Trang chủ Blog Trang 22

Nhà thơ Ý Nhi

Luận văn: Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi, HAY, 9đ
LAM ĐIỀN 09/01/2020

Sau tập sách Kỷ niệm không có mưa viết về bạn văn và đồng nghiệp như một dạng hồi ức, nhà thơ Ý Nhi lại vừa ra mắt tập sách Ngọn gió qua vườn dày dặn gồm cả văn và truyện ngắn, thành quả của hơn 50 năm cầm bút.


“Cả đời tuyển lại được chừng này đó” – nhà thơ Ý Nhi mở đầu cuộc trò chuyện với Thế giới sách kỳ này.

* Sau bao nhiêu năm làm thơ, viết văn và nay ra tập sách dày tuy gọi tuyển nhưng gần như toàn tập, tại sao bà chọn hình ảnh “ngọn gió qua vườn” làm nhan đề?

– Thực ra mà nghĩ thì mọi thứ đều thoáng qua thôi, đời người cũng vậy, như ngọn gió qua vườn cũng tụ lại chút ít trên cây cối, rồi đi qua. Cuộc đời mình từ trước đến nay tất cả vui buồn, lo toan, băn khoăn, day dứt, tìm tòi, rồi đến một tuổi nào cũng thấy nhẹ nhàng thôi.

* Thế hệ cầm bút của bà có chỗ đặc biệt: trưởng thành trong chiến tranh, vắt qua thời hậu chiến… Nay nếu phải chọn một điều để nói rằng mình thấm thía nhất thì đó là điều gì?

– Có thể nói, điều thấm thía nhất trong cách sống cũng như cách viết của tôi là trung thực. Trung thực với tình cảm của mình, với lương tâm của mình, với nhận thức của mình. Cái đó quan trọng nhất.

Và cũng phải nói thêm một ý nữa, là số phận của tôi cũng may mắn: sinh trong gia đình cha mẹ đàng hoàng, trí thức theo cách mạng, cha mẹ không bao giờ can thiệp đời sống riêng, lựa chọn ngành học. Thứ hai là thầy Lộc (PGS Nguyễn Lộc, chồng nhà thơ Ý Nhi – PV), người vừa hiểu biết và rất bao dung, thầy của tôi mà.

Thứ ba là bạn bè, có nhiều người tốt, tử tế và hiểu mình, dù là họ không làm giống mình.

* Bà có bạn nhiều, bạn nổi tiếng nữa, nếu bây giờ dùng chữ “nhớ bạn” để nói về những bạn văn của bà, nói về cách sống thì bà nhớ đến ai, và nói về cách viết thì ai làm bà nhớ nhất?

Kỷ niệm không có mưa – Báo Phụ Nữ

– Trong Kỷ niệm không có mưa, tôi viết về những người thân thiết nhất, không những hiểu mà còn tôn trọng họ, cả những người lớn tuổi hơn tôi như Chế Lan Viên, Tế Hanh, Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông… tức là lọc lại những gì đẹp nhất mà tôi còn lưu giữ.

Về cách sống, tôi chơi thân và nhớ nhất hai người Nam Bộ là ông Chim Trắng và Trang Thế Hy. Những người này tài năng thì đã hẳn rồi, nhưng mà họ sống hay lắm, như Chim Trắng, lúc mất còn đề nghị không lễ lạt gì cả, đưa ông về nhà thôi, mặc dù ông theo cách mạng từ 16-17 tuổi, qua hai cuộc kháng chiến…

Còn về cách viết, thì Thanh Nhàn làm thơ tình yêu thú vị và là người bạn tốt, người tử tế. Xuân Quỳnh có tài năng, là người trực cảm đến mức có thể nói là duy cảm, nên viết về tình yêu, tình mẹ con rất hay.

Quỳnh cũng có những bài thơ viết trong kháng chiến chống Mỹ, nhưng có lẽ mảng hay nhất của Quỳnh là viết về tình yêu vì Quỳnh là con người như thế: giàu tình cảm và bộc lộ hết, tính bả vui lắm, đến cơ quan là nhộn nhạo hết cả lên vì bả chọc cười, có khi còn múa nữa…

Còn một người, lớn tuổi và có ảnh hưởng đến tôi là anh Việt Phương, tác giả Cửa mở đấy. Với anh Việt Phương thì nhớ cả cách sống và chuyện viết. Anh là ông quan thanh liêm đến không tưởng tượng được, làm thư ký cho ông Phạm Văn Đồng bao nhiêu năm mà nhà không có đủ ghế cho khách ngồi, tụi tôi đến ông phải hỏi vợ: Lan ơi, em có còn dùng chiếc ghế này không cho anh mượn (cười).

Anh Việt Phương sống rất tử tế, và anh rất yêu thơ, vô cùng yêu thơ, đối với ông thơ thiêng liêng lắm. Vì yêu thơ nên ông yêu quý các bạn làm thơ: Thanh Nhàn, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, và tôi, thân lắm. Anh lại luôn trăn trở, cố gắng thay đổi thơ, làm mới thơ, làm mới nhận thức, và đọc rất nhiều…

* Trải qua một cuộc đời tự chọn cách làm nghệ thuật như mình thích và làm được như bà vậy, nếu phải nói với đàn em sau này, những người đang làm văn chương hôm nay và mai sau nữa, có điều gì bà thấy cần nói không?

– Hãy viết những gì mình thích theo cái cách mà mình thấy hợp lý nhất. Thế thôi. Có thể là tân hình thức, hậu hiện đại…, cái gì cũng được, nhưng đừng có theo thời. Về mọi phương diện không nên xu thời, kể cả trong việc làm nghệ thuật. Cứ viết cái mình muốn viết theo cách hợp lý nhất.

Ví dụ tân hình thức, tôi rất thân anh Khế Iêm, nhưng tôi không làm tân hình thức được. Kể cả hậu hiện đại, nếu anh thấy nó chuyển tải được tư tưởng tình cảm của anh thì anh cứ làm thôi.

Nhưng nội dung mới là quyết định, chứ không phải hình thức. Và tất cả các trường phái, các cuộc cách mạng văn chương cũng chỉ nhằm tìm ra một cách viết, cách thể hiện tốt nhất thôi. Và làm mãi làm mãi như vậy thì nó sẽ xoay tròn, sẽ lặp lại thôi, mình cứ thoải mái với mình, sống cũng thế mà viết cũng thế.


Nhà thơ Ý Nhi đoạt giải thưởng văn học của Thụy Điển – Tuổi Trẻ Online
Harlem : a poem | Brooklyn Public Library

Nhà thơ Ý Nhi tên thật là Hoàng Thị Ý Nhi, sinh năm 1944 tại thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học tổng hợp Hà Nội 1968.

Nhà thơ Ý Nhi có 10 tập thơ và 2 tập chung với Lâm Thị Mỹ Dạ và Xuân Quỳnh. Các tập thơ đầu tiên như: Nỗi nhớ con đường (in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ, NXB Văn Học, 1974), Đến với dòng sông (NXB Tác Phẩm Mới, 1978) …

Bà từng đạt các giải thưởng: giải khuyến khích thi thơ làm báo Văn Nghệ tổ chức năm 1969; giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985; giải thưởng Cikada – Thụy Điển năm 2015.


‘Chút gì như bóng dáng đời ta’

Nguyễn Hữu Hồng Minh • 16-03-2020


Giới thiệu thơ Ý Nhi: ‘Chút gì như bóng dáng đời ta’Đọc “Ngọn gió qua vườn” mới hiểu Ý Nhi đứng ở bậc thang cuối để quan niệm ý nghĩa cùng tận của việc làm thơ dù “chỉ có ích cho một người, Thơ đã xứng đáng để tồn tại”. Một thi tuyển chưng cất hương vị trí tưởng, mùi thơm tư duy, ánh sáng tinh khôi hay le lói ngôn ngữ, bọc lót trong những tứ thơ lộng lẫy, diễm tuyệt bất chợt khám phá bởi một ngọn gió phi thời tiết thổi qua khu vườn yên tĩnh tuyệt đối để lắng nghe từ đó những đối thoại vô hình tới hữu hình của hạt sương đến vũ trụ.

1. Tôi vừa nhận được bộ ảnh của nhà sưu tập (*) gửi tặng chụp nữ sĩ Ý Nhi những năm 1985. Cùng một lúc là tuyển thơ – truyện ngắn “Ngọn gió qua vườn” (Nxb Phụ Nữ) dày hơn 800 trang như tập hợp một hành trình làm nghệ thuật của Ý Nhi. Nhìn tấm ảnh chụp tác giả thời hoàng kim, trẻ đẹp nhất của đời người cùng lúc đọc những câu thơ đầy triết lý, ý thức thân phận và trách nhiệm của một nghệ sĩ bỗng trong tôi dâng lên hình ảnh cân đối hai vế Thi – ảnh đó: “Chút gì như/ Bóng dáng đời ta” khi đi qua kiếp tha nhân trên mặt đất này.

Thực ra câu thơ này cũng nằm trong một bài hát của nhạc sĩ Dương Thụ và ông cũng chưa bao giờ đề tên xuất xứ. Cũng như rất nhiều hình ảnh cùng một số câu khác từa tựa như thơ Ý Nhi bàng bạc trong lời của Dương Thụ. Tôi đã từng viết trên facebook đặt thắc mắc này. Dương Thụ đã gọi điện ngay cho tôi và cho biết đúng là ông đã lấy thơ hay dựa vào thơ Ý Nhi trong một số lời ca khúc ông. Đơn cử như mấy bài “Bây giờ biển mùa đông” và “Bay vào ngày xanh”. Tuy nhiên ông không để tên thơ Ý Nhì vì ông và bà là bạn bè thân (!?), đã từng chơi với nhau từ thưở hàn vi cực khổ. Ông từng mời bà làm giám đốc salon Văn học của Cà phê Thứ bảy Và nữa, ông không muốn mọi người nghĩ Dương Thụ kém như vậy vì… phổ nhạc từ thơ người khác(!?). Tôi lại không nghĩ như vậy! Một minh chứng hoàn toàn ngược lại là nhạc sĩ Phú Quang cả một đời gần như phổ thơ của người khác nhưng chú thích rõ ràng vị trí của ông có kém phần sang trọng đâu? Hay nhạc sĩ Trần Tiến chỉ dùng ba chữ “Lá diêu bông” của thi sĩ Hoàng Cầm mà đã trân trọng để tên ông trong phần lời ca khúc “Sao em nỡ vội lấy chồng?” đâu có ảnh hưởng gì đến tên tuổi ông thậm chí còn nâng tầm cả hai ông lên nữa!

Vậy thì, lý do gì Dương Thụ không làm điều đó? Mà lại lấy nguyên cả những câu thơ Ý Nhi trong bài hát của mình? Những câu thơ – triết – học mà cả đời chắt chiu gạn lọc kiếp nhân sinh ngỡ phù du của một người đàn bà ngồi đan viết ra? Những câu thơ không hề dễ dàng như chính bà chiêm nghiệm là “Những đối cực/ đã tuyệt vời hài hòa (…)/ những tiếng kêu bi thương/ cuồng nộ/ đã tan/ trong lặng thinh kỳ bí” (Đắc đạo). Để đi đến tổng kết bi tráng mà hiu quạnh “Chút gì như/ Bóng dáng đời ta” (Quê hương).

Rồi Dương Thụ còn nói với tôi, ông đã từng viết về việc này nhưng chưa công bố ở đâu, sẽ in sách trong năm nay (!?). Và ông xin tôi địa chỉ email để gửi cho tôi xem bài viết đó. Nhưng sau tất cả những gì Dương Thụ nói, tôi đều thấy không thuyết phục được tôi. Chỉ trừ một ý thấy ông có vẻ có lý. Đó là Ý Nhi là bạn thân của ông. Có thể khi ông phổ bài thơ sử dụng 1, 2 câu trong thơ Ý Nhi bà đều vui lòng thông qua, không chấp nhất gì! Tuy nhiên, vấn đề đã không đơn giản khi tôi tìm thấy trong tập “Ngọn gió qua vườn” đã có giới thiệu lại bài thơ này (Quê hương – trang 220) và chỉ đề tên Ý Nhi. Không đả động gì đến lấy ý hay sử dụng ca từ của Dương Thụ. Như thế, về mặt văn bản học, nếu không làm rõ là có vấn đề. Bởi sau chừng vài nhát thời gian mọi thứ xóa dấu vết hết thì ai đang mượn của ai? Nếu đã là những nghệ sĩ, tri thức lớn và ưu việt của xứ sở này thì điều đầu tiên tôi nghĩ trong sáng tạo phải có sự trung thực và tôn trọng lẫn nhau! Tôi còn tìm thấy dấu vết bài hát “Họa mi hót trong mưa”  cũng đã xuất hiện trong bài thơ “Chuyện ở vườn” của Ý Nhi và nhiều bài khác nữa! Nhưng thôi, tạm gác câu chuyện này lại!

2. Đọc “Ngọn gió qua vườn” mới hiểu Ý Nhi đứng ở bậc thang cuối để quan niệm ý nghĩa cùng tận của việc làm thơ dù “chỉ có ích cho một người, Thơ đã xứng đáng để tồn tại”. Một thi tuyển chưng cất hương vị trí tưởng, mùi thơm tư duy, ánh sáng tinh khôi hay le lói ngôn ngữ, bọc lót trong những tứ thơ lộng lẫy, diễm tuyệt bất chợt khám phá bởi một ngọn gió phi thời tiết thổi qua khu vườn yên tĩnh tuyệt đối để lắng nghe từ đó những đối thoại vô hình tới hữu hình của hạt sương đến vũ trụ.

Trong Diễn từ nữ sĩ đã đọc tại lễ nhận giải thưởng Cikada của Thụy Điển năm 2015, một giải thưởng danh giá được lập nên vào năm 2004, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Harry Martinson (giải Nobel văn học 1974), Ý Nhi đã nói lên được điều cần nhất của một người làm nghệ thuật, một thi sĩ, hay một lời cảnh báo trước những đe dọa có thể dẫn tới diệt vong của xã hội: “Tôi vẫn nghĩ, có thể nhiều người không cần thơ mà họ cần trước hết lương tri của nhà thơ, tiếng nói của nhà thơ…”. Trong rất nhiều tác phẩm lớn của Rabindranath Tagore, Luis Borges, Pablo Neruda, HarryEugenio Montale, Czeslaw Milosz, Joseph Brodsky, Octavio Paz, Wislawa Szymborka, Tomas Tranströmer… chúng ta đều tìm thấy ánh lửa ấy!

Và phải chăng, qua cảnh báo của Ý Nhi người yêu thơ Việt cũng được thức tỉnh, lay động bởi ánh lửa lương tri? Vì mỗi cá thể thi sĩ chỉ một lần, và duy nhất đi qua cuộc đời này và để lại câu thơ như hạt giống tư duy, lộng lẫy kiêu hãnh không kém xao xuyến mơ hồ “Chút gì như bóng dáng đời ta…” .

(Sài Gòn, mùa Corona)

Ý Nhi ngoài là một Nữ sĩ có vị trí quan trọng trên Thi đàn Việt Nam hiện đại, bà còn là một cây bút viết truyện ngắn nổi tiếng. Như nhận xét của nhà văn, dịch giả Vũ Thành Sơn “truyện ngắn Ý Nhi đã có ý thức đổi mới và có thành tựu rõ rệt” (Ảnh: Bộ sưu tập Nguyễn Trọng Hiệp)

 giới thiệu chùm thơ ‘Bên thềm nhà Pasternak’ của nhà thơ Ý Nhi


1
Tự do

Chị đã lường trước sự đói khát
đã lường trước những đòn tra tấn hiểm nghèo
đã lường trước cái chết
nhưng chỉ đến khi
đứng sau song sắt nhà tù
chị mới hiểu tự do

Đó không phải là cái cách
một người đói hiểu giá trị của bữa cơm
một người ốm quý trọng thuốc
cũng không giống như kẻ bất hạnh luyến tiếc tình yêu

Lúc no
người ta không nhớ tới cái ăn
lúc khỏe người ta quên thuốc
trong hạnh phúc
người ta sẽ thôi nghĩ về sự may mắn

Nhưng với chị
ngay cả khi không còn tù ngục
tự do vẫn như một ám ảnh
một giày vò
một khát vọng.


2
Bên thềm nhà Pasternak

Tiếng ồn ào đã lặng
những cơn bão tuyết
những đám cháy hoàng hôn
những rừng cây trơ trụi
những ngọn gió dữ dằn từ thảo nguyên
những hồi chuông báo động

Tiếng ồn ào đã lặng
lời ly biệt đắng cay
sự nhục mạ
nỗi buồn thương
năm tháng nặng nề

Tiếng ồn ào đã lặng
La Ra* không còn nữa
trong băng giá, cô đơn, tù ngục
nàng không trở lại

Màn đã buông
kiếm đã tra vào vỏ
rượu đã cạn ly
sẽ bắt đầu thiên bi kịch khác

(* La Ra: là người tình của thi hào).
Nhà thơ Ý Nhi và nhà thơ Chim Trắng

3
Người đàn bà ngồi đan

Giữa chiều lạnh
một người đàn bà
ngồi đan bên cửa sổ
vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã
nhẫn nại
như thể đó là việc phải làm suốt đời
vội vã
như thể đó là lần sau chót

Không thở dài
không mỉm cười
chị đang giữ kín đau thương
hay là hạnh phúc
lòng chị đang tràn đầy niềm tin
hay là ngờ vực

Không một lần chị ngẩng nhìn lên
chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt
hay sau buổi chia ly
trong mũi đan kia
ẩn dấu niềm hân hoan hay nỗi âu lo
trong đôi mắt kia
là chán chường hay hy vọng

Giữa chiều lạnh
một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
dưới chân chị
cuộn len như quả cầu xanh
đang lăn
những vòng chậm rãi.


Phạm Tiến Duật, cô phiên dịch, Phạm Hổ, Nguyễn Xuân Sanh, Yevtushenko, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Thúy Toàn, Thái Bá Tân, Tế Hanh.
Phạm Tiến Duật, cô phiên dịch, Phạm Hổ, Nguyễn Xuân Sanh, Yevtushenko, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Thúy Toàn, Thái Bá Tân, Tế Hanh.

4
Đắc đạo

Dương Bích Liên uống rượu
lặng im
và vẽ

Đã vượt qua mối vướng bận đời thường
đã vượt qua
mối vướng bận vinh quang
đã vượt qua nỗi lo sợ âm thầm
khi phải đứng
riêng về một phía

Dương Bích Liên uống rượu
lặng im
và vẽ

Những đối cực
đã tuyệt vời hài hòa trên mặt vải
những tiếng kêu bi thương
cuồng nộ
đã tan
trong lặng thinh kỳ bí
và rượu
đã thay cho mọi loài ngũ cốc

Rồi ra đi
như một vì sao
chợt tắt
giữa bao la


5
Về Thái Nguyên

Không chờ đợi sự tha thứ cho lỗi lầm
Không chờ đợi lời an ủi cho nỗi khổ
Không chờ đợi niềm vui nồng nhiệt
Tôi mong được yên tĩnh cùng miền đất cũ
Nơi dòng suối mềm chảy len dưới khóm trúc mùa thu.

Tôi thức nói với mình trong đêm
Ta đã trở về, đã trở về
Ôi con đường nhỏ ven đồi lau xám.

Tôi cách xa nơi này hai mươi năm
Thiếu nữ đã là người đàn bà ở tuổi bốn mươi
Cam chịu và cuồng nộ, mong mỏi và buồn nản
Đem cho và nhận về, kiếm tìm và đánh mất
Giản đơn và rối ren, lớn lao và cạn hẹp
Tôi đứng kề bên giới hạn của mình
Nhưng tôi không còn nhiều thời gian do dự
Không còn nhiều thời gian cho sai lầm
Tôi đi trên đoạn đường còn lại
Không nguôi quên nguồn sáng mặt trời
Chảy như xối qua cánh rừng 20 năm cũ.

Trong lòng tay đá chai, tôi còn giữ quả bóng màu hạnh phúc
Một ngày kia nó sẽ ánh lên màu sắc khác
Có lẽ…
Nhưng giờ đây cho tôi được cám ơn
Vì không có ánh nhìn ái ngại
Không có tiếng cười vui ồn ào.

Trên con đường đất đỏ
Mưa tháng 10 nhòe ướt dấu chân trở lại.

(Thái Nguyên, 10-1984)

6
Quê hương

Rồi ta về
ngày thơ ngây
trái mận, trái mơ
con giống đêm rằm
đèn trung thu sáng nến
phượng nở âm thầm trên mái rêu

Rồi ta về
nghe gió
thiếp lặng giữa vòm cây
như tiếng gọi trong chiều

Rồi ta về
trông sóng
trên mặt nước hồ trong
còn chuyến đi bền bỉ tới bờ

Rồi ta về
mưa phùn
lộc biếc

Rồi ta về
phố xưa cô vắng
sông lớn âm thầm thắm đỏ

Rồi ta về
tìm qua ô cửa
một chút gì bóng dáng đời ta
một chút gì
như đốm nắng trên tường vôi cũ
một chút gì như tiếng chim khuyên
nơi vườn hoang

Rồi ta về
cuộn trốn giữa yêu thương
như đứa trẻ
cuộn mình
trong chăn ấm chiều đông

Ôi quê hương
quê hương
mắt trũng sâu chờ đợi
ta khóc
ngập lòng trên lối về


7
Vườn 

Không có giọng nói của anh
ánh nhìn của anh
tiếng cười của anh
để những đốm nắng cuối cùng của mùa hạ
những chiếc lá đầu tiên của ngày thu
có thể cháy lên thành ngọn
để khuôn mặt người đàn bà vừa ngang qua
có thể
huy hoàng dưới vành khăn nâu
để chiếc nhẫn ai đánh rơi
được nhặt lại
và dịu dàng chói sáng

Để con tàu trẻ thơ chạy quanh các luống hoa
thành chuyến tốc hành
đưa người đến miền cây lá khác

Để cỏ
có thể xanh tựa hồ nước mắt
để dấu chân người
im giữ niềm bí mật

Để em
có thể nghe nơi vòm dẻ đang nhuốm vàng kia
lời nguyện cho nỗi yên hàn.

Nhà thơ Ý Nhi và một em bé tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn những năm 1993
Chú thích:

(*) Cám ơn anh Nguyễn Trọng Hiệp đã cho Duyên Dáng Việt Nam giới thiệu lần đầu tiên bộ ảnh độc đáo mà anh sưu tập được về nữ sĩ Ý Nhi. Bộ ảnh do một tay máy vô danh thực hiện những năm 1990 – 1995. Nhà thơ Ý Nhi cũng đã xử dụng một tấm từ bộ này để in vào gấp bìa cuốn sách quan trọng của cuộc đời bà, Tuyển thơ & truyện ngắn “Ngọn gió qua vườn”.

Trong bộ ảnh có những bức bà đã chụp chung với nhà thơ Chim Trắng, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, họa sĩ Chóe, đám cưới Nguyễn Khôi Hạo…

Source link

Một bài thơ cũ: Nhà thơ Khế Iêm

March 27, 2020

Khế Iêm


Khế Iêm tên thật Lê Văn Đức, sinh năm 1946, tại Lê Xá, Vụ Bản, Nam Định. Ông chủ trương tạp chí văn tại Hoa Kỳ và phong văn Tân Hình Thức Việt, chủ biên văn Không Vần, (2006) và văn Ký Thuật (2010,) cả hai là văn Tân Hình Thức Việt, ấn bản song ngữ.

Tác phẩm: Hột Huyết (kịch, Sài Gòn 1972), Thanh Xuân (tạp chí văn, 1992), Dấu Quê (Dấu Quê Tôi, ấn bản song ngữ. Câu Lạc Bộ Xuất Bản Tân Hinh Thức, 2013), văn Khác (văn Khác , ấn bản song ngữ, Câu lạc bộ xuất bản Tân Hinh Thức, 2011), ấn bản song ngữ, Câu lạc bộ xuất bản Tân Hinh Thức, 2012).

Ông tham gia hội nghị liên tục năm thứ 56 (2004) của Hiệp hội Nghiên cứu Á Châu (Association Asian Studies) về văn các quốc gia vùng Đông Nam Á, gồm Thái Lan, Philippines và Việt Nam, với chủ đề, “văn as a Window on History and Change in Southeast Asia ”(văn, cửa sổ qua lịch sử và biến đổi tại Đông Nam Á).

Ông đã từng tham gia lớp đọc văn song ngữ Anh Việt tại Irvine, Orange County, California ngày 20 Tháng Mười Một, 2016, trong chương trình Đọc văn (văn Đọc) khắp 58 quận thuộc tiểu bang California, do nhà văn danh dự tiểu bang Dana Gioia tổ chức, cùng với nhà nghiên cứu âm nhạc trẻ Tina Huỳnh. (Nguồn: Văn Chương-Thời Cuộc-Dư Luận) ̣


Tranh Nguyễn Đình Thuần.

Nắng vàng

Tôi đứng ở bãi đậu
xe nhìn bâng khuâng một
vùng nắng vàng (và trong
lúc này) tôi không biết
tôi là nắng hay nắng
là tôi con đường phía
trước một hướng ra biển

còn hướng kia lên đồi
cả hai nơi đều có
những ngôi nhà đắt tiền
nhưng những ngôi nhà đắt
tiền thì có liên hệ
gì tới tôi có lẽ
là do sự liên tưởng
từ con đường con đường
dẫn tới những ngôi nhà
đắt tiền bây giờ nắng
đã xóa đi ký ức
và cái nghĩ của tôi
cũng đã rời xa tôi
lờ mờ tôi không còn
biết tôi đang ở đâu
và đi đâu bởi tôi
là nắng chỉ khi nào

nắng rời xa tôi lúc
đó ký ức và cái
nghĩ trở lại thì may
ra tôi mới trở lại
tôi nhận ra nơi tôi
đến và đi (chẳng mấy
chốc) bóng tối tiễn đưa
ánh sáng và bãi đậu
xe sẽ lấp lánh lấp
lánh đủ sắc màu nên
tôi không muốn lãng phí
giây phút nào ở với
nắng lúc này tôi không
làm gì ngoài ngó quanh
lác đác bóng người len
lỏi qua những hàng xe.


LTS: Mục đích tạo thêm tình thân ái giữa bạn đọc và soạn thảo, thông báo Người Việt trân trọng kính mời bạn đọc, thân chủ tham gia “Vườn văn Người Việt,” bằng tất cả mọi thể loại văn.
Xin gửi về email địa chỉ: [email protected], hoặc “Vườn văn Người Việt,” 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683


Source link

75 năm Chiến thắng Vĩ đại: Trách nhiệm chung trước lịch sử và tương lai

0
Была война… Была Победа…” Выставка детского рисунка, посвящённая ...

Và ngay cả đối với những thành viên tham gia thì những sự kiện của cuộc chiến đó bây giờ cũng đã là thời quá khứ xa xôi. Nhưng tại sao ngày 9 tháng 5 ở Nga luôn được kỷ niệm như lễ hội chính quan trọng nhất, còn ngày 22 tháng 6, cuộc sống dường như đóng băng tê lạnh và có gì trào lên nghẹn ngào trong cổ? Tổng thống Nga Vladimir Putin bắt đầu như vậy với bài viết mà ông dành riêng cho tạp chí Mỹ «The National Interest».
“Người ta thường quen nói: chiến tranh để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử mỗi gia đình. Đằng sau những lời này là số phận của hàng triệu con người, sự cơ cực và nỗi đau mất mát của họ. Niềm tự hào, sự thật và ký ức.
Đối với cha mẹ tôi, chiến tranh là nỗi xót xa khủng khiếp của thành phố Leningrad bị bao vây, nơi anh trai Vitya của tôi qua đời khi mới 2 tuổi, nơi mẹ tôi sống sót một cách thần kỳ. Cha tôi có tiêu chuẩn nhưng đã tình nguyện xung phong đi bảo vệ thành phố yêu quý. Cha chiến đấu ở trận địa đầu cầu «Nevsky pyatachok» và bị thương nặng. Và khi những năm tháng đó càng rời xa, càng thấy lớn thêm nhu cầu khát khao muốn được trò chuyện với cha mẹ, để biết thêm nhiều về giai đoạn chiến tranh trong cuộc đời của song thân. Nhưng đã không thể hỏi được điều gì nữa, vì vậy tôi trân trọng gìn giữ trong trái tim mình những cuộc trò chuyện thiêng liêng với cha mẹ về đề tài này.”

Ngày 9 tháng 5 năm 2019. Tổng thống Nga Vladimir Putin với bức ảnh người cha-chiến sĩ mặt trận Vladimir Spiridonovich tham gia cuộc tuần hành yêu nước Trung đoàn Bất tử vinh danh kỷ niệm 74 năm Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại 1941-1945.
Ngày 9 tháng 5 năm 2019. Tổng thống Nga Vladimir Putin với bức ảnh người cha-chiến sĩ mặt trận Vladimir Spiridonovich tham gia cuộc tuần hành yêu nước “Trung đoàn Bất tử” vinh danh kỷ niệm 74 năm Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại 1941-1945. © Sputnik / Alexey Drujinin

Đối với tôi và các bạn đồng trang lứa, điều quan trọng là làm sao để con, cháu, chắt của chúng tôi thấu hiểu những thử thách và đau khổ mà các bậc cha ông tiền bối đã trải qua. Làm thế nào và tại sao họ có thể trụ vững và chiến thắng? Bắt nguồn từ đâu mà họ có sức mạnh tinh thần kiên cường thực sự sắt thép như vậy khiến cả thế giới ngạc nhiên và ngưỡng mộ? Đúng, họ đã bảo vệ ngôi nhà của mình, bảo vệ những đứa trẻ, bảo vệ những người thân và gia đình mình. Nhưng tất cả đã cô đọng lại trong tình yêu dành cho Tổ quốc. Toàn bộ cảm xúc cá nhân riêng tư và sâu sắc này phản ánh trong chính bản thể của nhân dân chúng tôi và đã trở thành một trong những định tính của cuộc chiến đấu anh dũng xả thân chống bọn Quốc xã.
Mọi người thường đặt câu hỏi: thế hệ ngày nay sẽ hành xử thế nào, sẽ làm gì trong điều kiện có tình huống kịch tính nguy cấp? Trước mắt tôi, các bác sĩ trẻ, các y tá, đôi khi hôm qua vẫn còn là sinh viên, hôm nay đang tới những «khu vực đỏ» để cứu người bệnh. Các quân nhân của chúng ta, trong cuộc chiến chống khủng bố quốc tế ở Bắc Kavkaz ở Syria luôn đối mặt với tử thần, họ đều là những người rất trẻ! Nhưng tất cả đều cho thấy rằng họ xứng đáng với chiến công của những người lính năm xưa đã hy sinh bảo vệ quê hương trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.
 Sự xả thân tận hiến, chủ nghĩa yêu nước, tình yêu với ngôi nhà ruột thịt, với gia đình mình, với Tổ quốc – những giá trị này hôm nay vẫn là nền tảng cốt lõi cho xã hội Nga. Chủ quyền của đất nước chúng ta chủ yếu dựa phần lớn vào những giá trị đó.

Ký ức về chiến thắng của nhân dân Liên Xô

Bây giờ ở đất nước chúng ta xuất hiện những truyền thống mới mẻ, sản sinh từ trí tuệ và tình cảm của nhân dân, như hoạt động «Trung đoàn Bất tử». Đó là cuộc tuần hành mang ký ức biết ơn của chúng ta, là kết nối sống động giữa các thế hệ. Hàng triệu người tham gia tuần hành, rước ảnh của những thân nhân từng đánh bại chủ nghĩa phát-xít.
Không chỉ một lần tôi từng thảo luận về ý tưởng này trong các cuộc đàm đạo với các thủ lĩnh thế giới và gặp được sự thông hiểu của họ. Hồi cuối năm ngoái, tại hội nghị thượng đỉnh của lãnh đạo các nước SNG, tất cả chúng tôi đã thống nhất trong một ý: điều quan trọng là truyền đạt cho con cháu ký ức rằng chiến thắng trước chủ nghĩa phát-xít đã giành được trước hết nhờ công lao to lớn của nhân dân Liên Xô, gồm đại diện của tất cả các nước Cộng hòa thuộc Liên bang Xô-viết. Khi đó, tôi cũng nói chuyện với các đồng nghiệp cả về giai đoạn tiền chiến hoàn toàn không giản đơn.
Cuộc trò chuyện này đã gây tiếng vang lớn ở châu Âu và trên thế giới. Một số chính trị gia theo thói quen vội vã tuyên bố rằng Nga đang cố gắng viết lại lịch sử. Tuy nhiên, đồng thời họ không thể phản bác được một sự kiện nào, không dẫn ra được một luận cứ nào. Hiển nhiên là rất khó và thậm chí không thể tranh cãi với những tài liệu gốc, được bảo quản không chỉ ở Nga mà còn cả trong các kho lưu trữ nước ngoài.

Những nguyên nhân sâu xa của Thế chiến II

Bởi vì có nhu cầu tiếp tục phân tích những nguyên nhân đã dẫn đến đại chiến thế giới, suy ngẫm về những sự kiện phức tạp, bi kịch và chiến thắng của cuộc chiến, về những bài học của nó. Và ở đây, điều cơ bản có tính nguyên tắc là chỉ dựa vào tài liệu lưu trữ, vào chứng thực của những người đương thời, loại trừ bất kỳ sự biện giải mang tính ý thức hệ tư tưởng và mục tiêu chính trị.

Tôi xin nhắc lần nữa về một điều hiển nhiên: nguyên nhân sâu xa của Thế chiến II chủ yếu xuất phát từ những quyết định được thông qua sau kết quả của Thế chiến I. Hiệp ước Versailles đối với nước Đức đã trở thành một biểu tượng về sự bất công sâu sắc. Trên thực tế, chuyện ở đây là về vụ trấn cướp một đất nước có nghĩa vụ phải trả cho các đồng minh phương Tây những khoản bồi thường chiến phí khổng lồ, khiến nền kinh tế kiệt quệ. Tổng Tư lệnh tối cao của các lực lượng Đồng minh, Đại thống lĩnh Ferdinand Foch đã có nhận xét tiên tri mô tả văn kiện Versailles: «Đây không phải là hòa bình, đây là thỏa thuận ngừng bắn trong hai chục năm».

Những người lính Liên Xô đề trên các viên đạn: Gửi riêng cho Hitler, Tiến vào Berlin, Tiến vào Quốc hội Đức
Chuyên gia nói về âm mưu hạ thấp vai trò của Liên Xô trong Thế chiến II © SPUTNIK / KNORRING

Chính nỗi quốc nhục đã tạo thành môi trường sinh sản nuôi dưỡng tâm thế cực đoan và phục thù ở nước Đức. Các thành viên Quốc xã đã khéo léo khơi thêm những xúc cảm này, xây dựng phương pháp tuyên truyền của họ với lời hứa hẹn gột rửa khỏi nước Đức những «di sản Versailles» tồi tệ, khôi phục sự hùng cường trước đây, còn trên thực tế, thúc đẩy nhân dân Đức tới một cuộc chiến mới. Nghịch lý thay, các quốc gia phương Tây, trước hết là Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, đã trực tiếp hoặc gián tiếp đóng góp vào việc đó. Giới tài chính và công nghiệp của những nước này đã rất tích cực rót vốn tư bản vào các nhà máy và công xưởng Đức chuyên sản xuất những sản phẩm có tính năng quân sự. Và trong tầng lớp quý tộc chính khách, có không ít  những người ủng hộ các phong trào dân tộc cấp tiến, cực hữu, vốn đang giành ảnh hưởng cả ở Đức và châu Âu.
«Cấu trúc thế giới» Versailles đã sinh ra nhiều mâu thuẫn tiềm ẩn ngấm ngầm và những xung đột công khai. Trên cơ sở đó, có cả vấn đề sự hình thành những quốc gia châu Âu mới, mà đường biên do những người chiến thắng trong Thế chiến I tuỳ tiện vẽ ra. Gần như ngay lập tức sau khi xuất hiện trên bản đồ, cũng bắt đầu những tranh chấp lãnh thổ và yêu sách lẫn nhau.

Sự hình thành Hội Quốc Liên

Một trong những kết quả quan trọng nhất của Thế chiến I là thành lập Hội Quốc Liên. Tổ chức quốc tế này nêu hy vọng to lớn về đảm bảo nền hòa bình bền vững lâu dài.

Tuy nhiên với quyền thống soái của các cường quốc chiến thắng là Vương quốc Anh và Pháp, Hội Quốc Liên đã bộc lộ tính chất kém hiệu quả của nó. Trong Hội Quốc Liên và trên lục địa Âu châu nói chung đã phớt lờ những lời kêu gọi nhiều lần của Liên Xô về tạo lập một hệ thống an ninh tập thể bình đẳng. Cụ thể, việc ký kết các hiệp ước Đông Âu và Thái Bình Dương lẽ ra có thể thiết lập hàng rào ngăn cản sự gây hấn.

Hội Quốc Liên đã không thể ngăn chặn những cuộc xung đột ở nhiều nơi trên thế giới, như cuộc tấn công của Ý vào Ethiopia, nội chiến ở Tây Ban Nha, cuộc xâm lược của Nhật Bản chống Trung Quốc và Anschluss – Sáp nhập Áo. Còn trong trường hợp Hiệp ước Munich, mà ngoài Hitler và Mussolini còn có các nhà lãnh đạo Anh và Pháp tham gia, với sự chấp thuận hoàn toàn của Hội Quốc Liên, đã xảy ra chuyện đất nước Tiệp Khắc bị phân chia. Trong tương quan này, tôi những muốn lưu ý rằng, không giống như nhiều nhà lãnh đạo châu Âu khác đương thời, Stalin đã không tự bôi nhọ mình bằng cuộc gặp với Hitler, nhân vật hồi đó nức tiếng ở các nước phương Tây như là một chính trị gia đầy khả kính và là vị thượng khách luôn được chào đón ở các thủ đô châu Âu.

Cuộc thông đồng Munich  

Với Hiệp ước Munich, trong việc phân chia Tiệp Khắc, cả Ba Lan cũng đã vào hùa hành động cùng với Đức. Họ đã cùng nhau quyết định sẵn từ trước, ai sẽ được vùng đất nào của Tiệp Khắc. Ở Ba Lan người ta hiểu rằng nếu không có sự ủng hộ của Hitler, kế hoạch chiếm đất hẳn sẽ thất bại.
Sự phân chia Tiệp Khắc là tàn nhẫn và trắng trợn. Hiệp ước Munich đã phá vỡ cả những bảo đảm mong manh chính thức còn tồn tại ở châu lục, chỉ ra rằng những thỏa thuận tương hỗ lẫn nhau là vô giá trị. Chính vụ thông đồng Munich đã đóng vai trò kích hoạt chủ chốt, mà sau đó viễn cảnh một cuộc chiến lớn ở châu Âu là không thể tránh khỏi.
Ngày nay, các chính trị gia châu Âu, trước hết là các nhà lãnh đạo Ba Lan, muốn im miệng vụ Munich. Tại sao? Không chỉ bởi vì nước họ khi đó đã phản bội lại nghĩa vụ của mình, ủng hộ cuộc thông đồng Munich và một số người thậm chí còn tham gia việc chia phần, mà còn bởi thật bất tiện khi nhớ lại rằng trong những ngày đầy kịch tính của năm 1938, chỉ riêng có Liên Xô đứng lên bênh vực Tiệp Khắc.
Xuất phát từ nghĩa vụ cam kết quốc tế của mình, trong đó có các thỏa thuận với Pháp và Tiệp Khắc, Liên Xô đã cố gắng ngăn chặn thảm kịch này. Còn Ba Lan theo đuổi lợi ích riêng lại ra sức cản trở việc tạo lập hệ thống an ninh tập thể ở châu Âu.
Anh cũng như Pháp lúc đó là đồng minh chính của người Séc và người Slovakia, đã chọn cách ném đất nước Đông Âu này cho vỡ ra thành từng mảnh. Không chỉ đơn thuần là ném bỏ, mà còn hướng cố gắng của bọn Quốc xã sang phía đông với mục đích để Đức và Liên Xô không thể tránh đụng độ và cùng gây đổ máu cho nhau.
Chính ở đây hàm chứa chính sách «khoan hoà» của phương Tây. Và không chỉ về thái độ với Đệ tam Quốc xã, mà cả với nước Ý phát-xít và quân phiệt Nhật Bản. Đỉnh điểm của chính sách ở Viễn Đông là thỏa thuận Anh-Nhật vào mùa hè năm 1939, cho Tokyo rảnh tay ở Trung Quốc. Các cường quốc châu Âu hàng đầu không muốn thừa nhận rằng mối nguy hiểm tử thần đối với toàn thế giới bắt nguồn từ Đức và các đồng minh của bọn phát-xít, mà họ trông đợi rằng chiến tranh sẽ tránh không động đến phía họ.
Cuộc thông đồng Munich cho Liên Xô thấy rằng các nước phương Tây sẽ giải quyết vấn đề an ninh mà không thèm đếm xỉa đến lợi ích của đất nước Xô-viết, còn trong trường hợp thuận tiện, họ có thể tạo lập mặt trận chống Liên Xô

Liên Xô đã cố gắng tạo lập liên minh chống Hitler

Đồng thời, Liên Xô đã cố gắng đến khả năng có thể cuối cùng để chớp lấy bất kỳ cơ hội tạo lập một liên minh chống Hitler, tôi nhắc lại, bất kể lập trường hai mặt của các nước phương Tây. Chẳng hạn, theo con đường tình báo, ban lãnh đạo Liên Xô đã nhận được thông tin chi tiết về những tiếp xúc hậu trường của Anh-Đức vào mùa hè năm 1939. Tôi xin lưu ý: những tiếp xúc này được tiến hành rất ráo riết, thêm nữa là gần như cùng lúc với cuộc đàm phán ba bên của các đại diện Pháp, Anh và Liên Xô, mà trái lại đã bị các đối tác phương Tây cố tình trì hoãn. Trong tương quan này tôi nêu một văn kiện từ tài liệu lưu trữ của Anh – đó là bản hướng dẫn của phái bộ quân sự Anh, đến Matxcơva vào tháng 8 năm 1939. Trong văn bản nói thẳng ra rằng phái đoàn cần «tiến hành đàm phán thật chậm»; rằng «Chính phủ Vương quốc Anh không sẵn sàng nhận về mình những cam kết viết chi tiết có thể hạn chế quyền tự do hành động của chúng ta trong bất kỳ bối cảnh nào». Tôi cũng lưu ý thêm: không giống như người Anh và người Pháp, trưởng phái đoàn Liên Xô là lãnh đạo cao cấp của Hồng quân, có đầy đủ quyền lực cần thiết để «ký quy ước quân sự về vấn đề tổ chức phòng thủ quân sự của Anh, Pháp và Liên Xô chống xâm lược ở châu Âu».

Thất bại trong đàm phán

Không muốn có bất kỳ nghĩa vụ nào trước Liên Xô, Ba Lan đã đóng vai trò trong thất bại của các cuộc đàm phán. Thậm chí cả dưới áp lực từ phía các đồng minh phương Tây, ban lãnh đạo Ba Lan vẫn từ chối không chịu hành động chung với Hồng quân để đối đầu với nước Đức Quốc xã.
Liên Xô đã ký Hiệp ước bất tương xâm với Đức, trên thực tế, là nước châu Âu cuối cùng làm việc này. Hơn thế nữa, trong bối cảnh nguy hiểm thực tế phải đối mặt với chiến tranh trên hai mặt trận – với Đức ở phía tây và với Nhật Bản ở phía đông, nơi những trận chiến đang diễn ra dữ dội trên sông Khalkhyn Gol.

Văn bản Hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Liên Xô, trưng bày tại lễ khai mạc Triển lãm tài liệu-lịch sử Năm 1939. Bắt đầu Thế chiến II tại Phòng Triển lãm của Lưu trữ Liên bang ở Matxcơva.
Văn bản Hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Liên Xô, trưng bày tại lễ khai mạc Triển lãm tài liệu-lịch sử “Năm 1939. Bắt đầu Thế chiến II” tại Phòng Triển lãm của Lưu trữ Liên bang ở Matxcơva. © Sputnik / Kirill Kallinnikov

Stalin và giới thân cận của ông đáng nhận nhiều lời cáo buộc công bằng. Chúng tôi nhớ cả những tội ác của chế độ chống lại chính nhân dân của mình, về nỗi khủng khiếp do sự thanh trừng đàn áp hàng loạt. Nhìn thấy cách người ta cố gắng buộc đất nước đối mặt trực diện với Đức và các đồng minh, nhận thức rõ về mối nguy hiện thực này, ban lãnh đạo Liên Xô đã hành động để tranh thủ khoảng thời gian quý báu dành cho việc tăng cường phòng thủ đất nước.
Về việc ký kết Hiệp ước bất tương xâm khi đó, bây giờ có rất nhiều cuộc bàn luận và chê trách, chính là nhắm vào chống nước Nga hiện đại. Đúng, Nga là nước kế thừa Liên Xô. Nhưng tôi xin nhắc rằng Liên Xô đã đưa ra đánh giá về mặt pháp lý và đạo đức đối với cái gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Trong nghị định của Hội đồng Xô-viết Tối cao ngày 24 tháng 12 năm 1989 đã chính thức lên án biên bản mật «là hành động quyền lực cá nhân», không hề phản ánh «ý chí của nhân dân Xô-viết, những người không chịu trách nhiệm về âm mưu này».

Các chính khách Molotov và Ribbentrop sau khi ký Hiệp ước Xô-Đức về hữu nghị và biên giới
Các chính khách Molotov và Ribbentrop sau khi ký Hiệp ước Xô-Đức về hữu nghị và biên giới © ẢNH : PUBLIC DOMAIN

Đồng thời, các Nhà nước khác lại chọn cách không nhớ lại những thỏa thuận mà các chính trị gia phương Tây đã ký kết với bọn Quốc xã. Không nói đến đánh giá pháp lý hoặc chính trị của sự cộng tác đó, trong đó có thỏa thuận ngầm của một số nhà lãnh đạo châu Âu với kế hoạch man rợ của bọn Quốc xã, thậm chí là trực tiếp cổ vũ chúng.

Giải mật thông tin

Chúng tôi cũng không biết liệu có chăng thứ «giao thức» hay phụ lục mật nào đó kèm với thỏa thuận của hàng loạt nước với bọn Quốc xã. Cho đến nay chưa giải mật các tài liệu về những cuộc đàm phán bí mật của Anh-Đức. Do đó, chúng tôi kêu gọi tất cả các quốc gia hãy kích hoạt tiến trình công bố tư liệu lưu trữ của mình, xuất bản những tài liệu trước đây chưa từng biết về thời kỳ chiến tranh và giai đoạn tiền chiến, giống như Nga đã làm suốt những năm gần đây. Chúng tôi luôn sẵn sàng đi tới hợp tác rộng mở, tới những dự án nghiên cứu chung của các nhà sử học.

Nhưng chúng ta sẽ trở lại với những sự kiện ngay đêm trước Thế chiến II. Thật ngây triết học nếu tin rằng sau khi thôn tính Tiệp Khắc, Hitler sẽ không đưa ra yêu sách lãnh thổ kế tiếp. Lần này đến lượt Ba Lan, nước tòng phạm trong vụ phân chia Tiệp Khắc cách đó chưa lâu. Nguyên cớ ở đây, nhân tiện xin nhắc, cũng chính là một di sản của Hiệp ước Versailles – số phận của cái gọi là hành lang Danzig. Thảm kịch tiếp theo của Ba Lan hoàn toàn thuộc về lương tâm của ban lãnh đạo Ba Lan thời đó, đã ngăn cản ký kết liên minh quân sự Anh- Pháp-Xô và gửi gắm hy vọng vào sự giúp đỡ của các đối tác phương Tây.

Huân chương Chiến tranh Vệ quốc
Các chiến sĩ người Việt là những người cuối cùng được tặng huân chương Chiến tranh của Liên Xô © SPUTNIK / EVGENY BIYATOV

Bất chấp sự kháng cự quyết liệt, anh dũng của quân đội Ba Lan, chỉ qua một tuần lễ sau khi bắt đầu chiến tranh, vào ngày 8 tháng 9 năm 1939, quân đội Đức đã tiến đến cửa ngõ Warszawa. Còn giới tinh hoa thượng tầng quân sự-chính trị của Ba Lan thì ngày 17 tháng 9 đã chạy trốn sang lãnh thổ Romania.

Các đồng minh phương Tây đã không đáp ứng mong mỏi của Ba Lan. Sau khi tuyên chiến với Đức, đội quân Pháp chỉ tiến được vài chục km vào sâu trong lãnh thổ Đức. Tất cả trông giống như một cuộc hành quân phô trương thanh thế. Hơn nữa, Hội đồng chiến tranh tối cao Anh-Pháp họp lần đầu vào ngày 12 tháng 9 năm 1939 tại Abbeville thuộc Pháp đã quyết định đình chỉ tấn công khi nhìn nhận đà phát triển nhanh chóng của các sự kiện ở Ba Lan. Bộc lộ rõ sự phản bội trực tiếp từ phía Pháp và Anh, chối bỏ nghĩa vụ của họ trước Ba Lan.

Lật lại tư liệu về những tiếp xúc giữa Liên Xô và Đức vào tháng 8 và tháng 9 năm 1939

Tôi đề nghị lật lại toàn bộ tư liệu lưu trữ liên quan đến những cuộc tiêp xúc giữa Liên Xô và Đức trong những ngày đầy kịch tính tháng 8 và tháng 9 năm 1939. Như chứng tỏ qua các tài liệu, khoản 2 của Nghị định thư mật về Hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Liên Xô ngày 23 tháng 8 năm 1939 quy định rằng trong trường hợp có sự chuyển biến về lãnh thổ-chính trị những vùng nằm trong thành phần Nhà nước Ba Lan, ranh giới các vùng lợi ích của hai nước cần được phân định «khoảng chừng theo tuyến các con sông Narew, Vistula và San». Nói cách khác, phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô không chỉ bao gồm các vùng lãnh thổ với đa số cư dân là người Ukraina và Belarus, mà còn cả những vùng đất lịch sử của Ba Lan nằm giữa hai con sông Bug và Vistula.

Tượng đài thiếu nhi vui chơi bị phá huỷ trên quảng trường nhà ga Stalingrad sau cuộc oanh tạc của máy bay Đức phát-xít
Tượng đài thiếu nhi vui chơi bị phá huỷ trên quảng trường nhà ga Stalingrad sau cuộc oanh tạc của máy bay Đức phát-xít © Sputnik / Emanuel Evzerikhin
Trận đánh bảo vệ Moskva. Tháng 11 năm 1941. Súng phòng không trước Nhà hát Quân đội Liên Xô.
Trận đánh bảo vệ Moskva. Tháng 11 năm 1941. Súng phòng không trước Nhà hát Quân đội Liên Xô. © Sputnik / Oleg Knorring
Chiến dịch đánh chiếm Berlin
Chiến dịch đánh chiếm Berlin © Sputnik / Vladimir Grebnev
Tiến vào Kiev!. Vượt qua sông Dniepr. Tháng 9 năm 1943
“Tiến vào Kiev!”. Vượt qua sông Dniepr. Tháng 9 năm 1943 © Sputnik / Arkady Shaikhet
Cuộc phản công của Hồng quân gần Matxcơva. Cảnh từ bộ phim tài liệu “Sự thất bại của quân đội Đức quốc xã gần Matxcơva. Tháng 10 năm 1941 - Tháng 1 năm 1942. Xưởng phim tài liệu trung ương
Cuộc phản công của Hồng quân gần Matxcơva. Cảnh từ bộ phim tài liệu “Sự thất bại của quân đội Đức quốc xã gần Matxcơva. Tháng 10 năm 1941 – Tháng 1 năm 1942.” Xưởng phim tài liệu trung ương © Sputnik
Cảnh nhìn từ trên cao của thành phố Stalingrad bị tàn phá
Cảnh nhìn từ trên cao của thành phố Stalingrad bị tàn phá © Sputnik / Oleg Knorring

Ngay sau khi tấn công Ba Lan vào những ngày đầu tháng 9 năm 1939, Berlin đã khăng khăng liên tục kêu gọi Matxcơva kết nối vào hoạt động chiến sự. Ban lãnh đạo Liên Xô đã phớt lờ những lời kêu gọi như vậy, có ý muốn trì hoãn tham chiến.
Chỉ đến khi hiểu rằng Anh và Pháp sẽ không tìm cách giúp đỡ đồng minh của mình, còn quân đội Đức Quốc xã có thể nhanh chóng chiếm đóng toàn bộ Ba Lan và thực sự đang tiến theo những con đường dẫn tới Minsk, Liên Xô mới thông qua quyết định vào sáng ngày 17 tháng 9, điều các binh đoàn Hồng quân đến những phần lãnh thổ hiện nay thuộc Belarus, Ukraina và Litva.
Không còn phương án nào khác. Nếu không làm thế thì rủi ro đối với Liên Xô sẽ lớn hơn gấp nhiều lần, bởi đường biên giới cũ của Liên Xô và Ba Lan chỉ cách Minsk vài chục cây số.
Chính thực tế là Liên Xô đã tận dụng đến cơ hội cuối cùng để cố gắng tránh tham gia vào cuộc xung đột đã nóng lên và không muốn đứng bên phía Đức, đã dẫn đến tình trạng sự tiếp xúc thực sự giữa quân đội Liên Xô và quân đội Đức diễn ra lệch sang phía đông nhiều hơn so với ranh giới mà hai bên đã thỏa thuận theo văn bản bí mật kể trên.
Vào tháng 9 năm 1939, ban lãnh đạo Liên Xô từng có cơ hội đẩy ranh giới phía tây của Liên bang Xô-viết thậm chí xa hơn nữa về phía tây, đến tận Warszawa, thế nhưng đã quyết định không làm như vậy.

Giữ nguyên hiện trạng mới

Người Đức đề nghị quy nhận hiện trạng mới hình thành. Ngày 28 tháng 9 năm 1939 tại Matxcơva I.Ribbentrop và V.Molotov đã ký kết Hiệp ước hữu nghị và biên giới giữa Liên Xô và Đức, cũng như Nghị định thư bí mật kèm theo về việc thay đổi biên giới quốc gia, lúc đó được gọi là tuyến phân định ranh giới, nơi thực tế de facto đã có quân đội hai nước đóng.
Vào mùa thu năm 1939, khi giải quyết các nhiệm vụ quân sự-chiến lược và phòng thủ, Liên Xô bắt đầu quá trình kết nạp Latvia, Litva và Estonia. Việc họ gia nhập Liên bang Xô-viết được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận, với sự đồng ý của các chính quyền dân cử. Điều đó phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và luật quốc gia thời bấy giờ.
Trong tất cả những tháng ngày này liên tục diễn ra cuộc đấu tranh về ngoại giao và chính trị-quân sự, công tác tình báo, vốn vô hình trước con mắt người ngoài. Matxcơva hiểu rằng không có bất kỳ cơ sở nào để tiếp nhận các văn bản lễ tân hình thức thời đó như là bằng chứng về «tình hữu nghị» giữa Liên Xô và Đức. Khi đó Liên Xô có những tiếp xúc tích cực về thương mại và kỹ thuật không chỉ riêng với Đức, mà còn với nhiều nước khác. Đồng thời, Hitler hết lần này đến lần khác cố gắng lôi kéo Liên Xô vào cuộc đối đầu với Anh, nhưng ban lãnh đạo Liên Xô đã không ngả theo những lời vận động này.

Chuyến thăm của Molotov đến Berlin

Trong quá trình chuyến thăm của Molotov đến Berlin vào tháng 11 năm 1940, Hitler đã tung ra nỗ lực cuối cùng hòng thuyết phục Liên Xô cùng hành động. Nhưng Molotov đã tuân thủ chính xác các chỉ thị của Stalin, chỉ giới hạn trong những trao đổi chung chung về ý tưởng của người Đức đưa Liên Xô gia nhập Hiệp ước Ba bên của các đồng minh Đức, Ý và Nhật Bản, ký kết vào tháng 9 năm 1940 nhằm chống lại Anh và Mỹ.

Vyacheslav Molotov
© Sputnik – Vyacheslav Molotov

Vào ngày 25 tháng 11, ban lãnh đạo Liên Xô chính thức nêu với Berlin những điều kiện mà Đức Quốc xã không chấp nhận nổi, bao gồm việc rút quân Đức khỏi Phần Lan, thoả thuận hỗ trợ lẫn nhau giữa Liên Xô và Bulgaria và một loạt nước khác, như vậy cũng có nghĩa là chủ động loại bỏ mọi khả năng gia nhập hiệp ước do Đức mời chào. Lập trường đó đã khiến lãnh tụ Quốc xã khẳng định dứt khoát ý đồ gây chiến tranh chống Liên Xô. Và ngay tháng 12 cùng năm, bỏ ngoài tai mọi lời cảnh báo từ các chiến lược gia của mình về nguy cơ thảm khốc khi phải tiến hành chiến tranh trên cả hai mặt trận, Hitler đã phê duyệt kế hoạch «Barbarossa». Thủ lĩnh Đức Quốc xã đã làm điều này, khi nhận ra rằng chính Liên Xô là lực lượng cơ bản chống lại ông ta ở châu Âu.
Điều tôi muốn đặc biệt lưu ý ở đây là các nước phương Tây khi đó đã thực sự đồng ý với hành động của Liên Xô, công nhận những cố gắng của Liên Xô nhằm đảm bảo an ninh của mình.
Đáng chú ý là trong những cuộc đàm đạo khác nhau giữa các nhà ngoại giao Anh và đồng nghiệp Liên Xô, hai bên đã thăm dò tình hình cả cho mục đích cải thiện quan hệ Xô-Anh. Những tiếp xúc này phần nhiều đã đặt nền tảng cho liên minh chống Hitler và quan hệ đồng minh trong tương lai. Nổi bật trong số các chính trị gia trọng yếu có nhãn quan sâu rộng là W.Churchill, mặc dù có tiếng là người bài Xô nhưng đã sớm tán thành hợp tác với Liên Xô. Ngay từ tháng 5 năm 1939, ông tuyên bố tại Hạ viện:


«Chúng ta sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm chết người nếu không lập ra được một liên minh vĩ đại chống xâm lược. Sẽ là cực ngu ngốc nếu chúng ta bác bỏ quan hệ hợp tác tự nhiên với nước Nga Xô-viết».


Cái gì đã định trước tấn thảm kịch lớn nhất trong lịch sử nhân loại?

Thế chiến II đã không xảy ra trong một giờ một khắc, nó không bắt đầu một cách đột nhiên, bất thình lình. Và việc Đức gây hấn chống Ba Lan cũng không phải là bất ngờ. Tất cả các sự kiện xảy ra trước chiến tranh sắp xếp trong một chuỗi định mệnh. Nhưng, hiển nhiên, thứ định trước tấn thảm kịch lớn nhất trong lịch sử nhân loại chính là sự ích kỷ, hèn nhát ở cấp độ quốc gia, là việc dung túng cho kẻ xâm lược có thêm sức mạnh, là thái độ không sẵn sàng tìm cách nhân nhượng của giới tinh hoa chính trị.

Cậu bé ngồi trên đống đổ nát của ngôi nhà ở Ba Lan
Cậu bé ngồi trên đống đổ nát của ngôi nhà ở Ba Lan © AP Photo / Julien Brya

Do đó, không trung thực khi khẳng định rằng chuyến thăm hai ngày tới Matxcơva của Bộ trưởng Ngoại giao Đức Ribbentrop là nguyên nhân chính làm phát sinh Thế chiến II. Tất cả nước hàng đầu ở mức độ này hay mức độ khác đều có phần lỗi trong việc nổ ra chiến tranh. Mỗi nước đều mắc phải những sai lầm không thể sửa chữa, khi tự phụ cho rằng có thể đánh lừa những người khác, đảm bảo lợi thế cho riêng mình hoặc đứng bên ngoài thảm họa thế giới sắp xảy ra.

Tôi viết điều này mà không có bất kỳ ý định nào dù là nhỏ nhất muốn nhận vai trò quan tòa, kết tội hoặc biện minh cho ai đó, hơn thế nữa là khởi động một vòng xoáy đối đầu thông tin quốc tế mới trên bình diện lịch sử, có thể gây ra đụng độ giữa các quốc gia và dân tộc. Tôi cho rằng khoa học hàn lâm với sự đại diện rộng rãi của các nhà khoa học có thẩm quyền từ các nước khác nhau cần tiến hành tìm kiếm những đánh giá cẩn trọng về những sự kiện trong quá khứ. Tất cả chúng ta đều cần sự thật và tính khách quan. Về phần mình, tôi vẫn luôn kêu gọi các đồng nghiệp tham gia đối thoại một cách bình tĩnh, cởi mở và tin cậy.

Những cuộc tấn công thông tin

Tuy nhiên nhiều đối tác của chúng tôi hiện chưa sẵn sàng cho công việc chung. Ngược lại, khi theo đuổi những mục đích riêng của mình, họ đang gia tăng số lượng và quy mô những cuộc tấn công thông tin chống đất nước chúng tôi, họ muốn ép chúng tôi phải bào chữa, phải cảm thấy có tội và chấp nhận những tuyên ngôn hoàn toàn giả dối đã bị chính trị hóa. Ví dụ như nghị quyết «Về tầm quan trọng của việc bảo tồn ký ức lịch sử cho tương lai của châu Âu» do Nghị viện châu Âu phê chuẩn ngày 19 tháng 9 năm 2019, trực tiếp buộc tội Liên Xô ngang hàng với Đức Quốc xã trong việc gây ra Thế chiến II. Đương nhiên, trong văn bản này không có chỗ nào nhắc đến Hiệp ước Munich.
Tôi cho rằng «những giấy tờ» kiểu như vậy chứa đựng mối đe dọa thực sự nguy hiểm. Bởi bản nghị quyết đó do một cơ quan uy tín thông qua. Và văn kiện này phô trương điều gì? Thật đáng buồn, đó lại là chính sách chủ ý phá hủy trật tự thế giới hậu chiến, được lập ra nhờ công việc đầy danh dự và trách nhiệm của các nước, thế mà hôm nay nhiều đại diện của chính các quốc gia ấy lại bỏ phiếu tán thành tuyên ngôn dối trá. Và cũng bằng cách như vậy, họ đã giơ tay ủng hộ kết luận của Tòa án Nürnberg, ủng hộ những nỗ lực của cộng đồng thế giới tạo ra các thể chế quốc tế toàn diện sau chiến thắng năm 1945. Trong tương quan này tôi xin nhắc rằng chính tiến trình hội nhập châu Âu mà trong đó lập ra những cơ cấu tương ứng kể cả Nghị viện châu Âu, đã chỉ thành có thể nhờ vào những bài học rút ra từ quá khứ, với những đánh giá chính trị và pháp lý rõ ràng. Và những ai cố ý nghi ngờ sự đồng thuận này, bây giờ đang phá hủy nền tảng của toàn bộ châu Âu hậu chiến.

Nhạo báng ký ức là thói đê tiện

Bên cạnh mối đe dọa đối với những nguyên tắc cơ bản của trật tự thế giới, còn có khía cạnh luân lý và đạo đức. Chế nhạo, báng bổ ký ức – đó là thói đê tiện. Đê tiện có nhiều dạng – cố ý, giả dối và hoàn toàn có chủ đích, khi trong những phát ngôn nhân mốc 75 năm kết thúc Thế chiến II người ta kể tên tất cả các nước tham gia liên minh chống Hitler, chỉ trừ Liên Xô. Đê tiện còn có thể là sự hèn nhát khi có kẻ phá hủy các tượng đài được dựng lên để tôn vinh các chiến sĩ chống chủ nghĩa phát-xít, hoặc biện minh cho những hành động đáng xấu hổ bằng những khẩu hiệu dối trá đội lốt đấu tranh chống một hệ tư tưởng không hợp ý, thậm chí còn bị cho là chiếm đóng. Đê tiện cũng có nghĩa là đẫm máu khi những người lên tiếng chống lại chủ nghĩa phát-xít mới thì bị giết hại và bị thiêu sống.
Quên lãng những bài học lịch sử chắc chắn sẽ phải gánh chịu quả báo nặng nề. Chúng tôi sẽ kiên quyết bảo vệ sự thật, dựa trên những sự kiện lịch sử được xác nhận bằng tài liệu văn bản, chúng tôi sẽ tiếp tục kể một cách trung thực, không thiên kiến về các sự kiện của Thế chiến II. Để làm được điều này đã triển khai dự án quy mô nhằm xây dựng ở Nga một cơ sở đồ sộ bậc nhất, sưu tập những tài liệu lưu trữ, phim và ảnh chụp về lịch sử Thế chiến II cũng như thời kỳ trước chiến tranh.
Tôi có thể tự tin tuyên bố rằng không hiện hữu một tài liệu lưu trữ nào xác nhận giả thuyết cho rằng Liên Xô dự định phát động cuộc chiến tranh phủ đầu chống lại nước Đức. Đúng là ban lãnh đạo quân sự của Liên Xô đã tuân thủ học thuyết rằng trong trường hợp bị xâm lược, Hồng quân sẽ nhanh chóng đẩy lui kẻ thù, chuyển sang thế tấn công và tiến hành cuộc chiến trên lãnh thổ đối phương. Tuy nhiên, những kế hoạch chiến lược như vậy hoàn toàn không đồng nghĩa với ý định tấn công trước vào nước Đức.
Tất nhiên, ngày nay trong tay các sử gia có những tài liệu về những kế hoạch quân sự, những chỉ thị của bộ tham mưu quân đội Liên Xô và Đức. Cuối cùng, chúng ta biết rằng các sự kiện đã diễn ra như thế nào trên thực tế. Từ tầm cao tri ​​thức này nhiều người đang phán xét về những hành động, những lỗi sai, những tính toán nhầm lẫn của ban lãnh đạo quân sự-chính trị của đất nước. Nhưng bên cạnh luồng thông tin sai lệch đủ loại khổng lồ, các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng nhận được thông tin thực sự về kế hoạch xâm lược mà bọn Quốc xã đang chuẩn bị.

Chiến tranh không phải là bất ngờ, mà được đoán định, có sự chuẩn bị đối phó

Đòn tấn công của Đức Quốc xã quả thực là với sức mạnh huỷ diệt chưa từng thấy trong lịch sử. Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Liên Xô đã phải đối mặt với đội quân hùng hậu, được huy động và huấn luyện chính quy nhất trên thế giới, có sự hậu thuẫn bằng tiềm lực công nghiệp, kinh tế, quân sự của hầu như toàn bộ châu Âu. Không chỉ riêng quân đội Đức Quốc xã, mà cả các nước chư hầu của Đức, các đội quân của nhiều quốc gia khác thuộc lục địa châu Âu cũng tham gia vào cuộc xâm lược hủy diệt này.
Những thất bại quân sự nghiêm trọng năm 1941 đã đưa đất nước đến bờ vực thảm họa. Buộc phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để phục hồi khả năng chiến đấu và kiểm soát tình hình. Ngay trong mùa hè năm 1941, dưới làn đạn quân thù, đã bắt đầu sơ tán hàng triệu công dân, hàng trăm nhà máy và cơ sở sản xuất về miền đông của đất nước. Trong thời hạn gấp rút nhất ở hậu phương đã thu xếp được việc sản xuất vũ khí và đạn dược, để bắt đầu chuyển ra mặt trận ngay trong mùa đông chiến tranh đầu tiên, còn đến năm 1943 các chỉ số đã vượt cao hơn sức sản xuất quân sự của Đức và các đồng minh của họ. Trong một năm rưỡi, những con người Xô-viết đã làm được những điều tưởng như không thể, cả ở tiền tuyến và hậu phương. Và cho đến ngày nay vẫn khó có thể nhận thức được, hiểu được và hình dung được rằng, đã phải có những nỗ lực đáng kinh ngạc đến mức nào, có lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh quên mình đến đâu, mới có thể đạt được những thành tựu vô cùng vĩ đại này.
Chống lại bộ máy chiến tranh hùng cường của đội quân đông đảo những tên Quốc xã máu lạnh hung hãn, vũ trang đến tận răng, chính là sức mạnh kỳ vĩ của xã hội Xô-viết, được thống nhất bởi ý chí bảo vệ mảnh đất quê hương.
Dĩ nhiên, trong thời kỳ chiến tranh khủng khiếp, đẫm máu này, đã có một số người bị nỗi sợ hãi, hoang mang, tuyệt vọng bao trùm. Có những hành vi phản bội và đào ngũ. Có những biểu hiện đàn áp tàn bạo do cách mạng và nội chiến sản sinh ra, có chủ nghĩa hư vô, có thái độ nhạo báng đối với lịch sử dân tộc, với truyền thống và đức tin mà những người Bolshevich đã cố gắng gieo rắc, đặc biệt là trong những năm đầu tiên sau khi họ lên nắm quyền. Nhưng tinh thần chung của các công dân Liên Xô là hoàn toàn khác – đó là quyết tâm gìn giữ và cứu Tổ quốc mình.
Các «chiến lược gia» của nước Đức Quốc xã đã chắc mẩm có thể dễ dàng dày xéo khuất phục một nhà nước đa dân tộc khổng lồ. Họ trù tính rằng cuộc chiến bất ngờ với sự tàn khốc và những khó khăn nặng nề không thể chịu đựng được của nó chắc chắn sẽ làm bùng phát trầm trọng thêm các mối quan hệ giữa các dân tộc, và đất nước Xô-viết có thể bị chia cắt thành nhiều mảnh. Hitler đã thẳng thừng tuyên bố: «Chính sách của chúng ta đối với các dân tộc sinh sống ở vùng đất Nga rộng lớn cần phải là khuyến khích bất kỳ hình thức bất đồng và chia rẽ».  
Nhưng ngay từ những ngày đầu tiên, rõ ràng kế hoạch của Đức Quốc xã đã đổ vỡ. Pháo đài Brest được những người lính của hơn ba mươi dân tộc bảo vệ đến giọt máu cuối cùng. Tình hữu nghị giữa các dân tộc, sự giúp đỡ lẫn nhau của họ đã trở thành toà pháo đài kiên cường mà kẻ thù không thể phá hủy.

Đóng góp của Liên Xô trong việc đập tan chủ nghĩa phát-xít

Bất kể ai đó hôm nay cố gắng mưu toan chứng minh gì chăng nữa, sự thực vẫn là chính Liên Xô và Hồng quân đã mang đóng góp căn bản và quyết định vào kết quả đánh bại chủ nghĩa phát-xít. Những người anh hùng chiến đấu đến cùng trong vòng vây ở ngoại vi Bialystok và Mogilev, Uman và Kiev, Vyazma và Kharkov. Họ đã tiến hành cuộc tấn công ở ngoại thành Matxcơva và Stalingrad (nay là Volgograd), SevastopolOdessa, Kursk và Smolensk. Họ đã giải phóng Warszawa, Belgrade, Vienna và Prague. Họ đã công phá Königsberg (Kaliningrad hiện nay) và Berlin.

Chúng tôi bảo vệ sự thật chân chính về cuộc chiến, không tô vẽ hay phủ sơn bóng. Sự thật của nhân dân, sự thật của con người – khắc nghiệt, cay đắng và tàn nhẫn – phần lớn được các nhà văn và nhà triết học từng trải qua lửa đạn và những thử thách địa ngục ngoài mặt trận chuyển giao cho chúng ta. Đối với tôi, cũng như với các thế hệ khác, những truyện ngắn, tiểu thuyết, những ghi chép và những «vần triết học của lính» chân thực, sâu sắc, đầy xúc cảm in dấu ấn mãi mãi trong tâm hồn, trở thành di huấn – tôn vinh các cựu chiến binh.

Và hôm nay, thật chấn động những dòng triết học giản dị của Alexandr Tvardovski «Tôi bị giết ở Rzhev … », nói về những người tham gia cuộc giao tranh đẫm máu, tàn khốc của Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại ở khu vực trung tâm mặt trận Xô-Đức. Chỉ riêng trong các trận đánh giành thành phố Rzhev và địa bàn Rzhevsky từ tháng 10 năm 1941 đến tháng 3 năm 1943, Hồng quân đã tổn thất 1 triệu 342 nghìn 888 người, kể cả số bị thương và mất tích.  Tôi gọi ra đây những con số đáng sợ, bi thảm này từ những nguồn lưu trữ còn xa mới là đầy đủ.
Xin dẫn thêm một tư liệu khác. Đó là báo cáo của Ủy ban quốc tế về bồi thường từ Đức, được chuẩn bị vào tháng 2 năm 1945. Nhiệm vụ của Ủy ban là xác định công thức theo đó nước Đức  bại trận cần đền bù cho những thiệt hại mà các cường quốc chiến thắng phải chịu.


«Số lượng thời gian của đội quân Đức ở mặt trận Xô-viết vượt quá số lượng tổng cộng tất cả các mặt trận khác của đồng minh ít nhất 10 lần. Mặt trận Liên Xô cũng đã kiềm chế 4/5 xe tăng và khoảng 2/3 máy bay của Đức».


Nhìn chung, Liên Xô đã gánh vác khoảng 75% toàn bộ nỗ lực quân sự của liên minh chống Hitler. Trong những năm chiến tranh, Hồng quân đã «nghiền nát» 626 sư đoàn của các nước phe «Trục»,  trong đó 508 sư đoàn là của Đức.

Ngày 28 tháng 4 năm 1942, trong bài nói với dân Mỹ, Roosevelt tuyên bố: «Quân Nga đã tiêu diệt và tiếp tục tiêu diệt số nhân lực, máy bay, xe tăng và đại bác của kẻ thù chung của chúng ta, nhiều hơn kết quả của tất cả các quốc gia thống nhất khác gộp lại». Còn Churchill trong bức thông điệp gửi Stalin ngày 27 tháng 9 năm 1944 đã viết rằng «chính quân đội Nga đã moi hết gan ruột cỗ máy chiến tranh của Đức …».

Cái chết của 27 triệu công dân Liên Xô

Đánh giá như vậy đã được hồi đáp trên toàn thế giới. Bởi vì trong những lời này là sự thật vĩ đại mà không ai khi đó còn ngờ vực. Gần 27 triệu công dân Xô-viết đã chết trên các mặt trận, trong trại tù binh của Đức, chết vì đói và vì những trận bom, chết trong các khu giam cầm khổ sai ghetto và lò thiêu trong các trại tập trung tử thần của bọn Quốc xã. Liên Xô đã tổn thất 1/7 số công dân của mình, còn Vương quốc Anh – 1/127 và Hoa Kỳ – 1/320. Đáng tiếc là vẫn còn chưa thống kê hết con số những tổn thất nặng nề nhất vĩnh viễn không thể nào bù đắp của Liên Xô. Cần tiếp tục công việc cần mẫn để khôi phục danh tính và số phận của tất cả những người đã ngã xuống trong chiến tranh. Và ở đây có vai trò đặc biệt thuộc về các thành viên tham gia phong trào tìm kiếm, các hiệp hội quân sự-ái quốc và tình nguyện viên.
Đạt tới chiến thắng là nhờ nỗ lực của tất cả các nước và các dân tộc đã cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù chung. Quân đội Anh bảo vệ quê hương của họ khỏi cuộc xâm lược, giao chiến với bọn Quốc xã và chư hầu của chúng ở vùng biển Địa Trung Hải, ở Bắc Phi. Quân đội Mỹ và Anh đã giải phóng nước Ý, mở ra Mặt trận thứ hai. Hoa Kỳ đã giáng những đòn mạnh như sấm sét vào bọn xâm lược ở Thái Bình Dương. Chúng ta ghi nhớ những hy sinh to lớn của nhân dân Trung Quốc và vai trò quan trọng của họ trong việc đánh bại bọn quân phiệt Nhật Bản. Chúng ta cũng không quên các chiến sĩ  của «Nước Pháp kháng chiến», những con người quả cảm không chấp nhận sự đầu hàng đáng xấu hổ và tiếp tục chiến đấu chống bọn Quốc xã.
Chúng tôi sẽ luôn biết ơn sự giúp đỡ mà các Đồng minh đã dành cho bằng việc cung cấp cho Hồng quân đạn dược, nguyên liệu thô, thực phẩm và các trang bị. Sự hỗ trợ này rất đáng kể – bằng khoảng 7% tổng sản lượng quân sự của Liên bang Xô-viết.

Liên minh chống Hitler

Cốt lõi của liên minh chống Hitler bắt đầu hình thành ngay sau thời điểm Liên Xô bị tấn công, khi Hoa Kỳ và Vương quốc Anh ủng hộ Liên Xô vô điều kiện trong cuộc chiến chống lại nước Đức Quốc xã. Trong Hội nghị Tehran năm 1943, Stalin, Roosevelt và Churchill đã thành lập liên minh các cường quốc, thoả thuận phát triển  chiến lược thống nhất trong cuộc đấu tranh sinh tử chống lại mối đe dọa chung. Các nhà lãnh đạo của «Bộ ba lớn» hiểu rõ rằng sự kết hợp tiềm lực công nghiệp, tài nguyên và quân sự của Liên Xô, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh sẽ tạo ra ưu thế vượt trội không thể phủ nhận so với đối phương.

Liên Xô hoàn toàn tuân thủ các nghĩa vụ của mình đối với các Đồng minh, và luôn mở rộng vòng tay giúp đỡ. Chẳng hạn, bằng chiến dịch «Bagration» quy mô lớn ở Belarus, Hồng quân đã hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của đội quân Anh-Mỹ ở Normandy. Tháng 1 năm 1945, đánh chọc thẳng vào Oder, các chiến sĩ của chúng ta đã đặt dấu chấm hết cho cố gắng tấn công mạnh lần chót của quân đội Quốc xã trên Mặt trận phía Tây, ở Ardennes. Và ba tháng sau khi chiến thắng Đức, nghiêm túc thực hiện Thỏa thuận Yalta, Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật Bản và giáng đòn sấm sét đập tan đội quân Quan Đông một triệu binh lính.

Nhà Trắng
Chính trị gia Đức kêu gọi ghi nhớ sự thật về vai trò của Liên Xô trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít © SPUTNIK / OLEG KNORRIN

Ngay từ tháng 7 năm 1941, ban lãnh đạo Liên Xô đã tuyên bố rằng «mục đích của cuộc chiến chống lại bọn phát-xít áp bức không chỉ là loại bỏ mối đe dọa treo trên đầu đất nước chúng ta, mà còn giúp đỡ tất cả các dân tộc châu Âu đang rên xiết dưới ách thống trị của phát-xít Đức». Đến giữa năm 1944, kẻ thù đã bị quét khỏi hầu như toàn bộ lãnh thổ Liên Xô. Nhưng cần truy kích chúng đến tận sào huyệt cuối cùng. Và Hồng quân đã bắt đầu sứ mệnh giải phóng ở châu Âu, cứu các dân tộc khỏi cảnh bị đày đoạ như nô lệ, khỏi nỗi kinh hoàng của nạn diệt chủng Holocaust.

Liên Xô hỗ trợ vật chất cho các nước được giải phóng

Điều quan trọng không nên quên lãng là sự hỗ trợ vật chất to lớn mà Liên Xô đã dành cho các nước được giải phóng, giúp đỡ thanh toán mối đe dọa của nạn đói, chi viện khôi phục kinh tế và cơ sở hạ tầng. Chẳng hạn, tháng 5 năm 1945, Chính phủ Áo đã thỉnh cầu Liên Xô giúp đỡ về lương thực thực phẩm. Việc ban lãnh đạo Liên Xô đồng ý gửi thực phẩm cho đất nước này được Thủ tướng Chính phủ lâm thời Cộng hòa Áo K. Renner mô tả như «hành động giải cứu…» mà «người Áo sẽ không bao giờ quên».
Các nước Đồng minh đã cùng nhau thành lập Tòa án quân sự quốc tế để xét xử trừng phạt bọn tội phạm chính trị và chiến tranh của Đức Quốc xã. Các phán quyết của Toà cho định tính pháp lý rõ ràng với các tội ác chống nhân loại như diệt chủng, đàn áp sắc tộc và tôn giáo, chủ nghĩa bài Do Thái và bài ngoại. Trực tiếp và dứt khoát, Toà án Nürnberg đã lên án mạnh mẽ cả những kẻ đồng loã của Đức Quốc xã, các cộng tác viên đủ cấp bậc khác nhau.

Lập trường kiên định bất biến của Nga

Và ngày nay lập trường của chúng tôi vẫn không thay đổi: không thể có lời biện minh nào cho hành vi tội ác của bọn đồng phạm Quốc xã, những tội phạm đó không có thời hiệu. Do đó, thật khó hiểu khi ở hàng loạt nước, những người đã tự làm ô danh bằng cách cộng  tác với bọn phát-xít bỗng nhiên được tôn vinh ngang với các cựu chiến binh của Thế chiến II. Tôi cho rằng không thể chấp nhận đánh đồng những người giải phóng và kẻ chiếm đóng. Và kiểu anh hùng hoá các đồng phạm của bọn Quốc xã chỉ có thể xem là sự phản bội ký ức thiêng liêng về ông cha chúng tôi.
Khi đó, trước các nhà lãnh đạo của Liên Xô, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đặt ra nhiệm vụ lịch sử không hề phóng đại. Stalin, Roosevelt, Churchill là đại diện cho những quốc gia có hệ tư tưởng, khát vọng quốc gia, lợi ích, nền văn hóa khác nhau, nhưng đều đã thể hiện ý chí chính trị to lớn, đặt lợi ích hoà bình đích thực của thế giới lên hàng đầu, vượt trên những mâu thuẫn và thành kiến. Kết quả là, họ đã có thể đi đến sự đồng thuận và đạt được giải pháp mà từ đó toàn nhân loại đã giành chiến thắng.
 Một loạt các hội nghị – Tehran, Yalta, San Francisco, Potsdam – đã đặt nền tảng hiện thực để bất kể những mâu thuẫn gay gắt nhất, thế giới tồn tại không có chiến tranh toàn cầu suốt 75 năm qua.

Lãnh tụ Liên Xô Yosif Stalin, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill tại Hội nghị Tehran, năm 1943
Lãnh tụ Liên Xô Yosif Stalin, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill tại Hội nghị Tehran, năm 1943 © Sputnik

Chủ nghĩa xét lại lịch sử mà những biểu hiện mà chúng ta đang nhận thấy ở phương Tây, trong đó trước hết liên quan đến chủ đề Thế chiến II và kết quả cuộc chiến, là rất nguy hiểm vì nó thô bạo làm méo mó sự hiểu biết về các nguyên tắc phát triển hòa bình đã được xác nhận vào năm 1945 qua các hội nghị Yalta và San Francisco. Thành tựu lịch sử chính của hội nghị Yalta và những quyết định khác thời bấy giờ bao hàm ở sự đồng thuận tạo lập một cơ chế cho phép các cường quốc hàng đầu duy trì khuôn khổ ngoại giao khi giải quyết những bất đồng phát sinh giữa họ với nhau.

Thế kỷ của những xung đột thế giới toàn diện

Thế kỷ XX đã mang đến những cuộc xung đột gay gắt và toàn diện trên thế giới, còn từ năm 1945, trên đấu trường xuất hiện cả vũ khí hạt nhân có khả năng hủy diệt toàn Trái đất. Nói cách khác, việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp vũ lực đã trở nên cực kỳ nguy hiểm. Và những người chiến thắng trong Thế chiến II hiểu rõ điều này. Họ hiểu và nhận thức được trách nhiệm của mình trước nhân loại.

Kinh nghiệm đáng buồn của Hội Quốc Liên đã được tính đến vào năm 1945. Cấu trúc của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc được thiết kế theo cách đảm bảo hòa bình một cách cụ thể và hiệu quả đến mức tối đa. Do đó, đã xuất hiện cơ cấu các Uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an và quyền phủ quyết như là đặc quyền và trách nhiệm của họ. 

Quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc là gì? Nói thẳng ra, đây là sự thay thế hợp lý duy nhất cho cuộc đụng độ trực tiếp giữa các nước lớn nhất. Đó là khi một trong năm cường quốc tuyên bố rằng giải pháp này hay quyết định khác là không thể chấp nhận được, mâu thuẫn với lợi ích và hình dung của cường quốc đó về cách tiếp cận đúng đắn. Và những nước còn lại, ngay cả khi không đồng ý với tuyên bố phủ quyết nói trên, vẫn tiếp nhận lập trường như đã được đưa ra, từ bỏ những nỗ lực để thực hiện cố gắng đơn phương của họ. Tức là, bằng cách này hay cách khác, cần tìm kiếm sự nhân nhượng.
Một cuộc đối đầu mới toàn cầu mới đã bắt đầu gần như ngay lập tức sau khi Thế chiến II kết thúc và đôi lúc mang tính chất rất khốc liệt. Và thực tế Chiến tranh Lạnh không phát triển thành Thế chiến III đã là khẳng định một cách thuyết phục về tính hiệu quả của các thỏa thuận mà «Bộ ba lớn» đã ký kết.
Tất nhiên, chúng ta đang thấy rằng hiện nay hệ thống Liên Hợp Quốc đang làm việc căng thẳng và không hẳn đạt hiệu quả như nó có thể. Nhưng vẫn như trước đây Liên Hợp Quốc đang thực hiện chức năng cơ bản của tổ chức thế giới. Các nguyên tắc hoạt động của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc là cơ chế độc đáo để ngăn chặn nổ ra cuộc chiến lớn hoặc xung đột toàn cầu.
Những năm gần đây, khá thường xuyên vang lên lời kêu gọi huỷ bỏ quyền phủ quyết, từ chối các Uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an trong những cơ hội đặc biệt, thực sự là vô trách nhiệm. Bởi nếu như điều đó xảy ra, Liên Hợp Quốc về cơ bản sẽ biến thành Hội Quốc Liên – cuộc họp dành cho những câu chuyện trống rỗng.     

Thế giới đang thay đổi

Việc tạo lập hệ thống quan hệ quốc tế hiện đại là một trong những kết quả quan trọng nhất của Thế chiến II. Ngay cả những mâu thuẫn không thể hòa giải nhất – về địa chính trị, tư tưởng, kinh tế – cũng không ngăn cản được quá trình tìm kiếm các hình thức chung sống hòa bình và hiệp lực, nếu có nguyện vọng và ý chí. Thế giới hôm nay đang trải qua thời kỳ không phải là yên bình nhất. Mọi thứ đang thay đổi: từ sắp xếp lực lượng và ảnh hưởng toàn cầu cho đến nền tảng xã hội, kinh tế và những công nghệ cơ bản của đời sống cộng đồng, các quốc gia hay toàn bộ các châu lục. Trong các thời đại trước, những biến đổi với quy mô như vậy hầu như không bao giờ xảy ra mà lại thiếu những xung đột quân sự lớn, thiếu cuộc giao đấu vũ lực để xây dựng hệ thống phân cấp mới. Nhờ sự khôn ngoan và tầm nhìn xa của các nhà lãnh đạo chính trị các cường quốc đồng minh, đã có thể tạo lập được một hệ thống kiềm chế sự xuất hiện những mục tiêu cực đoan như vậy, vốn có một cách lịch sử trong sự cạnh tranh phát triển thế giới.
Nghĩa vụ của chúng tôi, của tất cả những ai đảm nhận trách nhiệm chính trị, trước hết là đại diện của các cường quốc chiến thắng trong Thế chiến II, là đảm bảo rằng hệ thống này được bảo tồn và cải thiện. Hôm nay, cũng giống như năm 1945, điều quan trọng là thể hiện ý chí chính trị và cùng nhau thảo luận về tương lai.

Năm cường quốc hạt nhân

Các đồng nghiệp của chúng tôi, các ông Tập Cận Bình, Macron, Trump, Johnson, đã ủng hộ sáng kiến ​​của Nga về tổ chức cuộc gặp của các nhà lãnh đạo của năm cường quốc hạt nhân, Uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Chúng tôi cảm ơn sự ủng hộ này và trông đợi rằng cuộc gặp mặt trực tiếp như vậy có thể sớm diễn ra ngay khi có cơ hội đầu tiên.

Chương trình nghị sự cho hội nghị thượng đỉnh sắp tới là gì? Trước hết, theo cái nhìn của chúng tôi, nên tập trung thảo luận các bước đi để phát triển nguyên tắc chỉ đạo tập thể trong các vấn đề thế giới, nói chuyện thẳng thắn về các câu hỏi gìn giữ hòa bình, tăng cường an ninh toàn cầu và khu vực, kiểm soát vũ khí chiến lược, huy động nỗ lực chung trong đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa cực đoan và những thách thức và đe dọa cấp bách khác.

Một chủ đề riêng trong chương trình nghị sự của cuộc gặp là tình hình trong nền kinh tế toàn cầu, trước hết là việc khắc phục khủng hoảng kinh tế do đại dịch coronavirus gây ra. Các nước chúng ta đang thực hiện những biện pháp chưa từng có để bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của người dân, để hỗ trợ những công dân rơi vào tình cảnh khó khăn. Nhưng hậu quả của đại dịch sẽ nghiêm trọng đến đâu, nền kinh tế toàn cầu thoát khỏi suy thoái nhanh chóng như thế nào, là phụ thuộc vào khả năng làm việc cùng nhau và đồng thuận của chúng ta như những đối tác đích thực. Hơn thế nữa, không thể chấp nhận biến kinh tế thành một công cụ gây sức ép và đối đầu. Trong số các chủ đề đòi hỏi, còn có công tác bảo vệ môi trường và đấu tranh chống biến đổi khí hậu, cũng như đảm bảo an ninh cho không gian thông tin toàn cầu.

Chương trình nghị sự do Nga đề xuất dành cho hội nghị thượng đỉnh «nhóm năm» sắp tới là cực kỳ quan trọng và có tính thời sự cấp thiết đối với các nước chúng ta cũng như toàn thế giới. Và với tất cả các mục, chúng tôi đều có những ý tưởng và sáng kiến ​​cụ thể.
Không cần nghi ngờ gì, hội nghị thượng đỉnh của Nga, Trung Quốc, Pháp, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tìm ra những câu trả lời chung cho các thách thức và đe dọa hiện đại, và thể hiện sự trung thành với tinh thần liên minh, là ý tưởng và giá trị nhân văn cao đẹp đã gắn kết ông cha chúng ta cùng kề vai sát cánh chiến đấu vì hoà bình.
Dựa trên ký ức lịch sử chung, chúng ta có thể và nên tin tưởng lẫn nhau. Điều đó sẽ là cơ sở vững chắc cho những cuộc đàm phán thành công và hành động phối hợp nhằm tăng cường sự ổn định và an ninh trên hành tinh, vì sự thịnh vượng và phồn vinh của tất cả các quốc gia. Không hề cường điệu, chính đây là nghĩa vụ và trách nhiệm chung của chúng ta trước toàn thế giới, trước các thế hệ hiện tại và tương lai.


10 cuốn tiểu thuyết và câu chuyện về Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại (eksmo.ru)

MỘT CHUYẾN TRỞ DẠ CỦA NÀNG THƠ

MỘT CHUYẾN TRỞ DẠ CỦA NÀNG THƠ

Thầy Bửu Ý
(Nhân dịp giới thiệu tập sách của nhiều tác giả “Thơ Tân Hình Thức Việt – Tiếp nhận và sáng tạo” tại tòa soạn tạp chí Sông Hương, Huế, ngày 15.8.2014)


Nhân dịp ra mắt tập sách này – là một loại sách đặc biệt khó in và khó phát hành – tôi xin đóng góp một vài suy nghĩ với quý vị và các bạn.

1. Người làm thơ bây giờ, khi hạ bút viết câu thơ, có khi chẳng ngờ là họ đang làm thơ, phần nào giống như như Jourdain của Molière, hàng ngày nói năng tự nhiên như nhiên, có ngờ đâu chính mình cũng đang làm văn xuôi giống như bao nhiêu nhà văn nổi tiếng khác.

Cũng giống như đời người trải qua nhiều giai đoạn, hay như dòng sông chảy qua nhiều đoạn khác nhau, vận mệnh của nghệ thuật nào cũng được đánh dấu bằng những thời kỳ khi hưng thịnh khi suy tàn, chuyển động theo một con đường thẳng, hay một con đường gãy khúc, với một số thay đổi từ nội tại hoặc từ ngoài vào.

Có điều là cứ ở mỗi khúc quanh giao thời thường diễn ra những biến cố khiến cho nghệ thuật lẫn người làm nghệ thuật chững lại, lo liệu điều chỉnh tầm ngắm trước khi khẳng định mình.

Ở trời Tây cũng vậy, ở trời ta cũng vậy. Ở Pháp, cuối thế kỷ XVII, nổ ra một cuộc tranh luận nảy lửa giữa phái ái Cựu và phái nghinh Tân, một bên chủ trương lấy cổ văn và tác giả Hy La làm mẫu mực, còn một bên quyết canh tân và đề cao ngôn ngữ thoát thai từ vỏ bọc la tinh. Rồi đến đầu thế kỷ XX, thơ đa đa ra đời thì bị tẩy chay, la ó, cũng giống như người ta tẩy chay đường hướng lập thể của hội họa trong buổi đầu. Ở trời ta, sóng gió không kém. Một số bài thơ siêu thực của nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng bị liệt vào thơ đa đa, tức là loại thơ mà người ta gọi là “thơ hủ nút”, không thể hiểu được. Thơ mới của Tản Đà cũng bị cười cợt và được đề nghị đem lên trời mà bán. Loại thơ mới này, vì là mới và tự tạo ra tự do, nên chi bị một số người đả kích gọi đó là “thơ buông”. Hay là loại “thơ con cóc” (“Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra/ Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó/ Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi”) là một loại thơ tiêu biểu nhằm chế nhạo thơ mới.

Trước năm 1932 (là năm đánh dấu chính thức sự lên ngôi của thơ mới với bài “Tình già” của Phan Khôi) thì cũng đã có hai tác giả nổi tiếng với thơ mới của mình nhưng chính tác giả chẳng quan thiết đến điều này: đó là Tản Đà, đó là Nguyễn Văn Vĩnh với bài thơ dịch “Con ve và con kiến”, dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine.

“Thơ mới” quả là phòng đợi của “Thơ tự do” tiếp theo sau.

2. Nếu như ta tạm sơ kết về vận số của Thơ từ buổi đầu cho đến hôm nay, nếu ta để sang một bên cái gia tài của mẹ vốn dưỡng dục suốt đời cho chúng ta là kho tàng Ca dao vô cùng độc đáo và nếu như ta mạn phép điểm xuyết, một cách nhảy cóc, những khuôn mặt thi sĩ của nền văn học nước nhà, ta có thể kể ra một số tên tuổi, như: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du … Tản Đà, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử … Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh, Quang Dũng … Bùi Giáng …

Đó là những tên tuổi đã làm mới cho thi ca Việt Nam, đã cắm những cái mốc rất quan trọng cho lịch sử thi ca Việt Nam, nhưng đồng thời trong cuộc sống đầy vinh nhục của kiếp người, hình như cũng chính họ đã hứng chịu nhiều nhục hơn là vinh thuở sinh thời.

Thử tưởng tượng nếu văn học sử Việt Nam không có những tên tuổi ấy, ta biết lấy cái gì đây đem ra giới thiệu với thế giới?

3. Cõi Thơ là một cõi không cần chiêu mộ hay trưng tập gì cả nhưng lại là một cõi thường trực một đạo quân mọi thời đều đông đảo.

Thơ là một lục địa đa quốc gia, khi thì trụ tại chỗ, khi thì phiêu dạt và đẩy lùi mọi biên giới quốc gia.

Mỗi lúc ta có thể đặt ra câu hỏi cho chính mình và cho người khác: “Tại sao lục địa Thơ lại đông dân đến như vậy?”

Tạm thời tôi sẽ trả lời như sau đây, trong khi chờ đợi nhiều câu trả lời khác từ mọi người: “Vì Thơ là tự do”. Không có gì tự do hơn Thơ. Không có cõi nào tự do mênh mông, tuyệt đối cho bằng cõi Thơ. Lục địa Thơ xưa nay và mãi mãi về sau có hấp lực vượt bậc đối với mọi lục địa khác.

Người làm thơ tha hồ nuôi trồng chữ nghĩa, đào hang hầm cho chữ nghĩa, sẵn sàng hôn phối những chữ vốn chẳng họ hàng gì với nhau.

Thơ Tân hình thức của ngày hôm nay, một lần nữa, là một chuyến trở dạ của Nàng Thơ. Chuyến trở dạ này cũng không phải xuôi chèo mát mái, nhưng cũng không phải hứng chịu những tiếng la ó xô bồ xua đuổi, bất quá chỉ gây một ít ngỡ ngàng ở hình thức những bài thơ mới này.

Nhìn lại các bài thơ này, ngoài sự thể các dấu chấm câu đều bay biến hết, người đọc nhận thấy rất nhiều câu bị bẻ gãy, chặt khúc ở nhiều đoạn bất ngờ hơn cả. May tiếng Việt là tiếng đơn âm, chỉ có câu là bị chặt gãy, chứ không có chữ bị bẻ đôi. Mọi nhạc tính, nhạc điệu, tiết nhịp đồng loạt bị xóa đi làm lại, câu trở nên xộc xệch, khúc khắc. “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh” … “Đường thế đồ gót rổ khi khu” … Chẳng khác nào thơ và nhạc cùng nắm tay nhau lội suối trèo non trên những lối đi của thời đại.

Nhưng tất cả những điều vừa nói đó chỉ mới chạm vào hình thức của loại thơ mới này mà thôi. Còn nội dung của nó cũng phải nói đến. Chuyến trở dạ này đang lâm vào một giai đoạn đầy rẫy khó khăn – không khó khăn sao được trong khi bao nhiêu chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, trại tập trung, phòng hơi ngạt, bom lửa, chất độc da cam, B52, ly hương, tù tội, El Nino … đang đổ ập lên đầu người? – đến nỗi có khi thơ được thành hình từ mắt bão, từ rốn biển từ địa tằng thăm thẳm …

Cho nên chi nếu Nàng Thơ hôm nay có đánh mất lụa là, du dương, đằm thắm … thì ta cũng ngậm bồ hòn làm ngọt.

Ngắm nghía lại cái tên khai sinh cho đứa con Thơ: “Thơ Tân hình thức”, ta cảm thấy có chỗ chưa thỏa lòng vì nó chỉ phơn phớt mặt ngoài. Những cái tên trước đây đặt ra cho Thơ qua các thời kỳ: cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, thi sơn, siêu thực … đều có chạm tới ruột gan của Thơ và cũng có thể, nhờ vào đó, đóng góp phần nào vào tuổi thọ của Thơ.

4. Khi tôi viết lên giấy mấy chữ mộc mạc: đàn tranh là tôi gọi cây đàn tranh đang có mặt trước mắt tôi. Nó được lồng vào một khung kính thật đẹp, đính vào tường. Gọi tên nó, tôi nghe ra âm thanh lảnh lót của nó trong không khí. Bây giờ nó đứng tách riêng một mình, không như thường ngày chen vai cùng bao nhiêu cây đàn chị em với nó: tỳ, nhị, nguyệt, bầu … Nó sẵn lòng tung hứng một giọng ca ngất ngưỡng của một nghệ nhân 88 tuổi đã được “hóa thạch sống” là Minh Mẫn. Nó nhắc nhở cho tôi làn điệu Nam Bình với bản “Nước non ngàn dặm ra đi” thắm đẫm tình tự quê hương, nó nhắc nhở cho tôi làn điệu Tứ Đại Cảnh với bản “Thu cảm” thật bất hủ. Đó là chưa nói tới chủ nhân của cây đàn nay đã không còn nữa, nay đã khiến hiện tại của tôi đong đầy trầm hương quá khứ. Đúng là quá khứ đã len lỏi vào hiện tại, làm cho hiện tại cồm cộm, banh rộng hiện tại, kéo dài hiện tại, tưởng chừng hiện tại thay vì chớp nhoáng, mỏng manh, hóa ra triền miên, dằng dặc. Và như vậy hiển nhiên hiện tại không còn nguyên khối là hiện tại. Nhìn ngắm lại, cây đàn tranh, ở phút này, ở nơi này, thật là quan trọng đối với tôi. Chẳng cần gì nhiều, nó có mặt là một điều thật lớn lao. Đâu cần nó lọt vào một bàn tay nào, đâu cần nó ngân nga một âm thanh nào. Vậy mà tôi có tất cả, tôi có đủ mọi thứ. Thậm chí, một lần này không mà thôi đã đủ cho tôi rồi. Thậm chí, tưởng như không cần có nó trong quá khứ, không cần có nó trong tương lai. Một lần này không mà thôi đã đủ cho tôi rồi. Và lần này đối với tôi là duy nhất. Và sẽ không có cái gì truất phế nó được. Tuy nhiên, tôi chỉ sợ rằng nếu tôi chỉ nói “đàn tranh” mà không viết “đàn tranh”, âm thanh của tôi sẽ trôi tuột, bay vèo. Viết “đàn tranh”, chữ này sẽ là cái đinh đóng vào thời gian, đánh dấu một khoảnh khắc và chỉ có một mà thôi. Tôi viết trên giấy: “đàn tranh”, nhưng trong lòng lại là: “đàn tranh ơi”. Và khoảnh khắc trở thành vĩnh viễn. Cái thoắt có thoắt không dự phần tôn vinh sát na của sống còn.

Viết để ký ức khỏi chết chìm.

Nối đuôi nhau từng khoảnh khắc, xâu chuỗi nhau các khoảnh khắc, ta có … một dòng sông Hương đang chảy chuyền – có ai ngờ không? – từng giọt Bãng Lãng với từng giọt Tư Hiền…


Trích KỶ YẾU SÔNG HƯƠNG



Báo Giấy • Tháng 10 năm 2014 • Năm thứ 1 • Số 6
Email: baogiaytanhinhthuc@yahoo.com • www.thotanhinhthucviet.vn


 

THƠ VÀ HÒA GIẢI: TÂN HÌNH THỨC

Reconciliation : TED Radio Hour : NPR

THƠ VÀ HÒA GIẢI: TÂN HÌNH THỨC

William B Noseworthy


 

Bởi mục đích trung tâm của cuộc hội thảo này là nhằm vào hiện tượng về Tân hình thức (New Formalism) trong văn học Việt Nam và sự hội ngộ của chính tôi với nền văn học ấy hầu hết là thông qua tác phẩm của những nhà văn Tân hình thức Việt Nam kết hợp với Khế Iêm, tôi hi vọng rằng quý vị sẽ miễn chấp cho bất cứ chất liệu nào mà họ thấy là lặp lại, đặc thù vì sự lặp lại là một trong những đặc trưng thiết yếu của sự trải nghiệm thơ. Trong bài viết này tôi rút ra từ luận án tiến sĩ phụ của tôi: tựa đề là Phân tán Lịch sử và Văn học (Diaspora History and Literature) mà tôi đã hoàn tất trong mùa Xuân năm 2012 để định vị Tân hình thức Việt Nam trong khung cảnh lịch sử, mà tôi hi vọng có thể giải thích một số trong những thành công của phong trào này, định vị nó trong khung cảnh lớn hơn của văn học Việt Nam ở Hoa Kỳ và cũng lập luận về tầm quan trọng của sự bao gộp văn học đó trong những nghiên cứu hàn lâm của Hoa kì, Việt Nam, và mở rộng ra Đông Nam Á.

Khung cảnh lịch sử của Chủ nghĩa Tân hình thức Việt Nam khá mang tính quá độ. Phong trào này hiện xuất từ sự tiếp xúc với sự thay đổi được tiếp dẫn. Tức là phong trào đã hiện xuất qua sự tiếp xúc của sự phân tán Việt Nam ở Hoa Kỳ với Tân hình thức Hoa kỳ, trong khi dồng thời sự Phân tán này vẫn duy trì những kết nối ở Việt Nam. Những thông hiểu của Khế Iêm về lịch sử là vô cùng quan trọng ở đây khi ông đặt song hành sự phát triển của tiếng Anh và tiếng Việt. Cả hai ngôn ngữ này ở cội nguồn đều mang tính đơn âm tiết. Trong khi tính truyền khẩu được nhấn mạnh trong cả hai truyền thống, Khế Iêm ghi nhận rằng hướng đi tới âm tiết có nhấnkhông nhấn (iambs) của câu thơ tiếng Anh gồm 10 âm tiết (iambic pentameter) song hành với sự hiện xuất của nhị âm tiết trong ca dao Việt nam và thể thơ 6–8 tức lục bát, vốn sử dụng ngôn ngữ đơn sơ giống như những bài hát ru em. Mặc dù, giống như trong tiếng Anh, ca dao Việt Nam vốn uyển chuyển hơn không phải chỉ có thể lục bát.

Từ lục bát thơ Việt Nam rồi ra đã thích nghi những phong cách chịu ảnh hưởng của thơ Đường luật Trung Quốc như là ngũ ngôn tứ tuyệt (mỗi hàng năm chữ và gồm bốn hàng) và thất ngôn bát cú (mỗi hàng bảy chữ và gồm 8 hàng). Vận luật vẫn không được nhấn mạnh, như trong tiếng Anh – ít nhất cho đến khi ảnh hưởng của tiếng Arabic lên văn hoá châu Âu dẫn tới một sự gia tăng về vận luật ở châu Âu. Bất kể sự phân rẽ nhỏ nhoi này, theo Khế Iêm, thơ chủ yếu vẫn còn là một hình thức biểu hiện của cung đình cao sang quyền quý, cả ở châu Âu và ở Việt Nam. Tôi sẽ mở rộng sự so sánh này ra cả ở châu Âu và suốt khắp Đông nam Á. Trong khi trong văn học Việt Nam những tác phẩm như là Chinh phụ ngâm khúc [nguyên tác bằng chữ Nho trong thể trường đoản cú của Đặng Trần Côn, các bản dịch sang chữ Nôm của Phan Huy Ích hoặc Đoàn Thị Điểm, và nhiều người khác, trong thể song thất lục bát – tức là hai câu bảy chữ đến câu sáu chữ, rồi câu 8 chữ] và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) xuất hiện cũng trong thể thể song thất lục bát; Truyện Kiều của Nguyễn Du (1820) xuất hiện trong thể lục bát; văn học nirat xuất hiện ở Thái lan; văn học kinh điển Mã lai: thể loại hikayat xuất hiện trong văn tự Jawi; và trong xã hội Champa, thể loại Chăm akayet cuối cùng nhường lối cho hình thức kinh điển của ariya, mà một số người đã mô tả là cực đỉnh của văn học hiện đại sơ kì cho tới hiện đại của văn học Chăm.

Như được ghi nhận bởi Thongchai (2000), thể loại nirat ở Thái Lan là một sự đi trước việc hiện xuất khoa nhân loại học Thái vào lúc chuyển giao thế kỉ. Tương tự như thế, những nghiên cứu của chính tôi đã chứng minh một trào lưu song hành trong thể loại ariya của người Chăm, đặc thù như được thí dụ bởi trường ca ariya mang tính dân tộc học của Hợp Ai ở xã Palei Hamu Tanran (còn gọi là xã Hữu Đức, tỉnh Ninh Thuận); Ariya Po Pareng (1885) mà tôi được giới thiệu do tác phẩm của Inrasara.

Những sự song hành này giữa các thể loại nirat và ariya và sự hiện xuất của tư liệu dân tộc học từ những tác phẩm thi ca nêu lên câu hỏi trong tâm trí tôi là liệu những trào lưu tương tự như thế có xuất hiện ở Việt Nam vào lúc chuyển giao thế kỉ chăng. Dù vụ việc này có phải là thế hay chăng, tôi xin để nhường cho những chuyên gia cao tay hơn về văn học Việt Nam. Tuy nhiên, xin cám ơn tác phẩm của Khế Iêm đã khiến có thể xác quyết rằng vào đầu thế kỉ XX quả có bao gồm ít nhất các hình thức: ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, song thất lục bát, bát bát, lục bát – những thể này hoà trộn với ca dao để cung ứng cho những nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến một truyền thống hơi uyển chuyển hơn Trong suốt sự hiện xuất của thời kì hiện đại, văn học Việt Nam tiếp tục tạo hình và thay đổi. Những truyện tiếng Việt và bản dịch những truyện của Pháp xuất hiện trong những ấn bản 1921 của tờ Nam phong Tạp chí, mặc dù tạp chí này bị ảnh hưởng nặng bởi sự kiểm soát của thực dân và cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam: Những thiên đường mù của nữ sĩ Dương Thu Hương mới chỉ được dịch sang tiếng Anh mãi đến bảy mươi năm sau vào năm 1993 (bản tiếng Anh mang tên là Paradise of the Blind, trong khi cuốn tiểu thuyết đầu tiên của thời thuộc địa được dịch sang tiếng Anh là cuốn Số đỏ [của nhà văn Vũ Trọng Phụng] cũng chỉ được dịch sang tiếng Anh sau thêm mười năm nữa [tức là năm 2003, các dịch giả là hai vợ chồng Nguyệt Cầm và Peter Zinoman trong ban giảng huấn của Đại học/ University of California ở Berkeley] với tên là Dumb Luck. Trong khi suốt thập niên 1930, Việt Nam nhìn thấy sự hiện xuất của phong trào Thơ Mới, mà một số người đã cho là thơ tự do (free verse), mặc dù Khế Iêm tranh cãi về việc áp dụng hình thức “thơ tự do” cho “thơ mới” trong cuốn sách gần đây của ông, bởi vì thơ mới thực sự ra là thơ có vần luật, và mãi về sau nữa thơ tự do mới xuất hiện ở Việt Nam.

Tuy nhiên, khung cảnh của Thơ Mới nêu lên một điểm lí thú theo sự nghiên cứu riêng của tôi. Điểm này đã được bài luận văn “Cách đọc” của Nguyễn Hoàng Nam chạm tới, trong đó ông ghi nhận rằng: “Việc áp dụng khái niệm nghệ thuật trong thời hiện đại vẫn bị hạn hẹp vào sự chủ quan (và tự ái kiêu ngạo) của các siêu cường: ‘quốc tế’ sự thực áp dụng cho Nga, Mĩ, và châu Âu. Trong địa hạt xã hội thậm chí nó còn bị co thắt hơn.”

Xin nói rằng những quan niệm của Nguyễn Hoàng Nam không phải nhằm phê bình Thơ Mới, mà đúng ra là phê bình những khái niệm được trình ra ngay trong tính chất tự thân của nghệ thuật và học thuật. Xin nói rằng rất có thể có lí do khiến cuốn Paradise of the Blind được tiếp nhận tốt ở Hoa Kỳ, cũng như sự đón nhận tốt của những cứu xét về Giai Phẩm – Nhân Văn. Phần nào những bản tự sự này trở thành phổ biến trong một số giới ở Hoa Kỳ bởi vì chúng, theo lời của sử gia Ts. Shawn McHale “phê bình đảng nhưng ủng hộ chủ nghĩa xã hội.” Như vậy, chúng cung cấp một cây cầu, cho phép những học giả nghiêng về phe tả và nghiêng về phe hữu ở Hoa Kỳ có thể hình thành những cuộc thảo luận. Vậy nên, các học giả quốc tế bắt đầu phơi mở cho người Mĩ thấy rằng lịch sử xã hội-chính trị và trí thức (gồm luôn các nhà thơ) của Việt Nam hoàn toàn mang tính đa phức, và rẳng Việt Nam không thể được mô tả như là một nguyên khối, vốn là cung cách đã từng phổ biến trong nhiều bức chân dung về Việt Nam của người Mĩ (đặc thù là của điện ảnh Hollywood). Vấn đề, như gần đây được Michelle Janette (2011) tô đậm, là rằng ngay cả những người Mĩ chuẩn bị nhập học bậc cao đẳng cũng quá là không quen thuộc với Việt Nam, đến nỗi họ liên kết xứ sở này với những phim bình dân: như phim Forrest Gump, được phát hành vào giữa thập niên 1990. Sự ngớ ngẩn của chính Hollywood trong việc xử lí cuộc chiến tranh Việt Nam đã xạ chiếu ngược lại xã hội Mĩ. Các cuốn phim hiếm khi dịch lại những lời tiếng Việt ít ỏi trong đó và công chúng Hoa Kỳ đã trở nên quá bị li khai với những thực tại của lịch sử đến nỗi rằng số người ta ngày càng gia tăng bây giờ không còn có phản đối gì việc Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc tranh chấp, so với những thời kì sau cuộc chiến khi đa số người Mĩ chống đối việc can thiệp này. Sự mất trí nhớ về lịch sử của xã hội Hoa Kỳ thật là rối rắm. Số người ta ngày càng gia tăng không chống đối gì sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam, và tuy thế, đối với hầu hết người Mĩ, Việt nam vẫn là một xứ sở được xác định qua lịch sử sự can thiệp của Hoa Kỳ. Đây chính là nơi mà Tân hình thức bắt đầu cống hiến những đóng góp to lớn của nó. 

Phần nào sự thành công của Tân hình thức hẳn là do sự thu hút mà phong trào này đã tạo nên trong những phe quan tâm ở Hoa Kỳ. Tất nhiên chúng tôi có được những sự cổ võ và phê bình làm cho phong trào có được sự in ấn trong các giới văn học Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một sự thu hút rộng hơn bắt nguồn từ chính những đóng góp của Tân hình thức. Bằng việc sử dụng Tân hình thức trong các lớp học ở Hoa Kỳ, Việt Nam và văn hoá Việt Nam trở thành không còn chỉ nói về chiến tranh nữa, mà còn nói về thi ca, về văn học, về việc tìm hiểu văn hoá Việt Nam kinh điển. Sự thông hiểu mới được tạo ra do việc đọc tác phẩm của Khế Iêm vì vậy là quan trọng trong việc thăng tiến sự hiểu biết về Việt Nam ở Hoa Kỳ, nuôi dưỡng sự hiểu biết văn hoá và lót đường cho những mối quan hệ tốt lành giữa những nhân dân sống ở Hoa Kỳ và những nhân dân sống ở Việt Nam. Ở đây, tôi không thể nào đồng ý hơn nữa với Khế Iêm trong việc rằng toàn bộ tiến trình này trực tiếp liên quan tới khái niệm của Cynthia Cohen về sự tỉnh thức đầy cảm xúc, vốn cũng trực tiếp gắn bó với những quan niệm về từ bi của Phật giáo (từ bi trong tiếng Việt tương ứng với karuna trong tiếng Sanskrit/Pali). Đây có lẽ là một trong những đóng góp lớn nhất của tác phẩm của Khế Iêm từ một viễn kiến quốc tế, để người đọc ở Việt Nam có thể hiểu rõ hơn về sự trải nghiệm của cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ luôn thể.

Qua suốt tiến trình này tôi hẳn không dám cho là phong trào Tân hình thức không có những khiếm khuyết. Có lẽ một trong những câu hỏi lớn nhất đặt cho phong trào là vạch ra những quan điểm của nó dị biệt ra sao với những nhà Tân hình thức Hoa kì. Bằng cách làm như thế, những nhà Tân hình thức Việt Nam có thể cống hiến một mảng màu xám, so với những thông giải màu trắng và màu đen đã từng phê phán chủ nghĩa Tân hình thức Hoa Kỳ hoàn toàn mang tính bảo thủ. Trong khi đó, bởi vì một trong những mối quan tâm lớn của thế hệ của Khế Iêm là cái thế hệ trẻ nhất của người Việt Nam ở Hoa Kỳ gần như đã thôi không sáng tác bằng tiếng Việt nữa, người ta tự hỏi rằng bằng những đường lối nào những nhà thơ Việt Nam trẻ tuổi hơn có thể duy trì một cảm thức về căn cước Việt Nam. Trong những đường lối nào họ có thể sử dụng những kĩ thuật rút ra từ, hoặc song hành với Tân hình thức? Để trả lời câu hỏi này tôi đã quay về thơ khẩu ngữ trữ tình của Bao Phi và Johnny “Vietnam” Nguyễn. Bắt đầu với thơ của Bao Phi, có một bài thơ đặc thù kinh điển xứng đáng nhắc tới như là “You Bring out the Vietnamese in Me” (Bạn phát tiết tính Việt Nam trong tôi) làm thành tiết mục thứ 6 của cuộc đấu thơ (poetry slam) Def Jam năm 2004. Cái quan trọng của việc xuất hiện của Bao Phi không chỉ ở việc là anh đã cho người Việt phân tán ở Hoa Kỳ một tiếng nói giữa một số những tên lớn nhất trong thơ bình dân, đấu thơ, những màn nhạc reggae và vũ hip hop vào thời đó, mà còn là, tương phản với cái mà một số người có thể trông chờ bài “You Bring out the Vietnamese in Me” của Bao Phi, giống như nhiều trong tác phẩm khác của anh, đặt một sự nhấn mạnh về vắt dòng, lặp lại, và thỉnh thoảng thôi nhấn bất ngờ về vận luật, vốn biết rằng các nghệ sĩ đấu thơ của Hoa Kỳ nói chung nhấn mạnh vào vận luật. Tác phẩm của anh có thể đặt làm tương phản với tác phẩm của một người trẻ hơn (và bây giờ đã qua đời) là Johnny “Vietnam” Nguyễn, thơ của người này rất nhấn mạnh về tiết tấu và vận luật phù hợp với mĩ học đương đại hơn của Hoa Kỳ về thơ slam, thơ beat và thơ hip hop.

Tác phẩm của những nhà thơ trẻ kể trên ở Hoa Kỳ thêm nữa nêu câu hỏi về đường lối mà những nhà thơ trẻ hơn trong những tình huống có thể so sánh được đang viết ở Việt Nam. Do tính chất của sự nghiên cứu riêng của bản thân, tôi quen thuộc nhất với những nhà thơ trẻ thuộc cộng đồng người Chăm, họ chủ yếu viết bằng tiếng Việt. Thứ hoàn cảnh song ngữ như thế này có thể coi là tương tự với hoàn cảnh phân tán của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, là nói một ngôn ngữ ở nhà và rồi viết bằng một ngôn ngữ khác. Khái niệm này về việc đứng đằng sau hai nền văn hoá có cơ ảnh hưởng tới tác phẩm gần đây được thảo luận nhiều của nhà thơ nữ Kiều Maily cũng như những tác phẩm của Tuệ Nguyên và những người khác. Tôi đang đặc thù suy nghĩ tới việc là những tác phẩm này bằng cách nào có thể liên hệ tới Tân hình thức, khi tôi ghi nhận rằng thường xuyên vẫn còn có sự nhấn mạnh về vận luật và một trào lưu tiếp diễn của thơ tự do. Đối với tôi, tác phẩm của những nhà thơ trẻ này làm thí dụ cho nhiều kết nối với Tân hình thức. Họ viết nhiều về cùng những trải nghiệm, nhiều về cùng những phấn đấu, tuy thế nhiều người không hoàn toàn sử dụng cùng phong cách và hình thức như là Tân hình thức. Vậy câu hỏi sẽ là, khi thậm chí những nhà thơ còn mới hơn, trẻ hơn nữa bắt đầu khởi lên để định vị trong giới văn học, những học trò của thơ này có tiếp tục học tập phù hợp với Tân hình thức và những tác phẩm kinh điển hay chăng? Hoặc, liệu chúng ta sẽ thấy, để giỡn chơi bằng những lời lẽ của Khế Iêm, sẽ lại có một kỉ nguyên nữa về sáng tạo? Hoặc là, có cơ xảy ra hơn, một sự pha trộn của cả hai? Bất kể con đường nào được chọn, tôi tin rằng những bài học mà Tân hình thức có thể tiếp tục dạy cho những học trò về thơ, văn hoá, lịch sử, và Việt Nam hẳn có sức mạnh tồn tại bền vững bên trong khung cảnh lớn hơn của sự hiểu biết lịch sử Đông Nam Á và tiến trình hình thành những quan hệ quốc tế đa phức hơn.

Trích KỶ YẾU SÔNG HƯƠNG
Nguyễn Tiến Văn dịch

(Từ nguyên bản: “Poetry and Reconciliation: Tân Hình Thức”)

POETRY AND RECONCILIATION:
TAN HINH THUC

William B Noseworthy



Center for Khmer Studies PhD, c. History, University of Wisconsin-Madison As the central purpose of this conference is to address the phenomena of New Formalism in Vietnamese literature and my own encounter with that literature has mostly been through the work of Vietnamese New Formalist writers associated with Khế Iêm, I hope the participants of this conference will excuse any material that they find repetitive, particularly as repetition is one of the essential features of the poetic experience. In this paper I draw upon my PhD minor: Diaspora History and Literature, which I completed in the Spring of 2012 in order to place Vietnamese New Formalism in a historical context, which I hope can explain some of the successes of the movement, place it in the greater context of Vietnamese literature in the United States and also to argue for the importance of the inclusion of this literature in scholarly studies of the United States, Vietnam and by extension Southeast Asia.

The historical context of Vietnamese New Formalism is rather critical. The movement emerges out of contact induced change. That is, the movement emerged out of contact of the Vietnamese Diaspora in the United States with American New Formalist, while simultaneously this Diaspora maintained connections in Vietnam.

Khế Iêm’s understandings of history are incredibly important here, as he parallels the development of English and Vietnamese language. Both languages were, at their roots monosyllabic. While orality was emphasized in both traditions, Khế Iêm notes that the stressed-unstressed syllabic orientation (iambs) of iambic pentameter parallels the emergent disyllabalism of Vietnamese folk songs (ca dao) and 6-8 lục bát poetry, which utilized simple language like lullibies. Although, like in English, Vietnamese folk songs were more flexible than lúc bát. 

From lúc bát Vietnamese poetry then adapted styles influenced by Tang Dynasty poetry such as Ngữ Ngôn Tứ Tuyêt (five words per line and four lines) and Thất Ngôn Bát Cú (seven words per line and eight lines). Rhyme remained de-emphasized, as in English – at least until Arabic influence on European culture led to an increase in the importance of rhyme in Europe. Despite this slight divergence, according to Khế Iêm, poetry remained primarily a high court form of expression, both in Europe and Vietnam. I would extend this comparison to both in Europe and throughout Southeast Asia. While in Vietnamese literature, works such as Song of a Warrior’s Wife (Chinh Phụ Ngâm), Sorrows of an Abandoned Queen (Cung Oán Ngâm Khúc – by Nguyễn Gia Thiều: 1741-1798) appeared in double seven six-eight and Nguyễn Du’s (1820) Tale of Kiều (Truyện Kiều) appeared in lục bát, Nirat literature appeared in Thailand, classical Malay literature: the hikayat genre, appeared in Jawi script; and in Cham society, Cham akayet eventually gave way to the classic form of ariya, which may be viewed as a pinnacle of early-modern to modern Cham literature. As has been noted by Thongchai (2000), the nirat genre
was likely a predecessor to the emergence of Thai anthropology at the turn of the century. Similarly, my own studies have demonstrated a parallel trend in the ariya of the Cham, as particularly exemplified by the poetical-ethnographic ariya of Palei Hamu Tanran (also: Hữu Đức, Ninh Thuận province): Ariya Po Pareng (1885), which I was introduced to by the work of Inrasara. These paralells between nirat and ariya and the emergence of ethnographic material from poetical works raises the question in my own mind if similar trends appeared in Vietnamese literature.

Whether or not this is the case I will leave to the greater experts of Vietnamese literature at this conference. Nevertheless, with thanks to the work of Khế Iêm it is possible to assert that in the early twentieth century Vietnamese poetry did include at least five-four, seven-eight, double seven six-eight, eight-eight and sixeight forms that blended with ca dao to provide pre-war Vietnamese poets with a slightly more flexible tradition.

During the emergence of the modern period Vietnamese literature continued to morph and change. Vietnamese and translations of French stories appeared in 1921 editions of the Nam Phong Tạp Chí journal, although this journal was heavily influenced by colonialist vetting and the first Vietnamese novel translated into English:

Paradise of the Blind by Dương Thu Hương, did not appear until 70 years later (1993), while the first colonialist era novel translated into English (Dumb Luck) would not appear until another 10 years after that. Meanwhile throughout the 1930s Vietnam saw the emergence of the New Poetry Movement (Thơ Mới), which some have claimed to have been “free verse,” although Iêm debates the application of “free verse” to “thớ mới” forms in his most recent book since thớ mới was actually rhymed poetry and true free verse poetry does not appear in Vietnam until later.

Nevertheless, the context of Thớ Mới, raises an interesting point from my own research. This point has been touched upon Nguyễn Hoàng Nam’s essay Cách Đọc, where he notes that “The application of artistic notion in modern times is still limited to subjectivism (and arrogance-narcissim) of the superpowers: “international” in fact applies to Russia, America and Europe. In the social realm it is even more contracted” Now let’s say that Nguyễn Hoàng Nam’s notions do not critique Thơ Mới specifically, but rather the notions presented in the nature of art and scholarship itself.

Let’s say there is likely a reason that there is a reason that Paradise of the Blind was well received in the United States, as have been examinations of the Giai Phẩm – Nhân Văn affair. Partially these narratives became popular in the United States because they, in the words of historian Dr. Shawn McHale “critiqued the party but supported socialism.” Thus, they provided a bridge between left and right leaning scholars in the United States. So, international scholars began to reveal to Americans that the socio-political and intellectual (including poets) history of Vietnam was quite complex and that Vietnam cannot be described as the communist monolith, the way that was popular in many American (particularly Hollywood portrayals). The problem, as was recently highlight by Michelle Janette (2011) however, was that even Americans who are preparing to enter college are so-unfamiliar with Vietnam that they associate the country with a popular film: Forest Gump, which was released in the mid-1990s. Hollywood’s own ineptitude in dealing with the war reflects back on American society. Films rarely translate the scant lines of Vietnamese in them and the American public has become so divorced from the realities of history that an increasing number now have no objection to the American conflict.

This is where, for the role of the American public Tân Hình Thức begins to offer its great contributions. 

Part of the success of Tân Hình Thức has no doubt been due to the appeal that the movement has made amongst certain interested parties in the United States. Certainly we have laudations and criticisms that give the movement press in American literary circles. However, a more broad appeal stems from the contributions of Tân Hình Thức. By using Tân Hình Thức in American classrooms, Vietnam and Vietnamese culture become not just about the war any more, but also about poetry, about literature, about understanding classic Vietnamese culture. The new understanding created by reading Khế Iêm’s work is therefore critical in promoting the understanding of Vietnam in the United States, fostering cultural understanding and therefore assists in paving the way for good relations between peoples living in the United States and peoples living in Vietnam. Here I could not agree more with Khế Iêm in that this entire process is directly related to Cynthia Cohen’s concept of feelingful awareness, which is also directly tied to Buddhist conceptions of compassion (VN: Từ Bi; Sanskrit/Pali: karuna). This is perhaps one of the greatest contributions of Khế Iêm’s work from an international perspective, as readers in Vietnam can gain a better understanding of the experience of the Vietnamese community in the United States as well.

Now throughout this entire process I would not pretend that there are no shortcomings to the Tân Hình Thức movement. Perhaps one of the greatest questions posed for the movement is to point out how its views differ from American New Formalists. By doing so, Vietnamese New Formalists might offer a touch of grey to the black and white interpretations that have criticized the quite conservative American new formalism. Meanwhile, since one of the major concerns of Khế Iêm’s generation was that the youngest generation of Vietnamese in the United States has very nearly ceased to create in Vietnamese, one wonders in what ways younger Vietnamese poets might be maintaining a sense of Vietnamese identity. In what ways might they use techniques drawn from, or paralleling Tân Hình Thức? To answer this question I have turned toward the lyrical spoken word poetry of Bao Phi and Johnny “Vietnam” Nguyễn. To begin with the poetry of Bao Phi there is one particularly classic poem that deserves mention as “You Bring out the Vietnamese in Me” made episode 6 of the Def Jam poetry slam of 2004. The importance of Bao Phi’s appearance was not only that he gave the Vietnamese diaspora in the United States a voice amongst some of the greatest names in pop poetry, poetry slam, reggae and hip hop scenes at the time, but also that, in contrast to what some might expect Bao Phi’s “You Bring out the Vietnamese in Me,” like much of his other work, places an emphasis on enjambment, repition and occasionally surprising deemphasis on rhyme, given the poetry slam environment in the United States. His work can be contrasted with the younger, (and now late) John “Vietnam” Nguyễn, whose poetry placed a great emphasis on rhythm and rhyme in accordance with more contemporary American aesthetics of slam poetry.

The work of the above young poets in the United States additionally raises the question of the way that younger poets who might have comparable situations in Vietnam are writing. Due to the nature of my own research I am mostly familiar with younger poets from the Cham community, who write predominantly in Vietnamese. This sort of bilingual circumstance might be considered similar to the diasporic circumstance of the Vietnamese community in the United States, speaking one language and home and then writing in another. This notion of being behind two cultures likely influences the recently well discussed work of poet Kiều Maily as well as the works of Tuệ Nguyên and others. I am thinking particularly of how these works might be related to Tân Hình Thức when I note that frequently there is still an emphasis on rhythm and a continued trend of free verse. To me the works of these younger poets exemplify many connections to Tân Hình Thức.

They write about many of the same experiences and many of the same struggles and yet, they do not quite use the same style and form as Tân Hình Thức. So, the question will be, as even more new, even younger poets begin to rise in their place, will these students of poetry continue to study in accordance with Tân Hình Thức and the classics? Or, will we see, to play on the words of Khế Iêm, yet another era of creativity? Where there are new forms to be seen in the future. Regardless of these notions, I believe that the lessons that Tân Hình Thức can continue to teach students of poetry, culture, history, and Vietnam have certain staying power within the greater context of understanding Southeast Asian history and the process of forming more complex international relations.

Về tác giả:
William Noseworthy vừa là nghiên cứu sinh của Trường Đại Học Wisconsin-Madison vừa là nghiên cứu viên cao cấp cho Trung Tâm Khmer Học ở Phnom Penh, Cambodia. Sau khi nhận bằng thạc sĩ (2011), anh đã được một nhánh nghiên cứu về “Văn chương của Cộng đồng Hải Ngoại.” Những bài nghiên cứu của anh xuất hiện trên: ASEAS, the Middle Ground Journal và The IIAS Newsletter. Anh cũng viết bài điểm sách cho Studies on Asia và Cha: An Asian Literary Journal. Hiên này anh đang nghiên cứu về “các ghi nhớ về khu vực biên giới” ở Cambodia và Việt Nam.



Bài viết tham khảo


A POETICS OF RECONCILIATION:
THE AESTHETIC MEDIATION OF CONFLICT
CYNTHIA E. COHEN


 

 

 

 

THƠ SONG NGỮ 2: LÀM SAO MỐI LIÊN HỆ CỦA CHÚNG TA BỊ CẮT ĐỨT

Tranh Đinh Cường
Tranh Đinh Cường
THƠ SONG NGỮ / BILINGUAL POETRY
Khế Iêm - Joe Dolce - Phạm Kiều Tùng dịch


Bill Wolak

Tuyên bố của nghệ sĩ

Niềm vui của nghệ thuật ghép ảnh là tìm ra những mối liên hệ vô tận giữa những thứ dường như không liên quan. Trong một số tác phẩm ghép ảnh, sự kết hợp giữa cái bình thường với sự đa dạng mê sảng của hình ảnh trong mơ buộc tâm trí phải tiếp xúc với điều kỳ diệu. Mỗi tác phẩm ghép ảnh là một lời mời gọi để nhìn thế giới theo một cách khác. Những gì bất ngờ nhất đột nhiên trở nên quen thuộc như bài hát yêu thích của một người bạn cũ.

Tôi làm tranh ghép từ đủ loại vật liệu. Hầu hết được làm từ bản khắc giấy. Nhiều tranh ghép được tạo ra hoặc nâng cao bằng kỹ thuật số. Để bắt đầu một tác phẩm, tôi chọn một số nguồn—có thể là màu hoặc đen trắng. Nếu tôi sử dụng tạp chí, bản in hoặc sách cũ, tôi cắt một số hình ảnh hoặc một số phần hình ảnh mà tôi quan tâm. Sau đó, tôi bắt đầu làm việc trên nền hoặc một số loại cấu trúc ngẫu nhiên khác. Phần lớn được để lại cho những hiểu biết thoáng qua. Đây là những phép màu nhỏ bé của cảm hứng. Tùy thuộc vào việc tôi sử dụng kéo và keo dán hay hình ảnh kỹ thuật số, mỗi bức tranh ghép có thể mất vài giờ.

về nghệ sĩ

Bill+Wolak.jpg

Bill Wolak vừa xuất bản tập thơ thứ mười tám của mình có tựa đề All the Wind’s Unfinished Kisses với Ekstasis Editions. Các tác phẩm ghép của ông đã xuất hiện trên trang bìa của các tạp chí như Phoebe, Harbinger Asylum, Baldhip Magazine, Barfly Poetry Magazine, Ragazine, Cardinal Sins, Pithead ChapelThe Wire’s Dream .

https://counterclock.org/bill-wolak
https://counterclock.org/bill-wolak

BECOME A RIVER

If you spend your entire life
dealing with impostors and cheats,
                    how can you be surprised
when everyone recognizes
you as a swindler?
Anger threatens you most.
Envy paralyzes you.
You’re like dust
darkening a mirror.
You’ve always craved a different path.
                   So begin now while you still can.
                   Wander in this world
like welcomed kisses
across astonished flesh.
Those who love embrace
with the impatience of wind and fire.
                   Those who love become a river
                   offering to carry everything to the sea.


TRỞ THÀNH DÒNG SÔNG

Nếu anh để cả đời anh
đối đãi với những kẻ mạo danh và bịp bợm,
làm sao anh có thể bị ngạc nhiên
khi mọi người nhận ra
anh là kẻ lừa đảo
sự giận dữ đe dọa anh đôi khi
sự đố kỵ làm anh đờ ra
giống như hạt bụi
là tối tấm gương.
Anh luôn luôn ao ước một con đường khác
Như thể bây giờ trong khi anh vẫn
có thể ao ước
Lang thang trong thế giới này
như chào đón những nụ hôn
qua xác thịt đáng ngạc nhiên.
Những người tình ghì chặt
với sự nóng vội của gió và lửa.
Những người tình trở thành dòng sông
tỏ ý muốn đưa mọi thứ ra biển.


Dorit Weisman (Israel)

MY DOLL

When I was a girl, in the Aliyah neighbourhood,
I had a doll
with a missing arm or eye.

And I’m not sure anymore
if the doll were mine
or if it came from poetry

Mom’s dead
and there’s no one to ask.

BÚP BÊ CỦA TÔI

Khi tôi là một cô gái, ở hàng xóm Aliyah.
Tôi có một con búp bê
mất một cánh tay hay con mắt

Và tôi không chắc nữa
nếu con búp bê là của tôi
hoặc nếu nó đến từ thơ

Mẹ chết
và không có ai để hỏi

Tiểu sử “Giọng thơ” của Dorit Weisman, một nhà phê bình viết, “được cho là một trong những giọng thơ mới mẻ và thú vị nhất từng được nghe ngày nay, một tuyên bố được hỗ trợ bởi nhiều giải thưởng mà bà đã giành được. Weisman viết thơ văn xuôi, thơ đối thoại, gần như không có ẩn dụ và hình ảnh, đôi khi gần như là tài liệu, tiết lộ và đầy chi tiết. Có vẻ như bà đang đối thoại, chủ yếu là với thơ Mỹ.”Nhà thơ và dịch giả này sinh tháng 4 năm 1950 tại Kfar-Saba và sống tại Jerusalem. Bà làm gia sư tại các hội thảo về sáng tác văn học, thuyết trình về thơ ca và là thành viên tích cực của nhóm Ketovet / Poetry Place từ năm 2002 đến năm 2012, một trung tâm tổ chức hội thảo và đọc thơ tại Jerusalem.

Các giải thưởng gần đây nhất của bà bao gồm Giải thưởng ACUM (Hiệp hội các nhà soạn nhạc, tác giả và nhà xuất bản) cho bản thảo Draga Klari và Giải thưởng thơ của Viện Hàn lâm Khoa học, Nghệ thuật và Văn học Châu Âu, cả hai đều vào năm 2018, và năm 2016, Giải thưởng thơ quốc tế Alfonso Gatto, Salerno, Ý.

Năm 2005, Weisman là người nhận Giải thưởng thơ ACUM cho bản thảo của bà, Where Did you Meet the Cancer? ; Giải thưởng của Thủ tướng dành cho các nhà văn Israel năm 2003 và Giải thưởng thơ Yehuda Amichai năm 2003. Weisman cũng đã giành được các giải thưởng danh giá sau: Giải thưởng Tchernikhovski của Hội Nhà văn (1998), Giải thưởng Văn học của Đại học Ben-Gurion (1999), Giải thưởng của Quỹ Olschwung cũng như Giải thưởng Văn học Jerusalem (1998). 


Tài liệu tham khảo SÁCH THƠ

Chào buổi sáng thế giới, song ngữ tiếng Do Thái-Anh, Truyền thông đa văn hóa, New York, 2020

Trứng bác ở Jerusalem rung chuyển ở Ein Kerem , Nhà xuất bản Cohel, Jerusalem 2017.

Sổ tay thơ chọn lọc các bài thơ bằng tiếng Ý và tiếng Anh, Fondazione Alfonso Gatto Edizione, Salerno, Ý , 2016. Bình thường, Nhà xuất bản Pardes, Haifa 2013. Trên con đường giữa rong biển , minh họa bởi Oded Zaidel, Nhà xuất bản Biển Đỏ, Jerusalem, 2011. Ketovet , tuyển tập, Even Hoshen, Ra’anana, 2008. Bạn đã gặp Cự Giải ở đâu? [Eifo pagasht et ha-sartan?], Carmel, Jerusalem 2006
Khiêu vũ với Csardas [Lirqod ittakh čardaš], Even Xoshen, Ra’anana 2005
Cây Baobab tượng trưng cho điều gì? [U-ma mesamnim ‘atzey ha-ba’obab], Even Xoshen, Ra’anana 2003
Ngày tôi đến thăm tổ chim cúc cu [Ha-yamim she-biqqarti be-veyt ha-meshugga’im], Sifriat Po’alim, Tel Aviv 1999
Không biết cách của một cô gái mặc váy [Lo yoda’at derekh yalda be-simla], Tammuz, Tel Aviv 1998
Một con hổ gầm rú với tôi [Namer sho’eg negdi], Sifriat Po’alim, Tel Aviv 1993


BẢN DỊCH

Hàng xóm sẽ nghĩ gì? Charles Bukowski, thơ chọn lọc, Hakibbutz Hameuchad, Tel Aviv, 2018
Till fingers begin to bleed , Charles Bukowski, truyện ngắn và thơ chọn lọc, Carmel, Jerusalem, 2003/in lần thứ 5, 2012
Và trong các tạp chí văn học:
Bản dịch của Adrienne Rich, Elizabeth Bishop, Emily Dickinson, Louise Glück, Linda Pastan, Kathryn Maris, Anna Boothe, Anthony Butts, Hayden Carruth, Raymond Carver, Charles Bukowski và những người khác.

BIÊN TẬP VIÊN 

(bằng tiếng Hebrew)
Nefesh / Soul – tuyển tập thơ về rối loạn tâm thần, Carmel, Jerusalem, 2019.
Malka Iruma/Naked Queen – tuyển tập thơ phản kháng xã hội của phụ nữ, Hakibbutz Hameuchad, Tel Aviv, 2013.

ĐỒNG BIÊN TẬP VIÊN 

(bằng tiếng Hebrew) Mekhiat Kapiim/Applause – tuyển tập thơ phản kháng xã hội (cùng với Gilad Meiri và Noa Shakargy), Poetry Place, Jerusalem, 2013.

DỰ ÁN

Chương trình thơ trên Kênh truyền hình Israel 98 (từ năm 2013)
“Bài thơ của tuần” được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Hebrew và phân phối qua mạng xã hội (từ năm 2018)

LIÊN KẾT 

(bằng tiếng Hebrew)
Wikipedia

[cập nhật ngày 15 tháng 11 năm 2020]

James Daniel Spears

WHERE WE BREAK

You find me, a cigarette
and fear
my only company,
long hair scattered
while you sleep.
I do not love you.

I leave what I was buried
in smoke,
throat dry as tear ducts.
Built from driftwood dried
in the desert. Fire engulfs
what we did not build

Praying for a miracle
or rain. Water
drips from a crucifix’s toes.
You do not love me,
comfortable in quiet
and confused gooseflesh

  • James Daniel Spears’ poetry has been featured in Jump, and The Annual Tejano, and is upcoming in The Eunoia Review. Despite being promised untold riches awaited him in pursuit of poetics, he lives a humble life in his hometown of El Paso, Texas with his nephew, two dogs, and one angry cat.

James Daniel Spears đến từ El Paso, Texas

Bạn đã viết bao lâu rồi? Từ khi tôi biết cách. Tuy nhiên, tôi bắt đầu nghiêm túc với nó khi tôi 14 tuổi.

Bạn coi thành tựu lớn nhất của mình với tư cách là một nhà văn là gì? Hy vọng là điều đó vẫn chưa xảy ra! Chỉ trong khoảng một năm trở lại đây, tôi mới bắt đầu tìm kiếm các ấn phẩm và bắt đầu cố gắng đưa tiếng nói của mình ra ngoài kia. Điều có ý nghĩa nhất xảy ra với một tác phẩm là khi một cô gái trẻ gửi cho tôi một email về một bài thơ tôi viết về cha tôi và tôi và nói rằng nó đã truyền cảm hứng cho cô ấy để hòa giải với chính cha mình.

Những dự án nào của bạn đã được xuất bản gần đây? Bài thơ “Split” của tôi đã được xuất bản trên Eunoia Review, chuỗi thơ “Him” của tôi đã được xuất bản trên JUMP cũng như được đọc trên podcast The Dog and Poetry Show.

Hiện tại bạn đang làm gì và điều gì đã truyền cảm hứng cho tác phẩm này? Hiện tại tôi đang làm việc với một dịch giả để xuất bản một tác phẩm trên tạp chí thơ ca Việt Nam The Diving Club và biên soạn tập thơ đầu tiên của mình. Tác phẩm này được truyền cảm hứng từ khả năng bẩm sinh của tôi trong việc xao nhãng bản thân khỏi mọi thứ và tình bạn cũ với một người bạn cùng lớp mà tôi không có điểm chung nào ngoài tình yêu dành cho nhạc jazz và thơ ca.

Chúng tôi có thể tìm thấy tác phẩm của bạn ở đâu? Bạn có thể tìm thấy các bài đọc về tất cả các tác phẩm đã hoàn thành của tôi trên SoundCloud, liên kết bên dưới.

Bạn phản ứng thế nào khi bị từ chối? Bản tính cạnh tranh của tôi khiến mỗi lần bị từ chối đều khiến tôi buồn bã trong chốc lát, sau đó lại truyền cảm hứng cho một làn sóng sáng tạo mới.

Bạn phản ứng thế nào khi một trong những bài nộp của bạn được chấp nhận xuất bản? Bằng cách gọi cho bố tôi. Sau đó là mẹ tôi. Thường thì họ phải nghe tôi đọc nó.

Lời khuyên tốt nhất của bạn về cách giữ sự tỉnh táo khi viết là gì? Viết để giữ sự tỉnh táo.

Cuốn sách yêu thích của bạn là gì? Tùy thuộc vào thể loại. Sách thơ là sự kết hợp giữa Poems 1958 – 1968 của James Dickey và Helium mới phát hành của Rudy Francisco. Nếu bạn chưa đọc tác phẩm sau, bạn nên đọc. Fiction là một tiểu thuyết Star Wars Expanded Universe cũ (tin hay không thì tùy) Traitor của Matthew Stover.

Tác giả yêu thích của bạn là ai? Ooof. Khó đấy. Tôi sẽ chọn ba người đồng hạng là Mark Strand, Alan Moore và JK Rowling.

Nếu bạn có thể dùng bữa tối với một nhân vật hư cấu, đó sẽ là ai và tại sao? Không thể là một nhân vật hư cấu sao? Có thể là Ezra Miller không? Và lý do là vì điều đó có nghĩa là Ezra Miller đã chấp nhận lời đề nghị hẹn hò của tôi.

Điều gì khiến bạn cười? Cuộc sống nghiêm túc đến thế nào.

Điều gì khiến bạn khóc? Cuộc sống không nghiêm túc chút nào.

Bạn thích uống gì khi viết? Nước lọc vào buổi sáng. Cà phê đá vào buổi tối.

Món ăn yêu thích của bạn là gì? Món ăn kết hợp giữa enchiladas gà xanh, thịt bò nướng của mẹ nuôi tôi và kem sô cô la.

Shakespeare hay Bukowski? Bill Waterson.

Trang web/blog cá nhân:  https://soundcloud.com/james- danny-spears/

Ramingo’s Porch số 2 https://www.amazon.com/dp/0998847674/


The Ramingo's Porch, Issue 1 by Ramingo's Porch

LÀM SAO MỐI LIÊN HỆ CỦA CHÚNG TA BỊ CẮT ĐỨT

Em tìm tôi, ngoài thuốc lá
và nỗi sợ
tôi chỉ là tôi,
mái tóc lòa xòa
trong lúc em ngủ.
Tôi không yêu em.

Tôi che phủ quá khứ
trong khói thuốc,
cuống họng khô như ống dẫn nước mắt.
Mối liên hệ từ khúc gỗ trôi trên sông khô
trên sa mạc. Lửa chìm sâu
trong những gì chẳng liên hệ tới chúng ta.

Cầu xin nhờ phép mầu
hoặc mưa. Nước
rơi dưới chân thập tự giá.
Em không yêu tôi,
thoải mái trong im lặng
và ngượng ngùng khi làn da bị cọ sát

Bài thơ đã được đăng trên Jump, và The Year Tejano, và sắp xuất hiện trên The Eunoia Review. Mặc dù được hứa hẹn về sự giàu có không thể kể xiết đang chờ đợi khi theo đuổi thi pháp, anh ta sống một cuộc sống khiêm tốn ở quê hương El Paso, Texas với cháu trai của mình, hai con chó và một con mèo hung dữ.


Dana Gioia

MONSTER

Night-born, malformed, maleficent,
pale as a pulled root,
a monster prowls the woods.

What other explanation is there
for the gutted deer, the naked
footprint by the bedroom window?

Now the neighbor’s dog
has disappeared. The back gate’s broken.
I keep the shotgun loaded.

How often now the birds
suddenly go silent in the trees.
What do do they hear?

This thing of darkness I
acknowledge mine. I made it.
I let it escape. Now it returns.

Go on, you ragged underling.
Stalk me with your pitiful strategies.
Starve and shiver in the darkness.

Cry to me from the thorny ravine.
I’m safe behind locked doors.
I will not answer or embrace

the thing I have created.

https://joshwoodsauthor.com/2021/02/05/nosferatu-with-dana-gioia/
https://joshwoodsauthor.com/2021/02/05/nosferatu-with-dana-gioia/

Nosferatu với Dana Gioia

Dana Gioia đưa chúng ta vào bóng tối mạnh mẽ của vở opera libretto Nosferatu của ông , và trên đường đi dẫn chúng ta qua nơi của những câu chuyện quái dị và gothic trong truyền thống văn học, và thậm chí chạm đến sự thật của chính cái ác. Gioia là một nhà thơ, nhà văn và biên tập viên được ca ngợi trên toàn thế giới, cũng như cựu Nhà thơ đoạt giải California và Chủ tịch của Quỹ Quốc gia về Nghệ thuật.

Trang web của Dana Gioia: http://danagioia.com/

His Nosferatu: An Opera Libretto có sẵn trên Amazon: https://www.amazon.com/Nosferatu-Opera-Libretto-Dana-Gioia/dp/1555973191

Hồi ký mới của ông, Học cùng cô Bishop: https://www.pauldrybooks.com/collections/featured-products/products/studying-with-miss-bishop

The Monster Professor: một chương trình mà chúng ta thảo luận và khám phá về quái vật trong văn học, thần thoại, phim ảnh, trò chơi, sân khấu, văn hóa dân gian, văn hóa và nhiều hơn thế nữa. Người dẫn chương trình podcast: Josh Woods, tác giả, biên tập viên, giáo sư và chuyên gia về quái vật. joshwoodsauthor.com

CON QUÁI VẬT

Sinh ra từ đêm tối, dị tật, hiểm ác,
tái nhợt như rễ cây bị nhổ lên
con quái vật lảng vảng trong rừng.

Sự giải thích khác đó có phải
vì con nai đổ ruột, dấu chân trần
bên cửa sổ phòng ngủ?

Lúc này con chó hàng xóm,
đã biến mất. Cửa sau gẫy đổ.
Tôi nạp đạn cây súng săn.

Sao bây giờ bầy chim
bất thình lình im lặng trong cây.
Chúng nghe thấy gì.

Con vật của bóng tối này tôi
nhận ra như thể là của tôi. Tôi tạo ra nó.
Tôi để nó trốn thoát. Nay nó trở lại.

Cứ tiếp tục kẻ thuộc hạ rách rưới.
Cứ lén theo ta với chiến thuật tội nghiệp
                                     của mi.
Cứ chết đói và run sợ trong bóng tối.

Gào thét với tôi từ hẻm núi đầy gai.
Tôi an toàn đằng sau cánh cửa đóng.
Tôi sẽ không trả lời hoặc ôm lấy

con vật tôi đã tạo ra.

Khế Iêm dịch

Nguyễn Mạnh Hà

SỰ TÍCH CHÚA

Hoàng tử hôn công chúa ếch
Rồi hoàng tử hôn cung nữ
Cung nữ vuốt má bác làm vườn
Bác làm vườn cho cậu bé đánh giày quả táo
Quả táo được cậu bé chia cho cô bé bán vé số
Tờ vé số rơi vào tay kẻ trộm chó
Kẻ trộm chó khạc vào cây hoa ven đường
Cây hoa chết mang theo mầm bệnh cúm ếch
Những người còn lại sống khỏe mạnh
Và nói chung yêu đời đến khi đầu bạc
                                                    răng long
(Trừ kẻ trộm chó có lần bị chó cắn
Nhưng hình như đã kịp tiêm phòng
Còn hắn có cắn ai không thì tôi không rõ).

(8/2/2020)

A FAIRYTALE OF GOD

The prince kissed the frog princess.
The prince kissed the palace maid.
The maid fondled the gardener’s cheek.
The gardener gave the shoeshine boy an apple.
The apple was shared with the lottery ticket girl.
A lottery ticket was purchased by the dog thief.
The dog thief spat on the roadside flower.
The flower died carrying away frog flu germs,
Leaving the others healthy lives
And maybe still sharing love amongst them,
until they died naturally of old age –
(Except the dog thief, who had been bitten by a dog,
But, fortunately, vaccinated in time,
Although if he had bitten anyone else,
I wasn’t sure.).

Translated into English by Joe Dolce

Alden Marin

DUST BIRDS

Look at those
beautiful birds
about to take flight
on the back
of that truck–
designed randomly
in dust, flying
for moments
everytime they stop
and fling open the door
to unload cargo
or put in boxes–
the dust birds
with wings, beeks
and claws you
can only imagine—
and hopefully
they’ll migrate
before they’re
all washed off

July 2010
Trong nguyên bản, là beeks - hẳn là gõ sai: beaks [mỏ (chim)]

CHIM BỤI

Nhìn những
con chim đẹp đẽ kia
sắp cất cánh bay
trên mặt sau
thùng xe tải đó –
được thiết kế ngẫu hứng
bằng bụi, tung bay
từng hồi
mỗi lần họ ngừng xe
và tông mở cửa xe
để dỡ hàng
hoặc chất lên những kiện hàng –
những con chim bụi
với những đôi cánh, những mỏ
và những móng vuốt mà bạn
chỉ thể mường tượng –
và hi vọng
chúng sẽ kịp thời di trú
trước khi chúng
thảy đều bị lau sạch.


HUBRIS

The pinpoint stars;
beady eyed voyeurs –
I laugh at them
to no avail …
my arrogance is amazing –
like I know something
they don’t; my meager
human privilege –
my hard earned hunger
that so easily sates itself
then wants more – urges
stars don’t share …
Still, I look at them
and somehow feel superior
with a sad sort
of hubris.

NGẠO MẠN

Những ngôi sao nhỏ như đầu đinh ghim;
những gã nhìn trộm mắt tròn sáng –
Tôi cười nhạo chúng
chẳng tích sự gì …
sự kiêu căng của tôi thật lạ lùng –
như thể tôi biết điều gì đó
mà chúng không biết; của tôi, cái đặc quyền cùn
mằn
của loài người –
của tôi, nỗi khao khát khó có được
nhưng dễ dàng thỏa nguyện
rồi ham muốn thêm nữa – những thôi thúc
mà những vì sao không chia sẻ …
Dù vậy, tôi nhìn chúng
và không hiểu sao vẫn cảm thấy mình hơn hẳn
kèm theo
nỗi ngạo mạn buồn rầu.

Phạm Kiều Tùng dịch

Báo Giấy • Tháng 02 năm 2021 • Năm thứ 5 • Số 64
Email: baogiay2015@gmail.com • www.thotanhinhthucviet.vn

 

TUẦN THƠ 24: THƠ DỰ THI 1

Quadro Improvvisazione 19 - Vassily Kandinsky

Cho đến bây giờ, đa số thơ Tân hình thức Việt chưa đáp ứng hai tiêu chuẩn hay: Ý tưởng và Nhịp điệu. Nhưng ở thời hiện tại, con Virus Vũ Hán báo cho chúng ta thấy, mọi sự phải thay đổi, từ suy nghĩ tới hành động. Và như thế, lý thuyết thơ với tập tiểu luận “Vũ Điệu Không Vần”, ra mắt vào cuối năm 2019, tới lúc phải thực hành. Trong lúc Báo Giấy bắt đầu đăng mọi thể loại thơ từ vần điệu đến tự do, thơ Tân hình thức cần đáp ứng tiêu chuẩn để sánh bước với các thể loại khác. Ngay cả phê bình thơ cũng phải theo đúng qui định về cách dùng chữ, âm điệu, kiến thức về thơ … Bài vở gửi trong số tới, chúng tôi sẽ chọn đúng theo tiêu chuẩn, và thơ sẽ được chuyển dịch ra tiếng Anh để gửi đăng trên weside Italy. Mong có những bài thơ Tân hình thức hay.


Trần Thị Bạch Diệp
CƠN DÔNG

Cơn dông nào vừa ngang
Qua thành phố đôi mắt
Bầu trời mọng nước như
Chúng ta vừa ngang qua
Nhau một ánh nhìn thành
Sẹo trên vòng hông áo
Ướt nhớ một bàn tay
Tình cờ lần chạm với
Những chữ nặng trĩu đè
Trên trán em xám như
Mây ý nghĩ trên bầu
Trời tháng sáu hỡi anh
Sao không mở tung cánh
Cửa ngoài kia cỏ mượt
Xanh ngoài kia mưa long
Lanh tắm gội những con
Đường xanh như ngọc kìa
Anh thảm cúc trắng dịu
Dàng dâng lời kinh sám
hối đưa ta qua dòng
Sông khổ ải ngoài kia
Tiếng ai cười lanh lảnh
Như là cơn dông chưa
Từng ngang qua vai em
Chưa từng trĩu nước như
Mắt em chợt hé ánh
Trăng xanh dịu cựa mình
Hồi sinh …


Nguyễn Ngọc Trìu
TÔI LẠC CẢ TÔI GIỮA CÁT VÀ TRĂNG

Mung lung dắt tôi đi dưới hàng cây
mơ hồ lá Tháp Chàm nung sẫm đỏ
những nguyện cầu cát cợt đùa nhảy nhót
trên mũi giầy rạn nắng tôi đi tìm
sắp cạn một ngày hè ngọn tháp đứng
nhìn theo một gã khờ xứ Bắc trắng
nửa mái đầu câu hỏi vẫn ngu ngơ
chỉ có tên, chừng tuổi với quê và
nghề nghiệp ba nhăm năm trước cổng trường
nào tôi hỏi cũng mấy cô giáo trẻ
bịt miệng cười “dạ dạ … tên hay đấy
thấy vài người … không ai quê ngoài đó”
có dăm ba chiếc điện thoại nóng lên
sáng cuội gọi gần xa mong gúp tôi
tìm dần ra manh mối “có chồng chưa?…”
làm sao biết được “xinh lắm phải không?…”
tôi lặng lẽ gật đầu để lại số
điện thoại cả đêm tôi đợi tiếng sóng
biển mùa trăng khuya rồi thêm lạc giọng
mênh mông nghe cát khản lời giá như
ngày ấy giá như ngày ấy đừng e
ngại đôi môi đôi môi đừng e ngại
đâu đến nỗi bây giờ tôi lạc cả
tôi giữa cát và trăng …


Hường Thanh
BỨC HỌA BIẾM

Một người đàn ông đã có
tuổi đến chiêm ngưỡng một bức
họa vẽ đúng một người đàn
bà đang nằm vẽ một bức
họa có những cậu bé đang
ngồi vẽ nhiều chân dung người
lớn đủ sắc màu tạo ra
tiếng cười đến những con người
ở ngoài charlie hebdo
những khuôn mặt của những cậu
bé hồn nhiên và tự do
trong một căn phòng giấy vẽ
lộn xộn và nghịch ngợm nhưng
khuôn mặt người đàn bà vẽ
ra những cậu bé trong bức
họa của những đứa trẻ bên
trong charlie hebdo lại
khác hẳn với những khuôn mặt
của chính người họa sĩ vẽ
ra người đàn bà nằm vẽ
những cậu bé đang ngồi vẽ
tiếng cười đã gây ra tiếng
khóc cho người đàn ông có
tuổi đứng nhìn bức biếm buồn.


Nguyễn Văn Bút
GỌT

Nó ngồi gọt cây bút
Chì có vẻ không hài
Lòng về kết quả cuối
Cùng mà cứ lặp đi
Lặp lại câu chuyện gọt
Bút chì trong nỗi sợ
Hãi về chiếc bút chì
Nó đang cầm trong tay
Cả ước mơ về một
Ngày không còn cô đơn
Ngồi một mình gọt hết
Bầu trời tuổi thơ để
Tìm chút sắc màu cho
Bức tranh tối mịt mờ
Không thấy đầu là ngôi
Nhà nó muốn sống để
Gọt nhọn chiếc bút và
Không lúc nào ngưng suy
Nghĩ về bữa cơm ngon
Khiến nó gọt thật nhanh
Để vẽ cho đẹp gọt
Cả giấc mơ thời gian
Không bao giờ gọt được.


Như Quỳnh
THỜI ĐẠI

bọn chúng hô to tự do tự do
tuỳ tiện rồi phét lác tự do tự
do là đi ăn cướp tâm hồn tinh
thần người khác rồi gieo giắc buồn phiền

bọn chúng hò hét đánh nhau tranh chấp
ngừoi đàn ông này người đàn bà nọ
rồi xông lên mạnh ai đấy sống bọn
chúng gào thét đó là văn chương viết

những bài nỉ non mời gọi yêu nhau
thác loạn giang hồ các giá trị bị
bóp méo bởi những biến thái điên
rồ bệnh hoạn bọn chúng giết nhau âm

thầm như những thanh kiếm giấu trong ngực
áo đầy máu đen rồi khóc than cuộc
đời khổ đau quá bọn chúng tay trong
tay những quả bom định kiến rồi trao

nhau những cái tát những cúi đầu ngoảnh
mặt thời đại của những ngôi sao tìm
đến những thiên hà với những dáng người
tinh thần quỷ trái tim robot chữ

giả uốn éo thành những ma trận nhân
danh cô độc tâm lý hoang hoác ngu
dốt không tri thức không hiểu biết không
kiếm tìm những chứng chỉ không thể cứu

hết được dân tộc này đất nước này
bởi tiến sỹ giáo sư đang mải miết
đi tìm cái tôi trong hư ảo chứ
không phải những công trình khoa học có

thật thực chất chỉ là một ảo ảnh
như những chức danh chỉ để giữ ghế
kiếm tiền hay một nơi ở xa hoa
gọi là thành đạt


Nguyễn Lương Ba
CON ĐƯỜNG KHÔNG GIỚI HẠN

Người đã đi đã đi qua ngày
tháng hao mòn ngày tháng tôi trở
về đây sương mù người đã đi
khỏi ký ức trắng bạc trên con
đường mù mịt sương chả còn ai
quen chả còn ai chả còn ai

người đã đi một ngày xa xăm
nào đó xa lìa con đường mòn
thôn xóm bác Mười em Vân mà
người cứ ngơ ngác thẩn thờ nghe
chừng như em Vân đã đi trên
con đường mòn đó dài ra tận
những vách tường hàng cây mùa hoa
phượng râm ran hơi nóng hạ lào
rát đau những ngày hè oi ả
em Vân vẫn thế thi thoảng ngước
nhìn người cứ ngơ ngác thẩn thờ
nhớ thương tà áo vén chiều nào
nàng cũng qua cầu nghiêng nón con
đường chông chênh gió tạt em Vân

vẫn thế đi đi về về mà
mà con đường cứ dài ra một
ngày xa xăm nào đó người khoát
áo chuyến xe xình xịch nhìn lại
thôn xóm người đã bẻ ngang cuộc
đời thay màu áo trận một hai
ba bốn con đường con đường mồ
hôi em thôi nhớ nhung nhớ nhớ
nhớ nhớ những phút giây đó mà
hai bốn giờ phép anh cho em
tất cả áo trận bạc màu đường
bụi đỏ hàng quân lớp lớp ôi
con đường này có ụ khói vàng
tiếng máy gọi ù ù “đích thân …
đích thân “ con đường đã để lại …
để lại cho em những con đường

mòn thôn xóm dài ra tận những
vách tường hàng cây mùa hoa phượng
con dường có ụ khói vàng đơn
vị di hành người đã đi khắp
những ngày bình yên những ngày binh
lửa trên con đường không giới hạn


Xuân Thủy
NGHIỆT NGÃ

Em bảo em yêu anh
Vì anh là chàng trai
lãng mạng biết làm thơ
chơi đàn và yêu cuồng
nhiệt. Chừng ấy đủ rồi
em chẳng cần chi cả
anh chỉ biết làm thơ,
chơi đàn và yêu cuồng
nhiệt mãi mãi là đủ
rồi em cắp nón theo
anh bước qua lời khuyên
của gia đình, dòng họ
hàng ngày em đầu tắt
mặt tối, lo sớm lo
khuya, cắn răng nhẫn nhục
cũng chỉ vì muốn giữ
mãi tình yêu ban đầu
là anh biết làm thơ
chơi đàn và yêu cuồng

nhiệt độ chừng dăm năm
sau con cái lớn dần
nhà đông của khó gió
vô nhà trống em bực
bội mắng la và bảo
anh nên quên làm thơ
chơi đàn và yêu nhiệt
huyết đi những thứ không
nên cơm cháo gì chỉ
tiêu tốn thời gian vô
ích. Anh nghe em vứt
bỏ không buồn nhưng tự
hỏi không biết em có
còn là em nữa, hay?

Tân Bình, Mùa đông 2020


Phạm Quyên Chi
DI CHUYỂN

Đây có thể là ngõ cụt
Rồi cuối đường hầm dưới đáy
Sông đây có thể là nơi
Tăm tối tận cùng tiếng nói
Cùng tiếng than bạn tôi ơi

Có nghe lời thảm thiết rơi
Xuống mặt đất bùn lầy kể
Bạn nghe tuổi thơ buồn không
Nắm lấy điều gì có câu
Chuyện kể rằng chúng ta rồi
Sẽ xin ăn và quên hết
mọi trí nhớ nhưng vẫn mang
Nỗi cô độc chìm trước mặt

Con chim gãy cánh giữa bầu
Trời lời thánh bạn nghe gì
Đó? Đây có thể là thơ
Chắp lại đôi cánh gãy chú
Chim non bay vẫy chúng ta
Rồi sẽ ngủ ngon giấc bên

Chiếc lá cây màu xanh! Đây có
Thể là thơ khơi dậy buổi
Sớm mai người con trai đứng
Trước mặt trời sẽ dạy chúng
Ta bước đi như chú gấu
Con lon ton … Đây thực sự

Là ngõ cụt nhưng đứng im
Làm đôi chân nặng nề vĩnh
Viễn nặng nề và vị thần
Chỉ ngang qua tinh cầu chiếu
Rọi một lối đi nguy hiểm!


Nguyễn Đặng Thùy Trang
THÀNH PHỐ KHÔNG ROMANTIC

Dưới gốc cây si chàng nhìn
tôi bĩu môi thành phố không
Romantic tôi ngô ngố khi
tóc ngắn và mắt còn to
suy nghĩ rồi suy nghĩ nhưng
chàng nói, may mà có em …
Ai đó chọc chúng tôi lệch
nhau bằng một tin nhắn tôi
nói về bài hát mình nghe
Mùa yêu, chênh vênh hay gì
đó – những con đường vắng anh
anh vẫn bắt đầu “thành phố…”
hát những lời ca thậm buồn –
ai mua trăng tôi bán trăng
cho ngày ngồi bên lan can
thành phố không Romantic biết
anh buồn vì người đàn bà
thuộc về anh giờ đã là
người khác chúng tôi cũng không
thuộc về nhau còn những đuôi
mắt dài hút gió bàn tay
lạnh anh kéo đông về không
dám chạm vào tôi và thôi
chẳng nhớ nhiều đến thế lâu
dần Romantic hình như chẳng
thuộc về ai.


Trần Văn Quyết
ĐƯỜNG QUÊ

Tôi đi qua bao cung đường
quê dài lê thê tôi đi qua bao
cung đường quê mong xuôi về
nhà xưa đường quê dài sâu cong cong
thênh thang long đong mênh mang
nay đường quê băng băng bê tông băng
băng bao gai xương rồng băng
băng qua ngày dầu dầu mưa tuông cho
tôi thêm thương thương và yêu
quê hương thay màu xanh từng ngày nhà
nhà bừng lên trong sương người
người bừng lên niềm yêu quê hương ôi
tình yêu thân thương ôi thời
gian trôi nhanh mang theo bao người tôi
yêu thương đi về đâu lang
thang phiêu du rong chơi an yên nơi
nào rồi ngày nao ngày nao
ngày nao và mai sau mai sau mong
cho quê hương xanh thêm màu
mong cho quê hương vui câu ca yêu
đời mong bao con đường quê
hương dâng tràn lên bao niềm yêu thương
mong cho …
19/10/2018


Vĩnh Phúc
SINH NHẬT EM

Anh mua hết Pleiku những bông
hồng đỏ trang sức cho tháng
Mười ngày thứ hai hai như
Một niềm bí mật trời xanh
Em xanh cánh môi đỏ nụ
Hôn đỏ hãy thắp nến lên
Khắp Ngân Hà những ngọn sao
Tỏ những ngọn sao lu những
Ngọn đăm đắm những ngọn nồng
Nàn những ngã ba trời những
Chân mây mắt trắng sinh nhật
Em phố núi mộng du ngày
Sinh nhật em trời ngu si
Anh ngu mê hãy thắp lên
Phố những ngọn nắng những ngọn
Vàng mơ những ngọn hồng đào
Sinh nhật em quả táo ngon
Nhức răng anh về làm tổ
Cắn một miếng hồng ngọt hai
Hai ngọn thắp lên cho tháng
Mười hai hai tiếng đàn trong
Veo hai hai nụ cười đỏ
Như mặt trời nhu nhú sinh
Nhật em


Đỗ Quyên
TÔI BÍ THƠ BÍ YÊU

những khi bí thơ tôi
đều cầu cạnh tân hình
thức việt mỗi lúc bí
yêu tôi lại cần tới

em tiêu chí thơ trong
tân hình thức việt bao
gồm ý tưởng cùng nhịp
điệu tiêu chuẩn yêu với

tôi vô lường tùy tâm
trạng nơi em và thời
tiết đất trời tân hình
thức việt sinh hạ đầu

thế kỷ hai mốt còn
thơ việt già cả những
ngàn năm yêu có từ
thuở adam ăn trái

cấm tôi bí yêu sau
buổi gặp em những khi
bí thơ tôi tìm tân
hình thức việt với ý

tưởng từ em cùng với
nhịp điệu đất trời mỗi
lúc bí yêu tôi cần
em trong tâm trạng thi

ca và thời tiết tân hình
thức việt thế nhưng những
khi bí thơ đồng thời
bí cả yêu tôi không

thể nào biết phải làm
sao

27/10/2018


Hồ Đăng Thanh Ngọc
CHƠI BÀN TAY

Trên vỉa hè thằng bé chơi trò
chơi bàn tay nó đưa hai bàn
tay múp máp ra đếm mười ngón
rồi ngón cái bàn tay phải chạm

tinh tế vào ngón út bàn tay
trái rồi ngón trỏ bàn tay trái
chạm vào ngón cái bàn tay phải
rồi ngón giữa bàn tay phải chạm

vào ngón đeo nhẫn bàn tay trái
rồi ngón giữa bàn tay trái chạm
ngón út bàn tay phải và cuối
cùng khi ngón cái bàn tay trái

định chạm ngón đeo nhẫn bàn tay
phải thì nó bỗng chán không chơi
nữa bàn tay nó thỏng xuống thỏng
thượt có lẽ đi chơi game thì

thích hơn chăng nhưng nó đang đứng
ngoài đường và nó còn cố đưa
ngón tay lên ngang mày để xem
ánh sáng có lọt qua kẽ tay

hay không nó nghĩ gì thì làm
sao tôi biết được nhưng sao mà
tôi lại nghĩ là nó muốn đi
chơi game cơ chứ làm sao tôi

nghĩ vậy làm sao tôi nghĩ vậy
trong buổi sáng trời hiu hiu gió
thế này?


Khế Iêm
RÁC

Tôi đứng bên đây đường nhìn
qua bên kia những luồng xe
vùn vụt vùn vụt ngược và
xuôi đan xen như mắt cáo
trông loáng thoáng dãy phố những
sắc màu bóng người và tôi
là cọng rác không tâm trí
lây lất trên lề đường cuốn
theo khói và bụi và còi
xe trong khoảnh khắc tôi là
vật thể giữa các vật thể
vật thể nào giống vật thể
nào vật thể nào khác vật
thể nào hỏi và đáp ai
với ai trong mênh mông gợn
sóng những khuôn mặt khẩu trang
và luồng xe vùn vụt vùn
vụt ngùn ngụt ngùn ngụt cho
đến khi bầu trời chợt mưa
chợt nắng làm đậm đặc và
tách lìa giữa tôi và rác
và khói và bụi và còi
xe hiện hình chỉ là những
cái tên nổi trôi mà tôi
không phải rác mà rác không
phải tôi đang đứng bên đây
đường nhìn qua bên kia.

* Bài thơ gợi tới một ý nghĩ, chúng ta thường nhìn sự vật và con người theo thiên kiến. Vì vậy người làm thơ không phát hiện những mới lạ của sự vật chung quanh, và không mở ra được cánh cửa sáng tạo.


Thạch Tốt
BỐN GIỜ SÁNG

Chiềc xe đổ rác lại đến đổ
rác từ tờ mờ sáng có hai
người đi bộ đã đi khi trời
còn nhá nhem và chiếc xe đổ

rác cứ thế vào bốn giờ sáng
chiếc xe đổ rác làm nhiệm vụ
câu cái dumster tiếng sắt va
đập thiệt chói tai hai người đi

bộ như không có chuyện gì xảy
ra cứ đi về phía công viên
giờ thì bà Mỹ kế bên (không
biết tên) bắt đầu dậy đề máy

xe nổ rẹt rẹt đi làm hãng
bao ny lông cứ như không có
chuyện gì xảy ra từ từ bà
Mỹ kế bên như bao người khác

có ly cà phê mà cái hãng
bao ny lông này không có cà
phê người đàn bà hưởng thụ mùi
hương thơm cà phê robusta trước

khi nghe cái máy đập của hãng
bao ny lông ồn ào đinh tai
nhức óc mà người đàn bà đã
thức dậy từ bốn giờ sáng đề

máy xe nổ rẹt rẹt đi làm
hãng bao ny lông bao nhiêu năm
nay đứng máy vô bao ôm vác
người đàn bà vẫn nhẫn nhại trong

giấc mơ ly cà phê thơm mà
bà làm theo cách của bà theo
những tiếng động đinh tai nhức óc
để trở về một ngày bình yên

con cái gia đình rồi lại bốn
giờ sáng đề máy xe nổ rẹt
rẹt rồi chiếc xe đổ rác lại
đến đổ rác rồi hai người đi

bộ đã đi như không có chuyện
gì xảy ra người đàn bà hoan
hỷ làm ra cái bao ny lông
một ngày trời còn tờ mờ sáng.


Tranh bài: Quadro Improvvisazione 19 – Vassily Kandinsky


10 HUYỀN THOẠI VỀ SỰ SÁNG TẠO

The Myths of Creativity: The Truth About How Innovative Companies ...


ĐỌC TRÊN ISSUU

Tượng Edgar Allan Poe

Edgar Allan Poe statue in Boston, MA | kashdutch | Flickr

Một bức tương bằng đồng về nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe (1809-1849), dự trù sẽ được đặt tại “Quảng trường Poe”, Boston, Massachusett, góc đường Boylston Street and Charles Street South, vào ngày 5 tháng 10 năm 2014. Tác phẩm của nhà điêu khắc Stefanie Rocknak, được chọn giữa hàng trăm nhà điêu khắc tham gia cuộc tuyển chọn. “Những nét đặc thù: một cặp sách mở bên cạnh một con quạ lớn, những trang giấy và một trái tim rơi ra. Poe nổi tiếng với bài thơ truyện “Con Quạ” (The Raven), và tập truyện ngắn “Kể – Truyện Trái Tim” (The Tell–Tale Heart).

 

 


10 HUYỀN THOẠI VỀ SỰ SÁNG TẠO

Theo David Burkus, Đại học Oral Roberts, trong cuốn “Những huyền thoại của sáng tạo: “Sự thật làm sao những công ty sáng tạo và con người tạo ra những ý tưởng tuyệt vời” (The Myths of Creativity: The Truth About How Innovative Companies and People Generate Great Ideas), ông liệt kê ra như sau:

1/ Huyền thoại Eureka:
Nhớ câu chuyện về Isaac Newton, ngồi dưới gốc cây khi một quả táo rơi vào xuống đầu, truyền cảm hứng cho ông tìm ra lực hấp dẫn. Trong khi có vẻ như ý tưởng tuyệt vời chỉ xuất hiện ra từ hư không, nhưng thường là họ đang thực sự bắt đầu bằng một số suy nghĩ và ở giai đoạn ủ bệnh tiềm thức.

2/ Huyền thoại Dòng dõi:
Bất cứ ai cũng có thể sáng tạo nếu nhuần nhuyển các kỹ thuật, chứ không phải do di truyền.

3/ Huyền thoại Nguyên gốc:
Hầu hết các ý tưởng tuyệt vời được nảy sinh từ những ý tưởng khác. Trong văn học, “Henry VI”, vở kịch của Shakespeare, ảnh hưởng mạnh từ vở kịch “Tamburlaine the Great” của Christopher Marlowe, một kịch tác gia đồng thời với ông. Nhưng “Tamburlaine the Great” lại vay mượn cốt truyện từ lịch sử của thời đại, pha trộn với những câu chuyện mà Marlowe đã nghe từ Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong nghệ thuật, Vincent Van Gogh sao chép những bức tranh của các nghệ sĩ có ảnh hưởng trong thời của ông, bao gồm Emile Bernard, Eugene Delacroix, và JeanFrancois Millet. Hơn ba mươi bức tranh của Van Gogh có nguồn từ những bức tranh của các họa sĩ khác.

4/ Huyền thoại Chuyên môn:
Trong khi chiều sâu kiến thức ảnh hưởng đến chất lượng sáng tác, nhưng quá nhiều chuyên môn sẽ cản trở sự sáng tạo.

5/ Huyền thoại thúc đẩy:
Mức độ sáng tạo của một người phụ thuộc nhiều động lực. Nếu bạn có thể thấy một người trở nên năng động, có nghĩa là họ đang quan tâm và hăng say với công việc của họ.

6/ Huyền thoại một người:
Một số câu chuyện phát minh nổi tiếng nhất thế giới thực sự thuộc về một đội ngũ, nhưng chỉ một người đứng tên. Thí dụ, bằng sáng chế “Cải thiện bóng đèn điện” chỉ có tên Edison, mặc dù trên thực tế, là do sự đóng góp của một đội ngũ kỹ sư, thợ máy, và các nhà vật lý.

7/ Huyền thoại động não:
Quá trình động não thực sự cần một quá trình tám giai đoạn: – đặt câu hỏi đúng, – có chuyên môn, – chiêm nghiệm, – tâm trí không bị bận tâm để tiềm thức có thể ủ, tạo ra ý tưởng (đây là phần não), – hợp nhất ý tưởng, – lựa chọn những ý tưởng tốt nhất, – và cuối cùng, làm một cái gì đó từ những ý tưởng tuyệt vời của bạn.

8/ Huyền thoại dính kết:
Cần có sự chỉ trích phê bình đi đôi với đề nghị sửa đổi.

9/ Huyền thoại ức chế:
Tất cả sáng tạo cần một số ức chế. Tất cả các nghệ thuật cần một cấu trúc. Một số bài thơ sáng tạo nhất có nhiều hình thức cố định như các thể thơ haiku của Nhật hoặc thể sonnet của thơ tiếng Anh.

10/ huyền thoại bẫy chuột:
Nếu bạn xây dựng một cái bẫy chuột tốt hơn, rất có thể là thế giới sẽ không đóng cửa bạn. Có nghĩa là bạn cần kiên trì vì không phải lúc nào mọi người cũng công nhận những ý tưởng tuyệt vời của bạn.

ĐỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ TÂN HÌNH THỨC

Nguyễn Lương Ba

Các nhà thơ khi đến với thơ Tân hình thức có thể đã có cùng một mục đích. Đó là:

1- Nói lên một cách có ý nghĩa các sự việc diễn ra trong một thế giới rộng lớn hơn.

2- Diễn đạt qua mọi hình thức nghệ thuật khác nhau, kết hợp được giữa thơ truyền thống và thơ hiện đại.

3- Dùng ngôn ngữ đời thường mang không khí truyện kể đến người đọc.

4- Áp dụng Thơ không vần và Hiệu ứng cánh bướm qua các biểu tượng và chủ đề vừa thâu tóm sự đời vừa mở ra một sự đời mới.

Như vậy thơ Tân hình thức diễn tả tự nhiên, ngôn ngữ không bị ức chế hoặc vụng về lúng túng. Bút pháp chỉ định một thái độ của người làm văn chương trước cuộc đời. Do đó văn chương phải được dựng xây, phát triển trong tương giao gắn bó thiết tha đến toàn bộ đời sống.

Người làm thơ trước tác phẩm thi ca của mình cũng không thể ở trong một cảnh ngộ tách rời với mọi người và công trình sáng tạo của nhà thơ thật ra là một thiên tính đến từ mọi người.

Trong khía cạnh ấy, thơ bao giờ cũng nói lên một ý nghĩa nào đó và sẽ được tác thành trọn vẹn hơn bởi người thưởng ngoạn qua những ý nghĩa được bao hàm. Thơ Tân hình thức trở về với ngôn ngữ bình , xử dụng âm điệu nói tự nhiên sẽ mang lại một ngôn ngữ thơ đặc biệt tiếp cận với người đọc.

Và khi xử dụng các thể 5, 7 hoặc 8 chữ là một khái niệm hoàn toàn mang tính mỹ cảm hay là sự đồng nhất giữa ý tưởng và hình thức sẽ tiếp tục thúc đẩy các nhà thơ trên con đường sáng tạo để trở về với đời sống con người mà hơn bao giờ hết với thế kỷ 21 tràn đầy biến động, từ khủng bố qua bệnh tật, từ chiến tranh hủy diệt đến phân tán ý thức hệ, từ nghèo đói đến thiên tai, từ bạo động đến suy thoái gia đình đang đẩy thế giới vào những xáo động ghê gớm chi phối toàn bộ đời sống của mọi người.

Một quan niệm như vậy làm xuất hiện một nhãn quan mới để diễn dịch những ý nghĩa mới. Các nhà thơ tự chọn cho mình một ý nghĩa (như Diễn Đàn Thi Giới Chống Chiến Tranh). Và đây cũng là thời điểm cho các nhà thơ với những đặc điểm của thơ Tân hình thức – một hình thái hoạt động tinh thần tích cực – để khai mở những ý nghĩa, đi tìm các thuộc tính của xã hội. Nói rằng thơ Tân hình thức có đặc điểm là vì khi trở về với ngôn ngữ nói thông thường là một cách nhìn nhận xã hội như một biểu lộ đời và người.

Do đó mỗi người phải chuẩn bị cho mình hai con đường: từ ngôn ngữ đến đời sống và từ đời sống trở về ngôn ngữ. Dẫu cho ngôn ngữ có thể là ngưỡng cửa của im lặng vì ngôn ngữ không bao giờ nói hết. Tuy nhiên giá trị của ngôn ngữ là thiết lập một phạm trù ý nghĩa đưa đến những hoạt động của đời sống xã hội, diễn tả và xây dựng như là một tập hợp những hoàn cảnh cá nhân và tập thể trong ngôn ngữ.

Kể từ mùa xuân năm 2000, lần đầu tiên khái niệm về thơ Tân hình thức được đề cập đến trên tạp chí Thơ đã đánh dấu một khúc ngoặc trong nền thi ca Việt. Và cho đến nay thơ Tân hình thức đã trở thành một dòng thơ như một tác động nhằm đưa con người trở về đời sống hiện thực vừa dung hòa những âm vang của nền thơ cổ điển và những khát vọng về một nền thơ hiện đại nhằm xoay chuyển và biến đổi những giá trị được sáng tạo theo một nhịp chuyển động mới.

Những sáng tác mới về thơ Tân hình thức được đông đảo các nhà thơ trình bày thường xuất hiện trên tạp chí Thơ (mỗi năm 2 số, xuất bản tại Hoa Kỳ). Đây là giai đoạn khởi đầu với những nhà thơ nổi tiếng trong sinh hoạt văn chương và có nhiều kinh nghiệm trong nhiều thể thơ khác nhau.

Đến với thơ Tân hình thức như một thử thách bản thân về sự tìm kiếm những giá trị mới. Họ đã cho xuất bản những tác phẩm thơ Tân hình thức và cũng đang chờ đợi sự đóng góp từ phía độc giả.


Xin được giới thiệu một số tác phẩm trong tập Gene Đại Dương của Hà nguyên Du

Năm 2001, nhà thơ Hà Nguyên Du cho xuất bản tập thơ Anh Biết, Em Yêu Dấu. Ông được các nhà phê bình đánh giá như một nhà thơ có khuynh hướng cách tân, muốn làm mới thi ca. Cách tân là một ý thức cải hóa mà nghệ thuật phát biểu luôn hướng về thực tiễn xã hội để thể nghiệm các giá trị của mình.

Ý thức này báo hiệu cơn khủng hoảng của quy luật xã hội và mở ra những triển vọng về những giá trị mới. Nó bày tỏ rằng đang có một viễn tượng giá trị khác.

Đọc tập thơ Anh biết, em yêu dấu bao gồm nhiều bài thơ được viết từ nhiều thể loại, thật ra rất khó nắm được khuynh hướng sáng tác của tác giả. Ông có những bài thơ mang âm hưởng của thời kỳ Thơ Mới với vần điệu và tâm tình lãng mạn của tình yêu như bài:

Em có về ta

Hãy hót vườn ta chim xanh nhỏ
Số kiếp tang bồng vườn cũng khô
Tình như lá uá rơi đầy ngõ
Em có như mưa giọt xuống mồ…

Có thể thấy ông bị ảnh hưởng qua nhà thơ Đinh Hùng

Hình tượng xuân xưa

Mái tóc thương xuân gió chải hờ
Bên em trời đất bỗng hoang vu
Bước chân in dấu buồn nguyên thủy
Nỗi nhớ xanh màu núi cổ sơ…

Đến những bài thơ phá thể từ lục bát qua tự do, 5 chữ, 7 chữ đều bị ông xáo trộn. Mọi trật tự đều bao hàm bạo động. Đó là quy luật của lịch sử. Bạo động trong văn chương là một trách nhiệm lý thuyết, căn cứ trên những giá trị tinh thần.

Ý hướng cách tân là luôn luôn mang khát vọng nền tảng đồng thời vượt trên những khát vọng đó khi thực hiện.

Ông đẩy thơ lục bát vào hình thức thơ xuôi:

Ca dao tôi 

1. qua sông nhớ những nhịp cầu
qua truông còn thấm nỗi đau nghiệt đời,
qua đêm càng quý mặt trời,
qua nhân gian thấy tình người nổi nênh,
qua đâu mà chẳng qua em ?
qua muôn thách đố qua phiền lụy vây,
qua ai qua chùm vạ lây,
qua non nước khốn qua đày khắc lao,
qua sông nhớ những nhịp cầu,
qua sông qua với tầm dâu ngặt nghèo…  

Đây cũng chỉ là những biến dạng hình thức như một nỗ lực tinh thần từ đó nghệ thuật hướng đến. Bên cạnh những bài thơ lãng mạn cổ điển, ông cũng đẩy thơ vào thế giới trừu tượng vượt qua bình diện cảm quan:

Thông điệp mây đen

1.

thông điệp mây đen
lời xám ngắt
ngón tay chớp bể
bàn chân mưa nguồn
mặt nạ khua reng
cầu chứng mà mắt
thức tỉnh hết khái niệm
hẳn là dòng sông
luôn đầy ngư phủ

Nhưng chính trong thế giới trừu tượng này, đặt ra một sự đương đầu bất tận giữa những danh từ đưa đến sự dằn co, tranh chấp và có thể đến cả sự lạm dụng danh từ gây nên trường phái chính thống.

Nhà thơ Hà Nguyên Du do dự giữa một bên là cái đẹp, cái khêu gợi cảm quan, một bên là sự bất an của ngôn ngữ do những ngộ nhận gây ra. Cái đẹp là đời sống ban đầu của Cái đẹp là đời sống ban đầu của tác phẩm tác động đến người thưởng ngoạn bằng cảm tính chỉ có giá trị đối với những đối tượng đi tìm nó.

Còn ngôn ngữ bất an đặt vấn đề về mối tương quan giữa ngôn ngữ và đời sống xã hội nếu hiểu rằng cuộc sống con người được cảm thông tốt đẹp thì ngôn ngữ là cơ cấu tác thành sự kiện đó.Và cũng trong nổ lực tìm tòi sáng tạo, ông đã mang đến cho độc giả tập thơ Tân hình thức, tựa đề:

Gene Đại Dương

Trở về với ngôn ngữ nói thông thường, mang không khí truyện kể, dùng lại thể thơ 5,7 hoặc 8 chữ bám vào đời sống hiện thực, diễn tả hoàn toàn tự nhiên. Đó là những đặc tính tìm thấy trong Gene đại dương:

em mưa trên ta

em yêu ta ơi em là chim
én báo xuân vui và rồi chim
én bay đi cho hè sang ve
e a ru lòng tương tư không
êm đềm cho tim lưu ly xin
em mưa trên ta vườn khô như
em gieo hồng ân trong nhau
không e dè chi nên tin yêu hơn

Một bài thơ khác:

mơ bữa ăn có thêm chút rau và miếng bột ngọt cho con bớt lòi xương mông bớt lộ con mắt đời bác nông vẫn mòn mỏi không thấy chi ngày hai buổi mang trên vai như ách trâu cày và mụ vợ buôn mủng bán thúng cứ mải miết với nắng gió rách tơi áo đầy mảnh vá lạnh buốt đông về tội chi mà thê lương oan khiên kẻ bị khinh

miệt bần hèn nhưng ơi hắn chính là một cơ phận cần có trong một bộ máy xã hội một bộ máy cỗ lỗ mong vứt đi để có cơ hôi thay một cái máy mới vận hành tối tân…

Người đọc có thể hơi ngỡ ngàng trước một bài thơ như vậy. Bởi vì thơ Tân hình thức đã chuyển từ âm vang của chữ sang cú pháp. Đọc có thể như đọc truyện. Kỹ thuật lặp lại được xử dụng như một yếu tố thay thế vần. Phản hồi và trùng lặp sẽ mở rộng bài thơ như những làn sóng lan. Mỗi lần lặp lại có thể chuyển qua một ý tưởng mới ảnh hưởng bởi lý thuyết Hỗn Mang (Chaos):

kèn, đuốc và nến

từng hồi từng hồi rền  vang nhịp điệu lúc bi lúc hùng, nhịp điệu theo bước lập lòe của những ánh đuốc, những ánh đuốc làm mẫu tiên phong và cứ từng hồi và cứ lập lòe cứ hết thế hệ này sang đến thế hệ khác, vẫn một điều

thương tâm nhất vẫn là những tàn lụi của ngọn nến, những ngọn nến tàn lụi bởi những tiếng kèn bởi lập lòe của bao ánh đuốc, những ánh đuốc soi dẫn đến những ánh đuốc tìm kiếm tông tích như một đáp số của các bài toán, dù kèn

thúc quân hay kèn truy điệu dù đuốc soi dẫn hay đuốc truy tích dù nến sinh nhật nến liên hoan nến tưởng niệm sau cùng vẫn là kèn vẫn là đuốc vẫn là nến gặp nhau trong ngày … một ngày tiễn đưa nhau!! 

Thơ Tân hình thức vẫn đang trong thời kỳ thử nghiệm. Học hỏi từ nền thơ hiện đại của Mỹ mà phong trào thơ Tân hình thức (New Formalism) đang là chuyển động chính ảnh hưởng đến cả nền thi ca thế giới trong nửa thế kỷ nay.

Trở về với thơ Việt, sau một thời gian dài gần 100 năm của thơ Tự Do, đây cũng là cơ hội để chúng ta học hỏi thêm không những về sự cần thiết phải thay đổi kỷ thuật mà thơ còn chuyển tải một nội dung phù hợp với thời đại chúng ta đang sống trong những chiều hướng có ý nghĩa.


Xin mời đọc tập thơ online trên web này trên

ISSUU HÀ NGUYÊN DU | ISSUU THƠ TÂN HÌNH THỨC | ISSUU VĂN HỌC MỚI

THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT: KỂ SAO HẾT ĐƯỢC…

THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT: KỂ SAO HẾT ĐƯỢC…


ĐỖ QUYÊN
Tham luận Hội thảo khoa học THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT – TIẾP NHẬN & SÁNG TẠO
Tạp chí Sông Hương, Huế – 4/2014


  • Thơ là văn xuôi xuống dòng. Trần Dần
  • Bài phê bình với tư cách một văn bản sẽ là đối tượng của một bài phê bình khác. Về bản chất nó cũng là tác phẩm nghệ thuật hư cấu. Jacques Derrida
  • Thơ vừa quên vần. Thơ quan hệ ở cốt chứ không phải ở cách. Viên Mai

 

I. “Bài thơ” mừng Hội thảo …ôi kể sao hết được những gì về tân hình thức việt hôm nay như bolsa mênh mông chợ việt như sông hương sừng sững núi ngự ôi kể sao hết được những gì về tân hình thức việt ngày mai… 1
II. Tân hình thức trên bậc thang sáng tạo thơ Việt theo trường phái, trào lưu

22 năm; kể từ sáng tác được nhiều người xem là đầu tiên của Thơ Tân hình thức Việt2 bài Những nụ hồng của máu 3của Nguyễn Đăng Thường (5/1991). Và 13 năm; kể từ “tuyên ngôn” không chính thức về một thể thơ Việt không vần của một số nhà thơ Việt hải ngoại trên Tạp chí Thơ đầu năm 2000 với Khế Iêm4là chủ bút và cũng là đồng tác giả khởi xướng trào lưu, qua sự kiện lần đầu tiên chính thức dùng thuật ngữ Tân hình thức (New Formalism) của thơ tiếng Anh từng được phát triển ở Mỹ vào những năm 1980-1990.

“Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”? Hôm nay, Hội thảo khoa học về Thơ Tân hình thức Việt lần đầu tiên trên thế giới đang trả lời…

Sẽ không quá lời khi coi đây là lần đầu tiên trong lịch sử phát triển văn học Việt Nam, một trào lưu thi ca – có lý thuyết bài bản, có tranh luận sôi nổi, có thời gian thử thách, có ảnh hưởng dư luận và nhất là có thực hành sáng tác rộng khắp trong và ngoài lãnh thổ quốc gia – đã được cộng đồng văn học chấp nhận về học thuật. Trong môi trường lý luận, phê bình và sáng tác văn nghệ Việt Nam lâu nay chưa có tập quán trường/ phái/ nhóm, đây nên được xem là bước chuyển đổi ghê gớm5.

Trước hết, xin trích lược một số ý từ bài vở trước đây của chúng tôi về đặc điểm trường phái của thơ Việt, qua đó tìm thấy vị trí Tân hình thức Việt.

  • Theo dòng chảy của tri thức và sinh hoạt văn hóa, các trường phái văn nghệ sinh ra là để… chết. Chết khi hết vai trò. Và lưu lại trên sân sáng tạo của ngôi nhà nhân loại một viên gạch của riêng mình. Nói về trường/ phái/ nhóm thơ theo cùng thi pháp, phong cách, hơn một thế kỷ qua ở Tây phương, nhất là Pháp, Mỹ đã từng rực rỡ biết bao mặt-trời-thơ nhỏ to khác nhau. Các trường phái nghệ thuật Tây phương thành quả hơn ở Đông phương, phần vì đã mang tinh thần tự do cá nhân – yếu tính của văn hóa Tây phương – vào sinh hoạt nghệ thuật nhóm phái, khuynh hướng. Tất nhiên còn nhờ các lý do khác, như bài bản, nhà nghề, kỷ luật, biết chịu nhau… Rất ít sinh hoạt trường phái văn nghệ Việt Nam thực hiện ngon ngọt tiêu chí coi nghệ thuật là mục tiêu; vì đa số nhà cách tân thường là nạn nhân cụ thể của một sự mất tự do nào đó. “Thi ca đã chọn chúng tôi!” Độc quyền làm tiền vệ, độc tài cách tân – đó vẫn là lề lối làm việc của đa số trào lưu nghệ thuật Việt xưa nay dù ở trong hay ngoài vòng chính trị. Nếu chưa có được các nhóm nhà thơ, các câu lạc bộ văn học thứ thiệt thì văn nhân Việt đương đại quả là chưa biết cách hiện đại hóa một dân tộc thi sĩ, một đất nước thi vị. Như vẫn còn đó một làng thơ của sáo diều giữa làng toàn cầu trên bàn phím6.
  • Với thơ Việt, từ thời Thơ Mới tới thời hiện đại rồi hậu hiện đại, đôi lúc lấp lánh các vì sao lạ, dự phần tỏa sáng bầu trời thi ca nước nhà. Không kể phong trào Thơ Mới như cuộc cách mạng nghệ thuật theo sau cuộc vận động toàn xã hội, trong một số tập hợp văn học có chung quan niệm thay đổi thi pháp, thơ Việt dường như chỉ có 5 nhóm văn nghệ, trường phái tạo ra hoặc liên hệ tới thi pháp7: Xuân Thu Nhã Tập, Nhóm thơ Bình Định/Trường thơ Loạn, Nhóm Dạ Đài, Thơ Tân hình thức Việt, và Nhóm Mở Miệng. Ngoài Nhóm thơ Bình Định, 4 nhóm phái còn lại đều có cao vọng – và ít nhiều đã tuyên ngôn hoặc thực hiện – ra khỏi thi pháp Thơ Mới.
  • Thi pháp Thơ Mới trong cuộc cách mạng lần thứ nhất đã lật lịch sử thi ca Việt Nam sang “chương hai”, từ ý niệm thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật thời trung đại sang quan điểm hiện đại cùng các nền thơ khác trên thế giới. Tới nay cuộc cách tân thơ Việt về thi pháp với những đại biểu, theo thứ tự và thành tựu là: 1- Nguyễn Đình Thi (1946; tiên phong, dang dở); 2- Thanh Tâm Tuyền (1955; ảnh hưởng lớn, hiệu quả); 3- Trần Dần (1963; ảnh hưởng lớn, thể nghiệm); 4- Nguyễn Quang Thiều (1992; ảnh hưởng đáng kể, còn tiếp tục); 5- Thơ Tân hình thức Việt (2000; ảnh hưởng đáng kể, còn tiếp tục); Nhóm Mở Miệng (2001; ảnh hưởng giới hạn, thuộc về các vấn đề ngoài thơ).

Một cách tương đối, nếu xem hành trình sáng tác theo 4 bậc thang – Cách mạng (Cải cách) thơ: cần văn hóa, thời đại mới, thông qua chủ nghĩa, triết thuyết mới; Cách tân (mở đường) thơ: cần thi pháp mới, tạo khuynh hướng mới; Đổi mới thơ: bằng bút pháp mới tạo lối viết mới; Sáng tạo thơ: qua phong cách mới với thủ pháp mới – thì Thơ Tân hình thức Việt ở bậc thang Cách tân.

  • Thi ca là triết học cất cánh, bay vào trái tim người rồi bay ra cuộc đời. Chúng ta cần có một chương trình nghiên cứu hệ thống và thực dụng về các hướng đi mới-khác-lạ của thơ Việt mà trước đây chúng chưa đi hết, đến nay chúng chưa đi tới. Văn hóa nào cũng có thơ ca làm tinh hoa. Từ lâu người Việt thường an phận rằng văn hóa Việt không có luận thuyết theo quan niệm Tây phương, rằng tư duy văn học – nghệ thuật Việt không theo tinh thần lý thuyết, duy lý như ở Âu châu, phong cách khoa học thiết thực Bắc Mỹ. Trong 4 nhóm, trường thơ Việt (Nhóm thơ Bình Định/ Trường thơ Loạn, Xuân Thu Nhã Tập, Nhóm Dạ Đài và Thơ Tân hình thức Việt), thiển nghĩ, đến nay Xuân Thu Nhã Tập duy nhất là nhóm phái có lý thuyết thơ hài hòa Đông Tây, có thực hành đủ thuyết phục về chất lượng và được giới học thuật chính thống quan tâm (dù chậm đến 40 năm) mà trên thực tế vẫn bị xem là không thành quả: trái thơ Xuân Thu Nhã Tập hậu thế khó ăn nổi, chỉ nên chiêm bái. Cần tri ân các xu hướng, cách viết mới cho thơ Việt từ một số ít cá nhân độc lập trong quá khứ chưa được, hay chưa thể, trở thành trường phái hoặc trở nên có lý luận như ở các hiện tượng Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Dương Tường… Và cũng nên ghi nhận trong mươi năm qua những khởi xướng, thử nghiệm mang yếu tố hậu hiện đại của Khải Minh (thuyết thơ cấu), Đặng Thân (thủ pháp thơ phụ âm), Nguyễn Tôn Hiệt (thủ thuật thơ thực hiện), nhóm nhà thơ của Ban nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, Ngu Yên (thơ trình diễn) và đôi ba nhóm/ thi sĩ khác.8

Thơ Tân hình thức Việt đã tự và đang được khẳng định như một tiến trình đầy thử thách mà thành đạt trong sự nghiệp đổi mới nghệ thuật thi ca Việt, bắt đầu từ sự kiện cuốn sách Thơ không vần – Blank verse song ngữ Việt-Anh xuất bản tại Mỹ vào tháng 5/2006 gồm 65 tác giả ở trong và ngoài Việt Nam. Bài tựa của Khế Iêm, Tân hình thức bước ra từ nền văn học suy tàn, toát lên cao vọng với niềm “cực đoan dễ thương” thường thấy ở các nhà khai phá kiên tâm và thực tài.

Cuộc tranh luận ở hải ngoại kéo dài trong các năm 2002-2006 dàn trải trên nhiều diễn đàn, rạo rực và căng thẳng. Mở đầu mạnh mẽ và bài bản nhất là bởi Nguyễn Vũ Văn và rồi sự khơi lại coi như khép màn cũng khá căn bản bởi Chân Phương. Bất chấp, chúng tôi vẫn thấy các thảo luận là lành mạnh và khoa học xét về văn hóa và kiến thức tranh luận. Một đóng góp bức thiết để khai triển thi pháp thơ Việt Nam. Kết quả mà Khế Iêm cùng các bạn thơ trong thi phái làm được là cao hơn nhiều bên mức độ cảm thụ thơ cùng sự phát triển văn hóa ở người Việt hải ngoại và người Việt Nam nói chung. Giá như nhóm Tân hình thức Việt giảm thiểu ý nghĩa “chuyển lửa Tân hình thức Mỹ” cho văn chương Việt, cho người Việt ở hải ngoại và ở Việt Nam thì sự tranh luận chắc sẽ dịu đi phần ồn ào về hình thức không đáng có. Khai thông nghệ thuật, mở ra một quan điểm mỹ học khác cho một cộng đồng là nhu cầu nội tại của chính cộng đồng với dòng văn hóa của nó chảy trong thời đại của nhân loại. Chỉ khi đó “cây” tân nghệ thuật mới có thể tỏa ra ngoài bóng hình của mình.9 Trong sinh hoạt văn hóa và văn học, giữa cả ngàn báo chí in giấy và trên mạng của cộng đồng người Việt ở ngoài nước từ 1975 tới nay, nếu chỉ được kể 3 diễn đàn thì với chúng tôi Tạp chí Thơ10, cùng với Tập san Hợp Lưu và Báo mạng talawas, là có giá trị nhất về phẩm chất văn chương và tính khai phá báo chí. Một trong các giá trị của Tạp chí Thơ là đã làm cái nôi, làm ngôi nhà cho sự hình thành, phát triển dòng Thơ Tân hình thức Việt.

Âu cũng nhờ thuận lợi trong chủ trương của diễn đàn này: vì văn chương và của văn chương. Nói về thể loại, hầu như các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng thơ (và nhất dịch thơ) là thành tựu lớn nhất của văn học Việt hải ngoại. Nói về phong cách và thẩm mỹ, Thơ Tân hình thức vẫn đứng đầu, kế sau là trào lưu hậu hiện đại, phong cách hiện thực thần kỳ, văn học nữ quyền, mỹ học của cái tục, của thân xác, v.v… Đứng đầu không chỉ ở phong trào sáng tác mà còn ở tiếp nhận lý thuyết từ văn học quốc tế qua những sáng tạo mới mẻ chứ không chỉ nối tiếp, minh họa.11

  • Có thể nói gọn nơi đây trọng điểm trong lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học Việt hải ngoại: Tiếp nhận, phát triển, sáng tạo khuynh hướng riêng (Thơ Tân hình thức Việt) từ các trường phái trên thế giới, sáng tạo thuyết mới, kỹ thuật mới (Thơ cấu, Thơ thực hiện); Truyền bá, dịch thuật các lý luận, học thuyết, khuynh hướng mới, các tác giả, tác phẩm đang nổi tiếng của văn học thế giới mà đối tượng chính là độc giả trong nước; Tái giới thiệu, phê bình và mạnh nhất là phê phán, bài bác các bất cập, nhược điểm, sai lầm, các sự kiện, vấn đề mới lạ từ văn học đương đại trong nước; Giới thiệu các tác giả, tác phẩm, sự kiện văn học hải ngoại; Công kích, phản bác các tác giả, tác phẩm, sự kiện văn chương khác chính kiến; và tất nhiên ưu tiên số 1 vẫn là Quảng bá, tái thẩm định, phê bình theo hướng bảo vệ, duy trì văn học miền Nam trước 1975 và các “vùng trắng” trong văn học hiện đại Việt Nam, nhất là ở miền Bắc, cùng những vấn đề kinh điển của văn học Việt…

Trào lưu Tân hình thức Việt phát sinh ở Mỹ, từ “thủ phủ Bolsa” của người Mỹ gốc Việt, rồi phát triển ở hầu khắp hải ngoại và ở cả Việt Nam ngay từ 4-5 năm đầu cho tới nay; và cuối cùng nó đã chọn Việt Nam là nơi làm cuộc tổng kiểm thảo đầu tiên bên sông Hương núi Ngự dưới mái nhà Tạp chí Sông Hương như một diễn đàn văn học có thẩm quyền và sáng giá vào loại nhất không chỉ của địa phương mà của cả đất nước Việt Nam. Một hành trình thơ sôi nổi nằm gọn trong cả hành trình đầy thương đau và lạ lùng của người Việt từ thời hậu chiến đến thời toàn cầu hóa. Hỏi có gì hơn thế khi muốn nói văn chương là con đẻ của thời đại, của cuộc sống? Hỏi có gì hơn thế khi muốn minh họa cho sự giao hảo để mà từ đó có thành phẩm chung giữa văn hóa Đông phương và Tây phương vốn mang nhiều khác biệt, bất đồng?

Liên quan tới khái niệm thơ không vần, không kể thể thơ văn xuôi bộc phát tiếp nhận từ văn chương thế giới, trong quá trình phát triển thơ Việt Nam có 2 cuộc cải cách xa nhau đúng nửa thế kỷ mang ý nghĩa phá thể 12, với thơ Nguyễn Đình Thi (1949) và Thơ Tân hình thức Việt (2000). Thơ không vần (so với Thơ Mới thời đó) của Nguyễn Đình Thi là loại thơ phá thể đầu tiên từ thơ tự do mà hiện nay thơ tự do đã phổ cập tới mức như một dòng chính song hành với tất cả các thể còn lại. Tại đây, người viết muốn trang trọng đưa ra so sánh: sông Hồng là dòng thơ truyền thống vần điệu Việt và sông Cửu Long là dòng thơ tự do cách điệu Việt 13. Bất toàn về thi pháp, bất thành về số lượng, bất dung về ảnh hưởng; nhưng chỉ riêng nhịp điệu Nguyễn Đình Thi đã đi trước thời đại và được chuyển giao đến thơ tự do không vần Thanh Tâm Tuyền (1956) mỹ mãn cả về thi pháp lẫn thực hành cùng ảnh hưởng, dù chậm trễ do cản trở ở nhận thức người đọc và thời cuộc đất nước. Trên con sông thơ tự do, thơ không vần Nguyễn Đình Thi là của số đông, thơ không vần Thanh Tâm Tuyền là của Thanh Tâm Tuyền mà số đông cần có như một bến trên.

Sau Hội thảo này, nơi hưởng lợi nhiều nhất không chỉ là Tân hình thức Việt, mà còn là mọi sáng tác và sinh hoạt nghệ Việt Nam theo cung cách trào lưu, nhóm phái… Đã đành thơ hay có thể không cần trường phái, và thường là thơ hay theo-kiểu-bình-thường thì không theo trường phái nào. Nhưng thơ trường phái sẽ tạo cơ hội cho thơ hay phải nảy nở theo hướng khác, và bắt buộc thơ-hay-theo-hướng-cũ phải hay hơn nữa nếu không muốn bị vượt qua. Dùng cách nói chính trị, nếu thơ trường phái không đủ mạnh để làm đối lập hay đối trọng, thì chí ít nó cũng làm phản biện cho thơ không trường phái.

III. Triết lý của Tân hình thức Việt
III. 1. Tóm tắt Triết lý Thơ Tân hình thức Việt tỏ ra rất… hình thức. Thoạt nhìn hơi cồng kềnh, khá rắc rối; nhưng nếu nắm được cột kèo, đầu mối thì chẳng qua là một cách làm thơ dẫn cảm xúc theo tư duy.

Năm nội dung thi pháp Tân hình thức Việt: 1- Đặc trưng thể loại: Không vần, nhịp điệu khác hoàn toàn thơ bình thường; 2- Hai kỹ thuật tiên quyết: vắt dòng, tức xuống dòng theo số chữ (nói chung 5 đến 8 chữ), và lặp lại; 3- Tứ thơ theo một “chuyện” nào đó, tức có tính truyện; 4- Ngôn ngữ: đời thường, thông tục; không biện pháp tu từ; 5- Chất liệu: cuộc sống thường nhật.

Có nghĩa là, loại thơ Không Vần Việt này đã tiếp nhận đủ 4 yếu tố (từ 2 đến 5 trong danh sách trên) của thơ Không Vần Anh ngữ để làm nên một thể riêng biệt trong thi ca Việt. (Khế Iêm, Chú thích 23).

Bài Vệt mực và tờ giấy của Nguyễn Tất Độ có thể coi là tương đối đại diện cho phong trào về phương pháp thể hiện và thế hệ sáng tác. (Xem Phụ lục 1-).

Hạn chế về thi pháp Tân hình thức cũng rất rõ: tuy nương vào hình thức vuông vức của thơ niêm luật, Thơ Tân hình thức Việt phá khuôn phép cực đoan và diễn giải nghiêm chỉnh của các thể tài thơ truyền thống, thơ tự do bằng các thủ pháp cực đoan và diễn giải đơn điệu của mình, với ý đồ “chấm dứt và thanh lọc ngôn ngữ và phong cách thơ tự do và vần điệu”.

Bàn về 5 nội dung trên đã có trong nhiều tiểu luận, thảo luận trước đây, và hẳn sẽ có nhiều hơn ở các tham luận trong Hội thảo. Khi làm tuyển tập Thơ kể, thư cho tôi và chắc cũng vậy với các tác giả khác, vị chủ biên viết gọn, “cần các bài thơ có ý tưởng đặc sắc, ngôn ngữ bình dị và nhịp điệu hay”. Nghe qua thấy cũng như 3 tiêu chí thông thường cho nhiều loại thơ, nhưng cùng một “lò” ai cũng hiểu 3 cái ấy sẽ phải biến hóa ra sao trong Tân hình thức.

III.2. Nhận định chung Nền tảng lý thuyết và nhận thức thẩm mỹ của loại hình nghệ thuật mới này trong thơ tiếng Việt đã được Khế Iêm chủ ý và kiên tâm gầy dựng trong khoảng 15 năm qua với các công trình tiêu biểu mà hầu hết có nêu tại đây, trong đó quy tụ vào tập sách Vũ điệu không vần – Tứ khúc và những tiểu luận khác. (Xem thêm Văn Giá 14 và Phụ lục 7-).

Hy vọng Hội thảo sẽ là dịp thẩm định chất lượng học thuật và tính khả thi của chúng. Thật ra, ý nghĩa và khả năng của các lý thuyết định hướng không hề giống nhau trong khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn; ở đây lại là lý thuyết thơ, và cũng không là lý thuyết nghiên cứu thơ mà là lý thuyết sáng tác thơ! Dù có màu xám nào đó trong luận thuyết của Khế Iêm, Nguyễn Đăng Thường, Phan Tấn Hải… thì vẻ xanh tươi của phong trào thơ kéo dài hơn một thập niên với hàng trăm tác giả Việt trên hầu khắp thế giới đã nói lên tất cả. Với tôi, vào sân chơi khá trễ song nhận được nhiều chỉ dẫn bổ ích từ hệ thống quan điểm Tân hình thức. Riêng về mục đích và tương lai của Tân hình thức Việt, tôi lại không thấy như Khế Iêm và một số tác giả khác. (Xem tiếp dưới đây)

Kế thừa thủ pháp văn học của tiếng Anh từ chủ nghĩa Tân hình thức Mỹ 15, thể Thơ Tân hình thức Việt có cơ sở lý thuyết và lý luận – cùng các phản biện – vừa đủ khoa học, tiên tiến và thực dụng. Chưa một dòng thơ Việt nào trước đây được may mắn như thế! Thông thường, trong văn học thế giới và Việt Nam, nếu như các cải tổ đều có thể quy về 3 hướng: lựa chọn đề tài thức thời (nhân thế, thời cuộc), chuyển đổi tư duy nghệ thuật (quan niệm mới về hiện thực) và sáng tạo kỹ thuật viết mới lạ (thể loại, hình thức, phong cách lấn át nội dung), thì Tân hình thức Việt đã đồng loạt tiến hành cả ba chứ không chỉ quanh quẩn thủ pháp “đếm chữ ngắt dòng” nặng về hình thức như nhiều người nhầm tưởng.

Về quan điểm thẩm mỹ: từ sau Thơ Mới đây như một cuộc “tiểu cách mạng” khi phá vỡ tư duy thơ để tạo ra thể thơ mới chưa từng có, góp phần đưa thơ Việt trong tiếng nói thời hậu hiện đại đến với các nền thơ toàn cầu. Nó khước từ kiểu cảm xúc lộ liễu Đông phương (trữ tình luận – nói nôm là lấy nước mắt) mà theo lối mô phỏng Tây phương (tri thức luận – lấy cái đầu bảo trái tim).

Về loại hình, Thơ Tân hình thức Việt đong đưa giữa hình thức của thể thơ truyền thống Việt và hình thái nghệ thuật của thể thơ tự do Việt16. Trở về thơ truyền thống, cách viết Tân hình thức cũng dùng vài luật lệ bắt buộc, nhưng là để dẫn dắt cảm xúc theo tư duy chứ không duy trì cảm xúc nguyên chất. Các tiêu chuẩn kinh điển như nhịp điệu, niêm, luật bằng trắc, hiệp vận, âm luật, vần, khổ thơ… đều trọn gói trong 2 kỹ thuật vắt dòng và lặp lại. Về phương thức diễn ngôn, Thơ Tân hình thức không tả như thơ trung đại, cũng không gợi như Thơ Mới và thơ hiện đại. Nó kể, như một kiểu văn bản thời hậu hiện đại 17.

Không giống Thơ Mới và thơ hiện đại, cái tôi tác giả lúc này muốn đứng xa cái tôi đối tượng để như một “người máy” bị dẫn bởi lý trí chứ không bằng trực giác. Quyết định trong một hình thái thi ca là tính nhạc: quả là Thơ Tân hình thức Việt có giai điệu lập dị.

So với các thơ không-Tân-hình-thức giai điệu này không trầm bổng lục bát, không siêu thoát Đường luật, không khúc mắc siêu thực… Nó đơn điệu, nếu nghe bằng cái tai cũ. (Xem tiếp mục V.2.) Về cảm hứng chủ đạo, có thể xem Tân hình thức là một trong các cách kéo dài sang thơ của khuynh hướng văn học dòng ý thức khởi từ đầu thế kỷ 20 với đỉnh cao là phong trào Tiểu thuyết mới hồi giữa thế kỷ 20. Thủ pháp dòng ý thức tỏ ra hữu hiệu khi Tân hình thức muốn diễn đạt ý tưởng, cảm xúc theo những liên tưởng bất ngờ, liên tiếp, đôi khi bất thường, kỳ quặc. Nhà thơ Tân hình thức muốn độc thoại vô hồi hơn là đối thoại rành mạch. Kết quả của cảm hứng dẫn tới hành vi kỹ thuật là sự biến dạng của câu thơ – thành phần tạo nên tác phẩm. (Tiếp mục V.1.)

Về đề tài, “đời sống bình thường tự nhiên, thoải mái, thể hiện mong ước của con người mang tính nhân bản, niềm vui và hạnh phúc trong tinh thần cảm thông bình đẳng” của Tân hình thức rất dễ bị coi là ‘tân nội dung’ khi chỉ là những thứ lặt vặt, tầm thường (…) dễ dãi nhàm chán” (Phụ lục 9-; Mã Giang Lân). Quả vậy, nếu như không đưa tài thơ vào Thơ Tân hình thức! Thì cũng tựa như thế cho thơ Haiku cổ điển, với nội dung thuần thiên nhiên, không dùng cảm xúc, chỉ chép lại các thoáng nghĩ về sự việc vu vơ vụt hiện. Và cho rất nhiều loại thơ khác chuyên về một thể tài. Với tác giả riêng lẻ cũng vậy: đã có tài thơ thì văn học và văn hoá đại chúng Mỹ vẫn có một đại diện Charles Bukowski, ở loại thơ “chỉ là những thứ lặt vặt, tầm thường” được mệnh danh chủ nghĩa Hiện thực dơ bẩn (Dirty Realism); đã có tài thơ thì chỉ với một đề tài Hồ Chí Minh cao cả, thi ca cách mạng Việt Nam hiện đại vẫn có một phong cách nghị luận Hải Như. Cần thiết nêu lại luận cứ kinh điển: Một nghệ thuật đạt tới chỗ chỉ ra được trạng thái thế sự, tức là đã đạt tới trạng thái sử thi. Do vậy, có thể nó mang tính sử thi dù chỉ miêu tả sinh hoạt thông thường, không nhất thiết bao giờ cũng phải trực diện các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu. (G. W. F. Hegel; dẫn theo Lại Nguyên Ân18)

Trong các trao đổi (Phụ lục 9-) với Mai Văn Phấn cùng các bạn thơ đều không/ chưa là tác giả có thể thơ này, chúng tôi cho rằng Thơ Tân hình thức Việt nhờ tính truyện đã tạo được những thời khắc vụt hiện, mơ hồ trong cảm xúc. Một xung động mới của riêng mình sẽ đạt được, nếu khéo kết hợp tính bí ẩn Đông phương với tính thực tiễn Tây  phương. Cái bất ngờ của loại thơ kể gần giống trong truyện cực ngắn, nhưng không chỉ bằng điều bất thường, phi lý hay hư ảo. Mà là nhờ kỹ thuật lặp lại, cái vô lường được lớn dần và vụt hiện. Còn kỹ thuật vắt dòng thì đưa đẩy cái mơ hồ. Hai mâu thuẫn ấy góp phần tạo ra sự khó chịu của Tân hình thức ở những độc giả không chịu nó. Nhưng ai đã ưng, sẽ có lúc thấy nó “ngâm nga như khúc du mục, dân ca của các tay thảo khấu, hảo hán trên sông dưới núi Lương Sơn Bạc”. Thú vị ở chỗ cảm tưởng đó từ một bạn đọc trùng với lý luận của Đặng Tiến khi xếp “thơ Tân hình thức là một loại ca dao tân thời”. Trong thơ nói chung người ta tránh nhắc lại ý, coi đó như hồn vía ở một bài thơ, góp phần làm nên tứ. Thiêng lắm! Mà nếu phải lặp lại, tức có chủ ý nào đó. Ngược lại, Tân hình thức dùng sự lặp đi lặp lại, trước hết, như sự tồn tại của hình thức. Bí quyết lặp lại không thể giống nhau ở các tác giả và ở một tác giả cũng không giống nhau với mỗi bài. Đã và sẽ có nhiều người bảo vệ và phản bác kỹ thuật này; riêng tôi thấy nên nói như sau về một tiêu chuẩn của Tân hình thức: “Lặp lại với sự khác biệt”19.

Tom Riordan, thi sĩ kiêm biên tập viên trang mạng poetrycircle.com, một địa chỉ đáng kể trong sinh hoạt thơ Mỹ, đã nói về các sáng tác trong tập Thơ kể – Poetry Narrates:

  • “Thơ tiếng Anh thường vượt quá chủ đề để theo đuổi ý nghĩa; thơ tiếng Việt vươn một ngón tay ra và kể là may mắn nếu có thể chạm tới một góc cạnh của đối tượng, một cách chân thật. Trong ý nghĩa như vậy, truyền thống Việt chiếm lĩnh một không gian mà truyền thống Anh chưa vươn tới. Chúng ta coi sự hội nhập như một lý tưởng, và viết một cách ưu phiền và bực tức về sự tha hóa. Thơ Việt đánh liều với sự tha hóa, làm hòa với nó và khéo léo sàng lọc nó để có được những đồ quý giá.” (Phụ lục 8).

Các dịch giả Tunisia và P.K.T. cho rằng qua so sánh trên tác giả Việt có thể “rút tỉa kinh nghiệm về phương pháp thuật kể, bớt trừu tượng và gần với hiện thực hơn, như quan điểm của Thơ Tân hình thức Việt.”

Theo hướng tiếp nhận khác, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thái Hòa có ý kiến trung dung mà đúng thực trạng về Chùm thơ Tân hình thức trên báo Nghệ Thuật Mới:

  • “Có cái mới mà không chỉ là hình thức mới. (…) cả 8 người nhất loạt phá tung ngữ pháp tiếng Việt. Nói đúng hơn, khuôn khổ dòng thơ không tương đồng với mệnh đề ngữ pháp (…), phá vỡ luôn cả tiết tấu và nhịp điệu từ một câu văn nghiêm chỉnh, ý rất thẳng và mạch rất lộ để tạo ra thứ tiết tấu mới, rất mới. (…) Việc xáo trộn các thành phần cú pháp (phép đảo ngữ), việc ngắt dòng phi ngữ pháp (agrammatical) thiết tưởng không có gì mới, việc ‘đội mũ đỏ cho câu thơ’ (V. Hugo), nhiều lắm cũng chỉ ở giới hạn ở những biện pháp tu từ hạn hữu. Nhưng với các nhà thơ chủ trương Tân hình thức này thì thực sự là ‘băm vằm’ một câu văn xuôi chuẩn mực. Bất chấp những cụm từ quen thuộc, những từ láy, từ ghép thông thường. (…) Cả 8 bài thơ đều hướng vào trạng huống tâm lý không bình thường xuất hiện mỗi ngày (…) và họ đã thành thực phơi bày những cảm giác như có như không của một thế giới sâu kín. Dường như họ đi tìm cõi vô thức ở chính lòng mình để phát hiện mình và gợi ý cho người đọc tự phát hiện. (…) Theo ý riêng của tôi, chỉ có bài Con mèo đen của Khế Iêm là có thể làm được điều đó. Và như vậy, Tân hình thức lại phải có nội dung, nếu không thì chỉ là cái hộp ru-bic vuông chằn chặn không tìm ra khóa mở; hoặc ngược lại nó tung ra để thấy là…. không có gì phải mở.” (Phụ lục 8-).

Frederick Feirstein – một trong các tác giả “quan trọng nhất và độc sáng nhất” của Tân hình thức Mỹ – có nhận xét đáng giá về điều đáng giá nhất trong Tân hình thức Việt: “Việc sử dụng kỹ thuật vắt dòng cũng cho phép Khế Iêm viết nên những bài thơ tự sự ngắn vốn phụ thuộc vào tính liên tục của tư duy và cảm nghĩ. Dòng chảy này được tuôn trào dễ dàng hơn nhờ cách diễn đạt thẳng thắn của ông, là cách diễn đạt mà Trường phái Tân hình thức Mỹ coi là yếu tố quan trọng.”20

Năm 2007 trang mạng thotanhinhthuc.org tổ chức 2 giải thưởng Thơ Tân hình thức Việt như là giải thi ca đầu tiên cho người Việt toàn cầu. Nguyễn Tất Độ (sinh năm 1983, sống tại Việt Nam) là tác giả trúng giải lần thứ nhất với 12 tác phẩm. Giải lần hai với Biển Bắc (1977, Hà Lan) là nhà thơ được vinh danh. Tiêu chuẩn của 2 cuộc thi là sáng tác “phải có nghệ thuật (kết hợp các yếu tố thơ) và tạo được cảm xúc nơi người đọc”, tức là đạt được “chất thơ, nội dung và nhịp điệu riêng của Thơ Tân hình thức.” Mời xem trích lược kết luận của Ban tuyển chọn 21 về 2 nhà thơ đại diện đó (các chỗ nhấn mạnh của chúng tôi).

  • Về cảm xúc thơ, qua hai bài Một ngàn lời nói dốiCà phê sáng: “(…) cái cảm xúc tức thì mà hai bài thơ đã gây ra (…) là yếu tố quyết định gần như một nửa để mình thích một bài thơ hay không. Nguyễn Tất Độ đã bộc bạch ‘Thơ là phương tiện để giải bày bức xúc’ thì với hai bài thơ đã khiến cho người đọc cảm nhận đựơc những điều mà một lớp trẻ đang nhìn thấy nỗi bất lực trong bứt phá đổi mới không khí họ đang hít thở. Những câu lập đi lập lại trong cả hai bài tạo nên một âm thanh ray rứt và đầy tính kêu gọi khiến người đọc phải tự hỏi chúng ta sẽ làm gì.’ (Nguyễn Thị Khánh Minh)
  • Về tâm linh: “Trong 12 bài thơ mỗi bài đều có một góc cạnh triết lý về cuộc đời rất hay, còn về hình thức để tác tạo một bài thơ Tân hình thức thì chưa đạt được mức độ đỉnh cao. (…) bài Tôi đã làm như thế xem như vừa ý nhất (…) nói lên được ba góc cạnh của đời sống: Thân phận con người, hiện hữu của dòng đời và sự tĩnh mặc trong nội tâm. (…) Bài thơ chấm dứt bằng Thiền để tĩnh mặc.” (Linh Vũ)
  • Về ngôn ngữ thơ: “(…) bài thơ Những tòa nhà gần với ngôn ngữ Thơ Tân hình thức hơn cả, còn các bài khác vẫn còn là ngôn ngữ trừu tượng (có thể là cả nội dung nữa) của thơ tự do“. (Trầm Phục Khắc)
  • “Nguyễn Tất Độ và những nhà thơ thuộc thế hệ anh mới chính là những người khởi đầu khai phá Thơ Tân hình thức vì họ đang có rất nhiều thời gian trước mặt.” (Khế Iêm)
  • Thơ Biển Bắc đoạt giải vì có “ngôn ngữ đúng thực là ngôn ngữ đời thường. Phong cách và ý tưởng diễn đạt liên tục, khác với tính đứt đoạn của thơ vần điệu và tự do.

Toàn diện, mạn phép dùng chữ và lối bình của Viên Mai: Cho tới nay Tân hình thức Việt đã qua giai đoạn tiêm xảo để tới mức tân kỳ, chưa bình đạm vì còn khô khan, đang tung hoành mà chớ coi thường tạp loạn; Tiên sinh cũng từng dặn “mấy cái đó hình như giống nhau mà kỳ thực khác nhau, sai một ly đi một dặm.”22

III.3. Cứu cánh biện minh cho phương tiện

Về mục đích, Tân hình thức Việt là để đưa thơ Việt tới các nền văn hóa khác. Khế Iêm đã hơn một lần đóng đinh khẩu hiệu trên các bài vở, diễn đàn…23 Khi các nhà tiên phong phất cờ Tân hình thức Việt, đấy là mệnh đề hớp hồn nhất (kế tiếp là motto trang nhà Câu lạc bộ Tân hình thức thotanhinhthuc.org: “Vận động sáng tác và thảo luận”.) Một thiện ý chính đáng và hấp dẫn. Nó kích thích tinh thần truyền bá văn hóa, văn nghệ Việt ra trường quốc tế khi mà toàn cầu hóa đang là mục đích sát sườn của nhiều quốc gia, cộng đồng “tụt hậu”, “thiểu số”, “ngoài lề”… Và cũng là nguyện vọng ở rất nhiều tác giả thuộc về quốc gia, cộng đồng đó, ngay cả khi họ là thành phần, là công dân của các cường quốc, như trường hợp Tạp chí Thơ và nhóm Tân hình thức Việt tại Mỹ.

Dẫu vậy, theo chúng tôi, có sự bất cập trong “mục đích” như thế! Dễ thấy, ở từng thành phần thi pháp, dù có một số bản tính của thơ Việt nhưng Tân hình thức Việt chưa thể và sẽ là không thể tiêu biểu cho thơ Việt đương đại để “mang chuông (Tân hình thức) đi đấm xứ người”. Đó chỉ là – ngay cả khi thành tựu – một lối thơ đặc biệt như một hiện tượng, trong đó đặc biệt nhất là dễ chuyển dịch sang các ngôn ngữ khác. (Xem tiếp phần V.)

Chỉ cần nhìn trên bình diện lao động nhà văn sẽ thấy như có sự nhầm lẫn khi đã coi hệ quả làm mục đích/ cứu cánh ở đường lối Thơ Tân hình thức Việt. Không khó nhận chân rằng, xét cho cùng mọi hành vi sáng tạo nghệ thuật không có cứu cánh nào khác ngoài đáp ứng nhu cầu nội trạng của chủ thể sáng tạo. Chủ thể: đó là cá nhân tác giả; và trong không ít trường hợp, đó là cộng đồng, dân tộc có chung ngôn ngữ, văn hóa với tác giả. Các yếu tố khách thể và ngoại cảnh chỉ là hệ quả, là thứ sinh; nói nôm là “ăn theo”. Đặc biệt với việc chuyển dịch sáng tác văn học từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, nơi hưởng lợi – về tác động nghệ thuật – chính là quốc gia, văn hóa, ngôn ngữ đích. Tác giả cùng ngôn ngữ, văn hóa gốc hưởng các lợi ích thường là ngoài văn bản (tác phẩm) mà truyền bá, ảnh hưởng chỉ là một trong các thu hoạch trên “cánh đồng năm tấn” đó.

  • Nhưng, ngay cả khi bị quan niệm không chuẩn trong quan hệ nhân quả, thực chất của kết quả sáng tạo không thay đổi nhiều, miễn sao phương tiện phù hợp. Khác trong nhiều lãnh vực như chính trị, quân sự, kinh tế (mục đích của một cuộc cách mạng, một trận chiến, một quá trình sản xuất là bắt buộc phải thay thế chính quyền nọ, chiếm đoạt lô cốt kia, sở hữu phần trăm lời lãi này), trong văn nghệ “cách mạng” chân chính luôn chỉ là cải tổ phương pháp luận, chuyển hóa mỹ quan, đổi mới hệ hình… Nó phủ định, và có thể hà khắc tới mức đòi “chôn sống”, các thứ thi pháp cũ. Nhưng không! Hoàn toàn không, nó không hoàn toàn triệt tiêu thể loại, trừ hy hữu các loại hình cổ hủ cản phá tiến trình chung. Nó biến hoán các thể loại “truyền thống” sang những hình thái hợp thời. Đó chính là “hiện đại”. Dường như chỉ trong cách mạng văn học nghệ thuật, cứu cánh làm phương tiện – phương tiện là cứu cánh. Chính thi ca đã làm cho cái câu nghịch nhĩ mà người Pháp ưa nói, “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”24 trở nên thuận tai và còn có thể lái theo chiều ngược: Phương tiện minh họa cho cứu cánh. Vì cả hai đều thuộc về thi pháp. Trong nghệ thuật lẫn lộn, rối mù về định nghĩa, khái niệm, thậm chí quan niệm, luôn là “chuyện nhỏ” mà hầu hết các trường phái, xu hướng của lịch sử thế giới đều không sao tránh khỏi. Trường phái, trào lưu để làm gì? Kỳ cùng và trên hết: tác phẩm cho đương thời! Sau, ảnh hưởng tới các trường phái, trào lưu hậu sinh. Sau nữa, là vân vân và vân vân…

Khế Iêm cũng hiểu “giữa Tân hình thức Mỹ và Việt không hề giống nhau vì có hai mục đích khác nhau, chúng ta chỉ mượn thuật ngữ ‘Tân hình thức’ để giới thiệu vào thơ Việt một thể thơ mới. Thơ Tân hình thức Mỹ, sử dụng ngôn ngữ nói thông thường, để chuyển đời sống thực tại, xảy ra trong sinh hoạt thường ngày vào thơ.” (Chú thích 4). Inrasara và một số người, vì thế, gần thực chất khi nói thể văn học này là “cách để làm mới lại tính cổ điển trong thơ, nhằm kéo thơ đương đại lại gần với độc giả hiện thời hơn”25.

Thật ra, giống ở nhiều hoạt động văn nghệ khác, không mấy thi sĩ Tân hình thức Việt quá coi trọng “tôn chỉ” của cái nhóm làm thơ tự giác, phi tổ chức, nghiêm túc mà rất vui vẻ ấy. Họ “chơi” Tân hình thức, vì thấy mới lạ và thu về được kết quả của riêng mình. Tất nhiên, ít nhiều họ hiểu tài-tâm-tầm của Khế Iêm cùng các tác giả mở đường, cũng như về phong trào Tân hình thức Mỹ. Đúng như tiêu đề Thư mời của Ban tổ chức, họ “tiếp nhận” rồi “sáng tạo”. Như mọi trường phái văn học trước và sau Tân hình thức… Ôi, kể sao hết được

III.4. Quá khứ gần, tương lai gần và tương lai xa

Về tình hình sáng tác và quá khứ gần của Tân hình thức Việt, có nhiều điểm dễ thống nhất, như Inrasara – cô đọng mà đầy đủ – vừa trả lời phỏng vấn báo Văn Nghệ Trẻ 26. Còn về tương lai của nó, rất có thể không ít các Tham luận sẽ bất đồng27? Một loạt biểu hiện cụ thể và quyết định trong vài năm qua ở Việt Nam cho thấy phong trào đang được thừa nhận dần dần không chỉ trong dư luận mà cả ở một số diễn đàn, báo chí, xuất bản chính thống và uy tín.

Tuyển tập Thơ kể – Poetry narrates, Nxb Lao Động 2010, Lời giới thiệu của Angela Saunders, là tập thơ song ngữ Việt-Anh thứ hai của Tân hình thức Việt và là tuyển tập đầu tiên xuất bản tại Việt Nam, không kể vài tập thơ cá nhân như Đoàn Minh Hải (2002, 2013), Inrasara (2006), Biển Bắc (2012)… Tuy không lớn bằng tập đầu tiên Thơ không vần, nhưng qua 21 tác giả từ trong nước tới hải ngoại với nhiều tác giả mới nó đã được đón nhận hữu hiệu từ báo giới và độc giả28. Liệu có thể xem đấy như cú nhảy vọt thứ hai góp sức mạnh dẫn đến Hội thảo?

Lần đầu tiên ở trong nước, chuyên đề Thơ Tân hình thức do Tạp chí Sông Hương số 280 – tháng 6/2012 đã thực hiện chu đáo và ngoạn mục trên nhiều mặt, và trang nhà tapchisonghuong.com.vn có chuyên mục Thơ Tân hình thức. Đến tháng 9 báo Nghệ Thuật Mới của Hà Nội cũng dành chuyên trang do Văn Giá cùng Khế Iêm tuyển thơ của 8 tác giả Tân hình thức Việt, như là lần đầu tiên trên báo chí chính thống ở các tỉnh phía Bắc.

  •  Là một tạp chí địa phương mang tầm quốc gia, Sông Hương kể từ khi ra đời, nhất là thời Đổi mới và hậu Đổi mới đã đặc sắc ở chỗ tạo ra, tìm thấy các vấn đề và trong nhiều sự kiện đã giải quyết vấn đề với không ít gian nan. Tới các năm gần đây, lý luận và phê bình ở các đề tài vượt tầm quốc gia vẫn là thế mạnh mà Tạp chí luôn chiếm hàng đầu trên mặt bằng báo chí văn học Việt Nam. Mới nhất, hồi tháng 6, điều đó được thấy qua chính nhan đề diễn văn của Tổng Biên tập Hồ Đăng Thanh Ngọc (và cũng là một tác giả Tân hình thức có tiềm năng) – “Từ dấu mốc 30 năm thành lập, tiếp tục giữ gìn bản sắc Huế, tôn vinh các giá trị đích thực, cổ súy những trào lưu sáng tác mới” – và qua cả nội dung của bài29.

Bất ngờ trước tin vui ở Thư mời tham luận, tôi cứ cả nghĩ: không phải là Tạp chí này, diễn đàn nào ở Việt Nam sẽ làm một hội thảo tương tự? Nói tới đây, nhớ ngay lời tổ tiên nằm lòng con dân Việt mà sự chép lại âu cũng không dư: “Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Tạp chí Sông Hương chỉ là “một cây” – cây trụ trì! Và bởi thế cũng xin phép Ban tổ chức dẫn lại điều rằng, “Chủ trì hội thảo (dự kiến) gồm: Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (Viện Văn học Việt Nam – Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội), nhà thơ Inrasara (Phó Chủ tịch Hội đồng thơ – Hội Nhà văn Việt Nam)”30. Hỏi có một bàn chủ tọa nào đẹp và chuẩn hơn thế khi đưa Thơ Tân hình thức Việt ra để thẩm định, phê bình, đánh giá thành tựu, hạn chế một cách khoa học và chính thức?

Nêu trên trang mạng của mình khẩu hiệu Vận động sáng tác và thảo luận, nhóm Tân hình thức Việt đã thu hút số lượng tác giả và dịch giả đáng quý trọng ở cả 4 thế hệ Việt làm thơ. Số tác giả trong nước gần một phần ba (1/3). Số tác giả nữ khoảng một phần bảy (1/7). Có khá nhiều nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình thành danh của thế hệ U40: Đặng Tiến, Đinh Cường, Nguyễn Tiến Văn, Vũ Huy Quang, Nguyễn Đạt, Nguyễn Đăng Thường, Hoàng Xuân Sơn, Khế Iêm, Nguyễn Lương Ba, Nguyễn Đình Chính… Có không ít tác giả dường như nổi lên sau cao trào Tân hình thức: Biển Bắc, Gỷang Anh Iên, Nguyễn Tất Độ, Huy Hùng, Trần Vũ Liên Tâm…

Thư mời của Ban tổ chức đánh giá đến nay đã có hàng trăm nhà thơ theo đuổi Tân hình thức Việt, với khoảng 15 tập thơ Việt-Anh và sách lý thuyết được xuất bản trên khắp thế giới. Tạm tham khảo 3 danh sách trong 2 tập song ngữ đã nêu và danh mục trang thotanhinhthuc.org, chúng tôi có được con số khoảng 122 tác giả Thơ Tân hình thức Việt. Nếu bổ sung những vị chưa được danh mục cập nhật và từ các trang mạng, báo chí khác, sẽ khoảng 150 tác giả. (Chú thích 30)

Chỉ tính về số lượng, với một trào lưu mới, một thể mới của thơ Việt, được vậy là… ôkê salem rồi! Thử nhìn lên số lượng nhà thơ Việt nói chung và nhìn sang 2 phân loại khác. Với thể loại trường ca31, từ Thơ Mới tới nay (cập nhật 20/9/2013) dòng trường ca Việt có khoảng 426 tác giả, trong đó khoảng 305 tác giả trường ca và khoảng 121 tác giả thơ dài có chất trường ca. Với danh sách Các nhà thơ cần giải thích giá trị, hiện là 38 tác giả thì 5 người có sáng tác Tân hình thức (Xem Chú thích 38, 40, 85, và tiếp mục V.3.). Qua vài thống kê, chúng tôi ước tính có khoảng 2000 nhà thơ Việt Nam hiện đại. Tất nhiên tiêu chí của các danh sách nhà thơ Việt Nam hiện đại phải chặt chẽ và chính tắc hơn nhiều so với ở các danh sách phong trào, thể loại.

Trước thềm Hội thảo, ngày 28/9/2013, tại Salon Văn hóa Cà phê Thứ bảy TP HCM, một mini-forum mới và có nhiều phát hiện, Inrasara đưa ra cái nhìn sơ lược của một người trong cuộc xông xáo và thành đạt cả về sáng tác, phê bình lẫn trong truyền bá, xuất bản Tân hình thức ở trong nước. Tin vui giờ chót từ thông báo của Ban tổ chức: đến ngày 2/10/2013, có chừng 50 bài đăng ký từ các tham luận viên Việt, Mỹ; đã nhận được 15 tham luận (7 bài viết bằng tiếng Anh của các nhà nghiên cứu, nhà thơ nước ngoài; 8 bài viết bằng tiếng Việt từ các tác giả trong, ngoài nước.) Còn nữa: đầu năm 2014, Tạp chí Sông Hương sẽ tổ chức Cuộc thi Thơ Tân hình thức Việt ở phạm vi toàn thế giới. (Chú thích 25)

Thế là vượt thắng các đợt sóng phản biện, phản bác, chê bai từ ngay nội bộ Tạp chí Thơ cho tới nhiều báo chí, diễn đàn hải ngoại; bỏ qua những nhược điểm đương nhiên thuộc về ý đồ phủ nhận thể loại32 trong mọi lý thuyết mới, những hồn nhiên với thói quen cực đoan, đại ngôn cho một trào lưu; nhất là nhờ kiên trì theo đến cùng con đường mới với sự vận động sáng tác, nghiên cứu trong thi giới Việt và cả Mỹ; các thi sĩ Tân hình thức Việt, đi đầu là thi sĩ – lý thuyết gia Khế Iêm đang trao tặng thi ca Việt hiện đại một thể thơ mới và ổn định về thi pháp trên phạm vi chấp nhận được của cộng đồng văn chương Việt Nam và quốc tế.

Như nói trên, cá nhân người viết khó chia sẻ hoàn toàn ý tưởng dù đẹp mà Khế Iêm đoan quyết: “Chúng tôi tin rằng, chừng nào còn những nhà thơ có nhu cầu thay đổi và giao tiếp với thế giới bên ngoài, tìm kiếm người đọc từ các nền văn hóa và ngôn ngữ khác, thì thể thơ-không-vần sẽ còn là phương tiện hiệu quả và cần thiết.”33 Tới thời điểm này, xin mạnh dạn nhìn về tương lai gần và xa của Tân hình thức Việt…

Ở hải ngoại, vài năm nay Tân hình thức hầu như đã “hoàn thành sứ mệnh lịch sử”. Cao trào, qua đỉnh cao đang thoái trào. Gần 15 năm thai nghén, tạo dựng và bảo vệ lý luận, hơn 10 năm phát triển phương pháp, hình thành sáng tác và in ấn quảng bá. Kể cũng là “chuẩn” cho một phong cách nghệ thuật ở chuẩn quốc tế! Lối thơ đều chữ và tự sự đã được mặc định là thơ-thứ-thiệt: không kể “lò” thotanhinhthuc.org, trên các trang mạng văn học quen thuộc như damau.org, tienve.org chừng dăm tuần lại xuất hiện một đôi bài, và nếu có in trên báo chí chắc sẽ không còn phải trương dòng chữ phi lộ “Thơ Tân hình thức” ở trên bài thơ nữa. Với một số tay bút coi đây như sân chơi thì thấy “game over”.

Với những tác giả thấy đó như một phong cách thì hẳn nó đã ngấm vào họ, để thỉnh thoảng trở lại như mọi thể thơ khác hoặc mang tinh thần Tân hình thức trong việc thơ về sau. Dường như chỉ còn “đạo trưởng” Khế Iêm cùng trợ giúp từ một số dịch giả vẫn chuyên tâm với và chỉ với Tân hình thức, từ sáng tác, dịch thuật đến lý luận, thảo luận, và 7 năm qua chăm sóc trang nhà thotanhinhthuc.org, quảng bá, giao thiệp, xuất bản, in ấn với kết quả mĩ mãn đến không ngờ mà biểu hiện chót là cuộc hội tụ hôm nay. Lúc này câu hỏi đầu môi là: Tương lai gần của Tân hình thức trong nước ra sao? Nói chung, khó có thể với sáng tác thơ nhưng “thầy bói xem voi” vẫn là điều có thể với việc sinh hoạt thơ. Chắc chắn Ban tổ chức cùng tất cả chúng ta đều tin Hội thảo sẽ làm cú hích mạnh mẽ và đúng lúc cho xu hướng này, khi mà nó đã tương đối quen thuộc với không ít tác giả ở khu vực văn học ngoại biên (nhất là ở các tỉnh thành phía Nam) và một số đáng kể trong vùng văn học trung tâm trên cả nước. Riêng tôi mường tượng trong vòng 6-7 năm tới, nói tròn đến năm 2020, riêng về “quân số” nếu tác giả Tân hình thức Việt toàn cầu (mà người mới xuất hiện chắc sẽ từ ở trong nước) lên tới mức 250 vị: kể như “phe ta thắng đậm”! Hình dung đúng ngày Hội thảo ở Huế, các tờ báo đại chúng như Tuổi Trẻ trong Sài Gòn, Tiền Phong ngoài Hà Nội với góc báo khiêm tốn nhưng bắt mắt dành hẳn một khuôn viên Thơ Tân hình thức khiến bên các sạp báo vỉa hè, trong hẻm nổi lên những câu hỏi “Thơ gì vậy cà?”, “Thơ thế lày là thế lào?”: coi như khởi đầu “phe ta thắng đậm”. Bởi đó là biểu hiện đầu tiên trong quan hệ độc giả – tác giả cho loại thi ca “ngồi bệt xuống cỏ (hướng lên bầu trời)” mà Tân hình thức là một đại biểu trong thời hậu hiện đại Việt.

Tương lai xa của Tân hình thức Việt, dù chỉ “xem voi” cũng cần thiết.

Văn học kim cổ nghệ thuật đông tây, khi đã mệnh danh trào lưu, trường phái tất phải nghĩ về “ngày chết”, và nếu may mắn sẽ sống mãi như một tinh thần, một bút pháp phụ cho đời sau. Phong trào Siêu thực Pháp là ví dụ rực rỡ và thuyết phục nhất về tính sinh tử của trường phái trong sáng tác, sinh hoạt văn nghệ thế giới hiện đại.

Ưu tư của Ban tuyển chọn giải Thơ Tân hình thức Việt 2007 nói lên khó khăn thường thấy ở các thi phái:

  • “Thực ra, những nhà thơ Tân hình thức Việt trước đó đều là những nhà thơ tự do hoặc vần điệu, nên họ vẫn làm Thơ Tân hình thức bằng ngôn ngữ và nhịp điệu của thơ tự do hay vần điệu. Ngay cả người đọc cũng đọc theo cách đọc cũ vì Thơ Tân hình thức chưa làm nổi bật lên được đặc tính của nó. Có lẽ vì thế mà đa số chỉ làm một thời gian ngắn rồi ngưng, không đi tiếp được. Họ ghé qua chơi cho vui một lát rồi thôi, không có ý ở mãi với dòng thơ này.”34

Tôi đồng ý với Ban tuyển chọn, chưa nói hay-dở, về “dáng dấp của loại ngôn ngữ Tân hình thức” chỉ có ở rất ít tác giả như Lưu Hy Lạc/ Vương Ngọc Minh, Nguyễn Hoài Phương, Gỷang Anh Iên, Nguyễn Thị Khánh Minh.

Như đã thấy qua các nhận xét chung, hình thức của Tân hình thức Việt, trừ thao tác ngắt dòng, thực ra rất phiếm chỉ, bất định. Cái bẫy cho các tay mơ sa vào “đếm chữ ăn”… thơ! Thà cứ khó kiểu Đường luật, tỉ như “hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc”, lại đi một nhẽ! Cao tay ấn là kỹ thuật lặp lại. Nhưng nó chỉ tạo hình thức bên ngoài. Nhà thơ Tân hình thức phải tự tìm “hình thức bên trong” của riêng bài thơ sau khi đã nhắm nội dung nào đó. Nói gọn, tạo tứ Tân hình thức cực khó, khi mà không một hình tượng ẩn dụ nào có thể phủ lên toàn bài thơ luôn phải cuộn chảy. Đâu phải cứ dí vô một câu chuyện đầu cua tai nheo là ăn được tình của thiên hạ Tân hình thức! Thật khó lòng tin một người chưa “sạch nước cản” với các loại hình căn bản của thơ vần điệu, nhất là lục bát, và thơ tự do lại có thể làm một bài Tân hình thức “sạch nước cản”, trừ phi có “máu Tân hình thức” trong mình! Một oái oăm nữa, cũng như thơ văn xuôi, thể thơ này quá khó định chuẩn: Bạn đã thấy bài thơ văn xuôi nào lọt vào danh sách thơ hay nào đó chưa? (Xem tiếp mục V.)

Sẽ bàn thêm với từng thành phần thi pháp trong các mục kế tiếp. Cần nói ngay, thành thực, tôi cho rằng Tân hình thức không thể là “chính thi” trên nền thi ca Việt đương đại. Nó khó đọc và cũng hơi hơi khó hiểu trong những lần đọc đầu. Tân hình thức không thể phổ cập được; như một loại “đặc sản” chỉ hợp số ít trạng thái thi cảm của người viết và người đọc. Âu cũng chuyện thường trong sáng tạo, thượng thặng như Haiku Nhật còn phải vậy. Thơ-kể sẽ chỉ là một trong các dòng-thơ-phụ. Độc đáo với một số đề tài và đối tượng; lại có tác dụng khôn lường trong dịch thuật. Và nó không thể và cũng không muốn tham dự vào vùng trung tâm văn học. Chưa hẳn vì nội dung tư tưởng và cảm xúc nghệ  thuật không bao trùm mọi tiêu chí văn chương và xã hội, nó xởi lởi và cuồn cuộn tự định vị ngoại biên qua phương thức lê thê và thủ thuật lập dị của mình. Với niềm hãnh diện quên dị nghị.

Ở các năm của thập niên thứ hai trong thiên niên kỷ thứ ba, riêng tôi hay nghĩ, đến nay giữa hàng chục thể, loại, hình thi ca Việt, chắc chỉ có 2 tiểu thể loại là thơ lục bát và thơ tự do đủ khả năng tiêu biểu cho thơ Việt trên trường quốc tế; vì chúng hài hòa một cách dung dị 2 tính chất riêng chung: bản sắc Việt và nhân loại hiện đại.

Phóng cái nhìn ra 20 năm nữa: trong số 100 nhà thơ Việt cầu mong có được 10 người biết ít nhiều về Tân hình thức, 5 người coi nó cũng-là-thơ, và một đôi người (đều đặn hay thỉnh thoảng) là tác giả Tân hình thức35.

IV. Một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt

San sẻ với Tạp chí Sông Hương trong Lời dẫn chuyên đề Thơ Tân hình thức – “như một trào lưu mới mẻ đối với sáng tạo và phê bình người Việt”; “bất cứ một trào lưu sáng tạo nào, một lối chơi mới mẻ nào khi mới quảng diễn chắc chắn sẽ tạo ra những hiệu ứng khác nhau. Tân hình thức không phải là ngoại lệ. Việc truy vấn, hoài nghi về Tân hình thức là điều dễ hiểu bởi thông qua sự hoài nghi thì giá trị của nghệ thuật mới được kiểm chứng” – theo cách nhìn và tài liệu còn hạn chế chúng tôi mạn phép chọn lọc một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt (Phụ lục 9-), từ những năm mới vào các vòng đầu vũ điệu không vần (1999-2002) cho đến tháng ngày (10/2013) sắp bước lên một sân khấu lớn.

Đơn cử các tác giả Mã Giang Lân, Nhã Thuyên, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hòa, Chân Phương, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Vũ Văn, và Ban biên tập talawas, chúng tôi đã trích lược khá nhiều vì nội dung thi pháp, tư liệu bài vở, tinh thần học thuật, văn hóa tranh luận, ảnh hưởng… Các ý kiến mở màn của Nguyễn Vũ Văn và khép màn của Chân Phương có thể xem là dữ dội nhất trong những cơn sóng phản bác Tân hình thức ở hải ngoại vào chính các năm hoàng kim của thể thơ này 2002-2007. Dù chúng tạo ra các hiệu ứng tốt xấu khác nhau nhưng đều mang mức học thuật cần thiết. Đó là điểm son cho phê bình văn nghệ Việt nói chung, trong và ngoài nước. Nếu biết rằng do phải lấy sự tồn tại làm mục tiêu tối hậu và do nhiều hạn chế nhất là về nhân sự, sinh hoạt văn chương Việt ở ngoài nước thực tình rất khó có phê bình văn học chuyên nghiệp và khách quan dù sống ngay trong lòng các quốc gia sở hữu một nền phê bình như thế, chúng ta càng thấy quý cuộc tranh luận Tân hình thức như đã từng. Nó tỏ ra không bị chính trị và thời cuộc can thiệp; tính chất phe bè cũng không là bao. Đỗ Kh. từng ví cộng đồng văn chương di dân chật chội và vui vầy như gia đình “tứ đại đồng đường” với một căn hộ khép kín. Giữa các tác giả hải ngoại với nhau, ai viết được gì quý cái đó nếu như không “phạm giới” chính trị. Hầu như không có những cuộc tranh luận học thuật về phương pháp sáng tác, ngoại trừ sự kiện Tân hình thức.

Rất cần tìm hiểu về những phê phán, chỉ trích, hoài nghi Tân hình thức từ dư luận bạn đọc, giới phê bình ở trong nước. Đó có là một trong các chủ đề của Hội thảo?36

V. Những vấn đề thi pháp
V.1. “Nhân vật” thể loại trong Thơ Tân hình thức Việt

“Nhân vật chính” cũng là “nhân vật hạng nhì và hạng ba”

Thể loại thường được giới lý luận, nghiên cứu, phê bình xem là một trong rất ít “VIP” theo quá trình phát triển văn học, vì thế không thể nào có nhiều cách tân thể loại. Như chúng tôi đã có dịp trình bày, trong thi ca hiện đại Việt ở mức thử nghiệm hoặc lý thuyết có Trần Dần (Thơ ý niệm/ Thơ tiểu thuyết/ Thơ dòng chữ), Đặng Đình Hưng (Thơ tiểu thuyết), Dương Tường (Thơ âm-hình), Ðặng Thân (Thơ phụ âm), Nguyễn Hoàng Nam, Lê Văn Tài (Thơ đồ họa), Nguyễn Thúy Hằng (Thơ ấn tượng sự vật), Khải Minh (Thơ cấu), Nguyễn Tôn Hiệt (Thơ thực hiện)… Mở đường và thành tựu càng hiếm: Phan Khôi đã khai hỏa cách mạng cho phong trào Thơ Mới, và bây giờ Tân hình thức Việt cải cách và sinh ra một thể thơ mới.

Như thế, nếu dùng cách đề cao như của M.M. Bakhtin37 thì thể loại với trào lưu Tân hình thức Việt, vừa làm “nhân vật chính” vừa chiếm giữ cả “nhân vật hạng nhì và hạng ba”.

  • Ở thời kỳ đầu của các thử nghiệm, cải cách thể loại, với người đọc mang “con mắt cũ” câu chuyện ranh giới hình thức thể loại luôn sôi động. Đó là điều thường. Nhưng, có một số thể loại đến thời kỳ sung mãn hoặc một số phong cách tới khi thoái trào vẫn không thể mang đường biên rành mạch. Người ta gọi đó là thể loại, phong cách ký sinh vào các thể loại, phong cách kinh điển và ổn định. Không cần xét đến ví dụ lớn là tiểu thuyết (thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và tới nay vẫn chưa định hình; thể loại mềm mại nhất, năng động nhất, mở nhất – Bakhtin), cũng thấy rõ ở nhiều ví dụ nhỏ: thể thơ văn xuôi, dòng Tiểu thuyết mới của Pháp, hoặc rộn ràng trên văn đàn hiện nay là truyện cực ngắn.
  • Đặc biệt, không hiếm thơ của những tác giả độc lập tạo nên các hiện tượng văn chương do mang phong cách bấp bênh thể loại mà thơ Nguyễn Quang Thiều là một cách tân hiển lộ nhưng bất đồng trên thi đàn Việt suốt hơn 20 năm qua38. Thơ Trần Vấn Lệ là trường hợp khác về biến cách thể loại giữa thơ và văn, thơ văn xuôi và thơ tự do, tuy về nhiều mặt chưa cách tân. Còn thơ Nguyễn Đức Tùng, chúng tôi từng nhận xét39, có thể coi là hơn-cả-cách-tân khi đang cố gắng hoàn chỉnh một lối viết mới lạ trong thể thơ-văn-kể. Vẫn là thơ tự do không vần, nhưng nhịp điệu gần như không qua từ ngữ mà qua ý tưởng, ngôn ngữ hiếm mỹ từ, đề tài thời cuộc, giọng hài giễu, song hành hai dòng văn hóa Đông-Tây, hai nhân sinh quan từ hai ý hệ và nhất là bất ổn trong hai hình thức thơ-văn. Nếu như thử nghiệm thơ-văn-kể theo kiểu như thế mà thành đạt thì, sau Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần và Nguyễn Quang Thiều; Nguyễn Đức Tùng sẽ là cá nhân thứ năm mở lối độc lập tiếp tục cải cách, cách tân Thơ Mới, cả về đổi mới tư duy thể loại lẫn đổi mới phương pháp như 2 nhóm là Tân hình thức Việt (đang thành tựu) và Mở Miệng (dở dang; hiện tượng văn hóa có tính văn học hơn là hiện tượng văn học40).
  • Cùng là các dạng thơ lấy văn xuôi làm hồn, nhưng cách làm thơ loang chảy vô lường Nguyễn Quang Thiều đối ngược với đường lối Tân hình thức Việt. Cấu trúc Tân hình thức bề ngoài vuông vắn, nhạc tính tuyệt không liên hệ với âm vần; Thơ Nguyễn Quang Thiều có ngữ điệu và hình thể bất định của thơ tự do. Nhận thức thẩm mỹ: Tân hình thức phá hủy tư duy Thơ Mới và thơ tự do hiện đại để tạo ra dòng thơ kể; Thơ Nguyễn Quang Thiều tựa hẳn vào mỹ học truyền thống mà nâng cấp qua diễn ngôn. Bút pháp: Tân hình thức ra ngoài khuôn phép các thể tài truyền thống, dùng nhiều thủ pháp cực đoan (tính truyện là tiên quyết, bỏ “vần lẻ” cuối câu tạo “vần lớn” toàn bài bằng 2 kỹ thuật lặp lại và vắt dòng vô lối, không tu từ, giễu nhại bằng kiểu nói đời thường); Thơ Nguyễn Quang Thiều coi trọng ngôn từ (hình tượng) và cú pháp (mạch thơ), tung mở các thể loại cũ, không lệ thuộc vần, tính truyện vừa phải mà thường là “truyện giả/ ảo”, diễn đạt nghiêm cẩn với cảm xúc lãng mạn và cách xa ngôn ngữ bình dân41. Để dễ so sánh chúng tôi đã thử chuyển bài thơ tự do Bữa tối của tác giả này sang thể Tân hình thức. (Phụ lục 2-).

Suốt 10 năm qua Thơ Tân hình thức Việt bị coi như “dở ông (thơ) dở thằng (văn)”. Nếu nó còn bị đọc theo cung cách cũ thì việc khó tiếp nhận là điều có thật. Cứ riết róng săm soi các chi tiết thuộc về hiện tượng, lại ở những bài chưa đạt ngưỡng, quả là nhìn đâu cũng thấy văn xuôi trong Tân hình thức. Phải bằng cái nhìn bản thể phân biệt thơ và văn xuôi mới thấy Thơ Tân hình thức Việt là… thơ. Tạp chí thơ danh tiếng của Pháp Action Poétique (Hành động thơ) sau cuộc tranh luận vào năm 2000 đã đưa ra 3 điểm lớn phân biệt thơ và văn xuôi42, theo đó chúng tôi tách ra 6 chi tiết với thứ tự: đối tượng, chủ đề, tiết tấu, thời gian, chủ thể, nghĩa. (Các mục V.2-V.4 sẽ minh họa qua trường hợp Tân hình thức Việt.) Như một tin vui nho nhỏ “hậu sinh khả úy” trong làng thi ca Việt giữa làng văn hóa toàn cầu, mời bạn đọc đến với Đỗ Lịnh Ái Linh/ Aline Dolinh, nữ sinh lớp 10 trường trung học Oakton, qua bài phát biểu của em – nhân vật được vinh danh – tại tiệc mừng các Thi sứ quốc gia Hoa Kỳ ngày 21/9 vừa rồi:

  • “Tôi tin rằng thơ, khi so sánh với một hình thức khác như văn xuôi, có vị trí đặc biệt qua cách chúng ta đánh giá ngôn từ. Trong văn xuôi – và điều này chỉ là cách nói chung – chúng ta thấy ngôn từ làm nhiệm vụ trang trí câu chuyện, một phương tiện đúc kết cốt truyện hoặc tạo dựng các nhân vật. Nhưng trong thơ, ngôn từ là câu chuyện.”43

So sánh của chính một cây bút trẻ Tân hình thức Mỹ nên cũng gần gụi với thực trạng truyện trong thơ-kể Việt. Đúng thế! Tân hình thức là thể loại duy nhất đã làm cho ngôn ngữ – đối tượng của thơ – trở thành “câu chuyện”.

Thơ Tân hình thức với thơ văn xuôi và trường ca 

Nào, chúng ta nhìn ngang Thơ Tân hình thức qua 2 thể loại khác là thơ văn xuôi44 và trường ca để thấy phần nào những cái giống, cái khác.

Hoàn toàn như ở thơ văn xuôi và trường ca, một bài Tân hình thức thành công khi và chỉ khi tạo được trường thơ phủ sóng toàn tác phẩm. Điều gì quyết định sự giống nhau đó?

Trước hết, ở cả 3 thể loại thơ văn xuôi, trường ca và Tân hình thức, tùy từng thể loại mà mỗi câu thơ riêng lẻ có chức năng khác nhau nhưng chúng đều không còn như ở các thể loại vần điệu và tự do. Câu thơ lúc này đã mất, giảm vai trò. Tác phẩm là một dòng chảy.

Đó chính là “minh triết” thơ-chảy, nếu có thể gọi vậy. Bài thơ tạo ra câu thơ chứ không ngược lại: quan niệm ấy từng rất đúng cho thơ văn xuôi và trường ca, nay đến lượt Thơ Tân hình thức. Vậy nên, về văn bản và diễn ngôn, với 3 thể thơ này việc trích lược câu thơ sẽ có nguy cơ làm sai lạc. Cũng như các lời nói, câu văn bị thiếu hoàn cảnh của chúng mà Alexis de Tocqueville đã từng răn đe trong lĩnh vực báo chí, chính trị: “Nếu chỉ nghe theo những trích dẫn thì bất kỳ ai cũng phải chém đầu!”

Về cú pháp, so với thơ tự do nói chung và với thơ văn xuôi nói riêng, cách tân mãnh liệt của Thơ Tân hình thức Việt là triệt tiêu ý niệm câu thơ45. (Tiếp ở mục V.3.) Trong một bài trường ca, hay một bài thơ dài mang tính trường ca, có rất nhiều câu thơ, đoạn thơ chỉ như các đai ốc, vòng đệm nhỏ, các khoang phụ trong cả cỗ máy khổng lồ. Cũng như với tiểu thuyết, do không đọc trọn tác phẩm hoặc đọc mà không dò ra được từ trường văn học của nó, nên các kiểu trích dẫn hú họa và chủ quan một vài câu, thậm chí cả trường đoạn không tiêu biểu để phán xét toàn tác phẩm vẫn là lề lối phê bình “nhìn cây không thấy rừng” thường gặp. Nhưng dù sao, cũng là lỗi của nhà phê bình hơn là của tác phẩm trường ca. Thơ văn xuôi và Thơ Tân hình thức thì đúng chịu “lỗi”: khó có câu thơ nào của hai thể thơ ấy được coi là độc lập, cả về nội dung tư tưởng lẫn quan hệ cú pháp, cả về nhịp điệu lẫn ngữ nghĩa. Các câu thơ không được phép mang một đời sống riêng. Khác hẳn ở những thể thơ khác, nhất là thơ truyền thống, trong thơ văn xuôi và Thơ Tân hình thức các câu thơ sống bầy đàn. Rất hiếm các câu-thơ-ong-chúa. Ở Tân hình thức, ngay trong những bài có “câu văn” đầy đủ chủ vị, chấm phẩy chính kỹ thuật vắt dòng đã khiến bài thơ không còn câu thơ. Ở thơ văn xuôi, vì bài không được phân chia theo từng dòng như ở các thể truyền thống và tự do, dù câu vẫn tồn tại nhưng không để tạo âm điệu bằng vần: câu thơ có tựa hồ không. Những câu thơ hờ! (Bởi vậy chẳng ai thấy một câu thơ của bài thơ văn xuôi nào đó được tuyển vào các tập như 1001 Câu thơ hay, được thảo ra cờ phướn giữa sân Văn Miếu rồi thả lên trời xanh những Ngày Thơ Nguyên Tiêu Việt Nam hàng năm?)

Đánh giá thật chuẩn thật chỉnh các bài thơ văn xuôi và trường ca – tất nhiên chỉ kể các sáng tác “sạch nước cản” – là điều thách đố, ít nhất về kỹ thuật đọc-bài-thơ (chứ không chỉ đọc-câu-thơ) nếu so với các thể loại khác. Muốn khen chê thì cả ngày khen chê cũng không hết với vài câu trích dẫn có độ hay-dở rõ như ban ngày. Riêng với trường ca, người viết còn dám tin rất khó tìm thấy một bài trường ca nào hoàn hảo! (Điều không xảy ra với thể loại lớn tương ứng bên văn xuôi là tiểu thuyết). Đó là một nét kỳ ảo của chất thơ và kỹ thuật thơ trong trường ca. Câu mọc lên như rừng, chữ chảy ra thành sông thì để thi vị hóa hàng trăm hàng ngàn dòng, hàng chục ngàn chữ, khó hoàn hảo là phải. Kỳ ảo hơn, ở các bài thơ văn xuôi với dung lượng câu, chữ cũng bằng thơ truyền thống, thơ tự do thế nhưng lý giải chúng vẫn luôn nan giải. Đây có lẽ là lý do chung khiến thơ văn xuôi và trường ca ít phổ cập hơn các thể loại khác. Làm đã không dễ, đánh giá càng không dễ46. Các điều lệ trên liệu cũng sẽ trúng cho “tân binh” Tân hình thức?

  • Tiện đây, nhấn mạnh liên quan khăng khít lạ lùng, khó hiểu giữa thơ văn xuôi và trường ca: chưa nói về đặc trưng thi pháp và cảm hứng ý thức47, hai thể loại thơ đó cùng là hai thứ “văn bản nặng” và thâm niên của lịch sử thi ca thế giới và Việt Nam, nhưng cả về văn học sử lẫn lý luận thể loại chúng cùng rất thiếu các nghiên cứu khái quát và hệ thống, rất thiếu các phân loại, nhận định, phê bình toàn diện và khách quan tương xứng với thành quả sáng tác, ít nhất ở Việt Nam48.

Chuyển qua nói riêng giữa thơ văn xuôi và Thơ Tân hình thức Việt. Điểm giống nhau tâm đắc nhất, trong các thể thơ nói riêng và trong thể loại văn vần nói chung: chỉ thơ văn xuôi và Thơ Tân hình thức mới là thể thơ không vần49. Kìa xem… Hai núm đồng tiền trên gương mặt văn học Việt!

Dưới đây, dõi theo nhận định của Hữu Đạt50 về thơ văn xuôi, có thể tìm thấy nhiều điều giống-khác giữa chúng. (Để tiện so sánh với Thơ Tân hình thức, mời bạn thưởng lãm lại một trích đoạn từ bài thơ văn xuôi Vàng sao51 của Chế Lan Viên; Phụ lục 3-)

– H.Đ.: “Đứng trên phương diện ngôn ngữ thì thơ văn xuôi là đỉnh cao nhất của thơ tự do. Về hình thức câu nó có dáng dấp gần gũi với một câu văn xuôi, nhưng lại khác văn xuôi ở chỗ mang nhiều hình ảnh, nhiều chất thơ và được hình thành do cảm xúc trực tiếp của nhà thơ.”

– Tân hình thức: Ngược lại. Ngôn ngữ “ngồi bệt xuống cỏ”, khỏi cần hình tượng cầu kỳ, càng ít sướt mướt càng quý và chỉ là chuỗi lời kể chân chất.

– H.Đ.: “So với các thể thơ trước nó, thơ văn xuôi có nhiều ưu điểm là diễn tả được cùng một lúc những cảm xúc trùng điệp, những hình ảnh, những ý thơ liên tiếp. Do đó trong một câu thơ văn xuôi, người ta thường thấy bề bộn những sự kiện, những hình ảnh, những cảm xúc có khi lồng vào nhau hoặc đan chéo vào nhau.”

– Tân hình thức: Đúng với câu đầu, vì cả hai thể thơ đều là thơ-chảy. Câu cuối cũng đúng nếu nói mức độ hỗn mang của hiệu ứng cánh bướm trong Tân hình thức, nhưng – quan trọng – cụm từ “một câu thơ” phải thay bằng “một bài thơ”. Trong thi pháp Tân hình thức Việt không có chỗ đứng cho câu thơ: cả bài-thơ Tân hình thức thực chất là một-câu-thơ.

Từ đây, danh sách “nickname” cho dòng thơ này sẽ có thêm thơ-chảy và thơ-một-câu, bên cạnh những tên đã có: thơ-phá-thể, thơ-kể, thơ-thi-pháp-đời-thường, thơ-không-vần, thơ-vắt-dòng, thơ-đếm-chữ, thơ-đều-chữ…

Thử kể những nhược điểm người làm thơ hay mắc ở thơ văn xuôi hơn ở các thể thơ khác: ý phóng đại, chuyện dễ dãi, câu lê thê, tứ kém, thi ảnh xô bồ, viết lấy được, thơ bí dí… văn xuôi, và nhất là khó kết thúc bài thơ. Các nhà Tân hình thức cũng dễ bị như thế! Còn nữa, vài câu hỏi: Nếu đã thuận tay thơ văn xuôi, chuyển qua Tân hình thức dễ dàng không? Hiếm thấy tác giả nào có bài thơ đầu đời là thơ văn xuôi. Liệu cũng như thế với thể Tân hình thức Việt? Trong số người viết Tân hình thức mới hiện nay có ai không như thế?

Những đặc tính gì giao lưu giữa trường ca và Tân hình thức? Trong khảo cứu trường ca Việt Nam đã công bố một phần của phương pháp phân loại theo tính trường ca và các danh sách tác giả, tác phẩm (Chú thích 32), chúng tôi có thiếu sót chưa dành chương mục riêng nhận định về đóng góp của thể Thơ Tân hình thức Việt – một thành viên đã 10 năm tuổi trong đại gia đình thể loại văn học Việt hiện đại mà dòng trường ca có độ tuổi 80 cùng Thơ Mới. Hẹn dịp khác, dưới đây chỉ là vài nét nhận dạng và dẫn ra từ danh sách đó tên các tác phẩm trường ca Việt cụ thể có dùng Tân hình thức.

Đến nay, như đã so sánh ở mục III.4., trong số 1063 tác phẩm thơ có tính trường ca (bài trường ca hoặc bài thơ dài mang ý nghĩa tương đương) đã có khoảng 10 tác phẩm sử dụng thể thơ Tân hình thức: thơ dài là Chân dung biện chứng người tình của Nguyễn Hữu Viện; Chuyện của em và Trần Dần/ Nguyễn Thị Ngọc Lan; Giấc mơ/ Nguyễn Lương Ba; Phóng tác từ tiểu thuyết/ Đỗ Quyên; Đừng, Đọc thơ, Những mảnh đời và những mảnh đời/ Nguyễn Hoài Phương; v.v… và trường ca là Chuyện 40 năm mới kể/ Inrasara52; v.v… Cũng có vài trường ca với trường đoạn ở thể Tân hình thức, và đấy có lẽ là kết hợp tốt giữa hai thể loại. Lối viết Tân hình thức Việt nên là một nhạc cụ, một giọng ca trong một bài trường ca hơn là lãnh trọn cả dàn hợp xướng này. Trong khi đó, nhà Tân hình thức Mỹ Feirstein khi ghi nhận Khế Iêm “như một nhà thơ đầy tính sáng tạo độc đáo, sẽ có thể tìm ra một phương thức biểu đạt mới, và có lẽ sẽ mở rộng những gì mà ông và những người đi theo ông đang thể hiện”, đã thổ lộ về “mong mỏi được thấy, nếu như điều tôi muốn thấy thì chưa từng hiện hữu, là sẽ có nhiều bài thơ tự sự rất dài mà thể loại này cho phép thể hiện. Xin đơn cử một tỉ dụ, là Turner đã hoàn tất 3 bài thơ tự sự có độ dài của một cuốn sách.” (Chú thích 20).

Không ít bài Thơ Tân hình thức có dung lượng lớn (khoảng 750 chữ trở lên), như Những nụ hồng của máu/ Nguyễn Đăng Thường, Cuộc tình của Yoshima và Chi/ Quỳnh Thi, Tiếng hát từ cổ xưa/ Khế Iêm, Những người đàn bà cuối cùng của một dòng họ/ Đài Sử, .v… và có một số tiêu chí phù hợp với trường ca, nhưng không trúng vào 2 tiêu chí chính là thể tài (nội dung không của từng cá thể hay giữa các cá thể, mà thuộc về giá trị chung của nhân loại, đất nước, cộng đồng trong chủ đề nhân văn có tính xã hội), và giọng điệu (mạnh hoặc nhanh, hùng ca hoặc bi ai hoặc hài hước, với chủ đích lôi cuốn, chủ quan). Ví von, nếu viết trường ca như phóng xe trên xa lộ cao tốc thì viết Thơ Tân hình thức như lướt xe trên các phố nhỏ có bùng binh!

Thơ phụ âm “chỏi” Thơ Tân hình thức

Cũng cần dành (giật) riêng một mục mênh mang so sánh kỹ càng Thơ Tân hình thức Việt với thơ phụ âm (mà nay chỉ đôi lời tạm trú mục này.) Vì sao? Vì đấy là hai “kẻ thù” không đội trời thơ chung về thi pháp! Trong 5 năm qua, giới yêu thơ cách tân đã biết Đặng Thân, vào mùa thu 2008, qua một bài vừa tuyên ngôn vừa minh họa vừa tâm tình đã khởi xướng loại thơ mới – thơ phụ âm53 – với kỹ thuật mới là lấy phụ âm đầu làm cơ sở để lặp lại khi tạo chữ, tạo câu cho câu, đoạn của bài thơ. Thi pháp lặp lại phụ âm đầu từng có ở một số nền thi ca cổ Âu châu (Anh, Saxon cổ, Đức…) và hiện khá phổ biến trong thơ tiếng Anh.

Hãy làm phép so giữa hai thể loại đương sự:

Một, về hình thức khổ thơ, thơ phụ âm Việt dùng gần như tất cả các thể đã có (truyền thống, tự do, nhưng chắc khó “chơi” Tân hình thức?).

Hai, về thể loại, đó vẫn là loại thơ vần nhưng với đặc trưng vần được tạo không bằng nguyên âm như các loại thơ đã, đang và sẽ có đại trà trên đời này. Tức là Đặng Thân “chỏi” Khế Iêm: Bác không-vần ư, thì em vần-không, nhưng mà không-nguyên-âm!

Ba, ngôn từ trong thơ kiểu Đặng Thân chắc đã tu mấy kiếp, khiến nhà phê bình mỹ học người Canada phải thốt lên “hình dáng những từ ngữ của anh thật là hùng vĩ và siêu phàm”, chứ đâu là lời ăn tiếng nói thuận miệng xuôi môi như ở thơ Khế Iêm. Như vậy, lối thơ phụ âm vừa phải gieo vần theo nguyên âm để còn xuống dòng ngon lành, vừa vặt vẹo vi vu vần vèo theo phụ âm để còn là… thơ phụ âm! Riêng về kỹ thuật, nó khó hơn thơ bình thường 2-3 lần và khó gấp bội so với thơ-đếm-chữ. Cơ khổ, người làm thơ phải ẵm sẵn vốn từ vựng cực kỳ phong nhiêu và quái đản, bằng không thì – mạn phép nhái nhời Nhà phu chữ – “ú ớ một phụ âm” mãi chửa thành thơ. Trung niên thi sĩ tái thế may chăng mới coi ththơ này thường thôi châu chấu chuồn chuồn. Dù không là thơ phụ âm, chỉ riêng thủ pháp phụ âm của tiên sinh cũng siêu đẳng: “Bờ thánh thót động giòng em đi đến/ Làn lênh lang lau lách lại luân lưu”; rồi “Em đi như ththân là thể/ Anh ở một mình thể mất thân”; hay “Rập ràng về bế hế rập ràng ca”.54

Bốn, tính truyện là cái mà hai loại thơ Việt cách tân này không trùng nhau. Thơ phụ âm muốn thành thơ vẫn phải bám vào tứ như các loại thơ nguyên âm, nếu không sẽ chỉ là cuộc chơi chữ kỳ thú với nhiều câu đoạn mà nếu người trình bày sắp chữ vô tình hay cố ý đục bỏ đi cũng… chẳng chết “thằng phụ âm” nào! Nó không ưa nhiều chuyện lắm chi tiết của truyện theo kiểu thơ kể Tân hình thức. Nó nhiều chuyện theo kiểu nhiều chữ.

Năm, thơ phụ âm cần đọc to tướng thành tiếng. Tôi mường tượng dù có thể chưa cần hiểu ất giáp chi Inrasara vẫn thấy “nhịp điệu của những chữ, của những phụ âm đầu lặp lại liên lỉ, sẵn sàng lặp lại lần nữa, làm trương nở và phá vỡ cấu trúc câu/ đoạn thơ; khiến bài thơ ngập tràn âm thanh, gai góc mà bay bổng.”; chưa hết Julie-Anne còn bảo nó “trượt đi trên lưỡi thật trơn tru và khêu gợi”. Mặc lòng, bên Tân hình thức thơ-chảy cứ tuồn tuột xuôi một mái vắt dòng đến hết hơi thì hết thơ. “Công phu trong việc chọn lựa âm điệu theo một số quy luật nào đó”, Lê Đình Nhất-Lang có lý; nhưng tôi thấy ở vụ này âm điệu “hành hạ” quy luật vần phụ âm quá đáng. Thôi kệ, miễn sau khi “mẹ” nhạc tính và “cha” ngôn ngữ hành hạ nhau, phải cho ra những đứa con thơ ngoan, khỏe, đẹp, chóng lớn. Đó là quy luật muôn năm, trong thi ca và ngoài đời.

Sáu, bạn đọc hay hỏi: Thơ này nói gì vậy? “Ú ớ một vắt dòng” đã đành, nhưng “ú ớ một phụ âm” còn tệ hơn. Cả hai thứ thơ rất dễ bị xem là không có nội dung, điều mà thơ bình thường nếu không có cũng được thể tất. Như ở các xứ Âu-Mỹ người di dân xả rác ẩu ngoài đường, bị coi vô văn hóa; với dân bản xứ: chỉ vì quên thôi mà (ý là để quên văn hóa ở nhà!)55 Hay như với thơ siêu thực. Cá rằng cả người đọc lẫn người phê bình khối chị khối trự khối cô khối cậu cóc hiểu cái con cọp gì sất nhưng cca hoài bài ca con cá ôi siêu thực sao mà siêu. Vì thế, trong thơ phụ âm các chỗ nhấn nhá con tự nên vừa là kỹ thuật vừa là văn phong. Với tôi bài măm mắm môi mụ mị của Vĩnh Phúc được vậy.

Giống với các loại khác như thơ âm bồi, thơ tạo chữ, chúng ta đang nói về một khó khăn: theo cách hiểu thông thường, người đọc không tìm thấy nghĩa ở rất nhiều từ (con chữ) ngữ (câu cú) khi phụ âm hóa. Nếu nhìn những chỗ “vô nghĩa” đó lại thấy như các loài thực vật ký sinh trong rừng già thì độc giả mới thoát khỏi cách đọc truyền thống “nhìn cây thấy rừng”. Đóa phong lan này rực màu và mảnh mai bám trên cành cổ thụ kia, đó là rừng. Ở Thơ Tân hình thức Việt và thơ phụ âm Việt đều có các giò ngôn-ngữ-phong-lan như thế! Nhìn vào thơ Đặng Thân, trích đoạn trong Chú thích 53 hay bài mới đăng khóc viếng Vĩnh Phúc (Chú thích 8), hoặc bài của Vĩnh Phúc vừa nêu, càng thấy thuyết thi pháp Jakobson “thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh” cực kỳ cao cường. Các hoa-ngôn-ngữ biểu lộ khác hẳn nhau. Tân hình thức Việt là một dòng-hoa-tươi-dại chảy từ sông suối thượng nguồn đổ về xuôi.

Bảy, cuối cùng ở phần này nhưng là đầu tiên của thơ. Chưa bàn về hay, mới, lạ – tam đại sự luôn bất đồng trong dư luận – câu hỏi mà thi sĩ cách tân thường phải nghe là: đó có phải là thơ không? Lý luận gọi là tính thơ, là chất trữ tình của thơ nếu là thơ tình. Chúng tôi có lần nói về vấn đề cận-văn-học ở 2 hiện tượng vô cùng độc đáo trong văn chương Việt hiện đại và đương đại: tập thơ Chân dung nhà văn của Xuân Sách (có lẽ trong sáng tác và sinh hoạt văn nghệ thế giới không thấy trường hợp thứ hai?) và thơ Bút Tre (Xem tiếp phần VI.). Nay bổ sung tạp văn Nguyễn Quang Lập và thơ Nguyễn Bảo Sinh. Không ít các sáng tác cách tân và thử nghiệm chỉ là và mãi là cận-văn-học, đặc biệt khi chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận không dụng công văn học. Với nhiều sáng tác trong thơ Mở Miệng tình hình giống như thế. Có tới quá nửa sáng tác hậu hiện đại Việt Nam và thế giới như vậy? Mà đâu chỉ hoàn cảnh hậu hiện đại, trong bất cứ “hoàn cảnh” nào mỗi khi văn học phải là phương tiện cấp bách thì với các tài năng văn chương bình thường dễ sinh ra các văn phẩm cận văn học. Nhưng chính hoàn cảnh phi thường, bất thường đã hồi sinh tác phẩm cận văn học sang một đời sống ngôn ngữ khác. Văn học chiến tranh – cách mạng của Việt Nam và thế giới có không hiếm ví dụ về độ bấp bênh giữa thể loại và hiệu quả nghệ thuật.

Thơ phụ âm, như mọi sáng tác hậu hiện đại, có kha khá các cái cận-văn-học: nhiều bài chưa được là thơ trữ tình và thường là do lạm dụng kỹ thuật, như các bài “hùng vĩ và siêu phàm đối với thích giác và thị giác của người nước ngoài” (Boudreau) mà tác giả chính là vị chủ xướng. May mắn Tân hình thức Việt không vậy, ngay ở những bài í ẹ nhất; đó là nhờ sự quậy của nó lọt trong vòng kim cô của thơ truyền thống và nhờ tính truyện. Vâng, một câu chuyện được kể bằng cách kém thi vị vẫn là loại văn học kém. Riêng tôi khi làm một người đọc, đa số các bài thơ phụ âm đều thấy thích thú, có vài bài cực khoái. Là kẻ làm thơ, tôi chưa thấy thi duyên dù đã tìm. Khi thủ vai phê bình bàn luận (lẩu thập cẩm như vầy), tôi thấy đó là các trò chơi văn bản có ý nghĩa tiếp cận cải cách thơ tới tận bản chất, nhưng hiếm hoi nhận ra cái tôi trữ tình ở đó. Chúng tỏ vẻ chưa đạt ngưỡng trữ tình, dù tràn đầy những chữ tình. Đó mới chỉ là một tập hợp tuyến tính các chữ tình! Còn cái tôi ở Thơ Tân hình thức, oách ra phết. Nếu cái tôi trữ tình chưa được là một trong các chủ nhân của trung tâm sáng tạo thì mọi cố gắng cách tân bằng kỹ thuật chưa thể trở thành thi pháp mới. Nó đang là thủ pháp. (Mục V.4.) Lại theo chữ Viên Mai, ấy mới là tiêm xảo, chưa tới tân kỳ.

Tất nhiên các điều trên không phải là “thất trảm sớ” cho thơ phụ âm. (Giả dụ có, cũng riêng một bài khác). Chúng ta đang trong mạch so sánh Tân hình thức Việt với tất tần tật những gì giống-khác nó.56

So sánh ngẫu nhiên với thơ tự do

Bây giờ, kết thúc câu chuyện thể loại với Tân hình thức Việt sẽ là các so sánh ngẫu nhiên khi quay về thơ tự do – cái thể thơ mà Tân hình thức những muốn “chấm dứt và thanh lọc” – trên chính một số bài thơ tự do mà chúng tôi vừa mới đọc được.

Bài Vịt trời57 của Seamus Heaney có chung đụng với Tân hình thức, dù rất khác hình thức và kỹ thuật. Một câu chuyện cốt cách đời thường, về hai ông cháu nhà nọ bên con vịt trời đang bị ông vặt lông sau khi “nó trúng phát đạn ác lắm” (ắt hẳn chính người ông đã bắn!). Được kể lại tự nhiên như nó đang là. Khách quan đến lạ lùng, nhờ cái tôi trữ tình là nhân vật chủ thể (cháu bé tên Paul được tác giả đề tặng) chứ không phải tác giả (chủ nhân Nobel Văn học 1995 vừa qua đời trong tháng). Bởi thế, cảm xúc đạt đỉnh không bằng lối mỹ từ du dương mà qua ý tưởng cao cả: “tội nhân” thổi vào cái lỗ do viên đạn làm vỡ thanh quản “nạn nhân” để tái sinh nhân tạo điều mình vừa hủy diệt. Cái cao cả đi theo nhịp thơ tự do, nhẹ như không đi. Đó mới là tự-do-tuyệt-đối. Rất ngắn. Chỉ 41 từ trong nguyên bản tiếng Anh Widgeon và 50 từ ở bản dịch (Phụ lục 4-). Nếu là của một nhà Tân hình thức tứ thơ đó vẫn có thể cho một bài thơ hay. Và hay theo kiểu khác, song khó đạt thi cảm đến thế. Heaney vốn là thi nhân hiện đại có căn cước hiện thực và lãng mạn58. Vịt trời, một bài thơ được kể ra để khóc. Bằng cái hồn nhiên. Khóc chuộc tội lỗi tiêu diệt thú rừng, môi sinh. Khóc vì sự tiêu diệt âm thanh cuộc sống, dù là “những tiếng kêu vịt trời nho nhỏ”. Thật thú vị khi Lê Đình Nhất-Lang đã tặng bạn đọc tiếng Việt một bản dịch với chữ cuối cùng là “ông” như từ khóa, dồn cả bài thơ vào “tội nhân”; còn trong bản tiếng Anh chữ cuối cùng “cries” (những tiếng kêu) cũng là từ khóa của bài thơ và mang thông điệp về “nạn nhân”. Không khúc triết như thơ truyền thống, không rành mạch như thơ hiện đại; thông điệp Tân hình thức thường phân rã theo từng con chữ. Nó chạy tứ tung…

Ngược lại, bài Hành trình siêu thực59, trích đoạn trường ca của Chân Phương thì thật khó thay bằng bất kỳ thể thơ Việt nào khác ngoài thể tự do bình thường như nó đang là. Càng không thể chịu Tân hình thức! Trừ khổ thơ được phân rõ ràng bằng dấu hoa thị, còn thì từng chữ, từng câu, từng đoạn vẫn rành mạch về diễn đạt, dù không viết hoa, không chấm phẩy. Nếu muốn, vẫn có thể đọc một mạch theo kiểu Tân hình thức mà vẫn không cần vắt dòng. Nhưng cú pháp thơ này rất chuẩn. Đọc là hiểu liền chữ. Lờ mờ nghĩa, nhưng chưa thấu văn bản ngay được: “hình hài phiên dịch máu xương/ xuyên bảy sắc độ lưu đày/ bên kia bờ của hiu quạnh với tàn phai/ các thần tượng nhìn nhau câm lặng”. Kỹ thuật siêu thực, thật ra, không quá bí hiểm. Đâu cần đọc thơ trong… mơ. Chỉ phải tốn thời gian để quên, quên hoàn toàn hiện-thực-có-thật, cho cái hiện thực khác kéo về lấp đầy. Khổ nỗi, tuyệt đại đa số giống người lại có bộ nhớ của loài voi60! Chân Phương bắt bạn đọc lần từng nhịp, theo mỗi dòng để ý tưởng có khoảng trống vang lên sau khi ra khỏi dòng. Đổ một lèo Tân hình thức vào bài này là hỏng. Còn nữa, muốn vắt dòng cũng không “vắt” nổi: chữ nghĩa ở đây nặng như chì, không phải của đầu môi cửa miệng. Và lại còn là một trường ca mà chỉ để nhớ nhan đề đã thấy oải: Hành trình siêu thực từ chủ thể về tự tính. Trôi theo muôn điệu trầm bổng nhặt khoan thật nhọc nhằn cho đám chữ gọt đẽo kỳ khu, nói chi đến vù vù đơn điệu Tân hình thức?

Vô tình trong khi vào cuộc với Tân hình thức, cùng trên một trang mạng tôi đọc Charles Bukowski và Bắc Phong ở 2 bài thơ tự do cùng giống nhau về thể tài tự sự chuyện đời bụi bặm. Khoái ở chỗ, cùng là ba cái vụ lẻ tẻ bồ xưa bịch cũ với cùng nhịp thơ tưng tửng và giọng điệu cà chớn mà chân thành. Mối tình xa xưa61 (Thận Nhiên dịch từ nguyên tác tiếng Anh – An ancient love) và Tri kỷ62.

Thuở mới đọc ông Mẽo gốc Đức ấy, tôi nhầm tưởng nhà thơ của những kẻ thấp hèn thất thế nhưng đầy cao ngạo, nếu không đồng giáo chủ thì cũng con chiên ngoan của phái Tân hình thức Mỹ dù tôi chỉ mới đọc bản dịch các bài thơ thể tự do. Vài năm nay, tôi cũng gạc nhiên khi thấy ông đồng nghiệp thơ Việt kiêm cựu đồng hương Việt Toronto đã chuyển làn sáng tác từ niêm luật gọn gàng sang tự do buông thả, dù vẫn các chuyện thời cuộc Việt, các người-vật-sự việc đau lòng của đất nước. Sau, càng đọc thơ của kẻ vừa tu bia vừa bình thơ trước khán giả, mới thấy trự này không ham thơ-vắt-dòng, thơ-đếm-chữ, thơ-đều-chữ là trúng ý Chúa. Dù vẫn thơ-phá-thể, thơ-kể đúng nỗi lòng dân đen con đỏ xứ Cờ Hoa: “rồi nàng vắt đôi chân dài tuyệt đẹp lên cao/ nhưng không đủ cao cho tớ thấy sịp./ khi họ sắp ra về/ tớ ôm nàng giã biệt/ bắt tay gã bạn trai/ rồi vĩnh viễn chẳng hề gặp lại gã/ hay nàng/ hay sịp của nàng/ lần nào nữa.” Là đứa con di dân lầm than muốn dùng nghệ thuật bình dân bảo vệ người bình dân, từ cô em điếm ế đến lão già bị vợ siết cổ, Bukowski không thể diễn ngôn kiểu tản mát thông điệp như Tân hình thức. Bằng tư thế tự tin “Nhà thơ vinh danh của những khu ổ chuột” từ tốn hắt thẳng những xô ngôn-ngữ dơ-bẩn-về-hình-thức vào sự bất công và bất an của con người!

Ngược lại với Bắc Phong, tôi cứ nghĩ giá chàng “chơi luôn” Tân hình thức thì mới đã. Các bài phá thể và tự sự như Tri kỷ đã phát giác cái bất thường ở đời thường (sau biến cố chia lìa 1975 gặp lại bạn gái đại học Vạn Hạnh bị bệnh nan y) và chọn được cách chữa trị bình dị, tình tứ và thi vị. Đoạn cuối của bài thơ: “nghe xong nàng giận tái mặt/ nhưng nghĩ sao lại vén tóc mỉm cười/ rồi vừa xoa ngực vừa nói/ ông nằm mơ lạ thật/ ngực mình đúng như thế đấy/ một bên vú cắt vì bị ung thư/ ông có muốn xem không?/ hay đưa hộ vào thơ cũng được!”. Hỏi sao tôi không tiếc? Nhạc tính Bắc Phong trong thể thơ không vần đã bị đơn giản một cách cố tình, oan ức. Thêm một ví dụ âm cho siêu-định-nghĩa đang làm lời đề từ cho cả bài viết: “Thơ là văn xuôi xuống dòng”63. Thưa vâng, cho phép con nối lời cùng Trần tiên sinh. Một khi câu thơ bị xuống dòng tuyến tính, tư duy truyện sẽ pha loãng tư duy thơ. Nhạc điệu thơ tự do rất khác nhau ở mỗi cách phá thể, vấn đề là ở chỗ tất cả các ngắt dòng đều phải phi tuyến tính thì thơ đó sẽ khác hẳn văn xuôi. (Xem tiếp mục V.3.) Ngờ rằng, có những bài của tác giả Tri kỷ nếu ban biên tập tienve.org xếp ở mục Thơ cũng được, đặt vào mục Đối thoại cũng vẫn được64. Bởi, nếu thơ tình thì mang âm vang thù tạc, nếu thơ thời cuộc lại chỉ là bài vở chính trị chưa đẫm màu nghệ thuật. Binh tình sẽ khác hẳn khi chúng được trôi theo vũ điệu nối dòng Tân hình thức. Tin tôi đi!

Cứ như thế có thể nói về cặp đôi Vũ Xuân Tửu (đến từ Tuyên Quang – Việt Nam) và Dennis Brutus (đến từ Nam Phi qua bản dịch của Ngu Yên), với 2 bài thơ tự do Sân vườn65 và Ngày 19 tháng 2 năm 198066. Thơ của nhị vị đã giao thoa với Tân hình thức ở các điều thường nhật mòn cũ được soi rọi dưới ánh sáng cá nhân. Thuật kể chuyện với sự nhắc lại sẽ rất thuận tiện nếu qua thơ-chảy. Mỹ cảm khôi hài kẻ Phi người Á cùng trong tâm trạng hậu hiện đại. Nhưng cả 2 bài thơ chớ nên bị Tân hình thức hóa, cũng đừng nên hậu hiện đại hóa tới cùng; mà cứ thế đau đáu nỗi niềm nhân bản chính tông của mình. Và 2 bài thơ vẫn để bạn tùy chọn thái độ đọc, trong đó có cả thái độ Tân hình thức. Hỏi còn thứ thơ nào hơn?

V.2. Nhịp điệu với Tân hình thức Việt

Nhịp điệu bài thơ – Dáng điệu con người

Nhịp điệu, nhịp điệu và nhịp điệu. Xét cho cùng, cống hiến đáng kể nhất của Thơ Tân hình thức Việt là đây! Như nhan đề bài giới thiệu tuyển tập trình diện của phong trào: Tân hình thức, nhịp đập của thời đại, và cũng là điều những người khởi xướng nêu từ buổi ban đầu: “Nhìn lại mọi thời kỳ, từ truyền thống đến tự do và Tân hình thức, thơ như sợi chỉ xuyên suốt, luôn luôn đổi thay, phù hợp với nhịp đập của thời đại”67 Nếu có nhiều kẻ bàn về thơ không bao giờ chán thì những khi đó họ nói về thi điệu không bao giờ hết68. Bạn thử tìm xem có thấy một bài viết nào về thi ca lại không hề có các chữ như thi điệu/ nhịp điệu/ nhạc tính/ nhạc điệu/ điệu (rhythm; rythme)? Mà nếu có tìm ra bài như thế, cũng nên đánh dấu hỏi ở chất lượng. Về khái niệm này trong mọi lãnh vực, có những phát ngôn69 với ý tưởng và thẩm quyền của người nói khiến ta không còn nói gì thêm: “Phát minh ra giai điệu là bí ẩn tột cùng của các khoa học nhân văn.” (Claude Lévi-Strauss); “Cần phải bắt những trật tự đã cứng đờ nhảy múa lên, bằng cách hát cho chúng nghe các âm điệu của bản thân chúng.” (Karl Marx); “Mọi lý thuyết, dù trừu tượng đến đâu, vẫn phụ thuộc vào nhạc điệu và tiết nhịp của nó.” (George Steiner). Thi vị thay cho tiếng Việt, chính chữ “thi ca/ thơ ca” – với chữ “ca” – đã hàm chứa bản chất của nó là nhạc tính mà liệu mấy ngôn ngữ khác có được70?

Thơ luôn là điều bí hiểm số 1 giữa tất cả sản phẩm tinh thần và vật chất của loài người. Những nỗ lực tìm định nghĩa cho thơ, tìm lý do của sự bí hiểm đều không thể. Nhưng nếu với nhịp điệu, phần nào có thể tiệm cận với thi ca khi chấp nhận rằng, thơ là nhận diện không trùng hợp cho một nền văn hóa, một ngôn ngữ mà hiển nhiên mỗi văn hóa, mỗi dân tộc có một nhịp sống riêng. Vậy nên nhịp điệu cuộc sống, con người của một dân tộc, quốc gia hóa thành nhịp điệu thơ mà con người ở đó sở hữu. Các nhà phê bình gọi đó là nhịp điệu thời đại.

Theo hướng so sánh khác, giữa các thành phần của một bài thơ và cơ thể của một con người cũng nảy ra nhận thức thú vị tùy điểm nhìn71. Tổng thể mà nói, nhịp điệu trong một bài thơ không như là xương, cũng không như là thịt. Không như là bất kỳ cơ phận nào khác, rất tương ứng nó chính là dáng điệu của một cơ thể sống! Cũng phải thôi. Về mặt cơ thể học và nhân tướng học, điệu bộ, cung cách thường được xem là tiêu chuẩn đầu tiên khi nhận dạng, đánh giá. Vẻ đẹp mỹ nhân nằm ở “nhất dáng, nhì da, thứ ba là nét”. Uy quyền và bản lãnh, thành bại và vinh nhục nơi các lãnh tụ, tướng lãnh đều từ dáng điệu, phong độ. Bí quyết ở chỗ này: Dáng điệu là sự thoát thân hài hòa giữa thể xác và tâm hồn, thế nên qua nó có thể nhận dạng chuẩn xác và linh động nhất về con người đó. Bài thơ sẽ có ấn tượng khi người làm thơ tìm ra được nhịp điệu trùm lên cả nội dung lẫn hình thức.

Từ sau Thơ Mới, với Thế Lữ lần đầu tiên cất cao lời ca bên “cây đàn muôn điệu”72, các mốc nhịp thời đại Việt đi vào thi pháp văn học và gây tác động dư luận đã đến từ Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Tố Hữu, Nguyễn Quang Thiều, và nay là Thơ Tân hình thức Việt73.

Lặp lại và ngắt dòng tạo ra thi điệu Tân hình thức Việt

Qua bài vở nêu ở các phần Phụ lục và Chú thích, có thể thấy lý luận của các nhà Tân hình thức Việt trong khi cải biến nguồn gốc làm nên thi điệu vốn là 2 yếu tố: âm thanh của từ được lựa chọn và nhịp điệu ngắt câu. Mời xem lại 2 ý tưởng gọn gàng mà bao quát của Khế Iêm.

Về vắt dòng: “Đối với thơ tiếng Anh thì không có gì trở ngại vì tiếng Anh là một ngôn ngữ đa âm, nhiều vần nên khi vắt dòng và đưa ngôn ngữ thông thường vào thơ dễ dàng, dù cuối dòng có vần hay không. Còn tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn âm, khó mang những câu nói thông thường vào thơ vì vướng phải luật vần. Nên khi bỏ vần, phải thay bằng kỹ thuật vắt dòng mới đưa ngôn ngữ thông thường vào thơ được.” (Chú thích 4; Đ.Q. nhấn)

Về lặp lại: “Trong luật thơ, ở bất cứ thể loại thơ nào, kỹ thuật lặp lại đều được sử dụng để tạo nhạc tính hay nhịp điệu cho thơ. Như thơ Đường luật, lặp lại những âm thanh bằng bằng trắc trắc, và trong thơ tiếng Anh, là những âm không nhấn, nhấn, lặp đi lặp lại 5 lần trong một dòng thơ. Những cách trên của thơ truyền thống là lặp lại những âm tiết. Khi thơ tự do tiếng Anh, muốn thoát ra khỏi những luật tắc và âm điệu truyền thống, họ thay cách lặp lại âm tiết bằng cách lặp lại chữ và câu chữ. Cũng vậy, khi thoát ra khỏi âm điệu của thơ vần, thơ không vần Việt tiếp nhận cách tạo nhịp điệu của thơ tự do tiếng Anh, lặp lại chữ và câu chữ trong bài thơ.” (Nt)

Tức là, tiếp thu từ thơ tự do tiếng Anh và Tân hình thức Mỹ, các nhà thơ Việt đã sáng chế 2 kỹ thuật lặp lại và ngắt dòng để tạo ra thi điệu Tân hình thức Việt hoàn toàn khác các thi điệu Việt đã có kể từ Thơ Mới. Trong đó từ không còn vai trò cá thể, ngay cả các từ khóa (nhãn tự trong thơ truyền thống). Tất cả hòa làm một khối-từ, từ nọ gọi từ kia từ sau lấn từ trước, gây nên âm thanh chung như một vùng biển vang động, như một mảng sông cuộn trôi không phân biệt tiếng vọng từ con sóng nào. Các câu lẻ tan rã nhập thành câu lớn và thể thơ-một-câu đã ra đời. (Xem mục V.1). Với từ và câu như vậy, các hình ảnh, chi tiết không kịp định hình trong tâm trí người đọc để gợi ra hình tượng chung cho tứ thơ như cách đọc cũ. Đây là thách đố với các nhà Tân hình thức khi kém thuật kể chuyện, yếu ngôn ngữ thường nhật.

Trong 3 thành tố tạo nhạc tính là từ, vần và tiết tấu thì 2 cái sau liên quan đến sự ngắt câu. Theo chúng tôi quan sát ở các cuộc tranh biện giữa thì đây là vùng “xôi đậu”. Ai cũng có lý về vấn đề vần trong thơ vần điệu và tự do cũng như trong Tân hình thức, nhưng thi hữu phe chống đã “nghe” Tân hình thức bằng thính giác vần truyền thống và vần tự do. Phải công nhận vần trong tiếng Việt74 có sức sống tràn lan như loài cỏ và gây ra những ảnh hưởng rất khó xử; đến mức phải lấy nó làm ranh giới của 2 đại thể loại là văn xuôi và văn vần mà thơ (vần vũ đến thế là cùng cũng) chỉ là một tiểu thể loại của văn vần. Nay, thêm một thứ thơ nữa – tiếp gót thơ văn xuôi – muốn giải thoát buông xả vần khỏi trói buộc nhịp điệu cũ, thế thì sao còn dùng vần để cảnh giới? Oan Thị Kính đã thêm một lần bị đánh tráo sang oan Thị Màu! Nếu thử quên đi vần, chỉ chú ý tiết tấu của câu, bạn sẽ thấy Tân hình thức Việt chấp nhận được. Đừng nên coi sự ngắt đoạn là để tạo ra nhịp như ở thơ bình thường, vì trong Tân hình thức có thể dùng ngắt câu tùy kinh nghiệm và cảm xúc người đọc. Nhưng ngắt câu không phải để đi tìm ý câu thơ, khi mà đó chỉ là vô hồi kì trận các câu lộn xộn, nhiều khi vô nghĩa lý. Nhịp của từng câu thơ (với các bài Tân hình thức có dấu chấm phẩy) và nhịp của các câu thơ Tân hình thức không là nhịp ngắn. Chính các nhịp dài dồn lại tạo nên nhịp điệu chung của bài thơ. Khi nào chúng ta nghe ra nhịp điệu chung đó thì sẽ nắm được ý nghĩa hiện thực của toàn bài thơ song song với nội dung có thực của câu chuyện. Thơ Tân hình thức mới và lạ là vậy! Còn vấn đề hay-dở, không phải chỉ ở nội hàm Tân hình thức. Quyết định vẫn là mỹ cảm của người đọc. Một khi ai đó còn cơm trong miệng, khó mà nếm vị phở.

Trong khi còn băn khoăn, tạm khép sự nan giải bằng ý kiến đầy thuyết phục của Octavio Paz: “Bài thơ là ngôn ngữ nhịp điệu – không phải một thứ ngôn ngữ có nhịp điệu (giống như bài hát) hay đơn thuần chỉ là nhịp điệu của lời.”75 Ngôn ngữ có nhịp điệu đích thị là nhịp điệu của lời trong văn học nói chung; như văn vần, biền văn (phú, cáo, tế, hịch ở văn học trung đại Việt). Bạn thấy vẫn xa Tân hình thức? Còn câu nữa cùng tác giả và nguồn bài trên, được viết từ năm 1983 mà như dành cho thể thơ chảy, thơ hỗn mang: “Nhịp điệu là ẩn dụ nguyên thủy, nó bao chứa tất cả ẩn dụ khác. Nó nói: sự tiếp nối là sự lặp lại, thời gian là phi thời gian.” (Đ.Q. nhấn).

Nhịp điệu Tân hình thức sẽ còn là phản cảm mạnh, là ấn tượng lớn khiến một đằng – số đông – nghi vấn quay lưng, đằng khác – số ít – háo hức, mầy mò. Điều cần hơn cả sau hơn 10 năm thể nghiệm là các nhà hàn lâm và chuyên nghiệp hãy làm việc trên chính nó: xem cái vũ-điệu-không-vần có thuận nhĩ dân Việt hay không, chứ đừng nên chỉ xét như một sản phẩm nghệ thuật Việt nhằm “dịch thuật tiếng Tây phục vụ các ông Tây”. (Mục III.3.).

Về lý thuyết và thực hành thơ đông tây kim cổ, việc đọc và ngâm thơ thường được coi như bàn thẩm định cuối cùng chất lượng truyền cảm và khả năng đám đông tiếp nhận. Vì đó là dịp thử thách chất lượng nhạc tính ở bài thơ trước thính giác đại chúng, sau khi đã qua khâu “thị giác”. Nhiều thập niên gần đây, nước Mỹ đi đầu thế giới ở sinh hoạt đọc thơ trước công chúng rộng rãi hoặc nhóm nhỏ. Cũng như thơ văn xuôi, sự không vần đã buộc Tân hình thức Việt phải “bó miệng” với ngâm thơ – loại hình đặc sắc Việt tính. Đọc trước đám đông cũng là một cái khó cho thể thơ lấy kể lể làm phong cách và phương thức. Nó không hợp khi trình diễn, mà dành cho độc diễn, độc thoại. Nếu thế, về bản tính Tân hình thức là phản-thơ ít nhất ở sự biểu diễn nhạc điệu. Lại cậy nhờ Paz, lần chót: “Hiểu một bài thơ nghĩa là, trước hết, nghe bài thơ đó. Ngôn từ đi vào trong tai ta, hiện hình trước mắt ta, biến mất trong sự trầm tư.”

Réo rắt và luyến láy, chính là lục bát Việt 

Không như Khế Iêm nghe thấy “sự réo rắt và luyến láy”, Nguyễn Hoài Phương cho rằng “thứ nhạc trong Thơ Tân hình thức có lẽ là nhạc Rap.” (Phụ lục 9-, Nguyễn Vũ Văn). Lúc buồn tình nhớ nước thương mình hay khi chốn tâm linh lâm sự, tôi còn nghe được từ thơkể những lời kinh…

Dù ai nói tây nói đông, nhịp thơ Việt còn chứa hồn lục bát. Đó là niềm tin thi điệu. Tôi có một lòng tin, dẫu hai tay cứ làm thơ không-lục-bát. Vâng, số lượng các loại hình văn vần Việt hiện đại có thể tới hàng chục và theo thời gian sẽ tăng, nhưng thi điệu lục bát luôn là ẩn-dụ-nguyên-thủy trong mọi thể loại thơ Việt nó khi hòa vào nhịp điệu riêng ở từng thể loại. Tôi tin sẽ có ngày được đọc một nghiên cứu nào đó chứng minh khách quan, hệ thống, thuyết phục rằng, ở các lời thơ tự do Việt đến từ Nguyễn Đình Thi và Thanh Tâm Tuyền; Nguyên Sa và Hoàng Cầm; v.v… và v.v… và ở các thi phẩm Đường luật Việt của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương; Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến; v.v… và v.v… chính điệu lục bát nguyên thủy đã và sẽ góp nhịp chuyên chở các sáng tác đó tới độc giả Việt Nam và thế giới hôm nay rồi mai sau.

Các thể loại thơ ra đời về sau đương nhiên phải cải biến điệu lục bát hồn dân tộc, trong khi bị cưỡng bức hay tự nguyện tiếp nhận có lọc lựa những thi điệu ngoại quốc để cấu thành giai điệu ngôn ngữ mới, xứng với tâm tư thời đại của chúng. Một thể loại mới muốn thành tựu cần phải biết cách ẩn dấu nhịp điệu nguyên thủy. Vũ điệu không vần – ca dao hậu hiện đại – liệu có hàm chứa nổi ca dao nguyên thủy nhịp sáu-tám không? Nếu có, tương lai Thơ Tân hình thức Việt coi như đạt điều kiện cần. Nhìn danh sách các nhà Tân hình thức Việt, qua theo dõi chưa đầy đủ, chúng tôi thấy hình như ít vị đã đủ cống hiến cho thể lục bát, ngoài Hoàng Xuân Sơn, Lưu Hy Lạc (hay Đỗ Kh. từng là một “tay” phá lục bát sang thơ tự do rất bảnh!).

Réo rắt và luyến láy, chính là lục bát Việt.

V.3. Tân hình thức Việt và kết cấu bài thơ

“Nhìn vào thì nhận ra ngay là thơ”

Không lời dân dã nào trúng với Tân hình thức như câu cửa miệng của người Nam Bộ: Thấy vậy mà không phải vậy, mà còn hơn vậy nữa… Phát hiện tự nhiên mà căn bản về Tân hình thức “nhìn vào thì nhận ra ngay là thơ” của Đặng Tiến (Chú thích 67) là cần thiết, giữa những cơn lốc thơ hồi đầu thiên niên kỷ với rất nhiều hình thể thoáng thấy đã không là “thơ” (như thơ đồ họa, thơ sự vật, thơ rác, thơ cấu, v.v…) Nhưng Tân hình thức thì khác. Nhìn rồi thử đọc coi: Ồ, cũng không thơ! Ráng đọc coi: Có lẽ, thơ? Đọc riết đi: Ờ ờ thơ thơ…

Kết cấu tác phẩm76 Tân hình thức đã khiến tầm đón nhận từ người đọc phải thay đổi liên tục. Dưới đây, theo các phương pháp so sánh của Montel, của Girshman và của Ngô Tự Lập (Chú thích 42) chúng ta sẽ tiếp cận một bài Tân hình thức không chỉ là sáng tác thơ mà như tác phẩm văn học có tổ chức văn bản thơ-trong-truyện. Hy vọng sẽ rõ hơn: Tân hình thức đâu đến mức làm một ví dụ lớn cho nỗi lo thường trực cả trăm năm qua của nhân loại yêu thơ như có nhà nghiên cứu từng nhắc, mỗi khi thơ mở cánh cửa cách tân thì văn xuôi lại tràn vào phá phách.

Kết cấu tổng thể trong Tân hình thức Việt, ở mục trên đã nói, như là một-câu-thơ. Bài thơ thành một câu thơ lớn. Câu thơ lớn chứa vô số câu thơ nhỏ mà giữa chúng không nối kết chặt chẽ cú pháp, ngữ nghĩa. Về lý thuyết, khó có thể xây dựng mô hình văn bản cho thể Tân hình thức. Thực tế nhiều bạn đọc lắc đầu, nhiều nhà phê bình nói không với nó, chắc bởi thế? Bài thơ là “truyện” với lời kể phăm phăm hướng phía trước (prorsa77), vì Tân hình thức là nhịp điệu non-stop (không dừng được). Nhưng nhờ kỹ thuật lặp lại. Lặp lại ý. Lặp lại hình ảnh. Lặp lại cụm từ. Lặp lại câu. Lặp lại cú pháp. Lặp lại suy tư. Bài thơ vẫn là “thơ” với lời kể hồi quy, quay về nơi khởi phát (versus78). Nghệ thuật Tân hình thức đã bắt khả năng luân vũ của thơ phải… quay cuồng! Bằng kết cấu tổng thể như thế, thể thơ này đã làm cả 2 nhiệm vụ: “ca” của thơ và “kể” của truyện. Như Khế Iêm giải thích kỹ thuật lặp lại không thấy trong văn xuôi và cũng chẳng dính dáng tới vần; và nó làm tăng nồng độ thơ trong thể truyện. Vậy, sự đối lập thuộc về bản chất giữa thơ và văn xuôi đã chuyển thành đối trọng trong Tân hình thức!

Có thể thấy Tân hình thức Việt đang đi đúng hướng, ít nhất ở lý luận thể loại, nếu đồng ý với Girshman: “Về phương diện này, những nhận xét của O. Mandelstam về đặc trưng của văn xuôi nhìn từ góc độ thơ là hết sức thú vị: ‘Với văn xuôi, điều quan trọng là nội dung và vị trí, chứ không phải là nội dung – hình thức. Hình thức văn xuôi là sự tổng hợp. Các mảnh từ vựng ngữ nghĩa chạy tản ra khắp các vị trí. Phân bố hết sức tự do.”

“Bố cục không bịp được”

Ngoài khả năng giao lưu thể loại thơ và văn79, kết cấu tổng thể Tân hình thức còn đề cao sức khái quát trong sáng tạo. Người làm thơ thời a-còng không còn đi trăm bước ngẫm ngợi một nhãn tự, nhưng bắt buộc phải biết du nhập số lượng lớn các tư tưởng, luận cứ, thông tin hỗn độn và bình đẳng vào tác phẩm. Lại thêm thách thức nữa cho các môn sinh Tân hình thức, như thể Hoàng Ngọc Hiến từng cảnh tỉnh những môn sinh của mình: “Trong nghệ thuật, năng lực khái quát tổng hợp thể hiện ở bố cục kết cấu. Nhà văn ta, mặt này yếu vì lý luận yếu. Sự sơ lược cũng do yếu chỗ này. Bố cục làm lộ hết mọi sự vô văn hóa. Sơ lược không chỉ là độc quyền của các nhà văn nước ta. Giới nghiên cứu cũng vấp phải chuyện này (…). Tác phẩm đứng được một phần do bố cục. Người có văn hóa mới có năng lực này, vì tư tưởng phức tạp – tư tưởng thật càng rất phức tạp. Có thể bịp mọi chỗ, nhưng bố cục không bịp được. Ý (…) được nhưng bố cục (…) kém.”80 Với không ít sáng tác Tân hình thức mà không hoặc chưa có chất Tân hình thức, những câu cuối của trích dẫn trên tuy nặng lời nhưng thiết nghĩ có thể là bài học sát sườn? Kết cấu cốt truyện ở Thơ Tân hình thức cũng đi vào hành động, sự kiện như ở tác phẩm truyện, và theo cách nhấn nhá độc đáo của mình. Hành động thì không đến nơi tới chốn và trở về qua hành động tương tự; còn sự kiện bị buông lửng ngay khi mới ló ra và lái sang hướng khác. Khế Iêm qua các sáng tác như Bậc thang, Những chiếc ghế81 đã thật điệu đàng với thuật đó. Sự tồn tại và sinh tử của bậc thang, của chiếc ghế là đối tượng thơ-trong-truyện và lại không được cô đúc như trong kỹ thuật truyện thông thường. Kết cấu hình ảnh cũng làm bằng “nhân vật” của bài thơ (bậc thang, chiếc ghế) nhưng chúng hỗn tạp, không gom vào một hình tượng chính như trong thơ truyền thống và tự do. Rất Tân hình thức, cả 2 bài thơ không thể có “câu thơ hay” là vì thế. Bất kỳ câu thơ nào cũng có rễ, bám lấy bài thơ, không thể thoát ly trọn vẹn như một sản phẩm ngôn ngữ đẹp82. Hai bài thơ vẫn là thơ, vì tiến theo các bước nhảy, quay và không khai thác hiện thực. Ở bài Bậc thang, ngay từ đầu đã chịu sự tan vỡ về kết cấu chi tiết. Đây là một yếu tính của nghệ thuật thi ca. Cái đại tự sự nhất – “trong tôi/ có ngón giao chỉ, từ phố phường/ đi ra biển đông” – nêu ở khổ thơ thứ hai trong 6 khổ, bị các hành động khác gắn bó với “bậc thang”, “bước chân” biến thành chuyện nhỏ. Tính riêng tư của nhân vật trữ tình và cũng của chính tác giả, một người Việt di dân, bị mờ trên mặt chữ nhưng sẽ cộm nơi lòng độc giả tri âm. Cả bài thơ không tụ ở tứ thơ mà ở tư tưởng mơ hồ về một chủ đề vừa xa vừa gần: sự thăng trầm của bước chân.

Sau nhịp điệu thì kết cấu ngôn từ là nỗi khổ thứ hai cho các nhà Tân hình thức. Ngôn ngữ đời thường phải thắng tuyệt đối ngôn ngữ trừu tượng. Vậy mới làm nên thể thơ duy nhất mà ở đó “chữ” không mang giá trị tự thân! Các chữ tìm nhau, kéo đẩy, không để khoảng trống cho các thao tác tu từ. Và Lê Đạt vẫn trở nên có lý không chỉ trong thơ không-Tânhình-thức: “Thơ hay bao giờ cũng có tiếng thầm thì: đó là tiếng gọi nhau của chữ.”83 Văn phong Tân hình thức vì thế không đến bằng ngôn từ như là các chữ cá thể. Thi cảm cũng không bật ra ở các nhãn tự – cái cần phải loại bỏ. Không chỉ dùng thẳng lối nói điệu kể bình thường để thay biện pháp tu từ (hoán dụ, ẩn dụ, ví von, điển cố) nhằm hàm súc ngôn ngữ thơ, Tân hình thức đã dùng kết cấu trữ tình ngoại đề (ngoài cốt truyện, như trong văn xuôi) để làm loãng ngôn ngữ. Tính truyện vẫn được duy trì dù không có tuyến truyện. Bài Những nụ hồng của máu là ngày hội của liên văn bản trên những người-vật-sự-việc trong quá khứ gần. Hay đó chính là việc dụng điển kiểu Tân hình thức, nếu chia sẻ cùng Ngô Tự Lập trong một nhận định chung về thơ?84

Bây giờ là kết quả so sánh về kết cấu nghệ thuật tác phẩm của Thơ Tân hình thức Việt với 38 tác giả trong Dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị85 mà chúng tôi đang thực hiện (cập nhật 20/9/2013).

Khế Iêm, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đình Chính, Trần Tiến Dũng, Vương Ngọc Minh/Lưu Hy Lạc: Kẻ sớm người muộn, dù ít dẫu nhiều là 5 “tay chơi thứ dữ” Tân hình thức rồi!

Trần Huyền Trân trong dòng thơ niêm luật, vần điệu cảm xúc cổ điển ý niệm hiện đại. Yến Lan cũng vậy mà “trẻ trung” hơn nhiều và còn có không ít thơ tự do. Thơ-phá-thểtiêu-vần tràn lan Tân hình thức xin kính nhi viễn chi nhị dòng thi phẩm tiền bối.

Thơ của các thi sĩ sau đây có kết cấu bố cục khít khao, đề tài chỉn chu, ngôn ngữ không mỹ từ cũng cẩn tắc: Chân Phương, Hải Như, Ngô Tự Lập, Nguyễn Khoa Điềm, Nhã Ca, Phạm Phú Hải, Trần Nhuận Minh, Thi Vũ, Trương Đăng Dung, Tuyết Nga, Văn Cao. Chớ nên “dây với… Tân hình thức”!

Thơ đến từ Đặng Huy Giang, Lê An Thế, Lê Đình Nhất-Lang, Ngu Yên, Nguyễn Đức Tùng, Phan Nhiên Hạo, Trần Thiên Thị, Trần Khiêm: mạnh ở kết cấu cốt truyện, thi tứ sắc lẻm, người lộ kẻ kín tâm thức hậu hiện đại tràn trề, nhất là ở độ hài hước, đề tài hoặc là đứng đắn cực kỳ hoặc ngoại đề tá lả. Các thơ ấy nếu như thanh thản, đừng ôm dù “sứ mệnh đất trời” hay “sứ mệnh cỏ cây”, thì chạy sang thi-pháp-đời-thường dễ dàng.

Còn có những thơ sẽ Tân hình thức ngon lành ngay từ nhịp điệu non-stop, kết cấu tổng thể thơ-kể (Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Lê Văn Ngăn, Lưu Mêlan, Nguyễn Quang Thiều, Tam Lệ, Thường Quán, Trịnh Sơn, Uyên Nguyên), nếu như chịu dùng kết cấu văn-nói thay cho kết cấu văn-viết.

Tam vị Mai Văn Phấn (giọng điệu tự nhiên sâu xa), Nguyễn Bình Phương (làm thơ như thể không làm), Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (tự sự nhiều phát hiện), nhưng sao Tân hình thức vẫn khó so bì?

V.4. Cái Tôi của Tân hình thức Việt

Trở về nguồn bằng “hình thức” khổ thơ và phân dòng với số chữ 4-5-6-7-886, Tân hình thức Việt là phong cách về một cái tôi mới, hòa cùng những cái tôi mới khác trong 10 năm qua đang làm thơ ca Việt linh động dị thường, ở một số điểm son gần được như thời Thơ Mới.87

  • Cái tôi là nội dung hiện thực và quan niệm trữ tình, là phong độ thời đại, là hạt nhân tư tưởng – nhân sinh quan, nên đó chính là ngọn lửa thắp sáng cho cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật thơ Việt Nam mà Thơ Mới đã chuyển giao thơ trung đại sang thơ hiện đại, nhập vào các dòng thơ đương thời trên thế giới, khởi phát một thời đại mới trong thi ca kéo dài suốt 80 năm qua và sẽ còn lâu. Ở miền Bắc thời 1945-1975, trong phạm vi văn học trung tâm, tính hiện đại phải dang dở khi cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn nhường chỗ cho cái ta của dòng hiện thực cách mạng. Thơ ca hiện đại miền Nam thể hiện bản ngã tác giả trước khi là cá thể xã hội, nhưng cái-tôi-hiện-đại thường thấy chỉ ở một số ít thi sĩ đi trước thời gian như Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn… Từ sau phong trào Đổi Mới 1986, trong nghệ thuật thơ Việt Nam, trên bình diện lớn các phong cách, thi pháp “bình thường” mới bắt đầu có những cái-nhìn-vào-trongcâu-thơ, mà ở các vòng đai cá nhân hay nhóm nhỏ (đồng thời với các tác giả trong Nam) đã từng được thể hiện theo các phong cách, thi pháp bất bình thường với những Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt; muộn hơn là Đặng Đình Hưng. Khác hoàn toàn cái tôi lãng mạn Tiền chiến ngủ ngon trong lòng người viết và người đọc, thi pháp hiện đại của thơ Việt đưa cái nhìn vào trong câu thơ để từ đó xuyên qua tâm can nhà thơ đến với thời đại, xã hội đương thời. Câu thơ. Bài thơ. Tác phẩm. Tức là toàn bộ ngôn ngữ và văn bản, sau khi làm xong chức năng lăng kính, đã trở thành mục đích của sáng tạo. Không thể nào kể ra như là ví dụ năm bảy tác giả. Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, ngót cả trăm thi sĩ Việt xuất sắc và ngang tài đã làm nên những-cái-tôi sáng lạ, đang xóa đi nhân dạng đồng phục ngự trị văn đàn Việt suốt nhiều trăm năm qua. Không nghi ngờ, cái tôi mang bản thể Việt đang là giấy thông hành cho thơ Việt tới các nền văn hóa khác, đặc biệt là khu vực Âu-Mỹ. Trong nhiều trường hợp, nó gây ảnh hưởng hơn cả các biểu hiện ngôn ngữ, thể tài…

Bút pháp của sự khách quan

Tân hình thức Việt có nhiều thuận lợi làm ra cái tôi mới, bằng cách kể-thơ rất mới của mình. Sinh ra và trưởng thành trong hoàn cảnh hậu hiện đại mà diễn đàn mạng là phương thức quen thuộc, Tân hình thức Mỹ là một trong nhiều hoạt động nghệ thuật dân chủ hóa sáng tác và bình luận hóa văn chương. Cho dù đến nay, giới hàn lâm vẫn chưa đón nhận nó với lý do chính đáng về phía họ là nghệ thuật cần có “chuyên môn”, trong khi Tân hình thức cùng các trào lưu hậu hiện đại hướng về công chúng không chuyên môn.

Lối thơ bình dị và “thẳng tưng” làm cho cái tôi Tân hình thức trở nên khách quan, dễ tới độc giả đại chúng. Khi tác giả đã tự ý thức, nhân vật trữ tình cũng tự ý thức và tự hành xử lớp lớp các chi tiết, hành động mà khỏi cần tác giả chỉ dẫn. Cái tôi tác giả và cái tôi nhân vật (tác giả hóa thân) không còn ràng buộc như ở cách thuật sự của thể truyền thống và thể tự do. Như thế, độc giả lẽ nào còn thụ động? Nguyễn Vũ Văn (Phụ lục 9-) đã logic về việc chê khuynh hướng tự sự khách  quan Tân hình thức nhưng lại không cận nhân tình: đọc thơ hiện đại bằng cái nhìn cổ điển, ở đó nhân vật và tác giả là hai kẻ “biết tuốt” còn độc giả là người hưởng thụ.

Thật ra, trong các dòng văn học kinh điển, ngay cả ở Đông phương, đã có một đỉnh-thơ khách-quan là Haiku truyền thống Nhật. Có không ít điểm mà Tân hình thức Việt đã phần nào tiếp nhận được: “Không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt. (…) ta cảm được vị trí đứng ở ngoài sự kiện của tác giả. Tác giả dường như chỉ chia sẻ với người đọc một sự kiện (…) nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả.” Và đây nên là điều Tân hình thức Việt vươn tới: “Người làm thơ phải tự đặt mình như một đứa trẻ lúc nào cũng có cảm giác bỡ ngỡ, lạ lùng khi tiếp xúc lần đầu tiên với ngoại giới.”. Còn mức lý tưởng là: “Không có người làm thơ và kẻ đọc thơ, cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm với sự liên hệ” rất hỗn mang và sống động của thời đại. Các chữ in nghiêng là của người viết mạn phép đã thay cho các chữ “tinh tế và hài hòa của đất trời” từ nguồn trích (Haiku, Tự điển Wikipedia). Cái tôi Haiku Nhật thật siêu nhân!

Một điều phân biệt giữa thơ và văn xuôi là người đọc thơ nhận lại quá khứ bất ngờ của bản thân mình, còn với tiểu thuyết anh ta sẽ tìm ra một thế giới mới. Montel có lý khi khẳng định thơ cần áp đặt một kinh nghiệm độc nhất và chưa từng có theo dạng không đầu không cuối. Theo đó, cái tôi ở thơ “Khế Iêm thường đề cập tới tính khả tín và tính bất xác của người tường thuật, và tính khả tín của điều được tường thuật” như nhận xét của Feirstein về 2 bài thơ Những chiếc ghế, Những cái hộp. (Chú thích 20).

Từ điệu nói đến điệu kể

Thêm một nét kế thừa truyền thống đáng giá của thể thơ-kể: lời nói bình thường từ đời sống bình thường đã thành thơ qua điệu kể. Trăn trở của các nhà Tân hình thức Việt về 3 mặt phong cách, nội dung và tính đương đại gói trong câu sau: “Nếu không mang được những câu nói thông thường vào thơ thì làm sao mang được đời sống vào thơ? Và nếu không thì làm sao chia sẻ được nỗi vui buồn của mọi tầng lớp xã hội, để thơ trở thành tiếng nói của thời đại?” (Chú thích 67).

Theo Nguyễn Thanh Tâm/ Trần Đình Sử, “trong thơ trung đại, có tiểu loại hình Hát nói – một diễn ngôn của loại hình nhà nho tài tử được xem là tiền đề cho Thơ Mới, đặc biệt là ở điệu nói” 88. Vậy là, lần thứ hai sau Thơ Mới, Thơ Tân hình thức Việt đã hiện đại hóa điệu nói – một tiềm năng diễn đạt ngôn ngữ viết và nói làm mê say lòng người ở làn điệu, ở tính dân gian, và ở cái tôi trữ tình phóng khoáng mà tự trọng của người Việt. Đáng thưởng một đóa hồng lớn cho Tân hình thức, vì nó đã nhấn mạnh bản chất ca trong thi ca/ thơ ca của tiếng Việt như là nhận dạng chính xác nhất của nghệ thuật thơ mà chúng ta vừa phác họa ở phần V.2. và Chú thích 70.

Từ đó, nảy ra các câu hỏi khó cho Tân hình thức Việt: – Sự khác nhau trong tiến trình cải cách điệu nói ở Thơ Mới và “điệu nói”/ “điệu kể” ở Thơ Tân hình thức Việt so với điệu nói truyền thống (từ trữ tình dân gian và trữ tình trung đại)? – Sự trao đổi, hoán vị theo hướng tiến bộ đã xảy ra như thế nào giữa những cái tôi trữ tình tính theo lịch đại và đồng đại?

Một là, từ cái tôi dân gian trong ca trù, hát nói đến cái tôi thời trung đại chứa ẩn cái ta của thế hệ nho tài tử (cái tôi siêu cá thể). Đề tài này thuộc về văn học trung đại, ví như trong sách đã dẫn của Trần Đình Sử.

Hai là, từ cái tôi dân gian nguyên thủy và cái tôi trung đại đến cái tôi lãng mạn Tiền chiến (cái tôi cá nhân độc lập). Vấn đề này đã được trả lời qua vô số bài vở về Thơ Mới, nhưng bằng cơ sở của điệu nói như bài của Nguyễn Thanh Tâm có lẽ không nhiều?

Ba là, từ 3 cái tôi nói trên đến cái-tôi-nói-thay-cho-cái-ta ở thơ chiến tranh, cách mạng và hiện thực XHCN ở cả nước rồi ở miền Bắc 1945-1975, rồi đến cái tôi-hiện-đại hiện sinh rong thơ miền Nam và thơ ngoại vi miền Bắc 1954-1975, và đến cái tôi-hiện-đại toàn thể sau Đổi Mới 1986 của thơ Việt từ trong nước ra ngoài nước. Câu hỏi này cũng được quan tâm rất nhiều, nhưng hầu như ít liên hệ đến điệu nói. Một phần có thể vì 3 cái tôi ở thơ Việt hiện đại 1945-1975-1986 đều không thuộc về, hoặc xa với phong cách thơ kể.

Bốn, cuối cùng là đến cái-tôi-bản-thể của thời hậu hiện đại mà Tân hình thức làm một vũ điệu riêng giữa các điệu thơ hậu hiện đại khác. Cái-tôi-bản-thể Tân hình thức, về thi pháp, muốn thoát hẳn các dòng chứa 3 cái tôi ở thơ Việt hiện đại 1945-1975-1986. Nó hỉ nhận ảnh hưởng từ 3 cái tôi đầu tiên: cái tôi nguyên thủy, cái tôi trung đại và cái tôi Thơ Mới. Đó là 4 loại thơ ca của điệu nói/ điệu kể!

Từ nhãn tự đến “nhãn cú”

Chân thật – Hồn nhiên, một bản chất khác của thi ca cũng thuộc vào phong cách Tân hình thức Việt qua cái tôi trữ tình bằng lời nói trong sinh hoạt, nói nôm “có sao kể vậy người ơi”.

Tính chân thật – hồn nhiên. Nó vừa là quan niệm về hiện thực (đối tượng) vừa là phong cách biểu đạt (phương pháp); trong một số dòng văn học hiện thực, nhiều khi nó cũng làm luôn cả “mục đích” sáng tác. Và, thêm một lần nữa, tiếng Việt đáng yêu vô ngần: về mặt từ nguyên trong khái niệm thi ca/ thơ ca đã chứa cả hai yếu tính là thơ ngây và ca nhịp. Thật khó tìm thấy ngôn ngữ thứ hai được vậy, kể cả tiếng Trung Quốc?

Chúng tôi muốn dẫn lại 4 ý tưởng điển hình về cái-tôi-chân-thật, từ 2 tác gia lừng lẫy thi đàn thế giới và Việt Nam trong 1-2 thế kỷ trước, từ vị giáo sư tài năng của một trường đại học lớn và một nữ văn sĩ tài danh lại vừa mới trở thành nữ thi sĩ. Xin nhường độc giả việc soi vào đó bằng cái tôi Thơ Tân hình thức Việt. Nếu trúng, tức là thể thơ-kể chấp nhận được; nếu trật, các nhà thơ-kể còn phải cố gắng nhiều:

  • Trong tất cả hoạt động của con người, làm thơ là chân thật nhất; vì vậy con người có một thứ của cải nguy hiểm nhất là ngôn ngữ, nhưng chính điều đó lại chứng thực sự tồn tại của nó. (Friedrich Hölderlin)
  • Thơ Mới là sản phẩm của khát vọng thành thật. (Hoài Thanh)
  • Thi pháp của sự thành thực; Thành thực mới là ‘chính thi’. (Nguyễn Hùng Vĩ)89
  • Trong các thể loại mà bản thân đã đi qua, truyện ngắn, truyện dài giấu mình tốt nhất, tiểu thuyết lộ chút chút, tản văn giãi bày, còn thơ thì ‘tuyệt mật’. Mà muốn tuyệt mật, phải đi đến tận cùng phơi bày, nên nó lại lồ lộ. Lộ không có nghĩa là phơi bày riêng tư đâu, lo gì. (Nguyễn Ngọc Tư)90

Ở tất cả thể loại văn học, cái tôi cá nhân thể hiện cao và mạnh nhất với tùy bút, tản văn. Là con đẻ của kỷ nguyên văn chương tự sự có nhiều tiền bối thành đạt, Tân hình thức phải chọn cách tự sự mới lạ mà vẫn nương theo ưu điểm của các thể loại khác sao cho cái tôi dễ thể hiện. Ví dụ, ở tùy bút văn học về tốc độ diễn ngôn nhấn nhá và phân tán nhưng tinh tế và bất ngờ; ở tản văn báo chí, blog về sự dề dà và thóc mách (“tám” chuyện) nhưng trực diện và thân thiết. Cái tôi Tân hình thức kín cạnh hơn cái tôi tùy bút và văn chương hơn cái tôi tản văn. Thơ Tân hình thức vẫn là “thơ” khi mà độc giả tìm lại mình và chỉ so sánh – nếu muốn – với cái tôi trữ tình của bài thơ; trong khi ở tùy bút, tản văn, nhất là truyện, anh ta phải so sánh để đi tìm bản thân như một cá thể giữa cả thế gian nhiều cá thể khác. Có lẽ vì thế Riordan cho rằng, “hầu hết thơ Việt và thơ Việt-Mỹ hiện đại trong tuyển tập song ngữ mới Thơ kể liên quan tới những câu hỏi, cái gì là thật, ‘thật’ nghĩa là gì, sự vật nào đó thì có ý nghĩa nào.” (Phụ lục 8).

Cái tôi chủ thể làm nên phong cách nghệ thuật ở từng tác giả, chỉ tiếc là Tân hình thức Việt vẫn còn bị “đồng phục” kỹ thuật. Đọc khoảng 20 bài bất kỳ bỏ tên tác giả ra, rất khó biết “ai là ai”. Trừ số ít người đã làm chủ ngôn ngữ thuần Tân hình thức (Khế Iêm, Nguyễn Hoài Phương, Lưu Hy Lạc, Gỷang Anh Iên, Nguyễn Tất Độ); hoặc các nhà thơ mang dấu ấn phong cách từng có ở các thể tài của thơ khác vào Tân hình thức: Nguyễn Đăng Thường (chủ đề thế sự sinh sự lung tung beng, ẩn ức giễu hài tá lả), Đỗ Kh. (giọng điệu cà tưng, ẩn ức libido văn chương), Inrasara (nỗi đau nhân tình nhân thế triền miên, đề tài văn hóa Chăm), Hoàng Xuân Sơn (bút pháp ngôn ngữ biến dạng trong cảm xúc rời, sâu), Phan Tấn Hải (tình lứa đôi quyện tình quê hương trong tình nhân loại), Nguyễn Đình Chính (uất ức thời cuộc dồn vào trữ tình đau đáu trong ngôn từ thô mạnh), v.v… Ở thơ truyền thống và tự do, các nhãn tự dễ tạo ra hình tượng qua cái tôi cá nhân. Nhãn tự dựng nên danh tiếng thi sĩ. Tân hình thức tạo bài thơ nhờ cú pháp. Vậy, tên tuổi nhà thơ Tân hình thức được làm bằng… “nhãn cú”?

V.5. Tân hình thức Việt giữa câu chuyện dài Hậu hiện đại
V.6. Về tính truyện ở Thơ Tân hình thức Việt91
VI. Nói thêm về kỹ thuật vắt dòng; và một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc

Trần Dần đã thấy “mưa rơi không cần phiên dịch”, hẳn thi nhân cũng đồng tình rằng thơ hay không cần kỹ thuật. Thơ hay vượt lên kỹ thuật. Và trước khi vượt, thơ phải vòng qua kỹ thuật. Vòng như thế nào là cả một đời thơ. Nhiều khi hết đời cũng không được như thế. Vô tình hay hữu ý, hệ lụy kỹ thuật đeo dính bên người làm thơ. Theo mỗi câu rồi mỗi bài, từ mỗi thế hệ tới mỗi khuynh hướng…

Không vắt dòng, không có Tân hình thức; nhưng ngược lại “cái áo” vắt dòng không làm nên “thày… Thơ” Tân hình thức. Đã có nhiều lý giải, tranh biện về kỹ thuật này; nhất là xung quanh các bài của Khế Iêm. Chưa thấy có bài nghiên cứu dành riêng cho kỹ thuật vắt dòng về nguồn gốc thể loại và cú pháp, phân tích đặc trưng và minh họa sáng tác. Ở đây, chúng tôi cũng chỉ điểm qua, kèm ý kiến từ một số nhà phê bình, nhà thơ tiêu biểu, nhằm làm rõ hơn các phần trên đã đề cập. Sau đó sẽ dẫn ra một số câu thơ, bài thơ từ thơ không-Tân-hình-thức nhờ ngắt dòng đã trở nên hay một cách lạ lùng; có những câu vi diệu.

Trở về luật lệ, quy tắc – Tân hình thức tự chọn gánh nặng “ngàn năm áo mũ”92 mà Thơ Mới đã trút bỏ những gì vướng víu bằng cuộc cách mạng thi ca đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam kể từ khi có thể loại văn học mang tên thơ. Nhưng thơ là cuộc đời, là con người. Thơ Mới thực thi được sứ mệnh cũng nhờ công cuộc vận động cải cách văn hóa và văn minh của toàn thể dân tộc và xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 ở buổi giao thời đang vượt thoát văn hóa Bắc thuộc, văn minh Trung Hoa trong khi chịu phong tỏa của văn hóa Pháp, văn minh Âu châu. Luật tắc Tân hình thức Việt được sinh ra từ một kỷ nguyên có đời sống vật chất và tinh thần Âu-Mỹ giữ chủ đạo với đại diện là quốc gia Hoa Kỳ, trong giai đoạn thế giới vừa hết thế lưỡng cực Chiến tranh Lạnh (1945-1991) và được giao lưu gần như về toàn bộ. Từ con người, đất sống, chiến tranh… cho đến ngôn ngữ, nghệ thuật, thi ca… Tức là, kỹ thuật Thơ Tân hình thức Việt thuộc về kỹ-thuật-thời-đại – cái kỹ thuật đậm ảnh hưởng của tiếng Anh, của nước Mỹ. Theo đúng nghĩa của nó, một kỹ thuật văn chương có tính toàn cầu phải phủ sóng lên các ngôn ngữ, quốc gia khác. Với 2 yếu tố vắt dòng và lặp lại, kỹ thuật Tân hình thức Việt đã như thế.

Theo nhiều khảo cứu, thơ tự do như là lần đầu tiên có mặt ở Âu châu từ thời Phục Hưng (các thế kỷ 14-17), điển hình qua tác phẩm của William Shakespeare (như Hamlet). Người ta cho rằng lối thơ này coi trọng cách đọc thơ, hay sự sắp xếp theo chiều dọc của trang thơ. Với kỹ thuật vắt dòng, thể thơ không vần tiếng Anh đã “phá bỏ cách đọc ngừng lại ở cuối dòng và đọc từ dòng trên vắt xuống dòng dưới theo cú pháp văn phạm, rõ chữ, và câu liền lạc.”93

Khế Iêm, như là người lập thuyết và người sáng tác, từng giải thích xuất xứ và ý nghĩa của kỹ thuật vắt dòng ở Tân hình thức Việt:

    • “Trong thơ thể luật tiếng Anh, kỹ thuật vắt dòng rất thông dụng, so với kỹ thuật dòng gãy (line break) của thơ tự do. Khi chuyển qua thơ Việt, kỹ thuật này được định nghĩa như sau: Khi dùng cách vắt dòng (enjambment) phá đi cách đọc dừng lại ở cuối dòng, người đọc bị thúc đẩy đi tìm lại phần đã mất (của câu), tốc độ đọc nhanh hơn, và phải đọc  bằng mắt. Điều này gợi tới ý niệm thời gian và không gian trong thơ. Cái phần mất đi ấy là phần gì, phải chăng là một phần đời sống, của quá khứ hay của tương lai, và như thế, hiện tại không lẽ chỉ là cái trống không? Nhưng cái trống không ấy lại chẳng trống không vì những chuyển động không ngừng của cái biết và chưa biết, đè lấp lên nhau. Thơ bật lên từ sự vặn vẹo và phức tạp của văn phạm và cú pháp (syntax), tạo thành nhịp điệu và nhạc tính. Điều rõ ràng, bài thơ và tri giác về nhịp điệu (perception of rhythm) không nằm ở ngôn ngữ (chữ), mà ở nội dung ngôn ngữ (the content of the language). Nội dung ngôn ngữ chính là những chuyển động của cảm xúc trong phạm trù văn phạm và cú pháp.”94

Trước Tân hình thức Việt, kỹ thuật vắt dòng từng đi vào thơ Việt Nam, và theo Đặng Tiến, “thường gặp trong Thơ Mới, là một kinh nghiệm tiếp thu từ thơ Pháp, làm nổi bật một từ ngữ, hình ảnh nào đó. Đến Bích Khê (1915-1946) thì lối vắt dòng trở thành một thi pháp toàn diện, có giá trị thẩm mỹ riêng (dùng chữ ngắt dòng có lẽ đúng hơn là vắt dòng)”. (Chú thích 67). Lại có ý kiến cho rằng trong thơ Việt người dùng thủ pháp này nhiều nhất là Xuân Diệu95? Với Nguyễn Hưng Quốc, “Thơ Mới và những dòng thơ chịu ảnh hưởng sâu đậm của Thơ Mới cấu trúc trên sự pha trộn giữa dòng và câu, từ đó làm nảy sinh ra loại câu bắc cầu (enjambment) quen thuộc”.96

Qua những gì chúng tôi được đọc và còn ít ỏi, Bùi Giáng là tác giả có nhiều ngắt dòng với những cái ngắt đáng giá. Thơ của Trung niên thi sĩ thường ngắn, về văn bản vẫn là một bài, còn về nhịp điệu, ngôn ngữ và thi cảm thì là cả một-bài-thơ-lớn trong đó những cú ngắt dòng đã không làm trầy trậy văn bản. Nhân đây, cũng muốn lưu ý về 2 bài thơ tự do rất lạ, hy hữu về sự ngắt dòng toàn thể nhưng dường như ít được dư luận quan tâm. Bài Hơi thở của Thanh Tâm Tuyền và bài Khúc mùa thu của Trần Kiêu Bạt. Hai bài cùng được viết ở miền Nam trước 1975, và dù hơi dài cũng sẽ được dẫn lại trong phần Phụ lục. Nếu xét từng thành phần thi pháp (ngôn ngữ, đề tài, nhịp điệu, tính truyện…) và rõ nhất là hình thức (đều chữ) sẽ thấy ngay cả 2 bài cùng khác rất xa thể Thơ Tân hình thức. Nhưng cả hai đều đã dùng kỹ thuật ngắt dòng làm thủ pháp. Đó cũng là ví dụ chính xác để phân biệt ngắt-dòng với vắt-dòng mà Đặng Tiến gợi ý. Là thơ tự do không vần, Hơi thở mang cấu trúc cú pháp, hình tượng, cảm xúc và cả nhạc tính của một bài thơ văn xuôi. Tỷ lệ ngắt dòng cao đến gần 9/10 và nhiều chỗ khiên cưỡng. Còn ở Khúc mùa thu sự ngắt dòng tự nhiên hơn, tỷ lệ ngắt dòng chừng 4/10; về thể loại đó là một bài thơ tự do.

Là người sáng tác trưởng thành bằng Tân hình thức, Biển Bắc chia sẻ:

  • “Vắt dòng để phân biệt với văn xuôi. (…) Kinh nghiệm của chúng tôi khi áp dụng kỹ thuật vắt dòng và lập lại là phối hợp 2 yếu tố này ở một biên độ rộng hơn. Vắt dòng không chỉ gò bó ở dòng văn, câu chữ, mà chúng tôi nới rộng ra phía vắt dòng tư tưởng, vắt dòng cấu truyện, vắt dòng âm thanh/ điệu. Song song chúng tôi dùng kỹ thuật lập lại để lôi kéo người đọc trở lại với bài thơ. Đặc biệt là nếu phối hợp hai kỹ thuật này nhuần nhuyễn, chúng ta có thể từ vắt dòng buộc người đọc phải rơi vào bế tắc trên con đường rồi dùng lập lại, cụm từ giống nhau nhưng ở một ngữ cảnh khác xô người đọc vào một thế giới khác, tùy theo sự suy diễn của độc giả (…) Mỗi lần đọc, tùy lúc vắt dòng và tùy theo suy diễn ngữ cảnh của sự lập lại, một bài thơ lại có thể thành một bài thơ khác với một tính truyện khác ở một góc đời/ cuộc sống khác.”97

Vắt dòng phải gọi ông này sư ông: “Sư ông” Bút Tre! Lục bát Bút Tre vót lên một khuôn trời nghệ thuật ngôn ngữ dân gian Việt Nam thời hiện đại mà chắc là độc nhất vô nhị giữa các nền văn hóa nhân loại. Đã có nhiều bài vở dài và ngắn, nghiêm túc và tếu táo giải mã siêu hiện tượng này. Chúng tôi chỉ muốn nhích thêm một điều. Không thuộc vào loại hình trữ tình, thơ Bút Tre có kỹ thuật phá-dòng vô song với mục tiêu phi văn chương. Cố ý, cố tình, cố công, cố sức để cưỡng từ, cưỡng vần, cưỡng ý, cưỡng điệu, bằng mọi giá miễn sao về cảm xúc mang lại tiếng cười vô tư và đáo để, hồn nhiên và thống khoái. Nếu có chút gì ác ý thì không ác tâm. Đó là nghệ thuật của cái ác lành! Lành ở chỗ, chỉ nhằm cứu cánh tuyên truyền chính trị, giải trí mua vui. Phương tiện phá dòng không phá hoại ai, không xuyên tạc gì. Dân tình và giới có thẩm quyền sẽ miễn trừ hoàn toàn sự biện minh cho nó! Vâng, nó chỉ phá dòng mà thôi. Vì con người, nghệ thuật đã tự hủy hoại; há chẳng cao đẹp sao? Thủ pháp phá dòng ở lục bát Bút Tre đạt tới độ siêu-thi-pháp. (Viên Mai tái sinh hẳn cũng phải chạy vào gia trang bótay.com mà trốn!) Nhưng, nghệ thuật cú pháp và chức năng thẩm mỹ của nó khác hẳn sự ngắt-dòng, rớt-chữ, gãy-dòng, bắc-cầu ở thơ vần luật, thơ tự do của các tác giả Thơ Mới và sau này; và tất nhiên hoàn toàn khác vắt-dòng Tân hình thức. Khi có dịp chúng ta bình kỹ hơn về nghệ thuật nối-dòng giữa các chi tiết, hình ảnh cười bay nước mắt cười bụm cả miệng của một luồng thơ dân gian Việt đương đại khi liên hệ với thể thơ kể – nhịp đập đời thường trong thời hậu hiện đại.

Phụ lục 5- cống hiến độc giả một hàng châu ngọc xâu chuỗi từ kỹ thuật ngắt dòng/ rớt chữ/ bắc cầu trong thơ vần điệu, tự do của một số tác giả danh tiếng, quen thuộc: Bùi Giáng, Bích Khê, Xuân Diệu, Du Tử Lê, Trần Lê Nguyễn, Chế Lan Viên, Trần Kiêu Bạt, Ngu Yên, Tế Hanh, Thanh Tâm Tuyền. Chữ in nghiêng ở các câu thơ là người viết nhanh tay “bật ánh sáng” báo hiệu sự giao thông của chữ! Khi nào kho quý đẫy đà, sẽ lại cùng nhau luận bàn về điều hay cái lạ của mỗi loại ánh sáng ấy trong tinh thần Tân hình thức và tất nhiên cả tinh thần không-Tân-hình-thức.

Ở trên, đã mở ra vắt-dòng bằng hình ảnh mưa và chữ của một con người “của mưa và của chữ” trong văn chương Việt hiện đại, tôi muốn khép thao tác thơ Việt mới lạ bằng hình tượng dân gian Việt Nam và cũng ở nhiều xứ sở trên trái đất: Con quay!

Kỹ thuật vắt dòng như chiếc dây, quấn chặt vòng lấy con quay (con vụ), ngoéo vào ngón tay điệu nghệ của những đứa trẻ, vung lên trời, tung thả xuống mặt đất. Con quay quay, quay mãi dưới bao cặp mắt chiêm ngưỡng, so bì trên nền trái đất vững vàng. Kỹ thuật ở lại đó, trong bàn tay người. Khi con quay tít mù nó quên tất cả. Kỹ thuật chỉ còn là một sợi dây mảnh, dai, đẫm mùi vị đất trời, quyện mồ hôi nước mắt người. Nó chờ. Chờ những vòng quấn tiếp, vào con quay đó hay con quay khác đang chờ nó… Nhịp chảy Tân hình thức là thế. Bạn quay đảo trước những dòng chữ bất định, bất yên. Và bạn luôn phải hồi hộp liếc nhanh xuống đoạn cuối bài thơ, chờ khi toàn bài thơ chao chao, nghiêng ngả rồi đổ vật ra ở câu cuối cùng; mà nhiều khi ở vài chữ cuối cùng trơ trọi trong dòng thơ phá luật đếm chữ. Tôi thấy nhiều bài Tân hình thức Việt đã có thủ thuật đổ vật xuống lòng người đọc khi biết chọn những chữ thơ cuối cùng phá luật.

Hứng tình vắt dòng tứ con quay, bỉ nhân liều mình giỡn chơi Tản Đà tiên sinh: chuyển bài Kiếp con quay thất ngôn bát cú Việt ra thể Tân hình thức 5 chữ! Thưa Cụ, con khoái nhất là ngả được thi phẩm của bậc sư biểu thơ Việt tiền hiện đại lăn ra trong gọn một chữ “ngày”, chữ thơ cuối cùng phá luật của Tân hình thức Việt. Kính tiên sinh hạ cố xuống coi Phụ lục 6-.

… Rồi lên ta vắt dòng nhau Vắt cho dòng ấy vào sâu dòng này…98

Những khi nghĩ về Tân hình thức, hãy cám ơn Tạo hóa đã cho các xứ dân vùng đất, trong đó có dân Việt đất Việt, thấu hiểu luật con quay của đời, điệu quay của thi ca.

VII. Tạm kết Hôm nay, Tân hình thức Việt cho chúng ta tụ hội. Với bản thân, mỗi khi dân văn thơ tụ tập, chỉ cần quá hai cái đầu, diện đàm hay qua tham luận, tôi lại thấy những con sóng nổi lên từ bài thơ Đêm liên hoan99:

“Đêm Liên Hoan! Trời ơi, đêm Liên Hoan! Đầu người nhấp nhô như sóng bể ngang tàng Ta muốn thét như vỡ toang lồng ngực…”

Gần 20 năm trước… Những câu thơ ấy, lần đầu tiên trong đời tôi nghe được từ nhà văn Nguyễn Đức Lập diễn ngâm vào một buổi chiều tà văn nghệ sĩ hải ngoại tụ lại từ khắp nơi.

Hôm nay, non sông Việt đã ra khỏi từ lâu cảnh binh lửa như thời Hoàng Cầm kháng Pháp. Trên hành tinh này, thi ca thời chiến, cũng như mọi thành viên lâm trận, có công tội của mình. Nhưng thi ca thời bình, chỉ có thể có công mà thôi. Thơ Tân hình thức Việt, ngoài đóng góp nghệ thuật, thuộc về thi-ca-thời-bình – thơ của thời con người phải không còn biên giới giao tranh. Mà giao lưu.

Bài tiểu trường ca trong thể thơ tự do theo phong cách tự sự xen đối thoại được kết ở lời hẹn mà Hội thảo này cũng là ước nguyện của tiền nhân:

“Bao giờ thu lại tới thu Liên Hoan bừng nở bốn mùa Non Sông!”

Nhịp điệu lục bát sóng nước Việt uyển chuyển không biết đâu đầu cuối, quấn quít bất kể âm dương. Với tôi, Thơ Tân hình thức Việt cũng là sóng. Là lời người nọ nối tình người kia, là kiểu thơ này nối cách ca khác. Nối mãi. Đổ ra sông biển và trôi về núi non. Là các nhà thơ Việt ra đi, và mang thơ trở về…

Để kết thúc, mời trở lại sáng tác mở đường Những nụ hồng của máu của Nguyễn Đăng Thường. Tác giả từng kể với Ban biên tập Tạp chí Thơ: “Bài thơ khá dài (dòng) vì tôi rất mong muốn với vài ba người nó sẽ là một thứ ‘Chanson du Mal Aimé’, hoặc ‘Giây phút chạnh lòng’ hay ‘Le condamné à mort’ của một thời kỳ/ thời đại nhiễu nhương. Những nụ hồng của máu là một ca khúc đầy ‘âm thanh và cuồng nộ’; là thơ tình, thơ lãng mạn, thơ hài, thơ châm, thơ hiện thực/ siêu thực, thơ hạng nhất, thơ hạng bét hay không thơ (tùy người đọc); là tiểu thuyết ba xu, là soap opera, là film noir, cải lương, hát bộ, TV, phim thời sự; là một tranh cắt dán hằm bà lằng, hay đầy nghệ thuật (tùy vào người xem) với những cóp nhặt từ đông tây kim cổ.”100

Giá trị nữa là khi “Nguyễn Đăng Thường vô hình trung đã đưa ra một định nghĩa linh động và cụ thể về Thơ Tân hình thức, mà anh không ngờ tới. Ngoài ra Tân hình thức không cắt đứt với truyền thống, ngược lại còn đa mang, hỗn mang hằm bà lằng quá khứ”. (Đặng Tiến, Chú thích 67).

Kẻ viết bài này không được là phê bình gia nhà nghề. (Chú thích 64). Bài với cả tá trọng điểm “đa mang, hỗn mang hằm bà lằng” hẳn sẽ bị chê, âu cũng là… “tội” – gần thì của Ban tổ chức đã “kêu gọi các tham luận xa gần, không có giới hạn về dung lượng và góc nhìn khen chê, nếu có hứng thú”, “chấp nhận tất cả các ý kiến khác nhau về Thơ Tân hình thức và Tân hình thức Việt từ khi xuất hiện đến nay”; xa là từ 3 thi hữu: 2 đàn anh và 1 bạn. Tôi lãnh chịu “vạ”. Còn như may được khen chút gì cũng nhường Ban tổ chức (trong đó có Khế Iêm thi sĩ kiêm lý thuyết gia phất cờ) và 3 vị – người là tiên phong trong hàng ngũ sáng tác và bảo vệ Tân hình thức Việt; người là nhà phê bình có uy tín hy hữu sánh bút cùng giới sáng tác Tân hình thức Việt; và người là thi sĩ kiêm phê bình gia, dịch giả không-Tân-hình-thức Chân Phương. Họ, tất cả, đã gom tay khêu lửa dựng trại nổi gió bão cho tôi tân hình thức dù nhúm thơ tôi làm không đáng nửa mồi củi bụi, và nay đang thử thêm một “linh động và cụ thể” trong phê bình Thơ Tân hình thức Việt.

Kể sao hết được…

Xin gửi lời cám ơn chung tới Ban tổ chức, các tham luận viên và độc giả, cùng các tác giả mà bài đã trích dẫn. (*)


Vancouver – mùa Thu 2013, ngày 19/10 Đỗ Quyên ————- (*) Bản rút gọn của Tham luận này đã in trong tuyển tập “Thơ Tân hình thức Việt – Tiếp nhận và sáng tạo”; Kỷ yếu Hội thảo, Tạp chí Sông Hương (Huế) & Tan Hinh Thuc Publishing Club (California) – 2014. Bài viết như nén hương xa viếng tặng bạn văn Đà Linh.


PHỤ LỤC

1- Bài thơ Vệt mực và tờ giấy101 (Nguyễn Tất Độ)

Tôi quệt một vệt đen lên tờ giấy trắng. Một vệt đen trên tờ giấy trắng. Tôi mang đi hỏi người. Có người nói: “Một vệt đen”. Có người nói: “Một tờ giấy trắng”. Có thể vì không thấy một vệt đen, hay thấy tờ giấy trắng kia còn hữu dụng. Tôi thì nói: “Một tờ giấy trắng có vệt đen”. Lại nữa, tôi quệt một vệt đen lên tờ giấy đen. Tôi mang đi hỏi người. Ai cũng bảo: “Một tờ giấy đen”. Có thể vì không ai thấy vệt đen. Một vệt đen trên tờ giấy đen thì làm sao mà thấy Duy chỉ mình tôi biết rõ, trên tờ giấy đen có vệt đen. Lại nữa, tôi…

2- Bài thơ Bữa tối (Nguyễn Quang Thiều) Nguyên bản (tập tuyển Châu thổ, Nxb Hội Nhà văn 2011)

Các con, cháu tôi đến trước Bố mẹ tôi đến sau Rồi đến tôi

Theo chân tôi là con chó vàng và con mèo mướp Rồi bầy muỗi mùa hạ Rồi ngọn gió cánh đồng Rồi vầng trăng trên bầu trời khô hạn

Người cuối cùng là đứa trẻ hàng xóm Đến và ngồi bên tôi Con chó gầm gừ cổ họng

Tôi đói những gì không có trong mâm Bữa tối dọn ở chân trời có chớp.

“Chuyển thể” Tân hình thức Việt (Chú thích 38)

các con cháu tôi đến trước bố mẹ tôi đến sau rồi đến tôi theo chân tôi là con chó vàng và con mèo mướp rồi bầy muỗi mùa hạ rồi ngọn gió cánh đồng rồi vầng trăng trên bầu trời khô hạn người cuối cùng là đứa trẻ hàng xóm đến và ngồi bên tôi con chó gầm gừ cổ họng tôi đói những gì không có trong mâm bữa tối dọn ở chân trời có chớp.

3. Trích bài thơ Vàng Sao (Chế Lan Viên, tập Vàng Sao, Nxb Tân Việt 1942; và vnthuquan.org 22/5/2005)

“Bay lượn, múa nhảy phỏng làm gì nữa. Ta đọc vội một tập sách khi chưa thấm nhuần cỏ hoa của mỗi trang riêng, uống tràn một chén thơm khi chưa vào thấu biển trời của từng ngụm một, vô biên ta đòi hỏi nó chỉ vì ta chưa hiểu Vô Biên. Một mai khi từng điểm của nó đã gạn chảy vào ta tất cả cái ý nghĩa hãi hùng – hồn líu lại, lưỡi khô đi – ta rụng xuống giữa lưng chừng trời mà chết. Chẳng phải cảnh bài trí cho cái Có của thế gian, chẳng phải sự biện hộ cho cái Không của vũ trụ, mà để rạng rỡ danh Cha, mà để đày đọa kiếp Người, bầu trời chỉ có ý nghĩa thế thôi, hai công ở trong một việc. Chúng ta đây, say sưa với thương yêu, quay cuồng theo thú dục, cố bưng bít dấu che bằng tường đất bùn của xác thịt, cửa the lụa của tâm tư – hễ là người thì phải đọc Thiên chương, giơ đầu ra cho nắng tinh thần chói rọi.”

4- Bài thơ Vịt trời/ Widgeon (Seamus Heaney)

Bản dịch tiếng Việt (Lê Đình Nhất-Lang, theo nguyên bản tiếng Anh, sách Station Island, 1984; damau.org 13/9/2013) (cho Paul Muldoon) Nó trúng phát đạn ác lắm. Ông nói, khi ông vặt lông nó ông tìm thấy cái thanh quản – như một lỗ sáo trong cái thanh quản vỡ – và thổi vào nó một cách chẳng ngờ những tiếng kêu vịt trời nho nhỏ của ông.

Nguyên bản tiếng Anh (performancewritingma.blogspot.ca 7/3/2011) (for Paul Muldoon)

It had been badly shot. While he was plucking it he found, he says, the voice box – like a flute stop in the broken windpipe – and blew upon it unexpectedly his own small widgeon cries.

5- Một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc

– Bùi Giáng:

Em chết bên bờ lúa Để lại trên đường mòn Một dấu chân bước của Một bàn chân bé con (Trích bài Bờ lúa, thivien.net 7/4/2009, và Mưa nguồn, Nxb Hội Nhà văn 1993, tr. 51)

Ấy rằng tinh thể đười ươi Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và Ấy rằng một cũng là ba Là hai mai một mốt là hôm nay. (Xóa nhòa)

Tóc xanh dù có phai màu Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng Xin chào nhau giữa lúc này Có ngàn năm đứng ngó cây cối và Có trời mây xuống lân la Bên bờ nước có bóng ta bên người (Chào nguyên xuân, thivien.net 8/8/2006, và Mưa nguồn, tr. 29)

– Bích Khê: Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ Êm biếc – khóc với thu – lời úa ngô Vàng – Khi cách biệt – giữa hồn xây mộ – Tình hôm qua – dài hôm nay thương nhớ…) (Duy Tân; Nguồn: Chú thích 67)

– Xuân Diệu: Bâng khuâng chân tiếc giậm lên vàng, Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang, Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá Và làm sai lỡ nhịp trăng đang. Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh, Cho gió du dương điệu múa cành; (Trăng; Nguồn: Chú thích 95, và thivien.net 25/6/2005)

– Du Tử Lê tay cầm tay, lên: chia hai : mũi đinh đóng xuống đời. Thôi nhé. Đừng xa người. sao tôi không dưng ? địu em trước ngực, lưng buồn râm, ran. (Lục bát sao kim, dutule.com 2/3/2010)

– Trần Lê Nguyễn Mỗi lần tôi mượn tiền bạn bè là mấy thằng chó chết chưa hề có con cười hô hố bảo là tôi lại sắp phịa chuyện đến nhà thương thăm con mới đẻ. (…) Đêm cưới em, anh sẽ không ghé câu lạc bộ mà vào Snack Bar uống rượu thật say (dĩ nhiên bằng tiền đánh bạc chứ không phải tiền viết văn) rồi không ghé đăng-xing (dù biết rằng sắp bị đóng cửa) mà đi ngược về đường Duy Tân (một nhà vua cách mạng) hay dọc theo đại lộ Hai Bà Trưng (hai nữ anh hùng dân tộc) tìm gặp một “me” lính Pháp ra đi còn để lại Để suy ngẫm về cõi đời và mừng em lấy chồng Mỹ (Không rõ nhan đề bài thơ của hai trích dẫn; Thanh Tâm Tuyền, Tiếng nói một người, Tạp chí Vấn Đề số 1 tháng 3/1967, và damau.org 25/10/ 2010)

– Chế Lan Viên:

Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ Trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây Cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm Cũng thêm màu trên cánh đang bay. (Tập qua hàng; Nguồn: Chú thích 67, 95, 96)

– Trần Kiêu Bạt: 1. Xin một lần ngồi suy nghĩ trong tận cùng trí nhớ mùa thu nào có đôi chim bay về nhà em làm tổ – từng cánh chim nõn nà như những ngón tay em – ôi! những ngón tay sầu trong anh vạn cổ ngôn ngữ nào anh diễn tả cùng em – buổi sáng với đôi chim mớm mồi cho nhau cất giọng hát cao khi mùa thu trở về với nắng vàng vuốt ve sự sống. 2. Mùa thu nào anh làm tên họa sĩ triền miên vẽ hình chúng mình trong một vòng chữ thọ to lớn. Bởi từ khi sinh ra đời cái chết vẫn luôn rình rập trong hơi thở trong bước đi, trong những mật ngọt yêu thương trong những đắng cay đời sống. 3. Mùa thu nào anh ước mơ cùng em đi về khu vườn địa đàng – giăng tay hái sao làm hạt giống trồng cây ái ân giữa lòng thung lũng in đầy những dấu chân chim. anh sẽ thay quyền thượng đế triệu tập loài người trở về phong em làm hoàng hậu và triệu tập loài người trở về với những tự thú tham lam nhớp nhơ bỉ ổi. đời sống sẽ rất bình thường vì không còn những sự cám dỗ bởi anh không muốn con người làm nên tội lỗi thứ hai. 4. Và bây giờ anh ngồi đây với mùa thu – mùa thu không còn những cọng cỏ non xanh ngón tay em mùa thu không còn đôi chim bay về nhà em làm tổ mùa thu không còn ước mơ một đời cao vọng. Quá khứ bỗng nhiên kéo về tràn đầy trong không gian – ôi khoảng không gian với tháng ngày xếp nhăn ý thức. Mùa thu nầy anh thiếu em – thiếu em. (Toàn bộ bài Khúc mùa thu, Tuyển thơ Lá, Nxb Hồn Trẻ 20, Sài Gòn 1967; và gio-o.com)

– Ngu Yên

Dặn anh đứng trên chân lý của em Anh lại cãi lời lẽ của lửa cháy Anh muốn tìm thấy trong ngày cuối cùng lý do chết là đẹp (Ngày 8 tháng 8 năm 2012, gio-o.com)

– Tế Hanh: Ngàn năm sau, chỗ đôi ta Yêu nhau có lẽ lá hoa mọc đầy (Không đề, motsach.info)

– Thanh Tâm Tuyền:

Tôi vẫn sống thiết tha dù không còn hình ảnh, dù không còn âm thanh. Làm sao tôi biết được thế nào là tự do. Người ta tàn nhẫn đóng cửa không thèm bố thí, tiếng kêu than bóng hạnh phúc chỉ là kẻ ăn mày khốn nạn. Hôm nào tôi thường lang thang dưới những rặng cây, không phải là mùa thu hay mùa đông cũng chẳng phải mùa hạ hay mùa xuân Thời tiết đã trốn mất chỉ còn vừng trán và trời, bàn tay và mây, mắt với hư vô. Tôi tin rằng tôi sẽ nổi loạn, tôi sẽ làm cách mạng cùng những người anh em của một ngày chưa ước hẹn. Nhưng rồi tôi biết tôi đang chết, tôi đang yêu người đàn bà phụ bạc. Nàng cấu xé thân thể tôi, nàng giày vò linh hồn tôi. Nàng chỉ cho tôi trông thấy màu đen của tròng mắt nàng, màu đen xoáy sâu hun hút con đường địa ngục yêu đương. Tôi không nhìn ai hết.

Tôi phải yêu? Tôi níu lấy ngực nàng than khóc, giữa đêm dài tôi chỉ nghe tiếng khóc của tôi. Tôi còn nghe dưới lưng tôi cỏ hoang bứt rứt, côn trùng nỉ non, thân xác phá hoại Và buổi mai không bao giờ thức dậy nữa. Tôi phải yêu? Yêu hết tuỷ của người tôi. Và tròng mắt nàng quay tít như vũ trụ trở lại ngày khởi đầu. Tối tăm. Hỗn loạn.

Tôi lết qua những đường mòn như loài bò sát tủi thân. Những buổi chiều quạnh quẽ không còn là chiều. Tôi nhớ lắm, tôi phải xé toang thân thể đập vỡ linh hồn để ném vào mặt trời cho sức nóng khiến tôi hoàn toàn vô tri giác. Tôi nhớ lắm, tôi nhớ tôi phải vượt qua muôn trùng cách trở bằng cánh thần linh đến nơi hò hẹn. Mà tôi tê liệt.

Khi tôi đã nằm giữa nơi sa mạc miệng đầy cát khô thì tôi không còn hình ảnh không còn âm thanh. Tôi vẫn hỏi thế nào là Tự do. Tôi đã yêu ai trọn vẹn mối tình thơ dại. Trời trắng rất nóng trong đầu ruồi bọ khoét mắt Tôi vẫn sống thiết tha dù hôm nay chỉ còn – còn vừa đủ một hơi để thở. Tôi vẫn sống thiết tha dù hôm nay biết chắc chẳng ai đến hôn vào môi mình cho thêm một hơi thở. Người ta đã phụ nhau rồi, phải không em? (Toàn bộ bài Hơi thở, Liên Đêm mặt trời tìm thấy, Nxb Sáng Tạo 1964, và thivien.net 15/7/2009)

6- Bài thơ Kiếp con quay (Tản Đà, Đánh quay, Wikipedia) Trời sinh ra tớ kiếp con quay, Quay tít mù xanh nghĩ cũng hay. Lì mít giang sơn khi chóng mặt, Đùng lăn thiên địa lúc rời tay. Lăng băng thân thế đi, đi, đứng, Nghiêng ngả quan hà tỉnh, tỉnh, say. Thân tớ ví to bằng quả đất, Cũng cho thiên địa có đêm ngày.

“Chuyển thể” Tân hình thức Việt:

Trời sinh ra tớ kiếp con quay quay tít mù xanh nghĩ cũng hay lì mít giang sơn khi chóng mặt đùng lăn thiên địa lúc rời tay lăng băng thân thế đi đi đứng nghiêng ngả quan hà tỉnh tỉnh say thân tớ ví to bằng quả đất cũng cho thiên địa có đêm ngày.

[Các mục 7-8-9- dưới đây đang được bổ sung]

7- Danh sách một số tuyển thơ, bài phê bình, lý luận Thơ Tân hình thức Việt

* Tuyển tập thơ: + Thơ không vần – Blank Verse, song ngữ Việt-Anh, Nxb Tan hinh thuc, California 2006, khoảng 450 trang, 65 tác giả trong-ngoài Việt Nam, lời giới thiệu: Đặng Tiến, tựa: Khế Iêm, chuyển ngữ: Đỗ Vinh. + Poetry Narrates – Thơ Kể, song ngữ Việt-Anh, Nxb Lao Động, Hà Nội 2010, gần 300 trang, 21 tác giả giả trong-ngoài Việt Nam, lời giới thiệu: Angela Saunders.

* Tập thơ cá nhân: + Đoàn Minh Hải, Đại nguyện của đá ấn bản 2002, và Nxb Thanh Niên, Hà Nội 2013. + Lưu Hy Lạc, 26 Bài thơ Tân hình thức, Nxb Giọt sương hoa, Hoa Kỳ 2002. + Hà Nguyên Du, Gene đại dương, Nxb Tạp Chí Thơ, Hoa Kỳ 2003. + Inrasara, Chuyện 40 năm mới kể &18 bài tân hình thức, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội 2006. + Khế Iêm, Thơ khác, song ngữ Việt-Anh, Do Vinh dịch, nxb Tan hinh thuc, California 2011. + Biển Bắc, Thúy liên khúc ngoài, Nxb Văn Học, Hà Nội 2012. * Sách: + Khế Iêm, Stepping Out/ Essays On Vietnamese Poetry- Bước ra/ Tiểu luận thơ Việt, Tan hinh thuc Publishing Club, California 2012. + Khế Iêm, Vũ điệu không vần – Tứ khúc và những tiểu luận khác, tập nghiên cứu phê bình, Nxb Văn Học, Hà Nội 2011. – Chú giải về Thơ Tân hình thức – Tân hình thức & quan điểm thẩm mỹ mới – Tân hình thức và Hiệu ứng cánh bướm – Tân hình thức và thể thơ không vần – Nhịp đập của thực tại – Đọc thơ – Thuở trời đất nổi cơn gió bụi – Thơ Bùi Giáng, một thử nghiệm đọc – Thơ tự do, một tiếng gọi khác – Tân hình thức: Cuộc chuyển đổi thế kỷ, Tạp chí Thơ số Mùa Thu 2000. – Khế Iêm, Tân hình thức bước ra từ nền văn học suy tàn, tựa của tuyển tập Thơ không vần – Blank Verse. – Khế Iêm, Phong cách tân chiết trung, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com 15/06/2012. – Khế Iêm, Tân hình thức, nhắc lại – 10 năm, Tạp chí Sông Hương số 262 tháng 12/2010, và tapchisonghuong.com.vn 20/12/2010. – Khế Iêm, Các tiểu luận – Ghế và Người Thơ Tân Hình Thức đọc – Thơ tình, từ truyền thống đến Tân hình thức – Thơ không vần, kể lại – Đọc (Hội hoạ) – Vũ điệu không vần – Mark Jarman & David Mason, Những thiên sứ nổi dậy: 25 nhà thơ Tân hình thức, tựa cho tuyển tập Rebel Angels: 25 Poets of the New Formalism, 280 trang, Nxb Story Line Press, Oregon 1996, Nguyễn Tiến Văn dịch, tapchisonghuong.com.vn 26/6/2012. – Đặng Tiến, Về một xu hướng thơ Việt hải ngoại – Thơ Tân hình thức, Tạp chí Sông Hương số 244 tháng 6/2009. – Thăng Long, Thơ Tân hình thức và cái khó của người sáng tạo, Tạp chí Sông Hương số 273 tháng 11- 2011, và tapchisonghuong.com.vn 31/10/2011. – Nguyễn Vy Khanh, Thơ hôm nay, vanchuongviet.org 23/9/2012.

8- Danh sách một số bài giới thiệu, tán đồng, ủng hộ Thơ Tân hình thức Việt – Văn Giá, Về một nỗ lực làm mới thơ Việt, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com.vn 29/6/2012. – Nguyễn Thái Hòa, Tôi đọc Chùm thơ Tân hình thức, hoangvuthuat.vnweblogs.com17/11/2012. – Frederick Feirstein, Giới thiệu tuyển tập thơ Khế Iêm, Phạm Kiều Tùng dịch từ tiếng Anh; sách Other poetry – Thơ khác. – Alexander Kotowske, Bình luận về ‘Thơ khác’, Phạm Kiều Tùng dịch từ tiếng Anh, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com.vn 19/6/2012. – Tom Riordan, Vài ý nghĩ về thơ kể, Tunisia & P.K.T. dịch từ tiếng Anh, Tuần báo Văn Nghệ, số 35-36, đầu tháng 9/2010, và phongdiep.net. – Inrasara, Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại, inrasara.com 3/3/2009. – Khế Iêm/ Văn Bảy, Thơ kể – tiếp nhận một thể mới cho thơ Việt!, thethaovanhoa.vn 18/7/2010. – Inrasara/ Thu Huyền, Phong trào văn học nào bất kì cũng cần đến sự tổng kết, đánh giá, Báo Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và inrasara.com 2/10/2013. – Ra mắt tuyển thơ Tân hình thức Việt đầu tiên, thethaovanhoa.vn 18/5/2010, và vanhocquenha.vn.- Khế Iêm, Truyện “Thơ Tân Hình Thức, Sông Hương Đặc biệt số 7 tháng 12/2012, và tapchisonghuong.com.vn 4/1/2013. – Quỳnh Thi, Tôi làm Thơ Tân hình thức, thotanhinhthuc.org. – Quỳnh Thi, Tân hình thức – một thể thơ đã thành hình trong văn học Việt Nam, thotanhinhthuc.org. – Nguyễn Hiền, Biển Bắc, nhà thơ Tân hình thức, caidinh.com 2012. – Cái Đình, Nhà thơ Biển Bắc nhận giải thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2/6/2007. – Đỗ Quyên, Tân hình thức – Ba bài thơ và các bình luận, damau.org 26/10/2009. – Những bài thơ tân hình thức Mỹ, tapchisonghuong.com.vn 29/6/2012. – Ghi chú về bộ tranh Thơ tân hình thức, Sông Hương Đặc biệt số 7 tháng 12/2012, và tapchisonghuong.com.vn 7/1/2013. – Hà Nguyên Du, Thúy – Liên khúc người xa, ca khúc; lời thơ Tân hình thức của Biển Bắc, tapchisonghuong.com.vn 7/1/2013.

9- Trích lược một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt (Các chỗ in nghiêng là nhấn của người biên soạn)

+ Mã Giang Lân (Thơ và không chỉ là thơ, Văn Nghệ số 39/2013, và vannghequandoi.vn 8/9/2013) “Một nhóm thơ hải ngoại ròng rã 20 năm rồi, cố gắng xây dựng một Tân hình thức cho thơ Việt. Tân hình thức cũng gò vào thể luật vần, tính truyện, kỹ thuật vắt dòng và lặp lại kết hợp với hiệu ứng cánh bướm… Nhưng ‘tân nội dung’ của Tân hình thức đôi khi chỉ là những thứ lặt vặt, tầm thường, còn ‘đời sống bình thường tự nhiên, thoải mái, thể hiện mong ước của con người mang tính nhân bản, niềm vui và hạnh phúc trong tinh thần cảm thông bình đẳng’ [Tạp chí Thơ, số Mùa Xuân 2003, tr. 5] thì thật dễ dãi nhàm chán. Ấy vậy, gần đây (2012), có người viết bài bệ vệ biểu dương thơ Tân hình thức. Tôi ngờ rằng tác giả bài viết hiểu về Tân hình thức và thơ Tân hình thức còn lơ ngơ lắm, thấy lạ thì xáp vào hy vọng tìm được một hồi âm có cánh.”

+ Nhã Thuyên (Vài băn khoăn nhỏ từ Tân hình thức của nhà thơ trẻ, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012; và tapchisonghuong.com.vn 19/6/2012) – “Điều nghịch lý là khi nỗ lực tận dụng các ưu thế của truyền thống thơ luật, với những hình thức ít nhiều cố định, tên gọi Việt ngữ đèo bòng chữ “Tân” lại gây ra cảm giác xa lạ và mệt mỏi, bất kể hành trình đầy đam mê và không ít lạc quan của (những) người chủ trương, đặc biệt là Khế Iêm – nhìn vào nỗ lực của anh nhiều năm qua với Tân hình thức Việt, dẫu kẻ hoài nghi nhất có thể cũng ít nhiều cảm kích. Người ta thấy như thể nó mãi là một du khách, chưa kể đến sự lơ đãng vốn dĩ của người đọc với thơ ca nói chung.” – “Sức hấp dẫn/ kém hấp dẫn của Tân hình thức với bạn đọc Việt Nam cho đến nay, tôi tin, không phải vấn đề nó xa lạ hay người ta chưa dung nhận những cái khác của thi pháp Tân hình thức, mà có thể nằm ở chỗ sự khác biệt của nó chưa được đẩy lên thành một triết lý riêng về thẩm mỹ chăng?” – “Việc đưa thơ trở lại đời sống cộng đồng rộng rãi như đã từng trong quá khứ nhân loại có thực hiện được bằng việc tạo ra một thể thơ mới không?”; “Tôi nghĩ, những yếu tố có thể dễ dàng gọi tên như vắt dòng, kỹ thuật lặp lại, tính truyện, ngôn ngữ đời thường chỉ là một trong những điều kiện cần cho sự hình thành một thể thơ. Mọi thủ pháp, ngay cả khi nâng lên thành thi pháp, thành kĩ năng hay nghệ thuật, không biện hộ được cho sự tồn tại riêng lẻ của từng bài thơ, không thể lí giải cho sự quan tâm hay thờ ơ của người đọc.”; “Lặp, vắt dòng có khả năng là những yếu tố chủ yếu hay chủ yếu nhất trong việc tạo nhịp điệu và khắc phục áp lực bằng trắc trong ngôn ngữ tiếng Việt? Ngôn ngữ đời thường có thể làm bạn đọc gần với thơ ca hơn là những ngôn ngữ mang nặng tính tu từ, cố ý rối rắm, khó hiểu chăng? Nó có thể tạo nên một dạng ‘ca dao mới’? Tôi không chắc sự phân biệt ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ tu từ cần phải tạo thành đường ranh giới sâu của thơ ca. Tân hình thức có nhất thiết trói mình vào cái gọi là ‘ngôn ngữ đời thường’ không? Tôi liệu có thể làm một bài Tân hình thức với nỗ lực tu từ, với hình ảnh chiều sâu theo một cách riêng biệt?”; “Trong những tiểu luận của họ, tôi hiểu ý các nhà Tân hình thức muốn mượn một thuật ngữ để giới thiệu vào thơ Việt một thể thơ mới, và do đó, mọi ý đồ so sánh Tân hình thức Mỹ và Việt sẽ thất bại ngay từ đầu. Nhưng chỗ khác nhau về mục đích này, tôi nghĩ, chính là chỗ dẫn tới con đường đi khác nhau: Tân hình thức Mỹ khi trở về với thơ luật để chống lại sức áp chế và có thể dẫn tới sự sinh thành dễ dãi của thơ tự do, thì thơ tự do đã ở đỉnh cao của nó. Tân hình thức Việt, không đi ra từ một nhu cầu thiết thân đòi cất tiếng của một thiểu số bị áp chế mà bắt đầu bằng một ý tưởng sáng tạo thiên về tính chất ứng dụng nên dường như mọi thứ rất sáng rõ ngay từ đầu. Tôi e rằng chính sự sáng rõ từ đầu đã khiến người viết không bức bách truy tìm nó. Hy vọng vào một khả năng đưa thơ trở lại đời sống, đưa thơ đến gần bạn đọc, đưa thơ tới nhiều bạn đọc hơn ư? (…) Sự sống của thơ ca chưa bao giờ nằm ở sự hưởng ứng của số đông.”

+ Mai Văn Phấn (Tân hình thức – Ba bài thơ và các bình luận, damau.org 26/10/2009) “Không vần, vắt dòng, có tính truyện, ngôn ngữ đời thường: Có thể coi như luật bằng trắc trong thơ lục bát, hay “Nhất tam ngũ bất luận/ Nhị tứ lục phân minh…” trong thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Hình thức thơ, kể cả những khuynh hướng tiền phong nhất hiện nay, cũng chỉ nên coi như cái áo khoác bên ngoài ‘hồn vía’ nhà thơ. Cơ thể ốm yếu, bệnh tật cố chạy theo ‘mốt mát’ có ngày chết đứ đừ. Nhưng, những nhà thơ tài năng nên chọn những kiểu áo mới, đẹp nhất mà ăn diện.”

+ Nguyễn Hòa (Xu hướng Tân hình thức, hậu hiện đại trong thơ: Chiếc áo rộng cho một cơ thể còm, cand.com.vn 27/7/2008) “(…) bàn tới hậu hiện đại trong thơ, tôi đề xuất ý tưởng rằng các nhà thơ hãy đi hết con đường hiện đại rồi hãy tính đến hậu hiện đại. (…) Một trào lưu nghệ thuật thật sự mang ý nghĩa xã hội-con người bao giờ cũng mang chứa nguồn gốc tinh thần sâu xa, không phải là trò chơi hình thức, thuần túy cá nhân. (…) Nhận xét thật sòng phẳng, những cách tân mà một số nhà nghiên cứu-phê bình đã phát hiện từ sáng tác của Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền… chỉ là hiện tượng đơn lẻ, có ý nghĩa tác giả, thiếu tính phổ quát; hầu như chưa thấy người làm thơ nào học hỏi, vận dụng để từ đó hình thành một đội ngũ, một thế hệ người làm thơ cùng chung xu hướng tư tưởng-thẩm mỹ, đủ sức tiến hành một cuộc cách mạng trong thơ, như các tác giả Thơ Mới đã làm.”

+ Chân Phương (Thơ Hoa Kỳ và Tân hình thức [2005], vanchuongviet.org 2/2/2010) – Trên các số Tạp chí Thơ viết về Tân hình thức, chúng ta không thấy được bối cảnh lịch sử-xã hội đằng sau các chọn lựa thẩm mỹ trong sinh hoạt văn chương Hoa Kỳ. Mặt khác có lẽ các hạn chế về Anh ngữ và văn hóa đã khiến những bạn phất cờ Tân hình thức, đứng đầu là Khế Iêm, không hiểu được đến nơi đến chốn những điều họ nhiệt thành rao giảng (…). – “Nếu theo đúng tinh thần bảo thủ của thi phái Tân hình thức Mỹ, nhà thơ Việt Nam phải quay về với vần điệu và niêm luật trong thơ cũ Việt Nam của Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan; hoặc ít ra với dòng Thơ Mới tiền chiến vẫn còn nhịp nhàng êm tai. Ðằng này các bài Tân hình thức trên Tạp chí Thơ khiến người đọc có cảm giác đứng nhìn một trò chữ nghĩa biến những câu văn xuôi trung bình thành từng đoạn thơ bằng cách ngắt câu vắt dòng, bên cạnh việc lặp đi lặp lại khá nhàm một vài chữ hay ý tưởng. Thí dụ vài đoạn như sau: … người đàn ông hai mươi năm trước, không nghe, không thấy được gì từ người đàn ông hai mươi năm sau, cứ lầm lũi, lầm lũi, lầm lũi, tựa bóng ma, và chẳng hề hay biết, người đàn ông hai mươi năm trước cũng là người đàn ông hai mươi năm sau, đang đợi nhau, đợi nhau, đợi nhau, như cái sống đợi cái chết, ròng rã, đã hai mươi năm, dù vở tuồng vẫn chưa được viết, và đêm kịch vẫn chưa mở ra, những thùng rác vẫn chứa rác và không chứa gì khác. Khế Iêm – Ảnh Ảo – Tạp Chí Thơ số 19, tr. 100 ‘lầm lũi’, ‘bóng ma’, ‘hai mươi năm trước, ‘hai mươi năm sau’, ‘đêm kịch’, ‘vở tuồng’, ‘những thùng rác’… là một số hình tượng và từ ngữ quá quen thuộc của thơ văn Việt Nam và thế giới! (…) Những bài thơ như Ảnh Ảo trên Tạp Chí Thơ chẳng qua là một lối viết tự sự kiểu cách, nặng tính tu từ pháp mà chính tác giả bài thơ đã lớn tiếng chỉ trích trong các tiểu luận của ông (…). Dù sao tính tổ chức theo cấu trúc liên hoàn trong bài Ảnh Ảo và một vài bài thơ khác của Khế Iêm cũng cho thấy ông quan tâm đến chuyện ‘tay nghề’ hơn khá nhiều thi hữu khác trong nhóm chỉ cần nhắm mắt phóng bút là ra thơ … Tân hình thức… à la vietnamienne!” – “Ngọn gió Tân hình thức đã cứu sống nhiều câu văn xuôi đa ngôn và vô vị, tân trang chúng thành một loại thơ văn xuôi… dễ hiểu, dễ làm. Vì thế, không lấy gì làm lạ khi trên nhiều số Tạp chí Thơ bỗng nhiên nô nức ‘thi pháp đời thường’, bất cần ngữ điệu và nhạc tính của tiếng mẹ, tác sinh vô số câu cú không ra văn mà cũng chẳng ra thơ!”; “Nếu chịu khó xem từng dòng thơ trong Rebel Angels [Những thiên sứ nổi dậy – Phụ lục 9-], người đọc cẩn thận sẽ nhận ngay ra một điều: các nhà thơ Tân hình thức [Mỹ] tôn trọng ước lệ và cách luật nên tránh cưỡng bức cú pháp với ngữ nghĩa; khi chuyển mạch văn hay dứt ý mới ngắt câu. Chỉ khi nào câu thơ dài quá khổ họ mới phải bắt buộc vắt dòng, trong khi các bạn trên Tạp chí Thơ lại biến trò vắt dòng thành một tiểu xảo máy móc thiếu suy nghĩ.”

+ Nguyễn Vĩnh Nguyên (Thơ Tân hình thức – Phản kháng, tìm tòi và quá khích…, Tạp chí Sông Hương số 184 tháng 6/2004; và Chuyên đề Cách tân thơ vanhocviet.org 15/8/2013) – “Gần đây [2003], trong giới làm thơ thường ’đồn đại’ về cái gọi bằng cái tên chung chung là thơ Tân hình thức (THT). Người có vai trò nhất trong việc ‘phổ cập’ thơ Tân hình thức vào Việt Nam, có lẽ, là một nhà thơ Việt ở hải ngoại, ông Khế Iêm. (…) Bên cạnh đó, thi đàn Việt Nam (trong nước và hải ngoại) những năm đầu thế kỷ cũng đã xuất hiện những bài thơ THT chủ yếu của các tác giả thơ ở TP Hồ Chí Minh và hải ngoại như: Đỗ Kh., Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Đạt, Trần Tiến Dũng, Đoàn Minh Hải… và gần đây là Lý Đợi, Bùi Chát, một ít ở cây bút nữ Phan Huyền Thư… Nhưng nói chung, chưa có tác phẩm nào nổi trội, xứng đáng tạo được dư luận rộng rãi. – “Có nhà thơ cổ suý cho THT, đã kêu gọi đồng nghiệp mình ‘phổ cập’ THT và nâng cao về quan điểm thẩm mỹ mới cho người thưởng thức như cách ‘nâng cao dân trí thơ’. Xin thưa, tiếng hô hào ấy rơi vào câm lặng là điều không lấy gì làm bất ngờ. Vì cuộc sống hiện đại đã chứng minh rằng, thơ cũng hay đấy, nhưng thiếu thơ người ta cũng sống tốt, sống khoẻ, chẳng việc gì phải đi tìm hiểu làm sao để tiếp cận một bài thơ THT mà nhãn tiền là những tác phẩm chưa đủ sức thuyết phục họ. Rõ mấy ông nhà thơ rỗi việc và cũng khôi hài thật đấy! Chứ thử hỏi, thơ THT, thế này thì thuyết phục được ai: Giờ trở lại mái nhà xưa Thấy người anh đã mất thấy Người em ở nơi quá xa Ảnh chế buồn rầu sau tám Tháng phớt tỉnh ăng lê Của người em là công dân Chánh hiệu có cầu chứng tại Toà ở đất nước huê kỳ…” – “Những bài thơ của họ, ngoài cái sự THT ra, còn có những tiếng tục tằn, những từ tục tĩu lộ thiên một tâm lý thác loạn không đem lại một hiệu ứng (hay tín hiệu) mỹ cảm nào cho người đọc. Nếu tự tách thơ ra khỏi cái đẹp và đưa gần lại sự dung tục thì có lẽ người ta sẽ bỏ làm thơ mà… chửi tục. (…) Những bài thơ THT vô tội. Tôi tin, bạn đọc sẽ trân trọng một bài thơ THT có giá trị thẩm mỹ cao, hơn là những kiệt tác đã đóng rêu, đóng mốc trong lịch sử văn học, Nhưng tôi sẽ tạm cảm tình với một bài thơ theo lối cũ mà thực sự là thơ, hơn là phải thưởng thức một cái món, gọi là nhân danh THT mà không tìm thấy một phẩm chất thi ca nào!”

+ Nguyễn Vũ Văn (Nhận xét về thơ Tân hình thức, talawas.org 13/10/2002; trang mạng Hồn Quê số 5 và Tạp chí Phố Văn số 11; và Trả lời về Thơ Tân hình thức, honque.com) – “Tính truyện: Thơ thuật sự không mới mẻ gì trong thi ca (…). Bây giờ hầu hết các nhà làm thơ Việt có tính hướng nội, chỉ nói về mình và những sự việc liên quan đến mình. Cho nên chiều hướng làm thơ thuật sự kể ra cũng là một đề tài nên khai thác, nhưng chuyên làm thơ thuật sự thì lại là một vấn đề cần suy nghĩ (…).” – “Tính khách quan: (…) Tự sự khách quan nghĩa là chỉ làm công việc của cái máy quay phim, quay những góc cạnh do tác giả chọn lựa với dụng ý. Người quay phim có thể là một nhân vật trong thơ hay một người vô hình hiện diện khắp nơi. Lời thơ mang tính khách quan, vô hồn, không giải thích, không bút pháp đặc biệt, chẳng khác gì lối văn của Alain-Robbe Grillet. Chính cái không giải thích này có thể làm cho bài thơ khó hiểu, trái với kỳ vọng về một sự trong sáng. Người làm thơ chỉ chuyên về tính khách quan, rời bỏ những cảm tính chủ quan, không quan tâm đến những diễn biến nội tâm, tức là làm thui chột phần lớn tâm hồn của mình. Tạp chí Thơ không nhắc gì đến tính khách quan trong tự sự, nhưng mặc nhiên chấp nhận nó.” -“Tính nhạc: Nói rằng thơ Tân hình thức réo rắt, luyến láy, dồn dập như sóng, hết lớp này đến lớp khác và chập chùng miên man như biển khơi, là không thực tế nếu nhìn vào các bài thơ đã đăng. Trong ngôn ngữ thường ngày, âm thanh và nhịp điệu trong giọng nói của ta cũng thay đổi tùy theo tình huống vui, buồn hay giận dữ. Câu thơ diễn tả những tình huống đó cũng cần thay đổi, không phải lúc nào cũng réo rắt và dồn dập. Và cũng không phải chỉ trong thơ Tân hình thức mới có những tính nhạc này. So sánh âm nhạc của Tân hình thức với vọng cổ là không đúng. Tuy rằng vọng cổ cũng dùng những lời nói bình thường, nhưng ở cuối câu bao giờ cũng có âm điệu nhất định mà người ta gọi là ‘xuống xề’. Còn nói rằng nhạc của Tân hình thức là nhạc rap, thì chỉ là cách nói ‘huề vốn’, cần gì đặt ra vấn đề nhạc tính nữa? Chỉ trích thơ tự do không có nhạc, chỉ có âm vang (…) để rồi rơi vào chính loại thơ chỉ có tiếng nói!” (…) – “Câu đều chữ: Về số chữ trong câu, thật ra chỉ có một mục đích là ‘làm cho thị giác đỡ bị vướng mắc’ vì chiều dài của câu thơ (…) Tôi không hiểu tại sao Tạp chí Thơ cứ nhất định đòi đếm âm tiết (syllable) để vắt dòng, chứ không đếm chữ. Tiếng Việt là tiếng đơn âm, mỗi chữ là một âm tiết, cho nên đếm âm tiết hay đếm chữ cũng vậy thôi. Có phải đây là một bằng chứng về sự lệ thuộc thơ Mỹ trong quan niệm của Tạp chí Thơ hay không?” – “Vắt dòng: Trong thơ tự do, xuống dòng để thay cho cách chấm câu, để nhấn mạnh, để tạo nhịp, hay để trình bày theo một dụng ý nào đó. Cách dòng (skip line) là để qua một đoạn khác. Trong thơ Tân hình thức, Tạp chí Thơ chủ trương vắt dòng bất cứ chỗ nào và vắt luôn qua đoạn khác, khi đọc thì không ngừng lại ở cuối dòng. Như vậy thì cách vắt dòng này có ý nghĩa gì mà Tạp chí Thơ đòi hỏi phải có kỹ thuật và kỹ thuật như thế nào? Ðọc không ngừng lại ở cuối dòng thì khác nào đọc một đoạn thơ xuôi hay văn xuôi? Vắt dòng chẳng qua cho có hình thức thơ đều chữ. Nhưng ta đã thấy các tác giả Tân hình thức muốn dùng bao nhiêu chữ (hay âm tiết, nói theo Tạp chí Thơ) trong một dòng cũng được. Vậy thì đều chữ để làm gì? Không có tác dụng gì hết! Chẳng qua chỉ đánh lừa con mắt mà thôi. Vắt dòng hay viết luôn một mạch như thơ xuôi cũng thế thôi. (…) – “Vần: Tạp chí Thơ cho rằng ‘Thơ tự do Việt đơn giản chỉ là loại thơ không vần’ (…) Ðiều này thật hết sức nhầm lẫn trong định nghĩa (…) cũng như trong thực tế. Tuy rằng không có luật lệ ràng buộc thơ tự do, các bài thơ tự do vẫn ít nhiều có vần ở cuối câu. Chỉ riêng trong thơ xuôi, một hình thức của thơ tự do, mới không có vần, nhưng có thi pháp và nhạc điệu bù lại. Tân hình thức Mỹ cũng thực hiện thơ có vần và vần đặt ở cuối câu, nhưng Tạp chí Thơ lại ‘bảo hoàng hơn vua’, chủ trương vần không đặt ở cuối câu mà ở những chỗ bất ngờ, tức là bất kỳ chỗ nào trong câu. Lại còn nói, ‘Ngay cả những quan niệm về vần cũng khác, không hẳn là chữ, mà còn là những nhóm chữ, câu, cảm xúc, và ý tưởng’. Thật là khó hiểu. Có lẽ Tạp chí Thơ cho rằng những câu nói lập lại như trong bài dưới đây [dẫn bài ‘Tân hình thức và câu chuyện kể’ của Khế Iêm] tạo thành vần của bài thơ chăng? (…)”; “Vần kiểu này thì chỉ mang lại tính cách luộm thuộm, rườm rà mà thôi. Còn những bài thơ khác không có những từ lặp lại thì sao? (…) Tóm lại, nhóm Tân hình thức cố gắng tạo ra một loại yêu vận tự do nhưng chưa thành công.” – “Thi pháp: Tân hình thức chủ trương dùng những câu nói thường nhật và tôn trọng cú pháp văn phạm, nghĩa là gạt bỏ mọi bút pháp thay đổi vị trí từ ngữ. (…) Lý do nêu lên là thơ truyền thống ‘mòn mỏi với vần điệu’, người làm thơ phải nặn óc tìm vần, tìm chữ (…) Nhưng bình thường đến mức buông thả như văn xuôi – văn xuôi cũng có khi còn chải chuốt hơn -, có khi chỉ là một bài báo (như bài ‘Những người chết trẻ’ của Lê Thánh Thư và ‘Kiều’ của Ðỗ Kh.) thì thật là quá đáng. Xưa nay người ta yêu thơ không những vì ý thơ hay, mà còn vì lời hoa mỹ, chữ dùng mới lạ, bút pháp tân kỳ. Người ta không chỉ ngâm nga cả bài thơ mà còn trích dẫn từ ngữ, nhớ mãi trong tâm. Thơ Tân hình thức dùng lời lẽ đời thường, không thi pháp, thì còn cái gì cái gì để thưởng thức? Chỉ còn cái hàm ý của cả bài thơ mà thôi. Nếu người đọc không tìm ra cái hàm ý này thì bài thơ chỉ để lại một con số không trong tâm trí. Chân Phương đã nhận xét chí lý rằng: ‘Hình thức càng nôm na bình thường bao nhiêu, nội dung càng phải siêu việt bấy nhiêu, nếu không chỉ có thất bại.’ (Tạp chí Thơ số 18, tr. 6). Ðỗ Minh Tuấn có cái mộng ước cao xa như thế này: ‘Nhìn chung, thơ cũ giống như những vật cứng có quảng tính dễ đo đạc và dễ cắt tỉa ra chi tiết. Hiện tượng lẩy ra một vài câu thơ hay để thưởng thức độc lập chỉ là dấu hiệu tố giác thơ ngày xưa không phải sự sống vô định mà cao nhật chỉ như những hòn ngọc trang sức ở trên thân thể đời sống. Thơ hay đích thực giống như một người đẹp ta không thể cắt ra cái mũi để khoe nhau. Thơ hay giống như một làn hương thông qua ám ảnh và lan tỏa không dễ gì thu gọn lại, rút tỉa ra một vài câu hay để thuộc lòng, để ngâm nga, để nhớ. Thơ hiện đại tỏa ra hương vị bí ẩn từ toàn bộ tác phẩm, mặc dù ta không thể nhớ một câu, một chữ.’ (Tạp chí Thơ số 20, tr. 206). Rất tiếc là Tân hình thức chưa sản xuất được những bài thơ hay như thế, và dù cho có đi nữa, không phải chỉ Tân hình thức có thể làm hay như vậy được. – “Kết luận: Trở lại với vấn đề phong trào Tân Hình Thức trong thơ Mỹ. Sự hình thành phong trào này bắt nguồn từ những nhận xét: a. về sự trì trệ của thơ tự do, b. về chủ nghĩa duy ngã, c. thơ tự do khó nhớ vì thiếu vần điệu, nhạc tính. Phong trào không những muốn thay đổi về hình thức (thơ đều chữ, có vần, có nhạc) mà còn về nội dung (thuật sự, khách quan, trong sáng). Tạp chí Thơ du nhập hoàn toàn các nhận định và chủ trương vào thi ca Việt. Theo Tạp chí Thơ, thơ cổ điển Việt Nam dựa vào luật bằng trắc, vần và cao độ (pitch, 4 level tone), dùng và chọn chữ, thơ Tiền chiến dựa trên vần (thường là cước vận), trau chuốt chữ và cách đọc ngừng ở cuối dòng, thơ Tân hình thức ‘kết hợp với một số yếu tố và kỹ thuật của thơ tự do, phá vỡ những âm hưởng Tiền chiến, chấm dứt nửa thế kỷ dậm chân tại chỗ của thơ Việt.’ (Khế Iêm, Tạp chí Thơ số 18, tr. 94). Tạp chí Thơ hết lời chỉ trích thơ tự do Việt trong 50 năm qua và đề cao Tân hình thức (…) Cái điều đáng nói thứ hai là đại ngôn. “Thơ tự do, sau một thế kỷ đã cạn nguồn và cùng kiệt, những nhà thơ Tân hình thức Hoa Kỳ chắt lọc từ truyền thống và tự do, để làm thành một hình thức tân kỳ hơn, thích nghi với cách diễn đạt mới, thì thơ Việt cũng mòn mỏi với vần điệu và tự do. Tân hình thức như một thời lãng mạn mới, một trật tự mới hay một nền ca dao mới trong một xã hội bình đẳng và dân chủ, lôi cuốn người đọc, làm phong phú đời sống và ngôn ngữ tự nhiên. ‘Chúng ta phải thức dậy hay chết’, đó là lời của nhà thơ Ý, Francesco Petrarch, người khai sinh ra thời đại Phục Hưng.’ (Tạp chí Thơ 20, tr. 70). Tôi đồng ý rằng các bài thơ làm theo Tân hình thức có một nội dung mới lạ so với các bài thơ tự do. Mới lạ chỉ vì tác giả đưa văn xuôi vào thơ, hoàn toàn là văn xuôi! Không thử nghiệm cái mới thì không có tiến bộ. (…) Tôi mong rằng Tân hình thức đẻ ra được những bài thơ đáp ứng lòng tự hào của nhóm chủ trương và lòng yêu thi ca của người Việt, chứ đừng “vẽ voi thành chuột”. – “Sau khi bài ‘Nhận xét về thơ Tân hình thức’ của tôi đăng trong Hồn Quê số 5 và tạp chí Phố Văn số 11, Tạp chí Thơ số 20 đã có 2 bài đáp lại của Khế Iêm và Nguyễn đăng Thường, và tạp chí Phố Văn số 13 cũng có bài của Nguyễn Lương Ba (…) – Khế Iêm viết: “Dùng kỹ thuật lập lại để thay thế vần, chứ có ai nói kỹ thuật lập lại là vần đâu … Các yếu tố rút ra để áp dụng vào Tân hình thức Việt không có yếu tố nào gọi là vần, vì kỹ thuật vắt dòng khó đi được với vần ở cuối dòng nên mới phải dùng hình thức lập lại’ (…) Tôi công nhận Khế Iêm có viết: ‘Thơ Tân hình thức Việt (…) không bao gồm vần’. Nhưng ở một chỗ khác, ông viết: “Vần và chỗ ngắt không bất di bất dịch chỉ ở cuối dòng, mà cũng giống như thơ tự do, xuất hiện ở những chỗ không thể đoán trước.” (…) Thật là mâu thuẫn.”

+ Khế Iêm viết: ‘Kỹ thuật lập lại (không có trong văn xuôi, và không dính dấp gì tới vần) là yếu tố mạnh mẽ, một thứ strange attractor (điểm quyến rũ kỳ lạ) của thơ, có khả năng làm bật dậy hình ảnh, ý tưởng, những khoảnh khắc có thực của thực tại, như những yếu tố ổn định của trật tự trong một hiện tượng hỗn mang’. Rất tiếc một kỹ thuật hay như thế được nêu lên mà không dẫn chứng. Tôi tìm suốt cả Tạp chí Thơ cho đến số 21 mà không thấy kỹ thuật này, ngoại trừ bài thơ ‘Tân hình thức và câu chuyện kể’ rườm rà luộm thuộm đã trích dẫn trong bài trước.”

+ Nguyễn Đăng Thường còn ‘dạy’ cho tôi biết khuynh hướng tự sự khách quan, không giải thích trong văn chương: ‘Một số các tác giả hiện đại tránh né sự giải thích, là bởi không muốn làm bậc thầy, là vì muốn người đọc đừng tiếp tục đóng vai trò thụ động. Xưa như trái đất rồi.’ Vâng, xin lãnh hội, nhưng xin đừng nói rằng đó là loại văn chương trong sáng. Một khi đã phải suy nghĩ, tìm tòi động cơ tâm lý (không được nói ra) của một hành vi thì không phải là văn chương trong sáng. Điều này tôi chỉ muốn nói đến các tiêu chuẩn trong thơ Tân hình thức Mỹ, còn Tạp chí Thơ không có minh thị nhắc đến tính khách quan và trong sáng trong các yếu tố của thơ Tân hình thức Việt.” (…)

+ Nhắc đến bài thơ ‘Đó là những giọt mực’ của Phan Tấn Hải, Nguyễn Đăng Thường viết: ‘…mỗi bài Tân hình thức đều có một nhịp điệu riêng nên không thể giống nhau được. Nếu đọc một bài văn xuôi – xin gọi tạm là văn xuôi như lời người điểm thơ sắp xếp dưới dạng Tân hình thức, và cũng bài văn xuôi ấy giàn trải theo cách thông thường, mà không thấy/ chưa thấy được sự khác biệt, thì không do lỗi của người làm thơ, mà bởi lỗi của người điểm thơ, hoặc là chưa biết đọc thơ, hoặc đã cố ý không muốn thấy có sự khác biệt nhau.’ Sở dĩ tôi đã trình bày bài thơ ấy theo hai cách là để cho độc giả thử đọc chúng cho người khác nghe, xem có gì khác nhau hay không. Nếu có khác là tại người đọc, chứ không phải tại người viết, là bởi vì các lý thuyết gia thơ Tân hình thức Việt chủ trương xuống dòng ở giữa câu, ngay chỗ ta phải đọc liền thì mới trọn nghĩa. Xin nói thêm ở đây: Bài thơ chỉ khác bài văn ở chỗ dùng thị giác cho nên Tạp chí Thơ đòi phải đọc thơ bằng mắt. Nhưng họ lại nói thơ Tân hình thức có âm hưởng nhạc Rap. Nghe âm hưởng Rap thì phải nghe bằng tai chứ, vậy ai hát thơ Rap cho nghe đây? Độc giả chứ còn ai. Nói khác đi, độc giả phải tự đọc thơ bằng mắt và phải biết đọc nó thành nhạc Rap, nếu không thì bài thơ thất bại! Tôi đã nhìn thấy rõ cái thất bại này đối với hầu hết độc giả.’

+ “Nguyễn Lương Ba viết ‘Có một số bài thơ Tân hình thức mang âm hưởng nhạc Rap do ở thể nói và cách vắt dòng không ngừng lại ở cuối câu. Tuỳ theo sáng tác của nhà thơ, bài thơ mang âm hưởng nhạc Rap là hoàn toàn tự nhiên.’ Ông trích dẫn bài thơ ‘Chơi khôn’ của Nguyễn Đăng Thường như sau: ‘làm bộ mày là tao và tao là tao như thế để tao được hai tao làm bộ mày là ôm mày đứng núp dưới gốc mây’ (…) Ở đây, tôi xin phân biệt 2 trường hợp để cho vấn đề được rõ ràng:

a. Phải biết nhạc rap thì mới có thể làm thơ có âm hưởng Rap. Hiển nhiên các lý thuyết gia thơ Tân hình thức không đòi hỏi các thi sĩ của họ phải có điều kiện này. (…) Còn những bài không mang âm hưởng Rap, thì có nhạc tính như thế nào (…) Vậy thì nhạc rap không phải là một yếu tố tất yếu của thơ Tân hình thức, chỉ là bonus thôi. Có lẽ cũng vì thế mà Khế Iêm không nói đến Rap.

b. Không cần biết nhạc rap cũng có thể diễn tả thơ Tân hình thức theo Rap. Nghĩa là bất cứ bài nào cũng có thể đọc theo âm hưởng Rap. Vậy thì đặt ra yếu tố Rap là thừa thãi.”(…)

Để kết luận, tôi xin trích dẫn Nguyễn Đăng Thường: ‘Biết bao tác phẩm giá trị hàng đầu của ngày hôm nay đã từng bị chống đối trong quá khứ. Tất nhiên, nhóm Tân hình thức không dám so bì với bất cứ một ai. Tuy nhiên, vì có người đã không ngại đường trơn ướt đến thăm Tân hình thức nên nhóm này cảm thấy phấn khởi vô cùng. Xin cảm ơn và xin cứ tiếp tục, khen chê đều quý hơn kính nhi viễn chi. Nhóm Tân hình thức làm thơ để mọi người đọc chơi, chứ không phải để giành ngôi thiên tử. Vì là tranh luận nên khó giữ được bình tĩnh, có khi buộc lòng phải sử dụng những lời lẽ kém thanh tao, hay chơi trò ‘du kích chiến” này nọ để độc giả đỡ thấy chán, chứ tuyệt nhiên không có chuyện ‘tư thù’ chẳng đội trời chung.’ Tôi cũng xin đáp lễ và khẳng định rằng tôi chẳng có ý đập ai. Đập làm sao được khi vài người làm thơ và cộng tác của tạp chí là bạn bè hay quen biết với tôi từ Việt Nam. Đập làm sao được khi tạp chí là một cơ sở văn hóa đứng đắn với nhiều bài vở giá trị. Chẳng qua tôi chỉ muốn nói là: Thơ Tân hình thức có nội dung mới lạ, nhưng cần tìm ra những kỹ thuật hay hơn, và xin cất đi những con dao to, những cái búa lớn, hay định kiến ‘văn mình, vợ người’, nếu có. Bất đồng ý kiến không có nghĩa là không xây dựng!” + Ban biên tập Talawas (Lời dẫn bài Tân hình thức và thể thơ không vần của Khế Iêm, talawas.org 20/9/2002) “Đầu năm 2000, một nhóm thơ ra đời ở hải ngoại, mang tên Tân hình thức. Đó là thời điểm văn học Việt hải ngoại không hề sung sức. Nó có vẻ như đang trang trọng viết lại một lần nữa bản cáo phó cho chính mình, để một lần nữa lại save vào cái file ‘Death in progress’. Đó cũng là thời điểm cuộc tranh luận về Thơ Đổi Gác ở trong nuớc vừa lắng xuống, còn Thơ Trẻ chưa kịp nổi lên thành hiện tượng. Văn chương thi phú của chúng ta vào đầu thế kỷ mới lại tụt thêm vài nấc nữa trong bảng xếp hạng những vấn đề mà người Việt hôm nay quan tâm. Thơ ư? Có thật cần không? Sự hoài nghi của chúng ta, những kẻ tuy đói mà bội thực, với bất kể một phong trào, chủ nghĩa, trường phái nào sinh ra sau thế kỷ 20 là rất có cơ sở. Bệnh chán của chúng ta trước những cái tên độn ‘Tân’ hay ‘Hậu’ là có nguyên do. Thơ Tân hình thức Việt không ngay lập tức được độc giả Việt mặn mà đón nhận, nhất là khi nó đi kèm với hiệu lệnh ‘Cuộc chuyển đổi thế kỷ’. Song ba năm qua nó bền bỉ đi tiếp, càng ngày càng rõ nét, với ảnh hưởng ngày càng không thể bỏ qua, với diễn đàn chính là Tạp chí Thơ, và với một cương lĩnh lý thuyết và tư tưởng như chưa từng được khai triển trong lịch sử thơ Việt. Không còn nghi ngờ gì nữa, ở thế kỷ vừa bắt đầu này, nó là nhóm thơ Việt đầu tiên xứng đáng là một trường phái.”


CHÚ THÍCH
(Các chỗ in nghiêng là nhấn mạnh của người chú thích)

1 Bản nguồn: “Ôi kể sao hết được Những anh hùng đánh Mỹ hôm nay Như Cửu Long mênh mông sóng biếc Như Trường Sơn sừng sững rừng cây” (Thơ Lưu Trùng Dương).

2 Trong bài, ở nhiều chỗ cụm từ “Thơ Tân hình thức Việt” tùy ý nghĩa được viết gọn là “Thơ Tân hình thức”, “Tân hình thức Việt”, hoặc “Tân hình thức”.

3 Những nụ hồng của máu của Nguyễn Đăng Thường, bài thơ “khai sinh” Tân hình thức Việt, hiện chưa thấy đăng trên trang mạng; bản đầu tiên in trên Tạp chí Thế Kỷ 21 (số 27 – tháng 7/1991, California), sau đó có sửa chữa khi in trên sách báo khác: Tạp chí Thơ (tr. 124, số 18 – 2000), tuyển tập 26 Nhà thơ Việt Nam đương đại (tr. 254, Nxb Tân Thư, California 2002), tuyển tập Thơ không vần – Blank verse (tr. 101, Nxb Tan hinh thuc, California 2006).

4 Khế Iêm “đã làm bài Tân hình thức và câu chuyện kể và viết thành bài tiểu luận Chú giải về Thơ Tân hình thức trong đó lọc ra một số yếu tố như vắt dòng, lặp lại câu chữ, tính truyện và ngôn ngữ đời thường. Bài thơ và tiểu luận đó in vào mùa Xuân năm 2000, cùng với sự hưởng ứng của 11 nhà thơ Việt, chào đón thiên niên kỷ mới.” (Văn Bảy, Thơ kể – tiếp nhận một thể mới cho thơ Việt!, thethaovanhoa.vn 18/7/2010).

5 Xem thêm: Hai trong rất nhiều khao khát; Nguyễn Huy Thiệp: “Có lẽ đã đến lúc người ta phải nghĩ đến một ‘type’ nhà văn khác: lớp nhà văn trí thức của một xã hội phát triển. Họ viết văn có bài bản, có lý luận, lý lẽ chứ không mò mẫm”; Và Inrasara: “… chúng ta cần phát biểu nhiều hơn nữa, có nghề hơn nữa. Để có thể khai mở một trào lưu sáng tác, một trường phái văn chương. Các ý kiến cảm tính, cảm nhận mơ hồ hay quan điểm còn rời rạc… cần được đúc kết và nâng cấp thành một hệ thống lý thuyết. Làm nền tảng cho sáng tạo chuyên nghiệp.” (Nguồn: Bùi Đức Hào, Cái Đẹp như thách thức trong văn nghệ và triết học – 3, diendan.org 14/9/2013).

6 Đỗ Quyên, Vòng vo về trường-phái-nhóm thơ Việt từ cảm xúc Hậu hiện đại Việt, vanchuongviet.org 21/12/2009.

7 Các nhóm Sáng Tạo, Tự Lực Văn Đoàn không thuộc về các trào lưu thi pháp.

8 Đỗ Quyên, Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt, Tạp chí Sông Hương số 257 tháng 7/2010, và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010; Tham khảo: Inrasara, Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại, inrasara.com 3/3/2009. Cập nhật: Trong các thể loại mang khát vọng cách tân vừa dẫn trong bài, đến nay còn thơ phụ âm (xem tiếp mục V.1.) và thơ trình diễn có ảnh hưởng nào đó; Bài thơ phụ âm mới nhất được công bố là 6i+Hi vii (Ðặng Thân, tienve.org 21/8/13); với thơ trình diễn là Chết kiểu Lê Uyên Phương (Ngu Yên, gio-o.com 1/10/2013).

9 Đỗ Quyên/ Nguyễn Đức Tùng, Thơ đến từ đâu, talawas 8/8/2006; Nxb Lao Động 2009, tr. 332-333; và ebook damau.org 26/12/2011.

10 “Từ trước trong văn chương Việt Nam chưa có một tạp chí chuyên về thơ, suy luận về thơ, đăng tải phổ biến thơ của các tác giả có uy tín của Việt Nam và các nhà thơ danh tiếng trên thế giới.” (Quỳnh Thi, Tân hình thức – một thể thơ đã thành hình trong văn học Việt Nam, thotanhinhthuc.org).

11 Đỗ Quyên, Chỉ là đợt thử mắt bên phải, Tham luận Hội thảo “Văn học hải ngoại: Thành tựu và tiềm năng” – California 27/1/2007, và damau.org 23/12/2006.

12 Thử đi tìm “Ai là tác giả đầu tiên của thơ phá thể từ thơ tự do ở Việt Nam?”:
a. Vận hội mới của dân tộc, ngay từ những năm 1945-1946, đã tạo ra cuộc “tiểu cách mạng” thể loại Thơ Mới mà Nguyễn Đình Thi là người “nhận đường” trực tiếp theo cả nghĩa đen (quan hệ đồng chí) lẫn nghĩa bóng (nghệ thuật thơ) từ các tác phẩm của Trần Mai Ninh, Trần Huyền Trân, Hữu Loan và Văn Cao dù đơn lẻ, chưa hoàn toàn cách tân nhưng quan trọng ở sự biến đổi lối viết và – vinh quang thay cho thi pháp thơ! – đó cũng là các thi phẩm vô giá không chỉ vì được viết bằng máu trong lịch sử thơ cách mạng và chiến tranh Việt Nam. Xem thêm:
+ “Giở những trang thơ thời kỳ đầu kháng chiến, có một ‘tam tuyệt thi’ cứ lừng lững trong tâm trí bạn đọc: Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Hải Phòng 19/11/1946 của Trần Huyền Trân, Đèo Cả của Hữu Loan. Ba bài thơ được sáng tác cùng một năm (1946), cùng tập trung khắc chạm hình tượng đất nước, con người Việt Nam trong cuộc binh lửa gian khổ, thiếu thốn, hy sinh nhưng lãng mạn, hào hoa, anh dũng qua một lối thơ tự do đến bung tỏa, bạo liệt.” (Chế Diễm Trâm, Đèo Cả của Hữu Loan, vanchuongviet.org 14/1/2012).
+ “Tại thời điểm này [1945], với tác động của cách mạng, cho dù ngôn ngữ thơ và thi ảnh đã mới thì Trần Huyền Trân vẫn chỉ tung hoành cái mới của mình trong các thể thơ truyền thống (…) Chính thực tế của Hải Phòng chiến đấu đã khiến cho hồn thơ Trần Huyền Trân thăng hoa sang một thể thơ tự do chất chứa đầy ắp hiện thực. Bây giờ, thời gian đã qua đi nửa thế kỷ. Đọc lại Hải Phòng 19/11/1946 mới thấy hết cái đóng góp đóng cọc mốc đầu tiên cho thơ chống Pháp của Trần Huyền Trân và thơ ca Hải Phòng trong thời đại mới. Ở bài thơ, sức khêu gợi của những ngôn ngữ sống, những chữ mới, những thi ảnh mới đã làm mới nó cùng nhịp điệu không bao giờ Thơ Mới có được. Cuộc chiến đấu chống xâm lược đã khước từ những giọng điệu mượt mà của Thơ Mới. Nó cần chất thơ thô ráp, mạnh mẽ như chính sức sống của nó. Vần và nhạc tính nằm ở ngay trong chi tiết, ý tưởng của câu thơ. (…) Ngay từ đầu đề bài thơ, Hải Phòng 19/11/1946 đã cho thấy một sự khác lạ so với những đầu đề thời Thơ Mới…”; Cảm nhận của Nguyễn Đình Thi: “Buổi sáng hôm ấy, tôi đọc trên tờ Cứu Quốc bài Hải Phòng 19/11/1946 in suốt dọc trang báo. Vẫn cái hơi thơ bộc trực, và lần này dồn dập vang lên tiếng kèn trận.” (Nguyễn Thụy Kha, Trần Huyền Trân với ‘Hải Phòng 19//11/1946’, vnca.cand.com.vn 25/11/2006).
+ Với Văn Cao: Bài Ngoại ô mùa đông 1946 đã được sáng tác ngay tại chiến lũy Ô Chợ Dừa vào tháng 12/1946 và sau in trên Văn Nghệ số tháng 4-5/1948. Trước đó tác giả cũng có bài Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (1945) bước đầu của sự phá thể thơ tự do “cũ” với ngôn từ, cảm xúc và nhạc tính còn dính dấp với Thơ Mới. (Tham khảo: Văn Thao, Ngoại ô mùa đông năm 1946, antgct.cand.com.vn 2/12013; Thiên Sơn, Nhà thơ Văn Cao: ‘Còn những tiếng rạn vỡ’, vanvn.net 7/7/2013; Khuất Bình Nguyên, Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc, vanvn.net 19/10/2013; và Lê Thiếu Nhơn, Hành trình thơ Văn Cao, giaitri.vnexpress.net 23/9/2011).
b. Nói thêm: Khoảng năm 2008, tại tòa soạn Tạp chí Khởi Hành (California) tôi đã được nhà thơ Viên Linh cho xem bản chụp từ một tờ báo xuất bản trong vùng tạm chiếm thuộc Hà Nội vào khoảng 1944-1947 (?) đăng một vài bài thơ ở thể thơ tự do có phong cách rất khác Thơ Mới. Dù chỉ đọc vội, tôi cũng đề nghị Viên Linh sớm giới thiệu tư liệu quý với niềm tin đó là tác giả thơ tự do đầu tiên hoặc đồng thời cùng 3 tác giả thơ cách mạng nói trên. Có thể vì tác giả này không nổi tiếng, hoặc chất lượng thơ hoặc hoàn cảnh binh lửa mà các bài thơ ấy bị lãng quên. Thông tin này được ghi lại theo trí nhớ với sự dè dặt thường lệ.
c. Tham khảo: “Cũng như tiểu thuyết phá thể, thơ phá thể không phải là một trào lưu, một trường phái như những chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực v.v… vì phá thể thơ là một vận động hủy tạo hiểu theo nghĩa “vận động hủy triệt trong sáng tạo”, có thể diễn ra trong quá trình làm thơ của một nhà thơ, hay thể hiện đồng điệu nơi nhiều người, không nhất thiết chung một ngữ pháp sáng tạo. Cuộc cách mạng thơ, phá thể thơ khởi từ khi nào? Có gắn liền với lịch sử, với xã hội, với chính trị? Tùy thuộc vào lý giải, dưới góc nhìn của nhà phê bình? Hay từ sáng tạo của người làm thơ?” (Đặng Phùng Quân, Khái luận phê bình lý trí văn chương, kỳ 99, Thơ phá thể, gio-o.com 8/10/2013).

13 Còn sông Hương đang là dòng sông chảy quanh Hội thảo đầu tiên cho thể thơ mới có hình thức “truyền thống” và nội dung “tự do”: Thơ Tân hình thức Việt!

14 Văn Giá, Về một nỗ lực làm mới thơ Việt, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và tapchisonghuong.com.vn 29/6/2012.

15 Xem thêm: a. Ghi nhận về trào lưu Tân hình thức Mỹ của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tháng 11/1998: Trong chương Thi ca phản truyền thống Hoa Kỳ từ 1945 của một chuyên luận có thẩm quyền, hàn lâm và phổ cập, mang tên Phác thảo văn học Mỹ, sau các phần Trào lưu truyền thống, Những nhà thơ đặc dị (những tác giả phát triển các phong cách độc đáo, sử dụng truyền thống nhưng mở rộng vào những địa hạt mới với phong vị hiện đại), Thơ ca thể nghiệm (trường phái Back Mountain, trường phái San Francisco, Các nhà thơ “Beat”, trường phái New York, Chủ nghĩa siêu thực và Chủ nghĩa hiện sinh) và những dòng thơ nữ quyền và đa chủng tộc, là phần Những hướng đi tới với ba nhánh: Những nhà thơ ngôn ngữ (theo tâm thức hậu hiện đại), Thơ ca công diễn (thơ trình diễn, thơ âm thanh, thơ giàu hình ảnh) và Chủ nghĩa Tân hình thức. Dưới đây là đoạn nói về Tân hình thức và cũng là kết thúc cho cả chương. “Ở đầu kia của quang phổ mang tính chất lý thuyết là những nhà thơ tự phong là Tân hình thức chủ nghĩa, những người chủ trương quay trở về hình thức, vần và vận luật. Tất cả mọi nhóm đều phản ứng lại cùng một vấn đề – một sự bằng lòng có tính trung dung với hiện trạng một giọng điệu cẩn thận và quá trau chuốt, thường là sản phẩm của những cuộc hội thảo thơ, và sự nhấn mạnh thái quá đến thi ca bộc lộ cá tính như là một cách chống lại động thái xã hội. Trường phái hình thức gắn liền với (…) Dana Gioia (…) Philip Dacey và David Jauss, các nhà thơ và các chủ biên của cuốn Strong Measures: Contemporary American Poetry in Traditional Forms (Phân loại chuẩn mực: Những hình thức truyền thống trong thơ ca hiện đại Mỹ – 1986); Brad Leithauser; và Gjertrud Schnackenburg. Cuốn The Direction of Poetry: Rhymed and Metered Verse Written in English Since 1977 (Hướng đi của thi ca: thơ cách luật trong tiếng Anh từ năm 1977) của Robert Richman (…). Mặc dầu các nhà thơ này được xem là quay về với những đề tài thế kỷ 19, họ thường sử dụng những quan niệm và hình tượng đương đại, cùng với ngôn ngữ giàu nhạc tính và những hình thức truyền thống, khép kín.” (VanSpanckeren, Kathryn; Trang mạng Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, vietnamese.vietnam.usembassy.gov 24/4/2013, lược trích bản tiếng Việt). b. Nói chung có thể coi các phong trào Tân hình thức mang nền tảng từ chủ nghĩa Hình thức Nga, nếu quan niệm: “Trường phái cách tân nhất thế kỷ XX: Đó là lời nhận xét của nhà phê bình văn học Pháp Jean-Yves Tadié về chủ nghĩa Hình thức Nga. Trong thế kỷ XX, lý thuyết văn học phát triển phong phú nhưng không có trường phái nào ghi dấu ấn sâu đậm bởi tính cách tân như chủ nghĩa Hình thức Nga (…) thành lập năm 1915 với thành viên nổi bật là Roman Jakobson (…), hình thức không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích. Chính hình thức (form) sẽ tổ chức các chất liệu (material) từ đời sống và ngôn từ hỗn độn trở thành nội dung (inhalt). Khi nội dung đã được hình thức hóa tức đã mang tính nghệ thuật sẽ tạo ra một văn phẩm nghệ thuật. Mối tương quan chặt chẽ giữa nội dung và hình thức được nhà triết học Đức G. W. F. Hegel khái quát qua câu nói nổi tiếng: “Nội dung chẳng là gì cả ngoài sự hoán chuyển của hình thức vào nội dung, và hình thức chẳng là gì cả ngoài sự hoán chuyển của nội dung vào hình thức”. (Trần Hoàng Hoàng, vannghequandoi.com.vn 27/7/2012).

16 Ba điểm abc của thể thơ tự do Việt liên hệ xa gần đến thể Thơ Tân hình thức Việt:
a. Có yếu tố nước ngoài cụ thể. (Theo nhiều ý kiến, thơ tự do Việt khởi đầu qua bài thơ dịch của Nguyễn Văn Vĩnh in năm 1928 từ chuyện ngụ ngôn “Con ve và con kiến” bằng tiếng Pháp của Jean de La Fontaine. Trước đó, dịch giả cũng đã có một bản dịch khác bằng thể lục bát in năm 1907. Bốn câu đầu của hai văn bản đó là: “Ve sầu kêu ve ve/ Suốt mùa hè/ Đến kỳ gió bấc thổi/ Nguồn cơn thật bối rối”; và: “Trên cây có một con Ve/ Hát hết mùa hè mùa lạnh kiết so”- Wikipedia mục Thơ và Thơ Việt Nam; Xem thêm: Đặng Tiến, Bđd.
b. Thơ tự do Việt có vần hoặc không vần;
c. Chữ “tự do” được hiểu theo nhiều nghĩa (hình thức niêm luật, hình tượng, nội dung tình cảm), khéo dùng ba thứ tự do đó sẽ có nhạc tính tự do.

17 Phác họa ngắn gọn về diễn ngôn và mục đích trong thơ Việt: Thơ trung đại tả, kể để thuyết, giải; Thơ Mới tả, gợi để cảm; Thơ cách mạng và chiến tranh tả, kể, gợi để thuyết, cảm, giảng; Thơ hiện đại gợi, diễn để giải; Thơ hậu hiện đại kể, bày để diễn, tỏ; Thơ Tân hình thức kể để cảm, thấy. Trong tất cả, cái ít-thơ nhất là giảng.

18 Lại Nguyên Ân, Thử nghĩ về chất văn xuôi, Tạp chí Sông Hương số 8 tháng 8/1984, và Tạp chí Văn Học Việt vanhocviet.org số 7 ngày 5/9/2013.

19 Chữ của nhà văn Nhật Kenzaburo Oe khi ông nói về kinh nghiệm cá nhân để sửa chữa bản thảo tiểu thuyết. (Viết như là cách để hủy giọng của mình, Hải Ngọc dịch từ tiếng Anh, vietvan.vn 11/9/2013).

20 Feirstein, Frederick; Giới thiệu tuyển tập thơ Khế Iêm, Phạm Kiều Tùng dịch; Other poetry – Thơ khác, Nxb Tan hinh thuc 2009, tr. 16-24;

21 Nhận định của Ban tuyển chọn giải Thơ Tân hình thức về thơ Nguyễn Tất Độ; thotanhinhthuc.org 2007; Hai bài thơ được bình cũng có trong địa chỉ này; và Nhà thơ Biển Bắc nhận giải Thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2/6/2007.

22 Viên Mai, Tùy Viên thi thoại, Nguyễn Đức Vân tuyển dịch; nguyentrongtao.info 2/10/2013.

23 Xem thêm: “Mục đích của thơ Tân hình thức là muốn đưa thơ Việt ra ngoài thế giới (…). Nếu quá đậm đặc trong phạm trù văn hóa hay ngôn ngữ, người đọc ngoại quốc sẽ không hiểu, ngay cả với thế hệ người Việt trẻ bây giờ ở trong nước. (…) Để đáp ứng điều kiện dịch thuật, thơ Tân hình thức phải thay đổi cách sáng tác.” (Lời Nhà xuất bản, Thơ kể – Poetry Narrates; và Khế Iêm, Tân hình thức, nhắc lại – 10 năm, Tạp chí Sông Hương số 262 tháng 12/2010, tapchisonghuong.com.vn 20/12/2010); và, “Thơ Tân hình thức Việt không phải là một phong trào, hay nói khác, chỉ mượn cách xuất hiện như một phong trào để tiếp nhận một thể thơ mới cho thơ Việt, phù hợp với sự thay đổi đời sống xã hội, và đưa thơ Việt giao lưu với những nền thơ khác, qua dịch thuật. Vì cách làm thơ này, với kỹ thuật lặp lại, khi dịch ra ngôn ngữ khác vẫn giữ được nhịp điệu của thơ, thành thơ, và người đọc khác ngôn ngữ và văn hóa sẽ đọc như một bài thơ sáng tác chứ không phải như một bài thơ dịch.” (Khế Iêm, Chú thích 4).

24 “La fin justifie les moyens” – một lối ngụy biện thường không được chấp nhận về mặt đạo đức.

25 Inrasara, Thơ tân hình thức Việt, nhìn từ tiến trình văn học đương đại Việt Nam, phebinhvanhoc.com.vn 26/9/2013.

26 “Dẫu sao, Tân hình thức qua 4 năm (2000-2004) hình thành và phát triển, đã tạo nên một phong trào, lôi kéo hàng trăm người làm thơ (chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Nam, nhất là TP HCM) nhập cuộc, viết và đọc. Đó là điểm đáng ghi nhận. Sau kỳ gian trầm lắng ngắn, đến năm 2008, Tân hình thức lại gượng dậy, nhưng chưa có chuyển biến mới đáng kể.” (Inrasara/ Thu Huyền, Phong trào văn học nào bất kỳ cũng cần đến sự tổng kết, đánh giá, Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và inrasara.com 2/10/2013.)

27 “Triển vọng của thơ Tân hình thức Việt sẽ như thế nào? Riêng điểm này, tôi không dám đoan quyết điều gì cả. Mà ngay cả bản thân Khế Iêm, theo tôi cảm nhận, dường như cũng không hẳn đã sắt đá trong niềm tin chắc thắng. (…) Điều quan trọng là tạo ra được một lối đi, một triển vọng trong những lối đi và triển vọng khác. Điều này phù hợp với tinh thần hậu hiện đại.” (Văn Giá, Chú thích 14).

28 Riêng người viết thích nhan đề Thơ kể, nó khu biệt về thi pháp hơn nhan đề Thơ không vần.

29 “Cùng với thời kỳ bùng nổ kỹ thuật số đang là xu thế tất yếu của đời sống nhân loại, Tạp chí Sông Hương đang chú ý một xu thế viết toàn cầu hóa và đang góp sức kiến tạo điều đó. Đó là lý do mà gần đây, Tạp chí Sông Hương đã chủ động tổ chức các chuyên đề về văn học Hiện đại, Hậu hiện đại, Tân hình thức… Trên con đường mà sớm muộn gì văn chương Việt Nam cũng sẽ phải đi, việc chủ động những bước chân càng sớm, sẽ tỏ rõ tinh thần trách nhiệm cao trước công chúng bạn đọc trên hành trình phụng sự cái đẹp.”; “Trong thời gian qua, Sông Hương đã không ngừng tìm lại những giá trị còn khuất lấp trong văn chương Việt, cố gắng đánh giá một cách công bằng, khách quan các giá trị của văn học miền Nam trước 1975, tiên phong trong việc giới thiệu những trào lưu nghệ thuật mới như hiện đại, hậu hiện đại, Tân hình thức…” (Hồ Đăng Thanh Ngọc, Tạp chí Sông Hương số 293 tháng 7/2013, và tapchisonghuong.com.vn 25/7/2013).

30 Ban tổ chức Hội thảo, Thư mời tham luận 25/7 & 2/10/2013; Văn Bảy, Hội thảo thơ tân hình thức Việt lần đầu tiên trên thế giới, thethaovanhoa.vn 22/9/2013; và xem thêm ghi nhận về hai vị đồng chủ trì Phạm Xuân Nguyên và Inrasara. (Chú thích 38).

31 Đỗ Quyên, Trường ca Việt Nam: Tác giả và tác phẩm, vanhocviet.org 25/7/2013, vanvn.net 27/9/2012, và bản thảo cập nhật 20/9/2013.

32 Như cách nhìn do khắt khe nên có phần sai lạc của Khế Iêm cùng một vài thi sĩ mở đường Tân hình thức về thơ tự do Việt (vai trò trên nền thi ca Việt; các điểm về thi pháp như nhạc tính, vần) mà nhiều tác giả cũng từng phê phán. (Ví dụ: Phụ lục 9-).

33 Như Chú thích 14.

34 Như Chú thích 21.

35 Tân giai thoại Tân hình thức: Có 1000 thi sĩ Việt làm thơ cho cả nước. Cả ngàn chỉ nhăm nhăm làm thơ lục bát: không sao, thơ Việt chỉ véo von đu đưa so với thi ca thiên địa. Cả ngàn chỉ hăm hở làm thơ tự do: cũng chẳng sao, thơ Việt chỉ khúc mắc bước thấp bước cao cùng thi ca thiên địa. Cả ngàn chỉ rào rào làm thơ Tân hình thức, thơ Việt bị trở thành hiện tượng lạ giữa thi ca thiên địa. Lập tức, thân nhân các thi sĩ cùng đông đảo độc giả ba miền phải thường trực dọc ngang phố Nguyễn Du nhằm thúc giục nhà văn Trung Trung Đỉnh nghỉ “job” Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn mà đi mở “job” khác bận rộn hơn: Giám đốc chuyên môn kiêm Chủ tịch Hội đồng quản giáo Trại cai Thơ Tân hình thức. (Nguồn: Lưu truyền giai thoại làng văn Hà Thành rằng, để tiêu giảm cơn sốt nhà nhà in thơ người người làm thơ thơ nhất định thắng ta nhất định không thua, nhà văn Trung Trung Đỉnh ở giữa công đường cũng như trên bàn nhậu dù trong hay ngoài nước, thường xuyên quảng bá ý tưởng về một trại cai nghiện thơ trên phạm vi toàn quốc.)

36 Tham khảo: – “Phóng viên Văn Nghệ Trẻ: (…) Thơ Tân hình thức có còn mới ở Việt Nam không, và chúng ta có cần phải tổ chức một cuộc hội thảo với cả Tây lẫn ta quy mô như vậy không? – Inrasara: Thơ Tân hình thức không còn mới ở Việt Nam, đó là điều người quan tâm không thể không biết. Dẫu sao, 12 năm hành trình, nó cần được tổng kết, đánh giá. Vấn đề đặt ra là: hội thảo gồm những ai, và cách thảo luận như thế nào? Tân hình thức hay trào lưu văn chương nào bất kỳ, luôn cần đến sự đánh giá ngay thời điểm nó sắp kết thúc, là hay hơn cả. Hoài Thanh đã tổng kết phong trào Thơ Mới như thế, tại sao hôm nay ta thì không? Do đó, một hay vài hội thảo về Tân hình thức ở thời điểm này là rất cần.” (Bđd, Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và phongdiep.net 9/10/2013).

37 “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba.” (M.M. Bakhtin; Nguồn: Đỗ Thị Thu Huyền, Những giọt thơ tích tụ nơi thượng nguồn thi cảm, phongdiep.net 21/9/2013).

38 Đỗ Quyên, Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị, Tham luận Tọa đàm khoa học “Nguyễn Quang Thiều trong sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại”, Viện Văn học – Hà Nội 28/6/2012; và vanvn.net 19-20-21/6/2012.

39 Báo Nghệ Thuật Mới số 11 tháng 12/2012; và Đỗ Quyên, Văn học Việt ở ngoài nước trong các năm 2005-2010, vanhocviet.org 25/8/2013.

40 Xem thêm: Phân loại theo sáng tạo thi pháp thơ Việt sau Thơ Mới (Mục IV.2. và Chú thích 38); Về hiện tượng văn hóa trong các sự kiện văn học (Đỗ Quyên, Thơ Mai Văn Phấn trong dòng thơ cần giải thích giá trị, sách Kỷ yếu Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, Nxb Hội Nhà văn 2011, và dangvansinh.blogspot.ca 16/5/2011); và, “Có thể nhận định rằng, sau Sáng Tạo những năm 60 của thế kỷ trước, Mở Miệng là nhóm thơ đầu tiên đặt dấu ấn rất đậm trong dòng chảy của thơ Việt. Chúng ta hy vọng 5 khuôn mặt này làm nên cuộc cách tân lớn. Nhưng rồi họ cũng không thể. Tại sao?” (Inrasara, Sẽ không có cuộc cách mạng thơ trong tương lai gần, Tham luận Hội thảo thơ – TP HCM tháng 7/2006; và tienve.org).

41 Chú thích 38.

42 Tham khảo: Montel, Jean-Claude; Thơ/văn xuôi khác biệt chỗ nào?, Hoàng Hưng dịch từ tiếng Pháp, phebinhvanhoc.com.vn 13/10/2012; Girshman, М.М., Văn xuôi, Lã Nguyên dịch từ tiếng Nga, phebinhvanhoc.com.vn 3/9/2013; và Ngô Tự Lập, Văn chương như là quá trình dụng điển, Nxb Tri Thức 2008, các chương II, IV, V và VI.

43 Đinh Từ Thức, Aline, cô bé gốc Việt được làm Thi sứ và mời vào Bạch Ốc, damau.org 3/10/2013; Xem thêm: Các bài thơ Tân hình thức Mỹ của Aline Dolinh (Trưởng nữ, di dân, hè sàigòn, damau.org 11/10/2013, Đinh Từ Bích Thúy chuyển ngữ).

44 Riêng về đề tài thơ văn xuôi Việt chúng tôi cũng đang thực hiện ở bài viết khác, với một số điểm nêu trong bài này cùng vài bài đã công bố như ở Chú thích 38, 40, và Nhìn Nhã Thuyên, từ thơ văn xuôi, damau.org 14/10/2008. Muốn gửi trước đến bạn đọc một đoạn phóng bút chút ít dính với Tân hình thức: “Trong số các tay thơ văn xuôi Việt đương đại, băng qua những Ðặng Ðình Hưng, Trần Dần, Trần Vấn Lệ, Thanh Thảo, Nguyễn Thanh Hiện, Trần Anh Thái, Lê Minh Quốc, Nguyễn Minh Khiêm, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễnhòa-Trước, Đặng Thân, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Lê Nghĩa Quang Tuấn, Nguyễn Thuý Hằng, Nguyễn Thế Hoàng Linh, v.v… tôi thích nhất nhì là Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Linh Khiếu. Bỏ qua nhân thân, vị thế ngoại vi – trung tâm của nhị vị trên vùng thơ Việt, chỉ nói về “chuyên môn”. Trên bản đồ thơ văn xuôi Việt, Chánh như là Do Thái và Khiếu như là Ấn Độ. Chánh chém đứt các tay thơ văn xuôi khác ở cái ẩn ức, hoang đàng, tục tằn thời cuộc hóa và dục tính hóa vào hệ thống ngôn từ, Khiếu đè sập các hình hài thơ văn xuôi bằng độ kỳ vĩ và ưu đàm của tư tưởng nhân sinh theo nhịp chảy chữ nghĩa; Thơ Chánh càng nhấn nhá phần thú (để tìm về cái người) bao nhiêu, thơ Khiếu nâng cao cái người (để tìm diệt cái thú) bấy nhiêu; Bút pháp: thơ văn xuôi Chánh phúng dụ/ ẩn dụ/ ngoa dụ/ hoán dụ/ dụng điển/ so sánh lắt la lắt léo, thơ văn xuôi Khiếu là dòng cuốn trôi bến tung bờ bằng thủ thuật lặp đi lặp lại; Cấu trúc: Chánh ưa cú pháp chữ nghĩa quái đản và tếu táo, Khiếu mượn dòng ý thức Pháp để chở đạo Việt. Sau thành tựu, 5-6 năm qua thơ Chánh phụt ẩn ức chính trị và dục tính lên thành mục đích sáng tác: Tiếc! Trên lối thử nghiệm, 5-6 năm qua thơ Khiếu hẹn buổi chào đời một sáng tác khổng lồ nhất về dung lượng (khoảng 210 trang, 110.000 chữ), kỳ vĩ nhất về nội dung tư tưởng nên khó đọc nhất về hình thức nghệ thuật cho dòng thơ văn xuôi Việt, dòng thơ trường ca Việt và có thể cả dòng thơ hiện đại Việt: một cuốn kinh về sự phồn sinh! Năm qua, thơ văn xuôi Việt, như là ở giữa Nguyễn Quốc Chánh và Nguyễn Linh Khiếu về thi pháp thể loại và ngôn ngữ, đã có thêm Nguyễn Thanh Hiện đồ sộ về suy tưởng kinh điển và mênh mang cảm hứng hiện đại cũng bằng dòng ý thức Pháp mà chở tình Việt làng Việt với những thiên trường ca tân cổ điển. Và, trừ Trần Vấn Lệ, không một tay thơ văn xuôi nào nữa trong số các vị kể trên làm bạn với Tân hình thức! Với Nguyễn Quốc Chánh, chắc vì dù dư giọng đời thường ứa tràn bức xúc, phá ph/cách tùm lum, mạch thơ loang lổ vô lường, nhưng quá đậm ẩn dụ đặc tu từ như một loài tái sinh của phái Tượng trưng. Nguyễn Linh Khiếu ắt bởi dầu thật mênh mang sự kể, kỹ thuật lặp lại cái đối lập, vắt dòng trải nghiệm tít mù nghi vấn, nhưng tuyền là đại tự sự, suy tưởng siêu nhân siêu nhiên siêu đạo siêu đời, diễn ngôn cao vời đến chết đi được.”

45 Xem thêm: “Lần đầu tiên, với phong trào Thơ Mới, thơ tự do trở thành một trong những kỹ thuật chủ chốt của thơ ca Việt Nam hiện đại. Đây là kỹ thuật mới nhất làm cho Thơ Mới đoạn tuyệt hẳn với thơ cũ. Đặc biệt, trong khi tiếp thu kỹ thuật thơ tự do, các nhà Thơ Mới Việt Nam còn thực hiện một bước đi triệt để hơn: thực hiện kỹ thuật thơ văn xuôi. Thơ văn xuôi là bước phát triển cao nhất của thơ tự do. Ngoài đặc trưng chung của thơ ca là nhịp điệu, thơ văn xuôi còn giống thơ tự do ở cùng một điểm chung là không bị ràng buộc vào các quy tắc về số câu, số chữ, niêm luật… Nhưng, nó khác với thơ tự do ở chỗ là trong khi thơ tự do vẫn lấy câu thơ làm đơn vị nhịp điệu và vẫn có thể có vần, thì thơ văn xuôi không phân dòng, không dùng hình thức câu thơ àm đơn vị nhịp điệu, và thứ hai là thơ văn xuôi không có vần.” (Nguyễn Văn Dân, Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam, Tạp chí Văn học nước ngoài số 8/2012, và phebinhvanhoc.com.vn 9/5/2013).

46 – Vậy thì khỏi làm cho nó lành! Cứ theo dõi danh sách tác phẩm và tác giả thơ Việt nào đó sẽ phát giác vô khối “quan bác” dường như chửa thấy làm bài thơ văn xuôi hay bài trường ca nào sất! “Nhà em” đã thử “lập danh sách” như thế, dưng mà vâng nhời chàng Nguyễn Nhược Pháp, “nên chả chép vào đây”. – “Nhà em” hơi bị nhầm không đấy? Như ta thấy, bên trường ca “bàn tay có 5 ngón tay thơ thì người Việt dành 1 ngón cho thơ trường ca” (Mục III.4.). Phía thơ văn xuôi chắc cũng vậy…

47 Chú thích 44.

48 Chú thích 32.

49 Về việc không ưa vần trong thơ, thiết nghĩ lời bình châu ngọc của Viên Mai từng nằm lòng bao thế hệ nên được dẫn lại, cũng là để trang trọng xướng lên lời đề từ một câu chót mà người viết đắc ý: “Tôi làm thơ vốn không thích dùng điệp vần, họa vần hoặc dùng vần của người xưa, vì cho rằng, làm thơ cốt tả tính tình, thích như thế nào thì làm như vậy, trong một vần có trăm ngàn chữ, mặc ý mình chọn dùng, thế mà có lúc dùng xong rồi còn không vừa ý mà phải thay đổi lại, thì sao lại chịu gò bó mà dùng trong một vài vần, đã gò bó thì không thể không nhồi nhét, đã nhồi nhét thì còn đâu nữa là tính tình? Trang Tử có câu: ‘Vong túc lý chi thích dã’ – Giày vừa quên chân – tôi cũng nói: ‘Thơ vừa quên vần.’” (Chú thích 22).

50 Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội (Nguồn: Trương Quốc Huy, Sự nghiệp văn học Đinh Hùng, vanhoanghean.com.vn 5/11/2012).

51 Bài thơ văn xuôi Vàng Sao cũng có thể coi là một bài thơ dài có tính trường ca, tức là một sáng tác thuộc vào dòng trường ca Việt Nam (Chú thích 32).

52 Các bài này đều đã in trong Tạp chí Thơ và tập Thơ Không Vần – Blank Verse.

53 Xem: Đặng Thân, Thơ phụ âm (Alliteration) [& tôi], tienve.org 6/9/2008; Inrasara, Đặng Thân khai mở dòng thơ phụ âm Việt, tienve.org 8/2/2009; Hà Linh, Cuộc trình diễn thư pháp Tiền vệ và thơ phụ âm, vnexpress.net 3/1/2009. Trích thơ: “Xốn xang chuột rúc xục xùng xung/ Náo nức nôn nao thị não nùng/ Sinh kí tử quy sao sồn sột/ Mõ mòng mồng mộng giấc mung mung” (Đặng Thân, Xao xuyến & Sung sướng). Trích nhận định: “Loại thơ gần như thuần túy mang tính kỹ thuật. Đây là một ý niệm mới và quan trọng. Thơ phụ âm của Đặng Thân sẽ đặt dấu ấn riêng trong tiến trình thơ Việt. Nó mở lối (…) (Irasara); “Thơ phụ âm của Đặng Thân trượt đi trên lưỡi thật trơn tru và khêu gợi như những ngọn bút của Trịnh Tuấn và Long Hà trượt đi trên giấy. Sự hòa quyện của nhịp điệu và hình dáng những từ ngữ của anh thật là hùng vĩ và siêu phàm đối với thích giác và thị giác của người nước ngoài. Một khoảnh khắc xuyên văn hóa đích thực.” (JulieAnne Boudreau); “Dù đã thử nghiệm bản thân mình với các thi pháp đã được gọi là ‘lục bát’, ‘tự do’, ‘dòng ý thức’, ‘tân hình thức vắt dòng’, ‘thơ văn xuôi’, “thơ siêu thực’, ‘thơ vô thức’, ‘thơ âm thanh’, ‘thơ phá chữ’… nhưng tôi vẫn thấy ‘thơ phụ âm’ có một sức quyến rũ mãnh liệt.” (Đặng Thân). Phần tiếp trong bài có một số trích lược từ các đoạn trên.

54 Thơ Bùi Giáng: “Về thôi châu chấu chuồn chuồn/ Mưa đêm đã rụng bên nguồn lá rơi/ (…) Về thôi châu chấu chuồn chuồn/ Đường xa bước mỏi sương buông mặt người.” (Trích Chuồn chuồn châu chấu); Ba câu thơ cuối dẫn từ Bùi Giáng “chơi” (Nhật Chiêu, Sông Hương Đặc biệt số ngày 10/9/2013, và tapchisonghuong.com.vn 10/9/2013).

55 Thật ra cũng đúng vậy, riêng trong lãnh vực “văn hóa rác”.

56 Vả lại, trong ngành phê bình văn học so sánh, nghe nói có lệ bất thành văn: phê bình “cây” (đối tượng) nào thì “rào” đối tượng đó cho kín. Biết đâu thêm một ngày đẹp trời nữa, diễn đàn nào đó, nếu không Tạp chí Sông Hương thì, chẳng hạn, Tạp chí Sông Cửu Long, đăng cai hội thảo, chẳng hạn, Thơ Phụ âm Việt: Kế thừa & Sáng tạo. Hiển nhiên kẻ hèn này lại làm phiền các độc giả và tác giả quý trọng của mình bằng bài, chẳng hạn, Thơ Phụ âm Việt: Ôi viết sao vùng vẫy vương vãi… Lúc đó, cũng tất nhiên, Thơ Tân hình thức Việt sẽ lại sắm vai “hàng rào”!

57 Xem damau.org 13/9/2013; nguyên bản tiếng Anh: performancewritingma.blogspot.ca 7/3/2011.

58 Xem thêm: Seamus Heaney (…) nửa thế kỷ ca ngợi vẻ đẹp đất nước và trăn trở về chính trị (BBC 30/8, 2013); “được trao giải Nobel, vì ông đã sáng tạo ra (…) vẻ đẹp trữ tình và chiều sâu thẩm mỹ, tôn vinh những phép lạ của đời thường và của quá khứ sống động”; “bảo vệ cái đẹp, đặc biệt là khi các chế độ độc tài tiêu diệt nó.” (vi.wikipedia.org).

59 Xem laxanh2015.blogspot.ca 16/9/2013. 60 Thành ngữ tiếng Pháp có câu “Avoir une mémoire d’éléphant“ (Có trí nhớ tuyệt vời). Còn trái nghĩa với “mémoire d’éléphant” là “mémoire de poisson rouge” (Trí nhớ của con cá vàng). Cứ bằng quy luật của ngôn ngữ được coi là trong sáng nhất và bằng vẻ đẹp từ các trào lưu nghệ thuật từng diễn ra trên đất nước có ngôn ngữ đó, ta kết luận: Các nhà Siêu thực chủ nghĩa là những Con cá vàng của đất nước Nghệ thuật!

61 Xem tienve.org 8/2013; Tham khảo về C. Bukowski: en.wikipedia.org và thivien.net.

62 Xem tienve.org 30/7/2913.

63 Xem Hoàng Hưng, Về những thể nghiệm thơ gần đây, phebinhvanhoc.com.vn 19/11/2012. 64 Bài học bản thân: Cũng từng bị “loạn thể loại” tương tự qua tienve.org mà hệ quả tốt, nhiều năm trước tôi có làm một bài không giống ai, chủ gia trang xếp vào mục Sổ tay (dạo đó chưa ra mục Đối thoại). Dần dà tôi chú ý hơn hướng phê bình đối thoại như từng được Lê Đình Kỵ thực hiện thành công. (Phạm Quang Trung, Nhà phê bình Lê Đình Kỵ, vanhocviet.org 25/8/2013). Thiệt tình tôi sức mấy (mà giả như may mắn có được mấy sức cũng chẳng nên lặp) hàn lâm thông tường mực thước theo Giáo sư, nên vẫn phê bình nghệ sĩ cách điệu phá lối giống bao kẻ sáng tác. Mới rồi tại Hội nghị lý luận – phê bình văn học lần III – Hội Nhà văn Việt Nam, Tam Đảo 4- 5/6/2013, ở tham luận của Trần Thiện Khanh, Ba kiểu phê bình văn học hiện nay (hay ba cơ chế phê bình văn học Việt Nam đương đại), được nhiều người trong cuộc và chuyên nghiệp ghi nhận, tôi thấy câu: “Các tác giả phê bình phản tư cổ vũ cho sự đa nguyên lý thuyết phê bình và phi tập trung hóa, chủ trương bàn lại, bàn thêm, bàn tiếp, khắc phục những hạn chế sai lầm, điều chỉnh, thay đổi nhiều vấn đề có tính chất cơ bản của phê bình văn học, họ tạo ra kiểu phê bình đối thoại khác hẳn với lối phê bình độc thoại, quyền uy, quy phạm hóa trước đây.” (nhavantphcm.com.vn 29/5/2013). Tâm sự riêng tây gợi tình đại cuộc, mong độc giả nhìn bài này trong thể thức ấy khi nó mang đối tượng là Thơ Tân hình thức Việt. Phương pháp chính của tôi ở phê bình đối thoại là so sánh trong hệ tác giả, tác phẩm để định giá giữa tương quan. Mục đích là phân loại và phân định; có bình có phê (đôi khi hứng bút lại còn phán) cụ thể gì cũng không chỉ vì/ bởi đối tượng. Và, về văn bản thể loại – như lời đề từ – được làm bằng tinh thần Jacques Derrida. (Theo bản dịch Dương Thắng, triethoc.edu.vn 19/8/2013).

65 Xem vanvn.net 18/9/2013.

66 Xem gio-o.com 9/2013.

67 Đặng Tiến, tuyển tập Blank Verse – Thơ không vần, và talawas.org 18/5/2006; Khế Iêm: Tân hình thức, sách lý thuyết về Thơ Tân hình thức, Nxb Văn Mới 2003.

68 Riêng người viết, ngoài bài vở chung chung như vô vàn tác giả khác nói về nhạc tính trong thơ, xin được “khoe” năm ngoái đã phải “tốn” cả một trường ca mang tên Trăm thi điệu với 12.808 chữ.

69 Nguồn: Chân Phương (laxanh2015.blogspot.ca 19/8/2013); Nxb Chính trị quốc gia 1995 triethoc.edu.vn 13/5/2010, Trần Đức Thảo (triethoc.edu.vn 9/8/2013).

70 Phác thảo: Chữ ca trong “thi ca/ thơ ca” về từ nguyên cùng gốc với “ca dao”. Theo Từ điển văn học Việt Nam, ca dao là một thể loại của sáng tác thơ dân gian tiếng Việt, như một thuật ngữ Hán-Việt ít nhiều phỏng theo học thuật Trung Hoa; ở Trung Quốc đã dùng thuật ngữ này từ nhiều thế kỷ trước; ở Việt Nam sớm nhất là từ cuối thế kỷ 18 ca dao được các nhà nho dùng để gọi phần lời thơ trong vốn ca hát và lời nói truyền miệng. (Lại Nguyên Ân, Nxb Giáo Dục 1999, tr. 45). Bách khoa toàn thư mở, phần Ca dao Việt Nam đã định nghĩa: “Ca dao là một từ Hán-Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.” (Wikipedia). Như thế, có thể nói rằng, các chữ “thi ca/ thơ ca” được dùng ở Việt Nam từ rất lâu trước chữ “ca dao” sau khi nhập các thuật ngữ “thi/ thi ca” của Trung Hoa. Thi ca/ thơ ca/ thơ trong tiếng Anh là poetry có gốc của chữ Hy Lạp poiesis – ποίησις, nghĩa là làm, như thuật ngữ hemopoiesis, nghĩa hẹp làm thơ (Wikipedia tiếng Anh); và trong tiếng Latinh cũng là poetry. Theo Đặng Phùng Quân, “Thơ, từ nguyên ngữ Hy La, ποίησις, poetria hiểu theo nghĩa sáng tạo, sản xuất ra một công trình độc lập, tương phản với πράξις, praxis hành động ở nội tại của tác nhân [José Ferrater Mora, Diccionario de Filosofía], có gì chung với từ Đức Dichtung hay Hoa Shi.“ (Khái luận phê bình lý trí văn chương, kỳ 98, Thơ phá thể, gio-o.com 1/10/2013). Dùng máy dịch Google với 72 ngôn ngữ, chúng tôi thấy cũng như thế trong nhiều ngôn ngữ của các quốc gia có truyền thống về thơ: poésie (Pháp), поэзия (Nga), poezja (Ba Lan), poesía (Tây Ban Nha), poesia (Ý), poesia (Bồ Đào Nha), poesie (Đức), poezie (Séc), poesi (Thụy Điển), poezie (Rumani), v.v… và đặc biệt cũng là poezio với tiếng Esperanto – quốc tế ngữ cho “làng toàn cầu lý tưởng”! Chưa tính nhóm chữ tượng hình, chữ thơ trong một số chữ tượng thanh có từ nguyên khác với poiesis là ở ngôn ngữ thông dụng của các nước Phần Lan, Hungary, Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, vùng Nam Phi, v.v… Nếu tìm ra những ngôn ngữ nào cũng như tiếng HánViệt/ Hán-Nôm cùng thể hiện nhạc tính ngay trong tên gọi “thi ca/ thơ ca” thì sẽ hiểu quan niệm thơ ở các ngôn ngữ đó. Đã có nhiều khảo cứu về sự liên quan giữa hai chữ “thơ” trong tiếng Việt và “thi” của tiếng Trung Quốc. Sau đây là ý kiến mới nhất chúng tôi vừa được biết trong đó nói rõ cả bản chất nhạc trong chữ “thi” theo quan niệm Trung Hoa: “Khởi sinh của thơ biểu hiện trong từ thi, xuất hiện lần đầu trong Kinh Thi ở 3 bài thơ khác nhau vào những thời điểm khác nhau (khoảng thế kỷ 11 đến thế kỷ 8 TCN), tuy nhiên, hình thức văn tự sớm nhất có dạng gọi là tiểu triện/hsiao-chuan: hình thức đầu hợp bởi ngôn/yen (đề chỉ gốc) và tự/ssu (để chỉ âm); hình thức sau hợp bởi yen song viết khác và chi/chih là nguyên mẫu của hai chữ chih để chỉ đi và chih để chỉ ngừng. Theo Liêu Nhược Ngu, nhiều học giả hiện đại chứng minh là cả hai chữ thi/shih và tự/ssu có thể hoán chuyển lẫn nhau, bắt nguồn từ gốc chih để chỉ chân, cho nên phối hợp âm cho chữ thi/shih (thơ) gồm ngôn với ssu hay chih liên tưởng nguyên nghĩa với chữ chân mang hai nghĩa đi và ngừng có nghĩa là nhẩy múa và nhịp điệu; tự nhân hay thi nhân là người thực hiện chức năng thi ca và nhẩy múa trong những lễ hội; mặt khác âm ssu hay chih còn mượn âm từ chữ chí/chih gồm chữ sĩ và chữ tâm đễ chỉ chí hướng, niệm tưởng mang nhiều ý nghĩa như ước vọng, ý muốn, nỗi niềm, tâm tưởng; nói tóm lại thi và chí là những từ cùng gốc/cognate words nếu không muốn nói là cùng chữ, có thể nói là quan niệm nguyên thủy của thơ.” (Đặng Phùng Quân, Nt, kể cả chữ in nghiêng; Đ.Q. chữ gạch dưới). Trên đây chỉ là các ý bộc phát của người viết còn kém hiểu biết về ngôn ngữ học, mong các nhà chuyên môn xem xét.

71 Xem thêm: “Nhịp điệu là xương sống của thơ. Thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc, nhưng không thể vứt bỏ nhịp điệu. Tôi không thấy một thể thơ nào có thể vứt bỏ nhịp điệu, tự xây dựng mình trên một tình trạng tùy hứng về nhịp điệu…Trong trường hợp tứ thơ không siêu việt cho lắm thì nhịp điệu lại càng cần thiết.” (Phan Ngọc, Nguồn: Nguyễn Vũ Văn/ Chân Phương, Tạp chí Thơ số 18; Phụ lục 9-); “Ý thơ là ‘xương’; ngôn ngữ, nhịp điệu thơ là ‘thịt’. Dịch thơ chỉ có thể dịch ý (xương); Thơ dịch không phải là thơ. (…) Tôi nghĩ đến ngày Truyện Kiều được dịch sang đủ 160 thứ tiếng của các nước trong Liên Hiệp Quốc, ngày xương cốt Kiều tung tóe đó đây!” (Tràng Thiên/ Võ Phiến; Quang Khuê, Một cuộc trò chuyện thanh nhã, tuoitre.vn 19/9/2013).

72 “Mượn lấy bút nàng Ly tao, tôi vẽ/ Và mượn cây đàn ngàn phiếm, tôi ca/ Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngây thơ/ Cũng như vẻ đẹp cao siêu hùng tráng/ Của non nước, của thi văn, tư tưởng.’ (…) Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu; Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn mầu: Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm mầu: Lấy Thanh Sắc trần gian làm tài liệu.” (Bài Cây đàn muôn điệu, 1935; Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn Học 1999).

73 Phác thảo: Chưa bàn tới nhân thân và liên hệ thời cuộc của 2 tác giả, có sự khác nhau và bổ khuyết giữa thơ Tố Hữu và thơ Trần Dần. Thơ Trần Dần thường được coi là cách mạng và cách tân bậc nhất của thơ Việt hiện đại (ý Dương Tường), nhưng ngay trong thi pháp Trần Dần nhịp điệu dường như không theo kịp các yếu tính khác, nhất là cấu trúc ngôn từ với sự cách mạng tưởng như tột cùng của tiếng Việt. Ngược lại, trong khi hầu như không có chuyển đổi về thi pháp thể loại và tư duy thi ca, với đường hướng khác thơ Tố Hữu được nhìn nhận là mang tải nhịp điệu thời đại (như “người nửa thế kỷ lĩnh xướng hùng ca”, Đỗ Ngọc Yên, vanhocquenha.vn 24/9/2013). Có nên so sánh tiếp: thơ Chế Lan Viên giống như là trung bình cộng của thơ Tố Hữu và thơ Trần Dần?

74 Chỉ nói về từ nguyên, trong tiếng Anh, tiếng Pháp vần (rhyme, rime) cùng gốc với điệu/ nhịp điệu (rhythm, rythme).

75 Paz, Octavio; Bàn về thơ, Hải Ngọc dịch từ bản dịch tiếng Anh Recapitulations, hieutn1979.wordpress.com 11/11/2012.

76 Tham khảo: Nyrio, Laios; Bàn về nghĩa và kết cấu tác phẩm, phebinhvanhoc.com.vn 21/5/2012; và Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học – Nbx Đại học Quốc gia 2004 (Nguồn: Lâm Tiến, phongdiep.net).

77 Viết tắt từ “proversa oratio” (tiếng Latinh), như là một nhận dạng cho văn xuôi, truyện (Chú thích 42, Girshman). 78 Tiếng Latinh, như là một nhận dạng cho thơ (Chú thích 42, Girshman).

79 Phác thảo: Với niềm kính vọng hai đại tông giáo cùng lòng si mê hai lãnh vực văn học đầu bảng, người viết cạn nghĩ với phép sánh như sau: Thơ như là đạo Phật ở vũ điệu luân hồi, bí ẩn dưới hình thể gọn ghẽ, đơn lẻ; càng giải thích càng bất khả; nghệ thuật phi chuẩn mực, phi lý, phi không-thời gian, không mục đích, tự do. Truyện như là đạo Chúa ở tính duy lý để thuyết phục; nhịp thời gian và không gian tuyến tính có khởi thủy, dẫn dắt, phục hồi, kết cục; hệ thống nghệ thuật lớp lang, công phu, kỷ luật.

80 Hoàng Ngọc Hiến, Đào tạo viết văn ở trường đại học, vietvan.vn 8/2013 (Nguồn: Ngô Thảo, Dĩ vãng phía trước, Nxb Hội Nhà văn 2011).

81 T rong tập Other poetry – Thơ khác, tr. 38-40; và Khế Iêm, Thơ chọn lọc, talachu.org 27/8/2006.

82 So sánh bên thơ vần điệu và tự do: “Những câu thơ hay thường có xu hướng tách ra khỏi bài thơ để trở thành các giá trị độc lập. Nói một cách khác, những câu thơ hay thường xóa bỏ xuất xứ của nó.” (Hữu Thỉnh, Tạp chí Thơ – Hà Nội – số 5/2012; Nguồn: Nguyễn Thanh Truyền, vanhocviet.org 25/9/2013).

83 Lê Đạt, Thầm thì; Nhã Thuyên, tiasang.com.vn 9/9/2013.

84 “Về bản chất, làm thơ chính là một cách sử dụng điển tích đời sống cá nhân của một hay một lớp độc giả. Mỗi bài thơ là một ký hiệu ít nhiều phức tạp, cho phép dẫn chiếu đến một trạng thái tình cảm có sẵn trong ký ức người đọc. Nói cách khác, thông qua bài thơ, tác giả dẫn chiếu đến một điển tích đời sống tiểm ẩn ở những độc giả tiềm ẩn của mình.” (Ngô Tự Lập, Chú thích 42; và Chu Thị Thơm, vnexpress.net 26/3/2009).

85 Dòng thơ cần giải thích giá trị là chuyên luận về những tác giả đã/ đang/ sẽ ít nhiều góp phần thay đổi thi ca Việt hiện đại và đương đại bằng những văn phong có một không hai của mình, mà đa số ít được hoặc chưa được giới phê bình và dư luận quan tâm tương xứng. (Chú thích 38, 40; và Đỗ Quyên, Về một dòng thơ cần giải thích giá trị – Trường hợp Tuyết Nga, Tạp chí Nhà Văn số 2/2009, và vannghesongcuulong.org 9/2/2009).

86 Về số chữ trong một dòng thơ Tân hình thức: Qua các tuyển tập Tân hình thức Việt và trang mạng quen thuộc, sơ bộ chúng tôi thấy bài có 7-8 chữ/ âm trong một dòng là đa số, khoảng 65%. (“Thể thơ 7 hay 8 chữ tương đối hợp với ngôn ngữ nói hơn vì thật khó đưa những câu nói đời thường với vần vào lục bát” – Khế Iêm). Kế tiếp là loại 5-6 chữ (25%). Rất ít loại 4 chữ, như các bài Tập hợp số thực của Đài Sử, Lảm nhảm/ Bỉm. Và lác đác lục bát [Kiều/ Đỗ Kh.; (Những) người điên/ Nguyễn Tất Độ, Tiếng hát từ cổ xưa/ Khế Iêm]. Cá biệt có vài bài “tự do” [Có không/Đình Nguyên, Trường ca hành (xác) (…)/ Lý Đợi]. Trừ bài của Khế Iêm in trên Sông Hương số Đặc biệt 7/12/2012 và tapchisonghuong.com.vn 4/1/2013, những bài nói trên, theo thứ tự có trong 2 tập (a) Thơ kể – Poetry Narrates và (b) Thơ không vần – Blank verse ở các trang: (a) 118, 202, 248; (b) 15, 11, 81. Ba bài lục bát khá lạ lẫm của Đ. Kh., N.T.Đ. và K.I đáng lẽ được “xử lý” trong mục V.1. về thể loại mà không kịp, để dành cho mục VI.6. về tính truyện. [Nhắn riêng L.Đ.: Xin lỗi đã trích mà không dẫn nguyên con thai-thồ của chú. Nó dài thoòng và cơ cấu quá trời, anh đả tự đến chữ xác, muốn xỉu; phải sống, viết bài “nộp quyển” cho Hội thảo chứ! Nữa, chưa kể 2 dấu ngoặc, 15 chữ cả thảy trong thai-thồ mẹ, tức là riêng cái thai-thồ mẹ đã “dám” dài hơn trọn vẹn bài thơ ngắn nhất nước Nam 13 chữ của Dương tiên sinh! Chửa hết, từ thai-thồ mẹ lại đẻ ra thai-thồ con bằng cả một bài thơ 80 chữ (bài thơ phụ thì Tân hình thức chuẩn không cần chỉnh) bằng một “chú thích (thú)”. Mà anh có thích có thú hay không, chú biết rồi đấy. Hihi…]

87 Nếu như Nguyễn Việt Chiến, Irasara và nhiều cổ động viên (trong đó có cả người viết) đau đáu rằng, qua những cuộc “cách mạng” nho nhỏ lẻ tẻ đơn độc thơ đương đại đã tỏ ra không thua kém trong tương quan với Thơ Mới, thì ở đấy diễn ngôn cái tôi là một nét “hậu sinh khả úy”.

88 Nguyễn Thanh Tâm, Hát nói, một tiền đề cho Thơ mới, phongdiep.net 26/8/2013; (Trần Đình Sử: “Cho đến bây giờ chúng ta cũng có thể nhận ra điệu nói kỳ thực không phải là sản phẩm riêng biệt của Thơ Mới. Điệu nói đã có trong thơ trữ tình dân gian và thơ Nôm của một số nhà thơ trung đại. Điều đó đặt ra một sự suy ngẫm về tính chất của điệu nói trong Thơ Mới và điệu nói trong trữ tình dân gian, trữ tình trung đại.” Nguồn: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, Nxb Giáo dục 1999).

89 Nguyễn Hùng Vĩ, Thi pháp của sự thành thực, khoavanhoc.edu.vn 17/6/2013.

90 Nguyễn Ngọc Tư, Chừng mực của nỗi cô đơn, thethaovanhoa.vn 25/8/2013.

91 Do thời gian hạn hẹp, hai phần V.5., V.6. đang là bản thảo. Xin được hẹn sang dịp tiếp.

92 Tên cuốn sách đang được dư luận đánh giá cao của Trần Quang Đức, Nxb Thế giới 2013, dựng lại lịch sử trang phục Việt Nam 1009-1945 trong cung đình và ngoài dân chúng.

93 Thơ Việt Nam, wikipedia.org.

94 Chú thích 23; và Khế Iêm; Tân hình thức, Tứ Khúc và những tiểu luận khác, ebook trên thotanhinhthuc.org.

95 Qua hàng – vắt dòng, bloggoldmund.blogspot.ca 24/8/2012.

96 Chú thích 3: 26 Nhà thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Hưng Quốc, Lời nói đầu, tr. 18.

97 Nguyễn Hiền, Biển Bắc nhận giải Thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2012.

98 Lại mượn tiền nhân làm nguồn thơ: “Cụ hâm rượu nữa đi thôi/ Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau/ Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.” (Uống rượu; Trần Huyền Trân; Xem thêm: Vũ Bình Lục, Trần Huyền Trân uống rượu với Tản Đà, trannhuong.com 12/3/2012.

99 Hoàng Cầm, Đêm liên hoan, 1947, tập Những bài thơ lẻ; và thivien.net 28/6/2005.

100 Trong tập Thơ không vần – Blank verse, tr. 106.

101 Dẫn theo bản có trong thotanhinhthuc.org 2/12/2007 (Bản mới trong Thơ kể – Poetry Narrates tr. 244 bị lỗi in ấn?)


Mục lục

I. “Bài thơ” mừng Hội thảo
II. Tân hình thức trên bậc thang sáng tạo thơ Việt theo trường phái, trào lưu
III. Triết lý của Tân hình thức Việt

III.1. Tóm tắt
III.2. Nhận định chung
III.3. Cứu cánh biện minh cho phương tiện
III.4. Quá khứ gần, tương lai gần và tương lai xa

IV. Một số hoài nghi, phản biện, bài bác
V. Những vấn đề thi pháp

V.1. “Nhân vật” thể loại trong Thơ Tân hình thức Việt
V.2. Nhịp điệu với Tân hình thức Việt
V.3. Tân hình thức Việt và kết cấu bài thơ
V.4. Cái Tôi của Tân hình thức Việt
V.5. Tân hình thức Việt giữa câu chuyện dài Hậu hiện đại
V.6. Về tính truyện ở Thơ Tân hình thức Việt

VI. Nói thêm về kỹ thuật vắt dòng; và một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc
VII. Tạm kết

Phụ lục

1- Bài thơ Vệt mực và tờ giấy (Nguyễn Tất Độ)
2- Bài thơ Bữa tối (Nguyễn Quang Thiều)
3- Trích bài thơ Vàng Sao
4- Bài thơ Vịt trời/ Widgeon (Seamus Heaney)
5- Một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc
6- Bài thơ Kiếp con quay (Tản Đà)
7- Danh sách một số tuyển thơ, bài phê bình, lý luận Thơ Tân hình thức Việt
8- Danh sách một số bài giới thiệu, tán đồng, ủng hộ Thơ Tân hình thức Việt
9- Trích lược một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt

Chú thích