Trang chủ Blog Trang 44

NGHĨ VỀ THƠ TÂN HÌNH THỨC

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Tôi bén duyên với Thơ Tân Hình Thức từ những năm tháng ở Tạp Chí Thơ của nhà thơ Khế Iêm. Khoảng từ năm 2000. Với tất cả hứng khởi và thích thú trong thử nghiệm mới, xem mình ra sao khi thể hiện mình một cách khác đi, như thể bao lâu nay mình quen mặc một kiểu áo nào đó khi ra phố, khi đi làm, bỗng nhiên, một sáng đẹp trời, lại thích một kiểu hoàn toàn khác, phong cách khác hẳn mình thường, và bạn bè nhìn mình với ánh mắt lạ lạ. Thế đấy, cũng đã gần 13 năm. Khoảng thời gian dài đó tôi đã viết trên dưới 5,6 chục bài với thể loại này, gạn bỏ chỉ còn cỡ 20 bài, chừng đó không thể nói là đã định hình được mình với thơ Tân Hình Thức, nhưng với những gập ghềnh khi bước đi cùng nó, tôi cũng có được chút ít kinh nghiệm. Và đây chỉ là vài ý kiến của một người đã, đang làm thơ Tân Hình Thức.

Thế nào là Thơ Tân Hình Thức? Thiết tưởng những ai có sự quan tâm về nó chắc cũng có đọc qua những bài tiểu luận của nhà thơ Khế Iêm, người chủ xướng phong trào thơ Tân Hình Thức Việt, qua đó nhà thơ Khế Iêm đã cho chúng ta nhìn được một cách khái quát về thể thơ này, cũng như cung cấp “khí giới” cho các nhà thơ muốn thử thách, để khai phá, để bước đi trên con đường mới mẻ ấy. Có thể nêu ra vài khí giới cần thiết theo nhà thơ chủ xướng Khế Iêm: “…mang giọng kể là thi pháp tự nhiên của đời thường (tính truyện), xử dụng kỹ thuật vắt giòng (enjambment), đọc liên tục từ dòng (line) này sang dòng khác, lập lại những nhóm chữ (như nhạc Rap) để tạo thành điệp vận và vần không hợp cách.” (thotanhinhthuc.org)

Và khi thực sự bước vào mới thấy được hết những cái khó riêng của thể loại thơ này.

Người ta vẫn dùng cách vắt dòng để đả kích thơ Tân Hình Thức, cứ việc đếm cho đủ số chữ 5, 7 hay 8 rồi xuống dòng, cứ thế mà thành bài thơ Tân Hình Thức. Tôi cho rằng người nói như vậy là chưa làm một bài thơ Tân Hình Thức nào hoàn chỉnh và có thể gọi là Thơ cả. Trong một lần, nhân được tham gia trong ban lựa chọn một tác giả cho giải thơ Tân Hình Thức, tôi có nêu ý kiến khi đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Độ, đã gọi là thơ thì yếu tố trước tiên người đọc phải cảm nhận ngay, đó là bài thơ, rồi đến cảm xúc tức thì đánh động vào tâm người đọc từ bài thơ mang lại. Có được hai điều ấy thì tất nhiên bài thơ đó đã hội đủ những yếu tố để bài thơ hay là: ngôn từ và nhạc điệu của nó. – Xin tìm đọc: Một Ngàn Lời Nói Dối, Cà Phê Sáng, trang thơ Tân Hình Thức-  nhạc trong thơ THT của Nguyễn Tất Độ  tạo nên bởi những câu lập đi lập lại thành một âm điệu ray rứt đạt được hiệu quả “kêu gọi” như ý nhà thơ muốn “để giải bày bức xúc”, theo tôi đó là những bài thơ THT cho tới lúc này, là những bài thơ hay.

Thơ Tân Hình Thức dùng những chữ rất đời thường, (nghĩa là phải thi hoá được ngôn ngữ đời thường) đơn giản, hết sức tự nhiên, và mỗi bài thơ THT lại mang một thi nhạc riêng, không bài nào giống bài nào, đây là một điều mà cá nhân tôi rất thích, vì như những thể thơ khác, dù có phá cách thì điệu chung của lục bát, 7, 8 chữ đều có những trầm bổng na ná nhau. Do đó, Cảm xúc mà thơ Tân Hình Thức mang lại không phải từ những nhịp du dương gắn bó của chữ. Cảm xúc đó bật ra từ ý tưởng, nội dung ngôn từ nhà thơ xử dụng. Thành ra nếu nói cứ đơn giản đếm chữ mà vắt dòng để có được bài thơ THT, nhất là với ngôn ngữ Việt, thì xin lỗi, cứ thử theo như thế xem có thành một bài Tân Hình Thức gọi được là thơ không. Đọc những bài thơ Tân Hình Thức của các tác giả Inrasara, Biển Bắc, Đài Sử, Gyảng Anh Iên, Trầm Phục Khắc, Nhiệt Đới Buồn…, mỗi nhà thơ đều biểu hiện được nghệ thuật vắt dòng tạo được hiệu quả cho nhạc điệu để thành một bài thơ có sức hấp dẫn khiến người đọc đến và trở lại.

Có người nói với tôi. Chịu, không thể nào mà nhớ được đôi câu, huống chi là một bài, thơ Tân Hình Thức.

Chính vì yếu tố tạo nhạc tuỳ theo cảm xúc và cách dùng chữ riêng của mỗi nhà thơ mà thơ Tân Hình Thức có thể trúc trắc và không thể nhớ, thuộc, để ngâm nga (tôi không nghĩ sự ngâm nga lại cần thiết!). Sự khác biệt nhiều về thi pháp và phong cách nên nó khó gần và không được nhiều người thưởng lãm? Cá nhân tôi cũng không thể nhớ lời một bài thơ Tân Hình Thức dù lúc đọc nó rất thích, đọng lại có chăng là ý tưởngtruyện kể của nó. Nên đây cũng là hai yếu tố cộng vào những điều tôi đã nêu ra ở trên để một bài thơ Tân Hình Thức có thọ mạng lâu dài.

Một quan điểm gần như là bất biến ở tôi, dù ở bất cứ thể loại nào, để được gọi là thơ, một bài thơ phải toát ra được tính chất Thơ, và “cảm xúc đánh động vào người đọc như một ánh chớp” (theo nhà thơ Thiền Đăng, trang thotanhinhthuc.org). Tôi không thể hình dung Thơ mà loại yếu tố Cảm Xúc, như một vài nhà thơ đã chủ trương.

Ngoài thi tài thiên phú, nhà thơ, đương nhiên, cần nhìn, nghe và sống với không khí của thời đại mình. Không những chạm đến những vấn đề, sự kiện hiện tại mà còn xử dụng ngôn ngữ đương thời nữa. Điều đó ít nhiều giới hạn việc lập lại một cái gì đã cũ. “…Những nhà thơ Tân Hình Thức chẳng dừng ở quan niệm làm mới, vì đó là phương cách của thời hiện đại, mà dùng thể truyền thống trộn với chất hiện đại (bao gồm thơ tự do) giống như kiến trúc hậu hiện đại, tạo thành một thể lai, hoàn toàn khác, không những hoá giải và làm tan biến truyền thống mà cả hiện đại… (Khế Iêm)

Với tất cả thách thức trên, đến và ở với thơ Tân Hình Thức là một can đảm cam go. Và cũng như bất cứ một phong trào cách tân nào mới hình thành, đang phát triển cũng cần đến tài năng và thời gian. Muốn vận động cũng như thuyết phục nhiều người hơn đến với thơ Tân Hình Thức, thì, theo tôi, chỉ trông cậy vào một điều gần như là duy nhất, thi tài của nhà thơ.

Bước đầu tiên của phong trào thơ Tân Hình Thức là đã tạo nên một gợn sóng cần thiết trong dòng văn học Việt Nam đương đại. Với số lượng các nhà thơ trẻ Tân Hình Thức như hiện này thì  họ, những nhà thơ khởi những bước tiên phong, đã phần nào hoàn thành được việc lát những viên gạch gian nan đầu tiên rồi đó chăng?

Tháng 9.2013

TRÒ  CHƠI TÂN HÌNH THỨC: MỘT DIỄN GIẢI

Luân Nguyễn

Thơ Tân hình thức (new formalism verse) là hiện tượng tuy không còn “hot”, nhưng vẫn tân kỳ. Bài này chỉ lẩy ra vài ý (gọi là) như một liên hệ ngang về tính tư tưởng của thơ tân hình thức.

  1. Tân hình thức Việt – Trường phái thơ đầu thế kỷ XXI

Thơ Tân hình thức (new fomalism) là một trường phái thơ khởi phát ở Mỹ thập niên 80 thế kỷ trước. Tiếp thu trường phái thơ Mỹ này, trường phái thơ tân hình thức Việt được thành lập bởi một nhóm nhà thơ Việt kiều với Tạp chí Thơ, thập niên đầu thế kỷ XXI. Theo Đặng Tiến (1), số báo phát hành thơ Tân hình thức đầu tiên là “số 18, xuân 2000”. Sau, những nhà thơ tân hình thức gồm cả những nhà thơ trong nước. Khế Iêm vừa là người thực hành thơ tích cực nhất, vừa là nhà lập ngôn cho Tân hình thức Việt cùng với hàng loạt ấn phẩm và sân chơi Thotanhinhthuc.org. Khế Iêm nêu ra mấy đặc trưng của thơ Tân hình thức:

1, Vắt dòng,

2, Lặp lại,

3, Tính truyện,

4, Ngôn ngữ đời thường (để đưa cuộc sống thông tục vào thơ).

Nếu căn cứ vào 4 tiêu chí này, thơ tân hình thức đã xuất hiện trước khi có Tạp chí Thơ rất lâu. Ngôn ngữ dung tục và lối kể đã có trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyễn (thơ trung đại) (kê khoai, phì phạch, sướng, cọc, lỗ, đĩ, chợ búa, dưa muối,…); kỹ thuật vắt dòng trong Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ (Trời cao xanh ngắt ô kìa /Hai con hạc trắng bay về bồng lai), trong nhiều bài thơ Bích Khê (thơ Mới trước 1945). Nhưng đó, theo tôi, không phải là thơ tân hình thức. Lý do nằm ở nền tảng tư tưởng.

Nỗ lực đưa cuộc sống hàng ngày vào văn chương ở thơ Nôm trung đại rõ ràng là một tiến bộ lớn: chứng minh khả năng trở thành chất liệu nghệ thuật của ngôn ngữ dân tộc, góp phần thay đổi điểm nhìn của nhà thơ trước cuộc sống, qua đó, hình thành bộ phận văn học mới song hành với văn học quan phương: dùng chữ Hán, nặng về chuyển tải chữ nghĩa Thánh hiền. Văn học, có thể nói, trở nên dân chủ hơn. Tuy nhiên, điểm tựa tư tưởng không đổi nhiều: ý thức về địa vị ngoại biên của mình. Từ đây, nhà thơ dù thản thiên hay diễu cợt, cuối cùng cũng vẫn thừa nhận một trật tự đã định. Tư tưởng và thực hành thơ của Tân hình thức khác: ý thức mình như một trung tâm. Tôi gọi là trò chơi tư tưởng, xin trình bày cụ thể ở phần kế sau.

  1. Tân hình thức – trò chơi tư tưởng

2.1. “Bóng ma” của thơ cũ; sự hóa giải của tân hình thức

Thơ, trước tân hình thức có thể  gọi là thơ cũ. Thơ cũ là thơ của sự ước thúc. Ước thúc của ngữ pháp và tư duy, sâu hơn, của tư tưởng.

Ngữ pháp thơ đương nhiên không tuân thủ theo luật thường của ngôn ngữ giao tiếp và câu văn xuôi. Bản thân thơ là sự “viết sai” ngữ pháp. Tuy nhiên, đến trước khi có thơ tân hình thức, ngữ pháp vẫn rất được thi nhân chú trọng trong đặc trưng của thể loại. Từ thơ cổ điển đến thơ mới giai đoạn 1932 – 1945, thơ Miền Nam và thơ thời chiến ở Miền Bắc, nhà thơ bao giờ cũng quan tâm đến ngữ pháp. Ngữ pháp được xác lập bởi các thành phần câu và trật tự của chúng. Điều được coi là thơ nhất nằm ở hệ thống ngôn từ giàu chất thơ. Ước lệ, trừu tượng, tu từ trở hành xác quyết cho thơ. Thơ Tân hình thức không thỏa mãn với các quy chuẩn vốn có. Các nhà chủ trương và những nhà thực hành thơ xác lập dạng thức tồn tại mới cho thơ nhằm đưa thơ vượt lên quy ước ranh giới thể loại trong cách chia ba cổ điển: tự sự – trữ tình – kịch. Song, nhà thơ không viết thơ như thực hiện thú tiêu khiển thuần túy:

“đằng sau mỗi bài thơ là lý luận thơ để từ đó đẩy thơ tới chỗ phi luận lý” (2) (Khế Iêm).

Thơ Tân hình thức cũng là thơ tân – tư tưởng. Tân hình thức xuất phát bằng một điểm tựa khác, một góc nhìn hoàn toàn khác thơ cũ. Nó đặt lại vị trí của các quy chế thẩm mĩ – ngôn ngữ tưởng đã là tối ưu, là chân lý. Sáng tạo thơ tân hình thức có giá trị của hành động tìm một đời sống khác, đời sống của riêng nó, tránh nguy cơ hòa tan do “quán tính” thơ (quan điểm, sáng tác) từ quá khứ. Thơ là tiếng nói sinh động, mới mẻ, không lệ thuộc. Từ điểm nhìn của thời trung đại, người ta sẽ không thể hình dung được đến một khi người ta viết thơ không cần vần điệu, người ta thoải mái phơi bày nỗi khát thèm ái tình, người ta đòi chốn chạy, ca thán cuộc đời. Nhưng điều đó vẫn xảy ra, và được gọi là “cuộc cách mạng”. Cách mạng tức là tiến bộ (trái với phản động: chống lại sự vận động khách quan). Cuộc cách mạng ấy diễn ra đã gần trăm năm. Dĩ nhiên, tiến hóa tinh thần của người Việt không thể dừng lại ở điểm mốc hàng thế kỷ trước. Một/những “cuộc cách mạng” tinh thần (văn học) luôn có nhu cầu bùng nổ là điều tất yếu. Thơ tân hình thức, theo tôi, đang muốn trở thành cuộc cách mạng như thế. Đó cũng là tiến trình tất yếu của tinh thần mọi xã hội trên đà tới văn minh.

Lịch sử thơ Việt đã (sẽ) có diện mạo mới với thơ tân hình thức. Đầu tiên, thơ tân hình thức là điểm mút chưa hoàn kết của lịch sử thơ. Điều đó có nghĩa, lịch sử thơ đang làm một cuộc chơi bằng tân hình thức, sau khi đã làm những cuộc chơi tương tự với thơ Mới 1932 và thơ Miền Nam. Lịch sử thơ là lịch sử không dừng các cuộc chơi tân – hình thức (new fomalism) để qua đó, thực hiện cuộc chơi tân – tư tưởng (new thought). Tiếp nữa, lịch sử thơ (văn học nói chung) là lịch sử được nhìn tổng quát, công bằng và dân chủ. Tân hình thức có khả năng vạch ra rằng, không gì hài hước và phản động (theo nghĩa chân chính – nghĩa triết học) bằng việc chỉ xem lịch sử thơ chỉ là “sân chơi” của bộ phận đương nhiên chính thống.

Tân hình thức chưa hoàn toàn vô hiệu hóa ngữ pháp. Ngay cả ở những nhà thơ cách tân nhất, người ta vẫn phải dựa vào quan hệ ngữ pháp biến thể để luận ngữ nghĩa. Ở Khế Iêm và các nhà tân hình thức, giới hạn của ngữ pháp – câu bị phá rỡ, nhưng quan hệ trật tự từ vẫn có ý nghĩa quan trọng để lý giải thơ. Khế Iêm coi vắt dòng là lối diễn ngôn đặc trưng của tân hình thức. Nói rộng ra, vắt dòng cũng chỉ là một trong nhiều cách thức của diễn ngôn thơ tân hình thức, cùng với lối nói không vần, hạn chế chấm phẩy, …. Như thế, ngữ pháp tân hình thức là một thứ ngữ pháp của sự chơi, hay, nhà thơ tỏ rõ quyền lực ở trò chơi ngữ pháp. Nhà thơ giải thiêng ngữ pháp (cũ) quy chuẩn và uy quyền để xác lập một ngữ pháp khác không có quy tắc. Tổ chức câu thơ rất mờ nhạt, nếu không muốn nói là bị vô hiệu hóa. Mỗi dòng thơ, qua thủ pháp vắt dòng (enjambement), mất toàn bộ tính tự trị, phải hòa vào bối cảnh. Trước, bối cảnh ngữ nghĩa của bài, sau, bối cảnh của sự đọc (reading). Ngôn ngữ tân hình thức đang thực hành quan niệm ngôn ngữ của Wolfgang Huemer:

“Bằng việc tập trung vào nhu cầu khẩn thiết được nói ra những gì khó diễn đạt và tìm những cách thức mới để thể hiện điều đó, nhà thơ đã đưa ngôn ngữ đến những giới hạn của nó, thậm chí có khi còn vượt qua nó” (3).

Thơ tân hình thức là thơ của những sự vụ “tầm thường”. Lối kể miên man, có khi không logic, ít có trọng tâm, nội dung khá “lặt vặt”. Cái gì cũng có thể đem vào thơ, khái quát hơn, “thơ có ở mọi nơi” (Khế Iêm). Điều này có nghĩa gì? Lối tư duy biện biệt là “bóng ma” hãi hùng nhất của thơ cũ (tạm gọi thế). Biện biệt là cội nguồn của cái nhìn nhị phân: chính – phụ, chính thống – ngoại lề, sang quý – bình phàm,… Nó, bao giờ cũng kèm một kiểu theo thái độ, hành động văn hóa – xã hội – chính trị tương thích, trong đó, nhất định phải loại bỏ hay ít ra, gạt bỏ bộ phận được cho là kém giá trị văn hóa và thiếu tư cách xã hội cần có. Một thực tế rằng, như M. Foucault nói, “Mỗi một xã hội có cái chế độ về chân lí (regime of truth) của nó”. Chân lý không độc lập tuyệt đối và vĩnh cửu. Nên, mỗi thời đại – quyền lực tự chọn lấy chân lý, qua đó, có một diễn ngôn (discourse) của riêng nó. Diễn ngôn thi ca tân hình thức (discourse oj new formalism verse) là diễn ngôn, trước, vốn thuộc ngoại vi, nay, được đẩy vào trung tâm trong khát vọng trở thành diễn ngôn thời đại. Loại “ca dao tân thời” (Đặng Tiến) ấy, trước, là ngôn từ nơi xóm làng, vỉa hè, xó bếp, tóm lại, là ngôn từ hàng ngày (thứ diễn ngôn phù sinh – ephemeral discourse – trong quan điểm M. Foucal), đến nay, đòi trở thành quyền lực trong bối cảnh tinh thần xã hội đa trung tâm. Nó đòi hỏi chân lý mới, tức là bác bỏ thứ diễn ngôn đầy uy quyền đã được xác lập địa vị trung tâm. Khi không có điều gì là trung tâm, một trung tâm trở thành đa trung tâm, uy quyền tuyệt đối bị tước bỏ.

2.2. Tân hình thức, cuộc chơi của người đọc

Thơ dễ, thơ  quen sẽ không “kén” độc giả. Thơ khó, thơ khác thì ngược lại, có thể làm nản độc giả. Người đọc chỉ mới được “phát hiện” chưa đầy nửa thế kỷ, trong khi với người viết và văn bản là hàng ngàn năm. Nhưng với tân hình thức, người đọc nghiễm nhiên có chỗ đứng quan trọng của cuộc chơi.

“Các trò chơi ngôn ngữ không có những quy tắc trong bản thân chúng, mà được cấu tạo nên từ sự thỏa thuận mặc nhiên hay minh nhiên giữa những người tham gia cuộc chơi”(4).

Đứng trước thơ tân hình thức, người đọc bị phân hóa (ủng hộ – không ủng hộ). Những người quen với mĩ cảm cũ sẽ gặp khó khi đọc “thơ khác”. Những người đọc “bằng vai” thì ra sức cổ súy. Cả hai nhóm đều tạo nên đời sống cho thơ Tân hình thức, những vai trò quyết định thuộc về nhóm độc giả hiểu thơ. Sự xuất hiện và khả năng tồn tại của thơ Tân hình thức được quy định bởi chính người đọc với ý thức / kiến văn cá nhân độc lập:

“bản sắc thơ không nhất thiết tùy thuộc vào ngôn ngữ mà tùy thuộc vào cách nhìn, cách xử thế ở nhiều môi trường và cảnh khác nhau” (5).

Người đọc Tân hình thức, có điểm chung nhất định với độc giả tri âm của thơ trung đại nói riêng, độc giả của thơ cũ nói chung: nằm trong hệ giá trị với người viết. Tuy nhiên, chúng khác nhau ở ba điểm:

1, Độc giả tri âm không chỉ phải hiểu thơ mà qua thơ, còn phải tri tâm, tức hiểu người (viết). Độc giả tân hình thức chỉ cần hiểu thơ theo năng lực văn hóa của mình.

2, trước thơ cũ, độc giả có thể bằng lòng với quán tính thơ của mình, trước thơ Tân hình thức, độc giả phải “tự cách mạng” chính mình.

3, Độc giả tri âm hiểu thơ chỉ để chia sẻ tâm sự tác giả; độc giả tân hình thức thấy phải hành động cùng tác giả: hàng động tri thức và hành động văn hóa. Hành động ấy có giá trị cấp nghĩa cho thơ. Người đọc, theo đó, bị đòi hỏi một tinh thần cấp tiến để không lảng tránh hay định kiến với cái mới, cái khác, trước là trong khía cạnh sáng tạo thơ, sau, trong cuộc chơi ở đời.


Tham khảo
  1. Đặng Tiến, Tân hình thức, nhịp đập của thời đại, http://thotanhinhthuc.org/Thokhongvan/Introduction.html
  2. Khế Iêm, Vũ điệu không vần, tứ khúc và những tiểu luận khác, Nxb Văn học, Hà Nội, 2011, trang 140.
  3. John Gibson & Wolfgang Huemer, The Literary Wittgenstein, London & New York: Routledge, 2004, pp 6.
  4. Jean-Francois Lyotard, Hoàn cảnh hậu hiện đại, Phạm Xuân Nguyên dịch, Nxb Tri Thức, Hà Nội, 2007, trang 80 – 81.
  5. Khế Iêm, Vũ điệu không vần, tứ khúc và những tiểu luận khác, Nxb Văn học, Hà Nội, 2011, trang 138.

TẠI SAO TÂN HÌNH THỨC?

Nguyễn Đức Tùng

 Sự phân biệt giữa hình thức và nội dung, hay giữa phong cách và ý nghĩa, vốn có truyền thống lâu đời, chi phối hầu hết cách cảm nhận và phê bình đối với thơ và văn học. Đối với nhiều người, nội dung chính là tư tưởng, thông tin, dự báo, thông điệp, còn hình thức là phương tiện dùng để truyền đi và trình bày nội dung ấy.

Thật ra phương cách mà chúng ta chọn cho việc biểu đạt ảnh hưởng đến nội dung. Tân hình thức là cố gắng mang cho hình thức một năng lượng mới.

Hình thức là nội dung: thành công và thất bại của Tân hình thức (THT) trước sau nằm ở điểm ấy.

Đó là cuộc vận động ngoạn mục, kỳ thú, ít thấy trong vòng mấy chục năm qua, và rõ ràng là ngoại biên, nếu xét từ điểm nhìn trung tâm của thơ tự do và chủ nghĩa phê bình mới.

Là ngoại biên, xét về tính chất chủ hình thức và phi chính trị của nó.

Phi chính trị tất nhiên là một lợi thế và cũng là cái bẫy của thơ THT. Cái bẫy của khuynh hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật” kiểu mới, làm cho THT trở thành một phòng thí nghiệm thơ ca.

Tôi lấy làm ngạc nhiên là cho đến nay ở Hoa Kỳ, nơi khai sinh phong trào THT với các nhà thơ tài năng hàng đầu như Julia Alvarez, Dana Gioia, Frederick Turner, Elizabeth Alexander, Marilyn Hacker, Molly Peacock, Frederick Feirstein, Mary Jo Salter, THT vẫn chưa có nhiều độc giả. Gần đây tôi cũng không đọc được nhiều bài nghiên cứu thể loại hay phê bình thơ cụ thể trên báo chí Anh ngữ. Sau tập Những Thiên Thần Nổi Loạn, Rebel Angels, gồm 25 nhà thơ, 75 bài, năm 1996, biên soạn bởi Mark Jarman và David Mason- mà lời mở đầu của họ vừa được dịch ra tiếng Việt bởi dịch giả cẩn trọng Nguyễn Tiến Văn- sau mười bảy năm, hình như vẫn là một trong vài thi tuyển tiếng Anh hiếm hoi.

Nếu chưa tính hai tập song ngữ Việt Anh Thơ Không VầnThơ Kể do nhà thơ Khế Iêm thực hiện một cách lộng lẫy.

Lẽ ra Tân hình thức phải gây được nhiều tiếng vang nhiều hơn thế nữa.

Sinh ra một thể loại văn chương mới là bước ngoặt lớn trong đời sống nhân loại, đâu phải chuyện đùa chơi, phải không?

Tôi cũng ngạc nhiên hơn là nó lại được đón nhận ở trong nước một cách vui vẻ, rực rỡ, đầy thiện chí, đầy sáng tạo khi được giới thiệu bởi nhà thơ Khế Iêm và nhiều nhà thơ khác những năm gần đây, như chúng ta có thể tìm thấy những thí dụ trên diễn đàn Sông Hương.

Nhưng tôi không bị bất ngờ lắm khi thấy các bài thơ THT tiếng Việt, trước đây ở hải ngoại xung quanh tạp chí Thơ của nhà thơ Khế Iêm và Đỗ Kh. hoặc hiện nay trong nước trên tạp chí Sông Hương với Hồ Đăng Thanh Ngọc, một người cũng làm thơ THT, trong khi thu lượm được nhiều nhiệt tình của các nhà thơ thì người đọc và các nhà phê bình nhìn chung vẫn còn dè dặt, xa vắng. Nói cách khác, có vẻ như đến nay, THT chưa được thành công đúng như mong muốn, về cả hai phương diện nghệ thuật và dư luận công chúng.

Nhân nói về dư luận, tôi muốn nêu nhận xét rằng cho đến nay người đọc thơ tiếng Việt vẫn còn nặng về khuynh hướng chủ tâm (intentionalism).

Thơ ca là sự kết hợp giữa nhạc điệu và ý nghĩa. Nhạc điệu của thơ THT dựa một phần vào kỹ thuật vần điệu của thơ có vần cổ điển. Vần điệu là sự mong đợi, là các khuôn mẫu ở đó âm thanh được kiến tạo, nối kết. Vần có thể là vần cuối, vần lưng, vần chặt chẽ, vần lỏng lẻo, vần trực tiếp, vần gián cách. Trong một bài thơ chúng có thể xuất hiện ở nhiều điểm và có khi xuất hiện bất ngờ. Bất ngờ và kín đáo.

Thông thường các nhà thơ mới viết sử dụng vần cuối và “chặt chẽ”. Khi một số người dễ dãi muốn chuyển một câu văn xuôi thành văn vần họ cũng lập tức nghĩ đến vần cuối. Như thế việc sử dụng vần cuối và “vần chặt chẽ” hay xuất hiện trong các trường hợp sau đây:

  • Các bài thơ cổ điển

  • Các bài thơ cho thiếu nhi

  • Các bài thơ hài hước

  • Sự vụng về

Ngạc nhiên là, Tân hình thức đã đảo lộn quan niệm ấy, và đưa vần vào thơ như một cuộc cách mạng hình thức, khơi dậy sự tươi trẻ cho các thể thơ có vần, mang lại cho chúng ý nghĩa hiện đại, mới, đôi lúc giễu cợt, có khi phá phách, nhưng nhiều sức sống.

Cần ghi nhận rằng, khác với điều tôi vừa trình bày, nhiều nhà thơ, nhà phê bình, và chính nhà thơ Khế Iêm vẫn coi nhẹ vần hoặc bỏ hẳn vần. Không những vậy họ còn gọi THT là thơ không vần. Như thế, theo quan điểm này, không vần là tính chất cốt lõi của THT.

Tôi thử mạn phép nêu ra một số yếu tố căn bản làm nên sự thành công một bài thơ THT, dĩ nhiên là theo quan niệm chủ quan của mình. Các yếu tố này thường có thể tìm thấy rải rác hơn là tập trung tất cả ở một bài thơ.

  1. Giàu tính âm nhạc, có nhịp điệu riêng, mặc dù ngôn ngữ gần với văn xuôi. Dễ đọc, nhưng không dễ ngâm.

  2. Kỹ thuật lập lại.

  3. Kỹ thuật vắt dòng, bẻ gãy câu văn phạm. Sự vắt dòng phải được sử dụng như một nhu cầu nội tại của câu thơ, không phải như một thứ trang điểm, tùy tiện.

  4. Có thể có vần hoặc không vần. Nhưng nên có vần, nhất là vần cuối.

  5. Câu chuyện và nghệ thuật kể chuyện.

  6. Có thể có tính kịch, về nội dung. Hoặc dòng chảy của thơ mãnh liệt, xét về ngôn ngữ.

  7. Có tính đời thường.

  8. Có tính hài hước, hoặc tính đồng dao.

  9. Nhưng vẫn mang tinh thần hiện đại, hậu hiện đại, đương thời.

  10. Khai thác được những đặc điểm thú vị của ngôn ngữ Việt mà các ngôn ngữ khác như tiếng Anh có thể không có, đặc biệt đối với sự vắt dòng.

Như thế trong mười tính chất mà tôi thử đề nghị, không có yếu tố nội dung và đề tài: bạn viết về chuyện gì cũng được, đứng ở lập trường nào cũng xong, những thứ ấy có thể quyết định giá trị của tác phẩm, tất nhiên, như đã nói, nhưng không quyết định việc chúng có thuộc về dòng thơ THT hay không.

Nhiều người sẽ còn nhắc đến các thành tựu đã có của THT, trong đó các giải thưởng do nhà thơ Khế Iêm chủ trương. Riêng tôi chú ý đến nhóm các bài thơ THT gần đây trên Tạp chí Sông Hương, tháng 8 năm 2013, và thử phân tích một bài trên căn bản mười yếu tố trên đây, như một ví dụ nóng. Các nhà thơ trên trang này gồm có: Nguyễn Hoạt – Huỳnh Lê Nhật Tấn – Thiền Đăng – Nguyễn Hoài Phương – Nguyễn Tất Độ – Trần Vũ Liên Tâm – Đoàn Minh Hải – Lý Đợi – Hà Duy Phương – Huy Hùng – Lê Hưng Tiến – Đài Sử. Nguyễn Tất Độ được giải thưởng THT của nhà thơ Khế Iêm trước đây. Để công bằng, tôi chọn bài thơ đầu tiên.

TÌNH BUỒN

Ngày qua ngày đêm lại
qua đêm đồng hồ vô
tư luôn điểm tiếng nhưng
em không vô tư đỏ

mắt chờ anh và anh
không tới và thư không
tới và tình yêu không
tới. Đồng hồ chết –

hết pin – và ngày lặng
im và đêm lặng im
và tình lặng im chỉ
có đôi mắt buồn nhỏ

lệ.

Nguyễn Hoạt

Nhịp điệu rộn ràng, tươi trẻ, các chữ xô vào nhau, kéo người đọc đi. Như hầu hết những bài thơ THT tiếng Việt và một số bài thơ tiếng Anh trong tập Rebel Angels, bài thơ này không có vần. Bài thơ kể một câu chuyện, nhưng với một cốt truyện đơn giản, xuôi dòng thời gian, đơn điệu, không đảo lộn trật tự, không có tính kịch.

Yếu tố nổi bật nhất trong các bài thơ THT tiếng Việt trong mười năm qua vẫn là yếu tố vắt dòng. Bài thơ của nhà thơ Nguyễn Hoạt không là ngoại lệ. Khi đọc câu thứ hai: qua đêm đồng hồ vô, tôi “mừng hết lớn”. Vì chữ vô trong tiếng Việt thường mang nghĩa của động từ chỉ sự đi vào (đi ra). Tôi dừng lại. Có một cái gì khác nữa, chờ đợi.

Đồng hồ bao giờ cũng gợi lên hình ảnh của các kim đồng hồ, tức sự chuyển động. Qua đêm cũng là chuyển động. Vì vậy qua đêm đồng hồ vô là một câu thơ tuyệt hay. Nó hứa hẹn một câu tiếp theo thú vị và sửng sốt. Nhưng câu thơ tiếp theo: tư luôn điểm tiếng nhưng, không thỏa mãn hết nhu cầu đó của tôi. Cả câu sau chưa phát triển xa hơn nữa cơ hội mà chữ vô đã đặt ra, mặc dù vô tư là chấp nhận được.

Gần như một trò chơi tinh nghịch.

Sự bẻ gãy hai chữ vô tư không có nguyên nhân nội tại. Mặc dù nó vẫn tạo ra sự hiếu kỳ tức thời.

Khác với câu văn gập đôi sau đây:

 Và một ngày kia tôi phải yêu

Cả chồng tôi nữa lúc đi theo

(T.T.KH.)

Vượt qua kỹ thuật vắt dòng cổ điển, tạo ra một cái gì mới, là công việc quan trọng nhưng khó khăn đối với các nhà thơ hiện nay. Muốn thế các nhà thơ THT chỉ có hai chọn lựa:

  1. Vắt dòng như Thơ Mới, hy vọng bằng họ hoặc hay hơn họ (lạy Trời!), và tập trung làm mới ở nơi khác.

  2. Chọn cách vắt dòng riêng của THT.

Thế nào là cách riêng?

Xin mời bạn đọc lại:

Và một ngày kia tôi phải yêu

Có gì khác với:

Qua đêm đồng hồ vô?

Khác nhiều lắm.

Câu thứ hai ngược ngạo hơn hay nghịch ngợm hơn, “ngang phè”.

Đọc kỹ, ta thấy câu thứ nhất có nghĩa, còn câu thứ hai vô nghĩa, tức không trọn vẹn về nghĩa.

Như thế mặc dù cả hai câu đều chưa phải là câu văn phạm hoàn tất, câu thứ nhất vẫn có nghĩa hoàn tất hơn.

Nếu đọc thêm lần nữa, bạn phát hiện ra rằng chữ cuối của câu thứ nhất rơi vào sự ngắt nhịp tự nhiên, như xong một nhịp thở, còn câu thứ hai thì không: nó thực sự dang dở. Đó là sự dang dở có chủ ý, có xung lực (m.v).

Chúng ta có thể tìm được những ví dụ bất tận về điều này ở những bài khác, các tác giả THT khác.

 mắt chờ anh và anh
không tới và thư không
tới và tình yêu không

Cần chú ý rằng việc dùng liên từ và trong thơ, một khi thành thói quen (xấu), mau chóng trở thành sự dễ dãi, mặc dù việc lập lại hai chữ không vẫn là đặc trưng của THT.

Nhưng kết thúc:

 có đôi mắt buồn nhỏ

lệ.

lại ghi một điểm son, dấu ấn riêng biệt của tác giả: thơ THT vốn là xu hướng bình dân hóa, dân gian hóa, và cổ điển hóa trong không gian văn hóa đương đại, vì vậy ngầm chứa trong nó tính phá phách và tính hài hước.

Tức là sự thông minh thi tính mà người đọc thơ không có kinh nghiệm dễ bỏ qua.

Trở lại với vần. Trong tuyển tập Rebel Angels, với tổng số 75 bài, tôi đếm được 40 bài (hơn một nửa) là thơ có vần, mà vần cuối chặt chẽ hẳn hoi. Ví dụ nhà thơ mở đầu Elizabeth Alexander, người đọc thơ trong lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống Barak Obama, có ba bài được chọn, thì hai bài là có vần, như:

Empty out your pockets nighttime, Daddy

Keys and pennies, pocket watch, a favored

Photograph of Ma, and orange-flavored

Sucker-candies, in the dresser caddy

hoặc Frederick Turner, một nhà thơ quen thuộc với Việt Nam, có ba bài thì cũng có hai bài là thơ có vần:

Above the baby powder clouds

The sky is china blue.

Soon, young and chattering, the crowds

Of stars come pushing through.

Hay bài thơ nổi tiếng nhiều người biết Cơn bão mùa hè của Dana Gioia:

 We stood on the rented patio
While the party went on inside.
You knew the groom from college.
I was a friend of the bride.

Đó là thể ballad mà các tác giả của Thơ Mới chúng ta đã vay mượn để sáng tạo nên thể thơ bảy chữ, tám chữ làm chấn động nền thơ Việt cách đây gần thế kỷ.

Kết hợp yếu tố thứ nhất (1) và thứ tư (4) trong mười yếu tố tôi đã nêu, có thể tin rằng đặc điểm quan trọng bậc nhất của THT là nhạc điệu. Nhạc điệu mới.

Nếu không tìm được nhạc điệu mới, THT chỉ còn là sự hoài niệm cũ kỹ đối với các thể thơ cổ điển.

Phong trào Tân Hình Thức (THT) ra đời trong bối cảnh phát triển của chủ nghĩa hiện đại và thơ tự do, khi thơ có vần gần như hoàn toàn bị bỏ rơi. Thơ và văn xuôi xích lại gần nhau đến mức không còn phân biệt được nữa. Khác với Thơ Mới trước đây, trong thơ THT, tính du dương tạo bởi phép hiệp vần không làm tăng chất cảm động (sentimentality), trái lại, nó mang đến sự hài hước thâm hậu dịu dàng. Thơ THT không phải là thơ trữ tình.

Nếu thơ trữ tình là thơ của cái “tôi” thì trong thơ THT cái “tôi” ấy trở nên mờ nhạt hơn và lẫn vào vai trò của người kể chuyện. Nhưng câu chuyện được kể lại thông thường là của chính người kể, người phát ngôn. Kỹ thuật vắt dòng tạo ra sự chuyển động dồn dập, sự xuống dòng tạo ra tính ngưng động, hồi hộp, chờ đợi (suspension), sự lập lại làm cho sự chuyển động ấy trở nên máy móc có chủ ý: cả ba đều làm cho vai trò của người đọc trở nên quan trọng hơn trong thơ THT. Tất cả những yếu tố ấy làm cho cái tôi trở thành cái tôi số nhiều.

Lục bát dễ làm, khó hay. Thơ Tân hình thức vừa khó làm vừa khó hay. Nhưng đó cũng là điểm quyến rũ đối với nhiều nhà thơ.

Tương lai của thơ THT ra sao? Như một phong trào, có lẽ nó sẽ có những chu kỳ, sinh ra, lớn lên, lụi tàn, rồi sinh ra trở lại. Nhưng như một phương pháp sáng tác, nó sẽ tồn tại lâu và đóng góp mãi cho thơ ca Việt Nam. Thêm nữa, có lý do để hy vọng rằng sự phát triển của THT từ Hoa kỳ sang Việt nam không chỉ là sự nối dài về địa lý, mà còn là bước đi xa hơn về nghệ thuật và những đóng góp trở lại đối với phong trào này.

(*) Có thể chọn một ví dụ như sau đây: Thơ tân hình thức: phản kháng, tìm tòi và… quá khích!

Thanksgiving 2013 | Nguyễn Đức Tùng

  MỘT BÀI THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT ĐƯỢC CHO LÀ HAY?

https://olaf.ca/
https://olaf.ca/
 VĂN GIÁ

Tôi bắt đầu nhan đề  bài viết bằng một câu hỏi có vẻ như khá liều lĩnh? Nó sẽ lập tức dẫn đến một phản biện ngay sau đó: “Hay” là một cách nói định tính, không tường minh được, anh cho là hay, tôi cho là không hay, thậm chí là dở thì thế nào? Thế nên, trong bài viết này, tôi chỉ dám đưa ra cái nhìn của riêng tôi mà thôi. Nếu ý kiến của tôi được số đông bạn nghề/bạn đọc chấp nhận, nghĩa là nó có sức thuyết phục ít nhiều; và ngược lại. Nhưng trên hết, tôi muốn coi đây là một  chia sẻ cùng những ai quan tâm đến thơ Tân hình thức Việt.

1. Tôi nghĩ, cho đến thời điểm này, phong trào thơ Tân hình thức Việt đã xong giai đoạn lập thuyết, và đã bước hẳn sang giai đoạn thành tựu. Tại sao lại nói như vậy? Xin thưa, bằng nỗ lực của Khế Iêm và những người đồng chí hướng, bạn đọc đã được chứng kiến hàng loạt các tiểu luận và thực hành thơ đã được in ấn hoặc trên các trang mạng suốt từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay, tức là đã hơn 20 năm có lẻ[1]. Cho đến nay, nếu ai hỏi thơ Tân hình thức là thế nào thì câu trả lời đã dễ dàng. Trong một bài viết của tôi[1] cách đây hơn năm khi nhận định về tập tiểu luận của nhà thơ Khế Iêm, tôi cũng đã tóm lược 5 đặc điểm quan trọng nhất của  thơ Tân hình thức. Tôi nghĩ, những tiểu luận mang tính khoa học và hệ thống của Khế Iêm và khá nhiều các bài viết của các tác giả trong/ ngoài nước như thế đã đủ tư cách lập thuyết cho loại hình thơ này. Tôi dùng khái niệm “loại  hình” với một hàm nghĩa: trước và cùng với thơ Tân hình thức là mô những hình thơ khác, riêng Tân hình thức tự đứng độc lập như một mô hình khác.

2. Khi đánh giá về một phong trào thơ, thường phải chú ý đến hai phương diện: lập thuyết và thực hành. Phương diện lập thuyết rất quan trọng, nó cho phép phong trào diễn ra một cách có bài bản, mang tính học thuật, tính trí thức, tính tự giác. Một phong trào như vậy phải có tư tưởng- tư tưởng nghệ thuật, được tư tưởng dẫn dắt và chỉ đạo. Công cuộc lập thuyết thơ Tân hình thức Việt này trước hết thuộc về nhà thơ Khế Iêm. Ngoài tư cách là một nhà thơ, tôi muốn dùng một danh xưng nữa để nói về con người này: Nhà lý luận thơ Tân hình thức Khế Iêm.

Tuy nhiên điều tôi muốn nói ở đây là: trong mọi lĩnh vực, lý thuyết nếu không có thực hành, không có sản phẩm thực chứng thì dễ đổ bể; nhưng riêng trong lĩnh vực nghệ thuật có khác một chút: sản phẩm được làm ra lại không thể mang tính đại trà, mà nhất thiết phải có những tác phẩm thực sự có giá trị, tác phẩm đỉnh cao. Nếu sản phẩm trong nghệ thuật ở mức làng nhàng, sẽ không thể bảo hiểm cho lý thuyết được. Cho nên, nhiệm vụ của phong trào thơ Tân hình thức Việt là phải có những tác phẩm hay, đỉnh cao, xứng đáng. Nếu không có được những tác phẩm xứng đáng minh chứng cho lý thuyết của mình, sẽ xảy ra hai khả năng: hoặc lý thuyết thiếu tính khả thi, hoặc người sáng tác chưa đủ tài năng để thẩm thấu và chuyển hóa lý thuyết thành các sáng tạo cụ thể.

3. Trên một tinh thần như vậy, nhìn vào các tác phẩm thơ của Tân hình thức, cần chỉ xem đã có những bài thơ hay chưa, và số lượng ấy đủ để khẳng định phong trào đã trụ vững chưa?

Cũng xin nói thêm, ngày nay sự ra đời của một phong trào nghệ thuật nào đó không còn cảnh đối lập và loại trừ những thành tựu nghệ thuật khác trước nó và cùng với nó. Đó là câu chuyện trước kia. Thí dụ, Thơ mới 1932-1945 khi ra đời phủ định quyết liệt thơ trung đại để chiến thắng. Nhà thơ Trần Dần ngay từ những năm chống Pháp (1946-1954) đã đòi “chôn tiền chiến”. Tinh thần này được ông và những người bạn thơ cùng chí hướng cách tân như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Cung, Đặng Đình Hưng (sau này là Dương Tường, Hoàng Hưng) thực hành quyết liệt từ những năm 60 của thế kỷ 20 trở đi. Nhóm Sáng tạo[1] của Sài Gòn cùng quãng thời gian những năm 60 đó cũng lại quyết liệt phủ định Thơ mới để cách tân và khẳng định…Ngày hôm nay, tinh thần của chủ nghĩa hậu hiện đại- một trào lưu tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật – đã trở nên rộng khắp các châu lục ở cả cấp độ lý thuyết, cấp độ cảm quan và cấp độ thành tựu. Một trong những tinh thần cơ bản nhất của hậu hiện đại là: những CÁI KHÁC được quyền chung sống thân ái và bình đẳng bên cạnh nhau, không phủ định nhau và cùng đối thoại. Cho nên, phong trào thơ Tân hình hình ra đời trên một tinh thần dân chủ nghệ thuật như vậy, và cũng thực hành theo tinh thần đó. Ai chia sẻ được sẽ rất cảm kích, ai không chia sẻ được cũng không sao, cũng vẫn cần được tôn trọng – đơn giản là họ có những mối quan tâm và sở thích khác.

Trở lại với câu hỏi về việc đã có những bài thơ Tân hình thức được công nhận là hay? Tôi xin thưa, thực sự đã có một số lượng bài đủ để khẳng định phong trào thơ Tân hình thức đã có mặt ở xứ sở này và tham gia vào khung cảnh thơ ca chung của dân tộc.

Tôi thấy có một Khế Iêm với những bài thơ Con mèo đen, Bậc thang, Chiếc ghế mang tinh thần triết luận về một thế giới hư vô thật sâu lắng và ấn tượng. Thơ của Khế Iêm thường là khởi lên từ câu chuyện của/về một sự/con vật, một con người; ngay sau đó câu chuyện được đẩy về phía hư vô, như một trạng thái hoang mang, hỗn loạn, mất phương hướng, có khi gần với ảo giác. Trong những trường hợp ấy, con người trở nên tội nghiệp, thậm chí vô nghĩa. Phải chăng đó là những mảnh mầu khác nhau của một bi kịch tinh thần mà con người của thời hiện đại lâm vào…

Tôi thật thích thú với vẻ đẹp của tiết tấu ngôn từ trong bài thơ Cảm giác sóng của Nguyễn Thị Khánh Minh. Bài thơ này không hướng tới một ý nghĩa rõ ràng. Nó chỉ đẹp trong âm điệu, trong tiết tấu của những âm thanh. Nó đặc biệt thành công khi nắm bắt và biểu đạt thật rõ rệt cái cảm giác trườn vỗ trồi sụt của con sóng, không phải con sóng thực tại mà là con sóng trong tâm tưởng. Hãy nhắm mắt lại nghe bài thơ vang lên từng âm thanh để cảm nhận hết vẻ đẹp sâu lắng dịu dàng của toàn bài. Bài thơ này tiêu biểu cho một luận điểm rất quan trọng thuộc về bản chất của thơ: không có nhịp điệu sẽ không thành thơ. Điều thú vị ở bài thơ là nhà thơ đã tạo ra một nhịp điệu của một loại thơ vắt dòng, ngôn ngữ đời thường, đem lại cho bài thơ một hình thể rất đỗi tự nhiên. Có thể bắt gặp một số vẻ đẹp khác nữa cũng thuộc về nhịp điệu thơ như bài Me của Thiền Đăng, Tức cảnh của Khế Iêm. Với bài Me chẳng hạn, nhà thơ cũng tạo ra được một âm hưởng vang động không gian nhờ cái tiếng kêu của me ngày xưa trước số phận của một người cha đã khuất. Tiếng kêu được điệp lại liên tục trong không gian cánh đồng, núi đồi, sóng biển lạnh lẽo và cô độc, từ một quá khứ dội lại miên man, không dứt. Bài thơ phả vào người đọc một sự ớn lạnh, xa xót. Những bài thơ như thế đã chạm được vào chỗ sâu nhất của tình người.

Nhìn vào các sáng tạo thơ Tân hình thức, xét theo tính chất cảm hứng thơ, có thể tạm chia ra làm hai loại: thơ nghiêng về cảm xúc, và thơ nghiêng về triết luận.

Loại thơ thứ nhất, mục đích của nó chủ yếu để giãi bày cảm xúc, tâm tình của chủ thể trữ tình. Cho nên, loại thơ này đặc biệt chú ý đến nhịp điệu của toàn bài bằng cách lặp lại ngôn từ (với các cấp độ: từ, ngữ) và hình ảnh. Nhờ nhịp điệu, bài thơ có khả năng thúc vào trái tim của người đọc ngay lập tức. Những bài thơ như Cảm giác sóng, Me, Tức cảnh vừa nhắc tới trên kia là những trường hợp tiêu biểu. Có thể kể đến một bài thơ nữa cũng nằm trong từ trường cảm xúc này: Vài món bị đổ đi (Bỉm). Thoạt đọc, bài thơ mang một hình thức câu chuyện, kể lại việc chuẩn bị bữa ăn sáng của đôi nam nữ (vợ chồng/tình nhân?…). Đọc kỹ hóa ra tính tự sự chỉ là hình thức bên ngoài, mà ẩn sâu bên trong là một hạt nhân trữ tình rất rõ, đánh động lên nhiều cảm xúc: tình yêu, sự chăm sóc dịu dàng, nỗi oan uổng, hờn dỗi, sự vô tình…Bài thơ này khá giản dị mà chứa nhiều sức gợi.

Loại thơ thứ hai tạm gọi là thơ triết luận. Các nhà thơ thường bắt đầu từ một quan sát, sau đó bật lên một ý tưởng, một nhận thức, một đối thoại nào đó về thế giới. Thơ Khế Iêm phần lớn đi theo dạng thức này. Thơ anh mạnh về những ý nghĩa xoay vần, day trở với nhiều góc nhìn khác nhau về sự sống. Kết thúc thường không đưa ra một thức nhận có ý nghĩa quyết định luận nào, mà thường là những câu hỏi treo đấy, bỏ ngỏ, có ý nghĩa kêu gọi người đọc tham dự vào quá trình suy tưởng đó. Cùng hướng với dạng thơ này là bài thơ  Vệt mực và tờ giấy của Nguyễn Tất Độ. Bài thơ đưa ra hai tình huống: 1, tờ giấy trắng có vệt mực đen; 2, tờ giấy đen có vệt mực đen. Và các suy luận phong phú hiện lên, hướng về hai tình huống này. Nhờ vậy, bài thơ có được phong vị của một sự thông minh, thuộc về trí năng, đem lại những  khai mở thú vị cho người đọc.

4. Như vậy, nếu căn cứ vào 4 đặc điểm thuộc về thi pháp của thơ Tân hình thức (vắt dòng, kỹ thuật lập lại, tính truyện, ngôn ngữ đời thường), thì mỗi bài thơ sẽ có những vận dụng và phối hợp các đặc điểm này không giống nhau, với những tỉ lệ khác nhau. Thêm nữa, các bài thơ, nhìn bề ngoài vẫn mang diện mạo của các thể thơ truyền thống (4/5/6/7/8/6-8 chữ…), nhưng cấu trúc mỗi dòng/câu thơ, mỗi câu ngữ pháp biến hóa khôn lường, theo đó nhịp điệu cũng biến hóa cùng. Đó chính là những điều kiện nhằm tạo nên sự đa dạng cho mọi tìm kiếm và thể nghiệm.

Một bài thơ Tân hình thức hay, ngoài việc đảm bảo 4 đặc điểm thuộc về thi pháp trên kia, nó vẫn cứ dựa trên những phẩm tính căn bản của thơ  đã được xác lập từ xưa tới nay: sự sâu sắc của ý/nghĩa, chiều sâu của cảm xúc, tính độc đáo trong biểu đạt, và dư vị toàn bài. Vâng, đó chính là vẻ đẹp của thơ ca muôn thuở. Thơ Việt như một dòng sông lớn mà thơ Tân hình thức đang là một chi lưu trong rất nhiều chi lưu cùng góp vào và cộng hưởng.

Tôi có thể kể được thêm những bài thơ Tân hình thức thú vị nữa. Nhưng chỉ với một số bài thơ được nhắc đến trên[1] kia đã tạo cho người đọc một niềm tin rằng đời sống thơ đương đại tiếng Việt đã ghi danh một loại hình thơ mang tên Tân hình thức. Mặc lòng thích/ không thích, thơ Tân hình thức vẫn cứ tồn tại và ngày càng khẳng định sự có mặt chính đáng của mình. Ai quay lưng với Tân hình thức sẽ tự làm nghèo đi quyền được tiếp nhận và thụ hưởng đa dạng mà mỗi người đều có cơ hội ngang bằng.

Cuối thu Hà Nội đã/vào heo may em tháng/Mười nỗi niềm dâng phố/ 2013 cúc/ hoa...

 Ghi chú:

Năm 2000, nhà thơ Khế Iêm đã viết bài “Thơ Tân hình thức-nhắc lại-10 năm”, in trong Vũ điệu không vần- tứ khúc và những tiểu luận khác, NXB Văn học, 2011. Nhìn lại, hiện đã có một số công trình về thơ Tân hình thức Việt đã được công bố (trong tầm bao quát chắc chắn chưa đầy đủ của tôi):
-Nhiều tác giả, Poetry narrates/Thơ kể (Tuyển tập thơ Tân hình thức-ấn bản song ngữ), NXB Lao động, 2010
-Khế Iêm, Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận, NXB Văn học, 2011
-Khế Iêm, Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận, NXB Văn mới, 2013
-Tạp chí Sông Hương, chuyên đề về thơ Tân hình thức, tháng 6/2012
-Báo Nghệ thuật mới , Số 9-tháng 9/2012

Bài “Về một nỗ lực làm mới thơ Việt (Đọc Vũ điệu không vần-Tứ khúc và những tiểu luận khác, NXB văn học, 2011)”, in trên tờ Nghệ thuật mới, Số 9-tháng 9/2012, sau in trong Người khác và tôi (Chân dung-tiểu luận, phê bình), NXB Hội nhà văn, 2013.

Vào quảng năm 1958-1961, nhóm cách tân thơ được thành lập xung quanh tạp chí mang tên Sáng tạo, bao gồm những tên tuổi như Mai Thảo, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Doãn Quốc Sỹ, Thần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Quách Thoại, Tô Thuỳ Yên, Thanh Tâm Tuyền. Tinh thần của họ là phủ nhận văn nghệ tiền chiến, trong đó có Thơ mới.

Xin kèm theo 5 bài thơ tôi cho là hay được lấy làm dẫn liệu cho bài viết này (tôi không nói 5 bài này là hay nhất). Với ý đồ để cho dẫn liệu được tập trung, nên tôi chỉ chọn có vậy (các bài thơ này được dẫn từ cuốn Poetry narrates/Thơ kể – Tuyển tập thơ Tân hình thức – ấn bản song ngữ, Sđd):


Khế Iêm

CON MÈO ĐEN

Con mèo đen có linh hồn và chiếc
xương sườn của tôi, mỗi buổi sáng thức
dậy không bao giờ rửa mặt, mỗi buổi
sáng thức dậy không bao giờ đánh răng;

con mèo đen có đôi mắt bằng đất
sét, mở ra và nhắm lại, hay cứ
mở ra và không bao giờ nhắm lại,
trong lúc lên thang xuống thang, mang theo

linh hồn và chiếc xương sườn của tôi,
mà quên rằng, tôi đã sống những ngày
hôn ám biết bao, tự thuở nào và
tại sao thì tôi đành chôn kín, trong

cái túi đựng đầy những đoạn chú thích,
được lượm lặt từ rất nhiều mẩu chuyện,
để cấu thành câu chuyện về con mèo
đen, mang linh hồn và chiếc xương sườn

của tôi; dĩ nhiên, đó là con mèo
đen có đôi mắt bằng đất sét, chứ
không phải bất cứ đôi mắt nào khác;
mù đặc, trong lúc lên thang xuống thang.


Nguyễn Thị Khánh Minh

CẢM GIÁC SÓNG

Trên điểm tựa dịu dàng
tôi thấy mình bay lên
với đôi cánh mầu xanh
bung mình cảm giác biếc

con sóng tôi dâng lên
dào dạt hương biển xanh
dâng lên dâng lên và
nở hoa dâng lên dâng

lên và vỡ tràn dâng
lên dâng lên và xoá
hết -sóng men bia sủi
bờ cát ngọt – dấu vết
tôi – thành tựu giấc mơ


Thiền Đăng

ME

Me kêu bằng tiếng kêu xưa bên
đồng gió lạnh. Me ơi me kêu
bằng tiếng kêu xưa trên đồi núi
lạnh. Tiếng kêu không còn nao nao

như xưa nhưng yêu thương còn vang
âm xưa như me kêu ba bỏ
cánh đồng xưa lên núi đồi xưa
đi tìm đất lạ. Như me kêu
ba từ núi đồi xưa về đụn
cát xưa nằm nghe sóng biển. Như
đụn cát xưa vọng tiếng kêu xưa
tiếng me kêu ba từ thủa ngày
xưa bên đồng gió lạnh.

Phú Diên 08.2008

Nguyễn Tất Độ

VỆT MỰC & TỜ GIẤY

Tôi quệt một vệt đen lên tờ giấy
trắng. Một vệt đen trên tờ giấy trắng.
Tôi mang đi hỏi người.Có người nói:
”Một vệt đen”. Có người nói: ”Một tờ

giấy trắng”. Có thể vì không thấy một
vệt đen,hay thấy tờ giấy trắng kia
còn hữu dụng. Tôi thì nói: ”Một tờ
giấy trắng có vệt đen”. Lại nữa, tôi

quệt một vệt đen lên tờ giấy đen.
Tôi mang đi hỏi người. Ai cũng bảo:
”Một tờ giấy đen”. Có thể vì không
ai thấy vệt đen. Một vệt đen trên

tờ giấy đen thì làm sao mà thấy!
Duy chỉ mình tôi biết rõ, trên tờ
giấy đen có vệt đen. Lại nữa, tôi …


Bỉm

VÀI MÓN BỊ ĐỔ ĐI

em làm món trứng và
canh bí anh chỉ nhớ
lờ mờ vậy khi sáng
nay em dậy rất sớm

vừa làm vừa ngắm anh
ngủ anh nghĩ vậy anh
cố căng mắt ra để
khởi động một ngày mới

thấy em đang chăm chút
làm và chăm chú ngắm
anh ngủ thế mà chúng ta
đã đổ đi món trứng
canh bí và vài món
khác chỉ tại anh nói
không muốn ăn gì khi
anh cố căng mắt ra
để khởi động một ngày
mới bên cạnh em và
món trứng và canh bí
và vài món khác em
chăm chú chăm chú ngắm
anh khi anh ngủ lúc
sáng nay.


Tranh bài: Olaf Schneider

TẠO NÊN MỘT GIÁ TRỊ CHIA SẺ

Biển Bắc

bien bacTác giả Biển Bắc  
  1. Tiếp Nhận Thơ Tân Hình Thức Việt

Nói đến tiếp nhận, chúng ta phải nói ngay đến truyền đạt. Bởi vì sự tiếp nhận và mực độ tiếp nhận bị ảnh hưởng một phần rất lớn ở thái độ truyền đạt và sự truyền đạt. Sự truyền đạt ở đây là nội dung và thái độ truyền đạt là vai trò của (kẻ) truyền đạt.

Hai câu hỏi cần được đặt ra là:

  • Thái độ/vai trò của Thơ Tân Hình Thức Việt ra sao?
  • Nội Dung Thơ Tân Hình Thức Việt muốn truyền đạt là điều gì?
  • Thái độ/vai trò của Thơ Tân Hình Thức Việt
  • Mặc dầu trước kia  Vladímir Propp[1] đã chỉ ra nhiều những vai-trò/nhân-vật trong một câu chuyện (thần tiên)[1a] và sau này George P. Lakoff[2] đề xuất nhiều những ẩn dụ [2a](đọc: vai trò) vẫn luôn được áp dụng bởi chúng ta trong những (câu chuyện) cuộc sống thường nhật, chỉ quy lại có ba vai trò chính yếu luôn nổi bật:
  • Nạn nhân;
  • Kẻ ác;
  • Người cứu cánh.

Từ  khi Thơ Tân Hình Thức Việt phát khởi do Tạp Chí Thơ, California ở Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”[3] cho đến nay đã ngót 13 năm, nhưng sự tiếp nhận của những người sáng tác, độc giả của những tác phẩm cùng giới phê bình vẫn chỉ hời hợt. Hơn thế, thoạt kỳ xuất hiện, TTHT Việt gặp phần-số-không-ủng-hộ phản hồi gay gắt lần lượt đến chống đối, chê bai và dè bỉu khước từ. Phía bên kia là phần-số-ủng-hộ TTHT Việt năng-nỗ cổ súy, bênh vực hoặc chứng minh qua nhiều luận điệu.

  • Nạn Nhân

Thơ Tân Hình Thức Việt ở bên phần-số-ủng-hộ đổ lỗi cho bên phần-số-không-ủng-hộ rằng: “họ không hiểu, họ không chịu hiểu” “họ không chịu chấp nhận cái mới” “Thơ Tân Hình Thức không được tiếp nhận một cách trân trọng xứng đáng”, “họ không chịu lắng nghe”, vân vân. Điều này có nghĩa là TTHT Việt quẳng trách nhiệm của những cảm xúc tiêu cực về phía phần-số-không-ủng-hộ. Với một thái độ như vậy, TTHT Việt bước vào vai trò của một  nạn nhân. Bản chất của vai trò nạn nhân là người ta không tự quyết cùng chịu trách nhiệm cho sự hiện hữu của mình, mà để cho mình bị/được định hướng bởi cách phản ứng của những người khác, của ngoại cảnh.

Thơ Tân Hình Thức Việt cần ngưng xuôi theo sự bất lực trước dị-ứng của những bất-đồng-ý-kiến cùng ngoại cảnh; lớn vượt trên cái bóng vai trò nạn nhân. Cần có những chủ động tổ chức hội nghị, thảo luận chuyên đề có tính cách văn-/khoa-học, xây dưng trên căn bản chấp nhận và tôn trọng mọi ý kiến từ mọi hướng và văn-bản-/tài-liệu-hóa kết quả của những sự kiện này. Cần có những lý luận giàu tính cách ứng dụng để tiếp nối và cập nhật thêm cho những tiểu luận về TTHT Việt[4] trước đây của Khế Iêm[4a] để mở rộng tầm thuyết phục.

  • Kẻ Ác

Tấn công là phòng thủ tốt nhất! Lấy châm ngôn này để phản hồi những dị-ứng gay gắt, bên phần-số-ủng-hộ chê bai bên phần-số-không-ủng-hộ rằng: “họ lỗi thời”, “họ cứng nhắc”, “họ kém, chẳng hiểu gì”, “họ sợ cái mới”, vân vân. Với những luận điệu như vậy, bên phần-số-ủng-hộ muốn ném bùn qua bên phần-số-không-ủng-hộ và  Thơ Tân Hình Thức Việt rơi vào vai trò của một kẻ ác/người xấu. Bản chất của một kẻ ác/người xấu là dùng tấn công để vùi dập, tiêu diệt những chướng ngại để đạt mục đích bằng cách này hoặc cách khác, công khai hay tinh vi.

Thơ Tân Hình Thức Việt không nên tấn công hoặc phản công qua mọi hình thức trên mọi diễn đàn thông tin; bước ra ngoài vai trò người xấu. Phía bên TTHT Việt cần trân trọng giá trị của những bước đi, thành tựu của những phong trào đã qua hoặc đang hiện hành. Từ đó rút ra những điều học hỏi, thông cảm cùng hiểu để định hướng bước đi của riêng mình. Nên tham gia những nghị-/thảo-luận chuyên đề khác được chủ động bởi những phong trào khác và tích cực hỗ trợ cho nhau ở mặt xây dựng.

  • Người Cứu Cánh

Do niềm phấn khích trước Thơ Tân Hình Thức (Việt), phần-số-ủng-hộ cổ súy thể thơ này rất nhiệt tình đôi khi có thể đến độ cực đoan (?). Giá trị của thể thơ này được tán dương như một giá trị thay thế vượt trội trên giá trị của những thể thơ khác: “thơ kia chỉ là cảm xúc nhất thời”, “bài thơ nào cũng na ná giống nhau, chẳng có gì mới”, “thơ mơ hồ” “mấy thơ kia là trò chơi chữ nghĩa”, “thơ gì mà cứ loay hoay trong vũng lầy cảm xúc” vân vân . Bằng cách truyền đạt này, Thơ Tân Hình Thức Việt được phần-số-ủng-hộ định vị như là một người cứu cánh cho nạn-nhân-nền-thơ-Việt đang bị vây-/hãm-hại bởi những kẻ-ác-thể-thơ-khác. Bản chất của một người cứu cánh là nhân danh một sứ mạng cao cả và muốn được tuyên dương hành-tích của mình. Nguy cơ sẽ đi vào trạng thái tự tôn vinh mà Cao-Xuân-Hạo[5] gọi là hội chứng vĩ-cuồng[5a].

Thơ Tân Hình Thức Việt nên giảm bớt mức độ hoành-tráng-hóa trong quá trình truyền đạt; cân tầm vai trò người cứu cánh. Cần vận động giới phê bình phân tách cùng phản ánh nghiêm túc và công bằng thể TTHT Việt, giúp độc giả có cái nhìn chính trực hơn khi tiếp cận. Cũng từ những phản ánh khách quan mang tính cách khoa học, TTHT Việt nhìn nhận rõ hơn giá trị đóng góp của nó.

  • Vai Trò Nào Cho TTHT Việt?

Cho dù ở một trong ba vai trò nào trong câu chuyện, như trình bầy ở phần trên, hay hoặc cả ba vai trò cùng một lúc, điều mà không thể phủ nhận là: sự tiếp nhận và  mức độ tiếp nhận của những người sáng tác, độc giả của những tác phẩm cùng giới phê bình trong suốt 13 năm nay đã phản ánh được mức độ thành công truyền đạt của Thơ Tân Hình Thức Việt.

Ngoài ba vai trò chính yếu trong một câu chuyện, có một vai trò rất cần thiết trong công cuộc truyền đạt: vai trò của một người kể chuyện. Qua trung gian người kể chuyện, câu chuyện được phóng lên trên tâm trí/-thức của độc giả. Nguy cơ đang rập rình ở đầu ngõ là người kể chuyện vô tình hay cố ý soi rọi câu chuyện qua lăng kính của một trong ba vai trò kia. Sự thử thách hấp dẫn là vai trò của người kể chuyện phải chỉ là trung gian, như trong khoa hóa học là một chất xúc tác, mà không bị tiêu tốn đi trong quá trình truyền đạt. Câu chuyện phải là câu chuyện như nó là, mỗi câu chuyện là một toàn cảnh nhỏ trong toàn cảnh lớn, là cuộc sống.

Thơ Tân Hình Thức Việt được khai sinh bằng bài thơ “Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể[6] rồi qua một thời gian lại được tiếp sinh với bài tiểu luận “Câu Chuyên Không Vần Kể Lại[7] của nhà thơ Khế Iêm cùng nguyên một tập “Thơ Kể[8] của nhiều tác giả. Ở giữa giai đoạn đó và sau này, cho tới nay đã có rất nhiều những câu chuyện khác qua thể TTHT Việt đã được kể trên nhiều diễn đàn truyền thông. Chúng tôi không liệt kê ra ở đây vì có lẽ các vị khác đã làm công việc này. Đáng chú ý là một trong bốn đặc điểm của TTHT Việt là tính truyện/chuyện và ba điểm kia là lập lại, vắt dòng và ngôn ngữ đời thường. Vậy, ở một góc độ nào đó, Thơ Tân Hình Thức Việt cũng có thể cho là một thể thơ kể truyện/chuyện. Thế nên, vai trò người kể chuyện mới là vai trò phù hợp của Thơ Tân Hình Thức Việt. Từ lý luận đến sáng tác và phê bình nên luôn ở trong thái độ chất xúc tác của vai trò người kể chuyện/truyện.

  • Nội Dung Thơ Tân Hình Thức Việt

Đã có rất nhiều tài liệu văn học phổ quát về nội dung của thơ rồi, chúng tôi xin phóc ngay tới khuôn viên nội dung Thơ Tân Hình Thức Việt.

Nhìn lại suốt một chặng đường 13/14 năm của TTHT Việt, từ thuyết-/luận-lý đến những bài thơ, chúng ta thấy rằng nội dung vẫn chưa được phong phú đa dạng, đặc biệt là những bài thơ. Nội dung của thuyết-/luận-lý thì vẫn còn trong quá trình tìm tòi, mở rộng và định hướng. Cứ lần theo dấu vết những bổ sung của các bài luận, chúng ta sẽ thấy điều này. Còn nội dung của các bài thơ TTHT Việt thì cứ hoài rời rạc trên bãi cát thử nghiệm, vật lộn với bốn móng kỹ thuật của thể thơ này. Có lẽ những người sác tác tập trung quá thái từng yếu tố một trong bốn yếu tố kia, nên chưa chú tâm đến mặt làm phong phú đề tài của những bài thơ. Đó là chưa nói đến hiệu quả của việc chỉ chú tâm đến phương diện kỹ thuật đem đến sự loay hoay nhàm chán của những bài thơ.

Có lẽ, vì hiểu/diễn giải yếu tố “ngôn ngữ đời thường” theo khuynh hướng “thường dân” “dân dã” nên phần nhiều nội dung của những bài TTHT Việt tới nay vẫn đậm chất những đề tài xoay quanh cuộc sống của “tầng lớp” lao-động/-công hay vỉa hè của xã hội. Thậm chí có một số bài thơ lạm dụng từ ngữ dung tục (để gây sốc tạo sự chú ý chăng?) quá mức khiến nhiều người đọc ái ngại, bức xúc. Ngoài ra còn một số bài thơ của các tác giả sống ở ngoài nước Việt Nam, với những đề tài của những cuộc sống xa lạ với độc giả trong nước nên không bắt được điểm đồng cảm để thu hút. Nhà phê bình văn học Đặng Tiến[9] đã từng đặt câu hỏi: “đời thường, ai biết là đời nào đây?[9a]. Hẳn nhiên cuộc sống có muôn đời sống và có muôn mặt, ngôn ngữ đời thường của nhân vật này chưa hẳn là đời thường đối với kẻ kia. Câu nói rất đời thường của cặp nam nữ bụi đời đi dạt: “ Đủ má, tao thương mày ghê mày!”, với họ là đầy ắp chân tình, là gần gũi, là cả một sự đùm bọc êm ái, nhưng có lẽ sẽ chướng tai cau mày đối với các vị trí-thức quen nghe, quen đọc những câu như: “ta yêu nhau như núi cao biển rộng!“. Hay khẩu hiệu tiếp thị xúc-tích của công ty điện thoại: “Nhẹ nhàng lướt êm,[10] lại rất nặng nề, khô khan hơn là câu rao chân-chất trong xóm :”ai dừa tươi hôn?[11].

Như vậy, ngôn ngữ đời thường trong TTHT (Việt) phải chăng là ngôn ngữ của mọi tầng lớp xã hội, mọi giới tính, mọi tín ngưỡng, mọi ngành nghề và mọi hoàn cảnh? Và nội dung của những bài thơ TTHT (Việt) phải chăng dung chứa cả thảy mọi khác biệt của toàn cảnh đời thường và từ đó sẽ phong phú đa dạng? Kết hợp sự lặp lại những thể thơ truyền thống với nội dung phong phú đa dạng của cuộc sống, TTHT (Việt) sẽ đem lại nhiều loại rượu mới trong những chiếc bình cũ và sẽ đưa độc giả đến những vị-bất ngờ thú vị?

  1. Cảm Thức Thơ Tân Hình Thức Việt

 Có một số ý kiến cho rằng TTHT, đặc biệt TTHT Việt không có hoặc thiếu ở mặt cảm thức mà chỉ nghịch ngợm trên mặt nổi kỹ thuật được xử dụng lại của những thể thơ khác. Đôi khi không có cảm thức chính là cái cảm thức. Nhưng thật ra, Thơ Tân Hình Thức Việt có cảm thức hẳn hòi, được lồng trong ba tiêu chuẩn kỹ thuật: lập lại, tính truyện/chuyện và ngôn ngữ đời thường .

  • Lập lại

Trên phương diện kỹ thuật là lập lại những từ ngữ hay ngữ-âm để tạo nhịp điệu cho bài thơ trong sự chuyển động của ý tưởng và hình ảnh. Ở góc độ cảm thức, lập lại mang ý nghĩa tái-chế/-sử-dụng (recycle); sử dụng lại những thể thơ truyền thống Việt, 5,7,8 hay lục bát, vân vân. Ở thời đại toàn-cầu hiện này, hơn bao giờ hết, con người đã có ý thức cao về tệ nạn ô nhiễm môi trường đang gia tăng trầm trọng. Các ngành công nghệ hay ở những lãnh vực khác đều áp dụng kỹ thuật tái-chế/-xử-dụng để hạn chế đến mức tối đa sự lãng phí năng-nguồn, điều mà đem đến sự ô nhiêm môi sinh.

  • Tính truyện/chuyện

Ở mặt kỹ thuật là tạo nội dung; quỹ-đạo-hóa những cảm xúc rời rạc nhất thời vào một dòng chảy câu chuyện/truyện. Phần cảm thức chính là sự nối kết. Ở tầm vi mô là nối kết giữa tạp niệm của cá nhân, ở trung cấp là nối kết giữa tác giả với tác giả và giữa độc giả và tác giả, còn mức vĩ mô là nối kết các nền văn hóa, tín ngưỡng và dân tộc. Mỗi đời sống của mỗi cuộc sống đều có câu chuyện của nó. Sự phân mảnh tơi bời của đời sống trong kỷ nguyên nano này, cho dù ở cấp độ nào, rất cần cái nối kết để cân bằng.

  • Ngôn ngữ đời thường

Phần kỹ thuật là dùng ngôn ngữ đời (sống) thường (ngày) để đi thẳng đến người đọc, mà không cần tu-từ để gây chú ý. Mặt cảm thức của yếu tố kỹ thuật này là đem đời sống thường nhật vào thơ và trả thơ về với đời sống. Sống ở đây là thực tế, là thực dụng và hòa nhập vào nhịp chuyển của trái đất đang vẫn xoay đều. Nói một cách khác, cảm thức TTHT Việt là phản ánh lại cuộc sống đang diễn ra như nó là. Phản ánh tuy nhiên không là phản kháng, mà chỉ là bức gương để người soi trong đó tự quyết định rút tỉa ra những gì mình muốn.

“Mục đích của nghệ thuật không phải là hiển thị mặt ngoài của sự vật, mà là bề trong ….đó là cái thực tế đích thực.”[I]

Aristoteles (384 T.C. – 322 T.C.)

Một niềm tin được chia sẻ bởi tất cả mọi người bắt nguồn từ thực tế.”[II]

Aristoteles (384 T.C. – 322 T.C.)

  1. Hậu Hiện Đại Và Tân Hình Thức

Các phong cách nghệ thuật lần lượt phủ sóng lên nhau: lãng mạn nhường chỗ cho chủ nghĩa hiện đại, tiếp là hiện sinh, và rồi hậu hiện đại lại phủ lên. Vấn đề của hậu hiện đại là bất kể điều gì về mặt lý thuyết hay bất kỳ loại hình nghệ thuật nào đến sau khi chủ nghĩa hiện đại hiển nhiên là hậu hiện đại.

  • Kiến Trúc Hậu Hiện Đại; Kiến Trúc Tân Hình Thức

Khởi đi từ thập niên 60, chủ nghĩa hậu hiện đại là phong trào chi phối các lãnh vực kiến trúc, văn học, thi ca và nghệ thuật nói chung . Vào đầu năm 1964, một số nhà phê bình nghệ thuật, cũng như Philip Johnson[12], sử dụng thuật ngữ “hậu hiện đại” để mô tả thiết kế của Dumbarton Oaks Pre-Columbian Pavilion.

Kỷ nguyên hậu hiện đại được khởi phong từ bộ môn kiến trúc và gắn liền với bộ môn nghệ thuật này  kéo dài cho đến ngày nay. Kiến trúc hậu hiện đại (Post Modern Architecture) được xem là phong cách Tân Chiết Trung (neo-eclectic)[13] thay thế cho phong trào Chiết Trung của chủ thuyết Hiện Đại (Modern), chủ yếu là thể hiện công cuộc hồi sinh các phong cách của từng thời đại cho nhà cửa. Chủ nghĩa hậu hiện đại xây móng trên một số phản ứng: từ chối của tư tưởng hiện đại, quay trở lại với truyền thống, các tiền lệ lịch sử, sự quan tâm lịch sử và di sản được tái-thức và tiếp tục xu hướng của chủ phong trào Tân Hình Thức (New Formalism) đã xuất hiện trong những năm 1950. Hậu hiện đại rất ăn khớp với cả hai phong trào bảo tồn lịch sử và phong trào tân đô thị hóa. Từ đó cụm từ Kiến Trúc Tân Hình Thức xuất hiện. Kiến Trúc Tân Hình Thức đấu tranh cho những ngôn từ thiết kế cổ điển như: độ sáng, cân bằng, đối xứng và sự lặp lại của một số hình thức cổ điển như: khung cong, cột, và mái vòm, cùng với sự chú ý đến từng chi tiết và những phần thiết kế kỹ lưỡng. Phong trào này luôn trở lại tham khảo lịch sử kiến trúc và thường xuyên sử dụng trích dẫn hoặc nguồn lịch sử một cách dzí dzỏm và nhiều khi rất hài hước. Những  kiến ​​trúc sư hậu hiện đại, hay nói cách khác là những kiến trúc sư tân hình thức thường xuyên chú tâm tới cách thiết lập và môi trường xung quanh của các tòa nhà của họ thiết kế. Sự chú tâm này phát xuất từ cái mong ước là những kiến trúc của họ hài hòa với môi trường của chúng. Họ không nhất thiết phải cố gắng tái tạo phong cách lịch sử của những thời đại trước đó. Thay vào đó họ sử dụng một loạt các hình thức cũ, đơn giản hóa và trộn chúng một cách (cố ý) vô tổ chức hoặc xung đột lẫn nhau. Trong nhiều trường hợp, các nhà thiết kế xếp chồng một cấu trúc hình học thuận hoặc tương phản ở một trạng thái khác nhau, cố gắng để tạo ra một hiệu ứng “tổ chức trong hỗn loạn” (hiệu ứng cánh bướm)

  • Thơ Hậu Hiện Đại ; Thơ Tân Hình Thức (Việt)

Lan man qua lãnh vực kiến trúc để ghi nhận nhanh một cái điểm khởi xuất của chủ thuyết  Hậu Hiện Đại và làn sóng Tân Hình Thức. Quay lại Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta thấy rõ những nét tương đồng của thể thơ này với phong trào Kiến Trúc Tân Hình Thức, vốn là một sản đúc của Kiến Trúc Hậu Hiện Đại nói riêng và chủ thuyết Hậu Hiện Đại nói chung. Những điểm này là:

  • quay trở lại với (những thể thơ)truyền thống (Việt);
  • quan tâm tới những di sản văn hóa (Việt);
  • lặp lại;
  • không nhất thiết tái tạo âm điệu cũ mà dùng thể thơ không vần;
  • đơn giản hóa bằng ngôn ngữ đời thường;
  • hiệu ứng cánh bướm.

Có phải đây là một trùng hợp ngẫu nhiên không? Có phải phong trào/thể Thơ Tân Hình Thức Việt là một sản đúc của Thơ Hậu Hiện Đại nói riêng và chủ thuyết Hậu Hiện Đại nói chung cũng như phong trào Kiến Trúc Tân Hình Thức, vốn là một sản đúc của Kiến Trúc Hậu Hiện Đại nói riêng và chủ thuyết Hậu Hiện Đại nói chung không ??

“Nhà phát minh lớn nhất: sự trùng hợp ngẫu nhiên”[III]

(Mark Twain)

 “Sự ngẫu nhiên là lô-gíc”[IV]

(Johan Cruijff)

  1. Sáng Tạo Thơ Tân Hình Thức Việt

 

“Sáng tạo chỉ là nối kết mọi thứ. Khi bạn hỏi những người sáng tạo cách làm của họ, họ cảm thấy hơi tội lỗi vì họ đã không thực sự làm điều đó, họ chỉ nhìn thấy một cái gì đó. Sau một thời gian nó dường như là hiển nhiên đối với họ” [V]

(Steve Jobs)

Sáng tạo là một thuật ngữ được sử dụng khác nhau và thường được liên tưởng đến hình ảnh thủ công nghệ, hay một cục màu với cây cọ. Cũng được đi! Nhưng còn rất nhiều nữa. Sức sáng tạo có nghĩa là “khả năng tạo ra một cái gì đó mới.” Mới ở đây có nghĩa là khác hơn cái đã có/hiện diện cho dù bất cứ là một cá thể nào hay là tổng thể. Vậy sáng tạo là thực-hiện để giá trị được hiện thực và thực-hiện là một quá trình.

  • Giá Trị Chia Sẻ

Chúng ta tạm rời khỏi thế giới nghệ thuật một lát, nơi mà cụm từ  giá trị gắn liền với thuật ngữ sáng tạo, để bước qua thế giới khoa học kinh tế, nơi mà giá trị được gắn liền với cụm từ sản xuất. Và ở trong cái thế giới này giá-trị-gia-tăng là một khái niệm cơ bản bởi nó bày tỏ bản chất của sản xuất; cụ thể là cho/bỏ thêm giá trị vào một mặt hàng hóa.

Lướt qua luôn các thời gian lượm-săn, đánh-bẫy, nông nghiệp, công nghiệp, kỹ nghệ vì chúng ta đang sống ở đây và bây giờ: thời đại của công nghệ thông tin. Thời gian sôi động của công nghệ thông tin bắt đầu vào những năm 199x khi mà chiếc bong bóng chấm-còm cứ mỗi ngày được thổi căng phồng ngoạn mục. Nền kinh tế, thị trường thế giới xoay trục cấp tốc trên bits, bytes và đổ dồn đầu tư vào công nghệ thông tin để chuẩn bị cho bước ngoặt của thế kỷ mới.

Rồi chuyện gì đã xảy ra khi chiếc kim đồng hồ ở Sydney chuyển từ không giờ ngày 31-12-1999 qua ba giờ ngày 01-01-2000, rồi lần lượt đến Tokyo, Hong Kong, New York và London? Không có gì cả! Bước ngoặt thế kỷ mà nhân loại nín thở trong âu-lo vẫn một đường tính tuyến của chữ số nhị phân, đâm thẳng vào làm vỡ toang chiếc bong bóng đã được thổi phồng quá cỡ kia. Đa phần doanh nghiệp chấm-còm lần lượt kéo nhau chấm-dứt lôi theo nền kinh tế, thị trường tụt dốc. Sự nhận thức giá trị chỉ là một phóng chiếu của những con số hư cấu, khiến thế giới phải đối diện với những vấn đề đã bị bỏ vào ngăn tủ:

  • Ô nhiễm;
  • Khí hậu biến đổi;
  • Mất đa dạng sinh học;
  • Khan hiếmtài nguyên;
  • Thiếu nước;
  • Tăng trưởng dân số;
  • Khoảng cách tầng lớp xã hội.

Những vấn đề toàn diện rất phức tạp này là những thách thức của nhân loại trong những thập niên kế tiếp và nguy cơ sẽ đến đường cùng nếu không có giải pháp hữu hiệu.

Nhà tư-tưởng-chiến-lược, Micheal Porter[14], khẳng định đã tìm thấy giải pháp cho những thách thức trên trong quan niệm tạo ra giá trị chia sẻ[14a]. Chia sẻ ở đây là một khái niệm áp dụng trong suốt quá trình thực-hiện : góp vốn, đồng tác và chung hưởng.

Porter chỉ trích cách hoạt-động của các doanh nghiệp. Theo ông họ chỉ chú tâm vào lợi nhuận và động cơ thực hiện của họ chỉ nằm trong những suy nghĩ ngắn hạn. Doanh nghiệp tự cảm thấy mình là một thực thể độc lập, các vấn đề xã hội hoặc cộng đồng đều nằm ngoài phạm vi của họ. Do đặt trọng tâm vào việc tạo giá-trị-kinh-tế một chiều trong nhiều thập-kỷ qua, doanh nghiệp mất đi sự quan tâm cho những vấn đề xã hội, môi trường và kinh tế là những hậu quả của chính sách cơ quan. Ông ta cho rằng các doanh nghiệp có một thái độ luôn sáng tạo, là những cơ quan tiên phong lý tưởng nhất để khơi-khích những đổi mới và là những nguồn khả năng đáp ứng nhu cầu gia tăng của con người, nâng cao hiệu quả, tạo việc làm và làm gia tăng sự phồn thịnh. Và những doanh nghiệp hành xử theo đúng nghĩa của nó là những cơ thể với trang bị tốt nhất để giải quyết những vấn đề khổng lồ mà chúng ta đang đương đầu.

Mấy thập niên gần đây, dần dà các doanh nghiệp đã ý thức được rằng họ không thể hoàn toàn hoạt động đơn lẻ được. Một phần do sức ép của thế giới bên ngoài, một phần do sự thay đổi tâm lý, nhiều doanh nghiệp đã chuyển đích sang phương cách lâu bền. Họ lập lên những chính sách trách nhiệm xã hội, nỗ lực để giảm thiểu tác động của những hoạt động của họ đối với môi sinh và hàng năm báo cáo tiến bộ của mình trong lĩnh vực phát triển lâu bền một cách đàng hoàng. Tuy nhiên, Porter cho rằng, trách nhiệm xã hội không phải là giải pháp, bởi vì nó không là yếu tố cốt lõi của doanh nghiệp, nó chỉ liên quan đến những hiện tượng cận biên. Cho nên theo ông, con đường của trách nhiệm xã hội không được hữu hiêụ mà là con đường tạo ra giá trị chia sẻ. Khái niệm này có thể được định nghĩa là các chính sách và các hoạt động nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong khi các điều kiện kinh tế và xã hội của các cộng đồng trong những hoạt động được đáp ứng. Khả năng cạnh tranh ở đây có thể được hiểu là khả năng sáng tạo hay hoặc khả năng sản xuất; khả năng làm giá trị gia tăng.

Làm sao để tạo được giá trị chia sẻ? Cũng vẫn theo Porter có ba điều cần phải được khai triển thực hiện:

  • Phù-hợp sản phẩm theo nhu cầu của người tiêu dùng

Cuộc sống có rất nhiều nhu cầu: từ nhà ở tốt đến an ninh cùng y tế tốt, ,một môi trường lành mạnh đến sự bảo đảm tài chính. Rất nhiều doanh nghiệp trên con đường của mình đã đánh mất sự quan tâm chính yếu: sản phẩm của mình có tốt và đáp ứng đúng như cầu của người tiêu dùng không?

  • Tư duy theo định hướng dây chuyền

Quá trình sáng tạo đưa đến giá trị gia tăng của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn về các vấn đề xã hội khác nhau như: việc làm, vật giá leo thang, khan hiếm tài nguyên, thiếu nước, vân vân. Nếu đem toàn bộ dây chuyền của quá trình sản xuất soi rọi, phân tích kỹ lưỡng, các doanh nghiệp trong đó sẽ có thể hợp tác để giảm (lãng) phí. Từ đó sức cạnh tranh lại được gia tăng trong khi họ cũng có một tác động tích cực xã hội.

  • Khuyến khích phát triển các cộng đồng địa phương

Không có một doanh ngiệp nào là tự trị tự chủ. Sự thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào đều cũng phụ thuộc vào hỗ trợ của các doanh nghiệp và cơ sở hạ tầng xung quanh. Porter cũng nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp nên chăm sóc vẹn toàn cho những các cấu trúc hỗ trợ trong cộng đồng mà họ hoạt động.
Theo Porter giá trị chia sẻ là chìa khóa cho một làn sóng mới của sự đổi mới và tăng trưởng đưa đến hơi thở mới cho thế giới đang bị ngột ngạt.

  • Giá Trị Chia Sẻ Của Thơ (Tân Hình Thức) (Việt)

Lại trở về với Thơ Tân Hình Thức Việt, chúng ta thấy quá trình sáng tạo-truyền đạt-tiếp nhận-phản ánh có nhiều những điều ở từng bộ phận tương tác và chi phối lẫn nhau. Từ truyền đạt đến nội dung, kỹ thuật của thể thơ đến cảm thức, sáng tác và tiếp nhận, như chúng tôi vừa đưa ra ở những phần trên. Có thể nói rằng một trong những đặc tính của TTHT Việt có tiềm năng và tác động lớn là: Sự kết nối.

Nhìn quanh thế giới chúng ta đang sống và từ ý-niệm trên, chúng tôi đề xuất Giá Trị Chia Sẻ Của Thơ Tân Hình Thức (Việt).

Làm sao để tạo được giá trị chia sẻ của thơ tân hình thức (Việt)? Theo chúng tôi có vài điều cần phải được khai triển thực hiện:

  • Phù-hợp-hóa sáng tạo theo xu hướng toàn cầu

Vận động đồng-sáng-tác “xuyên quốc gia” “đa văn hóa” “đa tôn giáo”. Dùng Anh ngữ làm ngôn-ngữ-trung-gian trong việc chuyển-dịch/-ngữ và dùng kỹ thuật ô chữ /kỹ thuật xâu chuỗi[15] để kết nối những bài thơ của từng tác giả tham gia trong nhóm đồng-sáng-tạo.

Về mặt nội dung, có thể dùng một chủ đề để làm sợi chỉ của các câu chuyện đời thường ở các hoàn cảnh khác nhau để tạo thành một toàn cảnh của câu chuyện toàn cầu. Mỗi cá thể, mỗi tầng lớp, mỗi đoàn thể, từng bộ mặt của cuộc sống đều có chủ đề hấp dẫn và phù hợp. Chúng ta lo gì về cái đa dạng và phong phú của nội dung?

  • Tư duy theo xu hướng xâu chuỗi

Những vai trò trong suốt quá trình sáng tạo-truyền đạt-tiếp nhận-phản ánh, tác giả thuyết-lý/tác giả thơ-diễn đàn/truyền thông-độc giả-giới phân tích/phê bình, cần lắng nghe nhau để nghe thấy nhau và tương tác và tương trợ cho nhau.

Tổ chức những buổi thảo luận, thuyết trình, giao lưu, hội thảo vân vân – thành lập những trang nhà, diễn đàn, chuyên mục vân vân – để mọi bên liên quan ngồi lại với nhau để cảm-/thông-tin với nhau: truyền đạt + tiếp nhận.

  • Khuyến khích phát triển các sinh hoạt văn hóa văn học

Liên kết những sinh hoạt văn hóa văn học càng nhiều càng tốt với nhau thành một mạng lưới (toàn cầu). Giới thiệu và phố biến rộng rãi những tác phẩm, văn học, văn hoá của nhau, cho nhau. Trợ giúp nhau trong việc văn-bản-/tài-liệu-hóa (in, ấn, xuất bản,  lưu trữ vân vân). Đào tạo những thế hệ tiếp nối ở mọi khía cạnh văn học văn hóa (sáng tác, lý luận, phân tách, phê bình vân vân). Tổ chức cùng tham gia những buổi giao-lưu-văn hóa của các tổ chức, hội đoàn, chuyền đề, các quốc gia, sắc dân hoặc tôn giáo.

Cùng góp, đồng tác và chung hưởng giá trị chia sẻ của thơ tân hình thức (Việt), có nên không? Tại sao không? Vì nỗi lo sợ ư?

Chúng ta thường sợ những cái gì nằm bên ngoài sự hiểu biết của chúng ta.

Mà sự hiểu biết có hai bề mặt của nó

Một là chúng ta hiểu thấu một sự việc

Hai là chúng ta biết tìm thấy những thông tin về sự viếc ấy

Trong thời đại kỹ nghệ thông tin phát triển huy hoàng

Gú-gồ từ bao giờ đã hiển nhiên trở thành một động từ

Thì hiểu biết đã lấn bits giành bytes với nỗi sợ

Chúng ta đã được quyền hy vọng

Và hy vọng làm cho sống

Trong một cuộc-sống mà mạng-sống con người nối liền với mạng-lưới thông tin, thì triển vọng nằm ở trong sự tác động của mạng-lưới-mạng-sống. Trong một thế giới phân mảnh thì sự nối kết liên đới rất cần cho sự cân bằng của cuộc sống. Thời đại mà tất cả mọi kỹ thuật ngành nghề đã được nâng đến tầm xuất sắc, thì sự khác biệt/sức cạnh tranh không nằm ở nhãn hiệu của sản phẩm mà là ở chính sản phẩm với những chức năng, sự ứng dụng và tác động của nó với người tiêu dùng. Văn học cũng thế, tác phẩm vượt trên tác giả và giá trị tác phẩm là sự chia sẻ trong suốt quá trình của nó của các bên liên quan.

Dù gì thì giá trị thì vẫn luôn là tương đối mà tương đối nghĩa là giá trị của thời điểm và thời gian thì có biết bao là thời điểm vẫn cứ chuyển động. Xin mượn lời của ông sư tổ của thuyết tương đối để đặt dấu chấm mở:

Cuộc sống giống như đi xe đạp. Để giữ thăng bằng, bạn phải tiếp tục chuyển động[VI]

(Abert Einstein)

(cuối 10, không 13)

Ghi Chú:
[1]: Vladimir Propp (17/04/1895 – 22/08/1970) tốt nghiệp đại học St Petersburg (1913-1918) chuyên ngành ngữ văn Nga và Đức. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tiếng Nga và tiếng Đức tại một trường trung học và sau đó trở thành một giáo viên trường đại học của Đức.
[1a]: Theory and History of Folklore (bản Anh ngữ tháng 9 năm 1984 của Ariadna Y. Martin, Richard P. Martin; phần dẫn nhập, giới thiệu cùng ghi chú do Anatoly Liberman; NXB University of Minnesota Press  tháng 9, năm, 1984).
[2]: George P. Lakoff (sinh ngày 24 tháng 5 năm 1941) là một nhà học giả ngôn-ngữ-nhận-thức (cognitive linguist) người Mỹ, nổi tiếng với luận án của ông rằng cuộc sống của các cá nhân bị ảnh hưởng đáng kể bởi những phép ẩn dụ trung tâm họ sử dụng để giải thích hiện tượng phức tạp.
[2a]: Adverbs and the Concept of Deep Structure, George P. Lakoff,  Foundations of Language. Vol. 4, No. 1 (Feb., 1968), pp. 4–29; Metaphors We Live By, George P. Lakoff , University of Chicago Press (1980); Metaphors We Live By thêm phần lời bạt, George P. Lakoff  với Mark Johnson, University of Chicago Press. (2003).
[3]: chuyển đổi thế kỷ, Tạp Chí Thơ số 18, tr. 105-135, mùa đông 1999- mùa xuân 2000. Trang mạng: http://www.thotanhinhthuc.org/Tap%20Chi%20Tho%20Toan%20tap/TCTho_18[1].pdf
[4]: Vũ điệu không vần, tứ khúc và những tiểu luận khác, Khế Iêm, NXB Văn học (2011); Tân Hình Thức, Tứ Khúc và Những Tiểu Luận Khác, Khế Iêm, NXB Văn Mới (2003); Bước Ra – Stepping Out (tiểu Luận song ngữ), NXB Tan Hinh Thuc Publishing Club (2013).
[4a]: Khế Iêm:sinh tại Lê xá, Vụ Bản, Nam Định, Bắc Việt Nam, năm 1946 (giấy khai sinh ghi năm 1947). Ông sáng lập và chủ biên Tạp Chí Thơ (1994-2004), chủ biên tạp chí online câu lạc Bộ Thơ Tân Hình Thức www.thotanhinhthuc.org từ năm 2004. Những bài thơ dịch của ông xuất hiện trên Xconnect (bộ III, số  II), Literary Review (số Mùa Đông 2000) và The Writers Post. Tiểu luận của ông xuất hiện trên The Writers Post. Tác phẩm xuất bản Hột Huyết, kịch; 1972, Thanh Xuân, thơ, 1992; Dấu Quê, thơ, 1996; Thời của Quá khứ, truyện, 1996; Tân Hình Thức, Tứ Khúc Và Những Tiểu Luận Khác, tiểu luận, 2003. Nguồn: http://www.thotanhinhthuc.org/tieu_su/ts_kheiem.html.
[5]: Cao Xuân Hạo (19302007) là một nhà ngôn ngữ học người Việt với nhiều đóng góp trong việc định hình phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả, giáo sư văn chương uyên bác.
[5a]: Chứng Vĩ Cuồng:Hiện Tượng Và Căn Nguyên, Cao-Xuân-Hạo, TP. Hồ Chí Minh (tháng 4 năm 2000). Nguồn: http://vannghe.free.fr/caoxuanhao/chung-vi-cuong.html.
[6]: Tân Hình Thức Và Câu Chuyện Kể, Khế Iêm, Tạp Chí Thơ số 18, tr. 105-107, mùa đông 1999- mùa xuân 2000. Trang mạng: http://www.thotanhinhthuc.org/Tap%20Chi%20Tho%20Toan%20tap/TCTho_18[1].pdf
[7]: Câu Chuyên Không Vần Kể Lại, Khế Iêm (tháng 8 năm 2007), Câu Lạc Bộ Tân Hình Thức;  http://www.thotanhinhthuc.org/tieu_luan/tl_ki_cauchuyenkhongvan.html;
[8]: Thơ Kể, Thơ Kể (Poetry Narrates), tuyển tập song ngữ nhiều tác giả, nhà xuất bản Tan Hinh Thuc Publishing Club, 2009 và Nhà xuất bản Lao Động, 2009,
[9]: Đặng Tiến, sinh 1940 tại xã Hòa Tiến, thành phố Đà Nẵng. Năm 1960, là một nhà phê bình văn học có uy tín với những tác phẩm phê bình về thơ sắc bén.
[9a]: Tân Hình Thức, nhịp đập của thời đại, Đặng Tiến,  http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7198&rb=0101; bài viết song ngữ Anh-Việt, http://thotanhinhthuc.org/Thokhongvan/Introduction.html.
[10]: Vào những năm 2002-2006 một công ty điện thoại của Hàn-Quốc dùng khẩu hiệu  “Nhẹ nhàng lướt êm” để quảng cáo cho một kiểu dáng trượt slide- up của điện thoại di động tại Việt-Nam.
[11]: AI… DỪA TƯƠI… HÔN(!?), thơ THT, Biển Bắc (tháng 7, năm 2008), lần đầu tiên đăng trên trang mạng http://thotanhinhthuc.org/singleBaitho/bt_bb_aiduatuoi.html.
[12]: Philip Cortelyou Johnson (1906 – 2005) là một kiến ​​trúc sư người Mỹ và là nhà phê bình kiến trúc. Ông cùng với Henry-Russell Hitchcock được coi là một trong những người sáng lập của phong cách quốc tế . Ông cũng được xem là người sáng lập của kiến trúc hậu hiện đại và giải cấu trúc đoạt giải Pritzker đầu tiên năm 1979.
[13]: Phong Cách Tân Chiết Trung, Bước Ra – Stepping Out (tr. 42  59), Tiểu Luận song ngữ Khế Iêm, nhà xuất bản Tan Hinh Thuc Publishing Club, 2013;
[14]: Michael Eugene Porter (sinh ngày 23 tháng 5 năm 1947) là giáo sư của đại học Harvard, Hoa Kỳ; nhà tư tưởng chiến lược và là một trong những “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới; cố vấn trong lĩnh vực cạnh tranh cho lãnh đạo nhiều quốc gia. Năm 2009 và 2010, ông chủ trì thực hiện “Báo cáo năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2010”
[14a]: Creating Shared Value (CSV) là một khái niệm kinh doanh được giới thiệu đầu tiên ở tờ  Harvard Business Review trong bài viết “Strategy & Society: The Link between Competitive Advantage and Corporate Social Responsibility. Khái niệm CSV đã được mở rộng hơn nữa trong tháng giêng năm 2011 trong bài viết tiếp của Micheal Porter “Creating Shared Value: Redefining Capitalism and the Role of the Corporation in Society“.
[15]: Truyện “Thơ Tân Hình Thức”, tiểu luận, Khế Iêm, Câu Lạc Bộ Tân Hình Thức; http://www.thotanhinhthuc.org/Truyen%20Tho%20THT/xct_ki_truyenthotht.html.
[I]: The purpose of art is not displaying the appearance of things, but the inner … that is the true reality”
[II]: A belief that is shared by all people rooted in reality”
[III]: “The greatest inventor: the coincidence”
[IV]: “Coincidence is logical”
[V]: “Creativity is just connecting things. When you ask creative people how they did something, they feel a little guilty because they didn’t really do it, they just saw something. It seemed obvious to them after a while”
[VI]: “Life is like riding a bicycle. To keep your balance, you must keep moving.”

TUẦN THƠ 47: ÔI TRỜI ÔI

0
Xuân Thủy

trời lại làm mưa mưa
đi đâu đây trong gió
chiều lồng lộng một mình
một mình… lặng nghe gió
đi về tiếng chuông ngân
ngân mõ cóc cóc chùa
nghiêng nước đổ xe hơi
đỗ lại một người đi
đi cánh cò bay trên
tháp rùa kêu gõ nắng
bạc đầu keng keng kinh
kinh nhang trầm thắp khói
lan mờ mờ người mờ
mờ âm thanh lặng tiếng
mõ gõ đều đều đều
người người người này người
nọ người kia đi vào
chùa … người ăn xin ở
cổng xe hơi lăn bánh
lăn bánh trong mưa trong
gió bụi nhòa nhòa…

04/6/2015

TƯỞNG HÌNH

0

Hường Thanh

cai ban

Này cái bàn chẳng biết nói
gì im lìm quá một không
gian cái bàn sao chẳng im
đi những ước lệ là cái

bàn chẳng biết nói gì ngoài
sự hình thành là cái bàn
có những cuốn sách chưa từng
là cuốn sách để tồn tại

trên cái bàn tại sao tôi
không cảm nhận được gì cả
nhưng những ìm lìm trong cái
bàn dưới cái bàn trên cái

bàn góc này góc kia vẫn
chẵng biết nói gì ngoài những
cuốn sách không phải cuốn sách
để trên bàn vuông buồn bã.

10.2014

BÀI THƠ CHO THIẾU LẬP

0
Ảnh Tín Trường
Ảnh Tín Trường
Thạch Tốt

Chiếc xe đạp một ngày mười ngàn
Mướn ở khách sạn một cô gái
Nói đi mô về cứ bỏ trước
Cửa á! nhớ trời mưa trời mưa
Chiếc xe đạp thiếu lập ơi có
Còn đi xe đạp qua cầu đập
Đá nhớ ra rồi đừng cười nhé
Chiếc xe bỏ lại trên mui xe
Đò Phương à Phương Belgium
Giờ mi ra răng mụ nhớ lại
Thật dễ sợ bốn giờ sáng hả
Cọc cạch cọc cạch thiếu lập nhớ
Không Phương đã vô nha trang (Phương
Này Phương khác) ngồi giặt áo bên
Bờ sông ờ nhớ chứ bạn thân
Mà (gone crazy by little to love)
Thôi Lập ơi có nhiều thuốc trị
Ho ho khan ho đàm ho lâu
Ngày ăn ngủ không được gầy yếu
Mệt mỏi ho về đêm ho suyễn
Ho dây dưa không dứt nhớ nhé
Uống phế tạng bửu la vạn linh
(có bán ở các tiệm thuốc bắc)
Nhớ mang khẩu trang nha thiếu lập.

29.11.2014

Mùa lau trắng

0
Đinh Thị Như Thúy

MÙA LAU TRẮNG

thật thì chẳng có gì
liên quan (chắc hẳn vậy
rồi) giữa những bông cỏ
lau cứ quẫy ngời ngợi

trong nắng sớm sáng nay
với cái bệnh viện không
dưng đầy ắp các bà
già trầu đầy ắp các

mùi dầu (cả dầu xanh
con ó dầu nhị thiên
đường cả dầu tràm) cả
bàn chân đau tưởng sơ

sịa như không việc gì
bỗng chốc lại hóa ra
nghiêm trọng này chân ta
đã phung phí mi ghê

gớm bởi suốt ngày suốt
tháng suốt năm đã bao
nhiêu dịch chuyển bao nhiêu
công việc bao nhiêu lang

thang bao nhiêu rã rời
đau mỏi giờ thì thôi
chẳng thể bước một bước
cho trọn vẹn một hứa

hẹn bình thường huống hồ
hứa hẹn với những bông
lau (trắng lộng lẫy) cứ
luôn quẫy ngời ngợi bất

kể nắng sớm nắng trưa
nắng chiều hay trong đêm
tối cứ luôn quẫy ngời
ngợi khắp khắp bãi hoang

ở ngoại ô thành phố

20.11.2014

TẾT Ở NEW YORK

Giới thiệu Diễn Đàn thơ Tân hình thức Việt

Khế Iêm

Năm cũ không bước qua
năm mới vì năm mới
vốn thông thương với năm
cũ trong lúc lũ tết
và lũ tuyết ập xuống
mái nhà ôm lấy nhau
không chịu tan ra chẳng
khác nào năm cũ nằm
ôm lấy năm mới nhì
nhằng không thể bước qua
nhau mãi cho đến lúc
giật mình thức giấc bởi
tiếng động của cái lạnh
làm se da thay cho
tiếng pháo nhắc tới tết.

20/2/2015