Khi tôi đã nằm giữa nơi sa mạc miệng đầy cát khô thì tôi không còn hình ảnh không còn âm thanh. Tôi vẫn hỏi thế nào là Tự do. Tôi đã yêu ai trọn vẹn mối tình thơ dại. Trời trắng rất nóng trong đầu ruồi bọ khoét mắt Tôi vẫn sống thiết tha dù hôm nay chỉ còn – còn vừa đủ một hơi để thở. Tôi vẫn sống thiết tha dù hôm nay biết chắc chẳng ai đến hôn vào môi mình cho thêm một hơi thở. Người ta đã phụ nhau rồi, phải không em? (Toàn bộ bài Hơi thở, Liên Đêm mặt trời tìm thấy, Nxb Sáng Tạo 1964, và thivien.net 15/7/2009)
6- Bài thơ Kiếp con quay (Tản Đà, Đánh quay, Wikipedia) Trời sinh ra tớ kiếp con quay, Quay tít mù xanh nghĩ cũng hay. Lì mít giang sơn khi chóng mặt, Đùng lăn thiên địa lúc rời tay. Lăng băng thân thế đi, đi, đứng, Nghiêng ngả quan hà tỉnh, tỉnh, say. Thân tớ ví to bằng quả đất, Cũng cho thiên địa có đêm ngày.
“Chuyển thể” Tân hình thức Việt:
Trời sinh ra tớ kiếp con quay quay tít mù xanh nghĩ cũng hay lì mít giang sơn khi chóng mặt đùng lăn thiên địa lúc rời tay lăng băng thân thế đi đi đứng nghiêng ngả quan hà tỉnh tỉnh say thân tớ ví to bằng quả đất cũng cho thiên địa có đêm ngày.
[Các mục 7-8-9- dưới đây đang được bổ sung]
7- Danh sách một số tuyển thơ, bài phê bình, lý luận Thơ Tân hình thức Việt
* Tuyển tập thơ: + Thơ không vần – Blank Verse, song ngữ Việt-Anh, Nxb Tan hinh thuc, California 2006, khoảng 450 trang, 65 tác giả trong-ngoài Việt Nam, lời giới thiệu: Đặng Tiến, tựa: Khế Iêm, chuyển ngữ: Đỗ Vinh. + Poetry Narrates – Thơ Kể, song ngữ Việt-Anh, Nxb Lao Động, Hà Nội 2010, gần 300 trang, 21 tác giả giả trong-ngoài Việt Nam, lời giới thiệu: Angela Saunders.
* Tập thơ cá nhân: + Đoàn Minh Hải, Đại nguyện của đá ấn bản 2002, và Nxb Thanh Niên, Hà Nội 2013. + Lưu Hy Lạc, 26 Bài thơ Tân hình thức, Nxb Giọt sương hoa, Hoa Kỳ 2002. + Hà Nguyên Du, Gene đại dương, Nxb Tạp Chí Thơ, Hoa Kỳ 2003. + Inrasara, Chuyện 40 năm mới kể &18 bài tân hình thức, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội 2006. + Khế Iêm, Thơ khác, song ngữ Việt-Anh, Do Vinh dịch, nxb Tan hinh thuc, California 2011. + Biển Bắc, Thúy liên khúc ngoài, Nxb Văn Học, Hà Nội 2012. * Sách: + Khế Iêm, Stepping Out/ Essays On Vietnamese Poetry- Bước ra/ Tiểu luận thơ Việt, Tan hinh thuc Publishing Club, California 2012. + Khế Iêm, Vũ điệu không vần – Tứ khúc và những tiểu luận khác, tập nghiên cứu phê bình, Nxb Văn Học, Hà Nội 2011. – Chú giải về Thơ Tân hình thức – Tân hình thức & quan điểm thẩm mỹ mới – Tân hình thức và Hiệu ứng cánh bướm – Tân hình thức và thể thơ không vần – Nhịp đập của thực tại – Đọc thơ – Thuở trời đất nổi cơn gió bụi – Thơ Bùi Giáng, một thử nghiệm đọc – Thơ tự do, một tiếng gọi khác – Tân hình thức: Cuộc chuyển đổi thế kỷ, Tạp chí Thơ số Mùa Thu 2000. – Khế Iêm, Tân hình thức bước ra từ nền văn học suy tàn, tựa của tuyển tập Thơ không vần – Blank Verse. – Khế Iêm, Phong cách tân chiết trung, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com 15/06/2012. – Khế Iêm, Tân hình thức, nhắc lại – 10 năm, Tạp chí Sông Hương số 262 tháng 12/2010, và tapchisonghuong.com.vn 20/12/2010. – Khế Iêm, Các tiểu luận – Ghế và Người Thơ Tân Hình Thức đọc – Thơ tình, từ truyền thống đến Tân hình thức – Thơ không vần, kể lại – Đọc (Hội hoạ) – Vũ điệu không vần – Mark Jarman & David Mason, Những thiên sứ nổi dậy: 25 nhà thơ Tân hình thức, tựa cho tuyển tập Rebel Angels: 25 Poets of the New Formalism, 280 trang, Nxb Story Line Press, Oregon 1996, Nguyễn Tiến Văn dịch, tapchisonghuong.com.vn 26/6/2012. – Đặng Tiến, Về một xu hướng thơ Việt hải ngoại – Thơ Tân hình thức, Tạp chí Sông Hương số 244 tháng 6/2009. – Thăng Long, Thơ Tân hình thức và cái khó của người sáng tạo, Tạp chí Sông Hương số 273 tháng 11- 2011, và tapchisonghuong.com.vn 31/10/2011. – Nguyễn Vy Khanh, Thơ hôm nay, vanchuongviet.org 23/9/2012.
8- Danh sách một số bài giới thiệu, tán đồng, ủng hộ Thơ Tân hình thức Việt – Văn Giá, Về một nỗ lực làm mới thơ Việt, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com.vn 29/6/2012. – Nguyễn Thái Hòa, Tôi đọc Chùm thơ Tân hình thức, hoangvuthuat.vnweblogs.com17/11/2012. – Frederick Feirstein, Giới thiệu tuyển tập thơ Khế Iêm, Phạm Kiều Tùng dịch từ tiếng Anh; sách Other poetry – Thơ khác. – Alexander Kotowske, Bình luận về ‘Thơ khác’, Phạm Kiều Tùng dịch từ tiếng Anh, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com.vn 19/6/2012. – Tom Riordan, Vài ý nghĩ về thơ kể, Tunisia & P.K.T. dịch từ tiếng Anh, Tuần báo Văn Nghệ, số 35-36, đầu tháng 9/2010, và phongdiep.net. – Inrasara, Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại, inrasara.com 3/3/2009. – Khế Iêm/ Văn Bảy, Thơ kể – tiếp nhận một thể mới cho thơ Việt!, thethaovanhoa.vn 18/7/2010. – Inrasara/ Thu Huyền, Phong trào văn học nào bất kì cũng cần đến sự tổng kết, đánh giá, Báo Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và inrasara.com 2/10/2013. – Ra mắt tuyển thơ Tân hình thức Việt đầu tiên, thethaovanhoa.vn 18/5/2010, và vanhocquenha.vn.- Khế Iêm, Truyện “Thơ Tân Hình Thức, Sông Hương Đặc biệt số 7 tháng 12/2012, và tapchisonghuong.com.vn 4/1/2013. – Quỳnh Thi, Tôi làm Thơ Tân hình thức, thotanhinhthuc.org. – Quỳnh Thi, Tân hình thức – một thể thơ đã thành hình trong văn học Việt Nam, thotanhinhthuc.org. – Nguyễn Hiền, Biển Bắc, nhà thơ Tân hình thức, caidinh.com 2012. – Cái Đình, Nhà thơ Biển Bắc nhận giải thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2/6/2007. – Đỗ Quyên, Tân hình thức – Ba bài thơ và các bình luận, damau.org 26/10/2009. – Những bài thơ tân hình thức Mỹ, tapchisonghuong.com.vn 29/6/2012. – Ghi chú về bộ tranh Thơ tân hình thức, Sông Hương Đặc biệt số 7 tháng 12/2012, và tapchisonghuong.com.vn 7/1/2013. – Hà Nguyên Du, Thúy – Liên khúc người xa, ca khúc; lời thơ Tân hình thức của Biển Bắc, tapchisonghuong.com.vn 7/1/2013.
9- Trích lược một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt (Các chỗ in nghiêng là nhấn của người biên soạn)
+ Mã Giang Lân (Thơ và không chỉ là thơ, Văn Nghệ số 39/2013, và vannghequandoi.vn 8/9/2013) “Một nhóm thơ hải ngoại ròng rã 20 năm rồi, cố gắng xây dựng một Tân hình thức cho thơ Việt. Tân hình thức cũng gò vào thể luật vần, tính truyện, kỹ thuật vắt dòng và lặp lại kết hợp với hiệu ứng cánh bướm… Nhưng ‘tân nội dung’ của Tân hình thức đôi khi chỉ là những thứ lặt vặt, tầm thường, còn ‘đời sống bình thường tự nhiên, thoải mái, thể hiện mong ước của con người mang tính nhân bản, niềm vui và hạnh phúc trong tinh thần cảm thông bình đẳng’ [Tạp chí Thơ, số Mùa Xuân 2003, tr. 5] thì thật dễ dãi nhàm chán. Ấy vậy, gần đây (2012), có người viết bài bệ vệ biểu dương thơ Tân hình thức. Tôi ngờ rằng tác giả bài viết hiểu về Tân hình thức và thơ Tân hình thức còn lơ ngơ lắm, thấy lạ thì xáp vào hy vọng tìm được một hồi âm có cánh.”
+ Nhã Thuyên (Vài băn khoăn nhỏ từ Tân hình thức của nhà thơ trẻ, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012; và tapchisonghuong.com.vn 19/6/2012) – “Điều nghịch lý là khi nỗ lực tận dụng các ưu thế của truyền thống thơ luật, với những hình thức ít nhiều cố định, tên gọi Việt ngữ đèo bòng chữ “Tân” lại gây ra cảm giác xa lạ và mệt mỏi, bất kể hành trình đầy đam mê và không ít lạc quan của (những) người chủ trương, đặc biệt là Khế Iêm – nhìn vào nỗ lực của anh nhiều năm qua với Tân hình thức Việt, dẫu kẻ hoài nghi nhất có thể cũng ít nhiều cảm kích. Người ta thấy như thể nó mãi là một du khách, chưa kể đến sự lơ đãng vốn dĩ của người đọc với thơ ca nói chung.” – “Sức hấp dẫn/ kém hấp dẫn của Tân hình thức với bạn đọc Việt Nam cho đến nay, tôi tin, không phải vấn đề nó xa lạ hay người ta chưa dung nhận những cái khác của thi pháp Tân hình thức, mà có thể nằm ở chỗ sự khác biệt của nó chưa được đẩy lên thành một triết lý riêng về thẩm mỹ chăng?” – “Việc đưa thơ trở lại đời sống cộng đồng rộng rãi như đã từng trong quá khứ nhân loại có thực hiện được bằng việc tạo ra một thể thơ mới không?”; “Tôi nghĩ, những yếu tố có thể dễ dàng gọi tên như vắt dòng, kỹ thuật lặp lại, tính truyện, ngôn ngữ đời thường chỉ là một trong những điều kiện cần cho sự hình thành một thể thơ. Mọi thủ pháp, ngay cả khi nâng lên thành thi pháp, thành kĩ năng hay nghệ thuật, không biện hộ được cho sự tồn tại riêng lẻ của từng bài thơ, không thể lí giải cho sự quan tâm hay thờ ơ của người đọc.”; “Lặp, vắt dòng có khả năng là những yếu tố chủ yếu hay chủ yếu nhất trong việc tạo nhịp điệu và khắc phục áp lực bằng trắc trong ngôn ngữ tiếng Việt? Ngôn ngữ đời thường có thể làm bạn đọc gần với thơ ca hơn là những ngôn ngữ mang nặng tính tu từ, cố ý rối rắm, khó hiểu chăng? Nó có thể tạo nên một dạng ‘ca dao mới’? Tôi không chắc sự phân biệt ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ tu từ cần phải tạo thành đường ranh giới sâu của thơ ca. Tân hình thức có nhất thiết trói mình vào cái gọi là ‘ngôn ngữ đời thường’ không? Tôi liệu có thể làm một bài Tân hình thức với nỗ lực tu từ, với hình ảnh chiều sâu theo một cách riêng biệt?”; “Trong những tiểu luận của họ, tôi hiểu ý các nhà Tân hình thức muốn mượn một thuật ngữ để giới thiệu vào thơ Việt một thể thơ mới, và do đó, mọi ý đồ so sánh Tân hình thức Mỹ và Việt sẽ thất bại ngay từ đầu. Nhưng chỗ khác nhau về mục đích này, tôi nghĩ, chính là chỗ dẫn tới con đường đi khác nhau: Tân hình thức Mỹ khi trở về với thơ luật để chống lại sức áp chế và có thể dẫn tới sự sinh thành dễ dãi của thơ tự do, thì thơ tự do đã ở đỉnh cao của nó. Tân hình thức Việt, không đi ra từ một nhu cầu thiết thân đòi cất tiếng của một thiểu số bị áp chế mà bắt đầu bằng một ý tưởng sáng tạo thiên về tính chất ứng dụng nên dường như mọi thứ rất sáng rõ ngay từ đầu. Tôi e rằng chính sự sáng rõ từ đầu đã khiến người viết không bức bách truy tìm nó. Hy vọng vào một khả năng đưa thơ trở lại đời sống, đưa thơ đến gần bạn đọc, đưa thơ tới nhiều bạn đọc hơn ư? (…) Sự sống của thơ ca chưa bao giờ nằm ở sự hưởng ứng của số đông.”
+ Mai Văn Phấn (Tân hình thức – Ba bài thơ và các bình luận, damau.org 26/10/2009) “Không vần, vắt dòng, có tính truyện, ngôn ngữ đời thường: Có thể coi như luật bằng trắc trong thơ lục bát, hay “Nhất tam ngũ bất luận/ Nhị tứ lục phân minh…” trong thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Hình thức thơ, kể cả những khuynh hướng tiền phong nhất hiện nay, cũng chỉ nên coi như cái áo khoác bên ngoài ‘hồn vía’ nhà thơ. Cơ thể ốm yếu, bệnh tật cố chạy theo ‘mốt mát’ có ngày chết đứ đừ. Nhưng, những nhà thơ tài năng nên chọn những kiểu áo mới, đẹp nhất mà ăn diện.”
+ Nguyễn Hòa (Xu hướng Tân hình thức, hậu hiện đại trong thơ: Chiếc áo rộng cho một cơ thể còm, cand.com.vn 27/7/2008) “(…) bàn tới hậu hiện đại trong thơ, tôi đề xuất ý tưởng rằng các nhà thơ hãy đi hết con đường hiện đại rồi hãy tính đến hậu hiện đại. (…) Một trào lưu nghệ thuật thật sự mang ý nghĩa xã hội-con người bao giờ cũng mang chứa nguồn gốc tinh thần sâu xa, không phải là trò chơi hình thức, thuần túy cá nhân. (…) Nhận xét thật sòng phẳng, những cách tân mà một số nhà nghiên cứu-phê bình đã phát hiện từ sáng tác của Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền… chỉ là hiện tượng đơn lẻ, có ý nghĩa tác giả, thiếu tính phổ quát; hầu như chưa thấy người làm thơ nào học hỏi, vận dụng để từ đó hình thành một đội ngũ, một thế hệ người làm thơ cùng chung xu hướng tư tưởng-thẩm mỹ, đủ sức tiến hành một cuộc cách mạng trong thơ, như các tác giả Thơ Mới đã làm.”
+ Chân Phương (Thơ Hoa Kỳ và Tân hình thức [2005], vanchuongviet.org 2/2/2010) – Trên các số Tạp chí Thơ viết về Tân hình thức, chúng ta không thấy được bối cảnh lịch sử-xã hội đằng sau các chọn lựa thẩm mỹ trong sinh hoạt văn chương Hoa Kỳ. Mặt khác có lẽ các hạn chế về Anh ngữ và văn hóa đã khiến những bạn phất cờ Tân hình thức, đứng đầu là Khế Iêm, không hiểu được đến nơi đến chốn những điều họ nhiệt thành rao giảng (…). – “Nếu theo đúng tinh thần bảo thủ của thi phái Tân hình thức Mỹ, nhà thơ Việt Nam phải quay về với vần điệu và niêm luật trong thơ cũ Việt Nam của Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan; hoặc ít ra với dòng Thơ Mới tiền chiến vẫn còn nhịp nhàng êm tai. Ðằng này các bài Tân hình thức trên Tạp chí Thơ khiến người đọc có cảm giác đứng nhìn một trò chữ nghĩa biến những câu văn xuôi trung bình thành từng đoạn thơ bằng cách ngắt câu vắt dòng, bên cạnh việc lặp đi lặp lại khá nhàm một vài chữ hay ý tưởng. Thí dụ vài đoạn như sau: … người đàn ông hai mươi năm trước, không nghe, không thấy được gì từ người đàn ông hai mươi năm sau, cứ lầm lũi, lầm lũi, lầm lũi, tựa bóng ma, và chẳng hề hay biết, người đàn ông hai mươi năm trước cũng là người đàn ông hai mươi năm sau, đang đợi nhau, đợi nhau, đợi nhau, như cái sống đợi cái chết, ròng rã, đã hai mươi năm, dù vở tuồng vẫn chưa được viết, và đêm kịch vẫn chưa mở ra, những thùng rác vẫn chứa rác và không chứa gì khác. Khế Iêm – Ảnh Ảo – Tạp Chí Thơ số 19, tr. 100 ‘lầm lũi’, ‘bóng ma’, ‘hai mươi năm trước, ‘hai mươi năm sau’, ‘đêm kịch’, ‘vở tuồng’, ‘những thùng rác’… là một số hình tượng và từ ngữ quá quen thuộc của thơ văn Việt Nam và thế giới! (…) Những bài thơ như Ảnh Ảo trên Tạp Chí Thơ chẳng qua là một lối viết tự sự kiểu cách, nặng tính tu từ pháp mà chính tác giả bài thơ đã lớn tiếng chỉ trích trong các tiểu luận của ông (…). Dù sao tính tổ chức theo cấu trúc liên hoàn trong bài Ảnh Ảo và một vài bài thơ khác của Khế Iêm cũng cho thấy ông quan tâm đến chuyện ‘tay nghề’ hơn khá nhiều thi hữu khác trong nhóm chỉ cần nhắm mắt phóng bút là ra thơ … Tân hình thức… à la vietnamienne!” – “Ngọn gió Tân hình thức đã cứu sống nhiều câu văn xuôi đa ngôn và vô vị, tân trang chúng thành một loại thơ văn xuôi… dễ hiểu, dễ làm. Vì thế, không lấy gì làm lạ khi trên nhiều số Tạp chí Thơ bỗng nhiên nô nức ‘thi pháp đời thường’, bất cần ngữ điệu và nhạc tính của tiếng mẹ, tác sinh vô số câu cú không ra văn mà cũng chẳng ra thơ!”; “Nếu chịu khó xem từng dòng thơ trong Rebel Angels [Những thiên sứ nổi dậy – Phụ lục 9-], người đọc cẩn thận sẽ nhận ngay ra một điều: các nhà thơ Tân hình thức [Mỹ] tôn trọng ước lệ và cách luật nên tránh cưỡng bức cú pháp với ngữ nghĩa; khi chuyển mạch văn hay dứt ý mới ngắt câu. Chỉ khi nào câu thơ dài quá khổ họ mới phải bắt buộc vắt dòng, trong khi các bạn trên Tạp chí Thơ lại biến trò vắt dòng thành một tiểu xảo máy móc thiếu suy nghĩ.”
+ Nguyễn Vĩnh Nguyên (Thơ Tân hình thức – Phản kháng, tìm tòi và quá khích…, Tạp chí Sông Hương số 184 tháng 6/2004; và Chuyên đề Cách tân thơ vanhocviet.org 15/8/2013) – “Gần đây [2003], trong giới làm thơ thường ’đồn đại’ về cái gọi bằng cái tên chung chung là thơ Tân hình thức (THT). Người có vai trò nhất trong việc ‘phổ cập’ thơ Tân hình thức vào Việt Nam, có lẽ, là một nhà thơ Việt ở hải ngoại, ông Khế Iêm. (…) Bên cạnh đó, thi đàn Việt Nam (trong nước và hải ngoại) những năm đầu thế kỷ cũng đã xuất hiện những bài thơ THT chủ yếu của các tác giả thơ ở TP Hồ Chí Minh và hải ngoại như: Đỗ Kh., Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Đạt, Trần Tiến Dũng, Đoàn Minh Hải… và gần đây là Lý Đợi, Bùi Chát, một ít ở cây bút nữ Phan Huyền Thư… Nhưng nói chung, chưa có tác phẩm nào nổi trội, xứng đáng tạo được dư luận rộng rãi. – “Có nhà thơ cổ suý cho THT, đã kêu gọi đồng nghiệp mình ‘phổ cập’ THT và nâng cao về quan điểm thẩm mỹ mới cho người thưởng thức như cách ‘nâng cao dân trí thơ’. Xin thưa, tiếng hô hào ấy rơi vào câm lặng là điều không lấy gì làm bất ngờ. Vì cuộc sống hiện đại đã chứng minh rằng, thơ cũng hay đấy, nhưng thiếu thơ người ta cũng sống tốt, sống khoẻ, chẳng việc gì phải đi tìm hiểu làm sao để tiếp cận một bài thơ THT mà nhãn tiền là những tác phẩm chưa đủ sức thuyết phục họ. Rõ mấy ông nhà thơ rỗi việc và cũng khôi hài thật đấy! Chứ thử hỏi, thơ THT, thế này thì thuyết phục được ai: Giờ trở lại mái nhà xưa Thấy người anh đã mất thấy Người em ở nơi quá xa Ảnh chế buồn rầu sau tám Tháng phớt tỉnh ăng lê Của người em là công dân Chánh hiệu có cầu chứng tại Toà ở đất nước huê kỳ…” – “Những bài thơ của họ, ngoài cái sự THT ra, còn có những tiếng tục tằn, những từ tục tĩu lộ thiên một tâm lý thác loạn không đem lại một hiệu ứng (hay tín hiệu) mỹ cảm nào cho người đọc. Nếu tự tách thơ ra khỏi cái đẹp và đưa gần lại sự dung tục thì có lẽ người ta sẽ bỏ làm thơ mà… chửi tục. (…) Những bài thơ THT vô tội. Tôi tin, bạn đọc sẽ trân trọng một bài thơ THT có giá trị thẩm mỹ cao, hơn là những kiệt tác đã đóng rêu, đóng mốc trong lịch sử văn học, Nhưng tôi sẽ tạm cảm tình với một bài thơ theo lối cũ mà thực sự là thơ, hơn là phải thưởng thức một cái món, gọi là nhân danh THT mà không tìm thấy một phẩm chất thi ca nào!”
+ Nguyễn Vũ Văn (Nhận xét về thơ Tân hình thức, talawas.org 13/10/2002; trang mạng Hồn Quê số 5 và Tạp chí Phố Văn số 11; và Trả lời về Thơ Tân hình thức, honque.com) – “Tính truyện: Thơ thuật sự không mới mẻ gì trong thi ca (…). Bây giờ hầu hết các nhà làm thơ Việt có tính hướng nội, chỉ nói về mình và những sự việc liên quan đến mình. Cho nên chiều hướng làm thơ thuật sự kể ra cũng là một đề tài nên khai thác, nhưng chuyên làm thơ thuật sự thì lại là một vấn đề cần suy nghĩ (…).” – “Tính khách quan: (…) Tự sự khách quan nghĩa là chỉ làm công việc của cái máy quay phim, quay những góc cạnh do tác giả chọn lựa với dụng ý. Người quay phim có thể là một nhân vật trong thơ hay một người vô hình hiện diện khắp nơi. Lời thơ mang tính khách quan, vô hồn, không giải thích, không bút pháp đặc biệt, chẳng khác gì lối văn của Alain-Robbe Grillet. Chính cái không giải thích này có thể làm cho bài thơ khó hiểu, trái với kỳ vọng về một sự trong sáng. Người làm thơ chỉ chuyên về tính khách quan, rời bỏ những cảm tính chủ quan, không quan tâm đến những diễn biến nội tâm, tức là làm thui chột phần lớn tâm hồn của mình. Tạp chí Thơ không nhắc gì đến tính khách quan trong tự sự, nhưng mặc nhiên chấp nhận nó.” -“Tính nhạc: Nói rằng thơ Tân hình thức réo rắt, luyến láy, dồn dập như sóng, hết lớp này đến lớp khác và chập chùng miên man như biển khơi, là không thực tế nếu nhìn vào các bài thơ đã đăng. Trong ngôn ngữ thường ngày, âm thanh và nhịp điệu trong giọng nói của ta cũng thay đổi tùy theo tình huống vui, buồn hay giận dữ. Câu thơ diễn tả những tình huống đó cũng cần thay đổi, không phải lúc nào cũng réo rắt và dồn dập. Và cũng không phải chỉ trong thơ Tân hình thức mới có những tính nhạc này. So sánh âm nhạc của Tân hình thức với vọng cổ là không đúng. Tuy rằng vọng cổ cũng dùng những lời nói bình thường, nhưng ở cuối câu bao giờ cũng có âm điệu nhất định mà người ta gọi là ‘xuống xề’. Còn nói rằng nhạc của Tân hình thức là nhạc rap, thì chỉ là cách nói ‘huề vốn’, cần gì đặt ra vấn đề nhạc tính nữa? Chỉ trích thơ tự do không có nhạc, chỉ có âm vang (…) để rồi rơi vào chính loại thơ chỉ có tiếng nói!” (…) – “Câu đều chữ: Về số chữ trong câu, thật ra chỉ có một mục đích là ‘làm cho thị giác đỡ bị vướng mắc’ vì chiều dài của câu thơ (…) Tôi không hiểu tại sao Tạp chí Thơ cứ nhất định đòi đếm âm tiết (syllable) để vắt dòng, chứ không đếm chữ. Tiếng Việt là tiếng đơn âm, mỗi chữ là một âm tiết, cho nên đếm âm tiết hay đếm chữ cũng vậy thôi. Có phải đây là một bằng chứng về sự lệ thuộc thơ Mỹ trong quan niệm của Tạp chí Thơ hay không?” – “Vắt dòng: Trong thơ tự do, xuống dòng để thay cho cách chấm câu, để nhấn mạnh, để tạo nhịp, hay để trình bày theo một dụng ý nào đó. Cách dòng (skip line) là để qua một đoạn khác. Trong thơ Tân hình thức, Tạp chí Thơ chủ trương vắt dòng bất cứ chỗ nào và vắt luôn qua đoạn khác, khi đọc thì không ngừng lại ở cuối dòng. Như vậy thì cách vắt dòng này có ý nghĩa gì mà Tạp chí Thơ đòi hỏi phải có kỹ thuật và kỹ thuật như thế nào? Ðọc không ngừng lại ở cuối dòng thì khác nào đọc một đoạn thơ xuôi hay văn xuôi? Vắt dòng chẳng qua cho có hình thức thơ đều chữ. Nhưng ta đã thấy các tác giả Tân hình thức muốn dùng bao nhiêu chữ (hay âm tiết, nói theo Tạp chí Thơ) trong một dòng cũng được. Vậy thì đều chữ để làm gì? Không có tác dụng gì hết! Chẳng qua chỉ đánh lừa con mắt mà thôi. Vắt dòng hay viết luôn một mạch như thơ xuôi cũng thế thôi. (…) – “Vần: Tạp chí Thơ cho rằng ‘Thơ tự do Việt đơn giản chỉ là loại thơ không vần’ (…) Ðiều này thật hết sức nhầm lẫn trong định nghĩa (…) cũng như trong thực tế. Tuy rằng không có luật lệ ràng buộc thơ tự do, các bài thơ tự do vẫn ít nhiều có vần ở cuối câu. Chỉ riêng trong thơ xuôi, một hình thức của thơ tự do, mới không có vần, nhưng có thi pháp và nhạc điệu bù lại. Tân hình thức Mỹ cũng thực hiện thơ có vần và vần đặt ở cuối câu, nhưng Tạp chí Thơ lại ‘bảo hoàng hơn vua’, chủ trương vần không đặt ở cuối câu mà ở những chỗ bất ngờ, tức là bất kỳ chỗ nào trong câu. Lại còn nói, ‘Ngay cả những quan niệm về vần cũng khác, không hẳn là chữ, mà còn là những nhóm chữ, câu, cảm xúc, và ý tưởng’. Thật là khó hiểu. Có lẽ Tạp chí Thơ cho rằng những câu nói lập lại như trong bài dưới đây [dẫn bài ‘Tân hình thức và câu chuyện kể’ của Khế Iêm] tạo thành vần của bài thơ chăng? (…)”; “Vần kiểu này thì chỉ mang lại tính cách luộm thuộm, rườm rà mà thôi. Còn những bài thơ khác không có những từ lặp lại thì sao? (…) Tóm lại, nhóm Tân hình thức cố gắng tạo ra một loại yêu vận tự do nhưng chưa thành công.” – “Thi pháp: Tân hình thức chủ trương dùng những câu nói thường nhật và tôn trọng cú pháp văn phạm, nghĩa là gạt bỏ mọi bút pháp thay đổi vị trí từ ngữ. (…) Lý do nêu lên là thơ truyền thống ‘mòn mỏi với vần điệu’, người làm thơ phải nặn óc tìm vần, tìm chữ (…) Nhưng bình thường đến mức buông thả như văn xuôi – văn xuôi cũng có khi còn chải chuốt hơn -, có khi chỉ là một bài báo (như bài ‘Những người chết trẻ’ của Lê Thánh Thư và ‘Kiều’ của Ðỗ Kh.) thì thật là quá đáng. Xưa nay người ta yêu thơ không những vì ý thơ hay, mà còn vì lời hoa mỹ, chữ dùng mới lạ, bút pháp tân kỳ. Người ta không chỉ ngâm nga cả bài thơ mà còn trích dẫn từ ngữ, nhớ mãi trong tâm. Thơ Tân hình thức dùng lời lẽ đời thường, không thi pháp, thì còn cái gì cái gì để thưởng thức? Chỉ còn cái hàm ý của cả bài thơ mà thôi. Nếu người đọc không tìm ra cái hàm ý này thì bài thơ chỉ để lại một con số không trong tâm trí. Chân Phương đã nhận xét chí lý rằng: ‘Hình thức càng nôm na bình thường bao nhiêu, nội dung càng phải siêu việt bấy nhiêu, nếu không chỉ có thất bại.’ (Tạp chí Thơ số 18, tr. 6). Ðỗ Minh Tuấn có cái mộng ước cao xa như thế này: ‘Nhìn chung, thơ cũ giống như những vật cứng có quảng tính dễ đo đạc và dễ cắt tỉa ra chi tiết. Hiện tượng lẩy ra một vài câu thơ hay để thưởng thức độc lập chỉ là dấu hiệu tố giác thơ ngày xưa không phải sự sống vô định mà cao nhật chỉ như những hòn ngọc trang sức ở trên thân thể đời sống. Thơ hay đích thực giống như một người đẹp ta không thể cắt ra cái mũi để khoe nhau. Thơ hay giống như một làn hương thông qua ám ảnh và lan tỏa không dễ gì thu gọn lại, rút tỉa ra một vài câu hay để thuộc lòng, để ngâm nga, để nhớ. Thơ hiện đại tỏa ra hương vị bí ẩn từ toàn bộ tác phẩm, mặc dù ta không thể nhớ một câu, một chữ.’ (Tạp chí Thơ số 20, tr. 206). Rất tiếc là Tân hình thức chưa sản xuất được những bài thơ hay như thế, và dù cho có đi nữa, không phải chỉ Tân hình thức có thể làm hay như vậy được. – “Kết luận: Trở lại với vấn đề phong trào Tân Hình Thức trong thơ Mỹ. Sự hình thành phong trào này bắt nguồn từ những nhận xét: a. về sự trì trệ của thơ tự do, b. về chủ nghĩa duy ngã, c. thơ tự do khó nhớ vì thiếu vần điệu, nhạc tính. Phong trào không những muốn thay đổi về hình thức (thơ đều chữ, có vần, có nhạc) mà còn về nội dung (thuật sự, khách quan, trong sáng). Tạp chí Thơ du nhập hoàn toàn các nhận định và chủ trương vào thi ca Việt. Theo Tạp chí Thơ, thơ cổ điển Việt Nam dựa vào luật bằng trắc, vần và cao độ (pitch, 4 level tone), dùng và chọn chữ, thơ Tiền chiến dựa trên vần (thường là cước vận), trau chuốt chữ và cách đọc ngừng ở cuối dòng, thơ Tân hình thức ‘kết hợp với một số yếu tố và kỹ thuật của thơ tự do, phá vỡ những âm hưởng Tiền chiến, chấm dứt nửa thế kỷ dậm chân tại chỗ của thơ Việt.’ (Khế Iêm, Tạp chí Thơ số 18, tr. 94). Tạp chí Thơ hết lời chỉ trích thơ tự do Việt trong 50 năm qua và đề cao Tân hình thức (…) Cái điều đáng nói thứ hai là đại ngôn. “Thơ tự do, sau một thế kỷ đã cạn nguồn và cùng kiệt, những nhà thơ Tân hình thức Hoa Kỳ chắt lọc từ truyền thống và tự do, để làm thành một hình thức tân kỳ hơn, thích nghi với cách diễn đạt mới, thì thơ Việt cũng mòn mỏi với vần điệu và tự do. Tân hình thức như một thời lãng mạn mới, một trật tự mới hay một nền ca dao mới trong một xã hội bình đẳng và dân chủ, lôi cuốn người đọc, làm phong phú đời sống và ngôn ngữ tự nhiên. ‘Chúng ta phải thức dậy hay chết’, đó là lời của nhà thơ Ý, Francesco Petrarch, người khai sinh ra thời đại Phục Hưng.’ (Tạp chí Thơ 20, tr. 70). Tôi đồng ý rằng các bài thơ làm theo Tân hình thức có một nội dung mới lạ so với các bài thơ tự do. Mới lạ chỉ vì tác giả đưa văn xuôi vào thơ, hoàn toàn là văn xuôi! Không thử nghiệm cái mới thì không có tiến bộ. (…) Tôi mong rằng Tân hình thức đẻ ra được những bài thơ đáp ứng lòng tự hào của nhóm chủ trương và lòng yêu thi ca của người Việt, chứ đừng “vẽ voi thành chuột”. – “Sau khi bài ‘Nhận xét về thơ Tân hình thức’ của tôi đăng trong Hồn Quê số 5 và tạp chí Phố Văn số 11, Tạp chí Thơ số 20 đã có 2 bài đáp lại của Khế Iêm và Nguyễn đăng Thường, và tạp chí Phố Văn số 13 cũng có bài của Nguyễn Lương Ba (…) – Khế Iêm viết: “Dùng kỹ thuật lập lại để thay thế vần, chứ có ai nói kỹ thuật lập lại là vần đâu … Các yếu tố rút ra để áp dụng vào Tân hình thức Việt không có yếu tố nào gọi là vần, vì kỹ thuật vắt dòng khó đi được với vần ở cuối dòng nên mới phải dùng hình thức lập lại’ (…) Tôi công nhận Khế Iêm có viết: ‘Thơ Tân hình thức Việt (…) không bao gồm vần’. Nhưng ở một chỗ khác, ông viết: “Vần và chỗ ngắt không bất di bất dịch chỉ ở cuối dòng, mà cũng giống như thơ tự do, xuất hiện ở những chỗ không thể đoán trước.” (…) Thật là mâu thuẫn.”
+ Khế Iêm viết: ‘Kỹ thuật lập lại (không có trong văn xuôi, và không dính dấp gì tới vần) là yếu tố mạnh mẽ, một thứ strange attractor (điểm quyến rũ kỳ lạ) của thơ, có khả năng làm bật dậy hình ảnh, ý tưởng, những khoảnh khắc có thực của thực tại, như những yếu tố ổn định của trật tự trong một hiện tượng hỗn mang’. Rất tiếc một kỹ thuật hay như thế được nêu lên mà không dẫn chứng. Tôi tìm suốt cả Tạp chí Thơ cho đến số 21 mà không thấy kỹ thuật này, ngoại trừ bài thơ ‘Tân hình thức và câu chuyện kể’ rườm rà luộm thuộm đã trích dẫn trong bài trước.”
+ Nguyễn Đăng Thường còn ‘dạy’ cho tôi biết khuynh hướng tự sự khách quan, không giải thích trong văn chương: ‘Một số các tác giả hiện đại tránh né sự giải thích, là bởi không muốn làm bậc thầy, là vì muốn người đọc đừng tiếp tục đóng vai trò thụ động. Xưa như trái đất rồi.’ Vâng, xin lãnh hội, nhưng xin đừng nói rằng đó là loại văn chương trong sáng. Một khi đã phải suy nghĩ, tìm tòi động cơ tâm lý (không được nói ra) của một hành vi thì không phải là văn chương trong sáng. Điều này tôi chỉ muốn nói đến các tiêu chuẩn trong thơ Tân hình thức Mỹ, còn Tạp chí Thơ không có minh thị nhắc đến tính khách quan và trong sáng trong các yếu tố của thơ Tân hình thức Việt.” (…)
+ Nhắc đến bài thơ ‘Đó là những giọt mực’ của Phan Tấn Hải, Nguyễn Đăng Thường viết: ‘…mỗi bài Tân hình thức đều có một nhịp điệu riêng nên không thể giống nhau được. Nếu đọc một bài văn xuôi – xin gọi tạm là văn xuôi như lời người điểm thơ sắp xếp dưới dạng Tân hình thức, và cũng bài văn xuôi ấy giàn trải theo cách thông thường, mà không thấy/ chưa thấy được sự khác biệt, thì không do lỗi của người làm thơ, mà bởi lỗi của người điểm thơ, hoặc là chưa biết đọc thơ, hoặc đã cố ý không muốn thấy có sự khác biệt nhau.’ Sở dĩ tôi đã trình bày bài thơ ấy theo hai cách là để cho độc giả thử đọc chúng cho người khác nghe, xem có gì khác nhau hay không. Nếu có khác là tại người đọc, chứ không phải tại người viết, là bởi vì các lý thuyết gia thơ Tân hình thức Việt chủ trương xuống dòng ở giữa câu, ngay chỗ ta phải đọc liền thì mới trọn nghĩa. Xin nói thêm ở đây: Bài thơ chỉ khác bài văn ở chỗ dùng thị giác cho nên Tạp chí Thơ đòi phải đọc thơ bằng mắt. Nhưng họ lại nói thơ Tân hình thức có âm hưởng nhạc Rap. Nghe âm hưởng Rap thì phải nghe bằng tai chứ, vậy ai hát thơ Rap cho nghe đây? Độc giả chứ còn ai. Nói khác đi, độc giả phải tự đọc thơ bằng mắt và phải biết đọc nó thành nhạc Rap, nếu không thì bài thơ thất bại! Tôi đã nhìn thấy rõ cái thất bại này đối với hầu hết độc giả.’
+ “Nguyễn Lương Ba viết ‘Có một số bài thơ Tân hình thức mang âm hưởng nhạc Rap do ở thể nói và cách vắt dòng không ngừng lại ở cuối câu. Tuỳ theo sáng tác của nhà thơ, bài thơ mang âm hưởng nhạc Rap là hoàn toàn tự nhiên.’ Ông trích dẫn bài thơ ‘Chơi khôn’ của Nguyễn Đăng Thường như sau: ‘làm bộ mày là tao và tao là tao như thế để tao được hai tao làm bộ mày là ôm mày đứng núp dưới gốc mây’ (…) Ở đây, tôi xin phân biệt 2 trường hợp để cho vấn đề được rõ ràng:
a. Phải biết nhạc rap thì mới có thể làm thơ có âm hưởng Rap. Hiển nhiên các lý thuyết gia thơ Tân hình thức không đòi hỏi các thi sĩ của họ phải có điều kiện này. (…) Còn những bài không mang âm hưởng Rap, thì có nhạc tính như thế nào (…) Vậy thì nhạc rap không phải là một yếu tố tất yếu của thơ Tân hình thức, chỉ là bonus thôi. Có lẽ cũng vì thế mà Khế Iêm không nói đến Rap.
b. Không cần biết nhạc rap cũng có thể diễn tả thơ Tân hình thức theo Rap. Nghĩa là bất cứ bài nào cũng có thể đọc theo âm hưởng Rap. Vậy thì đặt ra yếu tố Rap là thừa thãi.”(…)
Để kết luận, tôi xin trích dẫn Nguyễn Đăng Thường: ‘Biết bao tác phẩm giá trị hàng đầu của ngày hôm nay đã từng bị chống đối trong quá khứ. Tất nhiên, nhóm Tân hình thức không dám so bì với bất cứ một ai. Tuy nhiên, vì có người đã không ngại đường trơn ướt đến thăm Tân hình thức nên nhóm này cảm thấy phấn khởi vô cùng. Xin cảm ơn và xin cứ tiếp tục, khen chê đều quý hơn kính nhi viễn chi. Nhóm Tân hình thức làm thơ để mọi người đọc chơi, chứ không phải để giành ngôi thiên tử. Vì là tranh luận nên khó giữ được bình tĩnh, có khi buộc lòng phải sử dụng những lời lẽ kém thanh tao, hay chơi trò ‘du kích chiến” này nọ để độc giả đỡ thấy chán, chứ tuyệt nhiên không có chuyện ‘tư thù’ chẳng đội trời chung.’ Tôi cũng xin đáp lễ và khẳng định rằng tôi chẳng có ý đập ai. Đập làm sao được khi vài người làm thơ và cộng tác của tạp chí là bạn bè hay quen biết với tôi từ Việt Nam. Đập làm sao được khi tạp chí là một cơ sở văn hóa đứng đắn với nhiều bài vở giá trị. Chẳng qua tôi chỉ muốn nói là: Thơ Tân hình thức có nội dung mới lạ, nhưng cần tìm ra những kỹ thuật hay hơn, và xin cất đi những con dao to, những cái búa lớn, hay định kiến ‘văn mình, vợ người’, nếu có. Bất đồng ý kiến không có nghĩa là không xây dựng!” + Ban biên tập Talawas (Lời dẫn bài Tân hình thức và thể thơ không vần của Khế Iêm, talawas.org 20/9/2002) “Đầu năm 2000, một nhóm thơ ra đời ở hải ngoại, mang tên Tân hình thức. Đó là thời điểm văn học Việt hải ngoại không hề sung sức. Nó có vẻ như đang trang trọng viết lại một lần nữa bản cáo phó cho chính mình, để một lần nữa lại save vào cái file ‘Death in progress’. Đó cũng là thời điểm cuộc tranh luận về Thơ Đổi Gác ở trong nuớc vừa lắng xuống, còn Thơ Trẻ chưa kịp nổi lên thành hiện tượng. Văn chương thi phú của chúng ta vào đầu thế kỷ mới lại tụt thêm vài nấc nữa trong bảng xếp hạng những vấn đề mà người Việt hôm nay quan tâm. Thơ ư? Có thật cần không? Sự hoài nghi của chúng ta, những kẻ tuy đói mà bội thực, với bất kể một phong trào, chủ nghĩa, trường phái nào sinh ra sau thế kỷ 20 là rất có cơ sở. Bệnh chán của chúng ta trước những cái tên độn ‘Tân’ hay ‘Hậu’ là có nguyên do. Thơ Tân hình thức Việt không ngay lập tức được độc giả Việt mặn mà đón nhận, nhất là khi nó đi kèm với hiệu lệnh ‘Cuộc chuyển đổi thế kỷ’. Song ba năm qua nó bền bỉ đi tiếp, càng ngày càng rõ nét, với ảnh hưởng ngày càng không thể bỏ qua, với diễn đàn chính là Tạp chí Thơ, và với một cương lĩnh lý thuyết và tư tưởng như chưa từng được khai triển trong lịch sử thơ Việt. Không còn nghi ngờ gì nữa, ở thế kỷ vừa bắt đầu này, nó là nhóm thơ Việt đầu tiên xứng đáng là một trường phái.”
CHÚ THÍCH
(Các chỗ in nghiêng là nhấn mạnh của người chú thích)
1 Bản nguồn: “Ôi kể sao hết được Những anh hùng đánh Mỹ hôm nay Như Cửu Long mênh mông sóng biếc Như Trường Sơn sừng sững rừng cây” (Thơ Lưu Trùng Dương).
2 Trong bài, ở nhiều chỗ cụm từ “Thơ Tân hình thức Việt” tùy ý nghĩa được viết gọn là “Thơ Tân hình thức”, “Tân hình thức Việt”, hoặc “Tân hình thức”.
3 Những nụ hồng của máu của Nguyễn Đăng Thường, bài thơ “khai sinh” Tân hình thức Việt, hiện chưa thấy đăng trên trang mạng; bản đầu tiên in trên Tạp chí Thế Kỷ 21 (số 27 – tháng 7/1991, California), sau đó có sửa chữa khi in trên sách báo khác: Tạp chí Thơ (tr. 124, số 18 – 2000), tuyển tập 26 Nhà thơ Việt Nam đương đại (tr. 254, Nxb Tân Thư, California 2002), tuyển tập Thơ không vần – Blank verse (tr. 101, Nxb Tan hinh thuc, California 2006).
4 Khế Iêm “đã làm bài Tân hình thức và câu chuyện kể và viết thành bài tiểu luận Chú giải về Thơ Tân hình thức trong đó lọc ra một số yếu tố như vắt dòng, lặp lại câu chữ, tính truyện và ngôn ngữ đời thường. Bài thơ và tiểu luận đó in vào mùa Xuân năm 2000, cùng với sự hưởng ứng của 11 nhà thơ Việt, chào đón thiên niên kỷ mới.” (Văn Bảy, Thơ kể – tiếp nhận một thể mới cho thơ Việt!, thethaovanhoa.vn 18/7/2010).
5 Xem thêm: Hai trong rất nhiều khao khát; Nguyễn Huy Thiệp: “Có lẽ đã đến lúc người ta phải nghĩ đến một ‘type’ nhà văn khác: lớp nhà văn trí thức của một xã hội phát triển. Họ viết văn có bài bản, có lý luận, lý lẽ chứ không mò mẫm”; Và Inrasara: “… chúng ta cần phát biểu nhiều hơn nữa, có nghề hơn nữa. Để có thể khai mở một trào lưu sáng tác, một trường phái văn chương. Các ý kiến cảm tính, cảm nhận mơ hồ hay quan điểm còn rời rạc… cần được đúc kết và nâng cấp thành một hệ thống lý thuyết. Làm nền tảng cho sáng tạo chuyên nghiệp.” (Nguồn: Bùi Đức Hào, Cái Đẹp như thách thức trong văn nghệ và triết học – 3, diendan.org 14/9/2013).
6 Đỗ Quyên, Vòng vo về trường-phái-nhóm thơ Việt từ cảm xúc Hậu hiện đại Việt, vanchuongviet.org 21/12/2009.
7 Các nhóm Sáng Tạo, Tự Lực Văn Đoàn không thuộc về các trào lưu thi pháp.
8 Đỗ Quyên, Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt, Tạp chí Sông Hương số 257 tháng 7/2010, và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010; Tham khảo: Inrasara, Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại, inrasara.com 3/3/2009. Cập nhật: Trong các thể loại mang khát vọng cách tân vừa dẫn trong bài, đến nay còn thơ phụ âm (xem tiếp mục V.1.) và thơ trình diễn có ảnh hưởng nào đó; Bài thơ phụ âm mới nhất được công bố là 6i+Hi vii (Ðặng Thân, tienve.org 21/8/13); với thơ trình diễn là Chết kiểu Lê Uyên Phương (Ngu Yên, gio-o.com 1/10/2013).
9 Đỗ Quyên/ Nguyễn Đức Tùng, Thơ đến từ đâu, talawas 8/8/2006; Nxb Lao Động 2009, tr. 332-333; và ebook damau.org 26/12/2011.
10 “Từ trước trong văn chương Việt Nam chưa có một tạp chí chuyên về thơ, suy luận về thơ, đăng tải phổ biến thơ của các tác giả có uy tín của Việt Nam và các nhà thơ danh tiếng trên thế giới.” (Quỳnh Thi, Tân hình thức – một thể thơ đã thành hình trong văn học Việt Nam, thotanhinhthuc.org).
11 Đỗ Quyên, Chỉ là đợt thử mắt bên phải, Tham luận Hội thảo “Văn học hải ngoại: Thành tựu và tiềm năng” – California 27/1/2007, và damau.org 23/12/2006.
12 Thử đi tìm “Ai là tác giả đầu tiên của thơ phá thể từ thơ tự do ở Việt Nam?”:
a. Vận hội mới của dân tộc, ngay từ những năm 1945-1946, đã tạo ra cuộc “tiểu cách mạng” thể loại Thơ Mới mà Nguyễn Đình Thi là người “nhận đường” trực tiếp theo cả nghĩa đen (quan hệ đồng chí) lẫn nghĩa bóng (nghệ thuật thơ) từ các tác phẩm của Trần Mai Ninh, Trần Huyền Trân, Hữu Loan và Văn Cao dù đơn lẻ, chưa hoàn toàn cách tân nhưng quan trọng ở sự biến đổi lối viết và – vinh quang thay cho thi pháp thơ! – đó cũng là các thi phẩm vô giá không chỉ vì được viết bằng máu trong lịch sử thơ cách mạng và chiến tranh Việt Nam. Xem thêm:
+ “Giở những trang thơ thời kỳ đầu kháng chiến, có một ‘tam tuyệt thi’ cứ lừng lững trong tâm trí bạn đọc: Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Hải Phòng 19/11/1946 của Trần Huyền Trân, Đèo Cả của Hữu Loan. Ba bài thơ được sáng tác cùng một năm (1946), cùng tập trung khắc chạm hình tượng đất nước, con người Việt Nam trong cuộc binh lửa gian khổ, thiếu thốn, hy sinh nhưng lãng mạn, hào hoa, anh dũng qua một lối thơ tự do đến bung tỏa, bạo liệt.” (Chế Diễm Trâm, Đèo Cả của Hữu Loan, vanchuongviet.org 14/1/2012).
+ “Tại thời điểm này [1945], với tác động của cách mạng, cho dù ngôn ngữ thơ và thi ảnh đã mới thì Trần Huyền Trân vẫn chỉ tung hoành cái mới của mình trong các thể thơ truyền thống (…) Chính thực tế của Hải Phòng chiến đấu đã khiến cho hồn thơ Trần Huyền Trân thăng hoa sang một thể thơ tự do chất chứa đầy ắp hiện thực. Bây giờ, thời gian đã qua đi nửa thế kỷ. Đọc lại Hải Phòng 19/11/1946 mới thấy hết cái đóng góp đóng cọc mốc đầu tiên cho thơ chống Pháp của Trần Huyền Trân và thơ ca Hải Phòng trong thời đại mới. Ở bài thơ, sức khêu gợi của những ngôn ngữ sống, những chữ mới, những thi ảnh mới đã làm mới nó cùng nhịp điệu không bao giờ Thơ Mới có được. Cuộc chiến đấu chống xâm lược đã khước từ những giọng điệu mượt mà của Thơ Mới. Nó cần chất thơ thô ráp, mạnh mẽ như chính sức sống của nó. Vần và nhạc tính nằm ở ngay trong chi tiết, ý tưởng của câu thơ. (…) Ngay từ đầu đề bài thơ, Hải Phòng 19/11/1946 đã cho thấy một sự khác lạ so với những đầu đề thời Thơ Mới…”; Cảm nhận của Nguyễn Đình Thi: “Buổi sáng hôm ấy, tôi đọc trên tờ Cứu Quốc bài Hải Phòng 19/11/1946 in suốt dọc trang báo. Vẫn cái hơi thơ bộc trực, và lần này dồn dập vang lên tiếng kèn trận.” (Nguyễn Thụy Kha, Trần Huyền Trân với ‘Hải Phòng 19//11/1946’, vnca.cand.com.vn 25/11/2006).
+ Với Văn Cao: Bài Ngoại ô mùa đông 1946 đã được sáng tác ngay tại chiến lũy Ô Chợ Dừa vào tháng 12/1946 và sau in trên Văn Nghệ số tháng 4-5/1948. Trước đó tác giả cũng có bài Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (1945) bước đầu của sự phá thể thơ tự do “cũ” với ngôn từ, cảm xúc và nhạc tính còn dính dấp với Thơ Mới. (Tham khảo: Văn Thao, Ngoại ô mùa đông năm 1946, antgct.cand.com.vn 2/12013; Thiên Sơn, Nhà thơ Văn Cao: ‘Còn những tiếng rạn vỡ’, vanvn.net 7/7/2013; Khuất Bình Nguyên, Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc, vanvn.net 19/10/2013; và Lê Thiếu Nhơn, Hành trình thơ Văn Cao, giaitri.vnexpress.net 23/9/2011).
b. Nói thêm: Khoảng năm 2008, tại tòa soạn Tạp chí Khởi Hành (California) tôi đã được nhà thơ Viên Linh cho xem bản chụp từ một tờ báo xuất bản trong vùng tạm chiếm thuộc Hà Nội vào khoảng 1944-1947 (?) đăng một vài bài thơ ở thể thơ tự do có phong cách rất khác Thơ Mới. Dù chỉ đọc vội, tôi cũng đề nghị Viên Linh sớm giới thiệu tư liệu quý với niềm tin đó là tác giả thơ tự do đầu tiên hoặc đồng thời cùng 3 tác giả thơ cách mạng nói trên. Có thể vì tác giả này không nổi tiếng, hoặc chất lượng thơ hoặc hoàn cảnh binh lửa mà các bài thơ ấy bị lãng quên. Thông tin này được ghi lại theo trí nhớ với sự dè dặt thường lệ.
c. Tham khảo: “Cũng như tiểu thuyết phá thể, thơ phá thể không phải là một trào lưu, một trường phái như những chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực v.v… vì phá thể thơ là một vận động hủy tạo hiểu theo nghĩa “vận động hủy triệt trong sáng tạo”, có thể diễn ra trong quá trình làm thơ của một nhà thơ, hay thể hiện đồng điệu nơi nhiều người, không nhất thiết chung một ngữ pháp sáng tạo. Cuộc cách mạng thơ, phá thể thơ khởi từ khi nào? Có gắn liền với lịch sử, với xã hội, với chính trị? Tùy thuộc vào lý giải, dưới góc nhìn của nhà phê bình? Hay từ sáng tạo của người làm thơ?” (Đặng Phùng Quân, Khái luận phê bình lý trí văn chương, kỳ 99, Thơ phá thể, gio-o.com 8/10/2013).
13 Còn sông Hương đang là dòng sông chảy quanh Hội thảo đầu tiên cho thể thơ mới có hình thức “truyền thống” và nội dung “tự do”: Thơ Tân hình thức Việt!
14 Văn Giá, Về một nỗ lực làm mới thơ Việt, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com.vn 29/6/2012.
15 Xem thêm: a. Ghi nhận về trào lưu Tân hình thức Mỹ của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tháng 11/1998: Trong chương Thi ca phản truyền thống Hoa Kỳ từ 1945 của một chuyên luận có thẩm quyền, hàn lâm và phổ cập, mang tên Phác thảo văn học Mỹ, sau các phần Trào lưu truyền thống, Những nhà thơ đặc dị (những tác giả phát triển các phong cách độc đáo, sử dụng truyền thống nhưng mở rộng vào những địa hạt mới với phong vị hiện đại), Thơ ca thể nghiệm (trường phái Back Mountain, trường phái San Francisco, Các nhà thơ “Beat”, trường phái New York, Chủ nghĩa siêu thực và Chủ nghĩa hiện sinh) và những dòng thơ nữ quyền và đa chủng tộc, là phần Những hướng đi tới với ba nhánh: Những nhà thơ ngôn ngữ (theo tâm thức hậu hiện đại), Thơ ca công diễn (thơ trình diễn, thơ âm thanh, thơ giàu hình ảnh) và Chủ nghĩa Tân hình thức. Dưới đây là đoạn nói về Tân hình thức và cũng là kết thúc cho cả chương. “Ở đầu kia của quang phổ mang tính chất lý thuyết là những nhà thơ tự phong là Tân hình thức chủ nghĩa, những người chủ trương quay trở về hình thức, vần và vận luật. Tất cả mọi nhóm đều phản ứng lại cùng một vấn đề – một sự bằng lòng có tính trung dung với hiện trạng một giọng điệu cẩn thận và quá trau chuốt, thường là sản phẩm của những cuộc hội thảo thơ, và sự nhấn mạnh thái quá đến thi ca bộc lộ cá tính như là một cách chống lại động thái xã hội. Trường phái hình thức gắn liền với (…) Dana Gioia (…) Philip Dacey và David Jauss, các nhà thơ và các chủ biên của cuốn Strong Measures: Contemporary American Poetry in Traditional Forms (Phân loại chuẩn mực: Những hình thức truyền thống trong thơ ca hiện đại Mỹ – 1986); Brad Leithauser; và Gjertrud Schnackenburg. Cuốn The Direction of Poetry: Rhymed and Metered Verse Written in English Since 1977 (Hướng đi của thi ca: thơ cách luật trong tiếng Anh từ năm 1977) của Robert Richman (…). Mặc dầu các nhà thơ này được xem là quay về với những đề tài thế kỷ 19, họ thường sử dụng những quan niệm và hình tượng đương đại, cùng với ngôn ngữ giàu nhạc tính và những hình thức truyền thống, khép kín.” (VanSpanckeren, Kathryn; Trang mạng Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, vietnamese.vietnam.usembassy.gov 24/4/2013, lược trích bản tiếng Việt). b. Nói chung có thể coi các phong trào Tân hình thức mang nền tảng từ chủ nghĩa Hình thức Nga, nếu quan niệm: “Trường phái cách tân nhất thế kỷ XX: Đó là lời nhận xét của nhà phê bình văn học Pháp Jean-Yves Tadié về chủ nghĩa Hình thức Nga. Trong thế kỷ XX, lý thuyết văn học phát triển phong phú nhưng không có trường phái nào ghi dấu ấn sâu đậm bởi tính cách tân như chủ nghĩa Hình thức Nga (…) thành lập năm 1915 với thành viên nổi bật là Roman Jakobson (…), hình thức không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích. Chính hình thức (form) sẽ tổ chức các chất liệu (material) từ đời sống và ngôn từ hỗn độn trở thành nội dung (inhalt). Khi nội dung đã được hình thức hóa tức đã mang tính nghệ thuật sẽ tạo ra một văn phẩm nghệ thuật. Mối tương quan chặt chẽ giữa nội dung và hình thức được nhà triết học Đức G. W. F. Hegel khái quát qua câu nói nổi tiếng: “Nội dung chẳng là gì cả ngoài sự hoán chuyển của hình thức vào nội dung, và hình thức chẳng là gì cả ngoài sự hoán chuyển của nội dung vào hình thức”. (Trần Hoàng Hoàng, vannghequandoi.com.vn 27/7/2012).
16 Ba điểm abc của thể thơ tự do Việt liên hệ xa gần đến thể Thơ Tân hình thức Việt:
a. Có yếu tố nước ngoài cụ thể. (Theo nhiều ý kiến, thơ tự do Việt khởi đầu qua bài thơ dịch của Nguyễn Văn Vĩnh in năm 1928 từ chuyện ngụ ngôn “Con ve và con kiến” bằng tiếng Pháp của Jean de La Fontaine. Trước đó, dịch giả cũng đã có một bản dịch khác bằng thể lục bát in năm 1907. Bốn câu đầu của hai văn bản đó là: “Ve sầu kêu ve ve/ Suốt mùa hè/ Đến kỳ gió bấc thổi/ Nguồn cơn thật bối rối”; và: “Trên cây có một con Ve/ Hát hết mùa hè mùa lạnh kiết so”- Wikipedia mục Thơ và Thơ Việt Nam; Xem thêm: Đặng Tiến, Bđd.
b. Thơ tự do Việt có vần hoặc không vần;
c. Chữ “tự do” được hiểu theo nhiều nghĩa (hình thức niêm luật, hình tượng, nội dung tình cảm), khéo dùng ba thứ tự do đó sẽ có nhạc tính tự do.
17 Phác họa ngắn gọn về diễn ngôn và mục đích trong thơ Việt: Thơ trung đại tả, kể để thuyết, giải; Thơ Mới tả, gợi để cảm; Thơ cách mạng và chiến tranh tả, kể, gợi để thuyết, cảm, giảng; Thơ hiện đại gợi, diễn để giải; Thơ hậu hiện đại kể, bày để diễn, tỏ; Thơ Tân hình thức kể để cảm, thấy. Trong tất cả, cái ít-thơ nhất là giảng.
18 Lại Nguyên Ân, Thử nghĩ về chất văn xuôi, Tạp chí Sông Hương số 8 tháng 8/1984, và Tạp chí Văn Học Việt vanhocviet.org số 7 ngày 5/9/2013.
19 Chữ của nhà văn Nhật Kenzaburo Oe khi ông nói về kinh nghiệm cá nhân để sửa chữa bản thảo tiểu thuyết. (Viết như là cách để hủy giọng của mình, Hải Ngọc dịch từ tiếng Anh, vietvan.vn 11/9/2013).
20 Feirstein, Frederick; Giới thiệu tuyển tập thơ Khế Iêm, Phạm Kiều Tùng dịch; Other poetry – Thơ khác, Nxb Tan hinh thuc 2009, tr. 16-24;
21 Nhận định của Ban tuyển chọn giải Thơ Tân hình thức về thơ Nguyễn Tất Độ; thotanhinhthuc.org 2007; Hai bài thơ được bình cũng có trong địa chỉ này; và Nhà thơ Biển Bắc nhận giải Thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2/6/2007.
22 Viên Mai, Tùy Viên thi thoại, Nguyễn Đức Vân tuyển dịch; nguyentrongtao.info 2/10/2013.
23 Xem thêm: “Mục đích của thơ Tân hình thức là muốn đưa thơ Việt ra ngoài thế giới (…). Nếu quá đậm đặc trong phạm trù văn hóa hay ngôn ngữ, người đọc ngoại quốc sẽ không hiểu, ngay cả với thế hệ người Việt trẻ bây giờ ở trong nước. (…) Để đáp ứng điều kiện dịch thuật, thơ Tân hình thức phải thay đổi cách sáng tác.” (Lời Nhà xuất bản, Thơ kể – Poetry Narrates; và Khế Iêm, Tân hình thức, nhắc lại – 10 năm, Tạp chí Sông Hương số 262 tháng 12/2010, tapchisonghuong.com.vn 20/12/2010); và, “Thơ Tân hình thức Việt không phải là một phong trào, hay nói khác, chỉ mượn cách xuất hiện như một phong trào để tiếp nhận một thể thơ mới cho thơ Việt, phù hợp với sự thay đổi đời sống xã hội, và đưa thơ Việt giao lưu với những nền thơ khác, qua dịch thuật. Vì cách làm thơ này, với kỹ thuật lặp lại, khi dịch ra ngôn ngữ khác vẫn giữ được nhịp điệu của thơ, thành thơ, và người đọc khác ngôn ngữ và văn hóa sẽ đọc như một bài thơ sáng tác chứ không phải như một bài thơ dịch.” (Khế Iêm, Chú thích 4).
24 “La fin justifie les moyens” – một lối ngụy biện thường không được chấp nhận về mặt đạo đức.
25 Inrasara, Thơ tân hình thức Việt, nhìn từ tiến trình văn học đương đại Việt Nam, phebinhvanhoc.com.vn 26/9/2013.
26 “Dẫu sao, Tân hình thức qua 4 năm (2000-2004) hình thành và phát triển, đã tạo nên một phong trào, lôi kéo hàng trăm người làm thơ (chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Nam, nhất là TP HCM) nhập cuộc, viết và đọc. Đó là điểm đáng ghi nhận. Sau kỳ gian trầm lắng ngắn, đến năm 2008, Tân hình thức lại gượng dậy, nhưng chưa có chuyển biến mới đáng kể.” (Inrasara/ Thu Huyền, Phong trào văn học nào bất kỳ cũng cần đến sự tổng kết, đánh giá, Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và inrasara.com 2/10/2013.)
27 “Triển vọng của thơ Tân hình thức Việt sẽ như thế nào? Riêng điểm này, tôi không dám đoan quyết điều gì cả. Mà ngay cả bản thân Khế Iêm, theo tôi cảm nhận, dường như cũng không hẳn đã sắt đá trong niềm tin chắc thắng. (…) Điều quan trọng là tạo ra được một lối đi, một triển vọng trong những lối đi và triển vọng khác. Điều này phù hợp với tinh thần hậu hiện đại.” (Văn Giá, Chú thích 14).
28 Riêng người viết thích nhan đề Thơ kể, nó khu biệt về thi pháp hơn nhan đề Thơ không vần.
29 “Cùng với thời kỳ bùng nổ kỹ thuật số đang là xu thế tất yếu của đời sống nhân loại, Tạp chí Sông Hương đang chú ý một xu thế viết toàn cầu hóa và đang góp sức kiến tạo điều đó. Đó là lý do mà gần đây, Tạp chí Sông Hương đã chủ động tổ chức các chuyên đề về văn học Hiện đại, Hậu hiện đại, Tân hình thức… Trên con đường mà sớm muộn gì văn chương Việt Nam cũng sẽ phải đi, việc chủ động những bước chân càng sớm, sẽ tỏ rõ tinh thần trách nhiệm cao trước công chúng bạn đọc trên hành trình phụng sự cái đẹp.”; “Trong thời gian qua, Sông Hương đã không ngừng tìm lại những giá trị còn khuất lấp trong văn chương Việt, cố gắng đánh giá một cách công bằng, khách quan các giá trị của văn học miền Nam trước 1975, tiên phong trong việc giới thiệu những trào lưu nghệ thuật mới như hiện đại, hậu hiện đại, Tân hình thức…” (Hồ Đăng Thanh Ngọc, Tạp chí Sông Hương số 293 tháng 7/2013, và tapchisonghuong.com.vn 25/7/2013).
30 Ban tổ chức Hội thảo, Thư mời tham luận 25/7 & 2/10/2013; Văn Bảy, Hội thảo thơ tân hình thức Việt lần đầu tiên trên thế giới, thethaovanhoa.vn 22/9/2013; và xem thêm ghi nhận về hai vị đồng chủ trì Phạm Xuân Nguyên và Inrasara. (Chú thích 38).
31 Đỗ Quyên, Trường ca Việt Nam: Tác giả và tác phẩm, vanhocviet.org 25/7/2013, vanvn.net 27/9/2012, và bản thảo cập nhật 20/9/2013.
32 Như cách nhìn do khắt khe nên có phần sai lạc của Khế Iêm cùng một vài thi sĩ mở đường Tân hình thức về thơ tự do Việt (vai trò trên nền thi ca Việt; các điểm về thi pháp như nhạc tính, vần) mà nhiều tác giả cũng từng phê phán. (Ví dụ: Phụ lục 9-).
33 Như Chú thích 14.
34 Như Chú thích 21.
35 Tân giai thoại Tân hình thức: Có 1000 thi sĩ Việt làm thơ cho cả nước. Cả ngàn chỉ nhăm nhăm làm thơ lục bát: không sao, thơ Việt chỉ véo von đu đưa so với thi ca thiên địa. Cả ngàn chỉ hăm hở làm thơ tự do: cũng chẳng sao, thơ Việt chỉ khúc mắc bước thấp bước cao cùng thi ca thiên địa. Cả ngàn chỉ rào rào làm thơ Tân hình thức, thơ Việt bị trở thành hiện tượng lạ giữa thi ca thiên địa. Lập tức, thân nhân các thi sĩ cùng đông đảo độc giả ba miền phải thường trực dọc ngang phố Nguyễn Du nhằm thúc giục nhà văn Trung Trung Đỉnh nghỉ “job” Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn mà đi mở “job” khác bận rộn hơn: Giám đốc chuyên môn kiêm Chủ tịch Hội đồng quản giáo Trại cai Thơ Tân hình thức. (Nguồn: Lưu truyền giai thoại làng văn Hà Thành rằng, để tiêu giảm cơn sốt nhà nhà in thơ người người làm thơ thơ nhất định thắng ta nhất định không thua, nhà văn Trung Trung Đỉnh ở giữa công đường cũng như trên bàn nhậu dù trong hay ngoài nước, thường xuyên quảng bá ý tưởng về một trại cai nghiện thơ trên phạm vi toàn quốc.)
36 Tham khảo: – “Phóng viên Văn Nghệ Trẻ: (…) Thơ Tân hình thức có còn mới ở Việt Nam không, và chúng ta có cần phải tổ chức một cuộc hội thảo với cả Tây lẫn ta quy mô như vậy không? – Inrasara: Thơ Tân hình thức không còn mới ở Việt Nam, đó là điều người quan tâm không thể không biết. Dẫu sao, 12 năm hành trình, nó cần được tổng kết, đánh giá. Vấn đề đặt ra là: hội thảo gồm những ai, và cách thảo luận như thế nào? Tân hình thức hay trào lưu văn chương nào bất kỳ, luôn cần đến sự đánh giá ngay thời điểm nó sắp kết thúc, là hay hơn cả. Hoài Thanh đã tổng kết phong trào Thơ Mới như thế, tại sao hôm nay ta thì không? Do đó, một hay vài hội thảo về Tân hình thức ở thời điểm này là rất cần.” (Bđd, Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và phongdiep.net 9/10/2013).
37 “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba.” (M.M. Bakhtin; Nguồn: Đỗ Thị Thu Huyền, Những giọt thơ tích tụ nơi thượng nguồn thi cảm, phongdiep.net 21/9/2013).
38 Đỗ Quyên, Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị, Tham luận Tọa đàm khoa học “Nguyễn Quang Thiều trong sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại”, Viện Văn học – Hà Nội 28/6/2012; và vanvn.net 19-20-21/6/2012.
39 Báo Nghệ Thuật Mới số 11 tháng 12/2012; và Đỗ Quyên, Văn học Việt ở ngoài nước trong các năm 2005-2010, vanhocviet.org 25/8/2013.
40 Xem thêm: Phân loại theo sáng tạo thi pháp thơ Việt sau Thơ Mới (Mục IV.2. và Chú thích 38); Về hiện tượng văn hóa trong các sự kiện văn học (Đỗ Quyên, Thơ Mai Văn Phấn trong dòng thơ cần giải thích giá trị, sách Kỷ yếu Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, Nxb Hội Nhà văn 2011, và dangvansinh.blogspot.ca 16/5/2011); và, “Có thể nhận định rằng, sau Sáng Tạo những năm 60 của thế kỷ trước, Mở Miệng là nhóm thơ đầu tiên đặt dấu ấn rất đậm trong dòng chảy của thơ Việt. Chúng ta hy vọng 5 khuôn mặt này làm nên cuộc cách tân lớn. Nhưng rồi họ cũng không thể. Tại sao?” (Inrasara, Sẽ không có cuộc cách mạng thơ trong tương lai gần, Tham luận Hội thảo thơ – TP HCM tháng 7/2006; và tienve.org).
41 Chú thích 38.
42 Tham khảo: Montel, Jean-Claude; Thơ/văn xuôi khác biệt chỗ nào?, Hoàng Hưng dịch từ tiếng Pháp, phebinhvanhoc.com.vn 13/10/2012; Girshman, М.М., Văn xuôi, Lã Nguyên dịch từ tiếng Nga, phebinhvanhoc.com.vn 3/9/2013; và Ngô Tự Lập, Văn chương như là quá trình dụng điển, Nxb Tri Thức 2008, các chương II, IV, V và VI.
43 Đinh Từ Thức, Aline, cô bé gốc Việt được làm Thi sứ và mời vào Bạch Ốc, damau.org 3/10/2013; Xem thêm: Các bài thơ Tân hình thức Mỹ của Aline Dolinh (Trưởng nữ, di dân, hè sàigòn, damau.org 11/10/2013, Đinh Từ Bích Thúy chuyển ngữ).
44 Riêng về đề tài thơ văn xuôi Việt chúng tôi cũng đang thực hiện ở bài viết khác, với một số điểm nêu trong bài này cùng vài bài đã công bố như ở Chú thích 38, 40, và Nhìn Nhã Thuyên, từ thơ văn xuôi, damau.org 14/10/2008. Muốn gửi trước đến bạn đọc một đoạn phóng bút chút ít dính với Tân hình thức: “Trong số các tay thơ văn xuôi Việt đương đại, băng qua những Ðặng Ðình Hưng, Trần Dần, Trần Vấn Lệ, Thanh Thảo, Nguyễn Thanh Hiện, Trần Anh Thái, Lê Minh Quốc, Nguyễn Minh Khiêm, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễnhòa-Trước, Đặng Thân, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Lê Nghĩa Quang Tuấn, Nguyễn Thuý Hằng, Nguyễn Thế Hoàng Linh, v.v… tôi thích nhất nhì là Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Linh Khiếu. Bỏ qua nhân thân, vị thế ngoại vi – trung tâm của nhị vị trên vùng thơ Việt, chỉ nói về “chuyên môn”. Trên bản đồ thơ văn xuôi Việt, Chánh như là Do Thái và Khiếu như là Ấn Độ. Chánh chém đứt các tay thơ văn xuôi khác ở cái ẩn ức, hoang đàng, tục tằn thời cuộc hóa và dục tính hóa vào hệ thống ngôn từ, Khiếu đè sập các hình hài thơ văn xuôi bằng độ kỳ vĩ và ưu đàm của tư tưởng nhân sinh theo nhịp chảy chữ nghĩa; Thơ Chánh càng nhấn nhá phần thú (để tìm về cái người) bao nhiêu, thơ Khiếu nâng cao cái người (để tìm diệt cái thú) bấy nhiêu; Bút pháp: thơ văn xuôi Chánh phúng dụ/ ẩn dụ/ ngoa dụ/ hoán dụ/ dụng điển/ so sánh lắt la lắt léo, thơ văn xuôi Khiếu là dòng cuốn trôi bến tung bờ bằng thủ thuật lặp đi lặp lại; Cấu trúc: Chánh ưa cú pháp chữ nghĩa quái đản và tếu táo, Khiếu mượn dòng ý thức Pháp để chở đạo Việt. Sau thành tựu, 5-6 năm qua thơ Chánh phụt ẩn ức chính trị và dục tính lên thành mục đích sáng tác: Tiếc! Trên lối thử nghiệm, 5-6 năm qua thơ Khiếu hẹn buổi chào đời một sáng tác khổng lồ nhất về dung lượng (khoảng 210 trang, 110.000 chữ), kỳ vĩ nhất về nội dung tư tưởng nên khó đọc nhất về hình thức nghệ thuật cho dòng thơ văn xuôi Việt, dòng thơ trường ca Việt và có thể cả dòng thơ hiện đại Việt: một cuốn kinh về sự phồn sinh! Năm qua, thơ văn xuôi Việt, như là ở giữa Nguyễn Quốc Chánh và Nguyễn Linh Khiếu về thi pháp thể loại và ngôn ngữ, đã có thêm Nguyễn Thanh Hiện đồ sộ về suy tưởng kinh điển và mênh mang cảm hứng hiện đại cũng bằng dòng ý thức Pháp mà chở tình Việt làng Việt với những thiên trường ca tân cổ điển. Và, trừ Trần Vấn Lệ, không một tay thơ văn xuôi nào nữa trong số các vị kể trên làm bạn với Tân hình thức! Với Nguyễn Quốc Chánh, chắc vì dù dư giọng đời thường ứa tràn bức xúc, phá ph/cách tùm lum, mạch thơ loang lổ vô lường, nhưng quá đậm ẩn dụ đặc tu từ như một loài tái sinh của phái Tượng trưng. Nguyễn Linh Khiếu ắt bởi dầu thật mênh mang sự kể, kỹ thuật lặp lại cái đối lập, vắt dòng trải nghiệm tít mù nghi vấn, nhưng tuyền là đại tự sự, suy tưởng siêu nhân siêu nhiên siêu đạo siêu đời, diễn ngôn cao vời đến chết đi được.”
45 Xem thêm: “Lần đầu tiên, với phong trào Thơ Mới, thơ tự do trở thành một trong những kỹ thuật chủ chốt của thơ ca Việt Nam hiện đại. Đây là kỹ thuật mới nhất làm cho Thơ Mới đoạn tuyệt hẳn với thơ cũ. Đặc biệt, trong khi tiếp thu kỹ thuật thơ tự do, các nhà Thơ Mới Việt Nam còn thực hiện một bước đi triệt để hơn: thực hiện kỹ thuật thơ văn xuôi. Thơ văn xuôi là bước phát triển cao nhất của thơ tự do. Ngoài đặc trưng chung của thơ ca là nhịp điệu, thơ văn xuôi còn giống thơ tự do ở cùng một điểm chung là không bị ràng buộc vào các quy tắc về số câu, số chữ, niêm luật… Nhưng, nó khác với thơ tự do ở chỗ là trong khi thơ tự do vẫn lấy câu thơ làm đơn vị nhịp điệu và vẫn có thể có vần, thì thơ văn xuôi không phân dòng, không dùng hình thức câu thơ àm đơn vị nhịp điệu, và thứ hai là thơ văn xuôi không có vần.” (Nguyễn Văn Dân, Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam, Tạp chí Văn học nước ngoài số 8/2012, và phebinhvanhoc.com.vn 9/5/2013).
46 – Vậy thì khỏi làm cho nó lành! Cứ theo dõi danh sách tác phẩm và tác giả thơ Việt nào đó sẽ phát giác vô khối “quan bác” dường như chửa thấy làm bài thơ văn xuôi hay bài trường ca nào sất! “Nhà em” đã thử “lập danh sách” như thế, dưng mà vâng nhời chàng Nguyễn Nhược Pháp, “nên chả chép vào đây”. – “Nhà em” hơi bị nhầm không đấy? Như ta thấy, bên trường ca “bàn tay có 5 ngón tay thơ thì người Việt dành 1 ngón cho thơ trường ca” (Mục III.4.). Phía thơ văn xuôi chắc cũng vậy…
47 Chú thích 44.
48 Chú thích 32.
49 Về việc không ưa vần trong thơ, thiết nghĩ lời bình châu ngọc của Viên Mai từng nằm lòng bao thế hệ nên được dẫn lại, cũng là để trang trọng xướng lên lời đề từ một câu chót mà người viết đắc ý: “Tôi làm thơ vốn không thích dùng điệp vần, họa vần hoặc dùng vần của người xưa, vì cho rằng, làm thơ cốt tả tính tình, thích như thế nào thì làm như vậy, trong một vần có trăm ngàn chữ, mặc ý mình chọn dùng, thế mà có lúc dùng xong rồi còn không vừa ý mà phải thay đổi lại, thì sao lại chịu gò bó mà dùng trong một vài vần, đã gò bó thì không thể không nhồi nhét, đã nhồi nhét thì còn đâu nữa là tính tình? Trang Tử có câu: ‘Vong túc lý chi thích dã’ – Giày vừa quên chân – tôi cũng nói: ‘Thơ vừa quên vần.’” (Chú thích 22).
50 Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội (Nguồn: Trương Quốc Huy, Sự nghiệp văn học Đinh Hùng, vanhoanghean.com.vn 5/11/2012).
51 Bài thơ văn xuôi Vàng Sao cũng có thể coi là một bài thơ dài có tính trường ca, tức là một sáng tác thuộc vào dòng trường ca Việt Nam (Chú thích 32).
52 Các bài này đều đã in trong Tạp chí Thơ và tập Thơ Không Vần – Blank Verse.
53 Xem: Đặng Thân, Thơ phụ âm (Alliteration) [& tôi], tienve.org 6/9/2008; Inrasara, Đặng Thân khai mở dòng thơ phụ âm Việt, tienve.org 8/2/2009; Hà Linh, Cuộc trình diễn thư pháp Tiền vệ và thơ phụ âm, vnexpress.net 3/1/2009. Trích thơ: “Xốn xang chuột rúc xục xùng xung/ Náo nức nôn nao thị não nùng/ Sinh kí tử quy sao sồn sột/ Mõ mòng mồng mộng giấc mung mung” (Đặng Thân, Xao xuyến & Sung sướng). Trích nhận định: “Loại thơ gần như thuần túy mang tính kỹ thuật. Đây là một ý niệm mới và quan trọng. Thơ phụ âm của Đặng Thân sẽ đặt dấu ấn riêng trong tiến trình thơ Việt. Nó mở lối (…) (Irasara); “Thơ phụ âm của Đặng Thân trượt đi trên lưỡi thật trơn tru và khêu gợi như những ngọn bút của Trịnh Tuấn và Long Hà trượt đi trên giấy. Sự hòa quyện của nhịp điệu và hình dáng những từ ngữ của anh thật là hùng vĩ và siêu phàm đối với thích giác và thị giác của người nước ngoài. Một khoảnh khắc xuyên văn hóa đích thực.” (JulieAnne Boudreau); “Dù đã thử nghiệm bản thân mình với các thi pháp đã được gọi là ‘lục bát’, ‘tự do’, ‘dòng ý thức’, ‘tân hình thức vắt dòng’, ‘thơ văn xuôi’, “thơ siêu thực’, ‘thơ vô thức’, ‘thơ âm thanh’, ‘thơ phá chữ’… nhưng tôi vẫn thấy ‘thơ phụ âm’ có một sức quyến rũ mãnh liệt.” (Đặng Thân). Phần tiếp trong bài có một số trích lược từ các đoạn trên.
54 Thơ Bùi Giáng: “Về thôi châu chấu chuồn chuồn/ Mưa đêm đã rụng bên nguồn lá rơi/ (…) Về thôi châu chấu chuồn chuồn/ Đường xa bước mỏi sương buông mặt người.” (Trích Chuồn chuồn châu chấu); Ba câu thơ cuối dẫn từ Bùi Giáng “chơi” (Nhật Chiêu, Sông Hương Đặc biệt số ngày 10/9/2013, và tapchisonghuong.com.vn 10/9/2013).
55 Thật ra cũng đúng vậy, riêng trong lãnh vực “văn hóa rác”.
56 Vả lại, trong ngành phê bình văn học so sánh, nghe nói có lệ bất thành văn: phê bình “cây” (đối tượng) nào thì “rào” đối tượng đó cho kín. Biết đâu thêm một ngày đẹp trời nữa, diễn đàn nào đó, nếu không Tạp chí Sông Hương thì, chẳng hạn, Tạp chí Sông Cửu Long, đăng cai hội thảo, chẳng hạn, Thơ Phụ âm Việt: Kế thừa & Sáng tạo. Hiển nhiên kẻ hèn này lại làm phiền các độc giả và tác giả quý trọng của mình bằng bài, chẳng hạn, Thơ Phụ âm Việt: Ôi viết sao vùng vẫy vương vãi… Lúc đó, cũng tất nhiên, Thơ Tân hình thức Việt sẽ lại sắm vai “hàng rào”!
57 Xem damau.org 13/9/2013; nguyên bản tiếng Anh: performancewritingma.blogspot.ca 7/3/2011.
58 Xem thêm: Seamus Heaney (…) nửa thế kỷ ca ngợi vẻ đẹp đất nước và trăn trở về chính trị (BBC 30/8, 2013); “được trao giải Nobel, vì ông đã sáng tạo ra (…) vẻ đẹp trữ tình và chiều sâu thẩm mỹ, tôn vinh những phép lạ của đời thường và của quá khứ sống động”; “bảo vệ cái đẹp, đặc biệt là khi các chế độ độc tài tiêu diệt nó.” (vi.wikipedia.org).
59 Xem laxanh2015.blogspot.ca 16/9/2013. 60 Thành ngữ tiếng Pháp có câu “Avoir une mémoire d’éléphant“ (Có trí nhớ tuyệt vời). Còn trái nghĩa với “mémoire d’éléphant” là “mémoire de poisson rouge” (Trí nhớ của con cá vàng). Cứ bằng quy luật của ngôn ngữ được coi là trong sáng nhất và bằng vẻ đẹp từ các trào lưu nghệ thuật từng diễn ra trên đất nước có ngôn ngữ đó, ta kết luận: Các nhà Siêu thực chủ nghĩa là những Con cá vàng của đất nước Nghệ thuật!
61 Xem tienve.org 8/2013; Tham khảo về C. Bukowski: en.wikipedia.org và thivien.net.
62 Xem tienve.org 30/7/2913.
63 Xem Hoàng Hưng, Về những thể nghiệm thơ gần đây, phebinhvanhoc.com.vn 19/11/2012. 64 Bài học bản thân: Cũng từng bị “loạn thể loại” tương tự qua tienve.org mà hệ quả tốt, nhiều năm trước tôi có làm một bài không giống ai, chủ gia trang xếp vào mục Sổ tay (dạo đó chưa ra mục Đối thoại). Dần dà tôi chú ý hơn hướng phê bình đối thoại như từng được Lê Đình Kỵ thực hiện thành công. (Phạm Quang Trung, Nhà phê bình Lê Đình Kỵ, vanhocviet.org 25/8/2013). Thiệt tình tôi sức mấy (mà giả như may mắn có được mấy sức cũng chẳng nên lặp) hàn lâm thông tường mực thước theo Giáo sư, nên vẫn phê bình nghệ sĩ cách điệu phá lối giống bao kẻ sáng tác. Mới rồi tại Hội nghị lý luận – phê bình văn học lần III – Hội Nhà văn Việt Nam, Tam Đảo 4- 5/6/2013, ở tham luận của Trần Thiện Khanh, Ba kiểu phê bình văn học hiện nay (hay ba cơ chế phê bình văn học Việt Nam đương đại), được nhiều người trong cuộc và chuyên nghiệp ghi nhận, tôi thấy câu: “Các tác giả phê bình phản tư cổ vũ cho sự đa nguyên lý thuyết phê bình và phi tập trung hóa, chủ trương bàn lại, bàn thêm, bàn tiếp, khắc phục những hạn chế sai lầm, điều chỉnh, thay đổi nhiều vấn đề có tính chất cơ bản của phê bình văn học, họ tạo ra kiểu phê bình đối thoại khác hẳn với lối phê bình độc thoại, quyền uy, quy phạm hóa trước đây.” (nhavantphcm.com.vn 29/5/2013). Tâm sự riêng tây gợi tình đại cuộc, mong độc giả nhìn bài này trong thể thức ấy khi nó mang đối tượng là Thơ Tân hình thức Việt. Phương pháp chính của tôi ở phê bình đối thoại là so sánh trong hệ tác giả, tác phẩm để định giá giữa tương quan. Mục đích là phân loại và phân định; có bình có phê (đôi khi hứng bút lại còn phán) cụ thể gì cũng không chỉ vì/ bởi đối tượng. Và, về văn bản thể loại – như lời đề từ – được làm bằng tinh thần Jacques Derrida. (Theo bản dịch Dương Thắng, triethoc.edu.vn 19/8/2013).
65 Xem vanvn.net 18/9/2013.
66 Xem gio-o.com 9/2013.
67 Đặng Tiến, tuyển tập Blank Verse – Thơ không vần, và talawas.org 18/5/2006; Khế Iêm: Tân hình thức, sách lý thuyết về Thơ Tân hình thức, Nxb Văn Mới 2003.
68 Riêng người viết, ngoài bài vở chung chung như vô vàn tác giả khác nói về nhạc tính trong thơ, xin được “khoe” năm ngoái đã phải “tốn” cả một trường ca mang tên Trăm thi điệu với 12.808 chữ.
69 Nguồn: Chân Phương (laxanh2015.blogspot.ca 19/8/2013); Nxb Chính trị quốc gia 1995 triethoc.edu.vn 13/5/2010, Trần Đức Thảo (triethoc.edu.vn 9/8/2013).
70 Phác thảo: Chữ ca trong “thi ca/ thơ ca” về từ nguyên cùng gốc với “ca dao”. Theo Từ điển văn học Việt Nam, ca dao là một thể loại của sáng tác thơ dân gian tiếng Việt, như một thuật ngữ Hán-Việt ít nhiều phỏng theo học thuật Trung Hoa; ở Trung Quốc đã dùng thuật ngữ này từ nhiều thế kỷ trước; ở Việt Nam sớm nhất là từ cuối thế kỷ 18 ca dao được các nhà nho dùng để gọi phần lời thơ trong vốn ca hát và lời nói truyền miệng. (Lại Nguyên Ân, Nxb Giáo Dục 1999, tr. 45). Bách khoa toàn thư mở, phần Ca dao Việt Nam đã định nghĩa: “Ca dao là một từ Hán-Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.” (Wikipedia). Như thế, có thể nói rằng, các chữ “thi ca/ thơ ca” được dùng ở Việt Nam từ rất lâu trước chữ “ca dao” sau khi nhập các thuật ngữ “thi/ thi ca” của Trung Hoa. Thi ca/ thơ ca/ thơ trong tiếng Anh là poetry có gốc của chữ Hy Lạp poiesis – ποίησις, nghĩa là làm, như thuật ngữ hemopoiesis, nghĩa hẹp làm thơ (Wikipedia tiếng Anh); và trong tiếng Latinh cũng là poetry. Theo Đặng Phùng Quân, “Thơ, từ nguyên ngữ Hy La, ποίησις, poetria hiểu theo nghĩa sáng tạo, sản xuất ra một công trình độc lập, tương phản với πράξις, praxis hành động ở nội tại của tác nhân [José Ferrater Mora, Diccionario de Filosofía], có gì chung với từ Đức Dichtung hay Hoa Shi.“ (Khái luận phê bình lý trí văn chương, kỳ 98, Thơ phá thể, gio-o.com 1/10/2013). Dùng máy dịch Google với 72 ngôn ngữ, chúng tôi thấy cũng như thế trong nhiều ngôn ngữ của các quốc gia có truyền thống về thơ: poésie (Pháp), поэзия (Nga), poezja (Ba Lan), poesía (Tây Ban Nha), poesia (Ý), poesia (Bồ Đào Nha), poesie (Đức), poezie (Séc), poesi (Thụy Điển), poezie (Rumani), v.v… và đặc biệt cũng là poezio với tiếng Esperanto – quốc tế ngữ cho “làng toàn cầu lý tưởng”! Chưa tính nhóm chữ tượng hình, chữ thơ trong một số chữ tượng thanh có từ nguyên khác với poiesis là ở ngôn ngữ thông dụng của các nước Phần Lan, Hungary, Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, vùng Nam Phi, v.v… Nếu tìm ra những ngôn ngữ nào cũng như tiếng HánViệt/ Hán-Nôm cùng thể hiện nhạc tính ngay trong tên gọi “thi ca/ thơ ca” thì sẽ hiểu quan niệm thơ ở các ngôn ngữ đó. Đã có nhiều khảo cứu về sự liên quan giữa hai chữ “thơ” trong tiếng Việt và “thi” của tiếng Trung Quốc. Sau đây là ý kiến mới nhất chúng tôi vừa được biết trong đó nói rõ cả bản chất nhạc trong chữ “thi” theo quan niệm Trung Hoa: “Khởi sinh của thơ biểu hiện trong từ thi, xuất hiện lần đầu trong Kinh Thi ở 3 bài thơ khác nhau vào những thời điểm khác nhau (khoảng thế kỷ 11 đến thế kỷ 8 TCN), tuy nhiên, hình thức văn tự sớm nhất có dạng gọi là tiểu triện/hsiao-chuan: hình thức đầu hợp bởi ngôn/yen (đề chỉ gốc) và tự/ssu (để chỉ âm); hình thức sau hợp bởi yen song viết khác và chi/chih là nguyên mẫu của hai chữ chih để chỉ đi và chih để chỉ ngừng. Theo Liêu Nhược Ngu, nhiều học giả hiện đại chứng minh là cả hai chữ thi/shih và tự/ssu có thể hoán chuyển lẫn nhau, bắt nguồn từ gốc chih để chỉ chân, cho nên phối hợp âm cho chữ thi/shih (thơ) gồm ngôn với ssu hay chih liên tưởng nguyên nghĩa với chữ chân mang hai nghĩa đi và ngừng có nghĩa là nhẩy múa và nhịp điệu; tự nhân hay thi nhân là người thực hiện chức năng thi ca và nhẩy múa trong những lễ hội; mặt khác âm ssu hay chih còn mượn âm từ chữ chí/chih gồm chữ sĩ và chữ tâm đễ chỉ chí hướng, niệm tưởng mang nhiều ý nghĩa như ước vọng, ý muốn, nỗi niềm, tâm tưởng; nói tóm lại thi và chí là những từ cùng gốc/cognate words nếu không muốn nói là cùng chữ, có thể nói là quan niệm nguyên thủy của thơ.” (Đặng Phùng Quân, Nt, kể cả chữ in nghiêng; Đ.Q. chữ gạch dưới). Trên đây chỉ là các ý bộc phát của người viết còn kém hiểu biết về ngôn ngữ học, mong các nhà chuyên môn xem xét.
71 Xem thêm: “Nhịp điệu là xương sống của thơ. Thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc, nhưng không thể vứt bỏ nhịp điệu. Tôi không thấy một thể thơ nào có thể vứt bỏ nhịp điệu, tự xây dựng mình trên một tình trạng tùy hứng về nhịp điệu…Trong trường hợp tứ thơ không siêu việt cho lắm thì nhịp điệu lại càng cần thiết.” (Phan Ngọc, Nguồn: Nguyễn Vũ Văn/ Chân Phương, Tạp chí Thơ số 18; Phụ lục 9-); “Ý thơ là ‘xương’; ngôn ngữ, nhịp điệu thơ là ‘thịt’. Dịch thơ chỉ có thể dịch ý (xương); Thơ dịch không phải là thơ. (…) Tôi nghĩ đến ngày Truyện Kiều được dịch sang đủ 160 thứ tiếng của các nước trong Liên Hiệp Quốc, ngày xương cốt Kiều tung tóe đó đây!” (Tràng Thiên/ Võ Phiến; Quang Khuê, Một cuộc trò chuyện thanh nhã, tuoitre.vn 19/9/2013).
72 “Mượn lấy bút nàng Ly tao, tôi vẽ/ Và mượn cây đàn ngàn phiếm, tôi ca/ Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngây thơ/ Cũng như vẻ đẹp cao siêu hùng tráng/ Của non nước, của thi văn, tư tưởng.’ (…) Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu; Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn mầu: Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm mầu: Lấy Thanh Sắc trần gian làm tài liệu.” (Bài Cây đàn muôn điệu, 1935; Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn Học 1999).
73 Phác thảo: Chưa bàn tới nhân thân và liên hệ thời cuộc của 2 tác giả, có sự khác nhau và bổ khuyết giữa thơ Tố Hữu và thơ Trần Dần. Thơ Trần Dần thường được coi là cách mạng và cách tân bậc nhất của thơ Việt hiện đại (ý Dương Tường), nhưng ngay trong thi pháp Trần Dần nhịp điệu dường như không theo kịp các yếu tính khác, nhất là cấu trúc ngôn từ với sự cách mạng tưởng như tột cùng của tiếng Việt. Ngược lại, trong khi hầu như không có chuyển đổi về thi pháp thể loại và tư duy thi ca, với đường hướng khác thơ Tố Hữu được nhìn nhận là mang tải nhịp điệu thời đại (như “người nửa thế kỷ lĩnh xướng hùng ca”, Đỗ Ngọc Yên, vanhocquenha.vn 24/9/2013). Có nên so sánh tiếp: thơ Chế Lan Viên giống như là trung bình cộng của thơ Tố Hữu và thơ Trần Dần?
74 Chỉ nói về từ nguyên, trong tiếng Anh, tiếng Pháp vần (rhyme, rime) cùng gốc với điệu/ nhịp điệu (rhythm, rythme).
75 Paz, Octavio; Bàn về thơ, Hải Ngọc dịch từ bản dịch tiếng Anh Recapitulations, hieutn1979.wordpress.com 11/11/2012.
76 Tham khảo: Nyrio, Laios; Bàn về nghĩa và kết cấu tác phẩm, phebinhvanhoc.com.vn 21/5/2012; và Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học – Nbx Đại học Quốc gia 2004 (Nguồn: Lâm Tiến, phongdiep.net).
77 Viết tắt từ “proversa oratio” (tiếng Latinh), như là một nhận dạng cho văn xuôi, truyện (Chú thích 42, Girshman). 78 Tiếng Latinh, như là một nhận dạng cho thơ (Chú thích 42, Girshman).
79 Phác thảo: Với niềm kính vọng hai đại tông giáo cùng lòng si mê hai lãnh vực văn học đầu bảng, người viết cạn nghĩ với phép sánh như sau: Thơ như là đạo Phật ở vũ điệu luân hồi, bí ẩn dưới hình thể gọn ghẽ, đơn lẻ; càng giải thích càng bất khả; nghệ thuật phi chuẩn mực, phi lý, phi không-thời gian, không mục đích, tự do. Truyện như là đạo Chúa ở tính duy lý để thuyết phục; nhịp thời gian và không gian tuyến tính có khởi thủy, dẫn dắt, phục hồi, kết cục; hệ thống nghệ thuật lớp lang, công phu, kỷ luật.
80 Hoàng Ngọc Hiến, Đào tạo viết văn ở trường đại học, vietvan.vn 8/2013 (Nguồn: Ngô Thảo, Dĩ vãng phía trước, Nxb Hội Nhà văn 2011).
81 T rong tập Other poetry – Thơ khác, tr. 38-40; và Khế Iêm, Thơ chọn lọc, talachu.org 27/8/2006.
82 So sánh bên thơ vần điệu và tự do: “Những câu thơ hay thường có xu hướng tách ra khỏi bài thơ để trở thành các giá trị độc lập. Nói một cách khác, những câu thơ hay thường xóa bỏ xuất xứ của nó.” (Hữu Thỉnh, Tạp chí Thơ – Hà Nội – số 5/2012; Nguồn: Nguyễn Thanh Truyền, vanhocviet.org 25/9/2013).
83 Lê Đạt, Thầm thì; Nhã Thuyên, tiasang.com.vn 9/9/2013.
84 “Về bản chất, làm thơ chính là một cách sử dụng điển tích đời sống cá nhân của một hay một lớp độc giả. Mỗi bài thơ là một ký hiệu ít nhiều phức tạp, cho phép dẫn chiếu đến một trạng thái tình cảm có sẵn trong ký ức người đọc. Nói cách khác, thông qua bài thơ, tác giả dẫn chiếu đến một điển tích đời sống tiểm ẩn ở những độc giả tiềm ẩn của mình.” (Ngô Tự Lập, Chú thích 42; và Chu Thị Thơm, vnexpress.net 26/3/2009).
85 Dòng thơ cần giải thích giá trị là chuyên luận về những tác giả đã/ đang/ sẽ ít nhiều góp phần thay đổi thi ca Việt hiện đại và đương đại bằng những văn phong có một không hai của mình, mà đa số ít được hoặc chưa được giới phê bình và dư luận quan tâm tương xứng. (Chú thích 38, 40; và Đỗ Quyên, Về một dòng thơ cần giải thích giá trị – Trường hợp Tuyết Nga, Tạp chí Nhà Văn số 2/2009, và vannghesongcuulong.org 9/2/2009).
86 Về số chữ trong một dòng thơ Tân hình thức: Qua các tuyển tập Tân hình thức Việt và trang mạng quen thuộc, sơ bộ chúng tôi thấy bài có 7-8 chữ/ âm trong một dòng là đa số, khoảng 65%. (“Thể thơ 7 hay 8 chữ tương đối hợp với ngôn ngữ nói hơn vì thật khó đưa những câu nói đời thường với vần vào lục bát” – Khế Iêm). Kế tiếp là loại 5-6 chữ (25%). Rất ít loại 4 chữ, như các bài Tập hợp số thực của Đài Sử, Lảm nhảm/ Bỉm. Và lác đác lục bát [Kiều/ Đỗ Kh.; (Những) người điên/ Nguyễn Tất Độ, Tiếng hát từ cổ xưa/ Khế Iêm]. Cá biệt có vài bài “tự do” [Có không/Đình Nguyên, Trường ca hành (xác) (…)/ Lý Đợi]. Trừ bài của Khế Iêm in trên Sông Hương số Đặc biệt 7/12/2012 và tapchisonghuong.com.vn 4/1/2013, những bài nói trên, theo thứ tự có trong 2 tập (a) Thơ kể – Poetry Narrates và (b) Thơ không vần – Blank verse ở các trang: (a) 118, 202, 248; (b) 15, 11, 81. Ba bài lục bát khá lạ lẫm của Đ. Kh., N.T.Đ. và K.I đáng lẽ được “xử lý” trong mục V.1. về thể loại mà không kịp, để dành cho mục VI.6. về tính truyện. [Nhắn riêng L.Đ.: Xin lỗi đã trích mà không dẫn nguyên con thai-thồ của chú. Nó dài thoòng và cơ cấu quá trời, anh đả tự đến chữ xác, muốn xỉu; phải sống, viết bài “nộp quyển” cho Hội thảo chứ! Nữa, chưa kể 2 dấu ngoặc, 15 chữ cả thảy trong thai-thồ mẹ, tức là riêng cái thai-thồ mẹ đã “dám” dài hơn trọn vẹn bài thơ ngắn nhất nước Nam 13 chữ của Dương tiên sinh! Chửa hết, từ thai-thồ mẹ lại đẻ ra thai-thồ con bằng cả một bài thơ 80 chữ (bài thơ phụ thì Tân hình thức chuẩn không cần chỉnh) bằng một “chú thích (thú)”. Mà anh có thích có thú hay không, chú biết rồi đấy. Hihi…]
87 Nếu như Nguyễn Việt Chiến, Irasara và nhiều cổ động viên (trong đó có cả người viết) đau đáu rằng, qua những cuộc “cách mạng” nho nhỏ lẻ tẻ đơn độc thơ đương đại đã tỏ ra không thua kém trong tương quan với Thơ Mới, thì ở đấy diễn ngôn cái tôi là một nét “hậu sinh khả úy”.
88 Nguyễn Thanh Tâm, Hát nói, một tiền đề cho Thơ mới, phongdiep.net 26/8/2013; (Trần Đình Sử: “Cho đến bây giờ chúng ta cũng có thể nhận ra điệu nói kỳ thực không phải là sản phẩm riêng biệt của Thơ Mới. Điệu nói đã có trong thơ trữ tình dân gian và thơ Nôm của một số nhà thơ trung đại. Điều đó đặt ra một sự suy ngẫm về tính chất của điệu nói trong Thơ Mới và điệu nói trong trữ tình dân gian, trữ tình trung đại.” Nguồn: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, Nxb Giáo dục 1999).
89 Nguyễn Hùng Vĩ, Thi pháp của sự thành thực, khoavanhoc.edu.vn 17/6/2013.
90 Nguyễn Ngọc Tư, Chừng mực của nỗi cô đơn, thethaovanhoa.vn 25/8/2013.
91 Do thời gian hạn hẹp, hai phần V.5., V.6. đang là bản thảo. Xin được hẹn sang dịp tiếp.
92 Tên cuốn sách đang được dư luận đánh giá cao của Trần Quang Đức, Nxb Thế giới 2013, dựng lại lịch sử trang phục Việt Nam 1009-1945 trong cung đình và ngoài dân chúng.
93 Thơ Việt Nam, wikipedia.org.
94 Chú thích 23; và Khế Iêm; Tân hình thức, Tứ Khúc và những tiểu luận khác, ebook trên thotanhinhthuc.org.
95 Qua hàng – vắt dòng, bloggoldmund.blogspot.ca 24/8/2012.
96 Chú thích 3: 26 Nhà thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Hưng Quốc, Lời nói đầu, tr. 18.
97 Nguyễn Hiền, Biển Bắc nhận giải Thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2012.
98 Lại mượn tiền nhân làm nguồn thơ: “Cụ hâm rượu nữa đi thôi/ Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau/ Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.” (Uống rượu; Trần Huyền Trân; Xem thêm: Vũ Bình Lục, Trần Huyền Trân uống rượu với Tản Đà, trannhuong.com 12/3/2012.
99 Hoàng Cầm, Đêm liên hoan, 1947, tập Những bài thơ lẻ; và thivien.net 28/6/2005.
100 Trong tập Thơ không vần – Blank verse, tr. 106.
101 Dẫn theo bản có trong thotanhinhthuc.org 2/12/2007 (Bản mới trong Thơ kể – Poetry Narrates tr. 244 bị lỗi in ấn?)
Mục lục
I. “Bài thơ” mừng Hội thảo
II. Tân hình thức trên bậc thang sáng tạo thơ Việt theo trường phái, trào lưu
III. Triết lý của Tân hình thức Việt
III.1. Tóm tắt
III.2. Nhận định chung
III.3. Cứu cánh biện minh cho phương tiện
III.4. Quá khứ gần, tương lai gần và tương lai xa
IV. Một số hoài nghi, phản biện, bài bác
V. Những vấn đề thi pháp
V.1. “Nhân vật” thể loại trong Thơ Tân hình thức Việt
V.2. Nhịp điệu với Tân hình thức Việt
V.3. Tân hình thức Việt và kết cấu bài thơ
V.4. Cái Tôi của Tân hình thức Việt
V.5. Tân hình thức Việt giữa câu chuyện dài Hậu hiện đại
V.6. Về tính truyện ở Thơ Tân hình thức Việt
VI. Nói thêm về kỹ thuật vắt dòng; và một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc
VII. Tạm kết
Phụ lục
1- Bài thơ Vệt mực và tờ giấy (Nguyễn Tất Độ)
2- Bài thơ Bữa tối (Nguyễn Quang Thiều)
3- Trích bài thơ Vàng Sao
4- Bài thơ Vịt trời/ Widgeon (Seamus Heaney)
5- Một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc
6- Bài thơ Kiếp con quay (Tản Đà)
7- Danh sách một số tuyển thơ, bài phê bình, lý luận Thơ Tân hình thức Việt
8- Danh sách một số bài giới thiệu, tán đồng, ủng hộ Thơ Tân hình thức Việt
9- Trích lược một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt
Chú thích