Ray Charles said that Aretha Franklin “sang from her inners.” For her father, C.L. Franklin, she was “a stone singer.” That’s a good description for a great singer whose voice did something that even some brilliant, technically virtuosic vocalists can’t do. When Franklin was at her most sublime, her voice seemed to give shape to the entirety of human feeling — to the joy and the despair — so much so that it seemed as if she were birthing a twinned version of herself with each breath and soul-stirring note.
The new drama “Respect” is a march-of-time fictionalization of Franklin’s life. Attractively cast and handsomely mounted — Jennifer Hudson plays the queen — it is a solid, sanitized, unfailingly polite portrait. It conforms to the familiar biopic arc: the artist begins humbly; reaches towering heights (artistic, commercial, maybe both); suffers a setback (bad lovers, addiction); only to rise higher still. In album titles, the movie flows to the beat of Franklin’s discography from “The Electrifying Aretha Franklin” to “Laughing on the Outside,” “Spirit in the Dark” and “Get It Right.”
Taken as a whole, the movie — directed by Liesl Tommy from a script by Tracey Scott Wilson — doesn’t hold you firmly, though it has its moments. First, it has to dispatch with the standard preliminaries, including Aretha’s childhood, with its crackling tensions and cautiously muted torments. It’s a story that’s been told before, including by the Franklin biographer David Ritz. Here that life is often in soft focus, and generally sprinkled with tears rather than drenched. Even so, it is catnip to watch the young Aretha (Skye Dakota Turner) wander her family’s house late at night, smiling and hailing partygoers she calls out to as “Uncle Duke” (as in Ellington) and “Aunt Ella” (Ms. Fitzgerald to us mortals).
Tommy, a theater director making her feature film debut, handles the material and its many moving parts with assurance. “Respect” opens in Detroit in 1952, where the young Aretha is living with her siblings under the stern eye of their father, C.L. (Forest Whitaker). A legendary Baptist minister and friend to Martin Luther King Jr. (Gilbert Glenn Brown), C.L. lords over his house with imposing hauteur and an unpredictable temper. Also sternly minding the brood is his mother (Kimberly Scott), who’s helping raise the children. Their mother, Barbara (Audra McDonald), a saintly figure in amber, has split from her husband and lives elsewhere, and clearly has Aretha’s heart.
Everyone and everything in “Respect” looks good if not too movie-perfect. The rooms seem lived in and the people feel real, none more so than Mary J. Blige, who, as Dinah Washington, briefly sets the movie ablaze. Oddly, a showdown between Aretha and Dinah is borrowed from a confrontation Washington had with Etta James. Perhaps that was to give the movie juice, because otherwise the first chunk slides into the sluggish and dutiful. A distinct exception is a shocking, dimly lit image of the young Aretha that made me gasp. It’s a simple, devastating vision of trauma that lingers even as the story motors on and continues to hit the biographical markers: Hello, Jerry Wexler (Marc Maron).
“Respect” succeeds in doing exactly what is expected of it. You may argue with this or that filmmaking choice and regret its overly smooth edges, but it does give you a sense of Franklin as a historical figure, a crossover success story and a full-throttle, fur-draped diva. (As a mother, she remains M.I.A.) Mostly, it gives you her music, with its passion and power, lyricism and schmaltz. Long after they fell off the charts, these are songs that light you up — with feelings, memories — when you hear them. You sing along with them in your head and, after the credits roll, you keep on singing (and murdering) them.
A line in one of Ritz’s books on Franklin sheds light on the challenges of transposing her complicated life to the screen. “The pain stayed silent in all areas except music, where, magnificently,” Ritz wrote, “it formed a voice that said it all.” The movie has a tough time handling this quiet, and even when Hudson takes over, the character remains frustratingly vague. She’s misty rather than mysterious, maybe because for too long she is drifting along rather than steering her own course. When she walks into Columbia Records, escorted by her father, she is an unanswered question; the puzzlement only deepens when C.L. orders Aretha to stand up and twirl for a surprised record executive.
Things vastly improve once the adult Aretha sits down with some session players and starts pulling apart the songs she will rebuild, discovering “her true voice,” as Franklin’s sister Carolyn (Hailey Kilgore) once put it. Hudson is a deeply appealing screen presence, and it’s a pleasure to watch her just walk into a room. She doesn’t look or sound like Franklin, but she manages the role confidently and with a pure singing voice that more than holds its own. She never feels possessed by Aretha, even when she’s making you rhythmically sway in your seat. Yet Hudson also manages what memorable singers do: she transports you, pulling you alongside her as she takes you up, up and away.
That’s a nice place to be (and to feel), even intermittently, because it’s then that Aretha Franklin flickers before you. She died in 2018 at 76 and her life was filled with agonies that the movie seems anxious to attenuate or ignore, as if the depth of her pain and its rawness might tarnish her legacy. That’s too bad but it doesn’t damage this movie, which finds an enjoyable groove as Aretha falters and triumphs anew. In the end, it is the music and your love for her that keeps you going and watching. With their hooks and oceans of feeling, Franklin’s songs worked on you and worked you over. They entered our bodies and souls, our cultural and personal DNA, becoming part of the soundtrack for our lives.
Respect Rated PG-13 for language, violence and child pregnancy. Running time: 2 hours 25 minutes. In theaters.
This Seattle artist has painted more than 80 portraits of healthcare workers
Jayashree Krishnan, a Seattle-based artist, has been painting these portraits of healthcare workers throughout the COVID-19 pandemic. Seattle Refined originally published this gallery in June when she had only done about 20. Since then, she's added more than 50 — bringing her total to 87 portraits of healthcare workers from around the United States, and some from other countries! The series was born when she painted her cousins, both doctors, wearing their PPE."It is my way of saying thanks to all medical workers and first responders for the incredibly challenging work they are doing every day," said Krishnan. More of her work can be foundon her website. (Images:Jayashree Krishnan)
Sau đây, khoa học đưa ra các thói quen cho thấy bạn đang bước trên con đường trường thọ.
1. Bạn yêu thích tập thể dục
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng duy trì hoạt động thể chất có thể giúp cải thiện tuổi thọ và giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim, tiểu đường và các bệnh khác.
2. Bạn có thói quen ăn ít
Các nhà nghiên cứu của Trường Y Đại học Washington (Mỹ) đã báo cáo rằng những người giới hạn lượng calo hằng ngày ở mức bằng 75% lượng calo so với những người ăn nhiều, thực sự trẻ trung – trái tim của họ hoạt động như người trẻ hơn 15 tuổi.
3. Bạn thích uống trà
Trà chứa catechin – giúp các mạch máu thư giãn và bảo vệ trái tim. Nghiên cứu trên 40.500 dân số Nhật Bản, cho thấy những người uống từ 5 tách trà xanh trở lên mỗi ngày – có nguy cơ tử vong do bệnh tim và đột quỵ thấp nhất.
Chỉ cần 1 – 2 tách trà mới pha mỗi ngày là đã cải thiện sức khỏe của bạn.
Hoạt động thể chất có thể giúp cải thiện tuổi thọ và giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim, tiểu đường
4. Bạn không thích uống nước ngọt
Các nhà khoa học từ Trường Y khoa Đại học Boston (Mỹ) phát hiện ra rằng uống nước ngọt thường xuyên làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc các bệnh như huyết áp cao, nồng độ insulin tăng và mỡ thừa xung quanh eo, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và bệnh tiểu đường.
5. Bạn chỉ thích ăn thịt gà
Theo một báo cáo chính của Viện Nghiên cứu Ung thư Mỹ, ăn hơn 500 gram thịt đỏ mỗi tuần làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Nguy cơ ung thư đại trực tràng cũng tăng 42% với mỗi khẩu phần 100 gram thịt chế biến, như xúc xích, thịt xông khói và thịt nguội mỗi ngày.
Nên nướng thịt đỏ ở nhiệt độ dưới 205°C, ướp thịt rồi cắt miếng mỏng và trở thường xuyên – có thể giúp ngăn ngừa hình thành chất gây ung thư.
6. Bạn thích chạy bộ
Nghiên cứu kéo dài 21 năm của Trường Y khoa Đại học Stanford (Mỹ) đã phát hiện ra rằng những người chạy bộ khoảng 5 giờ mỗi tuần – sống lâu hơn và hoạt động tốt hơn. Họ không chỉ ít mắc bệnh tim hơn mà còn ít bị ung thư hơn.
Thậm chí, chỉ cần đi bộ nhanh 20 phút mỗi ngày cũng có tác dụng.
7. Bạn không cần người giúp việc
Theo một nghiên cứu, chỉ cần hút bụi, lau nhà hoặc lau kính cửa sổ trong hơn 1 giờ, có thể đốt cháy khoảng 285 calo, giảm nguy cơ tử vong xuống 30%.
8. Bạn cảm thấy mình trẻ hơn 13 tuổi
Đó là những gì những người lớn tuổi có sức khỏe tốt cho biết trong một cuộc khảo sát gần đây.
Nghiên cứu từ Đại học Michigan (Mỹ) cho biết, cảm thấy trẻ trung dẫn đến sức khỏe tốt hơn và sống lâu hơn. Nó có thể cải thiện sự lạc quan và động lực để vượt qua thử thách, giúp giảm căng thẳng và tăng cường hệ miễn dịch và cuối cùng là giảm nguy cơ mắc bệnh.
9. Bạn sống có kỷ luật
Nghiên cứu từ Trung tâm Y khoa Đại học Rush (Mỹ) nhận thấy, những người có kỷ luật, có tổ chức – sẽ sống lâu hơn và có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer thấp hơn tới 89% so với những người sống vô tổ chức
10. Bạn thích có bạn bè…
Nghiên cứu từ Trường cao đẳng Cedar Crest (Mỹ) cho biết, mối quan hệ bạn bè tốt đẹp đóng vai trò như một lá chắn chống lại căng thẳng. Theo nghiên cứu, căng thẳng mạn tính làm suy yếu hệ miễn dịch và làm lão hóa tế bào nhanh hơn, cuối cùng rút ngắn tuổi thọ từ 4 đến 8 năm. Hãy chọn những người bạn mà bạn có thể trò chuyện mà không bị đánh giá hay chỉ trích.
11. … và bạn bè của bạn khỏe mạnh
Theo một nghiên cứu trên Tạp chí Y học New England, nếu những người bạn thân nhất của bạn tăng cân, bạn cũng tăng 57% nguy cơ tăng cân.
Nghiên cứu cho biết: “Để duy trì một lối sống lành mạnh, cần phải kết thân với những người có cùng mục tiêu. Tham gia một nhóm giảm cân hoặc tập luyện với một người bạn để cùng đi bộ.
12. Bạn siêng học
Một nghiên cứu của Trường Y Harvard cho thấy những người học qua bậc phổ thông sống lâu hơn 18 tháng so với những người không học tiếp lên đại học.
Lý do là vì càng học nhiều, có thể càng ít hút thuốc. Chỉ khoảng 10% người có trình độ đại học hút thuốc, so với 35% những người có trình độ trung học trở xuống, theo CDC Mỹ.
13. Bạn có nhịp tim chậm
Có nhịp tim 60 nhịp mỗi phút chứng tỏ trái tim bạn khỏe mạnh. Hầu hết mọi người có nhịp tim từ 60 đến 100 lần mỗi phút, càng thấp càng khỏe.
Phòng khám Cleveland Clinic, cho biết nhịp đập chậm hơn nghĩa là tim không phải làm việc quá nhiều và bạn có thể sống lâu hơn.
14. Mẹ của bạn chỉ lớn hơn bạn 25 tuổi
Theo các nhà khoa học của Đại học Chicago (Mỹ), nếu mẹ bạn lớn hơn bạn ít hơn 25 tuổi, bạn có khả năng sống tới 100 tuổi gấp đôi so với người được sinh ra bởi người mẹ lớn tuổi.
15. Bạn không ngáy khi ngủ
Một nghiên cứu kéo dài 18 năm cho thấy những người không bị ngáy khi ngủ có khả năng sống lâu hơn gấp 3 lần so với những người bị ngưng thở nghiêm trọng.
16. Bạn siêng phơi nắng
Nghiên cứu của Đại học Y khoa Colorado Denver (Mỹ), cho biết vitamin D còn có thể làm giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim và nhiễm trùng.
Chỉ cần phơi nắng 10 – 15 phút trước 8 giờ sáng hằng ngày với tay, chân trần là đã có thể tạo đủ vitamin D.
17. Bạn đi lễ ít nhất 1 lần một tuần
Một nghiên cứu gần đây do Đại học Yeshiva và Đại học Y Albert Einstein thực hiện, đã phát hiện những người làm điều này giảm được 20% nguy cơ tử vong, cho dù có hút thuốc, uống rượu hay không tập thể dục.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, có thể do họ được nâng đỡ tinh thần và được giải tỏa căng thẳng.
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, từng nổi tiếng trước năm 1975 với những bài thơ “ngông” vừa từ trần tại tư gia ở thành phố Phan Thiết, Việt Nam, vào sáng ngày 4 tháng 8 năm 2015, theo tin của Báo Tuổi Trẻ Online hôm Thứ Ba cho biết.Bản tin báo Tuổi Trẻ viết rằng, “Theo tin từ nhà thơ Nguyễn Như Mây – một bạn thơ đồng hương Bình Thuận, nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trong 2-3 năm nay bị bệnh suy tim, gần đây trở nặng và đã ra đi vào 9g sáng nay, 4-8, tại nhà riêng (43/17 đường Trần Lê, Phường Đức Long, TP. Phan Thiết). Hiện linh cữu nhà thơ quàn tại nhà, gia đình đang chuẩn bị tang lễ và chưa có thông tin lễ viếng cụ thể.”Cũng theo báo Tuổi Trẻ thì “Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn tên thật Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết,…”
“Theo tin từ gia đình, 19g ngày 4-8 sẽ làm lễ nhập quan nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, lễ viếng bắt đầu ngay sau đó đến hết ngày 5-8. 6g ngày 6-8 sẽ di quan nhà thơ hỏa thiêu tại Vũng Tàu.”
Nhà văn Đặng Tiến, trong bài viết về Nguyễn Bắc Sơn được đăng trên trang mạng thơ Tân Hình Thức vào năm 2005, nói về nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trước và sau năm 1975. Trong đó xin được trích mấy đoạn sau đây để tưởng niêm đến nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn.
“Vào khoảng 1970, khi thơ Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc nhiên, nhiều người cho rằng có hơi hướm thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến tranh và lời thơ bi tráng. Nhưng xét kỹ thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn và lý tưởng, thơ Nguyễn Bắc Sơn ngược lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng. So với các nhà thơ khác, mà chúng tôi vừa trích dẫn, thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng có nét khu biệt, là chất bụi đời, mà nhà thơ tự cho là “du đãng”. Tống Biệt Hành là thơ để đời; Nguyễn Bắc Sơn là thơ bụi đời. Độc Hành Ca là loại thơ “miếu đền”, Nguyễn Bắc Sơn là thơ lề đường, quán sá. Xã hội, hoàn cảnh Miền Nam thời đó đã tạo một nguồn cảm hứng như thế và chỗ đứng cho một thể loại bất cần đời như thế. Và dư luận thời đó, của những nhà văn tên tuổi có thế lực văn học, lập trường chính trị vững vàng, như Võ Phiến trên Bách Khoa, Chu Tử trên báo Sống, Doãn Quốc Sĩ trên báo Văn, đã đồng loạt hoanh nghênh.
Sau 1975 Nguyễn Bắc Sơn có bài
Một Ngày Nhàn Rỗi
Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc Vô tình ngang một quán cà phê Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn Mải mê tán dóc chẳng cho về Về đâu, đâu cũng là đâu đó Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ Ba nghìn thế giới cũng chưa to
Vẫn một giọng thơ, một cốt cách, một phong thái. Võ Phiến, hai mươi năm sau cuộc chiến, có đủ bình tâm và khoảng cách để nhìn lại thơ văn và tâm tình một thời đại và thông hiểu thấu đáo hiện tượng Nguyễn Bắc Sơn, trước sau như nhất, “cũng cái ngông nghênh ấy”:
“Ngày trước trong chiến tranh, ông kể chuyện chơi trò nổ súng cắc cù rất độc đáo; ngày nay hòa bình thiên hạ hớt hơ hớt hải lăn xả vào cuộc giành giật đồng tiền, thì ông nói chuyện hớt tóc cạo râu: lại rất độc đáo.
Thành thử giữa ông Nguyễn Bắc Sơn trong chiến tranh và ông Nguyễn Bắc Sơn sau chiến tranh vẫn có một chỗ nhất trí. Tuy hai mà một. Do hoàn cảnh khác nhau nên đề tài câu chuyện khác nhau; nhưng phong thái vẫn một thôi. Phong thái ấy khiến cho thời chiến ông là kẻ phản chiến, thời bình ông thành kẻ phản lao động. Thực ra thơ ông phát biểu về một thái độ sống, không phải chỉ là một thái độ đánh nhau hay một thái độ làm lụng. Sống là nhẹ, không phải chỉ riêng: đánh nhau là giỡn, là nhẹ. Đời không có nghĩa phải quấy. Một khi đời đã không có nghĩa, thì mọi hoạt động ở đời (kể cả chiến tranh) đều vô nghĩa. Hoặc giả nó có được trao cho ý nghĩa thì ông cũng không lý đến. Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ; bắn nhau cắc cụp lỡ có trúng đạn chết tươi cũng là chuyện nhỏ thôi”.(1994)” (ngưng trích) (nguồn: http://www.thotanhinhthuc.org)
Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi
Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất Dừng chân đây nói chuyện tiếu lâm chơi Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời … Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic Kẻ thù ta ơi các ngài du kích Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo Hãy tránh xa ra ta xin tí điều Lúc này đây ta không thèm đánh giặc Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình Ăn muối đá mà hăng say chiến đấu Ta vốn hiền khô ta là lính cậu Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo Xem cuộc chiến như tai trời ách nước Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí Lũ chúng ta sống một đời vô vị Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết Và máu xương làm phân bón rừng hoang.
Mật Khu Lê Hồng Phong
Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng Còn ngại hành quân động Thái An Cát lún bãi mìn rừng lưới nhện Mùa khô thiếu nước lính hoang mang Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát Nghe súng rừng xa nổ cắc cù Chợt thấy trong lòng mình bát ngát Nỗi buồn sương khói của mùa thu Mai ta đụng trận ta còn sống Về ghé sông Mao phá phách chơi Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm Đốt tiền mua vội một ngày vui Ngày vui đời lính vô cùng ngắn Mặt trời thoắt đã ở phương Tây Nếu ta lỡ chết vì say rượu Linh hồn chắc sẽ thành mây bay Linh hồn ta sẽ thành đom đóm Vơ vẩn trong rừng động Thái An Miền Bắc sương mù giăng bốn quận Che mưa giùm những đám xương tàn.
Người Hoa Khôi Áo Rách
rồi một hôm gió bấc có ai ngờ ai lãng đãng ngờ chi cơn gió bấc cây bạch đàn trước cửa nhà em đang còn hay đã mất sao anh hình dung như có vết thương đang loang ra trong vũng nước vô thường truyền tín hiệu đến ngậm ngùi vô tận anh có nghe chuyện đời em lận đận những chuyến đi buôn những chuyến xe đò tiếng nói sau lưng lời chua chát nhỏ to dòng lệ em khô nhưng vẫn là dòng lệ mặn đã qua chưa ôi cái thời đăng đẳng đứng bên kia sông cũng ngó thấy điêu tàn băng giá chuyển mình băng giá mau tan tiếc câu thơ anh không đủ làm cho đời em ấm cúng tiếc loài người bày ra xích xiềng huyển mộng đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên câu chuyện tình như ngọn gió miên miên thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch
TIỄN BIỆT NGUYỄN BẮC SƠN
Nguyễn Lương Vỵ
Bạn đã về với diệu âm bay Phan Thiết nắng rưng rưng sáng nay Chớm thu chưa lạnh trời phương ấy Mà buốt lòng ta ở chốn này Mà nhớ lắm câu thơ bạt mạng Một thời sặc máu của quê hương Hồ trường say ngất trời ưu hận Ngâm tràn cho đỡ bớt bi thương Mà nhớ lắm câu thơ bầm dập Một thời khô huyết của ly tan Chiến tranh? Dấu hỏi không lời đáp Chỉ có mồ ma réo ngập tràn
Mà nhớ lắm câu thơ phiêu hốt: Mắt người như cánh hoa sen xanh (*) Diệu âm Bát Nhã Ba La Mật Hẹn sẽ về cùng bạn hòa thanh.
Calif. 2:30 AM, 04.08.2015
Ghi Chú:Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn (tên thật là Nguyễn Văn Hải), sinh năm 1944 tại Phan Thiết, từ trần lúc 9 giờ sáng ngày 04.08.2015 tại quê nhà (theo tin từ nhà thơ Võ Chân Cửu qua email). 2 tập thơ tiêu biểu: Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi (NXB Đồng Dao, Sài Gòn, 1972)- Ở Đời Như Một Nhà thơ Đông Phương (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1995).
(*) Mắt người như cánh hoa sen xanh Mắt của rừng nai mắt của tình Một sáng ta về ngây ngất nhớ Âm thầm thu phát những âm thanh. (Diệu Âm – Nguyễn Bắc Sơn)
Trích từ tập Ở đời như một nhà thơ Đông phương, Nguyễn Bắc Sơn
Ở đời như một nhà thơ Đông phương
Y là một nhà chiêm bái đích thực
Có cần chi
Đi hàng nghìn dặm đường
Để nhìn các thánh tích
Một ngày kia y chiêm bái đồng lúa chín vàng
Và tìm thấy lòng hảo tâm của trời đất
Một đêm kia
Y chiêm bái ngọn bấc đèn
Và tìm thấy sự ấm áp vô cùng của lửa
Y chiêm bái hạt muối trắng tinh
Y chiêm bái hạt mè đen bóng
Có lần y chiêm bái một hạt mưa sa
Trong hạt mưa có khuôn mặt trẻ con
Cùng đôi mắt chim người nữ
Y bỗng rùng mình biến thành vũ trụ.
Đáo bỉ ngạn
Một sớm phiêu bồng qua bên sông
Bỗng nhiên hiểu Phật cũng đau lòng
Phật cũng khổ như người khốn khổ
Cúi đầu quay lại bên này sông
Trích từ tập Chiến tranh Việt Nam và tôi, Nguyễn Bắc Sơn
Mùa thu đi ngang cây phong du
Khi nhớ mình, ta muốn ghé ta thăm
Ngôi nhà gần ngôi nhà xa vạn dặm
Con đường tình cờ cội nguồn sâu thẳm
Từ sinh cung của bà mẹ mênh mông
Ai xui ngôi nhà em cất bên kia sông
Khiến đời anh cứ mãi qua cầu cứ trèo lên dốc
Bầu trời quá cao phải chăng vì lòng mình quá thấp
Chiều mù sương vì tình yêu mù sương
Ai xui ngôi nhà em cất ở ngã tư đường
Khiến đời anh cứ ngập ngừng ba ngả
Con phố thân quen bất ngờ con phố lạ
Nơi hàng cây rụng tiếng tắc kè kêu
Nơi lầu cao khung cửa sổ đìu hiu
Soi thấp thoáng ngọn đèn hoa thiếu nữ
Những sợi tóc rụng trên chồng sách cũ
Vì thanh xuân theo nước lũ trường giang
Những chuyến xe đò đêm đêm băng ngang
Rớt tiếng động khơi nỗi sầu viễn xứ
Bầy chim én đã bắt đầu tư lự
Ngủ âm thầm trên những đường dây cao
Đi ngang qua, đi ngang qua, đi ngang qua
Đi ngang qua không dừng trong đời nhau
Hẹn gặp nhau ở nhất nguyên thế giới.
Cười lên đi, tiếng khóc bi hùng
Đời bắt một kẻ làm thơ như ta đi làm lính
Bắt lê la mang một chiếc mai rùa
Nên tâm hồn ta là cánh đồng úng thủy
Và nỗi buồn như nước những đêm mưa
Trong thành phố này ta là người phản chiến
Ngày qua ngày ta chỉ thích đi câu
Râu tóc mọc dài như bầy cỏ loạn
Sống thật âm thầm, ai hiểu ta đâu
Dù đôi khi ta lên núi Tà Dôn uống rượu
Trời đất bao la ta chỉ một mình
Nhưng làm sao quên cuộc đời dưới đó
Quên những thằng người bôi bẩn kiếp nhân sinh
Ngày hôm nay ta muốn chặt đi bàn tay trái
Để được làm người theo ý riêng ta
Ngày hôm nay ta muốn thọc mù con mắt phải
Ngày hôm nay ta muốn bỏ đi xa
Khi nâng chén lên cao ta cười lớn tiếng
Cười lên đi cười những tiếng bi hùng
Đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính
Chiếc mai rùa đã nặng ở trên lưng.
Những điều cần nói khi thôi học năm 1963
Khi ta thôi học
Người khách trú bán ve chai già đã chết
Y đã hát cho ta nghe
Những buổi trưa buồn rầu
Trong ngôi trường đầy vết tích chiến tranh
Những bài hát làm nhớ hoài một nước Cổ Trung – Hoa
Một nước Trung Hoa loạn lạc
Thiếu cơm và thừa nước mắt
Ôi giấc mộng anh hùng Lương – Sơn – Bạc
Khi ta thôi học
Các giáo – sư dạy cho lũ học trò những điều họ không tin
Người ta thích nói về sự cách tân (làm mới) như là một nỗ lực, một hành động vượt qua giới hạn (với ngầm ý là truyền thống, cái cũ), đáng nói hơn, dường như người ta đã đánh đồng sự cách tân với giá trị nghệ thuật (dễ hiểu hơn là: Hay). Như thế, vô hình chung, phương pháp, con đường đã bị đồng nhất vào mục đích, vào điểm đến.
Sẽ thật bối rối khi phải định danh, định vị một giai đoạn, một bộ phận nào đó của form trữ tình Việt Nam là truyền thống. Bởi lẽ, ngay cả những tác phẩm xưa cũ, vẫn hàm chứa trong đó những sắc thái cho đến hôm nay còn mới nguyên. Nam Quốc Sơn Hà, Hịch tướng sĩ, Tụng Giá hoàn Kinh sư, Cảm hoài, Bình Ngô đại cáo,… trong bối cảnh hiện nay hẳn là còn mang tính thời sự. Truyện Kiều của Nguyễn Du, có phải là truyền thống không? Dù sáng tác theo thể lục bát, xuất hiện thời trung đại, người ta vẫn thấy ở đó câu chuyện của muôn đời. form Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương có phải truyền thống không? Những “hoài niệm phồn thực” trong form Hồ Xuân Hương sao gần gũi với form ca của nhiều tác giả đương đại? Ngày kia, form mới ra đời đưa tất cả những tác phẩm với hệ mỹ học trung đại vào hậu trường, trở thành phong trào form ca tiền phong, tiêu biểu tạo nên “một thời đại trong form ca” (Hoài Thanh). Nhưng rồi, chẳng lâu sau đó, người ta lại nói đến nhiều hơn những thất bại của form mới, hay nói đến truyền thống form mới như một giá trị cần phải vượt qua, cần phải “chôn vùi”. form ca cách mạng giai đoạn 1945-1975 có phải là một giá trị đã trở thành truyền thống? Hệ mỹ học thời chiến với hạt nhân là tinh thần lãng mạn cách mạng, gắn với ý thức công dân, ý thức đoàn thể, “có chung khuôn mặt, có chung tâm hồn”, sự thật, cho đến hôm nay vẫn đang hiện diện trong đời sống văn học của chúng ta. Vậy, truyền thống không phải là cái cũ, càng không phải là cái đã hết giá trị. Truyền thống là một hoài niệm trong cái nhìn ngoảnh lại của hôm nay. Truyền thống không nên đặt trong sự đối lập với cách tân. Bởi lẽ, một khi đặt bên cạnh cách tân, truyền thống dễ bị xem là cái cũ, cái không còn hợp lý, cái cần phải vượt qua. Tâm thế này dẫn đến việc sáng tạo đôi khi bị câu thúc bởi việc phải phủ định truyền thống. Nếu hiểu truyền thống là những giá trị được một cộng đồng gìn giữ, trao truyền qua thời gian, đồng thời là cái chưa hoàn kết, luôn luôn được bồi đắp, khi đó chúng ta sẽ có cách ứng xử thoả đáng với truyền thống.
Mọi cách tân có giá trị đều trở thành truyền thống. Chính vì thế, những thực hành cách tân, những sáng tạo của hôm nay chính là hành trình đi đến truyền thống. Truyền thống là cái còn lại trong ký ức con người, trong di sản của nhân loại khi thời gian đi qua. Vì vậy, đừng cho rằng truyền thống là cái đã không còn giá trị, cái nên “chôn vùi” hay vứt bỏ. Ở đây, vượt qua truyền thống là cách diễn đạt có phần khoa trương về nhiệm vụ, sứ mệnh của kẻ mở đường sáng tạo. Tuy nhiên, truyền thống mãi còn mà những cách tân vô giá trị sẽ chìm trong quên lãng. form Việt Nam đương đại đang xuất hiện nhiều cách tân, cho thấy thái độ, nỗ lực của các nhà form muốn đem đến những giá trị mới. Tuy nhiên, phải chân thành để nói rằng, các thể nghiệm Tân hình thức, form tịnh tiến, form ngoài lời, form phụ âm, form chữ,… chưa đem đến những niềm tin cho giá trị form trữ tình Việt Nam. Người đọc đã quen với những giá trị được gọi là truyền thống, đôi khi thấy nhàm chán. Thế nhưng, những giá trị mới cũng chưa thuyết phục được người đọc. Đó là câu chuyện còn tiếp tục được nhắc đến trong sự vận động của form Việt đương đại. Tuy nhiên, ở đây cũng cần có thái độ phù hợp trước những cách tân. Bởi lẽ, trước khi nó có thể đạt đến một giá trị nào đó, cách tân là một thái độ, một hành vi cho thấy nhu cầu cần phải sống khác, viết khác với những gì đã có. Sự sống sinh động và phong phú. Bởi vậy, mỗi cá nhân là một bản thể không lặp lại. Sáng tạo nghệ thuật cũng không phải là những bản sao. Sáng tạo luôn mang dự phóng về phía cái mới, cái khác. Và như thế, khi cách tân tỏ ý chê bai truyền thống thì truyền thống cũng không ngừng đả kích vẻ lai căng, xa lạ của cách tân. Sau tất cả, đó lại chính là trung tâm của câu chuyện đời sống văn chương, nghệ thuật. Sự thể sẽ ra sao, nếu ngày mai chúng ta không nói về truyền thống hay cách tân? Nhiều người phủ định cặp phạm trù có tính nhị nguyên này để nói đến một phạm trù khác có tính nhất nguyên-cái hay. Đúng là truyền thống hay cách tân không quan trọng mà cái hay, cái đẹp mới là cái đích của nghệ thuật. Nhưng, sẽ chẳng có cái hay, cái đẹp nếu chúng ta không mạnh dạn làm mới, làm khác, mạnh dạn đối thoại với truyền thống, mạnh dạn phô bày những quan niệm nhân sinh, quan niệm giá trị, quan niệm nghệ thuật mới trước dòng chảy của lịch sử, văn hoá và nghệ thuật.
form Việt Nam mang trong lòng nó những truyền thống, là những “mẫu gốc”, những căn cước cho hiện tại và tương lai. Đó là di sản mỗi ngày lại được làm giàu có hơn lên bằng chính nỗ lực kế thừa, cách tân của các thế hệ nhà form. Trên tầm quan sát bao quát hơn, ở chiều sâu hơn của sự vận động văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, mọi cách tân vẫn luôn có một căn rễ nào đó bám vào các “mẫu gốc”, các tầng vỉa đã chồng xếp, đan dệt trong lịch sử. Chính điều này cho phép chúng ta hình dung về những hệ thống liên văn bản, liên văn hoá vốn là bản chất của những kiến tạo xã hội. Và, từ đó, những cách tân hay truyền thống có được sự hiện diện một cách khách quan, bình đẳng trước thang bậc giá trị.
Cuối năm 1963 tôi từ Hội An ra Huế để nhận lại tập thơ Quê Nhà và giấy phép xuất bản tại nha thông tin Trung Việt. Quê Nhà là những bài thơ chống chiến tranh tôi làm trong hai năm 1962 – 1963 (Lúc bấy giờ trong đầu tôi chưa có từ phản chiến). Tôi tìm gặp Đinh Cường để nhờ vẽ tranh bìa và trình bày các thứ . Lúc bấy giờ Thích Nhất Hạnh chưa nghẹn ngào thông báo:
“Sáng nay vừa thức dậy nghe tin em gục ngã
trên chiến trường…
để rồi:
“ Giọt mưa trên lá
nước mắt mẹ già
lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá”.
Lúc bấy giờ Thái Luân chưa phẫn nộ tố cáo:
“… giết người mà lên lon”.
Lúc bấy giờ “đại bác” chưa “ru đêm”, “người” chưa “chết hai lần,” “đàn bò” chưa “vào thành phố” như Trịnh Công Sơn mô tả và cảm nhận năm, sáu, bảy, tám, chín năm sau.
Lúc bấy giờ Huế, Sài Gòn và khắp nơi trong các đô thị miền Nam hừng hực lửa đấu tranh của hai phong trào có mục tiêu ý thức hệ riêng, nhưng tình tự dân tộc thì nhập nhằng duyên nghiệp, nợ nần mắc míu: Phong trào Phật giáo do giáo hội miền Trung khởi xướng, và Phong trào Đô thị do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Đinh Cường không tham gia phong trào nào, nhưng bạn bè và những người quen biết gần xa như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Xuân Kiêm, Nguyễn Hữu Ngô, Trần Quang Long… chẳng bao giờ vắng trong các cuộc hội thảo, mít tinh và các cuộc lên xuống đường của sinh viên, học sinh và trí thức Huế.
Tôi tìm gặp Đinh Cường tại căn phòng anh thuê trong một villa có vườn rộng phía trong trên đường Phan Châu Trinh gần dốc Bến Ngự. Các anh Đỗ Long Vân, Ngô Kha và Trịnh Công Sơn đang có mặt ở đó. Tất cả đều tỏ ra bồn chồn, khắc khoải, muốn làm một cái gì đó cho đất nước dân tộc, nhưng dấn thân vì một ý thức hệ thì ai cũng ngần ngại, e dè. Tôi trao cho Đinh Cường phong bì trong đó có tập Quê Nhà ( bản đánh máy vừa mới nhận lại từ nha Thông tin Trung Việt ), nhờ anh vẽ bìa và trình bày. Mọi người nhìn tôi ái ngại. Các anh đều có cùng một nhận xét: Trong lúc Huế và cả miền Nam đang sôi sục đấu tranh mà in thơ là hành động lẻ loi và lạc lõng. Tôi nói không phải các anh cũng đang lẻ loi và lạc lõng đó sao. Đinh Cường cầm phong bì, mở lôi bản đánh máy Quê Nhà, lật xem qua từng trang và nói: “Quê Nhà, Quê Nhà, nếu Quê Nhà của ông giống Quê Nhà của tôi thì tôi sẽ vẽ bìa và trình bày. Tôi phải đọc thật kỹ. Ông phải chờ ít ra một tuần”. Tuần sau tôi trở lại phòng trọ của Đinh Cường, anh trao cho tôi hai phong bì. Một trong hai là phong bì có mẫu bìa anh đã vẽ và một tờ giấy nhỏ anh viết cho ông chủ nhà in Sao Mai. Đinh Cường nói: “Tình hình này các nhà in đều gặp khó khăn, công nhân nghỉ việc, trở ngại giao thông, các nguyên vật liệu đều lấy từ Sài Gòn. Ông chủ nhà in Sao Mai là chỗ quen biết. Hy vọng ông ấy sẽ nhận in giúp ông. Ngày mai tôi vào Sài Gòn theo giấy gọi nhập học của trường Mỹ thuật Gia Định. Tôi phải ở trong đó tám chín tháng để hoàn tất một chương trình chuyên sâu tôi cần học thêm. Ông nhớ là phải chu đáo trong việc in ấn. Hình thức cũng quan trọng không kém nội dung. Không chỉ có Chu Sơn mà Đinh Cường cũng đã ghi tên mình trên Quê Nhà”. Rõ ràng Đinh Cường đã đọc kỹ Quê Nhà và chia sẻ cùng tôi những đớn đau, khắc khoải và phẫn nộ trước tình cảnh đất nước đang tiến dần đến vực thẳm chiến tranh. Trên bức tranh bìa, Đinh Cường vẽ những mản màu đen bẩn thỉu, đó đây có những chéo hay góc sáng nhỏ trông như những con mắt lệch nham hiểm mờ ám nối kết với những vòng kẽm gai, tất cả không giới hạn trên cái nền màu vàng xám úa. Hai tháng sau Quê Nhà mới in xong trong bối cảnh miền Nam tiếp tục xáo trộn. Nguyễn Khánh đảo chánh Dương Văn Minh, chủ trương chống Cộng quyết liệt, ủng hộ Mỹ tấn công ra miền Bắc. Phật tử miền Trung tiếp tục xuống đường đấu tranh kêu đòi tận diệt Cần Lao, hình thành chính phủ dân sự và chế độ dân chủ. Tôi trao Quê Nhà cho Đinh Cường. Đinh Cường hơi buồn vì sách không đẹp. Tôi tặng Quê Nhà cho bạn bè, và tự mang sách đến ký gởi ở các tiệm sách ở Huế, Đà Nẵng, Hội An. Công việc “phát hành” và “quảng cáo” chỉ có vậy. Tôi ở trong tình thế lẻ loi và lạc lõng đúng như nhận định của các anh Đỗ Long Vân, Ngô Kha, Trịnh Công Sơn hai tháng trước. Quê Nhà chỉ nhận được những lời nhận xét nghiêm khắc từ các bạn bè chủ trương đấu tranh theo lập trường chính trị của Mặt Trận. Thậm chí có người nói thẳng vào mặt tôi rằng là “Chu Sơn chủ trương chống hết, chống cả chiến tranh giải phóng dân tộc. Quê Nhà là tập thơ “phản động”.
Dù thế nào tôi cũng tiếp tục làm thơ chống chiến tranh, và chống quyết liệt hơn.
Hai năm 1964 – 1965 tình hình ở các đô thị miền Nam chuyển biến vô cùng phức tạp. Mỹ chuyển từ chiến tranh lạnh trên bình diện toàn cầu sang chiến tranh nóng tại Việt Nam và Đông Dương. Mỹ nôn nóng tìm chọn “ngựa” cho chiến lược mới. Dương Văn Minh bị loại, Nguyễn Khánh lên với mưu đồ xây dựng chế độ quân phiệt. Phật giáo và sinh viên học sinh đấu tranh chống quân phiệt Nguyễn Khánh – Trần Văn Hương, chống các cuộc đảo chánh do các tướng tá Công giáo và Đại Việt cầm đầu, kêu đòi dân chủ và chính phủ dân sự, bầu cử quốc hội lập hiến và kêu đòi hòa bình. Công giáo xuống đường chống Cộng, chống trung lập và “bọn đầu cơ cách mạng” (ám chỉ Phật giáo miền Trung), chống chính phủ Phan Huy Quát ( vì Phan Huy Quát thân Phật giáo). Phong trào Đô thị của Mặt trận Giải phóng nương “ngọn cờ Phật giáo”, châm “ngòi pháo sinh viên,”để âm thầm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Trong khi đó Mỹ hùng hổ từng bước tiến hành cuộc chiến tranh của mình: Đỗ quân. Đầu năm Mỹ đỗ thêm 2000 quân ở Đà Nẵng, Chu Lai (Quảng Nam). Cuối năm 1965 đã có 185.000 quân Mỹ ở miền Nam. Xãhội miền Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng từ kinh tế, đến văn hóa xã hội. Các đồn bót quân Mỹ mọc lên khắp nơi ở miền Nam. Rác Mỹ, quán bar, đĩ điếm cũng mọc lên quanh các trại lính Mỹ. Quân Mỹ trực tiếp đánh nhau với quân Cộng sản ở miền Nam. Quân Việt Nam Cộng Hòa lui về tuyến sau lo an ninh trong các thành thị, tiến hành các cuộc hành quân bình định và thực hiện các chiến dịch thuộc chương trình Phượng Hoàng ở nông thôn. Máy bay Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa oanh tạc ngày đêm trên các chiến trường. Trên miền Bắc, năm 1964, máy bay Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa oanh tạc các mục tiêu từ vỹ tuyến 20 trở xuống. Năm 1965 máy bay Mỹ oanh tạc ngày đêm các mục tiêu không giới hạn.Trên miền Bắc đảng Cộng sản cương quyết đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân ở cả hai miền Nam Bắc. Tất cả những biến cố ấy dồn dập tác động mãnh liệt đến đời sống nhân dân cả nước.
Một ngày đầu tháng 8 năm 1964, Đinh Cường, Nguyễn Hữu Ngô và Đỗ Long Vân vào Hội An.( Đinh Cường vào Sài Gòn mấy ngày thì trở lại Huế vì tình hình đấu tranh náo loạn không học hành gì được ). Chúng tôi bốn người kéo nhau xuống biển Cửa Đại nằm trên cát để cùng nhau băn khoăn, giằng xé trước tình hình đất nước. Đêm đó qua cái đài bán dẫn nhỏ, chúng tôi nghe tin máy bay Mỹ oanh tạc nhiều địa điểm trên miền Bắc. Đỗ Long Vân úp mặt xuống cát khóc rấm rức. Chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Một lúc sau Đỗ Long Vân ngồi dậy và nói:
“Chúng nó dội bom lên phố phường, làng mạc, mồ mã tổ tiên chúng ta.”
Nguyễn Hữu Ngô vùng dậy nói:
“ Chẳng lẽ chúng ta chỉ biết khóc thôi sao? Chúng ta không làm gì sao?”
Làm gì? Làm gì? Làm gì? Mãi đến thời điểm đó chúng tôi vẫn loay hoay với hai từ làm gì? Nguyễn Hữu Ngô nói tiếp:
“Tôi sẽ đi cùng đường với Tường, Phan”.
Tôi nằm yên, khẳng định lập trường của mình:
“ Tôi tiếp tục làm thơ chống chiến tranh”.
Đinh Cường cũng trong tư thế nằm, nói chậm rải:
“Tôi là họa sĩ, ai gắn kết nhiều với quê hương dân tộc, tôi ủng hộ, ủng hộ bằng khả năng chuyên môn của mình trong tự nguyện. Tôi không thích hợp với đám đông trong những tình thế sôi động mãnh liệt. Tôi cũng không phải là người chịu đựng được những kỷ luật của bất cứ guồng máy quyền lực nào”.
Đỗ Long Vân sau cái phút xúc động đến não lòng ấy đã phát biểu làm chúng tôi chưng hững:
“ Tôi căm giận Mỹ, nhưng tôi không chịu được cách mạng. Cách mạng, cũng như kẻ thù Tư Bản không đội trời chung của họ, làm cho người nghèo thêm nghèo, và bọn lãnh đạo khi nắm được chính quyền thì tham lam vô độ và giàu lên mãi.”
Bọn chúng tôi bốn người tuy đều bức xúc trước tình cảnh đất nước bị tàn phá, dân tộc bị giết chóc sỉ nhục bởi bạo lực Mỹ, bởi sự toa rập hay tranh giành lòng tin và sự ban phát lợi quyền từ ông chủ Mỹ của các phe nhóm quân phiệt ở Sài Gòn. Chúng tôi đau khổ, chúng tôi phẫn nộ, chúng tôi giằng xé, nhưng cả bốn chúng tôi vẫn người nào ý ấy, không thể cùng dấn thân vào một lực lượng hay một phong trào đấu tranh nào.
Phong trào Phật giáo ư? Nói như Thiền sư Thích Nhất Hạnh, chúng tôi chưa đủ duyên để “khế cơ,” “khế lý” với lực lượng Phật tử miền Trung.
Phong trào Đô thị của Mặt trận ư? Nói như các bạn tôi ở đó thì chúng tôi chỉ là nhưng văn nghệ sĩ, trí thức tiểu tư sản “còn nặng nề chủ nghĩa cá nhân và hèn nhát.”
Trừ Nguyễn Hữu Ngô, trong thâm tâm của Đinh Cường, Đỗ Long Vân, tôi và cả Ngô Kha, Trịnh Công Sơn (đang ở Huế) vẫn còn dị ứng với tất cả các ý thức hệ.
Ngay cả Nguyễn Hữu Ngô, mặc dù lúc đó anh phẫn uất nói mạnh, chứ chưa chắc anh sẽ thực hành ý định “đi cùng đường với hai anh em Hoàng Phủ Tường – Phan”. Nơi Nguyễn Hữu Ngô là một khối mâu thuẫn: Mê mẫn Chủ nghĩa Xã hội, nhưng nhất quyết không hy sinh bất cứ một quyền tự do nào. Nơi chúng tôi, khối mâu thuẫn nhỏ hơn: Dị ứng với Chủ nghĩa Xã hội, nhưng đến thời điểm đó vẫn qúi trọng Tường – Phan và những người đấu tranh trong sáng, chân thành.
Chúng tôi chống Mỹ, ít nhiều khuynh tả, nhưng không thể đứng chung chiến hào với những người chọn ý thức hệ sắt thép Cộng sản làm phương tiện cho tất cả mọi cuộc cách mạng trong chiến tranh cũng như trong hòa bình.
Ở giữa hai khối bạo lực ( Mỹ và Cộng sản ) quá to lớn chúng tôi không biết làm gì ngoài những phản ứng lương tâm đơn độc và giằng xé.
Do vậy, thỉnh thoảng chúng tôi rất cần ngồi lại với nhau để chia sẻ những ưu tư khắc khoải. Sau khi ở Sài Gòn về, Đinh Cường dọn đến Tuyệt tình cốc, nơi hai anh em Hoàng Phủ Tường – Phan chọn làm chỗ làm việc và học tập. Tuyệt tình cốc cũng là nơi giao lưu văn nghệ, văn hóa, chính trị và triết lý trong đám bạn bè của Cường – Tường – Phan. Đinh Cường có được những ngày vui tại Tuyệt tình cốc. Hai anh em Tường – Phan thường vắng nhà năm sáu ngày trong tuần. Căn nhà và con hẻm yên tĩnh mặc sức Cường vẽ vời, suy tưởng. Những buổi giao lưu triết lý, văn nghệ thì tự do, thoải mái. Nhưng hai anh em Hoàng Phủ ngày càng tạm quên những mối tình nhỏ (tình yêu trai gái, tình gia đình, tình bạn bè) để dấn thân vào mối tình lớn: Cách mạng. Đinh Cường cảm thấy lẻ loi trong Tuyệt Tình cốc và lạc lõng trong không khí đấu tranh của thành phố Huế. Không những thế, Đinh Cường và cả Đỗ Long Vân, Nguyễn Hữu Ngô đều cảm thấy ngột ngạt khó thở do bị mật vụ đeo bám vì là bạn thân của anh em Hoàng Phủ. Chuyến đi Hội An của ba người vào đầu tháng 8.1964 ấy có thể nói là một chuyến “tránh nóng và đổi gió” theo như dự kiến ban đầu của họ. Trớ trêu là ở bất cứ đâu trên đất nước vào thời điểm đó cũng không thể tránh khỏi nóng cháy và gió lửa từ cuộc chiến tranh. Đêm thứ hai trên bãi biển Cửa Đại, chẳng biết do ai mở đầu (tôi không còn nhớ), chúng tôi đều đồng ý là nên có một tụ điểm giao lưu khác tại Huế cho bất cứ ai chưa biết làm gì cho đất nước dân tộc trước thảm họa chiến tranh.
Như thế là Quán Bạn manh nha hình thành trên bãi biển cửa Đại với bốn người khởi xướng ban đầu là Đinh Cường, Nguyễn Hữu Ngô, Đỗ Long Vân và tôi. Cái tên Quán Bạn phát xuất từ gợi ý của Đỗ Long Vân. Đỗ Long Vân nói hồi còn ở bên Tây anh biết một quán cà phê nhỏ của sinh viên có tên gọi là Le café des copains. Le Café des copains là địa điểm giải trí và giao lưu của những sinh viên tự do không đồng tình với lập trường chính trị của phe de Gaul chủ trương tái chiếm Đông Dương, phục hồi đế quốc Pháp. Chúng tôi đồng thuận rằng là Quán Bạn sẽ được tổ chức theo hình thức góp vốn cổ phần, tự quản lý, tự phục vụ. Các cổ phần viên đầu tiên là Đinh Cường, Đỗ Long Vân và tôi (Nguyễn hữu Ngô không có tiền đóng góp). Đinh Cường, Đỗ Long Vân và Nguyễn Hữu Ngô sẽ trở lại Huế vận động bạn bè tham gia đóng góp. Mỗi cổ phần đóng năm trăm đồng (500) tương ứng với một chỉ vàng. Tôi đóng hai cổ phần, Đinh Cường và Đỗ Long Vân mỗi người một cổ phần. Tôi ứng tiền liền trước để ngày mai đi sắm cốc cà phê và bình trà. Đinh Cường rất chú trọng vấn đề này. Anh nói bình trà, cốc dĩa phải đẹp và sang trọng. Ngày hôm sau cả bốn chúng tôi cùng ra phố Hội An tìm mua bình trà và cốc đĩa cà phê. Đó là những đồ sứ nhập từ Đài Loan. Bình và cốc có dáng bầu, màu xanh lam sáng, men rạn. Tôi tham gia quán bạn đến đó. Những chuyện về Quán Bạn sau này tại Huế tôi chỉ nghe nói lại:
Từ Hội An trở lại Huế, Đinh Cường, Đỗ Long Vân, Nguyễn Hữu Ngô rủ thêm nhiều người nữa đóng góp vào Quán Bạn: chị Quỳ – vợ anh Đỗ Long Vân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Khắc Cầm, Lê Văn Sâm, Túy Hồng (nhà văn nữ), Trần Quang Long và nhiều người khác nữa đã nồng nhiệt tham gia với tư cách là thành viên chính. Mọi người đồng ý cử Lê Văn Sâm phụ trách điều hành tổng quát, Nguyễn Hữu Ngô thường trực và thu ngân, chị Đỗ Long Vân và nhà văn Túy Hồng phụ trách pha cà phê lúc đầu, chỉ dẫn cho nhiều nữ sinh viên, học sinh khác học pha và bưng dọn cà phê, thay nhau túc trực tại quán.
Lê Văn Sâm là người năng nỗ tháo vác. Anh thuê nhà làm quán, thuê đóng quầy và bàn ghế, làm vệ sinh, sơn quét. Khâu trang trí thì do các cổ phần viên thiết kế và bài trí. Quán Bạn ở số 8 Đào Duy Từ gần chân cầu và cửa Đông Ba, cách nhà Lê Văn Sâm hai căn. Đó là căn nhà gạch, mặt tiền rộng khoảng 6 mét có gác suốt và lan can bằng gỗ. Căn nhà nguyên là của một gia đình có hai người con gái đẹp chết trôi trong một buổi tối đi tắm trước bến sông gần chân cầu Đông Ba. Cha mẹ hai cô gái thương con và nghe thầy bói nói là nhà có ma nên don đi ở nơi khác từ mùa hè năm trước. Lê Văn Sâm đã thuê với giá tượng trưng. Quán Bạn khai trương vào đầu tháng 11 – 1964 trong bối cảnh Huế và cả miền Nam trào dâng các cuộc mít tin biểu tinh chống Nguyễn Khánh và Trần Văn Hương độc tài quân phiệt. Từ tên gọi (Quán Bạn) đến chủ trương ( địa điểm giao lưu của sinh viên, thanh niên, trí thức Huế) tuy chỉ được loan truyền miệng, nhưng ngay từ giờ phút đầu mở cửa, Quán Bạn tràn ngập những khách và những bạn. Cà phê ngon, giá rẻ, pha chế và phục vụ bởi những nữ lưu trí thức và những sinh viên học sinh trẻ trung, xinh tươi, không khí lại rất văn nghệ, tự do, cởi mở nên Quán Bạn nhanh chóng trở thành điểm hội tụ của những người “ưu thời, mẫn thế” đứng ngoài hai phong trào Phật giáo và Cộng sản, nhưng tham dự gần hết các cuộc xuống đường chống độc tài quân phiệt và chống Mỹ “dưới ngọn cờ Phật giáo”. Trong lúc phong trào Phật giáo hội họp, tổ chức tuyệt thực, cầu nguyện, biểu tình, mít tin tại chùa Diệu Đế, chùa Từ Đàm, quảng trường Thương Bạc; trong lúc sinh viên đang hội thảo tại các giảng đường đại học và xuống đường biểu dương lực lượng, đốt cháy tòa Lãnh sự và trung tâm Văn hóa Mỹ, thì Quán Bạn bắt đầu bàn thảo triết học, văn nghệ và thời cuộc quanh các bàn cà phê, để rồi sau đó tự phát thành một nhóm nhỏ tham dự các cuộc xuống đường trong suốt năm 1965 và mấy tháng đầu năm 1966.
Nội dung các cuộc thảo luận tùy thuộc vào gợi ý ban đầu của ai đó không phân biệt chủ hay khách, bởi vì tất cả đều là “bạn.” Ngô Kha và Nguyễn Nguyên Phương là khách nhưng xem Quán Bạn là diễn đàn để giải tỏa những vấn đề mình đang cưu mang.
Ngô Kha nói say sưa về sự bóc lột Tư Bản, sự ra đời của chủ nghĩa Mars và Phong trào Cộng Sản quốc tế, về chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, về chiến tranh thế giới thứ nhất, về cách mạng tháng Mười Nga và nhà nước Liên Xô, về thế chiến thứ hai và sự hình thành hai thế giới Tư Bản – Cọng Sản dẫn đến chiến tranh lạnh và hai cuộc chiến đẫm máu, phi nghĩa của Pháp và của Mỹ tại Việt Nam và Đông Dương. Ngô Kha nói về hội nghị Bangdung và sự hình thành thế giới thư Ba và Phong trào Không liên kết. Ngô Kha nói về nhu cầu khẩn thiêt Việt Nam cần nhanh chóng tham gia các tổ chức quốc tế mới ấy để nhanh chóng thoát khỏi gọng kèm của hai khối Tư Bản và Cộng Sản nhằm tranh đấu giành quyền tự quyết dân tộc, chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình và thống nhất đất nước theo tinh thần hiệp định Genève…
Nguyễn Nguyên Phương lúc nào cũng nghiêm trang đạo mạo, không từ chối bất cứ câu hỏi nào liên quan đên chủ nghĩa Hiện Sinh và những triết gia, nhà văn từ Kierkegaard, Nietzsche, đến Satre, Abert Camus và Simone de Beauvoir…
Nguyễn Hữu Ngô và Trần Quang Long không giấu giếm quan điểm Xã hội chủ nghĩa, chống chiến tranh xâm lược, mặc dù dư biết trong số những người khách cà phê không thiếu kẻ lắng nghe là mật vụ.
Đỗ Long Vân nói năng không hùng biện, nhưng những vấn đề anh trình bày hấp dẫn đối với sinh viên, học sinh. Đỗ Long Vân rỉ rả nói về phong trào trí thức và sinh viên Pháp chống lại đường lối tái lập đế quốc và chủ nghĩa thực dân của chính quyền de Gaul từ sau thế chiến II, về các hoạt động của phe tả nhằm chống lại cuộc tái chiếm Đông Dương của bọn thực dân hiếu chiến Pháp, về Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève. Đến khi Đỗ Long Vân nói chuyện kiếm hiệp thì bàn anh ngồi càng lúc càng có thêm nhiều người vây quanh. “ Vô Kỵ giữa chúng ta” là đề tài Đỗ Long Vân đã bỏ công sức trong nhiều năm để tìm hiểu văn chương và tư tưởng của Kim Dung qua những câu chuyện kể về thế giới võ lâm. Tại Quán Bạn ông chỉ nói qua về kiếm hiệp truyền thống, về kiếm hiệp Kim Dung, về nội lực, về kiếm, về chưởng, về chỉ, về các bí kiếp, về kinh điển võ học kỳ thư, về tình yêu và thủ đoạn của các nhân vật giang hồ, về các môn phái võ lâm chính tà trung nguyên, ngoại vực và các cuộc chém giết để trả thù, các cuộc giao đấu để phân định ngôi vị võ lâm. Đặc biệt Đỗ Long Vân chú trọng đến chuyện kể Cô Gái Đồ Long và nhân vật Vô Kỵ. Vô Kỵ, đứa con của một cuộc tình lãng mạn và ngang trái: Cha mẹ là cao đồ, con đẻ của hai đại môn phái chính – tà bị bức tử vì kỷ luật giáo điều khắc nghiệt và tàn ác. Vô Kỵ lưu lạc giang hồ, tiếp thu như là một định mệnh tinh hoa hai nền võ học chính thống trung nguyên và tà môn ngoại đạo ( Minh giáo). Thông minh và lương thiện, Vô Kỵ hơn bất cứ ai cảm nhận được cái tương đối của “những giá trị lịch sử chính tà”. Vô Kỵ quên dần sứ mệnh trả thù cho cha mẹ. Võ công trác việt và tấm lòng bao dung rộng mở của anh đã khống chế được các ác nhân, thuyết phục được quần hùng, hóa giải được các mối tương tranh. Anh trở thành võ lâm chí tôn. Nhưng rồi Vô Kỵ lại bị Chu Nguyên Chương (một thủ lãnh thứ cấp có thủ đoạn và mưu đồ chính trị cao cường) phản bội. Vô Kỵ đành dành cả khoảng đời còn lại để kẻ lông mày cho người yêu là Triệu Minh, người con gái đến từ Ba Tư cùng với cộng đồng Minh giáo (Ma Ni giáo) đã yêu anh bằng mối thâm tình trong sáng, thủy chung và tận tụy.
Bán cà phê “một vốn bốn lời” nên thời kỳ đầu Quán Bạn có tiền mua giấy, vải, sơn và các vật liệu cần thiết để làm áp phích, kẻ khẩu hiệu, sắm băng – rôn và tham dự gần hết các cuộc đấu tranh chung. Câu khẩu hiệu: “Đức, Phát, Thiệu, Tồn – bốn tên quân phiệt liệu hồn chúng bay” “là thương hiệu” mà Quán Bạn đã “đăng ký bản quyền” trên các đường phố trước nhân dân thành phố Huế trong những ngày tháng sôi động ấy. Mật vụ của chế độ trà trộn vào Quán Bạn và chụp mũ Quán Bạn là VC, là Phật giáo. VC không nói gì, nhưng Phật giáo thì khẳng định Quán Bạn không phát xuất từ chùa Từ Đàm bằng một cuộc đập phá có tính cách tượng trưng. Một bữa nào đó trong lúc phong trào đang lên, Hoàng Văn Giàu cùng mấy Phật tử đấu tranh khác từ trên một chiếc xe rép nhảy xuống ập vào Quán Bạn làm ra bộ hung hăng quát tháo, đá ngã mấy cái ghế, xán bể mấy cái cốc rồi “lui binh.” Cuộc náo động khẳng định lập trường “không Cộng sản” của Phật giáo chẳng tác động gì đến Quán Bạn, nhưng hoạt động “dấn thân” của Quán Bạn ngày một suy yếu dần vì hai lẽ:
– Một là: vốn liếng của Quán Bạn ngày một cạn kiệt vì bán cà phê thì ít, mà đấu tranh thì nhiều. Sau nhiều lần xuống đường, anh em trở lại Quán Bạn với cái bụng trống không và cái cổ khô khát. Quán cơm Bà Kè ở số 1 Đào Duy Từ (một quán cơm dành cho người lao động) ở chéo phải bên kia đường bớt ế ẩm (vì lao động đình công) tạm thời có người ăn nhờ những khách hàng mới. Đó là một khoảng chi lớn của Quán Bạn. Khoản chi tiêu thứ hai phát xuất từ tinh thần “xã hội chủ nghĩa” của Nguyễn Hữu Ngô (người quản lý tài chính của Quán Bạn).Trong tất cả mọi ngày, ngoài hai bữa ăn chính (tại quán cơm Bà Kè), Quán Bạn còn chi tiền bún bò sáng, đậu hủ chiều cho tất cả những thành viên thường trực không chỉ một hai người mà năm bảy mười người. Thấy anh em nào áo quần bù xù sườn rách, Nguyễn Hữu Ngô liền chi tiền may sắm cái mới. Đến cuối năm 1965, Quán Bạn không còn tiền để mua các nhu yếu phẩm hàng ngày (cà phê, trà, đường, chanh, nước đá, dầu hỏa…) Trước tình thế đó Nguyễn Hữu Ngô thôi làm quản lý, giao lại Quán Bạn cho Lê Văn Sâm. Lê Văn Sâm bỏ tiền túi bù vào các khoản thiếu hụt tài chính do Nguyễn Hữu Ngô để lại, điều hành chặt chẽ, chi tiêu rành mạch, nhưng lại ham đấu tranh hơn kinh doanh. Lê Văn Sâm là người có khuynh hướng chính trị dân chủ tư sản, rất ghét các phe nhóm quân phiệt ở Sài Gòn, mặc dù không ưa gì phong trao Phật giáo và phong trào Đô thị của Mặt trận, nhưng vẫn dẫn đầu các cuộc xuống đường của Quán Bạn tham dự vào khí thế đấu tranh chung chống độc tài quân phiệt, kêu đòi dân chủ, chính phủ dân sự và hòa bình.
– Hai là: các thành viên chính của Quán Bạn không đến hoặc lần hồi tản mát:
Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Khắc Cầm đóng tiền làm cổ đông chính nhưng chỉ tạc qua đôi lần trong mấy ngày đầu. Tôi là thành viên sáng lập mà chưa một lần tới Quán Bạn để uống một tách cà phê.
Đinh Cường cũng là thành viên sáng lập, nhưng chỉ đến Quán Bạn trong bữa sáng đầu khai trương như một người khách lạ. Anh là người tươm tất, nhẹ nhàng, ít nói, không thích hợp không khí ồn ào tụ tập đám đông. Trong khi bạn bè anh người thì tham gia phong trào Đô thị, người thì tham gia phong trào Phật giáo, người thì lui tới Quán Bạn, Đinh Cường trở lại nhà trọ say mê làm họa sĩ.
Ngô Kha và Nguyễn Nguyên Phương thuyết giảng ở Quán Bạn chưa tới hai tháng, chưa tham gia cuộc biểu tình nào đã bị động viên vào Thủ Đức. Sau 9 tháng huấn luyện, Ngô Kha “bị” móc lon chuẩn úy, nhờ tướng Ngô Du vận động, về làm lính kiểng tại văn phòng tỉnh trưởng Quảng Nam. Mùa hè năm 1966, trong một chuyến về Huế thăm nhà vào dịp cuối tuần, Ngô Kha tham gia chiến đoàn Nguyễn Đại Thức trên đèo Hải Vân. Vụ ly khai của quân đoàn I do Nguyễn Chánh Thi cầm đầu bị Thiệu Kỳ đàn áp tan rã. Ngô Kha bị bắt đày Phú Quốc 6 tháng. Sau khi mãn hạn tù, anh về lại Quốc Học làm giáo sư ( có lẽ nhờ Ngô Du )…
Nguyễn Hữu Ngô sau khi bàn giao việc quản lý cho Lê Văn Sâm, rời Quán Bạn, tham gia phong trào sinh viên của Mặt trận. Trần Quang Long tốt nghiệp đại học Sư phạm, được phân bổ vào trung học Cường Để Qui Nhơn, cùng với Lê Phước Thúy, Lê Phước Á và các lãnh tụ sinh viên, học sinh ở đó phát động phong trào Đô thị (Mặt trận) dưới “ngọn cờ Phật giáo.”
Vợ chồng Đỗ Long Vân gắn bó rất chặt chẽ với Quán Bạn trong suốt thời kỳ đầu bị chính quyền chú ý đặc biệt vì cả hai đều được “anh em” ở Quán Bạn quí trọng. Khoảng cuối năm 1965, chính quyền dùng biện pháp hành chánh để tách hai vị ra khỏi Quán Bạn. Đỗ Long Vân bị cho thôi dạy ở đại học Văn khoa, chị Quỳ vợ anh bị cho thôi việc ở văn phòng trường Luật. Cả hai anh chị đều bị đuổi ra khỏi thành phố Huế. Vì công việc mưu sinh Đỗ Long Vân phải đi Đà Lạt, được cha Lập nhận làm ở thư viện đại học Đà Lạt. Chị Quì về Sài Gòn trở lại làm việc ở Air Việt Nam.
Nhà văn Túy Hồng bị cho thôi dạy ở trường trung học Gia Hội, bị chỉ định cư trú tại Sài Gòn.
Như thế là Quán Bạn chỉ còn lại một Lê Văn Sâm. Quán Bạn ngoắc ngoải tồn tại đến giữa năm 1966. Khi phong trào Phật giáo và “cuộc ly khai nửa chừng” của các quân nhân vùng I do Nguyễn Chánh Thi cầm đầu bị Thiệu – Kỳ đàn áp và tiêu diệt, Quán Bạn âm thầm giải thể.
Vụ Quán Bạn không tác động gì xấu đối với Đinh Cường. Nô en 1965 anh tổ chức triển lãm tại Alliance Francaise de Dalat. Cũng trong năm này Đinh Cường được nhận làm giáo sư dạy vẽ tại trung học Đồng Khánh – Huế. Năm 1967 Đinh Cường được nhận làm giảng viên tại Cao đẳng Mỹ thuật – Huế. Từ 1962 đến 1975, Đinh Cường đã tổ chức triển lãm riêng hoặc tham dự triển lãm chung 20 lần tại Huế, Sài Gòn, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Pleicu và nhiều nơi trên thế giới.
Đinh Cường là người tinh tế, tươm tất, mực thước trong sinh hoạt cá nhân cũng như trong tất cả mọi quan hệ. Không “ưa” cách mạng, nhưng vẫn sâu nặng tình nghĩa đất nước, quê làng. Trước 1975, học vẽ, dạy vẽ và làm hội họa là một hòa điệu miệt mài trong tự do. Anh đã là một trong những nghệ sĩ hàng đầu ở miền Nam. Tranh của Đinh Cường được giới mỹ thuật thế giới chú ý và sưu tầm. Sau 1975 Đinh Cường đã nhẫn nại lắm mới làm được “cán bộ giảng dạy lưu dung” hai ba năm gì đó ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Đinh Cường đã nỗ lực hết sức để hòa giải trong chính mình hai danh hiệu: Họa sĩ và cán bộ giảng dạy lưu dung. Nỗ lực của anh bất thành. Năm 1979. anh làm đơn xin chấm dứt ân huệ lưu dung để làm người nghệ sĩ tự do trong đói nghèo. Nhưng đói nghèo cộng với những soi mói của những đôi mắt quan điểm lập trường cũng khó mà có được những thành tựu nghệ thuật như Đinh Cường mong muốn. Thôi thúc sáng tạo mãnh liệt, nhưng thành tựu nghệ thuật chỉ là những bức tranh trên giấy khổ nhỏ (cở 20 x 20cm) dán trên những khung vải đơn giản to hơn được trưng bày đâu đó trong vài cuộc triển lãm bỏ túi ( Vẻ ẩn mật trong hội họa Đinh Cường – Huỳnh Hữu Ủy – Quán Văn số 014 tháng 4 năm 2013). Con người tươm tất và chú trọng sự hoàn mỹ Đinh Cường không chịu được mình bị đẩy vào tình trạng thiểu não như thế. Anh đi tìm tự do ở bến bờ khác. Năm 1989 Đinh Cường định cư tại Hoa Kỳ. Ở một đất nước xa lạ, căng thẳng những áp lực đời thường, Đinh Cường nhận ra rằng cái tự do của người Mỹ khác với cái tự do của một người Việt Nam lưu vong trên đất Mỹ. Chúng ta thấy được nỗi cô quạnh thê lương của Đinh Cường trong những ngày đầu đến Mỹ qua bức tranh “Người đi trong tuyết” (nguồn: Quán Văn số 014 – Đinh Cường họa sĩ của hoài niệm Tr31). Không như những người lao động trong các ngành nghề khác, người lao động nghệ thuật khi vì một lý do nào đó ngoài ý muốn phải rời bỏ quê hương (như một hài nhi bị cắt cuống rốn khỏi lòng mẹ) không còn động cơ và năng lượng để sống và sáng tác. Võ Phiến, Phạm Duy đã nói như thế. Đinh Cường đã biết như thế nên khi tạm ổn định cuộc sống nơi đất khách quê người, anh vội vã quay về nối lại cuống rốn với bà mẹ Việt Nam. Ở đây, may mắn hơn những văn nghệ sĩ Việt kiều khác, Đinh Cường còn có “nhiều anh em cùng Mẹ” thương mến trông chờ.
Trở về, trở về, trở về. Năm nào Đinh Cường cũng trở về. Bởi vì “không trở về thì không thở được”. Đặng Tiến đã nói thay người bạn thân thiết như thế. Nối lại cuống rốn, điều hòa hơi thở, cuộc sống của người nghệ sĩ Việt tha phương từng bước được phục hồi. “Đi hết biển” (tên một cuốn sách của nhà làm phim Trần Văn Thủy) trong phong ba bão táp, Đinh Cường mới thấy mình tìm lại được chính mình. Cái giá của cuộc truy tìm quả là quá đắt, nhưng nếu không trả thì Đinh Cường không thể khêu mở lại “mạch nước ngầm” (từ của Đặng Tiến) để làm cuộc tái sinh ngoạn mục mà không một nghệ sĩ nào cùng cảnh ngộ như anh có thể làm được. Cuộc tái sinh của Đinh Cường trên đất Mỹ đã để lại cho công chúng nghệ thuật hàng mấy trăm bức tranh và hàng nghìn nhật ký thơ. Nhiều cuộc triển lãm riêng và chung đã được tổ chức tại Việt Nam và tại hải ngoại. Tại Sài Gòn Đinh Cường bày tranh chung với Đỗ Quang Em, Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn. Hai cuộc triển lãm riêng: một tại Pháp năm 2010 (tại trụ sở Annam Heritage – Paris) một tại Việt Nam năm 2011 (Đà Lạt) đã thành công rực rỡ.
Bản chất tươm tất của Đinh Cường đã lưu lại trong tôi hai dấu ấn không trừu tượng chút nào. Trong chuyến trở về Việt Nam đầu tiên sau thời gian định cư tại Mỹ, Đinh Cường ghé Đà Nẵng. Tại quán cà phê trên đường Đông Tây (bây giờ là Nguyễn Văn Linh). Đinh Cường gọi điện thoại cho Phạm Văn Hạng, hai vợ chồng Thơ Thơ, mấy người anh em khác, và tôi. Tôi đến. Lời chào đầu tiên của Đinh Cường là một câu hỏi: “Nghe nói ông Chu Sơn trở nên giàu có nhờ người vợ làm dược sĩ?” Thoạt tiên tôi buồn vì điều Đinh Cường nói không phải là sự thật. Nhưng ngẫm nghĩ một lúc, tôi lại vui và thầm cám ơn Đinh Cường. Anh vẫn là người tươm tất. Tươm tất không chỉ là dáng vẻ bên ngoài và cho riêng anh, mà tươm tất cả tâm hồn, cho bạn bè và cho cả đất nước.
Năm 2011, trong chuyến Đinh Cường về Việt Nam làm triển lãm ở Đà Lạt, tôi đề nghị anh về vẽ bìa cho tập Quê Nhà tái bản. Đinh Cường vui vẻ nhận lời với điều kiện anh phải đọc lại tập thơ. Thật ra tập Quê Nhà dự định tái bản gồm tập Quê Nhà xuất bản năm 1964 và tập Giữa Lòng Việt Nam tôi làm trong hai năm 1964 – 1965 (nha thông tin Trung Việt không cấp giấy phép xuất bản) và Lời Thưa tôi mới viết. Đinh Cường hứa sẽ gởi tranh bìa qua thư điện tử. Mấy ngày sau tôi nhận được không chỉ tranh bìa rất đẹp mà còn có bốn phụ bản với lời dặn của Đinh Cường: “Nhớ in ấn phải đẹp”. Quê Nhà in xong tôi gởi tặng Đinh Cường một tập. Nhận được Quê Nhà, Đinh Cường thư cho tôi với lời trách: “Sao chỉ có một tập ?”. Chắc anh vui vì sách đẹp.
Cũng trong năm 2011, tôi xuất bản tập sách Nước – Lửa và Sóng, Đinh Cường vẽ bìa. Lần này tôi gởi cho tặng hai tập, anh rấp bằng lòng.
Năm 2014, vợ tôi dự định xuất bản sách Không Khói Hoàng Hôn, nhờ Đinh Cường vẽ bìa. Hồ Đình Nam (em trai chị Nhung vợ Đinh Cường) biết chuyện thư cho chúng tôi: “Chắc Đinh Cường không vẽ được, ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn cuối. Từ hai năm rồi anh ấy đã từ chối, không vẽ bìa cho bất cứ ai.” Nhưng rồi Đinh Cường vẽ bìa cho Không Khói Hoàng Hôn, vì “Tôi đọc bài của chị trên Diễn Đàn, đọc một mạch, không dừng lại được”. Và có lẽ vì Đinh Cường biết vợ Chu Sơn ( Nguyễn Thị Kim Thoa) không phải là dược sĩ giàu lên nhờ tham nhũng.
Đinh Cường lớn hơn tôi 4 tuổi (anh sinh năm 1939, tôi sinh 1943). Tôi quen Đinh Cường (và cả Đỗ Long Vân, Ngô Kha, Trịnh Công Sơn) qua Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường. Năm đó tôi học lớp đệ nhị trường Quốc Học (1961).
Đinh Cường là anh rể của bạn tôi, Hồ Đình Nam (là đại úy quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã giúp tôi thoát khỏi nhà tù Đà Nẵng năm 1971) hiện đang định cư tại Anh.
Đạo lý ngày xưa: bạn của thầy cũng là thầy, anh của bạn cũng là anh. Đến lúc ngồi viết những dòng này ( tháng 10. 2016 ) tôi vẫn xem Đinh Cường đồng thời là thầy, là anh, là bạn. Riêng cái hành động “nối cuống rốn” và “tìm lại hơi thở dân tộc” để tiếp tục sống và làm một người nghệ sĩ tự do trên đất Mỹ, Đinh Cường đích thực là thầy của tôi, mặc dầu tôi chưa rời Việt Nam lần nào, và “đã có lúc tôi tự vỗ ngực mình là người yêu nước.”
Đinh Cường và bạn bè tại Đà Nẵng trong chuyến về Việt Nam đầu tiên
Đinh Cường về cõi vô thường
Hồ Đăng Thanh Ngọc
Họa sĩ Đinh Cường sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một (Sông Bé cũ, nay là Bình Dương). Định mệnh đã khiến ông sống dịch chuyển đây đó rất nhiều nơi ngay từ thuở thiếu niên. Ông từng sống ở Huế, Đà Lạt, Đơn Dương, Bình Dương, TP HCM và cuối đời ở tiểu bang Virginia – Mỹ nhưng như dịch giả Bửu Ý, người bạn thân của ông, nói: “Đinh Cường đâu, Huế đó” – không gian Huế ám ảnh vào tranh Đinh Cường rất dữ dội, như định mệnh, không thể khác…
Tác phẩm “Để nhớ Huế” của Đinh Cường
Thuở nhỏ, Đinh Cường học Trường Petrus Ký (Sài Gòn, 1951-1957). Sau đó, ông tìm cách ra Huế học hội họa vì muốn được tiếp cận với những hệ thẩm mỹ thế giới đương đại mà thời ấy đang là xu hướng thịnh hành ở đất cố đô. Tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Huế năm 1963, sau đó ông tốt nghiệp giáo khoa hội họa Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1964. Ông từng giảng dạy ở Trường Đồng Khánh (Huế), Trường Mỹ thuật Huế; từng có khoảng 30 lần triển lãm độc lập và trên 20 lần triển lãm chung.
Cuộc triển lãm đầu tiên cùng với họa sĩ Lê Văn Tài tại Huế vào năm 1965 đã đặt dấu ấn tranh Đinh Cường trong lòng công chúng. Theo Bửu Ý, triển lãm này cũng mở đầu cho “văn hóa mua tranh” tại Huế với việc Nguyễn Hữu Châu Phan mua bức “Donmaine de Marie Dalat”. Năm 1967, họa sĩ Đinh Cường triển lãm cá nhân tại Trung tâm Văn hóa Pháp với bài giới thiệu bằng tiếng Pháp cực hay của Đỗ Long Vân… Năm 1971, cuộc triển lãm chung giữa Đinh Cường và Tôn Thất Văn tại Huế đã thành công rực rỡ, công chúng đến xem rất đông và số tranh được sưu tập cũng rất nhiều. Sau đó, Đinh Cường còn triển lãm ở Đà Lạt, Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang… cùng với nhiều họa sĩ tên tuổi: Vĩnh Phối, Tôn Nữ Kim Phượng, Tôn Thất Văn, Trịnh Cung… Cuối năm 2014, ông có những cuộc triển lãm tại Gác Trịnh (Huế), Đà Lạt, TP HCM cùng với họa sĩ Phan Ngọc Minh, Thân Ngọc Minh. Đó là chuyến trở về theo lời “xúi giục” của người bạn gái trong nhóm năm xưa có tên Siphani. Ông bày tranh và cùng Bửu Ý thăm lại chốn xưa ở Đà Lạt, B’lao, Dran… Đó cũng là chuyến trở về sau cùng của Đinh Cường dù rằng ông đã ấp ủ thêm một chuyến trở về bày tranh khác nữa, cùng với tranh của Trịnh Công Sơn – bạn ông.
Tại phòng tranh Gác Trịnh (Huế), họa sĩ Đinh Cường (giữa) trao kỷ vật quý về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho tác giả bài viết – Hồ Đăng Thanh Ngọc (bìa trái). Bìa phải là họa sĩ Phan Ngọc Minh. (Ảnh do tác giả cung cấp)
Bức tranh nào cũng được Đinh Cường vẽ với sự xúc động tận cùng, khiến người xem bị cuốn hút lạ lùng và có cảm giác ngập chìm trong hạnh phúc được cảm nhận mơ hồ từ phần sâu thẳm ở phía sau bức tranh. Đinh Cường hay vẽ những người phụ nữ mảnh mai với những chiếc cổ dài, cánh tay dài, ngón tay dài u buồn đan thanh nét cô đơn bàng bạc. Những hình hài ấy khiến ta nhớ đến người bạn của ông, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, với cách nhìn về người phụ nữ đẹp “vai em gầy guộc nhỏ”, “ngón tay em gầy”… Thế hệ vàng của Huế gồm Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu Ý, Bửu Chỉ với hệ thẩm mỹ khác biệt kiểu như thế đã làm nên những giá trị riêng biệt cho văn học nghệ thuật Huế và Việt Nam.
Từ rất sớm, Đinh Cường đã hướng về hội họa hiện đại và trừu tượng. Ở tranh trừu tượng, khởi đi từ những năm 1960-1970, lúc đất nước còn trong tao loạn, những bức tranh của ông phản ảnh của tâm trạng xót xa của những tâm hồn đã luôn bất an, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận xét: “Bất an trước bản chất vô thường của cuộc đời, trước những phù phiếm của sự sống và dĩ nhiên đó cũng là nỗi bất an của một lớp người tự thấy bất lực trước những đau khổ của mình và của xứ sở”…
Những năm sau này, ngoài vẽ tranh ông còn làm rất nhiều nghệ thuật, những bài nghệ thuật Tân hình thức đầy cảm động trong không gian nhớ bạn. Phòng tranh cuối cùng ông bày nơi Gác Trịnh hồi tháng 11-2014 đầy ắp bóng dáng bạn bè: Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Tuệ Sĩ, Bửu Chỉ, Bửu Ý… Những con người đó, cùng ông, ra đi và để lại những báu vật không thể thay thế trong kho tàng văn hóa dân tộc.
Sinh thời, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói về cái sự đi của Đinh Cường: “Rong chơi là một thứ kinh vương giả trong tâm hồn Ðinh Cường. Cứ lên đường, dù cao nguyên dù biển, là đã nghe thấy trong Cường vang lên một tiếng reo vui mãn nguyện. Ði không chỉ là sứ mệnh của đôi chân, mà đi, với Cường, là lòng ngưỡng vọng linh thiêng về một tiếng gọi”. Lần này thì ông thật sự ra đi, với một người nặng lòng với bè bạn như ông, chắc ông sẽ lại bày giá vẽ cùng Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ nơi đồi núi hoang vu nào đó. Như ngày xưa, tại Gác Trịnh, ông đã cùng Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ vẽ chung bức tranh, trên một chiếc ghế cũ càng…
Giã biệt một tài năng của hội họa Việt Nam!
Báu vật của ký ức
Riêng với Đinh Cường, Bửu Ý đánh giá: “Mỗi phòng tranh của Đinh Cường là một dịp hồi hướng, ôn lại chuyện cũ, các chặng đường, lấp ló nét thành quách được bồi tiếp dày hơn, rúm ró hơn, dập lên dập xuống, từ đó nứt nẻ ra một dáng mai như đóng đinh vào thời gian, không trẻ lại nhưng không già thêm, để làm báu vật trong viện bảo tàng của ký ức mà sẽ không có ai, sẽ không có việc gì có thể tranh đoạt được của Đinh Cường”.
Ca sĩ Giang Trang trong đêm Nguyệt hạ – Ảnh: ĐỖ QUANG CƯỜNG
Giọng hát Giang Trang không hay, không dở, nhưng rất vừa vặn với tinh thần nhạc Trịnh Công Sơn. Đó là sự tối giản, là im lặng, là kể chuyện, không lên gân.
Trong buổi diễn gần đây nhất của Giang Trang – đêm Nguyệt Hạ (tại Trung tâm văn hóa Pháp – Hà Nội), điều đó một lần nữa được chứng minh, khi người nghe cảm nhận “nhịp” trong âm nhạc Trịnh hoàn toàn khít với “nhịp” của người hát.
Điều đó khiến giọng hát Giang Trang vì thế lạ, so với những âm sắc khác trong âm nhạc Trịnh Công Sơn.
Luôn làm mới mình và miệt mài khám phá nhạc Trịnh ở những hình thức thể nghiệm khác nhau qua từng cuộc chơi nhạc, từ Lênh đênh nhớ phố, đến Hạ huyền và đêm Nguyệt hạ vừa rồi, Giang Trang chạm tới đẳng cấp chuyên nghiệp của một người hát.
Sự chuyên nghiệp đó, theo như định nghĩa của nhạc sỹ Dương Thụ, chính là người nghệ sĩ chỉ đau đáu câu chuyện cách tân hình thức thể hiện.
Đương nhiên, muốn tồn tại mỗi người phải tìm cho mình một con đường riêng. Dù chỉ là cái ngách vô cùng nhỏ bé, nhưng phải là riêng, là duy nhất.
Ca sĩ Giang Giang, nghệ sĩ guitar Lê Thu và nghệ sĩ flute Lê Thư Hương trong đêm nhạc – Ảnh: ĐỖ QUANG CƯỜNG
Lần đầu tiên, trong đêm Nguyệt hạ, Giang Trang có ý thức về sân khấu, décor, ánh sáng khi chơi nhạc. Tôi nói thế vì quan sát và dõi theo tiếng hát này từ những ngày đầu – khi Giang Trang đến với âm nhạc với tâm thế là một người hát, không phải bằng tư duy biểu diễn.
Sân khấu là hiệu ứng về thị giác, thế nên khi tấm rèm mở, tất cả khán giả hoàn toàn bị thu hút bởi không gian sân khấu do Nguyễn Phi Phi Anh dàn dựng.
Cái hay của sân khấu tưởng là hoài cổ, nhưng thực ra không phải. Đâu đó đặt một chiếc đài cũ, quạt cũng cũ, đèn càng cũ nhưng rất may lại không bị hoài cổ bởi cách thức sắp đặt của tay đạo diễn.
Chúng ta thấy, một ý đồ khác khi những vật dụng đó được sử dụng như một phương tiện biểu đạt. Trong nghệ thuật, chúng tôi vẫn hay nói câu, cách sử dụng nguyên liệu còn quan trọng hơn nguyên liệu.
Trên sân khấu Nguyệt hạ, để tương phản với bóng trăng được thả trên cao, người đạo diễn rất tinh tế khi dùng tấm vải hoa phủ lên toàn bộ bàn, ghế, bục bệ.
Chính những đốm hoa ti ti, quê kiểng ấy cũng một lần tương phản với những đồ bày trên ấy, như những nụ cười, tươi mới, hài hước. Tưởng là cũ, nhưng lại rất đương đại.
Khung cảnh sân khấu qua sự sắp đặt của Nguyễn Phi Phi Anh – Ảnh: ĐỖ QUANG CƯỜNG
Một điều cần ca ngợi, theo tôi, chính là việc đưa tiếng guitar cổ điển Lê Thu vào không gian Nguyệt hạ. Dẫu trong đêm đó Lê Thu không chơi nhạc cổ điển nhưng gốc gác “classic” của nghệ sĩ này đã nhuốm màu cổ điển vào giọng hát Giang Trang. Hay, dở chưa bàn, nhưng rõ ràng hơi thở âm nhạc đã khác, khác hẳn tiếng guitar chúng ta từng nghe trong Hạ huyền 2.
Sự kết hợp đó, còn là câu chuyện về cuộc hạnh ngộ trong con đường nghệ thuật của họ.
Lê Thu chính là người giới thiệu Giang Trang hát trên sân khấu nhạc Tranh năm 1996, để sau 15 năm, lần đầu tiên họ lại được chơi nhạc cùng nhau trong đêm Nguyệt hạ.
Giang Trang chơi lại ba bài sử dụng lại bản phối cũ, còn lại là phối mới. Và có rất nhiều ca khúc đã được hát live và thu CD nhiều lần như một thứ “logo” của Giang Trang.
Nói như thế để thấy một điều rằng, cùng một bản nhạc nhưng Giang Trang và các cộng sự của cô xử lý mỗi lần một khác.
Chúng ta cần đề cao và tôn trọng câu chuyện về những nghệ sĩ thấy cái đau của nghệ thuật, đó là không ngừng sáng tạo, tìm tòi. Người nghệ sĩ phải luôn vận động, “cựa quậy”, trăn trở để làm mới chính mình. Đó là câu chuyện khó nhất trong nghệ thuật.
Khi Giang Trang làm được điều đó cùng các cộng sự của mình trong cuộc chơi Nguyệt hạ thì vô hình chung gạt đi toàn bộ những điểm chưa hài lòng như chút trục trặc về âm thanh.
Còn ở lại là cái hay, sự truyền cảm của tiếng hát ở nơi phù hợp với nó là những không gian hẹp, có tính salon.
Trong nghệ thuật đương đại, câu chuyện quan trọng nhất chính là tìm ra “tạng tính” của chính mình.
Đến hẹn lại lên, không biết bao mùa lễ hội trôi qua, trái tim lại thêm thổn thức, ai có về Kinh Bắc tháng Giêng mới thấy hết cái không khí náo nức, hồ hởi của một miền hội hát như dập dìu, mời gọi. Ảnh: NK https://thanhtra.com.vn/xa-hoi/van-hoa/lan-dieu-quan-ho-co-o-bac-giang-191033.html
Ts. Nguyễn Thanh Tâm
Người ta thích nói về sự cách tân (làm mới) như là một nỗ lực, một hành động vượt qua giới hạn (với ngầm ý là truyền thống, cái cũ), đáng nói hơn, dường như người ta đã đánh đồng sự cách tân với giá trị nghệ thuật (dễ hiểu hơn là: Hay). Như thế, vô hình trung, phương pháp, con đường đã bị đồng nhất vào mục đích, vào điểm đến.
Sẽ thật bối rối khi phải định danh, định vị một giai đoạn, một bộ phận nào đó của thơ trữ tình Việt Nam là truyền thống. Bởi lẽ, ngay cả những tác phẩm xưa cũ, vẫn hàm chứa trong đó những sắc thái cho đến hôm nay còn mới nguyên. Nam Quốc Sơn Hà, Hịch tướng sĩ, Tụng Giá hoàn Kinh sư, Cảm hoài, Bình Ngô đại cáo,… trong bối cảnh hiện nay hẳn là còn mang tính thời sự. Truyện Kiều của Nguyễn Du, có phải là truyền thống không? Dù sáng tác theo thể lục bát, xuất hiện thời trung đại, người ta vẫn thấy ở đó câu chuyện của muôn đời. Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương có phải truyền thống không? Những “hoài niệm phồn thực” trong thơ Hồ Xuân Hương sao gần gũi với thơ ca của nhiều tác giả đương đại? Ngày kia, Thơ mới ra đời đưa tất cả những tác phẩm với hệ mỹ học trung đại vào hậu trường, trở thành phong trào thơ ca tiền phong, tiêu biểu tạo nên “một thời đại trong thơ ca” (Hoài Thanh). Nhưng rồi, chẳng lâu sau đó, người ta lại nói đến nhiều hơn những thất bại của Thơ mới, hay nói đến truyền thống Thơ mới như một giá trị cần phải vượt qua, cần phải “chôn vùi”. Thơ ca cách mạng giai đoạn 1945-1975 có phải là một giá trị đã trở thành truyền thống? Hệ mỹ học thời chiến với hạt nhân là tinh thần lãng mạn cách mạng, gắn với ý thức công dân, ý thức đoàn thể, “có chung khuôn mặt, có chung tâm hồn”, sự thật, cho đến hôm nay vẫn đang hiện diện trong đời sống văn học của chúng ta. Vậy, truyền thống không phải là cái cũ, càng không phải là cái đã hết giá trị. Truyền thống là một hoài niệm trong cái nhìn ngoảnh lại của hôm nay. Truyền thống không nên đặt trong sự đối lập với cách tân. Bởi lẽ, một khi đặt bên cạnh cách tân, truyền thống dễ bị xem là cái cũ, cái không còn hợp lý, cái cần phải vượt qua. Tâm thế này dẫn đến việc sáng tạo đôi khi bị câu thúc bởi việc phải phủ định truyền thống. Nếu hiểu truyền thống là những giá trị được một cộng đồng gìn giữ, trao truyền qua thời gian, đồng thời là cái chưa hoàn kết, luôn luôn được bồi đắp, khi đó chúng ta sẽ có cách ứng xử thoả đáng với truyền thống.
Mọi cách tân có giá trị đều trở thành truyền thống. Chính vì thế, những thực hành cách tân, những sáng tạo của hôm nay chính là hành trình đi đến truyền thống. Truyền thống là cái còn lại trong ký ức con người, trong di sản của nhân loại khi thời gian đi qua. Vì vậy, đừng cho rằng truyền thống là cái đã không còn giá trị, cái nên “chôn vùi” hay vứt bỏ. Ở đây, vượt qua truyền thống là cách diễn đạt có phần khoa trương về nhiệm vụ, sứ mệnh của kẻ mở đường sáng tạo. Tuy nhiên, truyền thống mãi còn mà những cách tân vô giá trị sẽ chìm trong quên lãng. Thơ Việt Nam đương đại đang xuất hiện nhiều cách tân, cho thấy thái độ, nỗ lực của các nhà thơ muốn đem đến những giá trị mới. Tuy nhiên, phải chân thành để nói rằng, các thể nghiệm Tân hình thức, Thơ tịnh tiến, Thơ ngoài lời, Thơ phụ âm, Thơ chữ,… chưa đem đến những niềm tin cho giá trị thơ trữ tình Việt Nam. Người đọc đã quen với những giá trị được gọi là truyền thống, đôi khi thấy nhàm chán. Thế nhưng, những giá trị mới cũng chưa thuyết phục được người đọc. Đó là câu chuyện còn tiếp tục được nhắc đến trong sự vận động của thơ Việt đương đại. Tuy nhiên, ở đây cũng cần có thái độ phù hợp trước những cách tân. Bởi lẽ, trước khi nó có thể đạt đến một giá trị nào đó, cách tân là một thái độ, một hành vi cho thấy nhu cầu cần phải sống khác, viết khác với những gì đã có. Sự sống sinh động và phong phú. Bởi vậy, mỗi cá nhân là một bản thể không lặp lại. Sáng tạo nghệ thuật cũng không phải là những bản sao. Sáng tạo luôn mang dự phóng về phía cái mới, cái khác. Và như thế, khi cách tân tỏ ý chê bai truyền thống thì truyền thống cũng không ngừng đả kích vẻ lai căng, xa lạ của cách tân. Sau tất cả, đó lại chính là trung tâm của câu chuyện đời sống văn chương, nghệ thuật. Sự thể sẽ ra sao, nếu ngày mai chúng ta không nói về truyền thống hay cách tân? Nhiều người phủ định cặp phạm trù có tính nhị nguyên này để nói đến một phạm trù khác có tính nhất nguyên-cái hay. Đúng là truyền thống hay cách tân không quan trọng mà cái hay, cái đẹp mới là cái đích của nghệ thuật. Nhưng, sẽ chẳng có cái hay, cái đẹp nếu chúng ta không mạnh dạn làm mới, làm khác, mạnh dạn đối thoại với truyền thống, mạnh dạn phô bày những quan niệm nhân sinh, quan niệm giá trị, quan niệm nghệ thuật mới trước dòng chảy của lịch sử, văn hoá và nghệ thuật.
Thơ Việt Nam mang trong lòng nó những truyền thống, là những “mẫu gốc”, những căn cước cho hiện tại và tương lai. Đó là di sản mỗi ngày lại được làm giàu có hơn lên bằng chính nỗ lực kế thừa, cách tân của các thế hệ nhà thơ. Trên tầm quan sát bao quát hơn, ở chiều sâu hơn của sự vận động văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, mọi cách tân vẫn luôn có một căn rễ nào đó bám vào các “mẫu gốc”, các tầng vỉa đã chồng xếp, đan dệt trong lịch sử. Chính điều này cho phép chúng ta hình dung về những hệ thống liên văn bản, liên văn hoá vốn là bản chất của những kiến tạo xã hội. Và, từ đó, những cách tân hay truyền thống có được sự hiện diện một cách khách quan, bình đẳng trước thang bậc giá trị.
Time will say nothing but I told you so, Time only knows the price we have to pay; If I could tell you I would let you know.
If we should weep when clowns put on their show, If we should stumble when musicians play, Time will say nothing but I told you so.
There are no fortunes to be told, although, Because I love you more than I can say, If I could tell you I would let you know.
The winds must come from somewhere when they blow, There must be reasons why the leaves decay; Time will say nothing but I told you so.
Perhaps the roses really want to grow, The vision seriously intends to stay; If I could tell you I would let you know.
Suppose the lions all get up and go, And all the brooks and soldiers run away; Will Time say nothing but I told you so? If I could tell you I would let you know.
BẤT CỨ LÚC NÀO TÔI CÓ THỂ NÓI VỚI EM
Thời gian sẽ không nói gì trừ khi tôi đã nói với em như vậy, Thời gian chỉ biết cái giá chúng ta phải trả; Bất cứ lúc nào tôi có thể nói với em tôi cho em biết.
Chúng ta có nên khóc khi những anh hề trình diễn vở diễn của họ, Chúng ta có nên đi chệnh chọang khi những người nhạc sĩ chơi nhạc, Thời gian sẽ không nói gì trừ khi tôi đã nói với em như vậy.
Không có những số mệnh đã được kể, mặc dù, Bởi lẽ tôi yêu em nhiều hơn tôi có thể nói, Bất cứ lúc nào tôi có thể nói với em tôi cho em biết.
Gió sẽ tới từ nơi nào đó khi gió thổi, Phải có những lý do tại sao những chiếc lá hư nát; Thời gian sẽ không nói gì trừ khi tôi đã nói với em như vậy.
Có lẽ những cây hoa hồng thực sự muốn mọc, Mục đích của chúng một cách nghiêm túc có ý lưu lại; Bất cứ lúc nào tôi có thể nói với em tôi cho em biết.
Giả thử tất cả những con sư tử thức dậy và đi, Và tất cả những khe suối và những chiến binh bỏ chạy; Có phải thời gian sẽ không nói gì trừ khi tôi đã nói với em như vậy?
Bất cứ lúc nào tôi có thể nói với em tôi cho em biết.
Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội – Nguyễn Việt Chiến – nhận định các tác giả chuyên nghiệp đang loay hoay tiếp cận người đọc.
Sáng 27/2, hội thảo “thơ và những vấn đề thơ đương đại” diễn ra gần ba tiếng tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (Hà Nội). Hơn 10 nhà thơ trình bày tham luận, tập trung phản hồi ánh sáng thực hiện thiếu hấp dẫn của đời sống thi ca Việt Nam hiện nay.
Nhiều người nhận định trong thời đại kỹ thuật số, điện tử hóa, độc giả quay lưng với thơ, đồng thời các tác phẩm không được bán, chủ yếu in ra để giao dịch, làm quà tặng. Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến cho rằng trong những năm qua, tác giả chuyên nghiệp đang “chìm nghỉm” trong biển người làm thơ vô danh. “Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật khi nhà thơ từ 4 đến 5 năm (có người cả năm) mới xuất bản được một cuốn. Mỗi cuốn trong chừng 500 bản nhưng lại để nhau là chính vì thơ bán được rất nhiều. Ít hoặc không được bán”, ông nói.
Nhà thơ Vũ Quần Phương đánh giá hầu hết các nhà xuất bản không đầu tư vào công việc, bán thơ. Ông chia sẻ: “Người viết phải tự bỏ tiền in ấn, tự bán mà phần đông là không biết bán. Gửi sách hiệu thì bị từ chối, chỉ có tặng”.
Ngoài việc khó bán, những năm qua thơ thiếu tác phẩm hoặc hiện tượng nổi bật. Theo ông Nguyễn Việt Chiến, nguyên nhân là thiếu ý tưởng và phá vỡ. Nhà thơ giải đông phần tác giả trẻ nặng cách thơ mà không có nội dung quan trọng. Cấu trúc bài thơ, không có “tứ” và chỉ dừng lại ở mức thông thường. “Khi đó, tác phẩm là sự sắp xếp các chữ cái mà đáng lẽ ra nó phải được tạo ra từ nhà thơ cấu trúc, xác lập bằng ý tưởng, cấu trúc mới để bài thơ có đời sống tư duy cao hơn”, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội chia sẻ.
Nhà luận phê bình văn học Lê Thành Nghị chung quan điểm: “Trên thi đàn mấy năm không có tác phẩm thơ nổi bật, sáng tạo như giai đoạn cuối thế kỷ 20. Lý do chính là nhà thơ trẻ thiếu niên Biến trong tư duy sáng tạo “. Năm 2017, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội không có thơ. Hội nhà văn TP.HCM từng tặng thưởng cho tập thơ White thơ (La Mai Thi Gia) and file Nghi lễ của ánh sáng (Lê Tuân). Tuy nhiên, sự việc gây tranh cãi giữa thành viên giám sát bởi vì không phải là hệ thống nhất trong quy trình.
Nhiều hội viên của Hội Nhà văn Hà Nội có những điểm yếu của bộ phận cây bút hiện nay là quay lưng với đời sống cần lao, khó khăn của người dân quê nghèo, dân cư tỉnh lẻ sinh ra ở các đô thị chật vật, ô nhiễm … Điều này chính làm thơ mộng hấp dẫn, không có nội dung chiều sâu.
Tại hội thảo, vấn đề tặng giải thưởng cũng được trao đổi. Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng chưa có thời kỳ nào của văn học nghệ thuật có nhiều giải thích như hiện nay. Tuy nhiên, công việc vinh danh các tác giả dần dần làm chậm, uy tín. Theo nhà thơ, nguyên nhân từ sự thiếu công bằng, chính xác trong việc kiểm tra. Ông xuất đề cần tìm mới chế độ trong bình chọn, giám sát có hiệu lực nhận ra giá trị của thơ.
Vấn đề làm sao để có tác phẩm thơ hay được nêu ra cuối hội thảo. Nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam – quyết định muốn tác giả hay thì “con chữ” phải có hồn, lắng đọng trong lòng giả. Trong quá trình làm mới, tác giả phải biết cách giữ thơ ngôn ngữ đặc biệt. Ông nói thêm: “Nhìn bức tranh thơ mộng, bận bịu có ‘cái được’ của sự thay đổi mới thơ ca nên dân chủ hơn trong sáng tạo bài hát kế thừa hệ thống truyền thông tố chất và nhiều tìm kiếm, thể nghiệm , phong cách đa dạng hơn”.
Trầm Phục Khắc là bút hiệu của Đoàn Minh Đức. Nếu không để ý, có nhiều người đã không biết rằng họ Đoàn chính là người đứng ra thực hiện tác phẩm “Thơ Ở Đâu Xa” của Thanh Tâm Tuyền, xuất bản năm 1990 tại Hoa Kỳ, theo yêu cầu của nhà văn Mai Thảo.
Ở thời điểm đó, tác giả “Tôi Không Còn Cô Độc” mới định cư tại tiểu bang Minnesota. Ông cho người thân của ông là cố nhà văn Mai Thảo biết, ông muốn phổ biến ở hải ngoại những bài thơ làm trong tù. Để cụ thể hóa nhu cầu tinh thần của một trong những tập hợp sáng tạo, tạp chí Sáng tạo, thời gian đó, tác giả “Tháng Cỏ Non” đã gợi ý với nhà thơ Trầm Phục Khắc. Và, họ Đoàn đã hân hạnh nhận lời.
Tuy nhiên, bản chất của nhà thơ Trầm Phục Khắc lại là người ít xuất hiện trong quá trình sinh hoạt văn chương ở miền Nam Cali. Nhiều năm sau, chính xác là đến năm 2016, do khuyến khích của một số bằng chủ sở hữu, họ Đoàn mới cho trong đầu tay “Bói Mộng” của mình.
Trong “Lời tựa” trước khi bước vào “Bói Mộng,” với tiểu đề “Những dòng thơ yên lặng của Trầm Phục Khắc,” nhà thơ Phan Tấn Hải viết: “Anh là người yên lặng trong đời. Anh lời trong đời thường và cả trong thơ. In the same as, những dòng thơ của Trầm Phục Khắc trên tạp chí học tập vẫn là một hiện vật độc đáo. Anh xuất hiện thường với những bài thơ ngắn. Tôi thường tự hỏi, Trầm Phục Khắc có phải làm một nhà thơ bình thường vô ngôn, người nhìn thế gian và bất giác có phải lên tiếng với những người rất hay không? ”
Giải thích cho nhận xét như những nét chân dung của tác giả “Bói Mộng,” họ Phan viết tiếp: “Đọc thơ Trầm Phục Khắc, tôi thấy như anh sau nhiều năm tịch lặng bên dòng sông mênh mông của đời nổi không ngừng trước mắt, đã gom lại, xếp bài thơ như những chiếc áo giấy và thả nổi vào dòng sông sinh tử. Các chữ trong thơ là mảnh hồn của anh, chữ tịch, chữ của những rung động từng cơn gió thoảng qua… ” (“Bói Mộng” trang 7, 8).
Như nhận định của Phan Tấn Hải, “chiếc xe giấy” thi ca của họ Đoàn nổi tiếng qua rất nhiều dạng thơ từ lục bát, tới năm, bảy, tám chữ… chí với cả thơ tân hình thức dạng (như được gọi là “thơ vắt dòng”, do nhà thơ Khế Iêm, một chủ sở hữu của họ Đoàn cổ súy:
“Hàng sao đứng ngó đêm
tàn hú lên múa gió, buồm
căng vật ngã
thương
gia
chuyến hàng thua, lỡ anh
chỉ còn anh
xốc lên vai mảnh ván lạ sương, đèn, sông, bến
gõ
bát ngát hỏi đường qua. ”
“… Xe lăn đổ cây dừa
lời tự tình như một mái che
Đây là nghe đất trời dang dở
quỷ một bàn tay quỷ gió mưa… ”
(Trích “Cuồng Nở”, “Bói Mọc” trang 22)
Hoặc:
“Ra đi như cơn đau
Giật giật trên bàn tay
Ôm trời đất vào trong
Hồn cho gió lộng. ”
(“Hè Muộn”, “Bói Mộng” trang 31)
Hoặc nữa:
“Đêm vô tâm âm thầm
thơ ngây xuống ngực, ôm chầm chậm khôn ngoan
Tuổi bình minh, tóc hoàng hôn
Hé môi mộng lên hồn ai. ”
(“Lên Hồn”, “Bói Mộng” trang 33)
Nhiều người từng đọc thơ Trầm Phục Khắc, cho chủ tâm của họ Đoàn là nỗ lực viết xuống những câu thơ với nhiều liên ảnh khó hiểu, nếu không muốn nói là chính tác giả cũng không hiểu mình muốn nói gì hay tại sao, những dòng thơ đó? Phải chăng vì họ Đoàn muốn chọn thơ của mình, liên tưởng khác hơn thơ của người đồng thời, để họ rơi vào thế giới cảm xúc thực?
Theo tôi, thơ Trầm Phục Khắc là kết quả của những điều vô thức. Những thứ rung lắc, siêu hình mà, lãnh vực cho phép người làm thơ được thể hiện lộng lẫy những rung động lạ thường.
Với tôi, bên cạnh những bài thơ, mà độc giả thấy khó hiểu hay… dị ứng dụng, thì tôi lại rất vui mừng với hầu hết các bài thơ của họ Đoàn viết theo thể lục bát.
Những bài lục bát ấy, nó vẫn là phong cách cá biệt của dòng thơ Trầm Phục Khắc, nhưng nó lại cho thấy một chiều sâu nhân sinh. Hạn chế:
“Lúa lên đồng lên đồng
Trăng trắng xóa xương trồng một sân
Bón nhau đọt lá ngừng
Lũy mộng mộng, cây đèn tung hoa
Nguyễn ơi nhân loại khóc
Chúng ta hãy hát cuối bài hát
Còn lại chưa từng lá rụng
Bốn phương đảo hiện một rừng chim bay. ”
(“Đảo Hiện”, “Bói Mộng” trang 10)
Hoặc:
“Hoa vàng chỉ một hoa vàng
Mây gió gió ngang tàng đến đâu
Đời buồn lên lá phai màu
Nhớ bỏ chết bên yêu cầu đi lại. ”
(“Đôi Mươi”, “Bói Mộng” trang 13)
Hoặc:
“Nằm nghe gió mấy đêm nay
Gã về đủ mặt mày hay không
Một tay cầm chặt nhành bông
Tay kia cuốc bẫm lên đồng Việt Nam. ”
(“Lính Mà Em”, “Bói Mộng” trang 20)
Hoặc nữa:
“Có gì đâu một mối thù
ban mai mới ở thiên thu đã đợi
ầm vang cánh cửa thiên đồ
mênh mang một cánh hải hồ chao đi
biển xanh tuổi ấy hài nhi
bài ca người phủ, tiếng chùy quét khôn. ”
(“Thù”, “Bói Mộng” trang 34)
Với tôi, dù Trầm Phục Khắc chơi hay, mới đậu hồn mình vào những thế giới thơ siêu hình, hoặc hiện thực khác, thì cạn kiệt “Bói Mộng” của họ Đoàn vẫn là những dây chuyền, chìm đắm trong lực đi tìm chính mình, dù với thể thơ nào, viết về cái gì, tại sao.
Tôi cho đó là một cạnh đặc thù của thế giới thơ. Bình thường các nhà thơ từ thời tiền chiến đến hôm nay, vẫn thường đi tìm chân dung mình qua những bài thơ tình, thơ thời thế hay thơ quê hương, đất nước.
Tuy nhiên, tôi không biết sau khi lao động cực lực soi tìm chân dung mình, Trầm Phục Khắc có bắt bóng của chính anh ta không?
Nhưng cuối cùng, nếu không, Trầm Phục Khắc có nghĩ tới việc sẽ làm mới thơ mình ở những bến bờ, khác không? Hay:
“Nằm nghe gió mấy đêm nay
Gã về đủ mặt mày hay không ” (?)