Tuần báo Văn Nghệ (1981-1982) diễn ra trong bối cảnh “đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/ bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng” (thơ Trần Đăng Khoa). Dư âm cuộc kháng chiến chống Mỹ còn đó. Biên giới phía Bắc và biên giới phía Tây Nam chưa yên tiếng súng. Chất anh hùng ca vẫn là âm hưởng chính trong các sáng tác văn học nghệ thuật. Nhà thơ Hữu Thỉnh nhớ lại: Giữa một rừng bài thơ chiến đấu ca ngợi chủ nghĩa anh hùng, nổi lên “Hai nửa vầng trăng”. Bài thơ đã qua vòng sơ khảo để vào chung khảo. Ban chung khảo gồm có nhà thơ Xuân Diệu (trưởng ban) nhà thơ Tế Hanh, nhà thơ Phạm Tiến Duật, tôi và một số nhà thơ khác. Tất cả đều ấn tượng mạnh với “Hai nửa vầng trăng”. Ở thời điểm đó, hoàn cảnh đất nước vô cùng khó khăn. Những câu chuyện tình yêu đôi lứa dường như vừa xa xỉ vừa xa lạ. Ban chung khảo đã có 6 cuộc thảo luận và ý kiến ban đầu là không đưa vào giải thưởng. Nhưng càng đọc thì càng thấy rằng không thể để bài thơ này ở ngoài giải thưởng…
“Hai nửa vầng trăng” nằm trong di cảo Hoàng Hữu để lại. Khi biết có cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ, bạn bè ông ở Phú Thọ đã gửi bài thơ đi. Chính họ cũng không ngờ bài thơ lại đoạt giải cao và sau này được bạn đọc yêu mến, đón nhận rộng rãi đến vậy. Bác sỹ Nguyễn Tiến Thắng, người theo sát bệnh tình của nhà thơ cho biết, Hoàng Hữu bị hẹp van hai lá, suy tim độ 3. Ở thời điểm những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỉ trước, thuốc men, lương thực thực phẩm thiếu thốn, một trái tim yếu đuối như trái tim Hoàng Hữu có thể khiến ông ra đi bất cứ lúc nào. Và trên đường từ Việt Trì xuống Vĩnh Yên đón vợ con, Hoàng Hữu đã mất trên tay bác sĩ Nguyễn Tiến Thắng – người bạn thân thiết, cũng là ân nhân của mình.
Tình cờ anh gặp lại vầng trăng
Một nửa vầng trăng thôi, một nửa
Trăng vẫn đấy mà em xa quá
Nơi cuối trời em có ngóng trăng lên?
Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm
Trăng đầu tháng có lần em ví
Chữ D hoa như vầng trăng xẻ nửa
Tên anh như nửa trăng mờ tỏ
Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời
Theo bác sĩ Nguyễn Tiến Thắng, “Hai nửa vầng trăng” ra đời ở nhà tôi, lúc đó chị Minh (vợ nhà thơ Hoàng Hữu) còn ghen D nửa với D hoa, nghi ông này yêu cô nào”. Nghi là phải lắm. Vì “Hai nửa vầng trăng” khác biệt hẳn, đứng cao hơn hẳn các sáng tác khác của Hoàng Hữu. Nó lại là một bài thơ tình thăng hoa, dào dạt, ắp đầy hạnh phúc, cả sự khắc khoải đớn đau. Thường khi đã lấy nhau, tình yêu ẩn trong tình nghĩa vợ chồng, mấy ai còn nhận thấy cái nhịp đập rộn ràng của trái tim, cái đắm đuối không rời của nụ hôn trai gái. Đã thế lại còn liên tưởng đến chữ D.
2. Ai là D?
Cuộc tìm kiếm Nàng D hoa trong “Hai nửa vầng trăng” có lẽ chỉ dừng lại ở những thông tin úp mở đó trong một số bài báo. Nhiều năm sau, khi chuẩn bị tư liệu cho cuốn sách “Hoàng Hữu – Tác phẩm”, bà Nguyễn Thị Minh vợ nhà thơ Hoàng Hữu mới viết những dòng chia sẻ gửi đến bạn bè văn chương của chồng và người đọc. Lá thư ngỏ có đoạn: “Sau 7 ngày anh Hoàng Hữu mất, Hội văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú tổ chức đêm thơ – họa tưởng niệm anh. Đêm hôm ấy các anh đến dự đông kín hội trường, anh Nguyễn Đình Ảnh đọc bài thơ “Hai nửa vầng trăng” và nói “bài thơ cuối cùng Hoàng Hữu viết gửi tặng chị Minh, vợ thân yêu của anh”. Đêm ấy về, tôi thao thức, không sao ngủ được bởi cái tên có chữ “D hoa” nào đó cứ ám ảnh tôi trong câu thơ “trăng đầu tháng có lần em ví…”. Và thế là tôi hờn giận ba ngày liền không thắp hương, cúng cơm anh. Khi biết tin, anh Huy Mai, Giám đốc bệnh viện Việt Trì, chạy sang chỉ vào mặt tôi mắng: “Em ngu thế, vì em nó mới có bài thơ hay như vậy!”. Nghe anh mắng, tôi vẫn lặng thinh. Sự hờn giận hồ đồ vô cớ, sự chậm hiểu này của tôi đã làm khổ Hoàng Hữu, làm khổ các anh từ bấy đến nay ước chừng 31 năm trời dằng dặc” (1981-2012).
Lá thư của bà Nguyễn Thị Minh đã xóa đi mọi nghi ngờ về một mối tình đơn phương nào đó, một người phụ nữ tên D nào đó. “Chữ D hoa như vầng trăng sẻ nửa/ Tên anh như nửa trăng mờ tỏ/ Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời”. Thơ đơn giản hay phức tạp đôi khi không phụ thuộc vào người viết mà phụ thuộc vào người đọc. D là viết tắt tên cha mẹ đặt cho nhà thơ (Nguyễn Hữu Dũng). Hoàng Hữu viết “Hai nửa vầng trăng” trước khi mất khoảng 4 tháng, trong những ngày đau yếu liên miên, trái tim yếu ớt nhiều khắc khoải, bệnh viện trở thành nhà, vợ con thì đang ở cách xa mấy chục cây số. Một cuộc hôn nhân ngắn ngủi, chỉ có 7 năm chung sống, với bao nỗi lo toan nghèo khó, bệnh tật. Những tháng ngày Hoàng Hữu mải miết vẽ bìa sách giữa cơn đau, để có thêm chút tiền trang trải cho việc học hàm thụ đại học ở dưới Hà Nội và phụ giúp vợ con. Những tháng ngày vợ chồng cùng chung bữa cơm đạm bạc, chung mái nhà cấp bốn đơn sơ hễ mưa to là dột. Để rồi khi ông không còn trên cuộc đời này nữa, người phụ nữ trẻ nén lại bao niềm thương nỗi nhớ, kiên trì làm việc và nuôi con ăn học thành người.
Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi
Trăng say đắm dào trên cỏ ướt
Trăng đầu tháng như đời anh chẳng thể nào khác được
Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết
em đã khóc
Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát
em đã khóc
Nhưng làm sao tới được
Bến bờ anh tim dội sóng không cùng
“Hai nửa vầng trăng” là bài thơ Hoàng Hữu dành tặng người bạn đời Nguyễn Thị Minh. Nhìn ở góc độ này, ta lại thấy một vầng trăng tròn đầy – cái tình thủy chung, đầm ấm, viên mãn song cũng đầy khao khát và đớn đau đối với một trái tim yêu Hoàng Hữu. Những nhịp đập trong bài thơ này thật nồng nàn đắm đuối. Nó chẳng hề tốt đối với một trái tim đang đau. Nhưng cuộc đời là thế. Tình yêu là thế. Và nghệ thuật là thế. Nếu không có những dồn nén dữ dội, những khát khao bùng vỡ, thì không thể có những những khoảnh khắc dù ngắn ngủi nhưng mang dư vị của nghìn năm, những khoảnh khắc mà vì nó, người ta sẵn sàng đánh đổi bạc vàng châu báu, tuổi thọ, để được dự phần.
3. Và cuối cùng,
suy cho cùng, có cần thiết phải băn khoăn, phải đi tìm một bóng hồng cụ thể liên quan? Một bài thơ hay, một câu thơ hay – đó là món quà vô giá mà cuộc đời dành tặng người viết và người đọc. Nó đến ở một khoảnh khắc bất ngờ nhất. Nhưng nếu trong lòng người viết không có vốn liếng văn hóa tích trữ, không có tài năng, không có nỗi niềm, không có những khát khao sâu thẳm cồn cào thì liệu người viết ấy có thể nắm bắt, có thể biến nó thành một cơ hội không lặp lại thứ hai trong đời? Vậy nên, để có được những câu thơ “Trăng say đắm dào trên cỏ ướt, Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát…” thì hẳn máu trong tim đã dồn đẩy, đã co bóp đến nghẹt thở.
Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh
Cứ một nửa, như đời anh một nửa
Nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ…
Một tác phẩm khi đã đến với người đọc, nó không còn là độc quyền cảm xúc của nhà thơ nữa. Mỗi người, tùy theo thẩm mỹ, nhận thức, tính cách và vốn sống sẽ có những trải nghiệm riêng, những cảm nhận riêng. Hai nửa vầng trăng có thể ghép lại viên mãn, có thể khuất nửa trong nhau, hay dở dang, nhạt nhòa run rẩy… Song trên hết, đó là tinh thần của bài thơ, là vẻ đẹp vĩnh cửu của tình yêu mà tạo hóa đã ban cho con người. Sự vĩnh cửu của những khoảnh khắc được ẩn vào nhau và ở trong nhau.
CÁCH CHUẨN BỊ ĐỒ DÙNG CHO TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT CỦA BẠN Matthew Aldis ngày 17 tháng 5 năm 2012
Your art materials are the base for your artwork. So why risk your creativity by neglecting your art supplies? It is easy to take care of your art materials. All you have to do is follow some simple steps mentioned below: / Tài liệu nghệ thuật của bạn là cơ sở cho tác phẩm nghệ thuật của bạn. Vậy tại sao phải mạo hiểm sự sáng tạo của bạn bằng cách bỏ qua nguồn cung cấp nghệ thuật của bạn? Thật dễ dàng để chăm sóc các tài liệu nghệ thuật của bạn. Tất cả những gì bạn phải làm là làm theo một số bước đơn giản được đề cập dưới đây:
Make a Workspace / Tạo không gian làm việc
A workspace will enable you to work more effectively on your art projects. Since you get a separate area to draw and paint, you can focus more on your art work. Secondly, you do not need to search for your art supplies all around your house because they must be in your workspace only. / Một không gian làm việc sẽ cho phép bạn làm việc hiệu quả hơn trong các dự án nghệ thuật của bạn. Vì bạn có một khu vực riêng biệt để vẽ và vẽ, bạn có thể tập trung nhiều hơn vào tác phẩm nghệ thuật của mình. Thứ hai, bạn không cần phải tìm kiếm các nguồn cung cấp nghệ thuật của bạn xung quanh nhà của bạn bởi vì họ phải chỉ ở trong không gian làm việc của bạn.
Another benefit of having a workspace is that kids will not have access to your painting materials. So, you will have minimum chances of misplacing them. / Một lợi ích khác của việc có không gian làm việc là trẻ em sẽ không có quyền truy cập vào tài liệu vẽ của bạn. Vì vậy, bạn sẽ có cơ hội tối thiểu để đánh lừa chúng.
Plan Your Palette / Lập kế hoạch bảng màu của bạn
Plan the colors you will be using in advance. Organize the colors in your palette accordingly. This will help you get necessary materials easily while you paint. When you select only the required colors, you can easily get rid of clutter made from using a lot of painting materials. As a result, you will be able to organize your paints and paint brushes properly. / Lên kế hoạch cho màu sắc bạn sẽ sử dụng trước. Sắp xếp các màu sắc trong bảng màu của bạn cho phù hợp. Điều này sẽ giúp bạn có được các vật liệu cần thiết một cách dễ dàng trong khi bạn vẽ. Khi bạn chỉ chọn các màu cần thiết, bạn có thể dễ dàng thoát khỏi sự lộn xộn được làm từ việc sử dụng rất nhiều vật liệu sơn. Kết quả là, bạn sẽ có thể sắp xếp sơn và cọ vẽ của bạn đúng cách.
Keep Water Away From Your Work / Giữ nước tránh xa công việc của bạn
Since a canvas is also an art material, you should be aware of how to take care of it. If you are using water cups while painting, make sure that you keep those away from your canvas. This is important so that you do not accidentally throw the water on your art work. The more you take care of it, the better it is. / Vì một bức tranh cũng là một tài liệu nghệ thuật, bạn nên nhận thức được cách chăm sóc. Nếu bạn đang sử dụng cốc nước trong khi vẽ, hãy chắc chắn rằng bạn giữ những chiếc cốc đó tránh xa bức tranh của bạn. Điều này rất quan trọng để bạn không vô tình ném nước vào tác phẩm nghệ thuật của mình. Bạn càng chăm sóc tác phẩm, tác phẩm càng tuyệt vời.
Clean Your Paint Brushes / Làm sạch bàn chải sơn của bạn
Paint brushes require extensive care because its bristles can be damaged easily if you do not clean them properly. Cleaning paint brushes too often enhances their durability. Therefore, do not forget to clean your paint brushes as soon as you have completed your painting. / Bàn chải sơn đòi hỏi được chăm sóc tích cực vì lông của nó có thể dễ dàng bị hư hỏng nếu bạn không làm sạch chúng đúng cách. Làm sạch bàn chải sơn quá thường xuyên làm tăng độ bền của chúng. Do đó, đừng quên làm sạch bàn chải sơn của bạn ngay sau khi bạn đã hoàn thành bức tranh của mình.
If you have used water colors in your painting, you can clean the paint brushes with water only. However, you have to clean them with thinners if you have made an oil painting. At the end, make sure that you dry your paint brushes to maintain the quality of bristles. / Nếu bạn đã sử dụng màu nước trong bức tranh của mình, bạn chỉ có thể làm sạch bàn chải sơn bằng nước. Tuy nhiên, bạn phải làm sạch chúng bằng chất làm loãng nếu bạn đã làm một bức tranh sơn dầu. Cuối cùng, hãy chắc chắn rằng bạn làm khô bàn chải sơn của bạn để duy trì chất lượng của lông.
Store Art Supplies Separately / Lưu trữ vật tư nghệ thuật riêng biệt
There are different types of boxes that are specifically designed to store materials of artwork. You can buy these boxes to store paint tubes, pastel chalks, and colored pencils in separate compartments. It will help you get access to these materials whenever you need them for your art work. / Có nhiều loại hộp khác nhau được thiết kế đặc biệt để lưu trữ vật liệu của tác phẩm nghệ thuật. Bạn có thể mua những hộp này để lưu trữ ống sơn, phấn pastel và bút chì màu trong các ngăn riêng biệt. Nó sẽ giúp bạn có quyền truy cập vào các tài liệu này bất cứ khi nào bạn cần chúng cho tác phẩm nghệ thuật của bạn.
Mỗi lần nghe tiếng khóa thắt lưng kêu leng keng, em trai út cách anh Cả đúng 20 tuổi vội chạy sang phòng mừng rỡ, tíu tít hỏi han. Anh ở trong một căn phòng dài, có cửa thông sang phòng ngủ của Ba Me, cửa xếp thông sang phòng khách và nhiều cửa sổ nhìn ra dẫy nhà ngang có kho, bếp, nhà tắm… Em thật vui sướng được gần anh, nói chuyện xem các hình ảnh, cầm các vật dụng trong phòng…
Có hai người trong căn nhà rộng lớn để nhớ, nhất là Me và anh Cả. Me thì lo bận rộn quán xuyến mọi công việc trong nhà, các anh chị khác mỗi người một thế giới, Ba còn làm trong Sài Gòn sắp về hưu. Anh Cả hay đùa vui, mua quà cho em út nhưng anh lại rất ít có mặt ở nhà, ngày nào cũng đi, có khi tối mới về ngủ. Anh có lắm bạn, nhiều nhất bạn Hướng Đạo.
Trong bộ quần soóc áo sơ mi ngắn tay màu nâu nhạt, chiếc mũ múi khế nâu đậm, đôi giày ba ta và bí tất trắng dài kéo cao gần đến đầu gối, trông anh thật trẻ, khỏe, lanh, vui và anh luôn ca hát trong phòng, các bài Thiên Thai, Suối Mơ, Giọt Mưa Thu… Thỉnh thoảng lại thấy các bạn đến nhà; lâu lâu vào cuối tuần hay dịp lễ, các nhóm Hướng Đạo đến cắm trại trong khu cây chay ăn trầu, sâu hun hút, tận cuối vườn. Me rất chiều anh, sẵn sàng đón tiếp, mời các bạn của anh ăn uống hoặc tặng thực phẩm.
Ba quê Nam Định, học trường canh nông Tuyên Quang được bổ làm việc ở Vườn Bách Thảo Hà Nội từ 1913, năm 1915 về Thanh Hóa làm đám cưới với Me. Ở Hà Nội thuê nhà ở phố Hàng Bông, anh sinh ra và lớn lên tại đây.
Tuổi đi học vào trường sơ Công Giáo, lên mười, Ba đổi đi Tuyên Quang, anh vẫn ở lại Hà Nội học. Me thường nhắc: anh Cả sung sướng từ nhỏ, học trường Tây, ăn mặc như con Tây. Ba lương tháng lĩnh 35 đồng trong khi tiền ăn học, trả bà sơ 25 đồng, chưa kể vài tháng lại nhận facture mua sắm đồ dùng cho anh.
Ở Hà Nội, Ba là cán sự canh nông, chăm coi vườn Bách Thảo, Me thầu các cây trái và hồ cá nên có tiền cho con học. Anh Cả kể lại, trong lúc phu đào hố trồng cây đã phát hiện ra một món đồ sứ hình người cưỡi rùa, rỗng ruột, công nhân đưa Ba vật lạ và nhận một món tiền thưởng. Từ đây Ba đã thích thú sưu tầm và dần dần tìm kiếm, mua sắm thêm nhiều đồ xưa. Trước năm 1945, các nhà thích cổ ngoạn hay đến trại ở Thanh Hóa thăm và xem các đồ sứ Đông Thanh, Giang Tây, cả gốm lẫn đồ mộc, đồng đen…
Không biết anh vẽ từ bao giờ, ít nhất là năm 1939. Một hình vẽ bằng bút chì ghi “Sơn 1 tuổi” vẫn còn thấy sau năm 1945. Cái khuôn mặt chú bé bầu bĩnh, nốt ruồi đen trên má phải, mắt nhắm ngủ, hình để lăn lóc trong đám sách vở của gia đình.
Em út được anh Cả thăm hỏi và đùa vui hàng ngày. Khi lên năm sáu tuổi chú em thích nhất và hay nài nỉ anh vẽ những hình nhiều màu, những nét gạch ngắn cỡ nửa đốt ngón tay, song song, liên tiếp và từng lớp. Chú em tưởng tượng ra những đoàn lính xếp hàng, dàn quân đánh trận. Trong phòng anh đầy những giấy vẽ bằng bút chì, phấn màu hay màu nước với hình các bạn văn nghệ, bạn Hướng Đạo, hình thiếu nữ, phong cảnh núi rừng… để trên bàn, trong kẹp giấy.
Anh có xe đạp, thích thể thao và sinh hoạt ngoài trời, về nhà khi không đọc sách báo thì vẽ bằng bút chì, phấn hay màu nước. Các giấy tờ, hình vẽ kể cả mền mùng, quần áo để ngổn ngang trong phòng. Me cứ nói anh là người rất vô tâm, vô tính!
Anh vào học trường Mỹ Thuật Hà Nội sau khi chú em út ra đời đầu năm 1938. Đến năm 1940, Me và các em từ Sài Gòn về Thanh Hóa, anh thôi học cũng về ở nhà luôn. Từ ngày về Thanh Hóa anh làm quen, tụ tập với các bạn ưa văn, thơ, họa. Các bạn thân như họa sĩ Phạm Viết Song, nhà văn Thanh Châu, Hoàng Sĩ Trinh (Hà Thượng Nhân)… vài anh Hướng Đạo tên Khâm, Inh, Lãng, Thạch, Họat, Trí… Cái thú của anh là gặp, nói chuyện với các bạn hữu, đa số những người trên dưới 25 mê thích trào lưu văn chương mới. Anh cũng tiếp tục liên lạc với các bạn văn nghệ ở Hà Nội. Mùa hè năm 1940 Đặng Thế Phong đi nghỉ hè ở Sầm Sơn (bãi biển Thanh hóa) lúc trở lại Hà Nội có gửi thư xưng mày tao và xin lỗi không ghé thăm anh vì quần áo đi đường hôi bẩn.
Ba về hưu năm 1943 từ Sở Lúa Gạo Sài Gòn, là chuyên viên có ngạch thượng hạng ngọai hạng. Đã từng thanh tra, khảo sát về lúa và côn trùng khắp Đông Dương, cả Vân Nam, Quảng Đông… Vì có một số công lao cho nông nghiệp nên khi nghỉ sở đã được triều đình phong hàm Hồng Lô Tư Khanh. Người quen hay gọi cụ Hường và anh Cả được lên cậu ấm. Ba ham đọc sách báo, thường mua năm các báo Ngày Nay, Tân Á, Trung Bắc Chủ Nhật; những bản tin thời sự Nhật Nga Chiến Kỷ, Trung Nhật Chiến Tranh; nhiều các loại sách dịch của Nguyễn Văn Vĩnh như Người Biển Lận, Miếng Da Lừa; thơ đủ các lọai, tác giả từ Đường Thi qua thơ mới với Nguyễn Khắc Hiếu đến Hàn Mạc Tử, Huy Cận, Chế Lan Viên… sách Tự Lực Văn Đoàn đủ loại; những bộ Thủy Hử, Đông Chu Liệt Quốc, Hồng Lâu Mộng… tất cả đều là những bản mua khi mới ra. Trong nhà còn thêm các sách báo tiếng Pháp, và sách chữ Nho. Anh Cả và Ba cùng có thói quen đọc sách báo hàng ngày.
Những ngày Cách Mạng tháng Tám 1945, anh cùng vài bạn cắt xết hình sao năm cạnh, dùng gỗ thị vẽ rồi khắc hình lãnh tụ. Đầu năm 1946 anh vẽ tranh Tết, đưa khắc và tự in, bảo các em tô màu rồi anh đưa đi tiêu thụ. Lúc này anh em đã tự phá một phần nhà theo lệnh tiêu thổ kháng chiến. Nhà mất mái, tường xung quanh bể nát phía trên, gia đình có vài người tản cư vào trong ấp, nơi có mấy chục mẫu ruộng cho dân làm rẽ, đóng thuế cách thị xã Thanh Hóa khoảng tám chín cây số, trên đường đi Nông Cống. Khu ruộng không tốt lắm nhưng xung quanh là di tích khảo cổ Tam Thọ, Thạch Thất, Vạn Vật đã được chuyên viên khảo cổ Pháp khai thác từ các năm đầu của thế kỷ Hai Mươi, trên các cồn cao, giữa đồng ruộng vẫn còn các hầm hố để lại.
Khi cuộc kháng chiến phát triển, anh Cả gia nhập hội văn nghệ, có đi dự đại hội văn hóa toàn quốc, gặp gỡ, tiếp xúc và làm quen với nhiều văn nghệ sĩ tụ tập ở Thanh Hóa như nhà văn Nguyễn Tuân, Thanh Châu, nhạc sĩ Văn Cao, Phạm Duy, nhà thơ Hồ Dzếnh, Quang Dũng, Nguyễn Trọng Dực biệt hiệu Tuân Tử, anh này người cùng huyện Đông Sơn có tiếng thơ hay lúc bây giờ.
Cho đến năm 1975, chú em vẫn còn cất giữ được nguyên bài thơ Tây Tiến viết bằng bút chì với chữ Quang Dũng ghi: “Tặng Công, 1948”. Trong thời gian sinh họat “văn nghệ cứu quốc”, anh đi vẽ chân dung và quen với chị Trâm rồi chưa đầy một năm sau đám cưới được tổ chức.
Đúng dịp lễ Giáng sinh năm 1948 cử hành đám cưới tại nhà chị Trâm tại Khoa Trường. Một khu nhà rộng, nằm trên đồi nhìn ra quốc lộ 1 đi Tĩnh Gia, xa xa là biển nước. Từ ấp nhà, cậu em theo Mẹ và người gánh đồ cưới đi bộ hai ngày, đêm ngủ trọ dọc đường. Có những đọan đường phải đi tắt qua các làng. Lúc này các con lộ trải nhựa đã bị đào đắp thành những giao thông hào, các ụ đất, chỉ có xe đạp mới đi lại dễ dàng. Đám cưới kháng chiến chỉ có hơn hai chục người, bố mẹ hai bên, họ hàng vài người, nhà trai ở xa chỉ có Ba Me, hai em trai, bạn Hướng Đạo, văn nghệ có sáu bảy người. Sau lễ cưới, dọn đồ ăn trên giường, các ông các bà ngồi ăn riêng. Đến màn nói chuyện vui và văn nghệ, có xướng họa thơ của các bạn, cậu em út sắp 11 tuổi được yêu cầu solo, đã hát mừng anh chị Cả bài Mùa Đông Chiến Sĩ, bài hát kháng chiến bấy giờ. Trong lúc các bà ăn trầu, nói chuyện, các ông vài người phì phèo thuốc lá tự quấn, những người khác quây xung quanh vò rượu trộn chấu của bản Mường. Bữa tiệc cưới vui cho đến khi người cuối cùng nằm mê man bên vò rượu cần.
Tiệc cưới của anh Cả đúng ngày 24-12-1948, hôm sau lễ Noel cô dâu vu quy. Ba Me và một người anh đi về ấp, anh chi Cả thuê một xe tay người kéo trở về trại tại thị xã Thanh Hóa. Chú em út được anh chị cho ngồi ké để khỏi phải cuốc bộ 50 cây số. Xe kéo chạy từ sáng sớm ở Khoa Trường, người phu xe luôn phải tránh các giao thông hào chữ chi, đi vòng các ụ đất, trên xe lại có ba người cô dâu, chú rể và chú em. Dọc đường người phu lái xe tay luôn lấy vạt áo thấm mồ hôi. Đến chiều tối về đến nhà người phu xe vẫn tỉnh táo, nhận tiền công ra về! Căn nhà ở trại đã xác xơ, trống hoắc, chỉ còn một hai phòng có mái thuộc dẫy nhà sau, vốn dùng làm kho, phòng người giúp việc. Đêm tân hôn của anh chị Cả cũng là đêm sau Giáng Sinh, có chú em nằm nép bên.
Cho đến năm 1949, trang trại có căn biệt thư phá dở phải bán đi cho một người bà con giàu có, buôn gỗ Lim. Con cái phân tán, anh Cả đưa chị Cả và con trai đầu lòng về ở với Ba Me cùng vài em nhỏ trong ấp. Ba căn nhà tranh ở ấp nằm trên cồn đất cao, xung quanh là ruộng, xa cả cây số mới có làng mạc. Tại cồn đất nhà ở khi đào xuống vẫn moi lên được các chum, chóe đất nung chưa men có hoa văn hình quả trám, hình vạch thô sơ… Thời loạn lạc các bình gốm lấy lên chỉ dùng đựng ngũ cốc, đồ khô…
Những ngày tháng kháng chiến gian khổ, người thành phố bị bắt buộc tự phá nhà rồi tản cư về nông thôn, thành phố tiêu thổ đã đổ nát hoàn toàn. Một số người cố nấn ná sống chui rúc trong các căn nhà đổ. Dần dần một số người tụ họp theo con quốc lộ 1 cách thị xã Thanh Hóa vài cây số thuộc địa phận làng Bố Vệ. Những căn nhà tranh được dưng lên từ năm 1948, dọc hai bên đường khoảng vài trăm thước và dần dà biến thành khu buôn bán có hàng quán, cửa tiệm. Anh Cả có một số vốn do tiền bán trại của Ba Me, anh để chị và các cháu ở ấp, ra Cầu Bố mở cửa hiệu quảng cáo Mỹ Thuật. Một thanh niên phụ anh kẻ bảng hiệu, anh phác thảo. Sau anh nhận vẽ cả nhãn thuốc lá, nhãn bao diêm. Anh cũng vẽ cả bìa sách trong đó có cuốn Chiếc Va Ly, kể chuyện đánh thông-báo-hạm Amyot D’Inville, tác giả Hoàng Đạo, một điệp viên và sau là trưởng ty công an tỉnh Thanh Hóa. Cửa tiệm vẽ quảng cáo của anh rất đông khách, đây là thời gian tự lập sung túc nhất của gia đình anh. Sau trận hỏa hoạn năm 1950, thị trấn Cầu Bố tan rã, anh trở lại ấp với chị và có thêm đứa con trai thứ hai. Lúc này anh cùng người bạn mua đá litho về in quảng cáo thương mại, nhận in cả tài liệu công… Làm chung không khá, chỗ ở xa thành thị, thiếu tiện nghi, anh đưa chị và hai con về thị xã, làm căn nhà tranh hai gian trong khu vườn bỏ hoang, ở khu Ba Lít, ngay cạnh đường nhựa từ thị xã dẫn ra cầu Hàm Rồng.
Thời gian này nhà thơ Hồ Dzếnh hay ghé thăm, trên vai địu con trai nhỏ hai tuổi. Sau đại hội văn hóa, có lần nhà thơ đã đưa anh bài “Lột Xác” mà chú em út đã được đọc và còn nhớ một số câu:
Có những đêm ngổn ngang tình kháng chiến
Lạc về đâu một thuở hoa hương
Không dưng sực tỉnh thiên đường
Kẻ du khách nằm mơ đời Lưu Nguyễn
Là mộng ảo mà thôi nhưng vì đâu xao xuyến
Bướm phiền hoa ngùi xém dưới lê dương
Gối nghiên nức nở đêm trường
Tâm sự cuối mùa biết mà khó dập
…
Chỉ còn ta thắp nến vọng đêm dài
Chỉ còn ta nằm mơ ngày tháng cũ
Xác chưa buông hồn, hồn còn ủ
Men càng cay càng đượm ý thê lương.,
…
Mưa đêm thâu nức nở nét xa khơi
Ngày sáng chói sẽ thiêu tàn ước nguyện
Ta viết trang thơ này, viết mà viết mãi
Mà xóa đi như vết tích phong lưu
…
Hà Nội ơi, Hà Nội điêu tàn, trụy lạc
Nhưng lòng ta Hà Nội mãi chưa nguôi.
Năm 1952, kháng chiến ngày càng phát triển, ở địa phương khó kiếm sống, anh Cả tìm ra Phát Diệm, vẽ quảng cáo. Đây là lần đần tiên anh xa gia đình. Sau vài tháng, có được một số tiền anh trở về Ba Lít.
Cuối năm 1952, Thanh Hóa rục rịch cải cách ruộng đất. Me, các em lần lượt vào vùng Quốc Gia. Ba tuy là điền chủ nhưng đã phải hiến hết ruộng và lúc này hành nghề thuốc cao đơn hoàn tán, món gia truyền. Anh Cả có hai con nhỏ, tuy không bị buộc đi dân công nhưng phải dời khỏi thị xã. Gia đìmh anh tản cư, ở nhờ nhà dân tại các làng xa thị xã. Anh vẽ thuê tranh cổ động, kẻ bảng hiệu cho các cơ quan… Chị Trâm trông giữ hai con nhỏ 3 và 4 tuổi. Thời gian này ở Thanh Hóa gia đình anh túng quẫn.
Đầu tháng 8-1954, sau khi ký hiệp định Genève vài tuần, tìm ra đến phố Nam Đồng Hà Nội, anh Cả đã gặp Me, có được một số tiền để về lo cho gia đình và nhắn Ba rời Thanh Hóa vào Miền Nam đoàn tụ.
Trên hành trình đổi mới văn học hơn một trăm năm qua cho thấy, các nhà thơ nhà lí luận phê bình văn học Việt Nam đã không ngừng mở ra những mô hình đổi mới thơ ca để tiến kịp trào lưu hiện đại của thơ thế giới. Trong giai đoạn 1930-1945 Thơ Việt đã vượt thoát bức tường thành thi học cổ điển Trung Hoa, vừa kế thừa ca dao vừa tiếp cận thi học hiện đại phương Tây để trở thành Thơ Mới. Trên cái nền hiện đại, thơ Việt đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Bước vào thời kì đổi mới (từ 1986 đến nay), hiện thực diễn ra vô cùng sâu rộng, thơ Việt tiếp tục mở rộng biên giới bằng việc tiếp thu các thể thơ thế giới như thơ Hai Ku của Nhật Bản, thơ văn xuôi, thơ lập thể, thơ tân hình thức của các nước phương Tây và Mĩ để biểu đạt cuộc sống muôn màu. Vậy thơ tân hình thức có vị trí như thế nào trong nền thơ ca Việt thời kì đổi mới?
Năm 2000, Khế Iêm là nhà thơ người Việt đầu tiên sáng tác theo thể thơ tân hình thức, rồi lần lượt xuất hiện các cây bút khác như: Chu Thụy Nguyên, Biển Bắc, Đài Sử, Đình Nguyên, Đòan Minh Hải, Đòan Vượng, Đỗ Kh, Hà Nguyên Du, Hạc Thành Hoa, Hòang Huy Hùng, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Hường Thanh, Khánh Hà, Hùynh Lê Nhật Tấn, Inrasara, Lê Hưng Tiến, Lưu Hy Lạc, Nguyên Quân, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Hoài Phương, Nguyễn Họat, Nguyễn Hữu Viện, Nguyễn Lương Ba, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Tất Độ, Nguyễn Tiến Đức, Nguyễn Tuyết Trinh, Phạm An Nhiên, Phạm Thị Anh Nga, Phạm Việt Cường, Thiền Đăng, Nguyễn Lãm Thắng v.v… tới nay đã có hàng ngàn bài thơ tân hình thức gia nhập thi ca Việt đã góp thêm âm hưởng mới cho trào lưu cách tân thơ trong nước.
Thơ tân hình thức (New Formal poetry) là một loại hình nghệ thuật mới hình thành và phát triển ở Mĩ và các nước phương Tây vào những năm 80 của thế kỉ qua khi Chủ nghĩa hậu hiện đại đang đi tới vãn kì của nó, cho nên thơ tân hình thức không phải là thành phần của Chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây như có nhà phê bình đã viết mà nó là một loại hình nghệ thuật mới ra đời do nhu cầu tiếp nhận mới. Trong Lời giới thiệu cuốn sách của Annie Finch nhan đề: “Một sự cảm nhận mới xuất hiện: Những bài thơ trong hình thức mới của phụ nữ đương đại (1993), người phê bình cho thấy: “Bây giờ rất nhiều câu thơ tự do hiện đại chỉ đơn thuần là tín hiệu, những gì chúng ta tìm thấy ở đây là ký hiệu cơ bản của thơ, trong thành quả của nó là âm thanh và ý nghĩa.” [8; 7]. Theo đó, ngôn ngữ là nhân tố có khả năng khơi gợi cảm xúc âm nhạc và thi ca của nhà thơ. Thơ tân hình thức được quan tâm từ cái biểu đạt để soi và cái được biểu đạt của tác phẩm thơ ca. Đến cuốn sách Thiên thần nổi loạn: Bàn về 25 nhà thơ của trường phái tân hình thức (1996), Mark Jarman đã viết: “Hình thức có xu hướng biến các từ ngữ và ý nghĩa tương ứng thành các tập hợp sức mạnh, trong khi đó thơ tự do lại làm tan loãng các ấn tượng và ý tưởng trong một bài thơ.” [9; 6]. Điều đó cho thấy hình thức cũng chi phối nội dung tác phẩm thơ ca. Mỗi mô hình mới của thơ đều bắt đầu từ diễn ngôn mới về nghệ thuật.
Trong bài viết: “Tân hình thức, nhịp đập của thời đại” trên Talawas ngày 18.5.2006, tác giả Đặng Tiến đã thể hiện mối quan tâm về một thể thơ mới xuất hiện ở Việt Nam và nhận xét: “Trong văn chương, nghệ thuật, một xã hội tiến bộ khi chính trị là sản phẩm của văn hóa. Xã hội ngưng đọng, thậm chí tụt hậu khi văn hóa là phương tiện của chính trị. Tương lai của thơ, trong đó có Thơ Tân hình Thức nằm ở biên độ giữa hai tình thế này.” Điều đó chưa hoàn toàn sát thực, bởi thơ tân hình thức vốn chưa hình thành một trào lưu nghệ thuật và chưa trở thành nhu cầu và phương tiện biểu đạt của nhà thơ và bạn đọc Việt Nam trước thời kì đổi mới. Chỉ đến thời kì đổi mới, trước làn sóng giao lưu quóc tế thơ tân hình thức mới tìm kiếm chỗ đứng cho mình trước nhu cầu sáng tác và tiếp nhận trong nước.
Năm 2014, Nhà xuất bản Thuận Hóa đã cho ra mắt bạn đọc tập tiểu luận nhan đề: “Thơ tân hình thức, tiếp nhận và sáng tạo” của nhiều tác giả đã đăng tải các ý kiến của các nhà phê bình trong và ngoài nước tiêu biểu như như Hồ Đăng Thanh Ngọc, Khế Iêm, Văn Giá, Đỗ Lai Thúy, Inrasara, William B Noseworthy, Frederick Turner, Frederick Feirstein, Alexander Kotowske… với nhiều nhận xét phong phú, nhưng đều cho thấy: Thơ tân hình thức là một loại hình nghệ thuật mới hình thành và phát triển ở Mĩ với phương Tây đang được phổ biến ở Việt Nam và có nhiều triển vọng.
Từ 2015 trở đi trên Tạp chí Sông Hương tiếp tục giới thiệu nhiều bài thơ tân hình thức cả Tiếng Việt và Tiếng Anh, số tác giả tham gia sáng tác thơ tân hình thức tiếp tục tăng lên. Nhiều ý kiến đề cao sự xuất hiện thể thơ này ở Việt Nam. Song việc xác định vị trí thể loại thơ tân hình thức vẫn chưa sáng tỏ, có ý kiến quá đề cao thể thơ này trong nền thơ đương đại Việt Nam như đây là thể thơ “tiên phong” trong đổi mới. Trong tiểu luận “Tân hình thức – một thể thơ mang tính hệ hình”, nhà thơ Đỗ Lai Thuý, đã viết: “Có thể rồi đây, thơ hậu hiện đạiViệt Nam sẽ chọn được cho mình một thể thơ khác phù hợp hơn và, do đó, thành công hơn. Nhưng với tư cách là một thể thơ mang tính hệ hình mở đầu cho trào lưu thơ hậu hiện đại ở Việt Nam thì Tân hình thức mãi mãi còn được nhắc đến và biết ơn”… [3; 12]. Tiếp theo có thể kể đến bài viết “Tân hình thức giữa lằn ranh hậu hiện đại” của tác giả Phan Tuấn Anh đã nêu ý kiến: “Lời khẳng quyết của chúng tôi, đó là Tân hình thức cả ở Hoa Kỳ và Việt Nam hoàn toàn là một trào lưu hậu hiện đại.” [3; 174]. Các tác giả trên đều đề cao tính chất mới mẻ của thơ Tân hình thức nằm trong trào lưu hậu hiện đại. Như vật, việc định giá vai trò của một thể loại văn học là cách nhìn của mỗi cá nhân, nhưng việc xếp thơ tân hình thức vào khuynh hướng hậu hiện đại là chưa phù hợp với không gian lịch sử của thơ ca, bởi đây là một loại hình nghệ thuật ra đời sau Chủ nghĩa hậu hiện đại, thơ tân hình thức có thể tiếp thu thành quả của khuynh hướng nghệ thuật khác nhưng không lặp lại cái dư thừa của cái trào lưu nghệ thuật đã lỗi thời. Các nhà thơ tân hình thức đã sáng tạo thơ theo quan niệm mĩ mới của mình. Thơ tân hình thức không phải là một “trò chơi chữ nghĩa” theo lí thuyết trò chơi (The game theory) của phương Tây mà đây là một trào lưu nghệ thuật mới nhằm khám phá tiềm năng của văn hóa thơ ca. Do vậy thơ tân hình thức cũng không chịu ảnh hưởng trực tiếp Chủ nghĩa hình thức (Formalism) của Clive Bell (Anh) và R.Jakobson (Nga) thời kì đầu thế kỉ XX. Các tác gia của Chủ nghĩa hình thức đó đã lí giải nghệ thuật từ cái nền triết học và mĩ học, còn các học giả về Thơ tân hình thức ở “vãn kì hậu hiện đại” quan tâm tới góc nhìn mới về thi học hiện đại với những trạng thái tâm hồn con người trong hoàn cảnh mới.
Cùng quan tâm đến Chủ nghĩa tân hình thức (New formalism) ở Việt Nam, nhà thơ Mỹ Frederick Turner đã nêu ra nhận xét: “Chủ nghĩa Tân hình thức ở Việt Nam đã sáng tạo một hình thức thi ca đáng kể, một loại thơ không vần điệu (a blank verse) thu hút cái tai của người Việt và về mặt vận luật có thể so sánh với lối thơ không gieo vần trong tiếng Anh và trong những ngôn ngữ thi ca vĩ đại khác” (Hiện trạng của thơ – bản dịch Nguyễn Tiến Văn) [3;2]. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của môi trường sáng tạo và tiếp nhận mỗi mô hình mới của thơ ca. Là một nhà nghiên cứu văn học hải ngoại, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng đã đưa ra nhận định: “Sự phát triển của Tân hình thức từ Hoa Kỳ sang Việt Nam không chỉ là sự nối dài về địa lý, mà còn bước đi xa hơn về nghệ thuật và những đóng góp trở lại với phong trào này… Như một phương pháp sáng tác, nó sẽ tồn tại lâu và đóng góp mãi cho thơ ca Việt Nam.” [3; 12]. Theo ông, thơ tân hình thức sẽ có giá trị dài lâu trong tương lai của nền thơ Việt và đóng góp cho trào lưu sáng tác. Xem ra, các nhà nghiên cứu đều đánh gía cao sự hình thành thơ tân hình thức trên đất Việt. Cho nên việc nhận diện một thể loại văn học mới trong nền văn hóa thơ ca của một dân tộc có bề dày lịch sử như thơ Việt là cần thiết cả trong sáng tạo và tiếp nhận hiện nay.
Từ góc nhìn lịch sử và sự chuyển động của nền văn hóa Việt trong mỗi loại hình nghệ thuật, chúng ta sẽ thấy rõ hơn cái hay cái đẹp cái thiếu và cái thừa trong các sản phẩm nghệ thuật đối với cộng đồng. Sức hút của mỗi loại hình nghệ thuật thơ ca trong mỗi cộng đồng xuất phát từ nhiều góc nhìn thẩm mĩ khác nhau, đó là cơ sở cho nhà thơ và bạn đọc đồng sáng tạo và chấp nhận tính đa chiều thẩm mĩ của nghệ thuật hiện nay, bởi văn hóa dân tộc là một chỉnh thể tồn tại các giá trị không ngừng vận động và biến đổi. Song không vì thế mà chúng ta tán thành cả những mặt hạn chế, cái cá biệt dị thường của thơ ca từng diễn ra trong thời gian qua như thơ rác, thơ nghĩađịa cùng các loại diễn ngôn cầu kì bí hiểm mà cần có nhận thức rạch ròi về cái chân giá trị, từ đó cho thấy thơ tân hình thức là một hệ hình mĩ học riêng, có hệ thống thi pháp riêng đang tồn tại trong một nền văn hóa, nó sẽ có những mặt mạnh và yếu của một thể thơ..
Sự xuất hiện thơ tân hình thức do Khế Iêm khởi xướng, trong nước đã hình thành một khuynh hướng thơ ca mới; mỗi bài thơ tân hình thức khi đọc lên mang những âm hưởng, nhịp điệu khác lạ như: tính chất “dồn dập”, ‘tiếp nối”, “cuộn chảy”, “lan truyền”… mới nghe qua như âm điệu của một số bài ca dao trào phúng, hay phảng phất một số diễn ngôn trùng điệp trong thơ Nguyễn Trãi, một số lối ngắt dòng và nhịp điệu trong thơ hiện đại của Bích Khê, Chế Lan Viên khi ta chủ ý thay cách đọc bằng lối ngắt chuyển từ hoặc âm tiết cuối dòng này nối với từ hoặc âm tiết đầu dòng sau tạo ra một giọng điệu riêng có tính liên hoàn về mạch cảm, nhưng thực chất thơ tân hình thức là loại hình nghệ thuật có kết cấu riêng về ngôn ngữ có chỗ đứng riêng trong thi học phương Tây từ cuối thế kỉ XX.
Thơtân hình thức được giới thiệu trên Tạp chí Sông Hương vào những năm đầu thế kỉ XXI, đã thu hút sự chú ý của bạn đọc về một loại hình nghệ thuật mới ở Việt Nam. Thơ tân hình thức là gì? Có kết cấu như thế nào? Nó góp thêm những phẩm chất gì cho nền thơ Việt? Có cần tạo dựng một phong trào sáng tác thơ tân hình thức trên đất Việt hay không? Việc tiếp nhận thơ tân hình thức như thế nào cho hợp lí? Đó là những câu hỏi đã và đang đặt ra trên thi đàn đất Việt, khi trào lưu đổi mới đang muốn “bứt phá” các lối mòn của thơ ca truyền thống để vươn tới những thành tựu mới mẻ. Nhưng thực tế đến nay chưa có các cây bút làm nên các kiệt tác thi ca để sánh cùng thơ thế giới thì việc khám phá mỗi mô hình mới cho thơ Việt càng trở nên cấp bách hơn. Mỗi mô hình nghệ thuật mới cần mang đến những hiệu năng thẩm mĩ cao cho trào lưu cách tân văn học.
Bản thân nhà thơ Khế Iêm khi thực hành sáng tác thơ tân hình thức cũng có sự nghiền ngẫm cả thi pháp phương Tây với phương Đông từ cổ chí kim trong bài viết: “Tân hình thức” (Nghĩ về cách làm thơ) trên Tạp chí Sông Hương 14/ 4/ 2016 qua các luận điểm: Tác động văn hóa; Tiến trình thơ; Thơ Mĩ: Giã từ truyền thống, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành thơ tân hình thức từ những tác động của cơ sở văn hóa cội nguồn của thế giới và trong nước, sự vận động của thi pháp trong lịch sử; những cơ sở triết học và mĩ học của phương Tây một cách rộng mở, cho thấy thơ tân hình thức ra đời xuất phát từ nhu cầu biểu đạt tâm hồn con người trong thời đại mới. Khê Iêm đã đề xuất: “Nghĩ về cách làm thơ”, cần đọc chậm rãi, trầm tư, và nhiều lần, nếu người đọc thật sự muốn tìm hiểu dòng thơ này.” Đồng thời ông đi đến nhận định: “Nhưng nếu thơ Ngôn ngữ phủ nhận cách đọc truyền thống của thơ trữ tình, hủy trung tâm là ngôn ngữ nói, biến ngôn ngữ viết thành trung tâm, thì tiếp theo cái trung tâm ấy (ngôn ngữ viết) lại bị thơ Tân hình thức đẩy xuống thành ngoại biên. Thơ Tân hình thức phản ứng lại thơ Ngôn ngữ, quay mặt với hàn lâm, và đồng thời cũng chấm dứt trò chơi trung tâm và ngoại biên của hủy cấu trúc. Bởi vì sau đó, thơ Tân hình thức cùng tất cả các thể loại thơ, từ tự do tới thể luật, đều song hành với nhau, không có loại thơ nào ưu thế.”. Như vậy, thơ tân hình thức không lệ thuộc vào khuynh hướng hậu hiện đại, có vị thế bình đẳng với các loại hình thơ khác từ truyền thống tới hiện đại. Đến bài “Thơ và không thơ” (Kỳ cuối) của Khế Iêm đăng trên Tạp chí Sông Hương, ngày 03/ 01/2017, sau khi phân tích những phẩm chất của thơ, Khế Iêm nêu nhận xét: “Nhưng tại sao cho đến nay, những sáng tác mới chỉ dừng lại ở những bước khởi đầu, và không có mấy người tham gia? Thật ra thơ tân hình thức không dễ, vì mỗi người làm thơ cần tạo cho mình một phong cách riêng và mỗi bài thơ phải có nhịp điệu cảm xúc và tư tưởng khác nhau… Nhưng thơ là một bộ môn đặc biệt mang tầm văn hóa làm phong phú đời sống nội tâm, gốc rễ của nền văn minh. Nếu có cách làm thơ đúng sẽ tạo nên niềm mê hoặc nơi những nhà thơ. Bởi vì ở thời nào cũng vậy, những nhà thơ có tài luôn luôn cần những phương tiện để thể hiện tài năng của họ”. Theo đó sáng tạo thơ tân hình thức cần rất nhiều ở lĩnh vực tài năng và thi pháp.
Qua những kiến giải trên cho thấy, đây là những nhận xét khách quan của một nhà thơ Việt đi tiên phong trong thể thơ tân hình thức. Mặc dù là cây bút vừa sáng tác, vừa khám phá về thi pháp thơ và có nhiều nhận xét mới mẻ, nhưng tác giả vẫn chưa bao quát hết thực tiễn phong phú của thơ ca đất Việt như tính liên hoàn của ca dao, tính trùng điệp của thơ trung đại; lối biểu đạt dây chuyền, điệp khúc của thơ ca dân gian các dân tộc thiểu số; một số lối cách ngôn của thơ hiện đại cũng như tiềm thức văn hóa của các nhà thơ. Thực tiễn nghệ thuật cho hay, sự thành công của một tác phẩm hay một kiệt tác thi ca không hoàn toàn do thể loại mà xuất phát từ tài năng khám phá hiện thực, tiềm thức văn hóa và sự biểu hiện nghệ thuật độc đáo của nhà thơ. Bất kể thể thơ nào, sáng tạo cũng cần ở tài năng. Do đó, sự xuất hiện loại hình nghệ thuật mới là cần thiết sẽ góp thêm phần biểu hiện nội dung phong phú của cuộc sống, nhưng nó cũng chỉ là một trong những phương thức biểu hiện mà thôi. Hình thức nghệ thuật mới có hiệu năng thẩm mĩ còn phụ thuộc vào tầm vóc người nghệ sĩ, khả năng khám phá cuộc sống. Thực tiễn cho hay, một thi sĩ lớn không chỉ đơn thuần sử dụng một loại hình nghệ thuật mà là sự phối hợp khám phá mỗi tiềm năng ở từng thể loại như Truyện Kiều của Nguyễn Du là sự kết hợp hài hòa tự sự với trữ tình, giữa truyện kể với ca dao; tác phẩm Epnhêghi Onhêghin của Puskin cũng là sự hài hòa truyền thống dân gian Nga và thi học phương Tây trong sáng tạo; thơ Hồ Xuân Hương là sự hài hòa uyển chuyển giữa ca dao với Đường thi; thơ Xuân Diệu là sự hòa quện giữa chất cổ điển của thi học phương Đông với thi học hiện đại phương Tây và thơ ca dân gian để trở thành Thơ Mới…
Gần đây thơ tân hình thức Việt đã được các nhà thơ Mĩ như: Rober Okaji, Susan A Katz, Camille Norton quan tâm khích lệ trên Tạp chí Sông Hương (ngày 11.10.2017). Nhà thơ Mĩ Rober Okaji nói: “Tôi có dịp đọc tờ báo của bạn và phát hiện nó vô cùng thích thú. Thơ xuất sắc và đặc biệt nhờ thế mà tôi được thưởng thức những bài thơ Việt dịch ra”; nhà thơ Susan A Katz viết: “Những khoảng khắc đẹp đẽ trong những bài thơ tôi đã đọc. Đặc biệt tôi bị hấp dẫn bởi những thi ảnh” [2; 1]… Như vậy, các tác giả của “cái nôi” Thơ tân hình thức đều cho thấy những tín hiệu khả quan của thơ Tân hình thức trên đất Việt, nhưng không ai khảng định đây là thể thơ độc nhất, vượt trội. Song điều quan trọng hơn, dù hình thức mới lạ đến đâu chăng nữa, thơ tân hình thức phải thực sự trở thành “món ăn tinh thần” trên đất Việt như các thể thơ truyền thống khác.
Trên Tạp chí Sông Hương, có thể thấy một số bài thơ tân hình thức Việt tiêu biểu như sau: Bài thơ “Tình buồn” của tác giả Nguyễn Hoạt: Ngày qua ngày đêm lại/ qua đêm đồng hồ vô/ tư luôn điểm tiếng nhưng/ em không vô tư đỏ/ mắt chờ anh và anh/ không tới và thư không/ tới và tình yêu khôngtới. Đồng hồ chết –hết pin – và ngày lặng/ im và đêm lặng im/ và tình lặng im chỉ/ có đôi mắt buồn nhỏ/lệ [4; 1].Bài thơ diễn tả tâm trạng khắc khoải chờ đợi yêu thương trong li biệt, chữ cuối dòng thơ trước nối ý sang dòng thơ tiếp theo, cứ vậy cho đến hết bài thơ, biểu đạt cường độ nhớ mong chờ đợi của người con gái, hiện lên trong một không gian trống trải cô đơn. Bài “Nghe lạnh vào đông” của Nguyễn Lãm Thắng diễn tả tâm trạng bừng thức thoáng buồn trước sự chuyển mùa: Chưa là ngọn là/ gốc của một buổi/ sáng bên tách cà/ phê đậm đặc mới/ phát hiện một ca/ khúc buồn như đám/ tang dưới mưa sa/ như những lời sám/ hối của một đời/ người tôi đang đứng/ dậy sau những ngày/ tháng lê thê rụng/ rời uể oải đừ/ ngắt tôi thấy đám/ mây bay trong hư/ vô mỏi mệt lắm! [5;1]. Bài thơ theo thể bốn chữ liên tục vắt dòng, chữ cuối dòng trước nối với chữ đầu dòng sau tạo liên khúc về tâm trạng và sự dồn nén cảm giác. Hay một đoạn trong bài thơ “Tình yêu, mũi tên và bia bắn” của Nguyễn Tuệ: Tình yêu em như mũi tên/ bắn xuyên qua trái tim ta/ rồi vụt mất chỉ còn lại/ trong ta một trái tim đơn/ lẻ đang rỉ máu từng giọt/ từng/ giọt rớt rơi trong đêm/ buồn tênh va chạm với từng/ giọt buồn tạo một âm vang/ bên hư không thinh lặng…[6;1]. Bài thơ diễn tả nỗi khát vọng tình yêu cháy bỏng và nỗi thất vọng biệt li bằng thể thơ 6 chữ, cũng theo lối vắt dòng thành liên khúc rồn rập gợi lên trạng thái suy cảm, xót xa nối xót xa. Như vậy mỗi bài thơ tân hình thức đều bộc bạch những cảm xúc, tâm trạng, suy tư bằng lối diễn ngôn liền mạch, gây xung chấn về cảm giác. Mỗi câu thơ hiện lên những hình ảnh trực cảm khơi gợi các trạng thái tâm hồn của chủ thể bài thơ. Một thể thơ có khả năng tạo nên sự dồn nén cảm xúc cũng là những phẩm chất đặc trưng của thơ ca.
Tiếp cận thơ tân hình thức cho thấy, một bài thơ có thể dùng các thể thơ 4 chữ, 5 chữ hay 6, 7, 8 chữ, nhưng có đặc điểm chung là liên tục vắt dòng nối ý cho đến khi kết thúc bài thơ, khác với thơ truyền thống về cường độ và nhịp điệuliên hoàn, từ đó gợi ra cách đọc riêng, đó là sự chảy trôi liền mạch từ cảm hứng nối tiếp tâm trạng. Một bài thơ truyền thống thường liển nghĩa ngay trong một ngữ hoặc một câu hoàn chỉnh, sự ngắt nhịp tự nhiên theo cảm xúc của người đọc theo nhịp 3/2 hoặc 2/3, hoặc 3/5… Song sự ràng buộc nối lời và nối ý chuyển dòng là đặc điểm rõ nét về kết cấu của thơ tân hình thức. Chính cường độ, nhịp độ và tính liên hoàn của thơ tân hình thức đã tạo nên trường thẩm mĩ riêng không lẫn với các thể thơ truyền thống, khi cần biểu đạt cường độ cảm xúc liền mạch nó tỏ rõ ưu thế về lối diễn ngôn khác biệt với các thể thơ khác. Vì thế thơ tân hình thức cần một phương thức đọc biểu cảm riêng, tâm thế tiếp nhận riêng.
Song nếu ai đó quan niệm tuyệt đối hóa thể thơ này có thể thay thế cho các thể thơ khác sẽ trở nên phiến diện, bởi trong thực tiễn cảm xúc con người bao giờ cũng phong phú hơn mọi khuôn mẫu thơ ca, do đó thể thơ tân hình thức chỉ là một kênh tiếp nhận và biểu đạt tâm trạng mà thôi. Lối tăng cường độ và sự liên hoàn sẽ đáp ứng nhu cầu biểu đạt tâm trạng dồn dập, chảy trôi, dai dẳng không ngừng khi nhà thơ muốn biểu lộ các sắc điệu tình cảm của nhân vật trữ tình. Vì thế không phải mọi chủ đề sáng tác, mọi trạng huống nhân sinh đều cần đến tân hình thức; tân hình thức chỉ xuất hiện khi nhu cầu cá nhân cần biểu lộ một trạng thái đặc biệt của tâm hồn. Điều đó cũng như sự xuất hiện của mỗi âm thanh, mỗi loài hoa trong thiên nhiên chúng vốn mang trong mình giá trị thẩm mĩ riêng. Không thể lấy loài hoa này thay thế cho sự tồn tại của loài hoa khác, âm thanh này thay cho âm thanh khác mà mỗi mỗi âm thanh mỗi loài hoa có vẻ đẹp và sắc màu riêng theo giác quan thẩm mĩ của con người. Từ kết cấu nghệ thuật cho hay, dường như thơ tân hình thức là một phương thức biểu đạt kết hợp hài hòa giữa cảm hứng trữ tình và thuật tả được hoà quện đan xen thẩm thấu vào nhau thành liên khúc. Nếu xếp các câu thơ trong bài thơ tân hình thức theo hình tuyến sẽ gợi ra một dạng diễn ngôn trần thuật lồng cảm xúc, tạo cho độc giả một phương thức tiếp cận riêng về cao độ và trường độ. Chính yếu tố nhịp điệu, cao độ và trường độ đã làm nên đặc điểm kết cấu của thơ tân hình thức. Các từ hay âm tiết cuối mỗi dòng thơ (Tiếng Anh hay Tiếng Việt) cũng đều tuân thủ theo trường cảm xúc của nhà thơ để nối với từ hay âm tiết của dòng sau, dĩ nhiên các phương thức biểu đạt đó không tách rời nội dung và cảm xúc của nhà thơ.
Thơ tân hình thức được viết bằng Tiếng Anh và Tiếng Việt, nhưng không thể đồng nhất thơ tân hình thức của các nhà thơ Âu – Mĩ với thơ tân hình thức của các nhà thơ Việt, bởi thơ ca còn mang những đặc điểm riêng trong mình về văn hóa dân tộc. Tuy cùng một cội nguồn tân hình thức, nhưng thơ tân hình thức của người Việt và thơ tân hình thức của các tác giả phương Tây vẫn khác nhau về kết cấu và ngôn ngữ. Kết cấu thơ tân hình thức Âu Mĩ ra đời trong nền văn hóa Âu Mĩ; thơ tân hình thức Việt hình thành trong nền văn hóa Việt. Văn hóa phương Tây gắn với nền công nghiệp hiện đại; văn hóa Việt là nền văn hóa nông nghiệp phương Đông thuộc các nước mới phát triển mang màu sắc bản địa. Văn hóa Việt vốn là nền văn hóa đa sắc tộc thể hiện rõ nét trong các phạm trù triết học, đạo đức và tín ngưỡng, tập quán và ngôn ngữ…Sáng tác thơ không bao giời thoát li tiềm thức và tâm lí nhà thơ mà trở thành nghệ thuật. Cho nên cảm xúc và hình ảnh, ngôn ngữ thơ tân hình thức Việt không nhất nhất đồng hành với cảm xúc, hình ảnh với ngôn ngữ phương Tây. Do đó một bài thơ hay trên đất Việt phải khơi dậy được chiều sâu văn hóa Việt. Một bài thơ tân hình thức ở phương Tây cũng cần thể hiện được cảm xúc, hình ảnh hiện thực phương Tây. Đó là quy luật của hành trình sáng tạo, tiếp nhận thơ ca nói chung và thơ tân hình thức.
Cũng như các thể thơ nhập ngoại, một bài thơ tân hình thức Việt, không thể là: “Bình mới rượu mới” hoàn toàn mà đây là một quá trình kế thừa và sáng tạo, bởi không có một hình thức nào lại thiếu nội dung và không có một nội dung nào thiếu hình thức biểu đạt. Do vậy thơ tân hình thức Việt vẫn được phôi thai trong nền văn hóa Việt cả về tâm hồn, tư tưởng, cảm xúc, hình ảnh và ngôn ngữ đến các hình thức chuyển nghĩa và các thể thơ truyền thống. Cái mới trong thơ tân hình thức Việt thể hiện rõ trong diễn ngôn về nhịp điệu, cao độ và trường độ làm hiện lên cảm xúc mới lạ so với các thể thơ khác. Thơ tân hình thức nhiều bài cũng thể hiện cảm hứng tự do, phóng khoáng và uyển chuyển như tùy bút với tản văn, nhưng khác với tùy bút tản văn, thơ văn xuôi, thơ lập thể, thơ cấu hình; thơ tân hình thức thể hiện rõ ở tính liên hoàn trực cảm, tạo cho nó một sắc điệu riêng, một lối cảm thụ riêng không trộn lẫn. Người Việt có 3 kênh tiếp nhận chính về thơ như: đọc thơ, ngâm thơ, phổ nhạc thơ thành bài hát. Gần đây xuất hiện thêm hình thức trình diễn thơ kèm vũ điệu, nhưng vẫn đang trên đường thể nghiệm. Thơ tân hình thức chỉ phát huy hiệu năng thẩm mĩ độc đáo qua giọng đọc, do đó cũng đề ra yêu cầu cao với chủ thể và những độc gỉa có khả năng cộng cảm “đồng tâm tương khí” với nhà thơ. Khi người đọc bắt nhịp được mạch cảm hứng của nhà thơ và thi luật tân hình thức thì sự thể hiện sẽ thành công, bởi đây là một lối diễn ngônriêng tạo nên dáng vẻ cho thơ tân hình thức.
Thơ là sự biểu lộ tinh thần và cảm xúc của nhà thơ, hình thức thể thơ có chi phối trạng thái tâm hồn nhà thơ. Thơ lục bát thường biểu đạt những trạng thái thiết tha, trầm lắng; thơ Đường luật có tính trang nghiêm như chạm khắc hình ảnh cuộc sống; thơ 5 chữ dùng thuật tả các hiện trạng nhân sinh; thơ 4 chữ nghiêng về giễu nhại, cầu nguyện, sôi nổi; thơ tự do nhằm biểu đạt tâm hồn phóng khoáng… Mỗi thể thơ có khả năng thể hiện nhu cầu tình cảm của mỗi con người, đồng thời cũng có sự giao thoa với các thể thơ khác để biểu đạt thế giới muôn màu muôn vẻ. Cho nên mỗi thể thơ mới ra đời có hiệu lực là một “công cụ”, một “phát minh” giúp nhà thơ đi sâu hơn vào cuộc sống.
Việc lựa chọn hình thức biểu đạt thơ ca còn phụ thuộc vào cảm xúc của nhà thơ và nhu cầu bạn đọc. Bởi con người là “tổng hòa của các mối quan hệ xã hội” và quan hệ với thiên nhiên trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, thơ cần đáp ứng các nhu cầu thẩm mĩ khác nhau. Có bài thơ cần nhịp độ trầm lắng; có bài thơ cần sôi nổi mạnh mẽ; có bài thơ cần âm điệu thiết tha, dàn trải; có bài thơ như bức tranh tĩnh lặng; có bài thơ như dòng thác nối nhau… Thơ là cây đàn muôn điệu của thế giới tâm hồn nhân loại. Thơ tân hình thức là một giai điệu riêng trong dàn đồng ca về sự sống muôn màu đó. Song dù ở loại hình nghệ thuật nào cũng phụ thuộc vào chủ thể và ý thức thẩm mĩ cộng đồng. Thơ hay đến với bạn đọc luôn tự nhiên như nước uống, khí trời và nắng gió, nụ cười và tiếng khóc; mỗi sắc màu của thiên nhiên, xã hội có sự biểu hiện riêng nên mỗi diễn biến tâm trạng con người cần có diễn ngôn riêng. Nhà thơ lựa chọn một vấn đề trong cuộc sống cần biểu đạt là hoàn toàn tự do, nhưng không nhất thiết bài thơ nào cũng phải mang trạng thái cuồng nhiệt, gấp gáp, mê say, cuộn chảy, nối liền âm tiết và từ vựng mà đó là sự lựa câu, đặt từ, sắp ngữ hoàn toàn tự nhiên về hình ảnh và nhịp điệu theo tâm cảm, trực cảm của mình. Bởi trong cuộc sống không phải con người khi nào cũng có sự đồng bộ, đồng hành về đau khổ, thương yêu, oán hận mà mỗi trạng thái tâm lí đều gắn với cái tôi nghệ sĩ trước cuộc sống muôn màu. Tuy nhiên có những điều biến đổi từ hiện thực khách quan đã tác động đến trạng thái chung của tâm hồn thi sĩ và bạn đọc, nhưng không thể biến những tác động chung của xã hội, thiên nhiên thành trạng thái chung của mọi tác phẩm thơ ca. Mà mỗi tác phẩm thơ ca luôn gắn với tâm trạng riêng của người nghệ sĩ có liên quan với những biến thiên của ngoại cảnh và thời đại. Hiện nay trên thi đàn cho thấy, một số bài thơ tân hình thức Việt xuất hiện đang tiến gần tới tâm cảm, trực cảm của bạn đọc, nhưng đó đây cũng có những bài thơ như một sự gò ép ngôn từ để làm “lạ” thơ ca mang danh tân hình thức nên chưa tạo ra trường thẩm mĩ mới cho người đọc.
Sự hình thành và phát triển của Chủ nghĩa tân hình thức (New Formalism) trên thế giới, đã chi phối mô hình kiến tạo thơ tân hình thức (new formaml poety) từ phương Tây đến Việt Nam. Thơ tân hình thức đã góp phần mở rộng thêm phương thức biểu hiện nghệ thuật thơ ca thơ thế giới với Việt Nam và. Song trên thi đàn Việt Nam hiện nay chưa có thể thơ nào mang tính chất độc tôn, tiên phong hay đại diện trong sáng tạo và tiếp nhận. Mỗi thể thơ đều có ưu thế và hạn chế riêng trong phản ánh và biểu đạt bởi “cuộc sống luôn rộng lớn hơn nghệ thuật” (Bêlinxki). Việc đổi mới nền thơ ca đương đại là hiện đại hóa các giá trị tinh thần kết tinh trong nền văn hóa đa sắc tộc Việt Nam có bề dày lịch sử kết hợp với những tinh hoa nghệ thuật thơ thế giới. Mỗi thể loại nội sinh và ngoại nhập đều có vị thế riêng trong quá trình phát triển “đấu tranh sinh tồn” để tạo nên các giá trị tinh thần dân tộc. Tiếp thu mỗi loại hình nghệ thuật trên thế giới là đón nhận một hệ hình mĩ học mới góp phần mở rộng thêm hướng đi của nền nghệ thuật tương lai. Song thành quả của một loại hình nghệ thuật không thể tách rời tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ trước một nền văn hóa và công chúng yêu nghệ thuật luôn chờ đón, nuôi dưỡng và phát triển những đứa con tinh thần mới.
Hạ chí, năm Canh Tý
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Khế Iêm, Tân hình thức (Nghĩ về cách làm thơ), Tạp chí Sông Hương, ngày 14 / 4 / 2016
Hạ Nguyên (2017), Thơ Tân hình thức Việt và bạn thơ trên thế giới, Tạp chí Sông Hương ngày 10/11/2017
Nhiều tác giả (2014). Thơ tân hình thức tiếp nhận và sáng tạo, Nxb. Thuận Hóa
Nguyễn Hoạt. Tình buồn. Tạp chí Sông Hương, ngày 26.6.2012.
Nguyễn Lãm Thắng. Nghe lạnh vào đông. Tạp chí Sông Hương, ngày 21.01.2017.
Nguyễn Tuệ. Tình yêu, mũi tên và bia bắn. Tạp chí Sông Hương, ngày 19.6.2012.
Trần Mạnh Tiến (2019). Thơ Việt trên hành trình đổi mới, Nxb. Hội Nhà văn
Tiếng Anh
A Formal Feeling Comes: Poems in Form by Contemporary Women, edited by Annie Finch, 1993
Rebel Angels: 25 Poets of the New Formalism edited by Mark Jarman and David Mason, 1996.
*Bài đã đăng Tạp chí LLPBVH&NTTW, số 12/2020, tr. 9-tr.17
Giữ gìn giọng hát thơ mộng… Untitled (Bài thơ nói trong chai), một phần của Shilpa Gupta: Mặt trời vào ban đêm. Ảnh: Tim Whitby/Getty Images
When the Chinese dissident Liu Xia was under house arrest with state security guards posted at her front door, she wrote a passionate poem to her husband, Liu Xiaobo: “I’ll never give up the struggle for freedom from the oppressors’ jail, but I’ll be your willing prisoner for life.” / Nhà thơ Liu Xia bị quản thúc tại gia với các nhân viên an ninh nhà nước được bố trí trước cửa nhà, bà đã viết một bài thơ đầy đam mê cho chồng mình, Liu Xiaobo: “Tôi sẽ không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh cho tự do khỏi nhà tù của những kẻ áp bức, nhưng tôi sẽ là tù nhân sẵn sàng của bạn suốt đời.”
Shilpa Gupta has typed up these translated words on what looks to have been an old-fashioned typewriter. They are pinned to the wall beside her line drawing of the late Liu Xiaobo, who won the Nobel prize for his outspoken defence of human rights, was repeatedly imprisoned for challenging China’s authoritarian state, and died in custody in 2017. The following year the Chinese state allowed Liu Xia to leave for medical treatment in Germany, presumably to avoid a second outcry. Liu Xia’s moving poem of protest and love pulls you up. What a story! Where are all the plays and films about this extraordinary couple who told truth to power and spoke their love to one another? / Shilpa Gupta đã gõ những từ được dịch này về những gì trông giống như một máy đánh chữ kiểu cũ. Họ bị ghim vào tường bên cạnh bản vẽ đường dây của bà về người chồng quá cố Lưu Hiểu Ba, người đã giành giải Nobel vì sự bảo vệ nhân quyền thẳng thắn của mình, đã nhiều lần bị bỏ tù vì thách thức nhà cầm quyền Trung Quốc và chết trong khi bị giam giữ vào năm 2017. Năm sau, nhà cầm quyền Trung Quốc cho phép Liu Xia rời đi để điều trị y tế ở Đức. Bài thơ cảm động của Liu Xia về sự phản đối và tình yêu như là một động lực. Một câu chuyện buồn có thật! Đâu là tất cả sự thật như các vở kịch và bộ phim về cặp vợ chồng phi thường này, những người muốn nói lẽ thật trước quyền lực và nói lên tình yêu của họ với nhau?
Đấu tranh cho tự do … Shilpa Gupta: Mặt trời vào ban đêm. Ảnh: Tim Whitby/Getty Images
Hollywood may be too keen to stay friends with China to make biopics of dissidents, but Gupta is drawn to such lives. Her moving exhibition at the Barbican speaks up for a cause that seems almost old-fashioned: the free word. / Hollywood có lẽ mong muốn liên hệ với những người bạn Trung Quốc để làm phim về tiểu sử về những người có ý kiến khác đi, nhưng Gupta mới là người bị thu hút bởi cuộc sống như vậy. Triển lãm di chuyển của cô tại Barbican lên tiếng cho một nguyên nhân dường như gần như lỗi thời: tự do.
If you are old enough to remember the Berlin Wall you may also remember when dissident writers were revered and free speech was a noble cause. That started to change when Salman Rushdie, who like Gupta was born in Mumbai, faced death for his novel The Satanic Verses and was far from universally defended. Today, without a state such as China needing to do anything, many people find reasons to censor the words of others. Books get pulled, authors ostracised, in what is still officially the democratic west. / Nếu bạn biết đến và nhớ ký ức về bức tường Berlin, bạn cũng có thể nhớ khi các nhà văn bất đồng chính kiến được tôn kính và tự do ngôn luận là một nguyên nhân cao quý. Điều đó bắt đầu thay đổi khi Salman Rushdie, người giống như Gupta sinh ra ở Mumbai, phải đối mặt với cái chết cho cuốn tiểu thuyết The Satanic Verses của mình và không được bảo vệ rộng lớn. Ngày nay, nếu không có một quốc gia như Trung Quốc cần phải làm bất cứ điều gì, nhiều người tìm thấy lý do để kiểm duyệt lời nói của người khác. Sách bị kéo,tác giả bị tẩy chay,ở những gì vẫn chính thức là phương Tây dân chủ.
So Gupta’s art has something quietly heroic about it. She reminds us of the infinite preciousness of free expression. Poets and writers who have been imprisoned fill her imagination. “Whether they’ll shoot me at that point when chaos starts,” wonders another of her typescripts, “And I’ll press my trembling hands to the hole that was my heart…” These are the words of Irina Ratushinskaya, whose poetry got her sentenced to seven years in a Soviet hard labour camp in 1983. At the foot of her typed message, Gupta explains how it got out of the camp: “Scratched on soap, memorised, washed away. Then written on cigarette papers, smuggled outside the prison.”/ Vì vậy, nghệ thuật của Gupta có một cái gì đó lặng lẽ anh hùng về nó. Mẹ nhắc nhở chúng ta về sự quý giá vô hạn của tự do ngôn luận. Các nhà thơ và nhà văn đã bị cầm tù lấp đầy trí tưởng tượng của cô. “Liệu họ có bắn tôi vào thời điểm đó khi sự hỗn loạn bắt đầu hay không,” một người khác trong số những người đánh máy của cô, “Và tôi sẽ ấn tay run rẩy của mình vào cái lỗ là trái tim tôi…” Đây là những lời của Irina Ratushinskaya,người có thơ đã khiến cô bị kết án bảy năm trong một trại lao động khổ sai của Liên Xô vào năm 1983. Dưới chân thông điệp đánh máy của mình, Gupta giải thích cách nó ra khỏi trại: “Bị trầy xước trên xà phòng, ghi nhớ, rửa trôi. Sau đó viết trên giấy thuốc lá, được buôn lậu bên ngoài nhà tù”.
Gupta reminds you how shockingly recent this all is – Soviet camps were not something that just existed in Stalin’s time: poets were going to prison for their words in Communist Europe in the 1980s. Across the gallery is a sculpture that says it all, or rather doesn’t: a metal cast of the inside of a human mouth in which you can clearly see the shape of the palette and teeth but not the tongue. It is stopped. Silenced. This ugly chunk of metal looks like it could be a torture instrument specially made for imprisoned writers. / Gupta nhắc nhở bạn rằng tất cả những điều này gần đây gây sốc như thế nào – các trại của Liên Xô không phải là thứ chỉ tồn tại trong thời stalin: các nhà thơ đã phải ngồi tù vì những lời nói của họ ở châu Âu cộng sản trong những năm 1980. Trên khắp phòng trưng bày là một tác phẩm điêu khắc nói lên tất cả, hay đúng hơn là không: một dàn kim loại bên trong miệng người, trong đó bạn có thể nhìn thấy rõ hình dạng của bảng màu và răng nhưng không phải lưỡi. Nó bị dừng lại. Im lặng. Khối kim loại xấu xí này trông giống như nó có thể là một công cụ tra tấn đặc biệt được chế tạo cho các nhà văn bị cầm tù.
Another sculpture consists of corked bottles lined up in a vitrine, each labelled with a poem’s title. The piece is called Untitled (Spoken Poem in a Bottle). It deftly politicises Marcel Duchamp’s celebrated 50 cc of Paris Air: instead of jokily bottling the atmosphere, she sincerely insists these bottles preserve the poetic voice. / Một tác phẩm điêu khắc khác bao gồm các chai nút chai xếp hàng trong một vitrine, mỗi cái được dán nhãn với tiêu đề của một bài thơ. Tác phẩm được gọi là Untitled (Bài thơ nói trong chai). Nó khéo léo chính trị hóa 50 cc paris air nổi tiếng của Marcel Duchamp: thay vì làm đóng chai bầu không khí, cô chân thành khẳng định những chai này bảo tồn giọng nói thơ mộng.
For words are sacred to Gupta. Didn’t she get the email that liberal humanism is dead? The biggest work here, Gupta’s low-lit, rhapsodically intoned sound installation called For, In Your Tongue, I Cannot Fit, feels almost nostalgic in its poetry of the human spirit. / Vì lời nói là thiêng liêng đối với Gupta. Chẳng phải cô ấy đã nhận được email rằng chủ nghĩa nhân văn tự do đã chết sao? Tác phẩm lớn nhất ở đây, cài đặt âm thanh thiếu ánh sáng, rhapsodically của Gupta được gọi là For, In Your Tongue, I Cannot Fit, cảm thấy gần như hoài cổ trong thơ về tinh thần con người.
A hundred typed fragments are speared on waist-high spikes in the prison-like darkness. Bare lightbulbs hang dimly above. There is an antiquated microphone above each spike. First there is silence. Then a single woman or man intones, declaims, whispers or sings a phrase. More voices repeat it, a chorus gathers strength. / Một trăm mảnh vỡ được đánh máy được đâm trên những chiếc gai cao đến thắt lưng trong bóng tối giống như nhà tù. Bóng đèn trần treo mờ ở trên. Có một micro cổ xưa trên mỗi gai. Đầu tiên là sự im lặng. Sau đó, một người phụ nữ hoặc người đàn ông độc thân, tuyên bố, thì thầm hoặc hát một cụm từ. Nhiều giọng nói lặp lại nó, một điệp khúc tập hợp sức mạnh.
Poetry of the human spirit … For, In Your Tongue, I Cannot Fit Photograph: Tim P Whitby/Getty Images for Barbican Art Gallery
Poetry of the human spirit … For, In Your Tongue, I Cannot Fit Photograph: Tim P Whitby/Getty Images for Barbican Art Gallery
The same texts that Gupta prints up elsewhere in the show are voiced here, among many more. Each was written by an imprisoned writer, today or long ago, in a conversation across time and place. Gupta takes up these isolated poems of the confined and the brutalised, and lends them a chorus of solidarity. It is like Wordsworth’s poem to the imprisoned Toussaint L’Ouverture: “There’s not a breathing of the common wind / That will forget thee; thou hast great allies…” / Các văn bản tương tự mà Gupta in lên ở những nơi khác trong chương trình được lồng tiếng ở đây, trong số nhiều hơn nữa. Mỗi người được viết bởi một nhà văn bị cầm tù, ngày nay hoặc từ lâu, trong một cuộc trò chuyện qua thời gian và địa điểm. Gupta tiếp nhận những bài thơ cô lập này của những người bị giam cầm và tàn bạo, và cho họ mượn một điệp khúc của tình đoàn kết. Nó giống như bài thơ của Wordsworth gửi cho Toussaint L’Ouverture bị cầm tù: “Không có một hơi thở của gió chung / Điều đó sẽ quên đi; Ngươi có những đồng minh tuyệt vời…”
But who does she think she’s kidding? A chorus of support for lonely brave voices? It doesn’t seem likely. Today’s social media chorus is more likely to bay for an offending author’s blood. Gupta’s project matters all the more, then, for its rarity. All she needs is a bit more bite: perhaps to celebrate voices that are provocative right here and now. As it is, her defence of freedom is slightly lacking freedom’s danger. It is true and timely nonetheless. / Nhưng cô ấy nghĩ cô ấy đang đùa với ai? Một điệp khúc hỗ trợ cho những giọng nói dũng cảm cô đơn? Có vẻ như không khả năng. Điệp khúc truyền thông xã hội ngày nay có nhiều khả năng bay cho máu của một tác giả vi phạm. Dự án của Gupta càng quan trọng hơn, sau đó, vì sự hiếm có của nó. Tất cả những gì cô ấy cần là cắn nhiều hơn một chút: có lẽ để ăn mừng những giọng nói khiêu khích ngay tại đây và bây giờ. Như vậy, sự bảo vệ tự do của cô ấy hơi thiếu sự nguy hiểm của tự do. Tuy nhiên, đó là sự thật và kịp thời.
Điều gì ảnh hưởng đến Nghệ thuật? Bởi Melville D Jackson | ngày 20 tháng 1 năm 2011
Usually words “Influence” and “art” are connected in a sentence like “how art influences your life,” but here we are going to speak about what influences art. Why an artwork is “warts and all,” what made it itself, and the reasons a particular piece of artwork might have its shape, colors, theme and, of course, underlying idea.
Generally, for consumers of art, art is a part of our life. We love art because it`s beautiful, because it`s our history, it`s a door to a different world, a world of our imagination and thoughts. But for artist his artwork is a part of him, of his life, it is his perception of some events around him; it is his way to show us history.
So any artwork is a result of many factors that influenced the artist. The list of these factors is endless. We are going to talk about what I consider to be the top 3.
The #1 is politics, because politics shows the interest of the society, its needs and desires. Politics includes not only the politic of government, but also economics and culture, and all the major events in the world. Plato said that politics is a royal art of managing all other kinds of art. Art, in its direct meaning, is a really powerful instrument of influence, another type of propaganda. And artists use it in order to show their position and set us thinking.
The #2 is natural phenomenon. Especially now when the amount of environmental art movements is growing rapidly, we can see the influence of this factor, we can see the artists’ desire to attract our attention to natural problems.
The #3 is technology. In comparison with the factors listed above it may sound insignificant, but it`s not. Now is an age of progress, the age of technology. Technology changes us, changes our world and it is one of the major factors that influence politics and natural phenomenon. In addition technology gives to artist new possibilities that result in new art movements and new previously unseen artworks. This is true even when the technology in question is a new way to mix paints, or a newly developed painting tool.
Every person is a member of society and artists are no exception, even if they sometimes prefer to remain on the sidelines. Yes, they are making their works because they cannot not to do it, but a fundamental aspect of the process comes from their presence in and relationships within the society. It means that #4 factor must be the artist`s life. His own world: his friends and love, his interests, his childhood, his place of living and so forth.
Art shows history, but what is more important, it shows us a perception of history. And we should remember that an artwork it not just a beautiful thing, but it has a message, and we need to discover its sense.
Original Fine Art for Sale by Agora Gallery, New York. Buy oil, acrylic & watercolor paintings, photography, sculptures and more from emerging and established artists.
Thông thường các từ “Ảnh hưởng” và “nghệ thuật” được kết nối trong một câu như “nghệ thuật ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn như thế nào”, nhưng ở đây chúng ta sẽ nói về những gì ảnh hưởng đến nghệ thuật. Tại sao một tác phẩm nghệ thuật là “điểm nhấn và là tất cả”, điều gì đã tạo nên chính nó và lý do một tác phẩm nghệ thuật cụ thể có thể có hình dạng, màu sắc, chủ đề và tất nhiên, ý tưởng cơ bản.
Nói chung, đối với người tiêu dùng nghệ thuật, nghệ thuật là một phần của cuộc sống của chúng ta. Chúng tôi yêu nghệ thuật vì nó đẹp, bởi vì nó là lịch sử của chúng tôi, nó là cánh cửa dẫn đến một thế giới khác, một thế giới của trí tưởng tượng và suy nghĩ của chúng tôi. Nhưng đối với nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật của anh ta là một phần của anh ta, của cuộc đời anh ta, nó là nhận thức của anh ta về một số sự kiện xung quanh anh ta; đó là cách của anh ấy để cho chúng ta thấy lịch sử.
Vì vậy, bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào là kết quả của nhiều yếu tố tác động đến người nghệ sĩ. Danh sách các yếu tố này là vô tận. Chúng ta sẽ nói về thứ mà tôi coi là top 3. Số 1là chính trị, bởi vì chính trị thể hiện sự quan tâm của xã hội, nhu cầu và mong muốn của xã hội. Chính trị không chỉ bao gồm chính trị của chính phủ, mà còn kinh tế và văn hóa, và tất cả các sự kiện lớn trên thế giới. Plato nói rằng chính trị là một nghệ thuật hoàng gia trong việc quản lý tất cả các loại nghệ thuật khác. Nghệ thuật, theo nghĩa trực tiếp của nó, là một công cụ ảnh hưởng thực sự mạnh mẽ, một loại hình tuyên truyền khác. Và các nghệ sĩ sử dụng nó để thể hiện vị trí của họ và khiến chúng ta phải suy nghĩ. # 2 là hiện tượng tự nhiên. Đặc biệt là hiện nay khi số lượng các phong trào nghệ thuật môi trường đang phát triển nhanh chóng, chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của yếu tố này, chúng ta có thể thấy mong muốn thu hút sự chú ý của các nghệ sĩ đối với các vấn đề tự nhiên. Thứ 3 là công nghệ. So với các yếu tố được liệt kê ở trên, nghe có vẻ không đáng kể, nhưng không phải vậy. Bây giờ là thời đại của sự tiến bộ, thời đại của công nghệ. Công nghệ thay đổi chúng ta, thay đổi thế giới của chúng ta và nó là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến chính trị và hiện tượng tự nhiên. Ngoài ra, công nghệ mang đến cho nghệ sĩ những khả năng mới tạo ra các phong trào nghệ thuật mới và các tác phẩm nghệ thuật mới chưa từng thấy trước đây. Điều này đúng ngay cả khi công nghệ được đề cập là một cách mới để pha sơn, hoặc một công cụ sơn mới được phát triển.
Mỗi người đều là một thành viên của xã hội và nghệ sĩ cũng không ngoại lệ, ngay cả khi họ đôi khi thích đứng ngoài lề. Đúng, họ đang tạo ra tác phẩm của mình bởi vì họ không thể không làm, nhưng một khía cạnh cơ bản của quá trình này đến từ sự hiện diện của họ trong và các mối quan hệ trong xã hội. Có nghĩa là yếu tố số 4 phải là cuộc sống của nghệ sĩ. Thế giới riêng của anh ấy: bạn bè và tình yêu của anh ấy, sở thích của anh ấy, tuổi thơ của anh ấy, nơi sống của anh ấy, v.v.
Nghệ thuật cho thấy lịch sử, nhưng điều quan trọng hơn, nó cho chúng ta thấy một nhận thức về lịch sử. Và chúng ta nên nhớ rằng một tác phẩm nghệ thuật nó không chỉ là một thứ đẹp đẽ, mà nó còn có một thông điệp, và chúng ta cần khám phá ý nghĩa của nó.
Tác phẩm Mỹ thuật gốc để bán tại Agora Gallery, New York. Mua tranh sơn dầu, acrylic & màu nước , nhiếp ảnh, tác phẩm điêu khắc và hơn thế nữa từ các nghệ sĩ mới nổi và thành danh.
Phân tích nghệ thuật tiểu thuyết của Milan Kundera Bởi Bose Anand|ngày 01 tháng 3 năm 2018
The Depreciated Legacy of Cervantes
In the beginning of the depreciated legacy of Cervantes, the author makes the assumption that the whole History of Europe extending up to America has plunged into a crises with the development of science and technology.
As a novelist Kundera states that the founder of Modern Europe is Cervantes the author of Don Quixote.
The European novelists focus on various themes. With Cervantes it was adventure. With Balzac it was man’s rootedness in History. With Flaubert it was the incognita of the day. With Tolstoy it was intrusions into the irrationality of human behavior.
The theme of the European Novel lay in the passion to know that is the concrete character of life.
The novel began to have an own phases of life which was renegade with Nietzsche’s theme: Death of God. With Cervantes, truth became baptized as a dead fossil and there emerged a plethora of truths; the character became an imaginary self. The knowledge of good and evil attains a relativistic character, one of ambiguity. Kundera quotes Kafka’s novel, The Trial where an innocent man K becomes the victim of an unjust court.
Don Quixote is a novel where time exits as a juxtaposition between magic and reality. The perspective of time changes when History enters into the realm of being. With the coming of Balzac, the institutions of the society like money, crime, police and law and order enter as epic proportions in the novel.
The modern novel is a paradox where characters are flavored with disaster, yet there’s the triumph of character.
Even though Modern Europe characterizes the rise of rationality-the identity of the self breaks apart. Europe is entangled in the horror of war. Destiny, purposelessness and angst catches on to the character’s life. Values break down. There is as great deal of intolerance and fanaticism.
The novel becomes a paradoxical enterprise. The author comments on the death of the Novel by the Dadaists and the surrealists. He paints a bleak picture of the novel in communist totalitarian societies. The novel during the Communist regime had to face censorship and bans.
Milan Kundera classifies the novel into four categorical themes – the appeal of play, the appeal of dream, the appeal of thought and the appeal of time.
Now what is the appeal of play? Does it mean to say that the novel is a fanciful enterprise? Let’s look at the appeal of play from the perspective of postmodernism. The postmodern novel is an invasion of character. Texts are a collection of metaphors. There is a tendency to import extreme irony and parody. There is also an inherent tendency to lampoon novels of the past and to write in the style of the pastiche.
Now let’s look at the appeal of thought. The author wants to mention that the novel attains a texture of a philosophical entity. The interiority of time becomes an elevated plane of thought. An example of the appeal of thought lies in the streams of consciousness of Joyce.
What is the appeal of dream? The appeal of dream is a juxtaposition of dream and reality. Bach recites magic realism and mouths electric sandwiches. Dream enables the manifestation of the unconscious.
What is the appeal of time? Time is paradoxically situated in interiority. Time becomes a vast enigma of irrationality, an oasis of intimacy, narcissism of the soul, an eclectic mutiny of the mind.
Here the author comments on the quest of the novel. The novel points out to the elusiveness of truth.
Dialogue on the Art of the Novel
Here Kundera dialogues that his novel is not a dictum of psychological aesthetics. I would like to dispute with him on this point. Aesthetics is the futurism of the novel-the avant garde novel of writing. The novel should be a resemblance of Picasso’s Cubist work, an explication of Camus philosophical work: The Myth of the Sisyphus, a piece of baroque music.
Looking at the novel from a psychological framework we have to confront the futility of existential destiny. Disaster marks the triumph of individuality. There will be a tendency of the novel to exorcise the demons of disaster and subvert the character’s identity into a pathos of sympathetic irony.
In the passage Kundera questions the ability of the novel to grasp the self. For Sartre the self is an entity of nothingness. Postmodernism desires to subvert the self. Gratify the ID, deify the Ego and subvert the Super Ego.
During the age of Cervantes the self was deconstructed from the piety of chivalry. In Kafka we see the disintegration of the self. The self becomes a victim of tyrannical bureaucratic edifices. In Joyce the self swims in sea of streams of consciousness.
The author constructs dialogues about the self and History. The self in the novel is a manner of revelation. The self is a confessional symptom. The self is an art of lyrical intimacy.
A novelist cannot escape the universal nature of History. History explained in the novel is one of bringing out the voices of dissent and the aroma of depression. History undergoes the subjectivity of castrated characterization.
The writer classifies the novel as one of being a poly-historical luminosity. What does the term poly-historical mean? It includes the merger of several topics into the novel like art, aphorism, tropes, a pathological characterization of the self.
Dialogue on the art of composition
Here he writes the term-Kafkan after Kafka. He uses an example to illustrate the term. An engineer from a Communist Country goes to London and returns and finds the press has slandered him by saying that he has badly spoken of the country. He approaches the editor who says he got the story from the ministry of the interior and when he goes to the ministry of the interior, they apologize by saying that it was a mistake. The conflict between the personal and the public is described by the author as the Kafkan. ‘
The last section of the book is a compilation a dictionary of terms, he has used for his novels.
Aphorism
Aphorism is very clear meaning a concise statement.
Beauty and Knowledge
What is the term beautiful in the novel? For Cervantes it was adventure. For Kafka it was existential angst, protest against totalitarian bureaucracies. For Joyce it was the searching of art in mundane experiences. What is knowledge? Kundera does not provide a satisfactory explanation of it.
Betrayal He describes betrayal as one of breaking ranks. The notion of betrayal poses a problem in the novel. Let me illustrate by giving an example. Judas betrayed Christ for thirty pieces of silver. Why did the need for pointing out Christ emerge since he was a popular figure? The problem of betrayal in the novel is a problematic one.
Border
Border is signified with emotional terms: like hate, love and angst. Border in a novel has no definable limit.
Comic
Comic for the novelist is not what makes us laugh but a revelation of the unknown.
Destiny
Destiny is the conflict of the self. Destiny is absurd and we have to creatively authenticate a destiny.
Excitation
Excitation for the author is erotic.
Forgetting
Forgetting is a term used to bringing to memory a situation in ironic terms.
Dream
Dream lies in exploiting the ID to create bizarre enigmatic phantasmagorias.
Irony
Irony for the author is an edification of character. It makes the character distraught. As a novelistic technique irony is sublime in literature.
Kitsch
Kitsch for the author is a sentimental flaw. Kitsch is a term where the sentiment, vulgar and offensive is melodiously gratified in narcissism.
Di sản được đánh giá cao của Cervantes
Trong phần đầu của di sản mất giá của Cervantes, tác giả đưa ra giả định rằng toàn bộ lịch sử châu Âu mở rộng đến Mỹ đã rơi vào một cuộc khủng hoảng với sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Như một tiểu thuyết gia Kundera tuyên bố rằng người sáng lập châu Âu hiện đại là Cervantes là tác giả của Don Quixote.
Các tiểu thuyết gia châu Âu tập trung vào các chủ đề khác nhau. Với Cervantes đó là cuộc phiêu lưu. Với Balzac, đó là nguồn gốc của con người trong lịch sử. Với Flaubert, đó là sự ẩn danh của ngày hôm đó. Với Tolstoy, đó là sự xâm nhập vào sự phi lý của hành vi con người. Chủ đề của Tiểu thuyết châu Âu nằm ở niềm đam mê để biết đó là tính cách cụ thể của cuộc sống.
Cuốn tiểu thuyết bắt đầu có một giai đoạn riêng của cuộc sống nổi loạn với chủ đề của Nietzsche: Cái chết của Thiên Chúa. Với Cervantes, sự thật đã được rửa tội như một hóa thạch chết và có rất nhiều sự thật; Nhân vật đã trở thành một cái tôi tưởng tượng. Kiến thức về thiện và ác đạt được một tính cách tương đối, một trong những sự mơ hồ. Kundera trích dẫn cuốn tiểu thuyết của Kafka, The Trial, nơi một người đàn ông vô tội K trở thành nạn nhân của một tòa án bất công.
Don Quixote là một cuốn tiểu thuyết nơi thời gian thoát ra như một sự kết hợp giữa ma thuật và thực tế. Quan điểm của thời gian thay đổi khi lịch sử đi vào lĩnh vực của hiện tại. Với sự xuất hiện của Balzac, các thể chế của xã hội như tiền bạc, tội phạm, cảnh sát và luật pháp và trật tự bước vào như tỷ lệ sử thi trong tiểu thuyết.
Tiểu thuyết hiện đại là một nghịch lý nơi các nhân vật có hương vị thảm họa, nhưng có chiến thắng của nhân vật.
Mặc dù châu Âu hiện đại đặc trưng cho sự gia tăng của tính hợp lý – bản sắc của bản thân bị phá vỡ. Châu Âu đang vướng vào nỗi kinh hoàng của chiến tranh. Số phận, vô mục đích và sự lo sợ bắt kịp cuộc sống của nhân vật. Các giá trị bị phá vỡ. Có rất nhiều sự không khoan dung và cuồng tín.
Cuốn tiểu thuyết trở thành một doanh nghiệp nghịch lý. Tác giả nhận xét về cái chết của cuốn tiểu thuyết của dadaists và các nhà siêu thực. Ông vẽ một bức tranh ảm đạm về cuốn tiểu thuyết trong các xã hội toàn trị cộng sản. Cuốn tiểu thuyết trong chế độ Cộng sản đã phải đối mặt với sự kiểm duyệt và cấm đoán.
Milan Kundera phân loại cuốn tiểu thuyết thành bốn chủ đề phân loại – sự hấp dẫn của trò chơi, sự hấp dẫn của giấc mơ, sự hấp dẫn của suy nghĩ và sự hấp dẫn của thời gian.
Bây giờ sự hấp dẫn của trò chơi là gì? Nó có nghĩa là nói rằng cuốn tiểu thuyết là một doanh nghiệp huyền ảo? Chúng ta hãy nhìn vào sự hấp dẫn của trò chơi từ quan điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại. Cuốn tiểu thuyết hậu hiện đại là một cuộc xâm lược nhân vật. Văn bản là một tập hợp các phép ẩn dụ. Có xu hướng nhập khẩu cực kỳ mỉa mai và nhại lại. Ngoài ra còn có một xu hướng cố hữu đối với tiểu thuyết lampoon của quá khứ và viết theo phong cách pastiche.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào sự hấp dẫn của suy nghĩ. Tác giả muốn đề cập rằng cuốn tiểu thuyết đạt được một kết cấu của một thực thể triết học. Nội tâm của thời gian trở thành một mặt phẳng cao của tư tưởng. Một ví dụ về sự hấp dẫn của tư tưởng nằm trong dòng ý thức của Joyce.
Sự hấp dẫn của giấc mơ là gì? Sự hấp dẫn của giấc mơ là sự kết hợp giữa giấc mơ và thực tế. Bach đọc chủ nghĩa hiện thực ma thuật và miệng bánh sandwich điện. Giấc mơ cho phép biểu hiện của vô thức.
Sự hấp dẫn của thời gian là gì? Thời gian nằm một cách nghịch lý trong nội tâm. Thời gian trở thành một bí ẩn rộng lớn của sự phi lý, một ốc đảo của sự thân mật, tự ái của linh hồn, một cuộc nổi loạn chiết trung của tâm trí.
Ở đây tác giả nhận xét về nhiệm vụ của cuốn tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết chỉ ra sự khó nắm bắt của sự thật.
Đối thoại về nghệ thuật của tiểu thuyết Ở đây Kundera đối thoại rằng cuốn tiểu thuyết của ông không phải là một câu châm ngôn về thẩm mỹ tâm lý. Tôi muốn tranh cãi với anh ấy về vấn đề này. Thẩm mỹ là chủ nghĩa tương lai của tiểu thuyết – tiểu thuyết tiên phong của văn bản. Cuốn tiểu thuyết nên giống với tác phẩm lập thể của Picasso, một sự giải thích của tác phẩm triết học Camus: Huyền thoại về Sisyphus, một tác phẩm âm nhạc baroque.
Nhìn vào cuốn tiểu thuyết từ một khuôn khổ tâm lý, chúng ta phải đối mặt với sự vô ích của số phận hiện sinh. Thảm họa đánh dấu sự chiến thắng của cá nhân. Sẽ có xu hướng của cuốn tiểu thuyết để xua đuổi những con quỷ của thảm họa và lật đổ danh tính của nhân vật thành một thảm họa của sự mỉa mai thông cảm.
Trong đoạn văn, Kundera đặt câu hỏi về khả năng nắm bắt bản thân của cuốn tiểu thuyết. Đối với Sartre, cái tôi là một thực thể của hư vô. Chủ nghĩa hậu hiện đại mong muốn lật đổ cái tôi. Làm hài lòng ID, thần thánh hóa Ego và lật đổ Super Ego.
Trong thời đại của Cervantes, bản ngã đã được giải mã từ lòng đạo đức của tinh thần hiệp sĩ. Trong Kafka, chúng ta thấy sự tan rã của bản thân. Bản thân trở thành nạn nhân của các tòa nhà quan liêu chuyên chế. Trong Joyce, bản thân bơi trong biển suối ý thức.
Tác giả xây dựng các cuộc đối thoại về bản thân và lịch sử. Bản thân trong tiểu thuyết là một cách của sự mặc khải. Bản thân là một triệu chứng thú tội. Bản thân là một nghệ thuật của sự thân mật trữ tình.
Một tiểu thuyết gia không thể thoát khỏi bản chất phổ quát của lịch sử. Lịch sử được giải thích trong tiểu thuyết là một trong những tiếng nói của bất đồng chính kiến và mùi thơm của trầm cảm. Lịch sử trải qua sự chủ quan của tính cách thiến.
Nhà văn phân loại cuốn tiểu thuyết là một trong những độ sáng đa lịch sử. Thuật ngữ đa lịch sử có nghĩa là gì? Nó bao gồm sự hợp nhất của một số chủ đề vào tiểu thuyết như nghệ thuật, cách ngôn, tropes, một đặc tính bệnh lý của bản thân.
Đối thoại về nghệ thuật sáng tác
Ở đây ông viết thuật ngữ Kafkan sau Kafka. Ông sử dụng một ví dụ để minh họa cho thuật ngữ này. Một kỹ sư từ một quốc gia cộng sản đến London và trở về và thấy báo chí đã vu khống anh ta bằng cách nói rằng anh ta đã nói xấu đất nước. Anh ta tiếp cận biên tập viên nói rằng anh ta nhận được câu chuyện từ Bộ Nội vụ và khi anh ta đến Bộ Nội vụ, họ xin lỗi bằng cách nói rằng đó là một sai lầm. Cuộc xung đột giữa cá nhân và công chúng được tác giả mô tả là Kafkan. ‘
Phần cuối cùng của cuốn sách là một bản tổng hợp một từ điển các thuật ngữ, ông đã sử dụng cho tiểu thuyết của mình.
Cách ngôn
cách ngôn rất rõ ràng có nghĩa là một tuyên bố ngắn gọn.
Vẻ đẹp và kiến thức
Thuật ngữ nào đẹp trong tiểu thuyết? Đối với Cervantes, đó là cuộc phiêu lưu. Đối với Kafka, đó là nỗi sợ hãi hiện sinh, phản đối các bộ máy quan liêu toàn trị. Đối với Joyce, đó là việc tìm kiếm nghệ thuật trong những trải nghiệm trần tục. Kiến thức là gì? Kundera không đưa ra một lời giải thích thỏa đáng về nó.
Sự phản bội Ông mô tả sự phản bội là một trong những phá vỡ hàng ngũ. Khái niệm phản bội đặt ra một vấn đề trong tiểu thuyết. Hãy để tôi minh họa bằng cách đưa ra một ví dụ. Judas đã phản bội Chúa Kitô vì ba mươi miếng bạc. Tại sao nhu cầu chỉ ra Chúa Kitô xuất hiện từ khi ngài là một nhân vật nổi tiếng? Vấn đề phản bội trong tiểu thuyết là một vấn đề.
Biên giới Biên giới được biểu thị bằng các thuật ngữ cảm xúc: như ghét, yêu và sợ hãi. Biên giới trong một cuốn tiểu thuyết không có giới hạn xác định.
Comic
Comic cho tiểu thuyết gia không phải là điều khiến chúng ta cười mà là một sự mặc khải về những điều chưa biết.
Định mệnh
là mâu thuẫn của bản thân. Định mệnh là vô lý và chúng ta phải xác thực một cách sáng tạo một số phận.
Excitation
Excitation cho tác giả là khiêu dâm.
Quên
Quên là một thuật ngữ được sử dụng để mang lại cho bộ nhớ một tình huống bằng những thuật ngữ mỉa mai.
Dream
Dream nằm trong việc khai thác ID để tạo ra những phantasmagorias bí ẩn kỳ lạ.
Trớ trêu
cho tác giả là một sự thay thế của nhân vật. Nó làm cho nhân vật quẫn trí. Như một kỹ thuật mới lạ mỉa mai là tuyệt vời trong văn học.
Kitsch
Kitsch đối với tác giả là một lỗ hổng tình cảm. Kitsch là một thuật ngữ mà tình cảm, thô tục và xúc phạm được hài lòng một cách du dương trong lòng tự ái.
Tôi là Anand Bose từ đất nước của Chúa, Kerala ở Ấn Độ. Tôi là một giáo viên tiếng Anh cũng như một tiểu thuyết gia, nhà thơ, nhà văn được xuất bản. Viết là trong máu của tôi và nó đam mê như làm tình. Tôi tự coi mình là một Philistine Hy Lạp và là một nihilist hiện sinh. Tôi mong muốn biến Triết lý viết tiểu thuyết thành một tác phẩm nghệ thuật.
The philosopher Nietzsche said: art occurs as a synthesis of the Dionysian and the Apollonian elements The Dionysian aspects are beat and rhythm and the Apollonian aspects are melody and harmony.
This article seeks to explicate how Nietzsche’s theory of art works in art, literature, painting, and music.
In music, the Apollonian elements are melody and harmony and the Dionysian elements are rhythm and beat. Music the highest form of art synthesizes the Dionysian and the Apollonian elements. Music is the art of the soul. Music renders passion to the ears. In classical music, the Apollonian elements are more marked. In rock music and blues, it is the convergence of the Dionysian elements. In rap music also the Dionysian elements merge.
Now let’s examine how Nietzsche’s theory of art works in literature. What is Literature? Literature is the music of words. How does this music occur? What are the Dionysian things present in Literature? The Dionysian elements are the ego and the body of the writer and it is from which the Dionysian elements emerge. The Apollonian elements are the structure, form, and texture of the work. The form, texture, and structure of the work become the melody. Now let’s look at various stages, or various periods of work through which literature has passed. The first is classicism. Classicism is a work of art that is mimetic in nature. Art in classicism is the resemblance of nature. Now let’s look at the romantic period of literature. Art in the romantic period is marked by spontaneous feeling and heightened emotion. Romantic art is an allegory of an existing fable. Now let’s look at the surrealist period of literature. Surrealist literature focuses on the subconscious and the inner workings of the mind. Now let’s look at postmodern literature. Post-modern literature is characterized by allusion, reflexivity, meta-theorizing, and also by an unreliable narrator. The Dionysian elements of literature are the form, body, and ego of the writer and the Apollonian elements are the rhythmic outplay of form, texture, and content.
Now let’s examine how Nietzsche’s theory of art works in painting. The Dionysian elements of art are the consciousness of the artist and also the palette and the brush. The Dionysian elements are the product of a finished work of art. Art has gone through various periods and they are classicism, romanticism, expressionism, impressionism, surrealism, cubism, and pop art. Art during the classical period showed the outcoming of mimesis. Art was a resemblance of nature. Art during the romantic period was marked by the passion of overflowing feeling. Art during the expressionistic phase was characterized by expression of feelings like Munch’s scream. Surrealism in art sought to uncover the forces working in dreams and reality. Dali’s persistence of memory is a unique representation of surrealist art. The Cubism of Picasso was the positioning of art objects in abstract dimensional patterns. Pop art brought about the depictions of natural objects and disarmed them into cultural and aesthetic concoctions.
To conclude I would like to say that Nietzsche’s theory of art is the merger of the Dionysian and the Apollonian. The Dionysian elements are rhythm and beat and the Apollonian elements are melody and harmony.
Nhà triết học Nietzsche nói: nghệ thuật xảy ra như một sự tổng hợp của dionysian và các yếu tố Apollonian Các khía cạnh Dionysian là nhịp điệu và nhịp phách và các khía cạnh Apollonian là giai điệu và hòa âm.
Bài viết này tìm cách giải thích lý thuyết nghệ thuật của Nietzsche hoạt động trong nghệ thuật, văn học, hội họa và âm nhạc.
Trong âm nhạc, các yếu tố Apollonian là giai điệu và sự hài hòa và các yếu tố Dionysian là nhịp điệu và nhịp phách. Âm nhạc là hình thức nghệ thuật cao nhất tổng hợp các yếu tố Dionysian và Apollonian. Âm nhạc là nghệ thuật của tâm hồn. Âm nhạc làm cho niềm đam mê đến tai. Trong âm nhạc cổ điển, các yếu tố Apollonian được đánh dấu nhiều hơn. Trong nhạc rock và blues, nó là sự hội tụ của các yếu tố Dionysian. Trong nhạc rap cũng hợp nhất các yếu tố Dionysian.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét lý thuyết nghệ thuật của Nietzsche hoạt động như thế nào trong văn học. Văn học là gì? Văn học là âm nhạc của lời nói. Âm nhạc này xảy ra như thế nào? Những điều dionysian có trong văn học là gì? Các yếu tố Dionysian là bản ngã và cơ thể của nhà văn và đó là từ đó các yếu tố Dionysian xuất hiện. Các yếu tố Apollonian là cấu trúc, hình thức và kết cấu của tác phẩm. Hình thức, kết cấu và cấu trúc của tác phẩm trở thành giai điệu. Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào các giai đoạn khác nhau, hoặc các giai đoạn công việc khác nhau mà văn học đã vượt qua. Đầu tiên là chủ nghĩa cổ điển. Chủ nghĩa cổ điển là một tác phẩm nghệ thuật có tính chất mimetic. Nghệ thuật trong chủ nghĩa cổ điển là sự tương đồng của thiên nhiên. Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào thời kỳ lãng mạn của văn học. Nghệ thuật trong thời kỳ lãng mạn được đánh dấu bằng cảm giác tự phát và cảm xúc cao. Nghệ thuật lãng mạn là một câu chuyện ngụ ngôn về một câu chuyện ngụ ngôn hiện có. Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào thời kỳ siêu thực của văn học. Văn học siêu thực tập trung vào tiềm thức và hoạt động bên trong của tâm trí. Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào văn học hậu hiện đại. Văn học hậu hiện đại được đặc trưng bởi sự ám chỉ, phản xạ, lý thuyết tổng hợp, và cũng bởi một người kể chuyện không đáng tin cậy. Các yếu tố Dionysian của văn học là hình thức, cơ thể và bản ngã của nhà văn và các yếu tố Apollonian là sự vượt trội nhịp nhàng của hình thức, kết cấu và nội dung.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét lý thuyết nghệ thuật của Nietzsche hoạt động như thế nào trong hội họa. Các yếu tố dionysian của nghệ thuật là ý thức của nghệ sĩ và cũng là bảng màu và cọ. Các yếu tố Dionysian là sản phẩm của một tác phẩm nghệ thuật đã hoàn thành. Nghệ thuật đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau và chúng là chủ nghĩa cổ điển, lãng mạn, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa lập thể và nghệ thuật pop. Nghệ thuật trong thời kỳ cổ điển cho thấy sự xuất hiện của mimesis. Nghệ thuật là một sự tương đồng của thiên nhiên. Nghệ thuật trong thời kỳ lãng mạn được đánh dấu bằng niềm đam mê cảm giác tràn ngập. Nghệ thuật trong giai đoạn biểu hiện được đặc trưng bởi biểu hiện của những cảm xúc như tiếng hét của Munch. Chủ nghĩa siêu thực trong nghệ thuật đã tìm cách khám phá các lực lượng làm việc trong giấc mơ và thực tế. Sự kiên trì của dali về trí nhớ là một đại diện độc đáo của nghệ thuật siêu thực. Chủ nghĩa lập thể của Picasso là vị trí của các đối tượng nghệ thuật trong các mẫu kích thước trừu tượng. Nghệ thuật pop đã mang lại những mô tả về các vật thể tự nhiên và giải giáp chúng thành các định chế văn hóa và thẩm mỹ.
Để kết luận, tôi muốn nói rằng lý thuyết nghệ thuật của Nietzsche là sự hợp nhất của Dionysian và Apollonian. Các yếu tố Dionysian là nhịp điệu và phách và các yếu tố Apollonian là giai điệu và sự hài hòa.
Tôi là Anand Bose từ đất nước của Chúa, Kerala ở Ấn Độ. Tôi là một giáo viên tiếng Anh cũng như một tiểu thuyết gia, nhà thơ, nhà văn được xuất bản. Viết là trong máu của tôi và nó đam mê như làm tình. Tôi tự coi mình là một Philistine Hy Lạp và là một nihilist hiện sinh. Tôi mong muốn biến Triết lý viết tiểu thuyết thành một tác phẩm nghệ thuật.
Các nhà thơ địa phương khởi động
Liên hoan Nghệ thuật Wexford 05 Tháng mười 2021
Hai nhà thơ địa phương có vinh dự bắt đầu Liên hoan nghệ thuật Wexford năm nay. Giáo viên Wexford Ronán P. Berry và nam diễn viên Fintan Murphy sẽ đọc từ tác phẩm mới nhất của họ tại một địa điểm mới, Lâu đài Johnstown, vào thứ Bảy.
Các nhà thơ địa phương khởi động Liên hoan Nghệ thuật Wexford – Independent.ie
Niềm đam mê viết lách của Ronán nổi lên khi anh 17 tuổi, nhưng mãi đến những ngày đầu của Covid-19, giọng thơ độc đáo của anh mới xuất hiện. Là người gốc Hayestown, thơ của ông khám phá các chủ đề về địa điểm, lịch sử, huyền thoại và truyền thuyết, tình yêu và thời thơ ấu. Cũng là một ca sĩ và diễn viên ballad truyền thống thành công, tác phẩm của Ronán đã được xuất bản trên The Wexford Bohemian, Treoir và trong các tạp chí thơ trực tuyến khác nhau. Tập thơ đầu tiên của ông, ‘Kinsfolk’, đã được phát hành vào đầu năm nay.
Một nhà văn không kém phần thành công là nhà thơ Fintan, một người gốc Mayglass, người đã tham gia vào các bộ phim nghiệp dư và theo đuổi văn học trong suốt cuộc đời của mình. Ông đã có thơ, truyện ngắn và các bài báo – nghiêm túc và hài hước – được xuất bản. Ông đã viết những tác phẩm chuyển thể một hành động từng đoạt giải thưởng của Shakespeare. Tập thơ đầu tiên của ông, Slender Towards the Sky, được xuất bản vào năm 2006. Bài đọc bắt đầu lúc 2:30 chiều.m. và miễn phí.
Hai nhà thơ địa phương có vinh dự bắt đầu Liên hoan nghệ thuật Wexford năm nay. Giáo viên Wexford Ronán P. Berry và nam diễn viên Fintan Murphy sẽ đọc từ tác phẩm mới nhất của họ tại một địa điểm mới, Lâu đài Johnstown, vào thứ Bảy.
Niềm đam mê viết lách của Ronán nổi lên khi anh 17 tuổi, nhưng mãi đến những ngày đầu của Covid-19, giọng thơ độc đáo của anh mới xuất hiện. Là người gốc Hayestown, thơ của ông khám phá các chủ đề về địa điểm, lịch sử, huyền thoại và truyền thuyết, tình yêu và thời thơ ấu. Cũng là một ca sĩ và diễn viên ballad truyền thống thành công, tác phẩm của Ronán đã được xuất bản trên The Wexford Bohemian, Treoir và trong các tạp chí thơ trực tuyến khác nhau. Tập thơ đầu tiên của ông, ‘Kinsfolk’, đã được phát hành vào đầu năm nay.
Một nhà văn không kém phần thành công là nhà thơ Fintan, một người gốc Mayglass, người đã tham gia vào các bộ phim nghiệp dư và theo đuổi văn học trong suốt cuộc đời của mình. Ông đã có thơ, truyện ngắn và các bài báo – nghiêm túc và hài hước – được xuất bản. Ông đã viết những tác phẩm chuyển thể một hành động từng đoạt giải thưởng của Shakespeare. Tập thơ đầu tiên của ông, Slender Towards the Sky, được xuất bản vào năm 2006. Bài đọc bắt đầu lúc 2:30 chiều.m. và miễn phí.
Post-sale A French record for Vietnamese artist Phan Chanh
Xuân Thủy
ĐỨA TRẺ XA MẸ
Đứa trẻ xa mẹ lâu
rồi đứa trẻ gặp lại
mẹ nó không biết thế
nào là mừng vui là
đứa trẻ xa mẹ nó
đã sống là đứa trẻ
hay sao mọi người vẫn
thế gọi nó là đứa trẻ
nó biết thế khi nghe
mọi người gọi nó thế
còn nó nghĩ gì đâu là
mẹ là cha nó ăn
nó ngủ nó chơi trên
đất này trên cát này
nó khóc khi đau và
cười khi ai đó chơi
cùng đến một ngày kia
ai đó chở nó đi
gặp một người gọi nó
là con bằng một cái
tên bây giờ mới biết
chứ từ trước tới giờ
có biết gì đâu nó
không biết nó là đứa
trẻ không biết nó xa
mẹ cha tháng ngày kia
nó không biết là đã
mất ngày mẹ nó lo cho
nó viết lại từng môn
học để nhắc nó đến
lớp mỗi ngày như thể
nó mới vào lớp một
mà thực ra nó mới
vừa đậu đại học nó
không vui mà lại khóc
một mình nó biết vậy
thôi chứ không ai biết
kể cả cô gái nó yêu
cho đến ngày nó tưởng
tượng cơn đau không phải
của nó mà của mẹ
cha nó như thế nào
không ai có thể cho
nó biết kể cả mẹ
cha nó cho đến ngày
nó tưởng tượng ra cơn
đau của nó chỉ là
trong cái ao tù của
dòng suối kiệt không trôi
được ra biển lớn… những
đứa trẻ ngày ngày trôi
ra đời và nó cũng
chỉ là một đứa trẻ
không gia đình tan nát
vì hòa bình chiến tranh
những tội ác không tên
không có tòa án và
nó chỉ là một con
người…
2/6/2013
CHỢ TRẦN HỮU TRANG
hố lớn thênh thang chợ nhỏ nho
con chợ nho nhỏ lẩn sau phố
người nhường nhau buổi sáng nay mua
từng món đồ tươi roi rói con
lôm côm nhảy cái bánh tôm dầu
chiên ai cũng biết là cũ nên
chẳng ai ngó cánh sen tươi hoa
cúc vàng như bao chợ khác người
… người nhường nhau gánh hàng khoai nóng
đương vội cân một lạng hai ngàn
người người nhường nhau không ai nói
một câu lớn nhẹ nhàng đỡ nải
chuối đem về trên con đường nhỏ
cán xi măng sạch sẽ không ai đánh
rơi vệt bụi nào trong ánh sáng
ban mai này nơi đầu chợ nơi
đuôi chợ lan ra như vệt loang
tỏa ra che đậy cái chợ xưa
cũ ngày xưa cũng thế loang dần
ngày xưa sạch sẽ nhưng nay xưa
cũ rồi từng lớp đất nhày nhụa
dép lê guốc cao guốc thấp dày
tây đi làm vội ai vào bên
trong hàng cà phê tươi bên hàng
bánh mì tươi sạch sáng bóng những
chiếc xe máy nhỏ vừa đủ nhường
nhau nơi đầu chợ nơi cuối chợ
sạch sẽ rồi quay lui lặng lẽ
đã đủ cho buổi sáng và ngày
tươi mới ba bữa ăn no một
gia đình người Sài Gòn cũng như
bao gia đình như người đang bán
người đang mua không muốn làm gì
trong tăm tối trong cái nhà lồng
tối tăm cái chợ không đủ một
đôi guốc người con gái Sài Gòn…
11.6.2013
NHỮNG CON ĐƯỜNG VIỆT NAM
những con đường gợn sóng
không giống với bất cứ
con đường nào trên trái
đất và sao hỏa hay
bất cứ sao nào khác
nhưng những con đường gợn
sóng rất giống khi ta
đi bộ bình yên dọc
theo những bờ cát trắng
bình yên biển nhấp nhô
gợn sóng xanh xanh xa
mù và trắng xóa nỗi
niềm trên đầu của ai…
một con bé mới ra
lò vẫn sai ta phải
làm cái gì đó cho
ai đó nhưng cuối cùng
không biết để làm gì
như những con đường gợn
sóng kia vậy dù trên
đường hay trên bờ biển
bình yên…
một ngày mưa thật buồn…
Nằm trong phòng nhìn ra
khung cửa sổ, mưa cứ
rơi… thấy lòng buồn man
mát… những kỉ niệm buồn
cứ thi nhau ùa về…
Mưa ơi, hãy cuốn đi
hết những chuyện tình buồn
của tôi theo mưa luôn
nhé
23.4.2013
(?)
Chẳng còn ai chờ em dưới mưa
Như ngày xưa anh từng chờ đợi
Đôi vai ướt đầm mái đầu tóc
rối cây bàng xanh lặng lẽ bên
đường kỷ niệm qua rồi, còn lại
nhớ thương anh ra đi, đêm mưa
thành cổ tích em ở lại, cành bơ
vơ hờn trách lá vàng ơi, giờ
bay mãi tận đâu … Em bây giờ
như hạt mưa lang thang thèm lay
ướt vòm cây xanh cũ giá em
được ào rơi về quá khứ có
còn anh lạnh ướt đứng chờ em.
(?)
Cơm Thiu
GIẤC MƠ UFO
Dấu hiệu phía góc Đông Bắc bầu trời.
Một hố/cổng/vành đai tròn màu xanh
huyền ảo vừa kì bí vừa ma quái…
xuất hiện, như một lỗ thủng/cánh cửa.
Kích thích sự tò mò/sợ hãi rồi
xoa diu nó bằng sự im lặng. Cho
đến đêm thứ 3, một cái ngàm tròn
chui ra từ cái lỗ, phía sau là
một chùm sợi tơ/cáp. Cái ngàm di
chuyển khắp phía dưới bầu trời… và bắt
đầu gom hết mây, hút về phía bên
kia cái lỗ. Cái ngàm quay trở lại,
và bắt đầu phun một chất dạng sương
mù, đám sương mù đó bắt đầu hút
hết hơi nước về đó tạo thành những
đám mây to, và lần lượt bị hút
và chuyển qua bên kia cái lỗ… Anh
chăm chú theo dõi và cảm thấy kì
bí, thú vị….cho đến khi trời hửng
sáng, một cảm giác rùng rợn khiếp đảm
bao trùm, khắp nơi nơi là vệt chất
nhầy đã khô trong suốt hình thù một
loại bọ giống nhau đầy khắp mặt đất…
Anh giật mình tỉnh ngủ, trời vừa sáng.