Trang chủ Blog Trang 10

Thơ tân hình thức, trải nghiệm và chiêm nghiệm

All I Could do Was Sit and Collect Dust by Jonathan Mayhew has been shortlisted for the Zurich Portrait Prize 2021
All I Could do Was Sit and Collect Dust by Jonathan Mayhew has been shortlisted for the Zurich Portrait Prize 2021
Phạm thị Anh Nga (Huế)

Tôi tiếp xúc với thơ tân hình thức cách đây chừng mười, mười một năm. Có lẽ khá muộn so với nhiều người, nhưng có lẽ cũng là sớm đối với không ít kẻ khác. Và dù đã có thơ được xem là có phong cách tân hình thức, song tôi chưa bao giờ có ý thậm xưng, tự nhận mình là một nhà thơ tân hình thức.

Vả chăng, chưa một lần tôi tự xem mình là “nhà thơ”, do xưa nay tôi vẫn e ngại và dè dặt trước thế giới văn chương. Với tôi thơ chỉ như một phương cách để trải lòng, tự giãi bày, để ghi lại cho mình từng phút giây, mảng đời, dấu ấn, từng xúc cảm riêng. Thi thoảng cũng có thơ đăng báo, khiêm tốn xuất hiện trên các báo, tạp chí, các tuyển tập thơ, với tên thật hoặc kín đáo ẩn sau một bút danh. Nhưng ngay cả khi đã tự xuất bản một tập thơ riêng, tôi cũng chưa từng cảm thấy mình là nhà thơ, gắn với nghiệp thơ.

Khoảng đầu năm 2003, sau khi những số Tạp chí Thơ do anh Đặng Tiến trực tiếp gửi về Huế cho tôi bị chặn ở Hải quan TSN và bị “tịch thu” (!), thậm chí tôi suýt phải nộp tiền phạt với “tội danh” nhận những tài liệu văn hóa trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam (trong khi tôi chưa được thấy, chưa biết mặt mũi các cuốn ấy ngang dọc ra làm sao), thì may mắn thay, sau đó một số cuốn khác cũng do anh Đặng Tiến gửi nhưng nhờ anh Nguyễn Văn Thọ chuyển từ Hà Nội vào Huế cho tôi, và tôi đã nhận được. Câu chuyện bi hài nói trên khá dài, khá oái oăm, tôi sẽ kể vào một dịp khác. Chỉ thêm ở đây một chi tiết: hồi đó anh Đặng Tiến giận lắm, đòi làm cho ra lẽ câu chuyện vô lý trên của Hải quan TNS nhưng tôi không muốn dây dưa thêm nữa nên đã khuyên thôi.

Nhưng, nói cho đúng ra, đó chưa hẳn là lần đầu tiên tôi “bắt gặp” thơ tân hình thức Việt. Trước đó, mặc dù internet còn chưa thật phổ biến và chưa dễ dàng truy cập thông tin về các dòng thơ, các phong cách thơ đương đại như bây giờ, và phần lớn thơ văn sáng tác được biết đến chủ yếu qua sách báo in ấn, nhưng những dịp đi học và công tác ở Pháp, tôi đã tìm đọc và ít nhiều bắt gặp những giọng thơ lạ, trong các số báo hay tạp chí tiếng Việt có uy tín ở nước ngoài, như tạp chí Hợp Lưu chẳng hạn. Tuy vậy, hiện tượng Tạp chí Thơ của anh Khế Iêm quả thật rất đáng chú ý, đặc biệt qua sự giới thiệu đầy nhiệt tâm của anh Đặng Tiến. Tuy cổ xúy cho thơ tân hình thức, nhưng tạp chí cũng giới thiệu hầu hết mọi giọng điệu, phong cách thơ, từ nhiều nguồn, nhiều trào lưu, trường phái, xưa và nay.

Và trong tình trạng khá là hỗn mang đó, tôi thực sự mù mờ về những gì là đặc trưng, cách viết một bài thơ tân hình thức. Chỉ biết đọc ngấu nghiến các số tạp chí, thỏa tò mò, thấy thú vị, và có cái thì thích (thậm chí rất thich) và có cái thì … chưa, nếu không muốn nói là … dị ứng! Ấn tượng và thu hút tôi hơn cả có lẽ là các bài thơ của Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Khế Iêm và Đỗ Kh.. Những câu chuyện rất đời thường lại được đưa vào thơ, rất duyên, theo cái cách là lạ, mà khi vận dụng những kiến thức liên quan đến các thể thơ, vần điệu, nhịp điệu, nhạc tính, ngôn ngữ thơ, truyện kể … đã được học trong nhà trường hay tích lũy ít nhiều sau đó để dạy văn học, tôi liên tưởng đến những chi tiết nho nhỏ trong cuộc sống thực của mình vào thời điểm đó, và có ý định thử nghiệm. Và thế là bài “con trai bé bỏng của tôi” được hình thành. Ít lâu sau anh Đặng Tiến hào hứng chuyển nó cho nhà thơ Khế Iêm, và bài thơ đã được đăng ở Tạp chí Thơ số 26, số Mùa Xuân 2004, cùng với một bài thơ khác của tôi, một bài “lục bát biến thể”. Bài thơ về con trai ấy đã được anh Đặng Tiến khẳng định đúng là một bài thơ tân hình thức. Họa sĩ Đinh Cường, tác giả của nhiều bài thơ tân hình thức rất hay, rất đời, cũng tỏ vẻ thích nó, trong khi nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch thì dường như dè dặt hơn, không mấy hào hứng với nó. Riêng tôi vẫn còn đôi chút băn khoăn với trải nghiệm này.

Băn khoăn, bởi nói thế nào đi nữa, với tôi bài thơ “con trai bé bỏng của tôi” vẫn chỉ là kết quả tiếp nhận và “nhập tâm” từ một số bài thơ đã đọc, rồi tái hiện một cách viết, có thể là của Nguyễn Thị Ngọc Nhung hay Nguyễn Thị Khánh Minh…, vận vào đời thực của tôi. Và khi bài thơ viết xong, tôi vẫn chưa mấy ý thức về thơ tân hình thức. Nói cách khác, tôi gần như lão Jourdain, nhân vật chính trong vở kịch “Trưởng giả học làm sang” của Molière: ông lão đã sung sướng và hãnh diện xiết bao khi biết cái thứ ngôn ngữ xưa nay mình vẫn sử dụng hàng ngày lại được gọi dưới cái tên “sang trọng” là “Văn xuôi” (Prose).

Băn khoăn nữa, là bài thơ xuất hiện trong tạp chí tuy còn nguyên dạng những câu thơ 8 âm (chữ) nhưng chẳng hiểu vì sao không còn 12 khổ thơ 4 câu như trong bản thảo, mà là 48 câu thơ liền mạch từ đầu chí cuối. Ngoài ra, một số đoạn vốn là chữ in nghiêng trong nguyên bản bài thơ (là lời thoại, đối lập với nội dung tường thuật, và ngăn cách giữa chúng là những dấu gạch ngang), thì lạ lùng thay trong bản đăng trên Tạp chí Thơ tuy vẫn còn các dấu gạch ngang nhưng chỉ một số chữ được in nghiêng, thậm chí có chỗ in nghiêng lại thuộc về phần tường thuật chứ không phải lời thoại. Dường như có lỗi kỹ thuật gì đó, có lẽ chủ yếu là kỹ thuật vi tính.

Nhưng có lẽ niềm vui lớn nhất của tôi là ở chỗ từng chi tiết nhỏ của đời thường, rất thật, vui vui và ngộ nghĩnh của thế giới trẻ thơ, lại có thể đưa vào bài thơ một cách hồn nhiên như thế. Truyện kể, lời thoại cứ tự nhiên, bình dị, không cần tô vẽ, màu mè, thêm bớt, chắt lọc hay viện đến phép ẩn dụ hay ngoa dụ, hay một biện pháp tu từ nào khác.

Đã mười năm. Giờ đây nhìn lại, và có điều kiện tham khảo những bài viết của các anh Khế Iêm, Đặng Tiến, Inrasara, Văn Giá … về thơ tân hình thức, tôi nhận diện được một số đặc điểm của thơ tân hình thức mình đã “thực hành” được dù chưa ý thức hết, như: không vần, lặp lại, vắt dòng, trình bày như thơ truyền thống (ở đây là câu thơ 8 âm / chữ), tính truyện với câu chuyện đời thường, và ngôn ngữ đời thường.


Ngẫm về đặc trưng của thơ tân hình thức, tôi vẫn không thôi tự hỏi: để phân định nó, để xác định một bài thơ là tân hình thức hay không, ngoài những nét trên liệu có những đặc tính nào thật rạch ròi hay không? Đâu là giới hạn, đường biên giữa một bên là thơ tân hình thức, một bên là thơ không phải tân hình thức? Thế nào là thơ tân hình thức hẳn hoi và thế nào là thơ tân hình thức nửa chừng? Ngay trong Tạp chí Thơ của Khế Iêm, có đăng đủ các loại thơ, cũng không thấy xếp loại rõ rệt giữa thơ tân hình thức và thơ không phải tân hình thức. Trong nhiều bài thơ, có thể nhận ra những thủ pháp lạ, như tác giả sử dụng các ký hiệu ngoài chữ viết, cố tình “phạm lỗi” chính tả hoặc phát âm, dùng những ký hiệu mang tính đối phó khi gõ bàn phím mà thiếu “phông” chữ tiếng Việt thích hợp, hay tính cách vô lý của câu chuyện được kể … Phải chăng những sắc thái “lạ” nói trên là những dấu hiệu của thơ tân hình thức? Chẳng hạn:

 – jì – Thế jới –  Hàm jăng hô – Jồi – Thế nà – Bên chai jụ – Noài cuý fái –  Chên nãnh địa lày

(Bùi Chát, TCT 26 tr.63-64),

cheo cổ những con CỦY

(tr.68…)

ừ chấm . ừ gạch – […]
trầm như huyền \
bổng như sắc /
mỏi như ngã ~
lạ như thang !   

(Nguyễn Văn Cường TCT 25 tr.44)

 Rô\i  na\ng ddi la^/y cho^\ng

(Đỗ Kh., tên tác giả được ghi là DDK, TCT 12 tr.38)

 Bởi tại tớ đang yêÊÊÊÊÊÊÊu

(Ernest Hemingway, Nguyễn Đăng Thường chuyển ngữ, TCT 14, tr.100)

 2. Một bà già ngủ gật vặt lông con gà trống cồ. Khi thức giấc bởi tiếng động lúc rạng sáng, bà ta ra ngoài và nhìn thấy một con gà trụi lông không đầu đang gáy.

(Tám tình huống, Nguyễn Quốc Chánh dịch, TCT 19 tr.30)                                   

Đặc biệt trong đoạn trích cuối cùng ở trên, người đọc có thể thắc mắc rằng như thế mà là thơ được ư, hay vẫn chỉ là văn xuôi. Và nếu đã là thơ, thì đâu là giới hạn giữa thơ và văn xuôi, hay nó cũng đã bị xóa nhòa đi mất?

Tuy nhiên tôi đặc biệt tâm đắc với sự xóa nhòa những ranh giới trường phái nọ kia, và sự hòa nhập giữa xưa và nay, mới và cũ, giữa văn hóa này và văn hóa khác của thơ tân hình thức Việt, như Khế Iêm đã viết, “thơ Tân Hình Thức Việt còn là sự hòa hợp giữa truyền thống và hiện đại, xóa bỏ mọi ranh giới phân biệt, giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt, tạo nên sự giao lưu giữa hai nền văn hóa” [1], bởi, nói như Đặng Tiến, “trong thơ, ranh giới giữa trường phái này trường phái khác, cựu nọ tân kia, không phải lúc nào cũng rạch ròi” [2].

Trong chiều hướng đó, nên chăng hãy cứ phóng tầm nhìn ra xa một chút, truy tìm và khai thác những ý tưởng cách tân độc đáo của một số tác giả nước ngoài, xưa và nay, xem có gì có thể ứng dụng cho tiếng Việt không, để vận dụng cho thơ tân hình thức Việt. Xin đơn cử hai trường hợp của văn học Pháp thế kỷ 20, Guillaume Apollinaire và Raymond Queneau.

Cách đây gần một trăm năm, nhà thơ Guillaume Apollinaire đã chủ trương loại bỏ tất cả các dấu chấm câu trong thơ và tuyên bố “chính nhịp điệu và cách ngắt câu thơ mới là dấu chấm câu thực sự“. [3] Thế mới biết việc các dấu chấm phẩy vắng bóng trong thơ ngày nay không là sáng kiến của thời chúng ta mà đã có từ thuở xa xưa. Nhưng đáng chú ý hơn nữa là G. Apollinaire cũng rất nổi tiếng với các thi họa độc đáo của ông (Calligrammes, 1918), là những bài thơ ngắn mà câu chữ được xếp thành hình họa, và các hình vẽ này liên quan đến nội dung từng bài thơ. Nguồn gốc của loại thi họa này thực ra bắt nguồn từ … trước Công nguyên, với nhà thơ Hy Lạp Simmias de Rhodes (TK 4 TCN). Sau đây là 4 trong số các bài thơ loại này của G. Apollinaire:

Phải chăng đây là một trường hợp đáng để chúng ta tham khảo?

Tác giả Pháp thứ hai tôi muốn nhắc đến là Raymond Queneau, với “Một truyện kể theo cách riêng của bạn” (1967). Đó là một truyện kể được chia thành nhiều ô, mỗi ô là một phần câu chuyện, và khi kết thúc mỗi ô người đọc được mời lựa chọn sẽ tiếp tục như thế nào. Câu chuyện bắt đầu như sau (ô 1):

Bạn có muốn biết về câu chuyện ba hạt đậu Hà lan liếng thoắng hay không ?
Nếu có, hãy chuyển sang ô 4.
Nếu không, hãy chuyển sang ô 2.

Người đọc được quyền đọc truyện kể theo cách riêng của mình, theo lộ trình ưa thích. Tất nhiên tất cả các cách đọc, các lộ trình này đều đã được nhà văn phác họa trước và hướng dẫn.

Một thí dụ đáng kể nữa của R. Queneau là cuốn “Những bài luyện tập về phong cách” (1947): cùng một câu chuyện (dài khoảng mươi dòng) nhưng được kể bằng 99 cách thức khác nhau, với nhiều phong cách, góc độ, giọng điệu, cấp độ ngôn ngữ … Các phiên bản khác nhau đó có tựa riêng là Ghi chú, Một cách ẩn dụ, Ngược dòng, Ngạc nhiên, Giấc mơ, Cầu vồng, Do dự, Tượng thanh, Nhấn mạnh, Thẩm vấn, Triết học, Vụng về, Khứu giác, Vị giác, Xúc giác, Thị giác, Thính giác, Chân dung, Hình học, Nông dân, Bất ngờ …[4]. Kể cũng nên xem những tìm tòi trong cách viết như thế của R. Queneau, dù đó là trong lĩnh vực văn xuôi và từ thế kỷ 20, có gợi những ý tưởng thú vị nào cho chúng ta ngày nay không, và có gì có thể ứng dụng cho thơ tân hình thức Việt?

Trở lại với các bài thơ đã công bố trên Tạp chí Thơ, phải chăng một bài thơ tân hình thức còn có thể được chuyển sang một hay nhiều dạng thức, thể thơ khác, với cùng những câu chữ như thế nhưng cách sắp xếp có khác đi một ít. Chúng ta thử đọc bài thơ sau của Vạn Giả, đăng trên Tạp chí Thơ 26, tr. 131:

MÙA XUÂN VÀ EM

Ta vẫn còn nhau trong
tưởng chừng mất biệt. Tình
rạng rỡ reo vui nư [5]
mạch sống đang xuân. Anh
gửi đến em một tấm
lòng tha thiết xin em
cất giữ giùm trong đáy
trái tim em…

Dù cho bài thơ được trình bày dưới dạng các câu thơ 5 âm (chữ), khi đọc (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng), chúng ta có thể nhận thấy thật ra “cấu trúc chìm” của nó là một bài thơ gồm 4 câu và mỗi câu có 9 âm (chữ). Giả dụ ta mạn phép tác giả, xô dạt các chữ một chút và loại bỏ dấu chấm câu, kết quả có thể là một bài thơ có dạng thơ lục bát, tất nhiên vẫn với “cấu trúc chìm” là 4 câu thơ 9 âm (chữ). Và dường như nó còn tân hình thức hơn cả nguyên bản:

MÙA XUÂN VÀ EM

ta vẫn còn nhau trong tưởng
chừng mất biệt tình rạng rỡ reo vui
nư mạch sống đang xuân anh
gửi đến em một tấm lòng tha thiết
xin em cất giữ giùm trong
đáy trái tim em…

Và phải chăng, khả năng dịch chuyển trên bề mặt các dạng thơ, thể thơ không dừng lại ở đó mà còn có có thể đi xa hơn, theo những cách thức tương tự hoặc khác hơn. Chẳng hạn khi khoác cho bài thơ tân hình thức Việt một tấm áo mượn từ các dạng thơ cổ Ode hay Sonnet, Ballade, Rondeau, Aube… của phương Tây, hoặc gần hơn là Haiku, Tanka của Nhật. Việc đó rất khác so với việc làm thơ tiếng Việt nhưng tuân thủ quy tắc và vần điệu của các loại thơ đó.


Cũng như mọi trào lưu thơ, trường phái thơ từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, thơ tân hình thức Việt cũng có bài hay, có bài chưa hay, và có kẻ khen người chê. Nhưng thơ tân hình thức Việt nào đã thể hiện hết mình…

Ngoài một số nhà thơ đã chững chạc trong tác phẩm của mình và đã có tính thuyết phục, tạo dấu ấn riêng, thậm chí lôi cuốn, thu phục thiện cảm của những người chưa từng đồng hành cùng mình, vẫn còn không ít người làm thơ tân hình thức đang mày mò tìm cách thể hiện, tự tìm hướng đi, và họ có thể vấp, ngã, đau, và rồi đứng lên tiếp tục đi tới. Những gì có giá trị thật sớm muộn gì cũng sẽ được khẳng định, còn lại thì sẽ phôi pha, chìm vào quên lãng.

Nên chăng chúng ta hãy cứ bình tâm và kiên nhẫn. Để thời gian và cuộc sống từng bước, dần hồi, làm trọn công việc của mình. Là sàng lọc. Và phán xét.

Québec, tháng 10 / 2013

Tài liệu tham khảo:

  • Khế Iêm, “Tân hình thức, nhắc lại – 10 năm”, 2012. http://vietvan.vn/vi/bvct/id2818/Tan-hinh-thuc,-nhac-lai—10-nam/
  • Đặng Tiến, “Thơ tân hình thức, nhịp đập của thời đại”, 2006. http://www.bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=1283
  • Inrasara, “Khế Iêm, câu chuyện tân hình thức kể lại”, 2009. http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=8164
  • “Cách làm một bài thơ tân hình thức”. http://www.thotanhinhthuc.org/thongbao/tb_cachlamtht.html
  • Inrasara, “Tân hình thức, một bước đi mới”, 2008. http://4phuong.net/mobile/ebook/47627897/tan-hinh-thuc-mot-buoc-di-moi.html
  • Thăng Long, “Thơ Tân hình thức và cái khó của người sáng tạo”, 2011. http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=13953
  • Văn Giá, “Về một nỗ lực làm mới thơ Việt”, 2012. http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c264/n10462/Ve-mot-no-luc-lam-moi-tho-Viet.html
  • [1] Khế Iêm, “Tân hình thức, nhắc lại – 10 năm”, 2012.
  • [2] Đặng Tiến, “Thơ tân hình thức, nhịp đập của thời đại”, 2006.
  • [3] “Le rythme même et la coupe des vers sont la véritable ponctuation.”
  • [4] Notations, Métaphoriquement, Rétrograde, Surprises, Rêve, L’arc-en-ciel, Hésitations, Onomatopées, Insistance, Interrogatoire, Philosophique, Maladroit, Olfactif, Gustatif, Tactile, Visuel, Auditif, Portrait, Géométrique, Paysan, Inattendu …
  • [5] Có thể đây là từ “như”, được in “nư” là do lỗi in ấn. Nhưng tôi vẫn để y nguyên.

Xuất bản thơ – Cách xác định thị trường tốt nhất nơi bạn có thể thấy thơ của mình được in

https://publishdrive.com/how-to-publish-a-poetry-book.html
https://publishdrive.com/how-to-publish-a-poetry-book.html

Publishing Poetry – How To Locate The Best Markets Where You Can See Your Poems In Print

Seeing your poetry in print can be a wonderful feeling, but the poetry market is one of the hardest to break into. The rejection letters can really pile up, and that can lead to some discouragement. But rejection letters should not get the would-be poet down. There are more markets available than many poets realize. Part of the trick to seeing one’s poetry in print is knowing where to start.

I have found The Poet’s Market to be one of the best guides for locating good markets, paying or otherwise. The book gives nice listings, with a good description and thorough information, for nearly 2,000 different markets. There are also a series of indexes for making navigation through the various listings a little easier. My favorite index is probably the one that lists the markets by “openness to new poets.” Poets who are still in the early stages of getting their work published will find this especially useful. A realistic approach about the markets most suitable for one’s own work is very important for the poet who hopes to see his or her work in print for many years to come. While “starting small” might be uncomfortable for some, it is the surest path to success. Even if the earlier publications are not in paid markets, it can be very helpful in building up a track record, and in helping you learn the ropes of working with a literary magazine.

Another useful resource for poets who want to see their work in print is Poets & Writers. The magazine always has a good classifieds section. At their website, you can find a submission calendar that will help you stay more disciplined, if you follow the deadlines listed there. The online classifieds section, like the print version, includes calls for manuscripts in magazines and anthologies, as well as calls for chapbook submissions.

Similarly, you will find good listings for potential markets at the Once Written and the Poetry in the Arts websites. Christian writers might like to have a look at the Utmost Christian Poets website.

When you have begun submitting poetry, you will find that you get several different sort of rejection letters from editors (and you are bound to get some rejection letters). I have found it helpful to sort through these letters and find those that offer some feedback on the poems I sent to them. For the most part, editors who take the time to respond to your work, even if they are rejecting it, do so because there is some potential for a future relationship between you and the magazine. Take note of which poems the editor liked best, and why s/he rejected them. This will give you a clue to what sort of poems to send to that market the next time around.

Once you get a foot in the door and begin to see your work in print, it becomes a little easier to have more poetry accepted for publication. This is partly, perhaps, because your credibility within the publishing community has gone up. I think, though, that it is equally because the poet becomes a little more savvy in knowing where to submit. Having seen which types of publications like your work helps you decide where to submit in the future. If you find magazines that are similar to those you have already worked with, then you should submit to them. One way to find such publications is to note where the magazines that have accepted your work are sold, and find what other literary publications are also sold there.

The most common advice I hear when I am submitting poetry is, “Don’t give up.” I will pass echo that advice, along with these tips for where to find good markets. A rejection letter does not mean the poem is not good enough to get into print. It only means that it is not suitable for that particular publication. The best response to a rejection letter is to look at the poem again (particularly if the editor has given you some feedback), and rethink where you will submit it next.


Việc nhìn thấy thơ của bạn được in có thể là một cảm giác tuyệt vời, nhưng thị trường thơ là một trong những thị trường khó thâm nhập nhất. Những lá thư từ chối thực sự có thể chất đống, và điều đó có thể dẫn đến một số sự nản lòng. Nhưng những lá thư từ chối không nên làm nản lòng những nhà thơ tương lai. Có nhiều thị trường hơn nhiều nhà thơ nhận ra. Một phần của mẹo để nhìn thấy thơ của một người được in là biết bắt đầu từ đâu.

Tôi thấy The Poet’s Market là một trong những hướng dẫn tốt nhất để tìm ra những thị trường tốt, trả tiền hoặc không. Cuốn sách cung cấp danh sách hay, với mô tả hay và thông tin đầy đủ, cho gần 2.000 thị trường khác nhau. Ngoài ra còn có một loạt các chỉ mục để điều hướng qua các danh sách khác nhau dễ dàng hơn một chút. Chỉ mục yêu thích của tôi có lẽ là chỉ mục liệt kê các thị trường theo “mức độ cởi mở với các nhà thơ mới”. Các nhà thơ vẫn đang trong giai đoạn đầu xuất bản tác phẩm của mình sẽ thấy điều này đặc biệt hữu ích. Một cách tiếp cận thực tế về các thị trường phù hợp nhất với tác phẩm của chính mình là rất quan trọng đối với nhà thơ hy vọng sẽ thấy tác phẩm của mình được in trong nhiều năm tới. Mặc dù “bắt đầu nhỏ” có thể khiến một số người cảm thấy không thoải mái, nhưng đây là con đường chắc chắn nhất dẫn đến thành công. Ngay cả khi các ấn phẩm trước đó không có trên thị trường trả phí, thì nó vẫn có thể rất hữu ích trong việc xây dựng thành tích và giúp bạn học hỏi những điều cơ bản khi làm việc với một tạp chí văn học.

Một nguồn tài nguyên hữu ích khác dành cho các nhà thơ muốn thấy tác phẩm của mình được in là Poets & Writers. Tạp chí này luôn có mục rao vặt hữu ích. Trên trang web của họ, bạn có thể tìm thấy lịch nộp bài giúp bạn kỷ luật hơn nếu bạn tuân thủ các thời hạn được liệt kê ở đó. Mục rao vặt trực tuyến, giống như phiên bản in, bao gồm các lời kêu gọi gửi bản thảo cho tạp chí và tuyển tập, cũng như lời kêu gọi gửi tập thơ.

Tương tự như vậy, bạn sẽ tìm thấy danh sách tốt cho các thị trường tiềm năng tại các trang web Once Written và Poetry in the Arts. Các nhà văn Cơ đốc giáo có thể muốn xem trang web Utmost Christian Poets.

Khi bạn bắt đầu gửi thơ, bạn sẽ thấy rằng mình nhận được một số loại thư từ chối khác nhau từ các biên tập viên (và bạn chắc chắn sẽ nhận được một số thư từ chối). Tôi thấy việc phân loại những lá thư này và tìm những lá thư cung cấp phản hồi về những bài thơ tôi gửi cho họ là rất hữu ích. Phần lớn các biên tập viên dành thời gian để phản hồi tác phẩm của bạn, ngay cả khi họ từ chối, đều làm như vậy vì có một số tiềm năng cho mối quan hệ trong tương lai giữa bạn và tạp chí. Hãy ghi chú lại những bài thơ mà biên tập viên thích nhất và lý do tại sao họ từ chối chúng. Điều này sẽ giúp bạn biết nên gửi loại thơ nào đến thị trường đó vào lần tới.

Khi bạn đã bước chân vào thị trường và bắt đầu thấy tác phẩm của mình được in, bạn sẽ dễ dàng hơn một chút để có nhiều thơ hơn được chấp nhận xuất bản. Có lẽ một phần là do uy tín của bạn trong cộng đồng xuất bản đã tăng lên. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng điều đó cũng là do nhà thơ trở nên thông minh hơn một chút trong việc biết nên gửi ở đâu. Việc xem những loại ấn phẩm nào giống với tác phẩm của bạn sẽ giúp bạn quyết định nên gửi ở đâu trong tương lai. Nếu bạn tìm thấy những tạp chí tương tự như những tạp chí mà bạn đã từng làm việc, thì bạn nên gửi đến những tạp chí đó. Một cách để tìm những ấn phẩm như vậy là lưu ý nơi các tạp chí đã chấp nhận tác phẩm của bạn được bán và tìm những ấn phẩm văn học khác cũng được bán ở đó.

Lời khuyên phổ biến nhất mà tôi nghe được khi nộp thơ là “Đừng bỏ cuộc”. Tôi sẽ lặp lại lời khuyên đó, cùng với những mẹo sau đây về nơi tìm thị trường tốt. Thư từ chối không có nghĩa là bài thơ không đủ hay để in. Nó chỉ có nghĩa là nó không phù hợp với ấn phẩm cụ thể đó. Phản ứng tốt nhất đối với thư từ chối là xem lại bài thơ (đặc biệt là nếu biên tập viên đã cung cấp cho bạn một số phản hồi) và suy nghĩ lại về nơi bạn sẽ nộp tiếp theo.

How to Publish a Poetry Book: A Simple Guide to Publishing Poems
Source by Shelly Bryant

History of African Poetry Content and Form

History of African Poetry Content and Form

Content

The content of African poetry, is made of themes that emanate from the African background. This background, as you will recall, consists essentially of experiences of colonial and post-colonial eras. The details of these experiences involve firstly a clash of cultures which featured in the initial colonial contact between Africa and the West. Western culture, which was the culture of the colonialists, was superimposed on the African culture of the colonized. A clash of cultural values emerged as the African culture resisted this superimposition.

This cultural clash became a ready theme or element for many African poets. Okot p’Bitek explores it well in the two poems he wrote “The Graceful Griraffe cannot become a Monkey” and ‘My Name Blew like a Horn among the Payira.’ p’Bitek protests against the superimposition of the White culture on African culture.

Exile and alienation are two important elements in African poetry that resulted from colonial contact especially in areas of Africa colonized by the French. For example, Senegal. In these places, the French practiced a policy of assimilation whose aim was to turn the Africans into black Frenchmen. These Africans imbibed so much of the white culture of the French that they virtually lost their identity as Africans. The result was that they were alienated from their African roots and, as it often happened, went to live in France, thus exiling themselves even physically. Senghor in ‘in Memoriam’ and ‘I will pronounce Your Name’ protests vehemently against this experience.

Do not be misled into thinking that African poetry is made up of only themes that concern Africa and Africans. That is, themes that are localized. Some African poets write about themes that could apply to any part of the world. The example we have here of such universal themes is in ‘Soyinka’s ‘Telephone conversation’ which deals with the issue of racism and his ‘post mortem’ which deals with the theme of death. The poet’s response to these issue is that racism is irrational and a hateful evil. Death in Soyinka’s view is unfathomable and therefore not worthy of man’s consistent but futile probe.

African poetry covers very many themes, both local and universal, depending on the experiences Africa and Africans have gone through.

Style

In terms of style, African poetry is written mainly in free verse which is common among many modern poets. It is not written according to any fixed rules, forms or conventions. The form which African poetry takes is governed by the subject – matter that are treated. Free verse allows for freedom of expression and style.

Instead of using rhyme, rhythm, metre or other fixed forms to enhance their meaning, African poets employ other poetic devices in skillful ways that enable them to achieve the same effect as those achieved by the use of fixed rules and conventional forms.

On a final point: Remember that we are not saying African poets do not use devices like rhyme, rhythm, meter, sonnects etc. They occasional use these devices but they do not particularly make them convey the meanings of their poems as they make the devices we have just discussed embellish their meaning.


Lịch sử thơ ca châu Phi Nội dung và hình thức

Nội dung

Nội dung của thơ ca châu Phi được tạo thành từ các chủ đề xuất phát từ bối cảnh châu Phi. Bối cảnh này, như bạn sẽ nhớ lại, về cơ bản bao gồm các trải nghiệm của thời kỳ thuộc địa và hậu thuộc địa. Chi tiết của những trải nghiệm này trước tiên liên quan đến sự xung đột giữa các nền văn hóa, đặc trưng trong sự tiếp xúc thuộc địa ban đầu giữa châu Phi và phương Tây. Văn hóa phương Tây, vốn là văn hóa của những người thực dân, đã được chồng lên văn hóa châu Phi của những người bị thực dân hóa. Một cuộc xung đột giữa các giá trị văn hóa đã xuất hiện khi văn hóa châu Phi chống lại sự chồng chéo này.

Cuộc xung đột văn hóa này đã trở thành chủ đề hoặc yếu tố sẵn có đối với nhiều nhà thơ châu Phi. Okot p’Bitek đã khám phá điều này rất tốt trong hai bài thơ ông viết “The Graceful Griraffe cannot become a Monkey” và ‘My Name Blew like a Horn among the Payira’. p’Bitek phản đối sự chồng chéo của văn hóa da trắng lên văn hóa châu Phi.

Lưu vong và xa lánh là hai yếu tố quan trọng trong thơ ca châu Phi xuất phát từ sự tiếp xúc thuộc địa, đặc biệt là ở các khu vực châu Phi do người Pháp chiếm đóng. Ví dụ, Senegal. Ở những nơi này, người Pháp đã thực hiện chính sách đồng hóa với mục đích biến người châu Phi thành người Pháp da đen. Những người châu Phi này đã hấp thụ quá nhiều nền văn hóa da trắng của người Pháp đến nỗi họ gần như mất đi bản sắc của người châu Phi. Kết quả là họ bị xa lánh khỏi nguồn gốc châu Phi của mình và, như thường lệ, đã chuyển đến sống ở Pháp, do đó, họ thậm chí còn tự lưu đày mình về mặt thể xác. Senghor trong ‘In Memoriam’ và ‘I will pronunciation Your Name’ đã phản đối kịch liệt trải nghiệm này.

Đừng để bị hiểu lầm rằng thơ ca châu Phi chỉ bao gồm các chủ đề liên quan đến châu Phi và người châu Phi. Nghĩa là, các chủ đề mang tính địa phương. Một số nhà thơ châu Phi viết về các chủ đề có thể áp dụng cho bất kỳ nơi nào trên thế giới. Ví dụ chúng ta có ở đây về các chủ đề phổ quát như vậy là trong ‘Telephone conversation’ của Soyinka, tác phẩm này đề cập đến vấn đề phân biệt chủng tộc và ‘post mortem’ của ông, tác phẩm này đề cập đến chủ đề về cái chết. Phản ứng của nhà thơ đối với những vấn đề này là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là phi lý và là một điều xấu xa đáng ghét. Theo quan điểm của Soyinka, cái chết là điều không thể hiểu thấu và do đó không xứng đáng để con người tìm hiểu liên tục nhưng vô ích.

Thơ ca châu Phi bao gồm rất nhiều chủ đề, cả địa phương và toàn cầu, tùy thuộc vào những trải nghiệm mà châu Phi và người châu Phi đã trải qua.

Phong cách

Về phong cách, thơ ca châu Phi chủ yếu được viết theo thể thơ tự do, thể thơ này phổ biến trong nhiều nhà thơ hiện đại. Thơ không được viết theo bất kỳ quy tắc, hình thức hay quy ước cố định nào. Hình thức mà thơ ca châu Phi sử dụng được chi phối bởi chủ đề – vấn đề được xử lý. Thơ tự do cho phép tự do thể hiện và phong cách.

Thay vì sử dụng vần điệu, nhịp điệu, nhịp thơ hoặc các hình thức cố định khác để nâng cao ý nghĩa của chúng, các nhà thơ châu Phi sử dụng các biện pháp thơ khác theo những cách khéo léo cho phép họ đạt được hiệu ứng tương tự như những biện pháp đạt được bằng cách sử dụng các quy tắc cố định và hình thức thông thường.

Về điểm cuối cùng: Hãy nhớ rằng chúng tôi không nói rằng các nhà thơ châu Phi không sử dụng các biện pháp như vần điệu, nhịp điệu, nhịp thơ, sonnect, v.v. Họ thỉnh thoảng sử dụng các biện pháp này nhưng họ không thực sự sử dụng chúng để truyền tải ý nghĩa của bài thơ vì họ sử dụng các biện pháp mà chúng tôi vừa thảo luận để tô điểm cho ý nghĩa của chúng.

Source by Chima Tim | Welcome to The Poetry Court: AFRICAN POETS ENCYCLOPEDIA 3 – 2017

Redress of Poetry – Liệu một nhà thơ có thể làm thỏa mãn công chúng thông qua thơ ca không?

Redress of Poetry – Can a Poet Redress Through Poetry?

The Redress of Poetry – Is this the duty of a poet to redress through poetry?

Poetry gives an ideal world which removes the defects of the world of fact since ideal presents a perfect picture of imperfect world. By redress we mean satisfaction, compensation for a wrong sustained or our loss against result to rise again in an upright position. This is the dictionary definition of redress.

The word ‘redress’ stands for reparation, restoration, to rectify something that is incorrect. The subject that Seamus Heany treated in ‘The Redress of Poetry’ is not new. The nature and purpose of poetry has been a subject of practical importance for all those who are interested in poetry.

By redress Heany means to correct something that is unfair or wrong. It also means consolation, compensation, improve or reassure. So redress of poetry means to remove or correct wrong notions that exist in the prevailing world. The question of redress of poetry contains whether the poetry is of any use, whether it gives confidence to man, whether it gives some assurance or not, whether it’s an aesthetic work or a pragmatic work.

Having defined the meaning of redress I will now discuss whether a poet can redress through poetry? Is this his/her duty to redress through poetry?

In my opinion a poet is an important part of a nation who not only can redress through poetry but also can restore a nation’s pride, can rectify the wrong doings and also can amend the status of a nation. In support of my notions I would like to place the example of Dr. Allama Muhammad Iqbal, titled as ‘the poet of east’. He not only redressed through his poetry but also lay a path towards reassurance and improvement, restoration and rejuvenation of a swooned nation.

Poetry is not just the words of defining the physical appearance of one’s beloved, or explaining the facial expressions of a beauty you come across in your daily life and fall in love at first sight or so. Poetry is the voice of one’s deepest innermost. It is not limited or should not be limited to merely defining the beloved’s traits or one’s feelings about the beloved or just making a confession of falling in love.

Poetry has a vast canvas to cover, to paint a picture of the broad and limitless world. It deserves the explanations of destiny of humankind, destination of humans and also can lead a way how a human being can turn to being human.

The poetry of Allama Iqbal inculcates the spirit and feelings of restoration from deterioration. The poetry of Allama Iqbal redressed in a shape that levitated a nation from inhibition to freedom.

Having said that, I am very much assure that a poet can redress through poetry, need is to realize his/her duties and put the divine thoughts of poetry in a right path to redress through poetry.


Redress of Poetry – Liệu một nhà thơ có thể Redress thông qua thơ ca không?

Redress of Poetry – Đây có phải là nhiệm vụ của một nhà thơ để Redress thông qua thơ ca không?

Thơ ca đưa ra một thế giới lý tưởng loại bỏ những khiếm khuyết của thế giới thực tế vì lý tưởng trình bày một bức tranh hoàn hảo về thế giới không hoàn hảo. Khi nói Redress, chúng ta có nghĩa là sự thỏa mãn, đền bù cho một sai lầm đã chịu đựng hoặc mất mát của chúng ta đối với kết quả để đứng dậy một lần nữa ở vị trí thẳng đứng. Đây là định nghĩa từ điển của Redress.

Từ ‘redress’ có nghĩa là sửa chữa, phục hồi, để sửa chữa một cái gì đó không đúng. Chủ đề mà Seamus Heany đề cập trong ‘The Redress of Poetry’ không phải là mới. Bản chất và mục đích của thơ ca là một chủ đề có tầm quan trọng thực tế đối với tất cả những ai quan tâm đến thơ ca.

Khi nói Redress, Heany có nghĩa là sửa chữa một cái gì đó không công bằng hoặc sai. Nó cũng có nghĩa là an ủi, đền bù, cải thiện hoặc trấn an. Vì vậy, Redress of Poetry có nghĩa là xóa bỏ hoặc sửa chữa những quan niệm sai lầm tồn tại trong thế giới hiện hành. Câu hỏi về sự đền bù của thơ ca bao gồm liệu thơ ca có hữu ích hay không, liệu nó có mang lại sự tự tin cho con người hay không, liệu nó có mang lại sự đảm bảo hay không, liệu nó là một tác phẩm thẩm mỹ hay một tác phẩm thực dụng.

Sau khi định nghĩa ý nghĩa của sự đền bù, giờ tôi sẽ thảo luận xem liệu một nhà thơ có thể đền bù thông qua thơ ca hay không? Đây có phải là nhiệm vụ của anh ấy/cô ấy để đền bù thông qua thơ ca không?

Theo tôi, một nhà thơ là một phần quan trọng của một quốc gia, người không chỉ có thể đền bù thông qua thơ ca mà còn có thể khôi phục lòng tự hào của quốc gia, có thể sửa chữa những hành động sai trái và cũng có thể sửa đổi vị thế của một quốc gia. Để ủng hộ quan điểm của mình, tôi muốn nêu ví dụ về Tiến sĩ Allama Muhammad Iqbal, được mệnh danh là ‘nhà thơ phương Đông’. Ông không chỉ đền bù thông qua thơ ca mà còn mở đường cho sự an tâm và cải thiện, phục hồi và trẻ hóa một quốc gia đang say đắm.

Thơ ca không chỉ là những từ ngữ định nghĩa ngoại hình của người mình yêu, hoặc giải thích biểu cảm khuôn mặt của một người đẹp mà bạn tình cờ gặp trong cuộc sống hàng ngày và phải lòng ngay từ cái nhìn đầu tiên. Thơ ca là tiếng nói của sâu thẳm bên trong mỗi người. Thơ ca không bị giới hạn hoặc không nên giới hạn chỉ ở việc xác định những đặc điểm của người mình yêu hoặc cảm xúc của mình về người mình yêu hoặc chỉ đơn giản là thú nhận rằng mình đang yêu.

Thơ ca có một bức tranh rộng lớn để bao phủ, để vẽ nên bức tranh về thế giới rộng lớn và vô hạn. Thơ ca xứng đáng được giải thích về số phận của loài người, đích đến của con người và cũng có thể dẫn lối cho con người trở thành con người.

Thơ ca của Allama Iqbal thấm nhuần tinh thần và cảm xúc phục hồi sau sự suy thoái. Thơ ca của Allama Iqbal đã khắc phục theo một hình thức đưa một quốc gia từ sự ức chế lên đến tự do.

Nói như vậy, tôi rất chắc chắn rằng một nhà thơ có thể khắc phục thông qua thơ ca, cần phải nhận ra nhiệm vụ của mình và đưa những suy nghĩ thiêng liêng của thơ ca vào đúng con đường để khắc phục thông qua thơ ca.

Source by Kamran Iftikhar


The Redress of Poetry (1995) Summary by Seamus Heaney: A Critical Analysis


TUẦN THƠ 41: HẠNH PHÚC & KHỔ ĐAU

Jacqueline Gnott
Jacqueline Gnott
Hoàng Huy Hùng

NIỀM VUI TRẺ THƠ

Luồng gió thổi mang niềm vui tới
vào lối cửa chính một shop hàng
có những cậu bé búp bê những
cô bé búp bê búp bê treo lủng
lẳng đung đưa đang múa và đang
hát có niềm vui chung từ cơn
gió theo từng bước chân bé con
của một cậu bé con mới biết
đi đi bên người bố đang trìu
mến trìu mến âu yếm xoa đầu
con trai bé bỏng – cậu bé vui
cười ôm lấy chân bố để bé
cảm nhận niềm hạnh phúc trẻ thơ


Trần Thị Minh Nguyệt

CHO ĐẾN KHI NGỪNG THỞ

Ngán ngấy cái nhìn gầm gừ của
tên chủ và căn apartment như lò
bánh mì, tôi thèm ôm rừng – nhớ
gió, đói ngàn ngọn cây xanh, tương

tư chim véo von. Được mời đi –
anh phóng xe như điên – cắn
răng giữ tim không rớt trên freeway
mong anh đừng biết tôi đang đổi

sợ hãi, mạng sống lấy hạnh phúc phía
trước. Đam mê đổi mọi thứ có
được để lấy hạnh phúc
dù chưa hề giữ được hạnh phúc.

Hôm kia tôi là nước trôi tuột
anh hứng giữ chút mượt mà, nhâm
nhi, thưởng thức và mất ngủ. Hôm
qua tôi là chiếc hôn sâu, rất

thật ở tuổi 45, anh ngã. Hôm
nay tôi là cơn đói thế kỷ
không biết chán không biết no không
biết dừng, cho đến khi ngừng thở.

Tháng 9 / 2003

Đình Nguyên

GỌI LÀ SỐNG

Những cái chết không được
báo trước. Có ai biết
trước sẽ chết lúc nào.
Chuyến bay định mệnh là

chuyến mà lần kề cận
với tử thần đầu tiên
và cũng là cuối cùng.
Chẳng đi đâu cả chỉ

làm đúng nghĩa tầm mức
dịch chuyển cần thiết, mà
chết đột ngột vì cả
tòa nhà sụp đổ, thì

gọi là ngày định mệnh
chăng? Có phải hai chữ
định mệnh hay được áp
đặt cho những cái chết

không được báo trước. Như
vậy chưa từng đi đâu
chưa từng làm gì, mà
đã biết mình chết ngay

từ lúc bắt đầu, gọi
là gì cho chính xác!
Chết lần mòn chết từ
từ gọi là sống nhé.


CALL IT LIVING

Dying without prior notice.
Who knows ahead the hour of
death. The fateful flight is the
flight destined for a meeting

with the angels of death, for the
first and also the final time.
Nowhere to go only to
make the necessary appointment,

but to die suddenly because
an entire building collapses,
that is what is called destiny,
is it not? Isn’t destiny

what we call dying
without prior notice? So
that one has not gone anywhere,
not yet done anything, but

already knows that death is
sudden from the start, what
to call it precisely! To
die gradually is to live.


30082004

Đinh Cường

CÓ KHUÔN MẶT AI NHƯ

Tôi vẽ tảng đá rồi mỗi ngày
cứ ngồi nhìn trên những đường nứt
có đường nào là lời sám hối
không phải bên tảng đá năm xưa

Đức Giáo Hoàng đã đến sám hối
tôi bỏ quên lớp rong rêu ngoài
thành nội có con chim mùa hè
cứ kêu hoài bắt cô trói cột

như tiếng quê hương ngày lửa đạn
tràn về thành phố chúng tôi chạy
theo đoàn người trên quốc lộ một
có mây bay trên đèo Hải vân

đưa tôi đến phương nào khỏi Huế
để bây giờ mùa thu trở lại
mùa thu Virginia người ta
đi xem lá vàng trên skyline

mà sao tôi vẽ tảng đá như
đứng sững có khuôn mặt ai như
em nhìn xuống ký ức chìm lỉm
vực sâu tôi hú tiếng vang dài…


LIKE SOMEONE’S FACE

I draw a pile of rocks and then every
day I sit and look at its cracked lines
to see if any of them were repentances
like the rock piles where the Pope repented.

I’ve forgotten about the moldy patches
outside of the citadel where a bird keeps
chirping, like the sounds of the homeland
under fire-storms that hit the city, when

we ran with hordes fleeing along highways
while clouds traversed Hải Vân Pass taking me
to some place beyond Huế. Now autumn has
returned, a Virginia autumn, when

people go to view yellow leaves at the
sky line. But why do I draw this rock pile, a
frozen stare, like someone’s face looking down
on the past, sunken deep into echoes?

Virginia, 5. 2000

Trầm Phục Khắc

THỜI GIAN ÐÃ CƯỚP ÐI CỦA TÔI

Người đàn bà đẹp người đàn
bà đẹp ngồi nơi chiếc ghế, người đàn
bà đẹp người đàn bà đẹp
ngồi trong không gian, trong không gian thơm
thơm mùi im lặng… lặng im
mùi thơm… người đàn bà ngồi im lặng

ÐIÊU KHẮC VỚ VẨN

Kim lặng lẽ và đẹp
như một pho tượng nên
cả hai cùng toát ra
mùi hương bí ẩn của
thời gian

thời gian vẫn trôi đi
mùi hương vẫn trôi đi
pho tượng vẫn lặng lẽ và Kim vẫn là Kim
bí ẩn

pho tượng ai cho tôi
mà tôi bâng khuâng mà
căn phòng bâng khuâng mà
thời gian bâng khuâng nhưng
tại sao pho tượng không
phải là Kim và Kim
vẫn muôn đời không phải
là pho tượng

thôi nghe Kim hãy bước
đi Kim hãy bước ra
khỏi Kim hãy bước ra
khỏi bài thơ hãy bước
ra khỏi pho tượng hãy
bước ra khỏi thời gian
và hãy bước ra khỏi
mùi hương bí ẩn.


Biển Bắc

KÝ ỨC CỦA TƯƠNG LAI

Đêm cũng cứ thế và ban
ngày vẫn vậy ánh sáng cùng
bóng tối luân phiên gác ngoài
cửa hành lang chỗ Lai là
Không gian của năm tháng đóng
chặt lẩn trốn không muốn giáp
mặt với kết thúc khi bóng
tối hoặc ánh sáng giật sập
Cánh cửa bật ập vào chánh
giữa mang theo nó vào chốn
Lai là không gian của ngày
giờ thả cửa cận kề không
Muốn chia tay với bắt đầu
khi bóng tối cùng ánh sáng
luân phiên nhau tập vào mang
theo bắt đầu của kết thúc

(cuối 1, không 12)

BẤT CHỢT

Chiều qua ý niệm về
cái chết bất chợt tạt
ngang qua sống mũi nàng
đang hít thở làm cho
nàng nín thở bởi tuy

Đã có hẹn sẽ một
lần ý niệm về cái
chết và cái chết bạt
ngang cuộc sống nhưng
không cụ thể về thời

Điểm nên đã làm cho
nàng sửng sốt rồi hoảng
hốt khi chúng trong một
chiều qua đây trấn lột
trần sự thật ướp xác

Trong không gian đứng thở
dốc chí theo đuổi hạnh
phúc trong những ấp ủ
quá khứ cùng hy vọng
tương lai mà nàng cho


Rằng là sự sống nên
nàng luôn tránh mặt cái
chết và ý niệm về
cái chết cho đến khoảnh
khắc này bất chợt nàng

Thấy ra chúng rất đáng
trân trọng và tôn trọng
vì chúng là lẽ cho
nàng sống thật sống ở
đây và ngay bây giờ …

(đầu 6, không 12)

Nguyễn Lương Ba

CĂN NHÀ Ở VÂN DƯƠNG

Tôi đứng nơi hàng hiên
căn nhà có mái che
phủ nhìn ra bầu trời
xám gió trong bóng dáng

căn nhà chỉ còn là
cái mái che với những
khung cửa gian phòng yên
lặng đốt lên hình ảnh

chỉ còn là bóng em
kín đầy gian phòng yên
lặng này thật là yên
lặng một cái gì mong

manh dang dở phải anh
nhớ căn nhà long lanh
với cái khung cửa gian
phòng còn lại em ngọn

đèn bên khu vườn u
tối bài học nủa đêm
tiếng dế râm ran ôi
mưa tí tách căn nhà

có mái che lạnh lùng
mưa rơi tí tách anh
nhớ anh nhớ đường về
em Chi Em Diệp đó

tình yêu để làm gì?
anh về lại nơi đây
đứng đây yên lặng nghe
nhớ lại nghe những lời

âu yếm ngày nào em
đạp xe ngang gian phòng
YÊNZ lặng này với cái
khung cửa anh vẫn thường

nói thật to em đạp
xe ngang em cứ đạp
xe ngang và anh cứ
nói thật to nhiều khi

cũng khùng em cứ đi
tà áo thiết tha trên
đường em đi những ngày
tôi đã trở về đây.


Khế Iêm

KHỔ ĐAU

Viết cho ba người em

Bởi sinh ra vào nơi khổ đau
và đã qua hết đường đau khổ
nên mới đủ nhận biết rằng nỗi
khổ đau cứ lớn dần lớn dần

cho đến khi không thể tù túng
mãi trong thân xác và thân xác
cũng quá còm cõi không thể chịu
đựng nỗi khổ đau nên chăng bắt

đầu cuộc phân ly nước mắt nước
mắt phân ly khổ đau giã từ
thân xác thân xác giã từ khổ
đau và chúng ta cũng phải giã

từ nhau dù rằng đã sống với
nhau trong tình anh em rất lâu
khởi từ một duyên cớ tình cờ
nào … Thân xác trở về đất mẹ

vĩ đại còn khổ đau tan biến
vào bầu trời để rồi chẳng còn
khổ đau chẳng còn thân xác trong
bước độc hành về đi chốn khác.

Thôi, hãy yên nghỉ, hỡi người anh
em thân thiết năm nào, hãy yên
nghỉ, lắng nghe đất với trời đang
tàn theo khúc nhạc chiều tàn.

SUFFERING

For three young brothers

Because you were born into suffering
and having traveled all the paths of
suffering and thus capable of
understanding that suffering grows and

grows until it can no longer be
forever imprisoned in bodies and
bodies are too wasted to bear the
suffering and thus perhaps that is why

the tears start falling the tears are the
suffering departing from the body
the body departing from the suffering
and we depart from each other although

we have lived with each other in brotherhood
for a long time beginning with some
fortunate chance… the body returns to
the great motherland while suffering

disappears into the skies and then suffering
is no more bodies are no more in the
lonely journey elsewhere. Alas, let’s
rest, o my beloved brother of old, rest

you now, listen to the earth and the skies
disappearing with the melodies of
a sunsetting afternoon.

March 7, 2008

LẠI NỖI BUỒN

Nỗi buồn lan man gối
đầu trên con sóng xanh
lao xao lao xao theo
gió nơi bãi sông và

nỗi buồn không còn như
thời quá khứ đứng bên
đường vẫy tay chào ai
đó mà đang pha vào

màu phai nắng làm thành
buổi chiều trên đôi mắt
của cô gái và cô
gái thì đang bâng khuâng

về mối tình đã chớp
mắt xa xa đã xa
nỗi buồn như mây bay
bay và cô gái dĩ

nhiên cũng bay bay theo
nỗi buồn vì nỗi buồn
chẳng phải là mối tình
khác mang tên nỗi buồn

sao và hỡi những cặp
tình nhân yêu nhau hạnh
phúc hay tơ sầu chỉ
là những dấu sương đời

mang tên khác nhau đó
thôi và cô gái và
nỗi buồn và những cặp
tình nhân yêu nhau ơi!


Lê Hưng Tiến

HUẾ KHÔI NGUYÊN

mới hôm tê chiếc lá chiều chơi
vơi bóng thiên di chết một cành
tím Huế nơi tôi tìm được nửa
bên nớ Đồi Thiên An … mới hôm

tê ngọn đuốc thắp suốt cung đàn
với tiếng mõ Nam ai cám cảnh
phù du kinh thiêng niệm réo rắt
tầng xa thẳm bên chùa Thiên Mụ …

mới hôm tê thềm trăng rụng đầy
lá thu đêm Vỹ Dạ dập dìu
bến tự tình cùng mấy dã khách
ri đắm mình tun hút Đập Đá

cũng rứa … nếu nước mắt là hạnh
phúc tràn qua khe cửa Phu Văn
Lâu hãy rũ màu sông Hương huyền
diệu để ngóng Thành cổ trầm mặc

giữa mùa hoa đăng và chân dung
em hôm chừ cũng rứa … có lần
cơn mưa tình đổ xuống thật bưa
anh sinh viên ni kể chi mô

những dòng sông bất hạnh và cô
tê nghe răng mà cả vào sâu
thẳm mặc cho Tịnh Tâm rũ sạch
bóng hồ sen tề! ơi những con

phố quen mùi chân đất ta bỏ
cuộc đời men theo đường cỏ để
tháng năm ghi dấu một kẻ đi rong
như Thành Huế vẫn nét khôi

nguyên chào mỗi thần hôn thần hồn …


Nguyên Quân

ĐƠN PHƯƠNG

Khi em bắt đầu cảm
Nhận được anh đang ở
Bên em cùng lúc trái
Tim anh ngân rung hạnh
Phúc chẳng giản đơn giữa
Một khoảng không gian xa
Cách vời vợi là hai
Người đang phải ở tận
Hai nơi dù chỉ có
Thánh thần mới đơn phương
Lặng lẽ yêu một người
Biết không thể được gần
Gũi cũng chẳng thể vượt
Qua quy luật khoảng không
Gian chật chội của bao
Điều hệ lụy anh cũng
Chỉ là một cái xác
Phàm luôn ứa tràn lục
Dục nhưng biết nhón gót
Cao hơn dấu chân mình.


Khúc Minh

TÔI CƯỚI VỢ TRẺ

Tôi về Việt nam cưới vợ trẻ vợ
tôi tuổi thật là mười sáu ba má
nàng phải chạy giấy tờ tăng hai tuổi
cho nàng đủ tuổi làm giấy hôn thú

với tôi tôi hớn hở mừng thầm mình
lấy được vợ quá trẻ chắc nàng phải
còn trinh trắng sau này qua mỹ nếu
nàng muốn bỏ tôi phải ở với tôi

tối thiểu là năm năm nếu không nàng
sẽ bị trục xuất về Việt nam mỗi
chu kỳ nănm năm rưỡi tôi lại về
Việt nam cưới vợ trẻ một lần cưới

vợ trẻ mãi cho đến khi ngày anh
sáu mươi em cũng vừa đôi mươi có
sao đâu trong đêm tân hôn trước giờ
động phòng tôi nói với vợ tôi anh

vừa thuê cuộn phim ngoại có chuyển âm
lời việt anh bỏ vô máy chiếu anh
em mình xem áp dụng cho đúng bài
bản đem lại hạnh phúc em nhé vợ

tôi bảo ba cái quỷ đó em xem
hết cả rồi mấy người ấy đóng dở
ẹc em sẽ chỉ cho anh nhiều kiểu
bảo đảm phê ngút trời xanh mà các

hãng làm phim sex chưa biết đâu tôi
nghĩ mình gặp thần đồng tuổi trẻ tài
cao rồi thật vậy sau đó nàng chỉ
cho tôi thực hành với nàng các tuyệt

chiêu mà nhiều năm luyện phim sex ở
mỹ tôi chưa hề biết tôi cảm thấy
phê ngút tận mây xanh như đang ở
trong cõi ảo tôi đến được tầng trệt

của thiên đường dần dần tôi bị kích
ngất và mất hết cảm giác khi tôi
tỉnh lại tôi đang nằm trong phòng cấp
cứu của bệnh viện chợ rẫy Sài gòn.


Nguyễn Tuyết Trinh

NHỮNG GIẤC MƠ BÊN TRỜI

Giấc mơ đến cùng tôi ẩn náu,
luồn lách giữa linh hồn háu đói,
ham hố tiếp tục đi xa hơn,
dù đi tận nơi đâu bên ngoài

trời rộng, sang tây sang đông, tới
nam và bắc, bước qua triệu triệu
năm huyền ảo, mê ảo cuộc đời.
Những giấc mơ tìm cách vượt thời

gian, bổ sung lên tất cả chân
lý có vết rạn bị đời khước
từ, triển khai hy vọng hun hút
thẩm sâu, hoàn thiện những hạnh phúc

lẩn khuất, hiện thân phối hợp và
tan rã. Những giấc mơ tìm cách
đi tới bên kia thế hệ vô
tận, giải phóng những giấc mơ hoang

tưởng dự trữ từ lâu câm lặng,
han rỉ cùng từng ký ức. Chúng
ta biết gì về những giấc mơ
ở bên kia để có thể xê

dịch chúng với sự bất lực của
đôi bàn tay, để tiếp tục theo
dấu, lọt vào những giấc mơ còn
cư ngụ trong bóng tối, không ngừng

lấp lánh, phản quang sương mù trên
không, có màn che bất tận, để
mơ cho những giấc mơ không có
chỗ trong ánh sáng của thực tại,

mãi mãi, bao la như sáng tạo.


Thiện Hiếu 

THẤY

Tôi như một ngôi sao đã tắt hằng
triệu năm trước đến bây giờ còn muốn
thấy mặt trời… dù mây che hay đêm
tối để lúc ta yêu nhau có hoa

nở bên tường… có chiếc lá non rung
rinh hạnh phúc. Tôi như ngôi sao đã
tắt hàng triệu triệu năm đến bây giờ
và mai sau còn mong thấy được mặt

người dù cho bão tố phong ba hay
chiến tranh cốt nhục có xảy ra lần
nữa… lần nữa. Tôi như ngôi sao đã
tắt hàng triệu triệu triệu năm đến bây

giờ cũng tắt luôn nguồn ánh sáng thừa
nếu không được nhìn thấy mặt người… mặt
con người…

Sàigòn 18-9-03

TÂN HÌNH THỨC, MỘT ÐÔI ÐIỀU

(Trích Tham Luận “Thơ Tân Hình Thức Việt Tiếp Nhận Và Sáng Tạo”. Huế. 2014)

Mười lăm năm trước gặp nhau rồi…

(Thơ Vũ Hoàng Chương)



Những bài thơ Tân Hình Thức (THT) được các bạn thơ làm trong suốt mười lăm năm qua đã để lại cho chúng ta một di sản đáng kể, hay có và dở có. Nhìn lại dấu mốc những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, những yếu tố thuộc về kinh điển của Thơ THT đã được nhà thơ Khế Iêm phác họa, định hình và khai triển cùng với đóng góp của nhiều nhà thơ khác. Cũng thế, những bài thơ ông làm trong khoảng thời gian đó đã mang sức thuyết phục mạnh mẽ (Con Mèo Đen, Cái Hộp, Ảo Ảnh, Người Đàn Bà, Bậc Thang, Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể, …) khiến cho một số đông các bạn thơ trong đó có tôi cùng hăng hái nhập cuộc. Cuộc chơi ở trong giai đoạn khởi đầu này vô cùng hào hứng. Các bạn thơ đối diện với nàng thơ mà dung nhan đang còn phong kín, đã say sưa bước vào một cuộc phiêu lưu mới. Thời gian ấy, bỏ lại sau lưng dòng sông vàng in bóng đền đài của những mùa thơ cũ, chúng tôi bước vào buổi ban mai của dòng suối tinh khôi chảy róc rách qua kẽ chân nõn nà của nàng thơ THT. Đến nay, thời gian đã đủ dài để cho tôi nhìn lại. Nhìn lại sâu hơn, bằng với lòng lắng hơn, những nét dở và hay đã làm tuyển thơ nên da thịt và tâm hồn của nàng thơ THT.

Tôi còn nhớ có một lần anh Khế Iêm chở tôi đi loanh quanh bằng chiếc xe cũ rích của anh, và mở cho tôi và anh cùng thưởng thức một bài ca cải lương vọng cổ được phát ra từ chiếc máy ọp ẹp gắn trong xe. Chất dân gian đời thường của câu chuyện lòng, qua lời vọng cổ kể lể, được lặp đi lặp lại một cách ai oán, hòa tan vào không gian ngổn ngang sách báo và chai lọ trong nội thất của chiếc xe. Hôm đó tôi được anh nói cho nghe nhận xét của anh về những điểm tương đồng độc đáo giữa bộ môn cải lương và thơ THT. Khi chia tay anh còn lưu luyến tặng cho tôi hai cuốn băng vọng cổ mang về để nghe chơi. Riêng tôi, bằng một sự ngẫu nhiên có ý thức, tôi nhận ra rằng việc thưởng thức một bài thơ THT hay và có hiệu quả, rất gần với với việc thưởng thức lời ru của một bà mẹ ru con. Lời ru có thể là một bài ca dao, một bài vè, một bài vọng cổ, hay là một bài thơ. Nhưng dù là bài gì đi nữa thì những lời ru luôn luôn chuyên chở trong nó cả một bầu tâm sự. Mà tâm sự của lời ru thường chính là tự sự, là chuyện. Nhưng ta biết tâm sự là một chủ thể có ý thức, trong khi cả bà mẹ và đứa con đều đang đi dần, đi dần vào trạng thái đê mê của lời ru bằng vô thức. Khi lời ru càng lúc càng ê a, càng lúc càng lặp đi lặp lại, thì lời ru cuối cùng chỉ còn là viên thuốc ngủ cho đứa con và là viên thuốc an thần cho bà mẹ. Tôi không biết bà mẹ của những dân tộc khác có ru con nhiều như những bà mẹ Việt Nam hay không. Nhưng cả bà mẹ và đứa con đều được hưởng cái hạnh phúc vô tư, hồn nhiên và chan hòa, cái hạnh phúc ê a, cái hạnh phúc lặp đi lặp lại và cộng hửng theo lời ru chất chứa đầy tâm sự, đầy tự sự, và đầy tính truyện.

Vậy chúng ta thử so sánh xem thơ THT có cùng một cấu tạo và tác dụng như lời mẹ ru con chăng. Yếu tố ngôn ngữ đời thường và yếu tố tính truyện vốn bàng bạc trong mọi lời ru con qua mọi thời đại và đó là nhân tố tất yếu khiến cho lời ru ăn sâu vào văn hóa dân gian. Vậy đối với thơ THT, ngôn ngữ đời thường và tính truyện phải được thể hiện bằng cách nào và bằng một ý thức ra sao, để có thể đạt được cùng một hiệu quả như lời mẹ ru con. Câu hỏi trở thành một thách thức cho tôi và các bạn thơ. Khi mà trong lời ru, ngôn ngữ đời thường và tính truyện, xuyên qua vô thức, chỉ còn đọng lại nơi khóe môi cười của đứa bé đang thiếp đi cùng cánh diều viễn du trên vùng trời xanh thẳm. Cũng thế, cái đoạn đường đi từ ý thức đến vô thức đó chính là chuyến viễn du của một nhà thơ trong cuộc phiêu lưu đầy thách thức, chinh phục nàng thơ đang soi bóng dung nhan bình minh của mình bên dòng suối THT.

Sang đến yếu tố vắt dòng, có thể nhận thấy nơi nhịp võng đong đưa, hay là nhịp vỗ về của bàn tay bà mẹ vỗ lên lưng đứa bé. Khi đó hơi thở bị ngắt ra làm nhiều quãng khiến cho lời ru bị vắt dòng một cách vô thức. Và chính cái yếu tố đong đưa, vỗ về đó đã khiến cho lờ ru bị vắt dòng càng lúc càng trở nên thiết tha mời gọi. Cùng một dòng chảy đó, lời ru được cà kê dê ngỗng rồi lập đi lập lại, nỉ non, mang cùng một yếu tố của thơ THT. Và câu hỏi được đặt ra vẫn là, yếu tố tuyển thơ vắt dòng và yếu tố lập lại, vốn có một hiệu quả tất yếu được thể hiện một cách vô thức trong lời mẹ ru con, phải được thể hiện như thế nào để cho một bài thơ THT có thể chấp cánh bay lên như lời ru đê mê của mẹ. Bay lên. Bay lên. Chơi vơi một chút lấy đà thôi rồi bay vút lên đạt tới khoảng trời xanh cao thẳm, đó có phải là một thách thức tuyệt vời cho các bạn thơ tài hoa của chúng ta chăng.

Cũng cần góp ý thêm, đó là xuyên suốt bài thơ, cái phần tâm tư, ý tưởng, tức là cái tứ thơ phải làm chủ mọi câu và chữ. Bởi đó và qua đó phần kĩ thuật của thơ, vốn là con dao hai lưỡi, không làm hỏng bài thơ. Tính truyện chỉ là tính truyện không phải truyện, cần hàm chứa tránh lan man. Tính đời thường phải thường tránh cưỡng ép, cường điệu. Tính vắt dòng như hơi thở nên uyển chuyển tránh lạm dụng. Tính lập lại phải điều tiết cho thành nhạc tính, hòa tan vào mọi yếu tố khác để đẩy cái hồn thơ bay vút lên cao. Một điều đáng lưu ý đó là tất cả các tính cách ấy không nhất thiết phải đồng loạt thể hiện trong cùng một bài thơ. Chúng ta biết rằng tất cả đều chỉ là phương tiện, và một bài thơ hay vốn trước tiên là một bài thơ chứ không phải là một bài thơ đúng.

Các bạn thơ thân mến, trên đây chỉ là đôi điều chia sẻ vụn vặt. Mong các bạn góp ý thêm để thơ THT vẫn là một sân chơi trong rất nhiều sân chơi của chúng ta. Cùng chơi cùng làm cùng cộng hưởng. Sự cộng hưởng ngay thật cho chúng ta cơ hội để bổ khuyết, để hoàn thiện và ngay cả để bỏ đi làm lại từ đầu.

Trầm Phục Khắc - 2014

[3d-flip-book id=”16715″ ][/3d-flip-book]


[3d-flip-book id=”22490″ ][/3d-flip-book]

Ý TƯỞNG THƠ TÂN HÌNH THỨC (THƠ MỞ RỘNG)

Phong trào Thơ Tân Hình Thức là phong trào nóng bỏng và lớn nhất đã tác động đến thơ ca quốc tế trong nửa thế kỷ.

Thơ THT tìm cách đưa những thú vui của vần điệu, nhịp điệu, âm nhạc và kể chuyện trở lại với thơ ca hiện đại. Các nhà thơ trong phong trào cảm thấy thơ ca hàn lâm hiện đại đã trở nên quá khép kín, tự mãn và ham muốn nhàm chán để có nhiều giá trị đối với độc giả nói chung. Theo một trong những người sáng lập, Frederick Feirstein, phong trào này được hình thành để giúp khắc phục những hạn chế của thơ ca như đã được thực hành trong suốt một phần tư thế kỷ qua. Từ năm 1960 đến năm 1990, các thể loại thơ được xuất bản chính là thơ tự do ngắn, trữ tình tự truyện ít nói và thơ chính thức hàn lâm tôn vinh không có nhiều đam mê.

Thơ ca thời thượng trở nên cũ kỹ với ngôn ngữ nhạt nhẽo, tầm thường, không có nhạc tính, đề cập đến một chủ đề không có ích gì cho người đọc. Nó không làm hài lòng cả đôi tai lẫn tâm hồn.

  • Mục tiêu của các nhà thơ tham gia phong trào mở rộng là:

* nói những điều có ý nghĩa và đầy nhiệt huyết về thế giới rộng lớn bên ngoài bản thân họ

* sử dụng mọi nguồn lực của nghệ thuật – bao gồm nhịp điệu, vần điệu và cấu trúc kịch tính và tự sự

* thêm việc sử dụng khoa học và công nghệ dễ dàng vào hình ảnh và chủ đề của họ.

* phấn đấu cho một ngôn ngữ thơ ca bao gồm cả lời nói thông tục của người Mỹ

* tiếp tục sử dụng thơ tự do và thơ không vần cùng với các hình thức truyền thống khác như thơ sonnet, thơ limerick, thơ tứ tuyệt, thơ pantoum, v.v.

Các nhà thơ THT rất lo lắng về việc mất đi lượng độc giả khiến thơ ca ở Mỹ trở thành một hình thức nghệ thuật nhỏ. Phong trào hiện đang cố gắng tìm cách tiếp cận lượng độc giả lớn bằng cách sử dụng các hình thức tự sự dài hơn có thể đọc dễ dàng như tiểu thuyết, bằng cách biểu diễn kịch các bài thơ của mình trong bối cảnh sân khấu và bằng cách hợp tác với các nhạc sĩ nhạc rock và nhạc cổ điển. Những nhà thơ này muốn trình diễn thơ khi họ đọc thơ.

  • Trích dẫn Andrea Hollander Budy, nhà thơ:

“chúng ta thèm thơ giống như chúng ta thèm âm nhạc. Nếu chúng ta là con người, thơ là thứ chúng ta phải có. Nếu chúng ta không có thơ hay, chúng ta sẽ thuộc lòng những giai điệu truyền hình và lời bài hát tệ hại. Nhưng nếu chúng ta được cho thơ hay, chúng ta sẽ giữ lại và muốn nhiều hơn nữa.”

  • Trích dẫn Dana Gioia, tác giả của Can Poetry Matter:

“nhịp điệu là phương tiện tạo nên ngôn ngữ thơ. Nhịp điệu hiện là cách các nhà thơ trò chuyện với độc giả của họ, một cách để lắng nghe các từ chuyển động cùng nhau. Một bài thơ chính thức được thực hiện tốt mang lại niềm vui mà người viết và người đọc có thể chia sẻ trên các điều khoản bình đẳng. Hình thức cung cấp thứ mà chúng ta không thể có được ở bất kỳ nơi nào khác”

  • Trích dẫn Annie Finch, giáo sư và nhà thơ:

“học cách viết theo hình thức thông thường sẽ rèn luyện đôi tai để nghe được âm nhạc của ngôn ngữ, đồng thời cũng cung cấp nền tảng lâu dài để viết thơ hay ở mọi thể loại. Thơ chính thức phải nghe tự nhiên – không gượng ép, không hùng biện vụng về. Có rất ít điều gây khó chịu hơn một bài thơ bắt đầu bằng một nhịp điệu hoặc một vần điệu rồi bỏ dở, thậm chí chỉ một hoặc hai dòng. Tốt hơn là không nên sử dụng bất kỳ hình thức thông thường nào thay vì quyết định giữa chừng rằng nó quá khó hoặc cản trở. Khi bạn đã thành thạo hình thức.”

Finch nói rằng, bài thơ của bạn phải hấp dẫn người khác và thay đổi cuộc sống của họ cũng như của chính bạn mạnh mẽ hơn bạn từng mong đợi.

  • Trích dẫn Robert McDowell, Nhà sáng lập Story Line Press

“bất kỳ ai nghiêm túc với thơ ca đều phải học tất cả những gì họ có thể về các truyền thống thơ ca khác nhau. Nền giáo dục đó sẽ bao gồm nghiên cứu toàn diện về các hình thức vần điệu trong số những thứ khác”

Ông cũng khuyên nên đọc mọi lúc (tất cả các chủ đề) bắt chước các nhà thơ mà chúng ta đọc, ghi chép lại các ý tưởng và quá trình viết, tưởng tượng ra một khán giả đang lắng nghe bạn, viết bằng giọng nói khác với giọng của bạn, cảnh giác khi sử dụng đại từ ngôi thứ nhất rất thường xuyên và bỏ qua các khía cạnh bình thường trong cuộc sống của bạn, tập trung vào chủ đề có ý nghĩa.

Dù là tự do hay truyền thống, thơ ca cũng phải làm vui lòng người khác cũng như khơi dậy cảm xúc. Thơ ca hay nhất là thơ giải trí vì nó bắt nguồn từ truyền thống kể chuyện và sáng tác nhạc của con người và hữu ích vì nó làm xáo trộn cuộc sống của chúng ta và củng cố tính nhân văn của chúng ta.

(From Writer’s Digest tháng 1 năm 1994 – Trích đoạn từ bài viết Expansive Ideas của Michael J Bugeja.)

Google dịch/Thạch Tốt review

The Expansive Poetry Movement is the hottest and biggest movement to hit international poetry in half a century.

The Expansive Poetry seeks to return the pleasures of rhyme,meter,music and storytelling to modern poetry. Poets in the movement feel modern academic poetry has become too withdrawn selfindulgent and lust plain boring to have much value for the general reader. The movement according to one of its founders, Frederick Feirstein was formed to help overcome the limitations of poetry as it has been practiced over the past quarter century. Between the 1960 and 1990 the main types of published poems were the short free verse autobiographical lyric that said little and the celebral academic formal poem that had little passion.

Fashionable poetry become stale with flat ,unremarkable, unmusical language, addressing a subject matter of no use to its reader. It pleased neither ear nor soul.

  • The goals of the poets who join the expansive movement are:

* to say significant and passionate things about the larger world outside themselves

* to use all the resources of the art – including meter, rhyme and dramatic and narrative structures

* to add easy use of science and technology to their imagery ang subject matter.

* to strive for a poetic language that embraces colloqiual American speech

* to continue to use free verse and blank verse olong with othewr traditional forms such as sonnets, limericks, quatrains, pantoums, and so forth.

Expensive poets are very concerned about a loss of audience which relegates poetry in America to a minor art form. The movement currently is trying to find a way to reach a large audience by using longer narrative forms that can be read as easily as novels, by dramatic performances of its poems in a theater setting and by collaborating with musicians both rock and classical. These poets want to perform poetry when they read it.

To quote Andrea Hollander Budy, poet, “we crave poetry the way we crave music. If we are human ,poetry is someting we must have. If we are deprived of good poetry ,we will memorize television jingles and lousy song lyrics. But if we are given good poetry, we keep that instead and will want more.

  • To quote Dana Gioia author of Can Poetry Matter:

“meter is a mean of making the language of poems. Meter is now poets converse with their readers, a way of hearing words move together. A well-executed formal poem provides a pleasure that the writer and reader can share on equal terms . Form provides something we can’t get anywhere else “

  • To quote Annie Finch ,professor and poet:

“learning to write in a regular form will train the ear to hear the music of language, while also providing a permanent foundation for writing good poetry of all types. Formal poems should sound natural-no forcing, no awkward rhetoric. Few things are more disturbing than a poem that starts out with one meter or rhyme scheme and then abandons it, even for a line or two. It is better not to use a reguler form at all than to decide halfway through that is’s too difficult or got in the way. Once you’ve masterd form.”

Finch says, your poem should appeal to other stick in their minds and change their lives and your own more powerfully than you have ever expected.

  • To quote Robert McDowell, Founder of Story Line Press:

” anyone serious about poetry must learn all they can about the various poetic traditions. That education will include a comprehensive study of metrical forms among other things”

He also recommends reading all the time (all sujects) imitating the poets we read. ,keeping notebooks of ideas and of the process of writing, imagining an audience listening to you.,writing in a voice other than your own, being wary of using the first-person pronoun very often and ignoring the ordinary aspects of your life focusing on subject matter of substance.

Whether free form or formal, poems should please the car as well as arouse the emotions. The best poetry is entertaining in that it is rooted in the human tradition of telling stories and making music and useful in that it disturbs our lives and reinforces our humanness.”


Quan niệm nghệ thuật và “triết lý sáng tác” của Edgar Allan Poe

83 . HOÀNG KIM OANH . Quan niệm nghệ thuật và “triết lý sáng tác” của Edgar Allan Poe * Hoàng Kim Oanh

BÀI VIẾT NHÂN KỶ NIỆM  EDGAR ALLAN POE NHÂN SINH NHẬT 216

TÓM TẮT

 Từ Baudelaire, Mallarmé, Valléry…, quan niệm thẩm mỹ về cái Đẹp và triết lý sáng tác thơ, truyện của nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe – nhà thơ, lý thuyết gia của quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, ông tổ của truyện trinh thám, kinh dị và phiêu lưu huyễn tưởng thế giới – đã “nhập tịch” vào quan niệm nghệ thuật của nhiều nhà thơ, nhà văn lãng mạn Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XX. Đó là quan niệm nghệ thuật về Cái Đẹp thuần khiết, độc lập với Đạo đức và Chính trị, và “Nỗi buồn là địa hạt chính đáng nhất của thơ ca”. Đặc biệt hơn, Poe còn đề cao lý trí, cho rằng “nghệ thuật là sản phẩm của trí tuệ”. “Triết lý sáng tác” kì lạ của ông tuy ban đầu bị nhiều cây bút lên án, nhưng đến nay, đã trở thành những công thức sáng tác mẫu mực không chỉ cho văn học Mỹ mà còn cả văn học thế giới, trong đó có văn học Việt Nam.  

Edgar Allan Poe (19.1.1809-7.10.1849)

1.     Mở đầu

 Giới nghiên cứu lâu nay vẫn cho Edgar Poe là một nhà thơ chủ trương “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, là “lý thuyết gia” đầu tiên của thi phái này. Có lẽ bởi sáng tác của ông không quan tâm đến những vấn đề chính trị, xã hội, mà chỉ hướng về nội tâm con người. Và có thể bởi Poe quá chú trọng đến hình thức nghệ thuật sáng tác. Thực ra vấn đề này không phải không có những tranh cãi, phủ định, xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người cho rằng sáng tác của ông có ý đồ kỹ thuật quá đậm, nhà thơ chỉ là một “thợ văn” hơn là một thiên tài nghệ thuật đích thực. Thậm chí còn đánh giá tác phẩm của ông“chỉ là những mảnh ráp nối từ cuộc đời ông”, “chỉ là sản phẩm của một kẻ loạn thần kinh, đầu óc bệnh hoạn, thiếu thăng bằng”. Ngay cả JamesRussell Lowell, mặc dù là một nhà văn thiên tài cũng cho rằng “hai phần năm trong số những tác phẩm của Poe chỉ là những chuyện tầm phào” (Lê Đình Cúc, 2001, 154). Thế nhưng, đến nay, đã có nhiều bài báo, công trình đặt lại vấn đề này, và đề cao “nhà thơ điên” Edgar Allan Poe là “thiên tài bí ẩn, kì lạ nhất” của văn học Mỹ và thế giới, người để lại nhiều ảnh hưởng nhất ở các nền văn học Đông – Tây thế kỉ XIX đến nay. Bài viết này tập trung tìm hiểu quan niệm thẩm mỹ độc đáo của Poe về Cái Đẹp và những cách tân độc đáo của ông trong việc sáng tạo ra “triết lý” sáng tác thơ, thiết lập các nguyên tắc thẩm mỹ trong truyện ngắn, để lại nhiều dấu ấn trong nghệ thuật sáng tác văn chương Việt Nam.

2. Quan niệm nghệ thuật về Cái Đẹp của Edgar Allan Poe

       2.1. Cái Đẹp thuần khiết và Tự nó

   “Trước Poe chưa có nền văn học Hoa Kỳ” (J. Cabau, 2009, 35), thế hệ của Poe chính là người khai sinh nó. Edgar Allan Poe được coi là người mở đường chotrường phái thơ tượng trưng, là “lý thuyết gia” đầu tiên của quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” với quan niệm độc đáo, khác lạ về sáng tác so với những tác gia cùng thời. Trong các tiểu luận phê bình tiêu biểu của Poe, nhiều lần ông khẳng định bản chất của thơ là phải Đẹp. Dù muốn tả một cảm xúc, một tâm trạng hay một chân lý thì những thứ đó cũng phải được bao phủ bởi Cái Đẹp, nếu không thì không thể thành thơ. Theo Poe, Cái Đẹp thuần khiết trong sáng vốn không ràng buộc bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào, hoàn toàn nằm trong tưởng tượng của nhà thơ. Nếu tách tưởng tượng ra khỏi vạn vật thì cũng có nghĩa là đi ngược với quy luật của tự nhiên, làm cho hiện thực cuộc sống trở nên nghèo nàn trần trụi đi, và, sẽ không còn Cái Đẹp (Sonnet –To Science). Quan niệm này rất được các nhà tượng trưng Pháp đề cao. Với Poe, “Cái Đẹp là lĩnh vực chính đáng duy nhất của thi ca. Đó là một niềm vui thích rất mãnh liệt, rất cao cả, và cũng rất thuần khiết mà con người chỉ có thể tìm thấy trong sự chiêm ngưỡng Cái Đẹp”.[1] (Baym Nina, 1989,1322). Có lẽ Poe cũng là người đầu tiên sớm phân biệt rõ Cái Đẹp với Chân lý và Sự đam mê: “Trong thực tế, Chân lý đòi hỏi sự chính xác còn Đam mê thường là thô thiển (những người thực sự đam mê sẽ thông cảm với tôi), mà cả hai điều này (sự chính xác và thô thiển) lại hoàn toàn đối lập với cái Đẹp”[2]. Và thơ của Poe đã thuần túy đi vào Cái Đẹp bởi cái đẹp của chính nó, chính mục đích của Thi ca.

 Trong tiểu luận khá nổi tiếng khác, Nguyên lý thơ (The Poetic Principle) Poe đã định nghĩa bổ sung: “Thơ ca như là sự sáng tạo nhịp điệu của cái Đẹp. Trọng tài duy nhất của nó là Thẩm mỹ. Với Trí tuệ hoặc Lương tâm, nó chỉ có mối tương quan phụ. Trừ phi ngẫu nhiên, nó không có mối liên hệ gì với Trách nhiệm hay Sự thật.” [3]. Poe cũng nhấn mạnh: “bản thân của nguyên lý thơ – nói một cách đơn giản và chặt chẽ – là sự Khát khao của Con người về cái Đẹp cao cả, sự biểu lộ của nguyên lý này luôn luôn căn cứ vào việc nâng cao sự phấn chấn của tâm hồn, hoàn toàn độc lập với Cảm xúc là sự say sưa của Trái tim, hoặc với Sự thật là sự thỏa mãn của Lý trí”[4].

  2.2. Nỗi buồn là giọng điệu phù hợp nhất của thơ ca

Mặt thứ hai trong quan niệm về Cái Đẹp của Poe cũng khác hẳn những quan niệm quen thuộc thông thường khi ông cho rằng: “Cái Đẹp ở bất cứ kiểu loại nào, khi đạt tới cực độ thì bao giờ cũng làm người ta phải nhỏ lệ, do đó giọng thơ phải buồn. Vì thế, u buồn chính là giọng điệu phù hợp nhất của thi ca.”[5] (Baym Nina, 1989,tr.1323). Và ông chọn: “Cái chết của người phụ nữ đẹp (trẻ) là đề tài thơ mộng nhất” (The Philosophy of Composition). Hình tượng trung tâm trong nhiều tác phẩm của ông đều có nhân vật nữ chính hoặc điên loạn chết, hoặc ốm yếu và tàn tạ đến chết bởi một căn bệnh quái ác: lao phổi. (Ligeia, Moreilla, Berenice, Sự sụp đổ của ngôi nhà dòng họ Usher, Bức chân dung hình ô-van…). Chính vì luôn tự dày vò trong suy nghĩ đau đớn về cái chết, nhiều bài thơ của Poe mang trạng thái tuyệt vọng – một thứ khoái cảm trong sự tự hành hạ dày vò chính mình, một kiểu bệnh tâm lý (sadism). Bài thơ Con quạ (The Raven) với điệp khúc “Nevermore- không bao giờ nữa” vì vậy đã trở thành một kiệt tác làm nên tên tuổi của Poe và quan niệm về Cái Đẹp của ông: Cái Đẹp là cái u sầu. Nỗi – đau – mất – người – phụ – nữ – yêu – dấu đã trở thành kiểu đề tài “độc quyền” của Edgar Poe. Cũng như nói đến Edgar Poe là người ta nghĩ đến hình ảnh con quạ và nỗi ám ảnh: “Và con quạ vẫn không bay đi, còn đậu đó (…), ánh sáng đèn giội lên nó, rọi bóng nó trên đất, và tâm hồn tôi không bao giờ thoát lên khỏi cái bóng chập chờn trên đất ấy, không bao giờ nữa!” (Nguyễn Hiến Lê, 1957, 29).

Song, cũng cần phân biệt đề tài Cái chết của Poe không nhằm miêu tả bản thân cái chết mà là quá trình con người nhận thức về cái chết và kiểu chết. Suy nghĩ và phản ứng của con người ra sao trước cái chết. Đối mặt hay sợ hãi, chạy trốn? Poe thường miêu tả thật chi tiết những cảm nhận của con người khi đang dần chết đi và những nỗ lực vùng vẫy của họ để được trở về dương thế. Theo Poe, nhận thức quy luật về cái chết không phải là sự yếu đuối mà chính qua đối mặt với cái chết, sức mạnh con người lại được khẳng định. Trong nhiều truyện huyễn tưởng kì ảo của Poe, nhân vật của ông đều trở về từ cái chết. “Không có sự đổi mới nào tránh được cái chết. Con người, như một cuộc chạy đua, không nên mất hết hy vọng, anh ta phải được sống lần nữa.”[6] (E. Poe, 1984, 597). Gia tài nghệ thuật của Poe, ngoài những thông điệp về Cái chết, Tình yêu và Nỗi buồn còn mang nặng những trăn trở giằng xé phản thân của con người khi tự đối bóng để đi tìm cái bản ngã đích thực của mình (William Wilson, Con người của đám đông, Trái tim thú tội, Con mèo đen…).

  2.3. Nghệ thuật vị linh hồn con người

Có thể nói một cách khách quan hơn, theo cách dùng từ của Eric Calson, tuy đề cao cái Đẹp, cho trọng tài duy nhất của thơ ca là Thẩm mỹ và đối lập nó với Đạo Đức, Lương tâm…, Poe không hoàn toàn chủ trương “Nghệ thuật vị nghệ thuật” (Art for Art’s Sake) mà đúng hơn là đi theo quan điểm “Nghệ thuật vị linh hồn con người “(Art for the Soul ‘s Sake) (Eric Calson, 1973, 3). Có lẽ điều này mới thật phù hợp với quan điểm nghệ thuật của Edgar Poe. Nghệ thuật trước hết vì chính bản thân việc thoả mãn những cảm xúc thuần túy của con người trước Cái Đẹp, đồng thời cũng là sự khám phá thế giới tâm hồn đa dạng phức tạp của con người. Đó cũng là con đường tuy không trực tiếp nhưng cũng phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân sinh chăng? Hiểu được, hiểu đúng về con người phải chăng cũng chính là mục đích mà thơ ca nói riêng và văn chương nói chung luôn hướng tới để làm cho cuộc sống này, thế giới này ngày một tốt đẹp hơn. Chính nhà văn Mỹ Emerson, người hoàn toàn không theo quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” cũng thấy rằng: “bao giờ cái đẹp cũng phục vụ cho tư tưởng và sự nâng cao tinh thần” (Nguyễn Đức Đàn, 1997, 126).

Những quan điểm thẩm mỹ tưởng như kì lạ này của Poe về Cái Đẹp, Cái Chết và Kiểu trở về từ cái chết, cũng như sự nhận thức về cái chết đã được tiếp nhận và tiếp biến trong văn chương Việt Nam. Thơ lãng mạn Việt Nam từ những năm 30 cũng đầy ám ảnh về cái chết, có lẽ không chỉ đơn thuần là cái nhìn bi quan yếu đuối mà còn ẩn một thông điệp của sự phản kháng, phủ định thực tại đen tối và khẳng định sức mạnh con người? Còn “cái chết của người con gái đẹp – người yêu dấu” của Poe, cho đến nay, đã trở thành một trong những chủ đề được nhiều cây bút tài hoa ưa thích và khai thác thành công nhất. Quan niệm nghệ thuật của Edgar Poe đã được Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê và một số nhà văn, nhà thơ Mới khác tiếp nhận trong buổi giao thời với tâm thế khao khát cách tân văn học nước nhà theo con đường hiện đại hoá phương Tây. Chính thức hoặc không chính thức, các nhà thơ Mới này đều có những tuyên ngôn độc đáo về thơ và vai trò của người nghệ sĩ. Có lẽ, với họ, Cái Đẹp tuyệt đối, cái Đẹp thuần khiết, không chịu ảnh hưởng của đạo đức, luân lý ràng buộc, khát khao giải phóng cái Tôi ở mọi cung bậc cũng chính là “khát vọng thành thực” phá vỡ xích xiềng lạc hậu sáo mòn của văn học ảnh hưởng văn hoá Hán ngàn năm trước, trong những năm đen tối ngột ngạt nô lệ của đất nước, tìm một hướng đi mới cho văn học dân tộc. Nghĩa là, ở một mặt nào đó, đã phục vụ nhân sinh?

3. Quan điểm sáng tác: “Nghệ thuật là sản phẩm của trí tuệ”

              Poe rất tôn thờ Nghệ thuật, coi đó là nữ hoàng cao cả nhất. Và nhà thơ, như một thiên mệnh, là người trung gian giữa ý tưởng của Thượng Đế và khát vọng của con người. Ông tự ví tâm hồn mình “như một dây đàn”, chỉ rung lên bởi cảm xúc mãnh liệt mà Nàng Nghệ thuật mang đến. Những giấc mơ xa xôi với những “Nàng Thơ”, “Nàng Tiên” – thường được Poe đề cao với một vẻ đẹp thiên thần, bất tử – như là một phương tiện, một phương thuốc nhiệm màu “Để giải thoát trái tim tôi, và những hy vọng sắp tàn”. Bởi vì hễ khi nào: “Còn tin vào những giấc mơ. Tôi còn bị quyến rũ bởi Nàng thơ.”(Gửi nàng Louise Olivia Hunter)[7] Mà như chúng ta biết, cuộc đời lẫn thơ của Poe luôn đầy những giấc mơ. Đó là chuỗi kiếm tìm trong vô vọng “thiên đường đã mất” (Paradise Lost), là sự trốn lánh “thực tại đau buồn đầy hỗn loạn và dục vọng đua chen”. Giấc mơ là một phần đời của Poe. Bởi, với nhà thơ bất hạnh này:

 “Tôi chỉ hạnh phúc trong giấc mơ.

  Tôi hạnh phúc.

  Và tôi yêu điều đó.[8]

  (Những giấc mơ)

           Tuy nhiên, cần hiểu rõ hơn những tuyên ngôn tưởng chừng như đầy mâu thuẫn của Poe. Có lẽ Poe là nhà văn đầu tiên có ý thức phân định rạch ròi: Bản chất của thơ ca là Cái Đẹp thuần khiết, còn quá trình sáng tạo ra bài thơ lại hoàn toàn là vấn đề của lý trí. Đề cao lý trí, “Etga Pô đã quan niệm sáng tác thơ ca không phải là một hoạt động thần bí, hoặc có tính may rủi ngẫu nhiên mà chịu sự chỉ đạo chặt chẽ của lý trí.” (Hà Minh Đức, 1997, 147). Trong tiểu luận Nguyên lý thơ (The Poetic Principle), Poe viết: “Chia thế giới trí óc thành ba phần khác biệt rõ ràng, chúng ta có Trí tuệ thuần tuý, Thẩm mỹ, và Ý thức Đạo đức. Tôi đặt Thẩm mỹ ở vị trí giữa, bởi nó chỉ có thể chiếm vị trí này trong trí óc.” (Baym Nina, 1989, 1334)[9] Từ những “tuyên ngôn” của Poe, Nguyễn Hiến Lê cũng rút ra kinh nghiệm sáng tác: “hứng thú “chỉ quan trọng có 5%, còn chín mươi lăm phần trăm nữa là công phu” (Nguyễn Hiến Lê, 1957, 38). Việc chọn bài thơ ‘Con quạ’ để giải thích quá trình sáng tác của Poe có lẽ cũng là việc làm độc nhất vô nhị thời bấy giờ. Poe đã chứng minh “không có một điểm nào trong bố cục của bài thơ có thể quy cho sự ngẫu nhiên hay trực giác, mà tác phẩm đã phát triển từng bước cho đến khi hoàn thành với kết quả chính xác và nghiêm ngặt của một bài toán”[10] (Baym Nina, 1989, 1321). Dù còn dè dặt, Hà Minh Đức cũng đánh giá trường hợp cá biệt của Poe mang ý nghĩa tích cực bởi thể hiện được “ý thức của nhà thơ chỉ đạo chặt chẽ quá trình sáng tác” và đã “nói lên được một cái gì chung cho hoạt động thơ ca.” (Hà Minh Đức, 1997,148). Nghệ thuật là sản phẩm của trí tuệ. Quan điểm sáng tác rất lạ, rất mới so với kinh nghiệm thẩm mỹ sẵn có từ trước này của Poe đã vượt ra khỏi tầm đón đợi của thời đại ông sống, từng khiến thời đại của ông lúng túng, chưa chấp nhận ngay được nên không ít nhà phê bình đã phản ứng, coi ông là ‘kẻ điên rồ”!

            Ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, diễn trình tiếp nhận quan điểm này vẫn còn nhiều ý kiến đối thoại, tranh cãi, bất đồng. Ngay chính Nguyễn Hiến Lê, người dịch và phê bình đầu tiên tiểu luận này, tuy thán phục tài năng nhưng cũng không coi đó là mẫu mực cho sáng tác thơ ca vì theo ông: “phương pháp của Edgar Poe chỉ có thể dùng để sáng tác những tiểu phẩm khéo mà không hồn.” (Nguyễn Hiến Lê, 1957, 32). Ngược lại, nhà thơ Nguyên Sa thì đồng tình: “sáng tạo không phải lên đồng hay cầu cơ và nghệ sĩ ngồi đó như cái xác không hồn để cho ngọn gió từ phương xa, tinh thần từ thế giới khác nhập vào”, mà ý thức về nghệ thuật sáng tạo thể hiện qua sự trăn trở tìm tòi về kĩ thuật sáng tạo, bởi ý thức này “có mặt trước khi, trong khi và sau khi cấu tạo tác phẩm” (Nguyên Sa, 1967,120). Điều này cũng tương đồng với quan niệm quen thuộc của E. Poe về lối thơ duy lý, óc suy luận trong nhiều truyện ngắn của ông.

           Đến những năm đầu thế kỉ XXI, quan điểm sáng tác kì lạ của Poe lại được thế hệ những nhà văn mới khẳng định. Tiếp cận nhiều tác phẩm của Poe từ tiếng Nga, kinh nghiệm đọc E.A.Poe của nhà văn – nhà nghiên cứu- dịch giả Ngô Tự Lập lại đưa đến một sự đồng cảm sâu sắc với quan điểm khác thường của Edgar Poe. “Ngay từ trước khi viết văn, tôi vẫn nghĩ rằng viết văn là giải một loại bài toán”. Quan điểm “Nghệ thuật là sản phẩm của trí tuệ” của Edgar Poe đã trở thành lời động viên quý báu cho con đường nghệ thuật của Ngô Tự Lập. Đây là một sự tiếp nhận chủ động và rất ý thức, bởi với tác giả, ý tưởng của Poe đã giúp ông khẳng định chuẩn thẩm mỹ của mình, vì cho dù: “Poe có mô tả đúng những gì diễn ra trong quá trình sáng tác bài thơ nổi tiếng của ông hay không, nhưng có một điều chắc chắn: sự ra đời văn học hư cấu cũng đồng thời là sự lên ngôi của trí tuệ.” (Ngô Tự Lập, 2005, 32).

 4. “Triết lý sáng tác” trong truyện và thơ

 4.1. “Triết lý” về kĩ thuật xây dựng truyện

     Hầu hết truyện của Poe đều là thể loại truyện ngắn. E.A.Poe cũng chính là người khai sinh lý thuyết về truyện ngắn qua nhiều bài báo, phê bình tiểu luận củaông, và đã “mang lại cho nó một định nghĩa mà không ai vượt qua nổi” (Lê Huy Bắc, 2003). Trong Triết lý về sáng tác (Philosophy of Composition), kĩ thuật xây dựng cốt truyện được Poe nói rõ: “Mọi cốt truyện đúng như tên gọi là cốt truyện phải được xây dựng nhằm vào sự mở nút của nó trước khi ngòi bút động đến những vấn đề khác”. Và phải làm sao cho “những tình tiết và đặc biệt là những giọng điệu ở mọi điểm đều hướng về sự phát triển của ý đồ.”[11]. Poe cũng nhấn mạnh nên “bắt đầu bằng sự cân nhắc một hiệu quả cho tác phẩm.” Nhất là “luôn phải giữ quan điểm về sự độc đáo – bởi vì những ai liều lĩnh sử dụng nguồn hứng thú quá rõ và quá dễ dàng đạt được vì có sẵn thì sẽ lâm vào tình trạng giả dối với chính mình”[12]. Ngoài ra, dung lượng của tác phẩm được Poe cho là cần xem xét đầu tiên, bởi theo ông “Nếu như một tác phẩm văn học quá dài, không thể đọc được một mạch (one sitting), chúng ta sẽ bỏ mất hiệu quả quan trọng phát sinh từ sự thống nhất ấn tượng (unity of impression) – bởi vì, nếu như phải đọc làm hai lượt, những công việc sự vụ trên đời này sẽ xen vào và cái tổng thể lập tức bị phá huỷ” [13]. Điểm này cũng được ông nêu cụ thể hơn trong tiểu luận Phê bình những truyện kể hai lần của Hawthorne (Review of Hawthorne Twice Told Tales). Muốn đạt hiệu quả ấy, nhà văn phải cân nhắc, tính toán trướcnhững hiệu ứng nào sẽ gây ra nơi người đọc rồi mới chọn lựa, kết hợp các biến cố, các tình tiết để xây dựng thành tác phẩm, phải tạo ra những phương tiện biểu hiện làm tăng hiệu quả của sự rùng rợn và khiếp sợ. Và cũng có thể nói thiên tài của Poe là ở chỗ phát hiện rất sớm vai trò người đọc trong thời điểm bấy giờ. Nguyên tắc viết truyện ngắn này đã được Poe thử nghiệm trong nhiều tác phẩm của ông. Poe thường đặt bối cảnh truyện vào ban đêm, trong bóng tối; tập trung miêu tả những hình ảnh tưởng tượng ghê rợn đến kì lạ vốn không có trong hiện thực như trong Mặt nạ tử thần đỏ, Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher, Cuộc trò chuyện với một xác ướp, Linh hồn, Con quỷ trên gác chuông, Con mèo đen…chuyện “nhập xác” trong Ligeria, chuyện Egaeus vì quá thương tiếc người yêu mà trong cơn mộng du đã đào huyệt…mang về 32 cái răng nhỏ trắng của nàng trong Berenice…. Bản thân những hình ảnh ấy đã gợi trí tò mò và sự kinh hãi nơi người đọc. Tính biểu tượng về màu sắc, ánh sáng, âm thanh cũng góp phần tạo nên hiệu ứng khiếp sợ này. Poe đã miêu tả được trạng thái đặc biệt của tâm hồn con người qua tâm lý trái ngược lạ lùng, càng sợ hãi, người ta càng bị sự tò mò thôi thúc và muốn chiến thắng nỗi sợ hãi bằng cách khám phá nó đến cùng.

Cách kể chuyện trong hầu hết các truyện của Poe thường đi theo thời gian hồi tưởng, nhân vật trần thuật thường là ngôi thứ nhất nên truyện của Poe mang dáng dấp những tự thuật, tự thú, dằn vặt, gợi liên tưởng đến những giá trị phê phán xã hội, kinh tởm sự độc ác của con người, dù Poe tuyên bố tách rời văn chương với luân lý, đạo đức…. Giọng người trần thuật Ngôn ngữ độc thoại do chính nhân vật – cũng là người kể chuyện tự kể lại những câu chuyện kì dị, khủng khiếp của mình là chọn lựa khá phù hợp của Poe. Kĩ thuật này góp phần phơi bày những giằng xé nội tâm của nhân vật, hoặc tự phân tích nguyên nhân gây ra tội ác và khiến người đọc như chứng kiến được toàn bộ quá trình phạm tội và cảm thông, sợ hãi, kinh hoàng hay tự đưa ra những phán xét. Những lý thuyết truyện ngắn trên đã tạo nên phong cách tiêu biểu cho truyện ngắn của Poe mà ngày nay đã trở thành khuôn mẫu của thể loại.

 4.2. “Triết lý sáng tác” trong thơ ca

    Trong tiểu luận nổi tiếng “Triết lý về sáng tác”, Poe đã kể lại cách mình sáng tác bài thơ ‘Con quạ’ như thế nào. Những luận điểm cơ bản về quan niệm nghệ thuật của Poe trong tiểu luận trên chúng tôi đã giới thiệu (phần 2.1.) nên không lặp lại, chỉ nhấn mạnh kĩ thuật xây dựng cấu trúc và ngôn ngữ thơ của Poe bởi các bước sáng tác của ông khá trái ngược với lối thông thường. Trước tiên, Poe cân nhắc độ dài của bài thơ không nên dài quá vì sẽ làm người đọc không thể đọc liền một mạch. Bước thứ hai là chọn lựa cảm xúc định gây nơi người đọc, mà theo Poe, cảm xúc đó phải là sự thích thú, và giọng thơ phải buồn đến ảo não, bi thảm. Thứ ba, điều căn bản nhất là “bài thơ phải có một điểm làm điệu chính, có tính cách nghệ thuật, kích thích. Điểm đó sẽ là điệp khúc (refrain). Nhưng điệp khúc chỉ được lặp lại về âm thanh, chứ không được đơn điệu về ý tưởng.” (Nguyễn Hiến Lê, 1957, 15). Để tránh sự nhàm chán, trong mỗi điệp khúc, âm thanh không thay đổi mà ý tưởng thì phải thay đổi để gây cảm xúc mới cho người đọc. Tất nhiên, điệp khúc cũng không nên dài quá, tốt nhất là những từ đơn, đặt ở cuối mỗi đoạn. Điệp khúc này, theo Poe, phải có âm vang và dài. Đó là bước thứ tư. Rồi ông xét hết thảy các âm tiếng Anh và chọn kết hợp âm O và R thành điệp khúc “nevermore”. Thủ pháp này gần như là thủ pháp nghệ thuật chính trong thơ ông. Điệp khúc ở cuối mỗi khổ thơ, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc, điệp đầu câu, điệp vòng tròn… đều có mặt dày đặc trong hầu hết các bài thơ kiệt xuất của ông. Có thể kể những cách sử dụng điệp khúc ấn tượng như:

·        Nothing more (6 lần), Nevermore (11 lần), my chamber door (7 lần), his chamber door (2 lần) –  (The Raven)

·        Not all (6 lần) our power, our fame,

the magic, the wonder,

the mysteries, the memories  (The Coliseum)

·        Keeping time, time, time (4 lần)  (The Bells)

·        From the  bells, bells, bells, bells,

                     BELLS, BELLS, BELLS-

                Of the bells, bells,bells, bells

                                Bells, bells, bells- (7 lần) – (The Bells)

·        In a kingdom by the sea (5 lần), my Annabel Lee (3 lần), the beautiful Annabel Lee (3) (Annabel Lee)

 Với ý thức chọn lựa âm thanh công phu, đúng là Poe đã tạo nên những âm thanh kì diệu bởi ngôn từ. Có thể thấy, chỉ riêng từ “bells” đã xuất hiện 61 lần/112 dòng thơ của bài ‘Những tiếng chuông’. Các từ thính giác và thị giác được liên kết tạo thành một giai điệu bất tận, lan tỏa, diễn tả sự tương hợp xúc cảm giữa con người và vũ trụ. Thủ pháp điệp khúc độc đáo này đã làm tăng nhạc tính cho thơ mà không bị cùn mòn về ‎nghĩa. Rimbaud, Verlaine và nhiều nhà thơ Pháp rất ngưỡng mộ kĩ thuật này.

          Bấy giờ mới đến bước thứ năm là tìm ý chính cho toàn bài. Chọn được đại ý rồi ông bắt đầu kiếm ý cho mỗi khổ và viết ngay khổ kết là khổ buồn thảm nhất và lấy khổ ấy làm chuẩn để viết các khổ trước nó. Cuối cùng ông mới chọn khung cảnh phù hợp cho bài thơ để làm tăng cảm xúc bi thảm đã định. Có thể thấy, Poe đã tính toán hết sức tỉ mỉ các yếu tố hình thức của một bài thơ từ âm thanh, từ ngữ, số câu, số đoạn đến hình ảnh và cảm xúc theo phương pháp hình thức quyết định nội dung. Giới phê bình Âu Mỹ và cả Việt Nam chúng ta đã có biết bao tranh cãi, hoài nghi về các bước hình thành bài thơ của Poe dù không phủ nhận tiểu luận này là tư liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu như đã nêu ở mục 3.

Tính nhạc chính là luận điểm quan trọng xuyên suốt nhiều tiểu luận phê bình của Poe và sau này trở thành nguyên tắc quan trọng của thơ tượng trưng. Âm nhạc giúp thơ mở ra những chân trời mới không cùng cho tưởng tượng của người nghệ sĩ. Trong “Thư gửi B” (Letter to B), Poe khẳng định: “Âm nhạc mà không có ý tưởng chỉ đơn thuần là âm nhạc, còn ý tưởng mà không có âm nhạc thì chỉ là văn xuôi”[14](Baym Nina, 1989, 872). Mặc dù một số nhà phê bình Mỹ cho rằng “cái đẹp trong nhịp điệu và âm thanh của Poe thường chỉ có một nội dung trống rỗng” (Nguyễn Đức Đàn, 1996, 69), hoặc do ý đồ kỹ thuật quá đậm nên thơ của ông thiếu sự hồn nhiên, thành thực. Nhưng nếu đã đọc từng bước tỉ mỉ, cẩn thận theo logic mà Poe giải thích quá trình hình thành một bài thơ trong Triết lý về sáng tác, hẳn có thể thấy Poe là một nhà thơ lao động nghiêm túc đến độ tận tuỵ khi khổ công tính toán, chọn lựa hình ảnh, kết cấu, nhịp điệu cho thơ.

Về ngôn ngữ, Poe thường dùng nhiều định ngữ nghệ thuật mang tính tráng lệpha lẫn khoa trương tạo ấn tượng mạnh về cảm xúc. Các nhà “Poe học” (Poe scholars) Mỹ và thế giới đã có nhiều công trình khảo sát diễn ngôn nghệ thuật của Poe và đề cao ông là một nhà tu từ học, phong cách học, người sáng tạo ngôn từ bởi sự tinh thông của ông về các phong cách đa dạng của ngôn ngữ văn chương và sự sử dụng từ ngữ, âm thanh khéo léo, tài tình đầy sáng tạo của ông. Burton R. Pollin đã liệt kê những từ đơn, từ ghép và danh từ riêng tiếng Anh do Poe sáng tạo hoặc sử dụng đầu tiên trong công trình Poe, Creator of Words của ông gồm 1143 từ mới xuất hiện trong văn học, nhiều hơn cả Melville 200 từ. Trong Bản chất của thơ ca (The Rationale of Verse), Poe nhắc lời Goold Brown định nghĩa: “Phép làm thơ là nghệ thuật sắp xếp từ ngữ vào những dòng thơ có chiều dài tương ứng, phù hợp để tạo sự hài hòa bởi sự thay đổi luân phiên của các âm tiết khác nhau (dài – ngắn) về số lượng”[15] (E.Poe, 1850, 217) theo một sự tính toán chặt chẽ. Mọi sự sắp xếp này, nếu đo lường được, có thể tìm thấy mối quan hệ toán học chính xác. Theo ông, “nguyên tắc sơ đẳng của thơ có lẽ chỉ tìm được trong nhịp spondee, và mọi mầm mống của ý tưởng đều có thể tìm được trong sự cân bằng của một nhịp có hai âm tiết”[16] (E.Poe, 1850, 223). Poe cũng đòi hỏi phải có sự hài hòa, tính chất du dươngtạo nên bởi tiết tấu trong từng vần thơ. Và, tính chất ấy chỉ có thể được tạo nên bởi Âm nhạc. Nhiều bài thơ của ông đã chứng minh quan niệm này. The Raven, The Bells, A Dream within a Dream, The City in the Sea, Annabel Lee…là những đỉnh cao nghệ thuật của thơ Poe không chỉ qua hình tượng nghệ thuật tượng trưng ám dụ, âm điệu u hoài mà còn là sức rung động của từ ngữ, nhất là những từ tượng thanh, cách dùng các phụ âm, hiệp vần, điệp khúc…, với một sự thấu hiểu kỳ lạ về nhiều chức năng của sự giao tiếp bằng ngôn từ.

            Trên đây là khái lược những nét cơ bản nhất về quan niệm nghệ thuật kì lạ, mới mẻ về Cái Đẹp, quan điểm sáng tác, triết lý và những nguyên tắc sáng tác một bài thơ, truyện ngắn của E.A.Poe thể hiện qua các tiểu luận phê bình độc đáo và thực tiễn sáng tác của ông. Thời đại Poe sống đã chỉ trích, phê phán, cho là điên rồ, nhảm nhí, chỉ một số rất ít đồng nghiệp của Poe tiếp nhận, bởi nó cách quá xa những kinh nghiệm họ từng đọc, từng biết trước đó. Oái oăm thay, cũng chính những tác phẩm bị nước Mỹ quê hương Poe ruồng bỏ lại được Châu Âu nồng nhiệt yêu mến, tôn thờ. Nga, Pháp, Ý là những nước đầu tiên phát hiện và tôn vinh thiên tài Edgar Poe. Và, một thế kỉ sau, từ các nhà tượng trưng Pháp, Poe lại được sự đồng cảm lạ lùng bởi các nhà văn, nhà thơ lãng mạn Việt Nam.


 5. 2011

10. 2024

HOÀNG KIM OANH


CHÚ THÍCH

[1] “Beauty is the sole legitimate province of the poem…That pleasure which is at once the most intense, the most elevating, and the most pure, is, I believe, found in the contemplation of the beautiful. [1, 1323]

[2] “Truth, in fact, demands a precision, and Passion, a homeliness (the truly passionate will comprehend me) which are absolutely antagonistic to that Beauty” [1, 1322]

[3] “In brief, the Poetry of words as The Rhythmical Creation of Beauty. Its sole arbiter is Taste. With the Intellect or with the Conscience, it has only collateral relations. Unless incidentally, it has no concern whatever either with Duty or with Truth.” (The Poetic Principle).

[4] “this Principle itself is, strictly and simply, the Human Aspiration for Supernal Beauty, the manifestation of the Principle is always found in an elevating excitement of the Soul — quite independent of that passion which is the intoxication of the Heart — or of that Truth which is the satisfaction of the Reason” [1,1347]

[5] “Beauty of whatever kind, in its supreme development, invariably excites the sensitive soul to tears. Melancholy is thus the most legitimate of all the poetical tones”  [1,1323]

[6] “I could anticipate no regeneration save in death. That man, as a race, should not become extinct…he must be born again” (Cuộc trò chuyện của Monos và Una- The Colloquy of Monos and Una).

[7] “While, on dreams relying, I am spelled by art.” (To Miss Louise Olivia Hunter)

[8] “I have been happy, tho’ in a dream. I have been happy- and I love the theme” (Dreams)

[9]  “Dividing the world of mind into its three most immediately obvious distinctions, we have the Pure Intellect, Taste, and the Moral Sense. I place Taste in the middle, because it is just this position which, in the mind, it occupies.” (The Poetic Principle) [1,1334]

[10] I select “The Raven”, as most generally known. It is my design to render it manifest that no one point in its composition is referrible either to accident or intuition — that the work proceeded, step by step, to its completion with the precision and rigid consequence of a mathematical problem. (The Philosophy of Composition), [1, 1321]

[11]“Nothing is more clear than that every plot, worth the name, must be elaborated to its dénouementbefore any thing be attempt with the pen. It is only with the dénouement constantly in view that we can give a plot its indispensable air of consequence, or causation, by making the incidents, and especially the tone at all points, tend to the developmentof the intention” (Philosophy of Composition) [1, 1319]

[12] “Keeping originality always in view- for he is false to himself who ventures to dispense with so obvious and so easily attainable a source of interest” [1, 1320]

[13] “If any literary work is too long to be read at one sitting, we must be content to dispense with the immensely important effect derivable from unity of impression – for, if two sittings be required, the affairs of the world interfere, and every thing like totality is at once destroyed.” [1, 1321]

[14] “…Music without the idea is simply music; the idea without the music is prose…”(Letter to B)

[15] “Versification is the art of arranging words into lines of correspondent length, so as to produce harmony by the regular alternation of syllables differing in quantity.”

[16] “The rudiment of verse may possibly be found in the spondee. The very germ of a thought seeking satisfaction in equality of sound would result in the construction of words of two syllables, equally accented. In corroboration of this idea we find that spondees most abound in the most ancient tongues.” (The Rational of Verse). Spondee: một nhịp được dùng nhiều nhất trong thơ cổ, gồm hai âm tiết mạnh, có nhấn giọng – tạm hiểu tương đương như vần trắc như trong luật thơ tiếng Việt).

*Những phần trích dẫn dịch từ nguyên tác không để tên người dịch là do tác giả bài viết tạm chuyển ngữ.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1.     Baym, Nina. 1989. The Norton anthology of American literature, NewYork – Lond: W.W.Norton.

2.     Cabau, Jacques. 2009. Edgar Poe, khát khao sáng tạo và huỷ diệt, Khổng Đức dịch, H : Nxb. Thời đại.

3.     Carlson, Eric W. 1973. Poe on the soul of man, Baltimore: Edgar Allan Poe society of Baltimore. S:1 – PSM, 1973.

4.     Hà Minh Đức. 1997. Thơ và mấy vấn đề trong thơ hiện đại, H:Nxb GD.

5.     Jakobson. 2008. Thi học và Ngữ học – Lý luận văn học phương Tây hiện đại, Trần Duy Châu biên khảo. H: Nxb. Văn học, Trung tâm nghiên cứu quốc học.

6.     Lê Huy Bắc. 2003. Cần chủ động hơn nữa trong việc tiếp cận văn học Mỹ. Trả lời phỏng vấn. Việt Báo. Đăng ngày 14-3-2003. Nguồn: http://vietbao.vn/Giai-tri/Can-chu-dong-hon-trong-viec-tiep-can-van-hoc-My/20005513/235/

7.     Ngô Tự Lập. 2002. Tuyển tập Edgar Allan Poe. H : Nxb. Văn học.

8.     Ngô Tự Lập. 2005. Minh triết của giới hạn. H : Nxb. Hội nhà văn.

9.     Nguyên Sa. 1967. Một bông hồng cho văn nghệ. S: Trình bầy.

10. Nguyễn Hiến Lê. 1957. Luyện văn. SG: Nxb. Nguyễn Hiến Lê.

11. Nguyễn Đức Đàn. 1996. Hành trình văn học Mỹ, H: Nxb Văn học.

12. Poe, Edgar Allan, 1984. Complete Stories s and poems of Edgar Allan Poe, USA: Publisher. Doubleday; Book Club edition (August 15, 1984)

13. Poe, Edgar Allan. 1850. “The Rationale of Verse”, The Works of the Late Edgar Allan Poe, edited by Rufus Wilmot Griswold. Vol.II. Poems and Miscellanies, New York: J. S. Redfield,Clinton Hall. 1850, page 215-258.

14.  Pollin, Burton R. (1973), (1998), Poe, Creator of Words. Bài tham luận kỉ niệm 50 năm thành lập The Edgar Allan Poe Society ở Baltimore, nguồn: http://www.eapoe.org/PAPERS/psblctrs/pl19741.htm.

 Nguồn:  Tạp chíKhoa học Xã hội- Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ, số 10 (158) 2011, trang 26-35


TẠP CHÍ VĂN PHONG

Chú Giải về Thơ Tân Hình Thức

Ảnh Hiếu Trần
Ảnh Hiếu Trần

Tân Hình Thức
Và Câu Chuyện Kể

www.thotanhinhthucviet.vn

[3d-flip-book id=”21863″][/3d-flip-book]


Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đã được
kể lại, từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và
đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được
gọi là chỗ chết, nơi góc phố được
gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen; gãy góc, xấu xí như
cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ
nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt,
như thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng

nhưng người đàn bà và đàn con nheo
nhóc, vẫn kể lại câu chuyện đã được
kể lại, như người khác đã từng kể
lại, dù chẳng để lại gì ngoài câu

chuyện đã kể, bởi câu chuyện đang tự
kể lại, và không ai, ngay cả người
đàn bà và đàn con nheo nhóc, bước
ra ngoài câu chuyện đã được kể lại.

Trong những tuyển tập thơ Hoa Kỳ như “Poems For the Mil-lennium” hay “Postmodern American Poetry”, sau mỗi bài thơ được tuyển chọn, thường có một đoạn chú giải (commentary) về bài thơ hay quan điểm về thơ của tác giả. Đối với thơ Việt, nhất là những bài thơ mang tính thử nghiệm, có lẽ cũng là cách hay, để người đọc có thể tiếp nhận và dễ đánh giá. Trong bài thơ “Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể”, tôi thử áp dụng một số yếu tố của thơ Tân Hình Thức Hoa Kỳ (New Formalism) vào thơ Việt, chọn thể tám chữ, mang giọng kể là thi pháp tự nhiên của đời thường (tính truyện), xử dụng kỹ thuật vắt giòng (enjambment), đọc liên tục từ dòng (line) này sang dòng khác, lập lại những nhóm chữ (như nhạc Rap) để tạo thành điệp vận và vần không hợp cách.

Giống như một vật tìm được (found object), chúng ta vào một cái kho chứa, tìm kiếm, lục lọi một món đồ cũ, lấy ra dùng lại. Những nhà thơ Tân Hình Thức Hoa kỳ dùng âm giọng iambic pen-tameter, gần với ngôn ngữ nói thường ngày, kết hợp với chất liệu của đời sống hiện đại, sử dụng luật tắc đó như dụng cụ, tỉa bớt những âm rườm rà của ngôn ngữ nói, thành thi pháp đời thường (a poetics of the everyday). Nhưng thi pháp đời thường vì gọi như thế nên biến hóa và không dừng lại ở bất cứ định nghĩa nào, và chỉ có thể định nghĩa qua hàng loạt những thách đố, nắm bắt và thực hành khác nhau, bởi một điều, không phải dễ lấy thơ và phát hiện bí ẩn từ những thứ tẻ nhạt và tầm thường của đời sống. Đối với ngôn ngữ Việt thì lại càng mới mẻ, và cần những thử nghiệm của nhiều người, vả lại, những dị biệt trong cách phát âm và diễn đạt giữa hai hệ ngôn ngữ (tiếng Anh và Việt), tạo ra dị biệt trong phương cách và phong cách thơ.

Nếu thơ Tiền chiến, cách tân bằng cách, dùng cảm xúc để thoát ra khỏi luật tắc cứng nhắc của thơ cổ điển, thì thơ Tân Hình Thức Việt (tạm gọi như vậy) sử dụng ngôn ngữ đời thường, kết hợp với một số yếu tố và kỹ thuật của thơ tự do tiếng Anh, phá vỡ âm hưởng Tiền Chiến, chấm dứt nửa thế kỷ dậm chân tại chỗ của thơ. Thơ cổ điển, theo phép làm thơ của Thơ Đường, với luật bằng (level tone), trắc (deflected tone), vần (rhyme) và cao độ (pitch, gồm 4 tone), lao tâm khổ tứ vì chữ (dùng và chọn chữ) thì thơ Tiền Chiến chỉ còn giữ lại vài yếu tố như vần (thường là cước vận), trau chuốt chữ và cách đọc ngừng ở cuối dòng. Thơ chủ vào cảm xúc, nhẹ phần nội dung, nên không ra ngoài cảm xúc và ảo giác, đôi khi lại là cảm xúc mơ hồ, được tạo ra từ những vần điệu du dương. Thơ kéo người đọc ra khỏi đời sống, và chính người làm thơ cũng lánh xa đời sống. Có lẽ vì vậy nên nhiều người tưởng lầm rằng thơ chỉ có thể cảm chứ không thể giải thích vì làm sao giải thích cái không thể giải thích, khi âm điệu và cảm xúc được coi như điều kiện thiết yếu để đánh giá là thơ hay. Thơ trở nên bí ẩn, thuộc về thế giới mộng ảo, và nhà thơ giống như một nhà soạn nhạc, viết ký âm bằng chữ (nhiều bài thơ vần phổ nhạc rất thành công cho thấy, hai thể loại này gần gũi trong cách sáng tác). Đã có nhiều nhà thơ, cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng Tiền Chiến bằng cách làm mới ngôn ngữ và cảm xúc, tuy nhiên vì vẫn sử dụng phương pháp thơ Tiền Chiến, nên không những không ra khỏi, mà còn làm mạnh thêm ảnh hưởng đó. Ngay cả những nhà thơ tự do sau này, phá bỏ thể loại và vần, nhưng vẫn nương vào cảm xúc, âm và nghĩa chữ, chỉ khác là cảm xúc trong thơ Tiền Chiến dựa vào nhạc tính của vần điệu thì trong thơ tự do, hoặc dựa vào ý tưởng và âm chữ, hoặc vẫn dựa vào cách tạo nhạc của Tiền Chiến. 

Khi sử dụng thi pháp đời thường thay thế thi pháp cảm tính (nếu có thể gọi như vậy), là đưa hẳn thơ qua một thời kỳ khác. Những yếu tố của thơ truyền thống như liên tưởng, hoán dụ hay ẩn dụ … và hàng loạt các yếu tố khác, chắc không còn đất sống vì mỗi thi pháp đòi hỏi những yếu tố thích hợp, được phát hiện trong quá trình sáng tác. Thơ khuấy động và khích động bởi những cuộc phiêu lưu đúng lý và đúng nghĩa, chẳng khác nào, thế giới đang đi tìm một trật tự mới để thay thế một trật tự đã cũ. Thơ không còn tùy thuộc vào nỗ lực của từng cá nhân, mà là những vận động rộng lớn của cả một thế hệ, như một trào lưu, xác định tiếng nói và bản chất của một nền văn hóa ở một thời điểm đặc biệt của lịch sử thi ca. Nhưng nhà thơ khi chọn một ngôn ngữ bởi sự quyến rũ và lòng yêu mến, và là ngôn ngữ họ có khả năng nhất để biểu hiện thơ, ở đây là tiếng Việt, cớ gì không hợp quần, nhiều phong cách làm một phong cách, nhiều tiếng nói làm một tiếng nói, thành một phong trào đầy tự tin và hào hứng.

Điều này đòi hỏi chúng ta, phải xóa bỏ những định kiến và tự mãn cá nhân, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, trong tinh thần giống như thi pháp đời thường, có gì là quan trọng và ghê gớm đâu. Chúng ta cứ thoải mái sao chép (copy), càng nhiều càng tốt, và không ai cấm được chúng ta bắt chước lẫn nhau trong trò chơi nhiều thú vị này. Một nhận xét khá phổ biến về thơ: “Poetry is fun – serious often, but fun. It is also communal.”

Những phân tích đơn giản trên có thể chưa đúng hoặc không đầy đủ, chỉ là chủ quan của người viết, dẫn tới nhận xét, mỗi thời kỳ thơ, có luật tắc tạo nhạc khác nhau. Nhạc trong thơ cổ điển khác với Tiền Chiến, và Tiền Chiến khác với thơ bây giờ. Đổi mới thơ, chính là đổi mới phương cách tạo nhạc, luật tắc và phương pháp biểu hiện. Thơ cổ điển và Tiền Chiến phải ngâm, thơ Tân hình thức chỉ để đọc, nhưng khác với thơ tự do trước đó, thơ Tân hình thức có những luật tắc căn bản để tạo thành nhịp điệu, và người làm thơ theo đó phát huy được nhạc tính cho thơ. Khi đọc, chúng ta cảm thấy thanh thoát tự nhiên, như đang hít thở không khí, gặp gỡ ngoài đường phố, giao tiếp với bạn bè, và với mọi người. Đó là thứ âm nhạc trò chuyện (music of conversation), phong phú và hàm súc, mỗi lúc mỗi khác, và là những khoảng khắc có thực của thực tại. Thơ được chắt lọc và bước ra từ thực tại, mà thực tại thì, không nằm ở trong mù sương, thuộc về quặng mỏ chứa đầy chất đời. Nhưng bây giờ có lẽ còn quá sớm để tiên đoán, thơ có ra khỏi và làm một bước ngoặt mới, tùy thuộc vào những nhà thơ có dám dứt khoát với những giấc mộng đêm qua?

(Đề cập tới thơ cổ điển, Tiền chiến hay thơ tự do Việt không phải là để phán đoán, mà rút ra từ kinh nghiệm của chính tôi. Ở thời kỳ đầu, tôi làm đủ thể loại từ thơ vần tới tự do, chủ ý làm mới cảm xúc và ngôn ngữ, và thấy rằng, cũng chỉ là làm mới Tiền Chiến, và nếu có một chút giá trị thì đó là giá trị của một chặng đường đã qua (tập thơ Thanh Xuân). Tới thời kỳ hai, tôi thoát hẳn ra bằng cách sử dụng dòng động lực và sự chuyển động của ngôn ngữ, đi tìm một cấu trúc mới (tập thơ Dấu Quê). Tiếp theo đó là những kết hợp giữa thơ và nhiều nguồn khác nhau như thơ và kịch, kể cả bằng graphic … và tưởng rằng đã đi khá xa so với thời kỳ đầu. Nhưng vấn đề không phải đi xa hay gần mà tôi nhận ra, thơ có quyền năng, và chỉ có thơ mà thôi, cho chúng ta biết giới hạn và thất bại của mình. Nhà thơ đều là những kẻ thất bại, và nếu không nhận ra được điều đó, có lẽ chẳng bao giờ họ trở thành nhà thơ. Thất bại làm cho nhà thơ nhận ra được chính mình và mọi người, thúc dục họ phải đi tới mãi, cho đến bao giờ thôi không còn đi được nữa. Phủ nhận chẳng qua là phủ nhận những thất bại để làm lại một thất bại khác. Vấn đề là thất bại lớn hay nhỏ, và chúng ta có dám đối mặt với nó hay không. Những ngành khác có thể đưa chúng ta đến vinh quang, nhưng thơ ngược lại, đưa chúng ta trở lại đời thường, mà đời thường thì có cả những dị thường).

Thật ra, không phải thơ tự do khước từ hình thức cũ của truyền thống, mà một cách sâu xa, do những qui ước văn học và thái độ xã hội, chỉ hợp thức hóa, và để nó vào đúng chỗ. Làm mới là đi tìm những hình thức mới. Thoát khỏi hình thức, phản ứng lại hình thức, là diễn đạt bằng hàng loạt những hình thức khác nhau. Không có hình thức, không có tiếng nói, bởi tiếng nói vẫn nằm trong qui luật của ngôn ngữ, vả lại dù là không hình thức (formless) thì đó vẫn là hình thức. Thơ tự do và truyền thống tuy hai mà một, chỉ là chọn lựa cách diễn đạt. Và khi, cùng một lúc, những thái độ và giá trị cũ đã hoàn toàn biến mất, mất tăm như những nền văn minh cổ đại, thì những nhà thơ, trên bước đường tìm kiếm, bắt gặp truyền thống, như tìm được thời gian đã mất. Như vậy, dùng lại hình thức thơ truyền thống, cũng chẳng khác nào làm mới, theo đúng nghĩa của những nhà thơ hiện đại.

Nhưng những nhà thơ Tân hình thức chẳng dừng ở quan niệm làm mới, vì đó là phương cách của thời hiện đại, mà dùng thể truyền thống hòa trộn với chất hiện đại (bao gồm thơ tự do) giống như kiến trúc hậu hiện đại, tạo thành một thể lai, hoàn toàn khác, không những hóa giải và làm tan biến truyền thống, mà cả hiện đại. Thơ tự do (trong ngôn ngữ tiếng Anh) làm khó người đọc, vì tùy thuộc vào sự căng thẳng hay sức ép giữa văn phạm và chiều dài của dòng, của đoạn thơ. Mỗi đặc tính có những cách dùng riêng biệt và được cân nhắc bên trong bài thơ, và người đọc phải phải tạo ra tiến trình đọc, bởi những biến cố được lập lại trong cấu trúc, ngẫu nhiên và tình cờ, từ những âm vang dầy đặc của ngữ pháp và những hiệu quả thị giác. Hóa giải, cũng có nghĩa là giải phóng kỹ thuật, dù có một thời là những cánh cửa đóng, phải mở ra trước khi đi vào cõi thơ.

Chữ nghĩa, hình ảnh bóng bẩy và cầu kỳ không còn, chỉ còn sự đơn giản, tự nhiên như một dòng đời sống. Vần và chỗ ngắt không bất di bất dịch chỉ ở cuối dòng, mà cũng giống như thơ tự do, xuất hiện ở những chỗ không thể đoán trước. Nhà thơ Ba Lan Wyslawa Symborska khi nói rằng: “Trong văn xuôi có không gian cho thơ, nhưng trong thơ chỉ có không gian cho thơ.” Vậy thì thế nào là một bài thơ văn xuôi (a prose poem)? Ở điểm nào nó là thơ và ở điểm nào không phải là thơ? Đâu là dòng (line) và đâu là câu (sentence)? Dòng thơ có thể là một câu (a self-enclosed line), cũng có thể chỉ là một phần của câu (phrase), và phải cần nhiều dòng mới hợp thành câu? Khi dùng cách vắt dòng (enjambment) phá đi cách đọc dừng lại ở cuối dòng, người đọc bị thúc đẩy đi tìm lại phần đã mất (của câu), tốc độ đọc nhanh hơn, và phải đọc bằng mắt. Điều này gợi tới ý niệm thời gian và không gian trong thơ. Cái phần mất đi ấy là phần gì, phải chăng là một phần đời sống, của quá khứ hay của tương lai, và như thế, hiện tại không lẽ chỉ là cái trống không? Nhưng cái trống không ấy lại chẳng trống không vì những chuyển động không ngừng của cái biết và chưa biết, đè lấp lên nhau. Thơ bật lên từ sự vặn vẹo và phức tạp của văn phạm và cú pháp (syntax), tạo thành nhịp điệu và nhạc tính. Điều rõ ràng, bài thơ và tri giác về nhịp điệu (perception of rhythm) không nằm ở ngôn ngữ (chữ), mà ở nội dung ngôn ngữ (the content of the language). Nội dung ngôn ngữ chính là những chuyển động của cảm xúc trong phạm trù văn phạm và cú pháp. Nói như thế, chẳng khác nào chúng ta đi đến một kết luận, người làm thơ, trước khi làm thơ phải rất giỏi về văn xuôi. Chữ có thể chết đi, và khai sinh nhưng văn phạm và cú pháp thì không, giống như một dòng tâm tình, có tính phổ quát, chuyên chở chất sống của đời sống, dù rằng chúng ta có sống ở bất cứ thời nào và nơi chốn nào. Những nhà thơ Ngôn Ngữ Hoa Kỳ là những người được tinh luyện trong cú pháp, đã từng đẩy tới cùng cực, dùng cú pháp phá vỡ cú pháp, xóa bỏ ranh giới giữa thơ và văn xuôi.

Thơ rơi vào sự tối tăm khó hiểu, nhiều khi chẳng phải vì tư tưởng cao siêu gì, mà vì sự lủng củng của cú pháp, cũng như nếu thiếu nhạc tính, thơ sẽ chỉ còn là một đống ý tưởng và ngữ nghĩa, làm thất vọng người đọc. Nhưng nhạc tính trong thơ không giống với nhạc tính trong âm nhạc. Bài thơ như một bức tranh nói. Chúng ta đọc một bài thơ, không giống như nghe một bản nhạc, bởi những âm thanh của tiếng nói bất qui luật (irregular), trong khi âm nhạc, nằm trong qui luật. Trong nhạc là một chuỗi âm thanh liên tục từ khởi đầu đến chấm dứt, trong khi thơ thì không. Ngôn ngữ sở hữu ngữ nghĩa, tạo thành những dòng chảy, cùng với cấu trúc cú pháp, lệ thuộc vào bản văn văn hóa và bản sắc cá nhân. Sự tác động hổ tương giữa hình ảnh và ngữ nghĩa tràn đầy và quyện lại, khác với những chuyển động không ngừng của âm thanh trong âm nhạc. Chúng ta đọc, dừng lại, rồi lại đọc, hình ảnh và ý tưởng dội ngược, chồng chất lên nhau; tiếp tục đọc, định hướng (thematic direction), kết hợp thêm hình ảnh và ý tưởng mới, dừng lại để nắm bắt những chuyển động; đọc lại để ghi nhớ, tiếp tục đọc và lập lại ngay tức khắc để kết hợp tất cả những khác biệt trong động tác đọc. Đọc, trừ ra trong một khoảng khắc tạm thời, thì không có đường nối. Chúng ta đẩy các chữ, và nhóm chữ (phrase) ra xa, rồi dàn dựng lại trên cái nền trí tưởng, trong cái cách mà tác giả cũng không thể nào tiên đoán trước, ngay cả khi tác giả và người đọc là một.

Thơ Tân Hình Thức có một vài tên gọi khác, như Thơ Mở Rộng (Expansive Poetry), thơ Hậu Ngôn Ngữ (Postlanguage Poetry), và mỗi thuật ngữ, như một cánh cửa mở, nối (link) thơ với truyền thống và các bộ môn khác (âm nhạc, kịch, điện ảnh…). Thơ Tân Hình Thức cũng giống như Hyper Poetry, Hyper Text Poetry, là một ngã rẽ, phản ứng và kết hợp, thoát xác và hồi sinh, mục đích là tìm ra một nền thơ cho thời đại mới. Gọi là thơ Hậu Ngôn Ngữ là muốn thơ tiếp nhận những đóng góp lớn lao của phong trào thơ Ngôn Ngữ trước đó để làm nguồn sức mạnh. Gọi là thơ Mở Rộng là đưa thêm vào thơ cấu trúc truyện kể (narrative structure). Thơ không thể định nghĩa hay định nghĩa nằm trong tiến trình đi tìm định nghĩa, phá bỏ mọi giới hạn, dung chứa mọi thời kỳ và gấp lên nhiều lần, tránh đi những khúc mắc tu từ bằng cách đưa vào thi pháp đời thường. Một trong những luận cứ mạnh mẽ những nhà thơ Tân hình thức đưa ra, là trên hai thập niên qua, thơ tự do (free verse) đã trở thành nhàm chán, nhạt nhẽo, nghèo nhạc tính, không có gì nổi bật, làm mất nhiều độc giả, và cuối cùng thì thơ thu hẹp lại, không ra khỏi phạm vi những trường đại học. Chủ ý vẫn là tìm ra một nền tảng nhạc tính mới, như âm nhạc đã liên tục biến thể, để phù hợp với khung cảnh văn hóa, xã hội của thời đại. Bài thơ là tiếng nói của sự thực, như những câu truyện phải nghe hàng ngày và nhiều lần trong đời, và những chữ lập đi lập lại, chẳng đã lắng trong ta, âm thanh và ý nghĩa, mỗi lúc mỗi khác hay sao.

Thơ đòi hỏi phải định nghĩa lại mọi thể loại, để không bao giờ dừng lại cái định nghĩa khởi đầu. Thơ Tân hình thức, dù sao cũng chỉ là một mặt tích cực trong nhiều mặt của thơ hậu hiện đại, một nền thơ luôn luôn bất định. Từng ngày qua, chúng ta tiếp nhận quá tải những thông tin, hình ảnh, và những mẫu truyện bằng mắt qua truyền hình, cắt chính chúng ta thành những phần mảnh, phần mảnh kinh nghiệm, ý nghĩa và cả phần mảnh văn hóa. Sự rời rạc là triệu chứng của thời hiện đại và hậu hiện đại khi đã phá vỡ tính truyện kể của truyền thống. Những cái gì lớn vẫn lớn đấy, nhưng cô đơn và vô tích sự, chỉ còn là một cách nói, nào có mang thêm thi vị và ý nghĩa cho đời sống. Và có lẽ thi pháp của thời hậu hiện đại là thứ thi pháp không thể biện giải (non-apologetics), vì nó luôn luôn biến đổi và nối kết phức tạp với nhiều loại thi pháp khác nhau. Vả chăng, thơ Tân Hình Thức có tạo ra được gì đâu (enjambment là kỹ thuật đã có từ lâu), chỉ tái sử dụng (recycle) những gì đã có sẵn, chẳng khác nào trò cắt dán, nhưng là trò cắt dán tinh vi và đầy nghệ thuật, cung cấp và làm phong phú thêm phương pháp thể hiện cho thơ. Dĩ nhiên, có những yếu tố, chúng ta có thể áp dụng vào thơ Việt, và có những yếu tố khác, chúng ta phải tái định nghĩa cho phù hợp với ngôn ngữ Việt.

Nhìn lại mọi thời kỳ, từ truyền thống đến tự do và Tân hình thức, thơ như sợi chỉ xuyên suốt, luôn luôn đổi thay, phù hợp với nhịp đập của mỗi thời đại. Chúng ta vừa bước qua một ngưỡng cửa, bỏ lại đằng sau, những cuộc cách mạng nẩy lửa, những biên giới ngăn cách, những biến cố kinh hoàng để bước vào một kỷ nguyên đầy nhân bản, quay về với con người, với đám đông. Áp dụng ngôn ngữ tự nhiên của đời thường, tính truyện, quảng cáo, Pop Art… chẳng phải là chỉ tìm kiếm người đọc, lấy lại sức mạnh cho thơ giữa những ưu thế của TV và điện ảnh, mà cũng là phản ứng đối với một nền văn minh, đang chia cắt và đẩy con người tới bờ vực ảo. Mỗi yếu tố trong thơ, đều ngầm chứa một ý nghĩa. Mỗi đời sống cá nhân được kể như một câu truyện với khởi đầu và kết thúc, và không có ai là tác giả hay là chính câu truyện của đời họ. Chẳng phải những người kể truyện lang thang từ thời xa xưa, đã mang những hành động và nhân vật sống lại, và nếu không có họ thì mọi thứ đều vô nghĩa. Tính truyện làm chúng ta trở thành có thực, đối với người khác và đối với chính mình, cho chúng ta biết làm sao thích hợp và sống trong một thế giới, và nếu không có chúng ta, cái thế giới ấy chỉ là một hành tinh xa lạ. Nên nhớ rằng, hành động viết, là nhìn thấy những điều không thể nhìn thấy, đưa đôi mắt cho mỗi người để có thể nhìn thấy nhau, và cho thế giới biết về sự hiện hữu của con người.

Bài thơ chỉ có chức năng như một dẫn chứng để làm nổi bật lên một vài yếu tố khả dĩ có thể áp dụng vào thơ Việt. Phương pháp hay những yếu tố thơ đều mang tính duy nhất, nhưng mỗi người áp dụng sẽ có những hiệu quả khác nhau. Chúng ta hãy cùng bước trên một con đường, dẫn dắt nhau, chẳng phải vì một cá nhân mình, mà cho sự hưng thịnh của thơ. Sự thất bại hay thành công không phải là điều quan trọng, mà là một dấu mốc cho những thế hệ mai sau, đỡ đi những vấp ngã. Nhìn lại trong suốt một chiều dài lịch sử văn học, từ thơ cổ điển, Tiền Chiến đến tự do đã có những tác phẩm định hình cho nền thơ Việt. Ngay bây giờ, chúng ta vẫn còn phải trở lại những thời kỳ đó, để học hỏi, rút tỉa kinh nghiệm và làm khác đi, mở đầu cho một nền thơ tân kỳ. Chúng ta chỉ xứng đáng, và tiếp nối được với công sức lớn lao của những thế hệ trước, nếu tìm ra được phương cách biểu hiện, tạo thành một chuyển tiếp, và chứng tỏ, thơ Việt vẫn là một nền thơ tràn đầy sức sống. Lịch sử đã sang trang, và một thời kỳ mới cũng đã bắt đầu, có một ý nghĩa vô cùng chuẩn xác. Chuẩn xác vì ai cũng biết, chúng ta không thể sống với một tâm tư cũ, những thói quen cũ. Chào đón một thiên niên kỷ hay một tân thế kỷ không phải chỉ là một lời nói suông, mà mỗi chúng ta cần phải chấp nhận sự lột xác. Sự học hỏi chỉ có ích nếu giúp cho chính chúng ta và mọi người áp dụng vào được trong sự thực hành. Chúng ta cần nhiều người tham gia vào công cuộc chung, có như thế mới thay đổi được, và chính thức bước vào một thiên niên kỷ mới.

Mùa Xuân 2000


Tác phẩm xin đồng gửi về tapchitho2022@gmail.com | thotanhinhthuc@gmail.com | info@thotanhinhthucviet.vn | tốt nhất có thể đăng ký và đăng bài lên trang diễn đàn 


Bài đọc tham khảo

MỘT VÀI KHÁI NIỆM VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

CHÙM THƠ ĐẠT GIẢI THƠ TÂN HÌNH THỨC 2007

SÁNG TÁC THEO CÁCH LÀM THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

ĐỌC – DIỄN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

ĐỌC THƠ DIỄN ĐÀN: Kỳ 1

BƯỚC ĐI / VÀO THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

TÂM –/CẢM THỨC THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

Thể lệ Cuộc thi thơ Tân hình thức

và các bài tiểu luận sách báo khác – xin chân thành cảm ơn đóng góp của quý đọc giả./.

QUI ĐỊNH GIẢI DIỄN ĐÀN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

QUI ĐỊNH
GIẢI DIỄN ĐÀN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

www.thotanhinhthucviet.vn


Giải Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt được trao tặng cho những bài thơ do các thành viên tham gia sáng tác trong mục “Thơ Sáng Tác”. Những sáng tác của những thành trong Ban quản trị và Ban biên tập không được xét để trao giải thưởng.

Giống như những giải thơ trước kia, giải thơ không thể chỉ là 1 bài thơ, mà là một tập thơ (trong giải Diễn đàn hạn chế lại chỉ còn 1 chùm thơ, từ 5 tới 10 bài trở lên). Không có giải thơ nào trao cho 1 bài thơ, vì như thế sẽ không đúng tiêu chuẩn của giải thơ.

Ban biên tập chọn những bài thơ hay trong tuần đưa vào hồ sơ thơ của từng tác giả, trong “Thơ do ban biên tập chọn” (có tuần không có).

Đến cuối năm, sẽ chọn một chùm thơ của một tác giả để trao giải. Thời hạn từ 1 tháng 1 tới 31 tháng 12 trong năm. Giải thưởng sẽ được công bố vào tháng 1 năm tới.

Những thành viên có thể tham gia vào trong việc tuyển chọn bằng cách vào đọc những hồ sơ thơ của những tác giả và đóng góp ý kiến của mình (comments). Ban Biên Tập sau khi quyết định tác giả trúng giải, sẽ đề cử một thành viên trong Ban Biên tập phát biểu quan điểm.

Thơ Tân hình thức có những tiêu chuẩn đánh giá rõ ràng, đó là những bài thơ có nhịp điệu (rhythm) độc đáo và lôi cuốn, cùng những ý tửơng trẻ trung, mới lạ, thể hiện đựơc những sinh động trong đời sống chung quanh. Vì thế, giải Diễn đàn thơ Tân hình thức Việt xét duyệt, dựa trên căn bản giá trị và luật tắc của dòng thơ này: Ý tưởng có thể làm cái tầm thường trở thành mê hoặc (Guillaume Apolinaire). Và kỹ thuật lập lại phải có tác dụng làm thành nhịp điệu thơ.

Những tác giả đã từng nhận giải thơ Tân hình thức: Nguyễn Tất Độ (2007), Biển Bắc (2007), Giảng Anh Iên (2008). Nếu tính thêm giải do Tạp chí Sông Hương trao cho nhà thơ Hường Thanh, thì cho tới nay đã có 4 nhà thơ có những chùm thơ nhận được giải thơ này.

Giải thơ được trao với hiện kim 5 triệu tiền Việt Nam cho một giải duy nhất.

Giải thơ dự trù hàng năm, nhưng chỉ có thể bắt đầu khi Ban Điều Hành và Ban Biên Tập nhận thấy có nhiều thành viên tham gia sáng tác và chất lượng thơ đủ để xét trao giải. Quyết định trao giải sẽ được thông báo trong mục “Giải thưởng thơ”.

Thơ Tân hình thức Việt là một dòng thơ mới, vì vậy, để giúp cho các thành viên thuận lợi hơn trong việc sáng tác, đây là một vài góp ý:

“Trước khi sáng tác, phải chọn chủ để bài thơ, sau đó qua chủ đề (theme) chúng ta chọn giọng thơ (tone) cho phù hợp với chủ đề. Giọng bài thơ là cảm xúc biểu lộ của tác giả qua chủ đề bài thơ, còn tâm trạng (mood) là cảm xúc người đọc tiếp nhận qua giọng của bài thơ.

Ý tưởng đưa tới phương cách tìm kiếm chủ đề sáng tác Nhịp điệu đưa tới cách làm thơ.

Tìm kiếm chủ đề: Thơ Tân hình thức Việt đi vào đời sống, vì vậy cách tìm chủ đề sáng tác dựa vào mọi nguồn kiến thức. Với phương tiện google, nhà thơ dùng những chữ, nhóm chữ, mệnh đề và câu, liên hệ tới chủ đề và tình tiết bài thơ, để tìm kiếm những tài liệu nghiên cứu, những câu truyện có thực trong đời sống, qua những bản tin, phóng sự, video trên internet.

Cách làm thơ: “Thơ tự do viết và sửa đi sửa lại trên trang giấy (đa số những nhà thơ tự do nổi tiếng, đều sửa lại thơ họ). Còn thơ Tân hình thức, người làm thơ đọc thầm trong đầu, phối hợp những âm thanh bằng trắc và những chữ lập lại trong bài thơ, để tạo thành nhịp điệu.” Vì vậy, phải theo đúng cách sáng tác thơ Tân hình thức, tuyệt đối không viết một đọan văn xuôi trên giấy, đếm chữ xuống dòng, mà chỉ ghi lại khi bài thơ đã xong (để hiệu đính và tiếp tục hoàn chỉnh), hoặc ghi xuống từng câu để khỏi quên, trước khi tiếp tục những câu thơ khác. Vì tiến trình làm thơ Tân hình thức là đọc thầm trong đầu, chứ không phải dựa vào cây viết và tờ  giấy. Hơn nữa, kỹ thuật lập lại của thơ Tân hình thức Việt phải nương theo giọng bài thơ, mới tạo ra được nhịp điệu tự nhiên (hay giọng điệu), và mỗi bài thơ có những giọng điệu khác nhau. Có như thế, chúng ta mới nối kết những câu thơ với nhau bằng hơi thơ, và nhịp điệu mới gắn bó tự nhiên với ý tưởng.


Tác phẩm xin đồng gửi về tapchitho2022@gmail.com | thotanhinhthuc@gmail.com | info@thotanhinhthucviet.vn | tốt nhất có thể đăng ký và đăng bài lên trang diễn đàn 


Bài đọc tham khảo

MỘT VÀI KHÁI NIỆM VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

CHÙM THƠ ĐẠT GIẢI THƠ TÂN HÌNH THỨC 2007

SÁNG TÁC THEO CÁCH LÀM THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

ĐỌC – DIỄN THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

ĐỌC THƠ DIỄN ĐÀN: Kỳ 1

BƯỚC ĐI / VÀO THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

TÂM –/CẢM THỨC THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT

Thể lệ Cuộc thi thơ Tân hình thức

và các bài tiểu luận sách báo khác – xin chân thành cảm ơn đóng góp của quý đọc giả./.