, và giã từ nhau, vì từ lâu
lắm rồi chẳng còn ngày nào là ngày
thứ sáu, của anh và tôi, và từ
đó đến nay anh và tôi cũng chưa

một lần gặp lại. Thôi, chúc anh an
giấc.

Chú thích : Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn sinh năm 1947 tại Thừa thiên, Huế, mất lúc 2 giờ 50 ngày 9 tháng 7 – 2005 tại Sàigòn, tác giả các tập truyện ngắn dành cho tuổi mới lớn: “Hình như là tình yêu”, Cô bé treo mùng”, “Ở một nơi ai cũng quen nhau”, Hôn lễ”, “Thư về đường Sơn cúc”.

Khế Iêm
CON MÈO ÐEN

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;

con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo

linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong

cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẫu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn

của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo
đen có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.

Khúc Duy
CHẤT BỘT MỊN
Tặng QN

Từ những vết xước vách phòng em trọ,
mọi ánh mắt và hơi thở người thân
đâm da thịt mỗi bước em gõ gót
nhẹ ngày. Em hút đêm trong vách xước,
gom lại dịu dàng từ đôi mắt sâu
nhão, nhả sáng qua cửa bình minh già,
thứ bột mịn bay. Từ những vết xước

vách phòng em trọ mọi ánh mắt và
hơi thở người thân, dấu vết nuốt những
cử động em, không cần biết sông đang
đen và cạn mạch. Ði thôi. Em đang
rỉ máu buốt tủy trong mũi dao xé
vào tiếng xua đuổi mọi ánh mắt và
hơi thở người thân. Ðã gãy những cây

cầu nơi em đến bỏ ngày, vạch đêm
vào ngực và nấc. Từ những vết xước
em chọn hướng chết mũi dao .

Khúc Minh
TÔI CƯỚI VỢ TRẺ

Tôi về Việt nam cưới vợ trẻ vợ
tôi tuổi thật là mười sáu ba má
nàng phải chạy giấy tờ tăng hai tuổi
cho nàng đủ tuổi làm giấy hôn thú

với tôitôi hớn hở mừng thầm mình
lấy được vợ quá trẻ chắc nàng phải
còn trinh trắng sau này qua mỹ nếu
nàng muốn bỏ tôi phải ở với tôi

tối thiểu là năm năm nếu không nàng
sẽ bị trục xuất về Việt nam mỗi
chu kỳ nănm năm rưỡi tôi lại về
Việt nam cưới vợ trẻ một lần cưới

vợ trẻ mãi cho đến khi ngày anh
sáu mươi em cũng vừa đôi mươi có
sao đâu trong đêm tân hôn trước giờ
động phòng tôi nói với vợ tôi anh

vừa thuê cuộn phim ngoại có chuyển âm
lời việt anh bỏ vô máy chiếu anh
em mình xem áp dụng cho đúng bài
bản đem lại hạnh phúc em nhé vợ

tôi bảo ba cái quỷ đó em xem
hết cả rồi mấy người ấy đóng dở
ẹc em sẽ chỉ cho anh nhiều kiểu
bảo đảm phê ngút trời xanh mà các

hãng làm phim sex chưa biết đâu tôi
nghĩ mình gặp thần đồng tuổi trẻ tài
cao rồi thật vậy sau đó nàng chỉ
cho tôi thực hành với nàng các tuyệt

chiêu mà nhiều năm luyện phim sex ở
mỹ tôi chưa hề biết tôi cảm thấy
phê ngút tận mây xanh như đang ở
trong cõi ảo tôi đến được tầng trệt

của thiên đường dần dần tôi bị kích
ngất và mất hết cảm giác khi tôi
tỉnh lại tôi đang nằm trong phòng cấp
cứu của bệnh viện chợ rẫy sài gòn.

La Toàn Vinh
TẢN MẠN QUANH BỜ HỒ

Tôi vẫn ngồi bên cái già cỗi của
Hồ Gươm. Hồ Gươm ơi, cụ Rùa ơi
trời đất Thiên địa ơi. Ới ời ơi…
Bà thầy bói nhìn tôi: “anh này có

chân tu…” Bà nói, bà lại nói, bà
nói nữa! Tôi chợt đói. Bên bờ Hồ
có quán Phở Thìn. Ðói ăn liền bát
Phở. Rau, ớt, tương… cái rét vơi đi.

Mùa này rét đậm? Bác ơi “không có
rét không phải Hà Nội” Buổi trưa từ
Tạ Hiện bước sang hồ Gươm, loay hoay
ở Ngả tư đường không có đèn xanh

đỏ, không biết phải đi đâu trong cái
mênh mang của Ðất Trời. Ðặt đít ngồi
trên cái già cỗi của Hồ Gươm. Người
lái xe ôm, em bán khô mực, người

hướng dẫn viên, ông đồ viết chữ… Tôi
chầm chậm đi quanh bờ hồ, dòng nước
bao quanh Tháp Rùa không biết tự bao
đời. Tôi đi quanh hồ, đi lại, đi

vòng vòng, đi mãi, đi miết, đi vô
tư. Buổi tối nhìn lại hồ Gươm có
chút lãng mạn, có chút tình tứ, có
dàn hoa bên đường, có liễu rũ, có

hồ Gươm Xanh. Thật Xanh, thật xanh…

Chánh Tịnh cường
HN, 01-01-2005

Lê Giang Trần
GIẤC MÊ KHÁC

I.
Chỉ toàn những thôi thúc, ám ảnh
mạnh mẽ. Mặt trời dậy: chần chừ
ý muốn. Mặt trăng lên: dỗ ngộp
lòng đi. Những giấc ngủ sau đó
mỗi lần trở mình là một giấc
mê khác…. Chiếc va li mở toang,

II.
quà, mừng rỡ, hỏi han.. Ngồi lâng
lâng, rướm mồ hôi. Nắng Sài Gòn,
còi xe, bụi bặm.. Nằm say náo
nhiệt. Giấc ngủ sau đó, trở mình,
là một giấc mê…. Mùa tị nạn

III.
chấm hết, mùa việt kiều chấm phẩy,
như mùa đông bước qua xuân, chiếc
cầu Mỹ Thuận ban đêm rực sáng
như tương lai là mọi cấp bách,
như trên tầng 33 nhìn xuống
sàigòn. Ðã được phép, tôi tự
do mà nói không tự nhiên. Có
điều gì rờn rợn, không phải nhộn
nhịp phồn vinh. Những thành phố đã
đi qua, đời sống như con thú
xiệc thuần thành, những con người cũ
gặp lại, không khác hơn một xác
ướp. Tuổi trẻ dãy đầykhông khác
cây ươm bó chậu, chờ một mảnh
vườn, xuống đất vươn lên. Những bất
cập không riêng tình trai gái, đồng
dạng như sợi xích đoạn trường… Những
giấc ngủ sau đó, mỗi lần trở
mình, là giấc mê khác…. Một chuyến

IV.
đi-về, lòng thêm lặng lẽ. Những
giấc ngủ, mỗi khi trở mình là
một giấc mơ, giấc mơ không có
những đối cực, mà, những tan loãng…
chất chồng… hòa nhập vào nhau… như
đường vân trong phiến đá. Những giấc

V.
ngủ sau đó,mỗi khi trở mình..
là một giấc mê… khác….

Tháng 7/2000

Lưu Hy Lạc
TỐI DƯỚI TENDERLOIN

Giữa đêm, trời lạnh lắm, khoảng một
đám Mỹ đen hãy còn tụ dưới
góc đường xéo xéo phía cửa sổ
phòng tôi, mà lạ bao giờ cũng

ầm ĩ nhốn nháo chả tài nào
dỗ được giấc ngủ; tôi nhoài người
ra cửa sổ, quái! nguyên một đám
Mỹ đen thật tất bật; tôi để

mắt dáo dác từ đầu đường thằng
Mỹ trắng đi lơn tơn, nó tìm
thuốc, nó gạ hết thằng nọ đến
thằng kia, tôi giật bắn cả người;

nguyên đám Mỹ đen bỗng hô hoán
lên, xúm lại túm thằng Mỹ trắng;
ô, hết thằng kia đập đến thằng
nọ nện; tôi chết điếng người ngó

trân trân, mấy con Mỹ đen cũng
hùng hổ không kém hết con nọ
đạp đến con kia thụi; tôi nghĩ
mình thật chẳng biết phải làm gì,

bấm 9 1 1 với mớ tiếng
Mỹ ăn đong của tôi, thằng Mỹ
trắng cũng nước chết đến trọng thương;
trời tối, lạnh lắm, tôi trèo lên

giường giật thót người, co quắp dưới
góc đường xéo xéo phía cửa sổ
phòng tôi thằng Mỹ trắng nằm thẳng
cẳng, ngay bên trên cột đèn có

gắn tấm biển in đậm hàng chữ –
DRUG FREE ZONE.

Lý Ðợi
MỘT ÐÊM Ở SYDNEY

Tặng thi sĩ Nguyễn Ðăng Thường

người thủy thủ già qua đây nằm
tù đêm giáng sinh với tôi những

giờ đêm tăm tối khuya không ai
ghé thăm như bờ biển xa không

đôi mắt nào có rất nhiều tâm
sự xin thượng đế nhìn tôi cùng

rượu đỏ ngày phán xét bao giờ
tôi sẽ ngủ với em hay sẽ

quên nhưng đừng hôn tôi như thế
tưởng vì tôi phiêu lưu không xót

thương hay tôi chỉ thương em vì
đã nằm trên vai tôi nức nở.
Sydney 12-1958

Mai Ninh
HUYỀN SỬ

Không có gã thanh niên bỏ những
kèn đồng giữa chợ dẫn tôi vào
sau cánh cổng sơn xanh sắt ố
bờ tường vỡ lở mái trần cầu
thang, lớp học hành lang trống vắng
ngày hè chất xếp ghế bàn chờ
sơn cọ sửa sang cho kịp tựu
trường, tôi đã chẳng biết trong lòng
đời sống bụi dơ chen chúc lất
lay người khốn khó vẫn còn nơi
thơ rực thắm bông hoa của gã
con trai mới được quá hai mươi
ngồi vẽ dưới mây cho đám trẻ
em nghèo một lớp học tường đầy
hình ảnh sáng vui thay rác rưởi
dềnh quanh chợ búa. Không có chàng

thanh niên lạ lẫm mời tôi vào
quán bờ đường uống thêm một ly
cà-phê đọng bã đen nhờ và
thổi vài hơi khói vòng nạc-ghi-
lê kêu bập bập làm sao tôi
biết người chủ quán đã bắt chàng
ta phải trả mười lần giá cả bình
thường vì dám mời một người
đàn bà ngoại quốc không quen bằng
món tiền ăn một ngày trọn ba
đồng Ai Cập đắng môi tôi son
khép ngoài đường bụi bay múa hồn
nhiên trong chiều nắng. Không có con

tàu trôi giữa hai bờ sông chỉ
là người lách vào huyền sử bao
ngàn năm ngủ yên vua trời đội
đêm kêu hoảng trong mồ mả đền
đài chùm bóng không gian u uất
đè lên phận người da cháy dân
nuy-bi bị lưu đày ra khỏi
quê hương cội nguồn nhường đất đai
mang phần mệnh tha phương trên lạc
đà cong lưng, họ lìa xa những
ngôi nhà tường vẽ hoa và chim
sắt vòng tròn mặt trời hơn bốn
ngàn năm về trước bà hoàng I-
Sis đào sông để tìm thân thể
người tình chung bị thù nhân chặt
mười bốn khúc thả trôi trong dòng
đục hờn ghen. Cuối cùng chỉ còn
thiếu đôi mắt đắm sâu nên huyền
thoại sông Nil không thoát khỏi chữ
Tình.

(Nil, 2003)

Mai Phương
NƠI ẤY NGÀY XƯA…

Về lại cao nguyên, mưa
tháng bảy mù trời, vườn
cà phê xưa vẫn bạt
ngàn xanh lá, đường đất

đỏ nhầy nhụa, dấu chân
xưa còn đâu? Vào rừng
thông, hương nồng buổi sáng,
lũ chim rừng ríu rít

bản đồng ca, núi gần
xa sương chập chùng mờ
ảo, chợt nhớ mắt ai
cười , lấp lánh giọt sương mai.

Về lại núi rừng bao la,
nghe thác đổ, hoà tiếng
chiêng còng gợi nhớ xôn
xao, rượu cần ai say

bờ môi nóng, vòng tay
ghì siết lửa tình yêu…
Cao nguyên ơi, ta đứng
giữa núi rừng, gọi tên

người cho ngàn lá rưng
rưng, sương giăng mắc làm
ướt nhoà kỷ niệm, lòng
bỗng chùng tiếc nhớ mênh

mang…

(2004)

Nam Du
SẮC THẮM TRỜI QUÊ

Tiếng đồng dao loãng dần
tan xa, tan xa, tan
xa… Ðám trẻ con cười
trong lúc nô đùa kéo
những sợi dây dài. Tít
trên cao là ngọn gió
hữu hình bằng cánh diều

phấp phới,
phấp phới,
phấp phới….

nhịp nhàng và du dương
từng tiếng sáo,tiếng vè
thấp thoáng trong đám ấy
tôi bỗng nhận ra mình
của những ngày thơ ấu
Ðẹp với Bình Yên. Bầu
trời hoá khung tranh tơ
mịn cho không ít tâm
hồn tìm lối thoát. Ðã
vào thơ…

Nguyễn Cảnh Nguyên
CHÚT KỶ NIỆM Ở MONACO

Chẳng phải bài thơ về một công nương
rất xinh đẹp mà ai cũng biết,
cũng chẳng phải là bài văn bài báo
hay một bản nhạc về một vương phi

mà người đời đã đang và sẽ còn
hoài hoài tốn giấy tốn mực, nếu có
thể được đây xin chỉ là câu chuyện
kể giản dị về một Diana

rất dễ thương của tôi. Diana
nho nhỏ, xinh xinh, thắt đáy lưng ong,
vừa thích cười vừa có giọng nói rất
hay, em đang dắt tôi đi lên, đi

xuống những bậc cầu thang rất dốc vào
vào ra ra quanh quẩn khắp mấy tầng
nhà mênh mông như dắt một đứa trẻ
thơ ngây và ngoan ngoãn dễ bảo dễ

đe chưa từng thấy. Lắng nghe này…
Diana đang dạy và tôi thì đang
bi bô tập nói, ừ thì uno
là một, due là hai, tre là ba,

ừ thì quả feige này chính là quả
vả, quả kiki này là quả hồng,
còn quả kiwi này thì chính là
quả kiwi chứ chẳng thế nào khác

được, ừ thì mầu này là mầu rosa
còn mầu này thì là violet,
ừ thì mầu hoa này là mầu hoa
của tình yêu và mầu hoa này là

mầu hoa của sự xa cách, ừ thì…
ừ thì…. tôi vừa nhắc đi nhắc lại
lời Diana vừa nuối tiếc, vừa mới
quen nhau sao đã vội xa nhau, ngày
mai em đi rồi, căn nhà này còn
chỉ mỗi mình tôi, sẽ vẫn phải lên

lên xuống xuống những bậc cầu thang dài
thăm thẳm, sẽ vẫn phải vào vào ra
ra quẩn quanh khắp những tầng nhà trống
trải, sẽ vẫn phải lẩm nhẩm những từ

những câu mới nhưng biết có từ nào
câu nào du dương thiết tha bằng từ
bằng câu Diana, Diana của tôi.

Nguyễn Ðăng Thường
TƯẨ THI

tôi không làm thơ vì buồn: tôi buồn
vì làm thơ – với tôi, thơ làm xong
là xác chết thơ đăng báo là xác
ướp – thi sĩ – nhưng tôi chỉ là keủ
giết chữ thậm chí keủ giết thơ hàng
loạt – thi sĩ đã rời đỉnh boủ tháp
xuống đường vào sa mạc – chẳng còn xó
xỉnh nào để cho người thơ hôm nay
tới – mà sao tôi còn làm thơ ? – tôi
làm thơ như sisyphe lăn taủng đá? –
tên tuổi: chưa có – ngày và nơi sinh:
bất cứ lúc nào bất cứ ơủ đâu.

BA PHAẨI

nếu phaủi chọn giữa con người và thượng
đế tôi sẽ chọn sa tăng nếu phaủi
chọn giữa con thuyền không bến và con
tàu say tôi sẽ chọn cánh buồm giấy
nếu phaủi chọn giữa sói và cầy bạn
đừng chọn heo quay

Nguyễn Ðăng Tuấn
NÀNG

nàng có đôi tay mướt
chẳng khước từ sự sống
trên bàn tay chàng. Năm
ngón tay nũng nịu bíu
lấy bờ vai. Giữa những
nụ hôn nồng cháy. Nàng
thoát xác thành cánh chim
bạc má. Mỏ chu chíu
chít gọi lấy người. Hừng
đông rực sáng. Ðôi bờ
ngực nhấp nhô, muôn tơ
óng ánh. Ðếm thần tiên
bằng từng đó ánh mắt
ngời. Cơn bão lửa vỡ
bùng từ những tiếng kêu
bằng môi thơm cháy bỏng

Ðôi khi tôi cũng chẳng
nhớ gì, chỉ biết vỗ
đêm bằng tiếng hát. Bởi
hương lúa mùa chiêm ai
đã gặt. Hương mái tóc
còn nằm trong mái rạ.
Những cánh rừng xanh biếc
nhễu phù dung. Tiếng kêu
khẽ giữa muôn vàn gió
lộng, còn oan khiên nhẹ
cắn lấy vai người. Mùi
gỗ mới thơm đời vun
toả lại. Còn khát khao
riêng từng buổi mong chờ.

(ngày 9 tháng 6 năm 2005)

Nguyễn Ðạt
NÓI LẠI VỀ MÁI NHÀ XƯA

Ðể tưởng nhớ đến anh tôi
Nguyễn Nhật Duật

Trở về mái nhà xưa. Ôi
Lãng du quay về điêu tàn
Mái nhà xưa miệt phú thọ
TơiÔ ngày ở đó tôi thấy
Hết vui thấy hai bữa cơm
Gạo trắng ẩm mốc suốt những
Ðêm mưa những đêm mưa đó
Thiệt rầu nằm không thể ngủ
Lang thang cùng đám vô lại
Riết quên cả tên khai sinh
Ra bờ sông sài gòn ngó
Những con tàu lù mù trong
Sương, nhớ tới bạn bè thằng
Nhạt thằng quên nhớ tới những
Ðứa con gái không hình dáng
Không tên tuổi nhớ tới cha
Mẹ anh em, đèn bờ sông
Thì mờ giấc ngủ đòi vội
Vàng, như tôi cần sống như
Tôi cần chết, như cần ngủ
Ngay trên ghế đá lạnh băng
Thức dậy có khi động lòng
Cảm xúc trở về nhà xưa
Ngó nghe ôi mái nhà thì
Ðen tiếng động thì da diết
Con kênh thì nước dâng ếch
nhái thì kêu la. Ðứng đó
Tay bưng mặt lỡ òa khóc
Nước mắt chỉ tủi gia cang
Mẹ thì đã mục thịt xương
Cha còng lưng xa mấy đất

Giờ trở lại mái nhà xưa
Thấy người anh đã mất thấy
Người em ở nơi quá xa
Ảnh chết buồn rầu sau tám
tháng phớt tỉnh ănglê
Của người em là công dân
Chánh hiệu có cầu chứng tại
Tòa ở đất nước huê kỳ
Trở về mái nhà xưa là
Ðể nghe hồi âm khúc hát
Lãng du quay về điêu tàn

2000

Nguyễn Hoài Phương
NHỮNG CÁI LIẾM MÉP

Con mèo đen, cảm hứng thi ca
của anh, anh thấy em ngồi trên
bệ cửa sổ và liếm mép. Có
thể là em vừa xơi xong một

con chuột, một con chim chăng mà
anh thấy em liếm say sưa thế.
Hay có thể là em vừa xơi
xong một con thạch sùng, một con

chuồn chuồn, một con bướm, một con
dán chăng mà anh thấy em liếm
ngon lành thế. Hay cũng có thể
là em vừa xơi xong một khoanh

cá rán, một miếng mỡ hoặc một
đĩa sữa, một chén súp chăng mà
anh thấy em liếm khoan khoái thế…
Ôi! Những cái liếm mép của em

mới ngất ngây, mới thi vị làm
sao. Cái lưỡi hồng hồng của em
cứ quẹt một nhát sang phải lại
quẹt một nhát sang trái. Cái lưỡi

ram ráp của em cứ đưa qua
đưa lại nơi môi trên mấy nhát
lại quét qua quét lại nơi môi
dưới mấy nhát. Như một cái chổi

mới cái lưỡi gai gai nhọn nhọn
của em khoan thai, chậm rãi lia
qua lia lại khắp nơi, liếm sạch
hết không còn một sợi lông, không

còn một mẩu cánh, không còn một
chút váng mỡ, không còn một chút
hơi hướm gì mà vẫn cứ còn
liếm. Em liếm như em làm như

em chẳng ăn gì mà em vẫn
cứ liếm, làm như em chỉ liếm
như một trong những thói quen của
em… Thì đãy, em vẫn chẳng gừ

gừ khi cuộc đời chẳng có gì
đáng gừ gừ đó sao, em vẫn
chẳng kêu toáng lên khi cuộc đời
này chẳng có gì đáng kêu toáng

lên đó sao. Em là con mèo
đen, là cảm hứng thi ca của
anh, anh thấy em ngồi trên bệ
cửa sổ và cứ thế liếm mép,

liếm mép mãi, cứ thế, cứ thế…

Nguyễn Lương Ba
TSUNAMI TSUNAMI

Khi bắt đầu biết đọc, biết viết, biết
nghe nhìn hiểu, biết tưởng tượng, biết nhớ
lại trong đời mình đang trôi ở một
nơi xa cái nơi đang bị thiên tai

Thì lần đầu tiên tôi nghe tsunami
tsunami tsunami,sóng thần sóng thần
Ôi vùng đông nam á nơi tôi biết,
đã đi qua, đã cập bến biết bao

Thân thương, nào Ladang, Penang
Galang Indonesia , khi tôi từ
con thuyền vượt đại dương một ra đi
Sóng dữ vâng sóng dữ và tôi biết

Rằng mình đã chết giữa đêm giông bão
Ồ thì cũng đành để con thuyền chìm
Ôi cơn bão lớn lao vội vàng đi qua
mạnh mẽ thản nhiên chả cần hỏi han

Và tôi liên tưởng sự khủng khiếp kinh
hoàng mà làm sao liên tưởng được khi
cơn sóng như trời sập đánh vào các
bãi biển xinh đẹp thơ mộng mà ở

Ðó những người ở thế gian đang tận
hưởng lạc thú trần gian thì thử hỏi
ân sủng của Chúa và tsunami là thế nào?
(một mùa Giáng Sinh vừa mới qua đi)

Quá nhiều người đã chết trong một ngày
nhanh chóng biến mất, nhanh chóng tan đi
mà họ thì đang cười nói với cuộc
đời này.Cuộc sống vẫn còn trinh nguyên

Hãy nhìn về biển Ðông và bà mẹ
đang ôm đứa con ở Banda Aceh
đã chết mà thật không biết nói gì!
Mà biển thì lại đang êm, có phải ?

12-29-2004

*Theo bản tin của các hãng thông tấn AP và Reuters phát lúc 22g30 ngày 29-12,con số nạn nhân ở các nước Châu Á bị sóng thần tàn phá sẽ hơn 150,000. Hiện tại, ngoài khoảng 76,700 người chết được ghi nhận chính thức vẫn còn hàng chục ngàn người mất tích và ít còn hy vọng sống sót. (Theo Tuổi Trẻ Online).

Nguyễn Lương Ba
ÐI QUA DÒNG SÔNG

Tôi tưởng tượng em đang ngồi bên
cạnh dòng sông ngày nào, dù dòng
sông này đã không còn là dòng
sông ngày nào em vẫn thường hay

cặp sách đến trường. Ðã bao năm
khi ngồi đàn ghi-ta dưới đò,
tôi tưởng tượng em đang nghe tôi
hát dưới con đò thả trôi chầm

chậm về phía em, nơi căn nhà
ở đầu chợ. Có khi em mặc
bộ đồ màu hồng đi chiếc xe
đạp bên bờ sông, có khi em

mặc áo trắng dưới nắng hanh vàng
trên bến sông. Cho dù mưa nắng
tôi vẫn hát bài ca chầm chậm
mà nghe như nàng nói sẽ đi

Pleiku: ”Ba em không còn ở
đây nữa.” Và như thế tôi sẽ
làm gì với bài hát thật xưa
này, còn con đò trôi chầm chậm

trên sông thì nào có ích gì!
Cho nàng đang cần một bài luận
văn tả tiếng đàn của Thuý Kiều:
”Bốn dây như khóc như than / Khiến

người trên tiệc cũng tan nát lòng.”
Mọi người đều biết Thuý Kiều mà
nàng thì khi nào lại không khóc.
Nhưng tôi hát và Thuý Kiều đàn

thật ra rất gần gũi nhau. Nhiều
khi tôi hát to như khóc, bài
Chiều Mưa Biên Giới, rồi tưởng tượng
em sẽ rời bỏ thành phố này,

thì tôi đâu còn gì để luyến
lưu cái thành phố này. Như thế
thà tôi xin cái học bạ, chờ
đi lính hay là tôi đi đâu

thì cũng mong về lại dòng sông.
Cuối cùng ở Mỹ lại có dòng
Sông Trinity cũng chầm chậm.
Em cũng không còn, con đò cũng

không còn. Dòng sông cũng chảy chầm
chậm qua cái xa lộ 35E
ngập nước. Chỉ một mình tôi trên
chiếc xe. Ðã bao năm tôi lại

trở về nhìn dòng sông. Thoạt đầu
tôi cứ ngỡ như dòng sông Trinity,
nhỏ thôi. Em cũng không còn, con
đò cũng không còn. Cho dù dòng

sông này với con đò trôi chầm
chậm hay dòng sông Trinity
chảy ngang những cao ốc ở Texas,
tôi thật mong được trở về nhìn

lại dòng sông đã bao năm nhớ.
Có đêm tôi ngủ ngoài trời, giờ
thì chẳng có cách chi để ngủ.
Lại một dòng sông chảy chầm chậm

nhưng mà em biết không, đã chết.

Nguyễn Phan Thịnh
GIẤC MƠ TÔI

tôi mơ gặp tôi đi qua sông đi
qua suối có khi đi lên đồi đi
xuống đồi nhiều lần đi lên núi đi
xuống núi nhưng không bao giờ đang ngồi

tôi mơ gặp tôi và tôi trong mơ
hỏi tôi đi đâu tìm ai làm gì
tôi làm quen tôi và hai tôi đi
xuống đồi đi qua sông đi lên núi

hai tôi đi qua suối đi tới đi
tới và lên núi xuống núi không gặp
ai tôi hỏi tôi trong mơ nhà mình
và tôi trong mơ không biết quê mình

đi hết hòang hôn đi tới bình minh
không có bắt đầu chẳng có tận cùng
không tuyệt vọng không hy vọng vẫn tôi
và tôi vừa là hai vừa một mình

tôi mơ gặp tôi và tôi gặp tôi
mơ tôi mơ tôi chưa một lần được
ngồi nhưng chắc chắn bên kia giấc mơ
này chúng tôi sẽ nằm xuống chung mồ

8/9/2003

Nguyễn Phúc Bảo Tiên
CHUYỆN NHÀ KỂ

Mỗi chiều anh ra mở hộp thư
trước hiên nhà, nơi có hàng bông
giấy đỏ, đúng giờ, như mỗi chuyến
xe buýt đi qua thành phố. Tối.

Anh đọc thư, rồi ngồi vào bàn
viết trả lời, chẳng bao giờ quên.
Sáng sớm, trước khi đi làm, anh
để thư vào hộp, bác đưa thư

hồn nhiên như mọi ngày, sẽ đến
lấy mang đi. Một ngày mùa thu,
lá rơi ngập cả hiên nhà. Người
vắng, nhà im. Chủ phố thấy lạ.

Ông cảnh sát già, miệng còn hơi
men, khệnh khạng bước vào, thấy anh
đang mơ màng trên ghế dựa, như
mê, như ngủ, yên lành lắm, nhưng

chắc chắn là đã nghỉ thở. Nhà
có hai hộp thư, một đến, một
đi. Người nhận, người gửi. Thật lạ,
đều chỉ là một tên. Hóa ra,

anh chàng cô đơn đến nỗi, viết
thư gửi bưu điện, nhận lại, rồi
viết hồi âm. Cho mình.

Nguyễn Thị Khánh Minh
NƠI UỐNG CÀ PHÊ SỚM

Ðêm hôm qua tôi nói thầm
hết chuyện này đến chuyện nọ
thực tình tôi rất hoang mang
không biết mình nói trong mơ
hay mớ trong cơn nửa mê
nửa tỉnh, hình như đó là
những câu tôi trả lời về
những việc mà ban ngày tôi
chưa kịp nói, không có cơ
hội để giải bày, trò chuyện
hoặc là những lời nếu không
nói thầm với đêm thì chỉ

biết đào mộ nơi con tim
mà cất. Qua một đêm như
thế, sáng nay ngồi dưới nắng,
đối diện với một dòng nước

chảy, nghĩ đến những việc quen
thuộc phải làm mỗi ngày, cái
trống trải riêng tư đeo nặng
mỗi ngày, tôi không kìm được
giả vờ cài dây giày để
nước mắt có đường rơi xuống.

Nguyễn thị Khánh Minh
TRONG CÁI QUẬY ÐỀU

Quậy đều quậy đều tan
ra những hạt đường bé
xíu tan ra tan ra…
dòng cà phê đen xoay

vòng… những vòng xoay ánh
nắng lấp lánh lấp lánh
đen buổi sáng tới lui
trong tiếng người qua lại
tôi thì chậm chậm từ
từ với chiếc muỗng quậy
ly cà phê quậy đều
quậy đều quậy đều mà

tôi không biết làm sao
để mình bình tĩnh được
ngoài việc cầm chiếc muỗng
quậy đều quậy đều miết

ố bàn- tay-mình để cạnh
trang báo có hình những
đứa trẻ ngồi viết bằng
chân – có đứa trẻ từ

hai bên mông mọc ra
hai cái chân bé xíu
như hai dấu phẩy – có
những đứa trẻ đang kinh

hãi chạy chỉ với cái
quần lót – có những đôi
chân lòi ra từ tấm
khăn phủ – những đôi chân

còn bé lắmà
… bàn- tay
vẫn còn quậy ly cà
phê đôi- chân còn ở
dưới gầm bàn…
… cà phê

dính trên khăn giống màu
máu khô
Tôi- đứng- dậy
– tôi đang đi – tôi-đầy
-đủ- chân- tay-cái đầu

– và-hình như- có một
trái tim-còn đang đập –

9-2004

Nguyễn Thị Ngọc Lan
KHÚC HAI HAI

Mẹ cõng nỗi buồn của con, qua những
chặng đường, hai mươi năm. Ðèn đỏ mẹ
cùng con dừng lại, cùng hát cùng cười,
đèn xanh mẹ tha con đi như mèo

mẹ tha con. Vụng về mẹ làm con
đau, bướng bỉnh con làm mẹ đau. Hai
mươi năm, chỉ có con làm nhân chứng
cho niềm đau của mẹ, hai mươi năm,

chỉ có mẹ đeo riết niềm đau của
con. Rồi một ngày, con đi vào đời
một người đàn ông bạc ác, và nỗi
buồn của mẹ nhân đôi, vì có vài

người đàn ông bạc ác trôi qua đời mẹ.
Cứ thế, mẹ cõng niềm đau của con
nhưng niềm đau của mẹ không ai biết
đến. Và chiều nay, mưa rơi mưa rơi,

có bao nhiêu người đàn bà cõng nỗi
buồn. Có bao nhiêu người đàn bà khóc
một mình. Có mẹ, có con…

Nguyễn Thị Thanh Bình
ÐI ÐI VỀ VỀ

Buổi sớm mở mắt sao lại cứ phải
lục lạo tìm mãi nơi nào để đến
hay đến mãi một nơi nào để về
đến đến về về đi đi lại lại
để làm gì khi mà cứ mỗi phút
mỗi giây của những ngày mình đang sống
cũng vô nghĩa như con đường hôm qua
hôm kia hay hôm kìa tôi đã đi
qua. Tôi đã đi và cũng đã về
trên những con đường vắng ngắt không người
không còn một ai không có một ai
không lời gọi không lời đáp: không không
tất cả là những con số không to tướng
như vòng môi cong cớn của những Adam
như con đường của những trái tim không
tình nhân không gió bão không mây mưa
thứ ảm đạm của những người đàn bà
đến thời kỳ mãn kinh nhưng vẫn còn
cả một triêu triệu kiếp để xuyến xao
viagra-hồng cho những mụ Eva khát tình
hoặc quá thừa mứa những vòng tay ôm
lũ đàn ông dâm đãng bán liệt dương
ôi viagra-xanh cho gió nổi bên trời
cho vực sâu nào chở gió đầy vơi
cho tôi và anh rồi cũng chẳng có
gì? Một lần gặp gỡ là một lần
kết thúc. Nhưng chắc chắn không có
một kết thúc nào giống kết thúc nào
và chúng ta ai rồi cũng sẽ phải
đến đến đi đi về về lại lại
một nơi kết thúc. Của mọi cuộc chơi…

Nguyễn Tiến Ðức
NHỮNG CON MÈO MẤT TÍCH

Người thi sĩ yểm bùa ngôn ngữ tạo
Ðược những con mèo hoang tưởng thi ca
Những linh miêu ngũ sắc bằng đủ các
Chất liệu ố không thể mua ở Pet Mart

Còn những con mèo mầu của tôi thì
Có thật ố những con mèo đang mất tích
Những con mèo mầu của những cô bé
Có khuôn mặt buồn hiu ố không thể quên

Có một buổi chiều lúc mặt trời đang
Lặn thì cô bé da đen cạnh nhà
Với khuôn mặt buồn hiu hỏi tôi có
Thấy con mèo đen của cô không và

Ashley cho biết tên con mèo là
Shadow ố cái bóng–chợt thấy tên con
Mèo con rất thơ tôi phải nói dối
Ðể cô bé hy vọng ố tôi nói tôi

Thấy con mèo của cô lúc mặt trời
Sắp lặn sau hàng cây phong tàn lá
Chớm vàng ố trời vừa sang thu ố những chiếc
Lá cũng sẽ mất tích y hệt như

Con mèo con có tên Cái bóng của
Cô bé da đen buồn ố như vậy thì
Một cô bé da trắng cũng có thể
Ðang đi tìm một con mèo trắng lúc

Mặt trời đang chết lặng ố như vậy thì
Một cô bé Việt Nam cũng có thể
Ðang đi tìm một con mèo vàng lúc
Mặt trời đang chết lặng ố như vậy thì

Một cô bé da đỏ cũng có thể
Ðang đi tìm một con mèo đỏ lúc
Mặt trời đang chết lặng ố nhưng không thể
Có một con mèo đỏ trừ khi con

Mèo đó rơi trúng thùng sơn đỏ mà
Nếu cô bé da đỏ cũng ở bên
Cạnh nhà tôi thì tôi sẽ lấy xăng
Rửa lông cho con mèo đó mà xăng

Thì rất nguy hiểm vì dễ bắt lửa
Tôi sẽ không thể châm thuốc lá hút
Hoặc rửa lông con mèo cạnh đám cháy
Rừng do người đàn bà đốt thư chồng

Con mèo đen có tên Shadow làm
Anh nhớ em quá ố cái bóng của mình
Cứ dài ra lúc mặt trời đang lặng
Chết trên hè ố hè phố thiếu bóng emà

Nguyễn tư Phương
BUỔI SÁNG Ở “THE SECOND CUP”

anh ngồi với em trong quán cà phê,
“ly thứ hai không cần phải trả tiền”,
bên ngoài mưa trắng đang rơi, chỗ ngồi
hôm nay cũng như hôm qua, sau lưng

cái tủ lạnh, sát bên tường, hai đứa
ngồi bên nhau nhìn ra đường, bên ngoài
ngọn gió rụng từ cành cây bàng, theo
chân người khách quen, lẻn vào quán, ly

cà phê bừng lên vì gặp gió, em
bừng lên khi tay anh bỏ lên đùi,
mình nhìn ra đường, nhưng lâu lâu cũng
nhìn nhau; anh ngồi với em trong quán

thật quen, uống ly cà phê không sữa
không đường, uống ly thứ hai không cần
phải trả tiền, mình ngồi cà rề nói
chuyện hết buổi sáng, bên ngoài mưa trắng

vẫn còn rơi, hừm, hôm nay lại trễ
làm nữa rồi.

Nguyễn Tuyết Trinh
NHỮNG GIẤC MƠ BÊN TRỜI

Giấc mơ đến cùng tôi ẩn náu,
luồn lách giữa linh hồn háu đói,
ham hố tiếp tục đi xa hơn,
dù đi tận nơi đâu bên ngoài

trời rộng, sang tây sang đông, tới
nam và bắc, bước qua triệu triệu
năm huyền ảo, mê ảo cuộc đời.
Những giấc mơ tìm cách vượt thời

gian, bổ sung lên tất cả chân
lý có vết rạn bị đời khước
từ, triển khai hy vọng hun hút
thẩm sâu, hoàn thiện những hạnh phúc

lẩn khuất, hiện thân phối hợp và
tan rã. Những giấc mơ tìm cách
đi tới bên kia thế hệ vô
tận, giải phóng những giấc mơ hoang

tưởng dự trữ từ lâu câm lặng,
han rỉ cùng từng ký ức. Chúng
ta biết gì về những giấc mơ
ở bên kia để có thể xê

dịch chúng với sự bất lực của
đôi bàn tay, để tiếp tục theo
dấu, lọt vào những giấc mơ còn
cư ngụ trong bóng tối, không ngừng

lấp lánh, phản quang sương mù trên
không, có màn che bất tận, để
mơ cho những giấc mơ không có
chỗ trong ánh sáng của thực tại,

mãi mãi, bao la như sáng tạo.

NP
BÀI CA DAO VÀ EM

Ðã một lần em mặc áo mùa Thu
nhưng không tròn vì lá không vàng như
màu áo. Em nhặt vội bài ca dao
theo gió vô tình rơi ngoài cửa lớp.

Sao không làm một bài ca dao nào khác
“Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”
mà lại là bài ca dao làm em

phân vân một thời mới lớn. Ao thu
và sóng gợn. Về nhà đến lớp,
thử liều với những rủi may như một
thao trường bao nhiêu điều học được. Nhọc

nhằn. Bước chân người trước đã qua. Rồi
một lần anh về lại trường xưa, hỏi
gió, bài ca dao để ngoài cửa lớp.
Bâng khuâng nặng trĩu. Từng đám mây tan

hợp. Bài ca dao em nhặt lấy lâu
rồi. Anh trở lại đây, mùa thu lá
vàng, cửa lớp xưa vẫn vậy. Bài ca
dao và em. Mười năm có nhiều đổi

mới. Vạt áo ố hoa vàng ố lá úa. Gót
chân sương đọng giữa mùa. Bài ca dao
còn nguyên trong trí nhớ. Chắc em hiểu
rồi. Bài ca dao đẹp lắm phải không.

Phạm An Nhiên
GỌI MÙA

Buổi sáng tháng mười tôi
đứng, tôi ngồi như chờ
như đợi, sốt ruột chắc
tại mùa thu, gọi nắng

gọi gió gọi lá, gọi
tôi tay vàng khói thuốc,
tóc bạc hơn đã nửa
đầu, chưa thèm nhuộm thèm

yêu em, ừ thì mặc
kệ mùa thu, mùa nào
cũng vậy mà thôi, mây
gọi gió gió gọi lá,

gọi tôi gọi em cả
đời, đó thế giới của
tôi ngồi, đứng và tôi
chờ tôi đợi, gió gọi

lá gió gọi mưa, tôi
gọi em mùa tái sinh …

10032004

Phạm Chung
MỘT THOÁNG TÀN PHAI

Em Hà Nội dấu nỗi buồn phố Cổ
Ngậm ngùi thương, qua mất tuổi xuân thì
Ngày hai buổi, em lầm lũi cô đơn
đi / về phố chật (thương đâu đây dấu

chân người tình đã mất). Những con đường.
Viên gạch. Gốc cây. Rãnh nước. Những mái
ngói rêu phong. Thời gian in dấu trăm
năm. Ngày hai buổi, em hững hờ soi

bóng nước hồ Gươm. Còn đâu kiếm xưa
dựng nước? Dưới những lòng đường ngàn năm
dấu tích tàn phai. Em Hà Nội dấu
nỗi buồn thiên cổ. Triều đại phế, hưng.

Một thoáng sơn hà.

Phạm Việt Cường
KHÓI

Tảng sáng chạy lòng vòng Hồ Gươm
ngờ ngợ cái mùi tôi đã biết
đã hít thở từ thuở đời nào
rồi nhưng chỉ đến khi qua hết

vòng thứ hai ngược xuôi trong sương
mờ chập chùng quá chừng người rảo
bước như nhảy lửa điệu vũ thần
bí quanh ngọn Tháp Rùa nhấp nhá

ánh đèn cổ tích xưa soi vào
lịch sử gươm thiêng mà những kẻ
đứng ngoài không thể nghe trống cơm
trữ tình bập bùng trong gió sớm

mặt hồ bàng bạc hơi thở kinh
thành rồi chỉ đến hết vòng thứ
ba gần tắt hơi chợt nhớ ra
đó là mùi lá chụm đống đốt

đâu đó như những con mắt ngun
ngút đỏ rực năm nào giữa mênh
mông núi đồi Long Khánh hay ruộng
phèn Thái Mỹ hai mươi mấy năm

xưa lúc tuổi trẻ ủ ê chấm
dứt cùng cuộc chiến đẩy tôi vào
một lịch sử dị kỳ buồn thảm
với chiếc túi chạy loạn em may

cho tôi từ vạt áo dài con
gái để bây giờ sáu giờ sáng
tôi biết chờ ai hai mươi giò dài
cao ráo còn chìm trong mộng đẹp

Phan Ðình Ngọc Cẩm
TRONG CƠN SỐT

Trong cơn nóng sốt hầm hập,
tôi thấy mình đôi khi lẩn
thẩn như chiếc bóng quanh quẩn
miệt mài đuổi theo cái khát
vọng, thấy nỗi đau dài bất
tận, những khát khao đợi chờ
không còn nguyên vẹn, méo mó
tê liệt sau mũi kim tiêm
buốt sâu tận cùng da thịt.
Nơi ngực trái, nhịp đập nóng
hổi như bài tình ca hoang
dại. Bàn tay cố bám víu
sợi dây câm lặng vô hình
như gió, tôi thấy mình chạy
trốn giữa đám cây gai góc
xù xì, nhiệt độ trong thân
thể ngột ngạt, miệng khô đắng
linh hồn vùng vẫy. Cơn sốt
còn hành hạ tôi đến bao
giờ khi trong đêm khuya mong
chút nắng, thắp ngọn nến màu
ước mơ nuốt chửng viên thuốc đắng.

Phan Tấn Hải
NGƯỜI ÐỨNG BÊN LỀ

Quay lại, nhìn ngang, chen vào, bị lấn
Thác người xô đẩy, lũ lượt theo
chân, những dòng người sợ hãi dắt dìu,
chen nhau cùng đi, cùng chạy, cùng nhảy.

Những dòng người dày xéo lên nhau trôi
chảy đi như thác như sông – không kịp
nhìn về trước, không kịp nhìn qua bên,
không kịp nhìn dưới chân, có ai sau

lưng thúc tới, có ai trước mặt giục
giã, hò hét. Tôi đứng bên lề nhìn
theo, giữa những trận mưa đá ném sang,
những trận mưa lời chúc dữ bay khắp

trời, khắp phố phường, khắp rừng núi, khắp
đuờng mòn, khắp thung lũng chập chùng, không
lối ra. Không lối ra, tôi dõi mắt
tìm em, đăm chiêu, mơ hồ, mong đợi,

không lối ra, trong nhóm mây tan hợp.
Xin em nhìn ngược ra bên lề, nơi
những người không còn chỗ trên trần gian,
nơi tôi, ngửa bàn tay lên để chờ

xin ơn phước, úp bàn tay lại để
ủ hơi ấm, co ro. Mau một chút,
mau một chút nữa, kẻo thác người lại
cuốn đi, và rồi chúng ta sẽ có

ngày cùng nhắm mắt và nhớ lại phút
giây chạy ra ngoài lằn ranh, mau một
chút nhé, một chút thôi, kẻo rồi mây
tan. Tôi về ngồi khóc, cặm cụi viết

những dòng thơ lên giấy, lên thanh gỗ
bên thân cầu, lên vuông gạch hè phố,
lên kính cửa sổ trước nhà, hy vọng
mơ hồ một hôm thác người lại xô

đẩy em về, tìm thấy chữ tôi giăng
khắp trời, khắp phố phường, khắp rừng núi,
khắp đuờng mòn, khắp thung lũng chập chùng,
không lối ra, và tôi ngồi giữa những

núi chữ, những núi chữ, những núi chữ.
Nhưng đã trễ, trang giấy một thời ai
đã xé, thanh gỗ bên cầu đã gãy,
và vuông gạch đã vỡ, còn tôi đang

nhặt lại từng mảnh kính vỡ, ghép lại
từng mảnh kính, chữ vỡ, và em hồn
sơ nguyên của tôi nơi đâu, nơi đâu.
Tôi đang đứng bên lề, bên lề…

Phan Thị Trọng Tuyến
NHỮNG HẠT CƠ HÀN*

thứ hai, tôi thấy em đang leo ngược
dốc. Lưng nhỏ cong mềm vai oằn quang
gánh. Em hồn nhiên : ấy nghiệp dĩ mẹ
cha. Thúng thiêỳn bên này, bên kia thúng
ác. Thiên hạ xếp hàng hò reo mắng
nhiếc. Trải khăn, ghế, nướng thịt cùng píc
níc. Ai gánh gánh, ai ăn ăn. Em
độ lượng gật gù. Tôi cúi mặt băn
khoăn. Quay lưng, mò tìm sandwich, gặm

thứ ba, tôi thấy em vẫn leo ngược
dốc. Lưng nhỏ vẫn cong môi hồng cười
nụ. Thiện ác đôi bề vẫn nặng như
nhau. Vẫn kẻ đứng ngồi khen chê quang
quác. Thiện ác gì đâu em Sisyphe
mùa chứng khoán, vĩ /vi mô. Tri /trí
thức. Toàn cầu. Dân tộc. Mô hình. Kiên
định. Quyết tâm. Em lặng lẽ thêm: buồn
vui/ giận dỗi. Oán hận/ li khai. Hạnh
phúc. Ngụy Chân/ Nam Bắc. Leo. Thôi mặc
em, tôi giận đứng bên lề. Nhăn nhó.
ừợ, em. Leo, leo đi, cho hết kiếp!

thứ sáu / bảy, tháng giêng/ tư, trời khô/
ướt. Vẫn là em leo ngược dốc đời
ai (tôi?). Quang gánh dồn vào một túi
đèo trên lưng. Mắt tròn gân máu đỏ
mùi điên dại. Miệt mài. Bền bỉ. Leo.
Không nhìn lên, em hết hồn nhiên
ngó tôi đang đếm mắt sau lưng tim
trên tay, héo. Tháng chín tháng mười rồi

năm rồng năm chó. Em. Ðội núi. Chân
không, leo ngược dốc. Nhịp bước chẳng đều,
môi răng mím chặt. Người xuống núi mãi
kinh doanh địa ốc. Dịch vụ công đoàn,
khuyến mãi, đầu tư. Kim ngạch. Dốc đứng,
em ơi. Stop! Hồng Kông. Paris.

Vladivos tok. Sài Gòn. Hà Nội.
Biển Hồ. Băng Cốc. Kệ. Vẫn em miệt
mài, leo, nhặt nhạnh. Những sự đời – nhất
thiết phải nằm chung – Và không cần ai
đếm xỉa. Làm sao, cho em thấy tôi
cũng là càn khôn. Hạt bụi khôn! Xỉa
giùm tôi hạt bụi. Ngước nhìn kia, em
ơi: ồ đỉnh dốc. Ðến rồi em, hãy
dừng chân trút gánh. Xuống phố cùng ai
(tôi?) nghe Steve Tracy thổi saxo,
xem Pina Pausch nhảy flamenco.
Zidane đábanh. Williams làm Vệ
Nữ. Em cùng tôi vỉa hè Hàng Xanh
say mèm đặc sản. Em cườiạ tôi ngốc
nghếch: không, đỉnh dốc còn xa, và em
vẫn còn nặng nghiệp. Tôi cười tôi không

biết ngỏ tình tôi. Tôi là em và
em cũng là tôi… Không chọn nghiệp, chẳng
muốn làm Sisyphe. Không gánh nợ đời
giùm cho ai hết. Là những hạt cơ
hàn (bản?), tìm nhau. Mơ một từ trường,
quyện thành một khối. Yêu. Bất kể chuyện
toàn cầu bản sắc. Hãy gượm. Em ơi.
Chờ tôi khăn gói. Cùng leo. Kệ người
Dốc cũng leo. Nên nhiều Sisyphe
bình an đứng ngó. Bình an đứng ngó.
Bình an đứngà ngó.

8.2002
Thương gửi Khánh Trường
* Nhại tựa Les particules élémentaires (Houellebecq)

Quốc Sinh
ỐM

Phở ngã tư Ðề Thám là ngon nhất
và ly chè kem Cung Ứng là ngon
nhất, phải không H ơi. Khi chúng mình
ở bên nhau thì chút ngọt cay nào

cũng đều thành ngon nhất. Buổi chiều ghế
đá công viên cho đôi lứa rủ nhau
đến ngồi, con sóng Ðá Chồng nửa đêm
thức giấc, hoa trái chợ Ðầm ban mai

hương mật. Anh trông lên hướng bắc thấy
lưng chừng mây núi Bà Nằm suốt đời
xõa tóc, anh ngó xuống đằng nam thấy
biệt thự Cầu Ðá đứng lẫn vào cây.

H ốm làm chi mà lặng im như
núi Bà Nằm suốt một đời xõa tóc,
H ốm làm chi mà căn phòng u
buồn như ngôi biệt thự chìm vào cây.

Ðể anh chạy lên Long Sơn Tự kéo
một vạn hồi chuông, thắp một vạn bó
hương cầu xin cho gương mặt em tươi
hồng trở lại. Anh nhớ mấy lúc em

cười như sóng vỗ bờ thơ dại, anh
nhớ mấy lúc em dang tay reo như
hải âu bay giữa bầu trời. Rồi anh
lại đưa em đi chơi đưa em đi

chơi, cùng đứng bên thềm cầu Bóng cùng
đứng dưới chân Tháp Bà, cùng lang thang
ven biển trăng vàng óng, kỷ niệm lại
nồng nàn nồng nàn trước lúc chia xa.

Một thời lang thang, yêu iếc và mệt mề ở Nha Trang,

Quỳnh Thi
NGƯỜI NỮ TU

Trong nhà dòng im lặng những tiếng
hát lẫn câu kinh lời nguyện thường
ngày vắng bặt. Không gian nặng nề
trùm phủ. Mới giải phóng được một

năm, thời gian dài đằng đẵng. Công
việc của Ly ngưng nghỉ đột ngột.
Trường học của nàng được bàn giao
cấp thời cho nhà nước. Ly chẳng

biết phải làm gì, chỉ âm thầm
cầu nguyện lẫn than khóc. Mẹ bề
trên thì bảo là ý Chúa! Tất cả
các masoeur đi học tập được

khuyến cáo. Tu sĩ phải hồi tục
kể cả các nữ tu. Sự nghiệp
giáo dục chỉ dành cho đảng viên
nhà nước. Muốn đi tu lý lịch

cũng phải xét duyệt ba đời! Thật
là một cuộc cách mạng vĩ đại.
Cơ sở nhà dòng bị chiếm đoạt
gần hết. Mà không phải, nói thế

là có tội, không đúng chủ trương.
Giêsu Maria nhà dòng
tự nguyện bàn giao đấy chứ, có
ai cưỡng bức phải giao bao giờ

đâu. Còn Ly bây giờ biết về
đâu? Nhà cửa của gia đình bị
tịch thu. Má và các em đi
xây dựng vùng kinh tế mới, còn

ba thì đi cải tạo. Ba Ly
là nhà thơ. Suốt đời ông có
làm gì ác đâu. Nhà Thơ là
người gieo vãi những hạt mầm yêu

thương và nhân hậu, khờ khạo như
một thánh nhân vừa rời nước Thiên
đàng của Chúa. Tội nghiệp, không hiểu
ông sống làm sao trong nơi chốn

được mô tả đói khổ vô cùng
khủng khiếp! Ly khóc than xin Mẹ
bề trên ở lại. Thế là nàng
sống “chui “ cùng với các sơ già

bằng mấy sào ruộng được cấp phát.
Ngoài việc canh tác trồng tỉa Ly
được giao chăn nuôi heo, bò cực
nhọc. Hồi nhỏ chàng ở gần nhà

Ly. Thủa hai trẻ qua lại thân
thiết. Nay gặp nàng. Hai người trong
hai tư thế khác nhau ở tuổi
trưởng thành. Nàng đã là nữ tu

còn chàng vẫn còn là một lãng
tử phiêu bạt. Họ nói ít hơn
là im lặng. Những kỷ niệm thơ
dại tiềm thức hiện về… Bất chợt

chàng nắm lấy tay Ly. Tay nàng
lạnh ngắt dù ngoài trời đang nắng
ấm. “Em còn tu mà anh. “Chàng
buồn rầu buông tay ra. “Cho anh

xin lỗi .” Chỉ vậy rồi Ly đạp
xe đi, nhưng hồn Ly đã đậu
lại trong ánh mắt chứa chan đau
đớn của chàng, chiếu dõi theo từng

nhịp chân đạp đạp thong thả, tội
nghiệp. Ly cứ cúi đầu gió bay
tóc xõa như hoa, môi rung rung
những hạt nước mắt chảy đều nhạt

nhòa đất trời, tim nàng thì rạo
rực, nhịp đập dồn dập muốn vỡ
tung hân hoan lẫn ngân vang sợ
hãi. Ly biết đâu, chàng đứng lặng

đã lâu, lòng se thắt, tay vân
vê trong túi áo ngờ nghệch, thương
cảm. Lần trước chàng gặp Ly đi
cắt cỏ cho bò nhà dòng, vai

nặng trĩu, gánh cỏ gánh đời. Nàng
vừa hạ gánh xuống ngồi nghỉ trên
một gốc cây khô ven đường. Tình
cờ chàng đi ngang qua. Bồi hồi

thấy người con gái mảnh mai, nét
đẹp qúi phái. Dừng chân lại chàng
nhận ra Ly. Lòng trắc ẩn ngậm
ngùi người nữ tu. Cô bé năm

nào… Chàng Nói. “Masoeur để con
gánh dùm một quãng. “Ly lấy tay
quệt mồ hôi nhễ nhại khuôn mặt
ửng lên mầu hồng kinh ngạc e

lệ. Nàng líu ríu nói cám ơn
rồi vội vàng như có ai thúc
giục hay xô đuổi, hấp tấp cất
gánh đi như chạy mong biến khỏi

gã trần tục ngọt ngào đáng khao
khát như ly nước mát ven đường
chưa kịp uống. Ði nhanh được một
quãng nàng té xấp xuống mặt đường.

Không rõ vì gắng sức hay vấp
phải vật cản gì. Phản ứng tự
nhiên chàng chạy nhanh lại đỡ nàng
lên, nhưng nàng đã ngất xỉu. Chàng

ôm thốc bế nàng chạy nhanh về
phía nhà dòng để được cấp cứu.
Bẵng đi dễ đã dăm năm, hôm
nay tình cờ gặp nàng đạp xe

xuống phố. Hình ảnh người nữ tu
khổ hạnh và bóng dáng cô gái
nhỏ thương mến năm xưa quyện lẫn,
xen nhau làm chàng trai bồi hồi

khôn xiết.

Thiện Hiếu
THẤY

Tôi như một ngôi sao đã tắt hằng
triệu năm trước đến bây giờ còn muốn
thấy mặt trời… dù mây che hay đêm
tối để lúc ta yêu nhau có hoa

nở bên tường… có chiếc lá non rung
rinh hạnh phúc. Tôi như ngôi sao đã
tắt hàng triệu triệu năm đến bây giờ
và mai sau còn mong thấy được mặt

người dù cho bão tố phong ba hay
chiến tranh cốt nhục có xảy ra lần
nữa… lần nữa. Tôi như ngôi sao đã
tắt hàng triệu triệu triệu năm đến bây

giờ cũng tắt luôn nguồn ánh sáng thừa
nếu không được nhìn thấy mặt người… mặt
con người…

Sàigòn 18-9-03

Trà Ðóa
CUỘC SỐNG TỐT LẮM RỒI!

Ừ, cuộc sống tốt lắm rồi
cằn nhằn làm gì nữa thêm
phiền. Hồi trước không có ăn,
bây giờ… ừ tốt thật rồi,

tốt quá đi mất anh ạ,
nhà em tết này uống bia
lon hẳn hoi đấy. Ừ tốt
thật lắm rồi, em còn mua

được cả một cái váy si
da Mỹ (hàng hiệu) đấy nhé.
Ừ tốt không thể tả nữa,
đến mẹ em còn không tin,

bà cụ cứ thắt mắt nhìn
bịch lạp xưởng và cái áo
ấm em mới sắm. Tội nghiệp
bà cụ… tốt quá đi mất…

Tốt thật đấy anh ạ, tốt
hơn những gì em mơ tưởng,
tốt quá đi mất, tốt thật
anh ạ, tốt không thể ngờ…
Ðầu xuân Aãt Dậu

Trầm Phục Khắc
HÁT NÓI

Phần mềm mại ẩn dưới phong thư của
một người đàn bà gởi cho một người
đàn ông, báo tin bà đã đến được
bến tự do. Người đưa thư dán chồng

lên phong thư một địa chỉ mới, cố
bắt cho kịp người đàn ông vừa dọn
khỏi chung cư. Nhưng người đàn ông dù
có đủ thì giờ cũng không thể nhớ

ra được những gì mình đã nói với
người đàn bà nơi bến xe của mười
lăm năm trước. Nhưng người đàn bà vẫn
gởi đi những lá thư như những lá

thư của mọi người đàn bà được gởi
đi từ khắp mọi nơi trong suốt bao
đời nay. Kể từ khi người đàn bà
đầu tiên biết viết. Kể từ khi người

đàn bà đầu tiên dám viết. Chỉ có
người đàn ông mới biết được mình muốn
làm những gì mình muốn làm và những
gì mình không muốn làm. Cũng như chỉ

có người đàn ông mới biết được mình
muốn nói những gì mình muốn nói và
những gì mình không muốn nói. Khi người
đàn ông tiếp tục không nói những gì

mình muốn nói và làm những gì mình
không muốn làm, thì người đàn bà vẫn
tiếp tục gởi đi những lá thư (cho
một người đàn ông khác) để báo

tin về một câu chuyện (khác) liên quan
đến những gì đã được nói ra ở
một nơi chốn (khác). Thì người đưa thư
vẫn tiếp tục dán chồng những địa chỉ

mới lên phần mềm mại của một người
đàn bà gởi cho một người đàn ông.

Trần Kiêu Bạc
NHỚ VỀ MỘT NƠI TƯỞNG ÐÃ QUÊN

Vẫn là Cư xá cũ sót trong
tận cùng nỗi nhớ nhỏ nhoi còn
lại. Vẫn là Cư xá của thời
còn đi học năm nào. Cổng nhà
ai màu xanh, sân nhà ai màu
xám! Hai cô bé tên Mỹ và
Phương bây giờ xa nhau rồi! Còn
không những ngày không thể xa nhau
mà bây giơ lại khó gần nhau?
Cô Bé ở Gò Vấp làm sao
gặp ngươì bạn bên Ðức được? Cô
Bé bên Ðức về, đem đi thật
nhiều thứ nhưng không đem được bóng
bạn mình ngày xưa còn in sân trương
cư xá Lữ Gia. Vẫn cư xá,
một tình bạn. Vẫn cư xá, một
cách xa! Cổng rào đã đóng, con
hẻm còn nguyên như tình bạn lâu
nay vẫn giữ từ hai phía! Nói
về Lữu Gia như nói về một
độ sâu khó quên của tình bạn.
Một thời tuổi xuân, lòng còn bóng
hình tưởng như đã mất. Vàng son
một thuở, vàng son một quá khứ
là vàng son của một cư xá
mãi thân quen và mãi cách xa!

Trần Nguyên
CHƠI PING PONG

Chiều chủ nhật, tôi có hẹn, chơi
ping pong với cháu. Thằng bé bảy
tuổi theo tôi lẳng nhẳng, “dì Năm,
dì Năm có muốn chơi ping pong

với con không?” Tôi ậm à ậm
ừ, dì Năm không biết đánh ping
pong. Thằng bé hớn hở, “con dạy
dì Năm.”, “Thế thì còn gì bằng.”

Tôi nhìn nó khuyến khích. “Dạy dì
Năm với nhé.” Thế là tôi có
hẹn, chiều chủ nhật đánh ping
pong với cháu. Không thể chạy làng.

Không thể phủi. Không thể cho nó
leo cây. Phải giữ lời hứa. Thằng
bé trông ngóng cả tuần. Tối thứ
sáu còn gọi nhắc. Dì Năm nhớ

lên nhà con đánh ping pong nhé.
Ôi trời, cả tuần vật vã với
việc làm, việc nhà, việc (ống) nước,
việc (trái) non, tôi gần quên lửng

cái hẹn thắm thiết thân tình. Lại
ậm ự ầm ừ, nhớ rồi, nhớ
rồi, dì Năm sẽ lên để con
dạy đánh ping pong, nhưng, có thể

dì Năm đến trễ. Giọng thằng bé
vui sướng, con đợi, con đợi. Ôi,
phải có người biết, hay chịu nói,
‘…đợi, … đợi’ bằng giọng thành khẩn như

giọng thằng bé thì tôi đã không
người dõi hướng Bắc kẻ vời phương
Nam. Ðàn ông, lũ trẻ con đầy
hứa hẹn và ưa hứa hẹn. Cũng

không thành nếu không có đàn bà,
lũ con gái thích nghe, chịu nghe
và (lựa chọn không hoặc có) nghe.
Tôi lừa thằng bé chạy lên chạy

xuống ngang dọc đuổi theo trái banh,
miệng trẻ ngây thơ, dì Năm đánh
càng lúc càng hay, con là thày
giỏi biết dạy nên có trò hay.

Tôi không biết tôi có là trò
hay nhờ thày giỏi như lời tuyên
bố không biết ngượng của thằng cháu
bảy tuổi, rất tiêu biểu đàn ông,

hay tôi chỉ giỏi vờ khi muốn
hưởng trọn buổi chiều lạc thú chơi
với cháu thong dong tuổi thơ không
xa vời thế nào là người lớn

nghiêm trọng và trẻ con thì không
đáng để nghe. Buổi chiều chơi ping
pong với trẻ mới đích thực là
hạnh phúc.

07/03

Trần Thị Minh Nguyệt
CHO ÐẾN KHI NGỪNG THỞ

Ngán ngấy cái nhìn gầm gừ của
tên chủ và căn apartment như lò
bánh mì, tôi thèm ôm rừng – nhớ
gió, đói ngàn ngọn cây xanh, tương

tư chim véo von. Ðược mời đi –
anh phóng xe như điên – cắn
răng giữ tim không rớt trên freeway
mong anh đừng biết tôi đang đổi

sợ hãi, mạng sống lấy hạnh phúc phía
trước. Ðam mê đổi mọi thứ có
được để lấy hạnh phúc
dù chưa hề giữ được hạnh phúc.

Hôm kia tôi là nước trôi tuột
anh hứng giữ chút mượt mà, nhâm
nhi, thưởng thức và mất ngủ. Hôm
qua tôi là chiếc hôn sâu, rất

thật ở tuổi 45, anh ngã. Hôm
nay tôi là cơn đói thế kỷ
không biết chán không biết no không
biết dừng, cho đến khi ngừng thở .

tháng 9 / 2003

Trần Tiến Dũng
XỨ SỞ CÚI XUỐNG

Lại chảy vào lồn giấc mơ hoa
trắng. Cánh đồng, tiếng chim, gương mặt
ngày và đêm. Chảy màu trăng! thứ
ánh sáng mà chúng ta gặp nhau

cái miệng, bàn tay, lông và mùi
khoảng lời tình và tiếng rên được xoá.
Hiện hữu? cầm lấy cu anh đây!
ấm và đầy. Thịt da rất nhẹ

cho chuyến trở về, cho cái nhìn
phác thảo hình hài khác, sinh sôi
giữa khoảng cách chết là mùi hoa trắng.
Hãy quên chuyện: anh một đời giữ

cu không trầy xước. Cách nào! cu
hoàn hảo luôn luôn ngẩng lên, màu
trăng biết bí ẩn đó. Cách nào
giấc mơ anh không tì vết. Gió

mở nồng mùi lửa, thân thể anh
và em lại hát. Cách nào! hãy
quên chuyện cách nào tinh trùng của
anh quyến rũ cả trăng. Hiến sinh

những tia sáng. Xứ sở anh cúi
xuống, lại chảy vào lồn giấc mơ
hoa trắng. Anh thấy anh, đứa trẻ
chạy trên đồi.

Tháng 3- 2004

Tunisia
ÐÀN GÀ VÀ LŨ CON

Cô bé quê nhớ từng đàn gà mà
cô đã chăm sóc, từng đàn gà, từng
đàn gà chạy chơi trong sân. Nhưng đàn
gà lớn lên, đi đâu không biết. Mẹ

bảo đàn gà trở về chốn cũ. Rồi
cô bé quê trở thành cô gái quê.
Cô gái quê không còn nhớ đến đàn
gà chạy chơi trong sân vì cô mải

tơ tưởng đến người trai quê. Rồi người
trai quê đến, cho cô niềm hạnh phúc
lẫn lam lũ với đàn con. Cô gái
quê thành bà mẹ quê. Bà mẹ quê

nhớ từng đàn gà, từng đàn gà chạy
chơi trong sân như nhớ từng đứa con
mà bà ấp ủ. Từng đàn gà và
lũ con rồi cũng bỏ bà đi. Chỉ

có điều bà biết, đàn gà không trở
về chốn cũ như mẹ từng nói, còn
lũ con đang đi lại con đường bà
đi, cũng với từng đàn gà, từng đàn

gà chạy chơi trong sân.

Việt Hà
NGƯỜI ÐÀN BÀ GIỮA SÂN GA

(Mến tặng Thủy, cô gái mới quen)

Hành trang của em là một chiếc
vali nhỏ, em mở ra khoe, tôi
chẳng thấy gì ngoài mấy bộ quần
áo và một vài tư trang cá

nhân. Em bảo tiền bạc tùy thân
em chẳng có, nhưng chủ quán đóng
cửa rồi nên em buộc phải ra
đi. Tôi nhìn em sách chiếc vali

trên tay, nước mắt vòng quanh rồi
lầm lũi bước, tôi biết tương lai
của em chẳng ai định được. Tôi
hỏi: Em đi đâu? Em cười chua

chát: Em tìm đến nơi nào nhận
em, có việc. Em kể: con gái
của em ở nơi xa, hàng tháng con
em đều mong mẹ gửi quà về.

Tôi đoán chắc con em chưa biết
mẹ mất việc, và đang thơ thẩn
một mình giữa sân ga. Em qua
Ðức bốn năm và cũng bốn năm

phải sống cảnh i – lle – ga(1), nơi
nào nhận em thì nơi đó chính
là nhà. Hàng ngày phải em chắt
chiu, đếm từng Cent nhỏ để em

gửi về nuôi một đứa con xa.
Em còn kể: Con em đang học
cấp ba, trường học của con cách
xa nhà. Em hứa tặng con xe

đạp mới, nhà nghèo, nên em thân
gái phải bôn ba. Ðã bốn mùa
Xuân em đi xa. Xuân đến năm
nao em cũng có quà gửi về

cho con. Năm nay chủ quán đóng
cửa nên em mất việc, và bây
giờ một mình đứng trơ trọi giữa
sân ga. Tình cờ tôi được gặp

em giữa sân ga, nhìn em đôi
mắt quầng thâm, lệ ướt nhòa. Tàu
chở em đến miền vô vọng, bao
giờ em sẽ tới được sân ga?

2004

Ghi chú: illega: sống bất hợp pháp

Vũ Huy Quang
LÀM THƠ CŨNG PHẢI CÓ DÂN CHỦ

Thế này thì chết. Thế
này thì tôi cũng đến
chết. Thơ, nghe nói là
có một bọn chuyên môn
làm thơ dở. Kể ra
đọc thì cũng hiểu chứ
không phải là không. Nhưng
mà đọc riết rồi cũng
nhập tâm. Thành ra tôi
lại cũng làm thơ Tân
hình thức. Có điều vừa
làm thơ tôi lại vừa
tưới cây. Vừa làm thơ
vừa tưới cây. Lại vừa
cười tủm tỉm. Vì làm
thơ cũng phải có dân
chủ.

7/01
Vườn Sau, viết trên trang tám TC Thơ số mùa Thu 2001.

Xích Long
ÐÔI MẮT LÝ TIỂU LONG

Ðôi mắt sắc như hai thanh bảo
đao nằm xếch hiên ngang như cười
nhạo một thế gian thiếu nét nhiệm
màu của những ngày xưa tiếu ngạo.

Nếu đôi mắt là cửa sổ tâm
hồn thì đôi mắt ấy là hai
cánh cửa hướng về biển lớn, lung
linh u buồn. Nỗi đau nào trên

mi rờn rợn mà đôi mắt càng
nhìn càng dữ tợn? Ðôi mắt sắc
– hai đường đao tuyệt kỹ chém rụng
khối tình si nên tôi yêu người

như An Lộc Sơn yêu Dương Quý
Phi, chỉ ngọn cờ bất kể chết
là chi, đổ quân lực chiếm Trường
An rước mỹ nhân về! Hỡi đôi

mắt xô ta vào cõi nhớ, đôi
mắt lai Tàu sắc sảo, ngây thơ
có bao giờ liếc nghiêng về một
thuở có một cô nàng yêu đến

đất trời vỡ lở một đôi mắt
Lý Tiểu Long xưa?

Ý Liên
ÐÊM VÀ GIẤC MƠ

Ðêm vẽ lên bóng tôi những ngọn đèn
sáu mươi watt, người đọc tin tức về
khuya không mỏi mệt, tôi và những ngón
tay kiên nhẫn thầm thì chuyện trò cùng

máy vi tính. Ngày thở vào giấc mơ
tôi, bóng mát con đường nhỏ thơm hương,
biển vỗ sóng. Mặt trời rơi trong nước,
xanh ngan ngát. Miền tôi đi qua, có

tiếng cười thủy tinh của bạn đồng hành.
Rất lạ như tiếng mưa rơi róc rách.
Rồi bốn mùa thở qua đời tôi, những
cành uấ t kim hương thứ nhất kiêu hãnh

trên sân vừa khô tuyết, lẳng lơ như
hoa poppy rộ nở, vào xuân, những
cánh hoa jacarda mơ mòng phơn
phớt, tím con đường mùa hạ. Thơ, rủ

nhau trên lối về, mặc cả với những
chiếc lá phong và hoa cúc nhuộm vàng
vạt áo mùa thu khi hoa poinsetta
mặc áo len đỏ thẫm mùa đông. Thức

giấc theo những cụm mưa, vỡ xào xạt
dưới chân những vòi hoa sen, tôi như
ngọn cỏ, tươi mát đẫm ướt sương đêm,
quên nắng, quên mưa, tuyết, dị ứng, và

cảm cúm. Có một niềm vui trong vắt
theo người bạn đồng hành xa lạ xuyên
vào giấc mơ tôi, bất ngờ từ một
thành phố có nhiều cây xanh chưa hề

gặp.

April 28-2000

Thể lệ Cuộc thi thơ Tân hình thức

Remembering Rabindranath Tagore and His Wise Words

GIẢI THƠ THƯỜNG NIÊN
(Được khởi xướng bắt đầu từ Báo giấy số 2)

oOo

1. MỤC ĐÍCH:

– Tìm kiếm nhịp điệu và cái hay mới của thơ Tân hình thức.

– Tìm kiếm giá trị của ngôn ngữ đời thường trong thơ Tân hình thức.

2. ĐỀ TÀI:

– Tác động xã hội trong hòan cảnh đổi thay (kinh tế thị trường, tòan cầu hóa và thời đại thông tin đại chúng) đối với đời sống chúng ta hiện nay.

3. THỂ LOẠI:

– Chuyên thơ Tân hình thức. – Tác phẩm dự thi phải sáng tác theo đúng những thể thơ căn bản Việt Nam như 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ và lục bát không vần. – Tác phẩm dự thi phải vận dụng những yếu tố thơ Tân hình thức trong sáng tác, bao gồm: Vắt dòng, tính truyện, kỹ thuật lập lại (nhịp điệu) và ngôn ngữ đời thường. – Chú tâm vào nhịp điệu và ngôn ngữ đời thường. – Những sáng tác mang âm hưởng vần điệu hoặc ngôn ngữ khó hiểu và tính không liên tục của thơ tự do đều bị loại trừ. – Người dư thi phải viết một đoạn ngắn về phong cách hoặc những trải nghiệm qua tiến trình sáng tác thơ Tân hình thức. – Tác phẩm dự thi chưa đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng; chưa xuất bản sách và phổ biến dưới mọi hình thức.

4. Ý NGHĨA GIẢI THƠ TÂN HÌNH THỨC
Giải thơ Tân hình thức là hành trình đi tìm kiếm thơ, thay thế cái hay cũ bằng cái hay mới. Điều này cũng có nghĩa là đi tìm kiếm một thế hệ mới. Bởi một nền thơ không có thế hệ kế thừa thì chỉ là nền thơ đang thời suy tàn. Nhưng nếu lập lại và nằm mãi trong bóng rợp của cái hay cũ thì thế hệ đó vẫn chưa hiện hình. Giải thơ làm hiện hình một thế hệ mới, và phát hiện thế giới mới trong một thế giới đã rất cũ trong mỗi người chúng ta. Game điện tử hấp dẫn thế hệ trẻ hơn trò chơi ngôn ngữ và lý luận của thời quá khứ, vì vậy thơ cần những nhà thơ có tài năng và những bài thơ hay, bắt người đọc phải đọc. Giải thơ nhằm hồi phục nghệ thuật đã mất và tinh thần nhân bản của thơ trong một thế giới đầy tính cực đoan và bạo lực, hậu quả của những trào lưu tiền phong và ý thức hệ của thời hiện đại. Giải thơ Tân hình thức không phân biệt giới tính, tuổi tác, trong ngoài.
(*) Xin tham khảo thêm: “Vũ Điệu Không Vần” trong https://issuu.com/home/published/vu_dieu_khong_van_p1 và website: https://thotanhinhthucviet.vn/

5. ĐỐI TƯỢNG DỰ THI:

Các nhà thơ chuyên và không chuyên nghiệp, cùng mọi tầng lớp nhân dân hiện sống, làm việc ở trong hoặc ngoài nước Việt Nam. Mỗi tác giả dự thi không quá 10 tác phẩm được bình xét (tác phẩm thường là 1 chùm thơ không quá 5-10 bài) và chỉ ghi 1 (một) tên thật (hoặc bút danh) cho 5 tác phẩm. Các bài bị loại ra tác giả được phép thay thế bằng các bài thơ khác sao cho đến khi chùm thơ được BBT và bạn đọc đánh giá là đạt và hay nhất.

Mọi ngừơi đều có quyền gửi bài dự thi. Thơ Tân hình thức có những tiêu chuẩn (*) đánh giá rõ ràng, đó là những bài thơ có nhịp điệu (rhythm) độc đáo và lôi cuốn, cùng những ý tửơng trẻ trung, mới lạ, thể hiện đựơc những sinh động trong đời sống chung quanh, hoặc với chủ đề “Thơ Tình và Các Chủ Đề Khác”. Như thế thơ của người này không thế giống thơ của người khác, và mỗi người có thể dự thi nhiều lần, nhưng mỗi bài thơ phải khác nhau về mọi mặt. Đó là một thách đố cho những nhà thơ Tân hình thức.

6. QUY ĐỊNH CHUNG:

– Tác phẩm dự thi đăng trực tiếp vào mục GỬI BÀI của Diễn đàn. Đã gửi cho Giải Thơ, đừng gửi cho các diễn đàn khác. Trong trường hợp tác giả nào không có điều kiện gửi bài trên Diễn đàn có thể gửi Tác phẩm cùng về 3 email: tapchitho2022@gmail.com | thotanhinhthuc@gmail.com | info@thotanhinhthucviet.vn

– Phần trên mỗi tác phẩm ghi tên thật (hoặc bút danh – một trong 2 đều được) để lại email để Ban tổ chức tiện liên lạc. Tác giả chịu trách nhiệm về tác phẩm dự thi nếu có khiếu nại.

Tác phẩm dự thi cũng đựơc tuyển chọn, sau khi được BBT và bạn đọc đánh giá sẽ được chọn đăng trong mục thơ Tuần trên diễn đàn và xem xét đăng trên website, nếu được tuyển chọn là những bài hay nhất tháng sẽ được đăng trên báo thơ xuất bản hàng tháng, các bài dở sẽ bị loại ra dần khi tới quý, được đánh giá theo thứ hạng từ trên xuống và in thành tuyển tập sau đó trong 1 năm. Các bài thơ và chùm thơ hay nhất sẽ được xem xét trao giải theo từng quý và năm.

– Ban tổ chức có quyền hủy bỏ kết quả và thu hồi giải thưởng nếu tác giả vi phạm thể lệ cuộc thi.

7. GIẢI THƯỞNG:

Giải thưởng hàng quý:

  • Một giải duy nhất: là 3 số báo in gần nhất + hiện kim khi nguồn tài chính của quỹ phát triển thơ được dồi dào

Giải thưởng hàng năm:

  • Một giải nhất: hiện kim 10.000.000đ + phần thưởng 12 số báo in của năm + tuyển tập thơ của năm
  • Một giải nhì: hiện kim 6.000.000đ + phần thưởng 12 số báo in của năm + tuyển tập thơ của năm
  • Một giải ba: phần thưởng 12 số báo in của năm + tuyển tập thơ của năm

<

p style=”text-align: justify;”>(Các giải thưởng mang tính tượng trưng, có thể nhiều hoặc ít  hoặc không có giải, giá trị giải thưởng không đồng nghĩa với giá trị tác phẩm, giá trị giải thưởng sẽ tăng khi có các nhà tài trợ ủng hộ cho quỹ phát triển báo giấy thơ đọc trên báo in – Poetry Journal in sprint và phụ thuộc phần lớn chất lượng thơ tham dự có đủ điều kiện để trao giải)

<

p style=”text-align: justify;”>8. HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO: dự kiến Lê Hưng Tiến, Phạm Quyên Chi, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Trầm Phục Khắc và Nguyễn Lương Ba.

9. THỜI GIAN VÀ NƠI NHẬN TÁC PHẨM:

a) Thời gian: Các bài thơ nhận được trong năm 2020 và các năm tiếp theo – Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm trường hợp thư bị thất lạc.

b) Nơi nhận tác phẩm: đồng thời gửi về hộp thư baogiaytanhinhthuc@gmail.com; info@thotanhinhthucviet.vn 

10. THỜI GIAN TRAO GIẢI:

Dự kiến 1 năm có một giải khi nhận đủ thơ từ các tác giả.


Thơ Tân hình thức Việt là một dòng thơ mới, vì vậy, để giúp cho các thành viên thuận lợi hơn trong việc sáng tác, đây là một vài góp ý:

“Trước khi sáng tác, phải chọn chủ để bài thơ, sau đó qua chủ đề (theme) chúng ta chọn giọng thơ (tone) cho phù hợp với chủ đề. Giọng bài thơ là cảm xúc biểu lộ của tác giả qua chủ đề bài thơ, còn tâm trạng (mood) là cảm xúc người đọc tiếp nhận qua giọng của bài thơ.

Ý tưởng đưa tới phương cách tìm kiếm chủ đề sáng tác Nhịp điệu đưa tới cách làm thơ.

Tìm kiếm chủ đề: Thơ Tân hình thức Việt đi vào đời sống, vì vậy cách tìm chủ đề sáng tác dựa vào mọi nguồn kiến thức. Với phương tiện google, nhà thơ dùng những chữ, nhóm chữ, mệnh đềcâu, liên hệ tới chủ đề và tình tiết bài thơ, để tìm kiếm những tài liệu nghiên cứu, những câu truyện có thực trong đời sống, qua những bản tin, phóng sự, video trên internet.

Cách làm thơ: “Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, người làm thơ đọc thầm trong đầu, phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ, để tạo thành nhịp điệu.” Vì vậy, phải theo đúng cách sáng tác thơ Tân hình thức, tuyệt đối không viết một đọan văn xuôi trên giấy, đếm chữ xuống dòng, mà chỉ ghi lại khi bài thơ đã xong (để hiệu đính và tiếp tục hoàn chỉnh), hoặc ghi xuống từng câu để khỏi quên, trước khi tiếp tục những câu thơ khác. Vì tiến trình làm thơ Tân hình thức là đọc thầm trong đầu, chứ không phải dựa vào cây viết và tờ  giấy. Hơn nữa, kỹ thuật lập lại của thơ Tân hình thức Việt phải nương theo giọng bài thơ, mới tạo ra được nhịp điệu tự nhiên (hay giọng điệu), và mỗi bài thơ có những giọng điệu khác nhau. Có như thế, chúng ta mới nối kết những câu thơ với nhau bằng hơi thơ, nhịp điệu mới gắn bó tự nhiên với ý tưởng.


SÁNG TÁC THEO CÁCH LÀM THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT


“Thơ Tân hình thức Việt kết hợp những yếu tố của thể luật và tự do, sáng tác với cả hai bán cầu não phải và trái. Cũng cần nhắc lại, thơ thể luật (vần điệu) sáng tác nghiêng về cảm xúc với bán cầu não phải, còn thơ tự do nghiêng về lý trí là loại thơ trí tuệ, với bán cầu não trái. Thơ Tân hình thức Việt phối hợp cả hai, giữa cảm xúc và trí tuệ, và nhịp điệu thơ là chiếc cầu nối. Trong não bộ, bán cầu não phải và trái được phân chia bởi mạng kết nối Corpus callosum. Người có Corpus callosum lớn có thể truyền tải dễ dàng dữ kiện giữa bên phải và trái não. Câu hỏi đặt ra, bán cầu não phải thuộc sáng tạo, còn bán cầu não trái thuộc phân tích, lý luận, nhưng tại sao tác phẩm sáng tạo lại đòi hỏi sự phối hợp của cả hai? Cái biết (ý tưởng mới hay ánh chớp lóe) đầu tiên thuộc bán cầu não phải, nhưng cái biết đầu tiên chỉ là cái biết từng phần, chưa đầy đủ và lập tức ghim thành thói quen nơi bán cầu não trái, cứ như thế cho đến khi cái biết (ý tưởng) đầy đủ trở thành kiến thức, nằm ở bán cầu não trái. Kiến thức phối hợp với các yếu tố khác tạo thành nội dung. Và nhịp điệu thơ, tương tự như mạng nối kết Corpus callosum trong não bộ, tùy thuộc cách làm thơ, phải đọc lên thành tiếng, hay đọc thầm trong đầu (đọc đi đọc lại nhiều lần), như vậy mới khơi dậy được cảm xúc và hòa nhập với nội dung, làm chuyển động quá trình sáng tạo. Đó là cách duy nhất để nhịp điệu có thể kết nối hai bán cầu não phải và trái với nhau trong sáng tác. Bởi vì nhịp điệu thơ thuộc bán cần não phải. Mà bán cầu não phải cần thiết cho việc am hiểu cảm xúc trong ngôn ngữ nói, thể hiện qua giọng hát, âm độ và sự chuyển giọng. Trái lại với nhịp điệu thơ, nhịp điệu văn xuôi thuộc bán cầu não trái, chỉ cần viết trên giấy như khi viết văn xuôi.”

Trích “Những bước đi mới hay câu hỏi về nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt”

“Trường hợp, do thói quen tình cờ, một người làm thơ thường sáng tác vào những lúc nửa thức nửa ngủ, chuyện gì sẽ xảy ra? Trong khoảng thời gian đó, chúng ta tránh được sự can dự quá nhiều của tâm trí – khi suy nghĩ về thơ, chúng ta có thể dùng tâm trí để lý luận, tìm kiếm kiến thức, nhưng khi sáng tác chúng ta cần thóat khỏi những ràng buộc của tâm trí. Mỗi thể loại thơ có cách làm thơ khác nhau, thơ vần điệu dựa vào cảm xúc, thơ tự do dùng tâm trí, còn thơ Tân hình thức kết hợp giữa cảm xúc và tâm trí. Khi làm thơ, trong trạng thái lơ mơ giữa thức ngủ đó, chúng ta phải tìm cách nhớ lại những câu chữ vừa mới sáng tác, bằng cách đọc lên (đọc thầm trong đầu), và đọc đi đọc lại nhiều lần, vì không có sẵn giấy bút để ghi lại. Khi sáng tác thơ vần điệu, người ta ngâm nga, mục đích làm những âm thanh bằng trắcvần, nhịp nhàng với nhau, để tạo nhạc tính. Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa đi sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, nếu không đọc lên thì làm sao phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ để tạo thành nhịp điệu? Những chữ kép lập lại đóng vai trò như vần trong thơ vần điệu, nhưng rải ra khắp bài thơ, nên không rơi vào sự đều đặn, hạn chế như vần ở cuối giòng của thơ vần điệu. Điều này làm cho nhịp điệu trong thơ Tân hình thức Việt phong phú và khác biệt, nơi từng bài thơ và từng người làm thơ, đẩy tới nhiều mức độ khác nhau, từ trầm lắng đến sôi nổi. Nhưng dù ở mức độ nào, người đọc cũng phải nhận ra được nhịp điệu thơ.

“Câu chuyện trên rút ra kết luận: Không có gì bắt buộc chúng ta phải sáng tác trong lúc ngủ, mà có thể sáng tác bất cứ lúc nào cảm thấy có hứng khởi, ban ngày cũng như ban đêm, lúc thức cũng như lúc ngủ. Trong trường hợp này, hành động đọc đi đọc lại nhiều lần, không phải để nhớ, mà để hình dung ra nhịp điệu của thơ. Và việc ghi lại trên giấy mới có tác dụng để nhớ.  Khi đọc, và đọc đi đọc lại, sẽ hạn chế sự nghĩ của tâm trí, và bài thơ tiến hành theo những cảm nhận tự nhiên, chứ không phải từ những sắp xếp của lý trí. Sự ghi lại trên giấy khi bài thơ hoàn tất, chẳng khác nào quay trở lại một truyền thống mới là chữ in trong thời đại mà chữ in đang dần dần bị lãng quên, có lẽ là điều mà nhà thơ Frederick Turner gọi là ‘Truyền thống mới cái đẹp xưa’ chăng?”

Trích, “Nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt trong tiến trình sáng tác”.
 Một bài thơ Tân Hình Thức Việt điển hình phải đáp ứng các quy-/luật-tắc sau đây:

  1. Bài thơ phải mang hình thể một bài thơ trong những thể thơ Việt thông dụng!
  2. Bài thơ phải có ý tưởng và câu chữ liền lạc với kỹ thuật vắt dòng
  3. Sự lặp lại để tạo nhịp điệu phải tự nhiên và đa dạng theo cách làm thơ Tân hình thức Việt
  4. Bài thơ phải sử dụng ngôn ngữ thông thường
  5. Phải là thơ không vần chứ không là thơ vần điệu

Ngoài những yếu tố kỹ thuật, bài thơ được cho là hay còn tùy thuộc vào sự áp dụng nhuần nhuyễn và đồng bộ của các yếu tố kỹ thuật cùng ý tưởng mới lạ!


“Đó là một quan niệm tuyệt vời, và là một đóng góp quan trọng đối với văn học thế giới. Có lẽ ý tưởng xưa về nền “cộng hòa văn chương” có thể nổi lên lần nữa trong thời đại nơi tất cả đều nhận ra tính nhân bản chung của chúng ta và tìm kiếm cho văn học nghệ thuật một nền tảng đúng hơn, vì sự đồng cảm hơn là hệ tư tưởng.”

Nhà thơ & học giả Frederick Turner (Trích Vũ Điệu Không Vần – Thơ Khác)

“Điều đơn giản, một bài thơ Tân hình thức thất bại là do sự yếu kém về ý tưởng và người làm thơ không tạo được nhịp điệu. Như vậy, ý tưởng và nhịp điệu là hai tiêu chuẩn đánh giá một bài thơ Tân hình thức hay.”

Nếu thơ là phương tiện phát triển ngôn ngữ và văn học, đọc và viết, khơi dậy tưởng tượng, cảm xúc, khả năng ghi nhớ, cùng mối liên hệ giữa con người và thế giới chung quanh, thì Vũ Điệu Không Vần, cung cấp thông tin và kiến thức về thơ cho những người làm thơ, thúc đẩy khả năng sáng tác của họ, trên nguyên tắc: kiến thức + tưởng tượng = sáng tạo.

BÁO GIẤY SONG NGỮ www.facebook.com/Poetry-Journal-in-Print-1294467760642109/
EMAIL/ HÒM THƯ info@tanhinhthucviet.vn | baogiaytanhinhthuc@yahoo.com | baogiaytanhinhthuc@gmail.com | journalinprint@gmail.com |PUBLISHER/ ĐỌC BÁO TRỰC TUYẾN https://issuu.com/tanhinhthucviet |
“…Thơ Tân hình thức” là một hình thức tối giản của báo giấy, đáp ứng nhu cầu chuyển tải qua các phương tiện truyền thông hiện đại.”…“Như vậy thể thơ không vần đạt hiệu quả về dịch thuật, thơ thành thơ, dù chỉ dịch chính xác theo nghĩa chữ. Bởi một bài thơ không có nhạc tính hay nhịp điệu, không thể là một bài thơ hay. Với bài thơ “Con Mèo Đen” như vậy đã đủ vì chứng tỏ được giá trị ở cả hai ngôn ngữ.”

Tan Hinh Thuc Publishing Club • www.thotanhinhthuc.org 

Báo giấy số 61: ĐỌC “LỜI CỦA QUÁ KHỨ”

Phan Tấn Hải


Tình thân không giúp chúng ta có thể hiểu hết mọi chuyện về nhau. Đặc biệt là khi khảo sát về các lộ trình tâm có thể dẫn tới những dòng thơ. Có phải thơ là thuần cảm hứng từ những kiếp xưa rơi xuống, hay là từ một chuỗi lý luận phức tạp? Khế Iêm là một trong vài nhà thơ, theo tôi nhận thấy, có lộ trình tâm rất mực phức tạp, đầy những dây nhợ rắc rối y hệt như các dàn phóng phi thuyền vũ trụ của NASA. Nhưng hôm nay, bài này sẽ chọn một phương diện khác của Khế Iêm để suy nghĩ, tập truyện “Lời Của Quá Khứ” (LCQK), một ấn phẩm năm 2020, phiên bản mới của nhà xuất bản Văn Mới 1996.

Giao tình của tôi với Khế Iêm có lẽ cũng đã gần 3 thập niên, ban đầu là qua nhà văn Mai Thảo. Là những người mê chữ gặp nhau, nhưng mỗi người là một thế giới riêng. Ngay cả nhiêu năm trước, những khi ngồi với Khế Iêm nơi quán cà phê góc đường Westminster / Euclid ở Santa Ana, niềm vui của tôi là được nghe kể chuyện sách vở, thơ ca… Tôi không phải là học giả nên không ưa suy luận, bản thân chỉ là một nhà báo đôi khi làm thơ, cho nên không bận tâm chuyện lý thuyết, chỉ quan tâm về chuyện chữ gì đã được viết lên giấy, nghĩa chữ đó ra sao, vì sao và tác động ra sao. Nghĩa là, tôi nhìn thơ, truyện và các bạn văn qua con mắt nhà báo, bất kể họ trường phái nào và bất kể họ tranh luận ra sao.

Khế Iêm không có nhiều độc giả. Bản thân anh cũng ít bằng hữu, không phải vì thiếu cơ hội quảng giao, nhưng tự nhiên như thế là như thế. Nghĩa là, một trái nghịch hoàn toàn với tôi: một nhà báo phải sẵn sàng viết tràng giang đại hải ngày đêm khi độc giả cần tới, và phải viết sao cho dễ hiểu. Khế Iêm là khó hiểu thượng thừa. Thân hình anh chỉ là một nhúm xương và da, có lẽ đã khô quắt queo vì tim máu đã vắt cạn cho chữ? Khế Iêm không bày tỏ bận tâm về lý luận siêu hình, nhưng bạn sẽ bất ngờ khi thấy anh nói lên những ngôn ngữ như vọng lại từ những chân trời đạo học Đông Phương. Thí dụ, như mấy dòng đầu của bài thơ Nắng Vàng, trích:

“Tôi đứng ở bãi đậu
xe nhìn bâng khuâng một
vùng nắng vàng (và trong
lúc này) tôi không biết
tôi là nắng hay nắng
là tôi con đường phía
trước một hướng ra biển
còn hướng kia lên đồi.”

Trong khi đó, ngôn ngữ Tây Phương rất minh bạch: nắng là nắng, tôi là tôi, không thể có chuyện “tôi không biết tôi là nắng hay nắng là tôi”… Thứ tự ngôn ngữ “tôi là” và “nắng là” đều nằm trong ngữ pháp hiện sinh. Nếu chúng ta xóa bỏ động từ “là” thì tức khắc cả trang giấy như dường bất động. Bạn thử đọc lại, rất chậm mấy dòng thơ trên, và sẽ thấy trang giấy như dường đang lay động, như dường một cánh bướm đang làm Trang Tử ngẩn ngơ. Cũng như thái độ nhìn chung quanh đều thấy mới lạ, như nhân vật được ghi là “chàng” trong truyện Gặp Gỡ (truỵện thứ 3 trong tập truyện “Lời Của Quá Khứ”) khi nói với nhân vật được ghi là “ông già” nơi trang 32: “Mọi thứ dần dần cũ đi. Phố xá đầy người mà không quen ai. Tôi có cảm tưởng như mình đang dẫm lên mảnh đất lạ. Gió mang một mùi vị khang khác…”

Vâng, gió mang một mùi vị khang khác. Trên các trang giấy của Khế Iêm, luôn luôn phảng phất một làn gió khang khác. Trong khi chúng ta quen suy nghĩ như A phải khác không-A, cũng như nước mắt không thể là nụ cười, văn phong Khế Iêm đưa ra cái nhìn về thực tại có khi rất mơ hồ giữa thực và mộng. Như tâm thức của cô Trúc trong truyện “Thời Của Kẻ” khi thăm ngôi chùa trên đồi, trích: “Những bậc đá dài suýt làm nàng trượt chân. Nụ cười tắt theo những giọt nước lăn trên má. Ban mai, nhưng không phải ban mai. Chẳng có bằng chứng nào cho sự tồn tại…” (trang 103, LCQK).

Ban mai không phải ban mai, chẳng có bằng chứng nào cho sự tồn tại… hiển nhiên là có phong vị của sắc tức là không. Nhưng thực ra, chữ nghĩa Khế Iêm không thể được xếp loại đơn giản là ảnh hưởng tư tưởng nhà Phật, vì tới một nơi khác, nơi một trang khác, ngôn ngữ văn học của tác giả lại là một chất vấn về ý nghĩa bi kịch của khả thể, những băn khoăn kiểu tư tưởng Hy Lạp, khi chứng kiến những nền văn minh nhân loại hình thành và rồi hủy diệt, như dường sinh ra là để biến vào hư vô và như là chẳng có ý nghĩa gì cho đời. Cũng như trong truyện Chàng Và Nàng, nhân vật Phúc nói với cô Nga về cô Trúc, trích: “Cho đến quá nửa đời người, trong tôi bỗng bật dậy một tình yêu thương. Cái tài, cái sắc đã làm hỏng đời nàng. Nàng cứ tự hủy hoại mình, uống cho say khướt men cay đắng. Để làm gì nhỉ? Tôi mãi bị ám ảnh bởi những cánh hoa tan tác bay, những linh hồn nhỏ. Và Trúc đó, xa tắp như những ảo ảnh không thực. Đôi lúc tôi ngỡ nàng là kẻ thánh thiện bị ma ám, hoặc một nhân vật của bi kịch trên cái sân khấu mênh mông là trời đất. Tôi uống hết một phần rượu đời, đã quá say, nhưng vẫn tỉnh táo để muốn đốt lên ngọn lửa, thứ lửa chẳng có ở trần gian. Cho Trúc.”(trang 84, LCQK) 

Bạn có thể hình dung nhóm 10 truyện ngắn trong tập truyện Lời Của Quá Khứ chỉ là 10 chương của một truyện dài, trong đó nhân vật chính là một phiên bản của chính tác giả Khế Iêm. Trong cả 10 truyện ngắn đó, độc giả có thể nhìn thấy các nhân vật như dường bước ra từ các truyện cổ tích đau đớn, nơi đó hiện thân của các nhân vật chỉ là nêu lên các băn khoăn đời người, tự thân mỗi nhân vật là những chất vấn về khó hiểu của kiếp người. Ngay cả các nhân vật nữ cũng rất mực khuôn phép, như dường không thể có thực trong thế kỷ 20 và 21. Chúng ta không thấy nhân vật nữ nào mặc áo hai dây hay váy ngắn, hay nói cười lẳng lơ. Truyện Khế Iêm là thế đấy. Chàng có vẻ như không muốn kể về những chỗ nhân gian không thể hiểu. Thế thì đời thực của tác giả đã từng làm cái gì với một giai nhân mà chẳng hề ghi lại? À, hình như có chỗ, Khế Iêm cho chàng nắm tay nàng. Và chỉ nắm tay hai lần trong tập truyện thôi, chỉ vì hữu sự. Nhưng trời ạ, nắm tay lần đầu là để kéo nàng dợm bước, và lần thứ nhì là là để bỏ chạy hốt hoảng.

Truyện ngắn “Đối Thoại” kể về nắm tay, trích: “Chàng kéo nàng dợm bước, nhìn những mái nghiêng không đều, những phên liếp, những quán lá mập mờ. Không gian bị đẩy lùi làm hiện ra những đám mây, cây xanh, nhà cửa. Chàng xoải nhanh, mắt đăm đăm, chậm lại.” (Trang 25, LCQK) Và cũng truyện ngắn đó, kể về lần nắm tay nàng bỏ chạy, trích: “Chàng và nàng đứng trước quầy vé, đắn đo. Căn phòng trống, không người. Đột nhiên, chàng kéo nàng, bỏ chạy hốt hoảng, bị đẩy ngược lại bởi một sức cản kỳ lạ cho đến khi rơi vào một tình thế khốn cùng, không thể nào thoát được.” (Trang 30, LCQK)

Nói cho công bằng, có một chỗ truyện Khế Iêm vi phạm luật “nam nữ thọ thọ bất thân” khi cho nàng nép vào người chàng, nhưng có vẻ như bất đắc dĩ vì lúc đó bị đám đông xô đẩy, theo truyện “Đối Thoại” ghi lại, chỉ có mấy chữ “Nàng nép người vào chàng, sợ hãi” sau khi “… bất thình lình đám người trở nên hỗn loạn, xô đẩy, cấu xé nhau dữ dội. Hàng người tản đều ra khắp phòng nhập vào cơn huyên náo. Chàng và nàng ngờ nghệch giữa những điệu bộ quay cuồng…” (Trang 28, LCQK)

Và sau khi để độc giả đọc suốt 10 truyện ngắn đầy những ngôn ngữ nghiêm túc, những dòng cuối của truyện thứ 10 (truyện ngắn “Thời Của Kẻ”) mới cho chàng “cầm lấy bàn tay nhỏ, mềm mại của Thục”… và thế đấy, không thêm chi tiết nào ngoài cảm giác “mềm mại” của tay nàng.

Hình ảnh những dòng cuối truyện thứ 10 là “Thục ngả người vào ngực chàng” và rồi “Thục mỉm cười, quàng tay qua cổ chàng kéo xuống. Chàng hôn trên môi nàng, nụ hôn không bao giờ dứt.” Phải chăng, khi viết rằng nụ hôn “không bao giờ dứt” chính vì Khế Iêm không muốn kể thêm những cuồng nhiệt, nếu có, ở các nơi khác trên cơ thể? Cũng nên ghi nhận rằng, nhan đề truyện hình như đánh máy nhầm, nơi trang 89 ghi là “Thời Của Kẻ” nhưng nơi trang Mục Lục ghi là “Thời Của Những Kẻ Bị Ma Nhập.”

Tập truyện còn có 2 vở kịch đặt nơi cuối sách. Vở kich “Một Cành Cây, Một Đám Mây” (trang 121-125, LCQK) chỉ có hai nhân vật là Vân và Thu, với cảnh ghi sau lưng họ là “bầu trời trống trơn. Không có gì cả. Thật im lặng.” Đối thoại kịch của Vân và Thu cũng kiệm lời, có khi thốt một chữ, có khi hai chữ, và không có câu thoại nào dài tới hai dòng. Câu dài nhất là 7 chữ, do cô Vân nói: “Tôi đang nói về mây xanh mà.” (Trang 122, LCQK). 

Vở kịch thứ nhì, cũng là cuối tập, có nhan đề “Lúc Mà” (trang 127-142, LCQK) cũng chỉ có hai nhân vật, tên ghi là “Người Đàn Ông” “Người Bạn” (nhân vật “Người Bạn” này cũng là một người đàn ông, vì được gọi là “anh”). Đối thoại trong kịch này nhiều lời hơn, và đoạn kết rất khó hiểu, nếu diễn trên sân khấu khi người xem nhìn hai diễn viên thực hiện động tác kịch.

Nếu chỉ đọc trên giấy, nơi cuối vở kịch có thể liên tưởng bí hiểm tới hình ảnh hai người đàn ông “ôm lấy nhau. Ngã xuống… dây dưa một lúc. Những tiếng kêu thất thanh không dứt. Đến khi cả hai bất động, không nhúc nhích nổi. Im lặng. Một lúc sau.” Bí hiểm, cực kỳ bí hiểm, khi đọc tới chỗ hai người đàn ông ôm nhau trên sân khấu và ngã xuống, dây dưa một lúc, bất động, không nhúc nhích nổi. 

Truyện và kịch Khế Iêm là như thế, hư hư thực thực, tất cả nhân vật đều sương khói, nói rất kiệm lời, suy nghĩ đầy những chất vấn về ý nghĩa bất toàn của cõi người, và tận cùng là vô ngôn, là niềm tịch lặng mênh mang của cõi người. Trong vở kịch cuối, mấy dòng chữ cuối là hai người đàn ông ôm nhau, té xuống, im lặng… Trong vở kịch trước đó, kịch “Một Cành Cây, Một Đám Mây” nơi các dòng chữ cuối là hình ảnh: “Im lặng. Mắt nhắm nghiền, bất động. Một lúc sau.”

Nơi các dòng chữ cuối truyện thứ 10, là hình ảnh rất buồn của “Bóng tối vây hãm xung quanh, và chàng cứ bơi mãi ngược dòng về một xứ sở chim muông. Thiên nhiên mộc mạc, mà chàng là kẻ đang gieo vào nguồn đất mầm cay đắng.”

Tạp chí Diễn Đàn Thế Kỷ đã nhận định về tập truyện “Lời Của Quá Khứ” và nhận định này được Khế Iêm dùng làm Lời Giới Thiệu (trang 9-10, LCQK) cho ấn bản 2020 cho thấy rằng Khế Iêm viết không giống ai. Lời Giới Thiệu của DĐTK viết, trích: “Tập truyện của Khế Iêm sẽ đem lại một nét lạ trong làng truyện ngắn hải ngoại hiện nay. Bây giờ không thấy ai viết kiểu như thế. Sách có chín truyện, truyện đầu (Ánh Trăng) được viết tại Sài Gòn năm 1973, và truyện cuối (Thời Của Những Kẻ) viết tại Pulau Bidong 1988. Nội dung các truyện chứa đựng trong quãng thời gian ấy, thời gian người Việt Nam ở miền Nam chịu đựng nhiều nỗi đau khổ, của chiến tranh, của thua trận, của vượt biên… Nhưng truyện của Khế Iêm ít khi bày ra cảnh đời cụ thể, tất cả chỉ được trình bày như một cảm thức, không giống như đời thực, chẳng khác nào vật thể được nhìn qua sự khúc xạ của nước hoặc không khí. Chính hiện tượng khúc xạ ấy – và môi trường khúc xạ ở đây là tâm hồn và cái nhìn của nhà văn – đã biến truyện Khế Iêm nhiều khi thành những tùy bút, hoặc những đoạn thơ văn xuôi. Có những đoạn tuyệt hay. Chính những đoạn ấy nói lên được những gì tác giả cần nói hơn là toàn thể “truyện,” thường chỉ là một khối xúc cảm được diễn đạt bằng ngôn từ và hình ảnh rất trừu tượng. Ngôn từ là cái đáng kể ở đây, chúng đã đóng tối đa vai trò của chúng để tạo nên hình tượng, ấn tượng, mang rất nhiều tính chất tượng trưng. Cả nhân vật, những chàng, những nàng cũng chỉ là tượng trưng, impersonnel, và ngôn ngữ đối thoại của họ lại càng như thế, những câu cô đặc không có trong đời thực.”

Khế Iêm sinh năm 1946 (khai sinh 1947) tại Lê Xá, Vụ Bản , Nam Định. Học Luật tại Sàigòn. Ông sáng lập và chủ biên Tạp chí Thơ tại California, Hoa kỳ từ năm 1994-2004. Chủ biên trang Thơ Tân Hình Thức (thotanhinhthuc.org). Tác phẩm đã xuất bản: Hột Huyết (kịch, Sàigòn 1972), Thanh Xuân (Thơ, California 1992), Lời của Quá khứ (Truyện, California 1996-tái bản 2020), Dấu Quê (Thơ, California 1996), Thơ Khác / Other Poetry (Tan Hinh Thuc Publishing Club 2013), Vũ Điệu Không Vần (tiểu luận, THTPC, 2018).


Bạn đọc có thể đọc trực tiếp hoặc in ra giấy để đọc, đặt mua sách, báo
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi về Diễn đàn hoặc Email về Ban Biên Tập 
Chân thành cảm ơn!


Báo Giấy • Tháng 08 năm 2020 • Năm thứ 5 • Số 61
Email: baogiaytanhinhthuc@gmail.com  • www.thotanhinhthucviet.vn


SINH HOẠT VĂN HỌC


Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937-2020), bút hiệu Sao Trên Rừng, vừa qua đời ngày 6 tháng 11 năm 2020, thọ 83 tuổi. Trước đó là nhà thơ Tô Thùy Yên (1938-2019) và nhà thơ Du Tử Lê (1942-2019), cả ba là những nhà thơ vần điệu thập niên 1960s. Thời đó còn có hai nhà thơ tiền phong, nổi trội là Bùi Giáng và Thanh Tâm Tuyền.

Sách nhận được:

1/ Nxb Văn Học Press vừa phát hành tuyển tập truyện ngắn dịch của dịch giả Trịnh Y Thư, với những tác giả Franz Kafka, Gabriel Garcia Marquez, Phillip Roth, Milan Kundera, Salman Rushdie, Orhan Pamuk, Kurt Vonnegut, Iris Murdoch, Wole Soyinka, Herta Muller, Roberto Bolano, Banana Yoshimoto. Trịnh Y Thư là nhà văn, nhà thơ, dịch giả, sinh năm 1952 tại Hà Nội, nguyên chủ bút tạp chí Văn Học (California), chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press. Anh là du học sinh trước 1975, hiện định cư tại Irvine, California.

Tác phẩm dịch đã xuất bản: – Đời Nhẹ Khôn Kham (The Unbearable Lightness of Being), tiểu thuyết của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera; ấn bản thứ nhất, tạp chí Văn Học (California) xuất bản 2002; ấn bản thứ hai, Nhã Nam, NXB Hội Nhà Văn, 2018. – Căn Phòng Riêng (A Room of One’s Own), tiểu luận văn học của nữ sĩ Virginia Woof, Tri Thức xuất bản, ấn bản thứ nhất 2009; ấn bản thứ hai 2016. – Jane Eyre, tiểu thuyết của nữ sĩ Charlotte Bronte, Nhã Nam & NXB Văn Học (Hà Nội) xuất bản, 2016. – Gặp Gỡ Với Định Mệnh, Tuyển văn dịch nhiều tác giả, Văn Học Press xuất bản,2020.

Sáng tác đã xuất bản, tác giả Trịnh Y Thư: – Người Đàn Bà Khác, tập truyện, Song Thúy Bookstore & NXB Thế Giới (Hà Nội) xuất bản, 2010. – Chỉ Là Đồ Chơi, tạp bút. Ấn bản thứ nhất, tạp chí Hợp Lưu xuất bản, 2012; ấn bản thứ hai, Văn Học Press xuát bản, 2019. – Phế Tích Của Ảo Ảnh, thơ, Văn Học Press xuất bản, 2017.

2/ CD nhạc tuyển với tiếng hát của ca sĩ Thu Vàng: Dạ tâm Khúc (nhạc Phạm Đình Chương, phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Thao Thiết Sông Dài (nhạc Trịnh Y Thư), Dạ Khúc (nhạc Nguyễn Mỹ Ca), Mắt Biếc (nhạc Cung Tiến), Đường Chiều Lá Rụng (nhạc Phạm Duy), Tháng Ngày Gió Xóa (nhạc Hoàng Quốc Bảo), Tỳ Bà (nhạc Phạm Duy, thơ Bích Khê), Dạ Khúc (Nguyễn Văn Quý), Lời Thiên Thu Gọi (Trịnh Công Sơn), Lệ Đá Xanh (nhạc Cung Tiến, thơ Thanh Tâm Tuyền), Thu Mãi Quan San (Trịnh Y Thư)

3/ Poetry Journal, số 11, gồm 36 trang, gần gấp đôi so với những số báo trước, với thơ song ngữ của 9 tác giả Việt và 20 tác giả Mỹ. Đó là số báo đặc biệt về Virus Vũ Hán, phần tiếng Anh đã được đăng trên trang báo Văn học Ý, và được giới nghiên cứu Afganistan in lại 200 số. Sở dĩ họ quan tâm tới số báo này vì có 2 bài viết bằng song ngữ, “Virus Vũ Hán và Bi Kịch Khổ Đau”, “Virus Vũ Hán và Vấn Vương Tình Người”. Còn bài viết thứ 3, và là bài kết luận, “Virus Vũ Hán và Độ Không Tâm Thức” đăng trong số Báo Giấy tới. Đó là lý do, Poetry Journal số11 là ấn bản cuối cùng. Phần thơ Mỹ dịch được chuyển trở lại Báo Giấy như trước kia, khi chưa có Poetry Journal.

4/ Trong bài viết anh Phan Tấn Hải có vài nhận xét, “Khế Iêm là một trong vài nhà thơ, có lộ trình tâm rất mực phức tạp, đầy những dây nhợ rắc rối y hệt như các dàn phóng phi thuyền vũ trụ của NASA. Khế Iêm không có nhiều độc giả. Bản thân anh cũng ít bằng hữu, không phải vì thiếu cơ hội quảng giao, nhưng tự nhiên như thế. Khế Iêm khó hiểu thượng thừa.” Anh Phan Tấn Hải viết đúng, không những ít bạn hữu, mà còn nhiều người ghét. Đã có nhiều bài viết đả kích cực độ, nhưng tôi không nhắc tới nữa vì đã rơi vào lãng quên rồi. Bản tính tôi hiền hòa, nhưng họ ghét những điều tôi làm, dù rằng tôi không làm cho tôi, chỉ đáp ứng nhu cầu của bạn bè, do tình cờ đưa đẩy, không làm không được.

Tôi làm thơ từ hồi còn trẻ, nhưng khi lớn lên, cuốn sách đầu tiên tôi tự xuất bản lại là tập kịch Hột Huyết. Sau đó là những bài thơ trong tập Thanh Xuân, dòng thơ vần điệu truyền thống, làm ra rồi cất vào trong ngăn tủ. Khi tới Mỹ, tôi gửi đăng trên Tạp chí Văn của nhà văn Mai Thảo, sau đó Tạp chí Văn đứng ra xuất bản. Đến khi chủ trương Tạp chí Thơ, tôi bắt đầu sáng tác một loại thơ cấu trúc, Dấu Quê (Traces of My Homeland). Tạp chí Thơ được 10 năm, tôi tự động chấm dứt, làm ngỡ ngàng những người cộng tác. Chính tôi cũng không hiểu tại sao. Đến khi chủ trương phong trào thơ Tân hình Thức Việt, tôi sáng tác một loại thơ mới, thơ Tân hình thức, với tập mang tên Thơ Khác (Other Poetry).

Thật ra, Tạp chí Thơ xuất hiện là do tình cờ. Sau khi Tạp chí Văn xuất bản tập thơ Thanh Xuân, một lần vui miệng tôi nói với nhà thơ Phạm Việt Cường, tôi sẽ làm tờ báo Thi Ca, rồi quên bẵng đi mất. Anh Phạm Việt Cường, lúc đó sống ở San Jose, lại thông báo với mọi người về tin này. Chờ đợi cho tới 1 năm, chẳng thấy tin tức gì, một vài người như nhà thơ Nguyễn Tiến, Trịnh Y Thư, Đỗ Kh. tự động gửi tới cho tôi mỗi người $200.00 US. Tôi không biết làm sao, đành phải tìm kiếm bài vở, ra mắt số báo Thơ đầu tiên. Không ngờ lại được mọi người ưa thích, thế là tiếp tục hết số này đến số khác, trong vòng 10 năm, với 27 số. Nhưng số người ghen ghét đố kỵ cũng không ít, vì ảnh hưởng tờ báo lan rộng khắp nơi, kể cả trong nước.

Thơ Tân hình thức Việt, ảnh hưởng thơ Mỹ, nhưng thơ tự do Mỹ khi đạt tới cùng rồi thì phải quay về đổi khác thơ thể luật. Còn thơ Việt thì quay về đâu, chẳng lẽ lại trở về với vần điệu theo kiểu Tiền chiến? Đó là lý do, thơ Tân hình thức Việt ra đời, kết hợp thể thơ truyền thống và tự do, với hai yếu tố Ý tưởng và Nhịp điệu. Cả hai yếu tố đều khó, cần người có tài thơ. Đó cũng là lý do khiến nhiều người chống đối. Chống đối vì khó hiểu đối với họ. Muốn hiểu tiến trình đổi mới thơ phải có kiến thức về thơ. Vì vậy, phần lý thuyết phải hoàn tất sau 18 năm học hỏi, nhưng chỉ có giới nghiên cứu và khoa bảng quan tâm tới thôi. Trong sinh hoạt văn học, nếu chúng ta làm điều gì khác với người khác, họ sẽ không ưa, vì nếu ưa thì có nghĩa là họ tự phủ nhận chính họ sao. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cũng bị rất nhiều người ghét, và cũng từng bị viết bài đả kích. Và thơ ông cũng là loại thơ khó.

Trước năm 1975, chỉ có vài tờ tạp chí như Văn, Văn Học, Khởi Hành … nhưng tôi chẳng bao giờ gửi bài, nên chẳng ai biết tôi là ai. Năm 1972, tôi có tự xuất bản một tập kịch, Hột Huyết, rồi cũng lặng lẽ cho đến sau năm 1975. Năm 1988, tôi vượt biên, nghĩ rằng ra đi là đi mãi, không bao giờ về, ngay cả cái sống cái chết cũng không mấy bận tâm, nên tôi gửi lại anh (Thanh Tâm Tuyền) một bài thơ. Năm 1990 tôi định cư tại Mỹ, không ngờ năm sau anh cũng đến Mỹ theo diện H.O, và được nhạc sĩ Cung Tiến bảo trợ qua tiểu bang Minnesota, còn tôi ở Orange County, California. Nhà văn Mai Thảo có lần than phiền với tôi, anh không chịu gặp những người anh không quen. Điều đó cũng bình thường, vì anh bị nhiều người ghét. Tính anh thì khó, chỉ thân với người anh thân. Anh từng có tập thơ “Tôi không còn cô độc”, nhưng lúc nào anh cũng cô độc, vì nếu không cô độc thì quan tâm tới cô độc làm gì. Khi có dịp qua chơi California, anh ghé thăm nhà văn Mai Thảo. Khi nghe tin anh sắp tới, nhà văn Mai Thảo vội đuổi những đàn em văn nghệ, thường tụ tập nghe anh uống rượu, đọc thơ. Nhưng anh cũng chỉ ghé chốc lát, rồi tới ở chung phòng với tôi một đêm, sáng hôm sau, xuống San Diego City thăm các người bạn thời dạy học tại trường võ bị Đà Lạt, chẳng màng tới giới văn nghệ. Đó là lần tôi gặp anh lần cuối cùng. Anh mất năm mới 70 tuổi.

Đêm đó, anh kể với tôi chuyện giải thưởng văn học tổng thống, anh cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa trong ban giám khảo. Anh bỏ phiếu trao giải thưởng cho tập thơ của Trần Tuấn Kiệt, còn Nguyên Sa thì không. Anh cho rằng Trần Tuấn Kiệt là người nghèo, cần giúp đỡ. Anh và Nguyên sa không ưa nhau từ đó. Tôi đồng ý với anh, vì đúng ra giải thưởng không nói lên được điều gì, chỉ là sự đánh giá của vài người trong ban giám khảo. Giải thưởng thơ Mỹ cũng vậy, chẳng có ai nổi tiếng nhờ giải thưởng cả. Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng có giải thưởng nào đâu.

Con Virus Vũ Hán cho chúng ta biết một điều, tất cả mọi sự trên đời đều phù vân, chẳng mang một ý nghĩa nào cả, ngoài tình người. Những người càng cô độc, tình người trong họ càng thấm thía, càng phát huy cái tài năng thiên bẩm của họ. Vũ trụ có âm có dương, con người có tốt có xấu, cứ nói ra cho hết. Con virus Vũ Hán cho chúng ta biết mình là ai, giữa cuộc đời đầy bất trắc, khổ đau này.


Truyện ngắn song ngữ
THE FANTASTIC LOVE / MỐI TÌNH MỘNG TƯỞNG
Gina Nguyen


Khe Iem
YOUNG WOMAN / THIẾU PHỤ JEUNE FEMME


NHỮNG DÒNG THƠ CŨ


Nguyễn Đăng Thường
MỘNG BAN ĐẦU

Thanh Tâm Tuyền
BÀI HÁT BUỒN

Nguyễn Đức Sơn
CẢM THƯƠNG

Khế Iêm
TỰ CA

Nguyễn Tiến Đức
NHỮNG NỖI ĐAU NGOÀI BÀI THƠ

Thành Tôn
NÓI VỚI CÔ GÁI NGỒI QUÁN

Lê Giang Trần
CHÀO VÀ CHỜ

Nguyễn Hoài Ân
HOA CẢI THÁNG BA

Trầm Phục Khắc
TỪ NGỮ CỦA MỘT THỜI

Đinh Thị Như Thúy
TRO, CỦA HOA HỒNG


THƠ TÂN HÌNH THỨC


Xuân Thủy
NHẮM MẮT CHỈ THẤY MỘT CHÂN
TRỜI TÍM NGẮT

Đài Sử
NGANG VỀ QUÁ KHỨ

Hường Thanh
MẮT

Phạm Quyên Chi
NƠI HOA NỞ

Nguyễn Hoài Phương
CHUYỆN KỂ CỦA QUẢ BÓNG

Nguyễn Đặng Thùy Trang
TRONG CĂN PHÒNG CỦA CHÚNG MÌNH

Hoàng Huy Hùng
TẤM GƯƠNG VÔ HÌNH
HOA CỎ
KÊ ĐƠN

Nguyễn Ngọc Trìu
DỌN ĐẾN NƠI Ở MỚI

Chu Thụy Nguyên
DỊU KHÚC

Lý Thừa Nghiệp
CHÌM DẦN


Tiểu luận
Ý NGHĨA VÀ THỜI GIAN

TRONG THƠ TRẦM PHỤC KHẮC
Phạm Quyên Chi


TUẦN THƠ 22: NHIỆT ĐỚI BUỒN

Chúng ta đã có tiêu chuẩn đánh giá một bài thơ: cái mới trong ý tưởng và cái hay trong nhịp điệu; cùng cách làm thơ Tân hình thức Việt, và bây giờ là thời điểm của vận động sáng tác. Thơ Tân hình thức Việt tái định nghĩa, thơ là một hành trình hồi phục người đọc, so với điện ảnh và ca nhạc, đó là tham vọng chẳng có gì phải thất vọng, vì đó là thơ. Nhưng để hồi phục người đọc, phải hồi phục nhịp điệu thơ, và để có nhiều người đọc, phải có nhiều người sáng tác. Chúng tôi mong muốn có những sáng tác mới, áp dụng theo cách làm thơ Tân hình thức Việt, và ngoài việc sáng tác, xin các thân hữu bỏ ít nhiệt tâm vận động thêm người tham gia. Sáng tác xin gửi về email: baogiay2015@gmail.com ~ tanhinhthuc@gmail.com ~ info@thotanhinhthucviet.vn


Nhiệt Đới Buồn

NÀNG HUẾ ẤY …

sao không được nhìn ẩn tích em
sao mây trên cao mây thấy luôn
đâu cũng là nón che cội nguồn
khát khao sao em làm khát thêm

diệu kì màu non rừng thắm màu
của em từng cơn ve vuốt từng
tư thế sao mà khi ngửi một
xa xăm mùi lệ trên tay mơ

hồ hóa

diệu kì … sao em cứ khiến mắt
sương mê sao mưa trên Huế rớt
trên đầu mà chẳng vào mặt ôi
mặt em đâu đâu những giọt môi

này chảy diệu kì tà áo em
bay ừ mây khôi sao nắng trên
cầu như nắng che những thoang thoáng
tóc ôi tóc em chỉ thấy nét

đẹp muôn đời em diệu kì – một
ẩn tích chẳng bao giờ được xem
hay là em sau trăm năm mới
biết mặt sau chiếc nón em …


ĐẤT NON (*) NHỚ EM, ĐỒI NÚI THƯƠNG EM

vết cưa dài trên
thân xanh dần sáng
lên đôi mắt tôi
tôi thấy màu lệ

tuôn ra và khô
dưới bầu trời mây
mù xám non chim
kêu như mưa rào

rơi trên vết thương
đang nhức vì bắt
phải lìa xa yêu
thương khi cứ nghe

tiếng xe tải tạo
ra con đường mất
mát nhau vì từng
bàn tay thô nhấc

lên từng thân xanh
đứt khúc đứt hết
không khi lành lặn
tôi thấy màu lệ

chảy dài xuống đất
chiếc xe tải mang
em đi cùng những
cành tay mộc thơm.

27.5. Tây Nguyên (*)

EM TRĂN TRỞ TRỞ TRĂN TÔI

đêm khuya đứng ngồi một
mình, giấc ngủ cô đơn,
em còn làm chi với
bàn tay những nếp nhăn.

vừa chạm những chữ vừa
rưng rầy tiếng yêu trong
lòng. Em nằm ngửa…
nghĩ non nước bên trời

kia có tôi câm lặng
Em thương nhớ, tôi biết
em trăn trở cũng làm
tôi trở trăn sáng ngày.

bao giờ nằm trong em
một yên dạ vừa đủ
cho em thiếp bộn bề
những âu lo rồi cũng

ngủ nhưng rồi sẽ lại
trở mình thôi. Em ngước
nhìn lên bầu trời thấy
mặt trăng to thật to.

Thật sáng nơi xứ người
Thật buồn nơi trời những
con người ẵm em bé
đi trên đường phố câm.

20.5 viết cho BT

VÀ EM

mưa lại rơi làm ồn
ào lỗ tai tôi mưa
buổi chiều không nghe được
tiếng động nào thêm nữa

nhìn ra cửa kính dơ
nhầy nhụa bụi dính thấy
cảnh vật nhạt và âm
í những nỗi niềm bên

ngoài người cong lưng đứng
trên vỉa hè tìm chỗ
trú mưa và còn có
những người mặc mưa đi

để ướt lên áo quần
lên khuôn mặt từng người
chạy xe máy ào ạt
một vài bàn chân vụt

đi như là cơn bão
quét qua nhẹ nhàng tôi
không chìm đắm vào mưa
mà trông tháng sáu nhìn

bầu trời âm u những
đám mây ngày bỏ bóng
tối vào nhà và em
tay hứng mưa vào hồn tôi. . .

5.6.2013

THANH XUÂN

Ký họa của Duy Thanh
Ký họa của Duy Thanh


Tan Hinh Thuc Publishing Club
Email: baogiaytanhinhthuc@yahoo.com
Santa Ana, CA 92706
World Wide Web Site
http://www.thotanhinhthuc.org
© 2016 by Tan Hinh Thuc
All rights reserved
Cover art by Thái Tuấn
khế iêm
THANH XUÂN
thơ
chủ trương xuất bản
trầm phục khắc, lưu hy lạc
tạp chí văn xuất bản
1992
Cover design: duy thanh, thái tuấn
Printed in The United States of America
Khế Iêm
Library of Congress Control Number:
2016915372
ISBN-13: 978-0-9885096-9-6


“Thanh Xuân là một dòng thơ thuần phác, với ngôn
ngữ vần điệu truyền thống, chưa vướng bụi trần. Bụi trần ở
đây có nghĩa là những trăn trở của chữ nghĩa, như hai tập thơ
tự do và tân hình thức sau này,
Dấu Quê Thơ Khác.”


ĐỌC TRÊN ISSUU

Bạn đọc có thể đọc trực tiếp hoặc đặt mua sách, báo
đóng góp, thơ, tiểu luận xin Gửi về Diễn đàn hoặc Email về Ban Biên Tập 
Chân thành cảm ơn!


Thanh Xuân


mong

Chống gậy trông đồi hoa
Hỏi thăm về quê nhà
Áng mây màu cước bạc
Cảnh trời muôn dặm xa


 

gửi Lão Tử

Thong dong về non xanh
Ngày hư hơi gió lành
Quán không lòng mong tưởng
Một chòm mây mai danh


 

rất nhỏ

Một cuống mắt non
Khơi sầu thiên cổ
Một chút duyên con
Nằm trong loang lổ

Không mất không còn
Hồn thu rất nhỏ


 

chết

Chết giữa rạng đông
Chạy rông bãi mộng
Mặt trời rất rộng
Như bông mênh mông

Lấy mùa xuân không
Vùi trong hoe nắng
Gánh về đằng đẳng
Một vai viễn vông

Chết ở đầu sông
Thấy đồng lửa bỏng
Một hầm gió hỏng
Một cóng mây giông

Chết giữa rừng chông
Chết ở đồi thông


 

từ biệt

Có dòng sông
Ngủ mãi
Trong hầm mộ
Có biển rộng
Tắt
Nơi khe sâu
Con sư tử
Nằm vuốt
Sắc
Gió
Để ngày xanh rơi vào miệng vực
Một cành non
Mọc
Giữa rừng độc
Ta tàn hơi …


 

tin báo

Những người đưa ta từ bao đời trước đến
Những người chôn ta từ bao đời sau về
Âm binh…

Cơn gió nào thổi tan lời nguyện
Con sói về ăn những mảnh trăng
Bên cõi người một hồn nắng tuyệt
Có tiếng cười ở giữa lòng chăng?

Tin báo rằng mặt trời đã tận
Trái đất là một thoáng lửa trôi
Một mùi hương của trần gian hóa
Đã cuốn theo một lũ ma rồi.


 

tắt

Chờ đợi
Mất hút
Lặng lẽ
Lá rơi trong khoảnh khắc
Ẩn mật
Mộng gõ tăm tối mắt rộn rã
Thoảng đưa hương ngâu thôn đời xa
Thõng tay giữa chợ
Gió háo hức
Mang máng nhớ đất trời chật chội
Vội vã
Quát tháo
Lửa dìu dặt
Chõng tre ngơ ngác ngó quanh quất
(Cứ khuấy mãi bùn ao đục
Chẳng hiểu lòng như một chốn mơ)
Tắt ký ức
Và sáng
Bụi
Hôn ám
Để ngỡ con đường dẫn về nẻo trọ
Ngỡ dòng trăng là chuyến đò trôi
Và trăm năm
Chìm
Trong khung hẹp.


 

vô đề

Lũ chim chóc đóng băng trong không
Và tháng ngày trôi bồng bềnh trên đất
Thầm thì mãi
Những chiếc lá câm nín nói
Mắt tối

Ta đánh mất tiếng người
Chìm nổi
Ôi bước chân xanh
Thổi tròn mầm gió nhú
Ngồi đợi hoài khói tro mãn du

Xây xẩm chiều
Chôn cánh độc
Lòng lơ đãng biếc.


 

trăng ở bataan

Ngửa cổ hát run mắt
Trăng ẩn quanh đồi rong
Chợt nghe lòng ố mục
Mây rú trong mù không

Ta hú nơi rừng quạnh
Chân khóc mặt ráo hoảnh
Vợ con phố đời mất
Ngàn lau trôi tóc tranh

Dĩ vãng ngực núi ngáp
Lời mi hoen áo xưa
Lối ngược đá trâng tráo
Chông nhọn nhan sắc hỏng

Người lạ xứ sở lạ
Điêu khắc gió quê xa
Lệ ướt tím liếp trống
Ngồi chong khoang khói qua

Bataan, May 05. 89


 

tình

Chiếc mặt nạ động đậy
Trong đôi mắt của con rối
Cánh cửa đóng
Tôi tỏ tình với nỗi ẩm mốc
Sợi khói điên trên môi

Những chiếc lá quay vòng tròn
Hôn tóc đá
Những chiếc lá cứ quay vòng tròn
Giọt nước trên mi em biếc gió

Tình yêu nóng ra
Biển nắng lục.

Sungei Besi 1988


 

mở

Phố rắn và người
Trăng mắt dấu
Đất, nhục hình câm
Vô cùng nhọn, suốt tim
Đằm đằm hắng

Không ai hôn ta trong cũi đêm
Không ma không đời, khoang lưới
Hồn đâm sầm, hầm đắng

Gọi chờ
Xưa mãi không.


 

khói

Mắt quáng gà
Hư thực, nhập nhòa hoài
Bực bội
Quá khứ dở hơi
Mẫu thuốc cháy

Nguệch ngoạc buồn, nhiều lời
Bức tường kín
Người tù, dây trói
(Tiếng nói ậm ừ rồi thoảng như
Không gượng dậy
Không động đậy nữa)

Ôi ánh trăng sao ướt trên tóc khô?
Người tình khóc
Chiếc bàn trống
Thuở hồn nhiên nụ hôn
Long lanh nến.


 

lắp bắp

Mở trang nhật báo  
Đọc mục rao vặt
Thấy có đời mình
Thấy có lặng thinh
Một ngày bặt tiếng
Phố phắt bặt âm
Chiếc ấm quai đồng
Rót ra bụi vẩn
Ở trong cửa ô
Ở ngoài ô cửa
Bước lại từ đầu
Bước lại từ đâu
Một con sẻ lạc
Bới lời linh tinh
Giữa chốn huê tình
Dở hơi tê thấp


 

chuyển mộng

Đứng không hớp một chén mây
Nằm trong thiên cổ có hay ta về
Hỏi thăm cây cối nín khe
Một chòi gió đựng mấy the nắng sầu

Lặng thinh hít bụi mơ hồ
Trong giây lâu đã đến bờ hư sinh
Thả thuyền vớt ánh bình minh
Ghé qua vô tận lấy bình tang thương

Lặng gnhe gió cuốn mặt ghềnh
Cái thân vô mệnh buồn tênh đã chìm
Cuối đời rời rã cánh chim
Mượn dòng nước bạc in lìm mà gieo

Em đi mất mộng xuân thì
Ôm thinh không ngủ thấy gì trăng sao
Hôm nao gió lọt song đào
Tình hoa thôi cũng trôi vào túi hoa

Thôi về vớt mảnh trăng non
Rồi ra giũ áo hỏi hòn sơn xưa
Nói gì nữa giữa vườn thưa
Mênh mông trời đất riêng thừa có ta

Lòng buồn nhặt cánh hoa rơi
Nghe trong nắng quái có lời kêu than
Tần ngần ngó đám mây tan
Thênh thang trên bãi sông hàn bao la

Một hôm quá bước qua rừng
Chân quàng mắt quáng thấy từng không xanh
Ngậm ngùi trong cõi vắng tanh
Nghe hơi bóng thú nằm canh nắng tàn.


 

cảnh

Gối đầu trên thềm gió ẩn tích
Mùa màng
Thở
Hồ nghi bể dâu

Ngồi trong rừng mưa bạch dương
Hoài hơi nghe thôi non nước hẹp
Mở cửa. Gõ (hang tối chưa?)
Quá khứ
Lửa
Nhảy múa
Hát. Inh ỏi thời tan tác

Lời hoa đưa thu ngoài hiên
Đành chăng khói thiêng cỏ lam.


 

nhánh sầu

Với ngày, tiếng nói là miểng nhọn
Đập vỡ những chiều xanh tóc gai
Với thời, bao nỗi mắt ẩm ướt
Ôi chăng, chảy trôi nước tất bật

Bồi hồi những trái tim đồi xa
Dập vùi chút dĩ vãng chập chững
Bình nguyên thản nhiên trong lòng ta
Lần theo ngàn sương, bẫy ương ngạnh

Thở đi, bao la thay hừng đông
Thổi ra những thương tích bầm vập
Gõ ran những chảo đời có thật
Nghe ầm vang sóng rời đầu nguồn

Đã chở tro về chôn bến nhớ
Đã ngờ trong một thoáng từ ly
Là mở ngỏ ý tình, bỡ ngỡ
Ta uống nhầm rượu hay, cơn sầu bi.


 

mưa phố Kỳ Đồng nhớ tranh Thái Tuấn

Góc phố hẩm hư hư lá hú
Gió trăm năm cào cấu nắng đêm xưa
Màu nét thở áo tơi co ro chiều cánh đồng Bắc Việt

Mắt tro xa lạnh ướt chân môi
Mắt tro qua run mật ngày mới rót
Không núi mây ngờ mưa tắt khôn nguôi

Giả cho tranh nụ cười của khói
Giả sông đồi cõi thật chông chênh
Ta giữ lại chút Thơ, chút Người của Họa
Sắc xanh hoa mờ lạ nhớ quên.

                                       Sàigòn 1985


 

mán mường

Nhè nhẹ, gieo bóng sương
Với tay tới vô thường
Quê mưa, lẻ tiếng nhạn
Líu lo lời mán mường


 

lệ

mắt khơi, giếng nước ngọc
Rong chơi, lên đồi trong
Cởi ra áo, trăng mọc
Lăm le một lệ dòn.


 

phiêu diêu

Khói nhang ngoài hiên chiều
Vẩn vơ, hoa bao nhiêu
Trôi đâu, tình vạn thuở
Bèo dâu thôi, phiêu diêu


 

tình mộng

Thấp thoáng chim bay qua
Động nghe lòng khóc òa
Hương xa, đóa quỳnh nở
Ấm êm, tình mộng là …


 

ở Bidong

Đồi
Nước
Xó thôn bạc
Trừng mắt nhớ ngày thuở tóc trôi dạt

Mộng
Thực
Biển thổi trái tim mưa

Quê hun hút
Cỏ khóc thương tích
Bổ nhói
Hôn ám rừng khói bất trắc
Hát.


 

trưa

Dốc
Nhà
Râu tóc
Xóm quê
Phố người tứ xứ

Lầm lũi nhớ mùa sóng hương nếp
Sông
Ơi chèo
Bến …

Nheo mắt trưa
Lòng mây.


 

tàn đông

Như hoàng hôn chảy, tiếng khoan nhặt
Như thời gian đắm trên môi hôn
Như cõi sắc mầm, gió căn cắt
Len lén nghe lời, mênh mông non

Giữa âu yếm lửa nến bật tắt
Âm ấm hơi rượu men tuổi xuân
Ta chải chuốt hồn, đồng quạnh quẽ
Hoa, mắt rong
Đời sông thanh tân

Đã nuốt chửng váng ngày xao xác
Đã đìu hiu từ dạo bước chân lên
Những bát ngát của chiều ánh khao khát
Những rừng câm vời vợi, tro lênh đênh

Ta để ngỏ, ao chuôm và áo ngự
Thấy bay ra một cánh thinh khôn
Nói ấp úng
Buổi đồi nhật thực
Vẫy gọi ta về, sương tàn đông.


 

thử vẽ phác chân dung một thi sĩ

Thở dồn dập phôi pha xưa mắt rối
Gió rêu
Ngày siết nhớ nụ cười đáy hồ tắt

Nắng hú
Khỏa thân người
Nhả thân trôi
Lời xẫm xanh lời
Hoài hủy nói
Khói ngốc nghếch đùa điên môi mưa

Sần sùi thổi
Ngồi man mác rong
Thuốc lá cà phê và thi sĩ.

                                Sàigòn 1986

* Bài thơ viết về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (vẽ chân dung bằng chữ). Trước khi vượt biên, tôi có gửi lại anh, vì biết rằng đi là đi mãi, không có ngày trở lại. Cái tâm trạng vượt biên hồi đó rất kỳ lạ, ngay cả cái sống chết cũng còn không màng nữa là những chuyện khác. Sở dĩ tôi không đề tên ông vì lúc đó, ông là nhà thơ nổi tiếng, còn tôi chỉ là một người bình thường.


 

nghe đàn

Gánh về
một quải nắng trong
Chiều ra
hít thở
cho lòng trống trơn

Thoảng đâu
có một tiếng đờn
Nghe qua ngờ ngợ
cái hờn
thâm u

Ngoài trăng gió bãi
thổi vù
Thấy ma trên núi
ngồi tu
quặn lời

Kinh xưa một lá
tờ rơi
Trăm năm hỏi giấc
mộng người
có không.


 

tự ca

Mở mắt
Nhấp nháy nghi, hồn nhiên
Rơi trên thềm, ruộng đồng chảy mật
Chưa bao giờ nước và đất thành bùn
Chưa bao giờ điêu linh là mộng

Ta khởi từ đời có thật
Chạy đi rồi về gió tất tưởi
Chiều xa chôn hờ thây ngoài non
Đợi nhau từng giờ bướm thổn thức

Dừng lại con quay quẻ may rủi
Dắt tay bước qua cầu nước mắt
Thở dài
Cười
Tiếng hùng hổ
Nhè nhẹ rừng lời buông bông lơn

Nhát cuốc
Cỏ, hẳn nhiên chết
Cho nhanh ngày mầm héo xơ xác
Vay trả ngàn kiếp muôn biến đổi
Ta ca thiêm thiếp quê mùa thơm.


 

mắt cũ

          Gửi NTV

Lây lất những
Mùa đồi
Thôi thơm môi

(Không có nụ hoa
                    nào nở trong khuya mơ
Mà tiếng ngày thoáng thở)

Khát xanh hoang phố úa
Ta
Ngậm ngùi
Ta
Ngổn ngang hoài mắt ứa xưa ôi hốc hác lời

                                            Sàigòn 1982


 

trưng bày

          Gửi PKT

Con thuyền
Trôi
Trên đồi
Nắng biếc
Thổi
Gió trắng hếu nằm phơi
Trên thảm xanh của rừng

Không có hầm đá nào để nhốt những cánh rong
Không có chiếc lá nào bám vào sợi mây
Và lửa đùa
Một tiếng âm của rắn và móng vuốt
                                       của lũ quái trên bãi non

Trăng
Hay khói
Chảy trong ngày lạ.


 

xẩm ca

Qua mái hiên chiều, khói tranh tối
Quên, bãi dâu
Chèo, lênh đênh trôi
Ta áo manh hè phố giá buốt
Tro đãi bôi hồ nghi trên môi

Ta cải trang về cõi lá úa
Run mãi run thầm, trăng sông xanh
Nghe thản nhiên bờ bến khốn nỗi
Trông dõi khêu
Lửa mùa
Cũng đành

Ai hát ru rừng mắt dã thú
Ngây ngất mưa lời như chôn sâu
Tiếng chim khóc, ẩn lánh biệt xứ
Đã tím hơi chờ bao thiên thâu

Trong giấc ma muội gió bất ổn
Đang réo tên ngàn sao ban sơ
Ta thổi tắt tàn bấc hư hoặc
Nghe xẩm ca ngoài thinh không, mơ.


 

góc trọ

Nơi gác vắng tiếng trăng nhạt
Cô độc gọi
Hiểm hóc nhớ
Lăn lóc cười mắt thâm quầng trôi

Khỏa thân đồng xanh
Khỏa thân lời
Khói ám

Ném mũi lao vào thinh không
Để nghe mùa đông đập cánh thở
Gieo quẻ bói
Tình yêu chói chan

Mặt trời hom hem trên môi ta
Chiếc ghế nói bằng ngôn ngữ điếc
Thuở hạt thóc nẩy mầm trong bọt mây
Ta thẩy đời theo con xúc xắc

Rực rỡ tóc chanh em ngày qua xưa

Quá khứ nở thành xương rồng
(Kẻ du mục không về lúc rạng đông
Để làm hề trên sàn tập
Em hóa trang chưa?)

Ta mở ngỏ trái tim
Những mối tình ương dở
Đóa hoa khóc
(Chim chóc chẳng bao giờ còn cất tiếng hót
Hay cứ cất tiếng hót
Hãy trồng lại giấc mơ, chứ em?)

Giọt nước mắt truyền ra mật ngôn tím
Những chiếc lá đi rong
Cắn miếng mưa
Ôi vì sao vì sao
Ta không thể nói với em về nụ hôn
Đã mất.
                           Bataan, June 23-89


 

rã rời

Xao xác chim từng đôi
Gối mây tình, luân hồi
Quán ngày, tan tác thở
Hắt hiu lời, rã rời


 

hoa khói

Lên non, lên non cao
Vú căng trần núm đào
Phơi mình trong gió, nở
Hoa khói, nguyệt lao xao


 

cội thề

Mắt ứa, khóe xưa lệ
Lênh đênh quên mùa quê
Ánh lòng men ly biệt
Môi hôn run, cội thề


 

mong manh

Quang quác tiếng chim thổi
Biếc trôi thân, hồn quanh
Mắt cũ, rơm già vội
Đất thai hoài, mong manh


 

như không

Xập xòe chim chóc liệng
Cỏ ngát, hoa ngoài song
Khói búp, cửa xuân lỏng
Mang mang tình, như không


 

vù xa

Ngun ngút chân đồi qua
Lãng quên tình quê nhà
Bến người, hoa bướm đậu
Khe khẽ trăng vù xa


 

thơ dại

Ném cội nguồn dưới ngàn
Mở toang tình vạn đại
Thở một tiếng, lòng tan
Gói vo thời, thơ dại


 

hồn mộng

Gác mái, con đò trôi
Chở trăm dòng, cội đời
Mắt liếc cõi mây nổi
Ngông ngang hồn mộng rời


 

phiêu khúc

Con chim biến hình
Ngoài gianh mưa
Tiếng hót
Xẩm đêm
Bẫy u mặc
Mở ra con đò xuôi mênh mang trôi

Ngủ
Khúc khích thở
Huyễn hoặc
Tha hương
Bão thân thế
Ngực biếc bát ngát lửa phiêu dạt
Tắt đi. Hoàng hôn trăng phế hưng

Thảng thốt
Cội rễ lời

Ta nghe dâu ngàn hóa bụi
Vô ngôn tự thuở nằm nôi
Có không chăng đời quỉ mị
Sao khuê vụt tắt đồi non

Trở dậy
Thấy lòng mình là đá
Thấy hồn mình là chỗ không may
Chân sa hố sinh biệt

Ngày nổi chìm
Trong
Đáy nắng xôn xao.


 

cõi vạn chiều

          Gửi LHL

Như thể khoảnh khắc của huyên náo
Trôi ngoài ngọn nguồn, thân như sương
Ta về xuân khóc bên thềm cửa
Đã biệt lâu rồi. Không cố hương

Đã hết những thời hoa nguyệt thẹn
Đã tan chưa khóe mắt buồn xưa
Nhấp môi. Nước chảy trăm dòng nắng
Có thật ngày quanh, bước cỏ thưa

Mặt trời cắn một chiếc đò lớn
Có bầy chim bỏ ra biển đông
Có ta long lanh tựa giọt lệ
Rơi hồn nhiên cùng mơ, thong dong

Ta về thóc ấm giao mùa thở
Uống hết một liều, tro cô liêu
Ô hay tóc gió chưa là khói
Để mở lòng ra cõi vạn chiều.


 

đêm chong đèn đọc thư người họa sĩ gửi từ Orleans

Sơn dầu và khói thuốc
Nụ cười tóc trắng
Ôi, mắt biếc trôi mênh mông đâu?

Trong khuya xưa tiếng đàn lẻ vướng trên làn môi hạt
                                                                        sương non
Vuốt một chòm mây ngoài ngày người nghệ sĩ nghe
                                                  thánh thót giấc mơ quá khứ
Dẫm lên tuyết bạc, quẩn quanh người, quẩn quanh ta
                                                                       vệt mờ núi cũ

Con chim sâu gọi mùa xương rồng
Lời ca buốt
Gió run tím
Ngậm cành gai cổ tích thoảng hoài thời thơ ấu qua

Nơi góc biển
Người ngư phủ già khua mái thuyền chiều lênh đênh
                                                                             sóng hát
Tần ngần điểm một màu mưa, cánh gió… xó quê lam,
                   trăng phố, Paris thu có nhớ chăng ta tiếng
                                                                 thở dài mơ hồ rêu

Ném nụ mầm vào bếp lửa, soi ánh nến thầm hỏi về đời
                                                                                 tro tàn
Tạ ơn chân dung người họa sĩ miền Orleans.
                                                                Bataan, March 89


 

lá không

Về thôi, hẳn mộng đồng xanh
Đã tan chưa hạt nước quanh mắt ngàn
Thuở lời, vọng tiếng chim ra
Đò quê, mật sóng giữa đàng lá không


 

vó sầu

An nhiên, cát bụi lên đồng
Gác khuya hắng gọi thuyền sông, bến bờ
Dội ngòai dâu bãi, rung tơ
Bóng câu đứt mạch nằm trơ, vó sầu


 

nước non

Lênh đênh biển biếc một chiều
Quanh thôn sóng rộng dập dìu khói xây
Mây trôi chở cội nắng đầy
Lỡ thân tan nhạt làm rầy nước non


 

phố người

Hú lên, thinh lặng nhánh cành
Thấy mưa bốc ngược bên thành, chốn hoa
Động mùa, khỏa cánh bay ra
Những thân trăm nẻo về qua, phố người


 

thoáng say

Có thật
Những đồng trăng cội dâu
Bến quên. Sông ngất mộng non đầu
Áo lam tốc ngược bên đồi, hú
Im bặt lời trong khuya, bỗng đâu

Rờ rẫm chiều xanh ngỡ đá xanh
Chưa hay thân thế đã tan tành
Mây trôi từ kiếp, ngàn hiu quạnh
Bước vội qua mùa, hoa sang canh

Có đấy
Ta về, quanh quán trọ
Mái ngang, mưa đắm một con đò
Chiếu mơ mắt đẫm khôn cùng, nhỏ
Và tiếng hồn run rong nước, khô

Ta chở đời lên theo khói bay
Chim ơi đứt gánh ở cung đầy
Lênh đênh mấy nỗi, du tình dậy
Thuở nhớ rừng sao không, thoáng say.


 

mù sa

Mây hôn, thơm chiều hoa
Mắt hoen bờ lệ nhòa
Xót ly biệt, hiu quạnh
Run run xưa, mù sa


 

sầu lên

Về, hoa đèn cô tịch
Lời tình đưa lênh đênh
Ỡm ờ kiếp ôn dịch
Ôm thân ngây sầu lên


 

thuyền sao

Lập lòe, đom đóm dậy
Cỏ ướt, trăng đồng dao
Bước sõng, bóng run rẩy
Bến sông xanh, thuyền sao


 

rượu sầu

Hoa trôi, hoài giang đầu
Mơ mơ thôn làng dâu
Hắt hiu, dấu du sĩ
Mênh mông môi, rượu sầu


 

hoa

Em môi không, búp gió
Em mắt không, ngàn non
Em có hay, mây đợi
Em còn, cho nắng hôn


 

và hoa

Ngắt nụ hoa hồn nhiên
Râm ran lời cỏ rộng
Vớt một cánh rong hiền
Xốn xang tình tiễn biệt


 

xuân tứ

          Gửi TPK

Lửa mắt, hôn tóc sao
Chảy và khóc
Lời kinh mưa

Như trái tim kịch, lòng co quắp
Như bất ưng chiều run phiêu linh
Như chim bay qua rừng hát huyên náo

Ta, sâm thương nguồn gió đau đớn
Bên quán xưa men rượu còn chờ
Thây man di có tiếng hờn oán
Sông cuối sông về, hoa tinh mơ

Ngăn ngắt quanh ngực núi càn rỡ
Khuya liếp tranh hồn quê siêu sinh
Ta cắn răng cùng đá gầm rú
Trong nước trôi ngoài trăng lân tinh

Soi, bỗng nhiên dòng nỗi lam lũ
Đang cuốn đi từng cơn phiếm du
Thiêm thiếp hơi gặm miếng tình cũ
Bao phế hưng ta mùa xuân tù.


 

chái xưa

Đã gãy dập tiếng hót lãnh lót
Cháy tàn môi
Lửa bếp
Đò ngang
Thổi tăm tắp hoài giấc thảng thốt
Trong sâu, ru hồi kinh hỗn mang

Như vết dao chém, cõi hung hiểm
Ta gọi run cành cơn tang thương
Nhai ngấu nghiến thời lúc ô nhiễm
Lênh đênh bao nguồn, mưa Tây phương

Từ thuở tuổi tác như đồng nát
Sương khói xây thành trăng mộ bia
Ta uống say khướt nước quẫn bách
Theo gió ra ngoài biên giới kia

Bóng núi xanh ngu bước ngây ngất
Đi về giây khắc như ma đưa
Ôi thôi ném quách thân vào đất
Ta gõ
Trầm luân quanh chái xưa.


 

phân ly

Trên chiếc ghế thời gian ngược xuôi
Ta chảy tan cùng, gió rực rỡ
Như dọc ngang tuồng chưa nguôi ngoai
Thơm ngai ngái mùi cỏ ngàn hỡi

Ta hỏi han chiếc lá, dò dẫm
Trong khói nhang chiều bên thôn xa
Bao mê thiếp giọng bến đầm ấm
Đang vỡ ra thành mây, trôi qua

Hãy ngừng khóc những mắt rừng buốt
Cho sông đêm dội về biển sầu
Nơi chôn nhau vàng cánh chim ngóng
Nghe thâm sâu mộng tình đập nhàu

Ta đánh mất nguồn thú ham hố
Run run xưa lửa mồi dậy thì
Quên lãng chứ, lời đã hoen ố
Quanh mái không hồn mưa phân ly.


 

thanh xuân

Ta tắt tiếng từ bao giờ không biết
Lúc nhìn em lồ lộ ngoài hư không
Lúc ta theo vồ vập màu chiều tà
Và chỉ thấy bụi rơi cùng nắng lạ

Ta ngây dại đến vô cùng thảng thốt
Khi sinh ra trên mặt đất đầy ưu sầu

Một bể sầu xô dạt dưới chân non
Một mảnh chiều phiêu dạt giữa mây rong

Em không thấy rằng ta là tro bụi
Và sinh ra từ một ánh trăng suông

Cùng bể rộng
dâu xanh
Thác ngàn
Cỏ nội

Ta nhẹ nhàng rảo bước vào ban sơ
Ta nhẹ nhàng khép lại cánh hoang sơ
Và rất sợ khi ngồi coi lá úa

Mà chiều rơi
Chiều rơi
Chiều rơi
Dào dạt một chiều rơi
Ta bỗng chốc tả tơi và nhiễu loạn

Trông hoa nở
Em ơi
Đời bất tận
Ta bất ngờ hủy diệt trước thanh xuân

Ta hấp hối vì vô minh lấp ló
Ngót một đời quanh quẩn trong hang sâu
Và thắp sáng hồn ta bằng ảo vọng
Chút tro tàn cũng đủ làm hân hoan
Chút nắng nhạt cũng đủ làm mê mẩn
Vì chao ôi
Một nhúm sống nhiệm màu

Tôi ngồi lại
Trên cầu xanh
Và thở hắt.


 

 

ưu sầu

Tôi ngồi lại phân bua cùng nước cuốn
Một bể hồn mù mịt khi sương rơi
Trong hiu hắt đời tan như bóng xế
Có rất nhiều bèo dạt lẫn hoa trôi

Ta bỡ ngỡ
Xiết bao
Và nghi ngại

Một cánh chiều bay tuốt
Một cánh chiều trong suốt đến bên ta

Một buổi sớm
Chim rừng bay
Nhẹ nhàng say
Ta buồn thay đi rong và đếm được
Một ít nhiều sóng nhỏ vỗ lăng xăng
Bèn xừng xộ với khoảng trời lơ đãng
Sao lôi thôi rất vội vì sương hàn
Sao mênh mông hối hả vì hương lừng
Một chút nắng vô cùng đã ló

Hãy ngồi lại nghe hơi thở tàn
Trên đầm sen vạn màu hôn ám

Em không hay một chiều tiễn biệt
Ta thổi tan mất dòng lửa đầu

Trong nôi nắng phôi pha
Dập dồn mở lại
Cánh chiều xưa
Cánh chiều xưa
Mây nước xưa

Ta lơ láo từ cội nguồn hoang phế
Và thấy đời thấp thoáng trong sông sâu

Em cứ khép một nấm mồ nghi hoặc
Ta êm đềm nằm chết giữa mây lan
Ta âm thầm uống hết bụi trăng tan
Và cô quạnh
Quay cuồng trên sông đắm

Một chút gì đã mất ngoài vô tăm
Một chút gì đã thấy ngoài xa xăm
Và em có thản nhiên cùng lạnh nhạt
Khi nhìn ta nhàu nát mộng vô ngần

Lúc trái đất bần thần không quay nổi
Là hồn ta úa chín trên đồi xanh

Ôi trái đất vui như mùa lễ hội
Thuở ấu nhi màu nhiệm trút bên ngàn
Và huyên náo của ngày xanh diễm tuyệt
Ta huy hoàng hết thở giữa trần gian.


 

thư của một nghệ sĩ ở hành tinh khác

Anh T,

Tôi mới nhận được thư của một nghệ sĩ ở hành tinh xa xôi. Lá thư không lời, không chữ, không âm thanh, không màu sắc, gửi từ một nơi mênh mông.

Một vực thẳm mới được mở ra và chúng ta đang ở lưng chừng giữa sông sâu và núi cao. Nắng và gió phút chốc đã cuốn đi những cánh đồng, đồi xanh và biển cả. Thời gian một đời người trong giây lát chỉ dài bằng một chớp mắt. Có hay không sự hiện hữu ở bên kia cõi sống?

Có một thời những nghệ sĩ điên rồ đội vòng gai và đóng mình trên thập tự. Trong khi nghệ thuật thoát ra ngoài cõi sinh diệt và nghệ sĩ với con người cũng chỉ là phương tiện để nghệ thuật đầu thai. Hương và sắc của cuộc đời là màu mỡ cho nghệ thuật bay lên. Ở nơi chốn thâm u kia và quanh ta không có dáng dấp vị thần nào cả nhưng lại có hằng hà sa số thế giới khác đang không ngừng sinh hóa.

Hiểu được cái sống là hiểu được cái chết, là hiểu được muôn nghìn cõi sống khác, là hiểu được nghệ thuật. Đó không phải là ý nghĩa của đời sống hay sao?


 

Mục Lục

 

Phụ bản Duy Thanh, tr. 13 / Mong, Gửi Lão Tử, Rất nhỏ, tr. 14 / Chết, tr. 15 / Từ Biệt, tr. 16 / Tin Báo, tr. 17 / Tắt, tr. 18 / Vô Đề, tr. 19 / Trăng Ở Bataan, tr. 20 /  Tình, tr. 21 / Mở, tr. 22 / Khói, tr. 23 / Lắp Bắp, tr. 24 / Phụ bản Duy Thanh, tr. 25 / Chuyển Mộng, tr. 26 / Cảnh, tr. 28 / Nhánh sầu, tr. 29 / Mưa Phố Kỳ Đồng Nhớ Tranh Thái tuấn, tr. 30 / Mán Mường, Lệ, tr. 31 / Phiêu Diêu, Tỉnh Mộng, tr. 32 / Ở Bidong, tr. 33 / Trưa, tr. 34 / Thử Vẽ Phác Chân Dung Một Thi Sĩ, tr. 35 / Nghe Đàn, tr. 36 / Tự Ca, tr. 37 / Mắt Cũ, tr. 38 / Trưng Bày, tr. 39 / Xẩm Ca, tr. 40 / Góc Trọ, tr. 41 / Phụ bản Thái tuấn, tr. 43 / Rã Rời, Hoa Khói, Cội Thề, tr. 44 / Mong Manh, Như Không, Vù Xa, tr. 45 / Thơ Dại, Hồn Mộng, tr. 46 / Phiêu Khúc, tr. 47 / Cõi Vạn Chiều, tr. 49 / Đêm Chong Đèn Đọc Thư Người Họa Sĩ Gửi Từ Orleans, tr. 50 / Lá Không, Vó Sầu, tr. 51 / Nước Non, Phố Người, tr. 52 / Thoáng Say, tr. 53 / Mù sa, Sầu Lên, Thuyền sao, tr. 54 / Rượu Sầu, Hoa, Và Hoa, tr. 55 / Xuân Tù, tr. 56 / Chái Xưa, tr. 57 / Phân Ly, tr. 58 / Thanh Xuân, tr. 59 / Phụ bản Thái Tuấn, tr. 63 / Ưu Sầu, tr. 64 / Thư Của Người Nghệ Sĩ Ở Hành Tinh Khác, tr. 70.