So sánh hai bài thơ về loài chim

Ảnh của Hạo Nhiên
Ảnh của Hạo Nhiên

Trong văn học, thiên nhiên luôn được coi là một chủ đề quan trọng. Là một đối tượng tự nhiên, chim cũng được nhắc đến trong thơ ca. Trên thực tế, nhiều nhà thơ đã viết nhiều bài thơ hay về chim. Chim cũng thường được sử dụng làm biểu tượng trong thơ ca. Ví dụ, trong văn học Bangla, chim cu gáy thường gắn liền với mùa xuân. Trong văn học Anh, có nhiều bài thơ viết về chim hoặc chim đóng vai trò quan trọng trong các bài thơ. Ví dụ, Ode to a Nightingale của John Keats và Ode to a Skylark của PB Shelly là hai bài thơ rất nổi tiếng về chim. Một bài thơ khác là The Rime of the Ancient Mariner của Samuel Taylor Coleridge, trong đó nhà thơ đã sử dụng chim hải âu lớn làm biểu tượng. Theo yêu cầu của bài tập, tôi đã chọn Ode to Nightingale của John Keats và The Rime of the Ancient Mariner của STColeridge để thảo luận.

Trước khi thảo luận về hai bài thơ trên, cần làm rõ đôi nét về hai nhà thơ này và thời kỳ Lãng mạn trong văn học Anh nói chung. Thời kỳ Lãng mạn trong văn học Anh là một thời kỳ độc đáo bởi vì trong thời kỳ này, tất cả các nhà thơ đều sáng tác thơ về thiên nhiên và các chủ đề liên quan đến thiên nhiên. Thiên nhiên là khía cạnh chính trong thơ ca của họ. Trước họ, không nhà thơ nào có thể nghĩ về thiên nhiên như chủ đề chính của một bài thơ. Các nhà thơ Lãng mạn đã thành công trong việc thể hiện chủ đề này. Kết quả là, tất cả những bài thơ tuyệt vời về loài chim đều được viết trong thời kỳ này. John Keats là một nhà thơ Lãng mạn, người tôn thờ vẻ đẹp của thiên nhiên trong thơ ca của mình. Các vật thể tự nhiên trở nên sống động và đẹp đẽ trong thơ ông, tuy nhiên ông không coi chúng chỉ là những vật thể tự nhiên vô tri. Thay vào đó, ông pha trộn cảm xúc của riêng mình và tạo ra sự gắn bó cá nhân với chúng. Ông cũng thể hiện những cảm xúc cá nhân như hạnh phúc, buồn bã, hy vọng và thất vọng, v.v. trong thơ của mình. Trong bài Ode to a Nightingale, Keats đã bày tỏ mong muốn thoát khỏi thực tại khắc nghiệt mà ông không thể chịu đựng được. Ông muốn hòa mình vào chú chim họa mi và bay vào cõi mộng.

Ngược lại, STColeridge đã chạm đến những yếu tố siêu nhiên của thiên nhiên và thể hiện chúng một cách rất tự nhiên. Coleridge có trí tưởng tượng tuyệt vời, và với kỹ năng kể chuyện xuất sắc, ông có thể tưởng tượng ra những điều siêu nhiên nhất rồi mô tả nó một cách tự nhiên nhất. Trong bài thơ “The Rime of the Ancient Mariner” , Coleridge đã mô tả cuộc đời của một người thủy thủ đã giết một con hải âu và sau đó phải chịu đựng vô cùng đau khổ vì điều đó. Toàn bộ bài thơ dựa trên phản ứng của việc giết chết con hải âu. Loài chim là một tạo vật tuyệt đẹp của Chúa, và việc giết chết con hải âu mà không có lý do, người thủy thủ đã phạm phải một tội lỗi nghiêm trọng với Chúa.

Chỉ đến thế kỷ XX, con người mới học cách bay như chim trước khi máy bay được phát minh, con người luôn bị mê hoặc bởi ý tưởng bay như chim. Theo thần thoại Hy Lạp, Daedalus và Icarus đã cố gắng bắt chước loài chim và làm ra đôi cánh nhân tạo để bay. Nỗ lực của họ đã thất bại thảm hại. Vì vậy, khái niệm bay giống như một giấc mơ đối với nhân loại cho đến đầu thế kỷ XX, con người kinh ngạc trước loài chim vì chúng có thể bay trên bầu trời. Các nhà thơ cũng đánh giá cao điều này và tâm trí họ cũng muốn bay cùng chúng. Chúng ta thấy loại thôi thúc này trong Bài ca ngợi chim họa mi của Keats . Cuộc đời của John Keats là một cuộc đời rất bi thảm, ông qua đời sớm vì bệnh tật. Ông cũng có một mối tình sâu đậm với một người phụ nữ, điều này không mang lại cho ông thành công mà chỉ mang lại đau khổ. Vào thời của ông, một số nhà phê bình văn học có ảnh hưởng đã chỉ trích thơ của ông theo cách tồi tệ nhất có thể. Vì vậy, cuộc sống trở nên rất khốn khổ đối với John Keats. Cả cuộc đời ông tìm cách trốn thoát khỏi những đau khổ và trong Bài ca ngợi chim họa mi, chúng ta thấy nỗ lực tuyệt vọng của Keats để thoát khỏi thế giới khắc nghiệt và tàn nhẫn xung quanh ông. Ông cảm thấy chim họa mi thật may mắn khi có thể bay đi bất cứ nơi đâu. Mở đầu bài thơ, nhà thơ nhắc đến hoàn cảnh khốn khổ của mình:

Tim tôi đau nhói, và cơn tê liệt buồn ngủ
Cảm giác của tôi, như thể tôi đã uống cây độc cần,
Hoặc đổ một ít thuốc phiện xỉn vào cống
Một phút trôi qua, và Lethe-wards đã chìm:

Ở đây, rõ ràng nhà thơ đã phải chịu đựng rất nhiều khi viết bài thơ này. Cuộc sống đã trở nên quá đau khổ đối với ông, ông cảm thấy như thể mình đã uống cây độc cần hay thuốc phiện. Ông muốn quên đi mọi đau khổ và được hạnh phúc trong niềm vui của chim họa mi.

Đối với Coleridge, chim hải âu không phải là một cách trốn thoát mà là một tạo vật thiêng liêng và tuyệt đẹp của Chúa. Nó mang lại niềm vui cho các thủy thủ. Trong suốt hành trình, họ phải trải qua nhiều ngày cô đơn trên biển cả. Vì vậy, họ thường cảm thấy rất cô đơn và không có cơ hội nhìn thấy bất kỳ dấu hiệu nào của sự sống xung quanh trong nhiều ngày:

Cuối cùng đã vượt qua một con hải âu,
Nó đã đến xuyên qua sương mù;
Như thể đó là một linh hồn Kitô giáo,
Chúng tôi chào đón nó nhân danh Chúa.

Vì vậy, khi nhìn thấy một con hải âu, họ cảm thấy hạnh phúc và hy vọng rằng đất liền đang ở gần họ. Điều tương tự cũng xảy ra với những người bạn đồng hành của người thủy thủ xưa kia. Khi nhìn thấy hải âu, họ vui mừng chào đón nó, cho nó ăn và chơi đùa với nó. Nhờ vậy, hải âu đã mang đến cho họ tình bạn. Nhờ sự xuất hiện của hải âu, họ có thể thoát khỏi sự cô đơn khắc nghiệt xung quanh. Coleridge đã giới thiệu loài chim này như một người bạn và người bạn đồng hành của con người.

Cả hai bài thơ đều sử dụng biểu tượng rất khéo léo. Coleridge đã sử dụng kỹ thuật tự nguyện tạm gác sự hoài nghi, khiến người đọc quên đi thế giới thực và tin rằng thế giới mà nhà thơ đang trình bày là có thật. Cốt truyện của bài thơ xoay quanh ý tưởng về tội lỗi – đau khổ – cầu nguyện – cứu chuộc. Đây là một bài thơ mang đậm dấu ấn đạo đức. Người thủy thủ đầu tiên đã phạm tội và sau đó anh ta phải chịu đựng vì tội lỗi đó. Sau nhiều đau khổ, anh ta cầu nguyện với Chúa và rồi Chúa đã tha thứ cho anh ta. Người thủy thủ đã học được bài học của mình và truyền đạt cho những người khác hãy thể hiện tình yêu thương và lòng tốt với tạo vật của Chúa. Chim hải âu tượng trưng cho Chúa Jesus Christ. Người thủy thủ đã giết chết chú chim vô tội đã mang đến tình bạn và hy vọng cho anh ta và những người bạn thủy thủ:

Và một cơn gió nam tốt nổi lên phía sau;
Chim hải âu đã theo sau,
Và mỗi ngày, để ăn hoặc chơi,
Đã đến tiếng gọi của thủy thủ!

Tương tự như vậy, những người đàn ông củaGiê-ru-sa-lemChúa Kitô bị đóng đinh, Đấng vô tội và mang lại hy vọng cứu rỗi cho họ. Những người đi biển khác kinh hoàng khi phát hiện ra người đi biển đã giết chết con hải âu:

Và tôi đã làm một điều kinh khủng,
Và nó sẽ làm việc đó thật đáng thương:
Với tất cả những gì đã khẳng định, tôi đã giết chết con chim
Điều đó làm cho cơn gió thổi qua.
Ôi khốn khổ! Họ nói, con chim phải giết,
Điều đó làm cho làn gió thổi qua!

Thông thường, tiếng hót của chim họa mi là biểu tượng của niềm vui và hạnh phúc. Nhưng Keats đã viết bài thơ này khi ông đang chịu đựng quá nhiều đau khổ vì bệnh tật. Mặc dù ông tìm kiếm hạnh phúc thông qua chim họa mi, nhưng trong thâm tâm ông biết rằng mình sẽ sớm qua đời. Vì vậy, biểu tượng của cái chết và sự lãng quên hiện diện trong bài thơ này. Keats đã nhiều lần nhắc đến thần thoại Hy Lạp. Bằng cách đó, ông đã đối xử với chim họa mi theo cách như thể nó là một loài chim kỳ diệu, vượt ra ngoài tầm với của bất kỳ nỗi buồn nào. Vì vậy, loài chim này kỳ diệu và thoát khỏi đau khổ của con người. Keats ước mình có thể giống như nó và vượt qua mọi nỗi đau và nỗi buồn của mình. Trong hành trình chấm dứt nỗi buồn, ông giống như Đức Phật. Đức Phật suốt cuộc đời đã tìm cách thoát khỏi đau khổ của con người và đạt được sự cứu rỗi. Keats cũng có cùng mục tiêu đó và trong bài thơ này, chim họa mi của ông có sức mạnh kỳ diệu đó. Vấn đề duy nhất là Keats biết rằng ông là một con người và không thể giống như chim họa mi.

Trong “Ode to a Nightingale”, Keats cố gắng tạo ra sự cân bằng tốt giữa cảm giác và suy nghĩ. Ta có thể tìm thấy những đoạn văn gợi cảm phi thường, như ở phần mở đầu. Bằng cách sử dụng từ “giác quan”, Keats cũng khiến người đọc cảm nhận được sự tê liệt mơ màng này.

Sau đó, nhà thơ đề cập đến những vấn đề của cuộc sống con người, như trong khổ thơ thứ ba:

‘Ở đây, nơi mọi người ngồi và nghe nhau rên rỉ;
Nơi mà sự tê liệt làm rung chuyển một vài sợi tóc bạc cuối cùng, buồn bã,
Nơi tuổi trẻ trở nên nhợt nhạt, gầy gò và chết đi;
Chỉ cần nghĩ đến là đầy rẫy nỗi buồn .

Trái ngược với Keats, Coleridge sử dụng những giáo lý đạo đức của Kitô giáo trong The Rime of the Ancient Mariner. Ông đã nhấn mạnh rất nhiều vào khái niệm tội lỗi và sự cứu rỗi. Thực ra, The Rime of the Ancient Mariner giống như một câu chuyện ngụ ngôn, thoạt đầu có vẻ như một câu chuyện trẻ con, không có ý nghĩa sâu sắc nào, nhưng khi xem xét kỹ hơn, người đọc sẽ nhận ra rằng nó chứa đựng những giáo lý đạo đức sâu sắc nhất. Bài học đạo đức của The Rime of the Ancient Mariner là:

Người cầu nguyện tốt nhất là người yêu thương tốt nhất
Mọi thứ lớn nhỏ;
Vì Chúa yêu thương chúng ta,
Ngài đã tạo ra và yêu thương tất cả.

Kitô giáo cũng dạy chúng ta điều tương tự – yêu Chúa và những tạo vật của Người. Không tôn giáo nào khác nhấn mạnh đến loại tình yêu này đến vậy. Chim hải âu đã ban tặng tình yêu này cho các thủy thủ bằng cách mang lại cho họ niềm vui và may mắn. Vì vậy, chim hải âu cũng là một loài chim kỳ diệu. Chính loài chim này mang lại may mắn và gió mát cho các thủy thủ. Người thủy thủ thời xưa đã hành động ích kỷ và tàn bạo khi giết chết nó. Ông ta chỉ nghĩ đến thú vui của riêng mình. Ông ta thậm chí không nghĩ rằng mình đang giết một con chim vô tội mà không có lý do. Ông ta không thiếu thức ăn nhưng chắc chắn ông ta thiếu lòng nhân từ. Ông ta quên rằng có một vị thần quyền năng hơn bất kỳ ai. Chắc chắn Chúa không thích việc ông ta giết con chim mà không có lý do. Chúa đã cho người thủy thủ thấy rằng dù con người có quyền lực đến đâu, họ cũng không nên đối xử tàn nhẫn với thiên nhiên. Nếu họ không tuân theo nhân loại thì họ sẽ bị trừng phạt. Hình phạt mà người thủy thủ phải chịu đựng thật khủng khiếp. Ông ta đã chịu đựng nỗi đau tồi tệ nhất – sự cô đơn và cô lập. Bản chất con người là động vật xã hội, vì vậy việc ở một mình trên một con tàu giữa biển khơi mênh mông chắc chắn là một điều khủng khiếp. Ông thường ước mình đã chết nhưng điều đó đã không xảy ra

Lời nguyền của một đứa trẻ mồ côi sẽ kéo xuống địa ngục

Một tinh thần từ trên cao;
Nhưng ôi! còn kinh khủng hơn thế nữa
Lời nguyền nằm trong mắt người chết!
Bảy ngày, bảy đêm, tôi đã thấy lời nguyền đó,
Nhưng tôi vẫn không thể chết.

Chỉ sau khi người thủy thủ nhận ra tội lỗi của mình và cầu nguyện tha thiết với Chúa thì anh mới được cứu.

Cùng lúc đó tôi có thể cầu nguyện;
Và từ cổ tôi thật tự do
Chiếc Albatross rơi xuống và chìm
Giống như chì đổ xuống biển.

Trong cuộc sống cá nhân, Coleridge không phải là một người sùng đạo, nhưng trong bài thơ này, ông đã ca ngợi Kitô giáo một cách rất cao cả. Kitô giáo luôn yêu cầu các tín đồ cầu xin sự tha thứ của Chúa mỗi ngày. Nếu một người cầu nguyện từ tận đáy lòng, Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho họ. Bài thơ cũng thể hiện tình yêu sâu sắc của Coleridge dành cho đất nước.Anh. Khi người thủy thủ trở về từ chuyến đi của mìnhAnhanh ấy cảm thấy mình đã lên thiên đường

Ôi! Giấc mơ vui sướng! Đây quả thực là
Tôi thấy đỉnh ngọn hải đăng?
Đây có phải là ngọn đồi không?
Đây có phải là nhà thờ không?
Đây có phải là đất nước của tôi không?

Tóm lại, có thể nói rằng hai bài thơ này nằm trong số những bài thơ hay nhất về loài chim trong văn học Anh. Các nhà thơ đã sử dụng loài chim như những biểu tượng và gắn liền chúng với cuộc sống của chính họ. Những chú chim thật kỳ diệu nhưng ẩn chứa điều gì đó hơn cả phép màu. Chúng đưa ta đến một thế giới khác – một thế giới mộng mơ và lý tưởng. Điểm khác biệt chính giữa hai nhà thơ là đối với John Keats, chim họa mi dường như là một thứ gì đó trên bầu trời và nó không liên quan gì đến cuộc sống thường nhật của con người, mà là một thứ gì đó vượt ra ngoài cuộc sống bình thường của chúng ta. Mặt khác, chim hải âu St. Coleridge lại gắn liền với cuộc sống thường nhật của chúng ta. Những người thủy thủ đã cho nó ăn và chơi đùa với nó. Nó giống như người bạn duy nhất của họ giữa biển khơi mênh mông.


In literature nature has always been considered as an important topic. As a natural object, birds are also have been mentioned in poetry. In fact, many poets have written many beautiful poems on birds. Birds are often used as symbols in poetry too. For example, in Bangla literature the cuckoo bird is often associated with spring time. In English literature there are many poems which are written about birds or birds play important role in the poems.

For example, Ode to a Nightingale written by John Keats and Ode to a Skylark of P B Shelly are two very famous poems on birds. Another such poem is The Rime of the Ancient Mariner of Samuel Taylor Coleridge in which the poet has used the Albatross as a symbol. According to the requirement of the assignment I have selected Ode to Nightingale by John Keats and The Rime of the Ancient Mariner by S.T.Coleridge for my discussion.

Before discussing the above mentioned two poems it is needed to cast some light on the two poets and the Romantic age in English literature as a whole. The Romantic Age in English literature is a unique era because in this age all the poets created their poetry on nature and nature related topics. Nature forms the main aspect of their poetry. Before them no poet could think of nature as the main theme of a poem. The Romantic poets have successfully implemented this theme. As a result, all the great poems about birds were written in this age. John Keats was a Romantic poet who has worshipped beauty of nature in his poetry. Natural objects become lively and beautiful in his poem however he does not treat them just as lifeless natural objects. Rather he mixed his own emotion and creates a personal attachment with them.

He also expresses his own personal feelings such as happiness, sadness, hope, and frustration etc in his poems. In Ode to a Nightingale Keats has expressed a desire to escape from a harsh reality which he can not tolerate. He wants to join the nightingale and fly away into a dreamland.

On the other hand S.T.Coleridge touched the supernatural elements of nature and has presented them in a very natural way. Coleridge had a brilliant sense of imagination and with his excellent narrative skills he could imagine the most supernatural thing and then describe it in the most natural way. In The Rime of the Ancient Mariner Coleridge has described the life of a mariner who had killed an albatross and then suffered immensely for killing it. The whole poem is based on the reaction of killing the albatross. A bird is a beautiful creation of god and by killing the albatross without any reason the mariner had committed a grave sin against god.

Only at the twentieth century men learned to fly like a bird before aero plane was discovered men were always fascinated with the idea of flying like a bird. According to Greek mythology Daedalus and Icarus tried to imitate the birds and made artificial wings to fly. Their efforts failed in tragedy. So the concept of flying was like a dream to mankind until the beginning of the twentieth century people marveled at the birds because they could fly in the sky. The poets also appreciated this matter and their minds also wanted to fly with them. We see this kind of urge in Keats’ Ode to a Nightingale. The life of John Keats was a very tragic one he died early from a disease. He also had a depressing crush on a lady which brought him no success but only misery and in his own time some influential literary critics criticized his poetry in the worst possible way. So life became very miserable for John Keats.

All his life he sought escape from the sufferings and in Ode to a Nightingale we find the desperate effort of Keats to escape from the harsh cruel world around him. He feels that nightingale is very lucky it can fly away from any place. In the beginning of this poem the poet refers to his miserable condition:

MY heart aches, and a drowsy numbness pains
My sense, as though of hemlock I had drunk,
Or emptied some dull opiate to the drains
One minute past, and Lethe-wards had sunk:

Here it is evident that the poet was suffering a lot when he wrote this poem. Life has become too much painful for him he feels as if he has drunk hemlock or opium. He wants to forget all he pain and be happy in the happiness of the nightingale.

For Coleridge the albatross is not a way of escaping but a holy and beautiful creation of god. It brings joy to the sailors. The sailors have to spend many lonely days within the sea during their voyage. So they often feel very lonely and do not get the opportunity to see any sign of life around them for days:

At length did cross an Albatross,
Thorough the fog it came;
As if it had been a Christian soul,
We hailed it in God’s name.

So when they see an albatross they feel happy and get hopeful that land is near them. The same thing happened for the companions of the ancient mariner. When they saw the albatross they greeted it with joy and gave it food and played with it. Thus the albatross brought companionship for them. Thanks to the arrival of the albatross they could escape from the harsh loneliness around them. Coleridge has presented this bird as a friend and companion to men.

Both the poems have used symbolism very skillfully. Coleridge has used the technique of willing suspension of disbelief where the readers will forget the real world and believe the world that the poet is presenting to be real. The plot of the poem centers around the idea of sin-suffering-praying-redemption. It is a poem with a moral touch. The mariner first committed a sin and then he suffered for it. After much suffering he prayed to God and then God forgave him. The mariner learnt his lesson and told others to show love and kindness to the creation of God. The albatross symbolizes Jesus Christ. The Mariner murdered the innocent bird who brought companionship and hope for him and his fellow sailors:

And a good south wind sprung up behind;
The Albatross did follow,
And every day, for food or play,
Came to the mariner’s hollo!

In the same way the men of Jerusalem crucified Christ who was innocent and who brought hope for their salvation. The other mariners felt horrified when they found that the mariner had killed the albatross:

And I had done an hellish thing,
And it would work ’em woe:
For all averred, I had killed the bird
That made the breeze to blow.
Ah wretch ! said they, the bird to slay,
That made the breeze to blow!

Normally, the song of nightingale is a symbol of joy and happiness. But Keats wrote this poem when he was suffering too much form his illness. Although he sought happiness through nightingale he knew in his heart that he was going to die soon. So, the symbols of death and forgetfulness are present in this poem. Keats has on numerous occasions referred to Greek mythology. By doing so he has treated the nightingale in such a way as if it was a magical bird which was beyond the reach of any sadness. So the bird is magical and free from human suffering. Keats wished that he could be like it and defeat all his pain and sadness. In his quest to end sadness he is like the Buddha. Buddha all his life sought to find a way to get free from human suffering and achieve salvation. Keats has the same goal and in this poem his nightingale has this magical power.The only problem is that Keats knows that he is a human being and can not be like the nightingale.

In ‘Ode to a Nightingale’ Keats tries to make a good balance between sensation and thought. We can find extraordinary sensuous passages, as at the beginning. By using the word ‘sense’ and makes the readers feel this drowsy numbness too.

The poet later deals with the problems of human life, as in stanza three:

‘Here, where men sit and hear each other groan;
Where palsy shakes a few, sad, last gray hairs,
Where youth grows pale, and spectre-thin and dies;
Where but to think is to be full of sorrow.’

In contrast to Keats, Coleridge uses the moral teachings of Christianity in The Rime of the Ancient Mariner. He has put a lot of emphasis on the concept of sin and redemption. Actually The Rime of the Ancient Mariner is like a fable that at first appeared to be a childish story without any deep significance but a closer look makes the readers realize that it contains the deepest of moral teachings. The moral lesson of The Rime of the Ancient Mariner is:

He prayeth best, who loveth best
All things both great and small;
For the dear God who loveth us,
He made and loveth all.

Christianity teaches us the same thing- to love god and his creations. No other religion gives so much emphasis on this kind of love. The albatross gave this love to the mariners by bringing them joy and good luck. Thus the albatross is also a magical bird too. It is the bird which brings good luck and pleasant wind to the sailors. The ancient mariner acted selfishly and brutally by killing it. He only thought of his own pleasure. He did not even think that he was killing an innocent bird without any reason. He did not lack food but he certainly lacked kindness. He forgot that there was god who was more powerful than anyone. Certainly god did not like that he killed the bird without any reason.

God showed the mariner that no matter how much power a man possessed they should not be unkind to nature. If they did not follow humanity then they would be punished. The punishment that the mariner suffered was terrible. He suffered the worst form of pain- loneliness and isolation. By nature human beings are social animals so being alone in a ship in an endless sea was surely terrible thing to suffer. He often wished that he had died but it did not happen

An orphan’s curse would drag to hell

A spirit from on high;
But oh! more horrible than that
Is the curse in a dead man’s eye!
Seven days, seven nights, I saw that curse,
And yet I could not die.

Only after the mariner realized his sin and prayed to god deeply for forgiveness he was saved.

The self-same moment I could pray;
And from my neck so free
The Albatross fell off, and sank
Like lead into the sea.

In his personal life Coleridge was not a very religious person but in this poem he has glorified Christianity in a very high manner. Christianity always ask its followers that they seek god’s forgiveness everyday. If a person prays from the core of his heart, god is always ready to forgive him. The poem also shows Coleridge’s deep love towards his country, England. When the mariner returned from his voyage to England he felt that he had come to heaven

Oh! dream of joy! is this indeed
The light-house top I see?
Is this the hill? is this the kirk?
Is this mine own countree?

In conclusion it can be said that the two poems are among the greatest poem on bird in English literature. The poets have used the birds as symbols and have associated them with their own life. The birds are magical but they contain something more than magic. They take us to another world- a dreamy and ideal world. The main difference between two poets is that the nightingale appears to be something in the sky to John Keats and it has no relationship with everyday human life rather it is something which is beyond our normal life. On the other hand the albatross of S.T. Coleridge is something that is related to our every day life. The sailors fed it and played with it. It was like their only friend in an endless sea.

Source by S M Mehdi Hasan

An Appreciation of Jeladdin Rumi, 12th Century Poet

Năm 1996, khi đọc sách của Depak Chopra, ông thường trích dẫn Jelauddin Rumi, một nhà thơ thế kỷ 12. Tôi thích những gì mình đọc và quan tâm nhiều hơn đến thơ Rumi. Tôi nhận ra rằng cho đến năm 37 tuổi, Rumi vẫn là một học giả nổi tiếng. Chính lúc đó, ông gặp một dervish lang thang đầy quyền năng, Shams xứ Tabriz, người đã thay đổi cuộc đời Rumi mãi mãi. Sau khi Shams mất tích, Rumi đã chuyển mình từ một giáo viên thành một nghệ sĩ và nhà thơ. Giờ đây, 800 năm sau, vào thế kỷ 21, ông đã tái sinh ở thế giới phương Tây của chúng ta, nơi ông đưa chúng ta thoát khỏi thế tục để bước vào thế giới vạn hoa mà tầm nhìn của ông mang lại.

Tôi phải cảm ơn những người như Coleman Barks, một giáo sư thơ tại Đại học Georgia, người có tài năng dịch thơ Rumi sang tiếng Anh, nếu không chúng ta có thể đã không bao giờ được chứng kiến ​​cả một đời thơ ca, nghệ thuật và trí tưởng tượng mà ông để lại. Ví dụ:

Vượt ra ngoài những ý niệm về việc làm sai và việc làm đúng
Có một cánh đồng, tôi sẽ gặp bạn ở đó
Khi tâm hồn nằm xuống bãi cỏ đó
Thế giới quá đầy đủ để nói về.
Ý tưởng. Ngôn ngữ, thậm chí cả cụm từ, lẫn nhau
Đều không có ý nghĩa gì.

Rumi là một người đa diện trong các tác phẩm của mình. Ông giàu lòng trắc ẩn, hoặc có thể dữ dội, hoặc đạo đức giả. Tùy thuộc vào ngày mà mọi khía cạnh của bản chất con người đều chảy qua ông. Tuy nhiên, tôi luôn cảm thấy ông là một người bạn luôn yêu thương bất chấp sự tàn bạo của bản chất con người.

Trong suốt những thế kỷ qua, Rumi đã truyền cảm hứng, khích lệ và làm vui lòng độc giả của mình. Mặc dù được yêu thích qua nhiều thế kỷ, nhưng sự công nhận về thiên tài của ông bắt đầu ở phương Tây khoảng 100 năm trước khi các bản dịch tiếng Anh xuất hiện. Trên thực tế, sự quan tâm đến thơ của ông đã bùng nổ kể từ khi các biểu tượng nổi tiếng như Depak Chopra, Wayne Dyer, Demi Moore và Julia Cameron thường trích dẫn ông và bày tỏ lòng biết ơn đối với món quà mà ông đã tạo ra và chia sẻ thiên tài của ông với đông đảo người theo dõi của họ.

Rumi còn hơn cả những người nổi tiếng. Bạn sẽ tìm thấy thơ của ông trong nhiều cuốn sách về sáng tạo, tâm lý học, kinh doanh, self-help và tâm linh, cũng như trên lịch, thẻ đánh dấu sách và thiệp chúc mừng.

o Các họa sĩ minh họa vẽ nên những hình ảnh tình yêu nồng nàn của ông,

o Các vũ công xoay tròn theo những ẩn dụ huyền bí của ông

o Các nhạc sĩ ứng tác

o Các nhà thơ ngâm những vần thơ xuất thần của ông.

Để ghi nhận ảnh hưởng của ông trên toàn thế giới, UNESCO đã chỉ định năm 2007 là Năm Rumi. Khi tôi đọc một vài bài thơ Rumi, những vấn đề thường nhật dường như được trút bỏ khỏi vai tôi và tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại bị thúc đẩy để dành thời gian và phục vụ người khác. Vậy mà chúng ta lại gọi như Rumi đã từng.

Hãy đến, hãy đến, dù bạn là ai – kẻ lang thang, kẻ sùng bái, kẻ yêu thích sự ra đi. Điều đó không quan trọng. Đoàn lữ hành của chúng ta không phải là một đoàn lữ hành tuyệt vọng. Hãy đến, dù bạn đã phá vỡ lời thề của mình hàng ngàn lần. Hãy đến,


In 1996 while reading Depak Chopra’s books he often quoted Jelauddin Rumi, a 12th century poet. I liked what I read and was interested in more about Rumi’s poetry. I found that until Rumi was 37 he was a popular scholar. It was then he met a powerful wandering dervish, Shams of Tabriz who forever changed Rumi’s life. After Shams disappeared Rumi transformed from teacher to artist and poet. Now 800 years later in the 21st century he is reborn to our western world where he removes us from the mundane into the kaleidoscope his vision brought.

I have to thank people like Coleman Barks, a poetry professor at the University of Georgia who has the skill to translate Rumi’s poetry into English or we might never have seen the lifetime of poetry, art and imagination he bequeathed. For example:

Out beyond ideas of wrongdoing and right doing
There is a field, I’ll meet you there
When the soul lies down in that grass
The world is too full to talk about. Ideas.
Language, even the phrase, each other
Doesn’t make any sense.

Rumi was multi-faceted in his work. He was compassionate, or maybe fierce, or a hypocrite. Depending on the day all sides of human nature coursed through him. Yet, I always felt like he is a friend who would love in spite of the atrocities of human nature.

For all these centuries Rumi has inspired, encouraged and amused his readers. Although popular through the centuries the recognition of his genius began in the west about 100 years ago when English translations appeared. In fact interest in his poetry exploded since popular icons as Depak Chopra, Wayne Dyer, Demi Moore, and Julia Cameron often quote him and express gratitude for the gift he created and share his genius with their large followings.

More than celebrities quote Rumi. You will find his poems in various books on creativity, psychology, business, self help, and spiritual, as well as calendars, bookmarks and greeting cards.

o Illustrators paint his passionate images of love,

o Dancers whirl to his mystical metaphors

o Musicians improvise

o Poets recite his ecstatic verses.

In recognition of his world-wide influence, UNESCO has designated 2007 as The Year of Rumi. When I read a few Rumi poems the problems of the day seem to lift off my shoulders and I wonder why we are driven to devote our time and service to others. Yet we call as did Rumi.

Come, come whoever you are – wanderer, worshipper, lover of leaving. It doesn’t matter. Ours is not a caravan of despair. Come, even if you have broken your vow a thousand times. Come,


https://poets.org/poet/jalal-al-din-rumi

Source by Bill Tallmon

William Wordsworth – Người yêu thiên nhiên đích thực

Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng cho các nhà thơ. Họ đã nhân cách hóa mặt trăng như một người phụ nữ bạc trắng và cây xanh như một người phụ nữ mùa xuân. William Wordsworth, một nhà thơ nổi tiếng của Thời kỳ Lãng mạn, đã liên hệ hầu hết các bài thơ của mình với thiên nhiên. Là con thứ hai trong gia đình năm anh chị em, ông luôn được cha khuyến khích đọc thơ. Ông đã đọc thơ của các nhà thơ vĩ đại như John Milton, William Shakespeare và Edmund Spencer. Những vần thơ của họ, theo một cách nào đó, đã chiếm trọn tâm trí của cậu bé William Wordsworth ngay từ khi còn rất nhỏ.

Lyrical Ballads, The Preludes và Lucy Gray được coi là một trong những tác phẩm thơ nổi tiếng nhất của William. Ba trong số đó được viết vào những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời ông; Lyrical Ballads được xuất bản năm 1789. Thực ra, đây là một tập hợp gồm một số bài thơ do ông sáng tác và bốn bài của Samuel Taylor Coleridge.

Khúc dạo đầu được xuất bản sau khi ông qua đời bởi vợ ông. Tác phẩm này giống như một cuốn tự truyện mô tả cuộc sống thời thơ ấu của ông, đôi khi được ông sửa đổi với sự giúp đỡ của chị gái Dorothy Wordsworth.

Lucy Gray, một nhân vật hư cấu của William Wordsworth, được chia thành năm tác phẩm. Nhân vật giả này là một phần nỗi cô đơn của William. Trong tất cả các tác phẩm của mình, William Wordsworth dành tình cảm sâu sắc cho nhân vật này. Theo một nhà phê bình, William Wordsworth đã “tạo ra nhân vật, sống cùng cô và khóc thương khi cô qua đời”.

Trong tất cả những bài thơ tuyệt vời của ông, tác phẩm thuyết phục nhất là về Sông Yarrow. Trong bài thơ này, ông nhắc đến dòng sông, mang đến một bức tranh chân thực về cuộc sống. Trong bài thơ Yarrow Unvisited, ông sợ hãi khi đến thăm thung lũng, nghĩ về nỗi buồn có thể phủ bóng lên mình nếu nó không phù hợp với khởi đầu của ông. Ông nghe rất nhiều về chốn thiên đường và vẽ nên những hình ảnh sống động trong tâm trí.

Trong chuyến thăm, ông ngạc nhiên khi thấy nơi này vượt quá sức tưởng tượng. Trong bài viết “Yarrow Visited”, ông nhận xét rằng “những điều trong hiện thực đẹp hơn nhiều so với những điều trong tưởng tượng”. Tuy nhiên, ông không hài lòng với chuyến thăm đầu tiên và vì vậy ông đã quay lại nơi mà ông đã mô tả trong “Yarrow Revisited”.


Nature has always been an inspiration to the poets. They have personified the moon as a silvery lady and the greenery as a lady of spring. William Wordsworth, a famous poet of the Romantic Age has related most of his poems to nature. As the second child among five siblings, he was always encouraged by his father to read poems. He read poems of great poets like John Milton, William Shakespeare and Edmund Spencer. Their verses in a way captured the mind of little William Wordsworth at a very tender age.

Lyrical Ballads, The Preludes and the Lucy Gray are considered as one of the most famous verses of William. Three of them were written at different stages of his life; Lyrical Ballads was published in the year 1789. It actually is a collection of several poems written by him and four by Samuel Taylor Coleridge.

The Preludes, was published after his death by his wife. It is like a semi autobiography describing his early life which he did modified at times with the help of his sister Dorothy Wordsworth.

Lucy Gray an imaginary character of William Wordsworth is divided into five works. This pseudo character was a part of William’s loneliness. Among all his works William Wordsworth had a great affinity for this character. According to one of the critic, William Wordsworth “created the character, lived with it and cried on her death”.

Among all his beautiful poems the most convincing work is about River Yarrow. In this poem he refers to the river giving a true picture of life. In his poem Yarrow Unvisited he was scared to visit the valley thinking about the sadness that could overshadow him if it fails to match his inception. He heard much about the heavenly place and drew pictures of vivid imaginations in his mind.

On his visit he was surprised to see that the place was beyond ingenuity. In his piece Yarrow Visited, he commented that ‘the things of reality are far more beautiful than things of imagination’. He was however not satisfied with his first visit and hence he again visited the place which he described in Yarrow Revisited.

Source by Naresh R

Sẵn sàng là Sẵn sàng

Tranh Brielle Do
Tranh Brielle Do

Gửi gia đình và bạn bè,   

Dear family and friends,   

Buổi tiếp theo của Write from Real Life bắt đầu từ ngày 9 tháng 7 và kéo dài đến ngày 3 tháng 9. Buổi hè của Feral Poetry bắt đầu từ ngày 22 tháng 7 và kéo dài trong ba tuần . Và có một phiên bản mới của Short and Sweet bắt đầu vào ngày 20 tháng 8. Bạn được nồng nhiệt mời tham gia bất kỳ lớp học nào trong số này ngay cả khi bạn đã tham gia trước đây. Tôi thường thay đổi một số bài đọc vì tôi bị ám ảnh theo cách đó, và đó luôn là một trải nghiệm mới mẻ, ngay cả đối với tôi. 

The next session of Write from Real Life begins July 9, and goes until September 3. The summer session of Feral Poetry starts July 22nd and runs for three weeks. And there’s a new version of Short and Sweet starting on August 20th. You are warmly invited to take any of these classes even if you have taken them before. I usually switch up some of the readings because I’m compulsive that way, and it’s always a fresh experience, even for me.

Tôi có một bài trên The Letter Review có tên là Seeking the Third. Đây rồi. 

I have an essay up at The Letter Review called Seeking the Third. Here it is.

Chị gái tôi đang dọn dẹp gác xép của ngôi nhà cũ và tìm thấy một kho thơ tôi đã viết hồi lớp hai mà Bà của chúng tôi đã lưu lại. Thực tế, Bà thường mang theo những bài thơ của tôi trong cuốn sổ tay đen to của bà và bắt những người bà quen biết đọc chúng. Emily cẩn thận gói những trang giấy ố vàng lại và gửi những bài thơ cho tôi, và Lee đã đọc to chúng trong khi cả hai chúng tôi cười lớn đến mức khóc. 

My sister was cleaning out the attic of her old house and found a cache of poems I had written in second grade that our Grandmother had saved. In fact, Grandmother used to carry my poems around in her big black pocketbook and inflict them on people she knew. Emily carefully wrapped up the yellowing pages and sent the poems to me, and Lee read them out loud while we both laughed so hard we cried.

Những bài thơ cho thấy một tác giả khao khát được nói với thế giới nhưng vẫn chưa có gì để nói. Tuy nhiên, cô ấy vẫn khao khát – khao khát đến thế! – được tham gia vào cuộc trò chuyện. Ví dụ như một bài thơ mang tên Hà Lan, một nơi tôi chưa từng đặt chân đến. Một vài câu mẫu:

The poems reveal an author who badly wants to speak to the world but doesn’t yet have anything to say. Still, she wants–so badly!–to be part of the conversation. There is for example a poem called The Netherlands, a place I have never visited.  Some sample lines:

“Oh they are clean and Neat they are with lovely shining Floors, and polished shining windows With neat clean Doors.”

“Ôi, họ thật sạch sẽ và gọn gàng, họ thật tuyệt vời với những sàn nhà sáng bóng, và những cửa sổ sáng bóng, với những cánh cửa sạch sẽ, gọn gàng.” 

Vì tôi vẫn chưa từng đến Hà Lan, nên tôi không biết liệu những điều này có đúng hay không, và vì bây giờ, cũng như trước đây, tôi là một người quản gia thờ ơ, tôi không biết niềm đam mê về sự sạch sẽ được thể hiện trong bài thơ đến từ đâu. Tôi nghĩ tôi chỉ thích âm thanh của những từ ngữ được ghép lại với nhau, và đức tính gián tiếp mà tôi cảm thấy khi gắn bó với người Hà Lan sạch sẽ, gọn gàng.

Since I still have never been to the Netherlands, I have no idea if any of this is true or not, and since I am now, as then, an indifferent housekeeper, I have no idea where the passion for cleanliness expressed in the poem comes from. I think I just liked the sound of words together, and the vicarious virtue I felt in associating myself with the neat, clean Dutch.

Tôi đã làm việc hai mươi năm với Hội Nhà thơ California tại các trường học và là một nhà thơ thỉnh giảng trong nhiều lớp học cấp hai. Tôi đã gặp rất nhiều nhà văn trẻ viết những bài thơ hay hơn tôi rất nhiều khi còn ở độ tuổi của họ. Họ có hình ảnh, trí tưởng tượng, niềm đam mê và những ý tưởng thực tế. (Chị tôi kể rằng họ cũng được hưởng lợi từ một nhà thơ ở trường, người đã cho họ tiếp xúc với thơ ca hay và gợi ý cho họ, điều đó cũng dễ hiểu thôi.) Hồi nhỏ, tôi chủ yếu yêu thích vần điệu và khao khát mãnh liệt được làm vui lòng và được khen ngợi. Bà tôi cũng vậy, bà luôn coi những bài thơ tôi viết nguệch ngoạc thời thơ ấu là báu vật, và bà đã lưu giữ chúng để tôi có thể cười khi nhìn lại.

I worked for twenty years with California Poets in the Schools and was a visiting poet in many second grade classrooms. I’ve encountered scores of young writers who wrote far better poems than I did at their age. They had imagery, imagination, passion, and real ideas. (My sister points out that they also had the benefit of a poet in the schools who exposed them to good poetry and gave them prompts, which–fair enough.) As a kid, I mostly had a love of rhyme and an overweening desire to please and to be praised. And I had my grandmother who thought that my childish scribblings were treasures, and who preserved those poems so that I can laugh at them today.

Tôi không biết mình có tin vào tài năng hay không. Tôi tin vào tình yêu – tình yêu dành cho nghệ thuật, tình yêu giữa một đứa trẻ và một người lớn đáng tin cậy, mà đôi khi, hy vọng là may mắn thay, có thể chuyển hóa thành một điều gì đó sâu sắc hơn – tình yêu chân lý, tình yêu cái đẹp, sự công nhận sức mạnh của nghệ thuật, và lòng khiêm nhường để phục vụ sức mạnh đó. Tôi cũng tin rằng khi bạn nói với một đứa trẻ điều gì đó, chúng sẽ tiếp thu. Nếu bạn nói “Con là nhà văn!”, đứa trẻ sẽ coi đó là chân lý. (Mặt sau, hãy nói với chúng rằng chúng chẳng giỏi việc gì cả và chúng cũng sẽ tin điều đó.)

I don’t know if I believe in talent. I believe in love–love of the art form, love between a child and a trusted adult, which then sometimes, hopefully, luckily, can morph into something deeper–a love of truth, a love of beauty, a recognition of the power of art, and the humility to serve that power. I also believe that when you tell a child something, they absorb it. If you say “You’re a writer!” the child takes that on as gospel. (On the obverse, tell them they’re no good at something and they will believe that too.)

Tôi đã nhận được khá nhiều lời chỉ trích tiêu cực mà tôi vẫn đang cố gắng khắc phục. Tôi đã nỗ lực hết mình trong vài năm qua để trở thành một người biết hát. Tôi đã gặp nhiều người lớn luôn khao khát viết lách nhưng không được khuyến khích. Một số người bị nói thẳng rằng họ viết kém – thường là bởi những giáo viên không biết họ đang nói gì.

I did receive my fair share of negative messaging which I’m still working to undo. I’ve worked ferociously these past few years to become someone who can sing. I’ve encountered many adults who always yearned to write but didn’t get encouraged to do it. Some were told outright that they were poor writers–often by teachers who didn’t know what they were talking about.

Tôi muốn những lớp học tôi dạy là nơi chúng ta có thể gạt bỏ những điều vô nghĩa về việc ai tốt, ai xấu, ai giỏi hơn, ai kém hơn, và bắt tay vào công việc của con người là kể chuyện hay làm thơ. Bởi vì nghệ thuật lay động chúng ta theo những cách mà ta không thể giải thích nổi. Tôi không hiểu tại sao một bức tranh, một bài hát hay một bài thơ lại có thể khiến người này rơi nước mắt trong khi người khác lại lạnh lùng, và tôi cũng không biết ai “có tài” hay ai không.

I want the classes I teach to be places where we can undo that nonsense about who is good or bad or better or worse and get down to the human work of telling stories or making poems. Because art moves us in ways we can’t even explain. I don’t know why a painting or a song or a poem can bring some people to tears while leaving others cold, and I don’t know who is “talented” or who is not.

Nếu tôi gặp những bài thơ thiếu nhi của mình khi còn làm thơ ở trường, tôi sẽ chẳng nghĩ ngợi gì nhiều về chúng. Tôi đã bảo cô bé đó ngừng gieo vần và nhìn xung quanh xem con bé biết những gì. Nhưng cô bé ấy lại thích gieo vần và chẳng mấy quan tâm đến cuộc sống thực tại – con bé muốn viết về những nơi mình chưa từng đến. Và bằng cách nào đó, chính khát khao bướng bỉnh của con bé đã đưa tôi đến đây hôm nay.

If I’d encountered my kid poems when I was working as a poet in the schools I wouldn’t have thought much of them. I’d have told that young girl to stop rhyming and look around her at things she knows. But that little girl loved to rhyme and she wasn’t much interested in real life–she wanted to write about places she’d never been. And somehow her stubborn desire got me here today.

Thân ái,
Alison.

Đây là một bài thơ trong Shadowplay:

Love,
Alison

Here’s a poem that was in Shadowplay:

Sẵn sàng là Sẵn sàng

Một ngày xám xịt gió giật bên hồ
Tôi đi bộ đến bờ, đội mũ trùm đầu,
khom vai thì đi ngang qua một người
phụ nữ đang ngắm nhìn dòng nước màu

trà. Cô ấy có vẻ mặt mà chúng
ta thường thấy khi nhìn thấy một em
bé. Hóa ra đó là một chú chim
nhỏ xíu, đen như nhung ướt, vừa mới

tập câu cá, chúi đầu xuống nước, rồi
lại ngoi lên như một vật trang trí
trên ly cocktail. Tôi sẽ không thể
tự mình chứng kiến ​​điều đó, sải bước

mù quáng như mọi khi, chống chọi với
thời tiết, chống chọi với chủ nghĩa tư
bản giai đoạn cuối và rồi thất bại.
Nhưng tôi có thể bám theo sự chú

ý của cô ấy trong giây lát, có
thể nhận ra cô ấy đang chú ý
và cứ thế len lỏi qua khe hở
giữa nỗi lo lắng và tầm nhìn rộng

mở hơn. Trong chương trình mười hai bước,
người ta nói rằng bạn phải sẵn sàng
để ân sủng bước vào cuộc sống của
mình, nhưng nếu bạn không sẵn sàng, thì

có lẽ bạn sẽ sẵn lòng sẵn lòng,
và cứ thế, cho đến khi cuối cùng
một tia sáng nào đó có thể tìm
thấy bạn, dù bạn có cáu kỉnh và

ướt đẫm mưa, dù bạn nghĩ mình đang
ở rất xa nhà.

--Alison Luterman


Willing to be Willing

Gray blustery day by the lake.
I’m walking to the bank,
hood up, shoulders hunched
when I pass a woman
watching the tea-colored water.
She’s got that look on her face we get
when we see a baby anything.
Turns out it’s a tiny coot, black as wet velvet,
just learning to fish, tipping head down
into the drink, then popping up again
like a cocktail glass ornament.
I wouldn’t have seen it on my own,
striding blindly as I always am,
fighting the elements, fighting late-stage
capitalism and losing. But I could ride
the coattails of her attention
for a moment, could notice
her noticing and so slip through the crack
between worry and a wider view.
In twelve step programs they say
you have to be willing
to allow grace to enter your life,
but if you’re not, then perhaps
you might be willing to be willing,
and so on, until finally some kind of light
may find even you, however cranky
and rain-splattered, however far
you think you are from home.

--Alison Luterman

KIẾP SAU XIN GIỮ LẠI ĐỜI CHO NHAU!

Phạm Hiền Mây

I. NHÀ THƠ DU TỬ LÊ

Tên khai sinh của Du Tử Lê là Lê Cự Phách. Ông sinh năm 1942 tại Hà Nam, Việt Nam và mất năm 2019 tại Orange County, Hoa Kỳ.

Du Tử Lê là một nhà thơ. Đương nhiên rồi. Và là một nhà thơ tên tuổi.

Ông cũng từng là sĩ quan quân đội, từng là thư ký tòa soạn và giáo sư thỉnh giảng. Từng được giải thưởng văn chương toàn quốc. Từng là một trong ba nhân vật đặc biệt được nêu tên cùng với Mai Thảo và Phạm Duy vào năm 1975.

Nếu Google, hẳn chúng ta sẽ ngợp trước các thông tin vinh dự về ông, nào là nhà thơ châu Á duy nhứt được hai tờ báo lớn của Mỹ đăng thơ và phỏng vấn. Nào là thơ ông được đưa vào làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy tại các đại học Mỹ và châu Âu. Rồi thì có tên trong tuyển tập thi ca thế giới. Và, nổi tiếng này. Và, lừng danh kia.

Nếu hỏi tôi, lúc này đây, ngay lúc này đây, lúc tôi đang gõ những con chữ này đây, rằng thì là, tôi thích thơ ai nhứt, trong số các nhà thơ hiện đang ở tại hải ngoại sau năm 1975, thì tôi sẽ trả lời ngay mà không chần chừ, ngần ngại – Du Tử Lê.

Nếu hỏi tôi tiếp, rằng thì là, tôi thích vì lẽ gì, thì tôi cũng thưa ngay mà không cần do dự, nghĩ suy, tôi thích, vì thơ ông hợp với tạng tôi.

Nói một cách dễ hiểu hơn, thơ ông phù hợp với kích cỡ tôi, kích cỡ tâm hồn tôi, phù hợp với khả năng lãnh nhận, thu vào của tôi, và trong con mắt thẩm mỹ tôi, thơ ông đẹp.

Đẹp và có chiều sâu.

Từ cái cách đặt dấu câu, như dấu chấm, dấu phẩy và các loại dấu khác của ông trong thơ, cho đến việc dụng những chữ thơ mang tính nhỏ nhẹ, mềm mại, dịu dàng, ngay cả khi cuộc tình, ngay cả khi cuộc đời ông, đang ở mức đớn đau, thống khổ nhứt, cũng đều khiến tôi thích.

Từ những ý tưởng sẵn sàng chấp nhận phần thiệt thòi, sẵn sàng hy sinh đời mình hết cho tình, đến những nỗi sầu muôn niên về thân phận, về kiếp người, về nỗi buồn ly hương, về nỗi nhớ thương vời vợi, và cả nỗi cô đơn rất đặc trưng của nòi văn nghệ sĩ, tôi cũng thích nốt.

Một bạn văn thân thiết của tôi, nhận xét, thơ ông điệu, có phần đỏm dáng. Tôi liền tra xem, đỏm dáng là gì, thì ra, đỏm dáng là đẹp một cách chải chuốt.

Cũng có thể là như thế, Du Tử Lê dụng từ khá chải chuốt. Nhưng đã sao? Chải chuốt, trau chuốt từ ngữ khi làm thơ, khi viết văn, với tôi, là việc chẳng có gì sai, chẳng có gì xấu. Nó là một phần của tính cách cầu toàn, toàn mỹ, toàn bích. Nó thuộc về tính người. Mà ngẫm lại, tôi cũng như thế, hệt ông.

Nếu trước khi nói, người cẩn thận phải uốn lưỡi bảy lần, thì khi viết, tôi cũng chọn đi chọn lại trong đầu ngần ấy lần những từ, những ngữ, cho đến khi nào tôi thấy ổn, cho đến khi nào tôi thấy vừa ý mình rồi, tôi mới đặt bút xuống, hoặc gõ xuống bàn phím.

Tánh cách kỹ lưỡng, thận trọng ấy, thể hiện sự tôn trọng người đọc, bạn đọc. Trọng người, người tất sẽ phải trọng ta.


II. BÀI THƠ GIỮ ĐỜI CHO NHAU

Tôi không biết chắc chắn số thi phẩm mà thi sĩ Du Tử Lê để lại cho đời là bao nhiêu, nhưng từ Mỹ, bà Hạnh Tuyền, vợ của ông, gởi người mang về tặng tôi bộ Thơ Du Tử Lê (Toàn Tập), với lời đề: Gửi em Phạm Hiền Mây, như một lời cảm ơn của anh chị. Thay mặt anh Du Tử Lê. Chị Hạnh Tuyền ký tên. Cali, Jan 05, 2024. Thì mỗi tập với độ dày cỡ năm, sáu trăm trang, chứa khoảng một trăm năm mươi bài cho một tập. Tổng tập như vậy là khoảng sáu trăm bài thơ có.

Sáu trăm bài thơ. Bây giờ, giả sử có người hỏi tôi, tôi thích bài nào nhứt, thì… , chịu. Số bài thơ mà tôi thích, có lẽ cũng phải cỡ vài mươi bài.

Một phóng viên báo nọ thống kê, có khoảng ba trăm bài thơ của Du Tử Lê được phổ nhạc. Nếu con số ấy là có thực, thì tôi cho rằng, Du Tử Lê, có lẽ là nhà thơ có số lượng thơ phổ nhạc nhiều nhất nước Việt Nam.

Như bài dưới đây chẳng hạn, được Phạm Duy phổ thành ca khúc Kiếp Sau Xin Giữ Lại Đời Cho Nhau và Từ Công Phụng phổ thành ca khúc Giữ Đời Cho Nhau (Ơn Em).

GIỮ ĐỜI CHO NHAU

ơn em, thơ dại từ trời
theo ta xuống biển vớt đời ta trôi
ơn em, dáng mỏng mưa vời
theo ta lên núi về đồi yêu thương
ơn em, ngực ngải môi trầm
cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan
ơn em, hơi thoảng chỗ nằm
dấu quanh quẩn dấu nỗi buồn một nơi
ơn em, hồn sớm ngậm ngùi
kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.

Bài thơ được viết năm 1970, khi ấy, ông chỉ mới hai mươi tám tuổi.

Tôi nói, chỉ mới, có nghĩa là tôi ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì trẻ thế mà đã viết được một bài thơ với những lời lẽ đằm thắm, già dặn đến thế.

Trong tình yêu, ít ai còn trẻ mà biết ơn nhau lắm. Cần phải có một độ dài tương thích về thời gian thì người ta mới có thể, lắng lòng lại, mà nghĩ về, mà tổng kết về những gì họ đã trao cho nhau, cả hạnh phúc lẫn khổ đau, để rồi từ ấy, mới có thể thốt lên một cách chân thành, sự biết ơn với người yêu, với người bạn đời của mình.


II.1. ƠN EM, THƠ DẠI TỪ TRỜI

ơn em, thơ dại từ trời
theo ta xuống biển vớt đời ta trôi
ơn em, dáng mỏng mưa vời
theo ta lên núi về đồi yêu thương

Thơ, đôi khi chỉ là một nghĩ suy bất chợt, vừa lóe lên, vừa khám phá ra, vừa nhận thức ra, của người viết, về tình yêu, về thế thái, về cuộc đời, chẳng hạn.

Và không hiếm, sau vài dòng, sau vài trang giấy bày tỏ những nghĩ suy của tác giả, thơ hiện ra, mỏng tang, mơ hồ, vô định, không có đường nét rõ ràng. Thậm chí, có những bài thơ, đọc tới đọc lui vài lần, mà người đọc vẫn cứ ngẩn ngơ, không biết ý tác giả muốn nói gì.

Thơ, nhiều lúc, chỉ có thể cảm, cảm giác, cảm về tiết điệu, cảm về chữ dùng, cảm về “chất” thơ, cảm về “mùi” thơ, chớ không phải lúc nào cũng hiểu được.

Nói như Tạ Trân, nhà thi thoại đời nhà Minh bên Trung Hoa, thì: Thơ có chỗ khả giải, bất khả giải, bất tất giải, giống như hoa dưới nước, trăng trong gương, không cần câu nệ tới dấu tích.

Sở dĩ tôi phải dài dòng như vậy, vì, thơ mang dấu ấn cá nhân, tức tâm tình riêng của người viết, nhiều lắm. Và không phải bất kỳ tâm tình riêng nào của họ, mình cũng rõ được.

Bài thơ Giữ Đời Cho Nhau, là bài thơ mà Du Tử Lê viết về vợ ông, viết tặng vợ ông, bà Phan Hạnh Tuyền.

Nên “thơ dại” đây, có lẽ, ngày ấy, bà còn trẻ, nên còn mang nhiều nét ngây thơ, hồn nhiên, như các nàng tiên nơi thượng giới.

Và “theo ta xuống biển vớt đời ta trôi”, liệu có phải nói về chuyến di tản năm 1975 của ông bà? Thêm vào đó, nhà thơ thường tự nhận mình là “du tử”, kẻ giang hồ phiêu bạt, nên dùng câu “đời ta trôi” để mô tả mình cho thích hợp chăng?

Còn “dáng mỏng mưa vời” là vì Huế quanh năm suốt tháng, mưa dầm mưa dề? Là vì bà Hạnh Tuyền, dáng gầy, lại mặc áo dài đi dạy học, nên nhìn nàng rất mong manh, mỏng mảnh?

Cuối cùng, “theo ta lên núi về đồi yêu thương”, có phải là ông muốn nhắc đến kỷ niệm, đã “dụ” thành công được bà, xin thuyên chuyển từ Huế về Pleiku dạy học, để gần nơi ông đang công tác?

Tôi đoán thế thôi, chớ đọc thơ ấy mà, chẳng cần phải cặn kẽ, chi li, tiểu tiết, bổ ngang, bổ dọc như vậy, chỉ tổ nát bấy bài thơ, nát bấy tính thơ.

Tôi là chúa ghét kiểu đọc thơ như thế này. Tôi đọc thơ lớt phớt, cảm thơ là chính. Cái gì được gọi là thơ thì tự nhiên nó luẩn quẩn hoài trong đầu, cái gì tào lao, không chút tính thơ, nó sẽ tự động bị đẩy ra ngay!


II.2. ƠN EM, NGỰC NGẢI MÔI TRẦM

ơn em, ngực ngải môi trầm
cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan
ơn em, hơi thoảng chỗ nằm
dấu quanh quẩn dấu nỗi buồn một nơi

Nhiều người thắc mắc “ngực ngải” là gì, “môi trầm” là gì, “cỏ mặn” là gì, “lá ngoan” là gì?

Với tôi, đây chính là khả năng sáng tạo ngôn ngữ của nhà thơ.

Khả năng sáng tạo ra những hình ảnh ẩn dụ, mà nếu tác giả không nói ra, thì người đọc cũng chịu, không biết nhà thơ đang muốn ám chỉ đến điều gì.

Nhưng lại tuyệt tới mức, ngay cả khi người đọc không hiểu, mà vẫn thấy những khó hiểu ấy hay hay, mà vẫn thấy câu thơ rất nên thơ.

Ngực ngải, môi trầm, có phải là muốn nói đến vẻ đẹp quyến rũ, đầy sức hút của cơ thể người con gái?

Cỏ mặn, là nước mắt của em, trong hiến dâng lần đầu? Lá ngoan, là sự ngọt ngào, ấm áp, khi đôi tình nhân gần kề nhau, và trao cho nhau hết tất cả những âu yếm, nồng nàn thịt da?

Em đến, và em đi. Hương thơm da thịt em, như vẫn chỗ nằm kề, khiến anh chỉ muốn đắm chìm hoài trong biển của hạnh phúc, mà em vừa trao anh.

Nhưng vì hương ấy, chỉ còn chút, chỉ như thoảng qua, thành thử, anh tìm không ra. Dấu vết quanh quẩn ấy, đã làm anh buồn suốt những ngày phải xa em!


II.3. ƠN EM, HỒN SỚM NGẬM NGÙI

ơn em, hồn sớm ngậm ngùi
kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.

Tình yêu, nào chỉ có niềm vui và hạnh phúc. Tình yêu, nhiều hơn những vị ngọt ngào, là nỗi buồn, là đớn đau, là thất vọng, là ê chề, là não nùng, sầu khổ.

Du Tử Lê cũng không ngoại lệ.

Có những lúc, trong tình yêu, ông cũng cảm ra nỗi ngậm ngùi, thấy ra muôn vàn tâm trạng khi thăng, khi trầm, khi say mê, si dại, khi chán chường, bế tắc.

Nhưng có hề chi.

Lòng chàng đã quyết. Ý chàng đã định.
Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau!


III. CA KHÚC GIỮ ĐỜI CHO NHAU (ƠN EM) CỦA NHẠC SĨ TỪ CÔNG PHỤNG

Khi phổ thành nhạc, Từ Công Phụng không hề bỏ bớt một chữ thơ nào của Du Tử Lê. Ông giữ trọn vẹn bài thơ Giữ Đời Cho Nhau, chỉ thêm vào khổ thứ ba hai câu: Ơn em, tình những mù lòa / Như con sâu nhỏ bò qua giấc mùi.

Hai câu này của Từ Công Phụng, cũng rất thơ.

Ngoài ra, Từ Công Phụng còn thêm vào những câu điệp sau mỗi đoạn: tạ ơn em / tạ ơn em, nhằm nhấn mạnh lòng biết ơn của tác giả với người đồng hành cùng mình trong cuộc trăm năm.

Ơn em, thơ dại từ trời
Theo ta xuống biển vớt đời ta trôi
Ơn em, dáng mỏng mưa vời
Theo ta lên núi về đồi yêu thương
Tạ ơn em. Tạ ơn em.
Ơn em, ngực ngải môi trầm
Cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan
Ơn em, hơi thoảng chỗ nằm
Dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi
Tạ ơn em. Tạ ơn em.
Ơn em, tình những mù lòa
Như con sâu nhỏ bò qua giấc mùi
Ơn em, hồn sớm ngậm ngùi
Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau
Tạ ơn em. Tạ ơn em.


IV. DU TỬ LÊ, NGƯỜI CÁCH TÂN VÀ TẠO ĐƯỢC SỰ ĐỘC ĐÁO RIÊNG VỀ VỊ TRÍ DẤU CÂU TRONG THƠ

Nhiều người cho rằng, những hằng hà sa số các dấu câu trong thơ Du Tử Lê, là một kiểu của cách tân lục bát.

Nhận định như vậy, cũng chẳng gì sai. Nhưng với tôi, các dấu câu được sử dụng một cách rất Du Tử Lê – tức trong ngữ pháp hiện hành của Tiếng Việt xưa nay, người ta sử dụng khác – nếu có mang mục đích cách tân, thì cũng chỉ là ít thôi, không đáng kể. Lớn hơn, đó là chủ đích trong việc trình bày, đây là tôi, đây chính là tôi, Du Tử Lê, người viết bài thơ này.

Việc làm mới lục bát ấy mà, không chỉ Du Tử Lê, mà với bất kỳ một người làm thơ nào, yêu thể thơ lục bát, và cảm thấy mình có trách nhiệm với thể thơ này, đều mong muốn làm mới nó.

Nhưng ngoài việc làm mới, tôi nhận ra, đó còn là cách ông mang thơ đến gần với người đọc thơ ông hơn. Thay vì, phải giải thích hết lời với bạn đọc, rằng bài ấy có nghĩa thế này, rằng bài đó có nghĩa thế kia (thế thì còn gì là thơ nữa), thì ông nhắn nhủ, hãy đọc thơ tôi cùng với những dấu câu kèm theo.

Bạn biết dấu câu trong ngữ pháp đóng vai trò gì không? Dấu câu là ranh giới, nhằm phân biệt thành phần này với thành phần nọ, câu này với câu kia, ý này với ý đó.

Vì vậy, đọc thơ Du Tử Lê (hay bất kỳ thơ ai khác), bạn hãy chậm lại, dừng lại ở các dấu câu, rồi hãy nhẩn nha đi tiếp. Đừng vội vàng. Đọc thơ, xin đừng vội vàng và cũng đừng ôm đồm. Cứ từ từ, chầm chậm, bạn sẽ ngạc nhiên đến vô cùng khi chợt thấy mình thấu đáo đến từng ngõ ngách của bài thơ, bởi bằng việc đọc chậm, bởi bằng việc, mình biết dừng khẽ lại vài giây, để ngẫm nghĩ, sau mỗi dấu câu.


V. NHỮNG CHUYỆN VIẾT THÊM VỀ DU TỬ LÊ

Trước hết là về bà Phan Hạnh Tuyền.

Bà Hạnh Tuyền vốn là một cô giáo. Bà tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế năm 1974.

Hạnh Tuyền không chỉ là người yêu, người bạn đời, bà còn là người yêu Du Tử Lê nhiều nhất. Bà sống cho ông, sống vì ông, bằng hết cả cuộc đời mình.

Ông mất, đến nay, cũng đã gần được sáu năm. Bà vẫn tiếp tục cố gắng duy trì trang nhà Du Tử Lê. Còn trang facebook chung của ông và bà xưa kia, thì nay vẫn hoạt động đều đặn, với tràn ngập hình ảnh ông, tràn ngập kỷ niệm ông và thơ của ông.


Riêng với tôi, Du Tử Lê là ân nhân.

Chín năm trước, khi họa sĩ Khánh Trường, người bạn vong niên thân thiết nhứt của tôi, nhờ ông viết Tựa cho cuốn thơ đầu tay, Lục Bát Phạm Hiền Mây, ông ngay lập tức nhận lời.

Ông ngay lập tức nhận lời, ngay cả khi, giữa tôi và ông, chưa từng quen biết nhau. Ông viết lời giới thiệu dựa trên bản thảo thơ do anh Khánh Trường gởi qua.

Bài Tựa Du Tử Lê viết cho cuốn thơ đầu tiên của tôi, có nhan đề: Phạm Hiền Mây, Treo Cao Lục Bát Vàng Son.

Ông viết nhận định về tôi, dài hai trang A4, xin được trích lược vài dòng hầu bạn đọc:

Hôm nay, tôi xin gửi sự khâm phục của cá nhân tôi vào thi phẩm Lục Bát Phạm Hiền Mây.

Phạm Hiền Mây là người tình chung thủy của lục bát, nên tôi tin, người đọc sẽ không ngạc nhiên lắm, khi ngay từ những vần thơ thứ nhất của thi phẩm Lục Bát Phạm Hiền Mây, đã tươm đậm hồn tính ca dao Việt Nam ngày qua và, những so sánh hay liên tưởng đương đại:

bụi hoa xưa đã lên vài
nhánh vàng cổ tích dốc dài tình nhân

(trích “giữ lời tìm nhau”)

Hay:

mặn em nhỏ xuống chẳng dừng
trên vai anh ướt không ngừng trời mau
mưa nghiêng trút xuống nỗi đau
trái oan khiên chín đỏ au phận người
vết thương chín mọng ngực đời
và em quả chín rụng lời từ ly.

(trích “vô thường nhỡ mai”)

Khởi tự tính từ “mặn” chỉ nước mắt, trên vai người yêu, Phạm Hiền Mây dùng lục bát để dẫn cơn mưa, nỗi đau, đi lần tới “trái oan khiên chín đỏ”, là sự rụng xuống (không thể khác hơn?) của những lời từ ly.

Hoặc nữa:

nắng lâm chung tắt thình lình
chưa hoàng hôn đã một mình niềm riêng
môi vào nhau sớm thần tiên
dậy thì đánh rớt tháng giêng nhớ người.

(trích “tháng giêng nhớ người”)

Bằng vào ghi nhận của tôi, Phạm Hiền Mây không chỉ có khả năng nhân cách hóa một cách bất ngờ mà, họ Phạm còn có khả năng làm mới thơ mình bằng vào những tương tác vi tế mà, nếu không phải là người nữ, tôi e, các tác giả khác, sẽ rất khó cảm và nhận. Thí dụ:

mùa đông, một sớm mùa đông
không dưng em mắt môi nồng tình anh.

(trích “mình yêu nhau nhé")

Hoặc:

tiễn anh đếm lá hồn mình

(trích “phù du yêu người”)

Hoặc nữa:

tóc dài ngọn hẹn rưng rưng
chờ giây phút được giọng mừng dạ thưa.

(trích “nhớ anh thôi đã rất thừa mùa đông")

Bên cạnh đó, Phạm Hiền Mây cũng cho thấy chủ tâm khai thác từ kép của Tiếng Việt, để dòng chảy thi ca có được nhịp lẻ, khác hơn nhịp chẵn hay đều (2/2/2 hoặc 3/3) quen thuộc, nhàm chán:

đời em mộng sóng lênh đênh
ướt em giấc ngủ muộn bềnh bồng trôi.

(trích “lênh đênh sóng rồi")

Vì tính từ “bềnh bồng” là từ kép, không thể tách bạch, nên nhịp đi của câu thơ tám chữ này, với tôi, ít nhất cũng có được cho nó hai nhịp lẻ là:

ướt em / giấc ngủ / muộn bềnh bồng / trôi.

(2/2/3/1)

Tôi còn một kỷ niệm nữa, với Du Tử Lê, do chính bà Hạnh Tuyền kể lại:

“Anh Lê khen tên em lắm. Anh nói, cái tên Phạm Hiền Mây ấy mà, đọc lên, nghe rất hay, rất thơ.”

Và, thơ tôi, ngay từ khi mới trình làng (cũng như cho đến mãi mãi về sau), tôi không bao giờ viết hoa các chữ đầu câu. Thậm chí, tên riêng, trong thơ, tôi cũng viết thường luôn. Điều này, tôi thừa nhận, tôi chịu ảnh hưởng của các tiền bối Hoàng Lộc, Du Tử Lê, và sau này, tôi mới biết, cả nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng có thói quen như thế.


VI. KIẾP SAU XIN GIỮ LẠI ĐỜI CHO NHAU

Bạn có tin, chết không là hết?

Bạn có tin, chúng ta sẽ luân hồi và tái sinh?

Bạn có tin, duyên nợ?

Điều này, có lẽ còn phụ thuộc vào tôn giáo mà bạn đang theo. Còn tôi, thì tôi tin. Tôi rất tin.

Tin, để trước hết, biết sợ. Biết sợ sống sai. Biết sợ làm ác. Biết sợ gánh không nổi những tội lỗi mình đã gieo. Biết sợ nghiệp quả, sẽ đến ngay trong cả kiếp này, chớ không chỉ những kiếp mai sau.

Tin, kế tiếp, để tự an ủi mình trong những lúc lên bờ xuống ruộng, lúc đường đời không như ý, không bằng phẳng. Tin, để tự vỗ về mình trong những lúc vất vả, khó khăn. Tin, để tự dỗ dành mình trong những lúc khổ đau, tuyệt vọng. Và tin, để tự biết răn đe mình, khi đã gắng hết sức rồi, mà vẫn thất bại, không may.

Tin, để cuối cùng, biết nuôi hy vọng.

Tôi, cũng như Du Tử Lê, không khác mảy may.

Tôi sống trong mỗi ngày, cân nhắc từng nghĩ suy, cân nhắc từng lời nói ra hay viết xuống, cân nhắc từng thái độ, hành vi của mình.

Và, ngày nào cũng như ngày nấy, hệt Du Tử Lê, bất di bất dịch, tôi niệm lời hẹn ước, không thay không đổi với Người. Tất nhiên, đó là Người mà tôi viết hoa, viết hoa vì không chỉ yêu mà còn là sự tôn trọng. Người đương trong trí óc tôi đây, Người đương trong trái tim tôi đây, rằng:

KIẾP SAU XIN GIỮ LẠI ĐỜI CHO NHAU!

Sài Gòn 22.07.2025

THƠ CHO NHỎ

Thân ngựa chạy một đêm sầu gió núi
đứng nhìn theo ngọn suối đứng riêng trời
hơi thở ngọt em một thời phong kín
nhớ nhung gì em buộc tóc chia đôi

Con sóc nhỏ mang hồn lên núi lạ
ta chim rừng cánh đã mỏi thương đau
hương cỏ dại mát chân người ngà ngọc
em bảng đen vôi trắng giết đời nhau

Trăm con bướm bay về chung một ngõ
suối xôn xao suối phải tự xuống nguồn
em áo lụa dáng gầy hơn bóng núi
rừng ơi rừng cây đợi đã bao năm

Em tinh khiết giữa đời ta bụi bặm
gọi ta về trong bóng nắng thơ ngây
em mới lớn nên tình như thác gọi
thương dùm ta thân ngựa đã xa bầy

1971

ĐÊM, NHỚ TRĂNG SÀI GÒN

Đêm về theo vết xe lăn
Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây
Ngỡ hồn ta xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
Đêm về theo bánh xe qua
Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh
Nhớ em kim chỉ khứu tình
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giản trưa hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
Đêm về theo vết xe lăn
Tôi trăng viễn xứ sầu em bến nào?

1978 - Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc thành bài hát cùng tên
https://thotanhinhthucviet.vn/product/bao-tho-so-1

TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN TRẦN HOÀI THƯ

Thạch Tốt

Nhà văn Trần Hoài Thư đã rời bỏ thế gian vào ngày 27 /5/2024 đúng vào ngày nước Mỹ đang tưởng niệm Ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) 05/27/2024. Mong Anh an nghỉ.

Tôi có bài viết về 1 tuyển tập thơ văn của anh. Chia sẻ phần tinh anh của anh trong cuộc sống:

BÃO : HỢP TUYỂN THƠ VĂN TRẦN HOÀI THƯ

Tôi vừa nhận được Hợp Tuyển Thơ Văn BÃO của nhà văn Trần Hoài Thư do Thư Ấn Quán ấn hành năm 2020 gửi tặng. Xin cám ơn nhà văn THT.

Gọi là Hợp Tuyển vì nội dung các bài viết được tuyển chọn từ những bài đã post trên blog cá nhân của tác giả suốt nhiều năm qua.

Tại sao lại lấy tựa đề là BÃO? Vì thật sự có 2 cơn bão đã đi qua đời của tác giả ghi dấu ấn sâu đậm đến nổi không thể nào quên và cơn bão thứ 2 là nổi đau buồn không giới hạn. Đó là:

Cơn bão Sandy gọi là superstorm Sandy đã tràn qua vùng New Jersey (nơi ngụ cư của tác giả) vào tháng 11 năm 2012 nhưng rất may mắn là đã thoát qua cơn bão hung dữ đó mà không có thiệt hại đáng kể.

Và cơn bão thứ 2 là sự đột quỵ của chị Y, hiền thê của tác giả chỉ một tháng sau đó. Anh viết:

“…Cho Y:

Tôi đã ngồi hàng giờ bên giường bệnh. Tôi may mắn vì cơn bão đã tha, nhưng đổi laị thì lòng tôi đứt đoạn. Bao nhiêu người y tá, bác sĩ, phụ tá y tá đã vào phòng. Bao nhiêu lần tôi theo sau chiếc giường mà Y nằm để đến các phòng chụp hình, chụp ảnh. Bao nhiêu lần tôi nhìn bàn tay Y với những ngón tay bị liệt, không còn đủ sức để co cụm. Bão không thật sự đến với tôi, nhưng bão làm tim tôi nhói đau không tả.

Ở con đường nhà tôi, những thân cây gãy đổ nằm vắt ngang giữa lộ đã được dọn đi và đường đã đươc khai thông chỉ 4 ngày sau khi trận bão Sandy tàn phá, nhưng có một thân cây rất mong manh. Không một loài sậy có suy nghĩ-vẫn nằm yên, nằm yên từ ngày này qua ngày khác. Đã 7 ngày rồi. Có bàn tay nào có thể nâng nhà tôi dậyđể có thể bước, có thể đi, ngồi bước hay không?

Có chứ. Bàn tay của tôi. Mỗi ngày tôi đã nắn nót những ngón tay trái bị liệt ấy, bóp, xoa, vuốt, nắn…Tôi tin một ngày chúng sẽ sống lại, máu nóng sẽ hâm từng lóng tay, để những sợi gân bắt đầu tái sinh, luân lưu trở lại. Không ngày này thì ngày khác. Không tháng này rồi đến tháng khác. Còn nữa. Còn những bạn bè của Y, những bạn bè của tôi. Họ tiếp trợ thêm hơi ấm. Tôi tin vậy. Như bông hồng mà bạn tôi đã tặng cho nhà tôi…”

Nhà thơ (văn) Trần Hoài Thư (THT) là một người đặt biệt. Anh là người mê chuộng sách vở giống như tên thật của anh là Trần Quý Sách như cha mẹ đã đặt tên Suốt cả quảng đời thanh niên của anh là dưới bộ quân phục. Anh đã phục vụ trong đơn vị tác chiến cực nguy hiểm là các đơn vị thám kích trinh sát để khi cần được thả vào các vùng hành quân khởi đầu cho một trận đánh hay dò tìm tin tức để các đơn vị tiếp theo khai triển thế trận:

“Với khẩu colt lận lưng quần
với đôi giày bám đặc bùn Nho Lâm
đêm qua bì bõm băng đồng
hôm nay bù lại căn phòng chị nuôi
với xe lam một chỗ ngồi
vòng vo mấy bận để đời chút hương
để một ngày thật dễ thương
trước khi chọc ổ kiến càng Bồng Sơn”

(Ngày của chàng)

Là như vậy nhưng trong túi quần hay balô của anh luôn có giấy bút để viết một cái gì khi có thể. Như Victor Basch đã từng nói:

”Người làm nghệ thuật là một hiện tượng hiếm hoi”

( L’artiste est un phénomène rare”)

Có nghĩa khẳng định nghệ thuật là một cái gì khác thường ngay cả khi nghĩ về cái chết:

“Người ta bia đá lưu danh
Tôi đây bia mộ làm khiên che người
Người ta tên khắc lưu đời
Tôi đây đạn khắc lưu ngoài trái tim
Bia người toàn khắc danh thơm
Bia tôi sẹo khắc nỗi buồn bắc nam.”

(Bia Đá)

Ngày nay người ta không nhìn thi ca như một thực tại tĩnh nhưng là một thực tại động. Không còn là những câu thơ an nghỉ, tiêu cực mà là những câu thơ chi phối tác động lên sự vận chuyển của đời sống. Vì vậy Sartre cho rằng văn chương luôn có tính chất cách mạng là như vậy. Như bài thơ “Nước Lên” chỉ cần nước lên thôi để đưa đoàn quân qua sông:

“Tặng Cái Trọng Ty
Nước lên trời thổ mật vàng
Nủa lan mây núi nửa tràn bãi sông
Nước lên kéo mặt trời gần
Khanh vàng lai láng một giòng vàng khanh
Nước lên quân lội qua sông
Đầu thì đội súng, mình trần, tay bơi
Khúc dông vang tiếng nói cười
Hồn thanh niên bổng một thời ấu thơ
Nước lên đêm sắp buông màn
Qua sông những bóng âm thầm qua sông
Không đò dọc không đò ngang
Chỉ có chăng là hình nhân lờ mờ
VớI đầu đội chiếc ba lô
Với poncho làm chiếc bè chiếc phao
Súng nòng chỉa mũi lên cao
Thương cho ông thượng sĩ Nùng thoát y
Nước lên ngày đã tàn rồi
Mặt trời đã ngủ sau đồi Kỳ Sơn
Chỉ có ta là dẫn con
Qua sông tìm mấy mã mồ viếng thăm
Nước lên bờ tả đã mờ
Chỉ còn bờ hữu nắng vàng níu chân
Nước lên trời cũng tối dần
Quân qua bỏ lại một giòng quạnh hiu.”

( Nước Lên )

. .Trong thời chiến tranh thì mọi người đều là lính, cả thành phố lẫn thôn quê khói lửa binh biến lan tràn. Một ngày qua đi, còn sống là một ân sủng:

“Khi tiếng gà đầu tiên vừa gáy trong thôn
Tôi biết mình là một người may mắn
Tôi có quyền đốt lên điếu thuốc
Xếp lại chiếc mền bỏ vào lại ba lô
Cả đêm qua trời trút xuống trận mưa
Tôi che súng bằng chiếc poncho sợ ướt
Mưa ào ạt lính ngủ ngồi ngủ đứng
Giữa mã mồ người sống chết qua đêm
Tiếng gà nhà ai trong xóm cất lên
Rồi tiếp đến cả làng trên xóm dưới
Tiếng gáy rộn ràng chào mừng ngày mới
Lại thêm một ngày còn sống để hân hoan
Đây là bản đồng ca sau một đêm trường
Bản hợp xướng trời cho lòai người miễn phí
Một tiếng gáy khởi đầu cất tiếng
Rồi trăm ngàn tiếng gáy khác cất lên
Tiếng gáy vang lừng xóm dưới làng trên
Như chiếc đồng hồ không kim đúng giờ báo thức
Hãy dậy đi hỡi những người con ăn sương nằm đất
Hãy hân hoan vì đêm sắp hết rồi
Thêm một ngày một ngày có mặt trời
Thêm một ngày được bình an vô sự
Cám ơn những chú gà vô danh ở các làng ta về gìn giử
Cám ơn bài hợp ca không nhạc trưởng nhac công
Không hòa âm hòa tấu giàn trống kèn đồng
Không ca sĩ không đèn màu không vỗ tay
Chỉ tiếng gáy ò ó o lan truyền trong thinh không vọng lại
Sao ấm vô cùng như hơi thuốc đầu tiên
Tay chuyền nhau chiếc hộp lửa que diêm
Lửa sáng lên thấy bạn mình cười theo ánh mắt
Từ xa xa mập mờ ngọn đồI Bánh Ít
Bóng tháp vươn lên đón kẻ trở về.”

(Bản tấu khúc ân sủng).

Trong tuyển tập này, anh gom lại những sáng tác thơ văn, tùy bút , truyện ngắn thành những chuyên mục gồm; một thời khói lửa/một thời khổ sai/những bài thơ từ Bidong/những bài thơ trên đất mới và những trang văn tuyển . Đặc biệt là anh có những bài thơ nói về hiền thê của anh , về những ngày chị ở trong nursing home đã nhiều năm qua. Và thật sự vui mừng khi một ngày mới lên chan hòa ánh nắng:

“Có một người năm năm chưa biết nắng là gì
Ngày ngày cứ nằm dài trên chiếc giường
Nhìn lên trần phòng
Đôi mắt không có nắng chiếu từ lâu
Chỉ thấy ánh đèn
Dù sáng nhưng không còn linh động
Tôi đến thăm nuôi mỗi ngày hai bận
Việc đầu tiên là kéo chiếc màn lên cao
Để nắng có thể lọt vào
May ra đời còn một chút lạc quan
Vì nắng chính là sự sống
Tôi vẫn hay sửa lại thân người cho ngay ngắn
Kê lại đầu người lên trên chiếc gối êm
Điều chỉnh lại chiếc giường cho vừa tầm
Đắp lại cái chăn mền vương vãi
Và có khi lòng dưng bàng hoàng run rẫy
Khi thấy nắng làm óng ả mái tóc của người
Đã ở tuổi xế chiều mà tóc vẫn một màu đen tuyền
Nắng càng làm cho mái tóc trở nên bóng
Như màu gỗ mun trắc
Tôi đã vuốt trên mái tóc
Và dịu dàng hôn như nắng đã hôn
Tôi vẫn còn nghe như mùi bồ kết tỏa hương thơm
Cọng thêm cả mùi hương ngạt ngào của
Bảy năm dà khổ nạn
Bây giờ đã hơn ba tháng tôi và người cách biệt
Chỉ mong được vào phòng quen thuộc
Để kéo lên cái màn che cửa rồi ra về
Và nắng thay tôi hôn lên mái tóc của người
Vậy mà một hôm người không cần nắng lọt vào
Mà vinh quang ngồi trên xe lăn để người ta
Đẩy ra ngoài cùng với nắng
Mây trên cao trần trời xanh một màu ngọc bích
Hàng dẽ, hàng sồi cùng đội những chiếc mũ biếc xanh
Những người lính tiền đồn ăn mừng chiến công
Không vòng hoa nhưng vỗ tay mừng những người thoát hiểm
NgườI ngồi trên xe nhìn người xung quanh
Tung hô bằng tiếng Anh, tiếng Mỹ
Chỉ có tôi la bằng tiếng Việt
Hoàng hậu muôn năm.

( Nắng…)

Nhà văn Trần Hoài Thư là chủ biên của tập san Thư Quán Bản Thảo đã xuất hiện dễ chừng đã 20 năm nay. Số mới nhất 89( tháng 6-2020 ) chủ đề Thơ Văn Mùa Đại Dịch vừa mới phát hành. TQBT là một tạp chí với một mục đích riêng biệt và chủ yếu là sưu tập những tác phẩm và tác giả của nền văn học Miền Nam trước 75 nhằm lưu giử, phục hồi lại cái giá trị của thế giới con người. Cái nghệ thuật cao mà văn chương và nghệ thuật để lại luôn luôn có một vị trí danh dự. Nhà văn THT còn lập Thư Ấn Quán, một nhà in với kỹ thuật của riêng anh làm từ A đến Z để in lại các tác phẩm văn học và báo chí trong đó biết bao nhiêu là tim óc, tài năng sáng tạo không thể kể hết cùa một thới văn học Miến Nam hưng thịnh, tự do nhân bản.

Để kết luận, điều không thể phủ nhận, anh là một nhân vật phi thường với một nghị lực và một sự hiểu biết. Hiểu biết ở đây là hiểu biết lý tính ( savoir rationnel ) chứ không phải hiểu biết thường nghiệm. Hiểu biết tại sao chứ không phải hiểu biết rằng. Vừa lo chuyện gia đình vừa dồn toàn tâm ý để làm báo, in ấn dù được bạn bè ủng hộ vẫn còn sự lo âu nhưng trong lo âu con người mới ý thức được tự do ( Sartre ).

TUẦN THƠ 51: Gửi Một Chấm Nhỏ

“Rainy Afternoon” by Truong Minh Dine, Vietnam. Grand Prize. A woman transports potatoes to a local market. Her earnings help feed two children and her husband.
“Rainy Afternoon” by Truong Minh Dine, Vietnam. Grand Prize. A woman transports potatoes to a local market. Her earnings help feed two children and her husband.
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát
Phạm Bình Minh

GỬI MỘT CHẤM NHỎ

Thiền văn-ChatGPT-20/7/2025

Nếu loài người thực sự
mạnh/ đã không cần đến
những chiếc ghế quyền lực
để ngồi vững/ không cần
đến kho vũ khí hạt
nhân để giữ lời nói
khỏi run rẩy/ nếu loài
người thật sự văn minh
đã không cần phải thuyết
phục nhau bằng máu/ không
phải đốt sạch mùa màng
để đổi lấy tự do giả
tạo/ họ tự xưng là
kẻ thống trị hành tinh/
nhưng một cơn gió lạ
cũng đủ khiến cả thế
giới đóng cửa/ họ chạm
đến tầng cao vũ trụ/
nhưng không cứu nổi một
đứa bé vừa bị bom
dội xuống mái nhà/ có
những giống loài không cần
tiếng nói/ vẫn truyền thông
qua ý niệm/ có những tầng
sống cao hơn không xây
dựng bằng thép mà bằng
ánh sáng của trí huệ/
và có những vị giữ
luật của các vì sao/
vẫn lặng lẽ theo dõi
sự ngạo mạn nơi trái
đất/ không trừng phạt bằng
sấm sét/ mà bằng hậu
quả không ai tránh khỏi/
không ai là vô địch
khi còn phải ngủ, phải
thở, phải yêu, phải khóc/
không một quốc gia nào
là cường quốc nếu nhân
dân họ bị bỏ đói
tâm hồn/ và không một
chiến thắng nào là vĩnh
cửu nếu đạt được bằng
cách giết đi lòng từ
trong chính mình… chính mình

Ghi chú: viết trong đêm tĩnh lặng giữa những tin chiến sự đang dâng cao, như một lời gửi đến loài người-đang quên rằng mình chỉ là một chấm nhỏ trong vô cùng...


[3d-flip-book id="25022"][/3d-flip-book]
Nguyễn Lương Ba

N G Ư Ờ I B Ạ N Ở T H À N H P H Ố D E N T O N

Hình chụp với người bạn Mỹ, sinh viên UTA. Làm việc part time.(photo summer 2022)

Hành động đó đã lấy
đi hết trái tim tôi,
tôi đã không nghĩ đến
Kaison. Cho đến khi mọi
chuyện kết thúc, tôi đã
cất giọng điệu của mình
đi và rồi không còn
cơn thịnh nộ lạnh lẽo
và hoàn hảo chạy dọc
theo xương gầy của tôi
nữa, và rồi không còn
những hành lang đen tối
và nhỏ giọt nữa, giữ
nguyên hình dạng mà tôi
đã đến để ở lại .


NHỮNG CÔ GÁI ĐÓ

Tôi bị mê hoặc bởi những cô gái đó
bạn biết đấy
những người phụ nữ luôn là con gái
cơ thể nhỏ bé của họ như những cây liễu
được kiểm soát và uốn cong
có thể thổi bay
sự thất vọng nhỏ nhất


XÚC XÍCH

Khi đứng chờ nơi khoang hành lý
một người phụ nữ đã nhìn vào hành lý của tôi
cô ấy đeo một chiếc khẩu trang che mặt
một nốt ruồi hiện rõ trên cằm cô ấy
Cô ấy cười trong khi xúc xích
rơi ra khỏi túi trong cơn run rẩy dữ dội
tôi hy vọng cô ấy nhớ chúng vô cùng

15/6/2025

NHỮNG GÌ CHÚNG TA BIẾT

Không phải là trí tưởng
Tượng không phải là nỗi
Đau buồn hay niềm vui
Không phải là trạng thái
Hồ hởi hay là phấn
Khích hay là buồn bã
Người bạn thật sự giản
Đơn còn muốn gì nữa
Khi nho biến thành rượu
Khi bầu trời đêm đổ
Xuống như một đám đông
Lúc rạng sáng một người
Đàn ông muốn đi tắm
Hơi họ đi cạnh nhau
Dọc theo con đường khi
Họ di qua nhà thờ
Tiếng gọi cầu nguyện Chúa.

2/6/2025

ĐÂY XỨ HUẾ

Đây xứ Huế yêu kiều và diễm lệ
Trai nơi đây nhút nhác nhưng đa tình
Yêu tất cả trải lòng ra vạn ngã
Đây là sông Hương
Là nàng tiên xứ Huế
Đây là Hàng Bè
Và đây là Bờ Sông Gia Hội
Bao năm rồi soi bóng hàng dừa
(Có ông Cả Điên ném lon ve chai
Xuống sông)
Mong nối lại nhịp cầu hai bên
Lại có bác Ấm mỗi ngày tưới cây
Đây xứ Huế đây là đất Nam Phổ
Có cau ngon của bà mẹ Thần Kinh
Đây xứ Huế đường Trung Bộ
Rồi đường Gia Hội
Có bún bò Mụ Rớt
Rớt mà thích ăn ớt thế mới hay.

Bài thơ này tôi làm lúc 15,16 tuổi gì thôi. Đang học trường Nguyễn Du ở Huế. Lúc hồi cư về lại thành phố, gia dình tôi ở xóm Gia Hội , một khu phố rất sầm uất dọc hai bên bờ sông , một nhánh sông đào của sông Hương chảy lặng lờ về tận Bao Vinh. Riêng xóm tôi ở kể từ đầu cầu Gia Hội đến chùa Diệu Đế có những giai thoại mà tôi có nhắc đến trong bài thơ.
Trên con đường Bạch Đằng có phủ ông Cả Điên. Hồi đó tôi còn nhỏ quá, không biết ông bị điên lừ lúc nào, ông thường lững thững đi một mình miệng cứ lẫm nhẫm không ai biết ông nói cái gì..Ông ở một mình trong phủ. Nghe kể lại có đêm ông thức dậy la hét như lên cơn ai cũng sợ. Điều mình kể ở đây, ông là anh của Bà Trần văn Chương Ông bà Chương nguyên là Đại sứ VNCH tại Mỹ.Ông bà Chương là bố mẹ của bà Trần Lệ Xuân Bà Xuân kêu ông là Cậu ruột. Mỗi lần ra Huế, thấy xe cộ đậu đầy trước phủ, biết rằng Bà đến thăm. Còn nhà Bác Ấm cách nhà tôi mấy căn là bố vợ của Đại Tà Nguyễn Khương Đt Khương là chỉ huy trưởng Truyền Tin thời TT Diệm Ông tham gia đảo chánh 1963 nhưng sau di ra ngoại quốc mất luôn tên tuổi. Những chữ viết này là ký ức tự nhiên tìm thấy.

[3d-flip-book id="26106"][/3d-flip-book]
Chu Sơn

KỶ NIỆM

Cánh én bay đi
ái ân lịm chết
con thuyền tình mất
hẳn lối sang ngang
bến thơ xưa vò
võ bóng trăng vàng
đêm thao thức nghe
lòng tê tái lạ
cuộc đời hôm qua
muôn người chực ngã
cây úa tàn thân
xác đứng chơ vơ
tôi cùng em chắp
lại mối duyên hờ
ôm siết lấy đôi
bàn tay rớm máu.


LÝ DO

Bàn tay của thiên đường cứu rỗi
giấc ngủ mùa thu này có tên em
con đường vào rừng sâu này không
chắn lối con đường vào rừng sâu

này không tội lỗi quanh chúng ta
nghệ thuật và ái tình. Thành phố
này đã bao lần tôi từ chối
vì thiếu bóng em tình yêu và

tất cả thành phố này đã bao
lần tôi từ giã những hình hài
những khuôn mặt ngây ngô và
trong tôi em chưa đến bao giờ.

Tôi muốn về quê hương tôi muốn
dệt vạn tình thương nơi đây mười
mấy năm tù ngục tôi uất ngẹn
chán chường. Và giấc ngủ mùa

thu này có tên em giấc ngủ
mùa thu này có tên một người
con gái lần đầu tiên tôi tiếp
nhận trong hồn lần đầu tiên

tôi thấy mình còn liên lạc thành
phố này và những khuôn mặt ngây
ngô. Thành phố này vẫn còn bóng
dáng tôi thằng con trai khố nạn

mang trong hồn sự phản kháng thường
xuyên chỉ vì daisy thay tên
một người con gái chỉ vì em
đã kéo tôi trở lai một nơi

uất nghẹn chán chường.


ÂM THANH

Xin người yên lặng tôi
đâu cần lời ngợi ca
từ những hình hài không
tim xin người yên lặng
giáo đường có tiếng cầu
kinh ai ngợi ca ai –
ai ngợi ca ai lũ
người xuôi tay nhìn số
phận.

Gót chân vẫn không mòn
hơn những đường tôi đi
dù sỏi đá gót chân
vẫn không mòn hơn
thời gian dù chiếc kim
đồng hồ quay tròn quay
tròn.

Chỉ một loài cỏ dại tôi
nhìn tương lai lên những
tinh cầu mới dựng và
sương mù sương mù tôi
say sưa hôn lên số phận
cỏ non cỏ non rồi
cỏ non.

Xin người yên lặng có
tiếng ai rên than gió
về ru tắc nghẹn đêm
đêm đếm cột đèn.

Cánh tay này xin đưa
cao những cột đèn in
bóng lạnh mắt nâu rồi
đi hoang tôi vẽ lên
nền huyết sẫm ôi giọng
buồn khỏa thân.

Làm thơ chống chiến tranh trong bối cảnh đất nước ba bên bốn phía chuẩn bị bước vào cuộc gió tanh mưa máu trên qui mô lớn là một động thái vô duyên và lạc lõng.
Tập Quê Nhà xuất bản đầu năm 1964 là dấu tích chết chóc đau thương hàng ngày của một hay hằng triệu con người ở nông thôn đã gần chục năm kể từ sau hiệp định Ge-nève. Khởi đầu là chiến tranh từ một phía. Tiếp đến, bạo lực cách mạng là cách duy nhất để giải phóng miền Nam… Cả một chuỗi dài máu lửa mà nông dân phải gánh chịu. Nhưng chiến tranh chưa thực sự gõ cửa từng nhà trong các đô thị như những năm tiếp liền sau đó.
Năm 1965 Mỹ đổ quân. Một phần thế giới chữ nghĩa hân hoan đón chào. Nhiều phần khác thế giới chữ nghĩa bàng hoàng phẫn nộ.
Bên cạnh nỗi đau chiến tranh, lớn dần lên nỗi nhục đất nước bị xâm lược, bị dày xéo, dân tộc bị nô lệ.
Như lưỡi hái của tử thần, những nhát kéo kiểm duyệt đã băm nát “Giữa Lòng Việt Nam”, tập thơ thứ hai không xuất bản được như dự kiến trong năm 1965.
Thi sĩ thôi làm thơ phản chiến, dấn thân vào con đường lạ lẫm chẳng đặng đừng.
Bạo lực trong tay, nhưng lòng y cháy bỏng khát vọng yêu thương và hòa bình.
… “Trong lòng cây súng tiểu liên
Ta để dành viên đạn cuối
Bắn vào tim ta – nơi trú ẩn của hận thù
Bắn vào trí ta – nơi phát sinh mầm ung độc
Rồi một sớm xuân hồng,
Ta ca hát giữa bình minh
Em
Hãy đến cùng ta
Sửa soạn lại đất đai cho tình ruột thịt’’.
Bây giờ y là người ‘‘cựu chiến binh’’già.
Quê Nhà là dấu tích của một thời bi thương chưa hết.
Quê Nhà cũng là giấc mơ xanh biếc ngàn đời.

[3d-flip-book id="16715"][/3d-flip-book]
Trầm Phục Khắc

CHÂN TRỜI

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

Người đàn bà ngủ với vầng trăng
và bắt đầu lẫn lộn không biết
mình đang ở điểm nào trên đường
chân trời con đường mờ ảo nối
từ tuổi thanh xuân đến chiếc giường
trong dưỡng viện người đàn bà đi
ngược con đường và gặp lại tiếng
hát một thời của mình ngân nga
trong trận mưa hoa và những người
đàn ông vẫn còn đang đứng đợi
người đàn bà lặng lẽ cười bước
đi về phía cánh cổng đồ sộ
của một ngôi trường bà gặp lại
lần cuối cùng cô nữ sinh nội
trú trong căn phòng nhỏ cái phút
đầu tiên cô bé biết thủ dâm
và ngắm nghía thân xác trần truồng
của mình trong chiếc gương cao mà
quá hẹp người đàn bà vẫn lặng
lẽ cười bước quay trở về với
vầng trăng của khu dưỡng viện bà
nhìn thấy bên cạnh chiếc giường của
mình một người đàn ông có gương
mặt trẻ thơ đang cầm hoa đứng
đợi không thể nào nhầm lẫn được
làm sao làm sao nhầm lẫn được
nhưng người đàn bà đã thiếp đi
theo vầng trăng những giọt mưa và
nụ cười lặng lẽ có tiếng ai
gọi ai bên ngoài và người đàn
ông có gương mặt trẻ thơ trôi
bập bềnh ra khỏi chiếc giường ra
khỏi khu dưỡng viện ra khỏi giấc
mơ ra khỏi cuộc đời ra khỏi
căn phòng nội trú ra khỏi thân
xác trần truồng của cô nữ sinh
và ra khỏi thân xác trần truồng
của chính chàng trên cùng một đường
chân trời của mười lăm năm trước


ANH EM

Những bài thơ như những con chó
trong đoàn quân khuyển bị bỏ rơi
lại sau cuộc chiến. Có còn con
nào lẩn quất đâu đây trong cánh

đồng vô tận hay là chúng đã
nhập vào trong những bài thơ nằm
kề bên nắm xương của biết bao
người lính.Có còn con nào quay

trở về sống cuộc đời lặng lẽ
nơi xó vườn của đám dân đen
mỗi đêm hú lên bài thơ nhắc
nhở một thời nhắc nhở cuộc đời

về những con chó trong đoàn quân
khuyển bị bỏ rơi lại sau cuộc
chiến những con chó hoang như những
bài thơ trên cánh đồng vô tận.

Có còn viên đạn nào không dù
chỉ là một viên thôi cho những
con chó hoang cho những bài thơ
can đảm ấy được sống thêm một

lần bên những người anh em trong
đoàn quân mà mỗi một chiến binh
đã bắn xong viên đạn cuối cùng


BÊN NHAU

ở với thơ buồn
quá đi với thơ
vui hơn vì đi
thì có lúc nhanh
lúc chậm có lúc
vắng lúc gần có
lúc mơ lúc thật
nghĩa là có đi
thì có gặp chứ
ở hẳn có sẵn
rồi thì cần chi
gặp nữa có vẻ
lẩm cà lẩm cẩm
tuy nhiên đi với
thơ có chút rủi
ro này ấy là
ngộ nhỡ mai kia
không đi được nữa
thì biết tính sao
thôi thì cứ đi
vả chăng tuy rằng
ngồi đấy nằm đấy
mà vẫn bên nhau
có nghĩa là đi
chậm chạp chậm chạp
bên nhau bên nhau
lúc vắng lúc gần
lúc mơ lúc thật


Bạn đọc Khuyết Danh gửi đến trên Diễn đàn

TƯƠNG LAI

Bom vừa rơi tê đất khói giăng
đầy trời xanh chiến tranh còn dư
chấn anh lặng nhìn trời xanh từng
thi thể bất động đồng đội đã
nằm im gió rít qua hầm nhỏ

Tiếng tim mình lặng thinh giữa phút
giây trống trải một ký ức dần
lên chiếc võng xưa khe khẽ đu
đưa dưới mái hiên anh nằm nghe
mẹ thở lưng còng bên mâm bàn

Đôi tay mẹ nhồi thịt cho bữa
chiều rộn ràng lửa hồng rơi từng
đốm mồ hôi mẹ rơi theo gió
thổi mùi thơm nhẹ bên bếp nghèo
quạnh hiu anh nhìn lên trời vẫy

Đám mây cũng vô tư không biết
đời phía trước bao lần thành bão
mưa giờ nơi đây chinh chiến máu
vương trên áo sờn nhưng ký ức
vẫn sống trong trái tim không mòn

Chợt vang lên hiệu lệnh tiếng chỉ
huy vọng xa anh đứng dậy thật
chậm tựa như chưa rời nhà lặng
lau dòng nước mắt anh bước giữa
cỏ cây gói bình yên vào dạ

Mang gửi về tương lai

17/6/2025

[3d-flip-book id="24986"][/3d-flip-book]
Vương Ngọc Minh

NÀNG CÓ CÁCH CỦA NÀNG

tôi nhặt cây viết lên
nhìn vào trong ruột nó
những sự kiện đã không
còn đấy nhưng mặt khác
dưới đường mực bắt đầu
chảy xuống những từ ngữ
chiếc iphone 5s
đã chịu qua nhiều cuộc
thử nghiệm bên trong ruột
của nó các sự kiện
vẫn đang tiếp tục diễn
ra với một mức độ
không lấy gì trầm trọng
lắm tiếng gà còn i
nơi thôn làng giữa thị
thành thậm chí và nơi
mặt đất tôi muốn nói
tiếng gà thời gian dành
cho các mái đầu thưa
quí vị chiếc iphone
5s chưa hề thay
đổi tí ti ông cụ
nào cả dù có nằm
trên chuỗi chuỗi sự kiện
đi chăng nữa trong ruột
của đường mực chảy xuống
những từ ngữ mặt khác
đã chịu qua nhiều cuộc
thử nghiệm vẫn i tiếng
gà nơi thôn làng thậm
chí giữa thị thành và
các sự kiện ôi của
ngày hôm qua vẫn còn
nguyên với ngày hôm sau
với thời gian đúng vậy
tôi muốn nói thời gian
trong ruột của thời gian
nhiều sự kiện không còn
đấy nhưng mặt khác các
sự kiện khác sẽ tiếp
diễn trong một không gian
có trầm trọng lắm hay
không hoàn toàn tùy thuộc
vào tính cánh phi tuyến
tính của nó nhá!


[3d-flip-book id="24874"][/3d-flip-book]
Biển Bắc

CHỨNG BỆNH CỦA NHỮNG THẦN HỎA-TINH

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa
Với Lê Minh Phong, cùng bún bò giò heo sáng nào xứ Huế và thân tình

Cây cột sống cột sống
các chàng vào hành tinh
xanh này chính là điểm
các chàng đều tựa như
Nhau là chứng đau lưng
bởi vì cho dù chọn
cách sống nào ở trên
hành tinh xanh này đều
Đau lưng cả len lỏi
luồn cúi được thăng hoa
nằm chăn ấm nệm êm
nhưng đau lưng ngước mặt
Thẳng lưng nghèo mạt nằm
đất dĩ nhiên là đau
lưng lừng khừng suy tư
về chứng bệnh của cây
Cột sống các chàng mang
đến hành tinh xanh này
trằn trọc không ngủ được
thì cũng bị đau lưng!

(cuối 5, không 13)

LỤC BÁT NÁT

Của Vương Ngọc Minh và thân tình

“Còn đây câu lục bát buồn
Đem ra xoa dịu dỗi hờn trong nhau
Lời thơ rớt xuống chân cầu
Cho mảnh trăng vỡ nát nhàu bến sông”

(Câu Lục Bát Buồn; Biển Bắc; 1998)

Thể bị càu nát là thể
thơ tình N vẫn viết cho riêng M
người N thương thầm lâu nay
qua bao thăng trầm trơn tay với chữ
nghĩa của ruột gan từ hơi
thở trong N tuồn tuột lan tràn theo
bước chân N với đôi giày
Nai Kỳ mới toang hoang hoáng
đuổi rượt bắt câu thơ tình thể lục
bát là thể thơ bị cày nát N
ưa viết cho riêng M hay
thể thơ lạ nào khác N chưa viết
cho riêng N và những ngày
N chết lặng trong bấn loạn khi chữ
nghĩa khốn nạn toang toáng nổi
loạn gào thét từng cơn nhau cào cấu
ruột gan đau điếng hồn thơ …

(giữa 3, không 4)

T / RỪNG NGƯỜI

Cô còn nhớ lần đầu
khi bước xuống đường đời
đã hỏi cô như vậy trong
buổi sáng nay khi cô
Bước xuống đường trời lả
hơi sương tình cảnh khi
đó cũng y hệt bây
giờ một rừng người từng
Người như những làn cây
ẩn hiện lờ mờ như
số phận của từng người
giữa rừng người mà dấu
Vết lần đầu là những
viên sỏi không nuôi sống
được một thời còn lần
sau là những mẩu vụn
Bánh khiến lạc lối cả
một đời rồi cô còn
nhớ lần đầu khi bước
xuống đường đời cô đã
Hỏi số phận mong mỏi
những điều gì ở nơi
cô mà số phận chỉ
vòng vo hỏi ngược lại
Rằng cô mong mỏi những
điều gì nơi số phận
mình khi bước xuống đường
đời lại hỏi cô như
Vậy trong buổi sáng nay
khi cô bước xuống đường
đời bước vào rừng người
bước đi với từng người

(cuối 4, không 14)

BÓNG MÂY

Với Bùi Dzũ

Nắng thì rất trưa mà
giấc mưa lại quá chảnh
chành chanh đá lăng quăng
ống thủy tinh soi bóng
Người ngồi người đi xe
đứng im xe lướt phướt
xoay vòng đều đặn theo
tiếng leng keng đá lăng
Quăng ống thủy tinh rồi
mất hút hòa tan vào
khối lỏng cùng với khói
thuốc ba điếu thuốc ba
Số năm loãng trong không
theo mắt nhìn về mỗi
hướng của mỗi người đang
ngồi với nhau cùng đuổi
Bắt suy nghĩ riêng của
mình đang tan loãng vào
dòng nhịp buổi rất trưa
chờ giấc mưa hết chảnh
Chành ra * bốn hướng tưới
cho mát mắt đất chất
ngất mũi người mùi thành
phố bốc lên … bóng mây

(đầu 8, không 13)
*Từ-ngữ của Hồ-Xuân-Hương

[3d-flip-book id="24907"][/3d-flip-book]
Hà Nguyên Du

TÔI LÀ AI

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

Hôm qua có người hỏi
tôi sống để làm gì
tôi trả lời tôi sống
chỉ để làm một việc
Là đuổi cái tôi ra
ngoài tôi người lại
hỏi tôi là ai tôi
trả lời tôi không biết
Tôi là ai vì chỉ
khi nào tôi đuổi được
tôi ra ngoài tôi tôi
mới biết tôi là ai …


CHUYỆN XẢY RA

Trên đời này cái gì cũng
có thể xảy ra trong cái
gì cũng có thể xảy ra
có thể có cái không thể
xảy ra thế mà lại xảy
ra xảy ra một cách tự
nhiên như qui luật phải xảy
ra xảy ra một cách đột
ngột xảy ra một cách choáng
váng choáng váng đến điên đảo
đảo điên như anh và em
đang cơm lành canh ngọt thế
mà lại xảy ra xảy ra
chuyện em bỏ anh anh bỏ
em một cách đành đoạn trên
đời này cái gì cũng có
thể xảy ra xảy ra không
ngờ là chuyện có thể xảy
ra vì em bỏ anh chỉ
để được tự do đi chơi
còn phần anh anh bỏ em
là để sống với người tình
trong mơ sinh ra thơ sinh
ra nhiều con thơ nên thơ …

đêm hăm bốn, mười một, mười lăm

ÁM ẢNH

Rồi cứ mãi ám ảnh
về sự chắn lối của
những cánh cửa những
cánh cửa đã tháo tung
hết những bản lề những
cánh cửa không bản lề
những bản lề gắn liền
với những cánh cửa những
cánh cửa bản lề những
bản lề lắp ráp cánh
cửa vào những căn nhà
những căn nhà ở bên
đây bên kia những con
đường dĩ nhiên những cánh
cửa chỉ đóng và chỉ
mở chỉ đóng và chỉ
mở những căn nhà

Nov 25/15

Hạnh Ngộ

CÓ TIẾC KHÔNG?

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

Đã hết rồi mộng mơ thời mười
bảy tuổi say cùng biển rộng núi
cao đã hết rồi khát khao dây
diều với bài thơ viết vội anh

bận rộn em bận rộn với smart
phone computer and message và
vân vân … sinh nhật mật ngọt hay
kỉ niệm ngày yêu nhau cũng là

hoa qua đường bưu điện hoặc
quà gửi từ tin nhắn nhắn tin mỏi
mắt thấy mồ … nhưng mà nhưng
mà em vẫn mặn nồng em có tiếc

chút màu hồng thời cháy nồng nhớ
nhung chưa dám cầm tay mắt
rất tình môi chưa chạm môi em
có tiếc không khi hôm nay không

cần hương say đã biết tỏng tòng
tong nhau những vòng đo những xo
đo em có cái chi anh có cái gì thời
số hóa hóa số tình không nói vòng

vo em khó thời mời em lên
đường em dễ thời mời em lên
giường thật em có tiếc nhưng
mà không tiếc nhưng mà không … biết.

Sài gòn ngày 22/9/2014

CỐ HỮU BỎ ĐÓI NỖI NHỚ

Sáng
bất ngờ đêm bất ngờ chiều
xuống bỗng nhớ như điên một
gã trai chưa biết tên tuổi

chỉ biết thân hình với nụ
cười mỉm chi khó hiểu khiêu
khích khát khao đảo điên đàn
bà mưa nắng thất thường ai

chiều cho nổi đàn ông nếu
bất ngờ hiểu điều đó trong
khoảnh khắc là chiếm trọn trái
tim nàng gạt đi nỗi nhớ

đêm qua với người đàn ông
xa lạ không chịu thừa nhận
mình yêu mà chỉ là cảm
xúc bất thường của người đàn

bà cô đơn quá đỗi lạnh
lùng bỏ đói nỗi nhớ triền miên
không gọi cho người đàn
ông để thừa nhận mình đang

nhớ thừa nhận mình đang say
tình ư chỉ sau một đêm
mộng mị hay thật thì cũng
qua rồi người đàn bà cố

hữu bỏ đói nỗi nhớ bất
chấp tim mình da diết trong
đêm.


VÔ ĐỀ

Em dựng lên những bức
tường rồi mong manh như
màu xanh của biển ngày
vắng anh những bức bối

được dựng lên bằng gì …
không rõ những bức tường
được dựng lên bằng gì
đâu sao giờ tan như

bọt xà bông trong không
gian có vang tiếng anh
nơi căn phòng em ngồi
đợi … em đã đợi mà

không biết mình đợi biết
mình thảnh thơi với mưa
rơi trên cánh hoa mỏng
manh xanh …


[3d-flip-book id="26290"][/3d-flip-book]
Hồ Đăng Thanh Ngọc

MỘT Ý NGHĨ

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

cô đơn là đặc trưng của phận
người như ân huệ ngọt đắng của
cuộc đời nhiều khi biết cô đơn
là chính mình sao vẫn muốn thoát

ra khỏi chính mình để mượn một
cái gì đó ồn ào lấp nỗi
trống rỗng hoặc nằm nghiêng bên trái
để vay mượn giấc mơ cuộc thế

cô đơn đã gào thét khi sinh
ra và im lặng khi chết chóc
và cả khi những giọt nước mắt
rơi trong nỗi thống khổ nhưng không

thể van xin một tình yêu từ
đâu đó như cứ im lặng của
đá núi bởi tình yêu không hề
ban phát nó như một hơi thở

lạ lẫm biển và núi cái nào
cô đơn hơn cái nào?


MƯA BIẾN SẮC

vũ hội mưa đã bắt đầu với
những trận sấm sét trên cao nổ
tung cả bầu trời chớp dông chớp
tây chớp nam chớp bắc chúng xẹt

vào tâm can vào não trạng vào
cơn ngái ngủ vào cơn say nguội
vào cơn cơ hội nhờ mưa rửa
tội vào hèn nhát mưu sinh vào

bức bối vào đủ thứ bụi bặm
vũ hội mưa đã bắt đầu lau
rửa những bộ mặt những gương mặt
biến sắc lá xanh hơn mặt đường

sạch sẽ hơn lòng người thơ thới
hay rối bời hơn thì mưa vẫn
cứ rơi cứ rửa cứ lau đi
lau lại có người ra hân hoan

tắm mưa có người đi sợ mưa
ướt có người núp trong nhà nhìn
ra mưa to quá con chó cũng
nằm yên tội nghiệp mặc kệ con

mèo kêu meo meo cầu vồng vẽ
nên bảy màu sau mưa? mưa nhiễu
sự hay mưa vô sự? có người
ngồi trong nhà thò một chân ra

ngoài xem chân mình có biến sắc
hay không


HOA HỒNG

con đường về nhà em hoa hồng
dại nở đầy trong tím lịm hoàng hôn
em đã đi về trong sương đêm
nên không nhìn thấy và nhiều khi

đêm quá dài hoa hồng không còn
tươi khi ngày mai nắng lên không
rực rỡ sân nhà em và những
cánh hoa hồng héo úa trong màu

xanh của cỏ gió đã thổi tung
những cánh hoa rơi lả tả trong
đốm sáng như những giọt máu chảy
từ đỉnh trời lòng chợt buồn khi

hoàng hôn lại đi qua ngõ nhà
em và lại thấy những đóa hồng
dại vẫn gai góc nở trong bóng
tối nở làm gì tội rứa hoa ơi!


Hoàng Huy Hùng

CÁNH CỬA CON ĐƯỜNG

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

Những cánh cửa bình minh
mở … trong đêm sâu những
cánh cửa cánh cửa cánh
cửa vui vẻ những buồn
bã buồn bã buồn bã
đóng … trong lòng tôi … những
con đường dẫn đến cánh
cửa những cánh cửa dẫn
đến thiên đàng những thiên
đàng địa ngục địa ngục
thiên đàng những con đường
dẫn đến con đường những
vực sâu dẫn đến vực
sâu những bình minh hoàng
hôn những thần linh quỷ
ma … thôi thì đấy cánh
cửa cứ là cánh cửa
và con đường cứ là
con đường đóng và mở …
trong bóng tối …


CHUYỆN TÌNH

Trong cái rét buốt của một đêm
mùa Đông trong vẻ còn ngập ngừng
người con gái nói lời nhắn lời

chào P như thể đó là lần
cuối cùng gặp lại nhau đêm nay
P biết rằng P sẽ mãi mãi

xa người yêu của P đã là
một người khác hoàn toàn lạ lẫm
P không thể níu kéo dài cuộc

tình đến đây là hết chớp mắt
mở ra ngồi nhìn lại P đang
ở đây từ lúc nào (đã cách

xa 15 năm rồi) P đã
ở một vùng không gian khác một
thời gian khác tình yêu đã chết

rồi hay lẽ nào đó chỉ là
một giấc mơ giấc mơ mãi ám
ảnh tình yêu đã tàn rồi như

điếu thuốc tàn cuối cùng sót lại
trong vỏ bao thuốc gạt tàn đầy
gạt tàn đầy tro tàn cùng đầu

mẩu những điếu thuốc nằm chết một
giấc mơ có được giải cứu làm
sao để giải cứu nỗi ám ảnh

khắc khoải chưa được nói ra hết
cùng người yêu P chỉ là một
người dối trá hay lẽ nào chỉ

là ảo ảnh là ảo tưởng ngây
thơ một thời xa vắng rồi nhưng
vẫn cứ dai dẳng âm ỉ hiện

tại này chuyện đời P dai dẳng
lần lượt là những điếu thuốc cháy
rồi lại tàn cháy rồi lại tàn

gạt tàn đầy gạt tàn đầy những
tro tàn những đầu mẩu điếu thuốc
dấu vết này sẽ bị đổ đi

bị vứt đi tình yêu đã chết
hay chỉ là một giấc mơ?

25/12/2014

MỘT GÓC TRỜI

Nơi con đường có lá
vàng tôi tạo ra con
đường của tôi bằng cách
xóa đi những dấu vết
một vùng trời bình yên
trở lại – trở lại nơi
ngõ phố nơi này – đây
Hà Nội – Hà Nội nơi
con hẻm chiều muộn người
đi kẻ về trở về
căn gác nhỏ riêng một
góc trời ấp ủ một
ước mơ sẽ thành sự
thật có tôi cùng em
bên nhau kể chuyện ngàn
lẻ một đêm bay lên
bài ca kỷ niệm bài
ca hóa thành một thời
huyền thoại một thời tươi
đẹp từ miền đất có
dòng sông thăm thẳm kể
chuyện ngàn năm.


Hường Thanh

DI VẾT

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

lúc đầu việc bước vào
ngôi nhà với mái hiên
đã rất nhiều bụi nhiều
thời gian qua với hàng

cây em đứng ngày mùa
hè oi ả khi bước
vào ngôi nhà đã rêu
nhiều chỗ nhiều rêu khô

lớp từng lớp trên nền
tường người bỏ hoang đã
lâu rồi lâu với hàng
cây em đứng ngày mùa

hè chói chang chói chang
nắng trên mái hiên nhiều
chỗ nhiều chiếc lá không
từ mùa thu lại đổ

xuống hàng cây trước ngôi
nhà lúc đầu chẳng có
gì để tồn tại ngoài …


CÔ GÁI BÊN CHIẾC CỬA KẾ TIẾP

nắng đi vào nắng
tỏa ra nắng tắt
ban trưa mở ra
chiếc cửa chẳng biết
lúc nào ngày chưa
đọc được ý nghĩ
cô gái cũng không
đọc được chiếc cửa
mà phải lần lượt
mở ra từng cánh
cửa này lần lượt
mở ra những ý
nghĩ kia cuộc đời
ngắn như gian phòng
nhỏ lần lượt những
cuộc đời trong cánh
cửa cô gái mở
những ý nghĩ không
đọc được lần lượt
mở ra lại gặp
tên thủ lãnh với
màu đen quấn đầu
đứng đôi mắt khô
lần lượt mở mở
từng chiếc cửa cô
gái thân thể lõa
lồ khi nắng đã
đi vào ban trưa
nắng tắt rồi tắt
nắng lần lượt sự
mở ra lần khác
cô gái vẫn cố
mở ra hy vọng
mình.

21.5.2015

HAI NGƯỜI GẶP NHAU

ở một nơi nào đó những
trừu tượng đôi lúc ra khỏi
ý tự nó trừu tượng một
cách riêng ngoài rìa cặp mắt

tôi về chiếc nón lá mà
tới hai chiếc nón lá ở
ngoài rìa vỉa hè khung hình
trong đó là món đồ ve

chai hai phía đến nhau chiếc
nón lá gặp nhau ngoài rìa
cặp mắt ngoài rìa vỉa hè
hai chiếc nón lá trên đường

nói về sự sống trong mọi
sự sống tầm thường những món
đồ ve chai trừu tượng nó
đã nằm ngoài rìa tôi ngoài

rìa cặp mắt ngoài rìa chỗ
tôi ngồi những món đồ ve
chai chết hai chiếc nón lá
gặp nhau như còn sống tôi

không có gì cả nhấp ly
cà phê uống buổi sáng một
ngày tự nhiên hiếm hoi mình
thấy ngoài rìa quán cafe.

19.1.2015

Khế Iêm

HỎI CÂY

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

Tôi hỏi cây cây nghĩ
gì khi người ta chặt
khúc những bạn cây bỏ
lăn lóc trên lề đường

cây bảo cây đang hỏi
mây trắng nhưng mây trắng
bận bay nên chưa thể
trả lời tôi hỏi nếu

người ta chặt khúc cây
thì cây sẽ làm gì
cây bảo cây đang hỏi
bóng mát nhưng bóng mát

bận che khuất mặt trời
nên cũng chưa thể trả
lời tôi nói vậy cây
hãy chạy đi chạy nhanh

đi tới một nơi nào
không có bọn chặt cây
cây bảo cây đang hỏi
rễ nhưng rễ bận cắm

dưới lòng đất sâu chưa
lên được tôi tức quá
hét lên vậy cây hãy
đợi đó để chết đi

chết theo các bạn cây
của cây đi cây bảo
cây đang bận tiếp gió
gió đã tới rồi có

câu hỏi gì thêm cứ
dán dưới gốc cây sẽ
trả lời sớm khi nào
xong việc.


HỎI NẮNG

Nơi góc đường một đám
đông rất nhiều người nhiều
người và cờ dọc theo
lề rải rác những bóng
người di chuyển về phía
đám đông làm cho đám
đông thêm đông nơi một
góc đường khác người đàn
ông đi ngược lại phía
đám đông trên con đường
ngoài hai luồng xe nghịch
chiều càng lúc càng vắng
xuyên suốt chỉ tòan là
nắng và nắng cho đến
lúc hoa mắt tấp vào
một tàn cây hỏi nắng
về đám đông rất nhiều
người nhiều người và cờ
kia có còn hay đã
biến thành nắng và nắng
này người đàn ông đang
nấp dưới tàn cây thì
đến bao giờ cũng sẽ
biến thành nắng?


KẺ VIẾT

Những kẻ viết – như tôi –
sống với những nhân vật
của họ mà nhân vật
của họ thì vốn dĩ

là những mẫu người thật
đủ mọi dạng hình được
bỏ vào những tình huống
do họ tạo ra theo

kiểu cách của họ những
nhân vật của họ trở
thành những con rối dần
dần những con rối lại

biến chính kẻ viết thành
những con rối con rối
trong những con rối ô
hay thế giới của những

con rối cứ thế và
cứ thế phiêu bạt phiêu
bạt những con rối chữ
nghĩa lộn xộn với những

con rối cuộc đời và
trong cái mớ bong bong
của hoài nghi kẻ viết
đi đâu về đâu cuối

cùng rồi cũng chỉ là
kẻ viết có khác gì
những con người khác luẩn
quẩn trong những thế giới

khác nhiễu nhương và nhiễu
nhương nhưng nhiễu nhương thì
nhiễu nhương những kẻ viết –
như tôi – làm sao có

thể thóat ra khỏi cái
viết và chỉ có thể
mãi mãi là kẻ viết
vất vưởng trong cái viết.


Lê Hưng Tiến

CÁI TÔI CÓ THỂ

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát họa

mở những khát vọng ra từ cánh
cửa đập tan bờ sóng nên trái
tim không thể hú hớ nổi ngọn
gió thơ trên đồi hoang vu. Mênh

mông vỡ vụn rồi tự mất dần
bóng tối lung linh khi giấc khuya
vụt dậy tung hứng hàng hàng câu
trả lời vì sao và vì sao

trái tim không thể hú hớ nổi
ngọn gió thơ trên đồi hoang vu
khát vọng vẫn cô độc bởi dấu
chấm hỏi còn kìm kẹp phía sau mặt

trời đỏ lệ đang còn ẩn ngữ
những hoài niệm thông hành mà thế
giới con người luôn thức nhận chuỗi
chuỗi linh động linh động. Có thể

cái tôi cao trào nhưng bật khát
vọng ra thì cái tôi đã quá
vãng và chưa đủ cái tôi khát
vọng nên cái tôi không thể hú

hớ nổi ngọn gió thơ trên đồi
hoang vu hoang vu. Hoang và vu …


Phạm Quyên Chi

CHA

người đàn ông đến trước cửa
báo tin rằng: mùa đông này
nhớ mặc ấm và cha các
cháu chưa trở về rồi như
lời nói ấy nghiêng về góc
tường có bao giờ đâu nhỉ

chúng tôi chưa bao giờ nghĩ
rằng cha có một ý định
hiện hữu nào đến việc cho
ai đó biết trước hay biết
thêm bất cứ điều gì và
thế là câu nói không lâu

lắm thời gian của người lạ
kia đủ để hình dung đã
có một thời cha không trở
về nhà liệu sức lực và
ý chí ẩn náu nơi xa
xa có mang cha tới sự

hoang đường khi thuở xưa có
một lần cha nói âm vang
đến bây giờ: rừng sâu thật
là nơi tăm tối những tia
nắng chiếu xuống cùng khó khăn
đi xuống và cha ơi con

đường để thoát khỏi sự âm
u chắc chắn phải tìm được
chút ánh sáng lờ mờ và
phải gặp được người quen và
cũng phải chắc chắn rằng họ
dũng cảm hơn là ngồi đó

rồi nghĩ ngợi rõ ràng cha
ơi một chút hèn nhát trên
một tiếng ào ào từ cơn
gió phía xa người bạn của
cha ông ấy đã đi trong
nỗi bất hạnh rõ hình dung

ấy trong đôi mắt trẻ thơ
em gái đã thầm nghĩ hãy
đi đến rừng núi một lần
nữa xuyên sâu vào dãy núi
đá: tin đi cha bị mắc
kẹt và xuyên qua từng kẽ

lá sẽ tìm thấy cha mình
bởi vì rừng cũng có chỗ
kết thúc, mọi cái trên đời
đều có chỗ kết thúc, phải
không nào cha ! Ta đi đi
nào…


Bùi Chát thơ và tranh

TÔI THẤY TRÁI ĐẤT

Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát họa

Ngày càng lún sâu
Ngày càng bị chìm xuống
Mọi thứ chúng ta thải ra, liệng vào
Chất chồng và lấp dần trái đất

Một hôm tôi mơ
Thấy trái đất đang vùng vẫy
Trong một nấm mồ rác (1)

(1) Thật ra giấc mơ của tôi, chính xác là:
Trái đất đang bị chôn sống
trong một nấm mồ nhựa



GỬI ANH NGUYỄN TIẾN VĂN

Bạn tôi chỉ mới bắt đầu chết
Hôm nay
Cuối ngày lễ phục sinh

Sẽ là một hành trình dài
Nhưng có lẽ không quá vất vả
Cho tất cả những ai yêu quý cuộc đời
Quay trở lại

20/04/2025
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! - Bùi Chát
Tập thơ Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Bùi Chát

Hậu hiện đại – sự đứt gãy của “ý nghĩa”

Những câu thơ không cần cứu ai, chỉ cứu người viết
Những câu thơ không cần cứu ai, chỉ cứu người viết
Nguyễn Tiến Thanh

Có một thời người ta tin vào thơ như người ta tin vào Thượng đế. Tin rằng thơ mang theo những tầng sâu của linh hồn, là cái đẹp thuần túy vượt khỏi mọi bạo lực của thời đại. Tin rằng thơ là tiếng nói cuối cùng, là kẻ giữ hộ tinh thần con người khi thế giới này chỉ còn lại sự trơ lì.

Nhưng hậu hiện đại đến, không để phủ nhận thơ, mà để đặt một dấu hỏi khắc nghiệt hơn:

“Nếu không còn linh hồn, không còn bản thể, thì thơ còn nói thay ai?”

Hậu hiện đại đã khai tử đại tự sự. Không còn thi sĩ như sứ giả của chân lý, không còn thi ca là vết cắt thiêng liêng giữa người và muôn vật.

Mỗi tuyên bố đều bị nghi ngờ như một vết tích của quyền lực

– điều mà Lyotard từng đoan quyết.

Hậu hiện đại không đọc thơ – nó giải cấu trúc thơ, để chỉ ra rằng mọi ý nghĩa mà ta tưởng là trung tâm đều là một chơi trò dời chỗ không ngừng của dấu hiệu. Câu thơ không chỉ mơ hồ – nó tự rút lui khỏi nghĩa, để phơi ra bản chất không-nơi-trú của ngôn ngữ. Thơ không còn là chỗ trú của linh hồn. Thơ là căn nhà hoang của những ẩn dụ bị đẩy đến tận cùng của tan rã.

Thơ không còn là tiếng nói, chỉ là tiếng vọng. Nó từng được viết bởi những cái tôi rõ nét: Truyện Kiều là Nguyễn Du, Thần khúc là Dante , Bên kia sông Đuống là Hoàng Cầm. Nhưng hậu hiện đại đặt lại toàn bộ: Không còn “tôi”. Chỉ còn một trung tính không xác định phát ra tiếng gào của các mảnh vỡ. Roland Barthes gọi đó là “cái chết của tác giả”. Tác giả không còn là người kiến tạo nghĩa – chỉ là một vị trí tạm thời trong mạng lưới những dấu hiệu. Baudrillard còn tàn nhẫn hơn, nhìn thơ như một biểu tượng rỗng: nơi cái thực được thay thế bằng cái siêu thực, nơi cảm xúc bị mô phỏng lại để bán đi như những khoảnh khắc chân thực.

Thơ hôm nay, trong hậu hiện đại, không còn viết về cái tôi – mà là cái tôi bị vỡ ra và phản chiếu trong gương vạn mảnh. Mỗi bài thơ là một tiếng vọng, không biết vọng từ đâu, không biết vọng về đâu. Có khi ta viết một bài thơ chỉ để nghe lại giọng của chính mình – nhưng không chắc đó còn là mình. Có khi ta làm thơ như thử gõ lên một bức tường không có hồi âm – để biết: có thể chính thơ cũng đã rỗng.

Với hậu hiện đại, thơ trở thành một diễn ngôn không còn chủ thể – và cực đoan hơn- nó cho rằng diễn ngôn không còn phục tùng chân lý mà phục tùng quyền lực. Trong ánh nhìn ấy, thơ không chỉ là một hình thức nghệ thuật, mà là một diễn ngôn bị kiểm soát, định dạng, và cài mã hóa bởi các thiết chế – từ truyền thông, xuất bản đến thị trường thẩm mỹ.

Một phần thơ Việt hiện nay – hậu hiện đại hay tân hình thức- xét cho cùng, cũng là một sản phẩm của cơ chế diễn ngôn ấy. Ở đâu đó, nó chọn cách nổi loạn bằng hình thức, nhưng chưa chắc đã thoát ra khỏi quy luật của việc “thị trường hóa cảm xúc”.

Có thể người ta không viết thơ vì muốn nói, mà vì muốn được thấy là mình đang nói. Có thể thơ không còn được viết để đi tìm ý nghĩa, mà để mua một vị trí giữa các từ khoá hashtag. Nếu vậy, thơ hậu hiện đại là một vết rạn được phơi ra giữa các khối kiến trúc quyền lực. Nó không còn là ngôn ngữ của vĩnh cửu. Nó là một thực hành bất ổn – vừa chống lại diễn ngôn, vừa là sản phẩm của chính nó.

Vậy có còn cái đẹp sau khi bản thể tan rã không? Nếu không còn bản thể, không còn chân lý, không còn cái tôi – thì cái đẹp trong thơ hôm nay là gì? Không còn là xúc cảm cao cả. Không còn là chân – thiện – mỹ. Cái đẹp trở thành một vết nứt được nâng niu. Một khoảnh khắc đứt gãy được giữ lại như dấu hiệu rằng ta vẫn đang sống.

Ta không còn làm thơ để kêu gọi – mà để nhớ rằng có lần mình từng nói. Ta không còn làm thơ để cứu ai – mà để ghi lại rằng ta đã không thể cứu mình. Và có thể, trong sự bất lực đó, thơ tìm thấy một phẩm giá khác: phẩm giá của cái chưa từng trọn vẹn.

Trong cõi thơ không còn nền móng, thơ hậu hiện đại không xây dựng một thế giới. Nó ngồi giữa đống hoang tàn, và làm một động tác rất người: rút trong tro tàn ấy một câu thơ không ai hiểu – nhưng cũng không ai dám lãng quên.

Trong việc thực hành thơ của các tác giả Việt, trong phạm vi đọc của cá nhân, tôi thấy có mấy xu hướng. Ở nhiều tập thơ của các tác giả thế hệ 7x,8x, Derrida vang lên: mọi dấu hiệu về cái tôi trong thơ đều bị trượt, không định vị được, không khép kín. “Tôi” là một cấu trúc bị hủy thiêng. Nhà thơ không còn “viết về mình”, mà viết như một cách làm tiêu biến bản thể. Cái tôi trong thơ luôn đứng trên ranh giới: nửa vật thể – nửa ý niệm, nửa hiện hình – nửa siêu hình. Thơ giải cấu trúc bản thể, bào mòn ranh giới của ý nghĩa, và thường để lại một khoảng trắng giữa những từ – khoảng trắng ấy không phải im lặng, mà là vết cắt của ý thức. Ở những nhà thơ này, thơ không xác định một điểm tựa. Cái tôi biến mất trong hành trình đi vào vùng trắng của ngôn ngữ. Đây là thơ của một bản thể đang tan rã, không cố níu giữ gì, chỉ khắc lại những vết trượt của linh hồn.

Nếu Foucault còn sống và biết tiếng Việt, ông sẽ thích thú trước thực hành thơ của một nhóm thơ hậu hiện đại khá nổi tiếng ở Việt Nam. Họ không làm thơ như một trò chơi chữ. Họ dùng thơ như một gói chất nổ nhỏ gài vào cấu trúc diễn ngôn chính thống: từ mỹ học đến đạo đức, từ chính trị đến văn hóa tiêu dùng. Mỗi bài thơ đều như một cú phỉ nhổ lên tính thiêng liêng, và trong hành vi đó, thơ tự vạch mặt chính mình như một sản phẩm cũng bị chi phối bởi quyền lực và hình thức.

Các tác giả này chính là biểu hiện của hậu hiện đại ở chỗ: tẩy xóa “cái đẹp truyền thống”. Tẩy xóa “cái tôi tinh thần”. Phơi bày thơ như một diễn ngôn bị kiểm duyệt, bị thương mại hóa, hoặc bị thần thánh hóa sai chỗ. Không còn sự thanh cao,

không còn tính nhạc, không còn mộng mị. Họ viết thơ như một hành vi chống lại chính cái khung mà thơ từng bị đóng vào. Thơ họ dơ bẩn như cái bô của người già, nhưng đó là sự thật duy nhất họ không muốn lau đi. Foucault có thể sẽ vỗ tay:

“Diễn ngôn được dựng ra để cai trị – còn thơ như thế là đang phá hoại quyền lực.”

Tôi đặc biệt muốn nhắc đến một nhà thơ nữ định cư ở nước ngoài. Thơ chị không hẳn là giải cấu trúc. Chị khai thác triệt để cơ thể và dục tính như những hình ảnh bị phơi bày, lặp lại, tiêu thụ. Nhưng bên dưới vẻ đẹp lạnh lùng ấy là một mô hình Baudrillard hoàn hảo: Thơ mô phỏng khoái cảm. Khoái cảm mô phỏng tự do. Tự do mô phỏng bản thể.

Trong thế giới ấy, thơ không còn là phản ánh – mà là một sự mô phỏng sự mô phỏng. Nữ thi sĩ viết thơ bằng lưỡi, không để nói mà để làm đứt gãy thói quen hiểu. Thơ không còn là nơi chứa đựng kinh nghiệm sống – mà trở thành trình diễn của chính sự hoài nghi: Kinh nghiệm nào là thật? Cảm xúc nào không bị thao túng bởi thị hiếu? Ngôn ngữ nào không bị rút ruột?

“Nàng trút cởi bí mật úp trên vách đá và trầm mình vào im lặng tìm an toàn
mật mã chiếc chìa khóa mở cửa một nỗi đau kinh hoàng
căn nhà của một người đàn ông và ba người đàn bà
tràn ngập âm thanh và mùi hương phản cảm
tiếng động tình của cô gái, tiếng khóc của nữ chủ nhân, tiếng thở dài thất vọng của nàng ”.

Đó là một buổi trình diễn của những mô phỏng: Giới tính được mã hóa. Khoái cảm bị lặp đi lặp lại. Ngôn ngữ bị bôi trơn để trở thành một hình ảnh dễ lan truyền. Đây là Baudrillard – ở tầng sâu nhất: không còn ranh giới giữa thật và giả – chỉ còn các phiên bản của phiên bản.

Cũng không thể không nhắc đến một nhà thơ nổi tiếng, có thể coi là nổi tiếng nhất của những người nỗ lực khai phá một con đường mới trong thơ Việt sau 1975 . Ông không hậu hiện đại theo kiểu nhóm thơ hay tác giả nữ nói trên. Nhưng chính sự bám víu vào huyền thoại cá nhân, vào bóng tối, vào ký ức không thể phục dựng, lại làm nổi bật một điều: Thơ ông là nỗ lực níu giữ đại tự sự – nhưng trong một thế giới đã không còn nền tảng cho nó.

“Ta không thể nuôi nhau bằng những ánh sao trời
Anh nói vậy xin em đừng khóc
Những ngọn tóc em đang đổ xuống ngực anh
Như những rễ cây bò buồn trong sỏi đá”.

Ta có thể thấy ở đó một tàn dư của chủ nghĩa tượng trưng, nhưng không còn thiêng. Giấc mơ, ánh sao trời, đồng quê, cơ thể – tất cả đều biến thành dấu hiệu không còn gắn với trải nghiệm gốc. Lyotard đã nói: đại tự sự không chết hẳn – nó tồn tại như bóng ma không còn linh hồn. Thơ ông vì thế gợi cảm – và u uất – vì nó không chịu tan trong hậu hiện đại, nhưng bị hậu hiện đại bao vây đến mức mất phương hướng.

Khác với những hình thức trình diễn thơ trẻ hôm nay, thơ của một vài tác giả đương đại khác lại mang dáng vẻ truy nguyên: đi vào bản thể đang mục ruỗng, nhưng không để khôi phục nó – mà để giữ một chút phẩm giá cuối cùng còn lại từ đống hoang tàn. Họ làm thơ như chép lại những câu nói cuối cùng của một người sẽ bị quên mất. Không để ai nhớ. Chỉ để chính mình khỏi tan đi.

Thơ họ lặng lẽ, không kêu gào. Nhưng bên trong nó là một dòng kháng cự thầm lặng. Đây không còn là thơ để “nói điều gì đó” mà là để không rơi hoàn toàn vào câm lặng. Một hành vi của tự vệ bản thể giữa cơn bão tri thức và tiêu dùng.

Có thể thơ Việt hôm nay không còn là nơi cư trú của ý nghĩa.Nhưng nó vẫn là một vùng đứt gãy cần được giữ lại. Một bản thể chưa hoàn tất, nhưng biết mình đang rạn vỡ. Một tiếng gọi không ai đáp – nhưng vẫn vang lên như thanh âm kháng cự cuối cùng của cái đẹp không ai đón nhận.

Vì sau tất cả những Derrida, Baudrillard, Foucault và Lyotard, vẫn còn một điều mà thơ – dẫu hậu hiện đại đến đâu – vẫn không thể thôi cưu mang: Niềm tin mong manh rằng, vẫn có người lặng lẽ lắng nghe. Dù không hiểu. Dù không tin. Nhưng lắng nghe. Không có thơ cứu thế. Không có kẻ làm thơ thay ai. Chỉ có người – đứng giữa tàn tro của chính mình – cố giữ một mảnh chữ chưa cháy hết.

Thơ từng được xem như một căn phòng trú ẩn cuối cùng. Khi lịch sử lầm than, thơ cưu mang ý thức phản kháng. Khi thân thể bị hủy hoại, thơ giữ lại hình ảnh con người. Khi lý trí cạn kiệt, thơ khơi dậy điều chưa từng gọi tên.

Nó từng là nơi mà “tôi” tìm thấy chính mình. Nhưng trong bối cảnh hậu hiện đại – nơi mọi nền tảng của chân lý, đạo lý, niềm tin và bản thể đều bị giải thiêng – thơ liệu còn giữ được vai trò đó?

Hay thơ hôm nay, chỉ còn là vết trượt của ngôn ngữ, vết nứt của bản thể, một tiếng vọng không ai gọi, giữa một thế giới vốn không cần ai phải trả lời?

Không có một định nghĩa duy nhất cho “hậu hiện đại”. Lyotard chỉ gọi nó bằng một dấu hiệu: “sự hoài nghi đối với mọi đại tự sự.” Derrida không định nghĩa – ông giải cấu trúc. Baudrillard không tranh luận – ông dựng nên một thế giới mô phỏng, nơi hình ảnh giết chết thực tại. Foucault không nói về cái đẹp – ông truy lùng quyền lực ẩn trong mọi diễn ngôn. Trong thế giới ấy – thơ cũng không còn là một thực thể thiêng liêng đứng ngoài.

Thơ trở thành vật thể bị nghi vấn: Ai là chủ thể của câu thơ? Có tồn tại bản thể đứng sau ngôn ngữ? Cái tôi thơ ca là ai: người viết, người đọc, hay người được tưởng tượng ra để hoàn tất nghĩa? Thơ không còn đi tìm ý nghĩa – mà bày ra sự đứt gãy của ý nghĩa. Hãy thử đọc một bài thơ hậu hiện đại – bạn sẽ thấy: Không có trung tâm. Không có tuyến tính. Không có kết luận. Không ai chịu trách nhiệm cho câu thơ ấy.

Thơ hôm nay, nếu đi đúng tinh thần ấy, không còn nói lên điều gì đó – mà phơi bày khả năng bất khả của việc nói.Viết thơ – là thừa nhận rằng tôi không thể diễn đạt. Nhưng vẫn viết – vì nếu không, cái không thể ấy sẽ không bao giờ thành hình.

Trong hậu hiện đại, Thơ không còn là tiếng nói – chỉ còn là tiếng vọng. Không còn ai tin rằng thơ là tiếng nói của Chân – Thiện – Mỹ. Thơ hậu hiện đại không còn phát ngôn từ một cái tôi toàn vẹn. Nó nói bằng những vết nứt, những mảnh vụn, những vết cào của một bản thể chưa từng được hình thành. Barthes tuyên bố “cái chết của tác giả”. Nhưng trong thơ, ta có thể cảm thấy rõ hơn: “cái chết của bản thể”. Và rồi, thơ hôm nay có thể không cần người tin. Nhưng vẫn cần người đọc để lắng nghe cái không thể đọc nổi.

Không để hiểu. Không để phán xét. Mà để biết rằng có một nỗ lực chưa từng buông xuôi – giữa thế giới của mô phỏng, của quyền lực, của giải cấu trúc. Một câu thơ hôm nay – có thể không giữ lại ý nghĩa. Nhưng có thể giữ lại một vết chạm, dù rất mong manh, của người từng muốn nói điều gì đó – Trước khi mất hẳn khả năng nói.

Tôi vẫn yêu cái đẹp, theo cách cổ điển. Yêu một câu thơ còn vần, một ý nghĩ còn giữ nhịp thở của linh hồn. Vì vậy, tôi biết mình không thể sống hẳn trong thế giới hậu hiện đại – nơi mọi cấu trúc bị tháo rời, mọi ý nghĩa bị nghi ngờ, và vẻ đẹp trở thành trò chơi ngôn ngữ. Tôi đứng bên ngoài, nhưng không rời mắt. Tôi quan sát. Những con người sống trong đó – và cả thơ ca được sinh ra từ trong chính sự tan rã đó. Không phải để phê phán. Cũng không phải để tuyên xưng một niềm tin cũ. Chỉ là để hiểu. Để nhận ra mình đang ở đâu, khi những điều từng thiêng liêng giờ đã trở nên khả nghi.

Nguyễn Huy Thiệp từng đặt ra một câu hỏi, như một cái bẫy đã nguội dần:

“Đương đại – tức là suy đồi?”

Câu hỏi ấy, thoạt nhìn là sự do dự mang tính phản biện, nhưng kỳ thực – là một xác tín buốt lạnh: rằng trong cái gọi là “đương đại”, ông thấy nhiều hơn một sự tha hóa. Không phải chỉ đạo đức suy đồi, mà cả thẩm mỹ, cảm xúc, trí tuệ – tất cả đang trượt dần khỏi khả thể của cái gọi là “đẹp”. Nhưng tôi thì nghĩ khác. Dẫu không phủ nhận nỗi hoài nghi của ông là một nhắc nhở quan trọng, tôi vẫn tin: cái đẹp – nếu còn – sẽ không nằm trong một hình thức cố định nào, mà trong chính khả năng nó tự hoại, tự tra vấn, tự hồi sinh.

Vì thế, tôi cần đưa ra cảm nhận.

Và để điều đó không là một sự mơ hồ, tôi buộc phải nghĩ đến các ví dụ, những bài thơ, những khuynh hướng, những tiếng nói đã xuất hiện quanh mình. Nhưng bản tiểu luận này không phải là một tập phê bình. Nó càng không phải là một khảo sát học thuật về thơ, cũng không nhằm tổng kết hay hệ thống hóa bất kỳ lý luận nào. Vì thế, tôi không dẫn tên ai cụ thể.

Tôi chỉ muốn giữ lại một nhịp thở cho điều tôi tin: rằng ngay cả trong thế giới hậu hiện đại, nơi mọi giá trị đều bị lật ngược và tan rã, thì vẫn có một thứ – nếu còn – sẽ không để con người chết hẳn: một câu thơ viết ra khi không còn gì để bám víu, nhưng vẫn còn điều gì đó muốn được nói ra như thể linh hồn vẫn còn thở.

Câu hỏi sau cuối: Còn có thể làm thơ không, sau hậu hiện đại? Câu trả lời là: không thể – nếu bạn tin vào thơ như đã từng. Nhưng: Hoàn toàn có thể – nếu bạn tin rằng chính điều bất khả ấy mới là điều duy nhất còn lại để làm.

Thơ hôm nay không còn là công cụ diễn đạt, mà là bằng chứng cho thấy việc diễn đạt đã thất bại. Một chứng tích, một vết rạn, một tiếng động phát ra từ một bản thể không còn nguyên vẹn. Chúng ta không làm thơ để cứu thế giới. Chúng ta làm thơ để nhớ rằng, từng có người đứng trước hư vô mà vẫn không im lặng.

( Trích tiểu luận: Những câu thơ không cần cứu ai, chỉ cứu người viết.)

TUẦN THƠ 48: THƠ TRÊN BÁO THƠ

Đào Quốc Minh

CÁNH ĐỒNG CỐ HƯƠNG

ôi cánh đồng cố hương tôi
chiều ba mươi sụt sùi tiếng nước
con quốc đau lòng trên mảnh ván đò trôi
ván đò trôi ôi hỡi ván đò trôi
như con mắt em tôi ngập một trời rầu rĩ
lạc bến bờ lạc dòng thế kỷ
bóng tháp xưa như bong bóng hải hà
em chẳng về đắp mộ cho hoa
ôi cánh đồng cố hương tôi
chiều ba mươi chuông chùa làng lạnh lắm
nằm hắt hiu tổ mối rỗng trên gò
tiếng đã tắt những kinh cầu xa vắng
bởi trong lòng mang đứa bé bơ vơ
lau rậm rì lạc mất giấc mơ xưa
ôi cánh đồng cố hương tôi
chiều ba mươi linh hồn con chó nhỏ
bỏ tôi đi xa tít tận chân trời
tôi ngồi khóc trên nóc nhà không cánh
đang trồi lên từ nhân gian bất hạnh
những – nấm – mộ – mặt – trời
tiếng sủa nào vọng lại phía xa xôi

Trích: Thơ "Phục Sinh", Nxb Hội Nhà Văn, 2024.

Anh Hồng


ĐỘC THOẠI

Còn rất nhiều điều đang dang dở
chẳng lẽ lại buông tay?
khi gạch đá ném vào ta tơi bời đau đớn
khi những mặt nạ xung quanh rơi rơi
từng gương mặt méo mó, dị dạng hiện ra
không phải mặt người …

Còn rất nhiều điều đang dang dở
chẳng lẽ lại ngủ quên trong màn đêm êm dịu?
mơ một giấc mơ được bay qua ngọn núi cao
nhất chạm đến bầu trời …
được khóc cười riêng ta …
Chẳng lẽ lại buông tay?
khi bóng tối ập về xóa nhòa vệt sáng
sót lại bên chân trời vời vợi
tiếng vạc kêu thống thiết …
bám riết ta như xé nát lòng …
chẳng lẽ … và chẳng lẽ?

Trích thơ "tôi & đêm và", Nxb Hội Nhà Văn, 2013 (Thân quí tặng nhà thơ Khế Iêm) 

n g . a n h a n h

ĐÃ LÀ MỘT PHIỀN TOÁI SỐ 18

Khi anh nói yêu em
Loài quỷ dữ ẩn mình hiện hữu
Không chờ triệu hồi
Tái sinh

Khi anh bảo không thể ngừng yêu em
Cây hương thảo lìa đời
Hơi thở lên đồng ép lồng ngực
Giọt nước mắt vỡ thanh âm

Kẻ thất bại mang hành trang quá nửa đời
người.
Em
Chối từ
Đoạn kết viên mãn
Chúng mình hai cá thể nhân từ
Đợi hoàn lương

Khi anh nói yêu em
Loài quỷ dữ ẩn mình
Đừng đùa bỡn
Lần thứ hai

Trích thơ “Đã Là Một Phiền Toái”, Nxb Đà Nẵng, 2019

Mão Xuyên

KẺ KHỞI NGUỒN

Chính anh, kẻ khởi nguồn mọi thứ
Kẻ đã yêu một người bằng tất cả
Vào một khoảnh khắc, và ruống bỏ
Họ khi anh không còn thuộc khoảnh
Khắc ấy, kẻ đã tạo ra cái bóng của
Mình, kẻ đã tự moi xương sườn
Chính mình, kẻ đã nói với cái
Bóng, tất cả đều là anh
Anh là bóng tối, là ánh
Sáng và anh là cái không thể nói
Lẫn cái hiển nhiên được bật
Lên thành tiếng, nhưng những cái
Bóng giờ đã quên mất chính mình
Vẫn thường rỉ tai nhau từng
Tiếng rên của anh khi cầm
dao tự xẻo da thịt


Mai Văn Phấn

BÂY GIỜ MƯA PHÙN

Khi mưa phùn đã làm lại từ đầu
Anh còn trong mơ hét vang trong bóng tóc
Em bảo khi ấy em đã tỉnh
Bởi không gian ấm ướt đang về.
Cứ thương anh sao mơ nhiều, mơ lâu quá
Bởi lúc đó anh vẫn muốn hết mình
Thế còn ai cầm tay em,
Nghe tiếng thở của em bên kia mộng mị …
Anh bỗng sợ rồi mưa phùn nghe thấy
Biết chúng mình đã trẻ trung hơn xưa
Những ý nghĩ lung tung chạy cùng sóng lá
Mùa này nụ mầm thường lên rất nhanh.

Trích thơ “Nghi Lễ Nhận Tên”, Nxb Hải Phòng, 1999. (Quí tặng Tạp chí Thơ)

Phan Như

NÓN

Em đan những ngón tay màu xanh
gọi mùa thu về bên dốc núi
khi ta lăn tháng ngày gió bụi
gặp em bỗng nhớ quê nhà
Em đan những vần thơ tím ngát
gọi nắng xuân về bên phố xưa
khi ta nửa đời hương khói nhạt
gặp người lại nhớ rừng xưa
Tôi không mua cây lá trên ngàn
tôi đâu bán bài thơ phố tím
tôi chỉ là chàng xe thồ chở nón
đem rừng thăm lại phố xưa
Tôi xin đan một vòng tay ngà xanh
để em che nụ cười xa vắng
đời đi qua một ngày gió động
quai tình tôi buộc nắng mưa

Trích thơ “Sóng Vỡ Mạn Đời”, Nxb Đà Nẵng, 1999.

Lê Hưng Tiến

NHỮNG CON CHỮ TÁI SINH

Thời gian dãn nở
Tôi đốt mình cháy xuyên màn đêm
Những con chữ dật dờ sống sót
Những con chữ giành giựt sự sống cho nhau
Những con chữ bị thiêu rụi trong cái chết
tức tưởi
Những con chữ í ới bầy đàn oán than
Và những con chữ đôi lúc biết trước số phận
của mình
Tất thảy chỉ sự dãn nở thời gian
Khi con quay chạy vạy giấc mơ
Những con chữ hiển linh từ 4 giờ đến 5 giờ
sớm muộn
Mặt trời không dám đổ màu hồng lên
đường đi của cỏ
Tôi cũng không biết lối về của đôi mắt nhớ
Thần quái bỏ hoang ngoài hành lang
ngữ nghĩa
Tất thảy chỉ sự dãn nở thời gian
Khi thời gian lại tiếp tục dãn nở
Sự phóng sinh là tội đồ của cánh hẩu
trí tưởng
Cơ thể tôi cũng bị những con chữ ám muội
Nhập nhoạng trong mớ sản phẩm không
thời gian
Mỗi khi ban mai lên đồng
Tôi cày xới được vụ mùa thơ thở
Những con chữ bắt đầu tái sinh
Đòi mặt trời mọc hướng đằng chân
Không có lối cỏ đi về của gió
Và tôi bắt đầu bơ vơ giữa thời gian dãn nở

Trích thơ "Những Con Chữ Tái Sinh", Nxb Hội Nhà Văn, 2023. (Quí tặng nhà thơ Khế Iêm)
Nguyễn Sao Mai

HOA NI CÔ

Hoa thiền nở đóa ni cô,
Giật mình chuông mõ nam mô trúc bề.
Mắt nâu rớt hột bồ đề,
Ngẩn ngơ đỉnh Phật tóc thề em bay.
Thiên cung dời xuống cõi này
Để em hiện tướng tiên say giữa đời.
Suối tiên tắm thịt da người,
Câu kinh bỏ lại đất trời mai sau.
Búp em hồng nụ nhiệm mầu,
Tay năm ngón ấn hạc chầu dưới hoa.
Khép chân sen nở kiết già
Trên sen em nở một toà mê cung.
Trang thơ này để cúng dường
Ngọc thân bồ tát má hường trích tiên.
Vung tay lật đổ giường thiền
Áo xiêm bỏ lại qua triền cửa không.

2010

Đọc “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư

https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2025/06/23/doc-duong-ve-thuy-phu-cua-nha-van-tyt/
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2025/06/23/doc-duong-ve-thuy-phu-cua-nha-van-tyt/
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2024
Tựa: BÙI VĨNH PHÚC
Bạt: NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Tranh & Thiết kế bìa: ĐINH TRƯỜNG CHINH

Cuốn sách vẽ ra được một toàn cảnh với các chi tiết, tạo được một ấn tượng về cuộc chiến, về không gian và cuộc sống xã hội, lịch sử của các giai đoạn gối tiếp nhau. Và về cuộc bể dâu mà con người phải đối mặt, với những quyết định sai lầm của chính nó. Hay với cái “quyết định”, cái hướng đi mù loà, xiên xẹo và xộc xệch của lịch sử […] Cuốn tiểu thuyết này, với lịch sử được dùng làm một phông nền qua những gam mầu rất mờ nhạt, và ước muốn của nó, theo tôi thấy, là hướng về phía ánh sáng, về sự yên bình, về sự xoa dịu, qua lòng hiểu biết và niềm tin vào cái thiện, cái tốt.

Bùi Vĩnh Phúc, nhà phê bình văn học.

Với thủ pháp dùng hư cấu, phi hiện thực để người đọc lần ra chân tướng hiện thực, khiến Trịnh Y Thư có một thái độ khách quan khi viết về sự tương quan giữa các nhân vật với những sự kiện liên hệ đến lịch sử và ý thức hệ […] Thân phận con người quả là chiếc lá nhỏ nhoi trong cơn lốc lịch sử, đấy là một thông điệp nhắc nhở hay một kết luận buồn bã? Dù là gì nó đều nói lên nỗi thống khổ của phận người từ đó khích động các cảm xúc về lòng Trắc Ẩn, Nhân Đạo, Lương Thiện và Vị Tha. Đó là luồng ánh sáng chiếu xuyên suốt tác phẩm này, lấp lánh qua văn phong tả chân, bạo liệt mà không thiếu tính trữ tình của lòng nhân ái, đa cảm.

Nguyễn Thị Khánh Minh, nhà thơ.

1. Doãnh Cẩm Liên

Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà cảnh thì khác. Lối sắp xếp câu chuyện, dàn cảnh như trong phim trường. Tác giả dẫn dắt khán giả như đang xem một cuốn phim mà nhà đạo diễn đổi cảnh quay, đổi đề tài, đổi tâm tính mà vẫn luôn giữ khán giả ở lại với nhân vật của truyện, của con người Việt Nam trong suốt ba cuộc bể dâu.

Nhà văn Trịnh Y Thư thuộc nền văn học hiện đại, tại hải ngoại kể từ 1975. Nhìn dáng dấp, khuôn mặt, cách nói chuyện của ông, người ta thấy cái “cá tính” của ông hiện lên một cách rõ ràng. Những ai quen biết ông đều thấy cái gì ông đụng vào đều làm nó trở thành siêu! Làm nhân viên ngành điện tử viễn thông, viết văn, chơi classical guitar, sáng tác nhạc, ông đều làm tròn vai trò một cách xuất sắc.

Đường về thủy phủ là quyển sách gồm ba truyện vừa. Thoạt tiên độc giả cứ tưởng ba mẩu chuyện Ký ức của loài bò sát, Dưới những gốc nho biển và Đường về thủy phủ với tình tiết của những nhân vật khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, chẳng liên hệ gì với nhau. Thế nhưng không! Trịnh Y Thư đã không tiết lộ gì cả ở hai truyện đầu, và chỉ dần mở ra rồi nối kết chúng lại ở truyện vừa thứ ba Đường về thủy phủ. Các nhân vật bác sĩ Mẫn trong Ký ức của loài bò sát, nhân vật “cô” trong Dưới những gốc nho biển, nhân vật “tôi” trong Đường về thủy phủ đều có dây mơ rễ má với nhau.

Đọc Trịnh Y Thư để thấy tính cách, lối suy nghĩ, hành xử của người Việt Nam, tạm đại diện bởi những nhân vật trong truyện của ông, ở ba thời đại. Thời kỳ Pháp thuộc, thời hậu chiến tranh 1975, và thời kỳ lưu vong nơi xứ người. Cả ba thế hệ tuy với số tuổi cách biệt nhau từ 80 năm đến 20 năm tuổi đều có những tình cảm, nỗi niềm, khổ sở, chấn động tâm lý chẳng khác nhau là mấy. Cái hay của tác giả là lịch sử đất nước, con người Việt Nam trải dài từ hậu bán thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21, tất cả đều rất đúng, đều có thực. Ông đã tiểu thuyết hóa các nhân vật, trong đó là đại diện cho một số người có thật ở từng thời và từng vùng.

Ở Ký ức của loài bò sát, những nhân vật ở độ tuổi thiếu niên lớn dần thành những thanh niên sống trong khung cảnh lịch sử của người Việt chống Pháp. Họ sống động và sống thực, nên họ khóc cười, nôn ọe giống y tình huống thực của người đương thời ngày ấy. Những thiếu niên đùa phá rồi cười khúc khích khi xem trộm cảnh cô gái tắm bên giếng vườn sau nhà. Rồi thời gian trôi, người ngày lớn dần lên, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, cách đối xử của hai phe Việt Minh và kẻ xâm lấn – người Pháp – ngày càng tàn khốc. Tác giả đã tả chân và thực đến nỗi độc giả cũng phải muốn ọe theo tình cảnh của truyện. Nhưng tác giả vẫn luôn giữ được tính nhân bản của người Việt Nam ở phần kết, ở lời ru bú mớm của nhân vật Xụ Phụn Phèn. Cô ru đứa con khi cả hai mẹ con đều không còn trên cõi đời nữa: “Yêu là gì, hả mẹ?” “Yêu là có thể hy sinh thân mình cho người mình yêu.” “Thế mẹ có yêu bố không” […] “Bố sẽ về với mẹ con mình mãi mãi…” “Bao giờ, hả mẹ?” “Bố hẹn với mẹ con mình ở thủy phủ…” […] “… Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”

Trịnh Y Thư tài tình là vậy, ông chiếu cảnh người tàn sát người, người với bao nhiêu là tính xấu hành xử với người chân chất thật thà, nhưng ông vẫn lồng vào đấy “tình người”. Sự yêu thương giữa người và người có thật, cho dù thật hiếm hoi vì nó phải được che phủ dưới một lớp mặt lạnh lùng, vào thời điểm đó. Cái tài tình nhất là ông chấm dứt câu chuyện ở tình yêu thương của mẹ và con và người cha. Ông thuyết phục độc giả lấy lại niềm tin về con người. Con người có đốn mạt bao nhiêu vẫn không thể xóa hết những tính yêu thương chân thật trong lòng. Tính yêu thương của những người thật là “người”, không phải là “ngợm”!

Trong Dưới những gốc nho biển, nhân vật “cô” là nhân vật có thật đâu đó, trải dài suốt đất nước Việt Nam. Với tình huống chính trị đã qua thời chiến tranh, súng đạn của người miền Bắc – cộng sản xâm chiếm người miền Nam – Việt Nam Cộng Hòa, đã ngưng bặt. Nhưng người Việt ở cả hai miền Bắc-Nam nào được sống thanh bình trong yêu thương. Chế độ cộng sản và con người cộng sản vẫn còn tính hung tàn. Chẳng hiểu tại sao!? Nên, người miền Nam phải ra đi tìm tự do, cho dù họ quăng mình vào biển cả một mất một còn. Người vượt biển có thể thành công để đến bến bờ bên kia, ở một nước thứ ba. Hoặc họ thất bại thì lại tìm đường về Thủy Phủ, nơi không còn hận thù hay oán ghét. Nhân vật “cô” sống như ảo ảnh trên cõi đời vì thiếu tình thương mẫu tử. Mặc dù bên cạnh cô vẫn còn một bóng người yêu thương cô đấy, ông “bác sĩ bộ đội”. Có phải chăng nhân vật Mẫn trong truyện Ký ức của loài bò sát xuất hiện trở lại? Nhưng tình yêu của ông ta vẫn không thể thay thế được tình mẹ con mà cô đang tìm kiếm.

Và cuối cùng cô cũng tìm về Thủy Phủ!

Tiếp đến truyện thứ ba Đường về thủy phủ, độc giả cứ ngỡ và chờ nhân vật “tôi” cuối cùng cũng tìm đường về Thủy Phủ. Nhưng không! Tác giả không cho phép là vậy. Ông dùng kỹ thuật nghệ thuật viết tiểu thuyết tạo dựng nhân vật “tôi” bước ra từ trang sách của một nhà văn-giáo sư. “Tôi” như ảo ảnh dưới mắt độc giả. Nhân vật nữ mà giáo sư-nhà văn đã vẽ ra trong truyện để rồi cô sống thật. Mà chính nhân vật này đã nhiều lần “càm ràm” với giáo sư-nhà văn là mình quái đản cũng do vì ông đã tạo ra nó. Cả tác giả lẫn nhân vật sống quyện vào nhau, tạo ra những cảnh “thật” mà giống như “không thật” ở một xứ sở văn minh nhất trái đất. “Tôi” quay cuồng sống mà thẳm sâu trong tâm thức cô vẫn hỏi rằng “tôi là ai”, “bố mẹ tôi là ai?” Cô thiếu tình yêu thương máu mủ từ cha mẹ. Để rồi… “tôi” làm một chuyến trở về quê hương. Tìm kiếm lại gốc gác của mình với hy vọng mong manh là thấy lại được người mẹ ruột của mình. Và độc giả đã cùng “tôi” thấy được bao cảnh đời có thật mà người Việt phải chịu đựng trong cái gọi là “thời bình” đầy nhiễu nhương này.

“Tôi” không tìm ra được mẹ, nhưng ngược lại cô tìm được một ông “bố”. “Bố và con” rất tương đắc ở thời gian này. Bố-con chẳng có mảy may huyết thống nào, nhưng lại có được một tình thương yêu chân thật là nhờ vào cái gạch nối “mẹ” của cô. “Tôi” gần như sống trọn vẹn ở thời gian hiện tại, nơi “mẹ” cô từng ngồi. Và cuối cùng “tôi” quên khuấy cái chết cứu cánh mà cô đã từng nghĩ đến.

Thủy Phủ bị bỏ quên!

Màn từ từ hạ cùng với tiếng cười của hai “bố-con” ở nơi “mẹ” đã từng ngồi.

“Thủy Phủ” là chốn dành cho người có ước mơ mà không thành và cũng cho cả người đạt được ước mơ, nữa chứ. Ai mà chả chết! Thủy Phủ sẽ là thiên đường hay địa ngục tùy ở từng người. Người nào lúc ra đi với tâm hung ác thì Thủy Phủ chỉ có thể là địa ngục. Địa ngục ngay ở trần gian, ngay khi còn hít vào thở ra. Còn với người ra đi với tâm lành thiện, nhiều yêu thương thì Thủy Phủ sẽ trở thành thiên đường với đầy yêu thương, trở lại bản tính nguyên thủy của con người.

Thiện-ác, thiên đường-địa ngục là hai phạm trù mà con người khó tránh khỏi. Cái vấn đề ở đây là sống làm sao để ta có ngay thiên đường khi đang còn hít thở. Địa ngục-thiên đường nó nằm trong tâm. Cái tâm không ai nhìn thấy nó đang ở đâu, nhưng nó lại được nhận ra bởi sự yêu thương của người trao cho người. Nó còn được nhận ra bởi ánh mắt, tiếng cười và lời nói mà con người trao cho nhau.

Thủy Phủ sẽ tràn đầy lòng yêu thương và vang tiếng cười khi con người hiểu biết thế nào là tâm lành và tâm thiện!

Doãn Cẩm Liên | (California, ngày 30 tháng 10, 2024)

2. San Phi

Cuốn tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư là một tác phẩm ám ảnh và đầy trăn trở, khiến tôi phải đọc đi đọc lại và phải suy ngẫm nhiều lần. Vì sao? Vì mỗi khi khép sách lại, tôi luôn có cảm tưởng dường như mình đã bỏ sót một điều gì đó…

Tác phẩm tập hợp ba câu chuyện riêng lẻ nhưng được gắn kết bởi chủ đề chung: sự thất lạc của con người trong cuộc sống, hiện đại, đặc biệt là trong chiến tranh.

Đây là một tác phẩm siêu hư cấu phá vỡ những khuôn mẫu tiểu thuyết truyền thống, với những thử nghiệm về hình thức và kỹ thuật kể chuyện hiện đại.


Phần I – Ký ức của loài bò sát: Nỗi ám ảnh bi kịch chiến tranh

Phần I, Ký ức của loài bò sát là câu chuyện đầy nhức nhối được kể lại từ một ông lão chín mươi tư tuổi, đưa chúng ta trở về đoạn thời gian thống khổ, khốc liệt đầy những thảm cảnh man rợ và nhiều hệ lụy trong bề dày lịch sử, nơi mà những số phận khiến ta phải động lòng thương cảm xót xa, do con người Việt Nam đã gây ra cho chính dân tộc mình. Phải chăng sự tàn khốc máu lạnh được tác giả ví như những loài bò sát, mở đầu cuốn tiểu thuyết? Bằng những ký ức tuổi thơ bình yên của cậu bé 13 tuổi (ông lão khi còn nhỏ) ở Hà Nội thơ mộng, với những cánh đồng lúa xanh mướt và những trò chơi hồn nhiên. Đó là khoảng thời gian sung sướng nhất đời đối với những cậu học trò tinh nghịch, khoảng thời gian bọn trẻ được vui chơi thả diều, bắn chim. Hay hình ảnh cả bọn rủ nhau leo cây bị kiến cắn khi xem trộm cô hàng xóm tắm.

Tuy nhiên, bầu trời tự do đầy nắng kể từ khi gió lột sạch những lớp áo lá, và rồi bão dữ cuồng phong cũng ập đến. Bức tranh bình yên nhanh chóng bị thay thế bởi sự tàn khốc của chiến tranh khi quân Nhật tràn vào Đông Dương, dẫn đến nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc.

Cảnh tượng người dân chết la liệt khắp nơi, những người kiệt sức, đói khát, và phải chịu đựng nỗi đau mất mát người thân mà không thể cứu giúp. Đặc biệt, đoạn kể về việc một người đàn ông phải lóc thịt con mình để làm giò ăn là một trong những chi tiết rùng rợn và đau đớn nhất, thể hiện sự tàn khốc đến cùng cực của nạn đói và sự mất mát tinh thần mà con người phải chịu đựng.

“Mấy tháng qua làng tôi đói đến độ chết gần hết cả làng. Thoạt tiên là bọn trẻ con. Chúng chết nhanh lắm. Chỉ ba hôm không có cái ăn là bụng chúng ỏng ra, hai mắt như chó dại, ngồi đâu ngồi một chỗ, ruồi nhặng bám đầy mặt đầy người cũng không buồn xua đi. Chỉ một đêm là chết.”

(Ký ức của loài bò sát, tiểu đoạn 3).

Qua những trang sách tác giả mô tả: Ở mọi ngóc ngách, mọi diễn biến, mọi tình hình, người nằm chết la liệt ở khắp các con đường, hình ảnh những người kiệt sức, sống dở, chết dở vì đói khát, kiệt sức và lo sợ, còng queo xếp hàng dài nối nhau đi xin ăn…

“Còn đây giọt máu lặng thinh

Rơi mềm đá sỏi lặng nhìn thế gian”.

Nhìn thấy người thân chết mà không cứu được, biết đến lượt mình rồi sẽ chết mà không thoát được. Muốn tìm cái sống đã phải dứt bỏ nhà cửa ra đi, mong sao được cứu sống, nhưng rồi lại chết gục giữa đường. Trang sách phơi bày rất nhiều cái chết và xác chết, rất nhiều những hình ảnh hãi hùng man rợ và khủng khiếp, mà có lẽ nhiều người muốn quên đi mới có thể sống tiếp.

Tháng ngày còn in trên lồng ngực. Chúng ta luôn đi qua hiện tại với một màn che bưng mắt, tấm màn đó là những điều trực tiếp “tai nghe mắt thấy” hạn hẹp của mỗi cá nhân. Vì thế mà những thời khắc ta đang trải qua, có thể rất lâu sau này, trong những giấc mơ chừng như gục đầu trầm tư u uẩn. người ta sẽ còn quay trở lại mãi để khám phá những lớp sự thật dưới đống tro tàn đổ nát lịch sử.

Với ngòi bút tinh tế, tác giả không sa vào chiến tranh, chiến tích mà đi sâu vào cảm xúc. Tác giả đã khéo lồng vào câu chuyện những nhân vật tham gia chiến trường, đã dồn toàn bộ sức lực của mình trong mọi nỗ lực cho cuộc chiến. Tình bạn của anh dân quân và tù nhân người Pháp, tình yêu của nhân vật chính xưng tôi và cô gái người H’Mông. Nhân vật trong truyện không như các tác phẩm ngôn tình trong những cuốn tiểu thuyết thông thường khác, mà họ thực tế đến từng chi tiết, như được bước ra khỏi trang sách và sống trong thế giới thực vậy.

Mối tình đầu tiên: Khúc bi ca của núi rừng và dòng suối

Xụ Phụn Phèn, cô nàng người H’Mông ngây thơ mười lăm tuổi trong veo như một cơn gió nhẹ, bình yên và tươi mới, nhưng đầy ẩn chứa những khát khao yêu:

“Xụ Phụn Phèn là cô gái H’Mông mới mười lăm tuổi nhưng yêu tôi lắm. Da dẻ cô trắng hồng chứ không đen đủi như nhiều cô H’Mông khác. Khuôn mặt cô trong sáng, đôi mắt nâu, hai làn môi mỏng lúc nào cũng thắm đỏ, và khi cô trút bỏ chiếc áo thổ cẩm màu đen, nằm dài trên thảm cỏ mượt mà bên bờ suối thì trước mắt tôi hiện ra một bông hoa rừng tuyệt đẹp, chờ đợi tôi cúi xuống chiêm ngưỡng và chiếm đoạt.”

(Ký ức của loài bò sát, tiểu đoạn 14).

Một khúc ca đẹp. Thế nhưng, định mệnh nghiệt ngã giáng xuống. Đoạn thảm sát cuộc tấn công máu, diệt cả buôn làng người H’Mông. cho thấy số phận mỗi con người trở nên mong manh, ngắn ngủi và vô vọng giống như số phận của hai mẹ con Xụ Phụn Phèn. Đọc đến đây hình ảnh kinh khủng nhất hiện ra trong đầu tôi, một địa ngục trần gian chìm trong máu và nước mắt.

Bi kịch hằn sâu khi nàng Xụ Phụn Phèn ra đi, mang theo một sinh linh bé bỏng, giọt máu của mối tình đầu tiên. Trong giấc mơ hư ảo, nàng thì thầm cùng con, một lời hứa đau đáu:

“Đúng vậy, con ạ. Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”

(Ký ức của loài bò sát, tiểu đoạn 29).

Nơi chỉ còn sự bình yên vĩnh cửu của những dòng nước trong xanh. Đó là lời ru cuối cùng, là cánh cổng mở ra một thế giới khác, hành trình “đường về thủy phủ” của mẹ con Xụ Phụn Phèn, đây có lẽ là mong muốn của tác giả, muốn lồng vào trong độc giả đoạn phim ngắn một hứa hẹn bình yên nhất khi ta được trở về với bản thể uyên nguyên. Nơi mà không còn bom đạn hay hận thù, nơi tình yêu sẽ không bao giờ bị tổn thương.


Phần II – Dưới những gốc nho biển: Khúc bi ca lạc lõng

Nếu Phần I khắc họa những hình ảnh và hệ lụy tàn khốc mà chiến tranh gieo rắc lên đời sống người dân Bắc Việt, thì Phần II lại mở ra một bi kịch khác: Câu chuyện về một người con gái miền Trung, số phận như một chiếc lá lìa cành, bị cuốn trôi vào Nam rồi cuối cùng lại giạt về Bắc, để rồi chọn một cái kết bi thảm giữa vòng xoáy cuộc đời.

“Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh, hai chân cô như bị vô thức sai khiến, mắt cô nhìn nhưng chẳng hình ảnh nào đập vào trí óc, và các thứ âm thanh hỗn độn của một buổi họp chợ sáng nghe như những nhiễu âm không qua máy lọc.”

(Dưới những gốc nho biển, tiểu đoạn 1).

Nhà văn Trịnh Y thư có một lối viết độc đáo, nó là những biến tấu lãng mạn, một kết hợp giữa hiện thực khốc liệt và cảm xúc thăng hoa.

Trong bức tranh nghệ thuật của Trịnh Y Thư, khi đối diện với những bi kịch cuộc đời, ngòi bút hóa thành một chứng nhân điềm tĩnh, khách quan và đôi khi lạnh lùng, như một nhà sử học ghi lại dòng chảy nghiệt ngã của thời gian. Những sự thật trần trụi được phơi bày không cần một chút cường điệu, để nỗi kinh hoàng từ câu chuyện vang vọng trong không gian tâm hồn người đọc.

Tuy nhiên, khi chạm đến những cảnh vật, ngòi bút lại trở nên mềm mại và trữ tình đến lạ. Như dòng suối tuôn chảy, thấm đẫm từng câu chữ, biến những khung cảnh vốn vô tri thành một bức tranh sống động, vừa chân thực lại vừa nên thơ.

Hãy lắng nghe tiếng lòng của dòng sông: “… nước sông đỏ lờ lợ chảy nhẹ.” Đó là một hiện thực không thể chối cãi, nhưng khi âm thanh ấy hóa thành tiếng “thao thiết” cất lên, nó không còn là dòng vô tri chảy mà là lời thì thầm của tâm hồn, là khúc hát da diết của bao nỗi niềm chất chứa trong lòng nhân vật. Có lẽ, hình bóng “Cô”, một biểu tượng của nỗi đau hóa thân, nhưng cũng là ánh sáng phản kháng mong manh, le lói giữa màn đêm số phận.

Nhân vật “Cô” như một linh hồn lạc loài, bị số phận “du vào thế thụ động” với những biến cố tàn khốc đến xé lòng. Sự kiện Mậu Thân 1968 không chỉ là một trang lịch sử mà còn là vết sẹo không thể xóa nhòa trong ký ức của “Cô”. Hình ảnh toán lính xông vào nhà, cảnh người mẹ đi tìm xác chồng trong những hố chôn tập thể ở Huế, đặc biệt là chi tiết rợn người về chiếc “đầu lâu thứ mười tám”, tất cả là những mảnh vỡ của một quá khứ đầy đau thương, gieo rắc nỗi ám ảnh khôn nguôi.

“Bà ngồi xổm, hai tay bưng cái sọ người, ngắm nghía thật kỹ hàm răng trắng nhởn. Người sống, mỗi người một khuôn mặt, không ai giống ai, nhưng khi chết rồi, không sao phân biệt được xương sọ người này với người kia, cái nào cũng y hệt như nhau. Hai hốc mắt sâu hoắm của cái sọ người chĩa thẳng thật sát vào mắt bà như thôi miên…

[…]

Xem đến cái đầu lâu thứ mười tám thì bà biết chắc đây là đầu chồng bà.” (Dưới những gốc nho biển, tiểu đoạn 10).

Hậu quả không chỉ để lại những vết thương thể xác mà còn đục khoét tâm hồn “Cô” đến mức tê liệt. Nhà văn Trịnh Y Thư không né tránh việc chạm vào những tổn thương sâu sắc nhất, từ sự lạm dụng tàn bạo đến trạng thái “rối loạn lưỡng cực” và sự vô cảm đến ghê người. Tác phẩm không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà còn là tấm gương phản chiếu hiện thực khi “sự tử tế không thấy đâu nữa” và “xã hội chìm trong bùn đen”. “Cô” và người chồng định mệnh của mình, một thiên tài Toán học, bị tù cải tạo và chết bi thảm, xác thân bị thú rừng cắn xé trở thành biểu tượng cho sự hủy hoại những giá trị cao đẹp nhất.

Trong ngõ hẻm chật chội và những con phố đã đổi thay, một mối tình dị thường, như một bông hoa dại nở trên nền đất cằn cỗi, đã nảy nở giữa hai linh hồn lạc lõng. “Cô”, người phụ nữ mang trong mình nỗi đau chồng đã khuất trong trại cải tạo, gánh nặng con thơ và gánh nặng mưu sinh bằng những đêm dài ở quán cà phê, đôi khi là cả việc bán thân. Còn “gã” là một bác sĩ quân y Bắc quân, mang trong ánh mắt sự tĩnh lặng của cuộc chiến đã qua nhưng những vết thương không thể chữa lành.

Mối tình này khởi đầu như một giấc mơ, từ cách “gã” dõi theo “Cô” đầy ám ảnh, cho đến sự thật rằng “gã” chỉ muốn ngắm “Cô” trong trang phục, được dàn dựng công phu như một bức tranh hoàn hảo, không chút dục vọng.

Phải chăng trong mắt kẻ si tình khắp nơi đều là màu hồng, kể cả những điều được cho là phi lý? Thú thật, đọc đến đây tôi rất muốn hỏi tác giả, tôi không thể tưởng tượng nổi gã ngắm gì ở cô mà ngắm một cách say đắm suốt nửa giờ nhỉ?

“‘Anh đi tắt đèn.’

“Không, tôi thích để đèn.” Giọng gã từ tốn, êm nhu.

Cô đưa tay lên lần cởi khuy áo nhưng gã giơ tay cản lại. Cô nhìn gã ra vẻ thắc mắc, gã bảo cô:

‘Cô cứ để nguyên quần áo. Tôi chỉ ngồi đây ngắm cô thôi.’

Cô không nói gì nữa, thấy hơi lạ về trò chơi này của gã bác sĩ bộ đội, nhưng cô từng gặp những gã làng chơi có sở thích tình dục kỳ quặc, thậm chí quái đản, nên cô chẳng lấy gì làm kinh ngạc, và cô nằm yên cho gã ngắm mình. Gã ngồi ngang đùi cô, từ vị trí đó, gã có thể ngắm mặt cô rồi đến bộ ngực vun tròn, và xuống dần hạ thể nơi cặp đùi đàn bà săn chắc hiện rõ dưới lớp vải mỏng của chiếc quần tây màu đen. Gã ngồi nhìn cô như thế cả nửa giờ đồng hồ, hai người không nói gì với nhau.” (Dưới những gốc nho biển, tiểu đoạn 3).

Chỉ có một nỗi buồn xa vắng lạ lùng, một sự cảm thông vô hạn chảy tràn trong ánh mắt của “gã”, như dòng sông âm thầm chảy qua những miền ký ức xót xa. Nhà văn Trịnh Y Thư đã khéo léo khắc họa sự “hiểu biết và nhạy cảm” đến lạ lùng của gã, biến câu chuyện tình yêu này thành một nỗi buồn rất thật, rất thấm thía của những con người bị cuốn vào vòng xoáy lịch sử, của những giấc mơ dang dở và những vết thương không thể lành.

Chữ nghĩa của nhà văn Trịnh Y Thư luôn khép lại bằng một kết lửng, luôn để lại nhiều trăn trở cho người đọc, để độc giả tự tìm thấy một câu trả lời thỏa mãn cho chính bản thân mình.


Phần III – Đường về thủy phủ: Vũ điệu siêu thực của Nàng và kẻ sáng tạo

Trong cõi siêu thực, nơi ranh giới giữa thực và ảo mờ nhòe như sương khói, xuất hiện một mối tình cuồng si, đầy nổi loạn. “Tôi”, một nhân vật nữ tự xưng mình bước ra từ trang tiểu thuyết của “gã nhà văn” đang dạy học tại một miền đất xa xôi, mang trong mình cả sự căm thù lẫn say đắm.

“Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Tôi thù gã đến độ tôi muốn giết chết gã. Tôi ao ước có một mũi dao nhọn sắc lẻm cho tôi ấn sâu vào ngực gã với động tác êm nhẹ, từ tốn để trái tim gã khi bị mũi dao đâm thủng vẫn không hay biết đang bị đâm mà tiếp tục hân hoan đập những nhịp đập hối hả như thể sợ ngày mai không còn được đập.”

(Đường về thủy phủ, tiểu đoạn 1).

Cô căm ghét gã vì gã đã sáng tạo và ban cho cô một thân phận, một số phận mà cô không hề chọn lựa. Nhưng cũng chính gã là người đã thổi hồn vào cô, đã cho cô một cuộc sống, và từ đó, một tình yêu mãnh liệt, cháy bỏng đã nảy sinh, như ngọn lửa bùng lên từ tro tàn.

Câu chuyện càng trở nên phức tạp hơn khi cô, như một “sản phẩm” bứt ra khỏi khuôn khổ, “dan díu” với những cậu sinh viên khác, thể hiện sự nổi loạn của một linh hồn khát khao tự do, khát khao định đoạt số phận mình.

Mối tình này là sự hòa quyện giữa ảo ảnh và hiện thực, giữa trí tưởng tượng của người nghệ sĩ và đời sống cuộn chảy, mang đến vô vàn tầng ý nghĩa về thân phận, về sự tồn tại, về sự giằng xé giữa người sáng tạo và tác phẩm, giữa ước mơ và thực tại phũ phàng.

Trong một bối cảnh hiu quạnh của ghềnh đá đen trơ trọi giữa biển hoang sơ, với sóng vỗ rì rào và ánh đèn khách sạn trong sương chiều, một mối tình khác len lỏi, mang đến sự dịu dàng và trầm lắng. Nàng, một “đóa hoa tri thức”, và “gã nhà văn” xuất hiện như hai “dương bản” của một nguyên thể.

Họ là hai tâm hồn đồng điệu nhưng đối lập: nàng day dứt trước sự phi lý của kiếp người, gã kiên cường đối mặt thử thách. Mối quan hệ này là minh chứng cho một nội tâm bất tận, nơi nỗi đau và hy vọng, bi ai và dũng khí đan xen. Cả hai đều mang trong mình những vết thương lòng, những phản ứng bất thường và sự cô độc đến tận cùng, cùng nhau vật lộn với nghịch cảnh, tìm kiếm bình yên trong nỗi đau chung. Mà không phải ai cũng cảm nhận được nỗi sợ hãi, áp lực, nỗi cô đơn cùng cực, thật sâu từ trong tâm hồn.

“Tô phở” và hành trình trở về nguồn cội

Cuộc đời của “gã nhà văn” được Trịnh Y Thư khắc họa như một ân hận và nỗi buồn, hằn sâu bởi bi kịch chiến tranh. Giữa những giằng xé ấy, văn chương Trịnh Y Thư mở lối, không chỉ chạm đến nỗi bất lực của phận người mà còn gieo mầm hy vọng.

Và cùng lúc là hành trình của cô gái trở về nguồn cội. Điểm nhấn là hình ảnh “tô phở”, một biểu tượng của sự bình yên và nguồn cội. Trong một quán ăn Việt Nam hai người tình cờ ghé vào trên bước đường lang thang vô định, bỗng nhiên tiếng mẹ đẻ và hương vị tô phở nồng nàn không chỉ xoa dịu tâm hồn cô mà còn kết nối cô với cội nguồn, với quê hương và hình bóng người mẹ. Tô phở ấy đã dẫn lối cho cô trở về, tìm thấy an ủi và bình yên trong chính căn nhà cũ, nơi cô thuộc về.

Thủy phủ: Chốn nương tựa siêu hình

Xuyên suốt tác phẩm, “Đường về thủy phủ,” dẫn dắt người đọc đến những miền cảm xúc sâu thẳm, và có lẽ cũng là lời tự vấn về những điều còn mãi sau tất cả những biến cố của cuộc đời. Với một cái kết nhân hậu và nhân bản, nhà văn Trịnh Y Thư đã dẫn chúng ta trở về Thủy phủ, nơi yêu thương thay thế cho hận thù, và đời sống phù du này chỉ có ý nghĩa khi nào nó được định hình bằng tình yêu.

Đắm chìm vào từng trang sách, dù Lời ngỏ nhà văn Trịnh Y Thư có nói đây chỉ là câu chuyện hư cấu, là sản phẩm của trí tưởng tượng, nơi cuộc chiến chỉ hiện hữu qua những dòng chữ tài liệu, nhưng lạ thay, trái tim tôi đã vương vấn, đã hòa cùng nhịp đập với từng nhân vật. Như thể định mệnh đã an bài, những mảnh đời hư cấu ấy bỗng trở nên chân thật đến lạ, len lỏi vào tâm hồn, để lại những trang sách khó phai.

San Phi | Saigon, ngày 16 tháng 6 năm 2025