TUẦN THƠ 40: LỜI NÓI VÀ NHỮNG KỶ NIỆM

Nguyễn Lương Ba


H Ồ I S I N H

Khi trở về một ngày không bình thường
nhìn lá thu phong rơi trên đầu ngỏ
hiu quạnh
Niềm vui không biết được những khoảnh khắc pha trộn
không như những buổi sáng sớm mùa đông lạnh lẽo
đèn đường vàng trên con đường dẫn ra phi trường
Về đâu những con đường xưa cũ dẫn tôi đi miên man những ký ức
Về đâu căn nhà rường vùng quê ngoại bầy trâu bò gặm cỏ
lặng lẽ những ngày tôi trở về vùng hồi cư
Con đò đưa người hay đưa tôi trôi lững lờ phía bên kia
những ngày tháng rạo rực ôm đồm mẹ cha
bừng bừng những lời ca thương nhớ hòa bình
Tôi về đây chìm khuất những điều chưa biết
xưa mẹ tôi khiêng thúng lặng lẽ trở về
Tiếng súng còn vang sau lưng độn cát
một người ủy ban chạy ngược đoàn người hô vang những khẩu hiệu
khí thế hai hàng , gia đình hai hàng
nhìn ánh khói vươn lên từ ngọn lửa bếp của ngày chia cắt loạn ly
Tôi về lại đây lạy Thầy Đốc Học
Thầy nói nhớ đọ trò phải kỷ luật
Dạ thưa Thầy con xin ghi như mỗi buổi khói lam chiều
nghe tiếng trống tan trường đều đặn
mỗi tiếng trống là một bài giảng của Thầy Cô .
Tôi về đây cũng vừa biết tình yêu là gì
là tiếng ọt ẹt của đàn ểnh ương sau bụi chuối
tiếng mưa rơi lạnh buốt đêm dài
và cây đèn dầu lấp ló một mái tóc dài như mùa đông chập chùng nhớ thương
Và rồi tôi ra đi cũng thế
mẹ vẫn nói để dành cho con một chỉ
con mang trong người của giây phút tử sinh
tôi lạy tạ vào lúc nửa đêm
nhìn thấy mình như một bóng ma
trên chuyến xe đò với những bóng ma khác
không biết họ đi đâu
Tôi lại trở về nhiều lần tìm lại ký ức đã vùi sâu trong sách vở
dù là sống chết
niềm tin mà tôi ấp ủ vẫn luôn nở đẹp suốt mùa cây trái


NHỮNG GIẤC MƠ CÒN LẠI CỦA HOÀNG HÔN

Những ngày tháng đi xa cát bụi
là con người người đến và người
đi người ở lại cho nhau cát
bụi buồn vui than thở những ngày
xa ngái lượn lờ giấc mơ cũ
kỷ cũng buồn vui than thở những
ngày tưởng nhớ hồi ức lượn lờ
giấc mơ có thật cứ vươn tới
một ngày nửa đêm không ngủ cứ
vươn tới ôi đời còn lại hoài
thao thức cứ nhớ tới xóm làng
lởn vởn muốn ra khỏi xóm làng
đó để đi về cái giấc mơ
miệt mài cứ tưởng tuổi tác già
nua ngày tháng là gì ngày tháng
qua đi ngày tháng bừng lên ngày
tháng âu lo ngày tháng lao lực
ngày tháng cô đơn ngày tháng
bệnh tật ngày tháng già nua ờ
ợ… còn gì nữa đâu ( hát theo
điệu Chầu Văn ) rồi ra ngẫm nghĩ
tháng năm cũ kỷ những mùa trăng
soi những mùa nước lũ bến đá
bờ sông bơi ếch bơi ngửa ghẹo
gà cô gái giặt mền giặt chiếu
cười cười nói nói thật là vui
vẻ một ngày đó là con chi ?
(đọc theo lối bài chòi) rồi thì
thời gian nào hay hoàng hôn rũ
bóng đường đời xa xăm thời gian
mờ mịt chống gậy hò lê hò
lê ráng bước theo con dốc đổ
mùa dã quỳ vàng lọc cọc chân
xiêu ôi đẹp làm sao bước theo
con dốc tuổi già hổn hển một
mai còn nhiều bước đi hoàng hôn.


KHI NGANG QUA ĐẬP ĐÁ


Ta nâng ly ngày tiễn đưa bạn
bè một thời giờ tóc dài bạc
đãi bạn mai bạn đi làm loài
chim bay mãi một thời sao lắm
anh em ta ráo hoảnh nhìn người
xa xưa tên Chi và nhiều bạn
khác nhìn người bạn xa xưa đó
bọn mình theo những mái tóc thề
bổng nhớ hoa nắng trôi dài dọc
mái tóc thề ngẩn ngơ chiếc áo
dài ai bay qua cầu trắng bạc
hạt mưa long lanh ta lại gặp
người bạn tên Chi con đường đi
qua Đập Đá phơi bụi nón lá
em chỉ còn là chấm nhỏ nhỏ
nhỏ có thấy thế không Chi nờ
khi ngày bắt đầu và đêm cũng
rục rịch bắt đầu luôn thế nào
đi nữa em chỉ còn là nụ
cười em bé mỗi sáng hay như
ngày xưa hỏa châu rọi sáng tiếng
gọi máy rè rè (đích thân dích
thân nghe rõ) đi nữa em chỉ
còn là nụ cười em bé nơi
Chi không biết những bao cát về
những bao cát làm hầm trú ẩn
cho trái tim mình không ngủ ngày
xưa ấy nhớ về thăm O Hai
ở Bao Vinh nhớ nhé ngày ấu
thơ đi qua những độn cát và
hầm cát tuổi trẻ không dài lắm
và tuổi già con đường của cát
bụi thẩm sâu


LỜI NÓI VÀ NHỮNG KỶ NIỆM


“Tôi yêu những cái phảng phất
Tôi thích những cái mơ hồ
Những vang bóng bao giờ cũng làm tôi xúc động, những cái
đã qua rồi, với tôi bao giờ cũng còn mãi cái đẹp mơ màng
và buồn bã của những tàn hương…”
Mai Thảo
( Để tưởng nhớ mùi hương )
Rất nhiều ngày đã qua đi như thế
rất nhiều ngày, rất nhiều tháng, rất nhiều
năm đã qua đi qua đi như thế
tôi biết tôi xa xa căn nhà tôi
tôi biết tôi bỏ bỏ căn nhà tôi
Để ra đi biết bao nhiêu năm nay
tôi ngẫng lên tôi cúi xuống, tôi cố
cười, tôi cố nhớ biết bao năm.
Này này em đừng trở lại những con
đường đã đi, con đường đo đếm những
kỷ niệm giấc mơ, giấc mơ chỉ hoài
giấc mơ. Đâu còn em êm ả áo
cánh tóc bím bìm bịp nước lên sau
nhà ao cá tra anh vẫn hay ngồi
vui ra gì, có gì đi nữa em
thì cũng hãy thong thả thưởng thức chút
hạnh phúc thô thiển đâu ai ngó tới
Này em đừng đi trên con đường đã
Đi. Đó là anh, là chiếc xe và
những cánh đồng, luôn hoài hủy những chuyến
xe lóc nhóc . Mặt trận mùa hè anh
về năm nao đi lại con đường cái
Ma Soeur đi lại. Thôi thì có con
em gia đình trở về con đường nhà
thờ đều hân hoan, thôi thì con đường
(có em) làm sao đi được mà đi.
Này em đừng nhớ những gì đã nhớ
hãy từ chối nhẹ nhàng những giòng nước
mắt rõ là hao hụt. Ngáy tháng nào
tôi theo không có lối ra tôi cứ
theo em kể chuyện dụ ngôn lại những
ngày mưa gió khu vườn nhà cô Francoise
có anh chàng kỳ lạ ở trên núi
PhảI rồi tôi quên nói thêm câu chuyện.
Cuối cùng em cũng phải tự mình thắp
những ngọn nến mù mờ trong căn nhà
và tôi kẻ rao giảng đứng trên bục
cũng mù mờ thật không có lốI ra
Cùng em những lời chẳng cần nhắc lại.

TUẦN THƠ 39: THẠCH TỐT

Thạch Tốt 

G I Ấ C M Ơ  KHÔ

Một số đêm thức đến tận bình minh,
như mặt trăng đôi khi làm vơi  mặt trời.
Hãy là một chiếc xô đầy nước 
được kéo lên theo cách tối tăm của một cái giếng,
rồi được nâng lên trong ánh sáng.
Tôi quá nhỏ bé đến nỗi hầu như không thể
nhìn thấy
Làm thế nào tình yêu vĩ đại này
có thể ở bên trong tôi?
Hãy nhìn vào đôi mắt
Chúng nhỏ bé nhưng chúng nhìn thấy những điều to lớn.
Khi bạn cảm thấy đôi môi của bạn
trở nên  ngọt ngào vô hạn
như mặt trăng trên bầu trời đêm
Khi bạn cảm thấy sự ưu ái bên trong,
thì sự giả tạo cũng sẽ ở đó.
Mặt trời luôn là tình yêu thương
với đôi tình nhân của lâng lâng chiều xuống
Một cơn gió mùa xuân chuyển động
để nhảy múa
Có thứ gì đó khiến sự nhàm chán và tổn thương biến mất
Ai đó đổ đầy chiếc cốc trước mặt chúng ta
Chúng ta chỉ có thể nếm được sự thiêng liêng
không có tình yêu nào tuyệt vời hơn tình yêu không có mục đích
để  chưa bao giờ hài lòng đến thế.
Tôi đứng dậy
và một mình tôi biến thành những kẻ xa lạ
Họ nói rằng tôi xoay quanh họ
Va rồi tôi xoay quanh tôi.
Tôi đã sống trên bờ vực của những khoảnh khắc
như có tiếng  gõ cửa
Nó mở ra cho tôi từ bên trong
Giá trị thực sự đến với sự điên rồ bên dưới
Bất kỳ ai tìm thấy tình yêu bên dưới nỗi đau
và sự đau buồn đều biến mất vào sự trống rỗng
Khi bạn hoàn toàn tự do


TH Ế G I Ớ I K H Ô N G D Ị U D À N G

Tôi  muốn đầu tôi như thế giới 

làm thế nào để trái tim tôi bình lặng

khi ánh  sáng kích thích trở lại 

trong căn gác xép cao cao

Tôi muốn đầu tôi ngừng suy nghĩ

Không có gì giải thích

không có loại thuốc mỡ nào

bất ngờ kích thích trên làn da mỏng như giấy

giữa lịch sử và thế giới không dịu dàng

Mọi sự vội vã đều lắng xuống

kích thích trên làn da

Đôi bàn tay ấm áp tỉnh lặng

dẫn dắt chúng ta theo từng bước chân

đang hình thành loại thuốc đắp

cho hành trình của chúng ta

và của những đứa trẻ trong các tập vở

Những đứa trẻ đang hình thành sự mềm mại

giọng cao vút tương ứng cất lên

bước đi trong nghi lễ New Orleans cũ

Và hãy bước những bước chân

không một tiếng động nào trên bờ sông.


B À I  H Á T  Đ E N

Bài hát đen của buổi sáng

chậm rãi và nghiêm túc hãy

ăn sáng rồi  xuống cầu thang

tự lái xe đi tự mình

trở thành người khôn ngoan, người

biến mọi ngày trên thế giới

thành có thể nhưng bài hát

đó cũng có thể là bài

hát đỏ trong đêm tối  loạng

choạng bước qua ngôi nhà đến

cơ thể hồng ấm của cô

ấy để lại nụ cười sao

mãi những đêm đó cứ gầm

gừ  khi người mẹ của đứa

bé mỉm cười trên đôi gò

má của cô ấy một sự

thật đứa bé sẽ được nuông

chiều là đứa bé như một

chiếc đồng hồ luôn vặn vẹo

cho đến khi không ai có

thể thu thập được những mảnh

vỡ trong giấc mơ rơi xuống

thành những bức tường đá đen.


CÂY CẦU BẮC QUA TRIẾT LÝ

Một ngày nào đó bạn cuối

Cùng cũng biết mình sẽ phải

Làm gì và sinh ra mặc

Dù những giọng nói xung quanh

Bạn vẫn liên tục hét lên

Những lời khuyên tồi tệ mặc

Dù cả ngôi nhà bắt đầu

Rung chuyển cảm thấy đau nhói

Ở mắc cá chân mỗi giọng

Nói đều kêu lên không dừng

Lại cả những ngón tay cứng

Ngắc trên những nền móng mặc

Dù nổi buồn thật là khủng

Khiếp đã khá muộn và đêm

Đã trở nên dữ dội trên

Con đường đầy cành cây và

Đá rơi dần dần bỏ lại

Tiếng động của chúng phía sau

Những vì sao bắt đầu đi

Xuyên qua những đám mây và

Có một giọng nói mới từ

Từ nhận ra là của minh

Mình là giọng nói luôn đồng

Hành bước sâu hơn và bước

Sâu hơn’

Kỷ niệm 1 năm ngày mất của nhà thơ Azmat Bilgrami

First death anniversary of poet Azmat Bilgrami observed

KARACHI: The first death anniversary of legendary poet and literati Azmat Bilgrami will be observed on Friday at the residence of his son Dr Syed Qamar Abbas Zaidi, himself a renowned poet.

It is pertinent to mention that Azmat Bilgrami was among the last iconic poets with unique style and diction, and was born in British Indian town of Bilgram. He wrote in all genres and left seven books, including Bargah-e-Ghazal, Kokab -e-zarren, Jamal-e-Pekar, Bargah-e-khadija, Bargah-e-Abutalib and some others.

He was the founding member Urdu literary organisation ‘Dabistan-e-Loh-o-Qalam’ and through that platform, he transgressed borders and became the first to lay the foundation of Indo-Pak and other international Mushairay (literary sittings). He also won various national and international awards.

The Power of Poetry in Grief

Poetry has long served as a source of comfort and catharsis for individuals navigating grief and loss. Through carefully chosen words, poets can encapsulate complex emotions, providing a voice to the deeply felt sorrow and longing experienced during the grieving process. Coming across a poem that captures the essence of one’s feelings can bring solace and offer a sense of understanding.

Remembering with Love – A Poem

As the first year passes by, we pause to remember,
To honor your spirit, in our hearts forever.
Though you may be gone, your love remains strong,
Guiding us through moments, when things feel all wrong.

We cherish the memories, both big and small,
For in those precious moments, we hear your cherished call.
Through laughter and tears, through joy and through strife,
Your presence is felt, dear one, in every aspect of life.

1 year has passed, though it feels just like yesterday,
When we held you close, wishing you could stay.
But even in your absence, your light continues to shine,
Your love remains with us, an eternal intertwine.

Expressions of Love and Loss

Each individual experiences grief in a unique way, and thus, poetry offers a myriad of forms, themes, and perspectives to capture the nuances of this journey. Here are a few diverse examples of 1st year death anniversary poems that encapsulate the range of emotions experienced during this time:

A Tearful Gaze – A Poem

Through misty eyes and unspoken sighs,
I see your face as time flies.
A year has passed, yet I still feel near,
Cherishing your memory, holding you dear.

The world can be cold, a daunting place,
But your love envelopes me, a warm embrace.
Though I can’t touch you, nor hear your voice,
Your presence lingers, comforting, by choice.

So as the seasons change and memories bloom,
I carry your essence, dispelling the gloom.
For in my heart, forever, you’ll stay,
Giving me strength as I find my way.

Whispers of the Soul – A Poem

In the quiet moments, I often hear
Your whispers of love, bringing solace near.
One year has passed, an eternity yet swift,
But your memory, my dear, remains my greatest gift.

Through the veil of time, our souls entwined,
Bound by love, a connection undefined.
Though you may be gone, your spirit prevails,
Guiding me gently through life’s intricate trails.

So I’ll light a candle, and I’ll say your name,
With gratitude, for the love that will never wane.
As I walk this path, my heart both heavy and light,
I find solace in your memory, shining so bright.

Healing through Words

1st year death anniversary poems have the power to provide solace, healing, and a sense of connection during a time marked by grief and remembrance. They serve as a heartfelt tribute to the departed, allowing their memory and love to live on. Whether penned by renowned poets or written from the depths of personal experience, these poems offer gentle reminders that even in loss, love endures.

As you navigate this difficult journey, may these 1st year death anniversary poems offer comfort and inspiration, reminding you that you are not alone in your grief, and that the love you carry for your departed loved one will forever shine brightly in your heart.

https://poemsworld.net/1st-year-death-anniversary-poems/


KARACHI: Lễ kỷ niệm một năm ngày mất của nhà thơ và nhà văn huyền thoại Azmat Bilgrami sẽ được tổ chức vào thứ sáu tại nhà riêng của con trai ông, Tiến sĩ Syed Qamar Abbas Zaidi, một nhà thơ nổi tiếng.

Cần phải đề cập rằng Azmat Bilgrami là một trong những nhà thơ biểu tượng cuối cùng có phong cách và cách diễn đạt độc đáo, và sinh ra tại thị trấn Bilgram của Anh-Ấn Độ. Ông viết ở mọi thể loại và để lại bảy cuốn sách, bao gồm Bargah-e-Ghazal, Kokab -e-zarren, Jamal-e-Pekar, Bargah-e-khadija, Bargah-e-Abutalib và một số tác phẩm khác.

Ông là thành viên sáng lập của tổ chức văn học Urdu ‘Dabistan-e-Loh-o-Qalam’ và thông qua nền tảng đó, ông đã vượt qua biên giới và trở thành người đầu tiên đặt nền móng cho Indo-Pakistan và Mushairay quốc tế khác (các buổi họp văn học). Ông cũng đã giành được nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế.

Mất đi một người thân yêu là một trải nghiệm vô cùng khó khăn và đau đớn. Khi năm đầu tiên sau khi họ qua đời đến gần, đó là thời gian để suy ngẫm, đau buồn và tưởng nhớ. Việc thương tiếc sự vắng mặt của họ và trân trọng những kỷ niệm đẹp đẽ trở thành một phần không thể thiếu của hành trình này. Trong lĩnh vực thơ ca, những bài thơ kỷ niệm 1 năm ngày mất đóng vai trò là phương tiện chân thành để thể hiện cảm xúc, tìm thấy sự an ủi và tưởng nhớ những người đã khuất.

Sức mạnh của thơ ca trong nỗi đau buồn

Thơ ca từ lâu đã đóng vai trò là nguồn an ủi và giải tỏa cho những cá nhân đang phải vượt qua nỗi đau buồn và mất mát. Thông qua những từ ngữ được lựa chọn cẩn thận, các nhà thơ có thể gói gọn những cảm xúc phức tạp, truyền tải tiếng nói cho nỗi buồn sâu sắc và nỗi khao khát trải qua trong quá trình đau buồn. Việc bắt gặp một bài thơ nắm bắt được bản chất cảm xúc của một người có thể mang lại sự an ủi và mang lại cảm giác thấu hiểu.

Nhớ lại với tình yêu – Một bài thơ

Khi năm đầu tiên trôi qua, chúng ta dừng lại để tưởng nhớ,
Để tôn vinh tinh thần của bạn, trong trái tim chúng ta mãi mãi.
Mặc dù bạn có thể đã ra đi, tình yêu của bạn vẫn mạnh mẽ,
Dẫn dắt chúng ta qua những khoảnh khắc, khi mọi thứ cảm thấy sai lầm.

Chúng tôi trân trọng những kỷ niệm, dù lớn hay nhỏ,
Vì trong những khoảnh khắc quý giá đó, chúng tôi nghe thấy tiếng gọi yêu thương của bạn.
Qua tiếng cười và nước mắt, qua niềm vui và qua đấu tranh,
Sự hiện diện của bạn được cảm nhận, người thân yêu, trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

1 năm đã trôi qua, mặc dù cảm giác như mới hôm qua,
Khi chúng ta ôm chặt em, mong em có thể ở lại.
Nhưng ngay cả khi em vắng mặt, ánh sáng của em vẫn tiếp tục tỏa sáng,
Tình yêu của em vẫn ở lại với chúng ta, một sự đan xen vĩnh cửu.

Biểu hiện của tình yêu và mất mát

Mỗi cá nhân đều trải qua nỗi đau theo một cách riêng, và do đó, thơ ca cung cấp vô số hình thức, chủ đề và góc nhìn để nắm bắt những sắc thái của hành trình này. Sau đây là một số ví dụ đa dạng về những bài thơ kỷ niệm 1 năm ngày mất, tóm tắt nhiều cung bậc cảm xúc đã trải qua trong thời gian này:

Một cái nhìn đẫm lệ – Một bài thơ

Qua đôi mắt mờ ảo và tiếng thở dài không thành lời,
tôi thấy khuôn mặt em khi thời gian trôi qua.
Một năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn cảm thấy gần gũi,
Trân trọng ký ức về em, giữ em bên mình.

Thế giới có thể lạnh lẽo, một nơi đáng sợ,
Nhưng tình yêu của em bao trùm lấy anh, một cái ôm ấm áp.
Mặc dù anh không thể chạm vào em, hay nghe thấy giọng nói của em,
Sự hiện diện của em vẫn còn, an ủi, theo sự lựa chọn của anh.

Vì vậy, khi mùa thay đổi và ký ức nở rộ,
tôi mang theo bản chất của bạn, xua tan sự u ám.
Vì trong trái tim tôi, mãi mãi, bạn sẽ ở lại,
Cho tôi sức mạnh khi tôi tìm thấy con đường của mình.

Lời thì thầm của tâm hồn – Một bài thơ

Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, tôi thường nghe thấy
tiếng thì thầm yêu thương của bạn, mang lại sự an ủi gần kề.
Một năm đã trôi qua, một thời gian dài nhưng nhanh chóng,
Nhưng ký ức về bạn, người yêu dấu của tôi, vẫn là món quà tuyệt vời nhất của tôi.

Qua bức màn thời gian, tâm hồn chúng ta hòa quyện,
Gắn kết bởi tình yêu, một mối liên kết không xác định.
Mặc dù bạn có thể đã ra đi, nhưng tinh thần của bạn vẫn ngự trị,
Nhẹ nhàng dẫn dắt tôi qua những con đường phức tạp của cuộc sống.

Vậy nên tôi sẽ thắp một ngọn nến, và tôi sẽ gọi tên bạn,
Với lòng biết ơn, vì tình yêu sẽ không bao giờ phai nhạt.
Khi tôi bước trên con đường này, trái tim tôi vừa nặng nề vừa nhẹ nhõm,
tôi tìm thấy niềm an ủi trong ký ức về bạn, tỏa sáng rực rỡ.

Chữa lành bằng lời nói

Những bài thơ kỷ niệm 1 năm ngày mất có sức mạnh mang lại sự an ủi, chữa lành và cảm giác kết nối trong thời gian đau buồn và tưởng nhớ. Chúng đóng vai trò như một lời tri ân chân thành đến người đã khuất, cho phép ký ức và tình yêu của họ sống mãi. Cho dù được chấp bút bởi các nhà thơ nổi tiếng hay được viết từ sâu thẳm trải nghiệm cá nhân, những bài thơ này mang đến lời nhắc nhở nhẹ nhàng rằng ngay cả trong mất mát, tình yêu vẫn trường tồn.

Khi bạn bước trên hành trình khó khăn này, hy vọng những bài thơ kỷ niệm 1 năm ngày mất này sẽ mang đến cho bạn sự an ủi và cảm hứng, nhắc nhở bạn rằng bạn không đơn độc trong nỗi đau buồn này, và tình yêu mà bạn dành cho người thân đã khuất sẽ mãi tỏa sáng trong trái tim bạn.

Ngày 20 tháng 11 năm 2021

Source link

Về tuyển tập phê bình được mong đợi từ lâu về văn học Bangladesh bằng tiếng Anh

Bangladesh
Bangladesh

On a Long-Awaited Critical Anthology of Bangladeshi Literature in English

For anyone with academic or amateurish interest in Bangladeshi writings in English this must be a long-awaited book. The publication of Mohammad A Quayum and Md. Mahmudul Hasan–edited Bangladeshi Literature in English: A Critical Anthology (July 2021), possibly the first-ever of its kind, thus came as a welcome piece of news, and I congratulate the Asiatic Society of Bangladesh on publishing it in the midst of the ongoing pandemic, this three-hundred-page useful collection with befitting hardcover and flawless compose.In the “Editors’ Introduction” it is pointed out that the history of Bangladeshi Anglophone Writing is not to be understood as being coeval with the birth of Bangladesh as an independent nation, rather the tradition dates back to the early days of the colonial encounter, in the British Bengal, when The Travels of Dean Mahomet (1794) had been published. This can, thus, be regarded ‘as one of the oldest and most illustrious English language literary traditions outside the English-speaking world.’ The editors do not fail to register contributions of English medium schools, university English departments, English Dailies and their literary pages, literary anthologies occasionally published by newspaper presses— like The Daily Star Book of Bangladeshi Writing (2006) or The New Age Short Stories (2006)— literary festivals (like the Dhaka Lit Fest) to the growth of this creativity in the post-independence Bangladesh. Contrarily, as they record, the writers have to eternally encounter practical and ideological challenges thwarting their smooth flourish: the still persisting linguicism of Bangla, and the essentially duplicitous position of the political/intellectual elite in this regard— a point also raised by Kaiser Haq in his interview here with the co-editor Mohammad A Quayum, that although English is widely used in the country and adopted by writers as their creative medium, it still “has no official standing in the culture or the constitution of Bangladesh.”

By now Bangladeshi English Literature (hereafter BEL) has been a substantial body of writing traversing different genres and themes, and the present anthology, understandably, cannot be exhaustive or fully representative of the tradition; it rather represents, in the words of the editors, “some of the best critical material on Bangladeshi literature in English…, balancing it with discussions on the maximum number of new or established writers we could accommodate.” Interestingly, majority of the articles in this critical companion including two of the three interviews focus on women writers, and this is precisely because more critical scholarship of acceptable standards is available on their works. The same logic explains why the chapters could include discussions only on fiction and poetry, or why the works of Bangladeshi diasporic writers occupy more than half of the book-space.

One cannot but praise the neat organisation of this collection: fifteen chapters are divided under four separate, aptly titled sections; within the sections, again, chapters are arranged chronologically according to the seniority of the writers covered. The inaugural section, “A Pre-Independence Pioneer” devotes two distinctive chapters to Begum Rokeya that explore some less-trodden areas of Rokeya-criticism: Co-Editor Mahmudul Hasan engages with “Rokeya’s encounter with and representation of Europe” while Ayesha Tarannum focuses on Islamic imageries in Rokeya’s oeuvre. Hasan’s use of the phrase “Muslim Bengal Writes Back” in the title of his chapter is indeed significant.

The next section, “Writings from Bangladesh” contains three chapters: Sabiha Huq discusses how Niaz Zaman’s novels offer an insightful network of micronarratives that capture individual women’s destinies enmeshed in historical upheavals and national crises while Tahmina Ahmed shows how Kaiser Haq’s poems are replete with allusions from diverse cultures and continents. In the final chapter of this section Rifat Mahbub and Anika Saba deals with three ‘Partition Stories of East Bengal/East Pakistan’ by Syed Waliullah, Abu Rushd, and Ashraf Siddiqui—all collected from Niaz Zaman’s anthology, The Escape and Other Stories.

The largest section, “Writings from the Diaspora” consists of seven chapters: Adib Khan and Monica Ali receive special attention with two exclusive chapters dedicated to each of them. Stefano Mercanti explores tensions of displacement and belonging and the protagonists’ restless quest for self-knowledge in Adib Khan’s Homecoming and Spiral Road while Andrew Hock Soon Ng decodes the “politics of deformed body/space” in Khan’s The Storyteller. In this section Mahmudul Hasan writes on Monica Ali’s Brick Lane and argues that ‘transplanting the south Asian model of domestic seclusion in the diaspora’ proves ‘a futile patriarchal attempt’ as women ‘will find ways to interact with the outside world’ in this era of technological advancement and omnipresent social media. Susan Stanford Friedman, on the other, reads resonances of two classic narratives of early twentieth century British and Irish modernism— Joyce’s Ulysses and Woolf’s Mrs. Dalloway— in Brick Lane, advocating the ambiguity and creative tensions of cosmopolitan multiplicity. Ali appears again, together with Tahmima Anam and Zia Hider Rahman, in the chapter contributed by Fayeza Hasanat. Very interestingly, Hasanat finds parallels between Dickens’ and these writers’ characters: Brick Lane’s Chanu turns a “postcolonial Pip” while The Good Muslim’s Sohail builds his own Satis House on the edifice of religion. There is a separate chapter on Anam’s fiction too, where Farzana Akhter discusses how women, through the “politics of active national forgetting,” confront a ‘masculinist erasure’ of their contributions in war and nation-building. The remaining chapter of this section is on Dilruba Z Ara’s Blame where Sanjib Kr Biswas and Priyanka Tripathi delineates this Swedish-Bangladeshi writer’s story to show how ‘blame’ appears to be a pretext in the garb of which family, society, nation—all try to nullify their respective crime against the biranganas.

The last section is something special about this compilation showcasing some intriguing/engaging conversations— the first two with Dhaka-based acclaimed first generation writers of the post-independence period, and the third with a British-born Bangladeshi artist. The interviews offer insights into their creative journey highlighting the challenges encountered, inspirations behind their works, their achievements, issues that engage them most and also what they intend to write or take on in the future. Jackie Kabir talks with Niaz Zaman and brings out the many-sidedness of her creativity and the unbelievable amount of work —as professor, publisher, writer, editor, translator—that she has managed to accomplish mostly ‘from behind the scene.’ The phrase in the title of Kaiser Haq’s interview, “a highbrow hijra,” highlights, albeit playfully, Haq’s ambiguity about himself as a writer. About his iconic poem “Ode on the Lungi” Haq reminisces: “the poem took a while to germinate, but once I hit upon the idea of bringing in Walt Whitman, everything fell into place.” Sanchita Islam is also a versatile genius— writer, photographer, music composer, painter— who believes, as she tells her interviewer Elisabetta Marino, that art can address mental maladies as well as many other diseases of our time.

There are attempts at historicising a literary tradition, manifest in the editors’ meticulous survey of the literary landscape from its inception to its becoming visible and vibrant, as well as in their anxiety for maintaining chronological order for the materials presented in the volume. Attempts are there too for appropriating and foregrounding the discourse of BLE into the broader spectrum of Bangladeshi life, history, and culture in general. It is thus important that the editors consider the appellation “Bangladeshi Literature in English” for their title, along the line of M K Naik’s History of Indian Literature in English (1990).

While the anthology will surely render a considerable service to BEL it could have been a bit more ambitious in terms of its critical coverage of writers and genres. In fact, the editors themselves express their dissatisfaction at not being able to include chapters on writers like Nirad C. Chaudhuri, Razia Khan Amin and others, and on drama, autobiography, travelogue or other types of prose. A major share of the book is taken up by fiction, and the lone article on poetry does not really measure up to the achievements of the poets, especially the host of younger poets. Despite these limitations, Bangladeshi Literature in English: A Critical Anthology remains to be an impressive collection and a rewarding read, and I trust that the volume will be able to inspire creative writers as well as academic practitioners to thrive more enthusiastically in this old yet still evolving literary tradition.

Maswood Akhter is Professor at the Department of English, Rajshahi University.


Đối với bất kỳ ai có hứng thú học thuật hoặc nghiệp dư với các tác phẩm tiếng Anh của Bangladesh thì đây hẳn là một cuốn sách được mong đợi từ lâu. Việc xuất bản Bangladeshi Literature in English : A Critical Anthology (tháng 7 năm 2021) do Mohammad A Quayum và Md. Mahmudul Hasan biên tập, có thể là lần đầu tiên xuất bản loại sách này, như một tin đáng mừng, và tôi xin chúc mừng Hiệp hội Châu Á Bangladesh đã xuất bản cuốn sách hữu ích dày ba trăm trang này giữa đại dịch đang diễn ra, với bìa cứng phù hợp và bố cục hoàn hảo.

Trong “Lời giới thiệu của biên tập viên”, có chỉ ra rằng lịch sử của Văn bản tiếng Anh Bangladesh không được hiểu là cùng thời với sự ra đời của Bangladesh như một quốc gia độc lập, mà truyền thống này có từ những ngày đầu của cuộc chạm trán thuộc địa, ở Bengal thuộc Anh, khi The Travels of Dean Mahomet (1794) được xuất bản. Do đó, có thể coi đây là ‘một trong những truyền thống văn học tiếng Anh lâu đời nhất và lừng lẫy nhất bên ngoài thế giới nói tiếng Anh’. Các biên tập viên không quên ghi nhận những đóng góp của các trường dạy tiếng Anh, khoa tiếng Anh của trường đại học, các tờ báo tiếng Anh và các trang văn học của họ, các tuyển tập văn học đôi khi được các nhà xuất bản báo xuất bản—như The Daily Star Book of Bangladeshi Writing (2006) hoặc The New Age Short Stories (2006)—các lễ hội văn học (như Dhaka Lit Fest) cho sự phát triển của sáng tạo này ở Bangladesh sau khi giành được độc lập. Ngược lại, như họ ghi lại, các nhà văn phải liên tục đối mặt với những thách thức thực tế và ý thức hệ cản trở sự phát triển suôn sẻ của họ: ngôn ngữ Bangla vẫn còn tồn tại, và lập trường về cơ bản là gian dối của giới tinh hoa chính trị/trí thức về vấn đề này—một quan điểm cũng được Kaiser Haq nêu ra trong cuộc phỏng vấn của ông với đồng biên tập Mohammad A Quayum, rằng mặc dù tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong nước và được các nhà văn sử dụng làm phương tiện sáng tạo của họ, nhưng nó vẫn “không có vị thế chính thức trong nền văn hóa hoặc hiến pháp của Bangladesh”.

Cho đến nay, Văn học Anh Bangladesh (sau đây gọi là BEL) đã trở thành một khối lượng lớn các tác phẩm viết qua nhiều thể loại và chủ đề khác nhau, và tuyển tập hiện tại, dễ hiểu là không thể đầy đủ hoặc đại diện đầy đủ cho truyền thống; mà đúng hơn, nó đại diện, theo lời của các biên tập viên, “một số tài liệu phê bình hay nhất về văn học Bangladesh bằng tiếng Anh …, cân bằng với các cuộc thảo luận về số lượng tối đa các nhà văn mới hoặc đã thành danh mà chúng tôi có thể tiếp nhận.” Điều thú vị là phần lớn các bài viết trong người bạn đồng hành phê bình này bao gồm hai trong số ba cuộc phỏng vấn tập trung vào các nhà văn nữ, và điều này chính xác là do có nhiều học bổng phê bình hơn với các tiêu chuẩn chấp nhận được về các tác phẩm của họ. Cùng một logic giải thích tại sao các chương chỉ có thể bao gồm các cuộc thảo luận về tiểu thuyết và thơ ca, hoặc tại sao các tác phẩm của các nhà văn Bangladesh di cư chiếm hơn một nửa không gian sách.

Người ta không thể không khen ngợi sự sắp xếp gọn gàng của bộ sưu tập này: mười lăm chương được chia thành bốn phần riêng biệt, có tiêu đề phù hợp; trong các phần, một lần nữa, các chương được sắp xếp theo thứ tự thời gian theo thâm niên của các tác giả được đề cập. Phần mở đầu, “Một người tiên phong trước khi giành độc lập” dành hai chương riêng biệt cho Begum Rokeya để khám phá một số lĩnh vực ít được biết đến của chủ nghĩa phê bình Rokeya: Đồng biên tập Mahmudul Hasan tham gia vào “cuộc gặp gỡ và đại diện của Rokeya với châu Âu” trong khi Ayesha Tarannum tập trung vào hình ảnh Hồi giáo trong tác phẩm của Rokeya. Việc Hasan sử dụng cụm từ “Người Bengal Hồi giáo viết lại” trong tiêu đề chương của mình thực sự có ý nghĩa.

Phần tiếp theo, “Những bài viết từ Bangladesh” gồm ba chương: Sabiha Huq thảo luận về cách các tiểu thuyết của Niaz Zaman cung cấp một mạng lưới sâu sắc các câu chuyện nhỏ nắm bắt số phận của từng người phụ nữ bị cuốn vào những biến động lịch sử và khủng hoảng quốc gia trong khi Tahmina Ahmed cho thấy cách các bài thơ của Kaiser Haq chứa đầy những ẩn dụ từ nhiều nền văn hóa và châu lục khác nhau. Trong chương cuối cùng của phần này, Rifat Mahbub và Anika Saba xử lý ba ‘Câu chuyện phân chia Đông Bengal/Đông Pakistan’ của Syed Waliullah, Abu Rushd và Ashraf Siddiqui—tất cả đều được thu thập từ tuyển tập The Escape and Other Stories của Niaz Zaman .

Phần lớn nhất, “Những bài viết từ cộng đồng người di cư” gồm bảy chương: Adib Khan và Monica Ali được đặc biệt chú ý với hai chương độc quyền dành riêng cho mỗi người. Stefano Mercanti khám phá những căng thẳng của sự dịch chuyển và sự gắn bó và hành trình không ngừng nghỉ của các nhân vật chính để tự hiểu mình trong Homecoming và Spiral Road của Adib Khan trong khi Andrew Hock Soon Ng giải mã “chính trị của cơ thể/không gian biến dạng” trong The Storyteller của Khan. Trong phần này, Mahmudul Hasan viết về Brick Lane của Monica Ali và lập luận rằng ‘việc cấy ghép mô hình biệt lập trong nước của Nam Á vào cộng đồng người di cư’ chứng tỏ ‘một nỗ lực gia trưởng vô ích’ vì phụ nữ ‘sẽ tìm cách tương tác với thế giới bên ngoài’ trong thời đại tiến bộ công nghệ và phương tiện truyền thông xã hội hiện diện khắp nơi này. Susan Stanford Friedman, mặt khác, đọc được sự cộng hưởng của hai câu chuyện kinh điển của chủ nghĩa hiện đại Anh và Ireland đầu thế kỷ XX—Ulysses của Joyce và Mrs. Dalloway của Woolf—trong Brick Lane, ủng hộ sự mơ hồ và căng thẳng sáng tạo của tính đa dạng quốc tế. Ali xuất hiện trở lại, cùng với Tahmima Anam và Zia Hider Rahman, trong chương do Fayeza Hasanat đóng góp. Thật thú vị, Hasanat tìm thấy điểm tương đồng giữa các nhân vật của Dickens và các nhà văn này: Chanu của Brick Lane trở thành “Pip hậu thuộc địa” trong khi Sohail của The Good Muslim xây dựng Ngôi nhà Satis của riêng mình trên tòa nhà tôn giáo. Cũng có một chương riêng về tiểu thuyết của Anam, nơi Farzana Akhter thảo luận về cách phụ nữ, thông qua “chính trị của sự lãng quên quốc gia tích cực”, đối mặt với ‘sự xóa bỏ nam tính’ đối với những đóng góp của họ trong chiến tranh và xây dựng quốc gia. Chương còn lại của phần này nói về tác phẩm Blame của Dilruba Z Ara, trong đó Sanjib Kr Biswas và Priyanka Tripathi mô tả câu chuyện của nhà văn người Thụy Điển-Bangladesh này để chỉ ra cách mà “lời đổ lỗi” dường như là cái cớ để gia đình, xã hội, quốc gia – tất cả đều cố gắng xóa bỏ tội ác của họ đối với người Birangana.

Phần cuối cùng là một điều đặc biệt về tuyển tập này, giới thiệu một số cuộc trò chuyện hấp dẫn/hấp dẫn—hai cuộc trò chuyện đầu tiên với các nhà văn thế hệ đầu tiên được ca ngợi ở Dhaka trong giai đoạn hậu độc lập, và cuộc trò chuyện thứ ba với một nghệ sĩ người Bangladesh gốc Anh. Các cuộc phỏng vấn cung cấp những hiểu biết sâu sắc về hành trình sáng tạo của họ, nêu bật những thách thức gặp phải, nguồn cảm hứng đằng sau các tác phẩm của họ, thành tựu của họ, các vấn đề khiến họ quan tâm nhất và cả những gì họ dự định viết hoặc thực hiện trong tương lai. Jackie Kabir trò chuyện với Niaz Zaman và nêu bật sự đa dạng trong sáng tạo của cô và khối lượng công việc đáng kinh ngạc —với tư cách là giáo sư, nhà xuất bản, nhà văn, biên tập viên, biên dịch viên—mà cô đã xoay xở để hoàn thành chủ yếu là ‘từ hậu trường’. Cụm từ trong tiêu đề cuộc phỏng vấn của Kaiser Haq, “một hijra trí thức”, nêu bật, mặc dù một cách vui tươi, sự mơ hồ của Haq về bản thân mình với tư cách là một nhà văn. Về bài thơ mang tính biểu tượng của mình “Ode on the Lungi”, Haq hồi tưởng: “bài thơ mất một thời gian để nảy mầm, nhưng khi tôi nảy ra ý tưởng đưa Walt Whitman vào, mọi thứ đã trở nên ổn thỏa”. Sanchita Islam cũng là một thiên tài đa năng – nhà văn, nhiếp ảnh gia, nhạc sĩ, họa sĩ – người tin rằng, như bà nói với người phỏng vấn Elisabetta Marino, nghệ thuật có thể giải quyết các bệnh về tâm thần cũng như nhiều căn bệnh khác của thời đại chúng ta.

Có những nỗ lực lịch sử hóa một truyền thống văn học, thể hiện trong quá trình khảo sát tỉ mỉ của các biên tập viên về bối cảnh văn học từ khi bắt đầu cho đến khi trở nên rõ ràng và sôi động, cũng như trong sự lo lắng của họ về việc duy trì thứ tự thời gian cho các tài liệu được trình bày trong tập sách. Cũng có những nỗ lực để chiếm đoạt và đưa diễn ngôn của BLE vào phạm vi rộng hơn của cuộc sống, lịch sử và văn hóa Bangladesh nói chung. Do đó, điều quan trọng là các biên tập viên xem xét tên gọi ” Văn học Bangladesh bằng tiếng Anh ” cho tiêu đề của họ, theo dòng Lịch sử văn học Ấn Độ bằng tiếng Anh (1990) của MK Naik.

Mặc dù tuyển tập chắc chắn sẽ mang lại một dịch vụ đáng kể cho BEL, nhưng nó có thể tham vọng hơn một chút về phạm vi bao phủ phê bình của nó đối với các nhà văn và thể loại. Trên thực tế, bản thân các biên tập viên bày tỏ sự không hài lòng khi không thể đưa vào các chương về các nhà văn như Nirad C. Chaudhuri, Razia Khan Amin và những người khác, cũng như về kịch, tự truyện, nhật ký du lịch hoặc các loại văn xuôi khác. Một phần lớn của cuốn sách là tiểu thuyết, và bài viết duy nhất về thơ không thực sự đánh giá cao những thành tựu của các nhà thơ, đặc biệt là nhóm các nhà thơ trẻ. Bất chấp những hạn chế này, Văn học Bangladesh bằng tiếng Anh : Tuyển tập phê bình vẫn là một tuyển tập ấn tượng và là một tác phẩm đáng đọc, và tôi tin rằng tập sách này sẽ có thể truyền cảm hứng cho các nhà văn sáng tạo cũng như các học giả phát triển mạnh mẽ hơn trong truyền thống văn học lâu đời nhưng vẫn đang phát triển này.

Maswood Akhter là Giáo sư tại Khoa tiếng Anh, Đại học Rajshahi.

Source link

Làn điệu quan họ cổ ở Bắc Giang

Đến hẹn lại lên, không biết bao mùa lễ hội trôi qua, trái tim lại thêm thổn thức, ai có về Kinh Bắc tháng Giêng mới thấy hết cái không khí náo nức, hồ hởi của một miền hội hát như dập dìu, mời gọi. Ảnh: NK https://thanhtra.com.vn/xa-hoi/van-hoa/lan-dieu-quan-ho-co-o-bac-giang-191033.html
Đến hẹn lại lên, không biết bao mùa lễ hội trôi qua, trái tim lại thêm thổn thức, ai có về Kinh Bắc tháng Giêng mới thấy hết cái không khí náo nức, hồ hởi của một miền hội hát như dập dìu, mời gọi. Ảnh: NK https://thanhtra.com.vn/xa-hoi/van-hoa/lan-dieu-quan-ho-co-o-bac-giang-191033.html
Nguyễn Kế | Thứ tư, 17/11/2021
Miền quê Kinh Bắc xưa, nay là Bắc Giang – Bắc Ninh được ngăn chia bởi dòng sông Cầu (sông Như Nguyệt), trong đó bờ Nam thuộc tỉnh Bắc Ninh, còn bên này bờ Bắc là Bắc Giang. Dòng sông ấy gắn liền với những trang sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc trong quá khứ và cư dân hai bên sông cũng nổi tiếng với những làn điệu dân ca quan họ êm ả, mượt mà, những làng quan họ cổ
“có lề lối”
với
“khuôn vàng thước ngọc”.


Đôi dòng dân ca quan họ

Người dân đôi dòng sông Cầu lâu nay vẫn quan niệm, đã chơi quan họ thì phải

“tinh mới tường”

tức là phải hiểu, phải chơi có lề có lối, thanh cao và phải hát bằng cả trái tim, giữ gìn được bản sắc truyền thống. Chơi cho “chỉ nổi kim chìm”, cho lở đất long trời mới xứng là trai gái Kinh Bắc.

Chắc hẳn du khách khi đến thăm làng quan họ cổ ở Bắc Giang sẽ chẳng thể nào quên hình ảnh thấp thoáng bên từng cổng làng, con ngõ nhỏ là những tà áo tứ thân, nón quai thao thướt tha, hoặc bắt gặp một ánh mắt lúng liếng trao gửi tình tứ, e thẹn của những anh hai, chị hai quê hương quan họ giữa độ xuân thì. Những câu hát thực sự đã làm rung động trái tim bao người mỗi độ xuân sang. Trong bất giác sẽ chợt nhớ về câu hát:

“Làng quan họ quê tôi,
tháng Giêng mùa hát hội

Những đêm trăng hát gọi
con sông Cầu làng bao xanh”. 

Đến hẹn lại lên, không biết bao mùa lễ hội trôi qua, trái tim lại thêm thổn thức, ai có về Kinh Bắc tháng Giêng mới thấy hết cái không khí náo nức, hồ hởi của một miền hội hát như dập dìu, mời gọi. Những liền anh, liền chị quan họ như đã giũ bỏ được cái vẻ lam lũ, vất vả thường ngày bên ruộng đồng để như lạc vào thế giới của thần tiên. Anh hai, chị hai nô nức trẩy hội từ làng này sang làng khác, rồi vượt sông Cầu sang giao lưu bên quan họ bạn ở phía Nam sông Cầu. Họ hát để thay cho lời nói, tâm sự gửi cả vào câu hát, đó cũng là cái tình của người quan họ đã thấm thía, lan tỏa vào từng thớ đất, mạch nước.

Có đi sâu vào tận cùng những mạch nguồn, dòng chảy ấy mới hiểu hết cái hay, cái đẹp và sâu lắng của người quan họ. Bởi bao đời nay, người dân đôi dòng sông Cầu vẫn quan niệm, đã chơi quan họ thì phải

“tinh mới tường”

tức là phải hiểu, phải chơi có lề có lối, thanh cao và phải hát bằng cả trái tim, giữ gìn được bản sắc truyền thống. Cũng bởi thế người quan họ mới có câu:

Xưa kia nam nữ trẻ già
Ai mà ca được ắt là hiển vinh
Ngẫm xem các giọng cho tinh
Ai mà ca được hiển vinh muôn đời. 

Ở mạn Bắc sông Cầu có những nghệ nhân cao tuổi vẫn say mê câu hát, họ là những “báu vật sống” đang truyền dạy vốn văn hóa dân tộc cho thế hệ sau, như làng Trung Đồng, xã Vân Trung, làng Đình Cả, xã Quảng Minh hay Tam Tầng, xã Quang Châu (Việt Yên)… có câu lạc bộ quan họ toàn những nghệ nhân U70 đến U90. Các cụ biết hát quan họ từ khi

“Răng non trắng tựa như ngà
Đến nay trơ lợi vẫn ca rõ nhời”

và vẫn thuộc cả trăm bài quan họ cổ,

“biết đủ lối, thuộc đủ câu”.

Thế nhưng trong cái chung vẫn có nét riêng. Quan họ truyền thống không có nhạc đệm, liền anh, liền chị chỉ hát “chay” mà đã thể hiện được tâm sự, nỗi lòng, cái da diết, khôn nguôi, khắc khoải của người quan họ. Ở Bắc sông Cầu cũng có những làng quan họ cổ với sinh hoạt độc đáo đến mức có thể xem là “độc nhất vô nhị”. Như Thổ Hà – nơi duy nhất vẫn giữ được lối hát canh quan họ cổ truyền, nơi có cảnh hát đón bạn trên sông Cầu mà khắp vùng Kinh Bắc không đâu có được, nghệ nhân Phú Hiệp ở làng này vẫn nằm lòng vanh vách mấy trăm bài đối đáp cổ.

Đứng bên bến đò Thổ Hà, du khách cảm nhận được không gian trên bến dưới thuyền mênh mang sóng nước. Cảnh vật, con người đó khiến nhiều người liên tưởng đến các làn điệu quan họ cổ như

Gọi đò, Ngồi tựa mạn thuyền, Giã bạn

ra đời từ chính không gian ấy.


Quan tâm và gìn giữ làn điệu dân ca quan họ cổ

Năm 2009, khi dân ca quan họ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại thì quan họ lại càng được sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành và đặc biệt là sự quan tâm của các du khách trong nước và quốc tế.

Tỉnh Bắc Giang đã có nhiều chương trình bảo tồn như: Nghiên cứu, sưu tầm các làn điệu quan họ cổ, mở lớp truyền dạy, hỗ trợ thành lập các câu lạc bộ, hỗ trợ tăng âm loa đài, xây dựng nhà văn hóa – nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ… Không chỉ những làng quan họ gốc, phong trào hát quan họ đã phát triển rộng khắp hầu hết các thôn, làng trong toàn tỉnh. Người dân hát ở nhiều nơi như hội làng, hội diễn, đám cưới, mừng thọ, lễ kỷ niệm…

Một trong những điểm nhấn trong bảo tồn làn điệu dân ca quan họ là việc tổ chức Liên hoan Hát quan họ huyện Việt Yên và Liên hoan Hát quan họ tỉnh Bắc Giang được duy trì hàng chục năm qua tại lễ hội Bổ Đà (xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên), đã góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam nói chung, tỉnh Bắc Giang nói riêng với UNESCO trong việc bảo tồn, phát huy có hiệu quả dân ca quan họ.

Ông Trần Minh Hà, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang khẳng định: Sau hơn 10 năm thực hiện cam kết với UNESCO, dân ca quan họ ngày càng tạo được dấu ấn và trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa của nhân dân. Loại hình dân ca ấy đã mang một sức sống mới, hòa trong nhịp thở của thời đại. Ý thức cộng đồng về giá trị di sản ngày càng sâu sắc. Thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục tham mưu, triển khai điều tra, nghiên cứu, khôi phục các làng quan họ cổ. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, truyền dạy hai loại hình này trong nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; đưa dân ca quan họ vào chương trình giảng dạy trong trường học. Xây dựng cơ chế, chính sách đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích tại các làng quan họ cổ gắn với phát triển du lịch. Đặc biệt chú trọng đẩy mạnh hoạt động, đa dạng hình thức sinh hoạt của các câu lạc bộ dân ca quan họ trên địa bàn để tiếp tục tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho di sản.

Ngoài ra, tỉnh Bắc Giang cũng đã cho triển khai các mô hình xã hội hóa rất thiết thực trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị dân ca quan họ như: Trại hè Bagico dành cho thiếu nhi với thương hiệu Chương trình “Em yêu làn điệu dân ca” vào dịp hè hằng năm thu hút được hằng trăm thiếu nhi tham gia. Từ hội thi này đã xuất hiện những em nhỏ mới 5-6 tuổi nhưng đã được ông, bà, cha, mẹ truyền dạy và thành thạo nhiều làn điệu dân ca quan họ cổ được xem là khó hát như:

“Nam nhi”, “Cái hời cái ả”, “Xuôi ngược sông Cầu”, “Nguyệt gác mái đình”, “Đôi bên bác mẹ cùng già”, “Lên núi Ba Vì”…

Điều này thêm khẳng định những giá trị văn hóa độc đáo của dân ca quan họ có sức hấp dẫn và lan tỏa mạnh mẽ, trở thành nhu cầu tự thân trong cộng đồng.

Quan họ Bắc sông Cầu cũng có những nghệ nhân, nghệ sĩ vinh dự được mời tham gia biểu diễn tại các nước châu Âu nhằm giới thiệu, quảng bá di sản tới bạn bè thế giới. Ngàn đời nay câu quan họ xứ Kinh Bắc đã thắp lên những ngọn lửa tình yêu, sưởi ấm những trái tim đa cảm.

Source link

Poetry or Prose? From “Alive & 65”

The following piece can be found on page 33 of Alive & 65 by Palgrave’s Carol Good. The book is available at Forster’s Book Garden in Bolton.| Đoạn văn sau đây có thể được tìm thấy ở trang 33 của cuốn sách Alive & 65 của Carol Good, nhà xuất bản Palgrave. Cuốn sách hiện có bán tại hiệu sách Forster's Book Garden ở Bolton.

Poetry or prose? | Thơ hay văn 

fragment from Variation on a Theme by W. S. Merwin | Đoạn trích từ tác phẩm Variation on a Theme của WS Merwin

Coming to me out of mid-air*
not from swirling eddies
nor high altitude zephyrs
words appear for plucking and plopping
onto paper

Almost in formation
like jagged geese vee’s
direction clearly defined
inviting conversion
into verse

Who really knows
whether it’s poetry or prose
simply grateful
that I take notes
and pay attention

Những từ ngữ đến với tôi một cách bất ngờ,
không phải từ những vòng xoáy hay những cơn gió
nhẹ ở độ cao lớn, mà
chỉ để tôi nhặt
lên và đặt xuống
mặt
giấy.

Gần như xếp thành đội hình lượn sóng như đàn
ngỗng,
hướng đi hình chữ V được xác định rõ
ràng
, mời gọi sự chuyển hóa
thành thơ.

Ai mà biết được
đó là thơ hay văn xuôi,
chỉ biết ơn
vì mình đã ghi chép
và chú ý
thế thôi.

Source link 

Zimmerli Presents “Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993”

NEWS | FEATURES | PREVIEWS | EVENTS | originally published: 11/12/2021

Zimmerli Presents "Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993"

Georgii Senchenko, “Sacred Landscape of Pieter Bruegel,” 1988, oil on canvas. Gift of Robert L. and Ann R. Fromer.

(NEW BRUNSWICK, NJ) —  The exhibition Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993 explores the inventive new art styles by Ukrainian artists responding to a trying transitional period of perestroika (restructuring) during the collapse of the Soviet Union. On view at the Zimmerli Art Museum at Rutgers University now through March 13, 2022, the exhibition highlights an explosion of styles, rediscovered histories, and newly found freedoms that blossomed against economic scarcity and ecological calamity, creating an effect of baroque excess.Organized by guest research curator Olena Martynyuk, Ph.D. with assistance from Julia Tulovsky, Ph.D., the Zimmerli’s curator of Russian and Soviet Nonconformist Art, Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985-1993 is accompanied by a catalogue of the same title, co-published with Rutgers University Press. The public is invited to two free programs this fall: a hybrid curator-led tour on November 12, with an onsite tour that also will be livestreamed; and a roundtable on November 30, with Martynyuk, as well as an art critic and two art historians who specialize in Ukrainian art. Details are posted at zimmerli.rutgers.edu/events. In addition, an in-person exhibition reception is scheduled for February 26, 2022, with performances of Ukrainian musical pieces composed in the 1980s and early 1990s, recreating the cultural atmosphere of the time. Further information will be announced.“This exhibition captures and celebrates a moment of remarkable transformation in the art scene in late-Soviet Kyiv,” Martynyuk said. “With the lingering devastation of the 1986 Chernobyl nuclear catastrophe and imminent collapse of the Soviet Union, Kyiv was undergoing radical changes. Emerging Ukrainian art became a powerful agent in this transformation of the city from the provincial center of the Ukrainian Soviet Republic into a cultural capital.”Excessive in its expressive manner and color, Kyivan painting of the late 1980s and early 1990s produced a new quality in art, no longer defined by the dichotomy of official and unofficial art during the Soviet era (1922-1991). Such daring art had not been publicly visible since the avant-garde of the early 20th century. With some ideological restrictions lifted, artists were flooded with information on Western theories, from postmodernism to formalist abstraction.


Simultaneously, Ukrainian artists discovered chapters of local history that had been suppressed or deleted, as well as their decades-long exclusion from the global library of art. Thus, allusions to antique ruins and other spoils of Western culture abound in Ukrainian painting. Oozing symbolic meaning, large-scale canvases reflect their transitional moment, reconsidering the past and defining the future. The museum is pleased to showcase perhaps the most well-known work of this time, Georgii Senchenko’s wall-sized Sacred Landscape of Peter Bruegel (1988), an oil rendering of Bruegel’s ink drawing The Beekeepers and the Birdnester (1568). Restored for this exhibition, it had not been shown since the 1988 Moscow Youth exhibition, which for the first time presented the new Ukrainian art as a coherent stylistic and intellectual phenomenon.A section of the exhibition focuses on the Painterly Preserve, a collective founded in 1992. Members of the group were captivated by the contrast between the bountiful and beautiful Ukrainian landscape and the invisible nuclear threat contaminating it after the Chernobyl catastrophe. They also were preoccupied with history of the forbidden Ukrainian avant-garde of the early 20th century – an unfinished venture – and gravitated toward abstraction, even though they were aware that it was no longer the dominant global trend. Their formal explorations were often a gradual disassociation from storytelling and subject matter in painting. Midnight (1981) and Guest (1982), two oil paintings by Tiberiy Silvashi, the unofficial leader of the group, demonstrate the prevalence of the materiality of color that would soon overcome his rudimentary storytelling, transitioning into pure abstraction.The exhibition also provides historical context with a selection of works by artists who were active in Kyiv during the 1960s and 1970s. They experienced various degrees of recognition – and persecution – anticipating many subjects and themes that became relevant for the generation that emerged in the 1980s. Some artists, including Alla Horska and Opanas Zalyvakha, explored the previously forbidden avant-garde tradition and spoke openly about Communist injustices. However, many were considered to be dissident threats and were expelled from jobs or imprisoned, and their art was destroyed. Others, such as Oleksandr Dubovyk, were confined to semipublic shows, but deprived of state commissions and positions of power. Artists such as Valery Lamakh and Hryhorii Havrylenko practiced art entirely outside the system, in their private apartments without access to the public or institutional resources.Painting in Excess also represents the culmination of an important international collaboration that brings together more than 60 works of art, the majority of which have never been exhibited in the United States. A selection of paintings and works on paper is drawn primarily from the Zimmerli’s Norton and Nancy Dodge Collection of Nonconformist Art from the Soviet Union, supplemented by loans from the Abramovych Foundation, and a group of Ukrainian art collectors, facilitated by support from Tymofieyev Foundation. In addition, this is a rare opportunity to exhibit these 33 artists together, many of whom are the most well-known of their generation in Ukraine: Oleksandr Babak, Oleksander Hnylytskyj, Oleg Holosiy, Anatoly Kryvolap, Mykola Matsenko, Kostiantyn Reunov, Oleksandr Roitburd, Arsen Savadov, Marina Skugareva, Oleg Tistol, and Aleksander Zhyvotkov.Painting in Excess is the second exhibition focusing on Ukrainian art within the Dodge Collection. “These artists were very important to the late Norton Dodge, who spent more than three decades acquiring artwork from the former Soviet Union,” Tulovsky stated. “He was very eager to showcase collection’s vast number of works by Ukrainian artists, as they have not been widely represented in other exhibitions of art from the Soviet era.”Martynyuk also organized the museum’s first exhibition of Ukrainian art, Odessa’s Second Avant-Garde: City and Myth, in 2014, when she was a Dodge Fellow at the Zimmerli. She received her doctoral degree from Rutgers University in 2018 and currently is a Petro Jacyk Postdoctoral Research Fellow in Ukrainian Studies at the Harriman Institute of Columbia University.On view from November 6, 2021 through March 13, 2022, Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993 is organized by guest research curator Olena Martynyuk, Ph.D., with assistance from Julia Tulovsky, Ph.D., the Zimmerli’s curator of Russian and Soviet Nonconformist Art. The exhibition, related programs, and Dodge fellowships are made possible by the Avenir Foundation Endowment Fund and the Dodge Charitable Trust – Nancy Ruyle Dodge, Trustee, with additional support from the Abramovych Foundation and the Tymofieiev Foundation. The exhibition catalogue Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993, co-published with Rutgers University Press, received support from the Ukrainian Institute in Kyiv.

NORTON AND NANCY DODGE COLLECTION OF NONCONFORMIST ART FROM THE SOVIET UNION

The Zimmerli holds the largest collection in the world of Soviet nonconformist art, thanks to a remarkable 1991 donation from Norton and Nancy Dodge. Over 20,000 works by more than 1,000 artists reveal a culture that defied the strict, state-imposed conventions of Socialist Realism. This encyclopedic array of nonconformist art extends from about 1956 to 1991, from the beginning of Khrushchev’s cultural “thaw” to the dissolution of the Soviet Union. In addition to art made in Russia, the collection includes nonconformist art produced in the ethnically diverse Soviet republics of Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Turkmenistan, Ukraine, and Uzbekistan.


The Jane Voorhees Zimmerli Art Museum houses more than 60,000 works of art, with strengths in the Art of the Americas, Asian Art, European Art, Russian Art & Soviet Nonconformist Art, and Original Illustrations for Children’s Literature. The permanent collections include works in all mediums, spanning from antiquity to the present day, providing representative examples of the museum’s research and teaching message at Rutgers, The State University of New Jersey, which stands among America’s highest-ranked, most diverse public research universities. Founded in 1766, as one of only nine colonial colleges established before the American Revolution, Rutgers is the nation’s eighth-oldest institution of higher learning.Admission is free to the Zimmerli Art Museum at Rutgers. The museum is located at 71 Hamilton Street (at George Street) on the College Avenue Campus of Rutgers University in New Brunswick. The Zimmerli is a short walk from the NJ Transit train station in New Brunswick, midway between New York City and Philadelphia.


The Zimmerli Art Museum is open Wednesday and Friday, 11:00am to 6:00pm; Thursday, 11:00am to 8:00pm; Saturday and Sunday, noon to 5:00pm. The museum is closed Monday and Tuesday, as well as major holidays and the month of August. The café is open Monday and Tuesday, 8:30am to 2:30pm; Wednesday, 8:30am to 4:30pm; and Thursday, 8:30am to 7:30pm.For the most current information, including safety protocols, parking, and accessibility, visit zimmerli.rutgers.edu. For Rutgers updates, visit Universitywide COVID-19 Information.The Zimmerli’s operations, exhibitions, and programs are funded in part by Rutgers, The State University of New Jersey, and income from the Avenir Foundation Endowment and the Andrew W. Mellon Foundation Endowment, among others. Additional support comes from the New Jersey State Council of the Arts, as well as donors, members, and friends of the museum.

Zimmerli trình bày “Hội họa quá mức: Sự hồi sinh nghệ thuật của Kyiv, 1985–1993”

Georgii Senchenko, “Phong cảnh thiêng liêng của Pieter Bruegel”, 1988, sơn dầu trên vải. Quà tặng của Robert L. và Ann R. Fromer.

(NEW BRUNSWICK, NJ) — Triển lãm Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993 khám phá những phong cách nghệ thuật mới đầy sáng tạo của các nghệ sĩ Ukraine phản ứng với giai đoạn chuyển tiếp đầy thử thách của perestroika (tái cấu trúc) trong thời kỳ Liên Xô sụp đổ. Triển lãm sẽ diễn ra tại Bảo tàng Nghệ thuật Zimmerli thuộc Đại học Rutgers từ nay đến hết ngày 13 tháng 3 năm 2022, làm nổi bật sự bùng nổ của các phong cách, lịch sử được khám phá lại và những quyền tự do mới tìm thấy đã nở rộ trong bối cảnh kinh tế khan hiếm và thảm họa sinh thái, tạo nên hiệu ứng của sự dư thừa theo phong cách baroque.Được tổ chức bởi giám tuyển nghiên cứu khách mời Olena Martynyuk, Tiến sĩ với sự hỗ trợ của Tiến sĩ Julia Tulovsky, giám tuyển Nghệ thuật phi chính thống Nga và Liên Xô của Zimmerli,  Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985-1993  đi kèm với một danh mục cùng tên, được đồng xuất bản với Nhà xuất bản Đại học Rutgers. Công chúng được mời tham dự hai chương trình miễn phí vào mùa thu này: một chuyến tham quan kết hợp do giám tuyển dẫn đầu vào ngày 12 tháng 11, với một chuyến tham quan tại chỗ cũng sẽ được phát trực tiếp; và một cuộc thảo luận bàn tròn vào ngày 30 tháng 11, với Martynyuk, cũng như một nhà phê bình nghệ thuật và hai nhà sử học nghệ thuật chuyên về nghệ thuật Ukraine. Chi tiết được đăng tại  zimmerli.rutgers.edu/events . Ngoài ra, một buổi tiếp tân triển lãm trực tiếp được lên lịch vào ngày 26 tháng 2 năm 2022, với các buổi biểu diễn các bản nhạc Ukraine được sáng tác vào những năm 1980 và đầu những năm 1990, tái hiện bầu không khí văn hóa của thời đại đó. Thông tin chi tiết sẽ được thông báo.Martynyuk cho biết: “Triển lãm này ghi lại và tôn vinh khoảnh khắc chuyển đổi đáng chú ý trong bối cảnh nghệ thuật ở Kyiv cuối thời Liên Xô”. “Với sự tàn phá dai dẳng của thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986 và sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô, Kyiv đang trải qua những thay đổi triệt để. Nghệ thuật Ukraine mới nổi đã trở thành tác nhân mạnh mẽ trong quá trình chuyển đổi này của thành phố từ trung tâm tỉnh lỵ của Cộng hòa Xô viết Ukraine thành thủ đô văn hóa”.Quá mức về cách biểu đạt và màu sắc, hội họa Kyivan vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 đã tạo ra một chất lượng mới trong nghệ thuật, không còn được xác định bởi sự phân đôi giữa nghệ thuật chính thức và không chính thức trong thời kỳ Xô Viết (1922-1991). Nghệ thuật táo bạo như vậy đã không được công khai kể từ thời kỳ tiên phong của đầu thế kỷ 20. Với một số hạn chế về ý thức hệ được dỡ bỏ, các nghệ sĩ đã tràn ngập thông tin về các lý thuyết phương Tây, từ chủ nghĩa hậu hiện đại đến chủ nghĩa trừu tượng hình thức.Đồng thời, các nghệ sĩ Ukraine đã phát hiện ra những chương lịch sử địa phương đã bị che giấu hoặc xóa bỏ, cũng như sự loại trừ kéo dài hàng thập kỷ của họ khỏi thư viện nghệ thuật toàn cầu. Do đó, những ám chỉ đến tàn tích cổ xưa và các chiến lợi phẩm khác của nền văn hóa phương Tây tràn ngập trong hội họa Ukraine. Tràn ngập ý nghĩa tượng trưng, ​​những bức tranh sơn dầu khổ lớn phản ánh khoảnh khắc chuyển tiếp của họ, xem xét lại quá khứ và định nghĩa tương lai. Bảo tàng rất vui mừng được giới thiệu tác phẩm có lẽ là nổi tiếng nhất thời bấy giờ,  bức tranh Phong cảnh thiêng liêng của Peter Bruegel  (1988) có kích thước bằng bức tường của Georgii Senchenko, một bản vẽ sơn dầu về bức vẽ bằng mực của Bruegel  The Beekeepers and the Birdnester  (1568). Được phục hồi cho triển lãm này, tác phẩm này đã không được trưng bày kể từ triển lãm Thanh niên Moscow năm 1988, lần đầu tiên giới thiệu nghệ thuật mới của Ukraine như một hiện tượng trí tuệ và phong cách mạch lạc.Một phần của triển lãm tập trung vào Painterly Preserve, một nhóm được thành lập vào năm 1992. Các thành viên của nhóm đã bị cuốn hút bởi sự tương phản giữa cảnh quan tươi đẹp và trù phú của Ukraine và mối đe dọa hạt nhân vô hình đang làm ô nhiễm nơi này sau thảm họa Chernobyl. Họ cũng bận tâm đến lịch sử của phong trào tiên phong bị cấm đoán của Ukraine vào đầu thế kỷ 20 – một dự án còn dang dở – và hướng đến chủ nghĩa trừu tượng, mặc dù họ nhận thức rằng nó không còn là xu hướng toàn cầu thống trị nữa. Những khám phá chính thức của họ thường là sự tách biệt dần dần khỏi việc kể chuyện và chủ đề trong hội họa.  Midnight  (1981) và  Guest  (1982), hai bức tranh sơn dầu của Tiberiy Silvashi, người lãnh đạo không chính thức của nhóm, chứng minh sự phổ biến của tính vật chất của màu sắc, thứ sẽ sớm vượt qua cách kể chuyện thô sơ của ông, chuyển sang chủ nghĩa trừu tượng thuần túy.Triển lãm cũng cung cấp bối cảnh lịch sử với một số tác phẩm của các nghệ sĩ hoạt động tại Kyiv trong những năm 1960 và 1970. Họ đã trải qua nhiều mức độ công nhận khác nhau – và bị ngược đãi – dự đoán nhiều chủ đề và chủ đề trở nên phù hợp với thế hệ xuất hiện vào những năm 1980. Một số nghệ sĩ, bao gồm Alla Horska và Opanas Zalyvakha, đã khám phá truyền thống tiên phong bị cấm trước đây và nói công khai về sự bất công của Cộng sản. Tuy nhiên, nhiều người bị coi là mối đe dọa bất đồng chính kiến ​​và bị trục xuất khỏi công việc hoặc bị bỏ tù, và tác phẩm nghệ thuật của họ đã bị phá hủy. Những người khác, chẳng hạn như Oleksandr Dubovyk, bị giới hạn trong các buổi biểu diễn bán công khai, nhưng bị tước bỏ các ủy ban nhà nước và các vị trí quyền lực. Các nghệ sĩ như Valery Lamakh và Hryhorii Havrylenko thực hành nghệ thuật hoàn toàn bên ngoài hệ thống, trong căn hộ riêng của họ mà không được tiếp cận với các nguồn lực công cộng hoặc thể chế.Painting in Excess  cũng đại diện cho đỉnh cao của một sự hợp tác quốc tế quan trọng, quy tụ hơn 60 tác phẩm nghệ thuật, phần lớn trong số đó chưa từng được triển lãm tại Hoa Kỳ. Một số bức tranh và tác phẩm trên giấy được chọn chủ yếu từ Bộ sưu tập nghệ thuật phi chính thống Norton và Nancy Dodge của Zimmerli từ Liên Xô, được bổ sung thêm các khoản vay từ Quỹ Abramovych và một nhóm các nhà sưu tập nghệ thuật Ukraine, được hỗ trợ bởi Quỹ Tymofieyev. Ngoài ra, đây là một cơ hội hiếm có để triển lãm cùng nhau 33 nghệ sĩ này, nhiều người trong số họ là những người nổi tiếng nhất trong thế hệ của họ tại Ukraine: Oleksandr Babak, Oleksander Hnylytskyj, Oleg Holosiy, Anatoly Kryvolap, Mykola Matsenko, Kostiantyn Reunov, Oleksandr Roitburd, Arsen Savadov, Marina Skugareva, Oleg Tistol và Aleksander Zhyvotkov.Painting in Excess  là triển lãm thứ hai tập trung vào nghệ thuật Ukraine trong Bộ sưu tập Dodge. “Những nghệ sĩ này rất quan trọng đối với cố Norton Dodge, người đã dành hơn ba thập kỷ để mua tác phẩm nghệ thuật từ Liên Xô cũ,” Tulovsky nói. “Ông ấy rất háo hức giới thiệu số lượng lớn các tác phẩm của các nghệ sĩ Ukraine trong bộ sưu tập, vì chúng chưa được đại diện rộng rãi trong các triển lãm nghệ thuật khác từ thời Liên Xô.”Martynyuk cũng tổ chức triển lãm nghệ thuật Ukraine đầu tiên của bảo tàng,  Odessa’s Second Avant-Garde: City and Myth , vào năm 2014, khi cô là Dodge Fellow tại Zimmerli. Cô đã nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Rutgers vào năm 2018 và hiện là Nghiên cứu viên sau tiến sĩ Petro Jacyk về Nghiên cứu Ukraine tại Viện Harriman thuộc Đại học Columbia.Triển lãm từ ngày 6 tháng 11 năm 2021 đến ngày 13 tháng 3 năm 2022,  Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993  được tổ chức bởi giám tuyển nghiên cứu khách mời Olena Martynyuk, Tiến sĩ, với sự hỗ trợ của Julia Tulovsky, Tiến sĩ, giám tuyển Nghệ thuật phi chính thống của Nga và Liên Xô tại Zimmerli. Triển lãm, các chương trình liên quan và học bổng Dodge được thực hiện thông qua Quỹ tài trợ của Quỹ Avenir và Quỹ từ thiện Dodge – Nancy Ruyle Dodge, Người ủy thác, với sự hỗ trợ bổ sung từ Quỹ Abramovych và Quỹ Tymofieiev. Danh mục triển lãm  Painting in Excess: Kyiv’s Art Revival, 1985–1993 , đồng xuất bản với Nhà xuất bản Đại học Rutgers, đã nhận được sự hỗ trợ từ Viện Ukraina tại Kyiv.

BỘ SƯU TẬP NGHỆ THUẬT PHI CHUẨN CỦA NORTON VÀ NANCY DODGE TỪ LIÊN XÔ

Bảo tàng Zimmerli lưu giữ bộ sưu tập nghệ thuật phi chính thống lớn nhất thế giới của Liên Xô, nhờ vào khoản quyên góp đáng chú ý năm 1991 từ Norton và Nancy Dodge. Hơn 20.000 tác phẩm của hơn 1.000 nghệ sĩ cho thấy một nền văn hóa thách thức các quy ước nghiêm ngặt do nhà nước áp đặt của Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Mảng bách khoa toàn thư về nghệ thuật phi chính thống này kéo dài từ khoảng năm 1956 đến năm 1991, từ khi Khrushchev bắt đầu “tan băng” văn hóa cho đến khi Liên Xô tan rã. Ngoài nghệ thuật được thực hiện tại Nga, bộ sưu tập còn bao gồm nghệ thuật phi chính thống được thực hiện tại các nước cộng hòa Xô Viết đa dạng về mặt dân tộc là Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Turkmenistan, Ukraine và Uzbekistan.


Bảo tàng Nghệ thuật Jane Voorhees Zimmerli lưu giữ hơn 60.000 tác phẩm nghệ thuật, với thế mạnh là Nghệ thuật Châu Mỹ, Nghệ thuật Châu Á, Nghệ thuật Châu Âu, Nghệ thuật Nga & Nghệ thuật Liên Xô phi chính thống, và Minh họa gốc cho Văn học thiếu nhi. Các bộ sưu tập cố định bao gồm các tác phẩm ở mọi phương tiện, trải dài từ thời cổ đại đến ngày nay, cung cấp các ví dụ tiêu biểu về thông điệp nghiên cứu và giảng dạy của bảo tàng tại Rutgers, Đại học Tiểu bang New Jersey, một trong những trường đại học nghiên cứu công lập được xếp hạng cao nhất và đa dạng nhất của Hoa Kỳ. Được thành lập vào năm 1766, là một trong chín trường cao đẳng thuộc địa duy nhất được thành lập trước Cách mạng Hoa Kỳ, Rutgers là tổ chức giáo dục đại học lâu đời thứ tám của quốc gia.Bảo tàng nghệ thuật Zimmerli tại Rutgers miễn phí vé vào cửa. Bảo tàng nằm tại số 71 phố Hamilton (tại phố George) trong khuôn viên trường College Avenue của Đại học Rutgers ở New Brunswick. Zimmerli cách ga tàu NJ Transit ở New Brunswick một đoạn đi bộ ngắn, giữa Thành phố New York và Philadelphia.Bảo tàng nghệ thuật Zimmerli mở cửa vào thứ Tư và thứ Sáu, từ 11:00 sáng đến 6:00 chiều; thứ Năm, từ 11:00 sáng đến 8:00 tối; thứ Bảy và Chủ Nhật, từ trưa đến 5:00 chiều. Bảo tàng đóng cửa vào thứ Hai và thứ Ba, cũng như các ngày lễ lớn và tháng Tám. Quán cà phê mở cửa vào thứ Hai và thứ Ba, từ 8:30 sáng đến 2:30 chiều; thứ Tư, từ 8:30 sáng đến 4:30 chiều; và thứ Năm, từ 8:30 sáng đến 7:30 tối.Để biết thông tin mới nhất, bao gồm các giao thức an toàn, bãi đậu xe và khả năng tiếp cận, hãy truy cập  zimmerli.rutgers.edu . Để biết thông tin cập nhật của Rutgers, hãy truy cập  Thông tin COVID-19 trên toàn trường đại học .Các hoạt động, triển lãm và chương trình của Zimmerli được tài trợ một phần bởi Rutgers, Đại học Tiểu bang New Jersey và thu nhập từ Quỹ Avenir và Quỹ Andrew W. Mellon, cùng nhiều nguồn khác. Hỗ trợ bổ sung đến từ Hội đồng Nghệ thuật Tiểu bang New Jersey, cũng như các nhà tài trợ, thành viên và bạn bè của bảo tàng.

Source link

Hành trình di sản Tản Viên Sơn, nối lại mạch nguồn văn hóa

Trang bìa cuốn “Đại hóa thần kinh” in dưới thời vua Thành Thái.
Trang bìa cuốn “Đại hóa thần kinh” in dưới thời vua Thành Thái.

Đất nước Việt Nam ta vừa trải qua một thời kỳ chiến tranh kéo dài, cộng với những biến động đột ngột của xã hội, dẫn đến hàng loạt những đứt gãy trong các lĩnh vực văn hóa. Mối liên hệ giữa văn hóa truyền thống và hiện đại trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

1. Sự đứt gãy văn hóa ấy có thể dễ thấy nhất là trong văn hóa vật chất như thay đổi hoàn toàn phong cách kiến trúc nhà ở truyền thống; trong hình thức quần áo xưa và nay đã thật khác xa nhau. Đó là đứt gãy mối liên hệ trong văn tự, khi mà chữ Nho tượng hình vốn là chữ viết sử dụng từ lâu đời của người Việt đã được La tinh hóa, dẫn đến thế hệ trẻ ngày nay không còn đọc được những gì cha ông mình để lại trong các văn bản, trong các di tích. Đứt gãy về tinh thần giữa quan niệm vô thần biện chứng của phương Tây bao trùm lên nền văn hóa đa thần lâu đời của người Việt. Đứt gãy về tổ chức xã hội, nơi mà cơ cấu làng xã truyền thống đã được thay bằng thể chế hành chính từ trung ương xuống địa phương…

Trong bối cảnh ấy, để có thể xây dựng một nền văn hóa Việt đậm đà bản sắc dân tộc, chắc chắn cần tìm lại những gì mà cha ông chúng ta đã để lại, đó chính là các di sản văn hóa. Chỉ khi nhìn nhận đúng vai trò của di sản văn hóa, chúng ta mới có cơ hội nối lại mạch nguồn với quá khứ, để hướng tới một tương lai vững vàng và thịnh vượng hơn.

Các tiên nhân trên núi. Chạm khắc đình Tây Đằng
Các tiên nhân trên núi. Chạm khắc đình Tây Đằng

Di sản văn hóa làng xã trước hết ngưng đọng trong các di tích thờ tự của làng xã. Ở mỗi một làng Việt xưa đều có một hệ thống các di tích của gồm đình, đền, miếu, chùa, có sự liên kết chặt chẽ với nhau thông qua tín ngưỡng đối với các vị thần được tôn thờ. Một trong những linh thần hàng đầu của tín ngưỡng làng xã ở miền Bắc, đó là Tản Viên Sơn Thánh. Cho dù đây là vị thần quan trọng bậc nhất trong thần điện Việt, nhưng lại rất ít người biết đến và hiểu rõ. Phần lớn người Việt chỉ biết về Thánh Tản một cách sơ sài qua câu chuyện huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh. Trên thực tế tín ngưỡng thờ Sơn Thánh đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, để lại những di sản văn hóa đồ sộ vô giá ở rất nhiều làng xã người Kinh cũng như người dân tộc, miền núi cũng như đồng bằng trên miền Bắc Việt. Ý nghĩa của những di sản này không chỉ dành cho những người hoài cổ, mà vẫn đang sống động trong tâm thức làng xã và nhân dân. Đi sâu vào tìm hiểu những di sản của tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn Thánh cho ta một nhận thực đầy đủ hơn về giá trị của di sản văn hóa với đời sống hôm nay.

Trên hành trình di sản của Tản Viên Sơn Thánh, đầu tiên chúng tôi tìm về đền Lăng Sương ở xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ. Đây là nơi gắn với truyền thuyết bà mẹ họ Đinh đi cấy ruộng, gặp rồng vàng phun nước, đứng trên bàn đá mà sinh hạ Nguyễn Tuấn (Sơn Thánh) bên giếng. Lúc bà sinh nở, có hổ đến ngậm đá chèn bụng để giúp đỡ đẻ. Những di vật hòn đá dựa, giếng nước rồng, hổ thú đá nay vẫn còn ở trước sân đền Lăng Sương như những minh chứng xác thực cho sự tích này. Bà mẹ Thánh Tản sau trở thành bà chúa Thượng Ngàn cai quản Sơn Lâm Nhạc phủ. Còn Nguyễn Tuấn, một con người có thật đã ra đời, để rồi bước vào cõi huyền thoại của những trang lịch sử đầu tiên của người Việt.

Tảng đá quỳ nơi sinh Thánh Tản ở đền Lăng Sương.
Tảng đá quỳ nơi sinh Thánh Tản ở đền Lăng Sương.

“Tinh thần cốt cách ngọc Lăng Sương

Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương

Thái Thủy cũng là Thiên Thượng Mẫu 

Hoài thai lâu lạ khác bao thường”

2. Truyện núi Tản Viên trong “Lĩnh Nam chích quái” kể Sơn Thánh có tên là Hương Lang, là người con cả trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi. Mẹ Âu Cơ quê cũng ở động Lăng Sương, tức chính là Đinh Phi Thánh Mẫu, người đã sinh ra Thánh Tản ở đây. Đền Lăng Sương là di tích cho thấy Tản Viên Sơn Thánh có nguồn gốc quê quán, có cha mẹ rõ ràng, không phải là sự thần thánh hóa tín ngưỡng thờ núi như quan niệm sai của nhiều người.

Di sản thứ hai mà chúng tôi tìm đến là đình La Phù nằm trong cùng huyện Thanh Thủy của Phú Thọ. Đình thờ Tản Viên Sơn Thánh cùng với Động Đình Tang Ma Thánh Mẫu họ Phan và người con thứ ba của Thánh mẫu. Hàng năm cứ vào ngày 12 tháng Giêng dân làng La Phù lại mở hội xuân. Đặc biệt trong ngày hội có trò cướp cây bông, diễn lại tích Tản Viên Sơn Thánh vào làng luyện quân đi đánh giặc Thục từ thời Hùng Vương. Di sản lễ hội này thật sôi nổi hấp dẫn, độc đáo, mang ý nghĩa rèn trí, luyện sức, đua tài, giúp gắn kết cộng đồng trong làng xã cũng như với du khách thập phương.

Tượng đá cổ Tản Viên Sơn Thánh ở đền Thượng Ba Vì.
Tượng đá cổ Tản Viên Sơn Thánh ở đền Thượng Ba Vì.

Làng La Phù cũng là nơi có bãi dâu gai (Tang Ma) hay bãi Trường Sa bên bờ sông Đà, là nơi cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ đã gặp gỡ nhau trong truyền thuyết họ Hồng Bàng, mở đầu cho huyền sử Việt. Theo ngọc phả Lăng Sương thì đây cũng là nơi mà Tản Viên Sơn Thánh đã cứu sống con rắn thần, con của Long Vương Động Đình, để lại những lời thơ đầy lưu luyến tình cảm:

“Không gặp làm sao có kiếp sinh

Khi đi là nghĩa, về là tình,

Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng

Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành

Một dải âm dương đôi tách ngả

Chín trời mây nước mộng ba canh

Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi

Tương tư chốn ấy bởi xa tình”

Trong những di sản văn hóa của tục thờ Tản Viên Sơn Thánh thì các thần tích và ngọc phả đóng một vai trò hết sức quan trọng. Số lượng các làng thờ Tản Viên Sơn Thánh có tới hàng trăm, mỗi làng lại có một cách kể sự tích Thánh riêng nên cũng có hàng trăm bản thần tích về Sơn Thánh. Bản thần tích dài nhất trong số này là ngọc phả của sách Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ. Tuy nhiên ngọc phả này hiện chỉ còn lưu được bản sao trong các thư viện trung ương. Ngay địa danh “sách Tang Ma” trên thực tế đã được chia thành các xã khác nhau của huyện Thanh Thủy, không còn giữ tên xưa. Các ngôi đình cổ thờ Tản Viên Sơn Thánh và Đinh Phi Thánh mẫu ở các xã này đã bị tiêu hủy trong chiến tranh, nay mới được dựng lại một cách sơ sài.

Di tích đền miếu mất mát qua biến động của thời gian. Chữ viết tượng hình xưa dân làng nay không ai biết đọc. Mối liên hệ với tín ngưỡng làng xã trong quá khứ tưởng chừng như đã mất. Nhưng ngọc phả vẫn còn. Những câu chuyện hay, ý nghĩa về Thánh vẫn còn lưu truyền. Trong ngọc phả sách Tang Ma kể rất chi tiết về suy nghĩ và hành động của Thánh Tán báo hiếu 2 bà mẹ đẻ và mẹ nuôi của mình. Sơn Thánh nhờ lòng chí hiếu đó mà cảm động được thần tiên, được ban cho gậy thần mà trở thành Thần sư.

“Theo trời là Tiên, người là Thánh

Trung thần với nước, hiếu gia đường”

Hay được nói đến nhiều nhất khi kể về di sản làng xã là những ngôi đình cổ kính với những mái đao chồng diêm bay bổng và nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh tế. Nhưng ít ai để ý rằng, những ngôi đình xứ Đoài (Sơn Tây) nổi tiếng nhất như đình Tây Đằng, đình Thụy Phiêu, đình Tường Phiêu, đình Quang Húc, đình Đông Viên… đều là những nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh. Những bức chạm cá hóa rồng, voi lồng, hươu nai… thực ra đều gắn với sự tích của Thánh Tản. Chỗ là Thánh dạy dân cày ruộng, đánh cá, săn bắn, chỗ là dậy hát múa, hội hè… Đối với người dân xứ Đoài, Tản Viên Sơn Thánh là vị phúc thần đã mang lại những điều tốt đẹp nhất cho cuộc sống của họ, đúng như lời mong ước trong bản diễn ca sự tích Tản Viên Sơn Thánh của làng Vật Lại (Ba Vì) đã nêu:

“Ước nên thiên hạ bình an

Ước nên bốn bể phượng loan một nhà

Ước nên phong vũ thuận hòa

Được mùa bách cốc nhà nhà đủ no”

3. Di sản của Tản Thánh không chỉ dừng lại ở xứ Đoài. Ngay ở đình Chèm, ngôi đình cổ kính tầm bậc nhất của Hà Nội cũng là nơi có sự tích gắn với Thánh Tản. Đình Chèm thờ một trong Tứ linh thần đất Việt “Hương Bổng Đổng Đằng”, mà thần Hương chính là Hương Lang hay Tản Viên Sơn Thánh. Đây có lẽ cũng là nơi mà vị “phong thủy vương” Cao Biền thời Đường đã chịu thảm bại trước Tản Viên Sơn Thánh, phải than rằng: “Linh khí ở phương Nam không thể lường được. Cái vượng khí đời nào hết được!”.

Đình cổ Tường Phiêu.
Đình cổ Tường Phiêu.

Không chỉ là các đình làng, di tích về Tản Viên Sơn Thánh còn là một hệ thống các đền thờ và nhất là các hành cung, tức là những di tích được lập tại những nơi mà Thánh đã thường ghé qua. Lớn nhất trong Ngũ hành cung Tản Viên là Đông cung đền Và ở thị xã Sơn Tây. Theo thần tích thì Đông thần cung là nơi các quan thần yết kiến Thánh Tản. Tại đây Tản Viên Sơn Thánh đã thực sự trở thành vị Vua tối cao của đất nước, nắm đại quyền thiên hạ.

Đền Và có thể coi là một di sản văn học bởi đền có rất nhiều những bức hoành phi, câu đổi cổ, tất cả đều cùng một chủ đề ca ngợi công đức và tôn sùng Tản Viên Sơn Thánh. Một câu đối rất hay của đền Và đã khái quát về Thánh như sau:

“Thần tôn là thiêng, đất tôn là thiêng, cũng người tôn mà thành thiêng, cung Đông trấn Tây cao ngất

Núi được thành thuật, sông được thành thuật, nay muốn được xem thành thuật, gậy thần sách ước diệu kỳ”

Cái linh khí của bậc Tiên Thánh ấy là từ Trời, từ Đất và nhất là từ Con người, từ dân gian tôn mà thành thiêng. Di sản tín ngưỡng thờ thần thánh của người Việt bắt nguồn từ chính dân gian, từ chính làng xã Việt.

Nói về di sản văn hóa về Sơn Thánh không thể không nói đến núi Tản Viên, ngọn núi thiêng vào bậc nhất của nước Nam. Đền Thượng trên đỉnh Ba Vì là nơi chàng trai trẻ Nguyễn Tuấn ngày nào đốn củi, gặp được Thái Bạch Tử Vi Thiên Tướng, lãnh hội được cây gậy của thần mà trở thành vị thần đứng đầu Tứ bất tử trời Nam. Hiện cổ vật của đền Thượng là 3 pho tượng đá không biết có từ bao giờ, thể hiện Tản Viên Sơn Thánh, lão tiên Thái Bạch Kim Tinh và Tá Thánh Thiên Thần núi Ba Vì. Tư tưởng của Đạo Giáo về các tiên nhân phiêu du trên miền rừng núi được thể hiện rất rõ trong sự tích của Tản Viên Sơn Thánh.

Bài thơ về núi Thu Tinh, nơi có long mạch đã sinh ra Tam Vị Tản Viên Sơn Thánh, luận về việc này:

“Từ đế vương cùng muôn triệu dân

Quay về sẽ phải tụ tinh thần

Sự truyền khó luận chân hay ảo

Nhớ tên núi đó, lẽ như chân”

4. Tín ngưỡng đối với Sơn Thánh đã không còn là chỉ là đền miếu dân gian mà đã đi vào kinh sách của Tam Giáo. Một trong những cuốn kinh về Tản Thánh của phong trào thiện đàn Tam Giáo thời nhà Nguyễn là Đại hóa thần kinh, với bài trùng đính ngọc phả Thánh Tản của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lời của Đại hóa thần kinh ghi:

“Thượng Đế sắc phong [Thánh Tản] làm Nam Nhạc thần, nắm quyền Nam Tào Bắc Đẩu, là chủ của vạn thần nước Nam. Tất cả việc nối ngắt các triều đại, hóa sinh của người vật, không có gì là không thuộc quyền xét của Thánh, là đại diện phân xử chính. Đến nay việc ra vào đi đứng, ăn uống trang phục đều như lúc còn sống. Trong các thần bất tử nước Nam thì Tản Thánh ta là đứng đầu”.

Trang bìa cuốn “Đại hóa thần kinh” in dưới thời vua Thành Thái.
Trang bìa cuốn “Đại hóa thần kinh” in dưới thời vua Thành Thái.

Tín ngưỡng đối với Tản Viên Sơn Thánh như thế đã lên đến hàng đầu trong văn hóa bách thần nước Nam.

Một câu chuyện có thực về vai trò của di sản Sơn Tinh trong đời sống ngày nay từng xảy ở xã Đông Xuân, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Nơi đây xưa vốn là xã Bằng Lộ thuộc châu Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình, là nơi sinh sống của đồng bào người Mường. Trước đây tại đình làng Bằng Lộ người Mường thờ Quốc mẫu Vua Bà, là mẹ đẻ của Thánh Tản. Tuy nhiên, trong chiến tranh giặc Pháp đã phá đình lấy gạch đá để xây lô cốt. Ngôi đình hàng tổng xưa đã bị hủy trong gần trăm năm, nhưng người dân Bằng Lộ vẫn đau đáu muốn khôi phục lại tục thờ Quốc mẫu Vua Bà. Cho dù không còn gì để làm căn cứ chính thống, nhưng nhân dân xã Đông Xuân cùng với chính quyền xã đã “mạnh dạn” góp nhau cùng dựng lại một gian thờ ở chỗ nền đình xưa. Rất may, sau đó xã Đông Xuân lại tìm được bộ bản sao các thần sắc từ năm 1938 của làng Bằng Lộ lưu trong Thư viện Khoa học xã hội. Với căn cứ di sản là các sắc phong cổ, ngôi đình xưa đã được dựng lại một cách chính thức và công nhiên. Nhu cầu văn hóa tín ngưỡng được đáp ứng trong niềm hoan hỉ của người dân.

Những câu chuyện như ở xã Đông Xuân hiện nay không phải hiếm gặp trong các làng xã cổ. Rất nhiều trường hợp chỉ bằng những di sản như một bản thần tích, một đạo sắc phong, một tấm bia đá, một bức tượng gỗ… cũng đủ để làng xã khôi phục lại cả một công trình tín ngưỡng và lễ hội truyền thống. Di sản văn hóa lúc này là mạch nối giữa quá khứ với hiện tại, là chỗ dựa cho bản sắc văn hóa vật chất và tinh thần làng xã, cho tư tưởng tín ngưỡng của nhân dân và cho cả lịch sử chân xác hàng ngàn năm của dân tộc vẫn đang còn ẩn chứa trong dân gian.

Source link 

Dấu hỏi về mục đích truyền thông khoa học

Five Points, Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan .
Five Points, Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan .
        Trong bài viết của mình, tác giả Roger Schonfeld lập luận rằng, sự cởi mở và chính trị hóa cùng nhau đã khiến niềm tin của công chúng vào khoa học bị xói mòn. Ngành truyền thông học thuật cần một hướng đi mới.          

Hoạt động truyền thông được nhìn nhận như một mảng quan trọng trong hoạt động khoa học-công nghệ. Tuy nhiên, trong môi trường hiện đại ngày nay, khi việc cá nhân tiếp cận khoa học qua mạng internet trở nên phổ biến, hoạt động truyền thông khoa học – công nghệ ở nhiều nơi dần mất đi mục đích truyền đạt kiến thức khoa học. Thay vào đó là những thông tin sai lệch, bị chính trị hóa, khiến khoa học trở nên lệch lạc trong mắt công chúng.

Dấu hỏi về mục đích truyền thông khoa học
Nguồn: Rappler.com

Khoa học là một quá trình khám phá hướng tới sự thật và đòi hỏi sự tìm tòi, tư duy phản biện, thí nghiệm, chỉnh sửa và thậm chí cạnh tranh. Nếu được thực hiện chuẩn chỉnh, cả quá trình khai phá sự thật sẽ có tính tin cậy. Có thể có một số nhà nghiên cứu và công trình vi phạm các chuẩn mực, nhưng cả quá trình sẽ vén màn sự thật.

Từng bước khai phá sự thật thông qua các quá trình chỉnh sửa và tìm lỗi là mô hình tốt khi mà các nhà khoa học thảo luận với nhau. Nhưng trong môi trường ngày nay, truy cập mở đưa các công trình khoa học vào các cuộc thảo luận của công chúng, trong khi khoa học vẫn chưa sẵn sàng để làm điều đó.

Ở các thời đại trước, ranh giới giữa truyền thông khoa học với đồng nghiệp và công chúng không mỏng manh như hiện nay. Trong hơn hai thập kỷ qua, lý do lớn nhất đằng sau xu hướng truy cập mở là công chúng có thể truy cập và bàn luận các công trình khoa học. Và khi chúng ta bắt đầu hiểu được những hệ quả sâu hơn của quá trình truy cập mở, thì chúng ta cần biết làm sao có thể giải quyết chúng có hệ thống.

Một trong những lợi ích lớn nhất của phong trào truy cập mở là mọi người có thể truy cập vào nghiên cứu đã được bình duyệt và chưa được bình duyệt. Theo đó, những mẩu trao đổi giữa các đồng nghiệp không chỉ được công khai cho người dân, mà còn được công khai cho những kẻ đang trực chờ phao các thông tin sai lệnh. Ngoài ra, hệ thống xuất bản khoa học – các biên tập viên và nhà xuất bản vừa chịu trách nhiệm điều phối công tác bình duyệt, vừa chịu trách nhiệm để công chúng có thể truy cập nghiên cứu. Như vậy, họ vừa bị bóc lột ở thượng nguồn, vừa phải vật lộn với truyền thông cho công chúng và tin giả ở hạ nguồn, điều trước đây nằm ngoài phạm vi của họ. Và nay, các nhà xuất bản còn bị chèn ép hơn vì các kết quả nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí.

Chính trị hóa

Đại dịch COVID-19 không chỉ thách thức truyền thông khoa học công khai mà còn bào mòn niềm tin của truyền thông đại chúng vào khoa học. Bằng chứng là những luồng ý kiến trái chiều xung quanh việc phát triển vắc-xin. Trong khi nhiều báo cho rằng, các khoản đầu tư công đáng kể vào nghiên cứu khoa học, bao gồm cả khoa học vắc-xin, đã cung cấp các biện pháp để ngăn chặn sự lây lan của đại dịch thì nhiều thông tin lại phản bác những lợi ích của vắc-xin. Hệ quả của việc trái chiều trong dư luận là nhiều người vẫn do dự trong việc tiêm chủng do tiếp nhận những tin từ những nguồn không chính thống. Cần có các chiến lược để chống lại sự chia rẽ này, tạo niềm tin của công chúng vào khoa học.

Gian lận trong nghiên cứu khoa học và xuất bản

Bản thân khoa học không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Thêm vào đó, tình trạng “chạy theo thành tích khoa học” dựa trên công bố quốc tế càng làm cho những hành vi trái đạo đức khoa học và gian lận ngày càng tăng. Thậm chí có cả những “tổ chức gian lận” thao túng hồ sơ khoa học nhằm tư lợi. Điển hình có thể kể đến là những nhà xuất bản săn mồi – chấp nhận các bài báo để xuất bản – cùng với phí xuất bản cao – mà không thực hiện phản biện, thậm chí là không kiểm tra cả các vấn đề như đạo văn hoặc phê duyệt đạo đức. Cho dù cá nhân, tổ chức hay hệ thống, tất cả những điều này đều là những mối đe dọa đối với tính toàn vẹn của khoa học.

Đâu là hướng đi cho các nhà xuất bản khoa học?

Mặc dù có những vấn đề không phải do lĩnh vực xuất bản gây ra, nhưng cuối cùng thì xuất bản học thuật là những người trực tiếp truyền thông khoa học, cung cấp cơ sở cho sự tin tưởng của công chúng vào khoa học.

Để cung cấp cho người dùng trải nghiệm liền mạch và có giá trị, điều này đòi hỏi các nhà xuất bản phải mở rộng suy nghĩ của mình về vi phạm bản quyền như một rủi ro kinh doanh và coi nó như một thách thức chiến lược trong việc đảm bảo một môi trường thông tin đáng tin cậy. Bên cạnh đó, việc các nhà xuất bản có thể xây dựng, cung cấp hồ sơ khoa học đáng tin cậy sẽ góp phần xây dựng lại lòng tin của công chúng đối với tổ chức khoa học cũng như giảm đáng kể các sự cố về gian lận khoa học và hành vi sai trái.

Nguyễn Thị Linh (AISDL) lược dịch

(từ bài viết của Roger Schonfeld tại https://scholarlykitchen.sspnet.org/2021/11/01/is-scientific-communication-fit-for-purpose)

Roger C. Schonfeld

Roger C. Schonfeld là giám đốc điều hành của Dịch vụ Quản lý Kỹ thuật số JSTOR. Ra mắt vào năm 2025, JSTOR Stewardship là một dịch vụ cho phép các thư viện quản lý, bảo quản và cung cấp quyền truy cập vào kho lưu trữ và các bộ sưu tập đặc biệt của mình, với những cơ hội chuyển đổi mạnh mẽ để đẩy nhanh năng suất xử lý bộ sưu tập, đồng thời tăng cường việc sử dụng và tác động của bộ sưu tập. Roger cũng chịu trách nhiệm về chiến lược tổ chức tổng thể của ITHAKA. Hiện ông là thành viên hội đồng quản trị của Trung tâm Thư viện Nghiên cứu và viết bài cho Scholarly Kitchen. Ông có bằng Cử nhân Văn học Anh và Khoa học Thư viện và Thông tin từ các trường Đại học Yale và Syracuse.

Tài liệu tham khảo:

[1] Linh, N. (2021). Thủ đoạn lừa đảo mới của các “nhà xuất bản săn mồi”: Đánh cắp bài viết và thay đổi thông tin!. Retrieved 4 November 2021, from https://kinhtevadubao.vn/thu-doan-lua-dao-moi-cua-cac-nha-xuat-ban-san-moi-danh-cap-bai-viet-va-thay-doi-thong-tin-19966.html

[2] Lê, P. (2013). Gian lận trong nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều. Retrieved 9 November 2021, from https://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/gian-lan-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-ngay-cang-nhieu-7056

Source link 

Five Points, 
Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan .

Five Stages Of Reading Development

5 GIAI ĐOẠN CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Bởi  | 


Learning to read doesn’t just happen. It has to be taught through systematic, organized instruction. Reading is a skill which is built upon through stages and is an ongoing process. / Học đọc không chỉ xảy ra. Nó phải được dạy thông qua hướng dẫn có hệ thống, có tổ chức. Đọc là một kỹ năng được xây dựng dựa trên các giai đoạn và là một quá trình liên tục.

If a stage of reading development has not been learned, students will flounder in their reading ability, which also affects their writing skills. It is imperative that teachers make certain students fully understand each stage of the reading/writing process before they move on to the next level. / Nếu một giai đoạn phát triển đọc chưa được học, học sinh sẽ lúng túng trong khả năng đọc của họ, điều này cũng ảnh hưởng đến kỹ năng viết của họ. Điều bắt buộc là giáo viên phải làm cho một số học sinh hiểu đầy đủ từng giai đoạn của quá trình đọc / viết trước khi họ chuyển sang cấp độ tiếp theo.

Jean Chall, world renowned reading expert and psychologist for fifty years, and past professor emeritus at Harvard University cites her five stages of reading development below:/ Jean Chall, chuyên gia đọc sách và nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới trong năm mươi năm, và giáo sư danh dự trước đây tại Đại học Harvard trích dẫn năm giai đoạn phát triển đọc của cô dưới đây:

Pre-reading Stage: / Giai đoạn đọc trước:

Unsystematic accumulation of understandings about reading between pre-school and kindergarten. / Tích lũy không hệ thống của sự hiểu biết về đọc giữa mầm non và mẫu giáo.

Stage 1: / Giai đoạn 1:

Initial Reading or Decoding Stage (grades 1-2; Ages 6-7 )/ Giai đoạn đọc hoặc giải mã ban đầu (lớp 1-2; Độ tuổi 6-7 )

Student’s central task is learning arbitrary letters and associating them with corresponding parts of spoken words. Learner acquires knowledge about reading. Phonics. / Nhiệm vụ trung tâm của học sinh là học các chữ cái tùy ý và liên kết chúng với các phần tương ứng của các từ nói. Người học có được kiến thức về đọc. Phonics.

Stage 2: / Giai đoạn 2:

Confirmation, Fluency, Ungluing from Print, Automaticity Stage (grades 2-3; Ages 7-8) / Xác nhận, lưu loát, Ungluing từ In, Giai đoạn Tự động (lớp 2-3; Độ tuổi từ 7-8)

Consolidation of what was learned in Stage 1. Requires reading many easy and familiar books for developmental reading. Gradual increase in functional and recreational reading. Common use of the basal readers. Functional reading important – content area texts – here’s where we fail in our attempts to prepare our students. Range of possible recreational reading increases. / Hợp nhất những gì đã học được trong giai đoạn 1. Đòi hỏi phải đọc nhiều cuốn sách dễ dàng và quen thuộc để đọc phát triển. Tăng dần trong việc đọc chức năng và giải trí. Sử dụng phổ biến của các độc giả cơ bản. Đọc chức năng quan trọng – văn bản khu vực nội dung – đây là nơi chúng tôi thất bại trong nỗ lực chuẩn bị cho học sinh của chúng tôi. Phạm vi đọc giải trí có thể tăng lên.

Stage 3: / Giai đoạn 3:  

Reading for Learning the New Stage: A First Step (Grades 4-8; ages 9-13) / Đọc để học giai đoạn mới: Bước đầu tiên (lớp 4-8; tuổi từ 9-13)

Readers need to bring prior knowledge to their reading. Children acquire facts. / Người đọc cần mang kiến thức trước vào việc đọc của họ. Trẻ em có được sự thật.

Stage 4: / Giai đoạn 4:

Multiple Viewpoints Stage: (High School; Ages 14-18) / Giai đoạn nhiều quan điểm: (Trung học; Độ tuổi từ 14-18)

Should include instruction in reading/study skills, and reading strategies for success. / Nên bao gồm hướng dẫn về kỹ năng đọc / học và chiến lược đọc để thành công.

Stage 5: / Giai đoạn 5:

Construction & Reconstruction Stage: (College; Ages 18 & up) / Giai đoạn xây dựng và tái thiết: Cao đẳng; Từ 18 tuổi trở lên)

Adult literacy should stress acquisition of skills useful to the participants and the ability to apply those skills. / Kiến thức của người lớn nên nhấn mạnh việc tiếp thu các kỹ năng hữu ích cho những người tham gia và khả năng áp dụng những kỹ năng đó.

These are the stair steps of reading development. They are built upon and climbed, as students grow in their literacy development. Sometimes students get stuck in one of the stages. It’s my job as a literacy specialist to “unstick” them so they can move on to the next phase and beyond, empowering them to become enthuiastic readers and writers. / Đây là những bước chân cầu thang của sự phát triển đọc. Chúng được xây dựng và leo lên, khi học sinh phát triển trong sự phát triển đọc viết của họ. Đôi khi học sinh bị mắc kẹt trong một trong những giai đoạn. Công việc của tôi là một chuyên gia xóa mù chữ là “cởi trói” cho họ để họ có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo và hơn thế nữa, trao quyền cho họ trở thành độc giả và nhà văn enthuiastic.

Copyright © 2006 by Pamela Beers. All rights reserved. / Bản quyền © 2006 của Pamela Beers. Tất cả các quyền được bảo lưu.


Pamela Beers là một nhà văn tự do, nhà giáo dục và huấn luyện viên ngựa. Công việc của cô với tư cách là một chuyên gia đọc viết, sử dụng các giai đoạn đọc của Jeanne Chall, đã thay đổi độc giả bất đắc dĩ thành độc giả nhiệt tình bằng cách đảm bảo mỗi học sinh hiểu các kỹ năng cần thiết trong mỗi giai đoạn đọc.

Bài viết này được viết để tưởng nhớ Jeanne Chall có những lời dạy không thể đo lường được.

Truy cập trang web của Pamela: [http://www.FreelanceWritingEtc.com]

<

p style=”text-align: justify;”>

Source by Pamela Beers