TUẦN THƠ 27: THÓI ĐỜI

BUREAU of Arts and Culture Magazine - 083
BUREAU of Arts and Culture Magazine - 083
Sáng tác xin gửi về Diễn đàn hoặc email:
baogiay2015@yahoo.com | info@thotanhinhthucviet.vn

Nguyễn Thói Đời

ĐÊM LOAY HOAY

Có những đêm không ngủ như đêm nay
Không thể ngủ tôi loay hoay đi từ
Trên lầu xuống tôi loay hoay đi từ
Tầng trệt lên rồi bức bách loay hoay

Tìm chiếc chìa khóa, chiếc chìa khóa để
Mở hai cánh cửa phía sau lưng, tôi
Gọi điện hỏi người phụ nữ hồi chiều
Người phụ nữ hồi chiều nói không biết

Và bảo tôi hãy gọi cho người phụ
Nữ hồi sáng, tôi gọi điện hỏi người
Phụ nữ hồi sáng, người phụ nữ hồi
Sáng bảo tôi phải phá cánh cửa nhỏ

Số mười, chiếc chìa khóa nằm ở đó
Tôi lấy được chiếc chìa khóa và đêm
Bỗng im ắng lạ kỳ, không còn gì
Ngoài tiếng ken két của những cái bản

lề đã rỉ sét trên hai cánh cửa.


NHỮNG CON ẾCH

Ngồi đáy giếng nhìn lên trời những
con ếch thấy gì ngoài một khoảng
trời nhỏ nhoi dù nắng hay mưa
dù sớm hay tối thì cũng chỉ

là những khoảng trời nhỏ nhoi của
riêng những con ếch ngồi đáy giếng
nhìn lên trời, điều tuyệt vời của
đấng thiên nhiên là đã không trao

quyền quyết định vận mệnh của những
con ếch khác đang sinh sôi trên
cánh đồng vào tay những con ếch
ngồi trong giếng, chứ nếu không thì…

15.7.2013

DỌN NHÀ

Cái này cho vào thùng này
cái kia cho vào thùng kia nhưng cũng
không nhất thiết vậy cái này
cũng có thể cho vào thùng kia và

cái kia cũng có thể cho
vào thùng này miễn sao gói gọn tất
cả để mang đi đến một
nơi khác một nơi khác không em mà

nơi này cũng đã từ lâu
vắng em anh còn lại gì ngoài những
kỉ niệm những kỉ niệm bây
giờ đang được anh đóng gói kỉ niệm

này cho vào thùng này và
kỉ niệm kia cho vào thùng kia nhưng
cũng không nhất thiết vậy kỉ
niệm này cũng có thể cho vào thùng

kia và kỉ niệm kia cũng
có thể cho vào thùng này nhưng em
ạ thật ra thứ duy nhất
anh thật sự muốn đóng gói chính là

bản thân anh với những nghĩ
suy những nỗi buồn những nỗi trống trải
trong lòng từ ngày vắng em
trong căn nhà nhỏ


ĐÁM GIỖ

Có những cuộc đời dài, dài
đến tận đời con đời cháu đời chít.
Có những cuộc đời ngắn ngắn
đến chưa kịp thấy mặt người… Có những

bữa tiệc đông, đông đến độ
đầy cô hồn ngạ quỷ. Có những bữa
tiệc vắng, vắng đến độ
chẳng thấy mình ngồi ở đâu… Đám giỗ!!!


Sáng nào dậy cũng muốn thay đổi một điều gì
đó trong đời ai cũng vậy mình cũng vậy nhưng
rồi cũng phải bật dậy đánh răng rửa mặt chải

đầu thay quần áo vội vàng lùa bữa sáng vào
cái bao tử trống rỗng sau một đêm dài sáng
nào dậy cũng muốn thay đổi một điều gì đó

trong đời nhưng rồi cũng phải phóng xe đến chỗ
làm tiếp tục làm cái công việc như bao ngày
trước đây vẫn làm vẫn phải đóng vai này vai

nọ với người này người nọ mỗi ngày mỗi ngày
như thế có khi thấy vui có khi thấy buồn
có khi thấy hân hoan có khi thấy nhàm chán

nhưng mọi cảm giác đó đều đã cũ dần theo
mỗi ngày mỗi tháng nên sáng nào dậy cũng muốn
thay đổi một điều gì đó trong đời nhưng mỗi

ngày mỗi ngày vẫn chưa có gì mới hơn nên
vẫn sống trọn vai diễn cũ cho hết một ngày


VIẾT Ở VỈA HÈ 2

Chiều đổ mưa đột ngột, người
đàn bà bán vé số chân khập khiễng
nấp vào mái hiên bà thuốc
lá nép mình một chút cho bà vé
số và bé gái không bị
mưa tạt. Đứa bé bà vé số bồng

trên tay mỗi ngày khập khiễng
đi bán ngang qua đây là cháu ngoại
ruột của bà. Đứa bé da
trắng xinh như thiên thần đứa bé không
có hai tay nhưng bên vai
trái còn sót một ngón tay lúc la

lúc lắc, cọc vé số trên
tay bà được bọc kỹ trong chiếc bao
ni-lông không còn “xì- gà –
rét sơ” không còn “vé số đây” không
còn tiếng cười khúc khích của
đứa bé gái, tiếng mưa làm tiếng rao

im bặt trên đôi môi tím
run rẩy của bà bán thuốc lá của
bà bán vé số. Hôm nay
Nick Vujicic sang đây nhưng bận
truyền lửa ở sân vận động
nào xa lắm, ở đó không có mưa.

5/2013

NHỮNG NGÀY

tôi đứng ngồi bên
chiếc ghế nhựa chiếc
ghế luôn khi ấm
khi lạnh đều đều

trong từng tiếng cọt
kẹt không hình dung
được gì những ngày
trên bàn trong ánh

đèn nê-ông trên
từng trang sách lật
giở đọc qua rồi
đọc vào như chẵng

đọc gì ngoài những
câu thơ tôi hay
đọc lập lại dù
viết chưa xong và

đã viết xong cứ
lập lại qua những
ngày những ngày đứng
ngồi bên chiếc ghế

nhựa và ánh đèn
nê-ông tưởng là
tôi đứng ngồi bên
từng tiếng động không

hình dung được gì…

7/2013

CHÚNG MÌNH ƠI CHÚNG MÌNH

Chúng mình ơi chúng mình
chúng mình ở đâu ra
mà lắm thế chúng mình
từ hang hốc chui ra

chúng mình sinh sôi cho
lắm bây giờ chúng mình
đã quá đông nên chúng
mình không thể chui lại

vào hang hốc cũ để
chung sống mà chúng mình
phải xí riêng từng hang
hốc cho mỗi chúng mình

những hang hốc bằng gạch
ống xi măng những hang
hốc bằng bê tông cốt
thép phân chia ranh giới

cho những hình hài phân
chia ranh giới cho những
tâm hồn những hang hốc
đã làm tròn nghĩa vụ

hiện đại của nó: ngăn
cách chúng mình mãi mãi(?!)
nên chúng mình càng đông
chúng mình càng thấy lẻ loi(!?)

02/10/2013

EM ÂM THẦM MỘT NỤ CƯỜI THIÊN NHIÊN

em nắm một cổ
tích thật chặt và
kể cho em nghe
một thuở em là
thiên nhiên. Tay đưa
mình lên trên cây
và nằm nhìn bầu
trời lá sau mây
em thiếp rồi em
ngủ khi gió là
một tà mưa thưa….

em chơi vơi giữa
tình đôi con người
vì chẵng nhiều khi
là một đôi mắt
và trái tim liền
nối. Em ơi nghe
em nhớ yêu vì
cổ tích đã ướt
trên bàn tay đã
mỏi mòn bên những
phù linh. Một môi
cười giữa âm u
sao vẫn như là
còn lại thiên nhiên….

Nay, We Are Seven, What a Style!

Sáng tác xin gửi về Diễn đàn hoặc email:
baogiaytanhinhthuc@yahoo.com | info@tintho.net


Marivic Malinao | ngày 18 tháng 7 năm 2010


 
———A simple Child,
That lightly draws its breath,
And feels its life in every limb,
What should it know of death?
 
I met a little cottage Girl:
She was eight years old, she said;
Her hair was thick with many a curl
That clustered round her head.
 
She had a rustic, woodland air,
And she was wildly clad:
Her eyes were fair, and very fair;
—Her beauty made me glad.
 
“Sisters and brothers, little Maid,
How many may you be?”
“How many? Seven in all,” she said,
And wondering looked at me.
 
“And where are they? I pray you tell.”
She answered, “Seven are we;
And two of us at Conway dwell,
And two are gone to sea.
 
“Two of us in the church-yard lie,
My sister and my brother;
And, in the church-yard cottage, I
Dwell near them with my mother.”
 
“You say that two at Conway dwell,
And two are gone to sea,
Yet ye are seven! I pray you tell,
Sweet Maid, how this may be.”
 
Then did the little Maid reply,
“Seven boys and girls are we;
Two of us in the church-yard lie,
 
“You run about, my little Maid,
Your limbs they are alive;
If two are in the church-yard laid,
Then ye are only five.”
 
“Their graves are green, they may be seen,”
The little Maid replied,
“Twelve steps or more from my mother’s door,
And they are side by side.
 
“My stockings there I often knit,
My kerchief there I hem;
And there upon the ground I sit,
And sing a song to them.
 
“And often after sun-set, Sir,
When it is light and fair,
I take my little porringer,
And eat my supper there.
 
“The first that died was sister Jane;
In bed she moaning lay,
Till God released her of her pain;
And then she went away.
 
“So in the church-yard she was laid;
And, when the grass was dry,
Together round her grave we played,
My brother John and I.
 
“And when the ground was white with snow,
And I could run and slide,
My brother John was forced to go,
And he lies by her side.”
 
“How many are you, then,” said I,
“If they two are in heaven?”
Quick was the little Maid’s reply,
“O Master! we are seven.”
 
“But they are dead; those two are dead!
Their spirits are in heaven!”
’Twas throwing words away; for still
The little Maid would have her will,
And said, “Nay, we are seven!”

The Longman Anthology of Poetry (Pearson, 2006)


How Many Children Do You Have? – thelifeididntchoose

“Nay, we are seven!” a famous last line in William Wordsworth poem, We Are Seven”. Wordsworth, known for his works about nature, “We Are Seven” is centered on the supernatural. Its theme is about innocence and how it regresses because humanity destroys it. The supernatural beliefs of the main character in the poem that her dead siblings still exist, subjected the poem to ridicule. Several revisions were made but the theme remains despite its initial criticisms. The poem has gained popularity since its release./ “Không, chúng ta bảy tuổi!” dòng cuối cùng nổi tiếng trong bài thơ của William Wordsworth, We Are Seven “. Wordsworth, được biết đến với các tác phẩm về thiên nhiên,” We Are Seven “tập trung vào siêu nhiên. Chủ đề của nó là về sự vô tội và cách nó thoái lui vì nhân loại đã tiêu diệt nó. Niềm tin Siêu nhiên của nhân vật chính trong bài thơ rằng anh chị em đã chết của cô vẫn tồn tại, khiến bài thơ bị chế giễu. Một số sửa đổi đã được thực hiện nhưng chủ đề vẫn giữ nguyên bất chấp những lời phê bình ban đầu. 

“We Are Seven” is about a little girl insisting on the narrator that there are seven boys and girls in the family contrary to her statement that some were already dead. Despite efforts of the narrator to make the child understand that deceased brothers and sisters cannot be counted anymore as they are no longer alive, the girl insisted, they are seven./ “We Are Seven” kể về một cô bé khăng khăng với người kể chuyện rằng có bảy chàng trai và cô gái trong gia đình trái ngược với tuyên bố của cô rằng một số đã chết. Bất chấp những nỗ lực của người kể chuyện để làm cho đứa trẻ hiểu rằng những anh chị em đã qua đời không thể đếm được nữa vì họ không còn sống nữa, cô gái vẫn khẳng định, họ là bảy người.

Without realizing, the narrator is forcing his beliefs on the child and trying insistently to change her conceptions instead of learning from the child. “We are Seven” is the embodiment of Wordsworth’s childhood’s innocence that he misses and gone forever./ Không nhận ra, người kể chuyện đang ép buộc niềm tin của mình vào đứa trẻ và cố gắng kiên quyết thay đổi quan niệm của đứa trẻ thay vì học hỏi từ đứa trẻ. “We are Seven” là hiện thân của sự ngây thơ thời thơ ấu của Wordsworth mà ông nhớ và lãng quên mãi mãi.

Who would not appreciate the spectacular elegance of the language, simple and candid? The poet used a wide range of metaphors in his poems, from architectural to maritime, like the mind to “a mansion of memory”, and memory to “the anchor” of the poet’s “purest thought”./ Ai sẽ không đánh giá cao sự sang trọng ngoạn mục của ngôn ngữ, đơn giản và thẳng thắn? Nhà thơ đã sử dụng một loạt các ẩn dụ trong các bài thơ của mình, từ kiến trúc đến hàng hải, như tâm trí đến “một dinh thự của ký ức”, và ký ức để “neo” của “tư tưởng thuần khiết nhất” của nhà thơ.

In another poem, he describes himself as a “lonely cloud” and the daffodils to “a crowd of dancing people”. When reading the poem, “I wandered Lonely as a Cloud,” anyone can feel the gracefulness of the dancing daffodils and the cool breeze of the countryside./ Trong một bài thơ khác, anh tự miêu tả mình như một “đám mây cô đơn” và hoa thủy tiên vàng trước “một đám đông đang nhảy múa”. Khi đọc bài thơ “Tôi lang thang Cô đơn như mây”, bất cứ ai cũng có thể cảm nhận được vẻ thướt tha của những bông hoa thủy tiên đang nhảy múa và làn gió mát của miền quê.

In “We Are Seven”, the reader is left in an uncertain cognitive state, waiting for what will happen next, apprehensive to know in the end that the siblings are not really seven. The answer however, remains unanswered. Who could forget then the firm stand of a child who cannot in her innocence denies the presence of her siblings though they are gone forever?/ Trong “We Are Seven”, người đọc bị bỏ lại trong một trạng thái nhận thức không chắc chắn, chờ đợi những gì sẽ xảy ra tiếp theo, lo lắng khi biết rằng cuối cùng hai anh em thực sự không phải là bảy. Tuy nhiên, câu trả lời vẫn chưa được giải đáp. Ai có thể quên được lập trường vững vàng của một đứa trẻ trong sáng không thể từ chối sự hiện diện của anh chị em mình dù họ đã ra đi mãi mãi?

Those who have read the poems of William Wordsworth will appreciate the style used in the poems, metaphoric phrases are laudable, the slow rhythmic movements of his verses are soul-penetrating and touching, simple and very natural./ Những ai đã đọc thơ của William Wordsworth sẽ đánh giá cao phong cách được sử dụng trong các bài thơ, những cụm từ ẩn dụ rất đáng khen ngợi, những chuyển động nhịp nhàng chậm rãi trong các câu thơ của ông có sức hút và cảm động, giản dị và rất tự nhiên.

Thematic concepts used impart divine influence on the mind and soul, be it natural or supernatural. He writes with passion and most of his poems are from his experiences, the reason why it is from the heart, full of feelings and emotions. The lyrics are magnificent, very descriptive of the images, places, events, pleasure and emotion, Wordsworth wants to convey to his readers./ Các khái niệm chuyên đề được sử dụng truyền đạt ảnh hưởng của thần thánh lên tâm trí và linh hồn, có thể là tự nhiên hoặc siêu nhiên. Anh viết với niềm đam mê và hầu hết những bài thơ của anh đều là từ những trải nghiệm của anh, lý do là từ trái tim, đầy ắp tình cảm và cảm xúc. Lời bài hát thật hào hùng, miêu tả rất rõ những hình ảnh, địa điểm, sự kiện, niềm vui và cảm xúc mà Wordsworth muốn gửi gắm đến độc giả của mình.

Readers would feel as if they were transcended into another dimension, spirits fleeting like clouds traveling with the writer, feeling what the writer feels. In “We Are Seven,” the reader is left expectant of what will happen next, expecting mostly for the highlights or climax that never comes, what a style!/ Người đọc sẽ cảm thấy như được xuyên không vào một không gian khác, những linh hồn thoáng qua như những đám mây phiêu du cùng nhà thơ, cảm nhận những gì mà nhà thơ cảm nhận được. Trong “We Are Seven”, người đọc chỉ mong đợi những gì sẽ xảy ra tiếp theo, chủ yếu mong đợi những điểm nhấn hoặc cao trào không bao giờ đến, thật là một phong cách!


Marivic Malinao a Certified Public Accountant and a graduate of law. I am connected with Purecomfortlinens.com. Though I am not a professional writer, writing is my passion. Come and join me as we discover the nature of life, pleasures and happiness, worries and fears, desires and other facts of life. Read my articles and be happy./ Marivic Malinao một Kế toán viên Công chứng và tốt nghiệp Luật. Tôi được kết nối với Puretherslinens.com. Mặc dù tôi không phải là một nhà văn chuyên nghiệp, nhưng viết lách là niềm đam mê của tôi. Hãy đến và tham gia cùng tôi khi chúng ta khám phá bản chất của cuộc sống, những thú vui và hạnh phúc, những lo lắng và sợ hãi, mong muốn và những sự thật khác của cuộc sống. Đọc bài viết của tôi và hạnh phúc.

Source by Marivic Malinao

The Notebook (Movie Review)

0


THE NOTEBOOK
Bởi  | ngày 

Adapted to screen from the Nicholas Sparks novel of the same name, The Notebook is one of the best romantic dramas to hit the big screen in decades. Garnering high marks from a wide-range of critics, The Notebook is a funny and emotional film which deals with love, relationships, and the risks people take. James Garner turns in a notable performance as the elder man, Duke, who reads the pages of his notebook to dying nursing home resident Allie (Gena Rowlands). Overall, this is a classic “chick flick” with a dramatic twist. Set in the World War II era, The Notebook is a great film…

Duke (James Garner) regularly reads from the pages of a notebook to an older woman in a nursing home. Suffering from Alzheimer’s disease, her memories of the parts which he’s read in the past appears and disappears without order, but Duke continues to read to her because of their deep and enduring friendship.

The notebook’s story centers around the lives of a teenage boy and girl who meet at a carnival in the late-1930s. At first, Allie Hamilton doesn’t know what to think of Noah Calhoun, but she soon gives into his insistence that they go out on a date. When Noah and Allie fall deeply in love, Allie’s parents try to break up the couple. The Hamiltons are rich, and Noah and his father are from the poor side of town. Nevertheless, Allie and Noah are determined to be together.

When World War II breaks out, Noah is sent into conflict. He writes numerous letters to his love, but they go unanswered because Allie’s parents are hiding the letters as well as her replies to Noah. After several years apart, Allie becomes engaged to successful businessman. But after reading a newspaper article concerning Noah’s restoration of a historic home he once promised her, she decides to go visit him.

Allie’s visit with Noah turns both their worlds upside down when they learn the truth about the letters. Now, Allie must choose between the fiancée she truly loves and the man who is her real true love…

Actor Ryan Gosling is entertaining and likeable in his portrayal of the young and energetic Noah Calhoun. The Notebook as a film is better served by featuring his superb talents. Likewise, up-and-coming actress Rachel McAdams is brilliant in her role as Allie. The emotions of her young romance are clearly conveyed by a natural and instinctive penchant for delivering her lines in just the right way. Call it onscreen charisma or whatever, but McAdams is one to look out for in the future.

In short, The Notebook is as good a film as it is as a book. Few books translate onto the big screen as well as they read in print, so The Notebook is to be heralded for its ability to do so. Charming and easy to like, the film glorifies the romance of a young couple who find true love – a love that lasts forever. Well-produced and featuring some amazing shots of natural locations, The Notebook ranks as a definite must-see film. Do yourself a favor and go see it today…

Được chuyển thể thành phim từ tiểu thuyết cùng tên của Nicholas Sparks, The Notebook là một trong những bộ phim lãng mạn hay nhất để lên màn ảnh rộng trong nhiều thập kỷ. Thu được điểm cao từ một loạt các nhà phê bình, The Notebook là một bộ phim hài hước và đầy cảm xúc đề cập đến tình yêu, các mối quan hệ và những rủi ro mà mọi người phải chịu. James Garner trở thành một màn trình diễn đáng chú ý khi người đàn ông lớn tuổi, Duke, người đọc các trang của cuốn sổ tay của mình cho cư dân viện dưỡng lão sắp chết Allie (Gena Rowlands). Nhìn chung, đây là một “chick flick” cổ điển với một twist kịch tính. Lấy bối cảnh thế chiến II, The Notebook là một bộ phim tuyệt vời…

Duke (James Garner) thường xuyên đọc từ các trang của một cuốn sổ tay cho một người phụ nữ lớn tuổi trong một viện dưỡng lão. Mắc bệnh Alzheimer, ký ức của cô về những phần mà anh đã đọc trong quá khứ xuất hiện và biến mất không có trật tự, nhưng Duke tiếp tục đọc cho cô nghe vì tình bạn sâu sắc và lâu dài của họ.

Câu chuyện của cuốn sổ tay xoay quanh cuộc sống của một cậu bé và cô gái tuổi teen gặp nhau tại một lễ hội vào cuối những năm 1930. Lúc đầu, Allie Hamilton không biết phải nghĩ gì về Noah Calhoun, nhưng cô sớm khăng khăng rằng họ đi hẹn hò. Khi Noah và Allie yêu nhau sâu đậm, cha mẹ của Allie cố gắng chia rẽ cặp đôi. Gia đình Hamilton giàu có, và Noah và cha anh đến từ tầng lớp nghèo của thị trấn. Tuy nhiên, Allie và Noah quyết tâm ở bên nhau.

Khi Thế chiến II nổ ra, Noah bị đẩy vào cuộc xung đột. Anh viết rất nhiều lá thư cho người yêu của mình, nhưng chúng không được trả lời vì cha mẹ của Allie đang che giấu những lá thư cũng như câu trả lời của cô cho Noah. Sau vài năm xa cách, Allie đính hôn với doanh nhân thành đạt. Nhưng sau khi đọc một bài báo liên quan đến việc Noah khôi phục một ngôi nhà lịch sử mà anh đã từng hứa với cô, cô quyết định đến thăm anh.

Chuyến thăm của Allie với Noah làm đảo lộn cả hai thế giới của họ khi họ biết sự thật về các chữ cái. Bây giờ, Allie phải lựa chọn giữa vị hôn thê mà cô thực sự yêu và người đàn ông là tình yêu đích thực của cô…

Nam diễn viên Ryan Gosling thật thú vị và dễ mến trong vai diễn Noah Calhoun trẻ trung và tràn đầy năng lượng. The Notebook như một bộ phim được phục vụ tốt hơn bằng cách giới thiệu tài năng tuyệt vời của mình. Tương tự như vậy, nữ diễn viên sắp tới Rachel McAdams rất xuất sắc trong vai Allie. Cảm xúc của mối tình lãng mạn trẻ trung của cô được truyền tải rõ ràng bởi một thiên hướng tự nhiên và bản năng để cung cấp các giá trị của tình yêu trong cô một cách đúng đắn. Gọi nó là sức hút trên màn ảnh hoặc bất cứ điều gì, nhưng McAdams là một trong những điều cần chú ý trong tương lai.

Nói tóm lại, The Notebook là một bộ phim hay như một cuốn sách. Rất ít cuốn sách dịch lên màn hình lớn cũng như chúng ta đọc trong bản in, vì vậy The Notebook sẽ được báo trước vì khả năng làm như vậy. Quyến rũ và dễ thích, bộ phim tôn vinh sự lãng mạn của một cặp vợ chồng trẻ tìm thấy tình yêu đích thực – một tình yêu kéo dài mãi mãi. Được sản xuất tốt và có một số cảnh quay tuyệt vời về các địa điểm tự nhiên, The Notebook được xếp hạng là một bộ phim không thể bỏ qua. Hãy làm cho mình một ân huệ và đi xem nó ngày hôm nay …


Britt Gillette là tác giả của The DVD Report, một trang web đánh giá phim nơi bạn có thể tìm thấy nhiều bài viết như bài viết này của The Notebook (DVD)

Source by Britt Gillette

Review: The Parliament of Poets by Frederick Glaysher, Earthrise Press, 2012

The Parliament of Poets: An Epic Poem: Glaysher, Frederick ...

The Parliament of Poets của Frederick Glaysher
Bởi  | ngày 

Frederick Glaysher claims to be an epic poet, and furthermore to have written an epic poem, The Parliament of Poets. This is a huge claim and an astonishing ambition. Is he? Has he? Before responding to these two important questions by reviewing his book, let me outline why I think this is such a big deal. The word epic is used very loosely, but usefully, nowadays. We might say that the film, Ben Hur, was an epic, or that some highly dangerous expedition across Antartica was epic, and this is useful because the word conveys a sense of scale and importance; but that is not what we mean when we talk of an epic poem.

To put this in context, in my view the last complete and true epic poem in the English Language was Paradise Lost written by John Milton in the C17th, and apart from that poem there are only two others: the anonymous Beowulf from old English, and the unfinished Faerie Queen by Edmund Spenser from the C16th. Don Juan, by Byron, is perhaps a true mock epic and apart from that the only poet since Milton who has come remotely close to writing in the epic style is Keats with his two sublime, but unfinished and maybe unfinishable (even had he lived), Hyperion fragments. Yeats was an epic poet by nature and impulse, but did not write an actual epic. This brings us to the C20th and all the phoney poets (Brits and Americans alike) claiming to write epics, ‘modern epics’, but doing no such thing. The most egregious example of this would be Ezra Pound and his Cantos: unreadable and undecipherable tosh masquerading as a work of genius in the manner we are nowadays too familiar with in conceptual art and music. Indeed, only two types of people ever read the Cantos: university professors who make a career out of untangling it; and wannabe poets who write just like that (except of course completely differently – solipsism smears the pane in its own way: there’s a brown smudge, but here’s a green stain) and naturally vote for models justifying their own inanities. (As for modern epics of the ‘human mind’ – beginning Wordsworth, Whitman et al – these, despite their odd purple patches, seem extended and tedious forms of narcissism).

It would take me too far from this review to define epic poetry, but if it means anything the clue to its essence is in the word ‘style’: there is an elevation of style, the sublime is never far away despite all of man’s in humanity to man, some value system that is profoundly important to us as people informs the epic poem’s journey; epic poems never trash what it means to be human – they raise us up. That is why Pound’s Cantos are not epic (or even poetry): they are a form of Gnosticism, and they imply a higher learning that plebs cannot access, only those ‘in the know’. In short, The Cantos are anti-democratic, just as Pound was. The true epics delight all intelligent peoples throughout the ages because they speak to them in a language they can understand even when that language is ‘elevated’.

So Glaysher has structured his epic in twelve books, like Milton, but the actual model for how the work progresses is The Divine Comedy of Dante. As Dante is guided through the three levels of existence of his Catholic model, so now Glaysher in a fine conceit imagines – or envisions – himself on the Moon and being led by an assortment of poets and writers (not just Virgil) from every continent, country and clime back to the Earth some four times in order to learn lessons that prepare him to become an epic poet and actually write the poem. Indeed the poem ends like Dante’s poem does; he leaves us with the ‘love that moves the sun and stars’; compare with Glaysher who ends his supernal vision with ‘dancing/across an endless field of space and stars’. The poem is at least 9000 lines long, and in true epic simulation has a ‘prefatory ode’ and, imitating Milton, a note on the versification; there is a claim in this that the verse approximates to blank verse, but I cannot agree that it does, although that is not necessarily a criticism.

What is extraordinary, however, is the language, and so the style. There is a curious mixture of archaicisms, ordinary language, inversions, and modern colloquial slang. A surprising number of lines actually end with either the indefinite or definite article, which I find difficult to fathom why. But the opening address in Book 1, Homeric or Miltonic in scope, gives a flavour of the archaic:

“O Muse, O Maid of Heaven, O Circling Moon,
O lunar glory of the midnight sky,
I call upon thee to bless they servant’s tongue,
descend upon thy pillar of light,
moonbeam blessings, that from my mouth
may pour at least a fraction of the love
I hold for thee, sweet blessings, for service
to God’s creation, and His Creative Word,
the Bible’s thundering verses, Brahma
of the Upanishads, Allah, the Compassionate,
Bhudda’s meditative mystery,
Confucius and the Dao. O Great Spirit”

But actually, this is really good writing, moving even, and the surprising thing is: Glaysher sustains the momentum of the poem for all Twelve Books! So although I do not think the versification is regular or recurrent even in any metrical sense, he has somehow shaped a line which successfully drives the narrative forward. Further, because his vocabulary is enormous, and because he does switch so frequently from one style to another, one is never bored – the poetry stimulates. In fact is almost whacky! For example in Book 3 we get a discourse on the Greek heroes from “Bob” (Robert Hayden, Glaysher’s mentor), which is pretty classical, but followed by Glaysher’s persona reflecting:

“I thought who needs warp drive when I’ve got Queen Mab”.

It’s a strange collocation (warp drive/Queen Mab), but it works; and there are literally hundreds of these intersections between then and now, and words that bring them into focus and juxtaposition.

Thus, although Glaysher seems archaic in places, because the poetry is about such current issues that concern us – namely, the fate of planet Earth and humanity more specifically – and because the linguistics are so varied and skilful, we realise that this is a poet working for deliberate effects, and not one who has only read poetry from three hundred years ago. One fabulous quality of this poem is its clarity and luminous quality. I love the fact that despite the wide ranging topographical and lexical references this poem is easy to understand and follow: it is a poet writing for people, not one trying to be clever, and not one concealing their lack of poetry in obfuscation.

I take the view, therefore, and surprisingly to myself, that Glaysher is really an epic poet and this is an epic poem! One can hardly congratulate him enough, then, on this achievement, since it has been so long awaited. Of special interest to members of The Society of Classical Poets is Book 6. Keep in mind, the journey of the poet from Earth to Moon and back again involves visiting all the continents on Earth and engaging in dialogue with all the poets across all time. Book 6 covers China and much of its sentiments will ring a very pleasant note with supporters and followers of Falun Gong: there is a fabulous expose of political corruption in China, with lines like:

“The Marxists have proved the worst in all
of human history. Insatiable lust for blood.
Only university professors in my country
continue to worship at their sanguine shrines.
They always claim it’s ‘for the people’.
but never get around to asking them
what they want. Duty and heaven forgotten.”

Please note too the arch humour against the US university professors who still argue for Marxism; there is actually a lot of humour in the poem. Thematically, too, it is epic: it is about the survival of the human race, despite – Dantean-like – facing the full horrors of human history. It could be argued that in places the language is clichéd, but given the length of the poem the idea that every line and image could be ‘fresh’ and concrete is as absurd as FR Leavis, the famous English critic, seventy years ago slating Milton because his language wasn’t ‘concrete’ like John Donne’s; in other words, Leavis completely missed the point of epic and how to write one: if every line had to be imaginatively engaged with, then we’d never get beyond Book 1. Homer knew the dawn was rosy, so no need for a fresh metaphor every time the dawn was introduced.

Finally, then, having accorded Glaysher what I conceive to be the highest honour in poetry (to be an epic poet), I ought to point out what I perceive to be two shortcomings in this amazing work. One is aesthetic and one is theological.

First, aesthetically, whilst the work kept my interest from beginning to end, and is full of curious and inventive situations, I think it does suffer from a lack of dramatic tension. Although the poet suffers (indeed is mutilated at least twice: losing his head at one point, and having his heart ripped out by Octavio Paz at another!), there is never a sense that he can actually die or lose everything, apart from the laurel of being a poet. It is one dialogue after another – interesting yes, but not really dramatic in the way that Homer, Virgil and Milton are dramatic. Of course, as Dante is the model, then perhaps that is not surprising: even Dante can hardly keep up the tension in his endless dialogues as he ascends. I personally have yet to meet anyone who thinks the Purgatory and the Paradise superior to the Inferno; and of course Dante’s poem benefits from the tighter topography of three imaginary locations. There is a gain but also a dilution in having the Glaysher’s persona visit all the continents – a sort of dissipation of effect.

More seriously, perhaps, as a weakness of the poem is my theological objection to it. In Book 8 he says:

“Milton shall guide you from here on your
pilgrimage through ancient and modern times,
many peoples, revealing their creeds as One.”
Tennyson then challenges him with:
“What are you doing for the Federation
of the World?”

So what we have is the problem of the world’s sufferings to be solved via federation (great in the USA but try the European Union for starters!) and through what the persona clearly believes is the ‘oneness’ of all religious beliefs. There are of course no practical solutions as to how this might be achieved, but in this fervent hope there is a strange paradox: basically, Glaysher offers a sweeping critique of modernism and the modern world, which I largely agree with. Further, I love the fact that he invokes and even believes in the Muse – how antiquated can you get? But at the same time he seems to swallow one of their most pernicious falsehoods, one so dear to so many liberals and bleeding hearts: namely, that all religions are one and teach the same thing when you get down to it. Syncretism in other words. Yes, there is a sense in which one can track similar ethical and moral principles across some religions, but any deeper acquaintance really produces the opposite impression. And common sense tells us that one doesn’t become a Bhuddist because one thinks it’s the same as being a Catholic; one becomes a Bhuddist (or any religious type) because one believes it to be a superior path or way to the truth of reality, else why would one convert at all?

Given this superficial understanding of religion, I think there is a failure to address the deep philosophical issues that derive from them and drive human behaviour for good or ill. To mention two specific areas that are glossed over within the poem, but are core dramatic points, say, in Milton: can human beings save themselves (there seems to be an underlying assumption that they can in Glaysher’s poem) or is salvation (or to use another religion’s term for this: nirvana, for example) bestowed as an act of grace? Religions, indeed sects, really do differ on this question and it is fundamental to how we behave. Or take another one: predestination and free will. These questions are really superficially covered in Glaysher’s poem, but in Milton the whole power of the narrative comes from understanding the freedom of Adam’s (and Eve’s) will and exploring every avenue of what freedom of the will means; there is that wonderful prelude in hell where even the devils are debating the issue – fruitlessly!

Thus, Glaysher has written a masterpiece, but a flawed one. He should take heart, however, as most critics seem to think Paradise Lost is a flawed masterpiece. You just can’t please everyone. I strongly recommend Frederick Glaysher’s poem and hope he will find a larger readership for it. It is real poetry and we need to support real poets wherever we find them. I only wish he could be English – but there you go – he’s an American, and he’s written the new epic. Congratulations, Frederick Glaysher. I look forward to reading more of his work.


Frederick Glaysher tự nhận mình là một nhà thơ sử thi, và hơn nữa, ông đã viết một bài thơ sử thi, Nghị viện của các nhà thơ. Đây là một tuyên bố lớn lao và một tham vọng đáng kinh ngạc. Ông ấy có phải vậy không? Có phải vậy không? Trước khi trả lời hai câu hỏi quan trọng này bằng cách đánh giá cuốn sách của ông, hãy để tôi nêu ra lý do tại sao tôi nghĩ đây là một vấn đề lớn. Ngày nay, từ “sử thi” được sử dụng rất lỏng lẻo, nhưng hữu ích. Chúng ta có thể nói rằng bộ phim Ben Hur là một sử thi, hoặc một chuyến thám hiểm cực kỳ nguy hiểm nào đó xuyên qua Nam Cực là sử thi, và điều này hữu ích bởi vì từ này truyền tải cảm giác về quy mô và tầm quan trọng; nhưng đó không phải là những gì chúng ta muốn nói khi nói về một bài thơ sử thi.

Để đưa điều này vào bối cảnh, theo quan điểm của tôi, bài thơ sử thi hoàn chỉnh và chân thực cuối cùng bằng tiếng Anh là Paradise Lost do John Milton viết vào thế kỷ 17, và ngoài bài thơ đó ra thì chỉ có hai bài khác: Beowulf vô danh từ tiếng Anh cổ, và Faerie Queen chưa hoàn thành của Edmund Spenser từ thế kỷ 16. Don Juan, của Byron, có lẽ là một sử thi giả thực sự và ngoài ra, nhà thơ duy nhất kể từ Milton đã tiến gần đến phong cách viết sử thi là Keats với hai đoạn Hyperion tuyệt vời nhưng chưa hoàn thành và có thể không thể hoàn thành (ngay cả khi ông còn sống). Yeats là một nhà thơ sử thi theo bản chất và sự thôi thúc, nhưng đã không viết một sử thi thực sự. Điều này đưa chúng ta đến thế kỷ 20 và tất cả các nhà thơ giả mạo (cả người Anh và người Mỹ) tuyên bố viết sử thi, ‘sử thi hiện đại’, nhưng không làm điều đó. Ví dụ điển hình nhất cho điều này chính là Ezra Pound và tác phẩm Cantos của ông: những thứ vớ vẩn khó đọc, khó hiểu, lại được ngụy trang thành một tác phẩm thiên tài theo cách mà ngày nay chúng ta đã quá quen thuộc trong nghệ thuật ý niệm và âm nhạc. Thực vậy, chỉ có hai loại người từng đọc Cantos: những giáo sư đại học kiếm sống bằng cách gỡ rối nó; và những kẻ muốn trở thành nhà thơ, viết y hệt như vậy (tất nhiên là hoàn toàn khác – chủ nghĩa duy ngã làm nhòe tấm kính theo cách riêng của nó: có một vết nâu, nhưng ở đây lại là một vết xanh lá cây) và tự nhiên bỏ phiếu cho những mô hình biện minh cho sự vô nghĩa của chính họ. (Đối với những sử thi hiện đại về ‘tâm trí con người’ – bắt đầu từ Wordsworth, Whitman và những người khác – những sử thi này, mặc dù có những mảng màu tím kỳ lạ, dường như là những hình thức tự luyến kéo dài và nhàm chán).

Sẽ là quá xa so với bài đánh giá này để tôi định nghĩa thơ sử thi, nhưng nếu nó có ý nghĩa gì đó thì manh mối về bản chất của nó nằm ở từ ‘phong cách’: có một sự nâng cao của phong cách, sự cao cả không bao giờ xa vời bất chấp tất cả những gì con người có trong nhân loại đối với con người, một số hệ thống giá trị có tầm quan trọng sâu sắc đối với chúng ta với tư cách là con người định hình hành trình của bài thơ sử thi; thơ sử thi không bao giờ phá hủy ý nghĩa của việc làm người – chúng nâng chúng ta lên. Đó là lý do tại sao Cantos của Pound không phải là sử thi (hoặc thậm chí là thơ): chúng là một hình thức của thuyết Ngộ đạo, và chúng ngụ ý một nền học vấn cao hơn mà bình dân không thể tiếp cận, chỉ những người ‘hiểu biết’ mới có thể. Tóm lại, Cantos là phản dân chủ, giống như Pound. Những bài thơ sử thi thực sự làm hài lòng tất cả những người thông minh qua các thời đại vì chúng nói với họ bằng một ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được ngay cả khi ngôn ngữ đó là ‘cao cấp’.

Vì vậy, Glaysher đã cấu trúc sử thi của mình trong mười hai cuốn sách, giống như Milton, nhưng mô hình thực sự về cách tác phẩm tiến triển là Thần khúc của Dante. Khi Dante được hướng dẫn qua ba cấp độ tồn tại của mô hình Công giáo của mình, thì bây giờ Glaysher trong một sự tự phụ tinh tế tưởng tượng – hoặc hình dung – bản thân mình trên Mặt trăng và được dẫn dắt bởi một nhóm các nhà thơ và nhà văn (không chỉ Virgil) từ mọi lục địa, quốc gia và khí hậu trở lại Trái đất khoảng bốn lần để học những bài học chuẩn bị cho anh ta trở thành một nhà thơ sử thi và thực sự viết bài thơ. Thật vậy, bài thơ kết thúc giống như bài thơ của Dante; ông để lại cho chúng ta ‘tình yêu làm lay động mặt trời và các vì sao’; so sánh với Glaysher, người kết thúc tầm nhìn siêu phàm của mình bằng ‘nhảy múa/trên một cánh đồng vô tận của không gian và các vì sao’. Bài thơ dài ít nhất 9000 dòng và trong mô phỏng sử thi thực sự có một ‘bài thơ mở đầu’ và, bắt chước Milton, một lưu ý về cách làm thơ; Có một lời khẳng định rằng câu thơ này gần giống với thơ không vần, nhưng tôi không đồng ý rằng nó đúng, mặc dù điều đó không nhất thiết là một lời chỉ trích.

Tuy nhiên, điều phi thường chính là ngôn ngữ, và văn phong cũng vậy. Có một sự pha trộn kỳ lạ giữa từ cổ, ngôn ngữ thông thường, phép đảo ngữ, và tiếng lóng hiện đại. Một số lượng đáng ngạc nhiên các dòng thực sự kết thúc bằng mạo từ bất định hoặc xác định, điều mà tôi thấy khó hiểu tại sao. Nhưng lời mở đầu trong Sách 1, dù mang phong cách Homer hay Miltonic, lại mang đến một hương vị cổ xưa:

“Hỡi Nàng thơ, hỡi Nàng tiên của Thiên đường, hỡi Trăng tròn,
hỡi vầng trăng vinh quang của bầu trời đêm,
tôi cầu xin Người ban phước cho lưỡi của người hầu,
giáng xuống cột ánh sáng của Người,
ban phước lành của ánh trăng, để từ miệng tôi
có thể tuôn ra ít nhất một phần tình yêu
mà tôi dành cho Người, ban phước lành ngọt ngào, để phục vụ
cho sự sáng tạo của Chúa, và Lời sáng tạo của Người,
những câu thơ vang dội của Kinh thánh, Brahma
của Upanishads, Allah, Đấng từ bi,
bí ẩn thiền định của Đức Phật,
Khổng Tử và Đạo. Ôi Thánh thần vĩ đại”

Nhưng thực ra, đây là một tác phẩm rất hay, thậm chí còn lay động lòng người, và điều đáng ngạc nhiên là: Glaysher đã duy trì được nhịp điệu của bài thơ trong suốt Mười Hai Quyển! Vậy nên, mặc dù tôi không nghĩ rằng cách làm thơ này có tính quy luật hay lặp lại, ngay cả theo bất kỳ nghĩa nào về vần điệu, nhưng bằng cách nào đó, ông đã tạo nên một mạch văn thúc đẩy câu chuyện tiến triển một cách thành công. Hơn nữa, bởi vì vốn từ vựng của ông rất phong phú, và bởi vì ông thường xuyên chuyển từ phong cách này sang phong cách khác, nên người đọc không bao giờ cảm thấy nhàm chán – thơ ca khơi gợi sự hứng khởi. Thực tế, gần như là kỳ quặc! Ví dụ, trong Quyển 3, chúng ta có một bài diễn văn về các anh hùng Hy Lạp của “Bob” (Robert Hayden, người thầy của Glaysher), khá cổ điển, nhưng tiếp theo là sự phản ánh về tính cách của Glaysher:

“Tôi nghĩ ai cần đến ổ đĩa cong vênh khi tôi đã có Nữ hoàng Mab”.

Đây là một cách kết hợp kỳ lạ (ổ đĩa cong vênh/Queen Mab), nhưng nó hiệu quả; và thực sự có hàng trăm điểm giao nhau giữa quá khứ và hiện tại, và những từ ngữ giúp chúng trở nên rõ nét và đối lập.

Vì vậy, mặc dù Glaysher có vẻ cổ xưa ở một số chỗ, bởi vì thơ ca nói về những vấn đề thời sự mà chúng ta quan tâm – cụ thể là số phận của hành tinh Trái Đất và nhân loại – và bởi vì ngôn ngữ học rất đa dạng và khéo léo, chúng ta nhận ra rằng đây là một nhà thơ đang nỗ lực tạo ra những hiệu ứng có chủ đích, chứ không phải một người chỉ đọc thơ từ ba trăm năm trước. Một phẩm chất tuyệt vời của bài thơ này là sự rõ ràng và trong sáng. Tôi thích rằng mặc dù có nhiều tham chiếu từ vựng và địa hình khác nhau, bài thơ này vẫn dễ hiểu và dễ theo dõi: đó là một nhà thơ viết cho mọi người, không phải một người cố tỏ ra thông minh, và không phải một người che giấu sự thiếu chất thơ của mình bằng sự tối nghĩa.

Vì vậy, tôi cho rằng, điều này thật bất ngờ với chính tôi, rằng Glaysher thực sự là một nhà thơ sử thi, và đây chính là một bài thơ sử thi! Vậy nên, thật khó để chúc mừng ông ấy đủ về thành tựu này, bởi vì nó đã được chờ đợi từ rất lâu. Tập 6 đặc biệt được các thành viên của Hội Nhà thơ Cổ điển quan tâm. Hãy nhớ rằng, hành trình của nhà thơ từ Trái Đất đến Mặt Trăng và ngược lại bao gồm việc ghé thăm tất cả các châu lục trên Trái Đất và tham gia đối thoại với tất cả các nhà thơ trên khắp mọi thời đại. Tập 6 đề cập đến Trung Quốc và nhiều cảm xúc trong đó sẽ tạo nên một giai điệu rất dễ chịu với những người ủng hộ và tín đồ Pháp Luân Công: có một bài viết phơi bày tuyệt vời về nạn tham nhũng chính trị ở Trung Quốc, với những câu như:

“Những người theo chủ nghĩa Marx đã chứng tỏ mình là những kẻ tồi tệ nhất trong
lịch sử nhân loại. Lòng tham máu thịt vô độ.
Chỉ có các giáo sư đại học ở đất nước tôi
vẫn còn sùng bái những thánh đường máu của họ.
Họ luôn nói rằng đó là ‘vì nhân dân’,
nhưng chẳng bao giờ hỏi họ
muốn gì. Quên mất bổn phận và thiên đường.”

Xin lưu ý thêm cả sự hài hước châm biếm nhắm vào các giáo sư đại học Hoa Kỳ vẫn còn tranh luận về chủ nghĩa Marx; thực ra bài thơ có rất nhiều sự hài hước. Về mặt chủ đề, bài thơ cũng mang tính sử thi: nói về sự sinh tồn của loài người, bất chấp – giống như Dantean – phải đối mặt với toàn bộ nỗi kinh hoàng của lịch sử loài người. Có thể lập luận rằng ở một số chỗ, ngôn ngữ có phần sáo rỗng, nhưng xét theo độ dài của bài thơ, ý tưởng cho rằng mọi câu thơ và hình ảnh đều có thể “mới mẻ” và cụ thể là vô lý như FR Leavis, nhà phê bình nổi tiếng người Anh, bảy mươi năm trước đã chỉ trích Milton vì ngôn ngữ của ông không “cụ thể” như John Donne; nói cách khác, Leavis hoàn toàn bỏ lỡ quan điểm về sử thi và cách viết một sử thi: nếu mỗi câu thơ đều phải được tưởng tượng, thì chúng ta sẽ không bao giờ vượt qua được Quyển 1. Homer biết rằng bình minh luôn tươi đẹp, nên không cần phải có một phép ẩn dụ mới mẻ mỗi khi bình minh xuất hiện.

Cuối cùng, sau khi đã dành cho Glaysher điều mà tôi cho là vinh dự cao quý nhất trong thơ ca (là một nhà thơ sử thi), tôi xin chỉ ra hai điểm mà tôi nhận thấy là thiếu sót trong tác phẩm tuyệt vời này. Một là về mặt thẩm mỹ, hai là về mặt thần học.

Trước hết, về mặt thẩm mỹ, mặc dù tác phẩm đã thu hút sự chú ý của tôi từ đầu đến cuối, và đầy những tình huống tò mò và sáng tạo, tôi nghĩ rằng nó thiếu đi sự căng thẳng kịch tính. Mặc dù nhà thơ phải chịu đựng (thực sự bị cắt xẻo ít nhất hai lần: mất đầu ở một thời điểm, và bị Octavio Paz moi tim ở một thời điểm khác!), không bao giờ có cảm giác rằng anh ta thực sự có thể chết hoặc mất tất cả, ngoài vòng nguyệt quế của một nhà thơ. Đó là một cuộc đối thoại nối tiếp nhau – thú vị đúng, nhưng không thực sự kịch tính theo cách mà Homer, Virgil và Milton thể hiện. Tất nhiên, vì Dante là hình mẫu, nên có lẽ điều đó không đáng ngạc nhiên: ngay cả Dante cũng khó có thể duy trì sự căng thẳng trong những cuộc đối thoại bất tận của mình khi anh ta thăng hoa. Cá nhân tôi vẫn chưa gặp ai cho rằng Luyện ngục và Thiên đường vượt trội hơn Địa ngục; và tất nhiên bài thơ của Dante được hưởng lợi từ địa hình chật hẹp hơn của ba địa điểm tưởng tượng. Có một lợi ích nhưng cũng có một sự pha loãng khi nhân vật Glaysher đến thăm tất cả các lục địa – một kiểu làm tiêu tan tác động.

Có lẽ nghiêm trọng hơn, một điểm yếu của bài thơ chính là sự phản đối mang tính thần học của tôi đối với nó. Trong Sách 8, ông viết:

“Milton sẽ dẫn dắt anh từ đây trong
cuộc hành hương qua thời cổ đại và hiện đại,
qua nhiều dân tộc, tiết lộ tín ngưỡng của họ như Một.”
Tennyson sau đó thách thức anh ta:
“Anh đang làm gì cho Liên bang
Thế giới?”

Vậy nên, vấn đề chúng ta đang đối mặt là những đau khổ của thế giới cần được giải quyết thông qua liên bang (điều này rất tuyệt vời ở Hoa Kỳ, nhưng hãy thử Liên minh Châu Âu để bắt đầu!) và thông qua điều mà nhân vật này rõ ràng tin tưởng là “sự thống nhất” của tất cả các tín ngưỡng tôn giáo. Tất nhiên, không có giải pháp thực tế nào về cách thức đạt được điều này, nhưng trong niềm hy vọng mãnh liệt này lại tồn tại một nghịch lý kỳ lạ: về cơ bản, Glaysher đưa ra một lời phê phán toàn diện về chủ nghĩa hiện đại và thế giới hiện đại, điều mà tôi phần lớn đồng tình. Hơn nữa, tôi thích việc ông ấy viện dẫn và thậm chí tin vào Nàng Thơ – bạn có thể lỗi thời đến mức nào? Nhưng đồng thời, ông ấy dường như nuốt chửng một trong những lời dối trá tai hại nhất của họ, một điều mà rất nhiều người theo chủ nghĩa tự do và những trái tim nhân hậu yêu mến: đó là, tất cả các tôn giáo đều là một và dạy cùng một điều khi đi sâu vào vấn đề. Nói cách khác, đó là sự dung hợp tôn giáo. Đúng, theo một nghĩa nào đó, người ta có thể tìm thấy những nguyên tắc đạo đức và luân lý tương tự ở một số tôn giáo, nhưng bất kỳ sự hiểu biết sâu sắc hơn nào thực sự tạo ra ấn tượng ngược lại. Và lẽ thường tình mách bảo chúng ta rằng người ta không trở thành Phật tử vì người ta nghĩ rằng nó giống như trở thành người Công giáo; người ta trở thành Phật tử (hoặc bất kỳ tôn giáo nào khác) vì người ta tin rằng đó là con đường cao thượng hơn hoặc cách thức dẫn đến chân lý của thực tại, nếu không thì tại sao người ta lại cải đạo?

Với sự hiểu biết hời hợt về tôn giáo như vậy, tôi nghĩ rằng chúng ta đã thất bại trong việc giải quyết những vấn đề triết học sâu xa bắt nguồn từ chúng và thúc đẩy hành vi của con người dù tốt hay xấu. Việc đề cập đến hai lĩnh vực cụ thể bị bỏ qua trong bài thơ, nhưng lại là những điểm nhấn cốt lõi, chẳng hạn như trong Milton: liệu con người có thể tự cứu mình (dường như có một giả định ngầm rằng họ có thể trong bài thơ của Glaysher) hay sự cứu rỗi (hay dùng thuật ngữ của một tôn giáo khác để chỉ điều này: niết bàn, chẳng hạn) được ban tặng như một hành động ân sủng? Các tôn giáo, thậm chí là các giáo phái, thực sự khác nhau về vấn đề này và nó là nền tảng cho cách chúng ta hành xử. Hoặc lấy một ví dụ khác: tiền định và ý chí tự do. Những câu hỏi này thực sự được đề cập một cách hời hợt trong bài thơ của Glaysher, nhưng trong Milton, toàn bộ sức mạnh của câu chuyện đến từ việc hiểu được sự tự do ý chí của Adam (và Eva) và khám phá mọi khía cạnh của ý chí tự do; có một khúc dạo đầu tuyệt vời ở địa ngục, nơi ngay cả quỷ dữ cũng tranh luận về vấn đề này – một cách vô ích!

Vậy nên, Glaysher đã viết nên một kiệt tác, nhưng là một kiệt tác đầy khiếm khuyết. Tuy nhiên, ông ấy nên lạc quan lên, vì hầu hết các nhà phê bình dường như đều cho rằng Thiên Đường Đã Mất là một kiệt tác đầy khiếm khuyết. Bạn không thể làm hài lòng tất cả mọi người. Tôi thực sự khuyến khích bài thơ của Frederick Glaysher và hy vọng ông ấy sẽ được nhiều độc giả đón nhận hơn. Đó là thơ ca đích thực và chúng ta cần ủng hộ những nhà thơ đích thực ở bất cứ nơi nào chúng ta tìm thấy họ. Tôi chỉ ước ông ấy là người Anh – nhưng bạn biết đấy – ông ấy là người Mỹ, và ông ấy đã viết nên thiên anh hùng ca mới. Xin chúc mừng, Frederick Glaysher. Tôi mong được đọc thêm nhiều tác phẩm của ông ấy.


Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những gì thúc đẩy bạn, http://www.motivationalmaps.com | James Sale là chuyên gia hàng đầu châu Âu về động lực. Cuốn sách của James, Mapping Motivation, được xuất bản bởi Gower
Source by James Sale

Keki N Daruwalla: The Poet and Novelist

Buy Keki N.Daruwalla: The Poet and Novelist Book … – Amazon.in

KEKI N. DARUWALLA
THE POET AND NOVELIST by ASHA VISWAS
/
NHẬN ĐỊNH VỀ NHÀ THƠ VÀ TIỂU THUYẾT GIA của ASHA VISWAS

New Delhi: Bahri Publications, 2011. 173 pp., Rs. 500/-, ISBN 978-81-909771-3-5
Bởi  | ngày


Keki N. Daruwalla, who has been writing for over four decades now, is a leading name in Indian English poetry today (p 31). The uniqueness of his verses has been recognized by critics and admirers everywhere. There have been several books on his poetry, both original and edited, discussing imagery, diction, design, and viewpoint, but the latest one by Asha Viswas, dedicated to her students, should be very useful to students and teachers alike.

Professor Viswas, herself a good poet with three volumes of poetry to her credit, treats Daruwalla on the same pedestal as Nissim Ezekiel and Jayanta Mahapatra, and finds him a more representative voice than Jayanta Mahapatra and others. I fully agree with her.

Asha considers all the nine volumes of poetry and one novel by Keki and appreciates the variety he demonstrates both in form and content (p 34). She too discovers that Keki writes with control over emotions and effectively uses techniques such as word play, irony and satire (pp 75-76). She reflects on the poet’s large thematic canvas which inheres his personal experiences as also his preoccupation with the often contradictory realities of Indian life, diverse cultural, historic and mythic landscape, and existential realities. To quote Bruce King, Keki Daruwalla writes tough poetry with awareness of the “moral ambiguities and unresolvable conflicts of the human condition.”

Professsor Viswas’s introductory chapter seeks to define and highlight modernity and Indianness of Keki, besides his “depth of feeling, economy of language, and originality of insight” (cf pp 13-17) that confers on him “a central place in modern Indian English poetry.”

In the second chapter, ‘Moorings’, she scrutinizes the poet’s personal life vis-à-vis the growth of his poetic career from 1960s. She draws on her personal interview with the poet to develop the chapter besides reviewing the reviews of all his collections, two books of short stories, one novel, and one anthology, Two Decades of Indian Poetry: 1960-80. She underlines the poet’s global perspective, experiences and interests.

In the third chapter, ‘Treatment of Myth in Keki’s Early Poetry,’ she refers to his mythical poems (five in Under Orion, four in Apparition in April, thirteen in Crossing of Rivers) to demonstrate the poet’s searching mind, mythopoeic attitude, and eclectic vision. Professor Viswas also uses the techniques of stylistic analysis to interpret some of the early poems of Keki.

The fourth chapter seeks to highlight the poet’s modernity, realism, non-moral approach, existential concerns, lack of faith in the system, and avoidance of “stock response” and “abstract notion”. She observes: “His satire and his iconoclastic approach invigorate his subject matter as does the speed of his verse and masculine vigour.” (p 76)

The poet-critic’s discussion on the poems in Landscape (ch. 5) aims at demonstrating Keki’s “maturity of vision” that transmutes the “external world into internal consciousness” (p 78) and helps him attain inner peace (p 81). Asha Viswas finds in the collection a “perfect harmony between impression and expression” a la Sanskrit poets (p 90).

The sixth chapter is a critique of A Summer of Tigers which offers instances of passion and irony (pp 94-98). With her skills in stylistic analysis, Asha Viswas tries to highlight the poet’s “exploration and experimentation” (pp 95, 104) and his sensitivity for “speech rhythms and their syntactic and lexical features” (pp 98, 114) on the one hand, and his love for mythology and “racial history” (pp 99, 102, 111) and his criticism of Pablo Neruda (pp 110-11), on the other. As she notes: “His best poetry is about the mountains, high pastures, seas and rivers. It is his rootedness to the ritual scene that gives Keki a shot in the poetic vein.” (p 112)

The seventh chapter deals with Night River, a “global work” (p 116). While the poet’s search for permanence in Landscapes brings him to the world of nature, in Night River he “changes his route from nature to human imagination” (p 115). Here Asha Viswas finds Keki Orpheus-like and descending into “the darker depths of what we call the subconscious and unconscious.” She seems right as Daruwalla himself admits that here he has tried to dive into the “depths of consciousness and solitude” (p 117) which is, in fact, “a defence against time, decay, and even death” (p 127). She also discusses some of his dream-poems (pp 118-121) and island-poems (pp 125-26) in the volume.

The eighth chapter concerns Keki’s ninth collection, The Map Maker, recording his voyage “both within and without.” Here one finds instances of the “subjective and physical, individual and universal merging into… (an) integrated consciousness” (p 128). Asha praises his craftsmanship in melding history, peoples, nature, religion, biography, and vision into “intense reflection” and poetry “that speaks out of the still centre of the being, the narrative and the dramatic voice” (p 159). Her analytical comments on pp 140-158 should help every serious student follow the poetry of Daruwalla in the right spirit.

The last chapter discusses Daruwalla’s historical novel For Pepper and Christ (2009) which “presents a dialectical discourse of clashing interests in the backdrop of trade and religion (p 161).

The bibliography at the end testifies to the years of labour Professor Viswas has put in to write the book, keeping in mind the needs of students both at the Honours and Postgraduate level, and researchers and teachers interested in Indian English writing. It is a positive contribution from a poet-professor who views Keki N. Daruwalla with critical empathy and imagination.


Keki N. Daruwalla, người đã viết hơn bốn thập kỷ nay, là một cái tên hàng đầu trong thơ tiếng Anh Ấn Độ ngày nay (tr 31). Sự độc đáo của những câu thơ của ông đã được các nhà phê bình và người hâm mộ ở khắp mọi nơi công nhận. Đã có một số cuốn sách về thơ của ông, cả bản gốc và chỉnh sửa, thảo luận về hình ảnh, thay đổi, thiết kế và quan điểm, nhưng cuốn sách mới nhất của Asha Viswas, dành riêng cho học sinh của cô, nên rất hữu ích cho học sinh và giáo viên.

Giáo sư Viswas, bản thân bà là một nhà thơ giỏi với ba tập thơ, đặt Daruwalla ngang với Nissim Ezekiel và Jayanta Mahapatra, và tìm thấy ông một tiếng nói đại diện hơn Jayanta Mahapatra và những người khác. Tôi hoàn toàn đồng ý với cô ấy.

Asha xem xét tất cả chín tập thơ và một cuốn tiểu thuyết của Keki và đánh giá cao sự đa dạng mà ông thể hiện cả về hình thức và nội dung (tr 34). Cô cũng phát hiện ra rằng Keki viết với quyền kiểm soát cảm xúc và sử dụng hiệu quả các kỹ thuật như chơi chữ, mỉa mai và châm biếm (trang 75-76). Cô suy ngẫm về bức tranh chủ đề lớn của nhà thơ, trong đó gắn kết kinh nghiệm cá nhân của ông cũng như mối bận tâm của ông với thực tế thường mâu thuẫn của cuộc sống Ấn Độ, phong cảnh văn hóa, lịch sử và huyền thoại đa dạng, và thực tế hiện sinh. Để trích dẫn Bruce King, Keki Daruwalla viết thơ khó khăn với nhận thức về “sự mơ hồ về đạo đức và xung đột không thể giải quyết được của tình trạng con người“.

Chương giới thiệu của Người xưng tội, Viswas tìm cách xác định và làm nổi bật tính hiện đại và Ấn Độ của Keki, bên cạnh “chiều sâu của cảm giác, kinh tế ngôn ngữ và tính độc đáo của cái nhìn sâu sắc” (xem pp 13-17) trao cho ông “một vị trí trung tâm trong thơ tiếng Anh Ấn Độ hiện đại“.

Trong chương thứ hai, ‘Moorings’, cô xem xét kỹ lưỡng cuộc sống cá nhân của nhà thơ so với sự phát triển của sự nghiệp thơ ca của ông từ những năm 1960. Bà dựa trên cuộc phỏng vấn cá nhân của mình với nhà thơ để phát triển chương bên cạnh việc xem xét các đánh giá của tất cả các bộ sưu tập của ông, hai cuốn sách truyện ngắn, một cuốn tiểu thuyết và một tuyển tập, Hai thập kỷ thơ Ấn Độ: 1960-80. Bà nhấn mạnh quan điểm, kinh nghiệm và sở thích toàn cầu của nhà thơ.

Trong chương thứ ba, ‘Treatment of Myth in Keki’s Early Poetry’, bà đề cập đến những bài thơ thần thoại của ông (năm trong Under Orion, bốn trong Appari vào tháng Tư, mười ba trong Crossing of Rivers) để chứng minh tâm trí tìm kiếm của nhà thơ, thái độ huyền thoại và tầm nhìn chiết trung. Giáo sư Viswas cũng sử dụng các kỹ thuật phân tích phong cách để giải thích một số bài thơ đầu tiên của Keki.

Chương thứ tư tìm cách làm nổi bật tính hiện đại, chủ nghĩa hiện thực, cách tiếp cận phi đạo đức, mối quan tâm hiện sinh, thiếu niềm tin vào hệ thống và tránh “phản ứng cổ phiếu” và “khái niệm trừu tượng”. Cô nhận xét: “Sự châm biếm của anh ấy và cách tiếp cận biểu tượng của anh ấy đã tiếp thêm sinh lực cho chủ đề của anh ấy cũng như tốc độ của câu thơ và sức sống nam tính của anh ấy.” (tr 76)

Cuộc thảo luận của nhà thơ-phê bình về những bài thơ trong Phong cảnh (ch. 5) nhằm mục đích chứng minh “sự trưởng thành của tầm nhìn” của Keki biến “thế giới bên ngoài thành ý thức bên trong” (tr 78) và giúp anh ta đạt được sự bình an nội tâm (tr 81). Asha Viswas tìm thấy trong bộ sưu tập một “sự hài hòa hoàn hảo giữa ấn tượng và biểu hiện” một nhà thơ Tiếng Phạn (tr 90).

Chương thứ sáu là một phê bình của Một mùa hè của hổ cung cấp các trường hợp đam mê và mỉa mai (trang 94-98). Với kỹ năng phân tích phong cách của mình, Asha Viswas cố gắng làm nổi bật “khám phá và thử nghiệm” của nhà thơ (trang 95, 104) và sự nhạy cảm của ông đối với “nhịp điệu lời nói và các đặc điểm từ bi và từ vựng của chúng” (trang 98, 114) một mặt, và tình yêu của ông đối với thần thoại và “lịch sử chủng tộc” (pp 99, 102, 111) và những lời chỉ trích của ông về Pablo Neruda (trang 110-11), mặt khác. Như bà lưu ý: “Thơ hay nhất của ông là về những ngọn núi, đồng cỏ cao, biển và sông. Chính sự bắt nguồn của anh ấy đối với cảnh nghi lễ đã cho Keki một shot trong tĩnh mạch thơ ca.” (tr 112)

Chương thứ bảy đề cập đến Night River, một “tác phẩm toàn cầu” (tr 116). Trong khi việc tìm kiếm sự vĩnh cửu của nhà thơ trong Phong cảnh đưa anh ta đến thế giới tự nhiên, ở Night River, anh ta “thay đổi con đường của mình từ thiên nhiên sang trí tưởng tượng của con người” (tr 115). Ở đây Asha Viswas tìm thấy giống như Keki Orpheus và rơi vào “độ sâu tối hơn của cái mà chúng ta gọi là tiềm thức và vô thức”. Cô có vẻ đúng khi daruwalla thừa nhận rằng ở đây anh đã cố gắng đi sâu vào “chiều sâu của ý thức và sự cô đơn” (tr 117) trên thực tế, là “một sự bảo vệ chống lại thời gian, phân rã và thậm chí cả cái chết” (tr 127). Bà cũng thảo luận về một số bài thơ mơ ước của ông (trang 118-121) và những bài thơ trên đảo (trang 125-26) trong tập.

Chương thứ tám liên quan đến bộ sưu tập thứ chín của Keki, The Map Maker, ghi lại chuyến đi của ông “cả bên trong và bên ngoài”. Ở đây người ta tìm thấy các trường hợp của “sự hợp nhất chủ quan và thể chất, cá nhân và phổ quát vào … (an) ý thức tích hợp” (tr 128). Asha ca ngợi sự khéo léo của mình trong lịch sử, các dân tộc, thiên nhiên, tôn giáo, tiểu sử và tầm nhìn của mình thành “sự phản ánh mãnh liệt” và thơ ca “nói lên trung tâm tĩnh lặng của chúng sinh, câu chuyện và giọng nói kịch tính” (tr 159). Những nhận xét phân tích của cô về pp 140-158 sẽ giúp mọi học sinh nghiêm túc theo dõi thơ của Daruwalla theo đúng tinh thần.

For Pepper and Christ: Daruwala, Keki: 9780143065814: Amazon.com …

Chương cuối cùng thảo luận về cuốn tiểu thuyết lịch sử for pepper and christ (2009) của Daruwalla, trong đó “trình bày một diễn ngôn biện chứng về lợi ích xung đột trong bối cảnh thương mại và tôn giáo (tr 161).

Thư mục cuối cùng chứng minh cho những năm lao động mà Giáo sư Viswas đã đưa vào để viết cuốn sách, ghi nhớ nhu cầu của sinh viên cả ở cấp độ Danh dự và Sau đại học, và các nhà nghiên cứu và giáo viên quan tâm đến viết tiếng Anh Ấn Độ. Đó là một đóng góp tích cực từ một nhà thơ-giáo sư, người xem Keki N. Daruwalla với sự đồng cảm và trí tưởng tượng quan trọng.


Giáo sư R.K. Singh, Trưởng khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Mỏ Ấn Độ, 826004 Dhanbad, Jharkhand
Tình trạng bất ổn của ham muốn | Giải thích, tóm tắt và phân tích – Tất cả về văn học Anh (eng-literature.com)

Source by Ram Krishna Singh

The Study of Poetry


The Study of Poetry Nghiên cứu Thi ca
|


The 100 best nonfiction books: No 59 – Culture and Anarchy by …

Literary Criticism is, as Matthew Arnold (1822-1888), the Victorian poet and critic points out, a “disinterested endeavor to learn and propagate” the best that is known and thought in the world. And he strove hard to fulfill this aim in his critical writings. Attaching paramount importance to poetry in his essay “The Study of Poetry”, he regards the poet as seer. Without poetry, science is incomplete, and much of religion and philosophy would in future be replaced by poetry. Such, in his estimate, are the high destinies of poetry.

Arnold asserts that literature, and especially poetry, is “Criticism of Life”. In poetry, this criticism of life must conform to the laws of poetic truth and poetic beauty. Truth and seriousness of matter, felicity and perfection of diction and manner, as are exhibited in the best poets, are what constitutes a criticism of life.

Poetry, says Arnold, interprets life in two ways: “Poetry is interpretative by having natural magic in it, and moral profundity”. And to achieve this the poet must aim at high and excellent seriousness in all that he writes.This demand has two essential qualities. The first is the choice of excellent actions. The poet must choose those which most powerfully appeal to the great primary human feelings which subsist permanently in the race. The second essential is what Arnold calls the Grand Style – the perfection of form, choice of words, drawing its force directly from the pregnancy of matter which it conveys.

This, then, is Arnold’s conception of the nature and mission of true poetry. And by his general principles – the” Touchstone Method” – introduced scientific objectivity to critical evaluation by providing comparison and analysis as the two primary tools for judging individual poets. Thus, Chaucer, Dryden, Pope, and Shelley fall short of the best, because they lack “high seriousness”. Even Shakespeare thinks too much of expression and too little of conception. Arnold’s ideal poets are Homer and Sophocles in the ancient world, Dante and Milton, and among moderns, Goethe and Wordsworth. Arnold puts Wordsworth in the front rank not for his poetry but for his “criticism of life”. It is curious that Byron is placed above Shelley. Arnold’s inordinate love of classicism made him blind to the beauty of lyricism, and we cannot accept Arnold’s view that Shelley’s poetry is less satisfactory than his prose writings.

Arnold’s criticism of life is often marred by his naive moralizing, by his inadequate perception of the relation between art and morality, and by his uncritical admiration of what he regarded as the golden sanity of the ancient Greeks. For all his championing of disinterestedness, Arnold was unable to practise disinterestedness in all his essays. In his essay on Shelley particularly, he displayed a lamentable lack of disinterestedness. Shelley’s moral views were too much for the Victorian Arnold. In his essay on Keats too Arnold failed to be disinterested. The sentimental letters of Keats to Fanny Brawne were too much for him. But Arnold’s insistence on the standards and his concern over the relation between poetry and life make him one of the great modern critics.


Bhaskar Banerjee runs iBongo Inc. as a Business Development Manager for iBongo Inc. and manages a recently developed website – He is dedicated and works hard to ensure success.

Phê bình văn học, như Matthew Arnold (1822-1888), nhà thơ và nhà phê bình Victoria chỉ ra, một “nỗ lực không quan tâm để học hỏi và tuyên truyền” tốt nhất được biết đến và suy nghĩ trên thế giới. Và ông đã cố gắng hết sức để hoàn thành mục tiêu này trong các tác phẩm phê bình của mình. Coi trọng thơ ca trong bài tiểu luận “Nghiên cứu thơ”, ông coi nhà thơ là người nhìn thấy. Nếu không có thơ, khoa học không đầy đủ, và phần lớn tôn giáo và triết học trong tương lai sẽ được thay thế bằng thơ. Như vậy, theo ước tính của ông, là số phận lâu dài của thơ.

Arnold khẳng định rằng văn học, và đặc biệt là thơ ca, là “Phê bình cuộc sống”. Trong thơ ca, những lời phê bình về cuộc sống này phải phù hợp với quy luật của sự thật thơ mộng và vẻ đẹp thơ ca. Sự thật và sự nghiêm túc của vật chất, hạnh phúc và sự hoàn hảo của sự thay đổi và cách cư xử, như được thể hiện trong các nhà thơ giỏi nhất, là những gì tạo nên một lời chỉ trích về cuộc sống.

Arnold nói, thơ giải thích cuộc sống theo hai cách: “Thơ là diễn giải bằng cách có ma thuật tự nhiên trong đó, và sự sâu sắc về đạo đức“. Và để đạt được điều này, nhà thơ phải nhắm đến sự nghiêm túc cao và tuyệt vời trong tất cả những gì ông viết. Nhu cầu này có hai phẩm chất thiết yếu. Đầu tiên là lựa chọn những hành động tuyệt vời. Nhà thơ phải chọn những người hấp dẫn mạnh mẽ nhất những cảm xúc chính của con người tồn tại vĩnh viễn trong chủng tộc. Điều cần thiết thứ hai là cái mà Arnold gọi là Phong cách vĩ đại – sự hoàn hảo của hình thức, lựa chọn từ ngữ, rút ra lực lượng của nó trực tiếp từ việc mang thai vật chất mà nó truyền tải.

Đây là quan niệm của Arnold về bản chất và sứ mệnh của thơ ca thật. Và theo các nguyên tắc chung của ông – “Phương pháp Touchstone” – đã giới thiệu tính khách quan khoa học để đánh giá phê bình bằng cách đưa ra so sánh và phân tích như hai công cụ chính để đánh giá các nhà thơ riêng lẻ. Do đó, Chaucer, Dryden, Pope và Shelley không đạt được điều tốt nhất, bởi vì họ thiếu “mức độ nghiêm túc cao”. Ngay cả Shakespeare cũng nghĩ quá nhiều về biểu hiện và quá ít quan niệm. Các nhà thơ lý tưởng của Arnold là Homer và Sophocles trong thế giới cổ đại, Dante và Milton, và trong số những người hiện đại, Goethe và Wordsworth. Arnold đặt Wordsworth ở vị trí hàng đầu không phải vì thơ của ông mà vì “những lời chỉ trích về cuộc sống”. Thật kỳ lạ khi Byron được đặt phía trên Shelley. Tình yêu quá mức của Arnold đối với chủ nghĩa cổ điển khiến ông mù quáng trước vẻ đẹp của chủ nghĩa trữ tình, và chúng ta không thể chấp nhận quan điểm của Arnold rằng thơ của Shelley kém thỏa đáng hơn các tác phẩm văn xuôi của ông.

Những lời chỉ trích của Arnold về cuộc sống thường bị hủy hoại bởi đạo đức ngây thơ của ông, bởi nhận thức không đầy đủ của ông về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đạo đức, và bởi sự ngưỡng mộ không phê phán của ông về những gì ông coi là sự tỉnh táo vàng của người Hy Lạp cổ đại. Đối với tất cả sự vô trách nhiệm của mình về sự không quan tâm, Arnold đã không thể thực hành sự không quan tâm trong tất cả các bài tiểu luận của mình. Đặc biệt trong bài tiểu luận về Shelley, ông đã thể hiện sự thiếu quan tâm đáng tiếc. Quan điểm đạo đức của Shelley là quá nhiều đối với Arnold thời Victoria. Trong bài tiểu luận của mình về Keats, Arnold cũng không quan tâm. Những lá thư tình cảm của Keats gửi cho Fanny Brawne là quá nhiều đối với anh ta. Nhưng sự khăng khăng của Arnold về các tiêu chuẩn và mối quan tâm của ông về mối quan hệ giữa thơ ca và cuộc sống khiến ông trở thành một trong những nhà phê bình hiện đại vĩ đại.


Bhaskar Banerjee điều hành iBongo Inc. với tư cách là Giám đốc Phát triển Kinh doanh cho iBongo Inc. và quản lý một trang web được phát triển gần đây – Ông tận tâm và làm việc chăm chỉ để đảm bảo thành công.


Classic Essays: Matthew Arnold’s ‘The Study of Poetry’ « Mumble Words


 

Source by Bhaskar Banerjee

Interpersonal Theory of Poetry – T.S. Eliot

The Sacred Wood: Essays on Poetry and Criticism by T. S. Eliot
The Sacred Wood: Essays on Poetry and Criticism by T. S. Eliot

LÝ THUYẾT THI CA VỀ TÍNH CÁCH CÁ NHÂN

 | 

Eliot’s claims of himself to be a classicist raised a noisy reaction among his critics and in his emphasis on the ‘generalizing power’ and ‘the critics’ need to objectify’ in his essay ‘The Perfect Critic’ gives a clue to his special type of classicism. The concern for the poem as an objective thing is a special highlight of Eliot’s classicism and this view of Eliot finds its proper illustration in his essay, ‘Tradition and Individual Talent’.

Eliot begins his essay with an attempt to establish poetic objectivity and impersonality on a living tradition. The poet or the artist must surrender his quotidian self or personality to infinity more important than the order of tradition. This sense of impersonality is at the heart of Eliot’s advocacy of poetic personality and objectivity through adherence to tradition. Although Eliot has been advocating the elimination of the personal factor as much as possible not only in creative literature but in criticism also, and to him, this progress of the artist is a process of continual self-sacrifice, a continual extinction of personality. It is a process of depersonalization, so that he can serve as a neutral, nondistortive medium for sundry things to be accurately and perfectly recorded. This sort of impersonality is also the basic principle of Eliot’s objective theory of criticism. According to him, the critic’s personality should be suppressed in such a way that he must not have any other emotions except those immediately evoked by a work of art.

Eliot’s conception seems to be that the poetry is located somewhere between the poet and the reader. The poem, in some sense, has its own life. According to Eliot, “Impressions and experiences which are important for the man may take no place in poetry.” In his preface to the 1928 edition of ‘The Sacred Wood’, Eliot has further observed, “We can only say that a poem, in some sense, has its own life”. He continues in the same paragraph, “the feeling or emotion or vision, resulting from the poem is something different from the feeling or emotion in the mind of the poet.” Such a view of poetry is, “belligerently anti-romantic”. It forces attention not on the poet, but upon the poetry. However one can recognize the basic truth behind this. If the emotion is too intense or personal in a poet, he will be too confused to give it a shape of a work of art. One may view it as a return to Aristotelian theory as some critics’ things that, since the 17th century, hardly any English critic writing so resolutely transported poetic theory from the aim of pleasure versus pain, to unity versus multiplicity. To make it simpler we can say that, there is no more about the soul of the object and the imagination of the artist is of lesser importance. Eliot asserts that, there is always a difference between the man who suffers and the mind which creates. Tracing a poem to its origin is discouraged by Eliot and therefore he dismisses the biographical and psychological criticism of poetry. It may also be observed that Keats also had anticipated this artistic impersonality in his famous concept of ‘negative capability’, about the poetic character he wrote about the poetic character “It has no self, it is everything and nothing”.


I am that kind of a person who spend a lot of of time on my PC and on the net. What i learn i felt I’ll like to share. I love to work in diverse medias and you can find a glimpse of that in my blog by following the lead to my blog… http://swastikroy.blogspot.com/

The Sacred Wood: Essays on Poetry and Criticism by T. S. Eliot
The Sacred Wood: Essays on Poetry and Criticism by T. S. Eliot


Những tuyên bố của Eliot về bản thân ông là một nhà cổ điển đã làm dấy lên một phản ứng ồn ào giữa các nhà phê bình ông và nhấn mạnh vào ‘sức mạnh tổng quát’ và ‘các nhà phê bình’ cần phải phản đối’ trong bài tiểu luận ‘Nhà phê bình hoàn hảo’ đưa ra manh mối cho loại chủ nghĩa cổ điển đặc biệt của ông. Mối quan tâm đối với bài thơ như một điều khách quan là một điểm nhấn đặc biệt của chủ nghĩa cổ điển của Eliot và quan điểm này của Eliot tìm thấy minh họa thích hợp của nó trong bài tiểu luận của ông, ‘Truyền thống và Tài năng cá nhân’.
Eliot bắt đầu bài tiểu luận của mình với một nỗ lực để thiết lập tính khách quan thơ ca và không cá nhân trên một truyền thống sống. Nhà thơ hoặc nghệ sĩ phải từ bỏ bản thân hoặc tính cách của mình cho những gì không có giới hạn quan trọng hơn trật tự truyền thống. Cảm giác vô nhân cách này là trọng tâm mà Eliot đề xướng về tính cách thơ ca và tính khách quan thông qua việc tuân thủ truyền thống. Mặc dù Eliot đã ủng hộ việc loại bỏ yếu tố cá nhân càng nhiều càng tốt không chỉ trong văn học sáng tạo mà còn trong những lời chỉ trích, và đối với ông, sự tiến bộ này của nghệ sĩ là một quá trình hy sinh bản thân liên tục, một sự tuyệt chủng liên tục của nhân cách. Đó là một quá trình phi nhân cách hóa, để anh ta có thể phục vụ như một phương tiện trung lập, không phân biệt đối xử để những thứ mặt trời được ghi lại chính xác và hoàn hảo. Loại tính cá nhân này cũng là nguyên tắc cơ bản của lý thuyết chỉ trích khách quan của Eliot. Theo ông, tính cách của nhà phê bình nên bị kìm nén theo cách mà anh ta không được có bất kỳ cảm xúc nào khác ngoại trừ những cảm xúc ngay lập tức được gợi lên bởi một tác phẩm nghệ thuật.
Quan niệm của Eliot dường như là thơ nằm đâu đó giữa nhà thơ và người đọc. Bài thơ, theo một nghĩa nào đó, có cuộc sống riêng của nó. Theo Eliot, “Những ấn tượng và kinh nghiệm quan trọng đối với con người có thể không có chỗ trong thơ ca.” Trong lời tựa của mình cho ấn bản năm 1928 của “The Sacred Wood”, Eliot đã nhận xét thêm, “Chúng ta chỉ có thể nói rằng một bài thơ, theo một nghĩa nào đó, có cuộc sống riêng của nó”. Ông tiếp tục trong cùng một đoạn văn, “cảm giác, cảm xúc hoặc tầm nhìn, kết quả từ bài thơ là một cái gì đó khác với cảm giác hoặc cảm xúc trong tâm trí của nhà thơ.” Quan điểm như vậy về thơ là, “hiếu chiến chống lãng mạn”. Nó thu hút sự chú ý không phải vào nhà thơ, mà là vào thơ. Tuy nhiên, người ta có thể nhận ra sự thật cơ bản đằng sau điều này. Nếu cảm xúc quá mãnh liệt hoặc cá nhân trong một nhà thơ, anh ta sẽ quá bối rối để đưa ra cho nó một hình dạng của một tác phẩm nghệ thuật. Người ta có thể xem nó như là một sự trở lại với lý thuyết Aristotelian như một số điều của các nhà phê bình, kể từ thế kỷ 17, hầu như không có nhà phê bình Anh nào viết kiên quyết vận chuyển lý thuyết thơ ca từ mục đích của niềm vui so với nỗi đau, để thống nhất so với đa dạng. Để làm cho nó đơn giản hơn, chúng ta có thể nói rằng, không còn về linh hồn của đối tượng và trí tưởng tượng của nghệ sĩ ít quan trọng hơn. Eliot khẳng định rằng, luôn luôn có một sự khác biệt giữa người đau khổ và tâm trí tạo ra. Truy tìm một bài thơ đến nguồn gốc của nó bị Eliot nản lòng và do đó ông bác bỏ những lời chỉ trích tiểu sử và tâm lý của thơ. Cũng có thể quan sát thấy rằng Keats cũng đã dự đoán sự phi cá nhân nghệ thuật này trong khái niệm nổi tiếng của ông về ‘khả năng tiêu cực’, về nhân vật thơ ca mà ông đã viết về nhân vật thơ ca “Nó không có cái tôi, nó là tất cả mọi thứ và không có gì”.


Tôi là kiểu người dành nhiều thời gian trên PC và trên mạng. Những gì tôi học được tôi cảm thấy tôi muốn chia sẻ. Tôi thích làm việc trong các phương tiện truyền thông đa dạng và bạn có thể tìm thấy một cái nhìn thoáng qua về điều đó trong blog của tôi bằng cách làm theo dẫn đến blog của tôi … http://swastikroy.blogspot.com/


Source by Swastik Roy | TOÀN VĂN TẬP TIỂU LUẬN

AR Dad — một nhà thơ của những ý tưởng không chắc chắn

AR Dad — a poet of uncertain ideas

Thơ ca thực tế đi trước văn xuôi. Khi nhân loại đang trong quá trình tiến hóa phôi thai, mọi thứ ít mang tính máy móc hơn và tự phát hơn. Nếu một nhóm sapiens sống trong một khu định cư nhỏ, họ dựa rất nhiều vào vần điệu và nhịp điệu thơ để ghi nhớ tối ưu và thực hiện trơn tru các hoạt động khá khó khăn và đầy thử thách.

Điều này đơn giản có nghĩa là thơ ca tạo nên một vị trí rất sáng suốt trong lịch sử loài người. Nếu không có thơ ca, trí nhớ của sapiens sẽ không như ngày nay. Con người có thể suy nghĩ rất nhiều trong các hình thức thơ ca. Anh ta có thể học một ngàn câu thơ trong vòng vài ngày nhưng văn xuôi thì không như vậy.

William Wordsworth, nhà thơ vĩ đại người Anh thời kỳ lãng mạn, nói rằng thơ không thể sáng tác dưới sự ép buộc,

“dòng thơ trong trẻo phải tuôn chảy tự nhiên và không thể bắt nó chảy qua những đường ống được xây dựng một cách nhân tạo”.

Trong một tâm trạng thơ ca rực rỡ, thơ ca tuôn chảy như một dòng sông chảy, tuy nhiên, mọi thứ không dễ dàng như vậy, có một sự tham gia rất lớn của kỹ thuật trong thơ ca hoạt động một cách máy móc.

AR Dad, sinh ra ở Gwadar, là một trong những người đi đầu của nền văn học Baloch hiện đại.

Ông viết trên những trang đầu tiên của tập thơ văn xuôi và thơ tự do đầu tiên của mình, vào lúc chạng vạng,

“thơ là mối tình đầu của tôi”.

Ngoài thơ, ông còn viết nhiều về thơ Balochi hiện đại và sự hiệu chỉnh văn học của nó. Ông là một nhà văn truyện ngắn khác thường, người đã hồi sinh hình thức truyện ngắn ở Balochi với sự pha trộn giữa mô hình tư tưởng theo phong cách Kafka và Gogolian. Các bản dịch của ông cũng rất đáng giá. Đúng như Fazal Baloch đã viết trên các trang báo hàng ngày, ông là một nhà hiện đại đa năng. Bất chấp điều đó, tôi nghĩ rằng ông có một khuynh hướng rất nghiêm túc đối với chủ nghĩa hậu cấu trúc và cách phá vỡ mọi thứ theo phong cách hậu hiện đại rồi chế giễu chúng.

AR dad là một độc giả tuyệt vời của TS Eliot và Ezra pound; cả hai đều là người theo chủ nghĩa hiện đại, người đã thu hẹp khoảng cách giữa sự quyến rũ của John Donne và Words Worth. Donne nổi tiếng với những bài thơ siêu hình của mình. Hình ảnh của ông phức tạp và không theo quy luật. Ông đã rời xa những câu thơ truyền thống và tao nhã và sáng tác chủ nghĩa hiện thực tâm lý và tình dục trong các tác phẩm của mình. Thật khó để tìm thấy tính cách của Donne trong những câu thơ của ông vì có một dòng siêu hình trong suốt tác phẩm của ông. Tôi không nghĩ AR dad là một nhà thơ cùng đẳng cấp với TS Eliot và Ezra pound nhưng ông dường như chịu ảnh hưởng rất lớn từ nghề thủ công của Eliot và pound vì nghề thủ công của họ nghe có vẻ đáng sợ và đáng sợ.

Tôi tìm thấy sự đắm chìm và tập trung sâu sắc vào tính cách trong thơ của AR Dad. Ông không phải là người vô cảm trong thơ của mình. Sự dồn dập của thơ ca tràn ngập ông một cách tuyệt đối. TS Eliot là người đề xuất tính vô cảm trong thơ ca. Lý thuyết vô cảm của Eliot về thơ ca là nhà thơ, con người và nghệ sĩ là hai thực thể khác nhau. Eliot viết trong cuốn sách Sacred Wood của mình rằng,

“thơ ca không phải là sự buông thả của cảm xúc, mà là sự trốn thoát khỏi cảm xúc; nó không phải là sự thể hiện của tính cách, mà là sự trốn thoát khỏi tính cách.”

Câu chuyện của một đêm

Tôi tự hỏi

Nếu đó là một bóng râm đẫm sương mù

Hoặc cát phủ màu xanh

Nằm trên nấm mồ của những giấc mơ của tôi

Mặt trăng

Đang trôi trên con thuyền của hàng mi tôi

Xa

Áo phông đại dương viết nên câu chuyện của đêm

Bài thơ này thoạt nhìn đã khẳng định rằng AR dad gần gũi hơn với các nhà thơ Iran hiện đại do Nima yooshij dẫn đầu. Nima yooshij là cha đẻ của những bài thơ Iran hiện đại. Ông đã ghi lại những bài thơ bằng những thuật ngữ tượng trưng, ​​trích xuất các chất liệu từ thiên nhiên, chẳng hạn như cây cối, chim chóc và những thứ tương tự. Nima biết tiếng Pháp và chịu ảnh hưởng lớn từ những người tiên phong của phong trào tượng trưng trong thơ ca Pháp. Arthur Rimbaud nổi tiếng với các chủ đề siêu thực và vi phạm là một trong những nhà thơ đã giới thiệu chủ nghĩa tượng trưng vào thế giới văn học. Chủ đề vẫn như vậy với một vài thay đổi. Câu thơ được đề cập ở trên,

“chiếc thuyền của lông mi tôi”

là một dòng rất chênh vênh với rất nhiều sự không chắc chắn. Thoạt nghe có vẻ siêu hình nhưng khi đọc kỹ, nó sẽ giải phóng một số chiều kích chính khác.

Ngôn ngữ thơ của Ông không chắc chắn và ý tưởng do sự không chắc chắn trở thành biểu tượng theo mặc định. AR Dad luôn coi trọng ý tưởng và nội dung hơn là hình thức. Những người theo chủ nghĩa hình thức Nga say mê hình thức hơn là nội dung. Họ tin rằng có một sự khác biệt rất lớn giữa hình thức và nội dung, và họ tập trung vào hình thức hoặc cấu trúc của văn bản hơn là nội dung của nó. Ngược lại, những người viết phê bình Mỹ mới tin rằng hình thức và nội dung của văn bản có mối liên hệ chặt chẽ và không thể phân tích riêng biệt. Như đã đề cập ở trên, ông có sở thích sâu sắc đối với Eliot và pound, do đó, về mặt kỹ thuật, thơ của ông thiên về nội dung chứ không phải hình thức. Ông viết theo nhịp điệu không ổn định và không theo nhịp điệu, và hình thức trở nên mỏng manh và dễ vỡ, điều này ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng của nội dung. Eliot và pound đều quan tâm đến hình thức vì thơ của họ được sáng tác rất công phu.

Ông nói thơ để xây dựng một bối cảnh và bầu không khí của các sự kiện khác nhau như một bức tranh ghép. Noon Meem Rashid được cho là người tiên phong của thơ tự do trong văn học Urdu đã từng nói trong một cuộc phỏng vấn rằng bản chất của thơ tự do giống như một bộ phim được hoàn thành sau khi chụp rất nhiều cảnh quay khác nhau ở nhiều góc độ khác nhau. Bộ phim sau khi hoàn thành sẽ trở thành một thực thể duy nhất. Pablo Picasso cũng vậy. Trước Picasso, có một truyền thống lớn về các chi tiết nhỏ và các quy định chính xác về cách vẽ nhưng Picasso đã phá vỡ quy tắc này và mở ra một trang mới trong lịch sử hội họa. Ông sáng tác thơ bằng cách chụp ảnh và sau đó cố gắng hòa giải chúng và rút ra ý nghĩa. Cách sáng tác thơ này là một kỹ thuật hiện đại. Nhưng nhiều lần Ông không thể hòa giải và mang lại bầu không khí liên quan sâu sắc trong các câu thơ tự do cũng như văn xuôi của mình. Lệnh của ông dường như lỏng lẻo và sau đó dây cương nằm ngoài tầm kiểm soát của ông. Điều này làm xáo trộn bản chất của bài thơ đến tận cốt lõi. Và bài thơ hướng tới phạm vi sáo rỗng. Một bài thơ được đánh giá trong toàn bộ và nếu một dòng hoặc một tập phim làm xáo trộn bản chất thì bài thơ không còn được coi là một bài thơ có hiệu chuẩn cao nữa. Một phần quan trọng của lời cảnh báo này là Ông tập trung vào nội dung hơn là hình thức tạo nên và phát triển bài thơ.

Đêm sụp đổ

Đêm đã sụp đổ

Trong mắt của một cái cây

Rất giống như ngọn lửa

Điều đó sụp đổ trên lòng bàn tay của tôi

Rất giống mặt trời

Điều đó đã đi sâu vào tâm hồn tôi!

Ông cũng có vẻ chịu ảnh hưởng rất nhiều từ một nhà thơ Iran hiện đại khác là Ahmed Shamlou, người đã viết theo truyền thống thơ ca do Nima yoosij tiên phong. Thơ của ông đầy những điều tự nhiên. Ông sáng tác thơ vào những đêm kinh hoàng, nơi chỉ có sự im lặng tuyệt đối và tiếng ếch kêu. Ở đây, trong những bài thơ này, sự sụp đổ của màn đêm là một hiện tượng rất kỳ lạ, không có trong truyền thống Iran hoặc ít nhất là tôi chưa từng cảm nhận được. Điều này khiến ông có chút tách biệt nhưng một lần nữa, điều này có thể cảm nhận được trong các bài thơ của Arthur Rimbaud và Paul Verlaine. Verlaine trong những bài thơ của mình dường như đang mơ và chơi đùa với các biểu tượng. Và ở đây, Ông rất xúc động. Lửa trên lòng bàn tay ám chỉ và biểu thị điều gì thì khó nói. Ở đây, người đọc phải tuân theo các kích thích trực quan của riêng mình và rút ra ý nghĩa. Không thể tránh khỏi các triệu chứng ngụ ngôn trong bài thơ này. Đôi mắt của một cái cây là một ẩn dụ tuyệt vời. Ông cũng đã dịch và đọc Charles Baudelaire, người ít nhiều đã nói thơ theo truyền thống này. Khi nói đến các biểu tượng và ẩn dụ của Ông, chúng rất mới mẻ và được sử dụng với các biện pháp văn học có liên quan. Mặt trời là biểu tượng của ánh sáng và hy vọng nhưng khi mặt trời quá gần, nó có thể thiêu đốt bạn chỉ trong một lần quét và ở đây nhân vật chính của bài thơ vui mừng thông báo rằng mặt trời lặn vào tâm hồn anh ấy/cô ấy. Theo thứ tự tương tự, người ta có thể tìm thấy những ý nghĩa sâu sắc với những biểu tượng phong phú trong thơ của Ông. Ông đã xuất bản hai tập thơ cho đến nay. Nhưng tập đầu tiên phong phú hơn tập tiếp theo.

Một cách khác để hiểu thơ của Ông là hiểu rõ tính tương đối và chủ quan của chủ nghĩa hậu hiện đại. Khi có rất nhiều sự không chắc chắn trong thơ của Ông thì tại sao tôi không thể hiểu ông ấy dưới lăng kính của chủ nghĩa hậu hiện đại. Theo Britannica, chủ nghĩa hậu hiện đại là sự nghi ngờ chung về lý trí; và sự nhạy cảm sâu sắc với vai trò của hệ tư tưởng trong việc khẳng định và duy trì quyền lực chính trị và kinh tế. Theo nhà hậu cấu trúc và hậu hiện đại nổi tiếng, người tiên phong trong quá trình giải cấu trúc tư tưởng, Jacque Derrida, ý nghĩa của một văn bản luôn bị trì hoãn và không bao giờ tĩnh tại. Vì vậy, trong lĩnh vực thơ ca, ý nghĩa luôn trôi chảy và không thể kiểm soát một cách dễ dàng. Tương tự như vậy, Jean Francois Lyotard đã mô tả chủ nghĩa hậu hiện đại là

“sự hoài nghi đối với các siêu tự sự”.

Trong những bài thơ có nhiều sự không chắc chắn, bài thơ trở thành vấn đề của người đọc. Người đọc hiểu và tiếp nhận ý nghĩa như thế nào là tùy thuộc vào họ. Tuy nhiên, những chi tiết kỹ thuật của thơ là cần thiết trong một tác phẩm thơ tinh tế. Một điều mà tôi cảnh báo về chủ nghĩa hậu hiện đại là nó phá vỡ mọi siêu tự sự và ngồi trên đám tang của nó với một tư thế mỉa mai.

Tóm lại, có thể kết luận một cách an toàn rằng ý tưởng của ông tràn ngập các biểu tượng và những biểu tượng này khá mới mẻ và bất thường. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở hình thức và sự thiếu tính xác thực của nó.

Khi hình thức trở nên không xác thực thì sẽ xuất hiện sự không chắc chắn và người đọc bị mắc kẹt trong việc hiểu hình thức liên quan đến nội dung. Một bài thơ phải là bài thơ cuối cùng. Một bài thơ không được cho là dao động và rung lắc về bản chất. Đối với tôi, vẫn còn một số chiều kích để đọc và sau đó viết trong thơ của AR Dad. Đây là một số chiều kích mà tôi thấy hứng thú.

Tác giả là một sinh viên, sống tại Turbat. Anh ấy đăng tweet tại @shahabakram6 và có thể liên lạc qua shahabakram0852@gmail.com

Poetry in effect precedes prose. When humanity was on its embryonic course of evolution things were less mechanical and more spontaneous. If a band of sapiens were living in a wee settlement they heavily relied upon poetic rhymes and rhythm to optimally remember and smoothly carry out quite hard and challenging activities.
This simply means poetry makes for a very sagacious place in human history. Without poetry memory of sapiens would have not been where it is today. Humans can think enormously in poetic forms. He can learn a thousand lines within days of poetry but the same does not go for prose.

William Wordsworth the great English poet of romantic age says poetry cannot be composed under duress,

” the clear spring of poetry must flow freely and spontaneously it cannot be made to flow through artificially laid pipes.”

In a resplendent poetic mood poetry flows like a flowing river, nevertheless, it is not so that things are easy, there is a huge involvement of craft in poetry which works mechanically.

AR Dad, born in Gwadar, is a doyen of modern Balochi literature.

He writes on the first pages of his first collection of prose and free verse, at the time of dusk,

” poetry is my first love.”

Apart from poetry he has written extensively on modern Balochi poetry and its literary calibration. He is an anomalous short story writer who has resuscitated the form of short story in Balochi with a mixture of Kafkaesque and Gogolian pattern of thought. His translations are worthy as well. Truly as Fazal Baloch has written on the pages of daily times he is a versatile modernist. Notwithstanding that, what I think, is that he has a very serious predilection for post structuralism and postmodern way of breaking things and then poking fun at them.

AR dad is a great reader of T.S Eliot and Ezra pound; either of them were modernist who bridged the gap between the spell of john Donne and Words worth. Donne was eminent for his metaphysical poems. His imageries are complex and irregular. He departed from traditional and genteel verses and composed psychological and sexual realism in his works. It becomes hard to find Donne’s personality in his verses as there is an influx of metaphysics throughout his work. I don’t think AR dad is a poet in league with T.S Eliot and Ezra pound but he seems to be wildly influenced by the craft of Eliot and pound inasmuch as their craft sounds daunting and intimidating.

I find a deep personality immersion and concentration in AR Dad’s poetry. He is not impersonal in his poetry. The rush of poetry inundates him categorically. T.S Eliot was a propounder of impersonality in poetry. Eliot’s impersonal theory of poetry is that the poet, the man, and the artist are two different entities. Eliot writes in his book sacred wood,

” poetry is not a turning loose of emotion, but an escape from emotion; it is not the expression of personality, but an escape from personality.”

Tale of a night

I wonder

If it’s a shade drenched in mist

Or sand clad in blue

Rests on the grave of my dreams

The moon

Comes sailing in the boat of my lashes

Far away

The ocean tee scrawls the tale of the night

This poem prima facie ascertains that AR dad is more near modern Iranian poets who were led by Nima yooshij. Nima yooshij was the father of modern Iranian poems. He jotted down poems in symbolic terms extracting materials from nature, to wit trees, birds and the likes. Nima knew French and was greatly influenced by the pioneers of symbolic movement in French poetry. Arthur Rimbaud eminent for his surreal and transgressive themes was one of the poets who introduced symbolism to the world of literature. The thread is same with a few alterations. The line mentioned above,

” the boat of my lashes”

is a very teetering line with a lot of uncertainty. Initially it sounds to be metaphysical but with a close reading there unleashes some other cardinal dimensions.

The language of Dad’s poetry is uncertain and the idea on account of uncertainty becomes symbolic by default. AR dad always gives credit to idea and content rather than form. Russian formalists are more enamored of form than content. They believe that there is a huge distinction between form and content, and their focus was on the form or structure of a text rather than its content. On the contrary, writers of new American criticism believe that the form and content of the text are closely connected and cannot be analyzed separately. As mentioned above dad has a deep predilection for Eliot and pound therefore his poems are technically on the side of content not form. He writes in unstable and non-metrical rhythm and the form become flimsy and fragile and this greatly affect the foundations of content. Eliot and pound both cared about form as their poems are composed very painstakingly.

Dad says poetry to build a milieu and an ambience of different events as a collage. Noon Meem Rashid putatively the pioneer of free verse in Urdu literature once said in an interview that the nature of free verse is like a film which is completed after taking a plethora of different shots in different angles. The film once completed becomes a single entity. The same goes for Pablo Picasso. Prior Picasso there was a huge tradition of small details and exacting regulations how to paint but Picasso broke this rule and turned a new page in history of painting. Dad composes poetry taking shots and then tries to reconcile them and derive meaning. This way of composing poetry is a modern technique. But Dad many a times fails to reconcile and bring an air of deep relevancy in his free as well as prose verses. His command seems to loosen and then reins are out of his control. This disturbs the essentiality of the poem to the core. And the poem goes towards ambit of cliché. A poem is judged in its entirety and if a single line or an episode disturbs the essentiality then the poem is no more counted as a poem of high calibration. A great part of this caveat is that Dad focuses on content than the form which makes the poem and develops it.

The collapsed night

Night has collapsed

In the eyes of a tree

Very much like the fire

That crumbles on my palms

Very much like the sun

That goes down into my soul!

Dad also seems to be very much influenced by another modern Iranian poet Ahmed shamlou who wrote in the poetic tradition pioneered by Nima yoosij. His poems are full of natural things. He composes poems on dreadful nights where there is sheer silence and a frog crocking. Here in this poems the collapse of night is a very strange phenomenon which is not there is Iranian tradition or at least I have not felt it. This makes him a wee bit separate but yet again this can be felt in poems of Arthur Rimbaud and Paul Verlaine. Verlaine in his poems seems to be in a dream playing with symbols. And here Dad is very much in a sensation. What does fire on the palm connote and signify is difficult to say. Here reader has to follow his own intuitive stimuli and derive meaning. Allegorical symptoms cannot be avoided in this poem. Eyes of a tree is a great allegory. Dad has also translated and read Charles Baudelaire who more or less had said poetry in this tradition. When it comes to symbols and metaphors of Dad they are refreshing and employed with relevant literary devices. The sun is a symbol of light and hope but when the sun is too nigh it can burn you in one swoop and here the protagonist of the poem is happy to announce that the sun goes down into his/her soul. In the similar order, one can find deep meanings with rich symbols in Dad’s poetry. He has published two collection of poems so far. But the first book is richer than the following one.

One other way to understand Dad’s poetry is to well understand the relativity and subjectivism of postmodernism. When there is a lot of uncertainty in Dad’s poetry then why should not I understand him in prism of postmodernism. According to Britannica postmodernism is a general suspicion of reason; and an acute sensitivity to the role of ideology in asserting and maintaining political and economic power. As per the famed post structualist and post-modernist who pioneered the thought deconstruction, Jacque Derrida, meaning of a text is always deferred and never static. So in the realm of poetry meaning is always in a flow and cannot be controlled effortlessly. In the similar fashion, Jean Francois Lyotard famously described postmodernism as the,

” incredulity towards metanarratives.”

In poems with a lot of uncertainty the poem becomes a matter of reader. It is on reader how he understands and takes meaning. Nevertheless, the technicalities of poetry are necessary in a refined piece of poetry. The one thing that is a caveat for me vis-a-vis postmodernism is that it breaks every metanarrative and sits on its funeral with a sardonic posture.

In conclusion it is safe to wind up by saying that dad’s ideas are brimming with symbols and these symbols are quite fresh and anomalous. However, the problem is in the form and the lack of its authenticity.

When form becomes inauthentic then there comes uncertainty and reader stucks in making sense of the form as regards content. A poem should be final. A poem is not supposed to be teetering and shaking in essence. For me there are yet several dimensions to read and then write in AR Dad’s poetry. These were some which aroused by interest.

The writer is a student, based in Turbat. He Tweets at @shahabakram6 and can be reached at shahabakram0852@gmail.com
Source link 

Human Survival Technology in the Age of Covid-19

A new human being will emerge in the post-Covid-19 world | ORF

Human Survival Technology in the Age of Covid-19 
Công nghệ sinh tồn của con người trong kỷ nguyên Covid-19

by Professor Robert David Pope scienceartcentre@gmail.com


28 August 2021

Plato’s Science-Art concept of women having equal power with men in economic government to instigate an educational system within his Republic for the health and well being of humanity’s children was an irrational idea.

Global tribal subatomic science, dedicated to the the development of weapons of mass destruction associated with the Science-Art of war, had no rational moral commitment for other tribes’ children. This became a neurological disease when DNA during the 1950s demonstrated that human tribes belong to a single species dedicated to harming itself.
Over a lifetime I have published some 200 papers toward rectifying this situation. Most can be located via Academia.edu and EzineArticles in which I obtained a recognized academic status as a Science-Artist.
From that perspective the prevailing global educational system is upheld by a diseased
neurological mathematical worldview. In 1989 the Thalian Mental Heath Organization in the USA promoted my observation that the mathematician, Rene Descartes, had introduced a serious psychopathic disease into global tribal science. Nonetheless, at that time it simply
conformed with the survival of the fittest law observable in nature up until DNA revealed that evolution was evolving universal mathematical Science-Art consciousness to infinity.

In 1984 the Nobel Laureate in Medicine, David Hubel, endorsed the opinion of the neurologist, Antonio Damasio, who in his book, Descartes’ Error – Emotion, Reason and the Human Brain, diagnosed Descartes as having an unstable psychopathic mentality, which had brought about great harm by misinforming neurological medical science. Einstein’s subatomic worldview, having been built upon Descartes’ diseased understanding of total reality, had no option but to inspire Oppenheimer to help build the atomic bomb before Hitler’s Science-Art of war, nuclear physicist, Heisenberg did so.

Plato used Anaxagoras’ invention of infinite electromagnetic fractal geometrical mathematical logic as a property of gravitational force associated with white light evolving toward infinity, away from the dark abyss of chaos. His electromagnetic Science-Art to balance the forces of nature was picked up by Isaac Newton who denounced his mass of objects in space as the first-cause of gravity. He then linked gravity to Plato’s neurological understanding of evolving reality being connected to his 3rd Law of subatomic motion of equal and opposite reaction. Very few scientists know about Newton’s published subatomic colour particle reality controlling the evolution of infinite consciousness.
In 1915 Einstein, in his Introduction to Newton’s long ignored book, OPTIKS, made an intuitive but vague appraisal of Newton’s subatomic colour particle reality being more important than his famous mechanistic book Principia. Unfortunately, modern day mathematicians are still imprisoned within Plato’s Parody of the Cave demanding obedience to the illusory obsolete mathematical Science-Art of war that is now transposing itself into its evolutionary counterpart of universal reality.
To expose this now obsolete masculine Science-Art of war academic gobbledygook to women who have motherly compassion for children, the following may be of some help.
When a person wants to move, say some 20 kilometres way from their home, many simply get into a car, switch on the electromagnetic ignition key providing mechanical movement at their disposal. Emotional neurological balancing of this mechanistic movement is biological, not mechanical. Each morning a subatomic electromagnetic spark from the heart to the brain instigates both mechanical and emotional balancing awareness until the time for sleeping arrives.
Emotional thought-form activity in sleep evolves cerebral emotional activity when awakening, conditioning the human species to cope with the prevailing warlike compulsion to obey the now obsolete tribal commitment to participate in harming itself. During the 1980s the world’s largest scientific research institute, IEEE, reprinted the Centre’s use of Anaxagoras’ electromagnetic infinity mathematics to prove that the life-force was evolving to infinity, as the Plato-Newton human survival technology advocated. This was acclaimed as an optical mathematical discovery belonging to the great scientific discoveries of the 20th Century, placed alongside such names as Louis Pasteur and Francis Crick. However, prevailing tribal science never deviated an iota from its obsession to generate entropic global chaos. Modern medical science remains infected with Descartes’ neurologically diseased mathematical virus.

Nature, aware of the life-force evolving to infinity cannot possibly tolerate our totally diseased monetary devotion to the now obsolete second law of thermodynamics, demanding the extinction of all life in the universe. In 1996 the Science-Art Centre published that a global pandemic must come into existence to collapse our diseased monetary system.
Covid-19 is just the beginning of that collapse. The following evidence explains that while we use mechanical motion to uphold our neurologically diseased state of existence, the PlatoNewton human survival technology is being systematically ignored by neurological medical science as the Nobel Laureate in Neurological Medicine, David Hubel, stated in 1994.
When asymmetric electromagnetic glasses are used to view the Science-Art Centre’s collection of artwork and outer-space photographs, instantly holographic images showing colour curvature through a multidimensional background are revealed. Newton’s subatomic colour particle movement alongside these holographic images immediately resolves the Heisenberg uncertainty principle. In the 19th Century, Charles Wheatstone, the inventor of the stereoscope, wrote that Leonardo da Vinci’s mechanistic Science-Art mathematical genius had not evolved to that state of Science-Art neurological awareness. In Wheatstone’s obituary published by the journal Nature, he is credited with resolving Leonardo’s mathematical inadequacy though philosophical reasoning.
Let it be commonly known that on December 4, 2020, the Centre was internationally recognized for resolving the Heisenberg uncertainty principle and during 2021 discovering that electromagnetic white-light images, when illuminated by black light, instantly decoded Plato-Newton gravitational colour particle subatomic reality information. This discovery is the fundamental human survival key allowing human access to a multidimensional technological reality rather than by attempting to use the Science-Art of war’s illusory logic of chaotic reality to try and escape destructive climate change.
The Centre’s senior Mathematician Physicist, Dr Mark Moody’s discoveries increasing the magnitude of viewing Science-Art wave functioning reality one hundred times more efficiently than by using electromagnetic glasses, and the use of the Anaxagoras-Pope electromagnetic space-time reality being developed the Centre’s scientific analyst of the Plato-Newton human survival technology, must no longer be ignored by the prevailing diseased monetary system. The Centre’s Science-Art curator, Bob Stainlay, has been familiar with the Centre’s valuable Science-Art collection for some 25 years. He is now responsible for the administration of its fund raising potential to develop the Plato-Newton human survival technology. The Centre is researching this crucial Science-Art technology in partnership with the International Academy MAQ IAMAQ Movimento Arte Quantistica Milano Italy, endorsed by a Scientific Division of the Republic of Italy.

Khái niệm Khoa học-Nghệ thuật của Plato về việc phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong chính phủ kinh tế để thúc đẩy một hệ thống giáo dục trong nước Cộng hòa của ông vì sức khỏe và hạnh phúc của trẻ em nhân loại là một ý tưởng phi lý.

Khoa học hạ nguyên tử bộ lạc toàn cầu, chuyên phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt gắn với Khoa học-Nghệ thuật chiến tranh, không có cam kết hợp lý về mặt đạo đức đối với con người của các dân tộc khác. Đây đã trở thành một căn bệnh thần kinh khi DNA trong những năm 1950 chứng minh rằng các bộ lạc loài người thuộc về một loài duy nhất chuyên tự làm hại bản thân.

Trong suốt cuộc đời, tôi đã xuất bản khoảng 200 bài báo để khắc phục tình trạng này. Hầu hết có thể được tìm thấy thông qua Academia.edu và EzineArticles, trong đó tôi đã đạt được trạng thái học tập được công nhận với tư cách là một Khoa học-Nghệ sĩ.

Từ quan điểm đó, hệ thống giáo dục toàn cầu đang thịnh hành được duy trì bởi một bệnh thế giới quan toán học thần kinh. Năm 1989, Tổ chức Thalian Mental Heath ở Hoa Kỳ đã thúc đẩy quan sát của tôi rằng nhà toán học, Rene Descartes, đã đưa một căn bệnh tâm thần nghiêm trọng vào khoa học bộ lạc toàn cầu. Tuy nhiên, tại thời điểm đó nó chỉ đơn giản là phù hợp với sự tồn tại của quy luật phù hợp nhất có thể quan sát được trong tự nhiên cho đến khi DNA tiết lộ rằng sự tiến hóa đang phát triển ý thức Khoa học-Nghệ thuật toán học phổ quát đến vô tận.

Năm 1984, người đoạt giải Nobel Y học, David Hubel, đã tán thành ý kiến ​​của nhà thần kinh học, Antonio Damasio, người trong cuốn sách của mình, Lỗi của Descartes – Cảm xúc, lý trí và bộ não con người, đã chẩn đoán Descartes có một tâm lý thái nhân cách không ổn định, điều này đã dẫn đến về tác hại lớn do thông tin sai lệch về khoa học y tế thần kinh. Thế giới quan hạ nguyên tử của Einstein, được xây dựng dựa trên sự hiểu biết lệch lạc của Descartes về thực tại toàn phần, không còn cách nào khác ngoài việc truyền cảm hứng cho Oppenheimer giúp chế tạo bom nguyên tử trước khi Khoa học-Nghệ thuật chiến tranh của Hitler, nhà vật lý hạt nhân, Heisenberg làm như vậy.

Plato đã sử dụng phát minh của Anaxagoras về logic toán hình học fractal điện từ vô hạn như một thuộc tính của lực hấp dẫn liên kết với ánh sáng trắng phát triển về phía vô cùng, tránh xa vực thẳm tối tăm của sự hỗn loạn. Khoa học-Nghệ thuật điện từ của ông để cân bằng các lực tự nhiên đã được Isaac Newton chọn, người đã tố cáo khối lượng vật thể trong không gian của ông là nguyên nhân đầu tiên của lực hấp dẫn. Sau đó, ông liên kết lực hấp dẫn với sự hiểu biết thần kinh của Plato về thực tế đang phát triển được kết nối với Định luật thứ 3 về chuyển động hạ nguyên tử của phản ứng cân bằng và ngược chiều. Rất ít nhà khoa học biết về thực tế hạt màu hạ nguyên tử đã được công bố của Newton kiểm soát sự tiến hóa của ý thức vô hạn.

Năm 1915, Einstein, trong phần Giới thiệu về cuốn sách bị bỏ qua từ lâu của Newton, OPTIKS, đã đánh giá trực quan nhưng mơ hồ về thực tại hạt màu hạ nguyên tử của Newton là quan trọng hơn cuốn sách cơ học nổi tiếng Principia của ông. Thật không may, các nhà toán học ngày nay vẫn bị giam cầm trong Plato’s Parody of the Cave, đòi hỏi phải tuân theo Khoa học-Nghệ thuật toán học lỗi thời hão huyền, hiện đang chuyển mình thành đối tác tiến hóa của thực tại vũ trụ.

Để vạch trần sự nam tính (nhận biết: chú thích của người dịch) nay đã lỗi thời Khoa học-Nghệ thuật chiến tranh ngổ ngáo của những người phụ nữ có lòng nhân ái đối với con cái, những điều sau đây có thể hữu ích.

Khi một người muốn di chuyển, chẳng hạn như cách nhà của họ khoảng 20 km, nhiều người chỉ cần vào ô tô, bật khóa điện từ để cung cấp chuyển động cơ học theo ý của họ. Cân bằng thần kinh cảm xúc của chuyển động cơ học này là sinh học, không phải cơ học. Mỗi buổi sáng, một tia điện từ hạ nguyên tử từ tim đến não kích thích nhận thức cân bằng cả cơ học và cảm xúc cho đến khi đến giờ đi ngủ.

Hoạt động dạng suy nghĩ cảm xúc trong giấc ngủ phát triển hoạt động cảm xúc của não khi thức giấc, điều chỉnh loài người để đối phó với sự ép buộc hiếu chiến đang thịnh hành để tuân theo cam kết của bộ tộc đã lỗi thời để tham gia vào việc tự gây hại cho bản thân. Trong những năm 1980, viện nghiên cứu khoa học lớn nhất thế giới, IEEE, đã in lại cách sử dụng toán học vô cực điện từ của Anaxagoras của Trung tâm để chứng minh rằng sinh lực đang phát triển đến vô cùng, như công nghệ sinh tồn của con người Plato-Newton đã ủng hộ. Đây được hoan nghênh như một khám phá toán học quang học thuộc về những khám phá khoa học vĩ đại của thế kỷ 20, được đặt cùng với những tên tuổi như Louis Pasteur và Francis Crick. Tuy nhiên, khoa học bộ lạc thịnh hành chưa bao giờ lệch iota khỏi nỗi ám ảnh của nó là tạo ra hỗn loạn toàn cầu entropi. Khoa học y tế hiện đại vẫn bị nhiễm virus toán học gây bệnh thần kinh của Descartes.

Thiên nhiên, nhận thức được sinh lực đang phát triển đến vô cùng không thể dung thứ cho sự sùng kính hoàn toàn bệnh hoạn của chúng ta đối với định luật nhiệt động lực học thứ hai đã lỗi thời, đòi hỏi sự tuyệt chủng của tất cả sự sống trong vũ trụ. Năm 1996, Trung tâm Khoa học-Nghệ thuật đã công bố rằng một đại dịch toàn cầu phải tồn tại để làm sụp đổ hệ thống tiền tệ tệ hại của chúng ta.

Covid-19 chỉ là sự khởi đầu của sự sụp đổ đó. Bằng chứng sau đây giải thích rằng trong khi chúng ta sử dụng chuyển động cơ học để duy trì trạng thái tồn tại bệnh thần kinh của mình, công nghệ sinh tồn của con người Plato Newton đang bị khoa học y tế thần kinh phớt lờ một cách có hệ thống như người đoạt giải Nobel Y học thần kinh, David Hubel, đã tuyên bố vào năm 1994.

Khi kính điện từ không đối xứng được sử dụng để xem bộ sưu tập tác phẩm nghệ thuật và ảnh chụp ngoài không gian của Trung tâm Khoa học-Nghệ thuật, hình ảnh ba chiều ngay lập tức hiển thị độ cong màu qua nền đa chiều sẽ được hiển thị. Chuyển động của hạt màu hạ nguyên tử của Newton cùng với những hình ảnh ba chiều này giải quyết ngay lập tức nguyên lý bất định Heisenberg. Vào thế kỷ 19, Charles Wheatstone, người phát minh ra kính soi nổi, đã viết rằng thiên tài toán học Khoa học-Nghệ thuật cơ học của Leonardo da Vinci đã không phát triển đến trạng thái nhận thức thần kinh Khoa học-Nghệ thuật đó. Trong cáo phó của Wheatstone được xuất bản bởi tạp chí Nature, ông được ghi nhận là người đã giải quyết sự bất cập về toán học của Leonardo thông qua lý luận triết học.

Thông thường, vào ngày 4 tháng 12 năm 2020, Trung tâm đã được quốc tế công nhận vì đã giải quyết được nguyên lý bất định Heisenberg và trong năm 2021 đã phát hiện ra rằng các hình ảnh ánh sáng trắng điện từ, khi được chiếu sáng bằng ánh sáng đen, được giải mã ngay lập tức thực tế hạt hạ nguyên tử màu hấp dẫn Plato-Newton thông tin. Khám phá này là chìa khóa sinh tồn cơ bản của con người cho phép con người tiếp cận với thực tế công nghệ đa chiều thay vì cố gắng sử dụng logic ảo tưởng của Khoa học-Nghệ thuật chiến tranh về thực tế hỗn loạn để cố gắng thoát khỏi sự biến đổi khí hậu có tính hủy diệt.

Nhà vật lý toán học cao cấp của Trung tâm, Tiến sĩ Mark Moody, những khám phá của ông đã làm tăng cường độ của việc xem sóng Khoa học-Nghệ thuật hoạt động hiệu quả hơn gấp trăm lần so với việc sử dụng kính điện từ và việc sử dụng thực tế không-thời gian điện từ Anaxagoras-Pope đang được khoa học của Trung tâm phát triển. nhà phân tích về công nghệ sinh tồn của con người Plato-Newton, không còn bị bỏ qua bởi hệ thống tiền tệ bệnh hoạn đang thịnh hành. Người phụ trách Khoa học-Nghệ thuật của Trung tâm, Bob Stainlay, đã quen thuộc với bộ sưu tập Khoa học-Nghệ thuật có giá trị của Trung tâm trong khoảng 25 năm. Giờ đây, ông chịu trách nhiệm quản lý tiềm năng gây quỹ để phát triển công nghệ sinh tồn của con người Plato-Newton. Trung tâm đang nghiên cứu công nghệ Khoa học-Nghệ thuật quan trọng này với sự hợp tác của Học viện Quốc tế MAQ IAMAQ Movimento Arte Quantistica Milano Ý, được xác nhận bởi Bộ phận Khoa học của Cộng hòa Ý.

 

Ashley Jones appointed first Black poet laureate of Alabama

Source: Amarr Croskey / Courtesy of Ashley M. Jones
Source: Amarr Croskey / Courtesy of Ashley M. Jones
Alabama has appointed its first-ever Black poet laureate. Ashley Jones will also be the youngest laureate to date at 31 years old. The Birmingham native has published three books of poems in the past five years.

“When I read a poem, for example, about George Wallace or the civil rights movement, or even the Black Lives Matter movement of today, the poem itself, the art form, sometimes gives listeners a different door to walk through to access what I’m saying,” Jones said.

More than anything, she believes in the power of words.

“If I were just to stand up and recite the history, people may still hold on to their own biases or their own beliefs more strongly. But if I come with art first, sometimes that opens people up in a way they’re able to actually have a conversation and listen to someone else’s experience. I think that’s crucial for Alabama if we are really going to reckon with our place in history and where we’re going,” she said.

Jones said her relationship with Alabama has evolved over the years.

“I think a lot of us who grow up here have sort of a love-hate relationship with the South. It wasn’t until I left to go to Miami for graduate school that I realized, wait a minute, I love the South. I love Alabama,” she said. “I realized that loving a place doesn’t mean that I ignore things that are wrong with it. I definitely wouldn’t be the poet that I am without being from Alabama.”

That love-hate relationship is reflected in Jones’ writing. Below is an excerpt from her poem “All Y’all Really From Alabama.”

this       here       the      cradle      of      this      here
nation—everywhere  you   look,  roots   run   right
back  south.  every  vein filled with red dirt, blood,
cotton.   we   the   dirty  word  you  spit  out   your
mouth.  mason  dixon  is  an  imagined  line—you
can  theorize  it, or wish it real, but  it’s  the  same
old  ghost—see-through,   benign.   all   y’all  from
alabama;  we  the wheel  turning  cotton  to make
the nation move. we the scapegoat in a land built
from death. no longitude or latitude disproves
the truth of founding fathers’ sacred oath:
we hold these truths like dark snuff in our jaw,
Black oppression’s not happenstance; it’s law.

Ashley Jones, "All Y'all From Alabama"

Despite the state’s shaky civil rights history, the poet is clearly interested in the Alabama’s history and future.

Kwoya Fagin Maples is a close friend and collaborator of Ashley Jones.

“I would describe her writing style as always intentional,” she said. “It is immediate in terms of its impact and it’s always evocative and it’s always very kind of tight looking at it on the page. You’re always like, ‘How did she do this?’”

Fagin Maples and Jones met while teaching at the Alabama School of Fine Arts in Birmingham. The faculty and staff call it ASFA for short. Maples said Jones is a true servant leader.

“She’s a very kind person. She’s the kind of person who shows up. She works tirelessly. Sometimes she works a bit too much,” Fagin Maples said. “She’s just the kind of person who, once she sets her mind on something, she does it, but also she helps people accomplish their own goals and their own dreams.”

Jones’ students agree. Katy Hargett was Jones’ student for four years at ASFA.

“Ashley just really empowers us to be the best poets and the best writers that we can be. She helps us engage in the texts in a way that’s just really novel and refreshing. She really makes you believe in yourself as a poet as well,” Hargett said.

Jones is an organizer as well as a teacher. She created the Magic City Poetry Festival in 2018. The annual celebration of Birmingham-born literature and art has grown by leaps and bounds since then. Jacqueline Trimble, a poet and professor at Alabama State University, spoke at the first Magic City Poetry Festival.

“She had everything from poetry reading, poetry slams, public discussions in all these different venues around Birmingham. I thought, ‘This is amazing!’ And then the fact that she got funding and she got buy-in from Pen America was, to me, astonishing,” Trimble said. “It’s very difficult to not only get an audience, but also to get financial support for that. In her very first year, she did this extraordinary job and it’s just grown every year since then.”

Ashley Jones

Southern Foodways Alliance

Jones came back to Alabama after getting her Master’s in creative writing at Florida International University. Although she’s the youngest Alabama poet laureate, her supporters say her experience with events like Magic City Poetry Festival makes her well suited for the position.

Those supporters include Jacqueline Trimble. She was on the selection committee for the new poet laureate. Trimble thinks Jones is the perfect fit.

“Ashley’s ability to champion writers of all races and ethnicities and religions, and to make connections all over the state,” she said. “Because she knows everybody. She sort of knows everybody from Huntsville to Mobile and everybody in between and she sees the beauty of their work. I think that’s what a poet laureate needs to do. A poet laureate needs to express the best of the writing life in their state, and I think Ashley has always done that.”

Jones’ appointment is historic as well. She will be the first-ever Black poet laureate and the youngest to serve in the role. Fagin Maples said it exhibits Alabama’s progress in recent years.

“I think that it is wonderful for Alabama–for the rest of the country to see who Alabama is reverencing and promoting–it being a Black woman is just a fantastic thing,” she said. “Racism exists everywhere in this country. Alabama often is kind of put into this box, but as far as the message that it sends to the rest of our country, it makes it a safer place for other people of color, the fact that she is poet laureate.”

Jones started writing poetry at the age of 7. She hasn’t stopped since. To her, poetry is everything.

“Poetry is so much bigger than just a classroom. It’s so much bigger than just a stage. It’s really about the people who love it and who write it. I’m hoping that I’m able to do that work during my four years,” she said.

Jones hopes to champion all forms of creativity as poet laureate. She says art is the root of empathy.

“The poet Audre Lorde said, very famously, that poetry is not a luxury. If you are a human, you need poetry,” Jones said. “And by poetry she didn’t mean just what’s on the page. She means that lifegiving power that’s in all of us, that urge to create.”

Jones will officially become Alabama’s new poet laureate later this year. She’ll serve the state until 2026.


Source: Amarr Croskey / Courtesy of Ashley M. Jones
Source: Amarr Croskey / Courtesy of Ashley M. Jones

Alabama đã bổ nhiệm nhà thơ da đen đầu tiên đạt giải thưởng này.. Ashley Jones cũng sẽ là người trẻ nhất đạt giải thưởng này cho đến nay ở tuổi 31. Cô gái gốc Birmingham này đã xuất bản ba tập thơ trong năm năm qua.

“Ví dụ, khi tôi đọc một bài thơ về George Wallace hay phong trào dân quyền, hay thậm chí là phong trào Black Lives Matter ngày nay, thì bản thân bài thơ, hình thức nghệ thuật, đôi khi mở ra cho người nghe một cánh cửa khác để bước qua và tiếp cận những gì tôi muốn truyền tải,” Jones chia sẻ.

Hơn hết, cô tin vào sức mạnh của ngôn từ.

“Nếu tôi chỉ đứng lên và kể lại câu chuyện lịch sử, mọi người có thể vẫn bám chặt vào những định kiến ​​hoặc niềm tin của riêng họ. Nhưng nếu tôi đưa nghệ thuật vào trước, đôi khi điều đó sẽ mở ra cho mọi người cơ hội trò chuyện và lắng nghe trải nghiệm của người khác. Tôi nghĩ điều đó rất quan trọng đối với Alabama nếu chúng ta thực sự muốn nhìn nhận vị trí của mình trong lịch sử và hướng đi của mình,” cô nói.

Jones cho biết mối quan hệ của cô với Alabama đã phát triển qua nhiều năm.

“Tôi nghĩ rất nhiều người trong số chúng ta lớn lên ở đây có một mối quan hệ vừa yêu vừa ghét với miền Nam. Mãi cho đến khi tôi rời đi Miami để học cao học, tôi mới nhận ra, khoan đã, tôi yêu miền Nam. Tôi yêu Alabama,” cô nói. “Tôi nhận ra rằng yêu một nơi không có nghĩa là tôi bỏ qua những điều không ổn ở đó. Tôi chắc chắn sẽ không thể trở thành một nhà thơ như ngày hôm nay nếu không đến từ Alabama.”

Mối quan hệ yêu-ghét đó được phản ánh trong tác phẩm của Jones. Dưới đây là một đoạn trích từ bài thơ “Tất cả các bạn thực sự đến từ Alabama.”

Đây, cái nôi của quốc gia này
—bất cứ nơi nào bạn nhìn, rễ cây đều bắt nguồn
từ miền Nam. Mọi mạch máu đều chứa đầy đất đỏ, máu,
bông. Chúng tôi là lời nói tục tĩu mà bạn thốt ra
từ miệng. Mason Dixon là một câu thoại tưởng tượng—bạn
có thể lý thuyết hóa nó, hoặc ước nó thành sự thật, nhưng nó vẫn là
bóng ma cũ kỹ ấy—trong suốt, hiền lành. Tất cả các bạn đến từ
Alabama; chúng tôi là bánh xe quay bông để
đưa
quốc gia này chuyển động. Chúng ta là vật tế thần trên một vùng đất được xây dựng
từ cái chết. Không kinh độ hay vĩ độ nào bác bỏ
sự thật trong lời thề thiêng liêng của những người sáng lập:
Chúng ta giữ những sự thật này như một liều thuốc phiện đen trong hàm,
Sự áp bức của người da đen không phải là ngẫu nhiên; đó là luật lệ.

Ashley Jones, “Tất cả các bạn đến từ Alabama”

Mặc dù lịch sử dân quyền của tiểu bang này không mấy vững chắc, nhà thơ rõ ràng vẫn quan tâm đến lịch sử và tương lai của Alabama.

Kwoya Fagin Maples là bạn thân và cộng sự của Ashley Jones.

“Tôi sẽ mô tả phong cách viết của cô ấy là luôn có chủ đích,” cô nói. “Nó tạo ra tác động tức thời, luôn gợi cảm xúc và luôn rất gần gũi khi nhìn vào trang giấy. Bạn luôn tự hỏi, ‘Làm thế nào cô ấy làm được điều này?’”

Fagin Maples và Jones gặp nhau khi đang giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Alabama ở Birmingham. Các giảng viên và nhân viên gọi tắt là ASFA. Maples nói rằng Jones là một nhà lãnh đạo phục vụ thực thụ.

“Cô ấy là một người rất tốt bụng. Cô ấy là kiểu người luôn sẵn sàng hỗ trợ. Cô ấy làm việc không biết mệt mỏi. Đôi khi cô ấy làm việc hơi quá sức,” Fagin Maples nói. “Cô ấy là kiểu người mà một khi đã quyết tâm làm điều gì thì sẽ làm, nhưng cô ấy cũng giúp mọi người đạt được mục tiêu và ước mơ của riêng họ.”

Các học trò của Jones cũng đồng tình. Katy Hargett đã là học trò của Jones trong bốn năm tại ASFA.

“Ashley thực sự truyền cảm hứng cho chúng tôi để trở thành những nhà thơ và nhà văn xuất sắc nhất có thể. Cô ấy giúp chúng tôi đắm chìm vào văn bản theo một cách thực sự mới mẻ và sảng khoái. Cô ấy cũng thực sự khiến bạn tin tưởng vào chính mình với tư cách là một nhà thơ,” Hargett nói.

Jones vừa là một nhà tổ chức vừa là một giáo viên. Cô đã sáng lập ra Lễ hội Thơ Thành phố Kỳ diệu vào năm 2018. Lễ hội thường niên tôn vinh văn học và nghệ thuật Birmingham đã phát triển vượt bậc kể từ đó. Jacqueline Trimble, một nhà thơ và giáo sư tại Đại học Bang Alabama, đã phát biểu tại Lễ hội Thơ Thành phố Kỳ diệu đầu tiên.

“Cô ấy đã làm được mọi thứ, từ đọc thơ, tham gia các buổi thi thơ, thảo luận công khai tại tất cả các địa điểm khác nhau quanh Birmingham. Tôi đã nghĩ, ‘Thật tuyệt vời!’ Và rồi việc cô ấy nhận được tài trợ và sự ủng hộ từ Pen America, đối với tôi, thật đáng kinh ngạc,” Trimble nói. “Rất khó để không chỉ thu hút được khán giả mà còn nhận được hỗ trợ tài chính cho việc đó. Ngay trong năm đầu tiên, cô ấy đã làm công việc phi thường này và nó cứ thế phát triển mỗi năm kể từ đó.”

Liên minh Thực phẩm Miền Nam

Jones trở về Alabama sau khi lấy bằng Thạc sĩ Sáng tác Sáng tạo tại Đại học Quốc tế Florida. Mặc dù là nhà thơ đoạt giải thưởng trẻ tuổi nhất của Alabama, những người ủng hộ cô cho biết kinh nghiệm của cô với các sự kiện như Lễ hội Thơ Magic City khiến cô rất phù hợp với vị trí này.

Những người ủng hộ đó bao gồm Jacqueline Trimble. Cô từng là thành viên của ủy ban tuyển chọn cho nhà thơ đoạt giải thưởng mới. T

Source linkThe South Still Got Something To Say: Ashley M. Jones Becomes The First Black Poet Laureate In Alabama History | https://madamenoire.com/videos/listen-to-black-women-election-special-w-stacey-abrams-latosha-brown/