Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, từng nổi tiếng trước năm 1975 với những bài thơ “ngông” vừa từ trần tại tư gia ở thành phố Phan Thiết, Việt Nam, vào sáng ngày 4 tháng 8 năm 2015, theo tin của Báo Tuổi Trẻ Online hôm Thứ Ba cho biết.Bản tin báo Tuổi Trẻ viết rằng, “Theo tin từ nhà thơ Nguyễn Như Mây – một bạn thơ đồng hương Bình Thuận, nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trong 2-3 năm nay bị bệnh suy tim, gần đây trở nặng và đã ra đi vào 9g sáng nay, 4-8, tại nhà riêng (43/17 đường Trần Lê, Phường Đức Long, TP. Phan Thiết). Hiện linh cữu nhà thơ quàn tại nhà, gia đình đang chuẩn bị tang lễ và chưa có thông tin lễ viếng cụ thể.”Cũng theo báo Tuổi Trẻ thì “Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn tên thật Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết,…”
“Theo tin từ gia đình, 19g ngày 4-8 sẽ làm lễ nhập quan nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, lễ viếng bắt đầu ngay sau đó đến hết ngày 5-8. 6g ngày 6-8 sẽ di quan nhà thơ hỏa thiêu tại Vũng Tàu.”
Nhà văn Đặng Tiến, trong bài viết về Nguyễn Bắc Sơn được đăng trên trang mạng thơ Tân Hình Thức vào năm 2005, nói về nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trước và sau năm 1975. Trong đó xin được trích mấy đoạn sau đây để tưởng niêm đến nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn.
“Vào khoảng 1970, khi thơ Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc nhiên, nhiều người cho rằng có hơi hướm thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến tranh và lời thơ bi tráng. Nhưng xét kỹ thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn và lý tưởng, thơ Nguyễn Bắc Sơn ngược lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng. So với các nhà thơ khác, mà chúng tôi vừa trích dẫn, thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng có nét khu biệt, là chất bụi đời, mà nhà thơ tự cho là “du đãng”. Tống Biệt Hành là thơ để đời; Nguyễn Bắc Sơn là thơ bụi đời. Độc Hành Ca là loại thơ “miếu đền”, Nguyễn Bắc Sơn là thơ lề đường, quán sá. Xã hội, hoàn cảnh Miền Nam thời đó đã tạo một nguồn cảm hứng như thế và chỗ đứng cho một thể loại bất cần đời như thế. Và dư luận thời đó, của những nhà văn tên tuổi có thế lực văn học, lập trường chính trị vững vàng, như Võ Phiến trên Bách Khoa, Chu Tử trên báo Sống, Doãn Quốc Sĩ trên báo Văn, đã đồng loạt hoanh nghênh.
Sau 1975 Nguyễn Bắc Sơn có bài
Một Ngày Nhàn Rỗi
Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc Vô tình ngang một quán cà phê Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn Mải mê tán dóc chẳng cho về Về đâu, đâu cũng là đâu đó Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ Ba nghìn thế giới cũng chưa to
Vẫn một giọng thơ, một cốt cách, một phong thái. Võ Phiến, hai mươi năm sau cuộc chiến, có đủ bình tâm và khoảng cách để nhìn lại thơ văn và tâm tình một thời đại và thông hiểu thấu đáo hiện tượng Nguyễn Bắc Sơn, trước sau như nhất, “cũng cái ngông nghênh ấy”:
“Ngày trước trong chiến tranh, ông kể chuyện chơi trò nổ súng cắc cù rất độc đáo; ngày nay hòa bình thiên hạ hớt hơ hớt hải lăn xả vào cuộc giành giật đồng tiền, thì ông nói chuyện hớt tóc cạo râu: lại rất độc đáo.
Thành thử giữa ông Nguyễn Bắc Sơn trong chiến tranh và ông Nguyễn Bắc Sơn sau chiến tranh vẫn có một chỗ nhất trí. Tuy hai mà một. Do hoàn cảnh khác nhau nên đề tài câu chuyện khác nhau; nhưng phong thái vẫn một thôi. Phong thái ấy khiến cho thời chiến ông là kẻ phản chiến, thời bình ông thành kẻ phản lao động. Thực ra thơ ông phát biểu về một thái độ sống, không phải chỉ là một thái độ đánh nhau hay một thái độ làm lụng. Sống là nhẹ, không phải chỉ riêng: đánh nhau là giỡn, là nhẹ. Đời không có nghĩa phải quấy. Một khi đời đã không có nghĩa, thì mọi hoạt động ở đời (kể cả chiến tranh) đều vô nghĩa. Hoặc giả nó có được trao cho ý nghĩa thì ông cũng không lý đến. Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ; bắn nhau cắc cụp lỡ có trúng đạn chết tươi cũng là chuyện nhỏ thôi”.(1994)” (ngưng trích) (nguồn: http://www.thotanhinhthuc.org)
Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi
Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất Dừng chân đây nói chuyện tiếu lâm chơi Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời … Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic Kẻ thù ta ơi các ngài du kích Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo Hãy tránh xa ra ta xin tí điều Lúc này đây ta không thèm đánh giặc Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình Ăn muối đá mà hăng say chiến đấu Ta vốn hiền khô ta là lính cậu Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo Xem cuộc chiến như tai trời ách nước Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí Lũ chúng ta sống một đời vô vị Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết Và máu xương làm phân bón rừng hoang.
Mật Khu Lê Hồng Phong
Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng Còn ngại hành quân động Thái An Cát lún bãi mìn rừng lưới nhện Mùa khô thiếu nước lính hoang mang Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát Nghe súng rừng xa nổ cắc cù Chợt thấy trong lòng mình bát ngát Nỗi buồn sương khói của mùa thu Mai ta đụng trận ta còn sống Về ghé sông Mao phá phách chơi Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm Đốt tiền mua vội một ngày vui Ngày vui đời lính vô cùng ngắn Mặt trời thoắt đã ở phương Tây Nếu ta lỡ chết vì say rượu Linh hồn chắc sẽ thành mây bay Linh hồn ta sẽ thành đom đóm Vơ vẩn trong rừng động Thái An Miền Bắc sương mù giăng bốn quận Che mưa giùm những đám xương tàn.
Người Hoa Khôi Áo Rách
rồi một hôm gió bấc có ai ngờ ai lãng đãng ngờ chi cơn gió bấc cây bạch đàn trước cửa nhà em đang còn hay đã mất sao anh hình dung như có vết thương đang loang ra trong vũng nước vô thường truyền tín hiệu đến ngậm ngùi vô tận anh có nghe chuyện đời em lận đận những chuyến đi buôn những chuyến xe đò tiếng nói sau lưng lời chua chát nhỏ to dòng lệ em khô nhưng vẫn là dòng lệ mặn đã qua chưa ôi cái thời đăng đẳng đứng bên kia sông cũng ngó thấy điêu tàn băng giá chuyển mình băng giá mau tan tiếc câu thơ anh không đủ làm cho đời em ấm cúng tiếc loài người bày ra xích xiềng huyển mộng đến nỗi quên mình là hạt giống vô biên câu chuyện tình như ngọn gió miên miên thổi ấm Kinh Thi thổi lạnh hồn Kinh Dịch
TIỄN BIỆT NGUYỄN BẮC SƠN
Nguyễn Lương Vỵ
Bạn đã về với diệu âm bay Phan Thiết nắng rưng rưng sáng nay Chớm thu chưa lạnh trời phương ấy Mà buốt lòng ta ở chốn này Mà nhớ lắm câu thơ bạt mạng Một thời sặc máu của quê hương Hồ trường say ngất trời ưu hận Ngâm tràn cho đỡ bớt bi thương Mà nhớ lắm câu thơ bầm dập Một thời khô huyết của ly tan Chiến tranh? Dấu hỏi không lời đáp Chỉ có mồ ma réo ngập tràn
Mà nhớ lắm câu thơ phiêu hốt: Mắt người như cánh hoa sen xanh (*) Diệu âm Bát Nhã Ba La Mật Hẹn sẽ về cùng bạn hòa thanh.
Calif. 2:30 AM, 04.08.2015
Ghi Chú:Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn (tên thật là Nguyễn Văn Hải), sinh năm 1944 tại Phan Thiết, từ trần lúc 9 giờ sáng ngày 04.08.2015 tại quê nhà (theo tin từ nhà thơ Võ Chân Cửu qua email). 2 tập thơ tiêu biểu: Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi (NXB Đồng Dao, Sài Gòn, 1972)- Ở Đời Như Một Nhà thơ Đông Phương (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1995).
(*) Mắt người như cánh hoa sen xanh Mắt của rừng nai mắt của tình Một sáng ta về ngây ngất nhớ Âm thầm thu phát những âm thanh. (Diệu Âm – Nguyễn Bắc Sơn)
Trích từ tập Ở đời như một nhà thơ Đông phương, Nguyễn Bắc Sơn
Ở đời như một nhà thơ Đông phương
Y là một nhà chiêm bái đích thực
Có cần chi
Đi hàng nghìn dặm đường
Để nhìn các thánh tích
Một ngày kia y chiêm bái đồng lúa chín vàng
Và tìm thấy lòng hảo tâm của trời đất
Một đêm kia
Y chiêm bái ngọn bấc đèn
Và tìm thấy sự ấm áp vô cùng của lửa
Y chiêm bái hạt muối trắng tinh
Y chiêm bái hạt mè đen bóng
Có lần y chiêm bái một hạt mưa sa
Trong hạt mưa có khuôn mặt trẻ con
Cùng đôi mắt chim người nữ
Y bỗng rùng mình biến thành vũ trụ.
Đáo bỉ ngạn
Một sớm phiêu bồng qua bên sông
Bỗng nhiên hiểu Phật cũng đau lòng
Phật cũng khổ như người khốn khổ
Cúi đầu quay lại bên này sông
Trích từ tập Chiến tranh Việt Nam và tôi, Nguyễn Bắc Sơn
Mùa thu đi ngang cây phong du
Khi nhớ mình, ta muốn ghé ta thăm
Ngôi nhà gần ngôi nhà xa vạn dặm
Con đường tình cờ cội nguồn sâu thẳm
Từ sinh cung của bà mẹ mênh mông
Ai xui ngôi nhà em cất bên kia sông
Khiến đời anh cứ mãi qua cầu cứ trèo lên dốc
Bầu trời quá cao phải chăng vì lòng mình quá thấp
Chiều mù sương vì tình yêu mù sương
Ai xui ngôi nhà em cất ở ngã tư đường
Khiến đời anh cứ ngập ngừng ba ngả
Con phố thân quen bất ngờ con phố lạ
Nơi hàng cây rụng tiếng tắc kè kêu
Nơi lầu cao khung cửa sổ đìu hiu
Soi thấp thoáng ngọn đèn hoa thiếu nữ
Những sợi tóc rụng trên chồng sách cũ
Vì thanh xuân theo nước lũ trường giang
Những chuyến xe đò đêm đêm băng ngang
Rớt tiếng động khơi nỗi sầu viễn xứ
Bầy chim én đã bắt đầu tư lự
Ngủ âm thầm trên những đường dây cao
Đi ngang qua, đi ngang qua, đi ngang qua
Đi ngang qua không dừng trong đời nhau
Hẹn gặp nhau ở nhất nguyên thế giới.
Cười lên đi, tiếng khóc bi hùng
Đời bắt một kẻ làm thơ như ta đi làm lính
Bắt lê la mang một chiếc mai rùa
Nên tâm hồn ta là cánh đồng úng thủy
Và nỗi buồn như nước những đêm mưa
Trong thành phố này ta là người phản chiến
Ngày qua ngày ta chỉ thích đi câu
Râu tóc mọc dài như bầy cỏ loạn
Sống thật âm thầm, ai hiểu ta đâu
Dù đôi khi ta lên núi Tà Dôn uống rượu
Trời đất bao la ta chỉ một mình
Nhưng làm sao quên cuộc đời dưới đó
Quên những thằng người bôi bẩn kiếp nhân sinh
Ngày hôm nay ta muốn chặt đi bàn tay trái
Để được làm người theo ý riêng ta
Ngày hôm nay ta muốn thọc mù con mắt phải
Ngày hôm nay ta muốn bỏ đi xa
Khi nâng chén lên cao ta cười lớn tiếng
Cười lên đi cười những tiếng bi hùng
Đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính
Chiếc mai rùa đã nặng ở trên lưng.
Những điều cần nói khi thôi học năm 1963
Khi ta thôi học
Người khách trú bán ve chai già đã chết
Y đã hát cho ta nghe
Những buổi trưa buồn rầu
Trong ngôi trường đầy vết tích chiến tranh
Những bài hát làm nhớ hoài một nước Cổ Trung – Hoa
Một nước Trung Hoa loạn lạc
Thiếu cơm và thừa nước mắt
Ôi giấc mộng anh hùng Lương – Sơn – Bạc
Khi ta thôi học
Các giáo – sư dạy cho lũ học trò những điều họ không tin