Nguyễn Lương Ba
Tưởng Nhớ Nhà Thơ Thanh Tâm Tuyền (22-3-2006)
VÀ MỘT VÀI Ý NGHĨ
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (1936–2006) là một trong những gương mặt tiêu biểu và có ảnh hưởng sâu sắc nhất của thơ ca hiện đại Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông gắn bó với phong trào Sáng Tạo – một phong trào văn học ở miền Nam Việt Nam trong thập niên 1950-60, chủ trương đổi mới triệt để ngôn ngữ và tư duy thi ca.
Thanh Tâm Tuyền là một trong những người đầu tiên viết thơ tự do ở Việt Nam một cách triệt để và nhất quán. Với tập thơ “Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy” (1957), ông đã phá bỏ hoàn toàn thể thơ lục bát, thất ngôn… để đi tìm một hình thức thơ mang màu sắc tâm tưởng, trực giác, và ý thức hiện sinh.
“Tôi là ai / là ai / mà yêu quá đời này.”
Câu thơ ấy không chỉ là một tiếng kêu nhân sinh, mà còn là một tuyên ngôn thơ: dứt khoát, mãnh liệt, và đầy chất vấn.
Thơ Thanh Tâm Tuyền thường mang nỗi cô đơn bản thể, một cảm thức lưu đày nội tâm, và đôi khi là phi lý, tương đồng với những triết lý hiện sinh của Sartre, Camus.
“Tôi có chỗ đứng rất nhỏ trong bóng tối
và đời sống vẫn trôi qua ngoài kia.”
Ông không ca ngợi quá khứ hay tương lai, mà luôn đau đáu với cái “hiện tại mất phương hướng” – một dấu hiệu rõ rệt của tinh thần hậu chiến.
Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền không tuân theo ngữ pháp truyền thống, ông sẵn sàng sử dụng câu ngắn, tách dòng phi quy tắc, thiết kế thị giác câu thơ, và dồn nén cảm xúc bằng âm thanh.
“mặt trời không xanh
trời không vàng
buổi sáng không có chim
chỉ có những bàn tay dựng ngược”
THƠ Ở ĐÂU XA
Có thể là chiếc lá
Có thể là tiếng chim
Có thể là hòn đá lăn bên vệ đường
Hay bóng người vụt qua cửa kính
Một chút nắng cuối ngày trên vai áo em
Một điều gì đó không tên
Nhưng chạm nhẹ vào hồn anh
Thành thơ
Chính cách viết ấy giúp thơ ông đạt được sự căng thẳng nội tại, gợi hình ảnh thị giác và tâm lý rất mạnh mẽ.
Sau 1975, Thanh Tâm Tuyền bị đi tù gần 10 năm. Sau đó ông định cư tại Mỹ, sống một cuộc đời trầm lặng. Tuy vậy, thơ ông không bị thời gian bào mòn, mà ngược lại ngày càng được nhìn nhận như một di sản thi ca hiện đại quý giá.
Thanh Tâm Tuyền nói về thơ:
“Tôi không làm thơ để ca tụng, mà để sống sót.”
Câu nói ấy cho thấy ông xem thơ như một cách tồn tại, một lối kháng cự âm thầm nhưng dữ dội với những gì phi lý và trống rỗng của cuộc đời.
Tác phẩm tiêu biểu của Thanh Tâm Tuyền:
Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1957)
Tôi Không Còn Cô Độc (1956)
Thơ Ở Đâu Xa (1990, sau định cư tại Mỹ).

THÁNG TƯ
Tháng Tư
sen nở
gợi nhớ nhiều điều
hồng hoa
xanh lá
vàng nhụy xao lòng.Tháng Tư
cháy bỏng
mưa rơi trong nắng
nắng lẫn mưa rơi
trên cầu người đi
dưới cầu nước chảy
sen nở quanh hồ
lòng người lóng ngóng.Tháng Tư
bên đường
người đàn bà ngồi khóc
lạc đứa con đâu rồi
hai vòng tay níu chặt
chiếc nón rách trên đầu.Tháng Tư
xe tăng
vào thành phố
một bàn tay vẩy
hai bàn tay buông
một người cười
đôi người khóc
cờ đỏ bay trên cầu
dưới cầu xác trẻ phơi.
…
cha đi tìm mẹ
bà đi tìm ông
giữa phố chợ đông
người cười người khóc
chỉ thấy
vỏ đạn và hoa phượng rơi.Tháng Tư
thống nhất
Nam Bắc một nhà
miệng nói sẻ chia
lòng thì ái ngại
cảnh giác nhìn nhau
nghi ngờ.Tháng Tư
cậu về thăm cháu
vui mừng cháu hỏi
ông tướng nhà mình
sao mà oai thế
nói chuyện mi tau
nhìn trước, ngó sau
cậu lớn giọng hỏi
nhà cô to thế?
cha sắp làm gì?Cậu sợ nhà to
cậu sợ liên lụy
thằng cháu đại úy
cậu ra về gấp gáp
không kịp một bữa cơm
không bao giờ quay lại.Mẹ buồn não ruột
nhớ anh hai mươi năm
gặp lại vài giây phút
nhìn em đầy ái ngại
chức vị to sợ nhờ
nhà em to sợ lụy.Tháng Tư
trở lại trường
gặp mấy người bạn
mới ngày hôm qua
chen chân với mình
xuống tàu di tản
nay đã mũ cối dép râu
vai mang súng trường
hăm hở đi lui đi tới
không có chuyện gì
để nói
bạn bảo:
mình phải
siêng tập thể dục.Buổi sáng
bạn đạp xe qua nhà mình
không phải để hỏi thăm
đêm qua em mơ gì?
buổi chiều
bạn đạp xe qua nhà mình
không phải để ngắm mình
ngồi hong tóc dưới giàn hoa tím
mà để xem mình
có tập thể dục như nội qui của trường
để chực xem mình
có chuẩn bị vượt biên.Và
mới hôm qua bạn bảo:
em mặc áo lụa mát cả hồn anh!
hôm nay bạn bảo:
quần đen áo bà ba sao em không mặc?
thầm nghĩ:
có thể bạn không sai
có thể bạn thật lòng
nhưng lòng mình sao cháy bỏng
cả ngàn độ.Đoàn tụ, chia ly
hội ngộ, tan tác
trên giànMẹ than
bầu bí quấn chặt nhauĐau quá!
1976

Một mùa thu buồn - Sài Gòn - Đà Nẵng tang thương - Cảm khái đời người như lá rụng ! Bài thơ LÁ CHUYỂN MÙA của bác sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, anlan phổ nhạc 18.9.2021 (12.8 Tân Sửu)
LÁ CHUYỂN MÙA
Hồn hoa lá mộng xanh trong cỏ biếc
Buổi mai hồng gợn tiếng gió hoàng hôn
Bóng mây trắng chìm sâu dòng nước bạc
Ngọn lá xanh thay giấc buổi thu sang
Từng đường gân chậm chạp uống nắng vàng
Những chiếc lá về đâu chiều thu cũ?
Từng vũng nước, bong bóng lăn tăn mỏi
Từng cơn mê, đưa ngược lối đi về
Thảng thốt vuốt bàn tay gầy guộc
Sắt se hơi lạnh gió đầu thu
Lá rơi, lá rơi
Mặt đất buồn
Ôm gối khóc
Lá chuyển mùa
Lá vụt bay xa
Mùi hương mai ngày hai mươi thơm ngát
Đường dốc dài, ai cúi vội bước đi
Hai bên đường, sỏi đá chênh vênh
Bảo rằng:
Em cẩn thận bước qua
Đừng lo ngày dài thôi nhung nhớ
Lá màu xanh rồi lá sẽ màu vàng
Đừng buồn hỏi nếu một mai
Lá chuyển mùa, lá úa.
Nguyễn Thị Kim Thoa - Huong Pham - Thanh Yên - Cô giáo anlan.
N g u y ễ n S a o M a i
TRƯỜNG THIÊN LỤC BÁT – TRUYỆN THƠ NÉN HƯƠNG VĂN MIẾU
Tập thơ trường thiên Nén Hương Văn Miếu của Nguyễn Sao Mai là một truyện thơ gồm hơn 4000 câu thơ lục bát trong bối cảnh vật đổi sao dời giữa và sau chiến tranh Nam Bắc Việt Nam, 1955-1975. Trích đăng ở đây là tâm tư và tâm tình của những người trong cuộc, qua những trích đoạn với những tiểu đề tác giả tạm đặt, chinh phu, chinh phụ, và những tiểu đề khác. Những tiểu đề này không có trong nguyên bản. Nén Hương Văn Miếu được viết vào những năm cuối tiền bán thập niên 90 của thế kỷ 20, năm 1993 - 1994. Một trích đoạn trong tập truyện thơ cũng đã được trích đăng trên tạp chí Sóng Văn (Nguyễn Sao Mai, Còn Đau Nỗi Buồn, Sóng Văn, số 1 Ra Mắt – Tháng 3 & 4 / 1996, trang 55) do Nguyễn Sao Mai chủ trương và chủ biên.
NÉN HƯƠNG VĂN MIẾU
Trăm năm vật đổi sao dời,
Dấu xưa lau sậy, hồn người đá bia.
Nước non chia cõi đi về,
Tấm lòng mây trắng lê thê nỗi buồn.
Trống đồng giục gió Trường Sơn,
Hồn kinh đô cũ dặm trường cờ bay,
Ngựa Hồ vừa hí thành Tây,
Nén hương văn miếu rụng đầy tro than.
Ngọn cờ chinh chiến về nam,
Máu xương đâu để vinh quang một nhà.
Đã đành là giá tự do,
Máu xương phải nở đóa hoa hòa bình.
Đêm dài đi gọi bình minh,
Xác anh em trải lời kinh nhiệm mầu.
Nước non sông núi gọi thù,
Giang sơn một mảnh dư đồ rách hai.
Vẽ chi biển rộng sông dài,
Nọ trang sử Việt tiếng cười bể dâu.
(Trích Nén Hương Văn Miếu, Nguyễn Sao Mai, truyện thơ, câu 1 – 18)
CHINH PHU 1
Từ em nghiêng nón sân trường,
Trái tim thánh nữ treo chuông trên đồng,
Đất gò trổ hạt máu xương,
Lúa ngô từng hạt hiện xương máu người,
Rẫy nương trồng thịt da tươi,
Trổ thảnh trái đắng trên chồi cây thu.
Thương em làm trái trên mùa,
Ta chinh chiến dưới ngọn cờ gió mưa.
Những con đường cũ ta xưa,
Từng đêm đứng gọi đời ta một mình.
Thương em từng ngọn tóc xanh,
Gọi nhau tóc trắng trên rừng vọng phu.
Bước chân qua đỉnh gió mù,
Tưởng khi mở hội cửa Ô đã gần,
Lòng ta đầu ngọn Thất sơn,
Mơ đêm Hà Nội hiện rồng cờ Nam,
Mơ em phố chợ gánh gồng,
Dựng đê xây phố giữa nông công trường,
Xây đền cho trái tim chuông,
Hồ Gươm trắng áo Trưng Vương Sài Gòn.
CHINH PHU 2
Gửi em này chút buồn này,
Lòng ta phố cũ mưa bay một trời.
Khi về mù mịt biển khơi,
Ta theo dấu ngựa xuống đời quạnh hiu,
Cờ tan theo cuộc trận chiều,
Chút hăm hở cũng xanh rêu oán thù.
Ta cười ngã ngựa sông khô,
Đâu con nước lũ dựng mồ thanh xuân,
Hỡi em tóc bạc đêm rằm,
Tuổi vàng thả nổi một giòng buồn tênh,
Bây giờ còn nhớ hay quên,
Hoa trong khuê các trăng miền lãng du.
Dấn thân vào trận gió mù,
Rẫy nương lật xác quân thù tìm nhau,
Mặt nhìn còn tưởng chiêm bao,
Thịt xương có lúc nỗi đau đớn này,
Hai mươi năm giấc mộng dài,
Hồn thu binh lửa trắng cây ngô đồng.
Ngày hè sững sốt tháng đông,
Ngọn cờ cuốn lại bóng rồng bay xa,
Phố Hời giọt nước mắt sa,
Trên trang sử cũ bóng tà dương phai,
Hai mươi năm chỉ một ngày,
Tỉnh ra mới biết trắng tay tang bồng,
Hồn em ngọn lúa trổ bông,
Lòng ta là một cánh đồng rạ khô,
Uổng công tháng đợi năm chờ,
Trói tay đứng giữa thế cờ ngửa nghiêng,
Nhớ ngày bốn hướng cung tên, (1)
Thương em khắc một lời nguyền trước sau,
Lên rừng chém rụng bóng sao,
Đón em ải Bắc vàng màu cờ Nam.
(1) Lễ mãn khóa ở trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1950-1975)
CHINH PHỤ 2
Ngọn cờ doanh trấn cõi xa,
Chân mây mặt đất biết là nơi đâu,
Bốn phương còn biết phương nào,
Tìm chàng đâu giữa chiêm bao giữa ngày,
Chiến bào theo vó câu bay,
Bỏ câu muối mặn gừng cay giữa đường,
Từ chàng chinh chiến tha phương,
Lòng em mây trắng tha hương dặm dài,
Rối bời lục nhạt hồng phai,
Tỉnh say trong mộng với người nay đâu,
Rẫy nương hoa trổ trái sầu,
Vườn trong hoa nở ra màu nhớ nhung,
Con thơ còn thuở ẵm bồng,
Đã nghe tiếng súng núi rừng đầu đêm,
Trông ra trăng lạnh trước thềm,
Đâu đây tiếng khóc bên đèn nỉ non,
Điệu ru nước mắt xóm đông,
Cũng là nước mắt nhớ mong xóm đoài,
Tương tư từng giọt ngắn dài,
Nỗi lòng thiếu phụ rơi ngoài núi non,
Quê nhà chiếc bóng héo hon,
Tóc xanh da trắng đâu còn ngày xưa,
Xuống đồng hái nụ hoa tơ,
Bỏ trong túi áo nằm mơ một mình,
Chống xuồng qua bãi nước trong,
Vớt hương thanh nữ dưới giòng khe sâu,
Vớt tình trong vũng mưa ngâu,
Thả con mộng nhỏ trôi vào đại dương,
Sợi tơ giăng ở đầu nguồn,
Suối khe đâu biết tình con sông dài,
Hồn chàng đi ở hôm mai,
Khi bên gối lạnh khi ngoài gió trăng,
Đêm thu hờ hững trái rằm,
Mùa đi để lại mấy lần tình suông,
Mênh mang trời đất não nùng,
Thanh xuân gào gọi tình chung trở về,
Bốn bề núi nhớ sông mê,
Tìm nhau hồn phách đi về chiêm bao.
CHINH PHU 3
Hỡi em sông Nhỉ núi Nùng,
Trắng hoa sữa ngọt một vùng tuổi thơ,
Ta từ đạp gió xông mưa,
Chiêm bao hoa gạo đỏ mùa hạ xanh,
Thay em tải đạn lên rừng,
Kim Bôi xanh dải thắt lưng gái Mường,
Nối tay tuyến lửa Trường sơn,
Nắm cơm hạt muối mở đường mà đi,
Trải thân xương sắt da chì,
Cõng trăng mười sáu đi về phương nam,
Nhập đoàn hỏa tuyến dân công,
Giật mình qua đỉnh Động Chân nhớ nhà,
Dốc cao đèo cả vượt qua,
Đêm nằm núi nhớ ngày ra vực sầu,
Đường dài sỏi đá tìm nhau,
Bóng chiều phố núi lạnh màu sông Son,
Mây qua đầu ngọn núi Hồng,
Xe qua Hà Tĩnh lòng còn bên truông,
Ngã ba Đồng Lộc mưa bom,
Cao xanh nỡ để thịt xương lấp bồi,
Xe đi chở nặng tiếng cười,
Mà mười cô gái đã người ngày xưa,
A của Tần Cúc bây giờ,
Hoa mua tím ngắt gió mùa đông xuân,
Ngẩn ngơ sông núi Lam Hồng,
Trái tim Ngàn Phố tấm lòng Ngàn Sâu,
Bóng ngày u uất chiêm bao,
Còn nghe tiếng hát ngày nào phá bom,
Núi Mòi mắt sáng sao hôm,
Chân trần gái núi đạp mòn đá khô,
Vũng sầu nước mắt đêm mưa,
Hiển linh đầu gió ngọn cờ cắm tiêu,
Lòng ta nắng xế bên đèo,
Thảm thương tiếng vượn gọi chiều trên non,
Ngày dài tiếng hát Trường sơn,
Đêm mơ Hà Nội xanh cơn sốt rừng,
Nỗi nhà con nước nguồn Moong,
Nỗi quê mây trắng dưới thung lũng Sầu,
Những người hôm trước nay đâu,
Bên đường nấm đất đỏ màu thịt xương.
CHINH PHỤ 3
Xót xa mười mấy năm trường,
Nước non nhớ nước bỏ nguồn ra đi,
Quê nhà từ buổi phân ly,
Mười năm một lá thư tay trở về,
Xót người sức ở măng tre,
Nghiêng vai gánh nặng lời thề núi sông,
Bao giờ cho đến phương Nam,
Để em giấc ngủ thấy vàng sao bay,
Bao giờ tay lại cầm tay,
Để em áo lụa như ngày hội xuân,
Lên cầu Thê Húc đứng trông,
Áo chinh nhân đỏ bóng tà dương rơi,
Mùa đi sầu ở lại đời,
Người đi bỏ lại nụ cười hôm qua,
Chồi măng nay đã tre già,
Liễu xanh thê thiết đâu là liễu xưa,
Khi về cây bưởi hái hoa,
Cắm sào đợi nước bao giờ cho trong, (1)
Giang sơn dưới ruộng trên đồng,
Vì thương tấc đất trăng vàng đổ đi, (2)
Ngài dài đêm ngắn sá gì,
Chờ cho gái lúa tháng hai trổ đòng,
Lòng người ở vụ đông xuân,
Bạc phơ tóc lão dân quân đứng ngồi,
Lòng em như áng mây trôi,
Nắng mưa thê thiết gọi người quan san,
Chút tình mộng thực đeo mang,
Biết đâu tháng héo năm tàn ở đâu,
Bước chân vừa động bên cầu,
Tưởng mình đứng giữa lối vào phố Nam,
Tình chàng như bóng đêm câm,
Tối đen giọt nắng lạ lùng sớm mai,
Lê thê hồn của tháng ngày,
Văn bia Hoàn Kiếm, dấu giày Ngọc Sơn.
(1)
Ca dao: ‘Sông sâu nước chảy đục lờ, cắm
sào đợi nước bao giờ cho trong’.
(2)
Ca dao, ‘cô kia tát nước bên đàng, sao cô
múc ánh trăng vàng đổ đi?’
LƯU ĐÀY 1
Trải bao gió núi mưa rừng,
Mái tranh vách cỏ nhà sàn dựng lên,
Cây còi gượng đứng ngả nghiêng,
Nghe trong mạch nhựa báo điềm tái sinh,
Đoàn người giáo mác cung tên,
Bầy đàn sống lại thuở huyền sử xưa,
Tay trần đỡ gió che mưa,
Trải thân xương thịt cho mùa cỏ rau,
Hai năm sương nắng dãi dầu,
Rẫy nương cũng đã xanh màu cỏ cây,
Đường về bóng nhạn chân mây,
Mà lòng cố quốc chim bay giữa trời,
Lên cao trông xuống sông dài,
Đau lòng con nước nhớ người ngày xưa,
Thuyền ai rồng phụng can qua,
Thanh gươm mở cõi lệnh ra chốn ngoài,
Còn nghe tiếng hét bên tai,
Phạt Chiêm vua Lý gọi trời giữa xuân,
Dập dồn trống trận Nghệ An,
Trước thuyền Kim Phụng rồng vàng hiện lên,
Thủy Vân thần nữ hiển linh,
Khí hùng Đại Việt tượng hình rồng tiên,
Trăm năm núi vững sông bền,
Thanh gươm vạch đất mũi tên vẽ trời,
Sông thiêng chảy giữa giòng đời,
Ỷ Lan làm trụ chống trời nhà Nam,
Tấm lòng công chúa Huyền Trân,
Trải dài sông núi dặm trường Lý Ô,
Về Nam mở rộng cõi bờ,
Vua Lê cắm mốc trên gò Đá Bia,
Thế thời khi thịnh khi suy,
Trên yên ngựa nhớ câu thơ cuối thuyền,
Nhớ xưa cung điện chúa Hoàng,
Nén hương Thiên Mụ lập đàn bên sông,
Ngự Bình làm ấn thiên phong,
Dựng riêng vương nghiệp dưới chân núi Hoành,
Bây giờ sông cạn núi mòn,
Giang sơn còn một vòng ôm giữa rừng,
Lá rừng rụng hết tháng năm,
Đường mai khập khiễng bước chân tội tù.
LƯU ĐÀY 2
Lênh đênh đầu ngọn gió mù,
Thấy ta xác cỏ đêm tù dưới khe.
Ở đây trời đất đi về,
Sao ta ghềnh thác bốn bề đại dương,
Phương nam phương nào đông phương?
Cuối đường chim nhỏ vẽ ngang giọt sầu,
Cuộc lưu đày đã dài lâu,
Mà vô lượng kiếp còn đau nỗi buồn.
Đưa nhau tư dạo lên đường,
Riêng tư lá cỏ đá cồn còn không?
Hồn lau lách ở bên sông,
Trái tim ghềnh bãi còn mong nhớ người?
Ừ thôi thì cuộc đổi dời,
Hiện bồ câu trắng bên trời tự do,
Sao ta vẫn kiếp ngựa khờ,
Chân phiêu bạt cháy lửa lò trầm luân,
Ừ thôi thì yêu quê hương,
Đeo xiềng ngồi hát bên đường phố ma,
Em còn ở cõi người ta,
Mà sao sỏi đá trên da thịt người,
Bước chân sinh tử rã rời,
Kéo lê vết xích một đời có không,
Cao xanh lòng cũng đại dương,
Bánh xe nghiến nát vô thường ở đâu?
Cuộc lưu đày đã dài lâu,
Mà vô lượng kiếp còn đau nỗi buồn
Thạch Tốt
VÀ NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ
Tháng Tư đến nghe tin dồn dập phía Hàng Xanh
trời trở giấc
mưa nhẹ vẽ những đường trên cát mềm,
nơi hơi thở cuối cùng, ngập ngừng của mùa đông
vẫn còn vương trong nỗi đau của cái chết.Những hàng cây quên mất xanh là gì,
chúng lưỡng lự giữa và giữa
nụ hoa và trơ trụi, ánh sáng và xám xịt,
không chắc là đêm hay ngày.Bầu trời được khâu bằng sắc xám mỏng dần,
một hy vọng mong manh không thể giữ lâu;
nó vỡ ra trong những đột ngột,
như những giấc mơ nửa nhớ, đang phai dần.
25042026

