Trang chủ Blog Trang 10

José González shares poems in celebration of Hispanic Heritage Month

0
José González shares poems in celebration of Hispanic Heritage ...

[ad_1]

By Cait Kemp
News Editor
@caitlinkemp09 

José González has presented his poetry at several impressive venues such as the Smithsonian in Washington D.C., the Poetry Foundation Chicago, Bryant Park in New York City, Notre Dame University, Harvard University and many others. He is also a contributor to NPR, and has been featured on Univision

Friday afternoon, Springfield College welcomed González for a poetry reading in celebration of National Hispanic Heritage Month, which began Sept. 15 and goes until Oct. 15. 

National Hispanic Heritage Month began as a week-long celebration in 1968 under President Lyndon B. Johnson, and continued as a month-long tradition later on in the 80s with President Ronald Reagan. 

It begins in the middle of the month due to the significance of the date, Sept. 15. That date is the anniversary of several Latin American countries’ independence, including Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras and Nicaragua. Mexico follows up with its independence day Sept. 16, and Chile Sept. 18. 

Each year, this month is celebrated by parades, art exhibits, festivals, community gatherings and more celebrations to honor the Hispanic heritage and the contributions made to society by hispanic figures throughout history. 

González spoke to Springfield College students, faculty and community members about the importance of recognizing and embracing diversity, and he shared his poems that metaphorically compare his life after moving to the U.S. and the life he could have been living if he had stayed in El Salvador. 

It discusses the struggles he had to overcome being hispanic in a school system where kids were just simply mean, but the blessing he had to be there as opposed to living in the violence that was occurring in his homeland at the time. 

His poems put into perspective the unnecessary struggles people like him have to deal with just because of the color of their skin and the accents they may have from being born somewhere different. He worked hard to gain knowledge and get the best education he could. 

“They had uncles named Sam, well I had one named Eduardo…he learned that the trick to running was to sprint… he hurdled over the U.S/Mexican border on the second try, and kept his feet going…” read lines from one of González’ poems. 

This poem was about an assignment in school that he had about illegal immigration and its affect on the nation. He observed the dominantly white classroom he sat in, and thought about how easy it was for them to answer this question. For him, it was a different story. He had a close connection to this issue, and saw it quite differently than the others. 

González also emphasized the importance of recognizing the flaws and struggles people hold as human beings, as it has helped to get people to where they are today. After leaving El Salvador, González and his family lived in Connecticut housing projects. Yet, as a child he did not see the negative aspects of this community, and was just grateful to be somewhere safer than he had come from. 

“I believe that it’s important for us to take pride in that, yeah, we lived there and we’re thriving. So, here I am, living in these projects, and I’m just amazed I get my own room,” he said. 

His most impressive poem was one that he saved for last. It was titled “The Autobiography of a New England Latino”, and it discussed the struggle of being latinx in a white man’s world of education. 

He explained how in school, people looked down on him because he was hispanic. He then worked hard to get his education, and suddenly when working in inner-city schools, he wasn’t “latino enough” for them, because he was now educated and in their eyes trying to be someone he wasn’t, even though he was just doing what made him happy and what he was good at.

The way he presented this poem was very engaging and entertaining, as he read it quite fast, and used the word “brown” to describe it, saying how he was “too brown”, or “not brown enough,” and everything in between. 

Before beginning to read this poem, he said, “It is about me, but I also want these lessons to be about, like where you’re headed, who you’re going to be working with. If you have an immigrant coworker, or student next to you whose parents were immigrants, or coworkers or supervisors, that you internalize this a little bit.” 

González put emphasis on this idea that no matter where one may go in life, they will most likely encounter people of color, immigrants, or other types of minorities whether it’s as a coworker or supervisor as he said, a student, a colleague, or some other figure in life. Because of this, he said it is important to appreciate, learn, and understand the culture and heritage of latinx and hispanic people, and be able to work with them in order to make the country a more inclusive place. 

“An important word to hear, I think, is perseverance… I always associate the word ‘immigrant’ with perseverance, do you? I would argue that you should,” said González.

[ad_2]
Source link

Jasper Johns Changed My Life

“Jasper Johns: Tâm trí/Gương” tại Bảo tàng Nghệ thuật Whitney của Mỹ. Ảnh: Pari Dukovic cho Tạp chí New York
“Jasper Johns: Tâm trí/Gương” tại Bảo tàng Nghệ thuật Whitney của Mỹ. Ảnh: Pari Dukovic cho Tạp chí New York
 nghệ thuật 

Jasper và tôi

 Người nghệ sĩ sáng tạo ra nghệ thuật đương đại cũng đã thay đổi cuộc đời tôi.

“Jasper Johns: Mind/Mirror” at the Whitney Museum of American Art. | Photo: Pari Dukovic for New York Magazine
“Jasper Johns: Mind/Mirror” at the Whitney Museum of American Art.  | Photo: Pari Dukovic for New York Magazine

Bài viết này được giới thiệu trong One Great Story , bản tin khuyến nghị đọc sách của New York . Đăng ký tại đây để nhận hàng đêm. 

One night in 1986, while standing at the top ramp of a Guggenheim Museum opening as an art-world wannabe, peering down at this social universe that seemed so distant and magical to me, I found myself standing next to an older man. He seemed to be doing the same thing. Both of us were in our own worlds. After a while, he turned at me and said, “Hello, Jerry.” I was surprised. I looked at him blankly. After a pause, I said, “I am sorry. What is your name?” He said, “My name is Jasper Johns.” It was a perfect picture of my unchecked egoism and his imperturbability, modesty, and honesty. And he answered exactly what I asked. It felt like proof that by then, Johns was being seen as an outmoded artist from another era. He was only 56.

Johns had made his mark not as a throwback but as a genuine revolutionary — one of the biggest in American art history. For a full century before, beginning with the Impressionists, cresting with Picasso, and reaching a sort of endpoint with the Abstract Expressionists, most of whom were a few decades older than Johns, the making of art was ruled by the principle of purity and the vision of the artist as a history-bending shamanic genius. Johns initiated a new century, still ongoing, in which works could be purposefully impure, imperfect, and connected to the things of the world, while also being serious philosophical machines. In this, he had predecessors, like Marcel Duchamp and Yves Klein, and successors, like Andy Warhol, Gerhard Richter, and even Jean-Michel Basquiat. But the real track-jump happened, or started, with Johns — in part because, ironically, in rejecting self-consciously iconic grandiosity, he produced what turned out to be among the most iconic, if largely impersonal, works in all of art history. This is why Ed Ruscha called Johns “the atomic bomb of my education.”


Một đêm năm 1986, khi đang đứng trên dốc cao nhất của Bảo tàng Guggenheim mở cửa với tư cách là một người muốn trở thành thế giới nghệ thuật, nhìn xuống vũ trụ xã hội này dường như rất xa vời và kỳ diệu đối với tôi, tôi thấy mình đang đứng cạnh một người đàn ông lớn tuổi. Ông ấy dường như cũng đang làm điều tương tự. Cả hai chúng tôi đều ở trong thế giới của riêng mình. Một lúc sau, ông ấy quay sang tôi và nói, “Xin chào, Jerry.” Tôi đã rất ngạc nhiên. Tôi nhìn ông ấy một cách ngây người. Sau một lúc im lặng, tôi nói, “Tôi xin lỗi. Tên anh là gì?” Ông ấy nói, “Tôi tên là Jasper Johns.” Đó là một bức tranh hoàn hảo về sự ích kỷ không kiểm soát của tôi và sự điềm tĩnh, khiêm tốn và trung thực của ông ấy. Và ông ấy đã trả lời chính xác những gì tôi hỏi. Cảm giác như đó là bằng chứng cho thấy rằng đến lúc đó, Johns đã bị coi là một nghệ sĩ lỗi thời từ một thời đại khác. Ông ấy chỉ mới 56 tuổi.

Johns đã để lại dấu ấn của mình không phải là một sự thụt lùi mà là một nhà cách mạng thực sự — một trong những người vĩ đại nhất trong lịch sử nghệ thuật Hoa Kỳ. Trong suốt một thế kỷ trước đó, bắt đầu với những người theo trường phái Ấn tượng, lên đến đỉnh cao với Picasso và đạt đến một dạng điểm cuối với những người theo trường phái Biểu hiện Trừu tượng, hầu hết trong số họ lớn hơn Johns vài thập kỷ, việc sáng tạo nghệ thuật được chi phối bởi nguyên tắc thuần khiết và tầm nhìn của nghệ sĩ như một thiên tài pháp sư bẻ cong lịch sử. Johns đã khởi xướng một thế kỷ mới, vẫn đang tiếp diễn, trong đó các tác phẩm có thể cố tình không trong sạch, không hoàn hảo và kết nối với mọi thứ trên thế giới, đồng thời cũng là những cỗ máy triết học nghiêm túc. Trong thế kỷ này, ông có những người tiền nhiệm, như Marcel Duchamp và Yves Klein, và những người kế nhiệm, như Andy Warhol, Gerhard Richter và thậm chí cả Jean-Michel Basquiat. Nhưng bước nhảy vọt thực sự đã xảy ra, hoặc bắt đầu, với Johns — một phần là vì, trớ trêu thay, khi từ chối sự vĩ đại mang tính biểu tượng một cách tự giác, ông đã tạo ra những tác phẩm hóa ra lại là một trong những tác phẩm mang tính biểu tượng nhất, mặc dù phần lớn là vô nhân đạo, trong toàn bộ lịch sử nghệ thuật. Đây là lý do tại sao Ed Ruscha gọi Johns là “quả bom nguyên tử của nền giáo dục của tôi”.


Jasper Johns năm 1971. Ảnh: Jack Mitchell/Getty Images
Jasper Johns năm 1971. Ảnh: Jack Mitchell/Getty Images

In the fall of 1954, the 24-year-old, who had been laboring on muddy vaguely Abstract Expressionist–influenced works, effectively burned his artistic ships and destroyed all of his previous work. “I decided to stop becoming, and to be an artist,” he said. “If you avoid everything you can avoid, then you do what you can’t avoid doing … You do what is helpless, and unavoidable.” The word helpless is a key to his work.

Not long after destroying his art, he woke up one morning and said, “I dreamed that I painted a large American flag. The next morning, I got up and I went out and bought the materials to begin it.” The result is Flag, the most iconic, transgressive object/amulet in late-20th-century American art. Soon, the enamel house paint he was using “wouldn’t dry quickly enough,” so he switched to a technique he had “read or heard about.” This is encaustic, a wellspring of much of the look of all his art that is an ancient technique used in Egyptian faiyûm portraits and Roman painting. It is a sensuous fast-drying mix of heated beeswax and pigment that preserves every brushstroke in creamy, streaked, sluiced pentimento. Artist Mel Bochner talked about “the ‘dark side’ of Eros” in Johns’s work. This is where it lies. In Johns’s surfaces, you glean every mark, touch, over- and underpainting, decision, and erasure. The medium marbleizes and congeals as you look at it, seemingly retracing and preserving his moves. You are almost in his body, witnessing the morphological development of a work of art. Johns becomes a scribe incising clay, making his own abstract cuneiform tablets. The effect is spooky, somnambulant, lulling, hallucinogenic, and pleasurable — what Richard Serra meant when he said you see Johns’s art “millimeter by millimeter, second by second.” Johns is helping us to see time.

Johns remarked that Flag took “a long time” to paint. He has also called it “a very rotten painting — physically.” What he meant is that the different paints were applied to an unstable surface. Since his mind was helpless to slow down his thinking and seeing to the speed of enamel, he had to speed up the paint. Flag is a triptych of panels and isn’t the proportions of a “real” flag. The work’s surface has been built, collaged from newspapers, headlines, bits of print, ads, and the like. The writing visible through the translucent encaustic has “no significance to me,” Johns said. View Flag as a paradox: something in which contradictory truths are revealed. It is iconic and ironic; a real thing and a fake; painterly and awkward; visually blistering and psychically cocooned; patriotic and subversive; a new form of beauty made of old forms; drop-dead obvious and forever at a distance.

I think Johns’s dream was partly inspired by “the first person I knew who was a real artist.” This was Robert Rauschenberg, whom he met in 1954. The two became lovers. The Texan described Johns as “soft, beautiful, lean and poetic … he was always an intellectual … he would read Hart Crane’s poems to me.” Rauschenberg brought Johns into his world of artists like Josef and Anni Albers, Cy Twombly, Buckminster Fuller, Franz Kline, Dorothea Rockburne, Willem and Elaine de Kooning, and Merce Cunningham (Johns called him “my favorite artist in any field”) and the dancer’s partner John Cage — who called the couple “the Southern Renaissance.” It is no exaggeration to say this circle totally remade American culture at its very mid-century peak. The artists of the previous generation, many of whom had escaped Europe for America, were serious and committed to the project of Modernism — art as a cause that amounted almost to total war. By 1954, that war no longer mattered to an upcoming generation. While almost all the Abstract Expressionists were straight white men (de Kooning called himself “cunt-crazy”), the younger artists included more women and a lot of gay men. Of course, they were still extremely white.

Johns has always acknowledged Rauschenberg as the nuclear furnace of it all. “I learned more about painting from Bob than I learned from any other artist or teacher.” One critic remembered Johns saying that “Rauschenberg was the man who in this century had invented the most since Picasso.” Indeed, Rauschenberg is the American Picasso. Or at least our Gertrude Stein — which would make Johns, effectively, Hemingway. Rauschenberg said that he and Johns “started every day by having to move out from the almost overpowering influence of Abstract Expressionism.” If Abstract Expressionist art was big, existential, emotional, serious, and about the “sublime,” their work would be smaller, figurative, vernacular, more ironic, profane, made from everyday materials, made from life. It was like they were renaming all the animals.

For all effective purposes, on the night of March 8, 1957, Modernism ended and contemporary art began. Composer Morton Feldman brought husband-and-wife art gallerists Leo Castelli, 49, and Ileana Sonnabend (then Castelli), 42, to Rauschenberg’s studio. The two immigrants were about to become the deans of a new American avant-garde. They already loved Rauschenberg’s work. That night, Castelli mentioned that he had just seen a green painting of a target in a group show. (This was Johns’s Green Target.) Rauschenberg told them that the artist lived downstairs. “I must meet him,” said Castelli. Rauschenberg returned with Johns a few minutes later. The two dealers went to Johns’s studio.

In the studio, they saw different flags, targets, numbers, letters, and more. Sonnabend bought Figure I, a numbers painting, on the spot. Castelli told the best chronicler of the period, Calvin Tomkins, that the first time he saw Green Target,  “I was thunderstruck … I saw evidence of the most incredible genius.” He said it was like wanting to “get married.” Castelli offered Johns a show at his new 4 East 77th Street gallery. Rauschenberg seemed excited for Johns. Several days later, however, “in a state of near despair,” Rauschenberg visited the gallery and asked if he would get a show. His exhibition was scheduled for two months after Johns’s. American art history was about to jump the tracks.

The month that Johns’s first solo show opened, the best art magazine of the time, Art News, featured his Target With Four Faces on the cover of its January 1958 issue. This was unheard of at the time. On Monday, January 20, 1958, Johns’s debut solo show opened at Castelli’s gallery. Five days later, Alfred Barr, the MoMA’s director of museum collections, arrived with MoMA curator Dorothy Miller at Castelli. By day’s end, they had arranged for MoMA to purchase Green Target and Flag (for $1,000 each), Target With Four Faces ($700), and White Numbers ($450). Flag was acquired as a promised gift by Phillip Johnson because the curators feared museum trustees would reject the work as communistic and unpatriotic. It was a sellout show. By contrast, Rauschenberg’s show saw just two sales, one of which was returned. Castelli bought Bed for $1,200 and in 1989 gave this absolute masterpiece to MoMA; it was by then valued at as much as $10 million.


Vào mùa thu năm 1954, chàng trai 24 tuổi, người đã miệt mài với những tác phẩm có ảnh hưởng mơ hồ của Chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng, đã đốt cháy những con tàu nghệ thuật của mình và phá hủy tất cả các tác phẩm trước đó. “Tôi quyết định ngừng trở thành và trở thành một nghệ sĩ,” anh nói. “Nếu bạn tránh mọi thứ bạn có thể tránh, thì bạn sẽ làm những gì bạn không thể tránh làm… Bạn làm những gì bất lực và không thể tránh khỏi.” Từ bất lực là chìa khóa cho tác phẩm của anh.

Không lâu sau khi phá hủy tác phẩm nghệ thuật của mình, một buổi sáng nọ, ông thức dậy và nói, “Tôi mơ thấy mình vẽ một lá cờ Mỹ lớn. Sáng hôm sau, tôi thức dậy và đi ra ngoài mua vật liệu để bắt đầu vẽ”. Kết quả là Flag, vật thể/bùa hộ mệnh mang tính biểu tượng và vi phạm nhất trong nghệ thuật Mỹ vào cuối thế kỷ 20. Chẳng mấy chốc, loại sơn nhà tráng men mà ông sử dụng “không khô đủ nhanh”, vì vậy ông đã chuyển sang một kỹ thuật mà ông đã “đọc hoặc nghe nói đến”. Đây là kỹ thuật sáp ong, nguồn gốc của phần lớn diện mạo trong tất cả các tác phẩm nghệ thuật của ông, một kỹ thuật cổ xưa được sử dụng trong các bức chân dung faiyûm của Ai Cập và hội họa La Mã. Đây là hỗn hợp gợi cảm, khô nhanh của sáp ong và bột màu, giúp bảo quản mọi nét cọ trong pentimento kem, có vệt và được rửa trôi. Nghệ sĩ Mel Bochner đã nói về “mặt tối” của Eros trong tác phẩm của Johns. Đây chính là nơi nó nằm. Trên bề mặt của Johns, bạn có thể thấy mọi dấu vết, nét chạm, lớp phủ và lớp sơn lót, quyết định và xóa bỏ. Chất liệu này trở nên cứng lại và đông lại khi bạn nhìn vào, dường như đang theo dõi và lưu giữ các động tác của ông. Bạn gần như ở trong cơ thể ông, chứng kiến ​​sự phát triển về mặt hình thái của một tác phẩm nghệ thuật. Johns trở thành một người chép khắc đất sét, tạo ra những tấm bia hình nêm trừu tượng của riêng mình. Hiệu ứng này thật kỳ lạ, mơ màng, ru ngủ, gây ảo giác và thú vị — những gì Richard Serra muốn nói khi ông nói rằng bạn sẽ thấy nghệ thuật của Johns “từng milimét, từng giây”. Johns đang giúp chúng ta nhìn thấy thời gian.

Johns nhận xét rằng Flag mất “nhiều thời gian” để vẽ. Ông cũng gọi đó là “một bức tranh rất mục nát – về mặt vật lý”. Ý ông là các loại sơn khác nhau được áp dụng cho một bề mặt không ổn định. Vì tâm trí của ông không thể làm chậm suy nghĩ và tốc độ nhìn của mình theo men, nên ông phải tăng tốc độ sơn. Flag là một bộ ba tấm và không phải là tỷ lệ của một lá cờ “thực sự”. Bề mặt của tác phẩm đã được xây dựng, ghép từ báo, tiêu đề, các mẩu tin, quảng cáo, v.v. Johns cho biết chữ viết có thể nhìn thấy qua lớp sáp trong mờ “không có ý nghĩa gì đối với tôi”. Hãy xem Flag như một nghịch lý: một thứ mà trong đó những sự thật mâu thuẫn được tiết lộ. Nó mang tính biểu tượng và mỉa mai; một thứ thật và một thứ giả; mang tính hội họa và vụng về; rực rỡ về mặt thị giác và được bao bọc về mặt tâm lý; yêu nước và lật đổ; một hình thức mới của cái đẹp được tạo nên từ những hình thức cũ; hiển nhiên đến chết và mãi mãi ở một khoảng cách xa.

Tôi nghĩ giấc mơ của Johns một phần được truyền cảm hứng từ “người đầu tiên tôi biết là một nghệ sĩ thực thụ”. Đó là Robert Rauschenberg, người mà ông gặp vào năm 1954. Hai người trở thành người yêu của nhau. Người đàn ông Texas này mô tả Johns là “mềm mại, đẹp trai, gầy gò và thơ mộng… ông ấy luôn là một người trí thức… ông ấy sẽ đọc thơ của Hart Crane cho tôi nghe”. Rauschenberg đã đưa Johns vào thế giới của những nghệ sĩ như Josef và Anni Albers, Cy Twombly, Buckminster Fuller, Franz Kline, Dorothea Rockburne, Willem và Elaine de Kooning, và Merce Cunningham (Johns gọi ông là “nghệ sĩ yêu thích của tôi trong bất kỳ lĩnh vực nào”) và bạn nhảy John Cage – người đã gọi cặp đôi này là “Phục hưng miền Nam”. Không ngoa khi nói rằng nhóm này đã hoàn toàn làm lại nền văn hóa Mỹ ở thời kỳ đỉnh cao vào giữa thế kỷ. Các nghệ sĩ của thế hệ trước, nhiều người trong số họ đã trốn khỏi châu Âu đến Mỹ, rất nghiêm túc và tận tâm với dự án của Chủ nghĩa hiện đại – nghệ thuật như một mục đích gần như là một cuộc chiến tranh toàn diện. Đến năm 1954, cuộc chiến đó không còn quan trọng đối với thế hệ tương lai nữa. Trong khi hầu hết những người theo trường phái Biểu hiện Trừu tượng đều là đàn ông da trắng thẳng thắn (de Kooning tự gọi mình là “cunt-crazy”), những nghệ sĩ trẻ hơn bao gồm nhiều phụ nữ hơn và rất nhiều đàn ông đồng tính. Tất nhiên, họ vẫn cực kỳ da trắng.

Johns luôn thừa nhận Rauschenberg là lò phản ứng hạt nhân của tất cả. “Tôi học được nhiều về hội họa từ Bob hơn bất kỳ nghệ sĩ hay giáo viên nào khác”. Một nhà phê bình nhớ lại câu nói của Johns rằng “Rauschenberg là người đã phát minh ra nhiều nhất trong thế kỷ này kể từ Picasso”. Thật vậy, Rauschenberg là Picasso của Mỹ. Hay ít nhất là Gertrude Stein của chúng ta – điều này sẽ biến Johns thành Hemingway. Rauschenberg nói rằng ông và Johns “bắt đầu mỗi ngày bằng cách phải thoát khỏi ảnh hưởng gần như áp đảo của Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng”. Nếu nghệ thuật Biểu hiện trừu tượng lớn, hiện sinh, giàu cảm xúc, nghiêm túc và hướng đến “sự cao cả”, thì tác phẩm của họ sẽ nhỏ hơn, mang tính tượng trưng, ​​bản địa, mỉa mai hơn, tục tĩu hơn, được làm từ những vật liệu hàng ngày, được làm từ cuộc sống. Giống như họ đang đổi tên tất cả các loài động vật.

Về mọi mục đích hiệu quả, vào đêm ngày 8 tháng 3 năm 1957, Chủ nghĩa hiện đại đã kết thúc và nghệ thuật đương đại bắt đầu. Nhà soạn nhạc Morton Feldman đã đưa vợ chồng chủ phòng tranh Leo Castelli, 49 tuổi và Ileana Sonnabend (lúc đó là Castelli), 42 tuổi, đến xưởng vẽ của Rauschenberg. Hai người nhập cư sắp trở thành người đứng đầu của một phong trào tiên phong mới của Mỹ. Họ đã yêu thích tác phẩm của Rauschenberg. Đêm đó, Castelli đề cập rằng ông vừa nhìn thấy một bức tranh màu xanh lá cây về một mục tiêu trong một buổi triển lãm nhóm. (Đây là Mục tiêu xanh của Johns. ) Rauschenberg nói với họ rằng nghệ sĩ sống ở tầng dưới. “Tôi phải gặp anh ấy”, Castelli nói. Rauschenberg quay lại cùng Johns vài phút sau. Hai người bán tranh đã đến xưởng vẽ của Johns.

Trong xưởng vẽ, họ thấy nhiều lá cờ, mục tiêu, con số, chữ cái và nhiều thứ khác nữa. Sonnabend đã mua ngay Figure I, một bức tranh về các con số. Castelli kể với người ghi chép sử giỏi nhất thời kỳ đó, Calvin Tomkins, rằng lần đầu tiên ông nhìn thấy Green Target,  “Tôi đã bị sét đánh … Tôi đã thấy bằng chứng về một thiên tài đáng kinh ngạc nhất.” Ông nói rằng cảm giác đó giống như muốn “kết hôn”. Castelli đã mời Johns tham gia một buổi triển lãm tại phòng trưng bày mới của ông ở số 4 East 77th Street. Rauschenberg có vẻ hào hứng với Johns. Tuy nhiên, vài ngày sau, “trong tình trạng gần như tuyệt vọng”, Rauschenberg đã đến phòng trưng bày và hỏi liệu ông có muốn tham gia một buổi triển lãm không. Triển lãm của ông được lên lịch diễn ra sau triển lãm của Johns hai tháng. Lịch sử nghệ thuật Hoa Kỳ sắp bị phá vỡ.

Vào tháng mà triển lãm cá nhân đầu tiên của Johns mở màn, tạp chí nghệ thuật hay nhất thời bấy giờ, Art News, đã giới thiệu tác phẩm Target With Four Faces của ông trên trang bìa số ra tháng 1 năm 1958. Vào thời điểm đó, điều này là chưa từng có. Vào thứ Hai, ngày 20 tháng 1 năm 1958, triển lãm cá nhân đầu tay của Johns đã mở màn tại phòng trưng bày của Castelli. Năm ngày sau, Alfred Barr, giám đốc bộ sưu tập bảo tàng của MoMA, đã đến Castelli cùng với giám tuyển của MoMA là Dorothy Miller. Đến cuối ngày, họ đã sắp xếp để MoMA mua Green Target và Flag (với giá 1.000 đô la mỗi tác phẩm), Target With Four Faces (700 đô la) và White Numbers (450 đô la). Flag được Philip Johnson mua như một món quà đã hứa vì những người giám tuyển lo ngại rằng những người ủy thác bảo tàng sẽ từ chối tác phẩm vì cho rằng nó mang tính cộng sản và không yêu nước. Đó là một buổi triển lãm cháy vé. Ngược lại, triển lãm của Rauschenberg chỉ bán được hai tác phẩm, trong đó có một tác phẩm bị trả lại. Castelli đã mua Bed với giá 1.200 đô la và tặng kiệt tác tuyệt đẹp này cho MoMA vào năm 1989; khi đó giá trị của nó lên tới 10 triệu đô la.

ào mùa thu năm 1954, chàng trai 24 tuổi, người đã miệt mài với những tác phẩm có ảnh hưởng mơ hồ của Chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng, đã đốt cháy những con tàu nghệ thuật của mình và phá hủy tất cả các tác phẩm trước đó. “Tôi quyết định ngừng trở thành và trở thành một nghệ sĩ,” anh nói. “Nếu bạn tránh mọi thứ bạn có thể tránh, thì bạn sẽ làm những gì bạn không thể tránh làm… Bạn làm những gì bất lực và không thể tránh khỏi.” Từ bất lực là chìa khóa cho tác phẩm của anh.

Không lâu sau khi phá hủy tác phẩm nghệ thuật của mình, một buổi sáng nọ, ông thức dậy và nói, “Tôi mơ thấy mình vẽ một lá cờ Mỹ lớn. Sáng hôm sau, tôi thức dậy và đi ra ngoài mua vật liệu để bắt đầu vẽ”. Kết quả là Flag, vật thể/bùa hộ mệnh mang tính biểu tượng và vi phạm nhất trong nghệ thuật Mỹ vào cuối thế kỷ 20. Chẳng mấy chốc, loại sơn nhà tráng men mà ông sử dụng “không khô đủ nhanh”, vì vậy ông đã chuyển sang một kỹ thuật mà ông đã “đọc hoặc nghe nói đến”. Đây là kỹ thuật sáp ong, nguồn gốc của phần lớn diện mạo trong tất cả các tác phẩm nghệ thuật của ông, một kỹ thuật cổ xưa được sử dụng trong các bức chân dung faiyûm của Ai Cập và hội họa La Mã. Đây là hỗn hợp gợi cảm, khô nhanh của sáp ong và bột màu, giúp bảo quản mọi nét cọ trong pentimento kem, có vệt và được rửa trôi. Nghệ sĩ Mel Bochner đã nói về “mặt tối” của Eros trong tác phẩm của Johns. Đây chính là nơi nó nằm. Trên bề mặt của Johns, bạn có thể thấy mọi dấu vết, nét chạm, lớp phủ và lớp sơn lót, quyết định và xóa bỏ. Chất liệu này trở nên cứng lại và đông lại khi bạn nhìn vào, dường như đang theo dõi và lưu giữ các động tác của ông. Bạn gần như ở trong cơ thể ông, chứng kiến ​​sự phát triển về mặt hình thái của một tác phẩm nghệ thuật. Johns trở thành một người chép khắc đất sét, tạo ra những tấm bia hình nêm trừu tượng của riêng mình. Hiệu ứng này thật kỳ lạ, mơ màng, ru ngủ, gây ảo giác và thú vị — những gì Richard Serra muốn nói khi ông nói rằng bạn sẽ thấy nghệ thuật của Johns “từng milimét, từng giây”. Johns đang giúp chúng ta nhìn thấy thời gian.

Johns nhận xét rằng Flag mất “nhiều thời gian” để vẽ. Ông cũng gọi đó là “một bức tranh rất mục nát – về mặt vật lý”. Ý ông là các loại sơn khác nhau được áp dụng cho một bề mặt không ổn định. Vì tâm trí của ông không thể làm chậm suy nghĩ và tốc độ nhìn của mình theo men, nên ông phải tăng tốc độ sơn. Flag là một bộ ba tấm và không phải là tỷ lệ của một lá cờ “thực sự”. Bề mặt của tác phẩm đã được xây dựng, ghép từ báo, tiêu đề, các mẩu tin, quảng cáo, v.v. Johns cho biết chữ viết có thể nhìn thấy qua lớp sáp trong mờ “không có ý nghĩa gì đối với tôi”. Hãy xem Flag như một nghịch lý: một thứ mà trong đó những sự thật mâu thuẫn được tiết lộ. Nó mang tính biểu tượng và mỉa mai; một thứ thật và một thứ giả; mang tính hội họa và vụng về; rực rỡ về mặt thị giác và được bao bọc về mặt tâm lý; yêu nước và lật đổ; một hình thức mới của cái đẹp được tạo nên từ những hình thức cũ; hiển nhiên đến chết và mãi mãi ở một khoảng cách xa.

Tôi nghĩ giấc mơ của Johns một phần được truyền cảm hứng từ “người đầu tiên tôi biết là một nghệ sĩ thực thụ”. Đó là Robert Rauschenberg, người mà ông gặp vào năm 1954. Hai người trở thành người yêu của nhau. Người đàn ông Texas này mô tả Johns là “mềm mại, đẹp trai, gầy gò và thơ mộng… ông ấy luôn là một người trí thức… ông ấy sẽ đọc thơ của Hart Crane cho tôi nghe”. Rauschenberg đã đưa Johns vào thế giới của những nghệ sĩ như Josef và Anni Albers, Cy Twombly, Buckminster Fuller, Franz Kline, Dorothea Rockburne, Willem và Elaine de Kooning, và Merce Cunningham (Johns gọi ông là “nghệ sĩ yêu thích của tôi trong bất kỳ lĩnh vực nào”) và bạn nhảy John Cage – người đã gọi cặp đôi này là “Phục hưng miền Nam”. Không ngoa khi nói rằng nhóm này đã hoàn toàn làm lại nền văn hóa Mỹ ở thời kỳ đỉnh cao vào giữa thế kỷ. Các nghệ sĩ của thế hệ trước, nhiều người trong số họ đã trốn khỏi châu Âu đến Mỹ, rất nghiêm túc và tận tâm với dự án của Chủ nghĩa hiện đại – nghệ thuật như một mục đích gần như là một cuộc chiến tranh toàn diện. Đến năm 1954, cuộc chiến đó không còn quan trọng đối với thế hệ tương lai nữa. Trong khi hầu hết những người theo trường phái Biểu hiện Trừu tượng đều là đàn ông da trắng thẳng thắn (de Kooning tự gọi mình là “cunt-crazy”), những nghệ sĩ trẻ hơn bao gồm nhiều phụ nữ hơn và rất nhiều đàn ông đồng tính. Tất nhiên, họ vẫn cực kỳ da trắng.

Johns luôn thừa nhận Rauschenberg là lò phản ứng hạt nhân của tất cả. “Tôi học được nhiều về hội họa từ Bob hơn bất kỳ nghệ sĩ hay giáo viên nào khác”. Một nhà phê bình nhớ lại câu nói của Johns rằng “Rauschenberg là người đã phát minh ra nhiều nhất trong thế kỷ này kể từ Picasso”. Thật vậy, Rauschenberg là Picasso của Mỹ. Hay ít nhất là Gertrude Stein của chúng ta – điều này sẽ biến Johns thành Hemingway. Rauschenberg nói rằng ông và Johns “bắt đầu mỗi ngày bằng cách phải thoát khỏi ảnh hưởng gần như áp đảo của Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng”. Nếu nghệ thuật Biểu hiện trừu tượng lớn, hiện sinh, giàu cảm xúc, nghiêm túc và hướng đến “sự cao cả”, thì tác phẩm của họ sẽ nhỏ hơn, mang tính tượng trưng, ​​bản địa, mỉa mai hơn, tục tĩu hơn, được làm từ những vật liệu hàng ngày, được làm từ cuộc sống. Giống như họ đang đổi tên tất cả các loài động vật.

Về mọi mục đích hiệu quả, vào đêm ngày 8 tháng 3 năm 1957, Chủ nghĩa hiện đại đã kết thúc và nghệ thuật đương đại bắt đầu. Nhà soạn nhạc Morton Feldman đã đưa vợ chồng chủ phòng tranh Leo Castelli, 49 tuổi và Ileana Sonnabend (lúc đó là Castelli), 42 tuổi, đến xưởng vẽ của Rauschenberg. Hai người nhập cư sắp trở thành người đứng đầu của một phong trào tiên phong mới của Mỹ. Họ đã yêu thích tác phẩm của Rauschenberg. Đêm đó, Castelli đề cập rằng ông vừa nhìn thấy một bức tranh màu xanh lá cây về một mục tiêu trong một buổi triển lãm nhóm. (Đây là Mục tiêu xanh của Johns. ) Rauschenberg nói với họ rằng nghệ sĩ sống ở tầng dưới. “Tôi phải gặp anh ấy”, Castelli nói. Rauschenberg quay lại cùng Johns vài phút sau. Hai người bán tranh đã đến xưởng vẽ của Johns.

Trong xưởng vẽ, họ thấy nhiều lá cờ, mục tiêu, con số, chữ cái và nhiều thứ khác nữa. Sonnabend đã mua ngay Figure I, một bức tranh về các con số. Castelli kể với người ghi chép sử giỏi nhất thời kỳ đó, Calvin Tomkins, rằng lần đầu tiên ông nhìn thấy Green Target,  “Tôi đã bị sét đánh … Tôi đã thấy bằng chứng về một thiên tài đáng kinh ngạc nhất.” Ông nói rằng cảm giác đó giống như muốn “kết hôn”. Castelli đã mời Johns tham gia một buổi triển lãm tại phòng trưng bày mới của ông ở số 4 East 77th Street. Rauschenberg có vẻ hào hứng với Johns. Tuy nhiên, vài ngày sau, “trong tình trạng gần như tuyệt vọng”, Rauschenberg đã đến phòng trưng bày và hỏi liệu ông có muốn tham gia một buổi triển lãm không. Triển lãm của ông được lên lịch diễn ra sau triển lãm của Johns hai tháng. Lịch sử nghệ thuật Hoa Kỳ sắp bị phá vỡ.

Vào tháng mà triển lãm cá nhân đầu tiên của Johns mở màn, tạp chí nghệ thuật hay nhất thời bấy giờ, Art News, đã giới thiệu tác phẩm Target With Four Faces của ông trên trang bìa số ra tháng 1 năm 1958. Vào thời điểm đó, điều này là chưa từng có. Vào thứ Hai, ngày 20 tháng 1 năm 1958, triển lãm cá nhân đầu tay của Johns đã mở màn tại phòng trưng bày của Castelli. Năm ngày sau, Alfred Barr, giám đốc bộ sưu tập bảo tàng của MoMA, đã đến Castelli cùng với giám tuyển của MoMA là Dorothy Miller. Đến cuối ngày, họ đã sắp xếp để MoMA mua Green Target và Flag (với giá 1.000 đô la mỗi tác phẩm), Target With Four Faces (700 đô la) và White Numbers (450 đô la). Flag được Philip Johnson mua như một món quà đã hứa vì những người giám tuyển lo ngại rằng những người ủy thác bảo tàng sẽ từ chối tác phẩm vì cho rằng nó mang tính cộng sản và không yêu nước. Đó là một buổi triển lãm cháy vé. Ngược lại, triển lãm của Rauschenberg chỉ bán được hai tác phẩm, trong đó có một tác phẩm bị trả lại. Castelli đã mua Bed với giá 1.200 đô la và tặng kiệt tác tuyệt đẹp này cho MoMA vào năm 1989; khi đó giá trị của nó lên tới 10 triệu đô la.


Mục tiêu có bốn khuôn mặt , 1955. Ảnh: © 2021 Jasper Johns / Được cấp phép bởi VAGA tại Artists Rights Society (ARS), NY. Ảnh của Jamie Stukenberg, Đồ họa chuyên nghiệp, Rockford, Illinois
Mục tiêu có bốn khuôn mặt , 1955. Ảnh: © 2021 Jasper Johns / Được cấp phép bởi VAGA tại Artists Rights Society (ARS), NY. Ảnh của Jamie Stukenberg, Đồ họa chuyên nghiệp, Rockford, Illinois
Green Target , 1958. Ảnh: © 2021 Jasper Johns / VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York. Ảnh của Jamie Stukenberg, Professional Graphics, Inc., Rockford, Illinois.
Green Target , 1958. Ảnh: © 2021 Jasper Johns / VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York. Ảnh của Jamie Stukenberg, Professional Graphics, Inc., Rockford, Illinois.

Johns makes his art, he has said, from “things the mind already knows” and “things which suggest the world,” things “seen and not looked at, not examined.” For Johns, this means flags, flagstone patterns, silverware, cast body parts, sign language, and images of the Mona Lisa and existent systems like maps, numbers, and the alphabet. He lets you see these things and simultaneously allows us to see how things “can be one thing at one time and something else at another time,” or “one thing working different ways at different times.” I hear echoes of Wallace Stevens’s “Nothing that is not there and the nothing that is.”

But by 1968 he had changed his work several times, each time radically. The year after his debut, he created garish abstract paintings, some with sticks attached that seem to have been used by the artist to inscribe a circle (a painting that shows its own making); he stenciled names of colors atop other colors that toggle in the mind between seeing and thinking; he attached a thermometer to work and painted numbers around it. In 1960, Johns heard that de Kooning was so steamed about Castelli’s new gallery and all the sales that he said, “You could give that son of a bitch two beer cans and he could sell them.” Johns commented, “I thought, What a wonderful idea for a sculpture,” and made a painted bronze of just that. It’s Pop Art before it existed, Warhol’s Brillo Boxes years before the fact. The simple geometric seriality and oneness of this sculpture also triggers minimalism, not to say conceptualism. It is an American version of Méret Oppenheim’s fur-lined teacup. Soon Johns had attached a broom, a tin can, and a spoon to different works. By the 1970s, he was making huge paintings with chairs, wax hands and feet, hangers, other paintings affixed face-down on-the-canvas, wire, or painted flagstone patterns.

In the mid-1970s, Johns stopped making art out of “things the mind already knows” and began making a more inward, arcane, convoluted art — “things my mind already knows,” you could say. Tracings of paintings he liked, patterns that caught his eye, prints of his own body and genitals, illustrations of insects, favorite pieces of pottery, and much else. From about 1981 onward, you see his art in parts, not all at once: details; shapes within shapes; the eye changing focus, moving about a work, never centering, never knowing what one is seeing.

Johns has always worked alone, and keeps changing, taking steps forward and back. His career too is a paradox. While artists everywhere were setting up huge studios with assistants making their work to meet the never-ending demand for similar-looking product, he was on his own koanlike island; a foundational but castaway artist, almost on another planet. He got off the art-historical train of isms. This expanded his art, for me. For the art world, however, the hull integrity of his artistic wholeness collapsed. He was seen as an eccentric or lost. This gives his career an arc of atavism and abnegating tragedy, a willful artist hopelessly at the mercy of his obsessions.

Jasper Johns: Mind/Mirror” is the largest retrospective ever mounted of this Ur-artist at the center of the late-20th-century art labyrinth. It contains over 500 works and is split between the Whitney Museum of American Art and the Philadelphia Museum of Art. The show shines for not being your parents’ Jasper Johns show. Rather than art-for-rich-people, the usual march of the masterpieces, or endless bellybutton-gazing exegesis and historical analysis and interpretive study of all his images, “Mind/Mirror” is a much-needed close-read, experimental new geography of this artist who created his own private cork-lined bedroom and orchidology of art. It gives us a deeper, more complex artist who is so committed to his materials that we see, as one of Oscar Wilde’s characters had it, a “mind expressing itself under the conditions of matter.” As Johns put it, “The medium expresses itself to you by what it is” — free of language that makes your mind work in different ways — and allows you to see things in multiple ways. I advise viewers to surrender to it.

It sounds like an evasion, and maybe it is. In his introduction to the show, Scott Rothkopf writes that Johns “has been considered an important — if not the most important living artist for more than 60 years.” (I left the show thinking, He is.) Yet, his critical reception hasn’t been a walk in the park. When Johns was still in his 30s, artist-critic Sidney Tillim opined that he was already in “decline,” calling him “a facile technician” who “has become a little seedy.” Tillim is referring to Johns’s work breaking up into parts, things that don’t add up, that are impure, that are no longer singular things like maps, targets, numbers, etc. Mark Rothko complained, “We worked for years to get rid of all that.” He meant representation, unserious things and objects from the world. (Johns’s art was not drawn from the existential self and dark nights of the artistic soul.) Leo Steinberg, among Johns’s greatest eventual apostles, wrote, “It looked to me like the death of painting, a rude stop, the end of the track.” One prominent abstract painter attending his first show raged, “If this is painting, I might as well give up.” We see the impact Johns had on peers when Serra observed, “He presented a new model. There was an abrupt shift. It was sort of like the Beatles kicking out Elvis.”


Johns tạo ra nghệ thuật của mình, ông đã nói, từ “những thứ mà tâm trí đã biết” và “những thứ gợi ý về thế giới”, những thứ “được nhìn thấy nhưng không được nhìn vào, không được kiểm tra”. Đối với Johns, điều này có nghĩa là cờ, hoa văn đá phiến, đồ bạc, bộ phận cơ thể đúc, ngôn ngữ ký hiệu và hình ảnh của Mona Lisa và các hệ thống hiện có như bản đồ, số và bảng chữ cái. Ông cho bạn thấy những thứ này và đồng thời cho phép chúng ta thấy cách mọi thứ “có thể là một thứ vào một thời điểm và là một thứ khác vào một thời điểm khác”, hoặc “một thứ hoạt động theo những cách khác nhau vào những thời điểm khác nhau”. Tôi nghe thấy tiếng vọng của “Không có gì không có ở đó và không có gì là có” của Wallace Stevens.

Nhưng đến năm 1968, ông đã thay đổi tác phẩm của mình nhiều lần, mỗi lần một cách triệt để. Một năm sau khi ra mắt, ông đã tạo ra những bức tranh trừu tượng lòe loẹt, một số bức có gắn que dường như được nghệ sĩ sử dụng để khắc một vòng tròn (một bức tranh cho thấy chính nó được tạo ra); ông đã viết hoa tên của các màu lên trên các màu khác để chuyển đổi trong tâm trí giữa việc nhìn và suy nghĩ; ông gắn một nhiệt kế vào tác phẩm và sơn các con số xung quanh nó. Năm 1960, Johns nghe nói rằng de Kooning rất tức giận về phòng trưng bày mới của Castelli và tất cả các doanh số bán hàng đến nỗi ông đã nói, “Bạn có thể đưa cho thằng khốn đó hai lon bia và nó có thể bán chúng.” Johns bình luận, “Tôi nghĩ, Thật là một ý tưởng tuyệt vời cho một tác phẩm điêu khắc “, và đã tạo ra một bức tượng đồng sơn giống như vậy. Đó là Nghệ thuật đại chúng trước khi nó tồn tại, Hộp Brillo của Warhol nhiều năm trước thực tế. Tính tuần tự hình học đơn giản và tính thống nhất của tác phẩm điêu khắc này cũng kích hoạt chủ nghĩa tối giản, chưa nói đến chủ nghĩa khái niệm. Đây là phiên bản Mỹ của tách trà lót lông của Méret Oppenheim. Chẳng bao lâu sau, Johns đã gắn một cây chổi, một lon thiếc và một chiếc thìa vào các tác phẩm khác nhau. Đến những năm 1970, ông đã làm những bức tranh khổng lồ với ghế, bàn tay và bàn chân bằng sáp, móc treo, các bức tranh khác được dán úp xuống trên vải, dây thép hoặc các họa tiết đá phiến được sơn.

Vào giữa những năm 1970, Johns đã ngừng sáng tác nghệ thuật từ “những thứ mà tâm trí đã biết” và bắt đầu sáng tác nghệ thuật hướng nội, bí ẩn và phức tạp hơn — “những thứ mà tâm trí tôi đã biết”, bạn có thể nói như vậy. Những nét vẽ về các bức tranh mà ông thích, những họa tiết bắt mắt, những bản in về cơ thể và bộ phận sinh dục của chính ông, những hình minh họa về côn trùng, những tác phẩm gốm yêu thích và nhiều thứ khác nữa. Từ khoảng năm 1981 trở đi, bạn sẽ thấy nghệ thuật của ông theo từng phần, không phải tất cả cùng một lúc: các chi tiết; hình dạng bên trong hình dạng; mắt thay đổi tiêu điểm, di chuyển xung quanh tác phẩm, không bao giờ tập trung, không bao giờ biết mình đang nhìn thấy gì.

Johns luôn làm việc một mình, và không ngừng thay đổi, tiến và lùi. Sự nghiệp của ông cũng là một nghịch lý. Trong khi các nghệ sĩ ở khắp mọi nơi đang thành lập các studio lớn với các trợ lý thực hiện tác phẩm của họ để đáp ứng nhu cầu không bao giờ kết thúc đối với các sản phẩm có hình dáng tương tự, thì ông lại ở trên hòn đảo giống như công án của riêng mình; một nghệ sĩ sáng lập nhưng bị bỏ rơi, gần như ở một hành tinh khác. Ông đã rời khỏi đoàn tàu chủ nghĩa lịch sử nghệ thuật. Đối với tôi, điều này đã mở rộng nghệ thuật của ông. Tuy nhiên, đối với thế giới nghệ thuật, tính toàn vẹn của vỏ tàu trong sự toàn vẹn nghệ thuật của ông đã sụp đổ. Ông bị coi là một người lập dị hoặc lạc lõng. Điều này khiến sự nghiệp của ông trở thành một vòng cung của chủ nghĩa lạc hậu và bi kịch từ bỏ, một nghệ sĩ cố ý vô vọng chịu sự chi phối của nỗi ám ảnh của mình.

“ Jasper Johns: Tâm trí/Gương ” là triển lãm hồi tưởng lớn nhất từng được tổ chức về nghệ sĩ Ur này tại trung tâm của mê cung nghệ thuật cuối thế kỷ 20. Triển lãm bao gồm hơn 500 tác phẩm và được chia thành Bảo tàng Nghệ thuật Whitney của Mỹ và Bảo tàng Nghệ thuật Philadelphia. Triển lãm tỏa sáng vì không phải là triển lãm Jasper Johns của cha mẹ bạn. Thay vì nghệ thuật dành cho người giàu, cuộc diễu hành thường thấy của các kiệt tác, hoặc sự chú giải vô tận về rốn và phân tích lịch sử và nghiên cứu diễn giải tất cả các hình ảnh của ông, “Tâm trí/Gương” là một địa lý mới, thử nghiệm, đọc kỹ rất cần thiết của nghệ sĩ này, người đã tạo ra phòng ngủ riêng lót gỗ bần và nghệ thuật lan. Triển lãm cho chúng ta thấy một nghệ sĩ sâu sắc hơn, phức tạp hơn, người rất tận tâm với các chất liệu của mình đến nỗi chúng ta thấy, như một trong những nhân vật của Oscar Wilde đã nói, một “tâm trí thể hiện chính nó trong các điều kiện của vật chất”. Như Johns đã nói, “Phương tiện truyền thông tự thể hiện với bạn bằng chính bản chất của nó” — không có ngôn ngữ khiến tâm trí bạn hoạt động theo nhiều cách khác nhau — và cho phép bạn nhìn nhận mọi thứ theo nhiều cách khác nhau. Tôi khuyên người xem hãy đầu hàng nó.

Nghe có vẻ như một sự trốn tránh, và có lẽ đúng là như vậy. Trong phần giới thiệu chương trình, Scott Rothkopf viết rằng Johns “được coi là một nghệ sĩ quan trọng — nếu không muốn nói là nghệ sĩ còn sống quan trọng nhất trong hơn 60 năm qua”. (Tôi rời khỏi chương trình với suy nghĩ, Ông ấy là nghệ sĩ quan trọng nhất.) Tuy nhiên, sự đón nhận của giới phê bình dành cho ông không phải là chuyện dễ dàng. Khi Johns vẫn còn ở độ tuổi 30, nhà phê bình nghệ thuật Sidney Tillim cho rằng ông đã “suy thoái”, gọi ông là “một kỹ thuật viên dễ dãi” “trở nên hơi tồi tàn”. Tillim đang ám chỉ đến việc tác phẩm của Johns bị chia thành nhiều phần, những thứ không hợp lý, không trong sáng, không còn là những thứ đơn lẻ như bản đồ, mục tiêu, con số, v.v. Mark Rothko phàn nàn, “Chúng tôi đã mất nhiều năm để loại bỏ tất cả những thứ đó”. Ý ông là sự đại diện, những thứ không nghiêm túc và những đồ vật trên thế giới. (Nghệ thuật của Johns không xuất phát từ bản ngã hiện sinh và những đêm đen của tâm hồn nghệ sĩ.) Leo Steinberg, một trong những tông đồ vĩ đại nhất của Johns, đã viết, “Với tôi, nó giống như cái chết của hội họa, một điểm dừng thô lỗ, sự kết thúc của con đường.” Một họa sĩ trừu tượng nổi tiếng tham dự buổi triển lãm đầu tiên của ông đã nổi giận, “Nếu đây là hội họa, thì tôi cũng nên bỏ cuộc.” Chúng ta thấy tác động của Johns đối với những người đồng cấp khi Serra nhận xét, “Ông ấy đã trình bày một mô hình mới. Có một sự thay đổi đột ngột. Nó giống như việc The Beatles đuổi Elvis ra ngoài vậy.”

Đồng sơn , 1960. Ảnh: © 2021 Jasper Johns / Được cấp phép bởi VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York. Được cung cấp bởi Bảo tàng Nghệ thuật Whitney của Mỹ
Đồng sơn , 1960. Ảnh: © 2021 Jasper Johns / Được cấp phép bởi VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York. Được cung cấp bởi Bảo tàng Nghệ thuật Whitney của Mỹ

The first Johns show I ever saw in the flesh was the 1984 Leo Castelli exhibition, where I witnessed an artist being reborn. Here were crosshatch paintings begun in the 1970s, now seemingly put through an abstract blast furnace that produced compression ruptures and expansion cracks across what looked like broken ice sheets. The crosshatch pattern came from a car he saw while driving: “I only saw it for a second, “but knew immediately that I was going to use it … [It had] literalness, repetitiveness, an obsessive quality, order with dumbness and the possibility of complete lack of meaning.” While this “dumbness” etc. echoes Warhol, in Johns it comes from a more eccentric, personal, unknown, unknowable place. The embrace of these more feral artistic values opened a huge window for me.

But by the early ’80s artists used Warhol and Judd as starting points, not Johns. Theory-heavy postmodernism ruled the art roost. (I didn’t understand this stuff either and am still playing catch-up.) This meant cool art about art, slick execution, self-conscious statements on other self-conscious statements, discourses of photography and mechanical reproduction. Meanwhile, Johns was almost embalmed in pious writing that could find no wrong in him.

In the 1990s, the critical roof fell in. After paying tribute to the artist in his review of the MoMA’s 1996 Johns retrospective, New York Times’ then-chief art critic Michael Kimmelman, wrote the work was “self-mythologizing … preening obscurantism … rambling … sanctimonious.” By then, Johns was using encaustic less and his surfaces were growing flatter, duller, and were not as sensual. His imagery was multiplying as he recycled and branched out at the same time. The work got much more coded, which set off thousands of wild-goose chases looking for the meaning of it all. Writing on the occasion of Johns’s 2005 gallery show, at Matthew Marks, my good pal the critic Peter Schjeldahl called his work “arch … self-imitative … undernourished and overthought.” The year before, art historian James Meyer wrote, “my experience of Johns — contains nothing that justifies the term major.” It is true. These works are no longer even about “majorness.” They are personal workings, explorations, platforms for ideas, occasions for experience, fleeting, silent. I see silence as a force and take comfort in John Currin saying, “Major genius is inaccessible.” All this reminded me of how Contemporary Christian music of that period could have no ambiguity and had to be clear, declarative, and unironic. I hear a pitch of viciousness and grievance in the criticism. Or maybe I’m just a prig keeper of the Johns flame.


Triển lãm đầu tiên của Johns mà tôi từng xem bằng xương bằng thịt là triển lãm Leo Castelli năm 1984, nơi tôi chứng kiến ​​một nghệ sĩ được tái sinh. Đây là những bức tranh có hình chữ thập bắt đầu vào những năm 1970, giờ đây dường như được đưa qua một lò cao trừu tượng tạo ra các vết nứt nén và giãn nở trên những thứ trông giống như các tảng băng vỡ. Họa tiết hình chữ thập xuất phát từ một chiếc ô tô mà ông nhìn thấy khi đang lái xe: “Tôi chỉ nhìn thấy nó trong một giây, “nhưng biết ngay rằng tôi sẽ sử dụng nó … [Nó có] tính nghĩa đen, tính lặp đi lặp lại, một phẩm chất ám ảnh, trật tự với sự ngu ngốc và khả năng hoàn toàn thiếu ý nghĩa.” Trong khi “sự ngu ngốc” này, v.v. vang vọng đến Warhol, thì trong Johns, nó xuất phát từ một nơi lập dị hơn, cá nhân hơn, không xác định, không thể biết được. Việc chấp nhận những giá trị nghệ thuật hoang dã hơn này đã mở ra một cánh cửa sổ lớn cho tôi.

Nhưng đến đầu những năm 80, các nghệ sĩ đã sử dụng Warhol, Richter và Judd làm điểm khởi đầu, chứ không phải Johns. Chủ nghĩa hậu hiện đại nặng về lý thuyết đã thống trị nghệ thuật. (Tôi cũng không hiểu điều này và vẫn đang cố gắng bắt kịp.) Điều này có nghĩa là nghệ thuật tuyệt vời về nghệ thuật, thực hiện khéo léo, những tuyên bố tự ý thức về những tuyên bố tự ý thức khác, các bài diễn thuyết về nhiếp ảnh và sự tái tạo cơ học. Trong khi đó, Johns gần như được ướp xác trong những bài viết ngoan đạo không thể tìm thấy sai lầm nào ở anh ta.

Vào những năm 1990, mái nhà phê bình đã sụp đổ. Sau khi vinh danh nghệ sĩ trong bài đánh giá về triển lãm hồi tưởng Johns năm 1996 của MoMA, nhà phê bình nghệ thuật trưởng của tờ New York Times khi đó là Michael Kimmelman, đã viết rằng tác phẩm này là “tự thần thoại hóa … sự tối tăm chải chuốt … lan man … đạo đức giả”. Vào thời điểm đó, Johns đã sử dụng ít sáp ong hơn và bề mặt của ông ngày càng phẳng hơn, xỉn màu hơn và không còn gợi cảm nữa. Hình ảnh của ông tăng lên khi ông tái chế và mở rộng cùng một lúc. Tác phẩm được mã hóa nhiều hơn, khiến hàng nghìn cuộc rượt đuổi ngỗng trời tìm kiếm ý nghĩa của tất cả. Viết về sự kiện triển lãm tranh của Johns năm 2005, tại Matthew Marks, người bạn tốt của tôi, nhà phê bình Peter Schjeldahl đã gọi tác phẩm của ông là “kiểu vòm … tự bắt chước … thiếu dinh dưỡng và suy nghĩ quá mức”. Nhà phê bình nghệ thuật Clement Greenberg đã từng viết , “trải nghiệm của tôi về Johns — không chứa đựng điều gì biện minh cho thuật ngữ chính”. Điều đó đúng. Những tác phẩm này thậm chí không còn nói về “chủ nghĩa chính”. Chúng là những tác phẩm cá nhân, những cuộc khám phá, nền tảng cho ý tưởng, những dịp để trải nghiệm, thoáng qua, im lặng. Tôi coi sự im lặng là một sức mạnh và cảm thấy an ủi khi John Currin nói rằng, “Thiên tài chính là điều không thể tiếp cận được”. Tất cả những điều này nhắc nhở tôi về cách mà âm nhạc Cơ đốc giáo đương đại của thời kỳ đó không thể có sự mơ hồ và phải rõ ràng, mang tính tuyên bố và không mỉa mai. Tôi nghe thấy một âm điệu của sự độc ác và bất bình trong lời chỉ trích. Hoặc có thể tôi chỉ là một người giữ ngọn lửa Johns một cách kiêu ngạo.

Numbers , 2007 (đúc 2008). Ảnh: © 2021 Jasper Johns / Được cấp phép bởi VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York. Ảnh do Viện Wildenstein Plattner, New York cung cấp
Numbers , 2007 (đúc 2008). Ảnh: © 2021 Jasper Johns / Được cấp phép bởi VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York. Ảnh do Viện Wildenstein Plattner, New York cung cấp

I know Johns a bit, mostly secondhand, through friends. My wife, Roberta Smith, and I have dined with Johns twice in his Connecticut home. Both lunches were cooked by him and were fantastic. At the first meal, Roberta shattered him into laughter by describing a lyrical loopy shape in a late de Kooning as “the Flying Nun.” I spent much of my time noodling around, studying what art he owned. I seem to recall Diane Arbus’s 1967 Identical Twins. The next time we had lunch, he and Roberta entered a space-time warp talking about “God.” Not the entity but the 1917 readymade sculpture titled that — a twisted configuration of plumbing by the American artist Morton Schamberg (1881–1918). The two went on for 90 minutes parsing the work and then talking about how they thought that it should be co-attributed to the Baroness Elsa Hildegard von Freytag-Loringhoven (1874–1927). (This attribution, once debated, is now officially recognized.) I watched the two seem to pick artistic nits off one another, drilling into the minutiae and pleasures of this period. Listening to these obsessives was like hearing the ocean rolls of an art history that have helped my work ever since.

I’ve had scores of small dinners with him in other people’s homes. Each time I’m around him, I feel a kind of tidal force. He is much taller, larger than you might imagine. Every time. He is witty, articulate, patient, curious, thinks of things in almost microscopic detail, is generous with information, a great story- and joke teller. He is interested in everything — nature, politics, poetry, ceramics, plants, plays, history, movies, dance, cooking, whatever comes up. I don’t think that I have ever heard him swear. The only time he asked me not to talk about something is when someone asked me ten years ago to talk about my time on a reality-TV show about art. He turned to me and simply said, “Please, Jerry. Don’t.” I didn’t. He exudes dignity, magnanimity, poise, circumspection, and inwardness, and he doesn’t bear fools well. He’s often described as cryptic, difficult, taciturn, or distant. I’ve seen very little proof of this. Some say he can be sharp. Many claim he’s this cloistered Scrooge-sphinx who’s spent the last 30 years living hermitlike in Sharon, Connecticut. This is flat-out wrong. He goes out often, drives himself everywhere, and has one of the best senses of humor and irony I’ve ever witnessed and the best blasting laugh. It’s like an eruption of joy released. After he became aware that an assistant had been stealing and selling his art, I remember a cloud of remorse around him in the aftermath of having to let this person go. Betrayal, for him, seems to elicit powerful feelings.

He is the most precise speaker I have ever heard. Any question put to him, no matter how trivial, vain, or bizarre, elicits a pause. You feel him slowly turning over your words in his mind, seeing exactly what you asked in different ways, thinking, weighing the emotional tenor of his answer and the information to be given. In these pauses, I’ve seen the air go out of dinner parties as the table falls silent. I’ve heard my own heart pounding in those silences. Then he always answers with a short, very specific, direct response. In these responses, I almost always perceive in whatever question he’s been asked parts of it I had not noticed before. How a question is worded will change his answer altogether. Someone I know slightly told me he once rang Johns’s Connecticut buzzer and asked “Is this Jasper Johns’s home? May I come in?” Without missing a beat, Johns replied, “Yes, it is, and no, you may not.” Recently, I asked, “How are your knees?” After a moment of thinking, he said, “Much as they were yesterday.” This isn’t to say that sometimes he doesn’t come off as a perverse Zen master.

Then, too, I’ve seen him withdraw at a dinner, disappear for long moments. To leave, he simply will stand up and say, “Thank you. Please don’t get up. It is time for me to leave.” He never fails to thank his host. He has about the best manners I have ever seen. Being around him in these settings conjures a Proustian world where personages become great, small talk reveals large things, social faux pas become apparent, everything takes on a lightness of being but also some weight.

The reports of him being “difficult” stem, I think, from his being asked the same set of questions for more than a half-century. “Why did you paint this?” “What does so-and-so mean?” “Where does this image come from?”  “Can you talk about being gay?” “How did you come to paint Flag?” “Tell me about your breakup with Rauschenberg.” “What’s that green-angel shape in all those paintings?” It reminds me of what Who drummer Keith Moon said about always being asked about the rock opera Tommy: “I’m fed up with talking about it; I’m certainly not fed up with playing it.”


Tôi biết một chút về Johns, chủ yếu là qua bạn bè. Vợ tôi, Roberta Smith, và tôi đã dùng bữa tối với Johns hai lần tại nhà của anh ấy ở Connecticut. Cả hai bữa trưa đều do anh ấy nấu và rất tuyệt. Ở bữa ăn đầu tiên, Roberta đã khiến anh ấy bật cười khi mô tả một hình dạng tròn trịa trữ tình trong một tác phẩm của de Kooning vào cuối thế kỷ 19 là “Nữ tu bay”. Tôi đã dành phần lớn thời gian để mày mò, nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật mà anh ấy sở hữu. Tôi dường như nhớ lại tác phẩm Identical Twins năm 1967 của Diane Arbus. Lần tiếp theo chúng tôi ăn trưa, anh ấy và Roberta đã bước vào một không gian-thời gian cong vênh khi nói về “Chúa”. Không phải thực thể mà là tác phẩm điêu khắc làm sẵn năm 1917 có tựa đề đó — một cấu hình xoắn của hệ thống ống nước của nghệ sĩ người Mỹ Morton Schamberg (1881–1918). Hai người đã dành 90 phút để phân tích tác phẩm và sau đó nói về cách họ nghĩ rằng tác phẩm này nên được đồng quy cho Nữ nam tước Elsa Hildegard von Freytag-Loringhoven (1874–1927). (Sự quy kết này, một khi đã được tranh luận, giờ đã được chính thức công nhận.) Tôi đã xem hai người dường như đang bắt lỗi nghệ thuật của nhau, đào sâu vào những chi tiết nhỏ nhặt và thú vui của thời kỳ này. Lắng nghe những người ám ảnh này giống như lắng nghe tiếng sóng biển của một lịch sử nghệ thuật đã giúp ích cho công việc của tôi kể từ đó.

Tôi đã có hàng chục bữa tối nhỏ với anh ấy tại nhà của người khác. Mỗi lần ở gần anh ấy, tôi cảm thấy một loại lực thủy triều. Anh ấy cao hơn nhiều, to lớn hơn bạn có thể tưởng tượng. Mọi lần. Anh ấy dí dỏm, ăn nói lưu loát, kiên nhẫn, tò mò, nghĩ về mọi thứ gần như chi tiết nhỏ nhất, hào phóng với thông tin, một người kể chuyện và kể chuyện cười tuyệt vời. Anh ấy quan tâm đến mọi thứ – thiên nhiên, chính trị, thơ ca, gốm sứ, thực vật, vở kịch, lịch sử, phim ảnh, khiêu vũ, nấu ăn, bất cứ điều gì xuất hiện. Tôi không nghĩ rằng tôi từng nghe anh ấy chửi thề. Lần duy nhất anh ấy yêu cầu tôi không nói về điều gì đó là khi có người yêu cầu tôi nói về thời gian của tôi trong một chương trình truyền hình thực tế về nghệ thuật cách đây mười năm. Anh ấy quay sang tôi và chỉ nói, “Làm ơn, Jerry. Đừng.” Tôi đã không làm vậy. Anh ấy toát lên sự nghiêm trang, độ lượng, điềm tĩnh, thận trọng và hướng nội, và anh ấy không giỏi chịu đựng những kẻ ngốc. Anh ấy thường được mô tả là bí ẩn, khó tính, ít nói hoặc xa cách. Tôi thấy rất ít bằng chứng về điều này. Một số người nói rằng ông ấy có thể sắc sảo. Nhiều người cho rằng ông ấy là một Scrooge-sphinx ẩn dật đã dành 30 năm qua sống ẩn dật ở Sharon, Connecticut. Điều này hoàn toàn sai. Ông ấy thường xuyên ra ngoài, tự lái xe đi khắp mọi nơi và có một trong những khiếu hài hước và sự mỉa mai tuyệt vời nhất mà tôi từng chứng kiến ​​và tiếng cười sảng khoái nhất. Nó giống như một sự bùng nổ của niềm vui được giải phóng. Sau khi ông ấy biết rằng một trợ lý đã ăn cắp và bán tác phẩm nghệ thuật của mình, tôi nhớ một đám mây hối hận bao quanh ông ấy sau khi phải để người đó ra đi. Đối với ông ấy, sự phản bội dường như gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ.

Anh ấy là người nói chính xác nhất mà tôi từng nghe. Bất kỳ câu hỏi nào đặt ra cho anh ấy, dù tầm thường, phù phiếm hay kỳ quặc đến đâu, đều khiến anh ấy phải dừng lại. Bạn cảm thấy anh ấy từ từ lật lại những từ ngữ của bạn trong tâm trí, nhìn nhận chính xác những gì bạn hỏi theo những cách khác nhau, suy nghĩ, cân nhắc giọng điệu cảm xúc trong câu trả lời của anh ấy và thông tin cần đưa ra. Trong những lần dừng lại này, tôi đã thấy không khí biến mất khỏi các bữa tiệc tối khi bàn tiệc trở nên im lặng. Tôi đã nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch trong những khoảng lặng đó. Sau đó, anh ấy luôn trả lời bằng một câu trả lời ngắn gọn, rất cụ thể và trực tiếp. Trong những câu trả lời này, tôi hầu như luôn nhận thấy trong bất kỳ câu hỏi nào mà anh ấy được hỏi, những phần mà trước đây tôi không để ý đến. Cách diễn đạt một câu hỏi sẽ thay đổi hoàn toàn câu trả lời của anh ấy. Một người quen của tôi đã kể với tôi rằng anh ấy đã từng bấm chuông nhà Johns ở Connecticut và hỏi “Đây có phải là nhà của Jasper Johns không? Tôi có thể vào không?” Không hề do dự, Johns trả lời, “Vâng, đúng vậy, và không, bạn không được vào”. Gần đây, tôi đã hỏi, “Đầu gối của bạn thế nào?” Sau một lúc suy nghĩ, ông nói, “Cũng giống như ngày hôm qua thôi.” Điều này không có nghĩa là đôi khi ông không có vẻ là một bậc thầy Thiền tông biến thái.

Rồi, tôi cũng thấy anh ấy rút lui trong một bữa tối, biến mất trong một thời gian dài. Để rời đi, anh ấy chỉ cần đứng dậy và nói, “Cảm ơn. Làm ơn đừng đứng dậy. Đã đến lúc tôi phải đi rồi.” Anh ấy không bao giờ quên cảm ơn chủ nhà của mình. Anh ấy có cách cư xử tốt nhất mà tôi từng thấy. Ở bên anh ấy trong những bối cảnh này gợi lên một thế giới Proust, nơi những nhân vật trở nên vĩ đại, những câu chuyện phiếm tiết lộ những điều lớn lao, những lỗi lầm xã hội trở nên rõ ràng, mọi thứ trở nên nhẹ nhàng nhưng cũng có một chút sức nặng.

Những báo cáo về việc ông ấy “khó tính” xuất phát, tôi nghĩ, từ việc ông ấy bị hỏi cùng một loạt câu hỏi trong hơn nửa thế kỷ. “Tại sao anh lại vẽ bức này?” “Cái này-và-cái kia có nghĩa là gì?” “Bức tranh này đến từ đâu?” “Anh có thể nói về việc là người đồng tính không?” “Anh đã đến với việc vẽ Flag như thế nào ?” “Kể cho tôi nghe về cuộc chia tay của anh với Rauschenberg đi.” “Hình thiên thần màu xanh lá cây trong tất cả những bức tranh đó là gì?” Điều đó làm tôi nhớ đến những gì tay trống Keith Moon của ban nhạc Who đã nói về việc luôn bị hỏi về vở nhạc kịch rock Tommy : “Tôi chán ngấy khi phải nói về nó; nhưng tôi chắc chắn không chán việc phải chơi nó.”

Việc lắp đặt “Jasper Johns: Tâm trí/Gương” tại Whitney. Ảnh: Pari Dukovic cho Tạp chí New York
Việc lắp đặt “Jasper Johns: Tâm trí/Gương” tại Whitney. Ảnh: Pari Dukovic cho Tạp chí New York

I have a few Johns anecdotes. The first is the worst. I asked one of those Flag questions. I’m still mortified by it. In 2003, at MoMA, I had a mini-revelation while looking at Flag. Near the lower left-hand star, I saw something I’d never seen before and didn’t recall anyone ever writing about. There, stenciled, are the words “United States” in the star field. I went home, studied other flag paintings and prints. Sure enough, the same words or outlined shape are there every time. I was electric.

I couldn’t wait to see him again. I waited for a chance to get him alone. Over cocktails, I heard these horrific words come out of my mouth: “Why did you paint the words ‘United States’ on Flag?” He stopped for a moment. I thought I gleaned a look in his eyes that said, “Jerry!” But there was a crick of a smile at the corner of his lips that also told me that it was okay, as he seemed to take a trip into himself and made me know I hadn’t been abandoned, that he was actually thinking of this, and in this way I was granted the momentary delusion that we had merged. Then he said, “Well, those words must have been there, so I left them there.” These were the manufacturer’s stitched or printed letters that were on the flag. Obviously, he’d rendered what was there, no more and no less. His answer revealed that had I thought a bit more, paid attention to the work, and his work in general, the answer was already known. I knew too, on a deeper level, that the reasons I didn’t go inside myself were that I wanted to seem special to him, strike him as smart, show-off, assume an intimacy and natter at dinners ever after about my “brilliant” Flag story. Johns’s work makes you come to terms with your own lazy angels.

I have never seen anyone look at art as closely as he does. At a 1993 Pace Gallery de Kooning–Dubuffet exhibition, I got off the second-floor elevator and spied him across the room studying one de Kooning painting. He didn’t see me. We were alone in the gallery. I thought, I won’t disturb him. I’ll walk around the opposite direction, super-slow, and show him how hard I look at art. I surmised we’d bump into one another and then, feigning my surprise as we met, discuss these artists. I moved slower than I ever had before in my life. I never glanced back at him. After an hour, I made it all the way around the gallery. As I prepared to look up and see him, I turned around and saw that he hadn’t budged an inch and was still studying the same painting. It was mystifying, stupendous. This may be why he sees shapes, patterns, configurations, figures, fragments, visual coincidences, contiguities, details, and geometries in ways others never have, or he has an extra wrinkle in his temporal lobe.

I have seen him look at things this way many times. One time, he visited my wife and me at a large rustic 19th-century mountain camp we rented that had no running water, electricity, and was lit by oil lamps. All the original furnishings were still in place. The mildewed rugs, wainscot walls with paper pasted on them to keep out the cold. As we toured the house, he looked at every single piece of furniture, fixture, detail, old picture, magazine from the period, plate, rug — everything. Even the “tasteful” wildflower bouquets I placed nonchalantly about the house. Rather than the usual ten-minute house-proud tour, this one took two hours. I handed him off to Roberta. The two joined the rest of us for lunch long after we began eating. No one batted an eye. All had seen him do this before. Much later, a friend told me he thought Johns returned alone when we weren’t there. He speculated that this almost ghost house reminded Johns of where he was born in Georgia, abandoned by his divorced mother and father (an alcoholic farmer), sent to live in South Carolina with a paternal grandfather, then with an aunt, then with his mother and a stepfather. Of his childhood, he has said it “wasn’t specially cheerful.”

What else? In 2010 at the MoMA preview of Abstract Expressionist New York, I spotted him looking at the show — very, very slowly — with one of the MoMA’s chief curators, Ann Temkin. I waited for him to leave and approached Temkin. I said, “Ann, can you tell me what he thought?” She laughed, looked at me incredulously, and gave me the best answer I’ve ever heard for such a ridiculous question: “You cannot possibly think that I have any idea what he was thinking.”

I did hear him snap at someone once. I watched for 45 minutes, afraid of his intensity, as he anatomized an infinitesimal point about one small aspect of a printmaking process. He was relentless, insistent. I saw that he placed so much faith in tools, technique, processes, materials, and mediums that this was not a trivial issue for him. He showed no quarter. This great quasi-conceptualist who changed the course of art with art that ruptured definitions is now one of the most devoted craftsmen of painting alive. The ideas that drove his work, that were once so pointed and iconoclastic, are much more to do with how things are made, what materials do, what touch is, how color works, while deploying a bizarre array of images “his mind” knows. He has said he wanted to be an artist since he was 5. “It meant,” he said, “that I would be in a situation different than the one that I was in.” He had a few semesters of state-university art classes and a semester of art school in the 1940s and, in 1953, attended one day of classes at Hunter — going home, he fainted, stayed in bed for a week, “and that ended my career in higher education.” All by way of saying that like most great artists, Johns is self-taught, and making it up as he goes, out of himself.

That became vivid to me as I glimpsed this eternal, driven “helpless” quality he refers to. At a dinner of about 12, I heard painter Cecily Brown talk to him about her pain around making art, how she felt like she didn’t know what she was doing: her anguish and fear. I saw Johns blanch, plumb a place inside himself, give a slight recognizing laugh, and say, “I never think that I know what I am doing or that I know how to paint.” I was floored. Here was the most known artist of my lifetime, an 87-year-old who’d already outlived his peers, changed art history, who said that even now, he didn’t know what he did or why or how he did the things he did. I felt this in my bones, the morbid, dispossessed foulness that even after I was a “known” critic, had won prizes, and was recognized on the street, that all these are pretty vestments, cloaking devices, and advertisements that we have been turned into and made ourselves into — a commodity that is known for what it does but still does not know what that is precisely, still feels lost at the beginning of every piece, sick at the thought that maybe all this was a fluke, a deception, a series of lucky bounces and good timing — and that despite my incomprehensible doubt, that I have to go on. A mystery about art opened: Perhaps none of us ever really knows exactly what we’re doing; maybe we only know how to do it; we just do what is “helpless.”


Tôi có một vài giai thoại về Johns. Câu đầu tiên là tệ nhất. Tôi đã hỏi một trong những câu hỏi về Flag . Tôi vẫn còn xấu hổ vì nó. Vào năm 2003, tại MoMA, tôi đã có một sự khám phá nhỏ khi nhìn vào Flag. Gần ngôi sao bên trái phía dưới, tôi thấy một thứ mà tôi chưa từng thấy trước đây và không nhớ là có ai từng viết về nó. Ở đó, được tô khuôn, là những từ “United States” trong vùng sao. Tôi về nhà, nghiên cứu các bức tranh và bản in cờ khác. Quả thực, những từ ngữ hoặc hình dạng phác thảo giống nhau luôn ở đó. Tôi đã bị điện giật.

Tôi không thể chờ để gặp lại anh ấy. Tôi đợi cơ hội để có một mình với anh ấy. Trong lúc uống cocktail, tôi nghe những lời kinh hoàng này thoát ra khỏi miệng mình: “Tại sao anh lại vẽ những từ ‘Hoa Kỳ’ trên Quốc kỳ ?” Anh ấy dừng lại một lúc. Tôi nghĩ mình đã nhìn thấy ánh mắt anh ấy nói rằng, “Jerry!” Nhưng có một nụ cười nhếch mép ở khóe môi anh ấy cũng nói với tôi rằng không sao cả, vì anh ấy dường như đang tự đi vào bên trong mình và cho tôi biết rằng tôi không bị bỏ rơi, rằng anh ấy thực sự đang nghĩ về điều này, và theo cách này, tôi đã được ban cho ảo tưởng nhất thời rằng chúng tôi đã hợp nhất. Sau đó, anh ấy nói, “Chà, những từ đó hẳn đã ở đó, vì vậy tôi đã để chúng ở đó.” Đây là những chữ cái được khâu hoặc in của nhà sản xuất trên lá cờ. Rõ ràng, anh ấy đã thể hiện những gì có ở đó, không hơn không kém. Câu trả lời của anh ấy cho thấy rằng nếu tôi suy nghĩ nhiều hơn một chút, chú ý đến tác phẩm và tác phẩm của anh ấy nói chung, thì câu trả lời đã được biết. Tôi cũng biết, ở một mức độ sâu hơn, rằng lý do tôi không đi sâu vào bên trong bản thân mình là vì tôi muốn tỏ ra đặc biệt với anh ấy, gây ấn tượng với anh ấy là thông minh, thích khoe khoang, muốn tạo sự thân mật và tán gẫu trong những bữa tối về câu chuyện “tuyệt vời” của tôi về Flag . Tác phẩm của Johns khiến bạn phải đối mặt với những thiên thần lười biếng của chính mình.

Tôi chưa bao giờ thấy ai nhìn nghệ thuật kỹ như ông ấy. Tại triển lãm Pace Gallery de Kooning–Dubuffet năm 1993, tôi bước ra khỏi thang máy ở tầng hai và nhìn thấy ông ấy ở bên kia phòng đang nghiên cứu một bức tranh của de Kooning. Ông ấy không nhìn thấy tôi. Chỉ có chúng tôi trong phòng trưng bày. Tôi nghĩ, tôi sẽ không làm phiền ông ấy. Tôi sẽ đi vòng theo hướng ngược lại, thật chậm, và cho ông ấy thấy tôi nhìn nghệ thuật chăm chú như thế nào. Tôi đoán chúng tôi sẽ va vào nhau và sau đó, giả vờ ngạc nhiên khi gặp nhau, thảo luận về những nghệ sĩ này. Tôi di chuyển chậm hơn bao giờ hết trong đời. Tôi không bao giờ liếc nhìn lại ông ấy. Sau một giờ, tôi đã đi hết một vòng phòng trưng bày. Khi tôi chuẩn bị ngước lên và nhìn thấy ông ấy, tôi quay lại và thấy ông ấy không nhúc nhích một inch nào và vẫn đang nghiên cứu bức tranh đó. Thật khó hiểu, thật tuyệt vời. Đây có thể là lý do tại sao anh ta nhìn thấy các hình dạng, hoa văn, cấu hình, hình ảnh, mảnh vỡ, sự trùng hợp trực quan, sự tiếp giáp, chi tiết và hình học theo cách mà người khác không bao giờ nhìn thấy, hoặc anh ta có thêm một nếp nhăn ở thùy thái dương.

Tôi đã thấy anh ấy nhìn mọi thứ theo cách này nhiều lần. Một lần, anh ấy đến thăm vợ tôi và tôi tại một trại trên núi lớn mộc mạc thế kỷ 19 mà chúng tôi thuê, nơi không có nước máy, điện và chỉ thắp sáng bằng đèn dầu. Tất cả đồ đạc ban đầu vẫn còn nguyên. Những tấm thảm mốc, tường ốp gỗ dán giấy để chống lạnh. Khi chúng tôi tham quan ngôi nhà, anh ấy nhìn từng món đồ nội thất, đồ đạc, chi tiết, ảnh cũ, tạp chí thời đó, đĩa, thảm — mọi thứ. Ngay cả những bó hoa dại “có gu” mà tôi đặt một cách hờ hững khắp nhà. Thay vì chuyến tham quan ngôi nhà tự hào trong mười phút thông thường, chuyến tham quan này mất hai giờ. Tôi giao anh ấy cho Roberta. Hai người cùng chúng tôi ăn trưa rất lâu sau khi chúng tôi bắt đầu ăn. Không ai chớp mắt. Tất cả đều đã từng thấy anh ấy làm như vậy trước đây. Nhiều năm sau, một người bạn nói với tôi rằng anh ấy nghĩ Johns trở về một mình khi chúng tôi không có ở đó. Ông suy đoán rằng ngôi nhà gần như ma này khiến Johns nhớ đến nơi ông sinh ra ở Georgia, bị mẹ và cha đã ly dị (một người nông dân nghiện rượu) bỏ rơi, được gửi đến sống ở Nam Carolina với ông nội, sau đó với dì, rồi với mẹ và cha dượng. Về tuổi thơ của mình, ông đã nói rằng “không đặc biệt vui vẻ”.

Còn gì nữa? Vào năm 2010, tại buổi xem trước của MoMA về Abstract Expressionist New York, tôi thấy ông ấy đang xem triển lãm — rất, rất chậm — cùng với một trong những giám tuyển chính của MoMA, Ann Temkin. Tôi đợi ông ấy đi khỏi và đến gần Temkin. Tôi nói, “Ann, cô có thể cho tôi biết ông ấy nghĩ gì không?” Cô ấy cười, nhìn tôi một cách khó tin, và đưa cho tôi câu trả lời hay nhất mà tôi từng nghe cho một câu hỏi vô lý như vậy: “Bạn không thể nghĩ rằng tôi biết ông ấy đang nghĩ gì.”

Tôi đã từng nghe ông ấy quát tháo ai đó. Tôi đã theo dõi trong 45 phút, sợ sự dữ dội của ông ấy, khi ông ấy phân tích một điểm vô cùng nhỏ về một khía cạnh nhỏ của quá trình in ấn. Ông ấy không ngừng nghỉ, kiên trì. Tôi thấy rằng ông ấy đặt quá nhiều niềm tin vào các công cụ, kỹ thuật, quy trình, vật liệu và phương tiện đến nỗi đây không phải là vấn đề tầm thường đối với ông ấy. Ông ấy không hề có chút khoan nhượng nào. Nhà bán khái niệm vĩ đại này đã thay đổi tiến trình nghệ thuật bằng nghệ thuật phá vỡ các định nghĩa, giờ đây là một trong những nghệ nhân hội họa tận tụy nhất còn sống. Những ý tưởng thúc đẩy tác phẩm của ông, từng rất sắc sảo và phá bỏ thần tượng, giờ đây liên quan nhiều hơn đến cách tạo ra mọi thứ, vật liệu làm gì, cảm ứng là gì, màu sắc hoạt động như thế nào, đồng thời triển khai một loạt hình ảnh kỳ lạ mà “tâm trí” ông ấy biết. Ông ấy đã nói rằng ông ấy muốn trở thành một nghệ sĩ từ năm 5 tuổi. “Điều đó có nghĩa là”, ông ấy nói, “tôi sẽ ở trong một tình huống khác với tình huống mà tôi đã từng ở”. Ông đã học một vài học kỳ tại các lớp nghệ thuật của trường đại học công lập và một học kỳ tại trường nghệ thuật vào những năm 1940, và vào năm 1953, đã tham dự một ngày học tại trường Hunter — khi về nhà, ông đã ngất xỉu, nằm trên giường một tuần, “và điều đó đã kết thúc sự nghiệp giáo dục đại học của tôi”. Tất cả những điều này đều muốn nói rằng giống như hầu hết các nghệ sĩ vĩ đại khác, Johns tự học và sáng tạo theo cách của riêng mình.

Điều đó trở nên rõ ràng với tôi khi tôi thoáng thấy phẩm chất “bất lực” vĩnh cửu, đầy động lực mà ông nhắc đến. Trong một bữa tối khoảng 12 người, tôi đã nghe họa sĩ Cecily Brown nói chuyện với ông về nỗi đau của bà khi sáng tác nghệ thuật, về cảm giác của bà như thể bà không biết mình đang làm gì: nỗi thống khổ và sợ hãi của bà. Tôi thấy Johns tái mặt, nhìn sâu vào bên trong chính mình, khẽ cười nhận ra và nói, “Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình biết mình đang làm gì hoặc biết cách vẽ tranh”. Tôi đã bị choáng váng. Đây là nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong cuộc đời tôi, một người 87 tuổi đã sống lâu hơn những người đồng nghiệp của mình, đã thay đổi lịch sử nghệ thuật, người đã nói rằng ngay cả bây giờ, ông vẫn không biết mình đã làm gì hoặc tại sao hoặc làm thế nào ông đã làm những điều ông đã làm. Tôi cảm thấy điều này trong xương tủy mình, sự hôi thối bệnh hoạn, bị tước đoạt rằng ngay cả sau khi tôi đã là một nhà phê bình “nổi tiếng”, đã giành được giải thưởng và được công nhận trên phố, rằng tất cả những thứ này đều là những bộ lễ phục đẹp đẽ, những thiết bị ngụy trang và quảng cáo mà chúng ta đã bị biến thành và tự biến mình thành — một mặt hàng được biết đến với công dụng của nó nhưng vẫn không biết chính xác đó là gì, vẫn cảm thấy lạc lõng khi bắt đầu mỗi tác phẩm, phát ốm khi nghĩ rằng có lẽ tất cả những điều này chỉ là một sự may rủi, một sự lừa dối, một loạt những cú nảy may mắn và thời điểm tốt — và rằng bất chấp sự nghi ngờ khó hiểu của tôi, rằng tôi phải tiếp tục. Một bí ẩn về nghệ thuật đã mở ra: Có lẽ không ai trong chúng ta thực sự biết chính xác mình đang làm gì; có lẽ chúng ta chỉ biết cách làm điều đó; chúng ta chỉ làm những gì “bất lực”.

Usuyuki , 1982. Ảnh: © 2021 Jasper Johns/VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York
Usuyuki , 1982. Ảnh: © 2021 Jasper Johns/VAGA tại Artists Rights Society (ARS), New York

Just ten days before the Leo Castelli exhibition in 1984, in a Paula Cooper group show, I saw a single Johns painting that changed my life: Usuyuki (1982). This giant phosphorescent abstract layered atoll of cascading siliceous marks of what looks like finger paintings made in a cave or a prisoner making counting strokes and notations on a wall. In this painting, made when he was over 50, Johns embarked on a whole new artistic journey. It was here that I grasped that the largest waves don’t come at the beginning of a storm and that maybe I would one day gather my own forces.

The Usuyuki series began in 1977. Johns came to the word through a Kabuki play, and it means “thin or light snow” in Japanese. In this series (my favorite) we see what he meant when he wrote in his sketchbook notes, “Make something … which as it changes or falls apart (dies as it were) or increases in its parts (grows as it were) offers no clue as to what its state or form or nature was.” This is Usuyuki (1982) to me.

Like Flag, Usuyuki (1982) is a horizontal triptych. It is a large abstract grid of 27 equal-size vertical rectangles. It looks like a geranium field of iridescent red, flickering green, aqueous blue, filmy oranges, and violet. Succulent, voluptuous, it’s covered in individual painted encaustic brushstrokes — as if the paint had been applied by fingers or a stick, one stroke at a time. It’s as much an opaque stained-glass window, mosaic floor, or mossy Persian carpet. Each of the 27 vertical boxes sports a configuration of these marks. Sometimes the boxes match up at the edges or overlap or break off. It’s an assembling, dissembling abstract map, kaleidoscopic camouflage, palm-frond wallpaper, and an unknown neural network. All this as the painting seems to oscillate colors like an octopus.

Somehow you glean that while all these patterns have been cooked up by Johns, nevertheless there’s structure “the mind already knows” here. Everything you’re seeing conforms to some complex, correlated, schematic unitary whole. He’s splitting the tissues of seeing, naming, and knowing, as you annex deep philosophical and architectural structures at work. Study the painting, drift over it, zero in, and space out. Soon you sense repeating shapes, configurations, and patterns. Each of these orders presents itself one at a time, in turn, one then another, never all at once. The same way we can’t see both versions of an optical illusion at once. It’s in our biology not to be able to.

Johns deploys a series of different configurations that repeat in different orders in different parts of the paintings. It’s a form of counting or ordered design. You sense that these configurations are repeating in integral orders; you know there’s an intrinsic template here, a guide or an odd algorithm. This, then, is how this vision machine spoke to me. I saw counting. Not simple 1-2-3, 1-2-3, or any obvious pattern. But it’s there nevertheless, akin to algebra or multiplication tables, longitudinal-wave patterns, strange rhyme schemes, and musical rhythms. I pick one, a pattern with a little teepee or triangle shape in the center. This occupies the very lower left-hand panel. I scan, with close looking, and not looking at all, trying to use my body to see. Then I see it, again, the same, but in different colors. It’s on the right-hand side of the middle row of the middle panel. (I told you it’s weird order.) I then somehow knew that it would appear again somewhere in the top row of the right-hand painting, that this one pattern, like all of them, it turns out, is traveling up, down, diagonally, and across the painting. I thought I saw how sand dunes form and dissolve, solar flares. Usuyuki brings the possible and the necessary together and can make you the pattern-recognition machine that you are .

Look longer and you see how all the colors move in very distinct repeating ways. This isn’t random. They all move according to the light waves and particles ordered in accordance to the spectrum — ROY G BIV. Always in alternating orders of red, orange, yellow, green, blue, indigo, and violet. They flicker left to right, top to bottom, reverse, change orders, while always following the order of nature. An orthomorphic door opens — a portal to another kind of world that lives within us, alongside, visible, intuited, and invisible around us. His numbers paintings work the same way. Placing the generic stenciled numerals 0 to 9 in individual boxes on a regular grid, he triggers an abstract painting overlaid with absolutely unexpected orders. The numbers never line up in the same way twice; sometimes they pile on top of one another, like they’re adding themselves together, or collapsing into one Über-number. Rows can be read as one long number, counting up in integers that are there but impossible to precisely predict, in unexpected visual patterns and zigzags. Be it with the marks in Usuyuki, the maps, flags, targets, and much else in his art, you glean that each system is as infinite as every other, that every single thing contains a whole universe in itself. Here, you see that these orders are part of yourself; you know them on an organic, cellular, atomic, and even cosmic level. These are invisible strings of the universe made briefly visible. As Johns has said, all these are “taken … not mine.”

Looking at Johns’s work, I sometimes almost no longer feel like a person. I wonder if I have died in the instants between synapses of looking, knowing, then not knowing again. I step outside myself and become more than one person seeing in different ways. His work imparts a beautiful bewildering sense of being in touch with things much bigger and outside yourself, where everything and nothing is fixed. This was that atomic bomb that went off so many years before with Flag.

Usuyuki is now as much a part of myself and as real as The Iliad, Beethoven’s “Eroica” Symphony; the light, time, space, and color in Stanley Kubrick’s Barry Lyndon; Bob Dylan’s play-by-play psalm of love and loss “Tangled Up in Blue”; seeing the sum of all things in John and Yoko walking on Madison Avenue; hearing Howlin’ Wolf sing “Smokestack Lightning” in a Chicago blues bar; the photograph of Muhammad Ali standing over the body Sonny Liston shouting “Get up and fight, sucker”; and the most primordial picture of human suffering and cosmic pain I have ever seen — Rogier van der Weyden’s Descent From the Cross. Usuyuki is as vivid and implacable to me as the night I met my wife, the Sunday morning when I was 10 that my father told me that my mother had committed suicide and we never spoke of her again for the rest of his life; the bedroom I grew up in; the shortcuts I took to school; having an out-of-body experience in Berlin’s Tiergarten, where I felt I was astral projecting across the universe; the taste of cinnamon; or the smell of fresh bread cooked every morning in a now-destroyed Soho bakery. Jasper Johns’s work leaves me helpless.


Chỉ mười ngày trước triển lãm Leo Castelli năm 1984, trong một triển lãm nhóm của Paula Cooper, tôi đã thấy một bức tranh của Johns đã thay đổi cuộc đời tôi: Usuyuki (1982). Đảo san hô trừu tượng phát quang khổng lồ này có nhiều lớp dấu vết silic xếp tầng trông giống như những bức tranh ngón tay được vẽ trong hang động hoặc một tù nhân đang đếm những nét vẽ và ghi chú trên tường. Trong bức tranh này, được vẽ khi ông đã ngoài 50 tuổi, Johns đã bắt đầu một hành trình nghệ thuật hoàn toàn mới. Chính tại đây, tôi đã hiểu rằng những con sóng lớn nhất không đến vào lúc bắt đầu một cơn bão và rằng có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ tập hợp sức mạnh của riêng mình.

Bộ truyện Usuyuki bắt đầu vào năm 1977. Johns đã biết đến từ này thông qua một vở kịch Kabuki, và nó có nghĩa là “tuyết mỏng hoặc nhẹ” trong tiếng Nhật. Trong bộ truyện này (bộ truyện tôi thích nhất), chúng ta thấy ý của ông khi ông viết trong sổ phác thảo của mình, “Tạo ra thứ gì đó … khi nó thay đổi hoặc tan rã (chết đi) hoặc tăng lên theo từng phần (phát triển) thì không cung cấp manh mối nào về trạng thái, hình dạng hoặc bản chất của nó.” Đối với tôi, đây chính là Usuyuki (1982).

Giống như Flag, Usuyuki (1982) là một bộ ba bức tranh ngang. Đây là một lưới trừu tượng lớn gồm 27 hình chữ nhật dọc có kích thước bằng nhau. Nó trông giống như một cánh đồng hoa phong lữ với màu đỏ óng ánh, xanh lục nhấp nháy, xanh lam nước, cam mỏng và tím. Mọng nước, gợi cảm, nó được bao phủ bởi các nét cọ sáp ong riêng lẻ — như thể sơn được thoa bằng ngón tay hoặc que, từng nét một. Nó giống như một cửa sổ kính màu mờ đục, sàn khảm hoặc thảm Ba Tư rêu phong. Mỗi ô trong số 27 ô dọc đều có cấu hình của những dấu hiệu này. Đôi khi các ô khớp với nhau ở các cạnh hoặc chồng lên nhau hoặc bị gãy. Đó là một bản đồ trừu tượng lắp ráp, tháo rời, ngụy trang vạn hoa, giấy dán tường lá cọ và một mạng lưới thần kinh không xác định. Tất cả những điều này khi bức tranh dường như dao động màu sắc như một con bạch tuộc.

Bằng cách nào đó, bạn hiểu rằng trong khi tất cả những mô hình này đã được Johns tạo ra, thì vẫn có cấu trúc “tâm trí đã biết” ở đây. Mọi thứ bạn nhìn thấy đều tuân theo một tổng thể thống nhất phức tạp, có tương quan và có sơ đồ. Ông ấy đang chia tách các mô của việc nhìn, đặt tên và biết, khi bạn kết hợp các cấu trúc triết học và kiến ​​trúc sâu sắc đang hoạt động. Nghiên cứu bức tranh, lướt qua nó, tập trung vào và giãn ra. Chẳng mấy chốc, bạn cảm thấy các hình dạng, cấu hình và mô hình lặp lại. Mỗi trật tự trong số này tự biểu hiện từng cái một, lần lượt, cái này rồi đến cái khác, không bao giờ cùng một lúc. Tương tự như vậy, chúng ta không thể nhìn thấy cả hai phiên bản của một ảo ảnh quang học cùng một lúc. Trong sinh học của chúng ta, không thể làm được điều đó.

Johns triển khai một loạt các cấu hình khác nhau lặp lại theo thứ tự khác nhau ở các phần khác nhau của bức tranh. Đây là một dạng đếm hoặc thiết kế có thứ tự. Bạn cảm thấy rằng các cấu hình này đang lặp lại theo thứ tự tích phân; bạn biết rằng có một khuôn mẫu nội tại ở đây, một hướng dẫn hoặc một thuật toán kỳ lạ. Vậy thì, đây là cách mà cỗ máy thị giác này nói với tôi. Tôi thấy việc đếm. Không phải 1-2-3 đơn giản, 1-2-3 hay bất kỳ mẫu rõ ràng nào. Nhưng nó vẫn ở đó, giống như bảng đại số hoặc bảng cửu chương, các mẫu sóng dọc, các sơ đồ vần điệu kỳ lạ và nhịp điệu âm nhạc. Tôi chọn một mẫu, một mẫu có hình lều nhỏ hoặc hình tam giác ở giữa. Mẫu này chiếm phần dưới cùng bên trái của bảng. Tôi quét, nhìn kỹ, và không nhìn gì cả, cố gắng sử dụng cơ thể để nhìn. Sau đó, tôi lại thấy nó, giống vậy, nhưng có màu khác. Nó nằm ở phía bên phải của hàng giữa của bảng giữa. (Tôi đã nói với bạn rằng thứ tự này kỳ lạ.) Sau đó, bằng cách nào đó, tôi biết rằng nó sẽ xuất hiện lại ở đâu đó trên hàng trên cùng của bức tranh bên phải, rằng một mẫu này, giống như tất cả chúng, hóa ra, đang di chuyển lên, xuống, chéo và ngang qua bức tranh. Tôi nghĩ rằng tôi đã thấy cách các cồn cát hình thành và tan biến, các đợt bùng phát năng lượng mặt trời. Usuyuki kết hợp những điều có thể và cần thiết lại với nhau và có thể biến bạn thành cỗ máy nhận dạng mẫu mà bạn đang có.

Nhìn lâu hơn và bạn sẽ thấy tất cả các màu sắc di chuyển theo những cách lặp lại rất riêng biệt. Đây không phải là ngẫu nhiên. Tất cả chúng đều di chuyển theo các sóng ánh sáng và các hạt được sắp xếp theo quang phổ — ROY G BIV. Luôn theo thứ tự xen kẽ của đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm và tím. Chúng nhấp nháy từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, đảo ngược, thay đổi thứ tự, trong khi luôn tuân theo thứ tự của tự nhiên. Một cánh cửa trực giao mở ra — một cánh cổng đến một thế giới khác tồn tại bên trong chúng ta, bên cạnh, hữu hình, trực giác và vô hình xung quanh chúng ta. Các bức tranh số của ông hoạt động theo cùng một cách. Đặt các chữ số chung được tô từ 0 đến 9 vào các ô riêng lẻ trên một lưới đều, ông kích hoạt một bức tranh trừu tượng được phủ lên các thứ tự hoàn toàn không ngờ tới. Các con số không bao giờ xếp hàng theo cùng một cách hai lần; đôi khi chúng chồng lên nhau, giống như chúng đang tự cộng lại với nhau, hoặc sụp đổ thành một Über -number. Các hàng có thể được đọc như một con số dài, đếm lên theo các số nguyên có ở đó nhưng không thể dự đoán chính xác, theo các mẫu hình trực quan bất ngờ và đường ngoằn ngoèo. Dù là với các dấu hiệu trong Usuyuki, bản đồ, cờ, mục tiêu và nhiều thứ khác trong nghệ thuật của ông, bạn có thể thấy rằng mỗi hệ thống đều vô hạn như mọi hệ thống khác, rằng mọi thứ đều chứa đựng toàn bộ vũ trụ trong chính nó. Ở đây, bạn thấy rằng những trật tự này là một phần của chính bạn; bạn biết chúng ở cấp độ hữu cơ, tế bào, nguyên tử và thậm chí là vũ trụ. Đây là những chuỗi vô hình của vũ trụ được hiện ra trong chốc lát. Như Johns đã nói, tất cả những thứ này đều “được lấy đi … không phải của tôi”.

Khi nhìn vào tác phẩm của Johns, đôi khi tôi gần như không còn cảm thấy mình là một con người nữa. Tôi tự hỏi liệu mình có chết trong những khoảnh khắc giữa các khớp thần kinh khi nhìn, biết, rồi lại không biết nữa không. Tôi bước ra khỏi chính mình và trở thành nhiều hơn một người nhìn theo những cách khác nhau. Tác phẩm của ông truyền tải một cảm giác đẹp đẽ và khó hiểu khi tiếp xúc với những thứ lớn hơn nhiều và nằm ngoài chính bạn, nơi mọi thứ và không có gì là cố định. Đây chính là quả bom nguyên tử đã phát nổ nhiều năm trước với Flag.

Usuyuki giờ đây là một phần của chính tôi và cũng thực như The Iliad, Bản giao hưởng “Eroica” của Beethoven; ánh sáng, thời gian, không gian và màu sắc trong Barry Lyndon của Stanley Kubrick ; bài thánh ca về tình yêu và mất mát “Tangled Up in Blue” của Bob Dylan; nhìn thấy tổng thể của mọi thứ trong John và Yoko bước đi trên Đại lộ Madison; nghe Howlin’ Wolf hát “Smokestack Lightning” trong một quán bar nhạc blues ở Chicago; bức ảnh Muhammad Ali đứng trên xác Sonny Liston hét lên “Hãy đứng dậy và chiến đấu, đồ ngốc”; và bức tranh nguyên thủy nhất về nỗi đau của con người và nỗi đau vũ trụ mà tôi từng thấy — Descent From the Cross của Rogier van der Weyden. Usuyuki sống động và không thể lay chuyển đối với tôi như đêm tôi gặp vợ mình, sáng chủ nhật khi tôi 10 tuổi, cha tôi nói với tôi rằng mẹ tôi đã tự tử và chúng tôi không bao giờ nói về bà nữa trong suốt quãng đời còn lại của ông; căn phòng ngủ nơi tôi lớn lên; những con đường tắt tôi đã đi đến trường; có trải nghiệm thoát xác ở Tiergarten của Berlin, nơi tôi cảm thấy mình đang phóng chiếu khắp vũ trụ; hương vị quế; hoặc mùi bánh mì tươi được nướng mỗi sáng trong một tiệm bánh Soho hiện đã bị phá hủy. Tác phẩm của Jasper Johns khiến tôi bất lực.

“Jasper Johns: Mind/Mirror” mở cửa từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 13 tháng 2 tại Bảo tàng Nghệ thuật Whitney của Mỹ và Bảo tàng Nghệ thuật Philadelphia.

Bạn muốn có thêm những câu chuyện như thế này không? Hãy đăng ký ngay để ủng hộ báo chí của chúng tôi và được quyền truy cập không giới hạn vào phạm vi đưa tin của chúng tôi. Nếu bạn thích đọc báo in, bạn cũng có thể tìm thấy bài viết này trong số ra ngày 27 tháng 9 năm 2021 của New YorkTạp chí.


“Jasper Johns: Mind/Mirror” is open September 29 to February 13 at the Whitney Museum of American Art.

*A version of this article appears in the September 27, 2021, issue of New York Magazine. Subscribe Now!


Ancient Dreams of Glory in the Wilderness: Heijōkyō and Chang’an

Năm 708, Hoàng hậu Nguyên Minh (661–721) dời đô Nhật Bản đến Heijōkyō, ngày nay là Nara, mô phỏng theo Trường An, Trung Quốc. Việc di dời này kết thúc khoảng 1.300 năm trước, vào năm 710. Trường An và Heijōkyō, cả hai đều từng là kinh đô thịnh vượng của các triều đại, giờ đây chỉ còn là những công viên lịch sử. Nhà văn Li Kotomi kể lại ấn tượng của bà trong chuyến đi gần đây đến Nara.

Ngôi sao cực của cõi phàm trần

Đoàn tàu lắc lư và lạch cạch trên đường ray. Bên ngoài cửa sổ, cây cối điểm xuyết trên đồng bằng vàng thưa thớt. Một biển cỏ bạc Trung Quốc trắng xóa trải dài trên đồng bằng, và một cánh cổng đỏ chót kiểu Trung Quốc hiện ra trước mắt, rồi cũng nhanh chóng biến mất.

Đó là quang cảnh nhìn từ tàu hỏa trên tuyến Kintetsu Nara, giữa ga Yamato-Saidaiji và ga Shin-Ōmiya. Đoạn đường ray này gần như đi qua chính xác trung tâm của Heijōkyō, kinh đô thời kỳ Nara (710–794) của Nhật Bản. Cổng đỏ là công trình phục dựng lại cổng Suzakumon, cổng phía nam của cung điện.

Tôi đã đến thăm tàn tích Heijōkyō vào một ngày trời quang mây tạnh giữa tháng 11 năm 2020. Tôi đã đến Nara hai lần trước đó, nhưng chỉ chơi đùa với những chú hươu trong Công viên Nara. Tôi chưa bao giờ đến Heijōkyō.

Hôm tôi đến thăm trời nóng và rõ ràng không hề mang hơi thở mùa thu. Mặt trời trắng xóa khổng lồ nhô lên bầu trời xanh trong vắt, làm tan đi làn sương ẩm ướt từ vùng hoang dã khô cằn trải dài trước mắt tôi. Đồng cỏ trải dài tít tắp, và đứng đó, có phần cô đơn, là một tòa nhà nguy nga với những viên đá góc và cầu thang trắng muốt, những cột trụ son son, cùng mái ngói đen điểm xuyết những họa tiết vàng óng. Nếu không biết nơi đây từng là cung điện hoàng gia, hẳn bạn sẽ thấy nó thật lạc lõng.

Tàn tích của Cung điện Heijō, nay đã trở thành hoang mạc.
Tàn tích của Cung điện Heijō, nay đã trở thành hoang mạc.

Các tòa nhà là một bản tái tạo của Daigokuden, là sảnh chính của Triều đình Hoàng gia và là tòa nhà trung tâm của thủ đô. Đây là nơi diễn ra các lễ kỷ niệm quan trọng của quốc gia, như lễ lên ngôi của hoàng đế, hoặc lễ kỷ niệm buổi sáng vào ngày đầu tiên của năm mới. Các ký tự được sử dụng trong tên Daigoku được chuyển thể từ các ký tự Trung Quốc cho thái cực , “sự hợp nhất tối cao tối thượng”. Thái cực mô tả trạng thái tồn tại trước khi vũ trụ khởi nguyên, khi âm và dương, thanh tịnh và ô uế, đều hòa trộn trong trạng thái hỗn loạn. Trong thần thoại nguồn gốc Trung Quốc, dương thanh tịnh bay lên trở thành thiên đường, trong khi âm ô uế chìm xuống trở thành đất, và đó là cách trời và đất phân chia.

Nói cách khác, Thái Cực là nguồn gốc của trời đất, của vạn vật. Nếu áp dụng tư duy này vào triết học chính trị, thì Thái Cực tương đương với sao Bắc Đẩu, trung tâm của vũ trụ. Nếu xét thêm rằng sao Bắc Đẩu là nơi ngự của Thiên Hoàng – vị vua tối cao của thiên giới – thì Thái Cực cũng là một tên gọi phù hợp cho vị vua của cõi trần. Ở Trung Quốc cổ đại, không có gì lạ khi cung điện chính của hoàng đế được gọi là Thái Cực Điện hay Thái Cực Cung. Khi đó, công trình này, Thái Cực Điện trong tiếng Trung, hay Đại Ngọ Điện trong tiếng Nhật, đã trở thành sao Bắc Đẩu của cõi trần.

Năm 708, Hoàng hậu Genmei ban hành Lệnh di dời đô đến Heijō, và việc di chuyển được hoàn thành hai năm sau đó. Đằng sau quyết định đó là mong muốn của hoàng hậu về việc cải cách Nhật Bản như một quốc gia được xây dựng trên một hệ thống pháp luật được mã hóa, bản thân hệ thống này dựa trên hệ thống của Trung Quốc, được gọi là ritsuryō , và để chứng minh thực tế đó cho các quốc gia khác. Việc ban hành và thực thi bộ luật Taihō ritsuryō vào năm 701 có nghĩa là Nhật Bản chính thức là một quốc gia có bộ luật hợp pháp. Khi hoàng đế cử một sứ thần đến Trung Quốc thời nhà Đường để thông báo về sự kiện đó, sứ thần trở về đã báo cáo rằng Trường An được bố trí hoàn toàn khác với kinh đô của Nhật Bản tại Fujiwara. Cung điện tại Trường An nằm ở rìa phía bắc, trong khi cung điện tại Fujiwarakyō gần như nằm ngay trung tâm thành phố.

Sự tôn kính đối với phương Bắc

Bố cục của Trường An có một nền tảng tư tưởng đúng đắn. Theo quan điểm truyền thống của người Trung Quốc về phương hướng và định hướng, hướng bắc được đặc biệt tôn kính. Như tôi đã đề cập, sao Bắc Cực được coi là quê hương của hoàng đế trên trời. Có một câu nói, kunshi nan mensu , hay “người vĩ đại hướng về phía nam”. Điều này ngụ ý rằng một người cai trị ngồi ở phía bắc và quay mặt về phía tất cả thần dân của mình ở phía nam. Ngược lại, thần dân của người cai trị được tìm thấy ở phía nam và phủ phục đối mặt với người cai trị ở phía bắc. Tôi cho rằng điều này có liên quan đến ánh sáng mặt trời. Các tòa nhà hướng về phía nam có xu hướng nhận được nhiều ánh sáng mặt trời và có thể ngăn chặn gió bắc lạnh. Vì “hướng nam” ngụ ý sự chiếu sáng của dương, nên việc làm như vậy mang lại điềm lành và cũng có thể ngụ ý tiếp cận với “ánh sáng của công lý” hoặc “giác ngộ”.

Ngoài ra, hoàng đế được coi là hiện thân của rồng ở dạng người. Rồng ưa nước, và theo thuyết ngũ hành , sự tương tác giữa năm yếu tố trong triết học Trung Hoa, nước ứng với hướng Bắc. Điều đó có nghĩa là hoàng đế nên ở hướng Bắc và hướng Nam. Trong văn hóa Trung Hoa, nhiều công trình vẫn được xây dựng hướng Nam. Nhân tiện, giữa Đông và Tây, hướng Đông được coi là tốt hơn hướng Tây, vì đó là nơi mặt trời mọc. Đây cũng là lý do tại sao thái tử được gọi ẩn dụ là Đông Cung , hay “cung điện phía Đông”.

Theo quan điểm hiện đại, chúng ta có thể nghĩ rằng tất cả những điều này chỉ là mê tín dị đoan, không đáng để quan tâm nhiều. Tuy nhiên, cũng giống như ở phương Tây thời kỳ tiền Khai sáng, khi thế giới quan tâm linh Cơ Đốc giáo chiếm ưu thế, Đông Á vào thời điểm đó cũng chịu ảnh hưởng của thế giới quan tâm linh. Vào thời điểm đó, con người muốn cai trị người khác thường cần dựa vào những lý giải vượt ra ngoài tầm thường. Ví dụ, ở Nhật Bản, quyền cai trị của hoàng đế được biện minh bằng cách xác định ông là “con trai của trời” và truy ngược dòng dõi của ông đến nữ thần Amaterasu. Trong một hệ thống như vậy, chúng ta không thể đơn giản bỏ qua những thứ như phong thủy hay vũ trụ học, bởi vì nếu chúng ta lờ đi những ý tưởng vượt ra ngoài kiến ​​thức trần tục của con người, thì thực ra chúng ta đang chạm đến nền tảng của chính quyền.

Vũ trụ quan của Trung Quốc thời Đường, bao gồm cả quan điểm về phương hướng, cũng như quy hoạch đô thị, là tiên tiến nhất Đông Á thời bấy giờ. Việc Nhật Bản, một quốc gia tương đối thô sơ, muốn học hỏi theo cũng là điều dễ hiểu.

Điều đó cũng mang lại những lợi ích thiết thực. Việc sao chép bố cục của Trường An tại kinh đô của chính mình sẽ giúp Nhật Bản được công nhận là một quốc gia có chủ quyền, đồng thời ngăn chặn các cuộc tấn công từ bên ngoài. Nói cách khác, việc giành được sự công nhận quốc tế đó là vấn đề đảm bảo tương lai cho quốc gia. Khi một quốc gia phát triển cao có một nền văn hóa hoặc xu hướng tư tưởng tiên tiến, làm nền tảng ổn định cho chính quyền, đưa quốc gia đó lên vị thế nổi bật với những lợi ích như thịnh vượng kinh tế, thì việc các quốc gia khác tích cực noi theo là điều tự nhiên. Điều đó vẫn đúng cho đến ngày nay cũng như thời xưa. Những thứ như dân chủ, chủ nghĩa tư bản và Thế vận hội đều là những ví dụ hiện đại của cùng một ý tưởng.

Trường An thu nhỏ

Khi Nhật Bản dời đô về Heijō, tạo nên một ngôi sao chỉ đường mới cho đất nước, họ đã thành công trong việc tạo ra một phiên bản thu nhỏ của Trường An với Heijōkyō và cung điện Heijō. Nơi này, từng là ngọn hải đăng chỉ đường của đất nước, đã trở thành một thảo nguyên hoang vu trong 1.300 năm qua. Thậm chí không còn là một tàn tích. Chỉ là hoang vu. Có một công viên lịch sử, với những hàng cây được chăm sóc và những vỉa hè lát đá, nhưng không còn dấu hiệu nào của thời kỳ hoàng kim của thủ đô, của những cung điện tráng lệ chắc hẳn đã từng ở đây, hay cuộc sống của những cư dân cao quý. Tất cả đã bị nuốt chửng bởi đất, và thậm chí không còn dấu vết nào còn sót lại. Khi tôi đi bộ quanh vị trí trước đây của cung điện, nghĩ lại tất cả những câu chuyện có thể đã xảy ra ở đây từ rất lâu trước đây, một ký ức ùa về với tôi, giống như déjà vu.

Đó là ký ức về chuyến đi dạo quanh cung điện Đại Minh ở Tây An. Tây An xưa kia từng là Trường An. Kinh đô Trường An của nhà Đường là nơi tọa lạc của ba cung điện: Thái Cực, Đại Minh và Hưng Thanh. Đại Minh là cung điện lớn nhất. Với diện tích 3,11 km², đây là cung điện lớn thứ nhất hoặc thứ hai trong lịch sử Trung Quốc, lớn hơn cả Hoàng cung hiện tại ở Nhật Bản, bao gồm cả khu vườn ngoài (2,3 km²), và lớn gấp bốn lần Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (0,72 km²).

Vị trí trước đây của Cung điện Daming.
Vị trí trước đây của Cung điện Daming.

Ban đầu, Đại Minh chỉ được dự định làm cung điện mùa hè, trong khi Thái Cực Điện ở phía bắc Trường An là cung điện chính, nhưng Thái Cực Điện có một số vấn đề. Về cơ bản, khi Trường An được quy hoạch, các nhà quy hoạch đô thị đã buộc mọi thứ phải tuân theo vũ trụ quan đã thảo luận ở trên, vì vậy nó phải nằm ở phía bắc thành phố. Tuy nhiên, khu vực đó là vùng đất thấp, nên vào mùa hè, độ ẩm và độ ẩm rất cao. Đường Cao Tông (628–683) mắc bệnh kinh niên khiến môi trường cung điện Thái Cực trở nên không thể chịu đựng được, vì vậy vào năm 662, ông đã mở rộng và cải tạo Đại Minh để làm nơi ở mới của mình.

Phải mất công sức của hàng chục ngàn người và khoản đầu tư khổng lồ để xây dựng Đại Minh. Lương của tất cả các quan chức làm việc tại Trường An đã bị cắt giảm một tháng để giúp trang trải chi phí xây dựng. Cung điện được xây dựng, một trong những cung điện lớn nhất trong lịch sử, đã phát triển thịnh vượng như một trung tâm chính trị và văn hóa của nhà Đường trong hơn 230 năm. Nó là biểu tượng của Đế chế Đường, đế chế thịnh vượng nhất thế giới vào thế kỷ thứ bảy và thứ tám. Nó đã thu hút các sứ thần từ khắp châu Á, bao gồm cả Nhật Bản. Chính tại đây, Võ Tắc Thiên (624–705), nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, đã lên ngôi, và là nơi Hoàng đế Đường Huyền Tông (685–762) và Dương Quý Phi (719–756) đã thề nguyện tình yêu của họ với nhau.

Mô hình cung điện Daming tỷ lệ 1/15 này mang đến cái nhìn thoáng qua về vinh quang trong quá khứ.
Mô hình cung điện Daming tỷ lệ 1/15 này mang đến cái nhìn thoáng qua về vinh quang trong quá khứ.

Những giấc mơ cổ xưa chôn vùi trong hoang dã

Một cuộc chiến tranh vào cuối triều đại nhà Đường đã khiến Cung điện Daming bị thiêu rụi và chỉ còn lại đống đổ nát. Thời tiết khắc nghiệt hàng ngàn năm đã biến nơi này thành nơi hoang dã, và trong một thời gian, tàn tích thành phố đã trở thành nơi trú ẩn cho những người dân thường nghèo khó. Cuối cùng, nơi này đã được trang bị thành một công viên lịch sử vào năm 2010, và các quan chức đã trồng cây, xây dựng lối đi lát đá và đặt các biển thông tin. Một số tòa nhà cũng được sao chép. Mặc dù vậy, vẫn không còn dấu vết nào của cung điện ban đầu. Những giấc mơ cổ xưa về quyền lực và xa hoa đã tạo nên hình dạng của nó bị chôn vùi trong lòng đất tối tăm bên dưới vùng hoang dã đó, chỉ tìm thấy hình dạng trong suy tư của du khách. Đi bộ quanh cả hai địa điểm, Heijōkyō và Trường An, mang lại cảm giác hoang vắng tương tự. Tôi thấy mình ước mình có thể tiếp cận với taimu beruto của Doraemon — một chiếc thắt lưng cho phép người đeo du hành xuyên thời gian và không gian.

Cảnh quan nhìn từ phía trước cổng Suzakumon của cung điện Heijō cũ.
Cảnh quan nhìn từ phía trước cổng Suzakumon của cung điện Heijō cũ.

Heijōkyō, được mô phỏng theo Trường An, thực sự đã nắm bắt được đặc điểm của nó. Các con phố được bố trí theo mô hình lưới được xây dựng xung quanh con đường chính của Suzakuōji chạy theo hướng bắc-nam, với cung điện ở trung tâm phía bắc của thành phố và cổng chính Suzakumon hướng về phía nam. Ngoài ra còn có hai khu chợ, phía đông và phía tây: Higashiichi và Nishiichi. Cả hai thành phố đều có một hồ nhỏ ở góc đông nam. Tuy nhiên, trong khi Trường An gần như là một hình chữ nhật hoàn hảo, Heijōkyō có một phần nhô ra lớn về phía đông bắc. Heijōkyō cũng bằng một nửa chiều dài và chiều rộng của Trường An, với khoảng một phần tư diện tích. Suzakuōji dẫn về phía nam từ cung điện ở Trường An rộng 150 mét, trong khi con đường tương tự ở Heijōkyō chỉ rộng khoảng 74 mét, gần như chỉ bằng một nửa bản gốc một lần nữa. Tôi nghe nói rằng Nhật Bản ngày nay có ba con đường rộng 100 mét, nhưng không có con đường nào rộng 150 mét. Thực ra, đại lộ trung tâm ở Trường An giống một quảng trường hơn là một con đường.

Tháp chuông nằm ở trung tâm phố cổ Tây An ngày nay. Tháp chuông đóng vai trò là điểm mốc định hướng.
Tháp chuông nằm ở trung tâm phố cổ Tây An ngày nay. Tháp chuông đóng vai trò là điểm mốc định hướng.

Về các thủy vực ở phía đông nam mỗi thành, thủy vực ở Trường An được gọi là hồ Khúc Giang, trong khi thủy vực ở Heijōkyō được gọi là ao Koshida (ngày nay là hồ chứa nước Gotoku). Khúc Giang được coi là một trong những thắng cảnh nổi tiếng nhất của Trung Quốc thời Đường, được bao quanh bởi cảnh quan tuyệt đẹp, bao gồm cả một khu vườn hoàng gia tuyệt đẹp. Đây là một điểm đến phổ biến trong giới quý tộc, và những học sinh đỗ kỳ thi tuyển vào chức quan cũng thường mời bạn bè đến đây để tiệc tùng. Thậm chí còn có một trò chơi uống rượu phổ biến gọi là Khúc Giang Nổi Uống, trong đó một chiếc cốc đầy rượu được thả trôi trên mặt nước, và khi nó dừng lại trước mặt ai đó, người đó phải uống cạn cốc. Trò chơi này là một cảnh tượng nổi tiếng ở Trường An, và cũng được nhắc đến trong thơ ca.

Khi nhà Đường sụp đổ, Khúc Giang cũng bị bỏ hoang, và chỉ còn trơ trọi một ngàn năm sau đó. Tây An hiện đại có Công viên Di tích Khúc Giang Trì, được xây dựng vào năm 2007, nhưng nó chỉ là một công viên được xây dựng trên nền đất cũ. Công viên giải trí Đường Thiên Đường cũng ở gần đó, nhưng tên tiếng Trung của nó – Đại Đường Phù Dung Nguyên – không nhắc đến Khúc Giang. Đó là bởi vì một vị hoàng đế nhà Tùy không thích chữ “Khúc” (có nghĩa là “cong”), nên đã đổi tên Khúc Giang thành Phù Dung, tên tiếng Trung của hoa hồng bông.

Thiên Đường Đường.
Thiên Đường Đường.

Đáng buồn thay, Koshida, nằm ở phía đông nam Heijōkyō, dường như không được yêu thích bằng Khúc Giang. Heijōkyō chỉ là kinh đô trong khoảng 70 năm, và mặc dù Nhật Bản đã áp dụng nhiều hệ thống của Trung Quốc, nhưng vì lý do nào đó, họ đã tránh hệ thống khoa cử của triều đình (và cả hệ thống hoạn quan chính thức nữa). Tuy nhiên, khi dạo quanh khuôn viên cung điện Heijō cũ, tôi không khỏi nhớ đến khung cảnh ở Công viên Di tích Khúc Giang Trì.

Công viên di tích hồ Khúc Giang
Công viên di tích Khúc Giang Trì

Đi về phía nam từ Daigokuden dọc theo con đường trung tâm, đường ray xe lửa chìm trong biển cỏ bạc gió thổi. Sau khi băng qua đường ray, cổng Suzakumon được xây dựng lại hiện ra trước mắt. Nó gợi nhớ đến cảnh tượng tôi đã thấy qua cửa sổ tàu trên tuyến Kintetsu Nara. Nó cũng khiến tôi tự hỏi tại sao một tuyến đường sắt lại chạy qua trung tâm của cung điện Heijō cũ, một di tích lịch sử được công nhận cấp quốc gia và là Di sản Thế giới đã được đăng ký. Chẳng phải thật không phù hợp khi một tuyến đường sắt chạy qua địa điểm của một cung điện hoàng gia cũ, bộ mặt của quốc gia cổ đại sao?

Có vẻ như đoạn đường ray này đã được đặt trước khi bất kỳ ai bắt đầu khai quật tàn tích cung điện, nên không ai có thể làm gì được khi tàn tích được phát hiện. Tuy nhiên, vẫn có một số ý kiến ​​cho rằng nên di dời đường ray để tránh khu vực cung điện cũ. Dự kiến ​​hoàn thành vào khoảng năm 2060. Khi hoàn thành, trải nghiệm độc đáo khi đi tàu xuyên qua tàn tích, ngắm nhìn cổng cung điện được phục chế từ cửa sổ, sẽ không còn nữa. Năm 2060 vẫn còn gần 40 năm nữa. Ngay cả việc tưởng tượng mình sẽ làm gì lúc đó cũng khiến tôi chóng mặt.

Cổng Suzakumon sừng sững giữa đồng cỏ bạc.
Cổng Suzakumon sừng sững giữa đồng cỏ bạc.

(Xuất bản lần đầu bằng tiếng Nhật. Ảnh tiêu đề: Công trình tái thiết chính điện của cung điện Heijō, Daigokuden, hiện vẫn nằm hoang vắng. Tất cả ảnh © Li Kotomi.)

Liên kết nguồn

Poem: The Break from Simplicity

John Atkinson Grimshaw (British, 1836-1893)
John Atkinson Grimshaw (British, 1836-1893) Glasgow docks signed and dated 'Atkinson Grimshaw 1883+' (lower left) oil on canvas 51.5 x 76.5cm (20 1/4 x 30 1/8in).
An icon of 20th-century contemporary music is the inspiration for this week’s Poet’s Corner contribution from David Atkinson.

The Break from Simplicity

The world could show nothing to me.
‘God Only Knows’, Brian Wilson of the Beach Boys.

Contemplate an unkempt young songwriter, intractable thatch
of hair, caressing a piano, the cadence of careless care,
jointed digits conducting the orchestra of his wild imagination.

Reflect on the inventive invective of his bullying father,
the tragedy of his brothers, the destructive dominance
of his psychologist.

Breathe in, ruminate on his attempts to take flight
from the simplicity of surf music, the nervous breakdown
in seclusion as he applies and adapts

his prodigious skill to perfect his choral fantasy,
to engineer innovative recording techniques,
the ambiguous tonal centre of layered harmonies.

And now you have grasped the way he triumphed
over mental illness and narcotic abuse
to earn the plaudits of his rivals,
the admiration of John, the call from Paul.


 MUSIC : GOD ONLY KNOWS

Sự phá vỡ từ sự đơn giản

Thế giới chẳng thể cho tôi thấy điều gì cả.
‘God Only Knows’, Brian Wilson của nhóm Beach Boys.

Hãy chiêm ngưỡng một nhạc sĩ trẻ đầu bù
tóc rối, mái tóc rối bù, đang vuốt ve cây đàn piano, nhịp điệu của sự vô tâm,
những ngón tay khớp nối đang chỉ huy dàn nhạc của trí tưởng tượng hoang dã của anh ta.

Hãy suy ngẫm về lời chỉ trích sáng tạo của người cha hay bắt nạt mình,
bi kịch của những người anh em mình, sự thống trị mang tính hủy diệt
của nhà tâm lý học.

Hít vào, suy ngẫm về những nỗ lực của anh ấy để thoát
khỏi sự đơn giản của âm nhạc lướt sóng, sự suy nhược thần kinh
trong sự cô lập khi anh ấy áp dụng và thích nghi

kỹ năng phi thường của ông trong việc hoàn thiện khả năng hợp xướng kỳ ảo,
thiết kế các kỹ thuật thu âm sáng tạo,
trung tâm âm sắc mơ hồ của các lớp hòa âm.

Và bây giờ bạn đã hiểu được cách anh ấy chiến thắng
bệnh tâm thần và lạm dụng ma túy
để nhận được sự khen ngợi của các đối thủ,
sự ngưỡng mộ của John và lời kêu gọi của Paul.



Editor’s note: The 1966 album ‘Pet Sounds’, containing ‘God Only Knows’, was billed by RollingStone Magazine as Brian Wilson’s ‘wildly ambitious pop masterpiece’, and is considered to be one of the most influential albums of 20th-century contemporary music. / Ghi chú của biên tập viên: Album ‘Pet Sounds’ năm 1966, bao gồm ‘God Only Knows’, được Tạp chí RollingStone gọi là ‘kiệt tác nhạc pop đầy tham vọng’ của Brian Wilson và được coi là một trong những album có ảnh hưởng nhất đến nền âm nhạc đương đại thế kỷ 20 .
David Atkinson is a Sydney-based poet whose poems have been published widely in Australia, the US and UK. Recent awards have included second prize in the Tom Collins National Poetry Prize, and first prize in the Scribes Writers Poetry Awards. His collections ‘The Ablation of Time’ and ‘Strands and Ripples’ were published by Adelaide’s Ginninderra Press in 2018 and this year. / David Atkinson là một nhà thơ đến từ Sydney, những bài thơ của ông đã được xuất bản rộng rãi tại Úc, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh. Các giải thưởng gần đây bao gồm giải nhì tại Giải thưởng Thơ quốc gia Tom Collins và giải nhất tại Giải thưởng Thơ Scribes Writers. Các tập thơ ‘The Ablation of Time’ và ‘Strands and Ripples’ của ông đã được xuất bản bởi Nhà xuất bản Ginninderra Press của Adelaide vào năm 2018 và năm nay.

David Atkinson / 'The Ablation of Time'
David Atkinson / ‘The Ablation of Time’
David Atkinson / Strands and Ripples
David Atkinson / Strands and Ripples

Tiểu thuyết đầu tay của tác giả Laguna Beach là tác phẩm của ‘Tình yêu’

Cư dân Laguna Beach Laura Ford vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, “Sounds Like Love.” Cuốn tiểu thuyết kể về những người hướng dẫn thế hệ và những hình thức khác nhau mà họ có thể thực hiện, sự tích cực khi đối mặt với nghịch cảnh và thái độ tích cực đối với những người có khả năng khác nhau. (Don Leach / Nhiếp ảnh gia nhân viên)
Cư dân Laguna Beach Laura Ford vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, “Sounds Like Love.” Cuốn tiểu thuyết kể về những người hướng dẫn thế hệ và những hình thức khác nhau mà họ có thể thực hiện, sự tích cực khi đối mặt với nghịch cảnh và thái độ tích cực đối với những người có khả năng khác nhau. (Don Leach / Nhiếp ảnh gia nhân viên)
Matt Szabo | Ngày 21 tháng 9 năm 2021

Laguna Beach author’s first novel is a labor of ‘Love’

Laura Ford loves cats so much that the two at her Laguna Beach home sometimes act more human than feline.

Ford and her husband Michael Russell have a pair of Siamese cats. They are potty trained.

“That kind of freaks people out when they visit,” Ford said with a laugh. “You go to the bathroom, and there might be a cat on the toilet.”

Ford loves animals and their relationship to humans. There is a cat on the cover of her first novel, “Sounds Like Love,” which is available in paperback and hardcover, as well as ebook editions, at major retailers including Amazon.

Ford is holding a tea party and book signing on Thursday at 6:30 p.m. at the Tea House on Los Rios in San Juan Capistrano. Those interested are asked to RSVP to damian@theteahouseonlosrios.com.

The young adult novel tells the tale of a young web designer, Wendy, who wants to find love and travel the world. Her life changes when she finds an amazing cat at her grandmother’s house.

“It’s about strength in the face of adversity, and just reaching out to people to say, ‘You’re not alone in your struggles,’” Ford said. “We’re all going through struggles, but you’re stronger than you know you are.”

Ford said the cat in the book is based on one she rescued while vacationing in Greece.

Writing the novel was a natural progression for Ford, 34, who has been writing short stories since she was a child growing up in the United Kingdom, in Essex.

Ford, who immigrated to America nearly seven years ago, grew up with parents who were both artists and went to the Royal College of Art.

“Our house always had amazing artwork on the walls,” she said. “It was a very expressive environment. We were all encouraged to paint and draw and write.”

Meanwhile, she forged her own path, earning a law degree from Anglia Ruskin University in England.

Ford said although her first novel is not autobiographical, there are aspects she’s borrowed from her own life. She said the ideas for the story came rapidly, adding that she considers it funny but also moving.

One main goal she has with the novel is to show the power within everyone, she said.

“In movies, they often think it’s showing women to be strong if they’re holding a bazooka, kick somebody in the head or do something violent,” she said. “But you know what, my mom’s an incredibly strong woman, and she doesn’t have to be violent to be incredibly strong … It’s the unassuming people that I’m interested in, and people’s personal strength and resilience and how special that is. People carry around their strength inside of them, and you don’t see that in everyday life.”

In addition to her writing endeavors, Ford is the founder of the nonprofit Pollinator Protector Fund of Laguna Beach, and started work last week on a Monarch Butterfly habitat at Heisler Park after it was approved by the City Council. She said she’s been working with Robin Jones, a local master gardener.

Russell said that he is proud of his wife, but he added with a smile that he doesn’t really get in the way of her artistic process.

“It’s a constant stream [of ideas], and it’s always interesting and fun,” he said. “It’s fun for me to see it develop, but I mostly listen and read something when it’s ready. I don’t probe, because she flows really well on her own.”


Laura Ford yêu mèo đến nỗi hai con mèo ở nhà cô ở Laguna Beach đôi khi cư xử giống người hơn là mèo.

Ford và chồng bà là Michael Russell có một cặp mèo Xiêm. Chúng đã được huấn luyện đi vệ sinh đúng chỗ.

“Điều đó khiến mọi người phát hoảng khi họ đến thăm”, Ford cười nói. “Bạn vào phòng vệ sinh và có thể thấy một con mèo trên bồn cầu”.

Ford yêu động vật và mối quan hệ của chúng với con người. Có một con mèo trên bìa tiểu thuyết đầu tay của bà, “Sounds Like Love,” có sẵn ở dạng bìa mềm và bìa cứng, cũng như phiên bản sách điện tử, tại các nhà bán lẻ lớn bao gồm Amazon .

Ford sẽ tổ chức tiệc trà và ký tặng sách vào thứ năm lúc 6:30 tối tại Tea House ở Los Rios tại San Juan Capistrano. Những ai quan tâm vui lòng trả lời qua email damian@theteahouseonlosrios.com .

Tiểu thuyết dành cho thanh thiếu niên kể về câu chuyện của một nhà thiết kế web trẻ tuổi, Wendy, người muốn tìm kiếm tình yêu và du lịch vòng quanh thế giới. Cuộc sống của cô thay đổi khi cô tìm thấy một chú mèo tuyệt vời tại nhà bà ngoại của mình.

Ford cho biết:

“Đó là về sức mạnh khi đối mặt với nghịch cảnh và chỉ cần tiếp cận mọi người để nói rằng, ‘Bạn không đơn độc trong cuộc đấu tranh của mình'”. “Tất cả chúng ta đều đang trải qua những cuộc đấu tranh, nhưng bạn mạnh mẽ hơn bạn biết.”

Ford cho biết con mèo trong cuốn sách được lấy cảm hứng từ con mèo mà cô đã cứu khi đi nghỉ ở Hy Lạp.

Việc viết tiểu thuyết là một bước tiến tự nhiên đối với Ford, 34 tuổi, người đã viết truyện ngắn từ khi còn là một đứa trẻ lớn lên ở Vương quốc Anh, tại Essex.

Ford, người đã di cư đến Mỹ gần bảy năm trước, lớn lên trong một gia đình có cha mẹ đều là nghệ sĩ và đã theo học tại Cao đẳng Nghệ thuật Hoàng gia.

“Ngôi nhà của chúng tôi luôn có những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời trên tường,” cô nói. “Đó là một môi trường rất biểu cảm. Tất cả chúng tôi đều được khuyến khích vẽ, vẽ và viết.”

Trong khi đó, bà đã tạo dựng con đường riêng cho mình và lấy bằng luật tại Đại học Anglia Ruskin ở Anh.

Ford cho biết mặc dù tiểu thuyết đầu tay của bà không phải là tự truyện, nhưng có những khía cạnh bà mượn từ chính cuộc sống của mình. Bà cho biết ý tưởng cho câu chuyện đến rất nhanh, đồng thời nói thêm rằng bà thấy nó hài hước nhưng cũng rất cảm động.

Bà cho biết một mục tiêu chính của bà khi viết cuốn tiểu thuyết này là thể hiện sức mạnh bên trong mỗi người.

“Trong phim ảnh, họ thường nghĩ rằng phụ nữ phải mạnh mẽ nếu họ cầm bazooka, đá vào đầu ai đó hoặc làm điều gì đó bạo lực”, cô nói. “Nhưng bạn biết không, mẹ tôi là một người phụ nữ vô cùng mạnh mẽ, và bà ấy không cần phải bạo lực để trở nên vô cùng mạnh mẽ… Tôi quan tâm đến những con người khiêm tốn, và sức mạnh cá nhân cũng như khả năng phục hồi của mọi người và điều đó đặc biệt như thế nào. Mọi người mang trong mình sức mạnh bên trong, và bạn không thấy điều đó trong cuộc sống hàng ngày”.

Ngoài những nỗ lực viết lách, Ford còn là người sáng lập Quỹ bảo vệ loài thụ phấn phi lợi nhuận Laguna Beach và bắt đầu làm việc vào tuần trước tại môi trường sống của loài bướm chúa tại Công viên Heisler sau khi được Hội đồng thành phố chấp thuận. Cô cho biết cô đã làm việc với Robin Jones, một người làm vườn bậc thầy địa phương.

Russell cho biết anh rất tự hào về vợ mình, nhưng anh mỉm cười nói thêm rằng anh không thực sự cản trở quá trình sáng tạo nghệ thuật của cô.

“Đó là một luồng ý tưởng liên tục, và luôn thú vị và vui vẻ,” anh ấy nói. “Tôi thấy vui khi thấy nó phát triển, nhưng tôi chủ yếu lắng nghe và đọc một cái gì đó khi nó đã sẵn sàng. Tôi không thăm dò, vì cô ấy tự mình trôi chảy thực sự tốt.”

Support our coverage by becoming a digital subscriber.

Source link

Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford… Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland

img 8718
img 8718

BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland

To See And Hear Her Is To Experience A Hurricane Of Sound, Style, And Sensuality

Heigh-Ho, My Merry Rainbow Tribe! Bobby Patrick, your RAINBOW Reviewer here. Putting the silent T in cabareT to bring you all the T!

To say that Carole J. Bufford has style, my dahlings, is akin to saying the Pacific has water. She has oceans of style mixed with the stage presence, musical skill, and vocal pipes to bring it all together in a truly remarkable ginger package. With her POETS AND PICKERS show Monday night, Bufford was, as the saying goes, BOFFO at Birdland. Taking the stage in an elegant dark green velvet jacket – discreetly taped in place to her bare chest – black leather pants and perfectly selected jewelry accents, La Bufford’s intense connection to her song, herBWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland performance, and her audience gave a kind of “lit-on-fire” feel to Kristopherson’s usually languid SILVER TONGUED DEVIL album opus, THE PILGRIM-CHAPTER 33. One could easily hear in her voice what she later confirmed in her talkie bits… Carole is a country gal. Hailing from Lincolnton, GA population… really almost nonexistent, Bufford, for all her refined elegance, leans in on her southern roots when the C&W requires L&P (Lilt & Power). While there ARE renditions of standards by poets like Cole Porter, Lionel Bart, and Irving Berlin (CJB makes a real meal out of YOU’d BE SURPRISED) it is the PICKERS portion of her performance where the lady really soars. Her jamboree style country caterwaul on the John Prine protest poem, YOUR FLAG DECAL WON’T GET YOU INTO HEAVEN ANYMORE, conjured up images of pickup trucks and bubbas with beer while her fully present acting on Randy Newman‘s Love Story/You & Me made everyone certain she had a silent scene partner she kept transfixed with her eyes and the rawness of her emotions. Add to that the almost Fosse-like movement of her arms and body and one might’ve expected a bowler hat and white gloves to be handed her as the number progressed.

BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland

On the topic of the lady’s acting, it must be said that intensity layered with a strong sense of theatricality is the place where CJB lives. At first one might think it’s a lot, but really, as the headline above says, it is excess within control. A beautiful kind of torrent of feeling, and emotion does happen as she delves into the feelings and emotions of her music, but it is the kind of force-of-nature work that insists without overpowering. It is the kind of WOW factor that, when properly balanced and mixed in the gut of a consummate singing actor, can thrill you at the same time that it moves you. It was no surprise to find out the lady is a Liza fan and her rendition of Cole Porter‘s MISS OTIS REGRETS brought all of her well-polished facets to the fore as she swung from veddy, veddy proper verse explanations of Miss O’s reasons for bagging on dinner to a country-fied wail on the song’s choruses and back again. Her mournful but forceful story-telling of a life missed and expectations lost on Prine’s ANGEL FROM MONTGOMERY moved yours truly to tears and her character study on Lady Liza’s THE CIRCLE, a French song adapted by Kander & Ebb for LIVE AT THE WINTER GARDEN, gave real depth and meaning to the ladies of the streets with bigger dreams they know will never come true.

BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland

In short, Carol J. Bufford is an Actress with a capital A and one must strap in and take the ride she herself so carefully constructs, arranges (with Peter Calo – her silver fox guitarist), and performs for all to F-E-E-L. A word must also be said here for the subtle rhythmic support of Chris Marshak who makes it all happen with, what looked like, a minimalist percussion setup. Finally, Carole J. Bufford POETS AND PICKERS enlivened the main room of Birdland in so many ways that her full 17 song setlist left all in attendance wanting more, so much so that the half of the house that did NOT stand to ovate after song 16 joined the rest after her well deserved and insisted upon encore. So, Bobby has NO CHOICE but to give this ginger a full…

BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland

5 Out Of 5 Rainbows

Keep up with CJB in the web-o-sphere…

Her Webby Is Spun: HERE

Watch Her On The Youtubes: HERE

Check Out Her Insta-Pictograms: HERE

Tweet Her On The Twitters: HERE

Ande Followe On Ye Olde FaceBooke: HERE

All Photos By That ADORABLE – STEPHEN MOSHER

BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland BWW Review: Ladies & Gentlemen! Carole J. Bufford... Expresses Her Excess Within Control With POETS AND PICKERS at Birdland

Source link

Đánh giá sách: Tiểu thuyết thứ tư của Wiley Cash, ‘When Ghosts Come Home,’ kết hợp các nhân vật phong phú, bí ẩn hấp dẫn

Mercer University Press / "Said-Songs: Essays on Poetry and Place"
Mercer University Press / "Said-Songs: Essays on Poetry and Place"
"WHEN GHOSTS COME HOME" của Wiley Cash (William Morrow, 304 trang, $29).
Contributed Photo from Chapter 16 / Jesse Graves
Contributed Photo from Chapter 16 / Jesse Graves Ảnh do Mallory Cash / Wiley Cash đóng góp

Wiley Cash, tác giả của “A Land More Kind Than Home”, “This Dark Road to Mercy” và “The Last Ballad”, trở lại với tác phẩm mới nhất của mình, “When Ghosts Come Home” ấm áp và vô cùng dễ đọc.

Lấy bối cảnh năm 1984 tại thị trấn ven biển nhỏ Oak Island của Bắc Carolina, “When Ghosts Come Home” mở đầu bằng cảnh một chiếc máy bay bay thấp vào sáng sớm đánh thức Winston Barnes 63 tuổi và người vợ mắc bệnh ung thư của ông, Marie. Mặc dù Winston, cảnh sát trưởng nguyên tắc và tốt bụng của thị trấn, đã có một cảm giác kỳ lạ và nói với người yêu Marie rằng anh sẽ đến sân bay để điều tra, một cuộc gọi điện thoại từ bộ phận điều phối, ám chỉ về một vụ tai nạn máy bay có thể xảy ra, đã nhanh chóng thúc đẩy anh hành động.

Khi Cảnh sát trưởng Barnes đến, ông thực sự tìm thấy một chiếc máy bay bị rơi, kỳ lạ là trống rỗng, nhưng tình trạng của máy bay không phải là bí ẩn duy nhất mà cảnh sát trưởng phải đối mặt. Gần đó, ông phát hiện ra thi thể của Rodney Bellamy, một người đàn ông da đen, con trai của một giáo viên lịch sử trung học địa phương và là nhà lãnh đạo dân quyền, đã bị giết bởi một phát súng. Các cảnh sát trưởng và những người khác nhanh chóng đến hiện trường đã nhanh chóng liên kết hai vụ việc này là kết quả của một vụ buôn bán ma túy bất thành, nhưng Cảnh sát trưởng Barnes không chắc chắn như vậy. Ông tin rằng có thể có điều gì đó khác đang diễn ra trên Đảo Oak — điều gì đó liên quan đến những người mà ít người khác có thể ngờ tới.

Mặc dù “When Ghosts Come Home” thực sự là một tiểu thuyết bí ẩn — một tiểu thuyết đòi hỏi (và đưa ra) câu trả lời — nhưng độc giả nên đọc cuốn sách này với sự hiểu biết rằng có nhiều điều hơn thế nữa trong những trang sách này chứ không chỉ là một bí ẩn đơn thuần cần được giải quyết. Đây là một cuốn sách giàu tính nhân vật, đồng thời khéo léo đan xen các cốt truyện phụ liên quan đến chính trị, tham nhũng và phân biệt chủng tộc.

Thông tin thêm

Tác giả xuất hiện / Wiley Cash sẽ thảo luận về “When Ghosts Come Home” tại Lễ hội sách miền Nam trực tuyến năm 2021 lúc 4:15 chiều CDT ngày 9 tháng 10. Tìm hiểu thêm tại sofestofbooks.org.

Nhiều cốt truyện phụ này xoay quanh Cảnh sát trưởng Barnes khi ông cố gắng chấp nhận vị thế đang phai nhạt của mình tại một thị trấn dường như muốn bỏ lại ông để đến với một khuôn mặt mới, tươi mới trong cuộc bầu cử sắp tới. Barnes là một người đàn ông tốt bụng, đàng hoàng — một người đàn ông, mặc dù có một khoảnh khắc trong quá khứ ám ảnh mình, nhưng vẫn tích cực cố gắng làm điều đúng đắn và công bằng. Nếu đối thủ của ông giống như ông, thì sự sụp đổ của ông có thể không quá khó khăn; tuy nhiên, đối thủ của ông, Bradley Frye, không giống ông chút nào. Frye kiêu ngạo và phân biệt chủng tộc. Cảnh sát trưởng Barnes nhớ ông là “một trong những chàng trai địa phương chất đồ lên xe tải để quấy rối và đánh đập những sinh viên da đen biểu tình ngay trên đường ở Wilmington”.

Để thể hiện đầy đủ sự tách biệt giữa hai người đàn ông, Cash viết, “Winston quen với việc bắt giữ những người đàn ông như Bradley Frye vì lái xe khi say rượu hoặc đón gái mại dâm hơn là chống lại họ trong một cuộc bầu cử.” Sự thất vọng của Cảnh sát trưởng Barnes khi thấy những người khác ủng hộ đối thủ không xứng đáng của mình — và chứng kiến ​​anh ta từ từ bắt đầu xử lý việc rất nhiều người xung quanh anh ta vô danh dự và tàn nhẫn như thế nào — thật đau lòng.

Trong khi câu chuyện của Cảnh sát trưởng Barnes là linh hồn của “When Ghosts Come Home”, thì hai câu chuyện khác cũng quan trọng không kém đối với toàn bộ cuốn tiểu thuyết. Câu chuyện về Colleen, con gái của Barneses đang cố gắng hồi phục sau một thai kỳ không may, chứng minh rằng việc thoát khỏi những bóng ma ám ảnh chúng ta có thể khó khăn như thế nào. Jay, một thành viên tuổi teen của gia đình Bellamy với quá khứ rắc rối của riêng mình, cũng đưa ra một góc nhìn quan trọng, cảm động về việc phân biệt chủng tộc không chỉ tồn tại trong thế giới người lớn, khi anh quan sát người bạn da trắng thân thiết của mình, Cody, không bao giờ vào nhà Jay, rời khỏi trận bóng rổ sớm để sử dụng phòng tắm riêng và thậm chí từ chối uống một ngụm nước từ vòi nước ngoài trời của Jay.

Cash viết bằng văn xuôi dễ hiểu, trôi chảy đến mức dễ bị lạc vào tác phẩm của anh. Nhưng phong cách không phải là lý do duy nhất khiến cuốn tiểu thuyết mới nhất của anh hấp dẫn đến vậy. Đây là một cuốn tiểu thuyết hợp thời, mặc dù chắc chắn là đen tối, nhưng cũng yêu cầu chúng ta tin vào hy vọng — vào sự cứu rỗi. Với “When Ghosts Come Home”, Cash mang đến loại sách mà nhiều người trong chúng ta khao khát.

Để biết thêm thông tin về sách địa phương, hãy truy cập Chapter16.org, ấn phẩm trực tuyến của Humanities Tennessee.


Book review: Wiley Cash’s fourth novel, ‘When Ghosts Come Home,’ combines rich characters, compelling mystery

"WHEN GHOSTS COME HOME" by Wiley Cash (William Morrow, 304 pages, $29).

Wiley Cash, author of “A Land More Kind Than Home,” “This Dark Road to Mercy” and “The Last Ballad,” returns with his latest offering, the warm and immensely readable “When Ghosts Come Home.”

Set in 1984 in the small North Carolina coastal town of Oak Island, “When Ghosts Come Home” opens as an early-morning, low-flying airplane awakens 63-year-old Winston Barnes and his cancer-stricken wife, Marie. Although Winston, the town’s principled and kind sheriff, already has a peculiar feeling and tells his beloved Marie that he is going to the airport to investigate, a phone call from dispatch, which hints at a possible plane crash, quickly spurs him into action.

When Sheriff Barnes arrives, he indeed finds a crashed, oddly empty plane, but the plane’s condition isn’t the only mystery the sheriff has on his hands. Nearby, he uncovers the body of Rodney Bellamy, a Black man who is the son of a local high school history teacher and civil-rights leader, killed by a gunshot. Deputies and others who soon arrive on the scene are quick to link the two as being the result of a drug deal gone bad, but Sheriff Barnes isn’t so sure. He believes something else might very well be afoot on Oak Island — something involving people few others would ever suspect.

While “When Ghosts Come Home” is very much a mystery novel — one that demands (and delivers) answers — readers should go into the book knowing that there is much more within these pages than a simple mystery to be solved. This is a book rich in character that also expertly weaves subplots dealing with politics, corruption and racism.

More Info

Author appearance /Wiley Cash will discuss “When Ghosts Come Home” at the online 2021 Southern Festival of Books at 4:15 p.m. CDT Oct. 9. Learn more at sofestofbooks.org.

Many of these subplots revolve around Sheriff Barnes as he tries to accept his fading status in a town that seems to want to leave him behind for a fresh, new face in the upcoming election. Barnes is a good, decent man — a man who, although he has a moment from his past that haunts him, actively tries to do the right and fair thing. If his opponent were like him, his fall might not be so hard; however, his opponent, Bradley Frye, is nothing like him. Frye is arrogant and racist. Sheriff Barnes remembers him as being “one of the local boys who’d load up in trucks to harass and beat up Black students protesting just up the road in Wilmington.”

To fully show the separation between the two men, Cash writes, “Winston was more accustomed to arresting men like Bradley Frye for drunk driving or picking up prostitutes than he was standing against them in an election.” Sheriff Barnes’ disappointment in seeing others support his unworthy challenger — and watching as he slowly begins to process how dishonorable and cruel so many of the people around him are — is heartbreaking.

While Sheriff Barnes’ story is the soul of “When Ghosts Come Home,” two other narratives are just as vital to the novel’s whole. The story of Colleen, the Barneses’ daughter who is trying to recover from an ill-fated pregnancy, proves how difficult it can be to escape the ghosts that haunt us. Jay, a teen member of the Bellamy family with his own troubling past, also offers a crucial, affecting perspective on how racism isn’t something that only exists in the adult world, as he observes how his close white friend, Cody, never goes inside Jay’s house, leaves their basketball games early to use his own bathroom and even refuses a sip of water from Jay’s outdoor hose.

Cash writes in such accessible, smooth prose that it’s easy to get lost inside his work. But style is not the only reason his latest novel is so consuming. This is a timely novel that, while certainly dark, also asks us to believe in hope — in redemption. With “When Ghosts Come Home,” Cash delivers the kind of book so many of us crave.

For more local book coverage, visit Chapter16.org, an online publication of Humanities Tennessee.

Source link

Bệnh dịch hạch Athen: 430 TCN – 426 TCN (Phần 2)

The Great Plague of Athens Has Eerie Parallels to Today - The Atlantic

The Athenian Plague: 430 B.C. – 426 B.C. (Part 2)

Bởi   |  


William Sutherland là một nhà thơ và nhà văn. Ông là tác giả của ba cuốn sách, “Thơ, Lời cầu nguyện và Haiku” (1999), “Mùa xuân Nga” (2003) và “Aaliyah Remembered: Her Life & The Person Behind the Mystique” (2005) và đã được xuất bản trong các tuyển tập thơ. vòng quanh thế giới. Ông đã được giới thiệu trong “Ai là ai trong các nhà thơ mới” (1996), “Quốc tế là ai trong thơ” (2004), và là thành viên của “Đại sứ Danh dự Thơ Quốc tế.” Ông cũng là người đóng góp cho Wikipedia, trang bách khoa toàn thư trực tuyến số một.


Chẳng bao lâu sau, nhuệ khí của người Athen đã sa sút hẳn. Trong một nỗ lực để thúc đẩy tinh thần đang suy sụp của người dân và khôi phục lại niềm tin mà họ đã mất, Pericles đã nói về sự vĩ đại của Thành phố trong “lễ tang công khai” hàng năm được tổ chức để tôn vinh những người đã chết trong chiến tranh của cô.

“Hình thức chính phủ của chúng tôi không có sự cạnh tranh với các thể chế của những người khác. Chúng tôi không sao chép những người hàng xóm của chúng tôi, nhưng là một ví dụ cho họ. … Chúng ta được gọi là một nền dân chủ, vì chính quyền nằm trong tay của nhiều người chứ không phải ít, ”nhà lãnh đạo Athen tuyên bố. “Không có gì độc quyền trong cuộc sống công cộng của chúng tôi… chúng tôi là những người yêu cái đẹp, nhưng đơn giản trong thị hiếu của chúng tôi, và chúng tôi tu dưỡng tâm trí mà không mất đi sự nam tính. Của cải chúng ta sử dụng, không phải để nói và phô trương, mà là khi chúng ta sử dụng nó thực sự. Đối với chúng ta nghèo đói không phải là điều đáng hổ thẹn; sự ô nhục thực sự là không làm gì để tránh nó. Một công dân Athen không bỏ bê nhà nước vì anh ta chăm sóc hộ gia đình của riêng mình; và ngay cả những người trong chúng ta, những người đang tham gia vào lĩnh vực kinh doanh đều có một ý tưởng rất công bằng về chính trị, ”Anh ấy nói thêm trước khi đề cập đến lòng dũng cảm của các hậu vệ của Thành phố, những người đã ngã xuống trong trận chiến. “Điều ám chỉ rằng một cái chết chẳng hạn như của họ… mang lại thước đo thực sự cho giá trị của một người đàn ông; nó có thể là sự tiết lộ đầu tiên về các đức tính của anh ta… Và khi thời điểm đến, họ có ý định chống lại và đau khổ, thay vì bay và cứu mạng sống của họ; … Trên chiến trường, đôi chân của họ đứng nhanh, và ngay lập tức, ở đỉnh cao tài sản của họ, họ đã qua đời không phải vì sợ hãi, mà vì vinh quang của họ. Đó là sự kết thúc của những người đàn ông này; họ xứng đáng với Athens. ” và ngay lập tức, ở đỉnh cao tài sản của họ, họ đã ra đi khỏi hiện trường, không phải vì sợ hãi, mà vì vinh quang của họ. Đó là sự kết thúc của những người đàn ông này; họ xứng đáng với Athens. ” và ngay lập tức, ở đỉnh cao tài sản của họ, họ đã ra đi khỏi hiện trường, không phải vì sợ hãi, mà vì vinh quang của họ. Đó là sự kết thúc của những người đàn ông này; họ xứng đáng với Athens. “[1]

Tuy nhiên, dịch bệnh quá lớn đối với người Athens, điều này còn tồi tệ hơn bởi mùa hè nóng nực như Diodorus Siculus mô tả – “những cơn gió etesian… mà thông thường, hầu hết nhiệt vào mùa hè được làm mát không thổi được; và khi sức nóng tăng lên và không khí bốc lửa, cơ thể của cư dân, không có bất cứ thứ gì để làm mát họ, lãng phí đi. ” [2]

Trật tự xã hội sụp đổ khi nhiều người bị bỏ rơi cùng với bạn bè và gia đình ốm yếu của họ vì “các hiến pháp mạnh và yếu đều không có khả năng phản kháng…” [3]Đối với Thucydides, đây là phần tồi tệ nhất của trận dịch – “Cho đến nay, đặc điểm khủng khiếp nhất của căn bệnh này là sự từ chối đảm bảo khi bất kỳ ai cảm thấy bản thân bị ốm, vì sự tuyệt vọng mà họ rơi vào đó ngay lập tức đã lấy đi sức đề kháng của họ, và để lại cho họ một con mồi dễ dàng hơn nhiều cho sự rối loạn; Bên cạnh đó, có cảnh tượng khủng khiếp của những người đàn ông chết như cừu, mặc dù đã bị nhiễm trùng khi nuôi dưỡng nhau. … Mặt khác, nếu họ ngại đến thăm nhau, họ đã bỏ mạng vì bị bỏ rơi; thực sự nhiều ngôi nhà đã bị bỏ trống… vì muốn có một y tá: mặt khác, nếu họ mạo hiểm làm như vậy, hậu quả là cái chết ”. [4]

Đồng thời, như đã đề cập trước đó, nhiều người bị ảnh hưởng bởi bệnh dịch hạch đã ném mình vào các bể chứa và bể chứa nước – “… tất cả các bệnh phổ biến vào thời điểm đó đều được phát hiện là kèm theo sốt, nguyên nhân là do quá nhiệt. Và đây là lý do tại sao hầu hết những người ốm yếu lao mình vào các bể chứa và suối nước nóng để làm mát cơ thể của họ, ” [5] Diodorus Siculus nói thêm. Một số người thậm chí còn bị cắt cụt tứ chi như ngón tay, ngón chân trong nỗ lực sống sót trong tuyệt vọng. “[N] những thi thể không được chôn cất đáng kể đã bị bỏ lại ở đây và ở đó.” [6]

Per Thucydides, “Xác của những người sắp chết nằm chồng lên nhau, và những sinh vật sống dở chết dở quay cuồng trên đường phố và tụ tập quanh tất cả các đài phun nước trong niềm khao khát được cấp nước. Những nơi linh thiêng nơi họ từng khai thác đầy xác chết… vì khi thảm họa vượt qua mọi giới hạn, những người đàn ông, không biết điều gì sẽ xảy ra với họ, trở nên hoàn toàn bất cẩn với mọi thứ… Tất cả các nghi thức chôn cất trước khi được sử dụng đều hoàn toàn khó chịu, và họ chôn xác tốt nhất có thể… [Gỗ dùng làm giàn thiêu, trở nên khan hiếm.] Đôi khi, bắt đầu từ những người chất thành đống, họ ném xác chết của chính mình lên giàn thiêu của người lạ và đốt nó… Sợ các vị thần hay luật pháp không có gì để hạn chế họ… Không ai mong đợi sẽ bị đưa ra xét xử vì hành vi phạm tội của mình, nhưng mỗi người đều cảm thấy rằng một bản án nghiêm khắc hơn rất nhiều đã được thông qua. ”[7] Ngay cả dã thú và chim săn mồi cũng tránh chết – “Tất cả các loài chim và thú săn mồi trên cơ thể người, hoặc kiêng chạm vào chúng, hoặc chết sau khi nếm chúng. Để chứng minh điều này, người ta nhận thấy rằng những loài chim thuộc loại này đã thực sự biến mất; họ không nói về các thi thể, hoặc thực sự để được nhìn thấy, “Thucydides viết. [số 8]

Không ai chắc chắn rằng họ sẽ sống sót vì có vẻ như tất cả mọi người bất chấp các biện pháp phòng ngừa mà họ đã đề phòng, đều đổ bệnh – “Người Athen tránh nhau nhưng dù sao cũng bỏ mạng”, [9] hầu hết đều phớt lờ “tiếng rên rỉ của người sắp chết” [10] khi họ “Vội vàng để thỏa mãn thị hiếu của họ, và bỏ rơi mình cho sự sa đọa đạo đức lớn nhất.” [11]

Per Thucydides, “Đàn ông giờ đây đã mạo hiểm tuyệt đối với những gì họ đã làm trước đây ở một góc, và không chỉ như họ muốn, khi nhìn thấy những chuyển đổi nhanh chóng tạo ra bởi những người đang thịnh vượng đột ngột chết và những người trước đây không có gì thành công với tài sản của họ. Vì vậy, họ quyết tâm chi tiêu nhanh chóng và tận hưởng bản thân, coi cuộc sống và sự giàu có của họ như những thứ giống nhau trong ngày. Sự kiên trì đối với thứ mà đàn ông gọi là danh dự không ai phổ biến, không chắc họ có được tha để đạt được đối tượng hay không; nhưng người ta đã giải quyết rằng sự hưởng thụ hiện tại, và tất cả những gì đóng góp vào nó, đều là danh dự và hữu ích. Không có gì để ngăn cản họ. Về phần thứ nhất, họ đánh giá nó giống nhau cho dù họ có thờ phượng họ hay không, vì họ thấy tất cả đều giống nhau bị diệt vong; và cuối cùng,[12]

Đồng thời, với 25% dân số Thành phố đã chết, người dân đã bật mí về lãnh đạo của họ. Họ đổ lỗi cho Pericles, người mà họ coi là “tác giả của cuộc chiến” [13] về sự bùng nổ (vì chiến lược của anh ta là đưa mọi người vào trong các bức tường của Thành phố mặc dù anh ta “không có giải pháp thay thế [khả thi] nào… vì nó sẽ là tự sát để giao chiến với bộ binh [Lacedæmonian] lớn hơn và được huấn luyện tốt hơn ” [14] ở vùng nông thôn Attica) và thậm chí thúc giục đầu hàng theo yêu cầu của Lacedæmoniac. Theo Diodorus Siculus, “Người Athen, bây giờ cây cối ở vùng quê của họ đã bị đốn hạ (bởi những người Lacedæmonians tàn phá vùng đất của họ) và bệnh dịch đang hoành hành với số lượng lớn, đã rơi vào tuyệt vọng và trở nên tức giận với Pericles…” [15 ]Điều này đã khuyến khích các đối thủ chính trị của Pericles, Kleon, Simmias và Lakratidas, khởi kiện chống lại anh ta với lý do phù phiếm là “quản lý công quỹ kém”. [16]

Khi giải quyết các cáo buộc, Pericles nói với sự cương quyết, không đưa ra lời xin lỗi – “Tôi đã mong đợi sự phẫn nộ bùng phát này; Tôi không biết nguyên nhân của nó… Tôi cho phép rằng đối với những người đàn ông thịnh vượng và tự do lựa chọn thì việc gây chiến là một điều tuyệt vời. Nhưng khi họ phải phục tùng và ngay lập tức đầu hàng độc lập, hoặc tấn công và được tự do, thì kẻ trốn tránh chứ không phải kẻ gặp nguy hiểm đáng bị đổ lỗi. Về phần mình, tôi vẫn là một người đàn ông như vậy và đứng ở vị trí mà tôi đã làm. Nhưng bạn đã thay đổi; vì bạn đã bị điều khiển bởi sự bất hạnh khi nhớ lại sự đồng ý mà bạn đã đưa ra khi bạn chưa bị tổn thương, và nghĩ rằng lời khuyên của tôi là sai bởi vì nhân vật của bạn yếu ớt … Bất cứ điều gì đột ngột và bất ngờ và hoàn toàn nằm ngoài tính toán, thật là một thảm họa cho ví dụ như bệnh dịch này đến với những bất hạnh khác, mê hoặc tinh thần của một người đàn ông. ” Khi nói chuyện với Athena Ecclesia, Pericles vẫn thúc giục lòng can đảm và sức mạnh đồng thời kêu gọi sự hiểu biết – “… là công dân của một thành phố vĩ đại và được giáo dục trong một tính khí vĩ đại, bạn không nên khuất phục trước những tai họa dù quá lớn hay làm cho bóng tối của danh tiếng của bạn… Bạn không được dẫn dắt đi theo lời khuyên của những công dân như [những người tố cáo Pericles] này, cũng như không được tức giận với tôi; vì giải pháp có lợi cho chiến tranh là của riêng bạn cũng như của tôi. Điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù đã đến và làm điều mà hắn nhất định phải làm khi bạn không chịu nhượng bộ? Điều gì cũng xảy ra nếu bệnh dịch theo sau? Đó là một cú đánh bất ngờ… Tôi biết rõ rằng sự căm ghét của bạn đối với tôi đang trở nên trầm trọng hơn vì điều đó. Nhưng thật oan ức… ” Pericles vẫn thúc giục lòng can đảm và sức mạnh trong khi kêu gọi sự hiểu biết – “… là công dân của một thành phố vĩ đại và được giáo dục trong tính khí của sự vĩ đại, bạn không nên khuất phục trước những tai họa quá lớn, hoặc làm mờ đi ánh sáng của danh tiếng của bạn… Bạn không được dẫn dắt tránh xa lời khuyên của những công dân như [những người tố cáo Pericles] này, và cũng đừng tức giận với tôi; vì giải pháp có lợi cho chiến tranh là của riêng bạn cũng như của tôi. Điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù đã đến và làm điều mà hắn nhất định phải làm khi bạn không chịu nhượng bộ? Điều gì cũng xảy ra nếu bệnh dịch theo sau? Đó là một cú đánh bất ngờ… Tôi biết rõ rằng sự căm ghét của bạn đối với tôi đang trở nên trầm trọng hơn vì điều đó. Nhưng thật oan ức… ” Pericles vẫn thúc giục lòng can đảm và sức mạnh trong khi kêu gọi sự hiểu biết – “… là công dân của một thành phố vĩ đại và được giáo dục trong tính khí của sự vĩ đại, bạn không nên khuất phục trước những tai họa quá lớn, hoặc làm mờ đi ánh sáng của danh tiếng của bạn… Bạn không được dẫn dắt tránh xa lời khuyên của những công dân như [những người tố cáo Pericles] này, và cũng đừng tức giận với tôi; vì giải pháp có lợi cho chiến tranh là của riêng bạn cũng như của tôi. Điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù đã đến và làm điều mà hắn nhất định phải làm khi bạn không chịu nhượng bộ? Điều gì cũng xảy ra nếu bệnh dịch theo sau? Đó là một cú đánh bất ngờ… Tôi biết rõ rằng sự căm ghét của bạn đối với tôi đang trở nên trầm trọng hơn vì điều đó. Nhưng thật oan ức… ” hoặc làm đen bóng danh tiếng của bạn… Bạn không được dẫn dắt đi theo lời khuyên của những công dân như [những người tố cáo Pericles] này, cũng như không được tức giận với tôi; vì giải pháp có lợi cho chiến tranh là của riêng bạn cũng như của tôi. Điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù đã đến và làm điều mà hắn nhất định phải làm khi bạn không chịu nhượng bộ? Điều gì cũng xảy ra nếu bệnh dịch theo sau? Đó là một cú đánh bất ngờ… Tôi biết rõ rằng sự căm ghét của bạn đối với tôi đang trở nên trầm trọng hơn vì điều đó. Nhưng thật oan ức… ” hoặc làm đen bóng danh tiếng của bạn… Bạn không được dẫn dắt đi theo lời khuyên của những công dân như [những người tố cáo Pericles] này, cũng như không được tức giận với tôi; vì giải pháp có lợi cho chiến tranh là của riêng bạn cũng như của tôi. Điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù đã đến và làm điều mà hắn nhất định phải làm khi bạn không chịu nhượng bộ? Điều gì cũng xảy ra nếu bệnh dịch theo sau? Đó là một cú đánh bất ngờ… Tôi biết rõ rằng sự căm ghét của bạn đối với tôi đang trở nên trầm trọng hơn vì điều đó. Nhưng thật oan ức… ”[17]

Đến lúc đó, cơn giận dữ quá mạnh khiến cho lời bào chữa của Pericles rơi vào tai điếc. Ông bị phạt từ 15 đến 80 nhân tài và bị tước bỏ quyền lực. Sau đó, theo Telemachus Timayenis, Pericles “bình tĩnh trước phiên tòa khủng khiếp này, bản chất thể chất của anh ta giờ đây đã chống chọi lại những đau khổ đáng sợ nhất. Dịch bệnh không chừa một ai, đã cướp đi nhiều người bạn thân nhất của ông và nhiều người thân của ông, bao gồm cả [người vợ đầu tiên], em gái ông và các con trai của ông là Xanthippus và Paralus. Người đã rất nhiều lần nhấn mạnh vào lòng dũng cảm và lòng dũng cảm nơi đồng bào của mình, và đã thể hiện mình xứng đáng với lời nói của mình, khi chứng kiến ​​đứa con trai yêu quý của mình là Paralus đã chết, và đã đến gần để đặt vòng hoa lên đầu người yêu dấu đó, có thể không kìm chế được bản thân, và lần đầu tiên trong đời anh ấy đã khóc một cách cay đắng ”. [18] Anh ấy cũng dành sự quan tâm nồng nhiệt tương tự đối với những người bạn thân thiết của mình, những người mà anh ấy cũng thương tiếc khi họ trở thành nạn nhân của bệnh dịch, chứng tỏ rằng “đằng sau nguồn dự trữ gần như băng giá của anh ấy là một trái tim ấm áp và giàu tình cảm.” [19]

Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 430 trước Công nguyên, người Athen đã thay đổi tâm hồn “cảm thấy hối hận” [20], đặc biệt là khi họ “thấy những người kế vị của ông ta kém cỏi đến mức nào.” [21] Họ bầu Pericles, người cũng đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của bệnh dịch trở lại văn phòng cũ của anh ấy là “Strategos.” Tuy nhiên, chỉ có sự thuyết phục của những người bạn thân thiết nhất của anh mới thuyết phục được Pericles một lần nữa “nắm quyền điều hành công việc”, mà sau đó anh đã sử dụng để xin phép người Athens bỏ qua luật quốc tịch mà anh đã ban hành vào năm 451 trước Công nguyên để cấp cho đứa con trai “ngoài giá thú” của mình, người mà anh yêu đến hơi thở cuối cùng, quốc tịch Athen. [22] Pericles đã yêu cầu một ngoại lệ vì đứa con trai sống sót này đã được sinh ra với tình nhân của anh ta, một phụ nữ Milesia xinh đẹp có học thức, Aspasia (470 TCN-410 TCN), người đã bất chấp khuôn mẫu thời đó bằng cách lợi dụng địa vị không phải là người Athen của mình để trở thành “Một nhà văn vĩ đại … và một nhà triết học.” [23]

Sau đó với sự chỉ huy của Pericles, cuộc chiến dường như đã diễn ra tốt đẹp. Cuộc bao vây Potidæa, được kích hoạt bởi một cuộc nổi dậy phổ biến chống lại Athens đã kết thúc vào tháng 1 năm 429 trước Công nguyên khi quân đội Athen cho phép cư dân của nó khởi hành sang các quốc gia lân cận. Athens đã bao vây Platæa hai tháng sau (cuối cùng đã đầu hàng vào năm 427 trước Công nguyên) trong khi Đô đốc Phormio mang về cho Thành phố một “chiến thắng đáng kể” ở Vịnh Corinthian, sau khi chỉ giao chiến với 20 tàu chống lại lực lượng Peloponnesian gần gấp ba lần con số đó như họ đã cố gắng “giành Acarnania khỏi liên minh Athen.” [24] Nó cũng giúp ích cho việc vào năm 429 trước Công nguyên, lực lượng Lacedæmonian, không giống như năm 430 trước Công nguyên và hàng năm sau đó, đã từ chối tiến vào và tàn phá Attica vì “tình trạng của thành phố bị dịch hạch làm cho việc tiếp cận [quá] nguy hiểm.” [25]

Vào thời điểm này, sự “phục vụ [phục vụ] đất nước của Pericles sắp kết thúc” [26] khi cuộc sống của anh dần dần bị lãng phí khỏi những ảnh hưởng của cơn sốt mà anh đang mắc phải vì bệnh dịch. “Anh ấy đang chết” trong đau buồn vì “ngôi nhà của anh ấy đã bị bỏ hoang vì bệnh dịch” [27] cùng với cái chết của các thành viên trong gia đình nói trên và nhiều người thân.

Sau đó, khi anh ta nằm hấp hối, bất tỉnh và bất tỉnh, Pericles, theo lời kể của Mestrius Plutarchus, được gọi là “Plutarch” (khoảng năm 46-127 sau Công nguyên), một nhà sử học và tiểu sử người Hy Lạp, “tự tỉnh dậy khỏi giấc ngủ… anh ta đã sa ngã “để mắng nhiếc những người bạn của mình, những người nói” về những chiến công mà anh ta đã đạt được, quyền lực mà anh ta đã nắm giữ, và tính cách cao quý của anh ta, “nói rằng” đây không phải là danh hiệu chính để nổi tiếng của anh ta. ” Ông tự hào nhất về hệ thống chính quyền dân chủ của Athens và một người không thích tất cả trừ những cuộc chiến tranh cần thiết, coi trọng nhân loại và nuôi dưỡng một sự “hoàn toàn không có sự báo thù”. [28]

Khi qua đời ở tuổi 64 vào mùa thu năm 429 trước Công nguyên, Pericles là bản chất của Athens – một chính khách và tướng lĩnh vĩ đại, “một người hành động, một triết gia, [và] một người yêu nghệ thuật” đã “sống một cuộc đời khắc khổ “Không bao giờ” áp dụng các chiến thuật của một dân số “, đến nỗi theo lời của Arthur Grant,” thực sự có thể nghi ngờ rằng liệu có bất kỳ nhà lãnh đạo nổi tiếng vĩ đại nào từng có quá ít sự nịnh hót hay không. ” [29]

Tuy nhiên, cái chết của Pericles không làm cho bệnh dịch chấm dứt. Nó kéo dài thêm ba năm nữa dẫn đến thiệt hại khôn lường về nhân mạng, khiến hàng chục nghìn người thiệt mạng. Vào thời điểm bệnh dịch cuối cùng cũng bùng phát vào năm 426 trước Công nguyên, một phần ba dân số Athen đã bị diệt vong và liên minh Delian do Athens đứng đầu đã sụp đổ, gây ra bởi việc Lacedæmonian chiếm được Lesbos vào năm 428 trước Công nguyên, khiến Chios trở thành thành viên độc lập cuối cùng của liên minh Athen. . Giữa những mất mát lớn về nhân mạng và hỗn loạn, “phụ nữ Athen tạm thời được giải phóng khỏi những giới hạn nghiêm ngặt của phong tục [của Thành phố]” để họ có thể thực hiện các chức năng quan trọng mà đàn ông thực hiện trước đây. Một thẩm phán được gọi là “gynaikonomos” được chỉ định để giám sát các hoạt động của họ. [30]

Tuy nhiên, vào thời điểm này, chính Thành phố mà Pericles yêu thích, cũng đã gần kết thúc vì “những kỳ vọng bình thường đã bị đảo lộn khi những người họ hàng xa của những người giàu có đột nhiên nhận thấy mình là những người sở hữu vận may bất ngờ, và một nhóm bình thường gồm các ứng cử viên quý tộc cho chức vụ chính trị là bị cuốn trôi ”. [31] Theo đó, mặc dù được bổ sung quân đội của Athens vào năm 415 trước Công nguyên, Thành phố vẫn thiếu tầm nhìn và khả năng lãnh đạo để mang lại chiến thắng. Vào tháng 8 năm 405 trước Công nguyên, Athens đã phải chịu một thất bại tan nát dưới tay của đô đốc Lacedæmonian Lysandros, người đã “bắt hầu hết bộ ba hạm đội của [bà ta].” Với số phận của Thành phố bị đóng dấu bởi sự mất mát tàn khốc này, “Athens đã buộc phải đầu hàng. Lysandros ngay lập tức xé nát Bức tường dài và những bức tường xung quanh Piræus ” [32] trước khi chuyển giao quyền lực cho chính phủ ủy nhiệm.

Tuy nhiên, Pericles đã chứng minh tính tiên tri khi ông tuyên bố rằng ký ức về “vinh quang của Athens sẽ luôn tồn tại”. [33] “Cho đến chừng nào văn học Hy Lạp còn kêu gọi sự ngưỡng mộ, và chừng nào các trụ cột của Parthenon vẫn còn trên Acropolis” [34] thì tinh thần của Pericles và Athens sống như những biểu tượng của nền dân chủ và thời kỳ vàng son của người Hy Lạp.

Trong khi lịch sử và những ảnh hưởng tàn khốc của bệnh dịch hạch ở Athen đã được biết đến hơn 2000 năm, thì mãi đến năm 1994, căn bệnh bao gồm đau đầu, viêm kết mạc, phát ban trên cơ thể và sốt ”với những nạn nhân vô cùng đau đớn. co thắt dạ dày, ho ra máu “sau đó là nôn mửa và“ ọc ọc không hiệu quả ” [35] có thể được điều tra hồi cứu và kỹ lưỡng. Nó đã được chứng minh là Typhoid dựa trên DNA thu thập được từ răng của “ít nhất 150 thi thể, bao gồm cả những thi thể trẻ sơ sinh” đã được chất đống vội vã và lộn xộn, từng cái chồng lên nhau trong một ngôi mộ tập thể cũng bao gồm “một số nhỏ bình [funery] ”có niên đại từ năm 430 đến 429 trước Công nguyên“ nằm sâu bên dưới nghĩa trang Kerameikos. ” [36]

Khi ngôi mộ tập thể bao gồm gần 1000 ngôi mộ có thể chứa 240 thi thể trong đó có 10 đứa trẻ, được “đặt ngẫu nhiên không có lớp đất nào giữa chúng”, được phát hiện trong quá trình khai quật một ga tàu điện ngầm, Efi Baziotopoulou- Valavani ngay lập tức biết rằng có một cái gì đó khác biệt về nó vì nó “không có một nhân vật hoành tráng. Lễ vật mà chúng tôi tìm thấy bao gồm những bình táng thông thường, thậm chí rẻ tiền; những cái hoàn thiện màu đen, một số hình nhỏ màu đỏ, cũng như lekythoi trắng (bình dầu) của nửa sau thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, ”cô nói khi mô tả ngôi mộ. “Các thi thể được đặt trong hố trong vòng một hoặc hai ngày. Những [yếu tố] này chỉ ra việc chôn cất hàng loạt trong tình trạng hoảng loạn, hoàn toàn có thể là do bệnh dịch hạch ”. [37]

Khi tiến hành các thử nghiệm của mình, “Manolis Papagrigorakis và các đồng nghiệp của cô tại Đại học Athens” đã chọn “ba mẫu răng ngẫu nhiên… và lấy tủy răng”, thứ “có thể lưu trữ mầm bệnh và các thông tin khác về cơ thể trong nhiều thế kỷ” và kiểm tra chúng trong một phạm vi vi khuẩn – “bệnh dịch hạch, sốt phát ban, bệnh than, bệnh lao, bệnh đậu bò và bệnh vảy mèo trước khi tìm thấy sự trùng khớp ở Salmonella enterica serovar Typhi – vi khuẩn gây ra bệnh sốt thương hàn.” Để đề phòng “kết quả sai” có thể xảy ra, nhóm nghiên cứu cũng đã kiểm tra “hai chiếc răng hiện đại” để tìm các mầm bệnh giống nhau. [38]

Dựa trên các kết quả xét nghiệm có được nhờ những tiến bộ gần đây trong công nghệ, cụ thể là “các công cụ sinh học phân tử (DNA PCR và kỹ thuật giải trình tự) có thể cung cấp các chẩn đoán hồi cứu” [39] và thông qua các tài liệu lịch sử, đặc biệt là của Thucydides và Diodorus Siculus, bí ẩn đã được đã giải quyết. “Sốt thương hàn – lây truyền qua thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm – [gây ra] sốt, phát ban và tiêu chảy” trong khi “khởi phát nhanh” là do “có thể có sự tiến triển của sốt thương hàn theo thời gian”. [40]


[1] Thucydides: The Jowett Translation – Funeral Oration of Pericles. 27 July 2006. 

[2] David Noy. 9. Plagues. University of Wales, Lampeter, UK. 2002. 27 July 2006.

[3] Carl J. Richard. Twelve Greeks And Romans Who Changed The World. (Barnes & Noble Publishing. New York. 2006) 90.

[4] Thucydides. The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[5] David Noy. 9. Plagues. University of Wales, Lampeter, UK. 2002. 27 July 2006.

[6] Telemachus T. Timayenis. A History of Greece from the Earliest Times to the Present. (D. Appleton & Co. 1883) 315.

[7] Carl J. Richard. Twelve Greeks And Romans Who Changed The World. (Barnes & Noble Publishing. New York. 2006) 90.

[8] Thucydides. The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[9] Carl J. Richard. Twelve Greeks And Romans Who Changed The World. (Barnes & Noble Publishing. New York. 2006) 90.

[10] Thucydides. The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[11] Telemachus T. Timayenis. A History of Greece from the Earliest Times to the Present. (D. Appleton & Co. 1883) 315.

[12] Thucydides. The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[13] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 263.

[14] Carl J. Richard. Twelve Greeks And Romans Who Changed The World. (Barnes & Noble Publishing. New York. 2006) 91.

[15] David Noy. 9. Plagues. University of Wales, Lampeter, UK. 2002. 27 July 2006. 

[16] Telemachus T. Timayenis. A History of Greece from the Earliest Times to the Present. (D. Appleton & Co. 1883) 317.

[17] Thucydides: The Jowett Translation – Pericles To The Athenian Ecclesia II. 27 July 2006. 

[18] Telemachus T. Timayenis. A History of Greece from the Earliest Times to the Present. (D. Appleton & Co. 1883) 317.

[19] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 268.

[20] Carl J. Richard. Twelve Greeks And Romans Who Changed The World. (Barnes & Noble Publishing. New York. 2006) 91.

[21] Telemachus T. Timayenis. A History of Greece from the Earliest Times to the Present. (D. Appleton & Co. 1883) 317.

[22] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 266.

[23] Lisa Lewis and Robyn Yearby. Aspasia. The Woman Behind The Great Men of 5th Century B.C. 16 February 2000. 20 August 2006. [http://students.ou.edu/L/Lisa.A.Lewis-1/]

[24] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 264.

[25] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 270.

[26] Telemachus T. Timayenis. A History of Greece from the Earliest Times to the Present. (D. Appleton & Co. 1883) 317.

[27] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 266.

[28] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 266.

[29] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 268.

[30] Plague of Athens. Wikipedia.com. 18 July 2006. 22 July 2006.

[31] Sayaret. The Plague in Athens During The Peloponnesian War. Jelsoft Enterprises, Ltd. 2006. 22 July 2006. 

[32] Athens: The City Of Intellect And Democracy. Myth & History. (Toubi’s. Athens, Greece. 1997) 32.

[33] Thucydides: The Jowett Translation – Pericles To The Athenian Ecclesia II. 27 July 2006. 

[34] Arthur James Grant. Greece In The Age of Pericles. (John Murray. London, UK, 1893) 268.

[35] Christine A. Smith. Plague in the Ancient World: A Study from Thucydides to Justinian. 1997. 22 July 2006. [http://www.loyno.edu/~history/journal/1996-97/Smith.html]

[36] Ancient Athenian Plague Proves To Be Typhoid. Scientific American.com. 25 January 2006. 22 July 2006 and Athenian Plague. Science.com. 22 November 1996. 22 July 2006. 

[37] Nikos Axarlis. Plague Victims Found: Mass Burial In Athens. Archaeology.org. 15 April 1998. 20 August 2006. 

[38] Ancient Athenian Plague Proves To Be Typhoid. Scientific American.com. 25 January 2006. 22 July 2006.

[39] Secret of Ancient Athenian Plague Unraveled. National Vanguard.com. 25 January 2006. 22 July 2006.

[40] Ancient Athenian Plague Proves To Be Typhoid. Scientific American.com. 25 January 2006. 22 July 2006. 

 

Bệnh dịch hạch Athen: 430 TCN – 426 TCN (Phần 1)

Thucydides and the plague of Athens - what it can teach us now

[ad_1]

The Athenian Plague: 430 B.C. – 426 B.C. (Part 1)

Bởi   |  


William Sutherland là một nhà thơ và nhà văn. Ông là tác giả của ba cuốn sách, “Thơ, Lời cầu nguyện và Haiku” (1999), “Mùa xuân Nga” (2003) và “Aaliyah Remembered: Her Life & The Person Behind the Mystique” (2005) và đã được xuất bản trong các tuyển tập thơ. vòng quanh thế giới. Ông đã được giới thiệu trong “Ai là ai trong các nhà thơ mới” (1996), “Quốc tế là ai trong thơ” (2004), và là thành viên của “Đại sứ Danh dự Thơ Quốc tế.” Ông cũng là người đóng góp cho Wikipedia, trang bách khoa toàn thư trực tuyến số một.


Khi Chiến tranh Peloponnesian (431-404 TCN) bùng phát với sự tồi tệ của chiến tranh lạnh giữa Athens và Lacedæmonia (Sparta), một nhà tiên tri cổ đại được cho là đã đưa ra lời cảnh báo cho Athens và là nguồn cảm hứng cho Lacedæmonia: “Một cuộc chiến tranh Dorian sẽ đến và cùng với nó là cái chết… “Khi vị thần được hỏi liệu họ (Lacedæmonia) có nên tham chiến hay không, ngài trả lời rằng“ nếu họ dốc hết sức lực, chiến thắng sẽ thuộc về họ… ” [1] Vào thời điểm Athens đang ở thời kỳ hoàng kim (479-431 TCN) dưới sự lãnh đạo khai sáng của Pericles (495-429 TCN), người đã đưa ra hình thức dân chủ đầu tiên trên thế giới theo đó các quyền cá nhân, văn học và nghệ thuật phát triển mạnh.

Theo Thucydides (460-400 TCN), một vị tướng, nhà phê bình chính trị và nhà sử học người Athen, sự nhiệt tình và ủng hộ đối với Chiến tranh Peloponnesian giữa những người Athen “rất cao” khi xung đột nổ ra. Nhiều người, đặc biệt là những người trẻ tuổi, “coi đó là một cuộc phiêu lưu và một nguồn lợi nhuận tiềm năng.” [2] Tuy nhiên, sự ủng hộ và nhiệt tình dành cho cuộc chiến nhanh chóng suy yếu khi Athens gặp phải bất hạnh (những người Peloponnesian do Lacedæmonia lãnh đạo xâm lược Attica gây ra một số “sự tàn phá tồi tệ nhất” [3] ) và bệnh dịch đã tàn phá phần lớn dân số của Thành phố.

Khi vùng nông thôn Attica bị tràn ngập vào tháng 4 năm 430 trước Công nguyên, người Athens theo chỉ dẫn của Pericles – “đưa tất cả mọi người… vào thành phố” [4] trú ẩn trong “những phần… không được xây dựng và trong các đền thờ và nhà nguyện của các anh hùng … Và những nơi khác như luôn bị đóng cửa ”bao gồm cả thành cổ Pelasgian (ngay phía nam Acropolis) nơi cư trú“ đã bị cấm bởi một… nhà tiên tri Pythian [đọc]: “Hãy để lại khu đất Pelasgian hoang tàn, Khốn nạn cho cái ngày đó đàn ông sống ở đó! ‘” [5] Vùng nông thôn Attica bị bỏ hoang cho sự tàn phá của Lacedæmonian, mục tiêu là“ không chỉ ngô và trái cây của [người Athen], mà ngay cả những vườn rau gần thành phố, [bị] nhổ và phá hủy ” [6 ]vì người Athen chỉ dựa vào quyền lực tối cao của hải quân để cung cấp “thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác”. [7] Khi đám đông tập trung trong giới hạn của Athens, cơ sở hạ tầng “vệ sinh và thoát nước” hiện có của thành phố không thể đáp ứng được dân số đông đúc, tạo ra những điều kiện “kinh khủng” [8] trên những điều kiện còn lại sau mùa đông 431-430 trước Công nguyên như được mô tả bởi nhà sử học Hy Lạp Diodorus Siculus (90-30 TCN): [9]

Hậu quả của những trận mưa lớn… mặt đất bị thấm nước, và nhiều vùng trũng, nhận được một lượng lớn nước, đã biến thành những vũng cạn và đọng nước, giống như những vùng đầm lầy; và khi những vùng nước này trở nên ấm áp vào mùa hè và trở nên hôi thối, [hơi] hôi đặc được hình thành, bốc lên thành khói, làm hỏng không khí xung quanh, điều có thể được nhìn thấy đang diễn ra trong các bãi đầm lầy do bản chất là dịch bệnh. .

Ngoài ra, hệ thống miễn dịch của người Athen cũng bị tổn hại do thiếu thực phẩm chất lượng trong Thành phố. “Góp phần vào căn bệnh là đặc tính xấu của thức ăn sẵn có; vì những cây trồng được nuôi trong năm đó hoàn toàn bị úng nước và chất lượng tự nhiên của chúng đã bị hỏng, ”Diodorus Siculus nói. Tóm lại, tình hình là tối ưu cho sự bùng phát của một dịch bệnh chết người.

“Không nhiều ngày sau khi [sự xuất hiện của những người Peloponnesia] ở Attica, bệnh dịch hạch… bắt đầu xuất hiện giữa những người Athen. Người ta nói rằng nó đã bùng phát ở nhiều nơi trước đây trong khu vực lân cận Lemnos và những nơi khác; … Đầu tiên… nó được nói đến ở các vùng của Ethiopia phía trên Ai Cập, và từ đó tràn vào Ai Cập và Libya và vào hầu hết đất nước của nhà vua [cũng như các vùng của đế chế Ba Tư]… nhưng dịch bệnh ở mức độ như vậy và tỷ lệ tử vong là không có nơi nào. đã nhớ. Bất ngờ rơi xuống Athens, lần đầu tiên nó tấn công dân cư ở Piræus – đó là dịp họ nói rằng người Peloponnesian đã đầu độc các hồ chứa, vẫn chưa có giếng nào ở đó – và sau đó xuất hiện ở thành phố thượng lưu, khi số người chết ngày càng nhiều thường xuyên.” [10] Bệnh dịch tấn công tất cả mọi người không phân biệt “tầng lớp, giới tính hay tuổi tác”, [11] Thucydides viết.

Khi dịch bắt đầu bùng phát, các bác sĩ, bao gồm cả Hippocrates (460-377 trước Công nguyên), thường được gọi là “Cha của Y học”, và các linh mục đã vội vã đến viện trợ cho những người bị bệnh. Tuy nhiên, nỗ lực của họ là vô ích. Thucydides kể lại những nỗ lực anh dũng của họ – “Ban đầu, cả các bác sĩ cũng không phải là dịch vụ nào, họ không biết cách điều trị thích hợp, nhưng họ đã tự chết dày đặc nhất, khi họ đến thăm người bệnh thường xuyên nhất; cũng không có nghệ thuật nào của con người thành công tốt hơn. Những lời khẩn cầu trong đền thờ, bói toán, v.v. được cho là vô ích như nhau, cho đến khi bản chất bao trùm của thảm họa cuối cùng đã dừng lại hoàn toàn đối với họ [khi người ta cho thấy rằng ‘các thánh thần không có lời khuyên hữu ích nào để đưa ra’ [12] và những lời cầu nguyện đã không được đáp lại]. ” [13]

Per Diodorus Siculus, “Người Athen… đã quy nguyên nhân gây ra bất hạnh của họ cho [Apollo, một vị thần]. Do đó, hành động theo lệnh của một nhà tiên tri nào đó, họ đã thanh tẩy hòn đảo Delos, hòn đảo thiêng liêng đối với [anh ta] và đã bị ô uế, như mọi người nghĩ, bằng cách chôn cất người chết ở đó. Do đó, khi đào lên tất cả các ngôi mộ trên Delos, họ chuyển những phần còn lại đến hòn đảo Rheneia, như nó được gọi, nằm gần Delos. Họ cũng thông qua luật không được phép sinh hay chôn cất ở Delos. Và họ cũng tổ chức lễ hội, lễ hội Delia, đã được tổ chức vào những ngày trước đây nhưng đã không được quan sát trong một thời gian dài ”. Tuy nhiên, bệnh dịch vẫn tiếp tục không được kiểm soát, dẫn đến sự hoảng loạn và tuyệt vọng lớn.

Với những nỗ lực y tế, “các biện pháp chữa trị thông thường” [14] được thực hiện ở Athens nhưng không có kết quả và bệnh dịch lây lan về phía bắc, người Thessalian ngày càng sợ hãi. “Không có phương thuốc nào được tìm thấy có thể được sử dụng như một phương pháp cụ thể; vì những gì tốt trong một trường hợp đã gây hại trong một trường hợp khác. ” [15] Vì tuyệt vọng, họ thúc giục Hippocrates quay trở lại Thessaly với những lời hứa về sự giàu có không giới hạn như được kể lại bởi con trai của Hippocrates trong “Bài phát biểu của Sứ thần:” [16]

Trong thời gian mà bệnh dịch đang hoành hành khắp vùng đất man rợ ở phía bắc của người Illyrian và Pæonians, khi cái ác đến khu vực đó, các vị vua của những dân tộc đó đã phái đến Thessaly sau khi cha tôi [Hippocrates] vì danh tiếng của ông ấy là một thầy thuốc, , là một người đúng nghĩa, đã xoay sở để đi khắp mọi nơi. Trước đây anh ta đã sống ở Thessaly và sau đó đã sống ở đó. Họ triệu anh ta đến để giúp đỡ, nói rằng họ sẽ không gửi vàng bạc và của cải khác cho anh ta có, nhưng anh ta có thể mang đi tất cả những gì anh ta muốn khi anh ta đến giúp. Và ông đã tìm hiểu xem có những loại nhiễu động nào, theo từng khu vực, về nhiệt, gió và sương mù và những thứ khác tạo ra các điều kiện bất thường. Khi nhận được thông tin của mọi người, anh ta bảo họ quay trở lại, giả vờ rằng anh ta không thể đến đất nước của họ.

Hippocrates có lý do chính đáng để tránh Thessaly. “Các bác sĩ là một trong những người đầu tiên tử vong, vì họ đã mắc căn bệnh này từ những nạn nhân sớm nhất của nó.” [17] “… tỷ lệ tử vong ở [các bác sĩ] cao bất thường, bởi vì họ thường xuyên tiếp xúc với căn bệnh này nhất.” [18]

Khi bệnh dịch bắt đầu xảy ra, mặc dù có tin tức về những đợt bùng phát tương tự ở Bắc Phi, Ba Tư và La Mã, sau đó là vào khoảng năm 446 trước Công nguyên, người Athen vẫn không ngờ tới. “Năm đó sau đó được thừa nhận là đã khỏi bệnh chưa từng có; và một vài trường hợp như vậy đã xảy ra tất cả đều do sự kiện này xảy ra. Tuy nhiên, như một quy luật, không có nguyên nhân bề ngoài; nhưng những người có sức khỏe tốt đột nhiên bị tấn công bởi những cơn nóng dữ dội ở đầu, đỏ và viêm ở mắt, các bộ phận bên trong, chẳng hạn như cổ họng hoặc lưỡi, trở nên đẫm máu và phát ra một hơi thở không tự nhiên và có mùi hôi, “Thucydides bắt đầu. . “Các triệu chứng này tiếp theo là hắt hơi và khàn tiếng, sau đó cơn đau nhanh chóng đến ngực và ho khan. Khi nó cố định trong dạ dày, nó làm nó khó chịu; và thải ra mật của mọi loại … sau đó, kèm theo nỗi xót xa rất lớn. Trong hầu hết các trường hợp… một sự thụt lùi không hiệu quả sau đó, tạo ra những cơn co thắt dữ dội, trong một số trường hợp chấm dứt ngay sau đó, trong những trường hợp khác thì muộn hơn nhiều. Bên ngoài cơ thể không quá nóng khi chạm vào, cũng không nhợt nhạt, nhưng hơi đỏ, chảy nước và [vỡ ra] thành mụn mủ và vết loét nhỏ. Nhưng bên trong nó bùng cháy khiến bệnh nhân không thể chịu được khi phải mặc quần áo hoặc vải lanh ngay cả những mô tả rất nhẹ nhàng… Điều mà họ thích nhất là dội mình vào nước lạnh; như thực tế đã được thực hiện bởi một số người bệnh bị bỏ rơi, những người lao vào bể mưa trong cơn khát không thể kiềm chế của họ… mặc dù họ uống ít hay nhiều cũng không có gì khác biệt. Bên cạnh đó, cảm giác khổ sở không thể nghỉ ngơi, không ngủ được vẫn không ngừng hành hạ họ. Trong khi đó, cơ thể không bị lãng phí quá lâu khi chiếc máy bay xa ở độ cao của nó, nhưng đã cố gắng chống lại sự tàn phá của nó; để khi họ chống chọi, như trong hầu hết các trường hợp, vào ngày thứ bảy hoặc thứ tám của đợt viêm nội tạng, họ vẫn còn một chút sức mạnh trong người. Nhưng nếu họ vượt qua giai đoạn này, và bệnh đi sâu hơn vào ruột, gây ra vết loét dữ dội ở đó kèm theo tiêu chảy nghiêm trọng, điều này dẫn đến suy nhược, nói chung là tử vong. Vì sự rối loạn lần đầu tiên định cư trong đầu, diễn ra theo chiều hướng từ đó đến toàn bộ cơ thể, và ngay cả khi nó không chứng tỏ là tử vong, nó vẫn để lại dấu vết trên các chi; vì nó nằm trong các bộ phận kín đáo, các ngón tay và ngón chân, và [thậm chí cả] mắt, ” để khi họ chống chọi, như trong hầu hết các trường hợp, vào ngày thứ bảy hoặc thứ tám của đợt viêm nội tạng, họ vẫn còn một chút sức mạnh trong người. Nhưng nếu họ vượt qua giai đoạn này, và bệnh đi sâu hơn vào ruột, gây ra vết loét dữ dội ở đó kèm theo tiêu chảy nghiêm trọng, điều này dẫn đến suy nhược, nói chung là tử vong. Vì sự rối loạn lần đầu tiên định cư trong đầu, diễn ra theo chiều hướng từ đó đến toàn bộ cơ thể, và ngay cả khi nó không chứng tỏ là tử vong, nó vẫn để lại dấu vết trên các chi; vì nó nằm trong các bộ phận kín đáo, các ngón tay và ngón chân, và [thậm chí cả] mắt, ” để khi họ chống chọi, như trong hầu hết các trường hợp, vào ngày thứ bảy hoặc thứ tám của đợt viêm nội tạng, họ vẫn còn một chút sức mạnh trong người. Nhưng nếu họ vượt qua giai đoạn này và bệnh đi sâu hơn vào ruột, gây ra vết loét dữ dội ở đó kèm theo tiêu chảy nghiêm trọng, điều này dẫn đến suy nhược, nói chung là tử vong. Vì sự rối loạn lần đầu tiên định cư trong đầu, diễn ra theo chiều hướng từ đó đến toàn bộ cơ thể, và ngay cả khi nó không chứng tỏ là tử vong, nó vẫn để lại dấu vết trên các chi; vì nó nằm trong các bộ phận kín đáo, các ngón tay và ngón chân, và [thậm chí cả] mắt, ” gây ra một vết loét dữ dội ở đó kèm theo tiêu chảy nghiêm trọng, điều này dẫn đến suy nhược, thường gây tử vong. Vì sự rối loạn lần đầu tiên định cư trong đầu, diễn ra theo chiều hướng từ đó đến toàn bộ cơ thể, và ngay cả khi nó không chứng tỏ là tử vong, nó vẫn để lại dấu vết trên các chi; vì nó nằm trong các bộ phận kín đáo, các ngón tay và ngón chân, và [thậm chí cả] mắt, ” gây ra một vết loét dữ dội ở đó kèm theo tiêu chảy nghiêm trọng, điều này dẫn đến suy nhược, thường gây tử vong. Vì sự rối loạn lần đầu tiên định cư trong đầu, diễn ra theo chiều hướng từ đó đến toàn bộ cơ thể, và ngay cả khi nó không chứng tỏ là tử vong, nó vẫn để lại dấu vết ở các chi; vì nó nằm trong các bộ phận kín đáo, các ngón tay và ngón chân, và [thậm chí cả] mắt, ”[19] ông nói thêm. Nói chung, mặc dù có những người sống sót, kể cả Thucydides, cũng như một số người “bị mất trí nhớ hoàn toàn trong lần hồi phục đầu tiên, và không biết bản thân hoặc bạn bè của họ,” [20] căn bệnh này đã gây tử vong. “Căn bệnh này kéo dài từ bảy đến chín ngày, và khi nó qua đi để lại một sự yếu ớt khủng khiếp, đến nỗi nhiều người đã chết vì kiệt sức”. [21]

Đối với vấn đề phức tạp, binh lính Athen cũng bị cản trở bởi sự bùng nổ như Diodorus Siculus đã viết – “Về phần người Athen, họ không thể mạo hiểm gặp [Lacedæmonians] trong một trận chiến cao độ, và bị giam giữ khi họ ở trong các bức tường, họ đã tự tìm thấy mình.” tham gia vào trường hợp khẩn cấp do bệnh dịch gây ra; vì vô số người thuộc mọi mô tả đã cùng nhau đổ về thành phố, nên có lý do chính đáng để họ trở thành nạn nhân của bệnh tật như họ, vì nơi ở chật chội, không khí hít thở đã trở nên ô nhiễm. ” [22] Như một chỉ báo về mức độ nghiêm trọng của bệnh dịch và tác động bất lợi của nó đối với quân đội Athen, Pericles đã “bắt đầu với 150 chiếc xe ba bánh (những con tàu cổ sử dụng ba bờ mái chèo và buồm để di chuyển) và một số lượng lớn hoplite và kỵ binh” để tấn công Peloponnesus tuyên bố khi nó bùng phát ban đầu. Sau khi được gia nhập bởi quân tiếp viện bị nhiễm bệnh dịch hạch, lực lượng Athen này trở lại vài năm sau “trong một tình trạng đáng thương” vì đã phải chịu một tổn thất lớn về nhân mạng. [23]

~Continued In Part 2~

[1] Thucydides.
The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[2] Sayaret.
The Plague in Athens During The Peloponnesian War.
Jelsoft Enterprises, Ltd.
2006. 22 July 2006.

[3] Thucydides.
The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[4] Sayaret.
The Plague in Athens During The Peloponnesian War.
Jelsoft Enterprises, Ltd.
2006. 22 July 2006.

[5] Thucydides.
The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[6] Telemachus T. Timayenis.
A History of Greece from the Earliest Times to the Present.
(D. Appleton & Co. 1883) 312.

[7] > Sayaret.
The Plague in Athens During The Peloponnesian War. Jelsoft Enterprises, Ltd.
2006. 22 July 2006.

[8] Arthur James Grant.
Greece In The Age of Pericles.
(John Murray. London, UK, 1893) 261.

[9] David Noy.
Plagues. University of Wales, Lampeter, UK.
2002. 27 July 2006.

[10] Thucydides.
The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[11] Telemachus T. Timayenis.
A History of Greece from the Earliest Times to the Present.
(D. Appleton & Co. 1883) 313.

[12] Arthur James Grant.
Greece In The Age of Pericles.
(John Murray. London, UK, 1893) 262.

[13] Thucydides.
The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[14] Arthur James Grant.
Greece In The Age of Pericles.
(John Murray. London, UK, 1893) 261.

[15] Carl J. Richard.
Twelve Greeks And Romans Who Changed The World.
(Barnes & Noble Publishing. New York. 2006) 90.

[16] David Noy.
9. Plagues. University of Wales, Lampeter, UK.
2002. 27 July 2006.

[17] Carl J. Richard.
Twelve Greeks And Romans Who Changed The World.
(Barnes & Noble Publishing. New York. 2006) 90.

[18] Arthur James Grant.
Greece In The Age of Pericles.
(John Murray. London, UK, 1893) 262.

[19] Thucydides.
The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[20] Thucydides.
The History of the Peloponnesian War. c. 400 B.C.

[21] Arthur James Grant.
Greece In The Age of Pericles.
(John Murray. London, UK, 1893) 262.

[22] David Noy.
9. Plagues. University of Wales, Lampeter, UK.
2002. 27 July 2006.

[23] Telemachus T. Timayenis.
A History of Greece from the Earliest Times to the Present.
(D. Appleton & Co. 1883) 316.

<

p style=”text-align: justify;”>[ad_2]

Source by William Sutherland

Poem: Your Lifestyle Awaits

poem my heart awaits you- love poems, poems about life, romantic ...
Monique Holton

Paradise is there to be found, not lost, suggests this week’s Poet’s Corner contribution from Monique Holton of Adelaide.

Dirty cotton bud clouds,
absorb the candy and citrus sky,
trying to soak up the sunrise,
like cob loaf to a soup.

Quietly, bending low like a mother
delivering her first kiss of the day to her sleeping child,
the dawn hovers,
with no expectation.

A green blanket lies flat beneath,
pulled tight, wrapped snug around the day,
reflecting with the moisture of nature’s shower,
the damp emerald jewel invites compliments from passers-by.

Waking up,
the choir begins their song,
their morning call piercing through the leaves
and into the ears below.

Around they go,
some slow, some fast,
marching, committed in their routine,
every step a claim on the day.

Whilst all around,
standing shoulder to shoulder,
in a barrier of strength,
the sleeping cocoons awaken.

A new day is born.
paradise is found,
in a manufactured dome,
of thirty-five percent open space.

Your lifestyle awaits…

Phong cách sống của bạn đang chờ đợi

Những đám mây bẩn như búp bông gòn,
hút lấy bầu trời kẹo ngọt và cam chanh,
cố gắng thấm đẫm ánh bình minh,
như ổ bánh mì húp súp.

Khẽ khàng, cúi thấp như người mẹ
trao nụ hôn đầu ngày cho đứa con đang ngủ,
bình minh lãng đãng,
không chút mong đợi.

Một tấm chăn xanh trải phẳng bên dưới,
kéo căng, ôm chặt lấy ngày,
phản chiếu với hơi ẩm từ cơn mưa của tự nhiên,
viên ngọc lục bảo ẩm ướt mời gọi lời khen từ người qua đường.

Thức giấc,
đội hợp xướng bắt đầu bài ca của họ,
tiếng gọi ban mai của họ xuyên qua lá
và vào tai của những người bên dưới.

Họ đi vòng quanh,
vài người chậm, vài người nhanh,
hành quân, tận tâm với thói quen của mình,
mỗi bước chân là một sự khẳng định của ngày.

Trong khi đó, khắp xung quanh,
đứng sát vai nhau,
trong một hàng rào sức mạnh,
những kén ngủ thức tỉnh.

Một ngày mới ra đời.
thiên đường được tìm thấy,
trong một mái vòm nhân tạo,
với ba mươi lăm phần trăm không gian mở.

Phong cách sống của bạn đang chờ đợi…


Monique Holton is an executive assistant living in Adelaide. Married with two daughters, she also has a passion for poetry and prose, attends a monthly creative writing class, and is working on her first young adult novel.

Readers’ original and unpublished poems of up to 40 lines can be emailed, with postal address, to poetscorner@solsticemedia.com.au. Submissions should be in the body of the email, not as attachments. A poetry book will be awarded to each accepted contributor.

Support local arts journalism

InReview is a ground-breaking publication providing local and professional coverage of the arts in South Australia. Your tax-deductible donation will go directly to support this independent, not-for-profit, arts journalism and critique.


Monique Holton là trợ lý điều hành sống tại Adelaide. Đã kết hôn và có hai cô con gái, cô cũng đam mê thơ ca và văn xuôi, tham gia lớp học viết sáng tạo hàng tháng và đang viết cuốn tiểu thuyết đầu tay dành cho thanh thiếu niên.

Độc giả có thể gửi email các bài thơ gốc và chưa xuất bản dài tối đa 40 dòng, kèm theo địa chỉ bưu chính, đến poetscorner@solsticemedia.com.au. Bài dự thi phải nằm trong nội dung email, không phải dưới dạng tệp đính kèm. Mỗi cộng tác viên được chấp nhận sẽ được trao tặng một tập thơ.


InReview là ấn phẩm đột phá cung cấp thông tin chuyên nghiệp và địa phương về nghệ thuật tại Nam Úc. Khoản quyên góp được khấu trừ thuế của bạn sẽ được chuyển trực tiếp để hỗ trợ báo chí nghệ thuật và phê bình độc lập, phi lợi nhuận này.


Source link